NGHỀ LÀM BÁO TRƯỚC 1975

Logo bay gio ke

SG Ng Viet 4NGHỀ LÀM BÁO TRƯỚC 1975

– Hồi ký Nguyễn Việt

Khi bước chân vào nghề báo, người yêu nghề phải biết lựa chọn 1 trong 2 cách để tiến thân :

– Thứ nhất : kinh qua các trường lớp chuyên nghiệp để được đào tạo chính quy; nhưng thông thường các trường đại học, trung học chuyên nghiệp chỉ giảng dạy bằng những lý thuyết từ chương, đến khi vào nghề giữa lý thuyết và thực hành lại rất xa rời thực tế. Lý do : vì điều kiện tờ báo, vì mục đích tôn chỉ tờ báo khi xin phép xuất bản, và còn do đồng vốn; cuối cùng là do nhiệm vụ được ban biên tập giao trách nhiệm.

Và bạn là một sinh viên mới ra trường, bạn sẽ không có quyền chọn lựa giữa năng khiếu và sự trưởng thành trong đào tạo; mà nhất định phải chịu sự điều phối từ ban biên tập.

Đây là mấu chốt trong nghề làm báo hay viết báo, khi bạn mới chân ướt chấn ráo vào nghề.

– Thứ nhì : nói như thế, trước khi chọn lựa đi vào nghề này bạn phải có người đỡ đầu, hoặc người hướng dẫn trong nghề nghiệp, và phải đi từng bước vào nghề, đừng vội đi hia bẩy dặm. Những người đỡ đầu ấy, hoặc đứng tuổi hoặc có thâm niên trong nghề,9 Nghe bao 1 thì thật quý.

Kinh nghiệm của người viết khi vào nghề báo, đã phải đứng trước hai sự lựa chọn :

– 1- làm phóng viên (viết báo)

– 2 – làm biên tập viên (làm báo).

Và người viết đã chọn nghề làm biên tập.

– Nghề làm báo có 2 loại, loại chuyên nghiệp và loại không chuyên. Loại chuyên nghiệp có thể làm đủ mọi thể loại sách báo, có thể thay đổi mọi hình thức của tờ báo, thay đổi cả quan điểm lập trường của tờ báo, theo bất cứ yêu cầu nào của chủ báo.

Còn không chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, là chỉ thực hiện theo mẩu mã đã định sẵn (từ nội dung đến hình thức), sẽ không thích nghi theo yêu cầu thị trường, dể gây nhàm chán trong xử lý tin tức.

– Thứ nhất người làm báo và viết báo, phải nắm được tính thời sự của tin tức, biết khai thác đúng lúc không quá sớm hay quá muộn.

– Thứ hai biết nhận xét và phân tích sự việc như một điều tra viên, sau đó mới có phương hướng đi tìm tài liệu.

– Khi điều tra phải hiểu rõ trạng thái tâm lý người mình muốn khai thác, phải có bản lĩnh hỏi đáp với đối tượng và luôn luôn phải chứng tỏ mình là người đang nắm rõ vấn đề.

– Thứ ba khi viết bài, phải viết cô đọng, viết báo không như làm luận văn phải có mở đầu, thân bài và kết luận, hãy vào đề ngay với sự kiện chính trong tin tức, sau đó mới đi vào chi tiết. Như thế bài viết sẽ dẫn dắt người đọc, tạo cảm giác cho người đọc không phải đọc thừa, để tránh gây nhàm chán và choán chỗ trên trang báo (vốn dĩ rất cần nhiều tin tức, mà số trang chỉ có giới hạn)

– Người làm báo biết hướng dẫn phóng viên đi đến nơi đâu để khai thác đề tài. Khi người phóng viên viết xong, phải sửa bài cho đúng đường lối ội dung tôn chỉ của tờ báo (gồm nhiều yếu tố chủ quan và khách quan), cắt tỉa hay thêm thắt cho bài viết ấy thêm sinh động (action) hơn.

Từ nội dung vụ việc, người làm báo sẽ ấn định, bài được đăng với tít (titre) mấy cột báo (báo ngày trước có 8 cột, mỗi cột chiếm 4,5 cm – nay là 5cm

9 Nghe bao 2Thông thường những tin chủ lực trong ngày đều cho lên tít 8 cột từ 1 đến 2 dòng, xuống từ 4 đến 2 cột tùy theo cách trình bày tờ báo. Những tin tức bài vỡ thuộc dạng cần gây chú ý hàng nhì, cho lên tít từ 6 đến 4 cột và nằm nơi phần trên của nửa tờ báo, sau đó là những tít phụ và những tít nhỏ (sous titre) diễn giải nội dung.

Những hàng tít này phải sử dụng câu chữ dễ gây chú ý. (Bởi báo chí, không kể đến tạp chí tuần san, có quá nhiều trên sạp báo, muốn cạnh tranh và có đọc giả, người biên tập phải biết cách thu hút người đọc vào từng tin tức bài vỡ một).

Trong làng báo lúc đó (trước 30/4/1975), có nhiều tờ báo có cách trình bày trang báo (xem hình vẽ dẫn giải) :

– Trình bày theo lối Bắc, là những hàng tít chủ lực không bao giờ đi quá 4 cột, tít chữ cỡ 2cm cao, chữ không chân, không có nhiều tít phụ, và không có phi-lê (filet) bỏ dọc phân theo từng bài viết. Những loạt bài khác tít chữ cũng chỉ cao khoảng 1,2 đến 1,5cm.

Chủ yếu những tờ báo trình bày theo lối Bắc, xuất phát từ lớp người làm báo từ Bắc vào Nam năm 1954, như nhóm báo Chính Luận, Ngôn Luận, Tự Do, sau có nhóm báo Sống, Con Ong… Trong nghề còn gọi là trình bày theo lối Mỹ.

– Trình bày theo lối Nam, lại trái hẳn với lối Bắc, thường trên báo có hàng tít chạy dài 8 cột, loại chữ có chân cao cỡ 4 đến 6 cm, và những tít phụ cũng cao đến 2 cm, kiểu chữ không đồng bộ với tít lớn, có phi-lê gạch dưới cả hai và có từ 1 đến 2 hàng tít nhỏ (sous titre), có phi-lê bổ dọc phân ra từng bài vỡ.

Đây là cung cách làm báo cổ điển được du nhập từ thời Pháp, điển hình như những tờ Thần Chung, Sàigòn Mới, Tiếng Chuông, Lẽ Sống; sau này có Đuốc Nhà Nam, Trắng Đen, Tia Sáng, Thách Đố… Tuy có cải tiến cách trình bày trông đỡ rườm rà, do bỏ bớt những phi-lê gạch dưới hàng tít, nhìn trang báo thấy sáng sủa hơn, hoặc phóng túng đi những hàng tít có hoặc không có chân. Đây là cách trình bày báo theo Pháp khi xưa.

Trong nghề làm báo tối kỵ những cách trình bày (ngày xưa gọi là “mi” nay là “dàn trang”) như :

– Lên xuống thang. – Chữ T. – Suôn đuột.

Là những cách trình bày dễ làm người đọc thấy tờ báo không có thẩm mỹ, và như có một cái gì trái khoáy không hợp với nhãn quan.

Phải nói tờ TĐ trước 1975, là tờ báo được in offset đầu tiên tại miền Nam bấy giờ, vào năm 1971 (kể cả tuần báo, tuần san và tạp chí đang phải in typo với bản chì – mỗi bản chì nếu có nhiều antimoine cũng chỉ in khoảng 5.000 bản, là chữ đã mòn nhoè không đọc được nữa, còn mỗi bản kẽm in trên máy offset có số lượng không dưới 20.000 bản, hình ảnh chữ nghĩa rất rõ ràng dễ đọc). 9 Nghe bao 5Lúc đó anh em họa sĩ vẽ tranh cho thiếu nhi bằng mực tàu, vẽ trên giấy bóng mờ, chụp lên bản kẽm rất đẹp, còn với loại chữ nhỏ – có co chữ 7 đến 8 points – trên báo lúc đó chưa ai dám in thử nghiệm.

Do đang giữ vai trò biên tập kiêm kỹ thuật, người viết đã mạnh dạn cho “vỗ bài” từng nữa trang báo, trên máy in Tasming, hay trên máy in typo khổ 65×100, thay cho giấy in là giấy bóng mờ, vẫn sử dụng mực in nhưng trên trang in đó được phủ lên một lớp bột nhũ màu đen (hoặc bột nhũ vàng), trước là cho mực in không bị nhoè, sau là cho dàn đèn huỳnh quang trong kỹ thuật chụp bản kẽm không lọt ánh sáng.

Thời gian này chưa ai nhập máy in offset rotative (máy in offset tự động), nên in một tờ báo có số lượng ấn hành hàng ngày trên 100.000 bản, phải sử dụng ít nhất là 10 máy in Offset bán tự động (bình quân mỗi giờ chỉ in được từ 4.000 đến 6.000 bản/mặt), và do thời gian in không được kéo dài quá 3 tiếng trước lúc báo phát hành.

Thời gian trước 1975, các báo phát hành vào buổi chiều, các trang trong và trang quảng cáo được in vào buổi sáng, còn trang ngoài thợ sắp chữ làm từ 5 giờ sáng đến 10 giờ 30 phải kết thúc, đến 11 giờ đưa montage, rồi chụp bản kẽm, khoảng 12 giờ báo bắt đầu in để đem nạp bản, 1 giờ trưa báo mới được phép phát hành.

Nhưng việc in ấn phát hành sẽ không quá 3 giờ chiều phải hoàn tất, vì các đơn vị phát hành sẽ không đến nhận báo giao đi nữa. Giờ giấc bị hạn chế và ràng buộc, nên số lượng in càng nhiều càng phải có nhiều máy in ra cho đúng lịch nói trên,

Khu nhà in ngày trước thường tập trung tại đường Phạm Ngũ Lão, Lê Lai và Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi, Q.1), đa số là máy in typo hoặc được trang bị thêm máy offset đặt tay in bìa tập san, tuần san, (sau này ngành in offset chiếm hẳn thị phần, nên các khu vực trên chỉ cho thuê làm tòa soạn báo). Nhà in lớn và hiện đại lúc đó chỉ có Indeo (Nhà máy in Trần Phú ở đường Thi Sách) và Nguyễn Bá Tòng 9 Nghe bao 6(Liksin đường Bùi Thị Xuân, Tôn Thất Tùng), còn lại chỉ thuộc loại vừa và nhỏ đều do tư nhân kinh doanh, còn khu vực in nhà nước không nhận in gia công cho tư nhân.

Khi ngành in offset được tuyệt đại đa số báo chí ra ngày, tuần hay tháng đặt in, bấy giờ các chủ nhà in lại thi nhau nhập máy, như nhà in Nguyễn Tấn Đời (một nghiệp chủ ngân hàng trước khi ngồi tù vì vỡ nợ, cũng ra làm báo – tờ Việt Nam – và lập nhà in), mua về máy in offset rotative in 4 màu 8 trang đặt tại cao ốc Trần Hưng Đạo (gần khu Chợ Quán, Trần Bình Trọng), nhưng máy khai thác không hết công suất, vì tờ Việt Nam in ra không bán được. Đến một nghiệp chủ ngân hàng khác – ông Phạm Sanh – mua máy rotative về in báo mướn, đặt tại đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, sau này Phạm Sanh cũng đỗ nợ, vì buôn gạo cho Tổng Cục Tiếp Tế, nhà in bị trưng thu), nên khi nói về ngành in, thì từ năm 1972 trở đi miền Nam mới có những thiết bị tiên tiến hiện đại…

Làm báo xưa và nay

Ngày trước bạn có một số vốn, dù không có tay nghề vẫn có thể là một chủ báo (xin nhấn mạnh ở dây, chủ báo không đồng nghĩa với chủ nhiệm báo, vì chủ nhiệm báo là pháp nhân được nhà nước cấp giấy phép cho xuất bản báo, còn chủ báo chỉ có trong thực tế do có tiền bỏ ra làm báo, không có tư cách pháp nhân, thông thường nắm vai trò Giám đốc trị sự hoặc kiêm chức hàm chủ bút).

Thời kỳ đó, nhiều chủ nhiệm báo cho thuê manchette (tức tên báo) để người khác kinh doanh, hay hợp tác kinh doanh, trước hết giữ được sự tồn tại của tờ báo, sau là chủ nhiệm có tiền lương hàng tháng, mà không phải suy nghĩ đến việc lời lỗ.

Làm một tờ báo, dù là báo ngày hay báo tuần, đều phải có điều kiện :

– Vốn (Ban trị sự)

– Ban biên tập (biên tập viên và phóng viên, ký giả)

– Địa điểm tòa soạn và nơi in

Khi hội đủ các yếu tố trên, xem như tờ báo đã đi được nữa chặng đường hình thành.

Tiền vốn : Trong tiền vốn bỏ ra, ngoài những khoản tiền ban đầu, như nơi đặt tòa soạn và nhà in, còn phải :

– Tìm ê kíp sắp chữ, mua chữ chì theo số trang được phép xuất bản (nếu tòa soạn và nhà in không ở cùng địa điểm, bắt buộc phải mua chữ chì về đây, do ê-kíp sắp chữ luôn luôn phải ở cùng địa điểm với ban biên tập). Hiện nay báo chí không còn sắp 9 Nghe bao 7chữ chì như ngày trước, vì bài vỡ được đánh máy và dàn trang ngay trên máy vi tính (PC).

– Ban trị sự có nhiệm vụ thu chi tài chính : Chi trả lương, tiền các bản tin và hình ảnh, trả tiền gia công in, mua giấy in. Còn thu, qua các phần nhận quảng cáo và bán báo. (Trong bán báo có phần tiền thu ngay – thường do nhóm bán báo cổ động thanh toán ngay sau khi phát hành – và thu có gối đầu, do các nhà phát hành ấn định, thông thường báo ra hàng ngày bị gối đầu khoảng nữa tháng, báo tuần từ 4 đến 5 số định kỳ).

Vì vậy khi ra 1 tờ báo phải có số vốn lưu động rất lớn, nếu không tờ báo sẽ không thể hoạt động và cạnh tranh, (nếu tờ báo bán chạy, người chủ báo sẽ bớt lo, vì khoản tiền do tư nhân bán báo sẽ thanh toán rất nhanh, còn ngược lại tờ báo sẽ không đủ vốn chịu đựng được vài tháng khi bắt đầu có độc giả thường xuyên).

Ban biên tập :

– Chủ nhiệm, chủ bút (người đưa ra chủ trương đường lối chiến lược của tờ báo) – Nay thông thường do một cơ quan chủ quản nhà nước nào đó chịu trách nhiệm.

– Tổng thu ký – Thư ký tòa soạn : trình bày báo, xem xét nội dung bài vỡ tin tức, chỉ đạo đặc phái viên, phóng viên (gọi tắt là ký giả), đi thu thập tài liệu. Tổng thư ký phần lớn có nhiệm vụ coi tin quốc tế và đường lối chính trị của tờ báo, còn thư ký tòa soạn là trợ lý cho tổng thư ký, xem phần tin quốc nội và xã hội kiêm phụ trách trang trong (là các trang chuyên đề).

– Phụ trách chuyên đề : Thông thường tờ báo ngày có những trang chuyên đề, như Văn hóa nghệ thuật (bao gồm những trang chính : Điện ảnh – Sân khấu – Tân nhạc – Thoại kịch – Cải lương), Phụ nữ Gia đình (bao gồm những nội dung tình yêu, hôn nhân, gia đình và xã hội), Văn nghệ (gồm những mục thơ, truyện ngắn, thiếu niên nhi đồng). Và những tiểu thuyết đăng nhiều kỳ (feuilleton) của các nhà văn.

– Phụ trách kỹ thuật : là người theo dõi bộ phận sắp chữ (nay là bộ phận vi tính), thực hiện cách trình bày dàn trang các chuyên đề đã định, cùng tư duy người phụ trách, làm sao cho tờ báo có những hình thức lôi cuốn người đọc (sắp xếp thêm hình ảnh, tranh vẽ vào bài vỡ v.v…).. Bộ phận kỹ thuật còn theo dõi lúc in ấn, có thẩm quyền cho in hay không, những bản kẽm vừa lên máy, hoặc khi in xảy ra những sự cố kỹ thuật trong ấn loát.

– Ký giả : bao gồm từ 2 đến 3 thành phần chính trong một tờ báo : Đặc phái viên, phóng viên và thông tín viên.

– Đặc phái viên : cũng là ký giả, nhưng được đặc phái trực tiếp điều tra, thu lượm tin tức, có sự giới thiệu từ ban biên tập, hoặc đặc phái tiếp xúc với một nhân vật VIP nào đó, là người có thể đại diện để giải quyết mà không cần xin ý kiến trước từ ban biên tập. Đặc phái viên có lúc được chỉ định đứng đầu 1 tổ điều tra.

– Phóng viên : là ký giả chỉ thực hiện những nhiệm vụ được phân công trước (như phụ trách mảng tin kinh tế, xã hội, thanh niên, phụ nữ, thể thao, văn hóa v.v…), không đủ 9 Nghe bao 3thẩm quyền đại diện cho tờ báo để tiếp xúc với các cơ quan ban ngành xin truy cứu hồ sơ (nếu không có sự giới thiệu từ ban biên tập).

– Thông tín viên hay cộng tác viên : là những người không ăn lương tháng, chỉ ăn lương theo bài vở, tin tức được đăng (hưởng nhuận bút), không phải là người viết chính thức trong tờ báo. Thường những thông tín viên, cộng tác viên họ thường trú tại các tỉnh, thành trong nước và nước ngoài, thu nhận tin tức và quảng cáo – nếu có vụ án lớn, sẽ đề nghị báo cử phóng viên hay đặc phái viên đến cùng thực hiện.

Một loại thông tín viên khác, là những người đứng ra thành lập bản tin riêng, (những bản tin xe cán, đánh ghen, trộm cướp v.v…, in ronéo hay pho to bán cho nhiều tờ báo, nay bán qua mạng Internet – ngày xưa có nhóm Văn Đô, Thanh Huy, Đức Hiền …)

Các báo mua các bản tin này trả tiền tháng, nhưng giá khá rẻ so với lương ký giả. Thông tín viên về hình ảnh khi được báo chọn đăng mới được tính tiền.

– Bộ phận phiên dịch : dịch các bản tin hoặc sách báo Anh, Pháp, Hoa Ngữ cho ban biên tập sử dụng hàng ngày, hoặc những tài liệu đăng trang chuyên đề.

Sự hình thành một ban biên tập gồm những bộ phận nói trên.

Cũng có nhiều tờ báo ít vốn, họ giảm biên chế tối thiểu, trong ban biên tập chỉ có tổng thư ký và thư ký tòa soạn, một vài ký giả đi săn tin, còn lại mua bài hay đặt hàng từ những người dịch, hoặc ký giả báo khác. Vì lượng tin tức từ các bản tin của Thông tấn xã, AP, UPI, Reuteur … và các thông tín viên, cộng tác viên gởi về có khối lượng thông tin khá nhiều, đủ để khai thác trong ngày… Tuy nhiên những tờ báo này không thể có sắc thái riêng biệt, không nhạy bén trước các tin tức, lý do không đủ người đi nhận tin từ các hiện trường đưa về.

Ngày trước làm một tờ báo hàng ngày, người ta cạnh tranh nhau từng tin tức, từng bài viết, chỉ cần hơn đồng nghiệp một vài chi tiết, là có thể tờ báo có số bán vượt hẳn lên.

Bao trang den 2QUẢNG CÁO

Trong nghề, để báo được sống thọ cùng đọc giả, người làm báo chuyên nghiệp phải có những cách kiếm tiền. Như đã trình bày ở những phần trên, đi tìm những tin tức giật gân (scandal), nếu không có phải làm tít tựa thật giật gân để bán báo. Và còn một cách kiếm tiền khác là nhận quảng cáo.

Bạn đừng nghĩ đơn thuần, tờ báo chỉ nhận đăng quảng cáo từ bạn đọc, hay các cty quảng cáo đem đến. Quảng cáo trên báo có nhiều hình thức :

1- Từ bạn đọc (đa số nhờ đăng rao vặt, chúc mừng, cáo phó, cảm tạ)

2- Từ các nhóm tiếp thị, công ty quảng cáo, đưa đăng quảng cáo từ các cửa hàng, công ty, nhà máy, xí nghiệp, các sản phẩm…

3- Những quảng cáo thuộc dạng tin tức, giá đăng báo thường rất cao so với trang chuyên mục, vì nó nằm ngoài quy hoạch.

4- Và những bài cậy đăng (thông thường những bài cậy đăng là thanh minh, đính chính hoặc công bố một vụ việc gì đó).

Nói như thế để người làm báo có những kinh nghiệm về việc, làm thế nào cho tờ báo sống được.

ĐỘC QUYỀN

Cái hay của người làm báo là sự “độc quyền” được cho phép. Ngày trước báo ngày hay báo tuần, đều đăng tiểu thuyết nhiều kỳ, còn gọi là feuilleton (có khi kéo dài cả năm mới chấm dứt). Một tờ báo xuất bản trong ngày có 8 trang bài vở và 4 trang quảng cáo. Trong 8 trang bài, đã có đến 2 trang tiểu thuyết.

Một tờ báo ngày xưa thường có nhiều tiểu thuyết đăng nhiều kỳ, chia ra các thể loại (trong bài là những tác giả tiêu biểu) : xã hội (bấy giờ có các nhà văn như Tùng Long, Dương Hà, Lan Phương), mang tính gợi dục (Lê Xuyên, Trần Đức Lai, Vũ Bình Thư), tình cảm tuổi đôi mươi (Lệ Hằng), thời đại (Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long), võ hiệp, kiếm hiệp kỳ tình (sáng tác hoặc phóng tác, dịch thuật : Từ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn, Từ Khánh Vân, Thanh Lan) v.v…

Nhiều tờ báo ngày trước thường “mua độc quyền” tên nhà văn, như tờ TĐ với nhà văn Trần Đức Lai (tức ký giả Tô Văn) đang nổi tiếng với tiểu thuyết “Cậu Chó”, tờ TS với Vũ Bình Thư qua “Lệnh Xé Xác” v.v… Không báo nào có tên những nhà văn nói trên viết những feuilleton mới… Vì mỗi nhà văn thường viết tiểu thuyết cho nhiều tờ báo.

Nhưng ăn khách nhất là tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, tiểu thuyết tình cảm của Quỳnh Giao, hai nhà văn Trung Hoa một sống tại Hong Kong và một sống tại Đài Loan, được dịch hàng ngày từ báo in tiếng Hoa xuất bản tại Chợ Lớn.

Bao trang den 1Cho nên người làm báo mang tính chuyên nghiệp phải nhạy bén, biết nắm bắt yếu tố ăn khách đó. Là được đăng độc quyền.

Một chủ nhiệm báo bấy giờ không ngại bỏ tiền sang tận Hong Kong, Đài Loan mua độc quyền tiểu thuyết đang ăn khách đăng (cụ thể tiểu thuyết võ hiệp Lộc Đỉnh Ký đang xuất hiện trong thời gian 74-75 thế kỷ trước).

Độc quyền chỉ dài hơn các báo Hoa ngữ phát hành trong Chợ Lớn hay Việt Ngữ ngoài Sài Gòn, chừng một gang tấc hàng ngày trên báo. Tức thì người đọc đang “ghiền” tiểu thuyết Kim Dung đã đổ xô mua đọc.

Theo người viết được biết, tờ báo đi mua “độc quyền” này thỏa thuận với tác giả Kim Dung và tờ Minh Báo xuất bản tại Hong Kong (đang đăng tiểu thuyết Lộc Đỉnh Ký), hàng ngày gửi theo máy bay qua Sài Gòn, một đoạn trước khi tờ Minh Báo ấn hành trong ngày.

Tuy nhiên để phá “độc quyền”, các báo “chậm chân” đã ra “chiêu” phá bĩnh, bằng cách cho người dịch viết vuốt đuôi chừng đôi ba dòng khác với tờ báo có đoạn “độc quyền”, khác hẳn khi dịch nguyên bản. Làm người đọc phân vân, không còn biết báo nào là “độc quyền” nữa. Đó là mưu mẹo của người làm báo chuyên nghiệp.

Ngoài những thủ thuật trên, có những tờ báo còn “độc quyền” khai thác những vụ án lớn :

– Như vụ “Công chúa Ba Xi – Martine – Bokassa”.

Khi tờ báo phát hiện ra vụ án mang tầm cỡ thu hút được số đông đọc giả, những người trong ban biên tập đã có quyết định “giữ đầu mối”, tức đưa “công chúa Martine” và gia đình về nơi nhà riêng ở, không cho một phóng viên báo nào khác tiếp cận, khai thác.

Trên đây là những “điển hình” về việc giữ “độc quyền”. Trong đó nói về độc quyền tác phẩm, tác giả thuộc dạng “hàng nằm” lôi kéo người đọc dài hạn, còn độc quyền tin tức thuộc dạng “hàng nóng” chỉ giữ người đọc trong một thời gian nhất định.

PHỐI KIỂM BÀI VỞ

Ngày trước cũng như bây giờ, ký giả thường gặp nhiều tai tiếng, vì mọi người đánh giá họ qua câu “nhà báo nói láo ăn tiền” hay “ký giả cà phê” nhằm miệt thị những người làm báo và viết báo không chân chính.

Chính vì thế vai trò của người Tổng biên tập hay Thư ký tòa soạn rất nặng nề, phải nhạy bén tìm ra những bài viết không đúng sự thật, làm thay đen đổi trắng, hoặc dựa vào bản tin viết thành bài quảng cáo có lợi cho “đối tác” v.v…

Việc phối kiểm bài vở thường diễn ra trong một buổi, hay trong ngày, nhất là những vụ án về kinh tế, những phát biểu, hay trả lời phỏng vấn những sự kiện quan trọng, có thể dẫn đến kiện thưa tại tòa án.

Người Tổng biên tập chỉ cần nhấc điện thoại gọi đến hiện trường, đến cơ quan thẩm quyền hay chính đương sự để hỏi thêm chi tiết (nếu là phát biểu quan trọng còn phải có băng ghi âm).

