GIAI THOẠI NHỮNG “MỸ NHÂN” SÀI GÒN

QUÁN GÀ ÁC TIỀM THUỐC BẮC

GỐC TÀU BA ĐỜI Ở SÀI GÒN

Quán ăn có truyền thống cha truyền con nối gần 40 năm nổi tiếng với món gà ác hầm thuốc bắc, giá 50.000 đồng một phần.

H1: Nép mình trên một con đường không mấy sầm uất Phan Xích Long, quận 11, quán ăn gốc Hoa này do ông bà nội của anh Dương Thông Thành mở cách đây mấy chục năm. Anh Thành (38 tuổi), chủ quán hiện tại cho biết, những năm 89 – 90 là lúc ông bà của anh dời quán về vị trí hiện tại. “Còn trước đó ông bà tôi chỉ buôn bán bằng gánh ở vỉa hè. Một sự trùng hợp là ông và chú tôi, hai đời chủ trước đều tên Thành”, anh nói.

H2: Quán nổi tiếng với món gà ác hầm thuốc bắc. Anh Thành cho hay, gà được chọn là những con non, lớn hơn nắm tay một chút, tiềm cùng các vị thuốc bắc trong khoảng 1,5 đến 2 tiếng trong nồi to rồi mang ra xếp trong thố đợi phục vụ cho khách.

Các công đoạn được thực hiện từ khuya. Gà phải làm sạch bằng rượu gừng rồi tẩm ướp các gia vị và không thể thiếu một ít mật ong chúa. Thuốc bắc thì ngâm cho nở trong nước ấm rồi rửa sạch, để ráo.

H3: Để đảm bảo vị chuẩn của món ăn, sau khi tiềm lần đầu, đầu bếp sẽ chia nước thuốc bắc và gà vào hai nổi riêng để tiềm một lần nữa. “Gà chín vừa tới thì vớt ra thố nhỏ. Khi có khách gọi món, những thố đất này sẽ được hấp lại cho nóng”, anh Thành nói.

H4: Cả gian bếp chỉ khoảng 20 mét vuông nhưng có đến 5, 6 cái bếp để nhanh chóng phục vụ khách. Anh Thành kể: “Gian bếp đã vài lần thay đổi vị trí đồ vật, gia cố thêm dụng cụ nhưng đã gắn bó với gia đình suốt gần 40 năm nay”.

H5: Phần bếp chế biến các món như mì, cơm được đặt gọn ở một gian bếp khác, phía trước quán. Khách vào có thể thấy một số công đoạn chế biến. H6: Một nhân viên gắp thố gà tiềm sau khi đã hâm nóng.

H7: Một phần gà ác hầm thuốc bắc có giá 50.000 đồng. Bên trong thố là một con gà, vài miếng thuốc bắc cùng nước dùng. Nếu không quen với mùi vị của thuốc bắc, bạn sẽ gặp khó khăn khi thưởng thức món ăn. Món gà ác tiềm thường ăn kèm với cơm trắng.

H8: Quán sử dụng 8 loại thuốc bắc để tiềm gà. Một số vị quen thuộc như: bạch quả, táo đỏ, nhãn nhục, đẳng sâm… Anh Dương Hải Thành (34 tuổi) là em trai của anh Thông Thành nói thêm, muốn các vị thuốc bắc không bị đắng, dễ ăn thì lúc tiềm phải canh lửa thật “chuẩn”. “Lửa mà liu riu lâu thì các vị thuốc bắc sẽ bị đắng. Còn nếu để quá lớn sẽ khiến nước tiềm bị chua”.

H9: Một thực khách quen của quán kể: “Tôi ăn ở quán đã gần 20 năm, từ lúc còn đời chủ thứ hai. Tuy bàn ghế nhiều lần thay đổi, hương vị món khó mà nhận ra được sự khác biệt. Vẫn là cái mùi thơm của các vị thuốc bắc, miếng gà rất mềm mà không bị nát, nước dùng đậm đà”.

H10: Nếu đã chán món gà ác tiềm thuốc bắc, bạn có thể đổi qua gà ác vi cá giá 230.000 đồng một suất hoặc canh vi cá giá 280.000 đồng.

H11: Bím bò tiềm cũng là món được nhiều thực khách ưa thích, đặc biệt là các đấng mày râu. H12: Mống dê hầm cũng hút khách không kém.

Thực đơn của quán có gần trăm món ăn, từ cơm chiên Dương Châu, cơm chiên cá mặn cho đến hủ tiếu, mì xào giòn, mì vịt tiềm… Giá trung bình mỗi món ăn khoảng 50.000 đồng. Quán mở cửa từ 11h đến nửa đêm.(theo bài và ảnh Di Vỹ)

9 My nhan 1GIAI THOẠI LY KỲ

VỀ NHỮNG “MỸ NHÂN” SÀI GÒN

Trước 1975, những nhan sắc lẫy lừng thường mang theo tai họa hoặc ít nhiều… mắc đọa !

1/- Một nhân vật mà những người từng sống ở miền Nam qua thời cái gọi là đệ I và đệ II Cộng hòa trước 1975 đều biết hoặc nghe nhắc tới – vũ nữ Cẩm Nhung, mỹ nữ số một Sài Gòn. Là một gái nhảy chuyên nghiệp, cô đã làm rất nhiều công tử hào hoa đất Sài Gòn phải chết mê chết mệt. Cuối cùng cô cặp hẳn với trung tá Thức Công Binh. Vào thời Diệm-Nhu, cấp bậc trung tá không nhiều. Sống với nhau theo kiểu già nhân ngãi non vợ chồng được một thời gian, sau khi đã cắt đi hầu hết những quan hệ tình ái phức tạp khác, Cẩm Nhung nghĩ rằng mình có thể trở thành trung tá phu nhân…

Mọi việc đến tai bà Năm Ra đô, (“hỗn danh” vùng nhà lô Cô Bắc dành cho chính thất của trung tá Thức. Một kế hoạch tiêu diệt tình địch được tiến hành. Hai tên giang hồ có cỡ được thuê với giá 2 lượng vàng. Một ca acid đậm đặc được tạt thẳng vào gương mặt Cẩm Nhung. Có lẽ đây là vụ tạt acid đầu tiên của Việt Nam. Lãnh trọn ca acid, Cẩm Nhung gục ngay tại chỗ. Từ một mỹ nữ bậc nhất Sài Thành, Cẩm Nhung mang trên mình khuôn mặt của quỷ dữ. Những người đàn ông từng vây quanh cô giờ đây xa lánh, bỏ mặc cô. Cuộc đời Cẩm Nhung xuống dốc không phanh vì ngập ngụa trong thuốc phiện và rượu rồi 9 My nhan 2kết thúc khi cô tiêu tán hết tài sản và phải đi ăn xin sống cho qua ngày.

2/- Một nhân vật khác là bà Hà. Vợ của một trung tá không quân giải ngũ do sức khỏe, bà tìm đến bạn bè của chồng để “giao dịch làm ăn”. Bà đẹp đến độ trong tất cả mệnh phụ phu nhân và cả nhân tình nhân ngãi của giới tướng tá Sài Gòn khi ấy không ai sánh nổi. Vốn là tiểu thư gốc Hà Nội ăn nói duyên dáng thanh lịch cộng thêm nhan sắc đẹp não nùng, chỉ trong thời gian ngắn, chẳng ai không biết đến bà và cũng chẳng ai nhớ đến ông chồng hom hem của bà đang nằm nhà đợi ngày quy tiên.

Những cuộc chiêu đãi của đệ nhất phu nhân Kim Anh – vợ Nguyễn Văn Thiệu và bà đại tướng Trần Thiện Khiêm, lúc nào cũng thấy bà bên cạnh những nhân vật chóp bu của quân đội Sài Gòn. Sau khi trở thành Phó Chủ tịch Hội Bảo trợ gia đình binh sĩ và là “nhân tình nhân bánh” của hơn hai chục tướng lãnh, bà Hà bắt đầu “làm ăn”. Chiêu thức rủ hùn hạp thầu rác Mỹ xem ra hiệu nghiệm. Một ngày nọ, mỹ nhân biến mất không tăm tích sau khi thu hoạch khoảng gần 200 triệu đồng (khi ấy 32.000 đồng/lượng vàng) và một số quý kim, hột xoàn của các bậc mệnh phụ phu nhân đương thời. Điều lạ lùng là ngay cả mạng lưới tình báo của cảnh sát đặc biệt và phủ đặc ủy trung ương tình báo của chế độ cũ cũng bó tay không tìm ra mỹ nhân lừa đảo !

3/- Một mỹ nhân khác nổi danh hơn không phải vì lừa đảo mà vì một mối tình bí mật với “Tông Tông”. Ca sĩ K.L. theo học lò nhạc sĩ Nguyễn Đức từ năm 8-9 tuổi. Lớn lên theo lò Bảo Thu – Duy khánh mới trở thành ca sĩ có danh phận.

9 My nhan 3Cô bắt đầu sự nghiệp ca hát năm 1966 và nhanh chóng được chú ý bởi vẻ đẹp khá Tây. Vẻ đẹp ấy luôn sáng rực khi bước lên sân khấu.

Trong một lần giúp vui cho biệt động quân ở trại Đào Bá Phước theo lời mời của trung tá N., trưởng phòng 3, ca sĩ K.L. hội ngộ với Tông Tông đang đến dự buổi lễ của binh chủng. Cùng với Hùng Cường, cũng là quân nhân biệt phái của binh chủng biệt động quân, ca sĩ K.L. tỏa sáng bởi nhan sắc hơn là giọng ca và lọt vào mắt xanh của vị Tông Tông này.

Sau đó bằng một kênh bí mật, ngài Tông Tông chỉ thị cho tướng Q. và trung tá N. đứng ra mai mối. K.L. trở thành vợ bé của ngài Tông Tông một cách bí mật được khoảng gần một năm. Thời gian này tội nghiệp một cô đào cải lương vì mang trùng tên nên bị… phải đổi nghệ danh khác.

Vợ ngài Tông Tông phát hiện và dọa sẽ cho người “thịt” tình địch, ngài Tông Tông hoảng sợ và bèn sắp xếp cho K.L. sang định cư ở Tây Đức. Sự nghiệp của cô ca sĩ người đẹp này chấm dứt vào năm 1969 !

4/- Một mỹ nhân khác đã từng là người yêu của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh : Ca sĩ Minh Hiếu cũng nổi danh vì vừa có tài lẫn nhan sắc mặn mà hiếm có. Khi bước vào sự nghiệp ca hát, Minh Hiếu và ca nhạc sĩ Nhật Trường, tức Trần Thiện Thanh đã “phải lòng nhau”.

9 My nhan 4Một dịp lên Tây Nguyên ca hát phục vụ binh sĩ, Minh Hiếu lọt vào tầm ngắm của Trung tướng Vĩnh Lộc. Cũng cần nói thêm, khi về nắm chức tư lệnh quân đoàn 2, tướng Vĩnh Lộc được nhiều người xem như vua. Khác hẳn những vị tiền nhiệm, vốn xuất thân từ dòng hoàng phái, ngang hàng với Bảo Đại nên Vĩnh Lộc uy quyền tuyệt đối.

Sau một thời gian ‘cưa cẩm’, người đẹp xiêu lòng và trở thành trung tướng phu nhân. Nhiều người cho rằng, cũng vì chuyện này mà Trần Thiện Thanh gởi gắm vào bài “Hoa trinh nữ” với dòng tự sự : “Tôi không phải là vua, nên mộng ước thật bình thường…”.

Lúc bấy giờ tướng Vĩnh Lộc đang giữ chức tư lệnh vùng 2 chiến thuật và trung tá Hai Trề đang làm Tỉnh trưởng Phú Yên (từ 1965- 1967). Một hôm trung tá tỉnh trưởng Hai Trề được lệnh ông tướng vùng phải đem xe ra sân bay đón nàng ca sĩ Minh Hiếu về tư dinh tỉnh trưởng. 9 My nhan 5Nàng ca sĩ này từ Sài Gòn ra. Tỉnh trưởng Hai Trề được lệnh thượng cấp, buộc phải thi hành. Nhưng thay vì đem nàng về tư dinh tỉnh trưởng, để nàng tắm rửa sạch sẽ, nghỉ ngơi lấy sức cho thoải mái, xức dầu thơm “Intimate”, hầu tiếp đón “Anh cả Trường Sơn” cho đúng điệu cải lương, thì Hai Trề lại nổi máu lính “xăng đá”, vứt nàng ca sĩ này ra ngoài khách sạn, ở đường Lê Thánh Tôn, thị xã Tuy Hòa.

Về sau ca sĩ Minh Hiếu, người con gái có khá nhiều giai thoại tình trường, đã khiến Vĩnh Lộc bỏ vợ, và nghiễm nhiên nàng trở thành phu nhân trung tướng Vĩnh Lộc. Vì lý do Hai Trề không chịu đem Minh Hiếu về tư dinh tỉnh trưởng để “Anh cả Trường Sơn” giựt le với người đẹp, nên tướng Vĩnh Lộc sanh tâm thù ghét Hai Trề, kiếm cớ tống khứ Hai Trề ra khỏi lãnh thổ quân khu 2.

Ngước mắt trông lên, bụi phấn hoàng hôn !

Trong mờ nhạt, chứa lẽ gì sâu thẳm ?!

 

HÉ LỘ TÁC GIẢ BÀI THƠ

‘KHÔNG ĐI KHÔNG BIẾT ĐỒ SƠN’

Nhiều người tưởng bài thơ trên là thơ… dân gian, khuyết danh. Kỳ thực, tác giả của bài thơ nổi tiếng này là nhạc sĩ, nhà giáo Hà Giang. Bài thơ “Không đi không biết Đồ Sơn” chỉ có bốn câu lục bát :

“Không đi, không biết Đồ Sơn,

Đi thì mới thấy không hơn… đồ nhà!

Đồ nhà tuy có hơi già,

Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”.

Bài thơ nôm na mà ý nhị ấy ra đời đến nay đã hai mươi mấy năm. Đây là bài thơ hay, được rất nhiều người ưa thích. Hay, vì nó độc đáo, dí dỏm, lại nồng ấm nghĩa tình ?

Hà Giang tên thật là Phạm Tiến Giang, quê thôn Đẩu Sơn, xã Bắc Hà thị xã Kiến An tỉnh Kiến An (cũ); hiện nay gia đình ở phường Phù Liễn, quận Kiến An, TP. Hải Phòng.

Anh là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, hội viên Hội Văn học – nghệ thuật Hải Phòng từ những năm 70 của thế kỷ trước, là giáo viên âm nhạc Trường Sư phạm 10 + 3 Hải Phòng, tiền thân của Trường Đại học Hải Phòng (công lập) ngày nay – nơi tôi giảng dạy suốt 32 năm.

Khoá Sư phạm 1972 – 1975, tôi là giáo viên chủ nhiệm lớp C. Văn – Sử, Ban Giám hiệu nhà trường phân công anh Hà Giang làm phó chủ nhiệm lớp của tôi. Anh hơn tôi đến chục tuổi. Anh dạy nhạc rất hay, lúc nào cũng nồng nhiệt, cuốn hút, ca hát rất say sưa, lại sáng tác được nhiều bài hát cho quê hương và cho nhà trường, được mọi người yêu thích.

Trong khi anh bị nhiều căn bệnh hiểm nghèo như áp xe gan, áp xe thành bụng, phải đại phẫu tới 7- 8 lần mà vẫn sống lạc quan; và trong điều kiện gia cảnh anh rất nghèo, vợ làm nông nghiệp, anh chị lại đông con.

Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng vào khoảng cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, khi anh đã “về hưu non” vì lý do sức khỏe, một lần Hà Giang gặp tôi, anh cười giòn tan và bảo : “Tớ mới làm bài thơ như thế này, cậu nghe có được không nhé”. Rồi anh vừa cười như nắc nẻ, vừa đọc rất hồn nhiên : “Không đi, không biết Đồ Sơn,/ Đi thì mới thấy không hơn đồ nhà/ Đồ nhà tuy có hơi già/ Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn” ! Nghe anh đọc xong, tôi cũng cười rũ rượi và ôm chầm lấy anh: “Hay lắm ! Tuyệt vời !”.

Nhưng anh nói thêm : “Tớ hơi lưỡng lự câu cuối : Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn, hay là thay bằng : “Nhưng là đồ thật, không là đồ sơn”. Cậu thấy thế nào”. Tôi nói : “Mỗi câu đều có ý hay riêng. Tùy anh”.

Anh lại cười, bảo : “Thôi cứ để câu cuối “Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”, xem ra nó thật hơn và có vẻ đấu tranh tư tưởng đấy chứ nhỉ”. Từ đấy, trong những câu chuyện vui với bạn bè, Hà Giang lại đọc cho họ nghe bài thơ ấy.

Tôi cũng thuộc loại “tội đồ” truyền miệng bài thơ của anh. Thế rồi bài thơ cứ được truyền từ người này sang người kia và vượt qua lãnh địa Hải Phòng, lan ra các tỉnh và thành phố từ Bắc đến Nam. “Không đi, không biết Đồ Sơn”. Nói thêm, nhà anh Hà Giang chỉ cách Đồ Sơn khoảng 18 km đường nhựa to rộng.

Đồ Sơn là bãi biển của Hải Phòng, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, đẹp nổi tiếng cả nước; có nhiều rừng thông, bãi tắm cuốn hút du khách thập phương; có những biệt thự, khách sạn to đẹp và nhan nhản các nhà hàng, nhà nghỉ, các quán ăn uống, quán cà phê, nhà vườn… Đặc biệt, Đồ Sơn là một khu “ăn chơi” lừng danh, vì có rất nhiều món hải sản quý, mà tôi từng viết : “Ăn một lại muốn ăn hai/ Ăn ba ăn bốn lại đòi ăn năm”.

Nói rộng ra, Đồ Sơn là núi non thơ mộng, là các nhà nghỉ, khách sạn, quán ăn và không thể thiếu các tiếp viên trẻ trung, xinh đẹp, đầy sức quyến rũ, như đã nói ở trên. Còn “đồ nhà”, là cách nói vui chỉ các bà vợ.

Hà Giang đã khuất núi sau một vài năm anh đọc cho tôi nghe bài thơ độc đáo của mình (anh mất năm 1989, khi mới 53 tuổi dương !); nhưng bài thơ thì vẫn còn đó, vẫn tươi mới, hấp dẫn. Anh để lại cho đời một tiếng cười vui sảng khoái và hồn hậu, dí dỏm mà sâu sắc nghĩa tình. (theo Đào Ngọc Đệ)

Khách Giang Hồ (tổng hợp)

 

Non la 4ÁO LỤA HÀ ĐÔNG

Áo Lụa Hà Đông là một bài hát nổi tiếng của Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, được phổ Nhạc từ bài Thơ cũng rất nổi tiếng của

Thi sĩ Nguyên Sa (Trần Bích Lan). Ai trong chúng ta cũng từng một lần hát bài hát trên, nhưng ít người biết xuất xứ bài Thơ từ một cuộc thi Hoa hậu đầu tiên ở Viet Nam. Vào năm 1930, xứ Bắc kỳ tổ chức cuộc thi Hoa hậu ở Hanoi, cho bất cứ ai, làm nghề gì, không kể tuổi tác.. miễn là khi đi thi phải mặc Áo Lụa Hà Đông. Cuối cùng, người được đăng quang trong cuộc thi là người đẹp Lý Lệ Hằng. Cô xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở Thái Bình, vì mưu sinh phải trôi nổi lên Hanoi kiếm sống và làm nghề hát Cô đầu cho các quán rượu.

Sau khi thay đổi cuộc đời, Cô trở nên nổi tiếng và là niềm ước mơ của bao Công tử nhà giàu trong cả nước. Tuy nhiên chẳng ai có thể với tới được người đẹp “chân lấm, 9 Ngo Thuy Mien 2tay bùn” này và chỉ một thời gian sau Lý lệ Hằng trở thành người tình của Quốc Vương Bảo Đại.

Có lẽ cũng như bao chàng trai si mê sắc đẹp khác, dù đã trải qua hơn 20 năm sau, nhà thơ Nguyên Sa vẫn mơ tưởng đến nụ cười, ánh mắt khuynh đảo của Hoa hậu đầu tiên và buộc Ông phải viết bài thơ ca ngợi người đẹp mặc áo lụa ấy.

Mãi đến năm 1969, khi nghe câu chuyện về Hoa hậu “thuần nông” phút chốc trở thành người yêu của ông Vua cuối cùng Việt Nam, chàng trai Ngô Thụy Miên đã viết nên ca khúc nổi tiếng “Áo Lụa Hà Đông” khi mới 21 tuổi, được phổ lời từ bài Thơ của Nguyên Sa như để ngưỡng mộ những cô gái tựa như đóa sen vươn lên từ đầm lầy.

Và đây là nguyên văn bài Thơ: Áo Lụa Hà Đông:

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát / bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng / anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn  / mà mua thu dài lắm ở chung quanh / linh hồn anh vội vã vẽ chân dung / bay vội vã vào trong hồn mở cửa / gặp một bữa, anh đã mừng một bữa gặp hai hôm thành nhị hỹ của tâm hồn / 9 Nguyen Sa 1thơ học trò anh chất lại thành non và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu / em không nói đã nghe từng gia điệu / em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh / anh trông lên bằng đôi mắt chung tình / với tay trắng, em vào thơ diễm tuyệt

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết / trời chợt mưa, chợt nắng, chẳng vì đâu / nhưng sao đi mà không bảo gì nhau / để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại / để anh giận, mắt anh nhìn vụng dại / giận thơ anh đã nói chẳng nên lời  em đi rồi, sám hối chạy trên môi / những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng / em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn / giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông/ anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.

Xin mời thưởng thức một bài hát hay “Áo lụa hà Đông” thơ Nguyên Sa, nhạc Ngô Thụy Miên qua tiếng hát của Duy Trác. Thực hiện video: Vân Nguyễn :

Áo Lụa Hà Đông

Vậy Lụa Hà Đông xuất xứ ra sao mà đã đi vào Thơ Nhạc lãng mạng như thế ?

Cách Hanoi 10km có một làng chuyên nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng có từ ngàn năm trước, là Làng lụa Hà Đông hay Làng lụa Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông. Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình…

Làng Vạn Phúc vốn có tên Vạn Bảo, do kị húy nhà Nguyễn nên đã đổi thành Vạn Phúc. Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1200 năm, có bà A Lã Thị Nương là vợ của Thái Thú Giao Chỉ là Cao Biền, từng sống ở trang Vạn Bảo, đã từng dạy dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa. Bà Lã Thị Nga, vốn người Hàng Châu (nơi có thương hiệu lụa Hàng Châu nổi tiếng), theo chồng chinh chiến khắp nơi rồi ở lại nơi này.8 Lua Ha Dong 1 Thấy dải đất trù phú ven sông Nhuệ xanh trong, bà dạy người dân trồng dâu, nuôi tằm rồi cho những người thợ lành nghề nhất đến dạy ươm tơ, dệt vải. Từ một ấp nhỏ, Vạn Phúc đã phát triển thành làng nghề sôi động, nức tiếng gần xa. Sau khi mất, bà được phong làm Thành hoàng Làng.

Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1932), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp. Trong tổng số 18 thợ thủ công lành nghề Việt Nam được vinh danh trong 2 cuộc triễn lãm trên, thì có 3 người là con của đất tơ tằm Vạn Phúc (trong đó có cụ Nguyễn Chấp Chung, cụ nội nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh hôm nay, người đang làm lụa khá nổi tiếng tại Vạn Phúc). Từ 1958 sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên Thế giới. Đến ngày nay, làng Vạn Phúc có khoảng hơn 1000 khung dệt, trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại. 8 Lua Ha Dong 2Lụa Vạn Phúc có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam và từng được chọn may trang phục cho Triều đình.

Đặc biệt, theo Ca dao truyền miệng, nổi tiếng nhất trong các loại lụa Vạn Phúc có lẽ là lụa Vân – loại lụa mà hoa văn nổi vân trên mặt lụa mượt.

The La, lĩnh Bởi, chồi Phùng

Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn.

Lụa Vân nói riêng và lụa Vạn Phúc nói chung có đặc điểm ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè. Hoa văn trang trí trên vải lụa rất đa dạng như mẫu Song hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý…

Tóm lại, với đặc tính mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, nhẹ nhàng, mềm mại làm nên giá trị vật chất của Lụa thì cái hồn cốt, cái in dấu trong lòng người từ bao năm qua lại nằm ở cái tình mà người Làng lụa gửi gắm đến chúng ta hôm nay : “Tiếng thơ buồn vọng lại…” (theo Nguyễn Tất Tiến)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

CHUYỆN SÀI GÒN XƯA

NGƯỜI TA THƯƠNG NHỚ GÌ

Ở SÀI GÒN ?

Là người Sài Gòn, người ta thường nhớ gì ở Sài Gòn nhất ? Một khoảng lặng trôi qua. Có lẽ sự hồi tưởng đang trở lại trong đầu những người bạn nay tóc ngả hai màu. Có người nhớ tiếng rao trên đường phố, nhớ tiếng ồn ào trong khu xóm lao động, nhớ cảnh nhộn nhịp Sài Gòn dịp Tết những ngày còn thơ, nhớ những cuộc tình lang thang dưới vòm me xanh lá trên con đường Duy Tân đầy bóng mát, nhớ nhiều thứ lắm… Nỗi nhớ ùa về như cơn gió thoảng rồi qua. Nhưng với tôi những con đường góc phố Sài Gòn vẫn còn đọng lại mãi mãi.

Ðầu tiên tôi nhớ góc bùng binh Quách Thị Trang, nơi lần đầu tuổi nhỏ được ba tôi dẫn đi ngao du thành phố Sài Gòn. Quách Thị Trang là ai, biết để làm gì. Cái chợ Bến Thành treo đầy biển quảng cáo hình kem đánh răng anh Bảy Chà Hynos và Perlon kín chợ chẳng có gì đẹp. Chợ cũng chẳng làm tôi nhớ, bởi đi chơi Sài Gòn nhưng ba tôi chẳng ghé vào ăn. Ði chơi khơi khơi, mỏi chân ngồi nghỉ trên băng ghế xi măng giữa công viên thưa thớt cây xanh và chung quanh trang trí vài bồn hoa sặc sỡ.

Ngồi đây nhìn ngắm phố phường Sài Gòn bốn phương tám hướng. Nhìn dòng xe xuôi ngược, những dòng người tay xách nách mang hành lý băng qua cầu thang sắt ngang đường đến ga xe lửa về quê, những người buôn thúng bán bưng ngồi chật phía ngoài cửa chợ cất cao tiếng rao mời khách, những đứa trẻ đành giày, bán báo dạo lăng xăng đánh bóng mấy đôi giày “botte de sault” của mấy anh lính Mỹ.

Tôi may mắn hơn mấy đứa trẻ cùng trang lứa đó. Và tôi cố tìm trong những đứa đánh giày xách thùng đi trong công viên trước chợ một hình dáng thân quen. Tự nhiên lúc đó tôi nhớ thằng Hên người bạn nhỏ nhà xóm bên mới học lớp ba đành bỏ học đi bụi đời. Chừng tuổi ấy ra đời có thể làm gì kiếm sống ?

Hoàn cảnh gia đình nó không đến nỗi tan hoang khi tự dưng ba nó bỏ nhà theo vợ bé, má nó cũng không vừa bỏ mặc đám con sống chết tự lo đi buôn chuyến xe hàng dài ngày, cả tháng mới về nhà năm ba bữa. Rồi tôi nghe hàng xóm nói thằng Hên bỏ nhà ra đi, mới tí tuổi đầu mà lá gan to bằng người lớn. Thỉnh thoảng tôi ghé ngang dò la tin tức nhưng lúc nào cửa nhà cũng đóng im lìm.

Thế là tôi mất một thằng bạn nhỏ chơi bắn bi, nó sống ở đầu đường xó chợ khiến lòng tôi ngậm ngùi, chợt nhớ đến bài hát “Nó” văng vẳng đâu đây. “Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ. Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo. Ngày nó sống kiếp lang thang. Ngẩn ngơ như chim xa đàn, Nghĩ mình tủi thân muôn vàn”.

Hồi nhỏ tôi không thích bài hát này, nghe như nỗi đau quất vào da thịt một đứa nhỏ nhưng sau này hiểu ra chút ít. Thời buổi đó, trẻ con mồ côi mất cha mất mẹ vì chiến tranh bom đạn, vô gia đình vì muôn vàn lý do đều có thể đẩy đứa trẻ ra ngoài đường phố. Lòng cảm thương cho thân phận nhỏ bé lặn hụp trong cuộc đời mà ông nhạc sĩ Anh Bằng viết nên lời nhạc buồn đó chăng. Xem ra thằng có cái tên Hên mà chẳng may chút nào.

Lớn lên chút xíu, tôi biết la cà trên đường phố sau những buổi tan học cuốc bộ về nhà. Trường tôi nằm ở quận 3, nên con đường Bà Huyện Thanh Quan bán đầy bò bía, chè đậu xanh đậu đỏ, là một địa điểm hấp dẫn giới học trò chúng tôi. Nhưng với tôi, con đường Trương Ðịnh cắt ngang gần đấy rất đỗi nên thơ, nhất là đoạn giữa gần trường Nguyễn Thị Minh Khai (Gia Long ngày trước) ra Công viên Tao Ðàn. Một con phố bình yên và rất lặng lẽ với những hàng dầu hàng sao rợp bóng.

Những hàng cây cao bóng mát này lại là ký ức đẹp, tôi mang hình ảnh đó vào bài tạp văn “Những hàng cây thị xã” trong một lần về thị xã Trà Vinh.

Mỗi khi có dịp đi qua tỉnh nào đó, tôi hay hỏi người bản xứ về cảnh đẹp địa phương. Hôm đến Trà Vinh, người đầu tiên tôi hỏi là chị chủ nhân khách sạn chỗ tôi trọ. Ðã gần nửa thế kỷ sống ở đất Trà Vinh, chị bảo trong thị xã không có cảnh gì đẹp ngoại trừ những ngôi chùa Tàu, chùa Việt và đặc biệt là chùa Khmer cổ kính.

Hôm sau, trên đường đến Trường Ðại học Trà Vinh, tôi hỏi một cô gái tuổi mười chín, đôi mươi. Sau vài phút do dự, cô cho tôi một câu trả lời thật bất ngờ: Những con đường rợp bóng cây xanh ở thị xã…

Ðúng vậy đó. Chiều dần buông, đứng ngoài ban công khách sạn nhìn về góc xanh thị xã thấy rõ những vạt nắng vàng vương trên tàn me làm những vòm lá trông thật mơ màng. Hình ảnh ấy đã quyến rũ tôi rời khách sạn thả bộ về hướng đó. Từ con đường Hàng Ðiệp bông trổ lấm tấm vàng, qua Hàng Sao cao vút đứng lặng thinh, bước lại Hàng Dầu um tùm lá chen lẫn màu hoa dầu hồng non ưng ửng. Dầu là loại cây rừng cho gỗ, thân có nhựa dùng để trét ghe rất tốt nên người ta cũng gọi là dầu rái, có người gọi là dầu dù.

Trái dầu có hai cánh lá, nhưng nói là cánh hoa đúng hơn. Lúc còn non, chúng có màu hồng pha màu cà phê sữa, hạt lộ ở cuống hoa. Hạt non màu xanh có khía giống như hạt xí muội. Ðến cuối tháng Bảy thì trái dầu già khô lại. Trái cùng hai cánh hoa ngả sang màu nâu đất sét. Chỉ cần một chiều lộng gió, những cánh hoa già rơi khỏi cành mẹ bung ra như cơn mưa dù, xoay tít bay bay trong không trung mang theo chiếc hạt, nhẹ nhàng đáp xuống mặt đất. Hình ảnh đó trông thật thích mắt và luôn để lại ấn tượng cho nhiều người. Chẳng thế, hình ảnh cánh hoa dầu bay trong gió đã vào thơ vào nhạc :

Cánh hoa dầu xoay tít bay bay

Nhớ chiều nào, bên em từng giờ…

Dù chưa có được cái cảm giác hạnh phúc bên em như nhạc sĩ Giáp Văn Thạch nhưng những “cánh hoa dầu xoay tít bay bay” ấy bay mãi trong ký ức tuổi học trò của tôi. Tôi biết được điều này là nhờ có lần được ba tôi dẫn đi Chợ Cũ Sài Gòn ăn phở. Từ nhà, hai cha con đi bằng xe ngựa, rồi lội bộ dọc theo đường Hồng Thập Tự vào vườn Tao Ðàn. Vườn Tao Ðàn ngày ấy rất vắng người, chỉ toàn cây dầu cao tít và tàn lá che mát cả một vùng rộng lớn.

Ba đi trước, tôi theo sau, giẫm chân lên những chiếc lá khô xào xạc giống như những nhà thám hiểm trong một cánh rừng già. Bỗng ba tôi cúi xuống nhặt những trái có hai cọng lá khô, hỏi tôi có biết trái gì không, rồi ba tôi bảo quăng chúng lên trời. Kể từ sau đó, những trái dầu dù theo tôi đến lớp cùng chúng bạn thả từ lầu ba xuống chào đón ngày khai giảng năm học mới, khi những cánh phượng hồng đã rời xa mùa hạ. Những cánh hoa dầu bay bay không mất tiền mua của lũ nam sinh chúng tôi đã làm bọn con gái học trò thích mê…

Tất nhiên nỗi nhớ nơi mảnh đất mình sinh ra và lớn lên của mỗi người đều rất nhiều và mỗi người có quyền lựa chọn những hình ảnh ký ức đẹp đẽ nhất. Cái đẹp làm tâm hồn lắng đọng cho ta khoảnh khắc bình yên giữa nhịp sống hối hả xôn xao của chốn thị thành. Có người chẳng thèm nhớ con hẻm nhỏ ngày xưa nơi sinh ra và lớn lên như anh bạn của tôi. Anh bảo ghét lắm cái xóm lao động đã nghèo mà còn hay sanh sự, đánh lộn nhau hà rầm. Người bên ngoài nghe đi vào xóm Miếu Nổi là sợ bọn lưu manh. Anh thích những con hẻm ngoài phố trung tâm bên hông đường Hàm Nghi hay các con hẻm của người Tàu Chợ Lớn trên đường Trần Hưng Ðạo, Ðồng Khánh. Những con hẻm đó bình dị và hiền lành khác xa hẻm lao động xô bồ xô bộn.

Thế nhưng khi nghe tôi hỏi chuyện xóm nhỏ Miếu Nổi ngày xưa thì anh kể ngàn chuyện lẻ một không hết. Anh nhớ từ góc phố con hẻm xưa với một tâm hồn trẻ trung và rộng lượng. Dường như anh yêu mảnh đất mình “ghét bỏ” hơn bao giờ. Bởi vì khi cái gì mất đi hay xa rồi mới làm lòng ta hồi tưởng và càng yêu mến hơn. Chẳng thế mà nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. (theo Trang Nguyên)

Dung Dung chuyển tiếp

SÀI GÒN CỦA TÔI,

50 NĂM TRƯỚC

Đặt chân tới Sài Gòn năm 1954, lúc ấy tôi là đứa bé 9 tuổi, theo gia đình từ miền Bắc di cư vào miền Nam tự do. ký ức của đứa bé 9 tuổi hẳn nhiên không thể ghi nhận được gì nhiều; nhưng đứa bé lớn lên và sinh sống tại Sài Gòn từ thuở ấy tới bây giờ, đã giúp tôi dễ dàng gợi dậy trong ký ức, ít nhất là những hình ảnh đậm nét của Sài Gòn, 50 năm về trước.

Ấn tượng về Sài Gòn trong tôi từ lúc ấy tới bây giờ cũng không phai nhạt bao nhiêu, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ấn tượng sâu đậm, bởi Sài Gòn những ngày tháng ấy quá mới lạ trong tâm trí tôi, đứa trẻ đã trải qua một đoạn đời ấu thơ tại hà nội.

Điều đầu tiên tôi nhận biết lúc ấy, tôi nói với cha tôi, là Sài Gòn có vẻ rất Tây so với Hà Nội. cha tôi bảo, bởi vì một trăm năm Pháp thuộc, Sài Gòn và miền Nam là thuộc địa; trong khi Hà Nội của miền Bắc là bảo hộ.

Cha tôi làm thông ngôn trong quân đội liên hiệp Pháp, dạy tiếng Pháp cho các con từ nhỏ; nên tôi nhớ được rành rõ những tên pháp ngữ đặt cho nhiều đường phố lớn của Sài Gòn lúc ấy. căn nhà đầu tiên của gia đình chúng tôi khi vào Sài Gòn ở đường Bà Hạt, quận 10. ðường Bà Hạt là đường phố nhỏ, một đoạn chạy ngang đường phố lớn mang tên Tây, là Lacaze – tức đường Nguyễn Tri Phương.

Vài năm sau, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho thay thế tên Tây; vẫn giữ lại tên những danh nhân thế giới, dù danh nhân ấy là người Pháp, như Calmette, Pasteur, Alexandre De Rhodes… những đường phố mang tên Tây, đa số là quan chức pháp, được thay thế, như : Bonard – Lê Lợi; Charner – Nguyễn Huệ; Galliéni – Trần Hưng Ðạo; De La Grandrière – Gia Long; Catinat – Tự Do; Lacaze – Nguyễn Tri Phương… tuy nhiên, nhiều năm sau đó, dân Sài Gòn vẫn nói: ði bát phố Bô-Na, Catinat; đi mua hàng ở thương xá Charner…, luôn là gọi tên Tây, cho 3 đường phố đẹp bậc nhất của Sài Gòn.

Phố phường Sài Gòn lúc ấy đa số là những con đường lớn rộng, dài dằng dặc. và rất nhiều cổ thụ. ðặc biệt loại cây có tên rất bình dân là cây dái ngựa – tên khoa học là meliaceae – thân to nổi mấu gồ ghề, tỏa rộng cành lá, bóng mát ngợp đường Lê Ðại Hành, trước mặt trường ðua Phú Thọ, quận 11. hàng cây me xanh mát mắt suốt con đường Gia Long, con đường có bệnh viện Grall do người Pháp lập nên, giữa vườn cây rộng rinh. rừng cao su bát ngát, chạy dài theo con đường Nguyễn Văn Thoại, từ trường ðua Phú Thọ tới ngã tư Bảy Hiền…

Năm tôi còn nhỏ tuổi, cha vẫn dẫn đi chơi mỗi chủ nhật. vào vườn ông Thượng, còn có tên tây là Bờ-Rô, sau đó mới gọi tên là vườn Tao Ðàn; dẫn đi chơi ở sở thú – Thị Nghè… cây trồng ở sài gòn phong phú là nhờ công sức của vị giám đốc sở thú đầu tiên, người Pháp; ông từng là chuyên viên nghiên cứu về cây trồng ở nhiều nơi trên thế giới; nhất là vùng nhiệt đới ở phi châu, có nhiều loại cây thích hợp với thổ nhưỡng sài gòn. những năm sau này, lớn thêm vài tuổi, lại được anh cùng cho đi “bát phố Bô-Na”, để thấy rõ Sài Gòn quả là rất Tây; tôi tha hồ thưởng ngoạn vẻ đẹp “Paris” của nó.

Tản bộ trên đường Catinat, từ nhà thờ Ðức Bà tới bến Bạch Ðằng, nhìn ngắm các cửa hiệu sang trọng thời thượng dọc con phố. và passage Eden, rất nên gọi là “hành lang ði bộ,” chính diện nhìn ra đường Catinat. passage Eden gồm trong đó: bát phố; xem chiếu phim – trong rạp Eden giữa lòng hành lang; mua sắm; ăn kem uống cà phê ăn tối ở quán givral liền bên… và ngắm nhìn trai thanh gái lịch, quý ông bà Sài Gòn, cũng ở trong đó.

Trai thanh – quý ông thì áo sơ mi quần tây trắng lốp; mũ flechet; giày deux couleurs; đồng hồ quả quít đeo ở dây lưng. gái lịch – quý bà thì áo dài lemur-cát tường không thua phụ nữ hà nội, hoặc vận jupe như “bà đầm”; tay xách porte feuille, chân đi guốc cao gót; tóc búi cao hoặc uốn dợn sóng, cổ đeo kiềng vàng…

Ra vào passage Eden nhiều lối, ưa thích ra vào lối nào cũng được. anh tôi dẫn tôi vào lối cửa ở đường Charner, rồi đi vòng qua Bonard, rồi ra cửa Catinat… rồi chúng tôi ghé hiệu sách Albert Portail – sau có tên là Xuân Thu – sát cạnh đó, toàn là sách từ bên tây đưa sang, tha hồ mà đọc mà ngắm.

Rồi với bạn học cùng lớp cùng trường Chu Văn An, trường-trung-học-di-chuyển-Bắc-Việt (có ghi ở bảng hiệu của trường như vậy, vì trường cũng di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn) đi chơi và chụp ảnh lưu niệm Sài Gòn.

Bất cứ buổi sáng chủ nhật nào, góc thân thuộc nhất, tập trung nhiều nhất các “bác phó nhòm” chính là quảng trường trước mặt quán Givral. mái hiên cong kiều diễm của quán Givral, và con đường Catinat thẳng tắp, với hai hàng cây hai bên chạy dài ngút mắt, đã đi vào không biết bao nhiêu tấm ảnh lưu niệm Sài Gòn. hoặc những tấm ảnh của cả gia đình, lưu niệm ngày đi mua sắm ở thương xá Charner; buổi dùng bữa cơm tây ở một nhà hàng pháp trên phố Bonard…

Những ngôi đền Ấn ðộ giữa lòng Sài Gòn lúc ấy, cũng đi vào ký ức của đứa bé miền Bắc di cư khá đậm nét. sao mà sài gòn nhiều đền đài của Ấn giáo, với kiến trúc tinh tế kỳ công đến thế. những ngôi đền uy nghi tọa lạc ở các con đường Tôn Thất Thiệp – Trương Ðịnh – Công Lý của quận 1, trung tâm Sài Gòn. người Ấn ðộ sinh sống tại Sài Gòn khá đông, chỉ không nhiều bằng người Hoa, ở cả một vùng Chợ Lớn. tôi nghe dân Sài Gòn gọi họ là Chà Và. sau này tôi mới hiểu, Chà Và là đọc trại từ Java, gọi chung cho người Ấn ðộ và người Mã Lai; họ thường làm nghề mại bản, quản lý nhà đất, cho vay tiền, làm trung gian giữa người Việt và người Pháp…

Ðường Tôn Thất Thiệp, vào năm 1954 vẫn được xem là một tiểu Ấn ðộ, với những ông Chà Và cho vay tiền, chủ quán cà ri nị, mở tiệm kim hoàn. những người Ấn ðộ gốc ở Bombay thường kinh doanh ngành vải; họ có nhiều cửa hiệu ở đường Catinat, Bonard, Hàm Nghi, Galliéni, và chợ Bến Thành. từ lâu trước đó, cộng đồng người Ấn ðộ ở quận 1 còn đông đảo hơn nhiều; đã có một đợt người Ấn ðộ rời Sài Gòn sang định cư tại Pháp, vào năm 1945.

Có lẽ cái mới lạ, và thấy thân thương nhất, đối với người miền Bắc di cư vào Sài Gòn như tôi, là những quán tiệm bình dân, tiệm hoa kiều. hai thứ quán tiệm này khá giống nhau. buổi sáng tới quán, những ông già Sài Gòn đọc-nhựt-trình, nói chuyện ưa chêm tiếng Pháp, xưng tôi là mỏa (moi); những bà già hút thuốc điếu; những anh tài xe xích lô máy chở cả vợ con trong lòng xe rộng bè, tới quán ăn hủ tíu uống cà phê, xong chở về nhà rồi mới đi chở khách. một thời gian trong năm 1954-55, khi có xài tiền 5 cắc bằng kim loại; thì tại Sài Gòn, cứ việc lấy giấy bạc một đồng – có hình Nam Phương Hoàng Hậu – mà xé làm hai, xài một nửa tương đương 5 cắc ! thật là thuận tiện, đơn giản.

Người Sài Gòn – Nam Bộ không cần thiết phải biết tên người mới quen; chỉ hỏi người này là con thứ mấy trong gia đình, để kêu anh hai, anh ba… thân thương biết mấy ! chuyện trò với người Sài Gòn – Nam Bộ, câu chuyện của họ giản dị, rõ ràng, không úp úp mở mở; không bắt người cùng trò chuyện với mình phải chịu đựng sự vòng-vo tam quốc, sự rào trước đón sau, như rất nhiều người miền Bắc và miền Trung, trong đó có dân di cư năm 1954 thường như vậy. (theo Nguyễn Ðạt)

NGƯỜI SÀI GÒN…XƯA !

Dù bạn sinh quán ỏ đâu, trước 1975 đã sống lâu tại Sài Gòn, bạn vẫn là: ngưỜi Sài Gòn.lần đầu tiên lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y. chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi. ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán, mà bụng vẫn trống không.

Nhỏ lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm, cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. kêu thêm dĩa nữa thì không dám, vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia… ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ.khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thỉnh thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì đâm lo. không biết tiền mang theo có đủ để trả không.

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại.thôi, tính hai dĩa cơm thôi. phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn, chị không tính. ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu. chỉ có nải chuối, cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp.bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. cũng trong những năm thập niên 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô.. mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng. lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. thế nhưng vẫn rán vì trong túi không còn tiền. chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: “xích lô !”. luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi: “anh chị đi đâu ?”.

– Cho ra bến xe miền Tây. nhiêu ?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết bến xe miền Tây đâu mà cho giá. thôi đành chơi trò may rủi: “dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. tới đó cho nhiêu thì cho”.

Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. người con trai nói: “mười lăm đồng mọi khi vẫn đi. cứ chạy đi tui chỉ đường”.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: “em mới chạy xe, đi xa không nổi. anh chị thông cảm đi xe khác giùm”.

Ai ngờ người con trai ngoái đầu lạ : “tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. đưa xe đây tui đạp cho. tui cũng từng đạp xích lô mà !”. thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền.không phải 15 đồng mà tới 20 đồng. Chắc cũng chỉ có người sài gòn mới khoáng đạt như vậy !

Người Sài Gòn tốt bụng, chia sẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. già trẻ, lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm.có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất sài gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây : “bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. hỏi hoài mệt quá !”.

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không.với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà, kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí. Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. sẽ có nhiều người bảo cái ly nhiều người uống, bẩn chết đi được, nhưng không biết họ có cách nào hay hơn ? (mua ly giấy, uống xong vứt…. mời các người ấy về Sài Gòn mua ly giấy cho khách thập phương dùng).

Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống, hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn !.Bi giờ còn vậy nữa không ? cũng còn, nhưng mà nếu bạn không gặp người như vậy ở sài gòn là vì những người mà bạn gặp đó không phải là người Sàigòn !

Tui hỏi anh cyclo “đạp từ rạp rex về cầu Chông (nhà tui) giá bao nhiêu ?”. anh nói “20 ngàn”.tui nói “30 ngàn thì tui mới đi”. anh cyclo lập lại “20 ngàn”. tui cũng nói như cũ. anh cyclo tưởng tui là thằng này khùng và nói “thôi lên xe đi”.đến nhà, tui đưa anh 30 ngàn và cám ơn. Năm 1978 khi ra tù tại ga xe lửa đường Lê Lai, một anh cyclo đến hỏi tui “về đâu ?”, nhưng khi nhìn thấy bộ đồ tù tui mặc nên anh nói câu mà tui nhớ đời “lên đi thằng ông nội, tui chở về…không có tính tiền đâu“. làm sao tui quên được câu nói đó.

Người Sài Gòn là như vậy bạn ơi !

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp

CHUYỆN CỔ TÍCH Ở BẾN BÌNH ĐÔNG

CHUYỆN CỔ TÍCH

Ở BẾN BÌNH ĐÔNG

– Truyện ngắn : Nguyễn Minh Nữu

Năm nào khi về đến Saigon, tôi cũng dành một buổi chạy xe về bến Bình Đông. Lần đầu về vào năm 2000, tôi còn có dịp gặp bác Ba Thanh, khi đó cụ cũng đã gần sát tuổi chín mươi, và Triều là bạn học chung với tôi thời trung học ở trường Nguyễn Bá Tòng. Dần dà những chuyến sau về, cụ Ba Thanh đã mất, cụ bà cũng mất sau đó vài năm, và ngay cả Triều cũng lâm bệnh rồi từ trần năm 2016.

Căn nhà cổ kính nằm giữa vườn cây trái bây giờ còn lại gia đình Phiệt (con trai của Triều). Cái liên lạc thân tình của tôi với cả ba thế hệ của gia đình này là một câu chuyện khá dài.

Triều nằm trong nhóm ba đứa thân nhau học chung lớp từ hồi lớp đệ Nhị (bây giờ gọi là lớp 11) trong đó tôi thì nhà ở gần trường, còn Triều và Mai ở tuốt trong Chợ Lớn. Nhà Mai bên này rạch Lò Gốm gọi là khu Bình Tây, còn Triều nằm bên kia rạch Lò Gốm gọi là bến Bình Đông.

Lớp đệ Nhị mà Triều đã có xe Honda đi học thì là gia đình khá giả lắm. Bến Bình Đông và khu Bình Tây nằm song song với nhau phía cuối kênh Lò Gốm, Bình Tây thì có hãng rượu Bình Tây, sát với khu trung tâm thương mại người Hoa ở Chợ Lớn, có chợ Bình Tây, khu bến xe Chợ Lớn là trung tâm xe chở hành khách về các tỉnh miền tây.

Bến xe Chợ Lớn khác với xa cảng Miền Tây ở chỗ xa cảng Miền Tây là bến xe khách lớn, chở khách về các tỉnh lỵ như Cần Thơ, Mỹ Tho, Châu Đốc , Rạch Giá, còn bến xe Chợ Lớn đa số là xe nhỏ 16 hoặc 24 chỗ ngồi, nhưng lại chở khách về các địa danh huyện lỵ cũng là về miền tây, nhưng nếu Xa Cảng Miền Tây chở khách về Đồng Tháp là về bến xe tỉnh Đồng Tháp, thì bến xe Chợ Lớn chở khách về thị trấn Hồng Ngự là một huyện của Đồng Tháp chẳng hạn.

Bến Bình Đông nằm song song với bến Lê Quang Liêm của Bình Tây, nhưng nằm về phía bên kia kênh Lò Gốm. Bình Đông nằm giữa hai con kênh, bên này là kênh Lò Gốm và bên kia là Kênh Đôi. Cách gọi tên các dòng nước này tùy từng đoạn mà có tên riêng, người ngoài thành phố nghe rất khó hiểu.

Thực ra là như thế này : Từ Sông Saigon, có hai nhánh rẽ vào phía nam, nhánh trên gọi là Rạch Bến Nghé, nhánh dưới gọi là Kênh Tẻ, hai nhánh sông này gặp nhau và nhập thành một tại Cầu chữ Y, sau đó lại chia thành hai nhánh chạy tiếp về phía nam, một nhánh gọi là kênh Lò Gốm và một nhánh gọi là kênh Đôi.

Kênh Lò Gốm và Kênh Đôi nhập vào nhau tại Bình Đông, từ đây dòng kênh Đôi lớn hơn và chảy thẳng ra sông chợ Đệm. Đoạn đường hai bên kênh Lò Gốm khúc gần hợp lưu này toàn là các Chành, các Kho, Phía bên Bình Tây là các chành gạo, nông sản, phía bên kia sông là Bình Đông thì đa số các nhà kho lớn chứa phân bón , thuốc trừ sâu và nông cụ.

Bình Tây sầm uất vì sát với khu thị tứ và các chành xuất nhập gạo lúa nông sản thường xuyên mỗi ngày, còn Bình Đông thì vắng lặng hơn vì mặt tiền đường sát bờ sông dài hằng hai ba cây số đều là những nhà kho lớn, kín cổng cao tường, đàng sau dãy nhà kho đó là khu dân cư, nhưng cũng thưa thớt ít người.

Nhà của Triều là một trong vài chục căn nhà hiếm hoi nằm ở mặt tiền đường, ngôi nhà xây cất theo kiểu cố, nằm sâu vào trong, bao bọc quanh nhà là vườn cây khá rộng, nhà Triều trồng rất nhiều Mai, từ trước ra sau, bên phải bên trái đếm ra cả mấy trăm cây lớn nhỏ.

Đặc biệt ngay cửa chính vào nhà, giữa sân là một cội lão Mai khá lớn, thân cây có lẽ hơn 20 cm, không mọc thẳng lên cao, mà khoảng cao gần 1 mét bỗng gập gãy như hình chữ V ngược một đoạn mới lại vươn lên. Chỗ gập gẫy đó tạo như một mắt cây, xù xì cổ kính, cùng với các nhánh cành khác mọc ra đan chen nhau thành một hình dáng vừa kỳ dị vừa bắt mắt. Khi tôi tới chơi với Triều lần đầu, Cây Mai đã cao hơn tôi khá nhiều rồi, xum xuê những nhóm nụ xanh tươi khỏe mạnh vào dịp gần tết.

Triều gốc là dân Vĩnh Long, gia đình lập nghiệp ở Saigon từ mấy đời là do ba của Triều: Bác Ba Thanh làm công chức ở thành phố. Mẹ Triều buôn bán trái cây ở chợ xóm Củi , gần nhà. Triều là con một, sống với ba má. Triều là dân miền Nam truyền thống, gương mặt bầu bĩnh trắng trẻo và lúc nào nhìn cũng có vẻ như sắp cười, tính tình khoáng đạt rộng rãi, không thích bắt lỗi người khác mà chỉ chọc ghẹo gây cười rồi quên đi .

Những ngày cuối tuần, tôi đạp xe xuống nhà Mai, rồi kéo qua nhà Triều chơi giống như về quê. ở đó chúng tôi thả diều, qua kênh Đôi lặn hụp dưới sình bắt cá Lia Thia, bắt cua bắt ốc rồi về nhà Triều mở tiệc liên hoan…. không có rượu. Ba của Triều tôi gọi là bác Ba người tầm thước, khuôn mặt phúc hậu và rất thương con cùng lúc quý bạn của con, chúng tôi được sống như trong gia đình , rất đầm ấm và vui vẻ.

Sau Trung học, chúng tôi chia tay nhau, mỗi đứa đời xô đẩy đi một hướng khác nhau, Triều thì học Sư Phạm, ra trường đi dạy ở gần nhà, Mai thì làm việc ở Phú Giáo, Bình Dương.Tôi thì phiêu bạt lên tới cao nguyên Ban Mê Thuột, thế mà khi có dịp về lại Saigon là chạy đi tìm nhau. Lần nào về cũng có cảm giác như trở về nhà, Bác Ba gái từ sau nhà chạy ra vồn vã: Chèn ơi, bây về hồi nào ? thằng Mai biết bây về hôn ? ngồi đó đi tao ra trường kêu thằng Triều về.

Tôi đón vòng tay ôm của bác Ba mà ứa nước mắt vì xúc động. kệ lát nó về, kêu nó chi bác, con ở đây tới ngày mai mà.

– Dzậy hả, vậy bây ngồi chơi đó nghe, tao nấu nồi canh chua cho bây nhậu với Ba nó nghe, lóng rầy nó quậy lắm, biết uống bia uống rượu với ổng rồi.

Tiếng xe gắn máy chạy vào sân, rồi tiếng Triều la thất thanh, Trời phải mày không ? đi đâu mất biệt không thấy tăm hơi là sao…..

Hai đứa ôm chặt lấy nhau, lặng điếng không nói ra lời. Triều quay lại nói với má, con chở nó qua nhà thằng Mai coi có thằng Mai về không nghe má…….

Rồi sau 75, cuộc sống vượt khỏi suy nghĩ bình thường. Bác Ba Thanh đi học tập 3 năm mới về, thân thể mang đủ thứ bệnh mà chẳng biết bệnh gì, chỉ càng ngày càng ốm yếu , đau nhức khắp người. Mai thì lấy vợ ở Phú Giáo và ở lại quê vợ luôn. Tôi về làm công nhân ngay quận 6. Cuộc sống khó khăn từ miếng cơm manh áo nên thời giờ ghé lại thăm nhau cũng ít dần đi.

Triều vẫn đi day học nhưng vài ba tháng ghé lại một lần lại thấy thiếu mất một cái gì. Đầu tiên là cái xe gắn máy chuyển thành xe đạp, rồi thì bộ bàn ghế gõ phòng khách thay bằng cái bàn Mica và mấy cái ghế nhựa, rồi thì trên bàn thờ trang trọng xưa đã có vẻ trống trải vì thiếu bộ lư và đôi chân nến bằng đồng, hình như còn nhiều thứ nữa mà tôi không biết, nhưng thái độ niềm nở ân ần thì chẳng khác gì xưa.

Cho đến một lần khi tôi qua, cả nhà im ắng một cách kỳ lạ, tôi đi thẳng vào buồng sau, chỗ bác Ba nằm thì thấy bác Ba gái ngồi trên ghế cạnh giường ôm mặt khóc thút thít, bác Ba trai nằm nhưng cặp mắt vẫn mở, nhìn đăm đắm lên trần nhà. Triều kéo tay tôi bước ra ngoài… Chuyện gì vậy ?

Triều thở dài, chỉ vào cây Mai lớn giữa sân, có người tới muốn mua cây Mai này với giá 4 chỉ vàng, mà nhà bây giờ kẹt quá rồi, ba tao bịnh mấy năm nay, giờ má cũng bịnh nữa, nhà không có tiền mà ba tao nhứt định không cho bán, ổng nói chờ ổng chết rồi bán. Nhà còn có cái gì khác mà bán để lo bịnh dược đâu.Tao tính bán lấy tiền lo thang thuốc rồi mua chiếc xe xich lô tối về đạp thêm kiếm tiền….

Lúc đó tôi nhìn quanh vườn mới thấy vườn sơ xác trống trơn, cây cỏ mọc tùm lum, mấy trăm cây Mai trồng khắp vườn hình như đã được nhổ lên đem bán từ hồi nào… Tôi hỏi Bác có nói tại sao không cho bán không ? Triều lắc đầu, ông chỉ không là không. Không bán gì hết, chết thì chịu chứ không bán..

Khuôn mặt của Triều quắt queo, xanh lè, khi tay hai đứa nắm vào nhau, cả hai bàn tay đều lổn nhổn xương, xiết vào nhau đau buốt. Tôi cậy mình như là con cháu ruột thịt, nên đến bên giường cầm tay bác Ba góp ý, Bác ơi, một đời ta bằng ba đời nó, nay hoàn cảnh chung ai cũng chật vật, số tiền 4 chỉ lớn lắm,có thể lo cho bịnh tình hai bác mà còn có thể tạo ra việc làm cho Triều kiếm sống nuôi gia đình…..

Bác Ba nhìn tôi, nước mắt ứa ra, nói chầm chậm… tao biết bây nghĩ đúng chớ không sai, nhưng cây Mai này tuổi đã hơn trăm năm, là di sản từ thời ông nội thằng Triều, đem về đây trồng ngay bữa má thằng Triều sanh ra nó, hơn vậy, tuy trồng ở đó mà có phải của mình đâu, làm người phải coi trọng lời hứa…. đợi tao chết rồi bây làm gì đó thì làm….

Giọng bác Ba trầm, buồn nhưng dứt khoát, chỉ là chi tiết trồng ở đó mà đâu phải của mình thì tôi không hiểu tại sao mà không dám hỏi. hôm đó đi về mà lòng nát tan, đau xót thương yêu mà chẳng biết làm sao để chia sẻ với Triều.

Bến Bình Đông từ bao đời nay là nơi cặp bến của ghe thuyền miền Tây chở theo hoa kiểng và cây trái. Bên kia sông là bến Bình Tây chuyên về nông sản, lúa gạo. Các loại hoa kiểng chẳng những đổ về Bình Đông dồn dập vào dịp gần Tết , mà thường xuyên suốt năm vẫn có những chuyến ghe lớn chở trái cây đặc sản về cung cấp cho các chợ, cùng lúc hoa kiểng cho các vựa trong thành phố. Các chủ ghe lâu năm khi ghé lại, tạo ra một mối liên lạc thân tình với cư dân trong xóm và nhiều nhà dân trong xóm cũng trở thành nơi tạm chứa các thứ cây kiểng chưa tiêu thụ kịp.

Thời điểm 1980 ở thành phố nơi tôi sống như đang ngồi trên một cơn sóng dữ, cuộc đời mỗi người gánh mọi biến động lớn trên một con thuyền nhỏ, biết bao người đã vượt thoát đi, biết bao người đã chìm đắm xuống và biết bao người như tôi, cắn răng chịu đựng, sống mà chỉ biết sống hết một ngày hôm nay , ngày mai chưa biết. Miếng cơm , manh áo, giấc ngủ, và sự bình an chỉ biết chắc khi buổi sớm mai còn thức dậy được.

Mấy tháng sau, bất ngờ Triều ghé thăm tôi tại chỗ làm. Lần này nụ cười tươi rói, ngồi trên chiếc xe Xích Lô mới toanh, cười hi hí… Tôi chạy ra mừng rỡ, Bác Ba khỏe lại rồi hả ?

– Ba má tao khỏe rồi, tao tới báo với mày mấy tháng nữa tao lấy vợ.

Tôi la lên

– Úy trời, đứa nào ngu quá vậy ? Mày quen nó ở đâu ?

Triều kéo tôi vào quán cà phê lề đường và kể lại câu chuyện. Câu chuyện của Triều như thế này.

Ông nội của Triều là Chủ Sự trong tỉnh, là một hào phú ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ông có nhiều con nhưng hợp tánh nhất là người con thứ, là ba của Triều, nên cuối đời, ông về sống với vợ chồng con ở tại bến Bình Đông.

Ông thích hoa kiểng và có lòng hào phóng thương người, hôm người con trai có đứa con đầu là Triều vào dịp sát tết Nguyên Đán, ông thảnh thơi đi dạo bến sông, ghe thuyền tấp nập cặp sát mé bờ, ngay trên bờ là các loại hoa kiểng chở lên bày đầy đặc. Ông bất ngờ dừng chân ở một khoảng bày toàn là Mai, cả mấy chục chậu Mai lớn nhỏ, mỗi cây được bọc một bao tải vải bó rễ và đất tưới ẩm.

Ông bất chợt nhìn thấy một cây lão Mai khá lớn, hoa kép, mỗi hoa chồng lớp mấy chục cánh vàng tươi rực rỡ tuyệt đẹp. Ông đứng ngắm nghía hồi lâu thì một người đàn ông bước ra chào hỏi. Đây là một cặp vợ chồng từ dưới quê Đồng Tháp chở cây từ vườn lên bán. Ông hỏi giá cây Mai nhưng mắc quá ông không mua. cây Mai bình thường cũng cao lớn như vậy thì giá chừng hai trăm ngàn , mà cây Mai này đòi giá tới ba triệu.

Ông hỏi tại sao, người đàn ông lễ phép thưa không phải con thấy bác hỏi ngay cây này mà con nói giá cao, thiệt ra đây là một loại mai đặc biệt mà không chỉ vườn nhà con, nói rộng khắp huyện Lấp Vò của con chỉ có một cây này. Nó là loại Mai Hương, bác chơi hoa nhiều thì bác biết , hoa Mai là loại hoa có sắc mà không có hương, riêng cây này thì bác cứ hửi thử đi, Bông hoa tỏa ra một mùi hương dìu dịu, không phải hương Lài không phải hương Lý mà phảng phất như có chút mùi trầm, càng về đêm mùi hương càng đậm cho tới sáng phai nhạt dần. Ba con dặn cái này cần người hữu duyên, phải giá thì bán không thì đem về nên giá nó mới cao như vậy.

Tưởng chỉ chuyện trò như vậy rồi thôi, ai dè vài bữa sau, trời đã về khuya, ông Chủ Sự đi ngang qua ghe thì nghe tiếng khóc của phụ nữ. Sẵn cảm tình từ lần trò chuyện trước ông ghé qua hỏi thăm, té ra cặp vợ chồng kia cơm ghe bầu bạn đem cây lên bán có dắt theo hai đứa con khoảng 5 tuổi và 7 tuổi, hồi chiều, do bận rộn bán hàng, hai đứa bé chạy giỡn với nhau xẩy chân lọt sông chết đuối cả hai.

Không có thân nhân ở gần, tiền bạc vốn liếng không còn, hai vợ chồng ôm nhau khóc ngất, bây giờ phải gấp rút về quê vừa đau khổ vừa khó khăn chưa biết tính sao. Ông Chủ Sự suy nghĩ rồi nói thôi để tui mua mão hết mớ cây vợ chồng bậu đem lên để bậu lấy tiền mua quan quách cho sáp nhỏ rồi về quê. Hai vợ chồng cúi đầu cảm tạ và nói giá bán mão hết số cây là hai triệu.

Ông Chủ sự nói vậy sao được, nguyên cây Mai Hương đã là giá ba triệu rồi, mà bán mão cả chục cây còn lại có hai triệu là sao, thôi tui đưa bậu năm triệu để lo việc nhà. Hai vợ chồng kéo nhau quỳ xuống cám ơn và thưa rằng cám ơn ông hào phóng giúp người, nhưng thôi như vầy, năm triệu ông đưa coi như con mượn, về quê rồi khi có được sẽ xin đem lên trả, còn nay tất cả mớ cây con giao hết cho ông, những cây khác thì coi như bỏ, riêng cây Mai Hương xin ông trồng lại chớ đừng bán, khi nào có tiền tụi con đem lên sẽ xin chuộc lại.

Ông Chủ sự gật đầu, bậu tính sao cũng được. Rồi ông chỉ tay về phía căn nhà : đó đó là nhà của tui, chừng nào lên dược thì lên.

Đó là lý do vì sao ông Ba Thanh nhất định không cho bán cây Mai trước nhà. Triều kể tiếp, khi gia đình đang túng bấn tới độ có bữa ăn rau muống luộc trừ cơm thì bất ngờ có một cô gái tới hỏi thăm phải đây là ông Chủ Sự không ? khi biết chắc đúng, cô gái mới kể tiếp cô tên Ơn, là con gái của ông bà Hai Đậu, quê ở Lấp Vò, Đồng Tháp. Hồi ba mươi năm trước, khi cô chưa ra đời, cha mẹ cô làm vườn và bán cây kiểng, có năm chở ghe bán lên bến Bình Đông vào mùa gần tết giống như vầy, bất ngờ gặp tai nạn làm chết hai người anh chị ở bến sông, có được ơn ông Chủ Sự ở nhà này giúp đỡ nên mới đem được xác về quê.

Mấy năm sau thì sanh ra cô, nhưng gia đình làm ăn cũng không khá giả, mới năm rồi người cha từ trần, kể lại cho cô nghe cái ơn khó trả ngày xưa, nay nhờ được mùa lại thêm bán được mấy công đất, nên mẹ cô đưa địa chỉ sai cô lên đây đền ơn đáp nghĩa ngày xưa.

Mẹ của Triều lúc đó lại nảy sanh căn bệnh đàn bà, đi đứng khó khăn thiếu người giúp đỡ, Cô Ơn tự nguyện ở lại ít ngày giúp bà tắm rửa thay đồ. Cô Ơn đưa gia đình số tiền còn nhiều hơn giá 4 chỉ vàng mà còn nhất định không chịu lấy cây Mai Hương về lại dưới quê. Cô nói cây này nó chỉ sống được nhờ người có phước. Nay nó ở đây an lành con lấy nó đi làm chi. Khi thấy má Triều chưa bớt bịnh, cô nhắn tin cho mẹ cô lên thăm, và ở lại sống trong nhà như người thân yêu.

Má Triều gần ba tháng sau nhờ có người chăm sóc, nhờ tinh thần thanh thản vui vẻ và nhờ thuốc men chạy chữa đã gần khỏe hẳn. Lâu ngày bên nhau nảy sinh lòng quyến luyến, có bữa, má Triều mân mê tay cô Ơn, bà nói, phải chi bây ưng thằng Triều thì đời tao có phước quá. Cô Ơn cười mắc cỡ, biết ảnh có ưng con không mà bác hỏi vậy ? Triều đang nằm chèo queo ngoài bộ ván ngoài sân, nghe thoáng qua chạy vô cầm tay cô Ơn thú thiệt tui ưng cô từ khi cô từ ghe bước lên bờ kìa. Cô Ơn cười e thẹn, hai má đỏ hồng.

Ơn tính tình thuần hậu mà lại giỏi giang chuyện mua bán, khi hai đứa lập gia đình với nhau, Ơn lấy lại cái sạp bán trái cây ở chợ và về quê tạo đầu mối đưa cây trái lên giao hàng bán sỉ cho các chợ trong vùng, Triều ngoài giờ dạy học, thì thành người giao hàng chuyên nghiệp cho vợ, chiếc xe xích lô chuyển thành xe ba bánh phục vụ cho chuyện kinh doanh.

Khi tôi rời Việt Nam vào năm 1995, thì gia đình Triều đã là một gia đình êm ấm, hai bác Ba khỏe mạnh lại, sống nhẹ nhàng thảnh thơi với đứa cháu nội đầu lòng của Triều và Ơn.

Lần này về bến Bình Đông, lại đúng gần mùa Tết, trên bến thì tràn ngập hoa tươi đủ loại, dưới bến thì chen khít với nhau ghe bầu, ghe Rổi, xuồng chèo, thuyền máy hàng hàng lớp lớp sát bên nhau như một hội hoa nửa bờ nửa nước. Tôi ghé vào nhà Triều, căn nhà vẫn là kiến trúc cũ, cổ kính và thanh lịch nhưng nay được sơn phết mới, trang trí thêm cửa kính, máy lạnh, sân vườn tráng xi măng đường đi sạch sẽ, giữa vườn vẫn là cây Mai Hương nay đã cao quá nóc nhà, rực rỡ hoa vàng, tỏa hương thơm ngát.

