TỬ VI TÂY PHƯƠNG THÁNG 6/2018

1/- BẢO BÌNH (20/1 – 18/2)

Bảo Bình có khá nhiều sự thay đổi trong tháng này, đặc biệt là sự độc lập trong cuộc sống cá nhân. Điều quan trọng là học hỏi từ kinh nghiệm của chính mình. Bảo Bình có thể được xem xét thăng tiến hoặc tăng lương trong tương lai gần.

Bảo Bình cũng đạt được những hiểu biết mới và có giá trị về tâm lý. Các cơ hội nghề nghiệp lớn nhất có thể đến vào ngày giữa 11 và 14 của tháng 6 này. Trực giác của Bảo Bình mạnh mẽ và thậm chí bạn có thể có những giấc mơ tiên tri hướng dẫn bạn trong cuộc sống hằng ngày. Có một số quyết định cần phải được thực hiện và tiềm thức sẽ cung cấp câu trả lời mà Bảo Bình cần.

Theo dõi sát sức khỏe của Bảo Bình sau tuần thứ tư trong tháng. Và Bảo Bình tập trung đặc biệt vào massage đầu và chân, sẽ giúp giảm căng thẳng cho Bảo Bình có thể có. Hãy chú ý đến sức khỏe tổng thể của bạn.

Ngày may mắn: 8, 9, 17, 18, 27, 28

Ngày không may mắn: 1, 2, 15, 16, 22, 23, 29

Ngày dành cho tình cảm: 8, 9, 17, 18, 19, 22, 23, 27, 28, 29, 30

Ngày phát tài: 1, 5, 6, 10, 11, 17, 19, 26, 27, 29

Ngày cho công việc: 1, 2, 5, 15, 24, 29, 30

2/- SONG NGƯ (19/2 – 20/3)

Mọi nhân tố đang cùng lúc xuất hiện tháng này giúp Song Ngư có những bước tiến trong sự nghiệp. Ngay cả một giải thưởng đặc biệt hay phần thưởng chuyên môn có thể được trao cho bạn.

Mối quan hệ của Song Ngư khá rộng mở và thoáng tại thời điểm tháng này. Song Ngư sẽ có cơ hội để đi du lịch, hoặc các chuyến đi xa liên quan đến công việc hoặc học hành.

Về tình cảm, tháng 6 là thời điểm tuyệt vời dành cho tình yêu cho Song Ngư, dù cho chuyện tình này có thể gặp sóng gió hay bị thử thách độ bền vững. Sau ngày trung tuần của tháng 6 này, Song Ngư có thể bị cuốn vào một mối quan hệ lãng mạn không ngờ tới, một mối quan hệ mà tại thời điểm này dường như nó rất thật trong mắt bạn.

Song Ngư hãy tránh những chuyến đi xa nếu có thể. Và nếu bạn buộc phải đi xa, cần lên kế hoạch cẩn thận và vẫn dự phòng trường hợp chuyến đi bị hủy bỏ hoặc có những thay đổi bất ngờ vào phút cuối.

Ngày may mắn: 1, 2, 10, 11, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 3, 4, 17, 18, 24, 25

Ngày dành cho tình cảm: 1, 8, 9, 10, 17, 18, 20, 21, 24, 25, 27, 28

Ngày phát tài: 5, 6, 7, 12, 13, 15, 16, 17, 25, 26, 27

Ngày cho công việc: 3, 4, 5, 6, 17, 26, 27, 30

3/- BẠCH DƯƠNG (21/3 – 19/4)

Chuyện tình cảm của Bạch Dương có thể gặp chút trắc trở, ít nhất là cho đến cuối tuần lễ thứ 2 của tháng đấy. Tuy nhiên, nó sẽ được cải thiện vào nửa sau của tháng. Sau ngày trung tuần, nhịp sống của Bạch Dương dường như chậm lại. Hãy luôn cẩn thận, đừng vội vàng, hấp tấp và để trái tim tỉnh táo, ít nhất là cho đến những ngày cuối tháng, vì sau đấy mọi việc sẽ tiến triển tốt đẹp hơn.

Tháng 6 này, Bạch Dương cần đặc biệt lưu tâm tới sức khỏe của bản thân, tình hình không có gì nghiêm trọng nhưng có thể khiến bạn thấy mệt mỏi, vậy thì ngay từ bây giờ, hãy ăn uống nghỉ ngơi đầy đủ, khoa học Bạch Dương nhé. Khi tinh thần không còn lo lắng thì mọi bệnh tật cũng qua đi và bạn sẽ cảm thấy khỏe hơn rất nhiều.

Tình hình tài chính thời gian này của Bạch Dương nhìn chung khá tốt, nhưng bạn vẫn nên cẩn thận. Bạch Dương đừng nên tin vào trực giác hay phán đoán cảm tính trong những phi vụ làm ăn phức tạp, hãy sử dụng cái đầu của bạn !

Ngày may mắn: 3, 4, 12, 13, 22, 23, 30

Ngày không may mắn: 5, 6, 20, 21, 27, 28

Ngày dành cho tình cảm: 8, 9, 17, 18, 27, 28, 30

Ngày phát tài: 5, 6, 8, 9, 15, 16, 17, 18, 19, 26, 27, 28

Ngày cho công việc: 5, 6, 9, 18, 28

4/- KIM NGƯU (20/4 – 20/5)

Chúc mừng nhé, chuyện tình cảm của Kim Ngưu cực kỳ hạnh phúc và tốt đẹp trong tháng này. Kim Ngưu luôn cảm thấy an toàn trong rất nhiều mối quan hệ. Nguồn năng lượng tuy không thực sự nhiều nhưng bạn có đủ sức mạnh và niềm tin để hoàn thành những mục tiêu.

Về công việc, để tránh chững lại, Kim Ngưu cần dồn sức để bắt kịp trở lại với công việc, đuổi theo các mục tiêu. Sau tuần lễ thứ 2 của tháng, tình hình sức khỏe có thể xấu đi nhưng Kim Ngưu không phải lo lắng, hãy cho mình chút thời gian để thư giãn và phục hồi cho những thử thách trước mặt.

Nếu Kim Ngưu đang có chút vấn đề về hình thể, đây là thời gian để bỏ qua những ngần ngại và thực hiện các bài luyện tập giảm cân. Kim Ngưu biết những gì phải làm và một khi bắt đầu bạn sẽ có cam kết để thực hiện chế độ ăn kiêng một cách nghiêm ngặt. Còn nếu Kim Ngưu đang đi tìm việc thì tháng này may mắn sẽ quay lại với bạn đấy.

Ngày may mắn: 5, 6, 15, 16, 24, 25

Ngày không may mắn: 1, 2, 8, 9, 22, 23, 29, 30

Ngày dành cho tình cảm: 1, 2, 5, 8, 9, 15, 17, 18, 24, 27, 28, 29, 30

Ngày phát tài: 1, 5, 6, 10, 17, 18, 20, 21, 26, 27

Ngày cho công việc: 3, 8, 9, 12, 22

5/- SONG NAM (21/5 – 21/6)

Kỹ năng xã hội của Song Nam rất tuyệt vời trong tháng này với năng lực giao tiếp rõ ràng và hiệu quả. Điều này cũng ảnh hưởng tới chuyện tình cảm và Song Nam có thể vươn tới tầm cao mới của sự lãng mạn trước những ngày cuối tháng. Sau đó, mọi thứ sẽ nóng lên nhiều hơn, nếu có thể. Tuần lễ ở vào trung tuần tháng 6 là thời điểm tuyệt vời để Song Nam trao tặng những điều lãng mạn nhất. Bạn sẽ có nhiều cơ hội hẹn hò hơn.

Trước tuần lễ thứ tư, Song Nam nên lưu tâm đến sức khoẻ, nghỉ ngơi nhiều hơn sau nhiều hoạt động bận rộn để duy trì sự chuyên nghiệp trong các công việc có mức độ khó khăn cao. Tình hình tài chính của Song Nam cũng rất tốt đẹp. Bất kỳ khoản đầu tư dài hạn trong quá khứ có thể bắt đầu có lãi. Đây là thời điểm tốt để thực hiện các giao dịch quan trọng và hướng tới tương lai giàu có.

Ngày may mắn: 8, 9, 17, 18, 27, 28, 30

Ngày không may mắn: 3, 4, 10, 11, 24, 25

Ngày dành cho tình cảm: 3, 4, 5, 6, 8, 9, 17, 18, 26, 27, 28, 30

Ngày phát tài: 5, 6, 8, 9, 10, 17, 18, 19, 20, 21, 26, 27, 29, 30

Ngày cho công việc: 1, 8, 10, 11, 17, 19, 29, 30

6/- BẮC GIẢI (22/6 – 22/7)

Có một vài rắc rối trong tháng 9 này liên quan tới khả năng diễn đạt đấy Bắc Giải. Bất cứ khi nào nói chuyện với mọi người, Bắc Giải hãy nói chậm lại một chút, nói rõ quan điểm kiến của bạn cho cẩn thận, chính xác. Trong tháng này Bắc Giải có khả năng nhận được một “phi vụ” tuyệt vời. Nếu buộc phải ký kết bất cứ loại hợp đồng nào, kể cả thẻ tín dụng, nhà đất, cho vay tự động hoặc các tài liệu pháp lý Bắc Giải phải cẩn trọng hết sức.

Về sức khỏe, Bắc Giải cảm thấy mình cần phải quan tâm hơn đến nó. Và điều này là hoàn toàn đúng sau những tháng ngày ăn chơi, nhất là sau trung tuần của tháng. Đây là thời gian hoàn hảo cho những ai còn đi kiếm việc. Sau thời gian dài dằng dặc kiếm tìm, bây giờ Bắc Giải sẽ có thể tìm thấy một vị trí phù hợp. Tuy nhiên cũng phải cẩn thận, điều tra mọi thứ trước khi đồng ý nhận lời.

Chuyện tình cảm của Bắc Giải sẽ trở nên rất lãng mạn. Cơ hội mới để thiết lập các mối quan hệ – cả bạn bè lẫn tình cảm – đều hiện hữu trước bạn ngay bây giờ

Ngày may mắn: 1, 2, 10, 11, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 5, 6, 12, 13, 27, 28

Ngày dành cho tình cảm: 5, 6, 8, 9, 17, 18, 27, 28

Ngày phát tài: 5, 6, 8, 9, 17, 18, 19, 22, 23, 26, 27, 29, 30

Ngày cho công việc: 5, 6, 7, 12, 13, 15, 16, 25, 26, 30

7/- HẢI SƯ (23/7 – 22/8)

Các Hải Sư sẽ được tận hưởng nhiều điều tuyệt vời trong tháng này. Khả năng quản lý hiệu quả giúp cho mọi mặt trận của Hải Sư đều diễn ra ổn thỏa. Sự bí ẩn và sức quyến rũ khiến người xung quanh khó cưỡng lại những mong muốn của bạn. Tuy nhiên, đời sống tâm sinh lý của Hải Sư sẽ hơi phức tạp. Tùy tình hình, bạn hãy đưa ra những lựa chọn phù hợp với nguyên tắc sống và đức tin của mình.

Sức khỏe là chìa khóa để Hải Sư tiếp tục thành công trong khi đời sống tài chính của bạn đang rất dồi dào. Hải Sư đừng bỏ qua cơ hội nào. Nhưng cũng đừng mạo hiểm một cách không cần thiết. Sức khỏe tuyệt vời và một lối sống mạnh mẽ có nhiều hấp dẫn hơn bất kỳ một vẻ đẹp nào.

Có thể có một chút thay đổi hoặc gián đoạn về công việc trong tháng này đấy các Hải Sư. Tuy nhiên, hãy cố gắng hết sức mình và mọi chuyện sẽ trở nên tốt đẹp.

Ngày may mắn : 3, 4, 5, 12, 13, 22, 23

Ngày không may mắn : 1, 2, 8, 9, 15, 16, 29, 30

Ngày dành cho tình cảm: 3, 8, 9, 12, 17, 18, 22, 27, 28

Ngày phát tài: 1, 5, 6, 10, 17, 20, 21, 24, 25, 26, 27, 28

Ngày cho công việc: 8, 9, 15, 16, 17, 18, 27, 28

8/- XỬ NỮ (23/8 – 22/9)

Xử Nữ cảm thấy mọi thứ chuyển động rất nhanh vài tuần gần đây. Dù công việc hoàn thành khá tốt tuy nhiên vẫn có những điều do vội vàng nên còn có lỗi. Đây là thời điểm thích hợp để Xử Nữ kiểm tra lại mọi thứ và chắc chắn mình đã hoàn thành công việc cho mọi người và chính mình.

Xử Nữ nên chuẩn bị tinh thần cho những vấn đề xuất hiện vào trung tuần tháng này. Một số là chuyện tình cảm, chuyện với trẻ nhỏ và có thể xảy ra những lỗi lầm rất nhỏ. Hãy để đời sống giao tiếp của bạn cởi mở, thoải mái hơn nhé.

Về tài chính, đây không phải là lúc tốt nhất để Xử Nữ bắt đầu một sự đầu tư hoặc tham gia vào bất kỳ phi vụ đặc biệt nào. Đừng đặt quá nhiều tiền vào những phi vụ liều lĩnh. Nếu có thể, Xử Nữ hãy tránh những chuyến đi xa, đặc biệt sau những ngày hạ tuần của tháng. Nếu buộc phải đi thì hãy thận trọng Xử Nữ nhé. Về mặt tình cảm, các mối quan hệ của bạn đang tiến triển rất tốt đẹp.

Ngày may mắn: 5, 6, 15, 16, 24, 25

Ngày không may mắn: 3, 4, 10, 11, 17, 18

Ngày dành cho tình cảm: 1, 8, 9, 10, 11, 17, 18, 19, 27, 28, 29, 30

Ngày phát tài: 5, 6, 8, 9, 17, 18, 19, 26, 27, 28

Ngày cho công việc: 1, 17, 18, 20, 21

9/- THIÊN XỨNG (23/9 – 22/10)

Có nhiều hoạt động trái ngược liên quan đến người thân và bạn bè xuất hiện trong biểu đồ của Thiên Xứng, khiến một số điều xảy ra dường như vô nghĩa. Nếu Thiên Xứng đang tìm cách thoả hiệp chuyện tiền bạc với người thân hoặc đối tác kinh doanh, bạn có thể thấy khó khăn khi đưa ra kế hoạch và ý tưởng. Điều này sẽ được khắc phục nếu sắp xếp mọi thứ theo trật tự.

Đây là thời gian để Thiên Xứng nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe cho những thách thức đang đến. Hãy coi thất bại (nếu có) là trải nghiệm và bài học kinh nghiệm bổ ích để lập kế hoạch cho sự thành công trong tương lai.

Sự nghiệp của Thiên Xứng lên đến đỉnh cao ngay từ tuần lễ đầu tiên của tháng và sẽ tiếp tục cho đến hết tuần lễ thứ hai. Trong tương lai, Thiên Xứng sẽ được tăng lương hoặc thăng tiến. Trong lĩnh vực tình yêu, Thiên Xứng sẽ nhận được những điều rất lãng mạn. Còn nếu Thiên Xứng đã kết hôn, thì bạn sẽ thấy đam mê được gia tăng trong thời gian này.

Ngày may mắn: 8, 9, 17, 18, 27, 28

Ngày không may mắn: 5, 6, 12, 13, 20, 21, 29,

Ngày dành cho tình cảm: 5, 6, 7, 8, 9, 12, 13, 15, 16, 17, 18, 25, 26, 27, 28

Ngày phát tài: 1, 2, 5, 6, 17, 26, 27, 29, 30

Ngày cho công việc: 8, 9, 18, 19, 20, 21, 28, 29, 30

10/- HỔ CÁP (23/10 – 21/11)

Sự nghiệp của Hổ Cáp sẽ đạt đỉnh cao trong tháng này. Nhưng Hổ Cáp phải thận trọng và tận dụng lợi thế năng động để giành những thành tựu lớn hơn. Bạn có một sức mạnh hiếm có trong cuộc sống, vậy nên đừng bao giờ để nó trôi qua vô ích.

Tuy nhiên, việc nỗ lực hết mình có thể khiến sức khỏe của Hổ Cáp rơi vào tình trạng báo động. Sau trung tuần tháng 6 này, lịch trình bận rộn khiến cơ thể Hổ Cáp bị suy nhược và hạn chế một số hoạt động nhất định. Phương thuốc tốt nhất cho trường hợp này đơn giản là nghỉ ngơi và thư giãn.