Nhưng còn những bài vở tin tức không quan trọng, như những mẫu tin lượm lặt khỏa lTr Bloggerấp cho đầy trang. Đây là “môi trường” các ký giả cà phê len lõi để kiếm cơm. Như bản tin sau đây :

Nhà máy dệt XYZ ra mắt mặt hàng mới

(XXX) Ngày ……. nhà máy dệt XYZ vừa tung ra thị trường loại vải mới mang tên Teljin, dệt bằng sợi pha Polyester, vải này mịm đẹp dành cho nam giới may quần tây. Về chất lượng, có số đông khách hàng khen ngọi vải không thua kém hàng của Thái Lan, Canada và cả Pháp hiện đang tràn ngập thị trường may mặc, giá lại chỉ bằng một nửa so với vải các nước trên.

Nên trong mấy ngày đầu, nhà máy dệt XYZ tung ra dò dẫm thị trường, được mọi người tìm mua, không đủ số lượng bán buôn tại các chợ đầu mối như Bến Thành, Bình Tây, An Đông, Bà Chiểu. Nhà máy dệt XYZ phải buộc công nhân tăng ca, nhằm đáp ứng số cung cầu cho thị trường đang đòi hỏi.

Bản tin chỉ đăng 1 cột và dài khoảng 8 hay 10 phân báo, nhưng giá trị tinh thần rất lớn, tạo ra lợi nhuận cho nhà máy XYZ rất nhiều, nếu đăng theo hình thức quảng cáo nó sẽ không tạo ra sự “cung cầu” giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Nhưng phóng viên viết nó lại không mang ích lợi tài chánh nào cho tờ báo,(qua tiền quảng cáo, hay bài cậy đăng), hoặc giả thu hút được người đọc.

Nhiều anh chị em phóng viên mới vào nghề không rõ vì vô tình hay cố ý, viết những mẫu tin đại loại như trên, và cuối ngày không thấy tin của mình được đăng, hỏi ra mới biết bài này nếu đăng phải trả tiền, còn bằng không sẽ phải viết lại bản tin như sau :

Một mặt hàng vải ăn khách không thua vải ngoại

(XXX) Theo một số bạn hàng buôn bán vải ở các chợ đầu mối cho biết, gần đây có một loại vải quần tây do 1 nhà máy dệt trong nước sản xuất đã đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu, giá rẻ, bền, đẹp được dân chúng tìm mua, nên rất khan hiếm trên thị trường. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho hàng hóa do người Việt Nam sản xuất.

Bạn thử so sánh 2 bản tin trên, 1 tin mang đặc chất quảng cáo, còn 1 tin chỉ mang tính thời sự.

Nên người làm báo chuyên nghiệp sẽ dễ dàng nhận ra một bản tin có giá trị về quảng cáo và 1 bản tin mang tính thời sự như thế nào, các anh chị em viết báo nhiều khi quá nhiệt tình (khách quan và chủ quan) không hiểu rõ tính chất bài mình viết, thường gây hiểu lầm với ban biên tập.

Đôi khi bên biên tập được sự thỏa thuận từ khách hàng, cử phóng viên đi nhận tin tức, phóng viên lại viết quá khách quan không đúng với giao ước, buộc lòng bên biên tập phải bổ sung lại nội dung, đến khi báo ra người phóng viên không còn nhận ra đó là 9 Nghe bao 4bài viết của mình nữa.

Tuy nhiên có loại tin tức, báo cần chua thêm một dòng “bài cậy đăng”, như đính chính một tin tức, thanh minh một vụ việc. Đại loại như bài dưới đây :

Hãng Giày XYZ nhờ thừa phát lại niêm phong lô hàng giả.

Trong. năm qua, thương hiệu Giày XYZ được mọi tầng lớp dân chúng ưa chuộng, vì kiểu dáng đẹp, bền và giá cả phải chăng. So với những loại Giày của Italy, Pháp, giày mang nhản hiệu XYZ có số lượng tiêu thụ rất mạnh, chính vì thế hãng Giày XYZ đã mang nhản hiệu ra tòa cầu chứng độc quyền, nên hiện nay trên thị trường có những cơ sở sản xuất giày mang giả nhản hiệu XYZ.

Ngày …. hãng Giày XYZ đã nhờ thừa phát lại (*) đến tiệm X. niêm phong 200 đôi giày các loại giả nhản hiệu, và đang nhờ thừa phát lại lập hồ sơ đưa tiệm X. ra tòa.

Bài cậy đăng trên cũng thuộc dạng tin tức, quảng cáo, nhưng sở dĩ phải sử dụng câu từ “Bài cậy đăng” là có lý do :

– Bên hãng XYZ không cho sửa chữa bài viết đưa đến đăng báo, phải đăng nguyên văn.

– Việc niêm phong một số giày của tiệm …. dù là có thật. Nhưng báo vẫn vi phạm vào tội vu khống, do hai bên nguyên và bị đơn chưa được tòa án phân xử tình lý rõ ràng. Đồng thời thừa phát lại có thừa hành việc niêm phong giày tại tiệm X, cũng chỉ mang tư cách độc lập khi được bên nguyên yêu cầu, không phải do cơ quan bên hành pháp đến xử lý.

Vì vậy câu “Bài cậy đăng”, về tính pháp lý, bên nguyên đơn là hãng giày XYZ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước bài viết của mình.

Việc phối kiểm tin tức chỉ là nhiệm vụ thứ yếu của ban biên tập, nhưng không vì thế mà không xem lại các bài vở tin tức do các ký giả mang về đăng tải.

LÀM BÁO NÓI LÁO

Có lẽ trong nghề báo chưa ai dám vỗ ngực xưng mình chưa hề nói biết láo, tức người đó không phải là dân làm báo chuyên nghiệp !

Trong nghề làm báo dù muốn hay không, cũng đôi lần phải nói láo, dù bản thân vẫn muốn giữ vững ngòi bút không bị bẻ cong, và luôn luôn tôn trọng sự thật. Nhưng những ảnh hưởng từ khách quan đưa đến, đôi khi phải chấp nhận để tồn tại ! Lúc tôi làm báo, nhiều lúc báo mất dần đọc giả, ban trị sự lo lắng cho sự sinh tồn của tờ báo, họ lên tiếng báo động tìm những giải pháp cứu gở tình thế sắp bi đát đó.

Mai le huyenNgày xưa các báo đối lập có những bài vở chỉ trích chính quyền, trong đó họ cũng đưa ra nhiều hình ảnh không thực tiễn, “mị người đọc” để hợp lòng dân mà bán báo. Còn người làm báo thương mãi, nếu không thân chính quyền, họ cũng không dám chống đối chính quyền.

Khi báo “bán ế” bên phát hành cổ động đã nắm được, họ thúc hối ban biên tập, nào cải tiến tờ báo bằng hình thức hay nội dung, tìm kiếm những đề tài hấp dẫn nhằm lôi cuốn đọc giả.

Muốn cải tiến tờ báo bằng hình thức thật dễ, chỉ cần thay đổi cách trình bày, in thêm màu, tăng cường một hai tiểu thuyết là được, nhưng không vì thế trong ngày một ngày hai đã tăng đọc giả; muốn tăng thêm đọc giả ngay tức khắc là việc làm rất khó, đâu phải lúc nào cũng có những vụ nóng như Công chúa lọ lem Mar-tine Bokassa (năm 1972, đây là một đề tài xã hội rất sôi nổi trong dân chúng miền Nam bấy giờ).

Những chiêu thức làm sao có lại đọc giả đã được đem ra mổ xẻ :

– Tình hình chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội đang bế tắc về tin tức, càng không thể trở thành báo đối lập “ăn nói huyên thuyên” như các các chủ báo đang khoát áo Dân biểu, Thượng Nghị Sĩ.

Muốn vậy chỉ còn một cách tạo ra “sì-căn-đan” (scandal).

– Và tạo “sì-căn-đan” vào giới ca nghệ sĩ là mau có đọc giả, lại an toàn mọi mặt. Nhưng phải biết ai trong giới ca nhạc sĩ đang được quần chúng mến mộ, có như thế mới có đọc giả. Vậy ai sẽ được chọn làm vật “tế thần” đây ?!

Thời gian đó nhiều ca nghệ sĩ đang được mến mộ, như giới cải lương có “Cải lương chi bảo” Bạch Tuyết, rồi những Thanh Nga, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Hùng Cường, Thành Được, Dũng Thanh Lâm, bên thoại kịch có La Thoại Tân, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, còn điện ảnh có Trần Quang, Huỳnh Thanh Trà, ca nhạc có “Tiếng hát liêu trai” Thanh Thúy, “Giọng hát khói sương” Khánh Ly hay Thanh Lan, Lệ Thu, Mai Lệ Huyền, quái kiệt với những Thanh Việt, Phi Thoàn, có đông đảo người ái mộ từ Bến Hải cho đến Cà Mau.

Việc gây “sì-căn-đan láo” trong giới ca nghệ sĩ để bán báo, được ban biên tập chọn phương án này, được bàn thật kỹ trước khi thực hiện, nếu viết chỉ có Bạch Tuyết, Thanh Nga , Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng là tạo ra “cơn chấn động” mạnh, nhưng có nhiều yếu tố không thể “đụng đến” những người này.

Chỉ có Mai Lệ Huyền mới thật là nhân vật cần tìm ! Thứ nhất đôi song ca MLH và Hùng Cường chuyên hát nhạc sến, từ trẻ em đến người lớn, từ giới bình dân cho đến trí thức, đều biết đến ca sĩ “nhạc sến” MLH. Thứ nhì, cô ca sĩ này cũng hay thay đổi chồng mấy bận, cả nước đều biết. Thứ ba, MLH không có ô dù nào đỡ đầu, đơn thuần là ca sĩ độc lập, MLH sẽ không dám đụng giới báo chí.

Đúng là nhân vật tờ báo đang cần, về mặt chiến lược đều thuận lợi. Còn chiến thuật tạo ra “sì-căn-đan”, làm sao để tránh bị thưa kiện, vì thế tôi tìm đến người thân cận (trông coi báo chí cho MLH) để bàn bạc trước những bài báo sẽ được in ra, và mong giữ “im lặng” trước cô ca sĩ về tin tức giật gân nói về cô ta.

Được người này chấp thuận, tôi lên phương án cho loạt bài như sau :

– Ngày đầu tiên : Tung tin “sì-căn-đan” ca sĩ Mai Lệ Huyền giựt chồng người, vợ một đại úy không quân kêu cứu với báo chí.

– Ngày thứ nhì, thứ ba : Viết về những mảnh đời tình ái “sôi nổi” của cô ca sĩ vừa “chảnh” vừa “hot” đó, khi lấy nhạc sĩ Trần Trịnh như thế nào, ai lăng xê cô ta thành “nữ hoàng nhạc sến”, tại sao MLH bỏ Trần Trịnh đi lấy đạo diễn Việt. làm ở đài truyền hình v.v…

– Bước qua ngày thứ ba, thứ tư : dự đoán có thể MLH đến tòa soạn kêu oan, lúc này phải chuẩn bị chụp hình, phỏng vấn để có những tấm ảnh “nóng sốt” đăng báo.

Tr bang hoang– Ngày thứ năm : Đăng tiếng kêu oan của MLH, cùng các hình ảnh chụp được tại tòa soạn.

– Kết thúc : vợ viên đại úy không quân lên tiếng đính chánh nguồn tin MLH giựt chồng bà ta…

Ghi chú cho kế hoạch : Tìm một tấm ảnh của MLH, phía sau cho ghi mấy chữ “Tặng kỷ niệm”, soạn một bức thư mang danh nghĩa vợ của một đại uý không quân nào đó gửi bằng đường bưu điện cho báo, với lời lẽ khuyên can cô ca sĩ đừng đeo đuổi chồng bà ta, (phải lấy binh chủng không quân cho anh chàng, vì thời kỳ đó đang có phong trào nữ sinh yêu lính không quân), và một bức thư đính chánh chuyện hiểu lầm cô ca sĩ MLH giựt chồng, với lý do : vì chị ta đã mở từ trong bóp chồng mình thấy tấm ảnh MLH ghi mấy câu “Tặng kỷ niệm”, nên chị không có những suy nghĩ chính chắn đã nổi cơn ghen, viết thư nhờ báo chí kêu cứu, đến khi số báo ra mắt và đọc được bài MLH minh oan, lúc đó chồng chị vừa ở đơn vị về giải thích, anh ta vì mê tiếng hát của MLH nên đến CLB Huỳnh Hữu Bạc (dành cho giới không quân làm việc trong sân bay quân Tr hoan hosự Tân Sơn Nhất đến giải trí) nơi MLH đến hát hàng đêm, anh ta có xin một tấm ảnh làm kỷ niệm, ngoài ra chẳng ai gặp nhau bao giờ.

Đó là toàn bộ kế hoạch, và đúng như dự liệu, tin giật gân về “nữ ca sĩ MLH giựt chồng” đăng độc quyền trên báo, báo đã bán rất chạy, hàng ngày số in cứ tăng dần. Trong giai đoạn có thêm đọc giả, chúng tôi cho cải tiến các trang trong, ngoài, thêm nhiều mục mới lạ nhằm giữ khách.

Chỉ tội cho cô ca sĩ bị bêu riếu bất ngờ, đã bị “sốc” và khóc hết nước mắt, đến tòa soạn báo kêu oan. Đọc giả là người bị bịp nhiều nhất, đâu nghi ngờ tờ báo viết láo tạo ra “sì-căn-đan” để bán báo.

Nghề làm báo chuyên nghiệp là như thế, nên đừng trách các tờ báo lá cải bên phương tây tại sao hay dựng đứng các mẫu chuyện của giới VIP, giới minh tinh màn bạc, làm “Sì-căn-đan”, thuê cả trực thăng chỉ để bay lên trời chụp xuống nơi “cung cấm”, để săn những tấm ảnh quý giá từ các bậc phu nhân !

Nghề làm báo là, luôn luôn có mặt thật và mặt trái của vấn đề.

Nguyễn Việt (trích hồi ký “Nghề làm báo”)

Advertisements

CON GÁI NHA MÂN (2)

VỀ MIỀN GÁI ĐẸP

BẬC NHẤT MIỆT CỬU LONG

– Tiếp theo và hết

Huyền thoại về miền gái đẹp 

Ông Tám Khai nói rằng, từ lúc còn nhỏ ông đã nghe ông cố, ông sơ kể lại, tương truyền vào tháng 7/1784, mượn cớ giúp chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) chống lại nhà Tây Sơn, khoảng 50.000 quân Xiêm và hơn 300 chiến thuyền do các danh tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương, Sa Uyển, Chiêu Chuỳ Biện chỉ huy cùng 4.000 quân của chúa Nguyễn Ánh theo hai đường thuỷ, bộ tiến vào địa phận Kiên Giang.

Đến cuối năm 1784, liên quân Xiêm – Nguyễn chiếm được một số vùng đất ở phía Tây thành Gia Định, đóng quân ở vùng Trà Tân (nay có lẽ là vùng Hòa Khánh thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) để dự trữ lương thảo, vật lực chuẩn bị đánh thành Mỹ Tho và Gia Định.

Khi hay tin liên quân Xiêm – Nguyễn uy hiếp thành Mỹ Tho, Gia Định, tháng 1/1785, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đưa 20.000 quân thuỷ, bộ từ Quy Nhơn hành quân cấp tốc vào Gia Định. Sau khi xem xét tình hình, Nguyễn Huệ không chủ trương phòng thủ thành Gia Định đang bị uy hiếp, tức tốc đưa quân xuôi xuống thành Mỹ Tho quyết chiến với quân Xiêm.

Trong những ngày đầu, Nguyễn Huệ dùng lực lượng nhỏ thăm dò, nghi binh, cử người mang của cải cầu hoà với Chiêu Tăng nhằm tạo sự chủ quan, gây chia rẽ nội bộ và dụ liên quân Xiêm – Nguyễn sớm tiến đánh Mỹ Tho. Sau khi điều nghiên địa hình, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ quyết định chọn đoạn sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút dài khoảng 6-7 km (nay thuộc địa phận huyện Châu Thành, Tiền Giang) làm nơi quyết chiến với liên quân Xiêm – Nguyễn.

Rạng sáng ngày 19/1/1785, từ Trà Tân, Chiêu Tăng chỉ huy toàn bộ lực lượng hành quân xuôi về hạ lưu sông Tiền, đẩy quân Nguyễn đi trước, tiến đánh thành Mỹ Tho. Khi hầu hết thuyền quân Xiêm – Nguyễn lọt vào trận địa phục kích tại Rạch Gầm – Xoài Mút, quân Tây Sơn dùng pháo đặt trên thuyền, trên bờ và cù lao Thới Sơn bắn áp đảo, đồng thời thuỷ binh từ các nhánh sông tiến ra và từ Mỹ Tho kéo lên chặn đầu, khoá đuôi, đánh tạt sườn.

Bộ binh Tây Sơn đón lõng diệt tàn quân trốn chạy trên bờ. Kết quả là toàn bộ mấy trăm chiến thuyền và phần lớn liên quân Xiêm – Nguyễn bị diệt. Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng vài nghìn quân sống sót mở đường máu rút về Xiêm.

Lúc đó chúa Nguyễn Ánh ở phía sau, nghe tàn quân hớt hãi quay lui báo hung tin thất trận, vội quay thuyền lại đưa toàn bộ bầu đoàn thê tử chạy theo sông Tiền tìm đường trốn sang Xiêm. Trên đường tháo thân, vì bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, người đông, thuyền nặng nên các cận thần, quan lại khuyên chúa Nguyễn Ánh cần phải làm cho thuyền nhẹ bớt.

Không còn cách nào khác, chúa Nguyễn Ánh đã gạt nước mắt, bấm bụng bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường, cho lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, nay thuộc Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp) và Mỹ Luông (Chợ Mới, An Giang) cho “nhẹ gánh loạn ly”.

Những mỹ nhân bị rơi rớt trôi dạt sau đó lấy chồng là người địa phương, sinh con đẻ cái đều là “nam đồng, ngọc nữ”. Chính nhờ nguồn gen cung phi mỹ nữ từ thời xa xưa lưu truyền đến nay, xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp.

Trong khi đó nhóm cung phi mỹ nữ dạt vào cù lao Ông Chưởng (Chợ Mới, An Giang) cũng lấy chồng, sinh con đẻ cái, cũng tạo được một “miền gái đẹp” nhưng không nổi tiếng bằng con gái Nha Mân. Theo ông Tám Khai, từ xưa đến nay người đẹp xứ Nha Mân đếm không kể xiết, nghe đồn trước đây các vua xứ Cao Miên còn chịu khó xuôi dòng sông Tiền sang tận Nha Mân để chọn vợ.

Nhắc những người đẹp thời xa xưa ở làng Nha Mân, ông Tám Khai kể vanh vách: ông Quản Y có ba người con gái đẹp nức tiếng Nam Kỳ.. Ông Quản Chức có chị Tám Ngự, chị Mười Xinh. Hai đứa con gái thứ 11, 13 của ông chủ Trọng cũng là người đẹp vang danh một thời. Thầy giáo Chữ cũng có con gái đẹp.

Chị Bảy Nhẫy, cô Tư Nga là những người đẹp nhìn không chán mắt. Trong vùng còn có anh Hai Rít lai Tây, đẻ ra cô Ba Xê đẹp chim sa cá lặn vì phối hợp được nết đẹp Tây với vẻ đẹp cung đình Việt Nam. Hồi cô Ba Xê chết, đã 70 tuổi mà nhìn cũng còn đẹp lão. Ông  Tám Khai kể, hồi xưa cứ Tết đến, đám trai làng rất khoái đi chợ tết để “rửa mắt” vì trong chợ toàn là đàn bà con gái đẹp… “não nùng”.

Ông Tám Khai khẳng định, đàn bà ở Nha Mân đẻ mười đứa con gái thì hết chín đứa là người đẹp, đứa còn lại cũng bậc trên trung bình, và không ở đâu những ngày Tết lại vui bằng Tết ở Nha Mân. Trong những ngày xuân, trên những con đường dọc theo các bờ kênh, bờ rạch lúc nào cũng nườm nượp đàn bà con gái đẹp quần là áo lượt muôn màu sắc ngược xuôi, kẻ vào trong ngọn, người ra ngoài vàm thăm viếng thân nhân, bạn bè, nhìn không chán mắt.

Ly kỳ những phận hồng nhan 

Buổi sáng ngồi nhâm nhi cà phê trong các quán xá quanh chợ Nha Mân, cái nôi của những người đẹp miệt vườn, có thể nghe hàng trăm câu chuyện về những người đẹp Nha Mân. Ông Tám Khai, ông thường có thói quen uống cá phê từ sáng sớm ở các quán quanh chợ Nha Mân, vừa ngồi nhâm nhi ly cà phê vừa nhìn ngắm các bà, các cô đi chợ sớm, tất bật bán mua nhưng vành nón lá vẫn không che hết được vẻ đẹp mặn mòi, duyên dáng.

Lâu dần, ngồi quán uống cà phê ngắm những người đàn bà đẹp trở thành một thói quen kỳ thú, bất di bất dịch của đám đàn ông con trai xứ Nha Mân. Những bậc trưởng thượng ở xứ Nha Mân thường nói, con gái Nha Mân xinh đẹp chim sa cá lặn là niềm hãnh diện của làng xóm, nhưng đó cũng là bi kịch cho không ít người.

Một trong những bi kịch ở “miền nhan sắc” này được bàn tán nhiều nhất mà ông Tám Khai còn nhớ rõ đến giờ là chuyện ăn ở bất nhân thất đức, quả báo nhãn tiền đối với ông bầu gánh hát Quốc Bửu Bang. Chuyện kể rằng, hồi xưa gánh hát Quốc Bửu Bang là một trong những gánh hát nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ.

Trong gánh hát này, có rất nhiều đào tơ xinh đẹp mơn mởn, nhưng không có nhan sắc của cô đào nào có thể sánh với nét đẹp chim sa cá lặn của vợ ông thầy tuồng, là người chuyên viết kịch bản cho đoàn hát diễn, dù cô vợ ông thầy tuồng chỉ đơn thuần làm việc nội trợ, không biết hát hò. Sở dĩ cô vợ của ông thầy tuồng có sắc đẹp ăn đứt các cô đào của gánh hát Quốc Bửu Bang chỉ vì một điều đơn giản: cô ta là con gái Nha Mân chính gốc.

Ông thầy tuồng giấu vợ ở nhà, không dám cho đi theo đoàn hát vì biết rõ tính háo sắc, hoang dâm vô độ của ông chủ gánh Quốc Bửu Bang. Ông thầy tuồng cũng không bao giờ dám mời ông chủ gánh hát đến nhà và cũng chưa bao giờ dám tiết lộ nơi ở của mình cho ông chủ gánh hát biết. Nhưng trong một lần ông thầy tuồng lâm bệnh kéo dài, gánh hát không còn tuồng mới để hát, túng thế, ông chủ gánh hát phải dò hỏi khắp nơi và tìm được nhà ông thầy tuồng.

Ban đầu, ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang chỉ định đến nhà ông thầy tuồng để thăm bệnh và lấy vở mới đem về cho đoàn hát diễn. Nhưng khi bước vào nhà, vừa nhìn thấy nhan sắc của cô vợ ông thầy tuồng, ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang hồn xiêu phách lạc, hai con mắt nhìn người đẹp thiếu điều… rớt xuống đất.

Máu háo sắc bốc lên phừng phừng, từ đó ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang càng ngày càng chăm lui tới nhà của ông thầy tuồng, ban đầu còn e dè nhìn ngắm lén lút cô vợ, nhưng càng về sau ông chủ gánh hát càng công khai, không thèm giấu diếm chuyện ông ta đang chết mê chết mệt nhan sắc của cô vợ thầy tuồng, và tuyên bố trước sau gì ông ta cũng sẽ tìm cách chiếm đoạt cho bằng được mỹ nhân.

Làng xóm, người đời dị nghị cười chê, ông chủ gánh hát mặc kệ. Vợ con ghen tuông chửi mắng om sòm, ông chủ gánh hát bỏ ngoài tai. Trong lòng chủ gánh hát bây giờ không còn gì quan trọng bằng việc phải tìm mọi mưu ma chước quỷ để chiếm đoạt cho bằng được cô  vợ mỹ miều của ông thầy tuồng.

Ông thầy tuồng thấy sự tình như vậy, nhiều lần năn nỉ, lạy lục van xin ông chủ gánh hát buông tha cho vợ chồng ông, tha cho cái gia đình nhỏ của ông, nhưng lão chủ gánh hát tham lam háo sắc và bất nhân không thèm đếm xỉa, càng ngày càng túc trực ở nhà ông thầy tuồng, hoặc tìm mọi cách đón đường cô vợ xinh đẹp của thầy tuồng để giở trò ghẹo nguyệt trêu hoa, tìm cách cưỡng bức mỹ nhân. Ông thầy tuồng đã vài lần dời nhà để tránh chủ gánh hát, nhưng không biết bằng cách nào, lão chủ gánh hát háo sắc lại tìm được, mò tới.

Làm đủ mọi cách cũng không thể tránh khỏi chủ gánh hát, một ngày mưa tầm tã ông thầy tuồng phẫn chí lấy dao mổ bụng tự sát, còn cô vợ xinh đẹp của ông cũng biến mất tăm, không ai biết cô ta đi tu hay đã nhảy xuống sông Tiền tự tử chết theo ông thầy tuồng. Nhưng khi câu chuyện bi thảm của vợ chồng ông thầy tuồng vẫn còn nóng hổi, làng xóm vẫn còn bàn tán râm ran thì gánh hát Quốc Bửu Bang đột nhiên lụi bại, tan rã.

Mấy cụ cao niên ở xứ Nha Mân nói rằng, từ khi ông thầy tuồng chết, gánh hát Quốc Bửu Bang không còn người viết tuồng mới nên cứ đem tuồng cũ ra diễn tới diễn lui nên ai cũng chán, chẳng ai thèm coi hát nữa, khiến gánh hát ngày càng lụi bại. Nhưng ở góc độ tâm linh, có nhiều người cho rằng gánh hát Quốc Bửu Bang tan rã là do trời quả báo, trời cao có mắt, nhìn thấy dã tâm cướp đoạt vợ người khác một cách bất nhân của ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang nên đã khiến cho gánh này suy tàn.