Vợ chồng Phiệt đang xúm xít trang trí bàn thờ quay ra thấy tôi reo lên mừng rỡ… Bác Bảy về rồi…. năm nay đám kỵ ba con có bác Bảy ba con chắc vui lắm…Trên bàn thờ, di ảnh hai bác Ba nhìn xuống cười hiền hòa, lung linh trong ánh nến thắp trên đôi chân đèn sáng loáng, chiếc đỉnh thờ rực rỡ mầu đồng, thấp bên dưới là khuôn mặt của Triều cười mím chi y hệt như thời chúng tôi còn trẻ trâu.
Tôi hỏi Phiệt, Má mày đâu ? Má con đi chợ mua đồ làm tiệc chiều nay đãi bạn bè con .

– Ủa có tiệc gì vậy ? tất niên hả ?

Phiệt mắc cở…. dạ…. dạ….. không…. mừng vợ con có bầu.

Đứng trước hiên nhà, nhìn lên cây Mai Hương cao lớn tỏa hương dìu dịu mênh mang, Phiệt nói sau Tết, má con dâng cúng cây Mai Hương này vô chùa. Má con nói cây lão mai này đã cho gia đình con hưởng phước đã ba đời rồi, “Phước bất khả hưởng tận”, nên muốn để tất cả những người có tâm thiện cùng được hưởng phước như gia đình con .

Tôi quay lại nhìn Phiệt, sửng sốt về câu thâm nho Phiệt nói, không biết nó học được từ đâu, tôi nghĩ chắc là từ ông Nội. Như vậy, khoảng cuối năm sau nếu tôi còn đủ sức khỏe về thăm nữa, thì tôi có quen biết với cả 4 đời gia đình Triều rồi đó. Tôi với tay lấy mấy cây nhang và kính cẩn thắp lên trên bàn thờ với lòng thương nhớ và kính yêu thật đầy. (theo Nguyễn Minh Nữu)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

SÀI GÒN NHỮNG NGÀY TẾT

CÓ GÌ KHÁC ?

Người Sài Gòn nổi tiếng với tính cách cởi mở, phóng khoáng, không có nhiều nguyên tắc khắt khe, vậy người Sài Gòn đón Tết Nguyên Đán có khác với các vùng miền khác ? Tết tại Sài Gòn rất riêng, đường phố, quán xá, chợ,… vẫn mua bán chỉ khác là không quá đông như những ngày bình thường

Trong bữa cơm ngày Tết của người Sài Gòn nói riêng và người Nam bộ nói chung luôn luôn không thể thiếu 3 món là : bánh tét – tượng trưng cho sự ấm no từ đời này qua đời khác. Món thứ 2 là món thịt kho tàu hay còn được gọi là thịt kho trứng, thịt kho ngước dừa, thịt kho hột vịt, và cuối cùng là món khổ qua nhồi thịt – tượng trưng cho quan điểm : ”Ăn canh khổ qua thể hiện mong ước cuộc sống sung túc, mọi khổ cực sẽ qua đi và bắt đầu một năm mới tươi sáng hơn”.

Theo dòng thời gian thì các món ăn ngày Tết của người Sài Gòn cũng biến đổi khá nhiều, và cuộc sống ngày Tết cũng khác xưa hơn. Dù trong mâm cơm ngày Tết luôn hiện hữu ba món ăn cơ bản không thể thiếu của người Nam Bộ nhưng các món ăn ấy cũng đa dạng hơn rất nhiều.

Bây giờ bánh tét có rất đa dạng về màu sắc và mùi vị chứ không đơn thuần một loại được làm từ đậu xanh, nếp, và thịt heo (thịt lơn) như xưa nữa. Bây giờ người ta đã phát triển thêm nhiều loại bánh tét nữa do nhu cầu đa dạng hơn như: bánh tét chay gồm: bánh tét dừa, bánh tét chuối, bánh tét lá cẩm, thay vì nhân đậu xanh thịt heo cổ truyền bạn có thể thưởng thức bánh tét trứng muối thập cẩm nếu bạn nếu đến Sài Gòn cho dù cho phải vào dịp Tết hay không.

Tới Sài Gòn dịp tết bạn vẫn có thể thưởng thức tất cả các món ăn thường ngày do người Sài Gòn quan niệm rằng cả năm uống cà phê tại sao Tết không uống, cả năm ăn hủ tiếu gõ buổi tối tại sao Tết lại không ăn,….

Hơn nữa giá cả tại Sài Gòn không có quá nhiều biến động vào tết nên không cần quá lo lắng về giá cả vào dịp tết. Sài Gòn tết đường không tắc đi lại rất thuận tiện, hàng quán vẫn hoạt động mà còn không phải đợi như ngày thường nữa.

Ngoài ra bạn vẫn có thể thưởng thức cơm tấm sườn bì, cà phê bạc sỉu hay nhiều loại cà phê khác vào buổi sáng, hủ tiếu gõ hay nhiều món hấp dẫn đặc trưng như chè, ốc các loại, bún riêu, bún bò, bánh canh cua, bánh xèo, hàng loạt món ăn vặt giá từ 10.000đ trở lên như bánh tráng trộn, bánh tráng nướng, bánh xèo, xiên que,….

Hay vui vẻ cùng nhau trên bàn nhậu với các món nướng hay món cánh gà, chim cút chiên nước mắm thơm ngon,… bên nồi lẩu nghi nghút khói với nhiều loại rau xanh, lẩu ở Sài Gòn có rất nhiều  loại nhưng trong mỗi nồi lâu luôn có 4 vị: chua, cay, mặn, ngọt rất rõ

Một người Sài Gòn từng nói: Có tiền ăn nhậu thì dân Sài Gòn ngày nào cũng vui như tết. Vậy nên Tết ở Sài Gòn không những vui mà còn không khác ngày thường hơn nữa dịp Tết đến Sài Gòn không lo tắc đường, ít khói bụi hơn. Hãy đi và trải nghiệm Tết Sài Gòn để thấy Sài Gòn cởi mở và phóng khoáng ra sao nhé. Tham khảo giá khách sạn tại:

Lan Hương chuyển tiếp

MÓN NGON SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC

NHỚ LẠI MÓN NGON

SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC

– Nguyễn Ngọc Chính

Có nhà văn nào đó cho rằng khi viết về ẩm thực bụng phải đói mới “lột tả” hết cái ngon của món ăn. Tôi rất tâm đắc với ý kiến này. Hồi còn trong trại tù cải tạo, cái bụng lép kẹp lúc nào cũng sôi ùng ục, tôi và vài người bạn tù có “tâm hồn ăn uống” vẫn thường kể cho nhau nghe những món khoái khẩu của mình. Ăn “hàm thụ” sao mà ngon thế.  Phải nói ngon gấp nghìn lần ăn… thực thụ !

Thời cải tạo qua đi nhưng thời điêu linh lại kéo tới. Vào thời đó, cái để đút vào mồm chỉ toàn khoai mì chạy chỉ với bo bo, còn được mệnh danh là… cao lương.  Ngồi nhấm nháp cao lương mà cứ tức anh ách. Ai đó đã khéo chơi chữ mà đặt tên, mỉa mai không khác gì cái món “mầm đá” của ông vua ngày xưa !. Nhưng rồi cũng qua đi cái thời ăn để mà sống, người ta bỗng nhớ đến thời… sống để mà ăn ở Sài Gòn hoa lệ ngày nào.

Theo tôi, một trong những món ngon đó phải kể đến phở. Mặc dù phở có xuất xứ từ miền Bắc nhưng phở Sài Gòn thường ăn kèm với giá, ngò gai, húng quế vẫn ngon hơn phở Hà Nội thiếu hẳn các loại rau thơm mà lại không có giá.  Vào đến Sài Gòn ngày xưa có con đường tên Turc (Thổ Nhĩ Kỳ), một đầu là đường Tự Do (Catinat), đầu kia là đường Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).  Tiệm Phở Bắc được bán trong khuôn viên nhà thờ Hồi Giáo này, nên có tên là Phở Turc.

Sài Gòn 1954, lúc người Bắc mới vào Nam, những tiệm Phở Bắc hãy còn đếm được trên đầu ngón tay. Ðó là mấy tiệm Phở Thịnh đường Gia Long, Phở Turc đường Turc, Phở Minh đường Pasteur và Phở 79 ở đường Frère Louis (sau này đổi tên thành đường Võ Tánh và đến 1975 lại đổi thành Nguyễn Trãi thuộc quận 1).

Ngay bên hông rạp Casino có một hẻm nhỏ, đi vào hẻm đó là một dẫy nhà, đa số là nhà dân Bắc Kỳ di cư sớm, từ những năm 1920. Tiệm Phở Minh nằm ở dãy nhà đó. Phở Minh có cả phở bò lẫn phở gà nhưng đặc biệt hơn cả còn có bài thơ do thi sĩ Trần Rắc đề tặng.  Bài thơ được cắt chữ, đóng khung kính, treo trên tường.  Bài thơ Ðường Luật có 4 câu đầu như sau:

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành,

Trần Minh Phở Bắc đã lừng danh

Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn,

Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh.

Thi sĩ Trần Rắc chính là ông chủ tiệm giày Trần Rắc đường Lê Thánh Tôn, gần Khám Lớn Catinat năm xưa. Tiệm giầy Trần Rắc, và cả mấy tiệm giầy ở đường này, đều có cửa sau đi vào hẻm “ẩm thực” Casino.

Việt Nam ta đúng là… ra ngõ gặp nhà thơ. Ðến như ông chủ tiệm giày cũng có thể làm thơ về phở chứ chưa dám nói đến Tản Ðà là người viết nhiều về nghệ thuật ăn uống!

Trên đường Mạc Ðĩnh Chi (Massiges), gần bên hông Tòa Ðại Sứ Mỹ, còn có phở Cao Vân, dù tiệm phở này không nằm trên đường Trần Cao Vân (Larclause) cách đó không xa. Theo tôi, phở Cao Vân chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung” nhưng được nhắc tới cùng với phở Minh vì Cao Vân cũng có một bài thơ ca tụng phở của thi sĩ Tú Mỡ được viết bằng sơn ngay trên tường.

Trong các món ăn Quân Tử Vị

Phở là quà đáng quý trên đời

Chủ của phở Cao Vân ngày nay là một ông cụ Bắc Kỳ hom hem theo năm tháng. Ông không còn đứng ra nấu phở nhưng chiều chiều thường ngồi nhậu lai rai với các “chiến hữu” để hưởng nhàn !

… Trên đường Pasteur có Phở Hòa, khá nổi tiếng.  Ban đầu, lúc khai trương năm 1960, tiệm phở này mang tên Hòa Lộc.  Có lẽ sau này khách ăn cứ gọi tắt là Hòa nên Hòa Lộc biến thành Hòa theo kiểu gọi tên một chữ cho dễ nhớ thường thấy ở các tiệm phở (?). Phở Hòa chỉ chuyên loại phở bò, nếu vào đây mà tìm tô phở gà thì không có. Khách phải chịu khó ra đường Hiền Vương (bây giờ đổi tên là Võ Thị Sáu), đến tiệm Hương Bình, “chuyên trị” phở gà.

Nói đến phở Sài Gòn tại khu vực trung tâm, phải nói đến tiệm Phở 79, ngay tại số nhà 79 trên đường Võ Tánh.  Khoảng năm 1952, tiệm Phở 79 mở cửa, khi đó nền nhà của tiệm còn thấp hơn mặt đường.  Chỉ vài năm sau tiệm phát đạt, chủ nhân mua hai nhà bên cạnh, mở lớn thành tiệm Phở 79 khang trang và có thể nói là một trong những tiệm phở sạch nhất Sài Gòn thời đó.

Trường Sinh ngữ Quân đội có chi nhánh ở đường Nguyễn Văn Tráng rất gần với Phở 79 tại khu vực Ngã Sáu Sài Gòn. Ðám giảng viên chúng tôi thường xuyên ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối mỗi khi “ứng chiến” tại trường.

Phở tại đây được đánh giá là… “ăn được”. Nếu ai “ăn không được” thì chịu khó đi thêm vài bước ra Ngã Sáu, nơi đây có đủ các món ăn chơi thuộc loại bình dân, từ phở, hủ tíu cho đến mì và có cả xe… bánh mì mua về trường nằm gặm trong những đêm ứng chiến!

Gần ngã tư Phú Nhuận có phở Quyền trên đường Võ Tánh (thuộc quận Phú Nhuận), cách cổng phụ của Tổng Tham Mưu chừng 100 mét.  Tôi thường ghé ăn nơi đây mỗi khi về trụ sở chính của trường sinh ngữ trong Tổng Tham Mưu.  Nước phở ở đây rất đậm đà, vị ngọt là của xương ống chứ không phải vì bột ngọt.  Phở Quyền còn có cả món “tái sách tương gừng” được xếp vào loại… trứ danh.

Con cháu của một số gánh phở nổi tiếng Hà Nội đã vào Nam lập nghiệp năm 1954, trong cơ hội lịch sử này có phở Tàu Bay.  Vốn là quán phở do ông nội mở vào 1950 ở Hà Nội, khi di cư vào Nam, ông chủ quán được người bạn thân tặng cho chiếc mũ bay. Ông thường xuyên đội nó, khách thấy lạ, gọi ông “Tàu Bay” rồi chết tên thành tên quán.

Phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ ngày nay vẫn bán và khách quen ngày nào vẫn chịu khó mò đến đây để tìm lại hương vị đặc thù.  Phải nói Phở Tàu Bay rất… hiếu khách.  Gọi thêm nước béo, nhà phở đem ra cả tô chứ không bằng chén nhỏ như những tiệm khác. Tô đặc biệt của Tàu Bay lại là tô “Xe Lửa”, bánh và thịt trên mức hậu hĩnh.

… Kể từ khi người Bắc di cư vào Nam, tiệm phở đánh bạt các tiệm hủ tíu, vốn là món “đặc sản” của miền Nam.  Các tiệm hủ tíu nổi tiếng Sài Gòn phải kể đến hủ tíu Thanh Xuân đường Tôn Thất Thiệp (gần chùa Chà Và), hủ tíu Phạm Thị Trước ở đường Lê Lợi (khúc gần Pasteur), hủ tíu Gà Cá ở đường Hàm Nghi gần khu Ngân hàng Quốc gia và hủ tíu Thanh Thế trên đường Nguyễn Trung Trực…

Có người đến hủ tíu Phạm Thị Trước gọi thêm bánh pâté chaud ăn kèm, cũng giống như hủ tíu Gà Cá. Tuy nhiên, mỗi tiệm hủ tíu đều có hương vị riêng khiến một khi khách đã “kết” thì khó đi ăn nơi khác.  Hủ tíu Sài Gòn sáng nào cũng đông người đến thưởng thức, không cần đợi đến những ngày cuối tuần.

Thường thì hủ tíu có bánh mềm, chỉ riêng hủ tíu Thanh Xuân hay Mỹ Tho thì thêm bánh dai, nấu khô hay nước, tùy theo ý thích của khách. Chỉ nhìn dĩa rau dọn lên trước thì cũng thấy bắt mắt: giá, hẹ, rau cần tàu, tần ô và vài cọng xà lách.  Thêm vào đó, mùi nước lèo xông lên như đập vào khứu giác thực khách làm cho bụng cứ gào thét…

Người bồi bàn bưng mâm ra để tô hủ tíu trên bàn, mùi nước lèo xông lên mũi, nếm thử “nghe” được mùi thơm của nước lèo, thêm chút gia vị vào và cầm đũa ngay. Hủ tíu Thanh Xuân thì phải có rau tần ô, rau cần tàu, giá sống.  Hủ tíu Phạm Thị Trước hay Thanh Thế cũng thế, nhưng không có rau tần ô.  Riêng hủ tíu Gà Cá thì chỉ có giá sống.

Tuy nhiên, các thứ hủ tíu nếu thiếu vài miếng tóp mỡ và cải bắc thảo thì hình như thiếu mất cái gì đó.  Nước lèo vừa ngọt của xương, vừa béo của chất tủy từ ống xương, thoang thoảng chút mùi của con mực, tôm khô, hào khô và củ cải.  Những thứ ấy quyện vào nhau thành một thứ nước lèo hấp dẫn.  Hủ tíu bình dân thì có những xe hủ tíu bán dạo.  Từ mờ sáng cho đến khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng rao… lòng thấy nao nao !

oOo

Ðối với tôi, một món cũng thuộc loại “khoái khẩu” ở Sài Gòn là… bánh mì thịt nguội, trong đó có cả jambon, xúc xích, patê ăn kèm với sốt mayonaise và đồ chua! Bánh mì thịt nguội ăn sẽ ngon hơn nếu bạn có thì giờ ngồi nhẩn nha tại tiệm: các loại thịt bày trên đĩa trắng tinh kèm thêm một cục sốt bên cạnh dao, nĩa sạch bóng.  Bẻ một miếng bánh mì còn nóng, trét sốt lên trên rồi một lớp patê, sau đó cắt một miếng jambon… đưa vào miệng. Tuyệt cú mèo !

Một trong những tiệm bán bánh mì thịt nguội có tiếng ở Sài Gòn từ năm1954 và còn tồn tại đến ngày nay là Hòa Mã. Tiệm Hòa Mã nằm trên đường Cao Thắng, gần khu vực Bàn Cờ, nơi có những địa điểm nổi tiếng như Kỳ Viên Tự, Tam Tông Miếu, Trường Aurore, Cư Xá Ðô Thành, Nhà Bảo Sanh Ðức Chính…

Ngày nay, Hòa Mã không khác xưa là mấy.  Hòa Mã cũ kỹ, bảng hiệu phai màu theo năm tháng vì đã tồn tại hơn 50 năm kể từ ngày mở cửa.  Nhiều người nói chủ nhân Hòa Mã là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn… Tiệm Hòa Mã gọi ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, dùng theo tiếng Pháp cassecroute, bữa ăn lót dạ, bữa ăn nhẹ.  Những năm 60, giá bán một ổ bánh mì Hòa Mã là 3 đến 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 đến 10 đồng.

… Xe bánh mì Tám Lự gần chợ Bàn Cờ chỉ bán từ sẩm tối đến đêm khuya.  Một ổ bánh mì Tám Lự dài cỡ 4 tấc, hai gang tay, tối ăn vào no đến sáng.  Bánh mì ngon, ngoài pâté chả lụa, pâté foie, bơ Bretel còn thêm dưa leo, ngò, hành lá, nước tương, muối tiêu, ớt xắt.  Ngày xưa khách chỉ cần nói: “Cho một tàu lặn hay một tiềm thủy đĩnh đi, anh Tám!” là khách sẽ có ngay một ổ bánh mì nóng giòn, thơm phức.

Nếu muốn sang hơn thì lên bánh mì Pâté Tòa Ðô chính trên đường Nguyễn Huệ hoặc tiệm bánh Hương Lan trên đường Tự Do hay ngồi Thanh Bạch đường Lê Lợi (gần bệnh viện Sài Gòn). Chỉ cần gọi đĩa bánh mì thịt nguội kèm theo một ly cà phê sữa đá là đủ no cho đến trưa.  Thanh Bạch vẫn là nơi lý tưởng để vừa ăn sáng vừa ngắm cảnh người Sài Gòn sửa soạn cho một ngày mới.

… Sài Gòn xưa có hai tiệm Thanh Bạch, một ở đường Lê Lợi, bên rạp xi-nê Vĩnh Lợi. Tiệm Thanh Bạch thứ hai ở đường Phạm Ngũ Lão, trong dẫy phố trệt dưới tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới năm xưa.  Ngoài bánh mì ốp-la, ôm-lết, thịt nguội, Thanh Bạch có bánh mì bò kho, hủ tíu và đặc biệt là món suông.  Bún suông dùng xương heo để nấu nước lèo, và đặc biệt ở đây là dùng tôm tươi lột vỏ, bỏ đầu, bằm nhuyễn sau đó vo lại thành sợi dài (như sợi bún).  Nước lèo ở đây rất trong, ăn kèm với rau sống…

Nhà hàng Tài Nam trên đường Ohier (Tôn Thất Thiệp) nổi tiếng với món đuông chà là chiên bơ rất ngon nhưng cũng rất mắc tiền.  Theo nhà văn Sơn Nam, vua chúa cũng còn thèm “con đuông chà là”, tên chữ là “hồ đa tử”.  Hồ đa là cây dừa rừng, tức cây chà là hoang thường mọc miền nước mặn Nam bộ, giống như cây cau kiểng. Cây dừa rừng có “củ hũ”, tức đọt non, đến mùa sau Tết thường xuất hiện con đuông, giống như con nhộng. Ðuông ăn đọt dừa non nên to, mập và thường được bắt trước khi nở thành bướm.

Sơn Nam viết : “Ðem đuông nướng trên vỉ sắt, cho héo, rồi ăn, chấm với nước mắm nhĩ nguyên chất.  Con đuông béo ngậy vì tăng trưởng, ăn ròng củ hũ cây chà là”.

… Vùng Thanh Ða (Bình Thạnh) nổi tiếng khắp Sài Gòn với món cháo vịt, gỏi vịt.  Vào buổi tối người Sài Gòn hay ra bán đảo Thanh Ða trước là để đón những luồng gió mát từ sông Sài Gòn thổi vào và khi về, ghé mấy quán cháo vịt, gọi thêm đĩa gỏi vịt ăn kèm. Nếu là “bợm nhậu” thì gọi thêm chai bia Con cọp BGI để… đưa cay.  Nếu ngại ra Thanh Ða thì trên đường Hồng Thập Tự cũng có khu bán cháo vịt thuộc loại… “ăn được”. Thịt vịt tại đây khá mềm, nhai kỹ thấy ngọt và đặc biệt không thấy mùi hôi vốn có của thịt vịt.  Có thể họ tuyển loại vịt chạy đồng nên không hôi (?).

Ðinh Công Tráng là một con đường nhỏ gần nhà thờ Tân Ðịnh nhưng cũng đi vào lịch sử ăn uống của Sài Gòn với món bánh xèo. Bí quyết của bánh xèo nằm ở kỹ thuật pha bột, sao cho khi chiên lên, bánh giòn tan khiến người ăn có thể cảm được cái thú nghe miếng bánh đang được nhai dưới hai hàm răng.  Lớp bột gạo pha chút nghệ khi đổ vào chảo dầu tạo nên một tiếng “xèo” khiến ta hiểu được tại sao lại gọi là… bánh xèo!

Ngày nay, đường Ðinh Công Tráng trở thành “đường bánh xèo” nhưng người sành ăn thì chọn quán bên tay trái, nếu đi từ đường Hai Bà Trưng vào.  Quán không tên nhưng người ăn vẫn nhớ vì nó đã đi vào “bộ nhớ” của người Sài Gòn từ bao năm nay.  Những quán đối diện bên kia đường trông có vẻ lịch sự hơn, sạch sẽ hơn nhưng vẫn chịu cảnh vắng khách vì là kẻ… hậu sinh.

Khu Ða Kao có tiệm bánh cuốn Tây Hồ (Ðinh Tiên Hoàng), gần chợ Ða Kao, quận 1, nổi tiếng.  Tại đây, mỗi bàn có để sẵn một thẩu nước mắm và một chồng chén nhỏ để khách tùy nghi sử dụng, thêm nhiều hay ít ớt bằm theo sở thích riêng của từng người.  Tuy nhiên, có khách lại thích chan luôn nước mắm vào đĩa để bánh cuốn thấm nước mắm, đậm đà hơn.