Đời sống tài chính của Hổ Cáp khá dồi dào, nhưng nên tập trung vào việc giữ tiền an toàn và đầu tư khôn ngoan. Tiền có thể đến từ một số nguồn bất ngờ. Nếu Hổ Cáp vừa thay đổi nghề nghiệp, bạn có thể thăng tiến nhanh hơn dự đoán. Mặc dù vậy, Hổ Cáp nên tránh các rủi ro về tài chính không cần thiết, đặc biệt là những ngày hạ tuầncủa tháng.

Ngày may mắn: 1, 2, 10, 11, 20, 21, 29, 30.

Ngày không may mắn: 8, 9, 15, 16, 22, 23. 28

Ngày dành cho tình cảm: 8, 9, 15, 16, 17, 18, 27, 28.

Ngày phát tài: 3, 4, 5, 6, 17, 26, 27.

Ngày cho công việc: 8, 9, 18, 19, 22, 23, 29, 30

11/- NHÂN MÃ (22/11 – 21/12)

Nhân Mã đang có sự độc lập cá nhân đáng kinh ngạc. Sẽ có nhiều sự thay đổi lớn xảy đến và một trong số đó sẽ là gia đình và những mối quan hệ thân cận. Đừng cố gượng ép bản thân vào những khuôn phép khiến Nhân Mã cảm thấy không thoải mái.

Duy trì sự cân bằng hài hòa giữa cảm xúc và hiện thực trong cuộc sống riêng của mình, những kiến thức Nhân Mã có được trong quá trình hoàn thiện bản thân sẽ giúp bạn giải quyết những khó khăn gặp phải.

Trong khoảng thời giant rung tuần của tháng 6 này, tình hình tài chính sẽ rất thuận lợi cho Nhân Mã. Nếu Nhân Mã đang lên kế hoạch cho những vụ đầu tư thì đây là thời điểm tốt để bắt đầu những kế hoạch đó. Ngoài ra, đây cũng là thời điểm tốt dành cho sự lãng mạn. Mặc dù Nhân Mã thường có xu hướng hơi quan trọng hóa vấn đề liên quan đến tình yêu, nhưng mọi chuyện sẽ vẫn suôn sẻ với bạn.

Ngày may mắn: 3, 4, 12, 13, 22, 23, 30

Ngày không may mắn: 10, 11, 17, 18, 24, 28

Ngày dành cho tình cảm: 1, 8, 9, 10, 17, 18, 20, 21, 27, 30

Ngày phát tài: 5, 6, 9, 17, 18, 26, 27, 28

Ngày l cho công việc: 1, 10, 20, 21, 24, 25

12/- NAM DƯƠNG (22/12 – 19/1)

Có chút cảnh báo trong tháng về sức khỏe nhưng sự năng động của Nam Dương vẫn hoạt động mạnh mẽ… Tháng này, Nam Dương hãy đặc biệt cẩn thận với đơn thuốc của bác sĩ hoặc dược sĩ vì một sai lầm nhỏ thôi cũng có thể đe dọa đến sức khỏe của bạn. Tốt nhất là tránh các chuyến đi xa hoặc di chuyển bằng xe gắn máy nên cẩn thận hơn.

Một vài công việc đang gián đoạn sẽ khiến Nam Dương cảm thấy khủng hoảng. Phần lớn điều này xảy ra do khả năng giao tiếp của bạn bị kém đi. Tuy nhiên mọi chuyện sẽ ổn nếu Nam Dương thực hiện mọi thứ từ từ và cẩn trọng.

Chuyện tình cảm của Nam Dương rất suôn sẻ. Điều tốt nhất Nam Dương có thể làm là tránh những va chạm. Đừng có thái độ thái quá trong tháng này nhé. Trong tháng 6, Nam Dương nên tránh đi du lịch về miền sông biển. Hãy cẩn thận đừng quá tự mãn khoa trương để tránh sự hiểu lầm.

Ngày may mắn: 5, 6, 15, 16, 24, 25, 30

Ngày không may mắn: 12, 13, 20, 21, 27, 28

Ngày dành cho tình cảm: 8, 9, 17, 18, 19, 20, 21, 27, 28, 29, 30

Ngày phát tài: 3, 5, 6, 8, 9, 12, 17, 22, 26, 27, 30

Ngày cho công việc: 8, 9, 17, 18, 27, 28

Quế Phượng (theo Horoscope)

 

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

Advertisements

KỶ VẬT NGHÌN TRÙNG XA CÁCH

NHỮNG KỶ VẬT

NGHÌN TRÙNG XA CÁCH

– Hà Đình Nguyên

Phạm Duy là một trong những nhạc sĩ sáng tác tình khúc hay nhất của âm nhạc Việt Nam. Khi ở vào ngưỡng tuổi U100, nhạc sĩ thừa nhận rằng mình là người nghiện yêu, mỗi tình khúc đều liên quan đến một cuộc tình.

Muốn biết Phạm Duy yêu như thế nào, nên đọc hồi ký Phạm Duy

Điều thú vị là người đưa ra lời khuyên “Muốn biết Phạm Duy yêu như thế nào, những người phụ nữ đó là ai thì nên đọc Hồi ký Phạm Duy” lại chính là ca sĩ Tuấn Ngọc (con rể của nhạc sĩ Phạm Duy). Đó là vào tối ngày 5/10/2011 trong buổi dạ tiệc mừng sinh nhật lần thứ 91 của nhạc sĩ, được tổ chức tại tư thất của ông bà Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn (ông bà Lê Thành Ân – là người Mỹ gốc Việt) để chào mừng nhạc sĩ James Durst từ Mỹ sang Việt Nam thăm nhạc sĩ Phạm Duy (hai người đã chơi thân với nhau từ năm 1971).

Đêm đó, những người con của nhạc sĩ : Duy Quang, Thái Thảo – Tuấn Ngọc hát, Duy Cường đệm đàn, đã đưa cha mình và khán giả trở về “vùng trời kỷ niệm” của ông qua những tình ca do ông sáng tác. Và dù Duy Quang được trao nhiệm vụ làm “em xi”, nhưng chính Tuấn Ngọc lại là người dẫn dắt để từng bài hát của Phạm Duy “ngấm” vào hồn người.

Đứng trước mặt ông bố vợ chỉ cách hai bước chân, Tuấn Ngọc như thủ thỉ, tâm sự với “người bạn vong niên” bằng một giọng Bắc trầm ấm, đôi khi hóm hỉnh – như khi nói về bài hát Tình kỹ nữ, Tuấn Ngọc nói : “Tôi chưa có kinh nghiệm về cái thú “kỹ nữ” mà bây giờ người ta gọi là…”bia ôm”, nhưng hồi ấy, mới 25 tuổi mà Phạm Duy đã viết ra những câu như thế này “Ta ôm người đẹp trong tay, bên nhau mà lòng xa vắng. Ta nâng niu làn dư âm của khách năm xưa yêu nàng…” thì đó không phải là cái hời hợt của đám thanh niên “ăn bánh, trả tiền” nữa rồi, mà là vượt thoát ra khỏi cái tầm thường. Con nói thế đúng không bố? Phạm Duy chỉ cười rung mái đầu bạc trắng với những lọn tóc xoăn…

Trong tác nghiệp của nghề báo, tôi đã gặp nhạc sĩ Phạm Duy nhiều lần, nhưng ấn tượng nhất lại là đêm đó – và trước khi Tuấn Ngọc cùng vợ (ca sĩ Thái Thảo) song ca Đừng xa nhau anh cũng cho biết bài hát này Phạm Duy đã viết cho người con gái đã làm tặng ông hơn 300 bài thơ, và “Muốn biết người ấy là ai, xin đọc Hồi ký Phạm Duy…”.

Lưới tình chật hẹp

Phạm Duy bước chân vào lĩnh vực ca nhạc khi ở vào lứa tuổi thanh niên, anh là ca sĩ chuyên hát nhạc của Văn Cao trong gánh cải lương của Đức Huy – Charlot Miều đi lưu diễn từ Bắc chí Nam. Năm 1944, gánh hát dừng chân ở Phan Thiết, qua bài hát Buồn tàn thu của Văn Cao, chàng ca sĩ trẻ đã làm quen được với một góa phụ trẻ mang hai dòng máu Việt – Anh, nàng tên là Hélène.

Nàng sống ở đồn điền Suối Kiết (cách tỉnh lỵ không xa) với mẹ già và hai người con: Alice (gái) và Roger (trai). Người chồng vắn số của nàng là một thương gia gốc Hoa, nên những đứa con cũng thuộc diện “đa chủng tộc” (Anh –Việt – Hoa). Giữa chàng du ca và người cô phụ trẻ đã có một cuộc tình mà theo Phạm Duy là “rất nhẹ nhàng và trong sạch… Hai người đều biết có sự yêu mến lẫn nhau nhưng không ai dám lên tiếng yêu đương cả… Chúng tôi chỉ đang mấp mé ở một cuộc tình:. Và rồi “người đẹp Tây lai” này cũng mau chóng biến mất trong ký ức của chàng nghệ sĩ du lãng…

Hơn 10 năm sau, họ bất ngờ gặp lại nhau ở giữa Sài Gòn. Lúc này, đôi bên ai cũng đã có gia đình riêng.Hélène mời Phạm Duy về chơi nhà mình trên đường Trần Hưng Đạo. Phạm Duy ngỡ ngàng khi nhìn thấy Alice.

Cô bé bây giờ đã trở thành thiếu nữ tuổi tròn trăng, giống mẹ như đúc, cặp mắt và khuôn mặt phảng phất những nét “Tây lai”… Dạo ấy, nhạc sĩ Phạm Duy vừa trải qua một cú “sốc” điên đảo bởi 1 vụ “xì căng đan” tình ái (Chuyện “ăn chè Nhà Bè với vợ Phạm Đình Chương : Khánh Ngọc – lời người chuyển tiếp). Nhạc sĩ có cảm giác ai cũng khinh ghét, xa lánh mình… Chỉ có mẹ con Hèléne tỏ ra rất thông cảm với hoàn cảnh của nhạc sĩ.

Thế nên, Phạm Duy hay đến tìm sự an ủi, đồng cảm nơi họ. Thế rồi suốt trong một năm, cứ đến cuối tuần là Phạm Duy lái xe hơi đến đón Alice đi chơi. Cô bé không thích người cha dượng của mình nên cũng ít khi tâm sự với mẹ. Thế là “chú Phạm Duy” trở thành người tri kỷ để Alice trút bầu tâm sự, những sự “hỉ nộ, ái ố” của một cô gái mới qua tuổi dậy thì…

Đặc biệt, Alice thừa hưởng của mẹ năng khiếu thi ca và âm nhạc nhưng có phần vượt trội hơn. Nàng rất thích hát những bản Tình ca, Tình hoài thương, Tình kỹ nữ, Bên cầu biên giới… của Phạm Duy khiến cho “… Cái lưới ái tình chật hẹp tung lên vào năm 1944 mà không chụp vào đầu tôi, hơn mười năm sau vì không tránh né nên tôi chui tọt vào lưới. Một chiều mùa Thu 1957, tôi tỏ tình với Alice và được nàng ban cho một cái ừ lặng lẽ”.

Mối tình cao thượng

Lúc đó tôi có ngay quyết định là mối tình này cũng phải cao thượng như mối tình giữa tôi và Hélène… Đã gần mười năm vì quá mê mải soạn nhạc tình tự quê hương, tôi đã không soạn một bản nhạc tình nào cả… Tôi không ngờ trong một thời gian ngắn, tôi lại gặp được tình yêu.Tôi không lẩn tránh, dù biết không giữ được suốt đời. Cuộc tình khởi sự bằng bài Thương tình ca (1956) : “Dìu nhau đi trên phố vắng. Dìu nhau đi trong ánh sáng. Dắt hồn về giấc mơ vàng, nhẹ nhàng, dìu nhau đi chung một niềm thương…” …

Vì chênh lệch tuổi tác và vì không muốn làm phiền những người xung quanh một lần nữa, tôi quyết định ngay từ đầu rằng đây chỉ là một mối tình giữa hai tâm hồn mà thôi.Tôi cố gắng tránh mọi đụng chạm về xác thịt và tôi hãnh diện để nói rằng nàng vẫn còn là một trinh nữ khi rời xa tôi để lên xa hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để hít thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi không có sự ràng buộc, trói chặt nhau.

Mỗi cuối tuần gặp nhau, thế là quá đủ… Trong hơn 10 năm (1956 -1968), nhạc tình của tôi đều là những bài viết cho nàng (Ngày đó chúng mình, Đừng xa nhau, Cỏ hồng, Nha Trang ngày về…). Là một người rất yêu thơ, trước khi xa nhau nàng đã viết tới 300 bài thơ để tặng tôi. Nếu chúng tôi gặp nhau thì thường thường là để nói chuyện về thơ hay nhạc. Cũng vì nàng yêu thơ nên nếu có những bài thơ hay (của thời trước hay của thời đó) thì tôi phổ nhạc (Ngậm ngùi, Vần thơ sầu rụng, Hoa rụng ven sông, Kiếp nào có yêu nhau…) hoặc phát triển từ dân ca (Tóc mai sợi ngắn sợ dài, Nụ tầm xuân, Bài ca sao, Đố ai…) để tặng nàng.

Cũng có khi tôi phóng tác thơ nàng thành ca khúc, trong đó có- “Tôi đang mơ giấc mộng dài/Đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh…” Tạ Tỵ, người viết chuyện đời tôi, cho rằng đó là bài tình ca hoan lạc nhất của đời tôi…” (trích hồi ký).

Kỷ vật – Chỉ chừng đó thôi !

Với người viết, ca khúc Nghìn trùng xa cách là một trong những tình khúc hay nhất của nhạc sĩ Phạm Duy. Trong bài hát có đoạn : “Trả hết về người, chuyện cũ đẹp ngời. Chuyện đôi ta, buồn ít hơn vui. Lời khóc lời cười, chuyện ngắn chuyện dài. Trả hết cho người, cho người đi… Trả hết cho ai, cả những chua cay. Ngày chia tay lặng lẽ mưa bay. Một tiếng “Thương ôi”, gởi đến cho người. Trả nốt đôi môi… gượng cười…”.

Bài hát này, nhạc sĩ là sau khi Alice từ tạ ông để đi lấy chồng sau tết Mậu Thân (1968). Trong bài hát còn nhắc tới những kỷ vật mà nàng đã tặng ông : “Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt màu, có lũ kỷ niệm trước sau : Vài cánh xương hoa, nằm ép trong thư, rồi cũng tan như bụi mờ. Vạt tóc nâu khô, còn chút thơm tho, thả gió bay đi mịt mù…”. Đã có biết bao nhiêu người hát ca khúc này cả ngàn lần, và chắc rằng hát chỉ là…hát, mấy ai chịu khó tìm hiểu đằng sau của ca từ…

Những kỷ vật, chỉ chừng đó thôi

Người viết đã có được may mắn, chứng kiến những kỷ vật của Alice trong Nghìn trùng xa cách. Đó là những xác lá khô được ép trong tập thơ tình, là lọn tóc màu nâu “rất Tây” mà nàng đã cắt tặng nhạc sĩ trong một ngày sinh nhật của ông (lúc đó ông tưởng mình là… quân vương trong bài thơ Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ: “Tóc mây một món chiếc dao vàng / Nghìn trùng e lệ phụng quân vương…”– NV) Hơn 40 năm sau, những kỷ vật này không hề “tan như bụi mờ” hoặc “thả gió bay đi mịt mù” mà nằm trang trọng trong một hộp kính, đủ biết Phạm Duy đã nâng niu, gìn giữ những kỷ niệm với Alice như thế nào…

Trong những ngày tháng đầy biến động đầu năm 1975, một hôm nhạc sĩ ngồi trên ghế đá, cạnh hồ nước trong một ngôi nhà êm đềm ở Phú Nhuận. Thấy nhện sa xuống trước mặt, nghĩ đến lưới tình và bất giác ông nhớ tới Alice.

Từ cảm hứng này ông viết  “Chỉ chừng đó thôi”: “Chỉ chừng một năm trôi là quên lời trăn trối. Ai nuối thương tình ta, chỉ chừng một năm thôi… Chỉ chừng một năm qua là phai mờ hương cũ. Hoa úa tàn trong lòng ta, chỉ cần một năm xa… Cả triệu người yêu nhau, còn ai là không thấu.Len giữa u tình sâu, một vài giọt ơn nhau. Tia sáng Thiên đường cao, rọi vào ngục tim nhau…”. Từ trong lời hát của Chỉ chừng đó thôi, ta cũng có thể tin rằng đấy là một cuộc tình thánh thiện: “… Như Adam ngù ngờ.Yêu Eva khù khờ. Cuộc tình “trinh tiết”đó…”. Sau Chỉ chừng đó thôi, ông thề là sẽ không sáng tác cho cuộc tình cuối của mình một bài hát nào nữa. Và ông đã giữ lời! (trích Truyện tình nghệ sĩ – Hà Đình Nguyên – NXB Trẻ)

– Tuyển tập những bài hát hay nhất của nhạc sĩ Phạm Duy (6:14’)

https://youtu.be/EpMqVT-2q-4

– Những Tình Khúc Phạm Duy (1:49’)

Tuấn Ngọc, Khánh Ly, Vũ Khanh : https://youtu.be/121yHEPo_EY

CÂU CHUYỆN CÓ THẬT TRONG GIỚI

NGHỆ SĨ DƯƠNG CẦM

TÌNH NGƯỜI TỎA SÁNG

TRONG CHIẾN TRANH

NHƯ VÌ SAO LẤP LÁNH TRONG ĐÊM

Chiến tranh đã reo rắc bao đau thương cho nhân loại. Nhưng dường như trong chiến tranh chính nó cũng khiến những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người được bộc lộ một cách chân thực nhất.