Từ ngày gánh hát tan rã, ông chủ gánh Quốc Bửu Bang từ chỗ giàu có vô song trở thành kẻ sạt nghiệp, trắng tay, vợ con của lão cũng chẳng thèm nhòm ngó, nên cuối cùng lão phải quay về ngồi lay lắt ngoài rìa chợ Nha Mân ăn xin. Nhưng khi nhìn thấy sự suy sụp của lão chủ gánh hát háo sắc, người ta chẳng những không thương hại cho tiền, mà còn đem chuyện ông ta hại chết ông thầy tuồng, làm gia đình người khác tan nhà nát cửa, để phỉ nhổ, thóa mạ thậm tệ.

Cuối cùng ông chủ gánh hát bất nhân bất nghĩa phải lâm vào cảnh chết không có hòm chôn, chỉ được người đời thương tình bố thí cho manh chiếu rách đem vùi thân ở bãi tha ma.

Câu chuyện về người đẹp Nha Mân được nhiều người biết và truyền tụng nhất, chính là chuyện về cô Hai Hiên. Ông Tám Khai nói, các bậc bô lão ngày xưa kể rằng, hơn 150 năm trước, vợ chồng ông Phạm Văn Cần, làm ăn sinh sống ở khu vực vàm sông Nha Mân, lúc bấy giờ thuộc làng Phú Nhuận, tổng An Mỹ, Sa Đéc, sinh được một người con gái đặt tên là Phạm Thị Liên, nhưng trong gia đình thân tộc và bà con lối xóm thường gọi là Hai Hiên.

Cô Hai Hiên là con gái duy nhất của ông bà Cần, từ nhỏ đã xinh đẹp mỹ miều nổi tiếng trong vùng. Đã có nhiều đám ngấp nghé, mai mối muốn kết tình thông gia với ông bà Cần, hỏi cưới cô Hai Hiên về làm dâu, nhưng ông bà Cần chưa kịp chọn ai thì đột ngột cô Hai Hiên qua đời.

Cái chết của cô Hai Hiên làm cho người cha hết sức buồn đau, khóc hết nước mắt thương tiếc và không giấu được sự oán hận trời xanh không công bằng. Hết than khóc đến trách trời xanh không có mắt mà cô Hai Hiên vẫn không thể sống lại, ông Cần phẫn chí quay sang trách móc Quan Thánh Đế Quân (Quan Công, Quan Vân Trường). Từ lâu trong nhà ông Cần luôn có bàn thờ và bức tượng Quan Công, biểu trưng cho lòng trung cang nghĩa khí.

Khi cô Hai Hiên lâm bệnh chết khi tuổi đời còn quá trẻ, ông Cần cho rằng ngài Quan Công đáng lý ra phải soi xét công minh, không thể để ông phải mất đi đứa con gái mà ông yêu quý nhất trên đời. Nhưng đức Quan Thánh Đế Quân không công bằng nên đã khiến ông Cần phải lâm vào cảnh mất đứa con gái độc nhất mà vợ chồng ông vô cùng yêu quý, khiến vợ chồng ông phải chịu cảnh “tre khóc măng, cha mẹ già khóc con trẻ bạc phận”. Càng đau thương, oán trách, ông Cần càng như phát điên.

Trong cơn nóng giận, ông Cần nghĩ rằng ngài Quan Công dứt khoát phải được chôn theo con ông để còn phân giải, đối chất khi Diêm vương phán xét. Nghĩ như vậy nên khi chuẩn bị khâm liệm cô Hai Hiên, ông Cần không ngần ngại lấy ngay bức tượng Quan Công đắp lên thi hài cô Hai Hiên và đóng nắp hòm lại.

Sự việc này đã gây kinh động cả xứ Nha Mân lúc bấy giờ, bởi xưa kia người dân Nha Mân có tín ngưỡng thờ phụng Quan Thánh Đế Quân. Chính vì vậy mà hành động chôn tượng Quan Thánh Đế Quân theo thi hài cô Hai Hiên của ông Cần làm kinh động người dân bản xứ.

Không biết ngài Quan Công có phần trần gì với Diêm Vương ở chốn âm ty địa ngục hay không, nhưng sau khi an táng cô Hai Hiên được ba ngày, nhiều người dân xứ Nha Mân tận mất nhìn thấy cô hiển linh, hiện về thăm cha mẹ và giúp đỡ dân nghèo, những người bệnh tật. Đến lúc này thì xứ Nha Mân lại lan truyền tin đồn, cô Hai Hiên được Quan Thánh Đế Quân phù trợ nên không phải về chầu Diêm Vương, sống lây lất trong cõi u minh mà hóa thành cốt linh của người con gái đồng trinh, ngày ngày hiển linh giúp đỡ mọi người.

Nhiều người dân xứ Nha Mân nói, cô Hai Hiên trở nên hiển linh là vì cô, người con gái đồng trinh, chết nhằm giờ thiêng và có bức tượng Quan Thánh Đế Quân được chôn theo.. Cô Hai Hiên chết đi nhưng vẫn hiển hiện trên đời, do cô còn rất trẻ, đang tràn đầy nhựa sống. Những người rành chuyện cô Hai Hiên ở xứ Nha Mân kể rằng, chỉ ba hôm sau khi chôn cất, cô Hai Hiên trở về để thăm cha mẹ.

Người ta kể, cô Hai Hiên hiển hiện khắp nơi, trong đó có câu chuyện kỳ thú về việc cô quá giang ghe bầu của những người buôn bán ra thăm xứ Huế, vì khi còn sống cô Hai Hiên có ước nguyện được thăm kinh thành Huế, nguồn cội của những cung tần mỹ nữ do loạn ly đã phải lưu lạc tận xứ Nha Mân.

Lần đó, đoàn ghe bầu chở hàng hóa ra Huế khi đi trên sông Tiền ngang qua xứ Nha Mân thì có một người con gái xinh đẹp gọi lại xin quá giang về Huế thăm lại quê xưa. Dù không biết cô gái là ai nhưng những chủ ghe tốt bụng hô phu chèo ghé vào bến, cho cô gái  quá giang. Trên đường theo ghe bầu vượt biển ra Huế, suốt nhiều tháng trời, nhiều lần cô Hai Hiên ngấm ngầm trợ giúp những người đi thuyền có lòng tốt vượt qua phong ba bão dữ, nhưng cũng không ai hay biết.

Ra đến Huế, sau khi thăm thú các nơi, cô Hai Hiên gửi về cho cha mẹ ở quê nhà Nha Mân một cây quế và nhánh bưởi Thanh Trà, đặc sản của xứ Huế, nhờ các chủ ghe khi đi ngang qua Nha Mân thì chuyển cho ông bà Cần. Khi đoàn ghe bầu về ngang qua xứ Nha Mân, ghé lại tìm nhà ông bà Cần để đưa cây quế và nhánh bưởi của cô Hai Hiên gửi tặng, mọi người mới tá hỏa khi được ông bà Cần cho hay cô Hai Hiên chết đã lâu và hai ông bà già còn dẫn họ ra thăm mộ cô Hai để chứng minh.

Đến khi người dân trong xứ Nha Mân hay tin, đến xem và kể cho các chủ ghe bầu những việc hiển linh giúp đời, giúp người của cô Hai Hiên và qua miêu tả của dân làng, những chủ ghe bầu mới biết chính cô Hai Hiên đã hiển linh đi cùng họ trong suốt nhiều tháng trời từ Nam ra Huế.

Ông Tám Khai nói, theo lời ông bà xưa kể lại thì cây quế và nhánh bưởi Thanh Trà của cô Hai Hiên trồng trong vườn nhà ông bà Cần rất tươi tốt. Cây bưởi năm nào cũng trĩu quả và được ông bà Cần chia cho dân làng Nha Mân cùng ăn lấy thảo, còn cây quế thì được dùng làm thuốc để chữa bệnh cho dân làng.

Nhưng đến đầu năm 1946, khi quân Pháp quay lại Cái Tàu Hạ, Nha Mân, cây quế và cây bưởi Thanh Trà của Cô Hai Hiên gửi cho cha mẹ đã bị giặc Pháp ra tay đốn hạ. Vì vậy mà hiện nay ở xứ Nha Mân vẫn còn lưu truyền câu ca : “Thương thay cây quế vườn Nha, thù giặc Pháp, ghét gian tà đốn đi”. Ông Tám Khai nói, sau nhiều lần cô Hai Hiên hiển linh giúp đời, giúp người, nhiều nhà lập bàn thờ cô Hai để thờ phụng nhang khói, nhiều xóm ấp xây miếu thờ cô và cô Hai Hiên đã trở thành một tín ngưỡng dân gian.

Ở Chùa Tây An dưới chân Núi Sam, Châu Đốc, tỉnh An Giang, trong điện thờ Phật có đặt ban thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Tiên và cả Cô Hai Hiên mà nhiều người quen gọi là bàn thờ Phật Cô Hai. Hàng năm, vào ngày 25 tháng 8 Âm lịch, người dân xứ Nha Mân thường tổ chức trọng thể Ngày vía Cô để cúng bái cô Hai Hiên, cầu mong cô phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.
Ông Tám Khai kể, trong ngày vía Cô Hai Hiên, những ông già bà cả thường hay kể cho đám con cháu hậu sinh nghe nhiều chuyện ly kỳ về việc cô Hai Hiên hiển linh giúp đời, giúp người.

Nhưng ngày nay “miền gái đẹp” Nha Mân đang có nhiều thay đổi. Ông Tám Khai dẫn tôi ra chợ Nha Mân, nơi được xem là chiếc nôi của “miền gái đẹp”. Chợ vẫn náo nhiệt, nhưng khó tìm đâu ra một bông hoa đặc sắc tiêu biểu cho “miền gái đẹp”, thiếu nữ 18 tuổi đến 25 đẹp rực rỡ càng khó, dù trong nhiều cuộc thi nhan sắc, con gái Nha Mân từng đoạt các giải thưởng lớn.

Ông Tám Khai nói, giống như nhiều vùng quê ở miền Tây, do cuộc sống khó khăn quá nên các cô gái xinh đẹp đã rủ nhau lên Sài Gòn mưu sinh. Những năm gần đây tiếng đồn gái Nha Mân đẹp người, tốt nết đã lan ra khỏi biên giới Việt Nam và nhờ miệng lưỡi dẻo quẹo của đám mai mối lấy chồng nước ngoài mà rất nhiều gái đẹp xứ Nha Mân đã lên máy bay, về làm dâu xứ Đài Loan, Hàn Quốc, để lại nỗi buồn da diết trong lòng đám trai làng dọc theo bờ rạch Nha Mân. Ông Tám Khai bùi ngùi nói, cứ đà nay, không khéo vài năm nữa “miền gái đẹp” Nha Mân sẽ không còn gái đẹp.

Về miền đất “sắc” 

Cách Sài Gòn 130 km, xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp được mệnh danh là “cái nôi của nét đẹp cung tần mỹ nữ”. Anh Huỳnh Hoàng Quân, Trưởng ấp Tân Lập, xã Tân Nhuận Đông dắt chúng tôi đi gặp các mỹ nhân từng vang bóng một thời.

Dù bước sang cái tuổi xế chiều, nhưng nét đẹp vẫn còn in đậm trên khuôn mặt của cụ Phạm Thị Cám, 94 tuổi. Cụ nhớ lại: “Lúc nhỏ được ba mẹ nhiều lần kể về sự kiện năm 1785, Nguyễn Huệ cầm quân Tây Sơn đánh tan quân Xiêm liên minh với Nguyễn Ánh trên sông Rạch Gầm-Xoài Mút. Trước khi tháo chạy ra đảo Phú Quốc, Nguyễn Ánh đã bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ. Sau đó, các cung phi sắc nước nghiêng thành này đã lấy các chàng trai ở đất Nha Mân. Chính vì vậy, con gái Nha Mân tuy xuất thân từ nông dân nhưng rất đẹp. Đầu thế kỉ 20, nghe danh gái Nha Mân, vua Cao Miên cũng tìm sang kiếm vợ”. Cụ Huỳnh Thị Sáu, 84 tuổi, cũng là một trong những mỹ nhân ở vùng đất Nha Mân một thời. Cuộc sống của cụ gặp nhiều trắc trở.

Hồi ở cái tuổi đôi mươi, rất nhiều người khá giả đến dạm hỏi nhưng cụ nhất quyết không chịu. Cuối cùng, cụ chọn người đàn ông “chân lấm tay bùn” xuất thân như mình. Nhưng đến cái tuổi hồi xuân rạo rực, cụ phải gánh chịu nỗi đau mất chồng. “Chịu tang ổng mới có vài tháng là có nhiều người giàu đến dạm hỏi, nhưng tui từ chối hết để giữ son sắt với chồng. Lúc chưa có gia đình, ba mẹ răn dạy lễ nghĩa “công dung ngôn hạnh” của người con gái ở xứ Đồng Tháp Mười này kỷ lắm nên tui không dám làm trái”.

Anh Quân dắt chúng tôi đi khắp ấp để tìm các cô gái Nha Mân ở tuổi đôi mươi với chiếc áo bà ba truyền thống. Nhưng đi tới đâu người dân cũng lắc đầu nói : “Không có ai nữa đâu mà kiếm, tụi trẻ cưới chồng Đài Loan, Hàn Quốc và đi lên Sài Gòn hết rồi. Còn chiếc áo bà ba tụi nó chê quê mùa có mặc nữa đâu”.

Cái đẹp tàn phai

Bà Nguyễn Thị Lan, 61 tuổi, ngụ ấp Tân Lập nói: “Tôi không hiểu lũ trẻ lên Sài Gòn làm gì trên đó, nhưng mỗi khi về quê là chúng nó ăn mặc, đi đứng đều thay đổi. Nói chuyện với ai cũng chê là “đồ hai lúa quê mùa”. Những ngày Lễ, Tết, khu Nha Mân như trở thành nơi trình diễn thời trang “thiếu áo, thiếu quần” rất kỳ quái. Cái nết, cái bảnh đã bị lớp trẻ làm mai một rồi. Chiếc áo bà ba tụi nó chê là lạc hậu, nghĩ mà xót xa”.

Từ ngày phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc lan về đã làm cho xứ Nha Mân loạn nhịp. Nhiều năm qua, “cò” luôn lùng sục từng nhà để tìm các cô gái trẻ có nhan sắc. Nhiều lần những người môi giới đem 30 triệu đồng đến năn nỉ bà Lan gả con gái cho một người Đài Loan, nhưng bà không đồng ý. Gần nhà bà Lan cũng có hai cô gái trẻ lấy chồng Hàn Quốc. Mẹ của hai cô gái này cho biết: “Số tiền mấy chục triệu mà “cò” đem tới là để dàn cảnh thôi, họ rước con tôi xong là lấy lại số tiền đó”.

Năm 2005, tại nơi Nguyễn Ánh năm xưa cùng đoàn phi tần dừng chân nghỉ ngơi, được chọn để xây chợ Nha Mân. Trong lúc đào hệ thống thoát nước, đơn vị thi công phát hiện dưới lớp đất sâu có 2 chiếc hòm, bên trong chứa hàng trăm cân tiền xu. Số tiền này được Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp lưu giữ. Để tưởng nhớ sự kiện lịch sử này, UBND xã Tân Nhuận Đông lấy hình ảnh đĩnh vàng và đồng xu để làm biểu tượng của chợ. Họa tiết trang trí hàng chục ngôi nhà xung quanh chợ Nha Mân cũng được lấy hình ảnh đồng tiền xu. Họ cho rằng, đó là sự giàu sang trù phú người đi trước để lại.

Ông Tươi, Chủ tịch xã Tân Nhuận Đông cho biết, một năm ở xã có khoảng 1.000 người đang ở độ tuổi lao động đi làm ăn xa. “Nét đẹp con gái Nha Mân mất đi buồn lắm.. Nơi này đã sinh ra những người con gái đẹp người, đẹp nết nhất các tỉnh miền Tây. Vì vậy chúng tôi đang cố gắng khôi phục lại, không để sắc đẹp bị “chảy máu” nữa. Từ đầu năm đến nay, xã mở 3 lớp đan thêu cho phụ nữ và xây dựng dự án các khu công nghiệp để thu hút nguồn nhân lực”.

Chuyện khôi phục hình ảnh con gái Nha Mân không phải nói là làm được, vì hiện tại cái đẹp, cái bảnh trong câu ca dao lưu truyền “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh / Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” giờ chỉ còn là ký ức. (theo Du Nguyễn)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CON GÁI NHA MÂN (1)

VỀ MIỀN GÁI ĐẸP BẬC NHẤT

MIỆT CỬU LONG

Nằm cách trung tâm thành phố Cao Lãnh khoảng 30km, Nha Mân (xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp) từ lâu đã nổi tiếng với câu ca dao: “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” để chỉ miền gái đẹp bậc nhất ở miệt sông nước Cửu Long. Vậy điều gì đã khiến con gái Nha Mân hầu hết đều “sắc nước, hương trời” đến vậy ?

Yếu tố lai giữa 3 dân tộc ? Những ngày cuối tháng 7 vừa rồi, tôi có dịp trở lại Nha Mân trong một chuyến công tác. Ở đây, hỏi bất kỳ ai về gốc tích nhan sắc con gái Nha Mân, bà con đều kể giống như in về cuộc binh biến thời Tây Sơn – Nguyễn Ánh. Đó là trận Rạch Gầm – Xoài Mút đêm 19 rạng 20.01.1785, Nguyễn Huệ đánh tan hai vạn quân Xiêm – Nguyễn. Sau khi thua trận thì bầu đoàn thê tử của Nguyễn Ánh chạy về lánh nạn ở rạch Nha Mân (nay thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp).

Chợ Nha Mân ngay trung tâm thị trấn

Trên đường tháo thân, vì bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao. Nguyễn Ánh đã gạt nước mắt, bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường, cho lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, trong đó có vùng Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp). Những mỹ nhân này sau đó lấy chồng là người địa phương, sinh con đẻ cái. Chính nhờ “nguồn gen cung phi mỹ nữ”, xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp như vậy.

Thế nhưng, chúng tôi tìm mãi trong sử sách của triều Nguyễn không hề ghi chép chi tiết này. Một lần gặp được thạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu – Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Đồng Tháp, ông cho biết : “Theo sách Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả (gia phả nhà Nguyễn), thì năm lên 13 tuổi (1774), Nguyễn Ánh đã bắt đầu “chạy giặc” vào miền Nam khi quân Trịnh tấn công vào Thuận Hóa.

Những năm sau đó, cuộc chiến giữa nhà Nguyễn và quân Tây Sơn diễn ra ngày càng khốc liệt, nhiều lần thua trận, ông bị quân Tây Sơn truy đuổi ráo riết, sống lưu lạc khắp nơi, trong đó có lần cầu viện quân Xiêm như đã nói. Nếu tính từ lúc Nguyễn Ánh vào Gia Định (1775) cho đến trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785), thì đây là khoảng thời gian Nguyễn Ánh phải bôn ba khắp nơi, lúc thì trốn chạy, lúc lo gây dựng binh lực để đánh quân Tây Sơn.

Trong hoàn cảnh như vậy, liệu ông có thể lập cho mình “năm thê bảy thiếp” ? Mặt khác, nhiều câu chuyện trong dân gian kể rằng, có thời điểm, Nguyễn Ánh phải bôn tẩu một thân một mình, không nhà không cửa, sống nhờ sự đùm bọc của người dân. Vậy, nếu lập bầu đoàn thê tử thì họ sống ở đâu ?… Ngày nay khoa học cũng đã chứng minh rồi, cha mẹ đẹp chưa chắc gì sinh con ra đã đẹp”. Ông Hiếu nói.

Nếu gái đẹp Nha Mân không phải di truyền từ cung tần mỹ nữ của Nguyễn Ánh, thì bắt nguồn từ đâu ? Hàng trăm năm qua, ở vùng đất Nha Mân, dân gian vẫn còn kể về sự tích cô Hai Hiên với màu sắc huyền bí.

Chuyện xảy ra vào năm Mậu Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 11, tức năm 1858 tại thôn Phú Nhuận, tổng An Mỹ, huyện An Xuyên, tỉnh An Giang, nay là ấp Tân Hòa, xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (từ năm 1967 – 1975 khu vực này thuộc tỉnh Sa Đéc, bên bờ sông Tiền, cách chân cầu Mỹ Thuận 8km, bờ Nam, phía thượng nguồn, địa danh dân gian gọi là Nha Mân, bởi có con rạch cùng tên chảy qua).

Ông Hương Cả làng Phú Nhuận tên Phạm Văn Cần cưới người vợ tên Võ Thị Niên và sinh được một người con gái tên Phạm Thị Liên (thường gọi là cô hai Hiên). Cô hai Hiên càng lớn càng xinh đẹp nhất vùng, nhiều người danh gia, thế phiệt đem trầu cau dạm hỏi nhưng đều bị cô từ chối.

Vào ngày 25 tháng 8, năm Mậu Thìn (1858), cô hai Hiên tròn đôi tám, một buổi chiều dạo chơi trên bờ sông Nha Mân, bỗng nghe tiếng gọi đò. Người đưa đò đi vắng, tiếng bà lão gọi hối hả bên kia sông như có chuyện cần kíp. Động lòng, cô Hai nhảy xuống chèo đò rước bà lão.

Đò ra giữa dòng Nha Mân chảy xiết, khiến cô chới với té nhào xuống sông. Mọi người tri hô lên, ông Cả hay tin chạy ra vớt con lên thì cô đã tắt hơi. Đau lòng trước cái chết của cô con gái, ông cả Cần oán trách cao xanh. Trong nhà ông từ lâu có thờ bức tượng Quan Công, biểu trưng cho lòng trung cang nghĩa khí.

Nghĩ rằng, ngài Quan Công đáng ra phải soi xét công minh không để ông phải mất đi đứa con gái mà ông yêu quý nhất trên đời, nên trong cơn quẫn trí, ông Cần nghĩ rằng ngài Quan Công phải được chôn theo con ông để còn phân giải khi Diêm vương phán xét.

Thế là ông lấy bức tượng Quan Vân Trường đắp lên thi hài con gái. Kỳ lạ thay, mấy ngày sau, người trong làng hằng ngày cứ đến nhà kể cho ông nghe chuyện thường xuyên gặp cô Hai đi chợ, thậm chí là chuyện cô Hai “quá giang” ghe bầu ra Huế. Những lúc gặp nạn, chỉ có ghe mà cô quá giang là an toàn. Từ đó, người Nha Mân lập miếu thờ cô Hai với tên gọi “Cô Hai Hiên” – giống như tín ngưỡng bà Liễu Hạnh..

Câu chuyện trên cho thấy rằng, trong truyền thuyết về cô Hai Hiên có xuất hiện giao thoa tín ngưỡng người Hoa và người Việt. Chuyện ông Cả Cần thờ Quan Thánh Đế Quân chứng tỏ đó là tín ngưỡng người Hoa. Chuyện cô Hai Hiên độ trì ghe bầu đi biển ra Huế giống y chang tín ngưỡng thờ Bà Thiên Hậu của người Hoa. Cuối cùng thì dân đồng bằng tín ngưỡng cô Hai Hiên như Bà Liễu Hạnh người Việt.

Từ những luận cứ trên, có thể đưa ra một giả thuyết vùng đất Nha Mân là vùng đất có cả 3 dân tộc : Việt-Hoa từ xa đến cộng cư với người Khmer bản địa. Cách Nha Mân 3km về phía hạ nguồn sông Tiền là rạch Cái Tàu hạ, chứng minh có người Tàu sinh sống. Chính sự quần cư này đã tạo điều kiện sinh ra những cô gái lai 3 dòng máu nên rất đẹp.

Một thời gái đẹp Nha Mân 

Dù xuất phát từ nguyên nhân nào đi nữa, cũng chắc chắn một điều rằng rằng, Nha Mân là một miền gái đẹp bậc nhất ở miệt sông nước Cửu Long. Hôm tôi trở lại Nha Mân, cụ Phan Thị Lợi (82 tuổi) là một trong những mỹ nhân của miền gái đẹp ngày trước. Theo lời cụ Lợi, ngày xưa, con gái Nha Mân, không chỉ đẹp nết mà còn đẹp người.
Cuộc sống của họ cũng đơn giản như bao cô gái ở những vùng quê khác: Ra đồng, làm vườn… Nhà ông Quản Chức thì có chị Tám Ngự, chị Mười Xinh đẹp người đẹp nết. Hay nhà thầy giáo Chữ cũng có con gái đẹp. Chị Bảy Nhẫy, cô Tư Nga là những người mà phụ nữ nhìn cũng mê…

Hằng năm, cứ Tết đến, đám trai làng thường kiếm cớ đi chợ Tết để nhìn đám con gái làng mình. Cũng theo lời bà, hồi đầu thế kỷ 20, vua Cao Miên cũng tìm sang đây cưới vợ. “Thời xưa, con gái tụi tui chỉ đua nhau may đồ bà ba, tóc dài cả thước. Mỗi lúc đi ruộng là khăn rằn quấn không muốn hết búi tóc trên đầu. Tối về gội đầu là má hay chị em phải phụ. Mà không hiểu sao hồi đó đi mần ruộng cứ phơi cái mặt ra chứ có bịt khăn như giờ đâu, vậy mà da đứa nào cũng trắng”.

Nức tiếng với gái Nha Mân ai ai cũng đẹp, theo người dân, người được mang danh hoa khôi ở đây là bà Nguyễn Ngọc Tiết, con gái ông cả Trọng giàu có nhất vùng. Được sự hướng dẫn, chúng tôi tìm đến nhà bà Tiết. Ông Trần Văn Mão, 82 tuổi (chồng bà Tiết) cho biết một tai nạn cách đây mười năm đã lấy đi sinh mạng của bà. Ông kể với vợ với nỗi buồn nhưng xen lẫn tự hào: “Xưa vợ tôi là hoa khôi xứ này đó, nhiều người hỏi cưới bả không chịu, ưng phải tôi nên cuộc đời bà ấy khổ lúc về già”.