Chả quế và giò lụa được cắt thành miếng lớn, để riêng trong một đĩa nhỏ.  Khách có thể chỉ ăn bánh cuốn nhân thịt mà không đụng tới đĩa giò chả, như vậy người phục vụ nhìn vào đĩa chả còn nguyên mà không tính tiền. Nếu cần, có thể gọi thêm đĩa bánh tôm hoặc bánh cuốn không nhân.

Sài Gòn cũng có bánh cuốn Thanh Trì kiểu Bắc, mỏng như tờ giấy, ăn với “ruốc” (chà bông) và nước mắm phải kèm với vài giọt cà cuống mới là “sành điệu”! Còn bánh ướt là kiểu bánh cuốn bình dân ở Sài Gòn, cũng ăn kèm với bánh tôm chiên, giò, chả và rau, giá. Những xe bánh ướt được đẩy đi khắp Sài Gòn, có cả nồi hấp nên lúc nào bánh cũng nóng và người bán bao giờ cũng chan nước mắm vào đĩa thay vì chấm kiểu “thanh cảnh” như bánh cuốn Thanh Trì.

Lại nói thêm, đường Albert (vào thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đổi tên thành Ðinh Tiên Hoàng) khá dài nên dọc theo con đường này có nhiều địa chỉ ẩm thực nổi tiếng.  Tiệm ăn Chez Albert (lấy tên theo con đường), Cà phê Hân, Mì Cây Nhãn (tên đặt theo cây nhãn hồi đó còn trồng trước sân), Thạch chè Hiển Khánh (nơi sưu tầm rất nhiều thơ ca tụng thạch chè)… Tôi chắc chắn còn bỏ quên khá nhiều điểm ăn uống khác nữa trên con đường này.

Ở góc đường Tôn Thất Ðạm và Hàm Nghi, trước kia vào thập niên 30 có một quán cháo cá nổi tiếng một thời. Buổi chiều cho đến gần khuya, khách đến ăn rất đông, nhất là khi cải lương, hát bội, hát bóng vãn hát. Theo Vương Hồng Sển trong Sài Gòn Tạp Pín Lù, quán cháo cá này của người Tàu, gốc Quảng Ðông, “cha truyền con nối suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi…”

Cháo tại đây nấu bằng gạo tấm hầm với cá, xương heo và thịt tôm hùm để thành một thứ hồ sền sệt khiến “người đau mới mạnh dùng không sợ trúng thực, người mệt mỏi ăn vào cảm thấy nhẹ bụng, mau tiêu.  Tô cháo cá Chợ Cũ quả là một ‘tô thuốc tráng thần’…”

Cháo nóng hổi bốc hơi nghi ngút.  Vừa thổi vừa húp xì xụp mới thấy được cái thú vị của món cháo cá Chợ Cũ.  Thịt cá giòn, thơm, lẫn lộn hương vị của hành, tiêu, gừng và có thể ăn với “dầu chá quẩy”.  Thú thật, tôi là người thích thịt hơn cá nhưng thỉnh thoảng được thưởng thức món cháo cá vẫn thấy ngon đến toát mồ hôi !

Có một tiệm cháo giò heo khá nổi tiếng trong ngõ đường Phan Ðình Phùng (ngày nay là Nguyễn Ðình Chiểu). Tiệm không có tên, chuyên bán cháo từ 6 giờ tối tới một, hai giờ sáng.  Khách của tiệm này đa số là khách chơi đêm, khách đi nhảy, khuya về đói bụng đến ăn tô cháo nóng.

Tôi lại nhớ đến món phá lấu ở góc đường Lê Lợi-Pasteur, nơi đây còn có xe bò bía và nước mía Viễn Ðông.  Bán phá lấu là một chú Tàu và “cửa hàng” của chú chỉ vỏn vẹn một cái khay tròn, trên đó bày đầy đủ nội tạng heo: lòng, dồi, gan, bao tử, ruột non, ruột già, tim, phèo, phổi… Trông thật hấp dẫn, ngửi thơm phức và ăn vào thì giòn tan.  Phá lấu nói chung có vị hơi ngòn ngọt, gan thì bùi bùi, lòng thì hơi dai dai nhưng khi nhai kỹ mới thấy ngon… thấu trời xanh !

Nghệ thuật làm phá lấu chắc chỉ mấy chú ba mới đáng hàng sư phụ. Phá lấu làm tại nhà cũng ướp húng lìu, ngũ vị hương nhưng không thể nào so sánh với phá lấu góc nước mía Viễn Ðông. Từng miếng phá lấu được ghim sẵn bằng tăm, chấm với tương đỏ trộn tương đen.  Khách ăn xong chú Ba chỉ nhìn tăm mà tính tiền nhưng tuyệt không bao giờ sai.  Quá bộ vài bước là xe nước mía tươi mát đang chờ… để kết thúc một chuyến ăn hàng bên lề đường.

Gần nước mía Viễn Ðông có xe thịt bò khô của ông Năm (theo tên gọi của khách quen) và sau 1975 ông dời về đường Tự Ðức (nay đã đổi tên là đường Nguyễn Văn Thủ) thuộc khu Ða Kao.

Dân chơi Sài Gòn thường xếp hạng : “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1” nên viết về món ngon Sài Gòn mà bỏ qua khu vực Chợ Lớn là cả một thiếu sót lớn. Dọc đường Trần Hưng Ðạo nối với đường Marins (Ðồng Khánh) thuộc địa phận quận 5 có những nhà hàng, tửu lầu nổi tiếng một thời như Arc-en-Ciel, Ðồng Khánh, Á Ðông, Bát Ðạt.

Theo tôi, Chợ Lớn nổi tiếng hơn cả là đường Lacaze mà người Việt hay gọi trại là La Cai, tức đường Nguyễn Tri Phương sau này. Khu La Cai có mì vịt tiềm hầm thuốc bắc, một trong những món “tủ” của người Hoa. Bên cạnh đó còn có những tiệm hủ tíu mang tên Mỹ Tiên, Cả Cần và tiệm bánh bao Bà Năm Sa Ðéc.

Ðêm đến có các quán sò huyết dọc theo lề đường. Khách bình dân ngồi ăn nhậu thoải mái giữa dòng xe cộ ồn ào bên ánh đèn nê-ông từ các nhà hàng, vũ trường sang trọng của Chợ Lớn “by night”!

… Thôi thì đời người có lúc hưng lúc tàn, cũng như vận nước có khi thịnh khi suy.  Viết lại món ngon Sài Gòn chỉ để thỏa mãn kiểu “ăn hàm thụ” như đã nói ở trên.  Giờ có cho ăn thực thụ chắc cũng chẳng thấy ngon như thời còn trai trẻ.

Tất cả chỉ còn là… hoài niệm! (theo Nguyễn Ngọc Chính trích “Hồi ức một đời người”)

NGƯỜI NHẬT PHÁT SỐT

VỚI BÁNH MÌ KẸP THỊT

Chiếc bánh mì kẹp mà ông Trump ăn tại quán ăn nhanh ở Tokyo trở thành món ăn mà nhiều người Nhật muốn một lần được thưởng thức.

Haruyuki Sano đã mất một tiếng di chuyển để được nếm thử vị chiếc bánh mì kẹp thịt pho mát mà Tổng thống Mỹ Donald Trump ăn cùng Thủ tướng Nhật Shinzo Abe trong chuyến thăm của ông tới Nhật Bản hôm 5/11/2017.

“Nó rất ngon, vị như thịt nướng vậy”, Sano nói sau khi thưởng thức chiếc bánh mì kẹp thịt và phô mai Colby Jack với nguyên liệu 100% của Mỹ tại cửa hang Munch’s Burger Shack ở thủ đô Tokyo.

Theo AP, dòng người xếp hàng bên ngoài Munch’s Burger Shack trong giờ ăn trưa đang dài hơn bao giờ hết nhờ có ông Trump. “Tôi thích ông Trump”, Sano nói.

Set ăn đặc biệt “Tổng thống Trump” là một lựa chọn mới trong thực đơn ở Munch’s Burger, bao gồm xà lách trộn với một chiếc bánh mì kẹp thịt pho mát và được bán với giá 1.400 Yên (12 USD). Yutaka Yanagisawa, ông chủ kiêm đầu bếp, cho biết set ăn trên là một trong những món được khách tới cửa hàng yêu cầu nhiều nhất. “Tôi rất lấy làm vinh dự”,  Yutaka chia sẻ. (theo Hướng Dương)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

THIÊN ĐỊA HỘI Ở NAM KỲ

Tr Chu chetTHIÊN ĐỊA HỘI

VÀ NHỮNG CUỘC BẠO LOẠN

Ở NAM KỲ

Mặc dù đánh giá Thiên Địa hội tại Nam Kỳ chưa đến nỗi nguy hiểm như ở Trung Quốc, nhưng người Pháp thỉnh thoảng cũng tổ chức các cuộc ruồng bố và trục xuất những Hoa kiều không đăng ký trong sổ bộ.

Tuy vậy, Thiên Địa hội vẫn không ngừng phát triển. Tháng 5/1882, ở tổng Định Chí, tỉnh Sóc Trăng, tất cả người Hoa, người Minh Hương và người Việt ở 18 làng trong tổng đều theo Thiên Địa hội. Ở Cần Thơ, làng nào cũng có Thiên Địa hội mà người đứng ra tổ chức là những người Hoa từ Chợ Lớn về.

Những thế lực ngầm

Như chúng tôi đã nói, ở 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ (lục tỉnh), tỉnh nào cũng có Thiên Địa hội 9 Thien dia hoi 1nhưng gây được ảnh hưởng lớn nhất vẫn là tại Long Xuyên với hai nhóm là Nghĩa Hưng và Nghĩa Hòa.

Nhóm Nghĩa Hưng hoạt động dưới lớp vỏ bọc thương mại, gọi là Nghĩa Hưng công ty, chuyên vận chuyển lúa gạo, hàng hóa gia dụng bằng những chiếc ghe bầu. Ở cái vành gỗ đầu tiên ngay trước nóc mui ghe, họ cho sơn màu xanh. Vì vậy, dân Long Xuyên thường gọi họ là nhóm “kèo xanh”. Bên cạnh đó, họ còn có một số nhà máy xay lúa và một đội ngũ chuyên đi đến những làng mạc xa xôi, thu mua lúa gạo. Ở đâu xuất hiện nhóm thu mua này là ở đó, những thương buôn khác phải tránh xa.

Những người lãnh đạo nhóm “kèo xanh” hầu hết là người Hoa gốc Phúc Kiến. Thời hưng thịnh nhất, nhóm “kèo xanh” có khoảng 60 chiếc ghe bầu, tải trọng mỗi ghe từ 5 đến 8 tấn với nhân lực hơn 1.000 người, kể cả công nhân bốc vác. Gắn động cơ thủy của hãng MEMEs, Pháp, đội ghe Nghĩa Hưng hoạt động khắp lục tỉnh, lên Sài Gòn, đi Biên Hòa và sang cả Phnôm Pênh, Campuchia. Ở Cần Thơ, Nghĩa Hưng có một chi nhánh gọi là Nhơn Hưng còn tại Sài Gòn, chi nhánh là Đông Hưng.

Nhóm thứ hai xưng tên Hòa Xuân – dân Long Xuyên gọi là nhóm “kèo đỏ”. Về thực chất thì nhóm “kèo đỏ” tách ra từ nhóm “kèo xanh”, phần lớn vẫn là người Phúc Kiến. 9 Thien dia hoi 2Bởi vậy nên ngoài cái vành mui ghe thứ nhất sơn màu xanh thì vành thứ hai họ sơn màu đỏ.

Cũng như “kèo xanh”, “kèo đỏ” hoạt động trong lĩnh vực vận tải đường sông nhưng đội ghe của họ ít hơn “kèo xanh”, chỉ có chừng 35 đến 40 ghe, nhân lực khoảng 600 người nhưng ngược lại, một số “hội kín” ủng hộ họ vì họ thường giúp những người bị mật thám Pháp truy nã, ẩn trốn trong ghe dưới dạng làm công.

Thực lực không bằng “kèo xanh, kèo đỏ” nhưng lại nổi danh là nhóm “kèo vàng”, tên chính thức là Nghĩa Hòa gồm đa số người Hoa gốc Triều Châu và một số ít là người Minh Hương (là những người theo nhà Minh, khi bị Mãn Thanh cai trị đã bỏ xứ chạy sang Việt Nam rồi thành lập một cộng đồng gọi là Minh Hương). Cũng hoạt động dưới lớp vỏ thuyền buôn nhưng “kèo vàng” chuyên về tổ chức cờ bạc với những sòng me, tài xỉu, xập xám.

Những sòng bạc này mọc lên ở khắp nơi: Từ một manh chiếu trải xuống đất bên cạnh chợ Mỹ Luông chuyên đánh tài xỉu đến những sòng mạt chược lênh đênh trên những chiếc ghe bầu hoặc trong những ngôi nhà cửa nẻo kín mít. Theo ước tính vào đầu thế kỷ XX, hội viên chính thức của nhóm “kèo vàng” chỉ khoảng 300 người nhưng nó chi phối hệ thống cờ bạc từ Cần Thơ xuống Sóc Trăng, từ Bạc Liêu, qua Long Xuyên về Rạch Giá.

Trong một báo cáo viết năm 1879 của Sở Mật thám Nam Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương, họ đã báo động như sau : “Tỉnh Long Xuyên gồm 60 làng nhưng chỉ 5 làng là chưa xác định được có hội kín hoặc có người dân theo “kèo xanh”, “kèo đỏ” hay không. Số còn lại thì 35 làng chịu ảnh hưởng rất nặng của hai nhóm này, 17 làng chịu ảnh hưởng tương đối. Cũng trong 60 làng thì 52 làng có người của “kèo vàng”, chuyên tổ chức đánh bạc bằng nhiều hình thức, lôi kéo hàng nghìn con bạc tham gia.

9 Thien dia hoi 5Trong số 12.484 dân Triều Châu ở toàn cõi Nam Kỳ – trừ Sài Gòn, Chợ Lớn – thì chỉ riêng tỉnh Sóc Trăng và một phần của Bạc Liêu, tổng số người Triều Châu là 5.300 người – nghĩa là gần một nửa. Ngoài ra, còn có khoảng 6.000 người Triều Châu khác không chịu đăng ký, ghi tên vào sổ bộ…”.

Mặc dù sáng lập và xây dựng tổ chức, nhưng là thiểu số nên người Hoa chỉ nắm vai trò lãnh đạo, vạch kế hoạch cho mọi hoạt động của nhóm mình, còn đa số hội viên hoặc những thủ lĩnh cấp thấp là người Việt. Ngay từ năm 1877, mật thám Pháp đã nhận ra sự hoạt động của Thiên Địa hội nhưng thời điểm ấy, họ cho rằng Nghĩa Hưng, Hòa Xuân, Nghĩa Hòa lập ra chẳng qua là để cạnh tranh trong lĩnh vực làm ăn, cờ bạc.

Báo cáo của mật thám Long Xuyên viết : “Sự liên kết giữa người Việt và Hoa kiều nhất định sẽ có hại cho nhà nước thuộc địa, tuy hiện nay chưa thành vấn đề lớn nhưng trong tương lai sự liên kết ấy sẽ mạnh hơn vì có sự thông đồng ngấm ngầm giữa Hoa kiều chủ chứa sòng bạc và bọn công chức An Nam ăn hối lộ…”.

Kéo xanh, kéo vàng đại chiến

Tuy nhiên, từ năm 1880 trở đi, tình hình trở nên biến động khác thường. Nhiều làng xóm liên tục xảy ra những vụ cháy nhà, chặt phá vườn cây ăn trái, đánh bả chó, cắt chân trâu, bò… mà nạn nhân nếu không phải là hội viên của nhóm “kèo xanh” thì cũng là người của “kèo vàng”.

Tháng 9/1880, tại Sóc Trăng, lần đầu tiên “kèo xanh”, “kèo vàng” dàn quân đánh nhau công khai giữa ban ngày. Tổng cộng hai bên có khoảng 60 người, hầu hết là người Hoa giỏi võ,9 Ly long than 3 trang bị gậy gộc chứ không dùng đao kiếm vì không muốn rắc rối với chính quyền thuộc địa, chưa kể hàng trăm người khác của cả hai bên đi theo để cổ vũ tinh thần. Kết quả có 3 người bị thương nặng phải đưa lên Chợ Lớn điều trị.

Khi trận giao tranh xảy ra, theo lệnh của viên chủ tỉnh, hương chức làng và lính mã tà không can thiệp, cũng như không xuất hiện để giải tán hay bắt bớ. Đến tháng 11, hai bên lại đánh nhau nhưng trận đụng độ có quy mô lớn nhất xảy ra vào ngày 17/12/1880. Hơn 400 người thuộc Nghĩa Hưng, Nghĩa Hòa lao vào hỗn chiến ngay trên đường phố cạnh chợ Sóc Trăng. Lần này, theo đề nghị của chủ tỉnh, Thống đốc Nam Kỳ chấp thuận xử phạt, nhưng chỉ phạt bằng tiền.

Nguyên nhân của những xung đột này bắt nguồn từ thời xa xưa, giữa người Hoa gốc Phúc Kiến và người Hoa gốc Triều Châu. Đến khi nhóm Nghĩa Hòa mở ra những sòng bạc, nó đã lôi cuốn không ít “phu thuyền” – là người làm công trên ghe bầu của nhóm Nghĩa Hưng lao vào cuộc đỏ đen, mà thói cờ bạc thì thua nhiều hơn thắng. Để gỡ gạc, “phu thuyền” Nghĩa Hưng ngoài sự chểnh mảng trong công việc, có người còn ăn cắp lúa đem bán lấy tiền. Sau nhiều lần phát tín hiệu cảnh báo nhưng nhóm Nghĩa Hòa vẫn làm lơ, nhóm Nghĩa Hưng quyết định một còn một mất.

Và sở dĩ nổ ra những trận chiến bởi nhóm Nghĩa Hưng xưa nay vẫn thiên về hoạt động chính trị. Dựa vào khẩu hiệu “phản Pháp phục Nam”,  những người cầm đầu Nghĩa Hưng toan tính lật đổ chính quyền thuộc địa để thay thế bằng một nền quân chủ phong kiến trong lúc nhóm Nghĩa Hòa lại chủ trương làm ăn kinh tế thông qua cờ bạc, thuốc phiện. Bên cạnh đó, cũng do đa số nông dân, thợ thuyền người Việt ít học, không phân biệt nổi đâu là “kèo xanh”,9 Ly long than 5 đâu là “kèo vàng”, mà họ chỉ gọi chung là “hội kín” khiến thanh danh của Nghĩa Hưng ít nhiều tổn hại nên họ phải đánh để phân định “chính”, “tà”!

Mặc dù đánh giá Thiên Địa hội tại Nam Kỳ chưa đến nỗi nguy hiểm như ở Trung Quốc, nhưng người Pháp thỉnh thoảng cũng tổ chức những cuộc ruồng bố và trục xuất những Hoa kiều không đăng ký trong sổ bộ. Tuy vậy, Thiên Địa hội vẫn không ngừng phát triển. Tháng 5/1882, ở tổng Định Chí, tỉnh Sóc Trăng, tất cả người Hoa, người Minh Hương và người Việt ở 18 làng trong tổng đều theo Thiên Địa hội. Ở Cần Thơ, làng nào cũng có Thiên Địa hội mà người đứng ra tổ chức là những người Hoa từ Chợ Lớn về. Chỉ đến khi một “lính kín” phát hiện ra rằng trong một buổi lễ kết nạp hội viên mới, có lời thề “sẽ khởi loạn” thì chính quyền thuộc địa mới thật sự lưu tâm.

Đầu tháng 7/1882, tại một bãi đất hoang vu sát biển thuộc tổng Thạnh Hòa – nay là tỉnh Bạc Liêu, một “lính kín” báo về, rằng một số Hoa kiều dựng lên những căn chòi nằm rải rác, canh gác cẩn mật. Hằng ngày, thường xuyên có chừng 300 đến 400 người lui tới họp hành bàn bạc.

Hai ngày sau đó, một cuộc càn quét được chính quyền thuộc địa tung ra với 12 mật thám, 50 lính mã tà dưới sự chỉ huy của một cai tổng. Nhóm người Hoa chống cự kịch liệt bằng gậy gộc nhưng tre, gỗ làm sao đấu nổi súng đạn. Kết quả 76 người Hoa bị bắt, tất cả đều là dân Triều Châu, trong đó có 19 người bị bắt quả tang đang nấu thuốc phiện lậu cùng một số tài liệu liên quan đến Thiên Địa hội. Qua khai thác, họ nói rằng 9 Ly long than 9tất cả mọi hoạt động của họ đều theo sự chỉ đạo từ Chợ Lớn nhưng ai là người trực tiếp chỉ đạo thì họ không biết vì chỉ liên lạc bằng thư.

Ngay lập tức, vùng Sài Gòn, Chợ Lớn bị bố ráp theo lệnh của Thống đốc Nam Kỳ. Tại hai căn nhà liên kế số 127, 129 đường Lareynière, người Pháp thu được nhiều tài liệu quan trọng, chứng minh đây là cơ quan đầu não của Thiên Địa hội. 7 người Hoa gốc Triều Châu bị trục xuất về nước.

Hội Tam Hoàng dưới thời Việt Nam Cộng hòa

Năm 1954, sau Hiệp định Geneve chia đôi đất nước, miền Nam Việt Nam nằm dưới sự cai trị của chính quyền gia đình trị Ngô Đình Diệm. Không khó để nhận ra sự lũng đoạn kinh tế của một nhóm người Hoa có liên quan đến Thiên Địa hội – mà lúc này đã đổi tên thành Hội Tam Hoàng.

Dưới sự cố vấn của Ngô Đình Nhu, tháng 9/1956, Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật số 53, cấm người nước ngoài (mà thực chất là cấm người Hoa) làm 11 nghề, gồm: buôn bán lúa gạo, in ấn, buôn bán dầu hỏa, than đá, vận tải hành khách… Bên cạnh đó, ông ta ra lệnh cho tất cả mọi người Hoa, nếu ai không nhập quốc tịch Việt thì sẽ bị trục xuất.

Theo một báo cáo của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa, tính đến cuối năm 1961, 9 Ly long than 8hơn 1 triệu người Hoa sống ở miền Nam chỉ còn chừng 2.000 người là không chịu đổi quốc tịch, phần lớn là những người đã già. Báo cáo này viết : “Họ – nghĩa là những người Hoa không nhập tịch – đều lớn tuổi, ốm đau bệnh hoạn, sống nay chết mai nên xét thấy không cần thiết phải trục xuất họ”…

Tin vào báo cáo nên anh em Diệm, Nhu không biết rằng trong số những ông già “cận địa viễn thiên” ấy, có người là lãnh đạo tối cao của Hội Tam Hoàng ở miền Nam. Duy nhất chỉ có một nhân vật nhìn ra mối nguy hiểm tiềm tàng này : Đó là Ngô Đình Cẩn.