Đặc biệt trong các cuộc chiến chánh tà, có mấy ai thực sự giữ được sự thiện lương chân chính, dám mạo hiểm sinh mệnh, không màng sống chết, để không dấn thân hay ủng hộ tội ác trong hoàn cảnh cái ác thống trị. Mà phải đợi khi nó qua đi, sự thật được phơi bày và cái ác bị đẩy lùi người ta mới nhận ra sự thật…Vậy mà đã có một câu chuyện thật như thế…

Những giải Oscar danh giá…

The Pianist” – tên phim tiếng Việt được dịch là “Nghệ sĩ dương cầm“, là bộ phim của đạo diễn gốc Ba Lan Roman Polanski, chuyển thể năm 2002 từ hồi ký cùng tên rất nổi tiếng của nghệ sĩ dương cầm người Do Thái Wladyslaw Szpilman. Bộ phim là một lời kể lại chân thực của chính người trong cuộc về thảm họa diệt chủng do phát xít Đức gây ra, đồng thời cũng là phim hay nhất trong sự nghiệp đồ sộ của đạo diễn Roman Polanski về âm nhạc và sức mạnh của nghệ thuật.

Bộ phim đã trở thành một tác phẩm điện ảnh kinh điển và đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá nhất trên thế giới: Ba giải Oscar quan trọng nhất: cho kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất, diễn viên chính xuất sắc nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, và hàng loạt giải thưởng ở khác như Cannes, Cesar…

Nghệ sĩ dương cầm Wladyslaw Szpiman rất nổi tiếng trước chiến tranh với tiếng đàn êm dịu và có sức cuốn hút mãnh liệt. Tuy vậy, tiếng đàn yên bình của anh không được chiến tranh buông tha.Szpiman và gia đình cùng hàng triệu người Do Thái khác bị đưa vào trại tập trung và bị đối xử tàn tệ. Người nghệ sĩ này  phải lao động khổ sai, bị chà đạp quyền sống.

Một phân đoạn nổi tiếng và đắt giá nhất trong bộ phim chính là cảnh nghệ sĩ dương cầm Sziplman đang lẩn trốn trong ngôi biệt thự hoang phế, với tình trạng dở sống dở chết và trong khi mở hộp đậu cuối cùng thì ông bị bắt gặp bởi một viên sĩ quan phát xít Đức. Nhưng thay vì cho ông một viên đạn vào đầu như bao tên phát xít khác thì anh này lại yêu cầu ông chơi đàn khi biết ông là một nghệ sĩ dương cầm.

Với tất cả tình yêu âm nhạc, yêu quê hương đất nước và sự kìm nén trong đau khổ của một người nghệ sĩ chân chính, ông đã “hóa thánh” với một đoạn nhạc cung Đô thứ bản Dạ khúc của Chopin.

Ban đầu là lo lắng, sợ hãi, và cuối cùng là say mê và thanh thản bên phím đàn: sức mạnh kỳ diệu của âm nhạc đã xóa nhòa cái chết và khổ đau…

Szpilman ban đầu đã chơi đàn với tất cả những lo lắng, sợ hãi nhưng cuối cùng lại là sự say mê, thanh thản. Anh đã chọn chơi một bản của Chopin về tình yêu nước của những người dân Ba Lan, những ngón tay điêu luyện lướt trên phim đàn như được chơi lần cuối.

Sau khi nghe tiếng đàn, viên sĩ quan đã say đắm trước tài năng của Szpilman, thậm chí còn mang thức ăn, áo khoác giúp người nghệ sĩ vượt qua mùa đông buốt giá.

Không còn ranh giới về quốc gia, dân tộc, tư tưởng, nhiệm vụ hay bất cứ rào cản nào, trước âm nhạc và nghệ thuật, giữa hai con người xa lạ chỉ còn tình yêu.. Chiến tranh

không thể xóa bỏ những giá trị nhân văn của con người – có lẽ đây là thông điệp đẹp đẽ nhất mà bộ phim mang lại.

Mặc dù bộ phim chuyển thể một cách hết sức chân thực từ cuốn hồi ký của Sziplman, nhưng sự thật là cuốn hồi ký của ông chỉ được xuất bản một lần vào năm 1946 sau khi chiến tranh vừa kết thúc và nó được viết ngay trong thời điểm rất nóng bỏng, nhưng có lẽ chính vậy mà nó bị lãng quên vì có lẽ  nó chứa đựng những sự thật quá đau buồn nên thời điểm nó ra đời người ta không muốn đón nhận nó.

Nỗi đau chiến tranh – người nghệ sĩ dương cầm tuyệt vọng trong thành phố đổ nát hoang tàn…

Đời thực của các nhân vật chính

Và các nhận vật trong cuộc chiến cũng nhanh chóng đi vào quên lãng. Mãi cho tới năm 2002 – hơn 50 năm sau, đạo diễn tài ba Roman Polanski chuyển thể thành phim và sự thật lại triển hiện một cách vô cùng chân thực trên màn ảnh khiến người ta bàng hoàng xúc động bởi nghị lực sống, sức mạnh của ý chí, của tâm hồn nghệ sĩ chân chính, của tình người tỏa sáng một cách rõ nét trong chiến tranh như những vì sao trong đêm tối.

Ngọn hải đăng trong mịt mùng đêm tối….

Nhờ sự thành công vang dội của bộ phim mà thế giới mới biết đến một người anh hùng thầm lặng, một người thiện lương chân chính đã bị quên lãng trong chiến tranh và ông đã trở thành một biểu tượng của lòng tốt và sự quả cảm. Đó chính là viên sĩ quan quân đội Đức quốc xã– Wilhelm Adalbert Hosenfeld, vị cứu tinh của Sziplman.

Khi biết được cuộc chiến diệt chủng ghê tởm mà Hitler đang thực hiện, Honsenfeld đã không màng tới tính mạng của mình và lời thề sai lầm trước đó để giúp những người Do Thái vô tội. Đó là lời thề do bị mê hoặc bởi các lý tưởng cao đẹp dối trá mà Hitler đã vẽ ra để dẫn dụ rất nhiều người Đức lúc đó gia nhập Đảng Quốc Xã và quân đội của ông ta.

Tác giả cuốn “I always see the human being before me”- nhà văn Hermann Vinke nhận xét về ông : “đạo đức và lòng nhân hậu của ông được giữ gìn trọn vẹn trong chiến tranh” và “ông giống như một ngọn hải đăng trong đêm tối”.

Một số những câu trích đoạn trong nhật ký của ông và trong các bức thư gửi cho người thân đã nói lên tư tưởng, sự ăn năn và lòng thương cảm của ông với những nạn nhân của Đức Quốc Xã trong chiến tranh thế giới II:

Khi lần đầu tiên chứng kiến những tù nhân Ba Lan trong tình trạng đói khát và bị ngược đãi, ông đã bị sốc và  viết trong một bức thư cho vợ : “Anh nghĩ mọi người nhìn nhận và thấy rằng anh đang chịu đựng cùng họ. Thật là đau xót khi thấy những con người khốn khổ này, nhưng bọn anh bất lực. Nhưng anh tìm kiếm và giúp đỡ những người anh có thể.”

Ông nói với vợ rằng  ông “đang mặc đồng phục của tội phạm”  ”một người xấu hổ vì là người Đức”.

Năm 1943, sau khi chứng kiến những người Do Thái cuối cùng bị bắn chết hoặc bị bức hại chết ngạt tại các phòng khí gas trong cuộc đàn áp cuộc nổi dậy của người Do Thái ở khu tập trung Warsaw, ông đã viết trong nhật ký : “Những người bị đối xử như động vật này. Với cuộc giết chóc hàng loạt đáng ghê tởm những người Do Thái, chúng ta đã thua trong cuộc chiến này. Chúng ta đã tự khoác lên mình sự nguyền rủa vĩnh cửu và sẽ mãi mãi khoác lên mình sự sỉ nhục hổ thẹn. Chúng ta không có quyền đòi hỏi hỏi sự tha thứ hay thương xót. Tôi cảm thấy xấu hổ khi bước đi trong thành phố này ” – Nhật ký Hosenfeld. 

“Thật không thể tin vào những điều này, mặc dù chúng là sự thật. Ngày hôm qua tôi đã thấy hai trong số những con quái vật (lính S.S của Đức Quốc Xã) trên xe điện. Chúng cầm roi điện khi chúng ra khỏi khu tập trung. Tôi muốn ném những tên súc sinh này xuống dưới gầm xe. Chúng ta thật hèn nhát biết bao, mong muốn được tốt hơn và cho phép tất cả những điều này xảy ra. Vì điều này mà chúng ta và con cháu chúng ta sẽ bị trừng phạt, vì chúng ta cho phép những tội ác này xảy ra, chúng ta là những người hiệp đồng với tội ác”.

“Những con quái vật này nghĩ rằng chúng ta sẽ dành chiến thắng theo cách này. Nhưng chúng ta đã thua cuộc với tội diệt chủng người Do Thái. Chúng ta đã tự mang sự xấu hổ không thể xóa bỏ; một lời nguyền không thể phá giải.Chúng ta không xứng đáng có được lòng thương xót; tất cả chúng ta đều phạm tội.”

Mặc dù cuộc đời xô đẩy Hosenfeld gia nhập đội quân của ma quỷ, nhưng sự lương thiện chân chính của ông đã giúp ông sớm nhận bản chất của tội ác và đã đứng lên để bảo vệ những người vô tội.

Ông đã được thế giới vinh danh, phong tặng danh hiệu cho lòng dũng cảm, sự nhân hậu và tư tưởng tiến bộ của mình. Bộ ngoại giao Israel trao tặng danh hiệu cao quý “Người Dân Ngoại Công Chính” năm 2007 – dành cho những người không phải người Do Thái đã mạo hiểm tính mạng của mình để bảo vệ người Do Thái, được thủ tướng Ba Lan truy phong huân chương Thập chỉ huy Polonia Restituta năm 2009…

Thông điệp mạnh mẽ mà bộ phim với cốt truyện có thật để lại trong lòng người xem, là thông điệp về tình người, về tình yêu và niềm tin vào con người.Âm nhạc và sức mạnh của nghệ thuật khiến nghị lực sống của người nghệ sĩ thêm mãnh liệt.Ngay cả trong những lúc cùng khổ nhất, chính âm nhạc là điều kỳ diệu giúp đẩy lùi chiến tranh, xóa bỏ hận thù, mang con người lại gần nhau.

Chiến tranh dẫu mịt mù tăm tối và tàn ác thế nào cũng không thể xóa bỏ những giá trị nhân văn sáng lấp lánh của con người – có lẽ đây là thông điệp đẹp đẽ nhất mà bộ phim mang lại.

Chúng ta cùng thưởng thức trailer phim, một phân đoạn ngắn được đánh giá là hay nhất, lãng mạn nhất trong bộ phim the Pianist và bản nhạc bất hủ trong phim: Nocture No 20 đô  thứ của nhạc sĩ thiên tài Chopin:

Trailer phim The pianist (2002):

https://mb.dkn.tv/nghe-thuat/ suc-manh-dieu-ky-cua-cau- chuyen-co-that-trong-nghe-si- duong-cam-chinh-am-nhac-giup- xoa-bo-han-thu-dau-kho-va- chien-tranh.html

Phân đoạn phim xuất sắc : Cảnh người nghệ sĩ kiệt quệ vì đói khổ thăng hoa trên phím đàn:  Và trọn vẹn bản nhạc tuyệt diệu Nocture No 20 giọng đô thứ của Chopin: (theo Thiên Kim- Hà Phương Linh)

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp

NHÀ VĂN HỒ BIỂU CHÁNH

HỒ BIỂU CHÁNH : NHÀ VĂN

TIÊU BIỂU MIỀN NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

Vương Trùng Dương

Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1884–1958) là một trong những nhà văn tiên phong của dòng văn học Việt Nam nói chung, và miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Với khuôn mặt nhà văn lão thành đã đóng góp cho nền văn học nước nhà trong một thế kỷ qua, dĩ nhiên có nhiều bài viết của các nhà phê bình văn học, văn nhân… đề cập đến tác giả và tác phẩm. Có thể nói, hoàn cảnh xã hội và thân phận người dân quê với nhân tình thế thái trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh gần một thế kỷ qua vẫn còn thấp thoáng cho đến nay.

Theo GS Phạm Thế Ngũ trong quyển Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên: “Đọc Hồ Biểu Chánh ngày nay chúng ta thấy một cái thú khác, cái thú được sống lại một thời tuy cách đây không xa mà có vẻ xưa lắm. Trong các tác phẩm trên và trong vô số tác phẩm về sau nữa, ông đã có công đem cặp mắt lịch lãm, cây viết chu trí, mà ghi lại bức tranh của cả một xã hội đương thời, cái xã hội miền Nam thành hình sau ngày Tây sang giữ mãi nền nếp cho đến những ngày tiền chiến.

Trước hết làm phông cho cái xã hội ấy là đất nước miền Nam, quang cảnh từ tỉnh thành về ruộng rẫy. Trong các tiểu thuyết của ông, những việc ông thuật kể diễn ra rải rác từ núi Bà Đen đến đảo Kim Qui, từ những giồng trảng miền Đông xuống đến những kinh rạch miền Tây, song ông thường ưa hơn khu vực ở giữa, các tỉnh Gò Công, Vĩnh Long, Cần Thơ, các quận Càn Long, Ô Môn, Vũng Liêm, nơi ông từng làm việc quan lâu năm và biết rõ đồng đất, người ngợm.

Nhất là châu thành Sài Gòn – Chợ Lớn hiến cho ông lắm tấn tuồng vân cẩu ly kỳ. Trong những khung cảnh bác tạp ấy, ông đưa ra đủ loại nhân vật, khoác cho một dung mạo, một tính tình, những thói quen và phong tục, thường đều là đánh dấu một thời đại cả”.

Trong lãnh vực văn học, Hồ Biểu Chánh sáng tác nhiều thể loại từ văn xuôi, văn vần, nghiên cứu, phê bình văn học, kịch, tuồng hát và dịch thuật… hơn một trăm tác phẩm. Tiêu biểu như: 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 5 tập thơ và truyện thơ, 12 vở hài kịch và ca kịch, 8 tập ký, 28 quyển khảo cứu phê bình.

Xem toàn bộ tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh sau đây (bấm vào đường dân) :Tác phẩm Hồ Biểu Chánh

oOo

Trong  4 quyển Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan, họ Vũ đã dành 8 trang viết về Hồ Biểu Chánh ở quyển I. Vũ Ngọc Phan nhận định :

“Về đường lý tưởng, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh cũng giống như tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách, nghĩa là cả hai nhà văn đều lấy luân lý làm gốc, lấy cổ gia đình làm khuôn mẫu, lấy sự trung hậu làm điều cốt yếu trong mọi việc ở đời. Nhưng tiểu thuyết của họ Hồ lại khác tiểu thuyết của họ Hoàng về mấy phương diện. Tiểu thuyết họ Hoàng thiên về tả tình và giọng văn nhiều chỗ ủy mị, cầu kỳ, không tự nhiên; còn tiểu thuyết của họ Hồ thiên về tả việc và lời văn mạnh mẽ, giản dị, nhiều chỗ như lời nói thường.

Thật thế, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh là tiểu thuyết đầy động tác, việc nọ việc kia đầy dồn dập, gây cho người đọc những cảm tưởng kỳ thú. Nếu đọc tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh mà lại chê là kém mặt tả tình, và tưởng tượng không được dồi dào, thì thật không biết xét nhận…

… Tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh lại là những tiểu thuyết có tính cách bình dân, bình dân cả từ những nhân vật ông chọn đến những lời văn ông viết nữa. Hạng người ông tả là hạng tiểu công chức, tiểu phú hào hay hạng thuyền thợ, hạng dân quê. Những hạng người ấy không phải những hạng người sống về tư tưởng, mọi cách hành vi của họ không có gì là sâu sắc, nên có người đã chê sự quan sát của Hồ Biểu Chánh là cạn hẹp…”

Và họ Vũ kết luận : “Dù sao, nếu đã đọc những tiểu thuyết của các nhà văn tiên phong, từ Nguyễn Bá Học trở lại, ai cũng phải nhận rắng từ Hoàng Ngọc Phách và Hồ Biểu Chánh, tiểu thuyết nước ta mới bắt đầu đến bước vụng vàng, để dân dần đi tới ngày nay là lúc đã có thể chỉa ra nhiều ngả, phân ra nhiều loại” (Vũ Ngọc Phan).