Ông nhớ lại, cô gái thứ 11 của ông Cả Trọng (thường gọi cô Mười Một) vốn nổi tiếng là hoa khôi trong vùng. Khi tốt nghiệp Tú Tài, cô lên SàiGòn học và quen ông Ba Nhẫn (lúc đó là nhân viên văn thư cho một công ty nhỏ), để lại sự nuối tiết cho nhiều chàng trai nơi đây. Lấy nhau và sinh được hai người con thì giặc Pháp càn vào, ông bà dắt dìu nhau về quê vợ sinh sống.

Cứ tưởng cuộc sống thế là an nhàn, vợ chồng ông sinh thêm 5 người con nữa. Sau giải phóng, vợ chồng ông phải làm thuê làm mướn để mưu sinh. “Nói ngay, gái Nha Mân đẹp người lại đẹp nết, công việc nội trợ giỏi lắm. Nói không phải “mèo khen mèo dài đuôi”, như vợ tôi là một tiểu thư nhưng tháo vác mọi thứ.

Khi gia sản không còn gì, hằng ngày tôi đạp xích lô, vợ tôi ngoài việc đồng án còn nội trợ ở nhà để phụ chồng nuôi con ăn học. Nay 7 đứa con của tôi đều có nghề nghiệp ổn định thì bà ấy bỏ tôi mà đi. Nhưng gái Nha Mân giỏi giang, đó là chuyện của 60 chục năm về trước. Còn con gái bây giờ “loãng” hết rồi. Họ chê công việc ở đây chân lấm tay bùn, bỏ đi xứ khác làm ăn hoặc lấy chồng nước ngoài hết rồi…”.

Nha Mân là một trong những miền gái đẹp bậc nhất vùng châu thổ Cửu Long, chuyện đó không cần phải bàn cãi, nhưng cũng đã… xưa rồi. Bây giờ, con gái Nha Mân đang dần bị “loãng” khi các mỹ nữ thay nhau lấy chồng ngoại và đi lập nghiệp tứ phương… Khi sắc đẹp thành dĩ vãng… Là một trong những mỹ nhân của miền gái đẹp một thời, cụ Phan Thị Lợi (82 tuổi) từng nuôi cách mạng trong thời kháng chiến chống Mỹ giờ đây sống một mình trong căn nhà tình thương. Giọng run run, cụ nói : “Lúc mấy ông cách mạng nằm vùng, tui nấu cơm cho mấy ổng ăn chứ có làm được nhiều gì cho đất nước đâu”. Cụ kể, cuộc sống của cụ gặp nhiều trắc trở.

Hồi con gái, cũng nhiều người đến hỏi, cuối cùng cụ chọn một anh nông dân cùng xóm làm chồng. Sống với nhau được vài năm thì ông có người phụ nữ khác, cụ đành chia tay để ông vui vầy bên duyên mới. Đến đời chồng thứ hai cũng không được êm đẹp, ông ấy cũng có vợ khác. Trải qua hai đời chồng nhưng cụ không có mụn con nào, giờ già rồi vẫn sống cô đơn một mình.

Tôi hỏi về chuyện gái đẹp xứ Nha Mân, cụ Lợi liệt kê ra một loạt danh sách những người đẹp có tiếng ngày xưa, rồi thở dài : “Những hoa khôi ngày xưa giờ đã gần đất xa trời hết rồi, còn bây giờ, con gái xứ này đã bỏ đi hết, cuộc sống thời hiện đại đã làm thay đổi mọi thứ”.

Quả thật, từ một địa danh hoang vu, hẻo lánh, xã Tân Thuận Đông ngày nào giờ đã trở thành một vùng đô thị mới, nhộn nhịp và náo nhiệt. Những thiếu nữ nơi đây cũng ngày càng thay da đổi thịt, thay vào vẻ đẹp tự nhiên ngày xưa thì nay được tô đậm má hồng môi đỏ. Để thẩm định lại tin đồn, chúng tôi dạo một vòng quanh chợ mong tìm được một cô gái Nha Mân như trong thơ ca, nhưng chợ dường như chỉ còn thanh niên và người lớn tuổi.

Chị Huỳnh Thị Ngọc Dung (53 tuổi) – con gái bà Tiết (hoa khôi xứ Nha Mân một thời) – cho biết : “Gái Nha Mân nay nếu không có chồng nước ngoài thì cũng lên Sài Gòn làm hết rồi, tết họ mới tập trung về. Những ngày giáp tết mấy chị lên đây mà xem, cô nào cũng đẹp, ăn mặc không thua gì gái thành thị đâu nha”.

Nha Mân một thời nổi tiếng với nhiều cô gái đẹp nên sau giải phóng, nhiều dân Tây sang đây cưới vợ. “Lúc đó ai cũng nói những cô gái đó là dân phản động vì lấy chồng Tây. Mình cũng không trách họ được, cuộc sống khó khăn, các cô gái mới lấy chồng Tây để giúp gia đình hết khó. Tôi thấy nhiều cô gái gửi tiền về cho cha mẹ xây nhà lầu nhiều lắm. Từ lấy chồng Tây rồi đến phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc,… dần dần Nha Mân hết gái, đàn ông xứ này phải sang xứ khác cưới vợ”. Chị Dung cho biết thêm.

Và những chuyện buồn chưa kể hết… 

Từ khi phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc lan về, cuộc sống xứ Nha Mân trở nên loạn nhịp… Cuộc sống đổi thay, đô thị hóa vùn vụt khiến cho mảnh đất Châu Thành nhanh chóng lột xác. Những thiếu nữ ở đây cũng ngày càng cuốn hút hơn. Sự cuốn hút này đã nhanh chóng lọt vào tầm ngắm của những cò mai mối gần xa.

Trong suốt chuyến hành trình, “câu kết” cho câu chuyện về người con gái Nha Mân của những người dân tại xứ này mà chúng tôi từng gặp chỉ là sự xót xa cho “nét đẹp” đang bị biến mất. Nhất là kể từ thời điểm rộ lên phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Nha Mân náo loạn bởi những tay môi giới hôn nhân lùng sục từng nhà.

Một bậc cao niên cho biết : Cách đây 7 năm, mấy người môi giới lấy chồng nước ngoài đến nhà, lúc đó gia cảnh tôi rất nghèo. Nếu chấp nhận thì có ngay 30 triệu đồng tiền mặt, đối với gia đình tôi thì số tiền đó rất lớn nhưng cũng may là chúng tôi không nghe lời, nếu không thì giờ cũng ân hận. Mấy chú cứ đi hết xã này mà hỏi, con gái Nha Mân lấy chồng ngoại nhiều lắm.

Cách đây không lâu, người dân sống quanh chợ Nha Mân khá quen với hình ảnh hai người đàn bà lạ, ăn mặc lịch thiệp, chuyên đi ô-tô xịn và xưng là tiến sĩ nghiên cứu tâm lý từ Sài Gòn về làm việc. Tuy nhiên chẳng thấy họ nghiên cứu gì mà hai người đàn bà này sớm tối chỉ lo tiếp cận những người đẹp Nha Mân. Chính vì nổi tiếng là gái đẹp nên mấy “tú bà” thường ve vãn đến đây săn mồi.

Cách đây 2 năm, người dân ở đây xôn xao vụ tú bà Đinh Thị Thu Hồng bị bắt về tội dụ dỗ gái địa phương ra nước ngoài bán dâm. Cơ quan điều tra cho biết, Hồng đã lừa được 13 cô gái trẻ đẹp ra nước ngoài làm gái mại dâm. Khám xét nhà Hồng, công an phát hiện 73 hồ sơ của những cô gái trẻ đẹp gốc Nha Mân và các vùng lân cận. Dự định sẽ bán họ sang Malaysia làm gái.

Người dân nơi đây kể lại, lúc Hồng chưa bị bắt, thị thường dùng bề ngoài sang trọng của mình để lừa gạt gái đẹp. Nói rằng mình là chủ một công ty gì đó, quen biết nhiều người làm chức lớn để giới thiệu cho thiếu nữ, rồi vẽ ra một viễn cảnh đổi đời cho những cô gái ít học. Những bậc cha mẹ khi nghe con nói cứ tưởng con gái mình vốn sinh ra ở vùng gái đẹp nên được nhiều người săn đón là chuyện bình thường, thậm chí còn tự hào.

Và cũng chính mỹ danh ấy làm con gái xứ này “tự tin” đua nhau lên Sài thành đi xin việc ở các quán bar, nhà hàng, quán nhậu… Nghe danh đã lâu, khi nhìn thấy hồ sơ con gái Nha Mân, các chủ nhà hàng rất thích thú.

Đối lập với gái Nha Mân ngày xưa hiền dịu, nết na thì ngày nay, gái Nha Mân ngoài vẻ đẹp vốn có thì đa số rất chịu “chơi”, mấy ông bợm nhậu chỉ cần có vậy… Phần lớn “trụ cột” các quán cà phê, quán nhậu trên địa bàn Sài Gòn là con gái Nha Mân. Nhờ duyên ăn  nói và vẻ tự tin về xuất xứ bản thân, các cô không gặp nhiều khó khăn trong chuyện lấy lòng những ông khách làng chơi..

Khi chúng tôi hỏi các bậc cha mẹ có con gái đi làm ăn xa có biết con gái họ làm gì không ? Chị Dung trả lời : “Số người gả con cho Đài Loan, Hàn Quốc thì tự hào vì được xây nhà cao cửa rộng, còn những cô gái đi làm quán bar thì biết cũng không cản được, họ đã quen với cách kiếm tiền dễ dàng đó rồi. Trong số đó, không ít người dở khóc dở cười với ngày trở về”.

Nói xong chị Dung kể một chuyện chấn động cả tỉnh cách đây 5 năm. Hai bên họ hàng của cô dâu Trần Thanh Lan, Lê Thị Kim Đồng tự hào khi nhìn con lên xe hoa để lấy đại gia xứ Hàn. Cứ tưởng sẽ được hưởng sung sướng nhưng sau đám cưới linh đình ấy là chuỗi ngày đau khổ của hai cô khi người chồng của họ lộ nguyên hình là những gã vũ phu, thường xuyên đánh đập vợ. Dù thể xác bị bầm giập nhưng không trốn về được.

Gia đình biết chuyện cũng đành câm nín chịu đựng nghe con than thở. Rồi ngày đau đớn nhất cũng đến, khi người nhà hai cô dâu này đón con về bằng hai cái xác không hồn. Hai cái chết thương tâm này xảy ra từ cuối năm 2007 và ám ảnh cho đến bây giờ. Gần đây nhất là cái chết oan uổng và chấn động dư luận của cô dâu Thạch Thị Hoàn Ngọc, xảy ra vào cuối năm 2010.

Giờ đây, người dân xã Tân Nhuận Đông vẫn luôn tự hào về miền gái đẹp quê mình. Nhưng trong niềm tự hào đó, đang ẩn chứa những xót thương cho bao phận má hồng nơi đất khách. Gái đẹp Nha Mân đang chìm vào quá vãng, chủ yếu do guồng quay của những cuộc mưu sinh, cùng tác động của cuộc sống thời mở cửa. Buổi chiều rời Nha Mân, đám cưới nhà ai đang tưng bừng rộn rã đón dâu. Nghe đâu cô dâu ở Vĩnh Long chứ không phải người địa phương…

Trận thủy chiến trên sông Tiền Theo những bậc cao niên ở Nha Mân và một số tài liệu ghi lại, khoảng giữa năm 1784 mượn cớ giúp Chúa Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn, khoảng 2 vạn quân Xiêm đã theo hai đường thủy bộ tiến vào địa phận Kiên Giang. Liên quân này có thêm 4.000 lính của Chúa Nguyễn Ánh. Đến cuối năm 1784, liên quân Xiêm – Nguyễn chiếm được một số vùng đất ở phía tây thành Gia Định.

Họ cho đóng quân ở vùng Trà Tân (nay thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) để dự trữ lương thảo, khí tài chuẩn bị đánh thành Mỹ Tho và Gia Định. Lúc này, Chúa Nguyễn Ánh cùng bầu đoàn thê tử hàng trăm người cũng trú tại đây. Cuối năm 1784, khi liên quân Xiêm – Nguyễn uy hiếp cả thành Mỹ Tho và Gia Định thì Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ liền đưa 2 vạn quân từ Quy Nhơn xuôi xuống thành Mỹ Tho quyết chiến với quân Xiêm. Sau khi điều nghiên địa hình, Nguyễn Huệ quyết định chọn đoạn sông Tiền từ rạch Gầm đến Xoài Mút dài khoảng 6-7km (nay thuộc địa phận huyện Châu Thành, Tiền Giang) làm chiến trường quyết chiến với liên quân Xiêm – Nguyễn.

Đêm 18 tháng 1 năm 1785 (ngày 8 tháng Chạp năm Giáp Thìn), lợi dụng con nước đang xuôi, cả hai đạo thủy bộ quân Xiêm cùng rầm rộ tấn công Mỹ Tho. Khi liên quân Xiêm – Nguyễn vừa lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn, từ hai bờ sông Tiền và dọc bờ cù lao Thới Sơn, các đại bác cùng pháo hỏa hổ của bộ binh Tây Sơn bắn ra uy hiếp dữ dội.

Những chiến thuyền Tây Sơn từ những nhánh rạch nhỏ kéo ra chặn đánh đầu, số khác xông ra đánh vỗ hông nhằm chia cắt đội hình và đánh chặn đường lui, dồn đoàn thuyền của đối phương vào thế tiến thoái lưỡng nan. Cùng lúc ấy những thuyền nhẹ chở đầy những vật liệu dễ cháy đâm thẳng vào những chiến thuyền đang rối loạn làm cho số bị chìm, số bị cháy…

Trời vừa rạng sáng, thì chiến cuộc cũng vừa dứt. Kết quả là 300 chiến thuyền và gần 3 vạn quân Xiêm – Nguyễn bị phá tan. Chúa Nguyễn Ánh cùng bầu đoàn thê tử và một ít tùy tùng đang đóng quân ở Trà Tân nghe tàn quân báo hung tin thất trận vội quay thuyền chạy theo sông Tiền tìm đường thoát thân. Bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, hàng trăm cung tần mỹ nữ chân yếu tay mềm bỗng chốc trở thành “của nợ”. Nhiều người trong số này chịu đựng không nổi cực khổ trên đường trốn chạy nên Chúa Nguyễn Ánh đành gạt nước mắt, bấm bụng bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường.

Để “nhẹ gánh loạn ly”, những mỹ nhân được ban cho ít vàng bạc rồi lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, nay thuộc Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp) và cù lao Ông Chưởng (Chợ Mới, An Giang). Theo lời kể của các cụ cao niên, những nhan sắc khuynh nước khuynh thành này nói đủ các giọng ở nhiều vùng miền, nhưng lại hiếm người miền Tây Nam Bộ.

Ông Tám Khai – một người sống gần cả thế kỷ bên bờ Nha Mân cho rằng, chính nhờ nguồn “gen” cung phi mỹ nữ lưu truyền mà xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp như hôm nay. Tương truyền, những mỹ nhân bị “bỏ rơi” đều lấy chồng là người địa phương, trở thành nông dân nhưng con cái do họ sinh ra đều đẹp như tiên đồng ngọc nữ.

Theo nhận xét của nhiều người, nhóm mỹ nữ dạt vào cù lao Ông Chưởng cũng lấy chồng, cũng tạo được một “miền gái đẹp” nhưng không nổi tiếng bằng con gái Nha Mân. “Hồi nhỏ, tôi nghe ông bà kể lại người đẹp xứ Nha Mân đếm không kể xiết. Khoảng đầu thế kỷ thứ 20, các vua xứ Cao Miên mang vàng bạc châu báu xuôi dòng sông Tiền sang tận “miền gái đẹp” Nha Mân để tìm ý trung nhân” – ông Tám Khai quả quyết.

Cho đến nay, người Nha Mân vẫn tự hào vì đàn bà xứ này đẻ 10 đứa con gái thì hết 9 đứa là người đẹp, đứa còn lại cũng trên trung bình. Trong những ngày xuân, trên những con đường dọc theo các bờ kênh, bờ rạch đi dọc hai bờ rạch lúc nào cũng nườm nượp đàn bà con gái đẹp quần là áo lượt muôn màu sắc ngược xuôi, kẻ vào trong ngọn, người ra ngoài vàm thăm viếng thân nhân, bạn bè, nhìn không chán mắt.Trong những cuộc trà dư tửu hậu, luận bàn về sắc đẹp phụ nữ, các bậc cao niên ở miền Tây Nam Bộ đều thừa nhận, đất chín rồng (đồng bằng sông Cửu Long) là nơi có nhiều “miền gái đẹp”. Nhưng nổi tiếng nhất và đi vào ca dao tục ngữ, được truyền tụng lâu đời phải kể đến “miền gái đẹp” Nha Mân, thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Hàng trăm năm trôi qua, nhưng nhắc đến nét đẹp con gái Nha Mân ai cũng nhớ câu “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh, gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”. Từ xưa, gà Cao Lãnh nổi tiếng đá hay, lì đòn. Còn con gái Nha Mân, nói như ông Tám Khai, người cố cựu xứ Nha Mân, nay đang sinh sống ở thị trấn Cái Tàu Hạ, cách “miền gái đẹp” Nha Mân không xa, thì từ xưa đến nay con gái Nha Mân “nhìn không biết chán vì… ngộ (đẹp) nhất miền Tây”.

Qua khỏi thị trấn Cái Tàu Hạ gần chục cây số là đến địa phận “miền gái đẹp” Nha Mân, thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Từ năm 1940, ba xã Phú Nhuận, Tân Hựu, và Tân Hựu Đông được ghép thành Tân Nhuận Đông thuộc quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc. Từ năm 1956 đến năm 1965, Nha Mân thuộc quận Đức Tôn, Sa Đéc. Năm 1966, tỉnh Sa Đéc được tái lập, Nha Mân trở lại trực thuộc quận Châu Thành cho đến ngày nay.

Nha Mân, một phía giáp với sông Tiền quanh năm chở nặng phù sa bồi đắp cho những vườn cây ăn trái xanh tốt, một phía gần giáp với sông Hậu gạo trắng nước trong. Rạch Nha Mân bắt đầu từ một nhánh của sông Tiền, chảy quanh co uốn khúc hàng chục cây số trong những khu vườn, những thửa ruộng màu mỡ rồi nối vào rạch Ba Càng của Vĩnh Long, đổ ra phía sông Hậu.

Phía bờ trái sông Nha Mân, từ cầu Nha Mân vào các vườn cây ăn trái trĩu quả, có nhiều rạch nhỏ như rạch Chùa Ông Chiêm, rạch Bà Thiên, rạch Cầu Xoay, rạch Ông Đại, rạch Ông Yên, rạch Tre, rạch Rắn, rạch Cái Ngổ, rạch Da, rạch Cầu, rạch Bằng Lăng, rạch Mương Khai, rạch Ba Càng… Ông Tám Khai nói, con gái Nha Mân hàng trăm năm qua ra đời quanh những cái tên rạch ấy. Trước đây nhiều người cho rằng, nước rạch Nha Mân trong lành, mát ngọt phù sa ngày đêm vun đắp, làm cho da dẻ các cô gái trắng trẻo mịn màng, giọng nói thanh tao, mắt phụng mày ngài, dáng đi uyển chuyển nhẹ nhàng, thanh thoát.

Nhưng những điều võ đoán đó đều không bao giờ đúng, bởi sắc đẹp của con gái Nha Mân chỉ một phần nhờ con nước phù sa sông Tiền, phần chủ yếu làm nên huyền thoại “miền gái đẹp” Nha Mân lại ở tuốt tận kinh đô Huế, cách xa xứ Nha Mân cả ngàn cây số.  (theo Du Nguyễn)(Còn 1 kỳ nữa)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

TÂN ĐỊNH NHỮNG CON ĐƯỜNG KỶ NIỆM

9 Tr Dinh Phuoc 1NHỮNG CON ĐƯỜNG

KỶ NIỆM THÂN THƯƠNG

Cho đến bây giờ, dù đã xa cách nhiều năm, nhưng trong tôi “Tân Định và Đa Kao” lúc nào cũng là một nỗi nhớ khôn nguôi. Chúng cứ thôi thúc tôi hoài. Đã bao năm qua tôi muốn tìm về chốn này, để sống lại với kỷ niệm thuở học trò, mà tình yêu khi đó “chỉ biết đôi mắt nhìn nhau cũng đủ rồi.” Tôi cứ hẹn nhiều lần, nhưng vẫn chưa bao giờ thực hiện được ước mơ của mình. Rồi một dịp tình cờ đưa đến. Giấc mơ đã trở thành hiện thực. Tôi đã có hai tuần lễ đi qua, đi lại, đi tới, đi lui, đi xuôi, đi ngược, trên những con đường kỷ niệm của Tân Định và Đa Kao. Điều làm tôi rất đỗi ngạc nhiên và thích thú nhất là tên nhiều con đường trong khu vực này vẫn không thay đổi. Thật vậy! Sau 30 tháng 4, năm 1975. Một số tên đường của thành phố Sài Gòn thân yêu đã bị đổi bằng những cái tên xa lạ. Nay, được thấy lại các tên đường ở khu Tân Định và Đa Kao không bị thay đồi nhiều, trong lòng tôi bỗng nhiên dâng lên một sự xúc động mãnh liệt và một niềm sung sướng vô biên..

Xin mời các bạn cùng tôi tìm về những con đường kỷ niệm thân thương của khu Tân Định và Đa Kao với những bồi hồi, rung động khó quên của thời niên thiếu không bao giờ phôi pha, dù năm tháng có qua đi.

Trước hết, xin bắt đầu từ Cầu Kiệu với con đường Hai Bà Trưng đi về phía Sài gòn. Khoảng đường này, bên tay phải có hẻm Vựa Gạo, đi ra được hẻm 60 Cù Lao Yên Đổ, phòng khám mắt của Bác Sĩ Kính, tiệm bán Bông Cườm đám tang, thuốc cam Hàng Bạc hay nhà thuốc Nhân Phong Đường, số 447B HBT và tiệm cà phê Hải Nàm của người Việt gốc Hoa. Phía bên trái, dưới chân Cầu Kiệu có hẻm bán chó, kèm theo một đội chuyên săn bắt chó. Họ lùng sục khắp hang cùng ngõ hẹp trong thành phố, ra đến tận ngoại ô để tìm nguyên liệu chó, cung cấp cho các quán Cờ Tây.9 Tan Dinh 1 Nếu em chó nào đẹp, có giá trị thì chờ vài ngày cho chủ nhân đến tìm chuộc lại theo luật giang hồ. Rồi đến tiệm trà Phật Tổ, cây xăng nhỏ HBT, tiệm sơn Mậu Ký và cửa hiệu bán xe đạp cùng phụ tùng Đoàn Văn Thẩm, đa số sản xuất từ Pháp và Ý Đại Lợi. Các cua rơ rất thích đến tiệm này mua sắm…

Quẹo trái ở ngã ba là đường Trần Quang Khải. Đầu đường là phòng mạch Bác Sĩ Hạnh, tịệm Bida TQK, về sau đổi thành Salon bán xe TQK. Sau đó là con đường nhỏ tên Nguyễn Hữu Cảnh, còn gọi là đường Xóm Chùa. Đầu hẻm, phía bên phải là chỗ mài dao kéo, tông đơ, rồi đến tiệm bánh cuốn Thanh Trì. Nằm đối diện là Hãng Sáo Công Ty, rồi tới trường Việt Nam Học Đường, số 38 đường Đặng Tất do thầy Kính làm Hiệu Trưởng và trường trung học tư thục Văn Lang, số 51 Trần Quí Khoách do thầy Ngô Duy Cầu làm Hiệu Trưởng. Thầy Cầu mất đúng ngày 30 tháng 4, năm 1975. Đối diện trường Văn Lang là Cư Xá Kiến Ốc Cục Tân Định, dành cho công chức. Đi vào phía trong là chùa Vạn Thọ và một số chùa nhỏ khác nằm rải rác. Ngoài ra có dãy phố mười căn và ban kích động nhạc thần đồng CBC..

Phía tay phải là quán cơm cây Điệp, kế bên là hãng sản xuất Gạch Bông và tiệm Bida có tên Vân Sơn. Nhìn sang bên đường là tiệm giặt ủi Tần Tiến, cho thuê xe xích lô đạp, làm bản kẽm Dầu, trường Trung Học Tư Thục Tân Thạnh của thầy Phan Út. Trưóc khi đi vào cổng trường, phải đi ngang bảo sanh viện Ngô Liêng. Hẻm trường Tân Thạnh đi ra được đường Đặng Dung. phía bên trái có khách sạn Đặng Dung và nhà thầy Ngô Duy Cầu, số 48A Đặng Dung..

Đi tiếp sẽ gặp chùa Cô Hồn hay Tân Hiệp Nam Nữ Hội số 186 TQK, cây xăng TQK, Photocopy Hoàng Sơn, xe nước mía chị Hai. Cô em gái tên D… một nữ sinh Lê Văn Duyệt rất xinh xắn và duyên dáng. Nhờ thế mà xe nước mía chị Hai lúc nào cũng tấp nập các nam thanh. Nhiều anh kêu một lúc hai, ba ly và tình nguyện rửa và dọn ly giùm..

Đường Bà Lê Chân bên tay phải, ngay góc đường là quán cơm tấm Bình Dân của vợ chồng con trai nghệ sĩ lão thành Bảy Nhiêu. Kế bên có bà Sáu bán nước trà Huế và hai bàn đá banh tay lôi cuốn các học sinh kéo đến và thường gây ồn ào trước khi vào học và khi tan trường, đôi khi sinh ra ẩu đả vì cá độ, chọc quê nhau. Đối diện là Đình Phú Hoà, số 159 TQK nơi các đoàn hát bộ và cải lương thường đến tập và diễn tuồng. Nằm trên đường Bà Lê Chân phía bên trái có một hẻm nhỏ với ông Sáu Hộ chuyên bó bột trị trật xương, gãy xương, tay chân, tiệm Kim Thạch bán văn phòng phẩm, dụng cụ hoc sinh, 9 Tan Dinh 5nhà in Bùi Văn Tạ, bảo sanh viện Hà Đông Hà. Trước mặt có con đường mang tên Mã Lộ. Con đường này chạy song song phía sau chợ Tân Định. Đi thêm khoảng mười mét là đường Hai Bà Trưng. Nằm ngay góc Bà Lê Chân và HBT là Y Viện Tân Định. Sát bên là chợ Tân Định, hoạt động hầu như suốt ngày..