Là em út trong dòng họ Ngô, Cẩn tuy ít học nhưng lại được trời phú cho một khả năng đặc biệt về những hoạt động ngầm. Bằng cách lập ra “Đoàn công tác đặc biệt miền Trung” do Dương Văn Hiếu và Nguyễn Tư Thái (biệt danh Thái “đen”) cầm đầu với mục tiêu “săn lùng và tiêu diệt Cộng sản nằm vùng”, Cẩn ra lệnh “làm thịt” luôn những người Hoa theo Hội Tam Hoàng bằng cách vu cho họ là tình báo Trung Quốc. Quá sợ hãi, nhiều người Hoa giàu có ở Huế, ở Đà Nẵng bỏ của chạy lấy thân. Họ vào Sài Gòn, xuống Bạc Liêu, Sóc Trăng… làm lại cơ nghiệp từ đầu và đó cũng là nguyên nhân vì sao đến nay, so với các địa phương khác ở miền Nam thì Huế là nơi có số lượng người Hoa ít nhất.

9 Ly long than 10Trước những biến động ấy, Tam Hoàng ở miền Nam hầu như tê liệt. Nếu như trước kia, Tam Hoàng Chợ Lớn được coi như trung tâm quyền lực đen thứ hai trên thế giới, chỉ sau Singapore còn xếp thứ ba là Hồng Kông thì năm 1960, Tam Hoàng Chợ Lớn xem như biến mất trên bản đồ “hội kín”. Thay vào đó, một tổ chức nhỏ hơn, thực lực kém hơn nhưng vẫn do người Hoa sáng lập và điều khiển là “Thanh bang” ngoi lên, tiếp thu và phát triển những ngành nghề kinh tế mà trước đó, nó vốn nằm trong tay các thành viên của Hội Tam Hoàng…

Tam Hoàng tái xuất

Trở lại chuyện Tam Hoàng ở miền Nam thời Việt Nam Cộng hòa, mặc dù “Đoàn công tác đặc biệt miền Trung” của Ngô Đình Cẩn lợi dụng việc “triệt hạ cơ sở Cộng sản nằm vùng” để “làm thịt” luôn Hội Tam Hoàng nhưng từ năm 1958, khi Ngô Đình Nhu quyết định phục hồi việc mua bán thuốc phiện để có tiền nuôi dưỡng phong trào “Cần lao nhân vị” do ông ta đẻ ra, cũng như đàn áp những cuộc khởi nghĩa và các nhóm đối lập thì Nhu không thể không bắt tay với Tam Hoàng mặc dù trước đó – tháng 5/1955 – Ngô Đình Diệm đã đích thân phát động phong trào bài trừ thuốc phiện dưới hình thức đóng cửa những tiệm hút, tổ chức một buổi lễ công khai đốt bàn đèn cùng các dụng cụ phục vụ việc hút xách.

Bằng cách cho một người thân tín bí mật tiếp xúc với Mã Tuyên nhân vật đứng đầu 5 bang hội người Hoa ở Chợ Lớn đồng thời cũng là một chỉ huy cao cấp của Tam Hoàng miền Nam rồi tiếp theo, đích thân Nhu Mã Tuyên. Sau nhiều cuộc bàn bạc, thương lượng thì chỉ một thời gian ngắn, khoảng 2.500 tiệm hút thuốc phiện ở Chợ Lớn đã mở cửa trở lại. 9 Thien dia hoi 6Để cung cấp thuốc phiện cho những tiệm hút ấy, Nhu mở hai tuyến vận chuyển từ Lào về Sài Gòn thông qua Hãng Hàng không thuê bao Air Laos Commerciale.

Tháng 11/1963, chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ sau một cuộc đảo chính, anh em Diệm, Nhu bị giết dù đã được Tam Hoàng Chợ Lớn che chở. Tuy không có một văn bản chính thức nào từ “Hội đồng Quân nhân cách mạng” – là nhóm sĩ quan, tướng lĩnh Sài Gòn chủ mưu đảo chính nhưng cộng đồng người Hoa ở miền Nam xem như đạo luật 53 – cấm người Hoa làm 11 nghề – hết hiệu lực.

Và thế là các hiệu buôn, nhà in, các công ty xuất nhập khẩu máy móc nông ngư cụ, các “chành” lúa gạo, hãng xe đò do người Hoa làm chủ ồ ạt ra đời. Lúc này, do chiến tranh và những cuộc đảo chính, phản đảo chính, chỉnh lý giữa những người cầm đầu chế độ Sài Gòn liên tục xảy ra nên có vẻ như Tam Hoàng Chợ Lớn không còn quan tâm đến chính trị nữa mà chuyển sang làm ăn kinh tế bằng cách móc ngoặc với những tướng lĩnh, những bộ trưởng và các tỉnh trưởng, quận trưởng ở những khu vực sầm uất để được thắng thầu nhiều hạng mục béo bở.

Một trong những cú làm ăn ngoạn mục nhất của Tam Hoàng Chợ Lớn là năm 1966 – một năm sau khi thiếu tướng Vĩnh Lộc lên nắm quyền Tư lệnh Quân đoàn 2, thì Lý B, một trong những trùm Tam Hoàng Chợ Lớn tìm cách tiếp cận với ông ta. Sau khi gặp mặt, Lý B, đặt thẳng vấn đề với tướng Vĩnh Lộc rằng “xin mua lại tất cả những vỏ đạn đại bác 105mm bằng đồng của quân đội sau khi đã bắn xong”, với một giá rất “thoáng”.

Thời điểm này, tất cả mọi loại chiến cụ sử dụng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa đều do người Mỹ cung cấp. Theo một điều khoản trong chương trình viện trợ, vỏ đạn đại bác 105mm sau khi bắn phải được thu lượm lại để gửi về Mỹ tái chế, và Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam (MACV) kiểm soát rất gắt gao về số lượng đạn đã cấp phát cũng như số vỏ đạn thu về.

Sau nhiều ngày suy nghĩ, Vĩnh Lộc cùng các quân sư nảy ra một kế : Ông ta ra lệnh cho phần lớn những căn cứ pháo binh đóng ở những tiền đồn, những chi khu hẻo lánh, mỗi đêm mỗi khẩu đại bác 105mm phải bắn ít nhất 20 quả đạn, bắn đi đâu cũng được rồi cứ vài hôm, xe quân sự lại đến, chở đống vỏ đạn ấy về Pleiku. Tại đây, các “xì thẩu” người Hoa đã lập sẵn một xưởng nấu đồng, biến đống vỏ đạn thành những thỏi đồng bóng loáng. Số đồng này ngoài việc cung cấp cho những nhà sản xuất lư hương, chân đèn,9 Thien dia hoi 4 các xưởng cơ khí, các cơ sở chế tạo khuôn mẫu trong nước, còn thì… xuất khẩu sang Hồng Kông, Đài Loan!

Giải thích với các cố vấn Mỹ về việc đêm nào cũng bắn, dẫn đến số lượng đạn 105mm cung cấp cho Quân đoàn 2 trong năm 1967 bằng gần một nửa so với số đạn mà Quân đoàn 1, Quân đoàn 3 và Quân đoàn 4 sử dụng nhưng không thu lại được vỏ đạn, Vĩnh Lộc nói rằng ông ta thực hiện kế hoạch “bắn quấy rối” – nghĩa là bắn hú họa vào những vùng nghi có Quân Giải phóng đang hoạt động, vừa để làm mất tinh thần đối phương, vừa để đối phương biết rằng quân đội Việt Nam Cộng hòa luôn theo sát mọi hành tung của họ. Sau đó, các căn cứ pháo binh bị Quân Giải phóng tập kích nên lính bỏ chạy, vỏ đạn cũng mất luôn !

Cùng với việc mua vỏ đạn của Lý B, ở Chợ Lớn bắt đầu xuất hiện thêm nhiều ông “vua không ngai” người Hoa như Lâm Huê H., “vua tín dụng và hàng phế liệu chiến tranh”, Mã H., “vua lúa gạo”, Lý Long T., “vua dệt vải, sắt thép”, Tạ V., “vua xuất nhập khẩu”, Lý B., “vua hàng PX, hàng viện trợ, đôla đỏ” (là hàng miễn thuế chỉ bán cho lính Mỹ và loại tiền chỉ có giá trị chi tiêu trong quân đội Mỹ), Lâm N., “vua lính ma, lính kiểng” (nghĩa là chạy cho con em người Hoa khỏi đi lính nhưng vẫn có tên trong danh sách, hoặc nếu phải đi lính thì cũng chỉ làm công việc văn phòng ở thành phố, thị xã chứ không phải ra mặt trận), tất cả đều có quan hệ mật thiết với Hội Tam Hoàng.

Trong đó, “vua bột ngọt” Trần T., gốc Triều Châu là một trong những thủ lĩnh cao cấp của Tam Hoàng, quản lý tài chính. Với tiềm lực rất mạnh, các ông “vua không ngai” 9 Thien dia hoi 3nắm trong tay 70% các ngành kinh tế xương sống của miền Nam. Nhiều người đồn rằng Tín Mã Nàm (hay còn gọi là “Nàm chảy”), một tay anh chị người Hoa khét tiếng trong giới xã hội đen ở Chợ Lớn cũng là người của Tam Hoàng nhưng thực tế thì “Nàm chảy” chỉ là một gã du đãng, kéo bè kết cánh để bảo kê vũ trường, động mại dâm.

Theo báo cáo của Biệt đội Hình cảnh – Tổng nha Cảnh sát quốc gia Sài Gòn gửi Phòng Cảnh sát Đặc biệt đặc trách Hoa vụ, thì : “Không có dấu hiệu cho thấy Lý Nam (tức Nàm) có dính líu đến Hội Tam Hoàng”. Hơn nữa, để bảo vệ công việc làm ăn, các “xì thẩu” người Hoa lúc ấy rất ngại đổ máu. Qua sự giao du mật thiết với các nhân vật chóp bu của chế độ Sài Gòn bằng tiền hối lộ, họ có đủ cách để khiến đối thủ thân bại danh liệt chứ mắc mớ gì mà phải đâm chém cho rùm beng.

Cố đấm ăn xôi

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tam Hoàng Chợ Lớn ngoại trừ một số nhanh chân chạy ra nước ngoài thì số còn lại nằm im thở khẽ, theo dõi tình hình. Khi ấy, tại một cuộc họp bí mật với những người đứng đầu các bang hội người Hoa ở Chợ Lớn, Trần T. – một trong những thủ lĩnh cao cấp của Tam Hoàng, phụ trách việc quản lý tài chính, đã phát biểu : “Dù họ là ai chăng nữa (ý nói chính quyền cách mạng) thì họ cũng phải ăn, phải uống, phải mặc, phải thụ hưởng những tiện nghi vật chất. Vì thế, trước mắt chúng ta không nên manh động vì chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, tất cả sẽ trở lại như cũ”.

Nhưng Trần T. đã nhầm. Khi chiến dịch cải tạo tư sản thương nghiệp, cải tạo tư sản mại bản diễn ra và nhất là thời gian trước cuộc chiến tranh biên giới 1979, nhiều người Hoa – trong số đó có hội viên Tam Hoàng trở về Trung Quốc rồi đi đến các quốc gia khác. Quyền lực của Tam Hoàng dần dà chuyển sang Hồng Kông. Đến khi Hồng Kông được người Anh trao trả cho Trung Quốc, Tam Hoàng chuyển sang Đài Loan, sang Malaysia, Canada, sang Mỹ…

Suốt 20 năm, từ 1975 đến 1995, ba từ Hội Tam Hoàng mờ dần trong ký ức của những người Hoa sống tại Sài G n cũng như các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, An Giang… (theo An Ninh Thế Giớ)

Xem thêm : Lý Long Thân ông vua không ngai trong Chợ Lớn. Bấm vào đường dẫn sau đây, bài trong trang “Một thời Sài Gòn” post ngày 19/6/2013 :

Vua không ngai Chợ Lớn

9 Trum IS 1CÔ GÁI 16 TUỔI

KỂ CHUYỆN PHỤC VỤ

TRÙM IS AL-BAGHDADI

Cô Zeinat, 16 tuổi, kể lại chi tiết cuộc sống địa ngục trong dinh thự của trùm khủng bố IS Abu Bakr al-Baghdadi khi cô phải phục vụ.

Giống như hàng nghìn phụ nữ Yazidi, Zeinat bị khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) bắt giữ ở núi Sinjar tại Iraq và trở thành nô lệ.

Trong cuộc phỏng vấn độc quyền của hãng tin CNN, Zeinat, 16 tuổi, kể lại chi tiết cuộc sống địa ngục trong dinh thự của trùm khủng bố Baghdadi sau khi bị bắt hồi năm 2013. “Hắn ta đối xử với chúng tôi vô cùng tàn tệ” – Zeinat khóc nức nở. Baghdadi luôn nói với Zeinat và các nô lệ khác rằng : “Hãy quên cha và anh của chúng mày đi. Bọn tao đã giết chúng rồi. Cũng quên mẹ và chị gái của chúng mày, vì bọn tao đã bán chúng rồi”.

Sau khi bị bắt, Zeinat và tám cô gái trẻ khác bị đưa đến Raqqa 9 Trum IS 2(Syria), “thủ đô” của IS. Khi đó cô bé không hề biết Baghdadi chính là thủ lĩnh tối cao của IS. Ngay khi đến Raqqa, Zeinat bị ép phải xem một đoạn video chiếu cảnh một số tay súng IS chặt đầu con tin nước ngoài. Chúng dọa sẽ chặt đầu cô nếu cô không chịu cải sang đạo Hồi.

“Hắn chiếu video bằng máy vi tính rồi dọa nếu chúng tôi không cải sang đạo Hồi, hắn sẽ chặt đầu chúng tôi” – Zeinat kể. Các cô gái có hai lựa chọn : “Cải sang đạo Hồi hay là chết”.

Tìm đường trốn chạy

Gia đình của Baghdadi liên tục chuyển từ nhà này sang nhà khác, từ thị trấn này sang thị trấn khác để đảm bảo an toàn. Ngày Zeinat đến Raqqa một vụ không kích phá hủy toàn bộ ngôi nhà bên cạnh dinh thự của Baghdadi. Zeinat kể cô và các nô lệ khác thường xuyên bị Baghdadi đánh đập một cách tàn bạo. Hắn luôn nhấn mạnh rằng các cô chỉ là “đồ vật sở hữu” của hắn. Zenat cũng liên tục bị ba bà vợ và sáu người con của Baghdadi hành hạ dù hàng ngày phải nai lưng lau dọn nhà cửa, nấu ăn và chăm sóc cho họ.

Quá sức chịu đựng, Zeinat quyết định bỏ trốn. Một lần, cô và một số nô lệ khác ăn trộm được chìa khóa ngôi nhà gia đình Baghdadi ở.9 Trum IS 3 “Chúng tôi lấy được chìa khóa và mở cửa rồi bỏ chạy. Chúng tôi thấy một ngôi nhà bên ngoài Aleppo. Ở đó có một người phụ nữ Ả Rập. Bà ta bảo sẽ giúp chúng tôi trốn sang Iraq, nhưng rồi lại gọi điện báo cho IS” – Zeinat phẫn uất.

Baghdadi và đàn em trừng phạt Zeinat cùng những nô lệ bỏ trốn không thương tiếc. “Chúng đánh mọi chỗ trên cơ thể chúng tôi. Thân thể chúng tôi thâm tím hoàn toàn. Chúng đánh chúng tôi bằng dây điện, thắt lưng và gậy gỗ. Baghdadi đánh tôi bằng thắt lưng và vòi phun nước. Hắn còn tát vào mặt tôi khiến mũi tôi chảy máu” – Zeinat kể.

Baghdadi nói với Zeinat và các nô lệ khác: “Tao đánh chúng mày vì chúng mày dám bỏ trốn. Tao muốn chúng mày cải đạo. IS sở hữu chúng mày”. Ở Raqqa, Zeinat gặp con tin người Mỹ Kayla Mueller. Khi đó cô bị biệt giam vì tội bỏ trốn.

Baghdadi không dùng điện thoại

“Khi bị đưa vào phòng giam, tôi găp Kayla. Tôi nghĩ cô ấy là người Yazidi nên nói chuyện với cô ấy bằng tiếng Kurd, nhưng cô ấy không hiểu, 9 Trum IS 4do đó tôi nói bằng tiếng Arabic” – Zeinat kể. Hai người bị giam chung trong vài tuần. Khi đó Mueller kể với Zeinat rằng cô bị Baghdadi cưỡng hiếp. Mueller bị bắt cóc ở Syria năm 2013 và bị IS hành quyết hồi tháng 2/2015.

Zeinat cho biết cô cố thuyết phục Mueller bỏ trốn cùng cô nhưng vô hiệu. “Khi nghe Kayla kể, tôi muốn tiếp tục bỏ trốn và rủ cô ấy, nhưng Kayla từ chối. Cô ấy kể về một nhà báo Mỹ bị chặt đầu và lo sợ nếu trốn cô ấy cũng sẽ bị hành quyết. Nhưng tôi chứng kiến nỗi đau của cô ấy và quyết tâm trốn” – Zeinat nói.

Theo Zeinat, Baghdadi đối xử với Mueller như “vợ”, bắt cô mang trang phục truyền thống của đạo Hồi và không cho người đàn ông nào khác được thấy mặt cô. Zeinat cho biết thủ lĩnh tối cao của IS thường làm việc tới nửa đêm và chỉ thức dậy lúc 10g sáng. Có nhiều lần hắn đi vắng bốn hoặc năm ngày mới về.

Bình thường hắn không mặc trang phục Hồi giáo truyền thống. Baghdadi hoàn toàn không sử dụng điện thoại di động vì sợ bị tình báo phương Tây lần ra dấu vết. “Hắn luôn lo sợ sẽ bị máy bay kẻ thù phát hiện. Hắn chỉ liên lạc với những người khác bằng cách nhờ người thân tín gửi thư” – Zeinat kể.

Thoát chết

Dù bị đánh đập, tra tấn và đe dọa, Zeinat vẫn quyết tâm bỏ trốn. Một đêm, cô phát hiện cửa sổ phòng nô lệ bị sút đôi chút. Zeinat và các cô cố gắng đẩy cửa và bò ra ngoài. Họ chạy như điên trong màn đêm đen tối. “Chúng tôi không biết phải đi đâu, chỉ vừa chạy tứ tung vừa cầu nguyện” – Zeinat kể. Sau nhiều giờ, họ đến được một ngôi làng nhỏ.

Họ gặp một gia đình và kể lại cảnh cùng khổ của mình, nhờ giúp đỡ. Hai người đàn ông dùng xe máy chở họ đi trốn. “Chúng tôi được cho mặc trang phục đạo Hồi, che kín mặt. Họ lái xe chở chúng tôi qua nhiều cánh đồng và đường nhỏ để tránh bị phát hiện” – Zeinat kể. Và cuối cùng họ đã thoát khỏi cuộc sống địa ngục.

Trở lại Iraq, Zeinat đoàn tụ với mẹ và một số anh chị em họ. Nhưng ba chị em gái của cô vẫn đang bị IS giam cầm, cha cô mất tích và có thể đã giết hại. Cô hi vọng những thông tin mình cung cấp có thể giúp bắt giữ Baghdadi. “Tôi hi vọng họ sẽ sớm giết hắn. Hắn là kẻ giết người, tàn phá các gia đình, cưỡng hiếp các cô gái. Tôi muốn cả thế giới biết hắn ác độc đến mức nào” – Zeinat nhấn mạnh.

Dung Dung tổng hợp chuyển tiếp

MUÔN NẼO ĐƯỜNG SÀI GÒN

NHỮNG CON ĐƯỜNG

“SƯỚNG RÊN”

Những “thiên đường sung sướng” và quán cà phê phục vụ ‘Từ A tới Z’ chỉ có ở Sài Gòn

Khi công an tập trung triệt phá tụ điểm mại dâm ở đường này thì các cô gái chuyển về đường khác để hành nghề. Có cô thì mướn xe tay ga xịn chạy trên đường bắt khách

Nhiều năm qua, trên địa bàn Sài Gòn vẫn tồn tại nhiều tuyến đường có nhiều gái mại dâm đứng vẫy khách. Sau một thời gian các cơ quan chức năng triệt tiêu các điểm trên đường Huyền Trân Công Chúa, trước cổng công viên Tao Đàn, đường Nguyễn Thị Minh Khai,… thì gái bán dâm dạt về đường Tú Xương (quận 3), cầu Thị Nghè giáp ranh quận 1 – quận Bình Thạnh, khu Lăng Cha Cả trên đường Hoàng Văn Thụ (quận Tân Bình)… để làm ăn.

Chúng tôi tới đường Tú Xương khi đồng hồ chỉ 20h. Dưới những lùm cây lờ mờ, các cô gái son phấn lòe loẹt đang đứng ngồi từng cụm. Thấy người đi đường ngang qua, các cô phát tín hiệu mời gọi. Sau khi thỏa thuận giá cả, gái mại dâm đưa khách làng chơi về hành lạc tại dãy phòng trọ gần ga Sài Gòn, trên đường Nguyễn Thông.

Thanh (27 tuổi), nhân viên một công ty tại quận 1, cho biết : “Tháng trước, sau một hồi nhậu xỉn với anh em trong phòng, chúng tôi rủ nhau đi ‘tươi mát’. Sau khi đi về tôi phát hiện bị gái bán dâm lấy trộm cái bóp, trong đó có 3 triệu đồng. Khi quay lại ngã 4 Tú Xương – Lê Quý Đôn, trông thấy cô gái lúc nãy nhưng cô này phủ nhận, còn đòi đánh tôi nữa”.

Tại khu vực Lăng Cha Cả, gái mại dâm đứng dưới tán các cây ven đường. Không cần ra ám hiệu, khách làng chơi đi ngang qua khi thấy các cô là “ghé thăm” và trả giá đi “dù”. Nếu thỏa thuận được giá, gái mại dâm đưa khách về hành lạc tại các khách sạn trên đường Đặng Dung gần đó. Thông thường, giá “dù” ở đây là 150.000 – 200.000 đồng/lần; giá cả đêm là 500.000 đồng, bao khách sạn.

Khu vực cầu Thị Nghè lâu nay cũng là điểm mại dâm nổi tiếng của Sài Gòn. Sau khi dân phòng phường chốt chặn trên cầu, gái mại dâm chuyển sang đi xe tay ga để tiếp thị. Đây là các loại xe mà má mì thuê lại cho đội quân của mình.

Trong vai khách làng chơi, mới vừa qua cầu, chúng tôi đã được nhiều cô gái đuổi theo “chào hàng”. Giá “dù” hay cả đêm của gái Thị Nghè cũng bằng các cung đường mát mẻ khác. Sau khi đồng ý, gái mại dâm đưa khách xuống các phòng trọ dưới cầu và hay trên đường Nguyễn Cửu Vân.

Quán cà phê tới bến ở Thanh Đa

Một thời, Thanh Đa nổi tiếng với những quán cà phê bờ sông trá hình. Một tối cuối tuần giữa tháng 6, chúng tôi đến các quán cà phê đèn mờ ở đây. Qua khỏi ngã tư Thanh Đa, đi thẳng vào đường Bình Quới (P.28, Q.Bình Thạnh), chúng tôi đếm được trên 30 quán cà phê ven sông. Có nhiều quán nằm sâu trong hẻm, trang hoàng bằng đèn chùm.

Nhân viên nam ngồi trước các quán nhanh nhẩu mời gọi “vào đây đi anh” khi thấy những chiếc xe máy chạy chầm chậm qua. Bị một thanh niên 22 tuổi chèo kéo, chúng tôi tấp xe vào quán C.H.. Bên ngoài có hàng chục chiếc xe máy của khách. Đóng vai cặp tình nhân, tôi và cô bạn đồng nghiệp nắm tay bước vào. Một nam nhân viên hỏi : “Anh chị dùng gì ?”. Chúng tôi nói cần một ly cà phê đá và chai xá xị.