Tác phẩm tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đã cách nay đến 8, 9 thập niên nhưng được sưu tầm để tái bản và phổ biến trên internet. Qua nhận xét trên của Vũ Ngọc Phan, đơn cử vài tác phẩm tiêu biểu :

– *Ngọn Cỏ Gió Đùa, tác phẩm nầy xuất bản năm 1926, dày 572 trang, cách đây tròn 90 năm. Truyện có 21 chương, phổ biến trên internet Imvn.com. Tác giả tuy dựa vào  tác phẩm Les Misérables của Victor Hugo nhưng nêu ra thực trạng xã hội thời đó thật bi thảm, Lê Văn Đô con nhà nghèo, ở đợ, làm mướn để nuôi mẹ già và gia đình.

Trong lúc mất mùa, đói kém, Đô ăn cắp nồi cháo heo của Bá Hộ để nuôi mẹ và cháu mới sinh, bị bắt và lưu đày 20 năm! Ra tù, Đô sống vất vưởng bên lề xã hội… thời thế đưa đẫy, Đô vào lính trong thời điểm Lê Văn Khôi chống lại triều đình nhà Nguyễn, bao oan nghiệt ập đến con người có tấm lòng hân hậu và cuối cùng vĩnh biệt cuộc đời như “ngọn cỏ gió đùa”.

Theo nhận xét của GS Nguyễn Văn Trung : “Victor Hugo sắp xếp bố cục theo trật tự ưu tiên cho những gì tác giả muốn nhấn mạnh. Mở đầu câu chuyện, Hugo miêu tả cuộc đời giám mục Myriel rồi mới nói tới J. Valjean ngay từ lúc mới được thả, được Myriel đón tiếp rồi sau đó tác giả mới vượt dòng thời gian kể lại lai lịch gốc tích J. Valjean. Hồ Biểu Chánh thì lại kể chuyện đời Lê Văn Đô từ thuở bé, rồi mới bị tù, gặp Hòa Thượng nói về cuộc đời của Hòa Thượng…

Một đặc điểm khác trong truyện Hồ Biểu Chánh cho thấy ông tiếp thu kỹ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại là ông không dựng nhân vật điển hình. Trong hầu hết các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh chúng tôi không thấy ông dựng một mẫu người cố định nào. Ông hội đồng, ông đốc phủ, ông điền chủ không nhất thiết là người xấu, còn người nghèo không nhất thiết là người tốt. Các nhân vật của Hồ Biểu Chánh đều rất sống động và hấp dẫn, tạo nhiều bất ngờ lý thú, không như độc giả đã quen dự định khi đọc các truyện cổ điển ảnh hưởng Trung Hoa”.

Sứ mệnh nhà văn :

*Tiền Bạc Bạc Tiền, ngay cái tực đề cũng cho thấy xã hội trong thời điểm mà “đồng bạc đâm toạc tờ giấy” bởi tệ nạn buôn quan bán chức từ chốn quan quyền đến hôn nhân trong cuộc sống. Truyện có 8 chương, phổ biến trên internet hobieuchanh.com. Trong phần giới thiệu ghi : “Diễn tả  sự xung đột giữa cũ và mới, giữa nhân nghĩa và tham lam của xã hội miền Nam vào thời kỳ bắt đầu tiếp thu lối sống Tây phương. Ông khơi dậy một mối tình thầm kín và tình bạn hữu rất cảm động của ba nhân vật trong hai gia đình rất khác biệt. Hình ảnh kịch cợm, lố bịch của bà Phủ, ông Hội Đồng… dựa vào thế lực và tiền bạc để rồi thao túng, ép gả những cuộc tình đầu ngang trái.

*Con Nhà Nghèo, xuất bản năm 1930, dày 226 trang (truyện nầy có 17 chương, phổ biến trên internet sachhayonline.com). Tác giả nêu lên hình ảnh cao đẹp của thành phần tá điến, tá thổ, sống có tình có nghĩa với nhau, hy sinh cho con để nuôi dưỡng thành người hữu dụng, hiếu thảo.

*Khóc Thầm, xuất bản năm 1935, dày 116 trang (truyện nầy chỉ có 13 chương, phổ biến trên internet isach.info). Chuyện tình bi đát với con gái ông Hội Đồng (nhân vật tử tế) khi gặp người chồng du học từ Pháp về. Chàng trai có học nhưng thủ đoạn và lọc lừa, tìm mọi cách để chiếm đoạt tài sản. Với bản chất lương thiện và không muốn đem chuyện xấu xa tung ra ngoài nên người vợ âm thầm chịu đựng. Chàng trai (Vĩnh Thái) gieo ác nên gặp quả báo và nàng (Thu Hà) quyết tâm xây dựng lại cuộc đời mới sau tháng ngày cam chịu đau khổ.

*Vì Nghiã Vì Tình, tác phẩm nầy xuất hiện trên tờ Phụ Nữ Tân Văn năm 1929, xuất bản năm 1938, sách dày 138 trang (truyện nầy có 19 chương, phổ biến trên internet hobieuchanh.com). Nội dung tác phẩm ở phần kế tiếp theo GS Thanh Lãng.

GS Thanh Lãng viết về Hồ Biểu Chánh đã nêu ra các tác phẩm tiêu biểu :

1/- Ai Làm Được (1922) : Chúng tôi tiếc rằng trong tay không có bản in năm 1912 của cuốn Ai Làm Được mà chỉ có bản đã nhuận sắc năm 1922 cho nên không phê phán được sự khác biệt giữa hai lần in cách nhau 10 năm (1912-1922).

Ai Làm Được là câu truyện của một cô gái con một vị quan phủ, cô Bạch Tuyết nuôi chỉ báo thù cho mẹ. Ông phủ có hai vợ: vợ cả là mẹ Bạch Tuyết bị người vợ lẽ âm mưu bỏ thuốc độc cho chết. Nhờ một người lão bộc thân tín, Bạch Tuyết, tới 12 tuổi mới biết chính người dì ghẻ giết mẹ nàng.

Từ đấy, về phía nàng thì âm thầm tìm mưu cơ để trả thù cho mẹ, còn người dì ghẻ lại hết sức chiều chuộng Bạch Tuyết cốt để đoạt cái gia tài kếch xù mà Bạch Tuyết sẽ được thừa kế của ông ngoại nàng. Nhờ vào mưu tính mà nhất là nhờ vào ông ngoại và người chồng cưới trái ý mẹ ghẻ, Bạch Tuyết đã thoát chết và đem nội vụ ra làm sáng để trả thù được cho mẹ; bà phủ hai bị tù đày.

Câu truyện này có nhiều chỗ mô phỏng giống cuốn Andrẻ Cornelis của P. Bourget. André Cornelis lên 9 tuổi thì được biết cha mình đã bị ám sát mà thủ phạm lại chính là cha dượng. Sau nhiều suy nghĩ và tìm tòi André Cornelis đã đi đến chỗ bắt cha dượng phải thú nhận tội lỗi và đến tội một cách xứng đáng.

2/- Chúa Tàu Kim Qui (1922) : Thủ Nghĩa là vai chính của truyện này. Vì bảo vệ danh tiết cho em gái, Thủ Nghĩa đả thương một tay cường hào. Tên này đút tiền cho quan trên vu cáo Thủ Nghĩa theo đạo Gia Tô, cho nên chàng bị án chung thân. Trong lúc giam ở trong ngục, Thủ Nghĩa gặp một chú khách. Hai bên trở nên thân thiết và trước khi chết, chú khách có chỉ cho Thủ Nghĩa tìm ra đảo Kim Qui.

Sau này thoát đựơc ngục, Thủ Nghĩa biết kho vàng bạc châu báu dấu ở đảo Kim Quy, làm chủ cái kho vàng to tát kia. Chàng cải trang làm khách trú đóng tàu đi buôn bán qua các cửa biển từ Thái Lan qua Hương cảng và Trung Hoa. Từ đó chàng lấy tên là Chúa Tàu Kim Qui kết cục chàng đã tiêu được án cũ, báo oán cho những tên bất nhân và trả ơn cho những người đã làm ơn cho chàng.

Truyện này phỏng theo truyện Monte Crislo của Alexandre Dumas. Đại úy Dantes, là vai chánh của truyện Monte Cristo. Bị tình nghi là có liên lạc với địch, chàng cũng bị bắt và tống ngục. Chàng bị giam 15 năm. Chàng bị giam cùng với một Linh Mục Kỳ Dị. Vị linh mục này, trước khi chết, tỏ cho Dantes biết cái kho báu dấu ở núi Monte Cristo. Lập mưu tự tráo trở với xác chết của vị linh mục, chàng thoát được ngục, tìm đến đảo Monte Cristo làm chủ cả kho vàng vĩ đại. Từ đó chàng trở nên triệu phú và tự nhận tên là Monte Cristo. Nhờ thế chàng báo oán được tất cả các thù địch cũ và gia ân cho các bạn bè.

3/- Vì Nghĩa Vì Tình (1929) : Lý Chánh Tâm và Thái Cẩm Vân lấy nhau sinh được một đứa con trai đặt tên là Lý Chánh Hội. Thằng Hội sinh được mấy tháng thì Lý Chánh Tâm đi du học Pháp. Để vợ con ở nhà với bà nội. Chánh Tâm có người em gái lấy phải người chồng không ra làm sao cho nên sau này đâm ra ngoại tình với người bạn trai của Thái Cẩm Vân. Hai bên hay thư từ cho nhau. Nhưng các thư từ của tình nhân gửi đến thì nàng lại xin đề Thái Cẩm Vân để Thái Cẩm Vân trao cho nàng.

Sống ám muội như vậy trong bốn năm và sinh được một đứa con với người tình. Lý Tố Ngu, tên người đàn bà tội lỗi kia đâm ra hối hận tự tử chết. Giữa lúc đó thì Lý Chánh Tâm ở bên Pháp về, chàng bắt gặp cái thư đề tên Thái Cẩm vân mà trong thư sau tình nhân lại nói đứa con ngoại tình của nhau, vì sự hiểu lầm đó Lý Chánh Tâm tưởng thằng con lên bốn tuổi của chàng là con ngoại tình nên chàng đánh vợ gần chết rồi đưa con cho một đứa kẻ trộm vào nhà ban đêm.

Thế là từ đấy đứa con bị ngờ oan của chàng sống một cuộc đời phiêu lưu trôi dạt, khổ sở, vợ chàng đâm ra điên dại, còn chàng thì bơ vơ mất hồn. Nhờ có bạn giác ngộ cho hai vợ chồng dần dần làm lành và đi tìm được con về.

4/- Cha Con Nghĩa Nặng (1929) : Trần Văn Sửu là một nông dân đơn sơ chất phác lấy thị Lựu làm vợ sinh được thằng Tý và con Quyên. Nhưng Trần Văn Sửu thật thà bao nhiêu thị Lựu giam dâm bấy nhiêu. Được người ta bảo đích xác là vợ thông gian, Trần Văn Sửu gây gổ với vợ và vô ý xô vợ ngã chết. Sợ bị truy tố, Trần Văn Sửu trốn mất và ai cũng tưởng chàng đã chết trôi sông.

Trong suốt mười mấy năm trời thằng Tý và con Quyên được nhà giàu nuôi làm con nuôi và đang sắp gầy dựng gả bán cho chúng vào nơi quyền qúi giàu sang.. Giữa lúc ấy thì Trần Văn Sửu vì nhớ con quá phải lần về thăm con. Hai đứa con gặp được cha sung sướng, không những không sợ liên lụy mà còn cứu cha khỏi án cũ để cha con đoàn tụ vui vẻ,

5/- Chút Phận Linh Đinh (1931) : Lê Hiển Vinh và Đoàn Thu Vân đi du học xa nhà, nhân quen biết nhau rồi yêu nhau kết quả là Thu Vân thất thân với Hiển Vinh. Để cứu vãn danh dự, Hiển Vinh cưới Thu Vân làm vợ, trái ý cha vì thế chàng bị cha từ. Để chuộc tội với cha, hai vợ chồng bàn tính với nhau và Thu Vân để cho chồng đi du học Pháp để lập sự nghiệp. Tàu chở Hiển Vinh qua Pháp bị tàu Đức đánh đắm và báo đưa tin tất cả hành khách bị tử nạn hết.

Thu Vân buồn phiền, bỏ Hà Nội vào Nam định đem trả cháu cho ông nội chúng rồi tự tử chết theo chồng. Nhưng trên con đường Hà Nội vào Nam mấy mẹ con nàng trôi dạt gian nan không sao tả hết.

Nhưng nhờ sự kiên nhẫn, hai mẹ con nàng  gặp được ông nội và được ông nội tha thứ quên lỗi xưa, đồng thời lại gặp cả đứa con lưu lạc muời mấy năm trường. Đang lúc mẹ con, ông cháu vui mừng thì Hiển Vinh mà mọi người tin đã chết đắm tàu xưa đột ngột trở về trong cùng một lúc. Thế là cảnh nhà sum họp vui vẻ.

Phê bình về Hồ Biểu Chánh, trước tiên ta cần ngay có hai nhận định sau đây: cùng với phần đông nghệ sĩ của thế hệ, ông đã đem nhiều cái mới cho thế hệ để làm cho nó có bộ mặt riêng biệt khác những thế hệ khác, nhưng những cái mới ấy là những đặc tính chung cho hầu hết mọi văn nghệ sĩ thuộc thế hệ này; ngoài ra, cùng với một vài mầm non, Hồ Biểu Chánh đã có nhiều khác biệt với thế hệ đương thời và  báo trước sự chớm nở trong bóng tối một thế hệ mới”. (GS Linh mục Thanh Lãng)

Bài viết của Thụy Khuê : “Hồ Biểu Chánh (1885-1958), nhà văn tiên phong xây dựng nền tiểu thuyết  hiện đại Việt Nam” với phần kết :

“Hồ Biểu Chánh là người đầu tiên đã xây dựng nên toàn bộ hệ thống tiểu thuyết hư cấu, hiện thực trong tiếng Việt. Ông đã tạo ra một thế giới nhân vật tưởng tượng y như thật, trong đời sống, khiến Hồ Hữu Tường, thủa trẻ, khi đọc truyện của Hồ Biểu Chánh, đã nhập vào thế giới hư cấu ấy, mà ông gọi là “nhập mộng” và khi đọc xong, ông “tỉnh mộng”, bởi vì ông ra khỏi thế giới hư cấu của tiểu thuyết. Và ông viết về cuốn Tỉnh Mộng của Hồ Biểu Chánh như sau:

“…. Như vậy thì không thể nào ở trong cảnh thực mà có, chỉ ở trong mộng mà thôi. Nhưng tác giả viết rất tự nhiên, nên đọc tiểu thuyết, tôi sống mãi ở trong một cảnh mộng. Đến chừng xem đầu đề tiểu thuyết, tôi thấy đầu đề đó là Tỉnh Mộng. Tới chừng đó tôi hay rằng câu chuyện mà Hồ Biểu Chánh đã thuật lại, đã tạo cho tôi một cảnh mộng. Tôi ở trong cảnh mộng. Rồi bây giờ tôi thấy nó là tiểu thuyết. Đây tôi mới là người tỉnh mộng. Chớ tôi không hiểu những nhân vật tỉnh mộng đó là ai nữa.

Từ ấy, tôi mới có một quan niệm rõ rệt về tiểu thuyết. Té ra một tiểu thuyết hay là một tiểu thuyết tạo cho độc giả một cảnh mộng mà độc giả say mê đi vào cảnh mộng ấy, như vào cảnh thật vậy. Đến chừng đọc xong rồi, thì xếp sách nhìn lại nhan đề, mới hay là mình đã mộng. Như vậy, tôi có thể nói rằng vị giáo sư đầu tiên dạy cho tôi văn chương, dạy bản sắc của văn chương, dạy lý thuyết về văn chương, ấy là Hồ Biểu Chánh. Một tiểu thuyết, với nhan đề của nó, làm cho tôi hiểu rõ định nghiã của tiểu thuyết là gì ?