Từ Đình Phú Hoà nhìn sang bên kia là đường Trần Nhật Duật. Xe chè Huỳnh Thị Ngà nổi tiếng nằm ngay góc ngã tư đường. Đường này chạy dài tới khu nông cơ cũ. Cuối cùng chấm dứt bằng một đoạn sông nhỏ chảy ngang qua. Học sinh trốn học thường đến đây tắm sông, hái trứng cá và mướn ghe chèo ra đến Long Vân Tự, Gia Định..

Trên đường Trần Nhật Duật có bốn con đường nhỏ đi ngang qua. Thứ tự như sau: Đặng Dung, Đặng Tất, Trần Quí Khoách và Trần Khánh Dư. Riêng hai đường Đặng Dung và Trần Khánh Dư thì chạy dài được đến đường Trần Khắc Chân, còn gọi là xóm Cầu Mới, đi ra được đường Chi Lăng, Gia Định. Trên đường Trần Nhật Duật có tiệm chụp hình Nguyễn Kỳ nổi tiếng một thời trong giớí học sinh, họ thường đến đây chụp hình kỷ niệm, chân dung để dán trong lưu bút. Chủ nhân tiệm biết cách tô điểm, thêm thắt làm cho hình đẹp và giá trị hơn..

Nhà số 10 là trường Huỳnh Thị Ngà do Bà Huỳnh Thị Ngà là chủ, kiêm Hiệu Trưởng. Bà là một phụ nữ giỏi, đảm lược. Thời nào Bà cũng giao thiệp rộng trong các giới chức chính quyền và các Phong Trào Phụ Nữ. Bà biết chèo chống, điều hành và giữ vững ngôi trường Huỳnh Thị Ngà, mà chung quanh có nhiều trường trung học tư thục khác như: Văn Lang, Việt Nam Học Đường, Văn Hiến, Huỳnh Khương Ninh, Vương Gia Cần, Tân Thạnh, Les Lauriers. Các Hiệu Trưởng đều là nam giới thường ra sức cạnh tranh với trường bà. Trường HTN còn có nữ sinh Nội Trú. Trường lúc nào cũng đông học sinh, thi cử luôn luôn đạt thành tích tốt, thường tham gia các chương trình văn nghệ và công tác phục vụ cộng đồng. Trường hoạt động cho đến ngày 30/4/1975. Tính ra tồn tại trên hai mươi năm. Bà HTN mất cuối năm 1992 tại tiễu bang Virginia, Hoa Kỳ..

Đối diện trưòng Huỳnh Thị Ngà, góc đường Đặng Dung là nhà gíáo sư khiêu vũ Nguyễn Trọng ở trên lầu một, phía trưóc có cây me to. 9 Tan Dinh 2Học sinh các trường chung quanh thường leo lên hái, Những trái me được túm gọn lại trong áo sơ mi. Khi vừa trèo xuống, thỉnh thoảng bị các anh hùng xóm chợ Tân Định tịch thu hết chiến lợi phẩm. Lúc đó chỉ biết mếu máo, xin lại vài trái ăn cho đỡ ghiền. Cách đó vài căn là nhà Giáo Sư Pháp Văn Huỳnh Văn Mĩ. Thầy Mĩ nổi tiếng về dạy Pháp Văn, nhất là cách phân tích các mệnh đề. Thầy cũng là một trong những Võ Sư sáng lập môn phái Hàn Bái Đường. Không nghe nhắc về vợ thầy, chỉ thấy thầy đi chợ môt mình, hai tay xách cái gà mên. Thầy có con trai tên H. đẹp trai, giỏi võ và tốt nghiệp Bác Sĩ Quân Y. Thầy Mĩ mất ở Nam Cali năm 2004, hưởng thọ 93 tuổi. Học sinh trường Huỳnh Thị Ngà rất nể sợ thầy. Trong giờ thầy dạy không em nào dám hó hé vì thầy Mĩ rất nghiêm và khó. Em nào vô kỷ luật thầy sẵn sàng có biện pháp thích đáng ngay lập tức. Bà Huỳnh Thị Ngà là học trò hồi nhỏ của Thầy. Bây giờ trở ngược ra đường Trần Quang Khải đi về phía Đa Kao. Trước khi đến một ngã năm. Phía bên phải là phòng nha khoa của một đôi vợ chồng. Vợ là Nha Sĩ tên Hạnh. Dáng người mảnh mai, trang nhã. Chồng là Không Quân Thiếu Tá Nha Sĩ Dương Quảng Định (phục vụ tại Trung Tâm Giám Định Y Khoa Không Quân.) Hai vợ chồng rất đẹp đôi. Đi thêm khoảng ba mươi thước gặp một Depot rác nhỏ. Đối diện là chỗ cho thuê sách, tiểu thuyết và truyện kiếm hiệp Đức Hưng, kế bên là tiệm hàn gió đá Sáu An, tiệm hớt tóc Hải Vân. Cách đó vài căn là nơi chuyên sản xuất xích lô đạp và xe ba bánh có tên Ngọc Quế..

Khi đến ngã năm, bên tay trái là đường Trần Khắc Chân, nhìn về phia tay phải là đường Nguyễn Phi Khanh và Trần Văn Thạch (nay là Nguyễn Hữu Cầu.) Có nhà may Tụ Bảo, tiệm buôn Thế Giới, nhà Bác Sĩ Trần Văn Văn, Cinéma Modern, nhà sách Yểm Yểm Thư Quán. Đối diện là xóm Cảnh Sát, vì đa số những gia đình ở đây đều phục vụ trong ngành Cảnh Sát và nhà Quái Kiệt Tùng Lâm. Hẻm này đi ra được đường Đinh Công Tráng. Căn nhà nằm ngay góc NPK và TVT của ông Bùi Ngọc Phương. Ông tự phong cho mình là vua dầu hoả Việt Nam và dự định ứng cử Tổng Thống VNCH. Nếu đi ngược chiều trên đường Nguyễn Phi Khanh, ngã ba đầu tiên là đường Huyền Quang. Sơn Trà Đình – Tín Nghĩa Hội, số 113A Nguyễn Phi Khanh nằm ngay góc. Mỗi năm vào dịp Lễ Vu Lan có trình diễn Hát Bô. Khán giả đi xem thường ném các quạt giấy có kẹp tiền lên sân khấu, để tưởng thưởng khi đến đoạn nào gây cấn, hấp dẫn. Lúc đó chiên trống gõ liên hồi.9 Tr Dinh Phuoc 2 Đường Huyền Quang mang tên một vị Sư. Con đường dài khoảng hai mươi thước, đi hết đường Huyền Quang gặp đường Lý Trần Quán, quẹo trái là Chả Cá Lã Vọng. Cuối đường sẽ gặp Hiền Vương..

Ngã ba kế tiếp của đường Nguyễn Phi Khanh là Lý Văn Phức, có một Depot rác rất lớn. Các công nhân vệ sinh đưa rác về đây tập trung, trước khi các xe lớn đến chở đi tái chế và phế thải. Cuối đường là quán cà phê bà Chi, mà các bài viết về cà phê Sài Gòn cũ luôn luôn phải nhắc đến. Quẹo trái gặp rạp hát Casino Đa Kao, tiệm may Cao Minh và tiệm thạch chè Hiển Khánh. Đối diên bên đường là nhà hàng Pháp tên Casino, tiệm bán quân trang, huy hiệu Quế Anh. Nếu quẹo phải sẽ gặp tiêm hớt tóc Đơ, rồi đến Đền Thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, số 36 Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu), có bà thầy bói mù chuyên gieo quẻ bói bằng hai đồng xu..

Đoạn đường Trần Quang Khải từ đây ra đến đường Đinh Tiên Hoàng, tuy không dài lắm, nhưng có rất nhiều cửa hiệu buôn bán. Phía bên phải là Tiệm Thuốc Tây Duyệt, rồi đến bảo sanh viện Chung Nam Quế. Nơi các bà bầu khu Đa Kao và Gia Định thường đến khai hoa nở nhụy. Nhà kế bên của một phụ nữ rất mập. Bà hành nghề coi bói bài. Tiếp theo có hai tiệm bán phụ tùng và sửa xe Honda, rồi cà phê Ngọc Dung, số 77 Trần Quang Khải, của hai chị em tên Ngọc và tên Dung..

Đi thêm một chút nữa sẽ gặp Đình Nam Chơn, số 29 TQK. Trước đình có thờ hình ông Cọp. Bên trái cổng, nằm trong sân đình có cây đa to, rễ đan với nhau chằng chịt. Có lẽ nó đã được trồng đã hơn trăm năm? Thêm vài bước nữa có một Phật Đường nhỏ của người Hoa, phía trước có hai cây Mai Tứ Quý đã già, hoa nở quanh năm. Phật Đường thuộc Giáo Hội Phật Đường Nam Tông có tên là Minh Sư Đạo Quang Nam Phật Đường. Kế bên là tiệm vàng Bảo Thành. Ngoài việc bán vàng bạc, nữ trang, cũng còn nổi tiếng về làm bánh Trung Thu, giò lụa, giò thủ và các loại bánh mứt. Trưóc 1975, bà Bảo Thành là chủ thầu các bãi giữ xe hai bánh lớn nhất Sài Gòn như: Trường Đại học Luât khoa ở đường Duy Tân, Nha Xổ Số Kiến Thiết ở đại lộ Thống Nhất, rạp hát Đại Nam trên đường Trần Hưng Đạo, và dọc theo hai bên đường Lê Lợi. Cách một căn là tiệm ăn Tàu có tên Dân Thiên, với các món mì xào dòn, áp chảo, cơm thố 9 Tan Dinh 3và cơm chiên Dương Châu tuyệt vời..

Tiếp tục phía bên trái. Đầu tiên là chi cuộc cảnh sát Tân Đinh. Kế bên là Đình Nghĩa Hoà được xây dựng vào năm 1917. Bà con thường gọi là Đình Công Thành Ban. Nơi đây chuyên trình diễn hát bộ. Trước đình có thờ một ông Cọp. Hẻm Đình Nghĩa Hoà đi thông ra được đường Trần Khắc Chân. Tiếp theo sẽ đến một dãy phố, có tiệm Ronéo Lửa Hồng quay ronéo, đánh máy và photocopy bài vở, tài liệu cho các học sinh và thầy cô giáo. Tiệm nhộn nhịp nhất vào mùa thi cử. Ngoài ra cũng còn bán những bản nhạc quay ronéo sẵn, giá rất bình dân. Cách đó vài căn là một tiệm bán hòm, tiệm may Của, rồi đến nhà bà con với ông chủ rạp hát Văn Hoa. Nổi tiếng ở đoạn đường này là tiệm cầm đồ bình dân Kim Ngân. Bà chủ lúc nào cũng trang điểm lộng lẫy như các cô đào cải lương Thanh Nga hay Bạch Tuyết sắp lên sân khấu. Chung quanh cũng có nhiều tiệm cầm đồ, nhưng Kim Ngân thường đông khách hơn vì tiệm cầm mọi mặt hàng, cho chuộc với phân lời tương đối thấp và thủ tục không phức tạp so các nơi khác…

Đi thêm khoảng hai mươi mét nữa là một con hẻm lớn, có thể nói là nổi tiếng nhất vùng Tân Định – Đa Kao. Đó là hẻm Vạn Chài. Đây là địa điểm quy tụ anh hùng hào kiệt tứ xứ về hùng cứ. Mỗi lần chính quyền mở các cuộc hành quân cảnh sát để bắt thanh niên trốn quân dịch hay cư trú bất hợp pháp thì xe cộ, súng ống rầm rộ, ca nô, thuyền nhỏ chạy dài dọc theo sông cầu Bông, đèn pin chiếu pha sáng cả một vùng. Cuối cùng, kết quả chẳng đưọc gì hết! Vì thanh niên trốn quân dịch đã nhảy xuống sông, lặn qua bên phía Gia định, hoặc trốn trong các con hẻm sâu, tối tăm, quanh co khó đi vào. Lực lượng kiểm soát đành bó tay và chào thua! Đặc biệt, trong hẻm có một trường trung tiểu học tư thục mang tên Văn Hiến do thầy Phan Ngô làm hiệu trưởng. 9 Tan Dinh 4Thầy cũng từng ra ứng cử và đắc cử nghị viên thành phố Sài Gòn..

Ra khỏi hẻm, quẹo trái là gặp ngay rạp hát Văn Hoa. Rạp này đã từng một thời là một trong những rạp hát sang trọng của Saigon vì có trang bị máy lạnh, màn ảnh rộng và giá vé vào cửa cũng tương đối bình dân. Rạp Văn Hoa chiếu đủ các loại phim. Những lúc chiếu phim mới và hấp dẫn, bà con sắp hàng rồng rắn, kéo dài tới tận trước ngỏ xóm Vạn Chài. Khán giả nào không muốn sắp hàng, không muốn chen lấn đổ mồ hôi, để bị rách quần, rách áo hoặc bị rạch bóp, thì có thể mua vé chợ đen, đôi khi phải trả gấp đôi. Cũng nên nói thêm ở đây. Kế bên rạp hát là một quán cà phê cũng mang tên Văn Hoa, đã đi vào lịch sử của cà phê Sài Gòn. Quán có dàn âm thanh tối tân, nhạc ngoại quốc hấp dẫn luôn luôn cập nhật, chỗ ngồi thanh lịch, vị trí thuận lợi và do hai chị em ruột là bà con với ông bà chủ rạp Văn Hoa đứng bán..

Cô chị có tên TBD và cô em có tên TBH. Hai chị em đều là nữ sinh trường trung học Huỳnh Thị Ngà. Lúc nào đi học, cả hai cô đều mặc đồ đầm rất xinh xắn. Trông giống búp bê không tình yêu. Nghe đâu cũng có khối anh đến uống cà phê thường xuyên mỗi ngày, trong số đó có anh là ca sĩ một ban kích động nhạc nổi tiếng về bài hát Sunday Morning. Ngày nào anh ta cũng đến quán ngồi đồng, vừa thuởng thức cà phê, vừa trồng cây si cô em TBH. Nhưng chẳng đi đến đâu! 9 Tan Dinh 6Gia đình Cô TBD hiện ở Montréal, còn gia dình cô TBH từ Montréal chuyển về Pleasanton, California..

Đoạn đường còn lại, phải nhắc đến một quán cơm Xã Hội, chuyên phục vụ cho giới lao động, công tư chức với đồng lương thấp và học sinh, sinh viên nghèo. Giá rất bình dân, chỉ năm đồng. Thực đơn gồm ba món thay đổi thường xuyên. Cơm ăn thoải mái, ăn cho đến khi nào no bụng thì thôi! Ngoài ra, còn đưọc tặng thêm một trái chuối tráng miệng và ly trà thơm, nóng bốc khói. Sau đó phải kể thêm hai tiệm bán xi măng, gạch, cát và đá rất lâu đời là Tấn Phát và Tâm Long, tên của vợ và chồng được ghép lại. Tiệm bán vật liệu xây dựng Tâm Long số 8 TQK và tiệm vàng Bảo Thành số 9 TQK. Hai tiệm nằm đối diện nhau. Hai bên gia đình coi nhau rất thân tình và đều đông con. Lúc nào cũng có ý muốn làm thông gia với nhau. Nhưng rất tiếc các dâu và rể của cả hai nhà đều là những người ở nơi khác. “Đúng là duyên số sắp đặt.” Dù có muốn thế nào, cũng không được!.

Một chút nữa thì bỏ sót tiệm may áo dài tương đối nổi tiếng là Phương Luân, hiệu ảnh Ngọc Chương, cà phê Cây Trúc nằm ở kế bên. Đi hết đường Trần Quang Khải sẽ gặp đường Đinh Tiên Hoàng. Quẹo trái đi ra cầu Bông, sẽ găp một quán bán thịt gà vịt và heo quay rất đông khách. Cạnh đó là một tiệm chuyên sửa xe Vespa và Lambretta. Nhìn sang bên kia đường là tiệm giầy Đông Hưng và nhà may áo dài Thanh Châu. Tiệm mang tên người con gái lớn nhất. Nhà may Thanh Châu khá nổi tiếng, chuyên may áo dài cho các ca sĩ và áo cưới cô dâu. Hiện nay tiệm may Thanh Châu vẫn còn và có rất nhiều khách đến mỗi ngày. Bên kia đưòng Trần Quang Khải là đường Nguyễn Huy Tự. Phía tay phải có chợ Đa Kao. Trước khi tới chợ Đa Kao, sẽ gặp một gánh chè chỉ bán đậu đen. Bà bán chè, người miền bắc di cư, tướng trông phúc hậu. Bà chỉ bán vào buổi chiều. Chè đậu đen bà nấu, hạt rất dẻo, hương vị ngọt đậm đà. Thú vị nhất là “ngồi chồm hổm” ăn chè nóng dưới cơn mưa lất phất của Sài Gòn, vì không có ghế cho khách…

Một con đường chạy ngang chợ Đa Kao là đường Trương Hán Siêu. Bên trong có đền thờ nhà cách mạng Tây Hồ Phan Chu Trinh và quán bánh cuốn tráng hơi mang tên Tây Hồ. Bà chủ bánh cuốn tên là bà Cà. Bà khởi nghiệp năm 1960, bằng một cái quán xập xệ, một ít bàn ghế thấp lè tè và mấy tấm bạt cũ để che mưa. Nằm trong chợ, phía dãy chợ cá có Đình Hoà Mỹ, số 7 THS..

Đối diện chợ Đa Kao là Tín Nghĩa Ngân Hàng. Khi chiều đến, ngân hàng đóng cửa thì xuất hiện một gánh cháo lòng,9 Tan Dinh 7 mà bà chủ rất khó tánh. Bà luôn luôn ưu tiên bán trước cho nam gìới, còn nữ gìới thì bà thường bắt phải đợi. Nếu thắc mắc, khiếu nại thì bà im lặng, không trả lời. Có nghĩa là bà không muốn bán. Các nữ thực khách đành phải đi nơi khác..

Đường Nguyễn Huy Tự rất ngắn, khoảng chừng ba mươi thước. Chấm dứt khi đụng đường Nguyễn Văn Giai. Chạy thẳng là đường Phạm Đăng Hưng (nay là Mai Thị Lựu.) Đi hết đường quẹo trái là Đài Phát Thanh Sàigòn. Trên đường PĐH có Viện Nhu Đạo Quang Trung của Thượng Toạ Thích Tâm Giác. Nguyên Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo. Đối diện với Viện Nhu Đạo Quang Trung là một ngôi chùa lâu đời của người Hoa, mang tên Phước Hải Tự hay còn gọi là Chùa Ngọc Hoàng, số 73. Đặc biệt, trong chùa có nhiều cây cổ thụ lớn tuổi, một cái hồ lớn. Nhà chùa cho thả rất nhiều rùa, có những con sống đã vài chục năm trở lên. Mỗi khi các bó rau được thả xuống hồ cho chúng ăn thì cả hồ náo đông, nước bắn lên tung toé, vì các chú rùa giành ăn tạo nên..

Đường Nguyễn Huy Tự, quẹo trái là đường Bùi Hữu Nghĩa. Có một cây cầu sắt cũ. Đi về phía chợ Bà Chiểu, Gia Định. Nếu quẹo phải sẽ găp đường Nguyễn Văn Giai. Đi hết đường Nguyễn Văn Giai sẽ gặp đường Đinh Tiên Hoàng. Nhìn sang phía bên kia đường là đường Huỳnh Khương Ninh. Bên trái là rạp hát Asam, nay đã xây thành chung cư và tiệm thuốc tây Lịch Cường. Pharmacy mang tên của Dược Sĩ Tống Lịch Cường. Đầu đường Huỳnh Khương Ninh, có xe bánh mì Bảy Quan với bánh mì thịt, dăm bông và ba tê rất độc đáo. Hiện nay đầu đường HKN là hai tiệm bánh cuốn mang tên Tây Hồ do con gái bà Cà chiếm ngự. Trên con đường này có trường trung học Huỳnh Khương Ninh. Đi hết đường Huỳnh Khương Ninh sẽ gặp đường Phan Liêm. Đường chạy dọc theo bên hông Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi..

Trên đường Đinh Tiên Hoàng giữa khoảng đường Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản có đường Tự Đức (nay là Nguyễn Văn Thủ), trường tiểu học Đa Kao, thêm hai nhà hàng Pháp nổi tiếng là Chez Albert và La Cigale. Ngoài ra, cũng phải kể thêm hai quán cà phê đã đi vào gia phả Cà Phê Sài Gòn trước năm 1975. Quán thứ nhất là cà phê Hân mà tất cả mọi thứ đếu làm bằng Inox từ phin, muỗng, tách đựng đường, đựng sữa. Quán thứ hai là cà phê Duyên Anh. Quán mang tên nhà văn Duyên Anh, nhưng hoàn toàn không dính dáng đến nhà văn này. Cô bé ngồi tính tiền tên Q. có nụ cười xinh xinh, đôi mắt tròn, đen láy và tóc dài thắt bím rất dễ thương. Cô làm cho bao nhiêu đấng anh hùng mê mệt. Cô cũng còn là đề tài cho các chàng thi sĩ tài tử đến vừa thưởng thức cà phê, vừa làm thơ sầu mộng. Nhưng chẳng anh nào lọt được vào đôi mắt nai tơ của nàng!.

Khu Đa Kao có thể kể thêm những con đường tên vẫn như cũ : đường Nguyễn Bỉnh Khiêm có Nha Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục, 9 Tan Dinh 8hai trường Trung Học Công Lập Trưng Vương, Võ Trường Toản, hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm và các sở và nha An Ninh Quân Đội. Đưòng Phan Kế Bính có Hội Văn Hoá Bình Dân do ông Huỳnh Văn Lang Tổng Giám Đốc Viện Hối Đoái làm Chủ Tịch. Đường Mạc Đĩnh Chi với Bi Da và nhà hàng Trường Cang, Hội Việt Mỹ và Ty Cảnh sát Quận Nhất. Đường Trần Cao Vân, Phan Tôn, Phan Ngữ, Trần Doãn Khanh, Cây Điệp, Nguyễn Thành Ý. Đường Hoà Mỹ gần ngã tư Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Phi Khanh và Hiền Vương có cây cổ thụ rất to kế bên. Đường này nằm đối diện với tiệm chuyên làm con dấu, làm bảng tên, thêu cờ và bán các huy hiệu Hướng Đạo Việt Nam tên Phúc, số 180 ĐTH. Phải kể thêm một con đường tương đối đẹp và thơ mộng là đường Phùng Khắc Khoan với tư gia Đại Sứ Hoa Kỳ. Con đường trồng toàn những cây me. Khi có gió nhẹ, những lá me rơi rơi rất hữu tình và thơ mộng !..

Cuối cùng trở về khu Tân Định. Xin chỉ ghi ra những con đường không bị đổi tên là: Nguyễn Văn Mai nối hai đầu đường Hai Bà Trưng và đường Huỳnh Tinh Của có trường tiêu học con trai Tân Định, nhà thuốc Đỗ Phong Thuần và xóm Hầm Sỏi danh tiếng trong vùng. Một con đường nữa là Đinh Công Tráng, với món bánh xèo vang danh, trường (Tân Thịnh, Les Lauries, Văn Minh) và tiệm chụp hình Duy Hy, số 76 ĐCT. Tiệm chuyên chụp hình cho học sinh các trường tiểu học công lập để làm kỷ yếu mỗi năm. Ngay góc Hai Bà Trưng và Đinh Công Tráng là tiệm thuốc Kính Tiên, số 274 HBT. Nếu quẹo phải có Luyến Photo và lò dạy nhạc của ba nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng. Được ghép lại là Lê Minh Bằng. Nhạc sĩ Lê Dinh hiện ở Canada, nhạc sĩ Anh Bằng đang ở Hoa Kỳ, còn nhạc sĩ Minh Kỳ đã mất tại Suối Máu – Biên Hoà. Nếu quẹo trái thì gặp tiệm giầy Trinh Shoe, hai tiệm bán hòm Vạn Thọ và Tobia, hẻm Bưu Điện đi ra được đường Hiền Vương. Gần đó có tiệm chuyên làm cửa sắt, máng xối của gia đình hai anh em cua rơ Trần Gia Thu và Trần Gia Châu. Đối diện bên kia đường là cà phê Thu Hương cũng có tiếng tăm ở Sàigòn, nhà thờ Tân Định, số 289 HBT và trường Thiên Phước, số 295 HBT. Phía sau nhà thờ Tân Định có một cổng sắt thường đóng lại, chỉ để hở đủ cho một người len qua. NT Tan DinhKhi nào có lễ ở nhà thờ thì lúc đó cửa mới được mở lớn ra. Đi qua cổng này sẽ gặp trường La San Đức Minh, cũng như đường Hiền Vương, đường Pasteur và đường Huỳnh Tịnh Của.

Ngoài ra, cũng xin kể thêm đường Pasteur. Con đường đi ra được Huỳnh Tịnh Của, Hai Bà Trưng, Hiền Vương. Nơi đây có nhiều tiệm phở, quán cà phê Hồng của hai chị em, nhà may áo dài Thiết Lập và viện Pasteur, chiềm một chu vi rất rộng, có bốn con đường bao quanh, với những cây cổ thụ to đến nỗi năm, sáu người ôm vẫn không xuể..

Ngay ngã ba Nguyễn Đinh Chiểu (nay là Trần Quốc Thảo) và Pasteur, có một cái mả đá rất lớn được xây bằng đá ong đã bị giải toả. Nằm cuối bên kia đường là một trong những trường dạy Anh Văn đâu tiên của Sàigòn tên Khải Minh. Quẹo trái ra đường Công Lý, có hãng xe đò tên Cosara của ông Phạm Hoè. Quẹo phải ra chợ Tân Định và Y Viện Tân Định. đi ngang xóm đạo Pasteur. Nếu nhìn sang sẽ thấy cây Phượng Vĩ bốn người ôm không hết. Cây cho hoa Phượng màu đỏ nở rực vào mùa hè và những người thợ hớt tóc bình dân đang hành nghề cho bà con lao động, dưới bóng mát của tàn cây Phượng Vĩ..