Một thanh niên khác cầm đèn pin bảo “đi theo em”, rồi dắt ra sau. Quán tối thui, không một bóng đèn, chúng tôi quan sát 3 dãy với nhiều ghế nệm. Theo quan sát, quán này đã được xây dựng lại khá khang trang. Những năm trước, quán chỉ có khu vực ghế nệm, còn hiện nay đã có thêm dãy nhà nghỉ mới xây. Mỗi phòng có giường nệm cho những khách muốn “đi tới Z”.

Dắt chúng tôi vào dãy trong cùng, anh thanh niên rọi đèn pin để bật quạt và đốt nhang muỗi, sau đó đòi 35.000 đồng tiền nước. Ngồi chưa ấm chỗ, cách chỉ 2 m, chúng tôi thấy một đôi uyên ương đang “quấn” lấy nhau, vật vã trên chiếc ghế nệm. Chốc chốc tiếng thở hổn hển vang lên.

Tôi viện cớ đi tìm nước rửa mặt để lần ra thì thấy trên những chiếc ghế da, nhiều cặp đang nhiệt tình… thể hiện. Thỉnh thoảng là những câu nói của các cô gái vang lên “đừng anh, đừng làm vậy!” phát ra. Tôi đếm được 10 cặp đang nằm sõng soài trên ghế.

Tối hôm sau, chúng tôi quay lại khu vực này và vào quán N.. Đây là một quán rất đẹp với nhiều đèn chùm trang trí. Lúc chúng tôi đến, rất đông khách, nhiều nhân viên nam ngồi trước cửa làm nhiệm vụ chào mời. Bước vào quán, một thanh niên hỏi ngay : “Anh chị ở dưới hay lên lầu. Dưới đất thì ‘nhẹ nhàng’, còn lên lầu thì cứ vô tư, bởi trái đất này là của chúng mình”. Theo anh này, dưới thì chỉ mất 30.000 đồng tiền nước, khách vào quán tự do “làm việc”, nhưng không được tới “giai đoạn cuối” như ở khu vực trên lầu.

Lần khác, mất 50.000 đồng cho cả 2 người, chúng tôi cũng có cớ để lên lầu với những chiếc ghế nệm đen xì trong bóng tối. Giống như các quán khác, nhân viên nam cũng dẫn chúng tôi lên lầu với đèn pin trong tay. Để anh ta đi khỏi, chúng tôi quờ quạng xung quanh thì giật mình khi thấy những bóng người, chốc chốc tiếng xé vỏ bao cao su, tiếng vỗ khăn lạnh hừ hự.

Tôi rút điện thoại định chụp vài kiểu trong khi giả vờ xem tin nhắn, ánh sáng yếu ớt từ điện thoại phát ra, tức thì nhiều lời phàn nàn vang lên : “Ông kia, tắt ngay điện thoại”. Có tiếng một cô gái lịch sự hơn : “Làm ơn tắt điện thoại”.

Nơi đây đúng là “bãi đáp” lý tưởng cho người mua bán dâm, những cô cậu học sinh sinh viên… vì giá quá rẻ. Chỉ cần 25.000 – 50.000 đồng cho 2 người là có thể “tới Z” ngay tại chỗ, rẻ hơn nhiều so với giá thuê khách sạn. Chính vì thế mà dãy quán cà phê ven sông trá hình ở đây luôn đông khách, nhất là vào tối thứ 7, chủ nhật. (theo Zing)

NHỮNG CON ĐƯỒNG

‘SUNG SƯỚNG’ KHÁC

Một số đường ở quận Bình Thạnh như Điện Biên Phủ, Đinh Bộ Lĩnh, Ung Văn Khiêm từ lâu đã trở thành tụ điểm hớt tóc, massage kích dục. Nhân viên nữ luôn chiều các “thượng đế” từ A tới Z với giá cả phải chăng.

Đêm cuối tuần, sau chầu nhậu với đám bạn cùng công ty, Hoàng Long, một dân chơi sành điệu tại Q.11 liền rủ tụi bạn “thư giãn” đôi chút cho tỉnh hơi men. “Đi massage thì cũng vui nhưng hơi tốn kém, để tui dẫn ông tới chỗ này vui hơn mà giá cả cũng mềm hơn!”, Long hí hửng giới thiệu.

Theo chân Long, khách tìm đến đường Điện Biên Phủ (P.17, Q.Bình Thạnh) mà theo Long những tiệm hớt tóc tại đây có dàn “em út” vừa xinh lại phục vụ khách rất tận tình, chu đáo. Xuống dốc cầu Điện Biên Phủ chưa đầy 200 m, chiếc xe tay ga đắt tiền của Long tấp vào một ngôi nhà ba tầng khá khang trang.

Ngay phía trước ngôi nhà là biển hiệu đèn màu nhỏ với dòng chữ “Hớt tóc Benny” mà nếu không để ý sẽ khó nhận ra. Bảo vệ tươi cười chào mời và nhanh chóng đưa khách vào bên trong. Long vui vẻ giới thiệu : “Đây là tiệm quen của tui, đảm bảo ông sẽ khoái chỗ này !”.

Nói là tiệm hớt tóc nhưng không hề có bất kỳ cây kéo hay cái tông-đơ nào, chỉ có dàn tiếp viên nữ trong những chiếc váy đồng phục ngắn cũn cỡn đang ngồi vui vẻ nói cười. Vừa thấy khách bước vào, một cô đứng dậy hỏi : “Hai anh có yêu cầu bé nào không hay để tụi em đi theo tua ?”. “Anh có rồi, tìm thêm một bé dễ thương vui vẻ cho ông bạn anh được thoải mái là ok !”, Long nhanh chóng đáp lời.

Ngay lập tức, hai cô gái tuổi chừng đôi mươi từ một căn phòng phía bên trong bước ra và đưa khách lên tầng một. Tầng một của ngôi nhà được chia làm hai gian phòng. Một dãy khoảng năm sáu chiếc ghế nệm được bố trí tại gian phòng phía ngoài để khách và các tiếp viên có thể ngồi “thư giãn” nói chuyện cùng nhau. Còn phía bên trong là dãy phòng nhỏ chỉ vừa đủ rộng để bố trí chiếc ghế nằm cho khách, cách nhau bởi những tấm vách ngăn tạm bằng mi-ca và những chiếc màn thun mỏng manh. Đây là “thiên đường” để tiếp viên thực hiện những màn kích dục cho khách.

Sau khi thực hiện xong các “màn dạo đầu”, Long được cô tiếp viên đưa vào gian phòng phía trong để “vui vẻ”. Nguyệt, tiếp viên quê ở Tiền Giang cho biết, lúc mới lên thành phố cô làm công nhân ở khu công nghiệp Tân Bình một thời gian. Sau đó được mấy đứa bạn làm chung giới thiệu qua đây làm đỡ cực mà tiền cũng nhiều hơn ! Ở đây Nguyệt phải xoay tua thay nhau tiếp khách, nhưng nếu khách quen có yêu cầu thì có thể nhảy lượt.

“Làm ở đây không có lương, chủ yếu tụi em sống nhờ vào tiền bo của khách ! Bởi vậy phải ráng chiều cho khách vừa ý để lần sau người ta còn tìm đến mình !”, Nguyệt nói. Giá cho mỗi lần vui vẻ tại những tiệm hớt tóc này “mềm” hơn so với các tiệm massage, chỉ khoảng 100-120 nghìn/suất (chưa kể tiền “bo” cho các tiếp viên). Thỉnh thoảng, đâu đó từ trong các phòng bỗng vang lên tiếng khạc nhổ của các tiếp viên, kèm theo đó là một mùi tanh tanh rất khó chịu.

Rời tiệm Benny, khách rảo quanh các tuyến đường như Ung Văn Khiêm, Đinh Bộ Lĩnh…, nơi cũng có hơn chục tiệm hớt tóc trá hình đang công khai hoạt động. Từ dốc cầu Điện Biên Phủ đến vòng xoay Hàng Xanh chưa đầy một cây số, thế nhưng có đến sáu tiệm hớt tóc kích dục hoạt động từ 10h sáng cho đến tận 24h đêm. Đường Đinh Bộ Lĩnh (đoạn từ giao lộ Nguyễn Xí – Đinh Bộ Lĩnh đến cầu Đinh Bộ Lĩnh) cũng là nơi tập trung gần chục tiệm hớt tóc trá hình với dàn tiếp viên trẻ trong những bộ trang phục mát mẻ sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của khách.

Hơn 22h đêm, khi đường phố bắt đầu thưa dần bóng người thì cũng là lúc khách tìm đến tiệm hớt tóc L.Đ. nằm trên đường Đinh Bộ Lĩnh (Q. Bình Thạnh). Vừa thấy khách tấp vào, hai ba cô gái đang nằm dài trên chiếc ghế gội đầu liền ngồi bật dậy và tươi cười. Nhìn từ bên ngoài tiệm hớt tóc cũng vắng lặng như bao tiệm hớt tóc bình thường khác. Thế nhưng bên trên ngôi nhà ba tầng là hàng chục tiếp viên nữ trong trang phục ngắn hết cỡ chờ đến lượt tiếp khách.

Khách được hai cô gái đưa vào hai gian phòng trên tầng một căn nhà. Sau vài ba câu nói bông đùa, cô tiếp viên thẳng thắn đề cập vấn đề: “Tụi em thư giãn xong anh cho tụi em bằng với tiền ticket (tiền vé mỗi suất) nha? Còn nếu mấy anh muốn phục vụ kiểu khác thì cho em xin hai xị”. Khi nghe khách hỏi muốn “tới bến” luôn thì sao, cô gái đáp lời: “Chủ không cho tụi em làm tại đây. Mấy anh có nhu cầu thì cho em số điện thoại, xuống ca em sẽ gọi rồi mình hẹn địa điểm. Còn giá thì anh cho em xin bảy xị!”.

Nằm gần giao lộ Đinh Bộ Lĩnh – Chu Văn An, từ lâu khách sạn Q.L. (Q. Bình Thạnh) đã được nhiều khách làng chơi biết đến như một “bãi đáp” an toàn để “mua hoa”. Với nguồn cung cấp “đào” chủ yếu từ các tiệm hớt tóc gần đó, khi khách có nhu cầu mua dâm chỉ cần đến khách sạn lấy phòng, rồi gọi số 0977121… của một người đàn ông tự xưng là “cậu” để thỏa thuận giá cả, sau đó “em út” tự lên phòng đã đặt để mua bán dâm.

Khi khách hỏi “cậu” hàng ở đây thế nào, từ đầu dây bên kia, giọng một người đàn ông trung niên vang lên : “Đảm bảo hàng trẻ đẹp, giá 250, 500 ngàn đến một triệu đều có ! Còn nếu muốn nguyên đêm thì giá gấp đôi !”. Khách hỏi tiếp “Làm sao đảm bảo được ?”, người đàn ông này tiếp lời : “Anh cứ lên nhận phòng đi, sẽ có người đưa đào đến. Nếu thấy không vừa ý thì đổi lại !”. Đúng như thỏa thuận, sau khi nhận phòng thì khoảng mười phút sau, nhân viên khách sạn liền đưa hai cô gái đến.

“Hàng của tụi em ở đây trẻ đẹp lại còn biết cách chiều ý khách. Nếu mấy anh muốn thì cũng có thể thoải mái đổi đào qua lại lẫn nhau !”, nhân viên này vui vẻ cho biết rồi nhanh chóng rời phòng. (theo báo Công an TP)

Dung Dung tổng hợp chuyển tiếp

CON ÐƯỜNG MASSAGE

ĐẦY “HUYỀN ẢO”

Không biết có sung sướng hay không, không biết có mạnh khỏe hay không, nhưng để đi đến nơi đó quả thực không dễ vì nó là con đường “một chiều” xuôi từ bến xe Miền Ðông về khu vực giáp ranh Q. Bình Thạnh với Quận 1.

Muốn “hạ cánh” nơi ấy phải chạy một đường vòng ra Hàng Xanh lội ngược lên đường vành đai Xô Viết Nghệ Tĩnh ngựa xe như mắc cửi, chen chúc nhau trong khói bụi mịt mù, còi hụ máy nổ ầm ầm mà một khi đã lọt vô “dòng chảy” là không có đường lùi.

Ở đó kẹt xe như là hơi thở, hít vô nơi nầy thở ra nơi kia, nó sẽ làm cho bạn hoa mắt ù tai vì những tiếng động đinh tai nhức óc, ngày đêm nơi đó như một chiến trường, nó là một cung đường “đau khổ” nhưng không hiểu sao xe cộ cứ đâm đầu vào nơi ấy như cá chui vào rọ.

Không biết có phải vì “hiện tượng đặc thù” đó hay không mà mà con đường một chiều Ðinh Bộ Lĩnh ấy được nhiều người gọi tên là “con đường sung sướng,” một con đường mà nếu “lơ mơ” chạy lố một chút – thì sẽ không biết chỗ nào dừng, nhưng nếu đứng lại xuống xe bạn sẽ lọt vào mê hồn trận của “bàng tơ yêu nữ.”

Một con đường chỉ dành riêng cho những ai rỗi hơi, muốn “thư giãn” buổi chiều, liêu xiêu buổi tối, nó còn có một cái tên khác là “Con Ðường Massage” của các em môi đỏ mắt xanh mời chào khi đêm xuống, ban ngày thì các em ngồi đâu đó hớ hênh khêu gợi những con mồi đang lang thang tìm bến đậu.

Nói cho đúng hơn thì đó là nơi các “chiến hữu lưu linh” chơi tiếp “tập 2” để giãn gân mềm cốt và dã rượu, sau đó là những màn xông hơi đấm bóp “ve vuốt chỗ yếu huyệt” mà dưới bàn tay điêu luyên của các em thì mấy anh có mệt cho mấy cũng “vùng lên” đòi quyền sống.

Kết quả là khi vào thì mỏi mệt vì rượu bia nhưng khi ra thì hết xí quách vì đã bị mấy em “tẩm quất” cho một trận nên thân, thân xác còn bèo nhèo hơn bao giờ hết, đơn giản là massage đâu hổng thấy chỉ thấy “mát gần.”

Một tiếp viên xinh đẹp cho biết, “Bây giờ mấy ổng đi massage mà như đi đánh trận, mấy ông cứ đòi oánh bóp lại cho mấy em, vì nói thiệt bọn em cũng không biết massage là cái quái gì, mà mấy ổng thì cũng đâu cần ‘tẩm quất’ mấy ổng đòi chuyện khác.”

“Vậy nên bọn em chỉ có việc làm một công việc đơn giản là ‘phục vụ’ cho mấy ổng sung sướng, mấy ổng toàn là ‘cán cuố nên thấy lúc nào cũng say xỉn bia rượu tè le khi ‘trúng mánh’ những phi vụ ‘giải tỏa’ nhà đất, hợp đồng kinh tế, sau và trước khi công việc hoàn tất là phải có cái thủ tục ‘tăng 2, tăng 3’ không thể không có.”

Một con đường chưa tới 3 cây số nhưng có hàng trăm quán massage kéo dài từ bến xe Miền Ðông ra tới tận cầu Bình Triệu, chưa kể những quán nhậu, quán bia ôm trá hình lấp ló trong những con hẻm yên bình… thì phải nói đây là “thiên đường sung sướng,” chốn “ăn chơi mát trời.”

Vì mọi thứ nơi đây đều “tập kết” về một chỗ, khách sạn – nhà hang – quán nhậu –massage – em út phục vụ từ A tới Z, bảo đảm không thiếu một thứ gì ngay cả “sexy show” tại chỗ với những màn thoát y tới bến. Bia bọt rượu chảy ngập tràn, vui thâu đêm suốt sáng với gái đẹp, thuốc lắc tất cả đều được bảo kê bởi các thế lực đen-đỏ mà nếu đụng vào đó sẽ biết ngay “thế lực ngầm” nào đang chia nhau những cổ phần béo bở bởi nền công nghiệp béo bở này.

“Vậy nên mặc cho những ‘chiến dịch ra quân’ tảo thanh dẹp bỏ những tệ nạn mại dâm ‘trá hình’ đang nở rộ trên toàn… đất nước ‘bọn em vẫn bám trụ’ vì nghề nầy chỉ có một thời thanh xuân.”

“Bọn em cố gắng làm vài năm kiếm chút vốn về quê mở quán ăn, tiệm uốn tóc làm ăn lương thiện, một vé cho một giờ massage chỉ có 120 ngàn ($6), chủ quán lấy hết, bọn em chỉ còn sống duy nhất là nhờ ‘tiền boa’ cũng kha khá, nên khách tới đây là bọn em ‘chìu tới bến’”. “Khách vui sùi bọt mép, còn em thì có tiền chờ ngày ‘hoàn lương’ trở về quê cũ…”

Không biết có được không, nhưng người con gái… vẫn thản nhiên kết luận về nghề nghiệp của mình khi màn đêm đang buông trùm xuống cuộc đời. (theo Người Sài Gòn)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CỐ LÊN CON ƠI ! 

Đổi ca một lát bố ơi !

Thời gian giao ước hết rồi đấy nha !

Lúc đầu bố hứa rồi mà:

Mỗi “thằng” một hiệp xem bà kia “nuy”

Trời ơi !  Mày nói nhỏ đi !

Nó mà nghe thấy thì nguy bỏ bà

Cố lên tí nữa con à !

Đoạn hay đang đến – úi chà – rõ phê …!

Nhưng mà bố nặng quá đê !

Nãy giờ con trụ đến tê cả người !

Cơ mà bố cũng nực cười

Ở nhà mẹ tắm sao thời không xem ?

Mẹ mày là thứ… nát bem

Còn đây hàng chuẩn, nguyên tem, con à !

Mẹ mày vừa lép, vừa già

Nó thì căng đét, lại là còn tơ…

Thôi đi ! Bố xạo lắm cơ !

Tối qua con đã giả vờ ngủ say

Con nghe bố nói như này :

Em là số một – mình “cày” tiếp nha …

Thằng này lắm chuyện quá ha !

Đàn ông nịnh vợ ấy là đương nhiên

Xấu cũng khen đẹp như tiên

Kẻo không, nó cáu là phiền, hiểu chưa ?

Hình như trời đã đổ mưa

Con nhìn thấy nước nó vừa rơi xong

Trời ơi ! Bố…xả phải không ?

Nước gì nóng với khai nồng, vậy ta ?

 Ừ ừ !  Bố đấy con à !

Tại vì hấp dẫn quá mà, con ơi !

Cố lên một chút nữa thôi !

Bố cho năm chục tối ngồi chơi game

Cố lên con nhé !

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SÀI GÒN : ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ

LANG THANG

ĐƯỜNG TÔN ĐẢN

Ai chưa sống ở đường Tôn Đản, mỗi khi nghe nói tới hai chữ Tôn Đản liền nghĩ ngay tới “du đảng” hoặc đại ca Năm Cam, hoặc một vùng đất dữ dằn của các tay anh chị giang hồ bến tàu. Nói vậy không phải vậy, dù hơn nửa thế kỷ trước Năm Cam thành danh ngay đầu hẻm 148 đường Tôn Đản khi đâm chết tay du đảng cùng xóm tên Lót. Đường Tôn Đản còn có những cái đáng nhớ khác.

Sau đây là chuyện kể về một con đường của một Quận nghèo nhất đất “Sài Thành hoa lệ”. Thời gian trước và sau 1955, cách đây hơn nửa trăm năm, tức một phần hai thế kỷ, nên chuyện rất xa xưa, xưa như chuyện tình Mộng Cầm—Hàn MặcTử.

Đường Tôn Đản là con đường chạy xuyên qua một vùng dân cư lao động của vùng Khánh Hội, Quận Tư, Sài Gòn. Đầu đường, nối với đường Trình Minh Thế tạo thành một ngả ba xe cộ lúc nào cũng đông đúc. Cuối đường, gặp đường Tôn Thất Thuyết chạy dọc theo Kinh Tẻ. Bên kia Kinh Tẻ là vùng Tân Qui Đông, thuộc quận Nhà Bè.

Người bạn sinh đẻ tại đây, năm nay tuổi tám bó thiếu bốn que, cho biết đường nầy thời Pháp thuộc có tên “Route de Cần Giuộc”, là một con đường đất ngoại ô Sài Gòn. Về sau được mở rộng, trải đá tráng nhựa phẳng phiu, Tây đặt lại tên đường Matelot Manuel, ban đêm hai hàng cột đèn khí cháy sáng choang, tỏ rõ cái văn minh của kẻ đi cướp nước.

Lai lịch của ông tây Manuel nầy cũng khó tìm hiểu. Tại sao một anh lính thủy người Pháp có công trận gì mà được đặt tên đường ? Ví như ông Lê-Nin, được dựng tượng trong một vườn hoa ở Hà Nội thì còn có thể hiểu được, tuy vẫn có người thắc mắc : tại sao ông đứng vườn hoa nước mình ?

Sử gia Trần Trọng Kim, trong Việt Nam Sử Lược, có chép : “Tháng ba năm Nhâm Dần (1782) vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem hơn 100 chiếc thuyền vào cửa Cần Giờ đánh nhau với quân Nguyễn Vương ở Thất Kỳ Giang (tức Ngã Bảy). Trận ấy quân Nguyễn Vương thua to, có người nước Pháp tên là Mạn Hoè (Manuel) làm chủ một chiếc tàu phải đốt tàu mà chết. Nguyễn Vương phải bỏ thành Sài Gòn chạy về đất Tam Phụ (Ba Giồng), rồi ra lánh ở đảo Phú Quốc”.

Phải chăng Matelot Manuel là ông Mạn Hoè nầy, người đã chỉ huy một tàu chiến trong lực lượng của Nguyễn Vương ? Nhưng dù ông Manuel có công với Nguyễn Vương đi chăng nữa, ông cũng không xứng đáng nằm trên con đường của nước Việt Nam.

Khoảng năm 1956, 1957 không nhớ đích xác, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà sau khi đã thu hồi chủ quyền quốc gia từ tay người Pháp, đặt lại tất cả tên đường trong đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn. Matelot Manuel đổi thành đường Tôn Đản từ đó. Bên các quận khác, mấy ông Tây Thực dân như De Lattre De Tassigny, Bonard, Colonel Grimaud, Jauréguiberry, Kitchener, Chanson và nhiều nữa, được mời “xuống tàu về nước”.

Tôn Đản là ai ? – Đó là vị phó tướng của tướng quân Lý Thường Kiệt, đời vua Lý Nhân Tông (1072-1127). Tôn Đản tên thật Nùng Tông Đản, gọi tắt Tông Đản, người dân tộc Nùng. Vì kỵ húy tên vua Thiệu Trị là Miên Tông, nên sử triều Nguyễn viết thành Tôn Đản thay vì Tông Đản.