Những tiếng của Pháp như là Roman, của Anh là Novel, Tàu là Tiểu Thuyết, đều không làm sao giúp tôi hiểu định nghĩa rõ rệt của loại mà trong văn chương gọi là tiểu thuyết cả” ((trích bài Nhập Mộng và Tỉnh Mộng của Hồ Hữu Tường, Văn số 80, tưởng niệm Hồ Biểu Chánh, ra ngày 15/4/1967, trang 34).

Không chỉ có Hồ Hữu Tường mà Dương Nghiễm Mậu, cũng đã nhìn thấy ở Hồ Biểu Chánh một bậc thày khai phá, mở cửa cho ông vào thế giới tiểu thuyết, vào miền Nam, quê hương thứ hai của ông, Dương Nghiễm Mậu viết :

“Tôi đã đọc tiểu thuyết của ông cách đây mười mấy năm trời, khi còn theo học những lớp đầu tiên bậc trung học ở Hà Nội (…) Rồi trong nhiều hoàn cảnh khác, tôi lần lượt đọc những tiểu thuyết của ông. Sau này, có một thời gian tôi đã dành thì giờ để đọc lại những gì đã đọc, đọc những gì chưa đọc với mục đích tìm hiểu, những khởi đầu của nền văn học ta, tìm hiểu những đặc tính miền Nam, quê hương thứ hai tôi yêu dấu. Quê hương miền Nam, con người, văn chương mở ra cho tôi những bàng hoàng không ít. Cuộc sống nơi những vùng sình lầy hoang vu, trong kinh rạch quyến rũ tôi, tôi không bỏ một cơ hội nào để tới những nơi đó. (…)

Cũng vì thế bài viết (này) như  một nhớ ơn, nhớ ơn những người đã để lại cho chúng ta những di sản lớn…” (trích bài Từ đó đến nay của Dương Nghiễm Mậu, Văn số 80, trang 57).

Những lời trên đây của hai nhà văn Hồ Hữu Tường và Dương Nghiễm Mậu đã xoá được gần một thế kỷ thành kiến và đánh giá sai lầm về Hồ Biểu Chánh, nhà văn tiên phong đã đưa văn học Việt Nam vào thế giới hư cấu của tiểu thuyết hiện đại”. (Thụy Khuê)

oOo

Trước thế kỷ XX, các tác phẩm viết bằng văn vần chữ Nôm như Hoa Tiên, Truyện Kiều, Lục Văn Tiên… Trong thời kỳ đầu của Văn Học Chữ Quốc Ngữ qua các tác phẩm dịch thuật như Thủy Hử, Tây Du, Phong Thần, Tam Quốc Chí, Thuyết Đường Diễn Nghĩa… rồi sau đó với Tây Sương Ký, Song Phụng Kỳ Duyên, Tái Sanh Duyên, Đông Châu Liệt Quốc…

Năm 1913 tờ Đông Dương tạp chí ra đời, Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Theo GS Thanh Lãng: “Có nghĩa là Đông Dương tạp chí đã làm xoay chiều văn học, đã đưa cái mới vào văn học, làm cho hai thế hệ trước và sau khác hẳn nhau…”. Đông Dương tạp chí quy tụ nhiều cây bút, nhân sĩ giữa Nho học và Tây học nhằm truyền bá phong trào viết văn với chữ Quốc Ngữ.

Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch tác tác phẩm trong văn học Pháp ra chữ Quốc Ngữ như: Manon Lescaut của Abbé Prévost thành Mai Nương Lệ Cốt, Les Trois Mouquetaires của Alexandre Dumas thành Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ, Les Misérables của Victor Hugo thành Những Người Khốn Khổ, La Peau de Chagrin của Honoré de Balzac thành Miếng Da Lừa…

Hồ Biểu Chánh không dịch từ các tác phẩm ngoại quốc và cũng không phóng tác mà dựa vào tinh thần nội dung để sáng tác trong bối cảnh xã hội đương thời: Ai Làm Được (André Cornréolis của Paul Bourget), Chúa Tàu Kim Quy (Le Conte de Monte Cristo0 của A. Dumas), Cay Đắng Mùi Đời (Sans Famille của Hector Malot), Chút Phận Linh Đinh (En Famille của Hector Malot), Ngọn Cỏ Gió Đùa (Les Misérables của Victor Hugo), Vì Nghĩa Vì Tình (Fanfan et Claudinet của P. Decourcell), Người Thất Chí (Crimes et Châtiment của Fédor Mikhaïlovitch Dostoievski)…

Năm 1925, tác phẩm Quả Dưa Đỏ của Vũ Trọng Phụng (dựa vào truyện cổ tích trong Lĩnh Nam Trích Quái) được giải thương văn chương của Hội Khai Trí Tiến Đức… đánh dấu giai đoạn trưởng thành của “tiểu thuyết hiện đại”.

Trong tác phẩm Hồ Biểu Chánh, ngoài cách hành văn đơn thuần, giản dị như lời trò chuyện, xử dụng ngôn ngữ đặc thù miền Nam để phổ biến cả nước. Các nhà văn miền Nam sau nầy như Mộng Huê Lầu (Lê Hoằng Mưu), Phú Đức (Nguyễn Đức Nhuận), Phi Vân (Lâm Thế Nhơn), Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên, Bà Tùng Long… cho đến những thập niên qua ở hải ngoại như Hồ Trường An, Nguyễn Đức Lập… khi đọc cảm nhận được văn phong và ngôn ngữ miền Nam.

Nhà văn tiền bối Hồ Biểu Chánh đã có công đóng góp trên văn đàn Việt Nam qua nhiều tác phẩm với nhiều thể loại, được coi là “ngọn đuốc soi đường” cho thế hệ kế tiếp ở miền Nam VN. (theo Vương Trùng Dương)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

PHỤ NỮ SÀI GÒN THẬP NIÊN 60

PHỤ NỮ SÀI GÒN ĂN MẶC

CHƠI SANG TỪ THẬP NIÊN 1960

Sài Gòn trong những bức ảnh xưa hiện lên với những quý cô xinh đẹp, phóng khoáng và chịu chơi… luôn khiến người ta thích thú.

Sài Gòn đã bước qua những giai kỳ hoa lệ khác nhau, giai kỳ nào cũng tân thời và phồn hoa. Thế kỷ trước, Sài Gòn được những tao nhân mặc khách mà giờ chắc đã ra thiên cổ gần phân nửa ưu ái gọi bằng cái tên Hòn ngọc Viễn Đông.

Tôi luôn tự hỏi, điều gì khiến Sài Gòn được ưu ái gọi tên như thế, do vị trí địa lý phù hợp với những cuộc kinh thương ngoại quốc, do đất chật người đông, ồn ào náo nhiệt với những vũ trường, rạp hát ken đặc người…? Không, có lẽ Sài Gòn được ví như ngọc là bởi con người, nhất là phụ nữ Sài Gòn thời đó.

Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước, có thể nói là từ năm 1960 đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang riêng biệt. Từ một cô gái xa lạ băng ngang qua đường với kiểu tóc “bình bông” và đôi kính râm thôi cũng đủ khiến cánh đàn ông đang đọc nhật trình gần đó phải ngẩn ngơ ngước nhìn.

Hay những cô nàng mặc áo dài đáy thắt lưng ong, mắt kẻ viền đen, tay cầm dù hoa đang vội vàng nhảy lên một chiếc xích lô gần đó để đi cho kịp giờ coi hát cũng đủ khiến các ông các anh chạy theo, xin một lần hò hẹn. Và cả những người đàn bà buôn gánh bán bưng nhưng biết chăm chút từng nét chỉ, thớ vải áo dài để bước xuống đường sao cho ra dáng Sài Thành nhất…

Ngắm nhìn những bức ảnh phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước, tôi đồ rằng đó là phố thị duy nhất trên thế giới nơi một người đàn bà bình thường trên phố cũng mang phong thái của một quý bà dạ hội.

H1: Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang phong thái riêng biệt. H2: Áo dài, nón lá và đôi guốc vài phân là những món đồ thời trang không thể thiếu của phụ nữ Sài Gòn thời trước.

H3: Sự giao thoa giữa tân thời và truyền thống đã được phụ nữ Sài Gòn xưa áp dụng triệt để, nhưng không vì thế mà nó kém xinh, ngược lại nó tôn lên vẻ hiện đại nền nã của phụ nữ thời đó. H4: Cách ăn mặc và ngôn ngữ cơ thể cũng đủ để chứng minh đặc tính phóng khoáng của phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước. Áo dài nền nã là vậy, phụ nữ Sài Gòn dường như vẫn chẳng e ấp mà rất cởi mở, tự tin trong phong thái.

H5: Sơ mi trắng và chân váy ngang đầu gối cũng là một mốt thời mấy chục năm trước của những cô nàng trẻ trung hiện đại. H6: Nhìn lướt qua thôi cũng nhận ra đây đích thực là phụ nữ Sài Gòn. H7: Sự hòa trộn tinh tế giữa tân thời và nét cổ Á Đông. H8: Appe Three (Ba trái táo) ban nhạc 3 cô gái chuyên biểu diễn ở các hộp đêm với lối ăn mặc vô cùng gợi cảm.

H9: Nhưng suy cho cùng, dù Sài Gòn ngày ấy có tân thời cách mấy, những người phụ nữ vẫn ưu ái chọn chiếc áo dài mỗi khi xuống phố. H10: Sài Gòn luôn nắng nóng quanh năm nên dù cũng là phụ kiện không thể thiếu của chị em thời đó.

H11: Đừng nghĩ phụ nữ Sài Gòn cách đây nửa thế kỷ chỉ biết ăn diện mua sắm, mà đọc báo cũng là một thú tao nhã của chị em. Trong ảnh là một cô gái đứng mua báo tại một kiôt góc đường Tự Do – Nguyễn Văn Thinh (nay là Đồng Khởi – Mạc Thị Bưởi). H12: Ngoài đi bộ dạo phố, nhiều quý bà, quý cô còn chọn xích lô làm phương tiện di chuyển hàng ngày.

H13: Một “Paris Phương Đông” phồn thịnh với cub, vespa và những quý cô hợp mốt. Vespa, váy bút chì, tóc bob, kính râm thì còn gì hiện đại hơn ?

H14: Áo dài và xe đạp là hình ảnh thường thấy trong những hình chụp phụ nữ Sài Gòn hơn nửa thế kỷ trước. H15: Áo dài thướt tha, tóc bay trong gió thì luôn có những ánh mắt dõi theo. H16: Quần ống loe – mốt của những năm 70 được phụ nữ Sài Gòn nhiệt liệt chào đón. H17: Ngoài những cây dù, kính râm cũng là một phụ kiện không thể thiếu của các quý cô Sài Gòn xưa, vì nó giúp họ toát lên sự thời thượng, sang trọng.

MỘT CA KHÚC Ý KHIẾN

AI CŨNG NGỠ LÀ QUỐC CA

Một ca khúc tuyệt vời tới mức người ta gọi là “dân ca Ý”, được nhiều ca sĩ dấn thân cả ở phong cách cổ điển và đại chúng. Mỗi phong cách đều thể hiện những nét đẹp tuyệt vời với những ca từ cao vút và những nốt nhạc hạnh phúc, hoàn mỹ, bay bổng, tràn ngập tình yêu… Đó là ca khúc nào vậy ?

Đó chính là O sole Mio (Mặt trời của tôi), một bản nhạc được ví như “Quốc ca Ý” ở nước ngoài, và thường được công chúng trên thế giới gọi là dân ca, vì cảm thấy nó quá kinh điển, ai ai cũng biết, ai ai cũng yêu mến ca khúc.

Mặt trời của tôi đã được nhiều ca sĩ thể hiện cả ở phong cách cổ điển và đại chúng. Mỗi phong cách đều thể hiện một những nét đẹp tuyệt vời với những ca từ cao vút và những nốt nhạc hạnh phúc, hoàn mỹ, bay bổng, tràn ngập tình yêu…

Lời dịch bài hát Ý khiến người ta ngỡ ngàng bởi ca từ đẹp và hạnh phúc hiếm thấy : Chàng trai đang ca ngợi vầng thái dương, đột nhiên có sự so sánh bất ngờ: Có ánh sáng tuyệt vời, ấm áp hơn mặt trời, đó chính là nụ cười của người tôi yêu. Em hỡi, vầng thái dương thân yêu, với nụ cười tươi, thắm tô cuộc đời…

Đoạn này cũng chính là cao trào của bản nhạc, là điệp khúc thăng lên với những nốt nhạc cao chót vót như niềm hạnh phúc tràn ngập thăng hoa. Người nhạc sĩ viết nhạc đã quá tài hoa khi đẩy điệp khúc cao trào tới khúc ca từ này…

Người ta tưởng đây là một bản dân ca !

Bản nhạc da diết O Sole Mio (Mặt trời của tôi) này trên thực tế không phải một bản dân ca, mà là sáng tác của nhà soạn nhạc người Ý kiêm ca sĩ Eduardo di Capua (1865-1917), lời thơ của nhà thơ Giovanni Capurro  (1859-1920), và danh ca Italia giọng tenor Enrico Caruso (1873-1921) là ca sĩ thể hiện đầu tiên.

Ba con người tài hoa này đều cùng một thế hệ với nhau và họ đều sinh ra ở Napoli, Ý, nên khi ca khúc vang rộng vang xa khắp chốn khắp cõi, thì nó không chỉ là niềm tự hào của Napoli, mà còn là niềm tự hào của nước Ý. Nhạc sĩ Eduardo Di Capua sáng tác O Sole Mio trong một chuyến lưu diễn cùng cha ông là Jacob-vốn là một cây violinist cừ khôi, tại Odessa, Ucraina.

Đó là năm 1898, nhạc sĩ Eduardo Di Capua nhận lời đề nghị viết nhạc từ nhà thơ Giovanni Capurro sau khi nhà thơ đã hoàn thành bài thơ O sole mio của mình.

Ca khúc lời Việt “Mặt trời của tôi”

– O Sole Mio – Mặt Trời Của Tôi – Bằng Kiều, Trọng Tấn Opera

https://www.youtube.com/watch? v=rbgosiy8yVw

Lời ca khúc bằng tiếng Việt được nhạc sĩ Phạm Tuyên viết lời đã thể hiện được gần như hoàn thiện tinh thần của ca khúc gốc. Những giọng ca thính phòng đỉnh cao Việt Nam và cả những giọng ca nhạc nhẹ xuất sắc đều muốn thể hiện ca khúc này:

Những Ông Hoàng, ông Vua các thể loại nhạc, từ thính phòng tới nhạc đại chúng  đặt giọng ca mình vào những cung bậc hạnh phúc nhất này:

– “Vầng mặt trời nước Ý” Luciano Pavarotti.

https://www.youtube.com/watch? time_continue=5&v=d_mLFHLSULw

Không thể không kể đến Pavarotti, ca sĩ được ví như “Vầng mặt trời của âm nhạc nước Ý”, giữ vững hai vị trí trong sách kỷ lục Guiness. Ông là ca sĩ được khán giả vỗ tay mời ra hát lại nhiều nhất (165 lần) và Ca sĩ có album nhạc cổ điển bán chạy nhất mọi thời đại cùng với ban nhạc The Three Tenors – 3 giọng tenor tuyệt vời nhất nước Ý (album Carreras, Domingo, Pavarotti: The Three Tenors in Concert).

– “Ông Hoàng” Elvis Presley đã hát O sole Mio bằng tiếng Anh với cái tên It’s now or never (Ngay bây giờ hoặc là không bao giờ), khiến người nghe lập tức muốn nhún nhảy theo giọng ca vàng của nước Mỹ này:

https://www.youtube.com/watch? time_continue=1&v=QkMVscR5YOo

– Cả nam ca sĩ Bryans Adam cũng muốn thể hiện bên cạnh Mặt trời nước Ý:

https://www.youtube.com/ watch?v=5a0juQ0aeGI

– Bông hồng rực rỡ, giọng nữ cao Sandra Plamenats thể hiện Mặt trời của tôi:

https://www.youtube.com/watch? v=fbhdiDEI2CQ

ĐIỀU GÌ ẨN GIẤU ĐẰNG SAU BẢN

SONATA ÁNH TRĂNG

CỦA BEETHOVEN ?