Kế tiếp là Sài Gòn Ấn Quán, tiệm Phở Hoà Bình, nhà may Hồng Duyệt. Giữa tiệm phở và nhà may là môt con hẻm nhỏ số 29, có nhà của Hoạ Sĩ Đinh Cường ở đầu ngõ, đi sâu vào trong một chút là nhà của nữ Văn Sĩ Thụy Vi, rồi đến tiệm thuốc Bắc tên Đại Cồ Việt rất nhiều con. Trong số đó có một cô tên Mẫn, sinh viên Đại Học Văn Khoa. Cô có nước da trắng, dáng cao, nét hơi lai. Một thời cô Mẫn nổi tiếng về xem bói bài, được nhiều người nể phục. Khách đến xem rất đông, phải lấy số thứ tự để chờ đến phiên mình được xem bói. Nhìn đối diện là trường Nữ Tiểu Học Đồ Chiểu..

Để kết thúc bài viết xin được ghi ra một điều kỳ diệu, huyền bí không thể giải thích được : “Tân Định và Đa Kao có lẽ là vùng đất an lành nhất của Sàigòn, Chợ Lớn và Gia đình.” Được ơn Trên, Trời Đất, Ông Bà che chở và phù hộ, cho nên lúc nào bà con cũng sống trong bình yên. Mọi sinh hoạt gần như hai mươi bốn giờ. Cho dù trong lúc chiến tranh, thiên tai, loạn lạc hay bất cứ biến cố gì xảy ra cũng không ảnh hưởng đến địa danh này!.

Xin phép được dừng ở đây. Hy vọng các bạn đã tìm lại được một chút hương xưa của ngày tháng cũ năm nào! Một lần nữa Tân Định và Đa Kao mãi mãi trong tiềm thức của chúng ta.. (theo Trần Đình Phước)

Lan Hương chuyển tiếp

GIAI THOẠI NHỮNG “MỸ NHÂN” SÀI GÒN

QUÁN GÀ ÁC TIỀM THUỐC BẮC

GỐC TÀU BA ĐỜI Ở SÀI GÒN

Quán ăn có truyền thống cha truyền con nối gần 40 năm nổi tiếng với món gà ác hầm thuốc bắc, giá 50.000 đồng một phần.

H1: Nép mình trên một con đường không mấy sầm uất Phan Xích Long, quận 11, quán ăn gốc Hoa này do ông bà nội của anh Dương Thông Thành mở cách đây mấy chục năm. Anh Thành (38 tuổi), chủ quán hiện tại cho biết, những năm 89 – 90 là lúc ông bà của anh dời quán về vị trí hiện tại. “Còn trước đó ông bà tôi chỉ buôn bán bằng gánh ở vỉa hè. Một sự trùng hợp là ông và chú tôi, hai đời chủ trước đều tên Thành”, anh nói.

H2: Quán nổi tiếng với món gà ác hầm thuốc bắc. Anh Thành cho hay, gà được chọn là những con non, lớn hơn nắm tay một chút, tiềm cùng các vị thuốc bắc trong khoảng 1,5 đến 2 tiếng trong nồi to rồi mang ra xếp trong thố đợi phục vụ cho khách.

Các công đoạn được thực hiện từ khuya. Gà phải làm sạch bằng rượu gừng rồi tẩm ướp các gia vị và không thể thiếu một ít mật ong chúa. Thuốc bắc thì ngâm cho nở trong nước ấm rồi rửa sạch, để ráo.

H3: Để đảm bảo vị chuẩn của món ăn, sau khi tiềm lần đầu, đầu bếp sẽ chia nước thuốc bắc và gà vào hai nổi riêng để tiềm một lần nữa. “Gà chín vừa tới thì vớt ra thố nhỏ. Khi có khách gọi món, những thố đất này sẽ được hấp lại cho nóng”, anh Thành nói.

H4: Cả gian bếp chỉ khoảng 20 mét vuông nhưng có đến 5, 6 cái bếp để nhanh chóng phục vụ khách. Anh Thành kể: “Gian bếp đã vài lần thay đổi vị trí đồ vật, gia cố thêm dụng cụ nhưng đã gắn bó với gia đình suốt gần 40 năm nay”.

H5: Phần bếp chế biến các món như mì, cơm được đặt gọn ở một gian bếp khác, phía trước quán. Khách vào có thể thấy một số công đoạn chế biến. H6: Một nhân viên gắp thố gà tiềm sau khi đã hâm nóng.

H7: Một phần gà ác hầm thuốc bắc có giá 50.000 đồng. Bên trong thố là một con gà, vài miếng thuốc bắc cùng nước dùng. Nếu không quen với mùi vị của thuốc bắc, bạn sẽ gặp khó khăn khi thưởng thức món ăn. Món gà ác tiềm thường ăn kèm với cơm trắng.

H8: Quán sử dụng 8 loại thuốc bắc để tiềm gà. Một số vị quen thuộc như: bạch quả, táo đỏ, nhãn nhục, đẳng sâm… Anh Dương Hải Thành (34 tuổi) là em trai của anh Thông Thành nói thêm, muốn các vị thuốc bắc không bị đắng, dễ ăn thì lúc tiềm phải canh lửa thật “chuẩn”. “Lửa mà liu riu lâu thì các vị thuốc bắc sẽ bị đắng. Còn nếu để quá lớn sẽ khiến nước tiềm bị chua”.

H9: Một thực khách quen của quán kể: “Tôi ăn ở quán đã gần 20 năm, từ lúc còn đời chủ thứ hai. Tuy bàn ghế nhiều lần thay đổi, hương vị món khó mà nhận ra được sự khác biệt. Vẫn là cái mùi thơm của các vị thuốc bắc, miếng gà rất mềm mà không bị nát, nước dùng đậm đà”.

H10: Nếu đã chán món gà ác tiềm thuốc bắc, bạn có thể đổi qua gà ác vi cá giá 230.000 đồng một suất hoặc canh vi cá giá 280.000 đồng.

H11: Bím bò tiềm cũng là món được nhiều thực khách ưa thích, đặc biệt là các đấng mày râu. H12: Mống dê hầm cũng hút khách không kém.

Thực đơn của quán có gần trăm món ăn, từ cơm chiên Dương Châu, cơm chiên cá mặn cho đến hủ tiếu, mì xào giòn, mì vịt tiềm… Giá trung bình mỗi món ăn khoảng 50.000 đồng. Quán mở cửa từ 11h đến nửa đêm.(theo bài và ảnh Di Vỹ)

9 My nhan 1GIAI THOẠI LY KỲ

VỀ NHỮNG “MỸ NHÂN” SÀI GÒN

Trước 1975, những nhan sắc lẫy lừng thường mang theo tai họa hoặc ít nhiều… mắc đọa !

1/- Một nhân vật mà những người từng sống ở miền Nam qua thời cái gọi là đệ I và đệ II Cộng hòa trước 1975 đều biết hoặc nghe nhắc tới – vũ nữ Cẩm Nhung, mỹ nữ số một Sài Gòn. Là một gái nhảy chuyên nghiệp, cô đã làm rất nhiều công tử hào hoa đất Sài Gòn phải chết mê chết mệt. Cuối cùng cô cặp hẳn với trung tá Thức Công Binh. Vào thời Diệm-Nhu, cấp bậc trung tá không nhiều. Sống với nhau theo kiểu già nhân ngãi non vợ chồng được một thời gian, sau khi đã cắt đi hầu hết những quan hệ tình ái phức tạp khác, Cẩm Nhung nghĩ rằng mình có thể trở thành trung tá phu nhân…

Mọi việc đến tai bà Năm Ra đô, (“hỗn danh” vùng nhà lô Cô Bắc dành cho chính thất của trung tá Thức. Một kế hoạch tiêu diệt tình địch được tiến hành. Hai tên giang hồ có cỡ được thuê với giá 2 lượng vàng. Một ca acid đậm đặc được tạt thẳng vào gương mặt Cẩm Nhung. Có lẽ đây là vụ tạt acid đầu tiên của Việt Nam. Lãnh trọn ca acid, Cẩm Nhung gục ngay tại chỗ. Từ một mỹ nữ bậc nhất Sài Thành, Cẩm Nhung mang trên mình khuôn mặt của quỷ dữ. Những người đàn ông từng vây quanh cô giờ đây xa lánh, bỏ mặc cô. Cuộc đời Cẩm Nhung xuống dốc không phanh vì ngập ngụa trong thuốc phiện và rượu rồi 9 My nhan 2kết thúc khi cô tiêu tán hết tài sản và phải đi ăn xin sống cho qua ngày.

2/- Một nhân vật khác là bà Hà. Vợ của một trung tá không quân giải ngũ do sức khỏe, bà tìm đến bạn bè của chồng để “giao dịch làm ăn”. Bà đẹp đến độ trong tất cả mệnh phụ phu nhân và cả nhân tình nhân ngãi của giới tướng tá Sài Gòn khi ấy không ai sánh nổi. Vốn là tiểu thư gốc Hà Nội ăn nói duyên dáng thanh lịch cộng thêm nhan sắc đẹp não nùng, chỉ trong thời gian ngắn, chẳng ai không biết đến bà và cũng chẳng ai nhớ đến ông chồng hom hem của bà đang nằm nhà đợi ngày quy tiên.

Những cuộc chiêu đãi của đệ nhất phu nhân Kim Anh – vợ Nguyễn Văn Thiệu và bà đại tướng Trần Thiện Khiêm, lúc nào cũng thấy bà bên cạnh những nhân vật chóp bu của quân đội Sài Gòn. Sau khi trở thành Phó Chủ tịch Hội Bảo trợ gia đình binh sĩ và là “nhân tình nhân bánh” của hơn hai chục tướng lãnh, bà Hà bắt đầu “làm ăn”. Chiêu thức rủ hùn hạp thầu rác Mỹ xem ra hiệu nghiệm. Một ngày nọ, mỹ nhân biến mất không tăm tích sau khi thu hoạch khoảng gần 200 triệu đồng (khi ấy 32.000 đồng/lượng vàng) và một số quý kim, hột xoàn của các bậc mệnh phụ phu nhân đương thời. Điều lạ lùng là ngay cả mạng lưới tình báo của cảnh sát đặc biệt và phủ đặc ủy trung ương tình báo của chế độ cũ cũng bó tay không tìm ra mỹ nhân lừa đảo !

3/- Một mỹ nhân khác nổi danh hơn không phải vì lừa đảo mà vì một mối tình bí mật với “Tông Tông”. Ca sĩ K.L. theo học lò nhạc sĩ Nguyễn Đức từ năm 8-9 tuổi. Lớn lên theo lò Bảo Thu – Duy khánh mới trở thành ca sĩ có danh phận.

9 My nhan 3Cô bắt đầu sự nghiệp ca hát năm 1966 và nhanh chóng được chú ý bởi vẻ đẹp khá Tây. Vẻ đẹp ấy luôn sáng rực khi bước lên sân khấu.

Trong một lần giúp vui cho biệt động quân ở trại Đào Bá Phước theo lời mời của trung tá N., trưởng phòng 3, ca sĩ K.L. hội ngộ với Tông Tông đang đến dự buổi lễ của binh chủng. Cùng với Hùng Cường, cũng là quân nhân biệt phái của binh chủng biệt động quân, ca sĩ K.L. tỏa sáng bởi nhan sắc hơn là giọng ca và lọt vào mắt xanh của vị Tông Tông này.

Sau đó bằng một kênh bí mật, ngài Tông Tông chỉ thị cho tướng Q. và trung tá N. đứng ra mai mối. K.L. trở thành vợ bé của ngài Tông Tông một cách bí mật được khoảng gần một năm. Thời gian này tội nghiệp một cô đào cải lương vì mang trùng tên nên bị… phải đổi nghệ danh khác.

Vợ ngài Tông Tông phát hiện và dọa sẽ cho người “thịt” tình địch, ngài Tông Tông hoảng sợ và bèn sắp xếp cho K.L. sang định cư ở Tây Đức. Sự nghiệp của cô ca sĩ người đẹp này chấm dứt vào năm 1969 !

4/- Một mỹ nhân khác đã từng là người yêu của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh : Ca sĩ Minh Hiếu cũng nổi danh vì vừa có tài lẫn nhan sắc mặn mà hiếm có. Khi bước vào sự nghiệp ca hát, Minh Hiếu và ca nhạc sĩ Nhật Trường, tức Trần Thiện Thanh đã “phải lòng nhau”.

9 My nhan 4Một dịp lên Tây Nguyên ca hát phục vụ binh sĩ, Minh Hiếu lọt vào tầm ngắm của Trung tướng Vĩnh Lộc. Cũng cần nói thêm, khi về nắm chức tư lệnh quân đoàn 2, tướng Vĩnh Lộc được nhiều người xem như vua. Khác hẳn những vị tiền nhiệm, vốn xuất thân từ dòng hoàng phái, ngang hàng với Bảo Đại nên Vĩnh Lộc uy quyền tuyệt đối.

Sau một thời gian ‘cưa cẩm’, người đẹp xiêu lòng và trở thành trung tướng phu nhân. Nhiều người cho rằng, cũng vì chuyện này mà Trần Thiện Thanh gởi gắm vào bài “Hoa trinh nữ” với dòng tự sự : “Tôi không phải là vua, nên mộng ước thật bình thường…”.

Lúc bấy giờ tướng Vĩnh Lộc đang giữ chức tư lệnh vùng 2 chiến thuật và trung tá Hai Trề đang làm Tỉnh trưởng Phú Yên (từ 1965- 1967). Một hôm trung tá tỉnh trưởng Hai Trề được lệnh ông tướng vùng phải đem xe ra sân bay đón nàng ca sĩ Minh Hiếu về tư dinh tỉnh trưởng. 9 My nhan 5Nàng ca sĩ này từ Sài Gòn ra. Tỉnh trưởng Hai Trề được lệnh thượng cấp, buộc phải thi hành. Nhưng thay vì đem nàng về tư dinh tỉnh trưởng, để nàng tắm rửa sạch sẽ, nghỉ ngơi lấy sức cho thoải mái, xức dầu thơm “Intimate”, hầu tiếp đón “Anh cả Trường Sơn” cho đúng điệu cải lương, thì Hai Trề lại nổi máu lính “xăng đá”, vứt nàng ca sĩ này ra ngoài khách sạn, ở đường Lê Thánh Tôn, thị xã Tuy Hòa.

Về sau ca sĩ Minh Hiếu, người con gái có khá nhiều giai thoại tình trường, đã khiến Vĩnh Lộc bỏ vợ, và nghiễm nhiên nàng trở thành phu nhân trung tướng Vĩnh Lộc. Vì lý do Hai Trề không chịu đem Minh Hiếu về tư dinh tỉnh trưởng để “Anh cả Trường Sơn” giựt le với người đẹp, nên tướng Vĩnh Lộc sanh tâm thù ghét Hai Trề, kiếm cớ tống khứ Hai Trề ra khỏi lãnh thổ quân khu 2.

Ngước mắt trông lên, bụi phấn hoàng hôn !

Trong mờ nhạt, chứa lẽ gì sâu thẳm ?!

 

HÉ LỘ TÁC GIẢ BÀI THƠ

‘KHÔNG ĐI KHÔNG BIẾT ĐỒ SƠN’

Nhiều người tưởng bài thơ trên là thơ… dân gian, khuyết danh. Kỳ thực, tác giả của bài thơ nổi tiếng này là nhạc sĩ, nhà giáo Hà Giang. Bài thơ “Không đi không biết Đồ Sơn” chỉ có bốn câu lục bát :

“Không đi, không biết Đồ Sơn,

Đi thì mới thấy không hơn… đồ nhà!

Đồ nhà tuy có hơi già,

Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”.

Bài thơ nôm na mà ý nhị ấy ra đời đến nay đã hai mươi mấy năm. Đây là bài thơ hay, được rất nhiều người ưa thích. Hay, vì nó độc đáo, dí dỏm, lại nồng ấm nghĩa tình ?

Hà Giang tên thật là Phạm Tiến Giang, quê thôn Đẩu Sơn, xã Bắc Hà thị xã Kiến An tỉnh Kiến An (cũ); hiện nay gia đình ở phường Phù Liễn, quận Kiến An, TP. Hải Phòng.

Anh là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, hội viên Hội Văn học – nghệ thuật Hải Phòng từ những năm 70 của thế kỷ trước, là giáo viên âm nhạc Trường Sư phạm 10 + 3 Hải Phòng, tiền thân của Trường Đại học Hải Phòng (công lập) ngày nay – nơi tôi giảng dạy suốt 32 năm.

Khoá Sư phạm 1972 – 1975, tôi là giáo viên chủ nhiệm lớp C. Văn – Sử, Ban Giám hiệu nhà trường phân công anh Hà Giang làm phó chủ nhiệm lớp của tôi. Anh hơn tôi đến chục tuổi. Anh dạy nhạc rất hay, lúc nào cũng nồng nhiệt, cuốn hút, ca hát rất say sưa, lại sáng tác được nhiều bài hát cho quê hương và cho nhà trường, được mọi người yêu thích.

Trong khi anh bị nhiều căn bệnh hiểm nghèo như áp xe gan, áp xe thành bụng, phải đại phẫu tới 7- 8 lần mà vẫn sống lạc quan; và trong điều kiện gia cảnh anh rất nghèo, vợ làm nông nghiệp, anh chị lại đông con.

Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng vào khoảng cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, khi anh đã “về hưu non” vì lý do sức khỏe, một lần Hà Giang gặp tôi, anh cười giòn tan và bảo : “Tớ mới làm bài thơ như thế này, cậu nghe có được không nhé”. Rồi anh vừa cười như nắc nẻ, vừa đọc rất hồn nhiên : “Không đi, không biết Đồ Sơn,/ Đi thì mới thấy không hơn đồ nhà/ Đồ nhà tuy có hơi già/ Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn” ! Nghe anh đọc xong, tôi cũng cười rũ rượi và ôm chầm lấy anh: “Hay lắm ! Tuyệt vời !”.

Nhưng anh nói thêm : “Tớ hơi lưỡng lự câu cuối : Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn, hay là thay bằng : “Nhưng là đồ thật, không là đồ sơn”. Cậu thấy thế nào”. Tôi nói : “Mỗi câu đều có ý hay riêng. Tùy anh”.

Anh lại cười, bảo : “Thôi cứ để câu cuối “Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”, xem ra nó thật hơn và có vẻ đấu tranh tư tưởng đấy chứ nhỉ”. Từ đấy, trong những câu chuyện vui với bạn bè, Hà Giang lại đọc cho họ nghe bài thơ ấy.

Tôi cũng thuộc loại “tội đồ” truyền miệng bài thơ của anh. Thế rồi bài thơ cứ được truyền từ người này sang người kia và vượt qua lãnh địa Hải Phòng, lan ra các tỉnh và thành phố từ Bắc đến Nam. “Không đi, không biết Đồ Sơn”. Nói thêm, nhà anh Hà Giang chỉ cách Đồ Sơn khoảng 18 km đường nhựa to rộng.

Đồ Sơn là bãi biển của Hải Phòng, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, đẹp nổi tiếng cả nước; có nhiều rừng thông, bãi tắm cuốn hút du khách thập phương; có những biệt thự, khách sạn to đẹp và nhan nhản các nhà hàng, nhà nghỉ, các quán ăn uống, quán cà phê, nhà vườn… Đặc biệt, Đồ Sơn là một khu “ăn chơi” lừng danh, vì có rất nhiều món hải sản quý, mà tôi từng viết : “Ăn một lại muốn ăn hai/ Ăn ba ăn bốn lại đòi ăn năm”.

Nói rộng ra, Đồ Sơn là núi non thơ mộng, là các nhà nghỉ, khách sạn, quán ăn và không thể thiếu các tiếp viên trẻ trung, xinh đẹp, đầy sức quyến rũ, như đã nói ở trên. Còn “đồ nhà”, là cách nói vui chỉ các bà vợ.

Hà Giang đã khuất núi sau một vài năm anh đọc cho tôi nghe bài thơ độc đáo của mình (anh mất năm 1989, khi mới 53 tuổi dương !); nhưng bài thơ thì vẫn còn đó, vẫn tươi mới, hấp dẫn. Anh để lại cho đời một tiếng cười vui sảng khoái và hồn hậu, dí dỏm mà sâu sắc nghĩa tình. (theo Đào Ngọc Đệ)

Khách Giang Hồ (tổng hợp)

 

Non la 4ÁO LỤA HÀ ĐÔNG

Áo Lụa Hà Đông là một bài hát nổi tiếng của Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, được phổ Nhạc từ bài Thơ cũng rất nổi tiếng của

Thi sĩ Nguyên Sa (Trần Bích Lan). Ai trong chúng ta cũng từng một lần hát bài hát trên, nhưng ít người biết xuất xứ bài Thơ từ một cuộc thi Hoa hậu đầu tiên ở Viet Nam. Vào năm 1930, xứ Bắc kỳ tổ chức cuộc thi Hoa hậu ở Hanoi, cho bất cứ ai, làm nghề gì, không kể tuổi tác.. miễn là khi đi thi phải mặc Áo Lụa Hà Đông. Cuối cùng, người được đăng quang trong cuộc thi là người đẹp Lý Lệ Hằng. Cô xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở Thái Bình, vì mưu sinh phải trôi nổi lên Hanoi kiếm sống và làm nghề hát Cô đầu cho các quán rượu.

Sau khi thay đổi cuộc đời, Cô trở nên nổi tiếng và là niềm ước mơ của bao Công tử nhà giàu trong cả nước. Tuy nhiên chẳng ai có thể với tới được người đẹp “chân lấm, 9 Ngo Thuy Mien 2tay bùn” này và chỉ một thời gian sau Lý lệ Hằng trở thành người tình của Quốc Vương Bảo Đại.

Có lẽ cũng như bao chàng trai si mê sắc đẹp khác, dù đã trải qua hơn 20 năm sau, nhà thơ Nguyên Sa vẫn mơ tưởng đến nụ cười, ánh mắt khuynh đảo của Hoa hậu đầu tiên và buộc Ông phải viết bài thơ ca ngợi người đẹp mặc áo lụa ấy.

Mãi đến năm 1969, khi nghe câu chuyện về Hoa hậu “thuần nông” phút chốc trở thành người yêu của ông Vua cuối cùng Việt Nam, chàng trai Ngô Thụy Miên đã viết nên ca khúc nổi tiếng “Áo Lụa Hà Đông” khi mới 21 tuổi, được phổ lời từ bài Thơ của Nguyên Sa như để ngưỡng mộ những cô gái tựa như đóa sen vươn lên từ đầm lầy.

Và đây là nguyên văn bài Thơ: Áo Lụa Hà Đông:

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát / bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng / anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn  / mà mua thu dài lắm ở chung quanh / linh hồn anh vội vã vẽ chân dung / bay vội vã vào trong hồn mở cửa / gặp một bữa, anh đã mừng một bữa gặp hai hôm thành nhị hỹ của tâm hồn / 9 Nguyen Sa 1thơ học trò anh chất lại thành non và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu / em không nói đã nghe từng gia điệu / em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh / anh trông lên bằng đôi mắt chung tình / với tay trắng, em vào thơ diễm tuyệt

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết / trời chợt mưa, chợt nắng, chẳng vì đâu / nhưng sao đi mà không bảo gì nhau / để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại / để anh giận, mắt anh nhìn vụng dại / giận thơ anh đã nói chẳng nên lời  em đi rồi, sám hối chạy trên môi / những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng / em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn / giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông/ anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.

Xin mời thưởng thức một bài hát hay “Áo lụa hà Đông” thơ Nguyên Sa, nhạc Ngô Thụy Miên qua tiếng hát của Duy Trác. Thực hiện video: Vân Nguyễn :

Áo Lụa Hà Đông

Vậy Lụa Hà Đông xuất xứ ra sao mà đã đi vào Thơ Nhạc lãng mạng như thế ?

Cách Hanoi 10km có một làng chuyên nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng có từ ngàn năm trước, là Làng lụa Hà Đông hay Làng lụa Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông. Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình…

Làng Vạn Phúc vốn có tên Vạn Bảo, do kị húy nhà Nguyễn nên đã đổi thành Vạn Phúc. Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1200 năm, có bà A Lã Thị Nương là vợ của Thái Thú Giao Chỉ là Cao Biền, từng sống ở trang Vạn Bảo, đã từng dạy dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa. Bà Lã Thị Nga, vốn người Hàng Châu (nơi có thương hiệu lụa Hàng Châu nổi tiếng), theo chồng chinh chiến khắp nơi rồi ở lại nơi này.8 Lua Ha Dong 1 Thấy dải đất trù phú ven sông Nhuệ xanh trong, bà dạy người dân trồng dâu, nuôi tằm rồi cho những người thợ lành nghề nhất đến dạy ươm tơ, dệt vải. Từ một ấp nhỏ, Vạn Phúc đã phát triển thành làng nghề sôi động, nức tiếng gần xa. Sau khi mất, bà được phong làm Thành hoàng Làng.

Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1932), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp. Trong tổng số 18 thợ thủ công lành nghề Việt Nam được vinh danh trong 2 cuộc triễn lãm trên, thì có 3 người là con của đất tơ tằm Vạn Phúc (trong đó có cụ Nguyễn Chấp Chung, cụ nội nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh hôm nay, người đang làm lụa khá nổi tiếng tại Vạn Phúc). Từ 1958 sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên Thế giới. Đến ngày nay, làng Vạn Phúc có khoảng hơn 1000 khung dệt, trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại. 8 Lua Ha Dong 2Lụa Vạn Phúc có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam và từng được chọn may trang phục cho Triều đình.

Đặc biệt, theo Ca dao truyền miệng, nổi tiếng nhất trong các loại lụa Vạn Phúc có lẽ là lụa Vân – loại lụa mà hoa văn nổi vân trên mặt lụa mượt.