“Năm Ất mão (1075) Lý Thường Kiệt đem quân sang vây đánh Khâm Châu và Liêm Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông). Đạo quân của Tôn Đản đánh Ung Châu (tức là thành Nam Ninh, thuộc tỉnh Quảng Tây), quan Đô Giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết đem binh lại cứu Ung Châu, bị Lý Thường Kiệt đón đánh ở Côn Lôn Quan (gần Nam Ninh) chém chết Trương Thủ Tiết ở trận tiền. Tôn Đản vây thành Ung Châu hơn 40 ngày, quan tri châu là Tô Đạm kiên cố giữ mãi. Đến khi quân nhà Lý hạ được thành, thì Tô Đạm bắt người nhà tất cả 36 người chết trước, rồi tự đốt mà chết.” – (Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim)

Con cháu đời sau đọc lại lịch sử nước nhà, mới thấy tổ tiên ta thật anh hùng, xứng đáng với bốn chữ “Phá Tống Bình Chiêm”. Đây cũng là lần đầu tiên tổ tiên ta đánh thắng giặc Tàu ngay trên đất Tàu, lập nên một chiến công hiển hách muôn đời còn ghi nhớ! Chẳng bì với thời nay, thời của “độc lập, tự do, hạnh phúc” có đảng lãnh đạo, đất liền và biển đảo cứ mất dần!

Từ đầu ngả ba Tôn Đản – Trình Minh Thế (tức đường Jean Eudel cũ), dân nghèo Quận Tư đều biết đến hai tiệm cầm đồ bình dân, khách ra vô nườm nượp. Đầu đường bên tay phải là tiệm mang tên Huỳnh Thị Dậu, nghe tên cũng đoán biết đó là tên chủ nhân. Đầu đường bên tay trái có tiệm Hòa Thành, chiếm hai mặt tiền, một mặt tiền ngó ra đường Trình Minh Thế đón khách từ kho 5, kho 11 lên; một mặt ngó ra đường Tôn Đản. Ai đã từng là dân phu khuân vác bến tàu, chạy xích lô máy, xích lô đạp, xe ba bánh, đánh xe ngựa, học trò nghèo hay làm tư chức miệt Khánh Hội và bên kia cầu Tân Thuận, cầu Hàn mà không là thân chủ của Hòa Thành và Huỳnh Thị Dậu ?

Tiệm cầm đồ bình dân, ăn lời 3%, còn gọi 3 phân, thuở ấy cái gì cũng cầm được; từ món nữ trang, chiếc đồng hồ đeo tay cho đến bộ đổ “tây”, cái quần mỹ-a, bộ áo dài, chiếc xe đạp đều có thể biến thành món tiền trang trải trong lúc ngặt nghèo !

Qua khỏi tiệm Huỳnh Thị Dậu, là cơ sở sửa tủ lạnh của ông Hai Dung, có đứa con trai tên Bòn, sau nầy nối nghiệp cha, tiệm làm ăn rất phát đạt. Kế đó, có kho hàng hãng Poinsard Veret của người Pháp – chữ nầy lâu quá không bảo đảm viết trúng – sau 1975 thành xí nghiệp bóng đèn Điện Quang.

Dân Tôn Đản cựu trào chắc không ai quên nhà bảo sanh Lao Động, của bác sĩ Nguyễn Bính Phương. Bác sĩ Phương là anh của nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh. Tháng 6/1954, thiếu tá Nguyễn Bính Thinh bị thương nặng trong trận phục kích Binh Đoàn 100 của Pháp tại cây số 15, đèo Mang Yang nên viết văn lấy bút hiệu An Khê.

Dù nhà bảo sanh có tên Lao Động, mọi người đều gọi là “Nhà thương Con Cò”, vì lẽ đơn giản phía trước nhà bảo sanh này có gắn hình một con cò đang chắp cánh bay. Tháng 4 năm 1955, Bình Xuyên gây hấn ở Đô Thành, không biết vì lý do gì mà Bác sĩ Nguyễn Bính Phương bị mấy ông kẹ “công an xung phong” của Bình Xuyên bắt thủ tiêu !

Đi xuống chưa tới 100 mét, gặp ngã ba Tôn Đản – Đỗ Thanh Nhơn, còn gọi ngã ba Cầu Cống. Có sử gia viết tên ông Đỗ Thanh Nhơn thành Đỗ Thanh Nhân, đó là quyền của nhà chép sử. Chớ thật ra, tên thật của người ta thì nên viết cho đúng, hà cớ gì phải đổi ? Trong Gia Định Tam Hùng theo phò vua Gia Long, ngoài Đỗ Thanh Nhơn và Châu Văn Tiếp còn ông Võ Tánh, sau nầy có người dám viết Vũ Tính, đọc thấy không giống con giáp nào !

Đường Đỗ Thanh Nhơn nầy, sau 1975 đổi tên thành đường Đoàn Văn Bơ. Ngay đầu ngả ba Tôn Đản – Đỗ Thành Nhơn phía bên trái, có một ngôi chợ nhỏ mang cái tên thật bình dân: chợ Cầu Cống. Chợ nầy càng về sau càng sung, vì dân số Quận Tư càng ngày càng tăng. Có lẽ Quận Tư bao giờ cũng là đất dung thân cho dân nghèo bốn phương tám hướng. Khói lửa chiến tranh khiến biết bao mảnh đời thôn dã phải bỏ ruộng, bỏ vườn trôi giạt về đây tìm một chỗ nương náu.

Chợ Cầu Cống đặc biệt hơn các chợ khác vùng Khánh Hội, Vĩnh Hội vì người ta gọi nó tới ba tên mà ai cũng hiểu. Chợ Cầu Cống, chợ Cây Bàng hay chợ Cây Keo đều chỉ ngôi chợ nhỏ đó. Từ cuối đường Tôn Đản, vùng Tôn Thất Thuyết muốn đi chợ Cầu Cống mua đồ ăn (viết thức ăn nghe văn chương hơn, còn viết “đồ ăn” e có người “nhạy cảm”, tưởng đồ nọ thành đồ kia thì tai hại bạc triệu) chỉ cần leo lên xe ngựa, tới chợ trả một đồng bạc.

Vô chợ mua một xâu lòng bò cột sẵn giá ba đồng gồm lá sách, tim, gan, phổi và một bó cải ngọt một đồng, chị bán hàng cho thêm hai tép hành không tính tiền. Thế là buổi chiều, cả nhà có bữa cơm ngon miệng, “lòng bò xào cải ngọt” thua gì đi ăn cao lầu Đồng Khánh trong Quận Năm ? Đừng chê nha, sau năm 1975 có lúc chỉ có “canh thầy hù” và “cải ngọt xào tóp mỡ” có đâu lòng bò mí lại lòng heo !

Tưởng cũng cần giải thích, tại sao gọi chợ Cầu Cống ? Nguyên do là sát bên đó, rạch Cầu Chông từ sông Bến Nghé đâm ngang đường Bến Vân Đồn, sau khi quanh co trong những xóm nghèo, ra tới đường Tôn Đản, băng ngang một cái cống lớn xây bằng xi măng rồi tiếp tục chảy về vùng kho 11.

Bên cạnh cống, có cây keo thân lớn xù xì, không biết trồng từ đời nào. Loại keo nầy cho trái màu xanh, lúc chín màu đỏ, ăn có vị ngọt, trẻ em rất thích. Thập niên 50, những chiếc ghe mía từ Cầu Ông Lãnh qua, hoặc ghe chở nước uống, neo đậu tại miệng cống, bán hết mía, đổi hết nước mới về.

Ông bà ngày xưa, cứ “thấy mặt đặt tên”, nào là Xóm Gà, chợ Cây Thị, chợ Cây Da Sà, Xóm Lu rồi Cầu Ba Cẳng, chợ Cầu Cống thật dễ hiểu, dễ nhớ cũng rất thân thương !

Thời gian về sau, dân cư càng ngày càng phát triển đông đúc, nhà sàn lấn dần dòng chảy, rạch Cầu Chông chịu chung số phận với những con kinh nước đen của Sài Gòn và Gia Định. Nhất là sau ngày “phỏng dái” cho tới bây giờ, gần 100% kinh rạch nhỏ biến mất trên thực địa, hay chỉ còn trong ký ức của mấy ông già.

Người ta thi nhau san lấp kinh rạch, ao hồ biến nó thành “mặt bằng” tính bằng vàng “cây” và đô-la. Sự biến mất nầy cắt nghĩa tại sao thành phố mang tên “bác” năm sau ngập cao hơn năm trước !

Bài nầy chỉ là những hoài niệm lang thang về một con đường, của cư dân một quận nghèo nhất Sài Gòn, gởi tới các bạn đã từng sống tại Quận Tư, Khánh Hội. Đường Tôn Đản còn lang thang dài dài, xin hẹn hồi sau sẽ rõ. (theo Tư Thắng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG NGƯỜI TỪNG

TRÚNG SỐ ĐỘC ĐẮC

BÂY GIỜ RA SAO ?

Theo thống kê của tác giả Edward Ugel, cha đẻ của cuốn “Tiền không là gì: Số phận đen tối của người đàn ông sau khi trúng số”, trong hàng nghìn người thắng giải, số người sống hạnh phúc với số tiền ấy chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Người xưa thường nói : “Trong phúc có họa, trong họa có phúc”  – câu nói này thật vô cùng đúng đắn bởi trong thực tế, 9/10 người từng trúng số độc đắc, chẳng có mấy ai có thể giữ nguyên cho mình cuộc sống ‘sang chảnh’ mà thường rơi vào cảnh nghèo lại hoàn nghèo sau đó, thậm chí còn phải đi ăn mày.

1/- Tý phú xổ số đi ăn mày : Ổng Bùi Hiền Hòa năm nay 47 tuổi cư trú phường Hưng Lợi, Ninh Kiều, Cần Thơ xuất thân trong gia đình nghèo khó nên luôn nuôi hy vọng được đổi đời bằng cách chơi lô đề, trúng xổ số.

Với việc thường xuyên mua vé số, năm 2010 ông Hòa bỗng chốc trở thành tỉ phú sau khi trúng 3 giải độc đắc 4,5 tỷ đồng. Có tiền ông Hòa tậu ngay căn biệt thự bạc tỷ ở trung tâm thành phố Cần Thơ và bỗng trở nên mê hàng hiệu, lao đầu vào đỏ đen sát phạt, v.v… mặc dù trước đó ông là người hiền lành, chịu khó làm ăn.

Nhưng rồi cuộc sống ăn chơi trác táng chỉ kéo dài được hơn 1 năm đã chấm dứt. Căn biệt thự cũng phải gán nợ cờ bạc. Cả nhà lại kéo đàn kéo đống tìm phòng trọ ở tạm. Đang nghèo khó rồi đổi đời giàu sang giờ lại tay trắng, ông Hòa hóa điên lúc tỉnh tối ngày ôm chai rượu lê lết khắp các phố để xin ăn.

2/- Anh em trong gia đình bất hòa : Gia đình bà Trần Thị Mai ở Long An vốn nghèo đói, quanh năm quần quật chẳng đủ ăn. Để lo cho tương lai của đàn con, bà và chồng đưa cả gia đình lên Bình Dương mưu sinh. Sau đó, bà tính toán dùng số tiền ít ỏi làm vốn buôn bán vặt ngoài chợ.

May mắn là các con bà Mai đều học hành thành tài. Rồi lần lượt, người con trai đầu và đứa thứa ba, tư lập gia đình. Chỉ riêng Lâm, cậu con trai thứ vẫn độc thân, sống cùng cha mẹ.

Một ngày nọ, bà Mai ngồi bán buôn trong chợ thì có bà lão đi qua, khuôn mặt thiểu não, trên tay xấp vé số gần như vẫn còn nguyên. Thấy bà lão tội nghiệp, bà Mai bèn rút tiền mua giúp một tờ rồi đưa cho Lâm giữ, ai dè đến chiều bã lão vé số tìm đến vẻ mặt tươi vui báo tin tấm vé lúc chiều đã trúng giải độc đắc với trị giá lên đến 100 triệu đồng.

Thời điểm năm 2003, số tiền ấy rất lớn, đặc biệt với một gia đình nghèo như bà Mai. Nghe mẹ báo tin, Lâm phóng xe đi lãnh thưởng nhưng lại trở về với vẻ mặt ủ rũ rồi nói rằng tấm vé trật lất, chắc bà bán vé số nhầm lẫn. Tưởng thật, đôi vợ chồng già buôn xo vì mừng hụt. Chỉ đến khi bà lão bán vé số đưa ra cuốn sổ ghi đúng dãy số trúng độc đắc trên tờ số đã bán cho bà Mai thì bà mới linh cảm con trai “có vấn đề”.

Không chịu nổi sức ép từ người nhà và sự đàm tếu của người dân trong xóm, cuối cùng Lâm cũng đành móc tờ vé số trong ví đưa lại cho mẹ, miệng líu riú thú nhận ý định chiếm đoạt số tiền thưởng.

Lấy được tờ vé, vợ chồng bà Mai động viên con sẽ bỏ qua mọi chuyện. Cùng dắt nhau đi lĩnh thưởng, bà đã bàn với chồng sẽ chia đều tiền cho các con lấy vốn làm ăn. Thế nhưng, tiền vừa về còn chưa kịp chia thì những đứa con còn lại đã nổi lòng tham, dựng chuyện nói xấu nhau, nịnh cha mẹ hòng kiếm phần nhiều. Gia đình đổi đời nhờ vé số nhưng tình cảm anh em cũng rạn nứt từ đó. Riêng Lâm, vì xấu hổ với việc làm sai trái của mình đã âm thầm bỏ đi biệt tích, không một lần liên lạc với gia đình.

“Bao nhiêu năm nhịn ăn nhịn mặc để lo cho chúng nó bằng bạn bằng bè, những tưởng bốn đứa ăn học thành người sẽ có hiếu với cha mẹ. Nào ngờ, đồng tiền lại làm lu mờ hết tình mẫu tử”, bà Mai buồn bã nói.

Được biết, tính đến nay đã 10 năm gia đình đổi vận nhờ trúng số thì cũng chừng ấy năm ròng Lâm chưa một lần quay lại nhà hay điện hỏi thăm vợ chồng bà một tiếng. Đã có lúc bà từng nói, giá như “lộc trời” đừng đến thì chắc chắn Lâm giờ này vẫn còn ở với vợ chồng bà.

3/- Chồng ôm 1,5 tỷ đồng tiền trúng xổ số đi kiếm quý tử : Cách đây hơn 10 năm, vợ chồng bà Lê Thị Lũy (47 tuổi, trú tại khu phố 6, phường Trưng Mỹ Tây, Q.12) mưu sinh bằng nghề bán vé số. Cuộc sống nghèo khó, chồng bà là ông Nguyễn Văn Nam (49 tuổi) thường ao ước, nếu một ngày trời cho trúng số thì sẽ dùng tất cả số tiền xây dựng kinh tế gia đình cho vợ con bớt khổ.

Tháng 8/2009, thời vận cũng mỉm cười với họ thật, khi mấy tờ vé số ế chưa kịp trả cho đại lý trúng giải độc đắc trị giá 1,5 tỷ đồng.

Tay trong tay đi lĩnh thưởng, hai người đã dự tính sau khi cầm tiền trong tay sẽ sớm rời Sài Gòn, về quê làm ăn. Thế nhưng, đến buổi sáng hôm sau, ông Nam lại bảo bà đi mua lễ vật về mang lên chùa cúng dường tạ ơn. Răm rắp nghe theo lời chồng, bà Lũy không ngờ khi trở về thì đã thấy trong ngoài trống vắng, ông Nam đã đi đâu không rõ.

Thấy lạ, bà Lũy đi vào trong gian buồng thì bắt gặp tờ giấy nhỏ bọc lại một cọc gì đó vuông vức. Bà vội mở ra xem thì thấy cọc tiền 10 triệu đồng, trên tờ giấy ghi nguệch ngoạc mấy dòng chữ : “Xin lỗi em, nhưng anh phải có đứa con trai để sau này còn có người bưng bát nhang, em hiểu cho anh”.

Đến lúc này, bà Lũy mới ngỡ ngàng. Hóa ra lâu nay ông Nam mong chờ một đứa con trai nối dõi tông đường nhưng bà lại gặp trục trặc về đường sinh nở. Giờ có bạc tỷ trong tay, ông mới trở mặt, bỏ vợ đi kiếm người đàn bà khác mong sinh quý tử để có người “chống gậy”.

4/- Làm đại gia vẻn vẹn 21 ngày : Chuyện đã qua gần 30 năm, nhưng ông Vương Sỹ Cầm (65 tuổi, ngụ đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, TP.Hà Nội) vẫn nhớ như in quãng thời gian ngắn ngủi được làm “đại gia” nhờ trúng 3 tờ vé số độc đắc.

Đó là vào chiều ngày 20/9/1991 trên đường đi bó thuốc cho bệnh nhân từ huyện Quốc Oai (thuộc tỉnh Hà Tây cũ nay là Hà Nội) trở về ông có dừng lại ở quán nước gần nhà uống cốc trà đá. Khi ông Cầm đang ngồi uống nước thì một ông lão đến quán mời mua vé số.

“Trên tay ông ta còn lại đúng 3 tấm vé số 4, ông liên tục mời hết người này đến người khác mua giúp để ông sớm được về với gia đình. Tuy nhiên, không ai thèm để ý đến, thấy thương ông nên tôi đã ra mua”, ông nói tiếp.

Ông Cầm tâm sự, lúc mua 3 tấm vé, bản thân chỉ muốn giúp cụ bán vé số chứ không thể ngờ lại may mắn trúng giải độc đắc. Ông cười tươi nhớ lại : “7h tối hôm ấy, chương trình quay số trên Đài truyền hình Hà Nội diễn ra nhưng tôi cũng không để ý. Đang lúi húi nấu cơm dưới bếp thì tôi nghe thấy trên tivi nhà tôi nói vọng xuống loáng thoáng tới mấy con số.

Nhẩm theo lời của tivi, tôi giật mình khi thấy nó trùng với những số trên tờ vé mà mình mua lúc chiều nay. Bỏ dở việc đang làm, tôi chạy lên nhà ngó xem thế nào thì chương trình quay số kết thúc. Tôi thấp thỏm đợi 15 phút sau trên truyền hình trung ương phát lại kết quả xổ số và sung sướng khi cả 3 tờ đều giải độc đắc”.

Có tiền trong tay ông mua cho con trai vừa đậu đại học cái xe máy, số tiền còn lại chia thành các bọc giấu vào các góc nhà.

Bỗng dưng được một số tiền lớn, ông Cầm bàn với vợ : “Có lẽ nhờ các cụ phù hộ mình mới trúng giải”. Sau đó hai vợ chồng ông bà đã cầm một ít tiền về quê xây lại mộ cho bố mẹ, ông bà. Trớ trêu thay, cũng đúng ngày ông về quê xây mộ thì nhà ông bị cháy. Từ đại gia xổ số ông lại bỗng chốc tay trắng.

Hiện tại, vợ chồng ông Cầm vẫn sống trong căn tập thể cũ kỹ tại quận Thanh Xuân với nghề chế thuốc chữa bệnh cứu người. Được biết, đến giờ, bà con nơi ông Cầm sinh sống vẫn truyền tai nhau chuyện ông được lộc trời, trúng liền 3 tờ độc đắc. Nhưng khi kể về người đàn ông này, bà con thường nói bằng một sự kính trọng đặc biệt với hai từ lương y.

5/- Có được vợ đẹp, con ngoan, gia đình hạnh phúc nhờ tấm vé số may mắn : Năm 2011 do hoàn cảnh gia đình khó khăn, chàng trai nghèo Quách Như Tuấn (24 tuổi, xã Ngọc Trạo, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa) vào Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Tại đây, anh tình cờ gặp bà Lê Thị Vụ (chị gái mẹ Tuấn) đang bán vé số dạo. Thấy bác còn lại ba tờ vé trùng dãy số, Tuấn mua một vé. Cuối giờ chiều, đang làm việc Tuấn được bà Vụ gọi điện báo tin trúng giải đặc biệt 1,5 tỷ đồng.

Gia đình Tuấn sau đó trích gần trăm triệu đồng cung tiến chùa ở địa phương. Chàng trai còn dành khoản tiền lớn ủng hộ chính quyền xã xây dựng công trình công cộng. Sau khi xây ngôi nhà hơn 100 triệu đồng, số tiền còn lại gia đình đã gửi ngân hàng.

Trở thành “đại gia”, Tuấn được cánh thanh niên trong làng ngưỡng mộ. Trong lần sang thôn bên chơi, chàng trai tình cờ quen cô gái xinh xắn Cao Thị Nhuần (22 tuổi). Bốn năm sau lần được nhận số tiền thưởng lớn đó, Tuấn đã cưới vợ và có con trai 2,5 tuổi. Dù tiền cũng đã cạn bớt, mỗi lần nhắc lại vận may đó, Tuấn vẫn khẳng định anh có được vợ đẹp, con ngoan và gia đình hạnh phúc là nhờ tấm vé số may mắn.

“Việc lần đầu tiên trúng xổ số không chỉ khiến giúp con trai tôi đổi đời. Nó còn tìm được cô vợ xinh đẹp, hiền lành. Cuộc sống diễn ra rất đỗi hạnh phúc”, bà Lê Thị Thành, mẹ Tuấn cho biết.

6/- Và câu chuyện ông Hết mất tiền : Chiều 28 Tết Canh Dần (2010), ông Hết, ở đường Lạc Long Quân, thuôc quận 11 vùng Chợ Lớn, thuộc diện xóa đói giảm nghèo được một nhà hảo tâm tặng cho chút tiền lì xì. Dùng số tiền này, ông mua 6 tờ vé số. Chiều hôm ấy, trong số 6 tờ vé số ông mua thì có 5 tờ trúng giải đặc biệt, 1 tờ trúng giải an ủi, tổng cộng 7,6 tỷ đồng. Nghe tin ông Hết trúng số, bà con lối xóm kéo đến chúc mừng.

Có lẽ do trí tuệ không còn minh mẫn nên gặp ai ông cũng móc tiền ra cho, chưa kể ông còn làm từ thiện và đền ơn những người đã từng giúp đỡ ông. Chỉ một ngày sau khi trúng số, gần 1 tỷ đồng đã bay hết.

Số tiền còn lại, chính quyền địa phương hướng dẫn ông làm thủ tục, gửi ngân hàng, mỗi tháng lĩnh lãi để ổn định cuộc sống. Ai dè đến cận Tết Tân Mão (2011), bà con trong xóm té ngửa khi biết “tỷ phú” Hết chỉ còn vài trăm triệu đồng mà nguyên do là từ ngày trúng số, bỗng có nhiều người tự xưng là “cháu” tấp nập đến thăm ông mặc dù ông Hết không con cái.

Hàng xóm kể, có người lúc gặp ông đã ôm lấy ông khóc nức nở, miệng gọi “ông“, gọi “bác” xưng “cháu” nghe ngọt sớt. Hầu hết những người đến thăm ông đều được ông cho tiền, ít thì vài triệu, nhiều thì cả trăm.

Đến tháng 7/2010, vợ ông Hết qua đời, một số người “cháu” của ông đứng ra lo đám tang, chi phí ước tính khoảng 500 triệu nhưng thực tế số tiền này vẫn là tiền của ông Hết. Một cán bộ ở phường 5 cho biết, số tiền còn lại trong ngân hàng của ông Hết là 850 triệu đồng. Và vì chuyện cho ai, tặng ai là quyền tự do cá nhân của ông nên chính quyền không thể can thiệp.

Hiện tại, ông Hết được một người thân ở Gò Vấp đưa về nuôi. Hàng xóm cho biết đôi lần ông Hết về thăm xóm cũ và lần nào cũng vậy, ông vẫn giữ thói quen mua vé số với lời khẳng định “từ đây tới chết, tui sẽ còn trúng độc đắc một lần nữa!”. (theo Đại Kỷ Nguyên)

Xuân Mai chuyển tiếp