Sonata Ánh trăng có thể nói là một bản nhạc đánh dấu sự thay đổi trong phong cách sáng tác âm nhạc của nhà soạn nhạc thiên tài Beethoven. Nó vừa có một cái gì đó như là tiếc thương, mất mát, vừa có những lời nguyện cầu, vừa có sự dữ dội như bão tố. Đằng sau bản sonata nổi tiếng này là rất nhiều câu chuyện…

Bản sonata cung Đô thăng thứ dành cho piano mang tên “Quasi una fantasia” thường được biết đến dưới cái tên bản sonata Ánh trăng, là một tác phẩm của nhà soạn nhạc thiên tài Ludwig van Beethoven sáng tác vào năm 1801. Ngày nay, nó là bản nhạc nổi tiếng nhất của ông dành cho piano, và ngay cả thời bấy giờ nó cũng là bản nhạc được rất nhiều người yêu thích. Nói về sự phổ biến của sonata Ánh trăng, nó đã làm Beethoven phát bực. Ông từng nói với học trò Czerny của mình rằng : “Thầy còn viết nhiều bản hay hơn thế”, ấy vậy mà người ta cứ nhắc mãi về sonata Ánh trăng…

Có rất nhiều câu chuyện được kể để giải thích cho sự ra đời của bản sonata Ánh trăng. Vào giữa thế kỷ 19, người ta bắt đầu đồn đại về cuộc gặp gỡ của Beethoven với một cô gái mù. Theo đó, khi gặp cô bé mù đang ngồi bên cạnh một chiếc đàn piano, Beethoven đã rất đỗi cảm thương. Ông ngồi xuống chính chiếc đàn piano đó và đột nhiên cảm nhận được ánh trăng đang chiếu vào qua cửa sổ. Như được truyền cảm hứng, Beethoven đánh lên những nốt nhạc của bản sonata nổi tiếng. Trong một phiên bản khác của câu chuyện, nhà soạn nhạc đã ngắm nhìn ánh trăng chiếu vào cô gái mù trong khi ông đang chơi đàn cho cô và anh trai cô. Và rồi ông nhận được linh cảm để sáng tạo nên “Quasi una fantasia”. Lại có người cho rằng đây là bản nhạc dành cho một tình yêu không trọn vẹn của nhà soạn nhạc thiên tài…

Dẫu sao, đó cũng chỉ là những “truyền thuyết”. Ánh trăng không phải là cái tên do Beethoven đặt cho bản sonata cung Đô thăng thứ (C♯ minor) này. Cái tên sonata “Ánh trăng” chỉ xuất hiện vài năm sau khi Beethoven đã qua đời. Vào năm 1836, nhà phê bình âm nhạc Đức, Ludwig Rellstab, chia sẻ rằng bản sonata này gợi lên trong ông hình ảnh ánh trăng phản chiếu trên hồ Lucerne. Kể từ đó, cái tên sonata Ánh trăng mới trở thành tên gọi “chính thức” một cách không chính thức của bản nhạc.

Beethoven không sáng tác sonata Ánh trăng theo mô thức truyền thống là nhanh – chậm – nhanh. Nó bắt đầu với thể Adagio (cung Đô thăng thứ) chậm, rồi nối tiếp bằng Allegretto (cung Rê giáng trưởng) chậm và kết thúc bằng Presto agitato (cung Đô thăng thứ) dữ dội. Phần thứ nhất thật là nhẹ nhàng, sâu lắng, và buồn. Nhà soạn nhạc người Pháp Berlioz bình luận rằng nó như “một thứ thơ mà ngôn ngữ con người không thể nào cất lên được”. Còn học trò của Beethoven, Carl Czerny thì cho rằng nó miêu tả một “màn đêm, với những âm thanh ảm đạm vọng tới từ phương xa”. Cũng có người cảm tưởng rằng mình đang bước đi trong đêm tối dưới ánh trăng chiếu rọi.

Phần thứ hai, Allegretto (cung Rê giáng trưởng), lại mang người nghe bình tĩnh trở lại với những nốt nhạc có phần tươi tắn hơn, trong sáng hơn, đem đến hy vọng. Phần thứ hai rất ngắn, dường như chỉ là cây cầu nối cho phần thứ nhất và phần thứ ba. Nhà soạn nhạc Franz Liszt đã ví phần thứ hai này như là “một bông hoa giữa hai vực thẳm” vậy. Bông hoa của Beethoven cứ nở rồi lại thu về rồi lại nở, tuần hoàn lặp lại trên nền nhạc.

Phần thứ ba là phần “bão tố” của sonata Ánh trăng. Những nốt nhạc nhanh và mạnh mẽ bộc lộ một cảm xúc dữ dội.

Bên cạnh những “truyền thuyết” lãng mạn về bản sonata Ánh trăng, người ta không thể lãng quên một thực tế rằng vào giai đoạn sau 1801, Beethoven bắt đầu nếm trải sự tuyệt vọng trong tâm hồn khi phải cố gắng chấp nhận việc mình bị mất thính giác. Người ngoài nhìn vào thì thấy Beethoven có một cuộc sống lý tưởng, là một nghệ sỹ piano bậc thầy và là một nhà soạn nhạc thành công hàng đầu ở Vienna. Tuy nhiên, Beethoven bắt đầu rời xa khỏi xã hội và bè bạn vì lo lắng rằng mọi người sẽ biết việc mình sẽ bị điếc. Người ta thì cảm thấy ông khó gần…

Beethoven đã sống nhiều năm trong tịch mịch và cô đơn cho tới lúc điếc hẳn. Hoàn cảnh đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần và sự sáng tạo của ông trong âm nhạc. Giai đoạn 1800 – 1802 đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời Beethoven và cũng khởi đầu cho giai đoạn sáng tác tiếp theo của ông. Khi tai không còn nghe được nữa, Beethoven bắt đầu lắng nghe bằng tâm hồn của mình.

Beethoven đã tìm cách điều trị tại một ngôi làng ở Heilgenstadt vào cuối mùa xuân năm 1802 cho đến tháng 10 cùng năm đó. Quá tuyệt vọng vì việc chữa trị không thành công, ông từng có ý định tự kết liễu đời mình. Trong một bức thư, ông kể: “Nhờ nghệ thuật mà tôi đã không kết liễu đời mình bằng việc tự sát”.

Lặp đi lặp lại trong âm nhạc của Beethoven chính là tinh thần vượt qua nghịch cảnh. Những xung đột nội tâm ông trải qua đều có thể tìm thấy trong âm nhạc, đó là việc vượt lên tất cả để chiến thắng sự tuyệt vọng và đau buồn. Cũng qua những giằng xé trong tâm tưởng đó, Beethoven đã học được cách sống cùng với tật mất thính giác và trở thành một thiên tài âm nhạc với các kiệt tác vô cùng vĩ đại.

Sau đợt điều trị, Beethoven tỏ vẻ không hài lòng với các tác phẩm của mình và theo như học trò của ông, Czerny, thì “ông quyết tâm đi trên một con đường mới”. Sự thay đổi đó thể hiện qua tiết tấu mạnh mẽ trong những bản sonata, sự kịch tính, sự bất cân đối…

Sonata Ánh trăng có thể được xem là sáng tác đầu tiên khi Beethoven bước sang giai đoạn dần mất đi thính lực cho đến lúc điếc hẳn. Sự tiếc thương và mất mát trong tác phẩm, những lời nguyện cầu, và cả bão tố đã tạo nên một thứ âm nhạc tuyệt hảo, thứ âm nhạc khởi đầu cho những kỳ tích mang tên Beethoven. (theo Thanh Nhã)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

BÍ ẨN XUNG QUANH

MỘT TUYỆT TÁC

SUÝT LÀ BIỂU TƯỢNG

CỦA SÀI GÒN

Lăng Ông – lăng mộ đức Tả quân tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt nằm ở vị trí ‘long mạch’, vùng ‘sơn thủy chi giao’ chứa nhiều điều bí ẩn, ít ai biết từng có thời được định chọn làm biểu tượng cho Sài Gòn.

Nằm trong khuôn viên rộng 18.500 m2, kế bên hông chợ Bà Chiểu (số 126 đường Đinh Tiên Hoàng, Q.Bình Thạnh), lăng Ông – còn có tên gọi phổ biến là lăng Ông Bà Chiểu, là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo của vùng đất Nam Bộ, có mặt chính hướng ra phía Cầu Bông. Ngày xưa nơi đây là vùng đất hoang rậm của thượng du Nghi Giang nên bây giờ vẫn còn tồn tại nhiều loại cây xanh, gỗ quý như: dầu, giá tỵ, bằng lăng, thốt nốt… rợp mát bước chân du khách.

Vì sao Lăng Ông mà lại có mộ… bà ?

Sử sách xưa ghi lại : “Tháng 7 năm 1832 (Nhâm Thìn), tả quân Lê Văn Duyệt mất được an táng tại làng Bình Hòa (bây giờ là Q.Bình Thạnh). Tuy nhiên, do mối tị hiềm với tả quân nên vua Minh Mạng đã ghép ông vào 11 trọng tội và “đến chỗ mả đắp, san làm đất bằng”, dựng bia khắc 8 chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xử (Chỗ tên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội).

Đến năm 1841, khi Thiệu Trị con trai trưởng vua Minh Mạng lên ngôi thì nỗi oan khiên trên mới được giải. Vua cho xuất tiền kho xây đắp lại mộ cho tả quân Lê Văn Duyệt khang trang”.

Mặc dù có tên gọi là lăng Ông nhưng bên trong khu lăng vẫn có… bà được chôn cất theo. Chánh thất tả quân phu nhân tên là Đỗ Thị Phận được song táng nằm song song với chồng. Hai ngôi mộ đều có hình thức, kích thước và chất liệu kỹ thuật giống hệt nhau. Thoạt nhìn như hai quả trứng ngỗng xẻ theo chiều dọc úp trên hình chữ nhật có tác dụng như đế mộ, theo kiểu phối hợp tấm liếp (kệ bên dưới) và trứng ngỗng (phần úp bên trên).

Điều khá bất ngờ là thực ra thời điểm đó bà Phấn cũng bị khép tội như chồng nhưng vì Lê Văn Duyệt có tật “ẩn thân” nên về lý không thể là vợ của ông, do đó triều đình mới tạm tha. Bà về ở với mẹ ruột trong một ngôi chùa ở Chợ Lớn, khi mất đi được người thân an táng tại khuôn viên trong vườn. Sau này, tả quân Lê Văn Duyệt mất các bộ hạ thân tín mới đem hài cốt của bà bí mật mang vào chôn bên cạnh ông để hai vợ chồng điền viên nơi chín suối.

Toàn bộ tường xây xung quanh hai ngôi mộ hiện nay sử dụng đá ong trát xi măng gọi là Uynh Thành. Mặt ngoài bình phong tiền có chạm hình con chim đậu trên cành cây trong tư thế xõa cánh, còn mặt trong đắp hình hai con hổ: một lớn, một nhỏ. Bình phong hậu đắp nổi một mặt rồng, chân có bốn móng trông rất uy nghi, trang nghiêm.

Huyền thoại xung quanh cuộc đời Tả Quân

Có nhiều huyền thoại và câu chuyện lưu truyền trong dân gian về cuộc đời của nhân vật đặc biệt xuất chúng của vùng đất Nam Bộ. Điều đó cũng hoàn toàn bình thưởng vì lúc còn sống, tả quân Lê Văn Duyệt là nhân vật rất có quyền uy, được người dân kính nể khi hai lần ông được vua triều Nguyễn cử giữ chức Tổng trấn Gia Định thành (1812 – 1815) và (1820 – 1832), cai quản cả một vùng rộng lớn của đất phương Nam.

Theo nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Ngọc Trang trong cuốn Nghệ thuật kiến trúc, trang trí, lễ hội lăng Tả quân Lê Văn Duyệt : “Tả quân Lê Văn Duyệt có “tướng tinh”, nghĩa là con cọp bạch. Vì vậy, lúc ông chưa phò chúa Nguyễn khi ngủ có người thấy thấp thoáng bóng con cọp bạch hiện ra. Lại có truyền tụng rằng những con hổ mà Lê Văn Duyệt nuôi để mang đi giao đấu rất sợ và tuân lời ông răm rắp. Nhiều khi chúng đang nổi giận gặp cái gì cũng giày xéo nhưng thấy thấp thoáng bóng tướng quân là ngoan ngoãn, điềm tĩnh ngay lại”.

Chuyện xưa còn kể rằng, khi đang giữ chức tổng trấn, một lần đi lên núi Bà Đen (Tây Ninh bây giờ) viễn cảnh, ông được báo ứng biết trước hậu vận là sẽ bị hành hạ, mả mồ bị xiềng xích, tên tuổi bị đục khoét rồi mới được minh oan mà sau này diễn tiến đúng y như thật.

Việc ông tạ thế cũng có thêm huyền thoại, như sách đã dẫn : “Lúc Lê Văn Duyệt ngã bệnh, cột cờ trong thành Gia Định không có gió mà tự nhiên gãy. Một tháng sau, lúc có việc đi kinh lý biên giới, vừa ra khỏi thành thì con voi ông cưỡi thình lình nằm bẹp dí xuống đất, cất tiếng rống thảm thiết dù bắt ép thế nào cũng không đứng dậy.

Cuối cùng ông phải dùng ngựa mà đi, Lê Văn Duyệt thấy có điềm lạ nên mới cho mọi người hay biết mình đang bị bệnh. Việc ông mất bị hàm oan, thể xác hành hạ và mồ mả bị xiềng xích cũng khiến cho khu lăng mộ này trở nên linh thiêng và huyền bí hơn”.

Được biết, trước đây có một thời và có người đã từng muốn lấy hình ảnh lăng tả quân Lê Văn Duyệt làm biểu tượng cho Sài Gòn nhưng rồi không thành. Tuy nhiên, hiện nay du khách mỗi khi đến Sài Gòn đều muốn đến viếng và tham quan lăng Ông Bà Chiểu, một công trình di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia độc đáo, có một không hai của Sài Gòn và rất nhiều lễ hội hàng năm cũng được tổ chức tại đây, thu hút rất đông khách thập phương. (theo Lê Công Sơn)

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

HÌNH PHẠT XƯA : CHẶT ĐẦU THAM NHŨNG

VUA MINH MẠNG TỬ HÌNH CHA VỢ

VÌ THAM NHŨNG 30.000 QUAN TIỀN

Là ông vua nghiêm khắc bậc nhất của triều Nguyễn, Vua Minh Mạng thường trị tội rất nặng những kẻ tham nhũng, kể cả hoàng thân quốc thích.

Vua Minh Mạng (1791-1841, tên húy Nguyễn Phúc Đảm) có công xây dựng Đại Nam trở thành quốc gia rộng lớn, hùng mạnh bậc nhất trong khu vực. Các nước lân bang đều phải kính nể.

Để trị tội tham quan, vua từng xử tử, chặt ngón tay của những kẻ có hành vi tham nhũng. Trong số các vụ án trị quan tham của Minh Mạng, nổi tiếng nhất là vụ tử hình bố vợ nhà vua là Huỳnh Công Lý, khi ông này tham nhũng 30.000 quan tiền.

Khắc tinh của tham quan

Theo Đại Nam thực lục, tháng 5/1823, Lý Hữu Diệm làm quan tại phủ Nội vụ, lấy trộm hơn một lạng vàng. Việc bị phát giác, bộ Hình đưa ông Diệm ra xét xử. Theo quy định của Luật Gia Long, tội ăn trộm ngân khố dù ít hay nhiều cũng sẽ bị chém đầu. Nhưng xét thấy Lý Hữu Diệm vốn có nhiều công trạng, Bộ Hình đã tha tội chết, chỉ bắt đi đày viễn xứ. Khi án được tâu lên, vua Minh Mạng không đồng ý với đề nghị của bộ Hình.

Nhà vua nhất quyết yêu cầu Bộ Hình đem can phạm ra trước chợ Đông Ba chém đầu, cho mọi người trông thấy mà sửa mình với chỉ dụ: “Lý Hữu Diệm phải giải ngay đến chợ Đông, chém đầu cho mọi người biết, phải truyền cho viên lại Nội vụ phủ cùng đến xem, hoặc giả mắt thấy lòng sợ mà tự khuyên răn nhau để khỏi mắc tội, há chẳng là một phương thuốc hay cho bọn người sao?”.

Tháng 11/1831, Nguyễn Đức Tuyên, tư vụ Nội vụ phủ, ăn bớt nhựa thơm. Việc bị phát giác, vua Minh Mạng liền ra chỉ dụ: “Đáng lẽ cho trói đem ra chợ Cửa Đông chém đầu, nhưng lần này tạm chặt một bàn tay thủ phạm đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận và nhờ đó để làm cho mọi người đều biết tỉnh ngộ, răn chừa. Thế cũng là một cách trừng trị kẻ gian”.

Năm 1834, đến lượt tuần phủ Trịnh Đức bị thắt cổ chết vì tham ô một nghìn quan tiền nhưng lại nói dối bị giặc cướp mất. Cũng trong năm này, quản mộc Hồ Văn Hạ cũng mất đầu vì tham nhũng.