The La, lĩnh Bởi, chồi Phùng

Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn.

Lụa Vân nói riêng và lụa Vạn Phúc nói chung có đặc điểm ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè. Hoa văn trang trí trên vải lụa rất đa dạng như mẫu Song hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý…

Tóm lại, với đặc tính mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, nhẹ nhàng, mềm mại làm nên giá trị vật chất của Lụa thì cái hồn cốt, cái in dấu trong lòng người từ bao năm qua lại nằm ở cái tình mà người Làng lụa gửi gắm đến chúng ta hôm nay : “Tiếng thơ buồn vọng lại…” (theo Nguyễn Tất Tiến)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHUYỆN SÀI GÒN XƯA

NGƯỜI TA THƯƠNG NHỚ GÌ

Ở SÀI GÒN ?

Là người Sài Gòn, người ta thường nhớ gì ở Sài Gòn nhất ? Một khoảng lặng trôi qua. Có lẽ sự hồi tưởng đang trở lại trong đầu những người bạn nay tóc ngả hai màu. Có người nhớ tiếng rao trên đường phố, nhớ tiếng ồn ào trong khu xóm lao động, nhớ cảnh nhộn nhịp Sài Gòn dịp Tết những ngày còn thơ, nhớ những cuộc tình lang thang dưới vòm me xanh lá trên con đường Duy Tân đầy bóng mát, nhớ nhiều thứ lắm… Nỗi nhớ ùa về như cơn gió thoảng rồi qua. Nhưng với tôi những con đường góc phố Sài Gòn vẫn còn đọng lại mãi mãi.

Ðầu tiên tôi nhớ góc bùng binh Quách Thị Trang, nơi lần đầu tuổi nhỏ được ba tôi dẫn đi ngao du thành phố Sài Gòn. Quách Thị Trang là ai, biết để làm gì. Cái chợ Bến Thành treo đầy biển quảng cáo hình kem đánh răng anh Bảy Chà Hynos và Perlon kín chợ chẳng có gì đẹp. Chợ cũng chẳng làm tôi nhớ, bởi đi chơi Sài Gòn nhưng ba tôi chẳng ghé vào ăn. Ði chơi khơi khơi, mỏi chân ngồi nghỉ trên băng ghế xi măng giữa công viên thưa thớt cây xanh và chung quanh trang trí vài bồn hoa sặc sỡ.

Ngồi đây nhìn ngắm phố phường Sài Gòn bốn phương tám hướng. Nhìn dòng xe xuôi ngược, những dòng người tay xách nách mang hành lý băng qua cầu thang sắt ngang đường đến ga xe lửa về quê, những người buôn thúng bán bưng ngồi chật phía ngoài cửa chợ cất cao tiếng rao mời khách, những đứa trẻ đành giày, bán báo dạo lăng xăng đánh bóng mấy đôi giày “botte de sault” của mấy anh lính Mỹ.

Tôi may mắn hơn mấy đứa trẻ cùng trang lứa đó. Và tôi cố tìm trong những đứa đánh giày xách thùng đi trong công viên trước chợ một hình dáng thân quen. Tự nhiên lúc đó tôi nhớ thằng Hên người bạn nhỏ nhà xóm bên mới học lớp ba đành bỏ học đi bụi đời. Chừng tuổi ấy ra đời có thể làm gì kiếm sống ?

Hoàn cảnh gia đình nó không đến nỗi tan hoang khi tự dưng ba nó bỏ nhà theo vợ bé, má nó cũng không vừa bỏ mặc đám con sống chết tự lo đi buôn chuyến xe hàng dài ngày, cả tháng mới về nhà năm ba bữa. Rồi tôi nghe hàng xóm nói thằng Hên bỏ nhà ra đi, mới tí tuổi đầu mà lá gan to bằng người lớn. Thỉnh thoảng tôi ghé ngang dò la tin tức nhưng lúc nào cửa nhà cũng đóng im lìm.

Thế là tôi mất một thằng bạn nhỏ chơi bắn bi, nó sống ở đầu đường xó chợ khiến lòng tôi ngậm ngùi, chợt nhớ đến bài hát “Nó” văng vẳng đâu đây. “Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ. Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo. Ngày nó sống kiếp lang thang. Ngẩn ngơ như chim xa đàn, Nghĩ mình tủi thân muôn vàn”.

Hồi nhỏ tôi không thích bài hát này, nghe như nỗi đau quất vào da thịt một đứa nhỏ nhưng sau này hiểu ra chút ít. Thời buổi đó, trẻ con mồ côi mất cha mất mẹ vì chiến tranh bom đạn, vô gia đình vì muôn vàn lý do đều có thể đẩy đứa trẻ ra ngoài đường phố. Lòng cảm thương cho thân phận nhỏ bé lặn hụp trong cuộc đời mà ông nhạc sĩ Anh Bằng viết nên lời nhạc buồn đó chăng. Xem ra thằng có cái tên Hên mà chẳng may chút nào.

Lớn lên chút xíu, tôi biết la cà trên đường phố sau những buổi tan học cuốc bộ về nhà. Trường tôi nằm ở quận 3, nên con đường Bà Huyện Thanh Quan bán đầy bò bía, chè đậu xanh đậu đỏ, là một địa điểm hấp dẫn giới học trò chúng tôi. Nhưng với tôi, con đường Trương Ðịnh cắt ngang gần đấy rất đỗi nên thơ, nhất là đoạn giữa gần trường Nguyễn Thị Minh Khai (Gia Long ngày trước) ra Công viên Tao Ðàn. Một con phố bình yên và rất lặng lẽ với những hàng dầu hàng sao rợp bóng.

Những hàng cây cao bóng mát này lại là ký ức đẹp, tôi mang hình ảnh đó vào bài tạp văn “Những hàng cây thị xã” trong một lần về thị xã Trà Vinh.

Mỗi khi có dịp đi qua tỉnh nào đó, tôi hay hỏi người bản xứ về cảnh đẹp địa phương. Hôm đến Trà Vinh, người đầu tiên tôi hỏi là chị chủ nhân khách sạn chỗ tôi trọ. Ðã gần nửa thế kỷ sống ở đất Trà Vinh, chị bảo trong thị xã không có cảnh gì đẹp ngoại trừ những ngôi chùa Tàu, chùa Việt và đặc biệt là chùa Khmer cổ kính.

Hôm sau, trên đường đến Trường Ðại học Trà Vinh, tôi hỏi một cô gái tuổi mười chín, đôi mươi. Sau vài phút do dự, cô cho tôi một câu trả lời thật bất ngờ: Những con đường rợp bóng cây xanh ở thị xã…

Ðúng vậy đó. Chiều dần buông, đứng ngoài ban công khách sạn nhìn về góc xanh thị xã thấy rõ những vạt nắng vàng vương trên tàn me làm những vòm lá trông thật mơ màng. Hình ảnh ấy đã quyến rũ tôi rời khách sạn thả bộ về hướng đó. Từ con đường Hàng Ðiệp bông trổ lấm tấm vàng, qua Hàng Sao cao vút đứng lặng thinh, bước lại Hàng Dầu um tùm lá chen lẫn màu hoa dầu hồng non ưng ửng. Dầu là loại cây rừng cho gỗ, thân có nhựa dùng để trét ghe rất tốt nên người ta cũng gọi là dầu rái, có người gọi là dầu dù.

Trái dầu có hai cánh lá, nhưng nói là cánh hoa đúng hơn. Lúc còn non, chúng có màu hồng pha màu cà phê sữa, hạt lộ ở cuống hoa. Hạt non màu xanh có khía giống như hạt xí muội. Ðến cuối tháng Bảy thì trái dầu già khô lại. Trái cùng hai cánh hoa ngả sang màu nâu đất sét. Chỉ cần một chiều lộng gió, những cánh hoa già rơi khỏi cành mẹ bung ra như cơn mưa dù, xoay tít bay bay trong không trung mang theo chiếc hạt, nhẹ nhàng đáp xuống mặt đất. Hình ảnh đó trông thật thích mắt và luôn để lại ấn tượng cho nhiều người. Chẳng thế, hình ảnh cánh hoa dầu bay trong gió đã vào thơ vào nhạc :

Cánh hoa dầu xoay tít bay bay

Nhớ chiều nào, bên em từng giờ…

Dù chưa có được cái cảm giác hạnh phúc bên em như nhạc sĩ Giáp Văn Thạch nhưng những “cánh hoa dầu xoay tít bay bay” ấy bay mãi trong ký ức tuổi học trò của tôi. Tôi biết được điều này là nhờ có lần được ba tôi dẫn đi Chợ Cũ Sài Gòn ăn phở. Từ nhà, hai cha con đi bằng xe ngựa, rồi lội bộ dọc theo đường Hồng Thập Tự vào vườn Tao Ðàn. Vườn Tao Ðàn ngày ấy rất vắng người, chỉ toàn cây dầu cao tít và tàn lá che mát cả một vùng rộng lớn.

Ba đi trước, tôi theo sau, giẫm chân lên những chiếc lá khô xào xạc giống như những nhà thám hiểm trong một cánh rừng già. Bỗng ba tôi cúi xuống nhặt những trái có hai cọng lá khô, hỏi tôi có biết trái gì không, rồi ba tôi bảo quăng chúng lên trời. Kể từ sau đó, những trái dầu dù theo tôi đến lớp cùng chúng bạn thả từ lầu ba xuống chào đón ngày khai giảng năm học mới, khi những cánh phượng hồng đã rời xa mùa hạ. Những cánh hoa dầu bay bay không mất tiền mua của lũ nam sinh chúng tôi đã làm bọn con gái học trò thích mê…

Tất nhiên nỗi nhớ nơi mảnh đất mình sinh ra và lớn lên của mỗi người đều rất nhiều và mỗi người có quyền lựa chọn những hình ảnh ký ức đẹp đẽ nhất. Cái đẹp làm tâm hồn lắng đọng cho ta khoảnh khắc bình yên giữa nhịp sống hối hả xôn xao của chốn thị thành. Có người chẳng thèm nhớ con hẻm nhỏ ngày xưa nơi sinh ra và lớn lên như anh bạn của tôi. Anh bảo ghét lắm cái xóm lao động đã nghèo mà còn hay sanh sự, đánh lộn nhau hà rầm. Người bên ngoài nghe đi vào xóm Miếu Nổi là sợ bọn lưu manh. Anh thích những con hẻm ngoài phố trung tâm bên hông đường Hàm Nghi hay các con hẻm của người Tàu Chợ Lớn trên đường Trần Hưng Ðạo, Ðồng Khánh. Những con hẻm đó bình dị và hiền lành khác xa hẻm lao động xô bồ xô bộn.

Thế nhưng khi nghe tôi hỏi chuyện xóm nhỏ Miếu Nổi ngày xưa thì anh kể ngàn chuyện lẻ một không hết. Anh nhớ từ góc phố con hẻm xưa với một tâm hồn trẻ trung và rộng lượng. Dường như anh yêu mảnh đất mình “ghét bỏ” hơn bao giờ. Bởi vì khi cái gì mất đi hay xa rồi mới làm lòng ta hồi tưởng và càng yêu mến hơn. Chẳng thế mà nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. (theo Trang Nguyên)

Dung Dung chuyển tiếp

SÀI GÒN CỦA TÔI,

50 NĂM TRƯỚC

Đặt chân tới Sài Gòn năm 1954, lúc ấy tôi là đứa bé 9 tuổi, theo gia đình từ miền Bắc di cư vào miền Nam tự do. ký ức của đứa bé 9 tuổi hẳn nhiên không thể ghi nhận được gì nhiều; nhưng đứa bé lớn lên và sinh sống tại Sài Gòn từ thuở ấy tới bây giờ, đã giúp tôi dễ dàng gợi dậy trong ký ức, ít nhất là những hình ảnh đậm nét của Sài Gòn, 50 năm về trước.

Ấn tượng về Sài Gòn trong tôi từ lúc ấy tới bây giờ cũng không phai nhạt bao nhiêu, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ấn tượng sâu đậm, bởi Sài Gòn những ngày tháng ấy quá mới lạ trong tâm trí tôi, đứa trẻ đã trải qua một đoạn đời ấu thơ tại hà nội.

Điều đầu tiên tôi nhận biết lúc ấy, tôi nói với cha tôi, là Sài Gòn có vẻ rất Tây so với Hà Nội. cha tôi bảo, bởi vì một trăm năm Pháp thuộc, Sài Gòn và miền Nam là thuộc địa; trong khi Hà Nội của miền Bắc là bảo hộ.

Cha tôi làm thông ngôn trong quân đội liên hiệp Pháp, dạy tiếng Pháp cho các con từ nhỏ; nên tôi nhớ được rành rõ những tên pháp ngữ đặt cho nhiều đường phố lớn của Sài Gòn lúc ấy. căn nhà đầu tiên của gia đình chúng tôi khi vào Sài Gòn ở đường Bà Hạt, quận 10. ðường Bà Hạt là đường phố nhỏ, một đoạn chạy ngang đường phố lớn mang tên Tây, là Lacaze – tức đường Nguyễn Tri Phương.

Vài năm sau, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho thay thế tên Tây; vẫn giữ lại tên những danh nhân thế giới, dù danh nhân ấy là người Pháp, như Calmette, Pasteur, Alexandre De Rhodes… những đường phố mang tên Tây, đa số là quan chức pháp, được thay thế, như : Bonard – Lê Lợi; Charner – Nguyễn Huệ; Galliéni – Trần Hưng Ðạo; De La Grandrière – Gia Long; Catinat – Tự Do; Lacaze – Nguyễn Tri Phương… tuy nhiên, nhiều năm sau đó, dân Sài Gòn vẫn nói: ði bát phố Bô-Na, Catinat; đi mua hàng ở thương xá Charner…, luôn là gọi tên Tây, cho 3 đường phố đẹp bậc nhất của Sài Gòn.

Phố phường Sài Gòn lúc ấy đa số là những con đường lớn rộng, dài dằng dặc. và rất nhiều cổ thụ. ðặc biệt loại cây có tên rất bình dân là cây dái ngựa – tên khoa học là meliaceae – thân to nổi mấu gồ ghề, tỏa rộng cành lá, bóng mát ngợp đường Lê Ðại Hành, trước mặt trường ðua Phú Thọ, quận 11. hàng cây me xanh mát mắt suốt con đường Gia Long, con đường có bệnh viện Grall do người Pháp lập nên, giữa vườn cây rộng rinh. rừng cao su bát ngát, chạy dài theo con đường Nguyễn Văn Thoại, từ trường ðua Phú Thọ tới ngã tư Bảy Hiền…

Năm tôi còn nhỏ tuổi, cha vẫn dẫn đi chơi mỗi chủ nhật. vào vườn ông Thượng, còn có tên tây là Bờ-Rô, sau đó mới gọi tên là vườn Tao Ðàn; dẫn đi chơi ở sở thú – Thị Nghè… cây trồng ở sài gòn phong phú là nhờ công sức của vị giám đốc sở thú đầu tiên, người Pháp; ông từng là chuyên viên nghiên cứu về cây trồng ở nhiều nơi trên thế giới; nhất là vùng nhiệt đới ở phi châu, có nhiều loại cây thích hợp với thổ nhưỡng sài gòn. những năm sau này, lớn thêm vài tuổi, lại được anh cùng cho đi “bát phố Bô-Na”, để thấy rõ Sài Gòn quả là rất Tây; tôi tha hồ thưởng ngoạn vẻ đẹp “Paris” của nó.

Tản bộ trên đường Catinat, từ nhà thờ Ðức Bà tới bến Bạch Ðằng, nhìn ngắm các cửa hiệu sang trọng thời thượng dọc con phố. và passage Eden, rất nên gọi là “hành lang ði bộ,” chính diện nhìn ra đường Catinat. passage Eden gồm trong đó: bát phố; xem chiếu phim – trong rạp Eden giữa lòng hành lang; mua sắm; ăn kem uống cà phê ăn tối ở quán givral liền bên… và ngắm nhìn trai thanh gái lịch, quý ông bà Sài Gòn, cũng ở trong đó.

Trai thanh – quý ông thì áo sơ mi quần tây trắng lốp; mũ flechet; giày deux couleurs; đồng hồ quả quít đeo ở dây lưng. gái lịch – quý bà thì áo dài lemur-cát tường không thua phụ nữ hà nội, hoặc vận jupe như “bà đầm”; tay xách porte feuille, chân đi guốc cao gót; tóc búi cao hoặc uốn dợn sóng, cổ đeo kiềng vàng…

Ra vào passage Eden nhiều lối, ưa thích ra vào lối nào cũng được. anh tôi dẫn tôi vào lối cửa ở đường Charner, rồi đi vòng qua Bonard, rồi ra cửa Catinat… rồi chúng tôi ghé hiệu sách Albert Portail – sau có tên là Xuân Thu – sát cạnh đó, toàn là sách từ bên tây đưa sang, tha hồ mà đọc mà ngắm.

Rồi với bạn học cùng lớp cùng trường Chu Văn An, trường-trung-học-di-chuyển-Bắc-Việt (có ghi ở bảng hiệu của trường như vậy, vì trường cũng di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn) đi chơi và chụp ảnh lưu niệm Sài Gòn.

Bất cứ buổi sáng chủ nhật nào, góc thân thuộc nhất, tập trung nhiều nhất các “bác phó nhòm” chính là quảng trường trước mặt quán Givral. mái hiên cong kiều diễm của quán Givral, và con đường Catinat thẳng tắp, với hai hàng cây hai bên chạy dài ngút mắt, đã đi vào không biết bao nhiêu tấm ảnh lưu niệm Sài Gòn. hoặc những tấm ảnh của cả gia đình, lưu niệm ngày đi mua sắm ở thương xá Charner; buổi dùng bữa cơm tây ở một nhà hàng pháp trên phố Bonard…

Những ngôi đền Ấn ðộ giữa lòng Sài Gòn lúc ấy, cũng đi vào ký ức của đứa bé miền Bắc di cư khá đậm nét. sao mà sài gòn nhiều đền đài của Ấn giáo, với kiến trúc tinh tế kỳ công đến thế. những ngôi đền uy nghi tọa lạc ở các con đường Tôn Thất Thiệp – Trương Ðịnh – Công Lý của quận 1, trung tâm Sài Gòn. người Ấn ðộ sinh sống tại Sài Gòn khá đông, chỉ không nhiều bằng người Hoa, ở cả một vùng Chợ Lớn. tôi nghe dân Sài Gòn gọi họ là Chà Và. sau này tôi mới hiểu, Chà Và là đọc trại từ Java, gọi chung cho người Ấn ðộ và người Mã Lai; họ thường làm nghề mại bản, quản lý nhà đất, cho vay tiền, làm trung gian giữa người Việt và người Pháp…

Ðường Tôn Thất Thiệp, vào năm 1954 vẫn được xem là một tiểu Ấn ðộ, với những ông Chà Và cho vay tiền, chủ quán cà ri nị, mở tiệm kim hoàn. những người Ấn ðộ gốc ở Bombay thường kinh doanh ngành vải; họ có nhiều cửa hiệu ở đường Catinat, Bonard, Hàm Nghi, Galliéni, và chợ Bến Thành. từ lâu trước đó, cộng đồng người Ấn ðộ ở quận 1 còn đông đảo hơn nhiều; đã có một đợt người Ấn ðộ rời Sài Gòn sang định cư tại Pháp, vào năm 1945.

Có lẽ cái mới lạ, và thấy thân thương nhất, đối với người miền Bắc di cư vào Sài Gòn như tôi, là những quán tiệm bình dân, tiệm hoa kiều. hai thứ quán tiệm này khá giống nhau. buổi sáng tới quán, những ông già Sài Gòn đọc-nhựt-trình, nói chuyện ưa chêm tiếng Pháp, xưng tôi là mỏa (moi); những bà già hút thuốc điếu; những anh tài xe xích lô máy chở cả vợ con trong lòng xe rộng bè, tới quán ăn hủ tíu uống cà phê, xong chở về nhà rồi mới đi chở khách. một thời gian trong năm 1954-55, khi có xài tiền 5 cắc bằng kim loại; thì tại Sài Gòn, cứ việc lấy giấy bạc một đồng – có hình Nam Phương Hoàng Hậu – mà xé làm hai, xài một nửa tương đương 5 cắc ! thật là thuận tiện, đơn giản.

Người Sài Gòn – Nam Bộ không cần thiết phải biết tên người mới quen; chỉ hỏi người này là con thứ mấy trong gia đình, để kêu anh hai, anh ba… thân thương biết mấy ! chuyện trò với người Sài Gòn – Nam Bộ, câu chuyện của họ giản dị, rõ ràng, không úp úp mở mở; không bắt người cùng trò chuyện với mình phải chịu đựng sự vòng-vo tam quốc, sự rào trước đón sau, như rất nhiều người miền Bắc và miền Trung, trong đó có dân di cư năm 1954 thường như vậy. (theo Nguyễn Ðạt)

NGƯỜI SÀI GÒN…XƯA !

Dù bạn sinh quán ỏ đâu, trước 1975 đã sống lâu tại Sài Gòn, bạn vẫn là: ngưỜi Sài Gòn.lần đầu tiên lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y. chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi. ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán, mà bụng vẫn trống không.

Nhỏ lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm, cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. kêu thêm dĩa nữa thì không dám, vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia… ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ.khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thỉnh thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì đâm lo. không biết tiền mang theo có đủ để trả không.

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại.thôi, tính hai dĩa cơm thôi. phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn, chị không tính. ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu. chỉ có nải chuối, cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp.bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. cũng trong những năm thập niên 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô.. mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng. lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. thế nhưng vẫn rán vì trong túi không còn tiền. chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: “xích lô !”. luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi: “anh chị đi đâu ?”.

– Cho ra bến xe miền Tây. nhiêu ?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết bến xe miền Tây đâu mà cho giá. thôi đành chơi trò may rủi: “dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. tới đó cho nhiêu thì cho”.

Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. người con trai nói: “mười lăm đồng mọi khi vẫn đi. cứ chạy đi tui chỉ đường”.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: “em mới chạy xe, đi xa không nổi. anh chị thông cảm đi xe khác giùm”.

Ai ngờ người con trai ngoái đầu lạ : “tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. đưa xe đây tui đạp cho. tui cũng từng đạp xích lô mà !”. thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền.không phải 15 đồng mà tới 20 đồng. Chắc cũng chỉ có người sài gòn mới khoáng đạt như vậy !

Người Sài Gòn tốt bụng, chia sẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. già trẻ, lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm.có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất sài gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây : “bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. hỏi hoài mệt quá !”.

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không.với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà, kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí. Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. sẽ có nhiều người bảo cái ly nhiều người uống, bẩn chết đi được, nhưng không biết họ có cách nào hay hơn ? (mua ly giấy, uống xong vứt…. mời các người ấy về Sài Gòn mua ly giấy cho khách thập phương dùng).

Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống, hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn !.Bi giờ còn vậy nữa không ? cũng còn, nhưng mà nếu bạn không gặp người như vậy ở sài gòn là vì những người mà bạn gặp đó không phải là người Sàigòn !

Tui hỏi anh cyclo “đạp từ rạp rex về cầu Chông (nhà tui) giá bao nhiêu ?”. anh nói “20 ngàn”.tui nói “30 ngàn thì tui mới đi”. anh cyclo lập lại “20 ngàn”. tui cũng nói như cũ. anh cyclo tưởng tui là thằng này khùng và nói “thôi lên xe đi”.đến nhà, tui đưa anh 30 ngàn và cám ơn. Năm 1978 khi ra tù tại ga xe lửa đường Lê Lai, một anh cyclo đến hỏi tui “về đâu ?”, nhưng khi nhìn thấy bộ đồ tù tui mặc nên anh nói câu mà tui nhớ đời “lên đi thằng ông nội, tui chở về…không có tính tiền đâu“. làm sao tui quên được câu nói đó.

Người Sài Gòn là như vậy bạn ơi !

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp

CHUYỆN CỔ TÍCH Ở BẾN BÌNH ĐÔNG

CHUYỆN CỔ TÍCH

Ở BẾN BÌNH ĐÔNG

– Truyện ngắn : Nguyễn Minh Nữu

Năm nào khi về đến Saigon, tôi cũng dành một buổi chạy xe về bến Bình Đông. Lần đầu về vào năm 2000, tôi còn có dịp gặp bác Ba Thanh, khi đó cụ cũng đã gần sát tuổi chín mươi, và Triều là bạn học chung với tôi thời trung học ở trường Nguyễn Bá Tòng. Dần dà những chuyến sau về, cụ Ba Thanh đã mất, cụ bà cũng mất sau đó vài năm, và ngay cả Triều cũng lâm bệnh rồi từ trần năm 2016.

Căn nhà cổ kính nằm giữa vườn cây trái bây giờ còn lại gia đình Phiệt (con trai của Triều). Cái liên lạc thân tình của tôi với cả ba thế hệ của gia đình này là một câu chuyện khá dài.

Triều nằm trong nhóm ba đứa thân nhau học chung lớp từ hồi lớp đệ Nhị (bây giờ gọi là lớp 11) trong đó tôi thì nhà ở gần trường, còn Triều và Mai ở tuốt trong Chợ Lớn. Nhà Mai bên này rạch Lò Gốm gọi là khu Bình Tây, còn Triều nằm bên kia rạch Lò Gốm gọi là bến Bình Đông.

Lớp đệ Nhị mà Triều đã có xe Honda đi học thì là gia đình khá giả lắm. Bến Bình Đông và khu Bình Tây nằm song song với nhau phía cuối kênh Lò Gốm, Bình Tây thì có hãng rượu Bình Tây, sát với khu trung tâm thương mại người Hoa ở Chợ Lớn, có chợ Bình Tây, khu bến xe Chợ Lớn là trung tâm xe chở hành khách về các tỉnh miền tây.