Xử tử cả bố vợ

Trong số những lần trị tội tham quan, vụ án xử tử cha vợ Huỳnh Công Lý của vua Minh Mạng đã gây rúng động dư luận lúc bấy giờ và nhiều năm sau này. Huỳnh Công Lý là một trong những võ tướng nổi tiếng thời Gia Long, có công giúp Nguyễn Ánh dựng nên cơ đồ nhà Nguyễn, sau được phong làm Lý Chính Hầu.

Khi con gái được vua Minh Mạng phong làm Huệ phi, Huỳnh Công Lý càng được tin dùng. Ông được phong làm Phó tổng trấn Gia Định, quyền hành chỉ sau mỗi Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Quyền lực là thế, lại mang danh bố vợ nhà vua, nhưng cuối cùng, người này không thoát án tử vì tội tham nhũng.

Theo Đại Nam thực lục, trong thời gian Lê Văn Duyệt ra Huế (1816-1820), Huỳnh Công Lý được giao giữ chức Phó tổng trấn. Lợi dụng chức vụ và bề trên đi vắng, Huỳnh Công Lý thừa cơ vơ vét của cải từ nhân dân và binh lính. Sau khi Lê Văn Duyệt quay về Gia Định, nhận được tin tố cáo Huỳnh Công Lý tham ô, ông báo về triều đình. Vua Minh Mạng ra lệnh tống giam bố vợ và cử quan Nguyễn Đình Thinh vào Gia Định điều tra.

Theo hồ sơ đã được trình lên vua, số tiền tham nhũng lên đến hơn 30.000 quan tiền. Biết chuyện này, vua Minh Mạng buồn rầu mà nói rằng : “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc lại không được thấm nhuần ơn thực.

Gần đây Huỳnh Công Lý làm Phó Tổng trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân trên ba vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả, thì dân ta còn nhờ cậy vào đâu. Trẫm dẫu có lòng săn sóc thương xót cũng không làm thế nào được”.

Khi Nguyễn Đình Thinh đang thu thập lời khai của các nhân chứng ở Gia Định, triều đình phát hiện thêm bằng chứng tham nhũng nữa tại Huế cũng liên quan Huỳnh Công Lý. Trong thời gian làm quan ở Huế, ông đã bắt lính xây dựng nhà riêng ở bên bờ sông Hương. Khi biết tin, vua ra lệnh tịch thu nhà, bán lấy tiền giúp cho cấm binh.

Sau khi cuộc điều tra kết thúc, nắm rõ tội của Huỳnh Công Lý, sau một thời gian cân nhắc, vua Minh Mạng đã ra lệnh cho Lê Văn Duyệt đòi lại số tiền đó cho dân. Khi thành án, vua ra lệnh trao hết hồ sơ cho triều đình bàn xét. Triều đình kết luận đáng tội chết. Năm 1821, Huỳnh Công Lý bị Tổng trấn Lê Văn Duyệt xử tử tại Gia Định, tài sản bị tịch thu để trả lại cho quân lính và dân chúng.

Minh Mạng là vị vua thứ hai của triều Nguyễn, ông là con thứ tư của vua Gia Long, sinh năm Tân Hợi tại Gia Định. Sau khi vua Gia Long qua đời, Minh Mạng được chọn lên kế vị vào năm 1820. Ông trị vì đất nước đến khi qua đời năm 1841.

Theo sách Chín đời chúa, mười ba đời vua triều Nguyễn, Minh Mạng là ông vua hết sức cần mẫn, làm việc không biết mệt mỏi, hết lòng vì nước, là tấm gương sáng cho các bậc đế vương noi theo. Ông là vua có nhiều con nhất trong số các vị vua của chế độ phong kiến Việt Nam với 142 người, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa. (theo Zing)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

HÌNH ẢNH RÙNG RỢN

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĂN TRỘM

BỊ CHẶT ĐỨT TAY

Những hình ảnh khiến bất cứ ai nhìn vào cũng phải sợ hãi.

Một nhóm chiến binh đã đăng tải một loạt hình ảnh của một người đàn ông bị chặt đứt bàn tay vì tội ăn cắp lên Twitter. Những bức ảnh này khiến ai nhìn vào cũng phải kinh sợ. Được biết, vụ xét xử này diễn ra tại một thị trấn phía bắc Maskanah, gần Aleppo và còn được phát lại kênh truyền thông xã hội thánh chiến.

Trước đó, người đàn ông này đã thừa nhận tội lỗi ăn trộm của mình và bị trừng phạt bằng cách cắt bỏ bàn tay để rửa sạch tội lỗi. Trong các hình ảnh, người đàn ông bị bịt mắt, bàn tay để trên bàn và bị vây quanh bởi những chiến binh. Một người đàn ông mặc áo choàng trắng đứng trước bàn và phía bên kia có một người đàn ông trùm kín đầu tay cầm thanh kiếm lớn. Kẻ ăn trộm đã bị chặt đứt bàn tay, máu me be bét và ngất xỉu.

H1: Hình ảnh khủng khiếp được đăng lên Twitter.

H2: Người đàn ông ăn trộm bị bịt mắt và chặt đứt tay. Hình ảnh còn cho thấy, sau khi bị chặt đứt bàn tay, người này còn ngất đi.

CÁC BIẾN CHUYỂN CỦA HÌNH PHẠT

CHẶT ĐẦU TỪ XƯA TỚI NAY

Ngược dòng lịch sử để hiểu hơn về một trong những hình thức tử hình dã man nhất từng được biết đến – chặt đầu.  Trong hệ thống luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới, tử hình là hình thức trừng phạt cao nhất dành cho những tội đặc biệt nghiêm trọng. Những hình thức tử hình phổ biến hiện nay bao gồm tử hình bằng súng và tiêm thuốc độc.

Thế nhưng, nhiều nước trên thế giới đã từng áp dụng hình thức chặt đầu trong việc tử hình phạm nhân. Theo dòng chảy của lịch sử, hình phạt này hầu như đã bị loại bỏ do tính chất dã man và gây tranh cãi.

H1: Xử trảm (chặt đầu) là hình thức tử hình mà đầu của phạm nhân bị cắt lìa khỏi phần thân bằng cách sử dụng rìu, gươm hoặc máy chém. Trong quá khứ, việc chém đầu phạm nhân đôi khi diễn ra tại những nơi công cộng có đông người qua lại. Hình phạt này còn được gọi là “chém đầu thị chúng”.

H2: Đối với người Trung Quốc và các dân tộc phương Đông, chém đầu là một trong những hình thức tử hình khủng khiếp nhất. Theo quan niệm của Khổng giáo, việc thân thể không còn nguyên vẹn khi bị chết sẽ xúc phạm đến những người cha, người mẹ của người phải chịu án.

H3: Trong khi đó tại nước Anh thời Trung cổ, chém đầu được coi là hình thức xử tử cao quý nhất, chỉ dành riêng cho giới quý tộc và hiệp sĩ. Những phạm nhân ở đẳng cấp thấp hơn trong xã hội sẽ bị tử hình bằng những hình thức khác như treo cổ hoặc bị đưa lên giàn hỏa thiêu.

H4: Hình thức xử tử bằng cách chém đầu từng phổ biến rộng rãi trong rất nhiều nền văn hóa khác nhau. Bức tranh này mô tả cảnh một vị vua trung cổ ở Ethiopia (Đông Phi) ra lệnh xử tử cùng lúc nhiều phạm nhân.

H5: Còn đây là ảnh chụp bên trong ngôi nhà của những thổ dân đảo Borneo, ngày nay thuộc lãnh thổ của Malaysia và Indonesia vào những năm đầu thế kỉ XX. Người bản địa ở Borneo từng có tục lệ săn đầu người rồi trưng bày như chiến lợi phẩm.

H6: Việc tử hình bằng hình thức chặt đầu thường diễn ra rất nhanh chóng và phạm nhân sẽ sớm từ giã cõi đời. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào độ sắc của lưỡi gươm và trình độ của đao phủ. Trong một số trường hợp hi hữu, đao phủ phải cần tới nhiều hơn một nhát gươm để cắt rời hoàn toàn đầu phạm nhân.

Điển hình cho những sự cố như vậy là vụ xử tử nữ hoàng Mary của xứ Scotland vào năm 1587. Bị khép tội mưu sát nữ hoàng Anh Elizabeth I, bà bị đưa lên đoạn đầu đài. Đao phủ phải dùng tới 3 nhát rìu mới thực hiện xong bản án.

H7: Để việc chém đầu diễn ra nhanh hơn và tránh phải những “sự cố” ngoài ý muốn, người Pháp đã phát mình ra chiếc máy chém (guillotine). Lưỡi dao treo trên cao được thả xuống sẽ nhanh chóng kết liễu số phận của người phạm tội.

H8: Năm 1789, cuộc Cách mạng Pháp bùng nổ. Những biến động chính trị sau đó tại Pháp đã dẫn tới việc nhiều nhà quý tộc của nước này, trong đó có cả vua Louis XVI bị đưa lên máy chém.

H9: Một trong những nạn nhân nổi tiếng khác của “guillotine” là nữ hoàng Marie Antoinette – người phụ nữ nổi tiếng cả về sắc đẹp và sự xa hoa phung phí tại cung đình Pháp.

Bà là vợ của Louis XVI và bị bắt giữ cùng với gia đình hoàng tộc trong cuộc cách mạng. Năm 1793, bà bị xử trảm trước công chúng tại quảng trường Concorde ở Paris.

H10: Máy chém guillotine cũng xuất hiện tại nhiều nước thuộc địa của Pháp, trong đó có Việt Nam. Trong hình là một chiếc máy chém được trưng bày tại bảo tàng ở Cần Thơ. Nhiều chiến sĩ cách mạng Việt Nam đã bị Pháp xử chém vì đấu tranh cho độc lập dân tộc, tiêu biểu như Nguyễn Thái Học – lãnh đạo khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.

H11: Đến cuối thế kỉ XX, hình thức tử hình bằng chặt đầu dần bị thay thế bằng các phương pháp khác. Tuy nhiên đến hiện nay, Saudi Arabia, một quốc gia Trung Đông với nhiều hình phạt hà khắc, là quốc gia duy nhất vẫn duy trì hình thức tử hình này. Các phạm nhân bị chém đầu tại quảng trường Deera ở thủ đô Riyadh, nơi có đông người chứng kiến. Ảnh là quang cảnh quảng trường Deera, nơi diễn ra những vụ chém đầu ở Saudi Arabia

H12: Đầu năm 2014, một nữ giúp việc người Indonesia (ảnh trên) vừa thoát án tử hình bằng hình thức xử trảm tại Saudi Arabia. Bị chủ thường xuyên đánh đập, người phụ nữ này đã phản kháng lại và gây ra cái chết cho chủ nhà. Dư luận Indonesia và quốc tế đã vào cuộc mạnh mẽ để cứu người phụ nữ trên thoát khỏi hình phạt tàn khốc.

4 VỊ VUA CHÚA PHONG KIẾN

ĐÁNG TRÁCH NHẤT TRONG SỬ VIỆT

Theo sử sách xưa, như trong Đại Việt sử ký toàn thư ghi : Vua say đắm tửu sắc, phát ra bệnh trĩ. Còn Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: Long Đĩnh bị bệnh trĩ nặng đến mức không ngồi được, mà phải nằm nghe các triều thần tâu trình việc nước…

1/. Lê Long Đĩnh (986 – 1009) là vị vua tàn độc và hoang dâm : Ông được coi là hoàng đế tàn bạo, hoang dâm nhất trong lịch sử các vương triều Đại Việt, mỗi khi người đương thời nhắc nhắc đến tên Lê Long Đĩnh thì ngay lập tức nghĩ tới hình ảnh một hôn quân, bạo chúa.

Sử sách chép rằng, sau khi Lê Hoàn mất vào tháng 3 năm 1005, Lê Long Đĩnh cùng các hoàng tử Ngân Tích, Long Kính, Long Cân tranh giành ngôi vua với Thái tử Lê Long Việt. Đến tháng 10 năm 1005, Lê Ngân Tích bị giết, Long Việt lên ngôi. Tuy nhiên, chỉ ba ngày sau đó, Lê Long Đĩnh đã giết anh và giành ghế thiên tử, tự xưng là Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng đế.

Long Đĩnh “phát minh” ra nhiều cách tra tấn dã man để hành hạ người phạm tội, kể cả tội nặng và tội nhẹ, nên được so sánh với Kiệt, Trụ xưa. Cụ thể, với những tù nhận chịu phạm hình, ông bắt lấy rơm tẩm dầu quấn vào người, rồi đốt sống; hay sai bỏ vào sọt, đem thả xuống sông. Độc ác hơn, nhà vua lấy mía để lên đầu nhà sư mà róc vỏ, rồi thỉnh thoảng giả tảng nhỡ tay bổ dao vào đầu sư chảy máu ra, trông thấy thế làm vui cười.

Nếu chỉ thích máu chảy đầu rơi như trên thì chưa phải con người thật của Lê Long Đĩnh. Theo sử sách, ông vua này còn dâm dục quá độ, để rồi mắc chứng nan y… Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi : Vua say đắm tửu sắc, phát ra bệnh trĩ. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: Long Đĩnh bị bệnh trĩ nặng đến mức không ngồi được, mà phải nằm nghe các triều thần tâu trình việc nước.

2/. Lê Uy Mục – sau ân ái … giết luôn cung nhân : Lê Uy Mục (1505 – 1509) có tên húy Lê Tuấn, là vị vua thứ 8 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ngay từ khi lên ngôi, ông đã nổi tiếng ham rượu chè, gái đẹp và giết người; triều chính bỏ bê cho bọn hoạn quan và bên họ ngoại khuynh đảo, lộng hành… Hậu quả là một số người trong tôn thất và triều thần đã làm loạn, bắt và bức tử nhà vua (năm 1509).

Sử sách chép : Vẫn chưa hả dạ vì xét rằng, Uy Mục không những là kẻ bạo ngược, làm hại đất nước, mà còn là kẻ thù không đội trời chung, đã giết hại cả cha mẹ, anh chị em mình, nên Giản Tu Công Oanh không thể để Hoàng đế Uy Mục chết an lành. Ông ra lệnh đem xác Lê Uy Mục đặt vào miệng súng, bắn tan hài cốt; chỉ lấy một ít tro tàn đem chôn ở làng Phù Chẩn; đồng thời giáng làm Mẫn Lệ Công.

Cũng theo sử sách, tuy mới 20 tuổi, Lê Uy Mục đã có một thú vui tình dục rất vô độ. Đêm nào, ông cũng gọi các phi tần, cung nhân vào uống rượu say sưa, hành lạc vô độ. Khi say, vua giết luôn cả cung nhân vừa được mình ôm ấp. Ai cũng kinh sợ, nhưng vì uy quyền tối thượng của vua, nên không dám chống đối, hay tìm cách trốn tránh.

3/. Loạn dâm Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592) Vị vua lâu nhất trong số các vua Mạc thời hưng thịnh, tại vị 30 năm, lại chính là người khiến cơ nghiệp nhà Mạc suy vong, mà một phần nguyên nhân chính là do… thói hoang dâm hiếu sắc.

Theo sử sách, Mạc Mậu Hợp là con trưởng của hoàng đế Mạc Tuyên Tông. Do vua cha bị bệnh đậu mùa mất sớm, Mạc Mậu Hợp mới lên 2 tuổi đã được Khiêm vương Mạc Kính Điển là phụ chính đưa lên ngôi tháng một năm 1562. Lúc này, triều chính vẫn do hai ông chú là Mạc Kính Điển và Mạc Đôn Nhượng phụ tá. Mậu Hợp sống xa hoa, kiêu ngạo, hay nghe xiểm nịnh, thường ít lắng nghe lời bàn luận, khuyên can của các bậc lương thần và đặc biệt, rất hoang dâm hiếu sắc.

Để thỏa mãn dục vọng, vua không ngần ngại mưu giết bề tôi, đoạt mỹ nhân, cụ thể định giết một danh tướng trong triều để cướp vợ khiến cho một bộ phận binh lực nhà Mạc đã theo viên tướng này về quy phục vua Lê, làm cho thế lực của Mạc Mậu Hợp ngày càng suy yếu. Sách Lê triều thông sử viết: Sự việc này xảy ra vào cuối năm Nhâm Thìn (1592). Vợ viên trấn thủ Nam đạo Sơn quận công Bùi Văn Khuê là Nguyễn Thị Niên, tức con gái Nguyễn Quyện. Chị gái của Thị Niên là hoàng hậu của Mậu Hợp vì thế Thị Niên thường được ra vào trong cung. Mậu Hợp thấy Thị Niên, đem lòng yêu mến bèn ngầm tính kế giết Văn Khuê để cướp vợ y.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho biết rõ hơn: Chúa Mạc là Mậu Hợp ngày ngày say đắm tửu sắc. Nguyễn thị là con gái của Nguyễn Quyện và là vợ Bùi Văn Khuê, nhân có em gái là vợ của Mạc Mậu Hợp, nên thường ra vào trong cấm cung. Mậu Hợp ưng ý Nguyễn thị vì nàng có nhan sắc, nên muốn giết Văn Khuê để chiếm lấy nàng. Văn Khuê biết chuyện… đã đầu hàng Trịnh Tùng…

Sau đó, vua Mậu Hợp đã bị Trịnh Tùng treo sống 3 ngày, rồi chém đầu tại bãi cát Bồ Đề, sau đó đem đóng đinh vào 2 con mắt, bêu ra ngoài chợ 5 ngày.