Bến xe Chợ Lớn khác với xa cảng Miền Tây ở chỗ xa cảng Miền Tây là bến xe khách lớn, chở khách về các tỉnh lỵ như Cần Thơ, Mỹ Tho, Châu Đốc , Rạch Giá, còn bến xe Chợ Lớn đa số là xe nhỏ 16 hoặc 24 chỗ ngồi, nhưng lại chở khách về các địa danh huyện lỵ cũng là về miền tây, nhưng nếu Xa Cảng Miền Tây chở khách về Đồng Tháp là về bến xe tỉnh Đồng Tháp, thì bến xe Chợ Lớn chở khách về thị trấn Hồng Ngự là một huyện của Đồng Tháp chẳng hạn.

Bến Bình Đông nằm song song với bến Lê Quang Liêm của Bình Tây, nhưng nằm về phía bên kia kênh Lò Gốm. Bình Đông nằm giữa hai con kênh, bên này là kênh Lò Gốm và bên kia là Kênh Đôi. Cách gọi tên các dòng nước này tùy từng đoạn mà có tên riêng, người ngoài thành phố nghe rất khó hiểu.

Thực ra là như thế này : Từ Sông Saigon, có hai nhánh rẽ vào phía nam, nhánh trên gọi là Rạch Bến Nghé, nhánh dưới gọi là Kênh Tẻ, hai nhánh sông này gặp nhau và nhập thành một tại Cầu chữ Y, sau đó lại chia thành hai nhánh chạy tiếp về phía nam, một nhánh gọi là kênh Lò Gốm và một nhánh gọi là kênh Đôi.

Kênh Lò Gốm và Kênh Đôi nhập vào nhau tại Bình Đông, từ đây dòng kênh Đôi lớn hơn và chảy thẳng ra sông chợ Đệm. Đoạn đường hai bên kênh Lò Gốm khúc gần hợp lưu này toàn là các Chành, các Kho, Phía bên Bình Tây là các chành gạo, nông sản, phía bên kia sông là Bình Đông thì đa số các nhà kho lớn chứa phân bón , thuốc trừ sâu và nông cụ.

Bình Tây sầm uất vì sát với khu thị tứ và các chành xuất nhập gạo lúa nông sản thường xuyên mỗi ngày, còn Bình Đông thì vắng lặng hơn vì mặt tiền đường sát bờ sông dài hằng hai ba cây số đều là những nhà kho lớn, kín cổng cao tường, đàng sau dãy nhà kho đó là khu dân cư, nhưng cũng thưa thớt ít người.

Nhà của Triều là một trong vài chục căn nhà hiếm hoi nằm ở mặt tiền đường, ngôi nhà xây cất theo kiểu cố, nằm sâu vào trong, bao bọc quanh nhà là vườn cây khá rộng, nhà Triều trồng rất nhiều Mai, từ trước ra sau, bên phải bên trái đếm ra cả mấy trăm cây lớn nhỏ.

Đặc biệt ngay cửa chính vào nhà, giữa sân là một cội lão Mai khá lớn, thân cây có lẽ hơn 20 cm, không mọc thẳng lên cao, mà khoảng cao gần 1 mét bỗng gập gãy như hình chữ V ngược một đoạn mới lại vươn lên. Chỗ gập gẫy đó tạo như một mắt cây, xù xì cổ kính, cùng với các nhánh cành khác mọc ra đan chen nhau thành một hình dáng vừa kỳ dị vừa bắt mắt. Khi tôi tới chơi với Triều lần đầu, Cây Mai đã cao hơn tôi khá nhiều rồi, xum xuê những nhóm nụ xanh tươi khỏe mạnh vào dịp gần tết.

Triều gốc là dân Vĩnh Long, gia đình lập nghiệp ở Saigon từ mấy đời là do ba của Triều: Bác Ba Thanh làm công chức ở thành phố. Mẹ Triều buôn bán trái cây ở chợ xóm Củi , gần nhà. Triều là con một, sống với ba má. Triều là dân miền Nam truyền thống, gương mặt bầu bĩnh trắng trẻo và lúc nào nhìn cũng có vẻ như sắp cười, tính tình khoáng đạt rộng rãi, không thích bắt lỗi người khác mà chỉ chọc ghẹo gây cười rồi quên đi .

Những ngày cuối tuần, tôi đạp xe xuống nhà Mai, rồi kéo qua nhà Triều chơi giống như về quê. ở đó chúng tôi thả diều, qua kênh Đôi lặn hụp dưới sình bắt cá Lia Thia, bắt cua bắt ốc rồi về nhà Triều mở tiệc liên hoan…. không có rượu. Ba của Triều tôi gọi là bác Ba người tầm thước, khuôn mặt phúc hậu và rất thương con cùng lúc quý bạn của con, chúng tôi được sống như trong gia đình , rất đầm ấm và vui vẻ.

Sau Trung học, chúng tôi chia tay nhau, mỗi đứa đời xô đẩy đi một hướng khác nhau, Triều thì học Sư Phạm, ra trường đi dạy ở gần nhà, Mai thì làm việc ở Phú Giáo, Bình Dương.Tôi thì phiêu bạt lên tới cao nguyên Ban Mê Thuột, thế mà khi có dịp về lại Saigon là chạy đi tìm nhau. Lần nào về cũng có cảm giác như trở về nhà, Bác Ba gái từ sau nhà chạy ra vồn vã: Chèn ơi, bây về hồi nào ? thằng Mai biết bây về hôn ? ngồi đó đi tao ra trường kêu thằng Triều về.

Tôi đón vòng tay ôm của bác Ba mà ứa nước mắt vì xúc động. kệ lát nó về, kêu nó chi bác, con ở đây tới ngày mai mà.

– Dzậy hả, vậy bây ngồi chơi đó nghe, tao nấu nồi canh chua cho bây nhậu với Ba nó nghe, lóng rầy nó quậy lắm, biết uống bia uống rượu với ổng rồi.

Tiếng xe gắn máy chạy vào sân, rồi tiếng Triều la thất thanh, Trời phải mày không ? đi đâu mất biệt không thấy tăm hơi là sao…..

Hai đứa ôm chặt lấy nhau, lặng điếng không nói ra lời. Triều quay lại nói với má, con chở nó qua nhà thằng Mai coi có thằng Mai về không nghe má…….

Rồi sau 75, cuộc sống vượt khỏi suy nghĩ bình thường. Bác Ba Thanh đi học tập 3 năm mới về, thân thể mang đủ thứ bệnh mà chẳng biết bệnh gì, chỉ càng ngày càng ốm yếu , đau nhức khắp người. Mai thì lấy vợ ở Phú Giáo và ở lại quê vợ luôn. Tôi về làm công nhân ngay quận 6. Cuộc sống khó khăn từ miếng cơm manh áo nên thời giờ ghé lại thăm nhau cũng ít dần đi.

Triều vẫn đi day học nhưng vài ba tháng ghé lại một lần lại thấy thiếu mất một cái gì. Đầu tiên là cái xe gắn máy chuyển thành xe đạp, rồi thì bộ bàn ghế gõ phòng khách thay bằng cái bàn Mica và mấy cái ghế nhựa, rồi thì trên bàn thờ trang trọng xưa đã có vẻ trống trải vì thiếu bộ lư và đôi chân nến bằng đồng, hình như còn nhiều thứ nữa mà tôi không biết, nhưng thái độ niềm nở ân ần thì chẳng khác gì xưa.

Cho đến một lần khi tôi qua, cả nhà im ắng một cách kỳ lạ, tôi đi thẳng vào buồng sau, chỗ bác Ba nằm thì thấy bác Ba gái ngồi trên ghế cạnh giường ôm mặt khóc thút thít, bác Ba trai nằm nhưng cặp mắt vẫn mở, nhìn đăm đắm lên trần nhà. Triều kéo tay tôi bước ra ngoài… Chuyện gì vậy ?

Triều thở dài, chỉ vào cây Mai lớn giữa sân, có người tới muốn mua cây Mai này với giá 4 chỉ vàng, mà nhà bây giờ kẹt quá rồi, ba tao bịnh mấy năm nay, giờ má cũng bịnh nữa, nhà không có tiền mà ba tao nhứt định không cho bán, ổng nói chờ ổng chết rồi bán. Nhà còn có cái gì khác mà bán để lo bịnh dược đâu.Tao tính bán lấy tiền lo thang thuốc rồi mua chiếc xe xich lô tối về đạp thêm kiếm tiền….

Lúc đó tôi nhìn quanh vườn mới thấy vườn sơ xác trống trơn, cây cỏ mọc tùm lum, mấy trăm cây Mai trồng khắp vườn hình như đã được nhổ lên đem bán từ hồi nào… Tôi hỏi Bác có nói tại sao không cho bán không ? Triều lắc đầu, ông chỉ không là không. Không bán gì hết, chết thì chịu chứ không bán..

Khuôn mặt của Triều quắt queo, xanh lè, khi tay hai đứa nắm vào nhau, cả hai bàn tay đều lổn nhổn xương, xiết vào nhau đau buốt. Tôi cậy mình như là con cháu ruột thịt, nên đến bên giường cầm tay bác Ba góp ý, Bác ơi, một đời ta bằng ba đời nó, nay hoàn cảnh chung ai cũng chật vật, số tiền 4 chỉ lớn lắm,có thể lo cho bịnh tình hai bác mà còn có thể tạo ra việc làm cho Triều kiếm sống nuôi gia đình…..

Bác Ba nhìn tôi, nước mắt ứa ra, nói chầm chậm… tao biết bây nghĩ đúng chớ không sai, nhưng cây Mai này tuổi đã hơn trăm năm, là di sản từ thời ông nội thằng Triều, đem về đây trồng ngay bữa má thằng Triều sanh ra nó, hơn vậy, tuy trồng ở đó mà có phải của mình đâu, làm người phải coi trọng lời hứa…. đợi tao chết rồi bây làm gì đó thì làm….

Giọng bác Ba trầm, buồn nhưng dứt khoát, chỉ là chi tiết trồng ở đó mà đâu phải của mình thì tôi không hiểu tại sao mà không dám hỏi. hôm đó đi về mà lòng nát tan, đau xót thương yêu mà chẳng biết làm sao để chia sẻ với Triều.

Bến Bình Đông từ bao đời nay là nơi cặp bến của ghe thuyền miền Tây chở theo hoa kiểng và cây trái. Bên kia sông là bến Bình Tây chuyên về nông sản, lúa gạo. Các loại hoa kiểng chẳng những đổ về Bình Đông dồn dập vào dịp gần Tết , mà thường xuyên suốt năm vẫn có những chuyến ghe lớn chở trái cây đặc sản về cung cấp cho các chợ, cùng lúc hoa kiểng cho các vựa trong thành phố. Các chủ ghe lâu năm khi ghé lại, tạo ra một mối liên lạc thân tình với cư dân trong xóm và nhiều nhà dân trong xóm cũng trở thành nơi tạm chứa các thứ cây kiểng chưa tiêu thụ kịp.

Thời điểm 1980 ở thành phố nơi tôi sống như đang ngồi trên một cơn sóng dữ, cuộc đời mỗi người gánh mọi biến động lớn trên một con thuyền nhỏ, biết bao người đã vượt thoát đi, biết bao người đã chìm đắm xuống và biết bao người như tôi, cắn răng chịu đựng, sống mà chỉ biết sống hết một ngày hôm nay , ngày mai chưa biết. Miếng cơm , manh áo, giấc ngủ, và sự bình an chỉ biết chắc khi buổi sớm mai còn thức dậy được.

Mấy tháng sau, bất ngờ Triều ghé thăm tôi tại chỗ làm. Lần này nụ cười tươi rói, ngồi trên chiếc xe Xích Lô mới toanh, cười hi hí… Tôi chạy ra mừng rỡ, Bác Ba khỏe lại rồi hả ?

– Ba má tao khỏe rồi, tao tới báo với mày mấy tháng nữa tao lấy vợ.

Tôi la lên

– Úy trời, đứa nào ngu quá vậy ? Mày quen nó ở đâu ?

Triều kéo tôi vào quán cà phê lề đường và kể lại câu chuyện. Câu chuyện của Triều như thế này.

Ông nội của Triều là Chủ Sự trong tỉnh, là một hào phú ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Ông có nhiều con nhưng hợp tánh nhất là người con thứ, là ba của Triều, nên cuối đời, ông về sống với vợ chồng con ở tại bến Bình Đông.

Ông thích hoa kiểng và có lòng hào phóng thương người, hôm người con trai có đứa con đầu là Triều vào dịp sát tết Nguyên Đán, ông thảnh thơi đi dạo bến sông, ghe thuyền tấp nập cặp sát mé bờ, ngay trên bờ là các loại hoa kiểng chở lên bày đầy đặc. Ông bất ngờ dừng chân ở một khoảng bày toàn là Mai, cả mấy chục chậu Mai lớn nhỏ, mỗi cây được bọc một bao tải vải bó rễ và đất tưới ẩm.

Ông bất chợt nhìn thấy một cây lão Mai khá lớn, hoa kép, mỗi hoa chồng lớp mấy chục cánh vàng tươi rực rỡ tuyệt đẹp. Ông đứng ngắm nghía hồi lâu thì một người đàn ông bước ra chào hỏi. Đây là một cặp vợ chồng từ dưới quê Đồng Tháp chở cây từ vườn lên bán. Ông hỏi giá cây Mai nhưng mắc quá ông không mua. cây Mai bình thường cũng cao lớn như vậy thì giá chừng hai trăm ngàn , mà cây Mai này đòi giá tới ba triệu.

Ông hỏi tại sao, người đàn ông lễ phép thưa không phải con thấy bác hỏi ngay cây này mà con nói giá cao, thiệt ra đây là một loại mai đặc biệt mà không chỉ vườn nhà con, nói rộng khắp huyện Lấp Vò của con chỉ có một cây này. Nó là loại Mai Hương, bác chơi hoa nhiều thì bác biết , hoa Mai là loại hoa có sắc mà không có hương, riêng cây này thì bác cứ hửi thử đi, Bông hoa tỏa ra một mùi hương dìu dịu, không phải hương Lài không phải hương Lý mà phảng phất như có chút mùi trầm, càng về đêm mùi hương càng đậm cho tới sáng phai nhạt dần. Ba con dặn cái này cần người hữu duyên, phải giá thì bán không thì đem về nên giá nó mới cao như vậy.

Tưởng chỉ chuyện trò như vậy rồi thôi, ai dè vài bữa sau, trời đã về khuya, ông Chủ Sự đi ngang qua ghe thì nghe tiếng khóc của phụ nữ. Sẵn cảm tình từ lần trò chuyện trước ông ghé qua hỏi thăm, té ra cặp vợ chồng kia cơm ghe bầu bạn đem cây lên bán có dắt theo hai đứa con khoảng 5 tuổi và 7 tuổi, hồi chiều, do bận rộn bán hàng, hai đứa bé chạy giỡn với nhau xẩy chân lọt sông chết đuối cả hai.

Không có thân nhân ở gần, tiền bạc vốn liếng không còn, hai vợ chồng ôm nhau khóc ngất, bây giờ phải gấp rút về quê vừa đau khổ vừa khó khăn chưa biết tính sao. Ông Chủ Sự suy nghĩ rồi nói thôi để tui mua mão hết mớ cây vợ chồng bậu đem lên để bậu lấy tiền mua quan quách cho sáp nhỏ rồi về quê. Hai vợ chồng cúi đầu cảm tạ và nói giá bán mão hết số cây là hai triệu.

Ông Chủ sự nói vậy sao được, nguyên cây Mai Hương đã là giá ba triệu rồi, mà bán mão cả chục cây còn lại có hai triệu là sao, thôi tui đưa bậu năm triệu để lo việc nhà. Hai vợ chồng kéo nhau quỳ xuống cám ơn và thưa rằng cám ơn ông hào phóng giúp người, nhưng thôi như vầy, năm triệu ông đưa coi như con mượn, về quê rồi khi có được sẽ xin đem lên trả, còn nay tất cả mớ cây con giao hết cho ông, những cây khác thì coi như bỏ, riêng cây Mai Hương xin ông trồng lại chớ đừng bán, khi nào có tiền tụi con đem lên sẽ xin chuộc lại.

Ông Chủ sự gật đầu, bậu tính sao cũng được. Rồi ông chỉ tay về phía căn nhà : đó đó là nhà của tui, chừng nào lên dược thì lên.

Đó là lý do vì sao ông Ba Thanh nhất định không cho bán cây Mai trước nhà. Triều kể tiếp, khi gia đình đang túng bấn tới độ có bữa ăn rau muống luộc trừ cơm thì bất ngờ có một cô gái tới hỏi thăm phải đây là ông Chủ Sự không ? khi biết chắc đúng, cô gái mới kể tiếp cô tên Ơn, là con gái của ông bà Hai Đậu, quê ở Lấp Vò, Đồng Tháp. Hồi ba mươi năm trước, khi cô chưa ra đời, cha mẹ cô làm vườn và bán cây kiểng, có năm chở ghe bán lên bến Bình Đông vào mùa gần tết giống như vầy, bất ngờ gặp tai nạn làm chết hai người anh chị ở bến sông, có được ơn ông Chủ Sự ở nhà này giúp đỡ nên mới đem được xác về quê.

Mấy năm sau thì sanh ra cô, nhưng gia đình làm ăn cũng không khá giả, mới năm rồi người cha từ trần, kể lại cho cô nghe cái ơn khó trả ngày xưa, nay nhờ được mùa lại thêm bán được mấy công đất, nên mẹ cô đưa địa chỉ sai cô lên đây đền ơn đáp nghĩa ngày xưa.

Mẹ của Triều lúc đó lại nảy sanh căn bệnh đàn bà, đi đứng khó khăn thiếu người giúp đỡ, Cô Ơn tự nguyện ở lại ít ngày giúp bà tắm rửa thay đồ. Cô Ơn đưa gia đình số tiền còn nhiều hơn giá 4 chỉ vàng mà còn nhất định không chịu lấy cây Mai Hương về lại dưới quê. Cô nói cây này nó chỉ sống được nhờ người có phước. Nay nó ở đây an lành con lấy nó đi làm chi. Khi thấy má Triều chưa bớt bịnh, cô nhắn tin cho mẹ cô lên thăm, và ở lại sống trong nhà như người thân yêu.

Má Triều gần ba tháng sau nhờ có người chăm sóc, nhờ tinh thần thanh thản vui vẻ và nhờ thuốc men chạy chữa đã gần khỏe hẳn. Lâu ngày bên nhau nảy sinh lòng quyến luyến, có bữa, má Triều mân mê tay cô Ơn, bà nói, phải chi bây ưng thằng Triều thì đời tao có phước quá. Cô Ơn cười mắc cỡ, biết ảnh có ưng con không mà bác hỏi vậy ? Triều đang nằm chèo queo ngoài bộ ván ngoài sân, nghe thoáng qua chạy vô cầm tay cô Ơn thú thiệt tui ưng cô từ khi cô từ ghe bước lên bờ kìa. Cô Ơn cười e thẹn, hai má đỏ hồng.

Ơn tính tình thuần hậu mà lại giỏi giang chuyện mua bán, khi hai đứa lập gia đình với nhau, Ơn lấy lại cái sạp bán trái cây ở chợ và về quê tạo đầu mối đưa cây trái lên giao hàng bán sỉ cho các chợ trong vùng, Triều ngoài giờ dạy học, thì thành người giao hàng chuyên nghiệp cho vợ, chiếc xe xích lô chuyển thành xe ba bánh phục vụ cho chuyện kinh doanh.

Khi tôi rời Việt Nam vào năm 1995, thì gia đình Triều đã là một gia đình êm ấm, hai bác Ba khỏe mạnh lại, sống nhẹ nhàng thảnh thơi với đứa cháu nội đầu lòng của Triều và Ơn.

Lần này về bến Bình Đông, lại đúng gần mùa Tết, trên bến thì tràn ngập hoa tươi đủ loại, dưới bến thì chen khít với nhau ghe bầu, ghe Rổi, xuồng chèo, thuyền máy hàng hàng lớp lớp sát bên nhau như một hội hoa nửa bờ nửa nước. Tôi ghé vào nhà Triều, căn nhà vẫn là kiến trúc cũ, cổ kính và thanh lịch nhưng nay được sơn phết mới, trang trí thêm cửa kính, máy lạnh, sân vườn tráng xi măng đường đi sạch sẽ, giữa vườn vẫn là cây Mai Hương nay đã cao quá nóc nhà, rực rỡ hoa vàng, tỏa hương thơm ngát.

Vợ chồng Phiệt đang xúm xít trang trí bàn thờ quay ra thấy tôi reo lên mừng rỡ… Bác Bảy về rồi…. năm nay đám kỵ ba con có bác Bảy ba con chắc vui lắm…Trên bàn thờ, di ảnh hai bác Ba nhìn xuống cười hiền hòa, lung linh trong ánh nến thắp trên đôi chân đèn sáng loáng, chiếc đỉnh thờ rực rỡ mầu đồng, thấp bên dưới là khuôn mặt của Triều cười mím chi y hệt như thời chúng tôi còn trẻ trâu.
Tôi hỏi Phiệt, Má mày đâu ? Má con đi chợ mua đồ làm tiệc chiều nay đãi bạn bè con .

– Ủa có tiệc gì vậy ? tất niên hả ?

Phiệt mắc cở…. dạ…. dạ….. không…. mừng vợ con có bầu.

Đứng trước hiên nhà, nhìn lên cây Mai Hương cao lớn tỏa hương dìu dịu mênh mang, Phiệt nói sau Tết, má con dâng cúng cây Mai Hương này vô chùa. Má con nói cây lão mai này đã cho gia đình con hưởng phước đã ba đời rồi, “Phước bất khả hưởng tận”, nên muốn để tất cả những người có tâm thiện cùng được hưởng phước như gia đình con .

Tôi quay lại nhìn Phiệt, sửng sốt về câu thâm nho Phiệt nói, không biết nó học được từ đâu, tôi nghĩ chắc là từ ông Nội. Như vậy, khoảng cuối năm sau nếu tôi còn đủ sức khỏe về thăm nữa, thì tôi có quen biết với cả 4 đời gia đình Triều rồi đó. Tôi với tay lấy mấy cây nhang và kính cẩn thắp lên trên bàn thờ với lòng thương nhớ và kính yêu thật đầy. (theo Nguyễn Minh Nữu)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

SÀI GÒN NHỮNG NGÀY TẾT

CÓ GÌ KHÁC ?

Người Sài Gòn nổi tiếng với tính cách cởi mở, phóng khoáng, không có nhiều nguyên tắc khắt khe, vậy người Sài Gòn đón Tết Nguyên Đán có khác với các vùng miền khác ? Tết tại Sài Gòn rất riêng, đường phố, quán xá, chợ,… vẫn mua bán chỉ khác là không quá đông như những ngày bình thường

Trong bữa cơm ngày Tết của người Sài Gòn nói riêng và người Nam bộ nói chung luôn luôn không thể thiếu 3 món là : bánh tét – tượng trưng cho sự ấm no từ đời này qua đời khác. Món thứ 2 là món thịt kho tàu hay còn được gọi là thịt kho trứng, thịt kho ngước dừa, thịt kho hột vịt, và cuối cùng là món khổ qua nhồi thịt – tượng trưng cho quan điểm : ”Ăn canh khổ qua thể hiện mong ước cuộc sống sung túc, mọi khổ cực sẽ qua đi và bắt đầu một năm mới tươi sáng hơn”.

Theo dòng thời gian thì các món ăn ngày Tết của người Sài Gòn cũng biến đổi khá nhiều, và cuộc sống ngày Tết cũng khác xưa hơn. Dù trong mâm cơm ngày Tết luôn hiện hữu ba món ăn cơ bản không thể thiếu của người Nam Bộ nhưng các món ăn ấy cũng đa dạng hơn rất nhiều.

Bây giờ bánh tét có rất đa dạng về màu sắc và mùi vị chứ không đơn thuần một loại được làm từ đậu xanh, nếp, và thịt heo (thịt lơn) như xưa nữa. Bây giờ người ta đã phát triển thêm nhiều loại bánh tét nữa do nhu cầu đa dạng hơn như: bánh tét chay gồm: bánh tét dừa, bánh tét chuối, bánh tét lá cẩm, thay vì nhân đậu xanh thịt heo cổ truyền bạn có thể thưởng thức bánh tét trứng muối thập cẩm nếu bạn nếu đến Sài Gòn cho dù cho phải vào dịp Tết hay không.

Tới Sài Gòn dịp tết bạn vẫn có thể thưởng thức tất cả các món ăn thường ngày do người Sài Gòn quan niệm rằng cả năm uống cà phê tại sao Tết không uống, cả năm ăn hủ tiếu gõ buổi tối tại sao Tết lại không ăn,….

Hơn nữa giá cả tại Sài Gòn không có quá nhiều biến động vào tết nên không cần quá lo lắng về giá cả vào dịp tết. Sài Gòn tết đường không tắc đi lại rất thuận tiện, hàng quán vẫn hoạt động mà còn không phải đợi như ngày thường nữa.

Ngoài ra bạn vẫn có thể thưởng thức cơm tấm sườn bì, cà phê bạc sỉu hay nhiều loại cà phê khác vào buổi sáng, hủ tiếu gõ hay nhiều món hấp dẫn đặc trưng như chè, ốc các loại, bún riêu, bún bò, bánh canh cua, bánh xèo, hàng loạt món ăn vặt giá từ 10.000đ trở lên như bánh tráng trộn, bánh tráng nướng, bánh xèo, xiên que,….

Hay vui vẻ cùng nhau trên bàn nhậu với các món nướng hay món cánh gà, chim cút chiên nước mắm thơm ngon,… bên nồi lẩu nghi nghút khói với nhiều loại rau xanh, lẩu ở Sài Gòn có rất nhiều  loại nhưng trong mỗi nồi lâu luôn có 4 vị: chua, cay, mặn, ngọt rất rõ

Một người Sài Gòn từng nói: Có tiền ăn nhậu thì dân Sài Gòn ngày nào cũng vui như tết. Vậy nên Tết ở Sài Gòn không những vui mà còn không khác ngày thường hơn nữa dịp Tết đến Sài Gòn không lo tắc đường, ít khói bụi hơn. Hãy đi và trải nghiệm Tết Sài Gòn để thấy Sài Gòn cởi mở và phóng khoáng ra sao nhé. Tham khảo giá khách sạn tại:

Lan Hương chuyển tiếp