Tương tự, Mạc Kính Chỉ – con của hoàng thân Mạc Kính Điển và là cháu nội của vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) cũng gây nên chuyện động trời vì ham sắc dục. Sách Đại Việt thông sử viết: Mạc Kính Chỉ là con cả của Kính Điển, mới đầu được phong là Hùng Lễ Vương, vì tư thông với người thiếp của cha nên bị giáng xuống làm thứ dân, sau đó lại khôi phục, phong là Đường An Vương.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, vụ việc loạn luân giữa Mạc Kính chỉ với vợ của cha xảy ra vào đầu năm Giáp Tý (1564), nhưng có một số điểm khác: Bấy giờ, con trưởng của Kính Điển là Đoan Hùng Vương Kính Chỉ ngầm tư thông với vợ lẽ Kính Điển, việc phát giác phải giáng làm thứ dân; lấy con thứ là Kính Phu làm Đường An Vương, giao cho binh quyền. Đến khi Kính Điển chết, họ Mạc lại cho Kính Chỉ làm Hùng Lễ Công, nhưng không cho binh quyền.

4/. Chúa Trịnh Giang – ăn chơi dâm loạn vô chừng : Trịnh Giang (1729 – 1740) là con cả Trịnh Cương. Sử sách chép rằng, nếu các chúa từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Cáng đều là những vị tài ba, đã hoàn thành việc đánh dẹp và cai trị phía Bắc Việt Nam, giữ cho xã hội Đại Việt ổn định trong gần 2 thế kỷ, thì việc lên nắm quyền hành của Trịnh Giang lại là điềm xấu, bắt đầu thời đại suy tàn của họ Trịnh.

Trịnh Giang lên ngôi chúa vào tháng 10.1729, ngay sau khi Trịnh Cương qua đời. Do không tha thiết việc chính sự, năm 1736, Trịnh Giang phong cho Doanh lúc đó mới 17 tuổi làm Tiết chế thủy bộ chủ quân, chức Thái úy, tước Ân Quốc công, cho mở phủ Lượng Quốc. Mỗi tháng ba lần, Trịnh Doanh thay Trịnh Giang triều kiến trăm quan ở Trạch Các để nghe tâu trình công việc.

Nhờ việc giao quyền hành triều chính cho Trịnh Doanh nên Trịnh Giang có thêm thời gian cho những việc chơi bời, hưởng lạc. Trịnh Giang đặc biệt tin dùng hoạn quan Hoàng Công Phụ vì những ủng hộ của viên quan này trong việc ăn chơi của mình. Để phục vụ cho việc ăn chơi, hưởng lạc của mình, chúa Trịnh Giang đã cho xây dựng nhiều cung quán, chùa chiền rất nguy nga và tốn kém…

Cũng bởi việc Trịnh Giang chỉ mải mê lao vào an chơi, ham mê tửu sắc mà không lo bồi dưỡng cơ thể, đảm đương triều chính nên sức khỏe ngày càng kém sút. Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là theo tương truyền, chúa Trịnh Giang có tật mê đàn bà từ thuở nhỏ.

Vậy nên, ngay khi lên nắm quyền chúa, Trịnh Giang đã sớm sử dụng quyền lực của mình để có thể hưởng lạc ái ân. Tất nhiên, ngay sau đó, Trịnh Giang sớm nổi tiếng về thói ăn chơi dâm loạn không chừng mực. Càng về sau, Trịnh Giang càng có nhiều biểu hiện kì dị trong sinh hoạt tình dục.

Hằng ngày, các hoạn quan phải lựa ra một người đẹp trong số các cung nữ hoặc bắt cóc dân nữ sống trong khu vực, tắm cho sạch sẽ rồi bỏ vào bao tải lớn, vác vào phòng chúa Trịnh Giang. Người đẹp này sẽ được chúa “ân sủng” theo ý thích. Việc đam mê đàn bà của chúa Trịnh Giang không chỉ dừng lại ở đó.

Để thỏa mãn nhu cầu dâm loạn của mình, chúa Trịnh Giang còn từng tư thông với vợ lẽ của cha mình. Sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ cho hay: Trịnh Giang là kẻ dâm loạn, từng tư thông với bà Kỳ Viên phi Đặng Thị (người xã Trà Đổng, huyện Tiên Du, nay thuộc Bắc Ninh), vốn là vợ lẽ của chúa Trịnh Cương (cha Trịnh Giang). Chuyện này bị bà Vũ Thái phi (mẹ của Trịnh Giang) phát giác. Bà ép Kỳ Viên phi Đặng Thị phải tự tử.

Một hôm, chẳng hiểu vì sao Trịnh Giang bị sét đánh gần chết, nhân đó mà mắc bệnh kinh quý, hễ nghe có sấm sét là kinh hồn bạt vía. Bọn hoạn quan liền nói với Trịnh Giang rằng, duyên do chẳng qua vì dâm dục thái quá nên bị ác báo, muốn chữa, chỉ có cách… đào hầm làm nhà ở dưới đất. Trịnh Giang bèn dựng cung Thưởng Trì để ở, không dám đi ra ngoài như trước nữa.

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì viết: Từ ngày làm việc bạo nghịch là giết vua (chỉ việc Trịnh Giang phế truất rồi giết chết vua Lê Đế Duy Phường), Trịnh Giang càng ngày càng tiếm quyền, ăn chơi dâm loạn không còn chừng mực gì nữa, cho nên về sau mới mắc bệnh kinh quý, sợ sấm sợ sét lắm. Bọn hoạn quan là Hoàng Công Phụ đánh lừa, đào đất làm cung Thưởng Trì cho Trịnh Giang ở. Từ đấy, Chúa không còn dám bước chân ra ngoài… (theo Dân Việt)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

NHỮNG NGÀY CUỐI CỦA HỌ TRỊNH

NHỮNG NGÀY CUỐI

CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

– Sâm Thương

Đến với cuộc đời, Sơn tự giới thiệu : “Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo…”. Ngay trong lần triễn lãm cuối cùng của Sơn vào tháng 07/2000 cùng với Đinh Cường và Bửu Chỉ tại Galery Tự Do, Sơn cũng đã xác định lại điều đó một lần nữa.

Trong cuộc chơi này, Sơn vẫn quen nói như vậy, Sơn tham gia 12 bức, nhưng có đến 10 bức Sơn mới vẽ trong vòng một tháng trước đó. Đêm nào Sơn cũng vẽ đến sáng mà tưởng chừng như không biết mệt. Ngoài những bức như Người Hát Rong (Troubadour), Cha Con Hát Xẫm (Minstrel-Father and Son), Kiều ca ky û (Kieu-minstrel), thì Bóng Thơ (Poetic Shadow), Tự Họa Self-Portrait), Vòng Phấn Trắng (Narrow Magrin), Cõi Riêng Tư (Reflexion) và Thế Giới Ảo (Reminiscence) trong đó Sơn tự họa chân dung mình bên cạnh cây đàn ở nhiều vị trí khác nhau để khẳng định với mọi người Sơn vẫn là người hát rong.

Người hát rong không cư ngụ một nơi nào cố định, luôn luôn di chuyễn. Di chuyển từ miền đất này đến vùng đất khác, từ thị trấn này đến thị trấn khác, và… từ cõi trần gian này sang thế giới bên kia. Mỗi nơi người hát rong dừng lại, theo Sơn dù lâu hay mau đều là nơi ở trọ ! “Tôi nay ở trọ trần gian, trăm năm về chốn xa xăm cuối trời (Ở Trọ). Trần gian cũng chỉ là cõi tạm.

Ở một khía cạnh nào đó, Sơn chia xẻ cách nhìn của André Malraux : “La vie ne vaut rien, mais rien ne vaut une vie” (Cuộc đời không đáng gì, nhưng không gì đáng bằng cuộc đời). Dù trần gian có là nơi ở trọ thì Sơn cũng đã sống, sống hết mình và yêu thương hết mình dù có đôi lần bị phụ bạc, ruồng bỏ… Sơn tin hay không có một thế giới sau cõi tạm này ?

Có thể… Chính Sơn cũng đã nhiều lần khẳng định : “Cuối cùng không có gì khác hơn là sống và chết. Sống làm thế nào cho tròn đầy sự có mặt và chết cho ngập tràn cõi hư không. Phải đi đến tận cùng hai cõi sống chết để làm tan biến tất ca û những giấc mộng đời không thực”.

Sơn có rất nhiều muộn phiền. Không hiểu vì sao Sơn đã ray rứt về sự ra đi, ở lại của cuộc đời, mà như Sơn nói là từ rất sớm. Cho nên “Mỗi bài hát của tôi là một lời tỏ tình với cuộc sống, một lời nhắn nhủ thầm kín về những nỗi tuyệt vọng, và cũng là một nỗi lòng tiếc nuối không nguôi đối với buổi chia lìa cùng mặt đất mà tôi đã một thời chia xẻ những buồn vui với mọi người”.

Người hát rong vẫn cứ lên đường. Đi để mà đi chứ không để đến một nơi nào đã định. Ít nhất, Sơn cũng đã một lần dậm chân bước qua thế giới bên kia. Cái thế giới siêu hình mà có thể Sơn chưa từng biết nhưng đã nhiều lần nói tới, suy tưởng về nó …

Lần đầu ngày 12/07/1997 Sơn bị sốt, và đường huyết đột ngột tăng cao, có một bác sĩ quen với gia đình được mời đến. Có lẽ chưa có kinh nghiệm với bệnh trạng của Sơn, khi khám thấy đường huyết tăng cao, anh ta đã nhất quyết đề nghị chích insuline. Sơn đã phản ứng không chịu chích, nhưng anh ta vẫn cho là mình đúng, nên đã thuyết phục người nhà phải chích để chữa trị cho Sơn, và đã tiến hành chích trong lúc Sơn đang ngủ.

Mấy tiếng đồng hồ sau mũi thuốc, Sơn hoàn toàn rơi vào trạng thái hôn mê. Gia đình và bạn bè đã tức tốc đưa Sơn vào bệnh viện Chợ Rẫy, khu Cấp Cứu Hồi Sức, lầu 2. Cái phòng mà những ai đã lỡ bước vào thì không mấy người quay trở lại với cõi đời. Nhìn Sơn thoi thóp trên giường, giữa những người bệnh nằm la liệt chung quanh, một không khí chết chóc, tuyệt vọng… tôi đã quỵ xuống gần như bất tỉnh.

Nhưng với tất cả lòng tự tin và ý chí muốn sống, cọng thêm tình yêu thương của mọi người trên khắp trái đất dành cho Sơn, vốn như một sức mạnh tinh thần đã hổ trợ Sơn chiến đấu, chống chọi với thần Chết. Có thể Sơn còn quá nhiều dự tính, còn quá nhiều điều chưa kịp bày tỏ với cuộc đời.

Không biết do tình cờ, hay để chuẩn bị tổ chức sinh nhật bé Dao, con gái của Chuyết và Thúy vào ngày 15/07. Các em Sơn đều có mặt ở Việt Nam đông đủ, không thiếu một ai. Đêm đó, ngoài các em, các cháu của Sơn, còn có Phạm Phú Ngọc Trai, Huỳnh Thiện, Phi Long, Hoàng Thiệu Khang, Bùi Huỳnh Anh, Lê Phước Bốn, bác sĩ Thành đều lóng ngóng đứng ngoài cửa phòng cấp cứu cho đến khuya, hồi hộp chờ đợi tin Sơn từng giây từng phút.

Khuya hôm đó trở về nhà tôi đã suốt đêm không ngủ. Đến 5 giờ sáng, không chịu đựng được nữa, tôi chuẩn bị vào với Sơn. Trước khi đi, ngập ngừng mãi tôi mới nhấc điện thoại lên quay số điện thoại của Chuyết. Khi nghe tiếng cười của Chuyết (chồng Thúy, em gái Sơn) từ đầu dây bên kia, tôi đã hiểu ngay “những cơn gió lành đến từ các thảo nguyên xa xôi mang theo mùi hương cốm ,hương bạc hà của những loài hoa dại đánh thức Sơn dậy và làm hồi sinh những mùa Xuân đang ngủ quên trong các mạch máu của cơ thể Sơn”.

Ngay sáng hôm đó, Sơn được chuyển ngay lên lầu 10, phòng 5 và gia đình Sơn cũng thuê thêm một phòng nữa, cách phòng Sơn một hai phòng để luôn túc trực chăm sóc Sơn. Ngày nào cũng hai lần tôi đến bệnh viện với Sơn, mang thư bạn bè khắp nơi, thư viết tay, điện thư cũng co và đọc cho Sơn nghé. Trong những ngày trên giừơng bệnh, Sơn không thể viết trả lời tất cả các thư viết tay, nhưng các thư điện thì tôi ghi nhận ý kiến của Sơn trước khi thay Sơn trả lời.

Đúng một tháng kể từ ngày nhập viện, Sơn đã vững vàng bước ra khỏi cánh cửa của Bệnh viện Chợ Rẫy trước sự bỡ ngỡ và vui mừng vô hạn của các em Sơn và bạn bè Sơn như một phép lạ. Tôi nghĩ là phép lạ…hay đúng hơn một sức mạnh thiêng liêng nào đó đã bảo bọc, che chở Sơn.

Tôi còn nhớ buổi chiều chúng tôi đón Sơn ra khỏi bệnh viện, vừa lên xe Sơn đã yêu cầu chúng tôi đưa Sơn đi một vòng khắp thành phố, tôi nhìn ánh mắt Sơn mở lớn sau cặp kính đang chăm chú với tất cả sự say mê, khi chúng tôi đi qua những con đường, những hàng cây xanh rợp lá, những dãy phố, những ngôi nhà cao tầng, những con hẽm, những gian hàng, quán xá… Tất cả đang cử động, đang sống, khác hoàn toàn với thế giới mà Sơn vừa rời bỏ, một thế giới đang chòi đạp, chiến đấu giữa cái sống và cái chết. Tôi bắt gặp trong đó trong ánh mắt Sơn lóe lên một niềm vui, một lòng ham muốn được sống , nhưng không phải trong đôi mắt bạn tôi không có chút suy tư, nỗi ám ảnh về cái chết.

Có thể là một nghịch lý, Sơn từng bày tôi : “Tôi chỉ biết thời điểm này trong tôi đang thôi thúc thu xếp hành trang cho một cuộc lên đừơng mới. Cũng vẫn là một cuộc chơi như bao cuộc chơi đã trãi qua. Vẫn đi đến nhưng không hò hẹn. Muốn hội ngộ một sự tình cờ tốt lành hơn nhưng không náo nức”.

Nơi đến sắp tới của Sơn sẽ là đâu? Ở trần gian này hay thế giới bên kia ? Thời gian này, Sơn có thói quen dậy thật sớm, đi bộ tập thể dục dọc theo con đường Phạm Ngọc Thạch, đến công viên sau lưng Nhà Thờ Đức Bà. Sơn đi mấy vòng, rồi quay về nhà, có nhiều khi ngủ lại một lát. Ăn sáng xong, Sơn đến văn phòng Hội Aâm Nhạc, số 81, Trần Quốc Thảo, Quận 3 gặp gỡ bạn bè, người mến mộ hoăïc trao đổi công việc.

Buổi sáng khoảng hơn 10 giờ, buổi chiều 5 giờ Sơn thường gọi điện thoại cho tôi và chúng tôi vẫn thường ngồi với nhau ở đâu đó, mà thường là ở nhà hàng Givral hoặc Saigon Center. Suốt hơn nửa năm nay Sơn không hề uống một gịot rượu, mà chỉ uống nước trà. Sơn mà đã uống nước trà thì bạn bè quanh Sơn không ai uống rượu, mặc dù Sơn vẫn khuyến khích anh em uống rượu hoặc tùy thích. Trước đây khi Sơn uống Cutty Sack, bạn bè đều uống Cutty Sack, Sơn đổi qua Chivas Regal thì bạn bè lại theo Sơn uống Chivas Regal. Nói chung Sơn uống thứ gì bạn bè uống thứ đó. Thứ rượu cuối cùng Sơn uống la øBlack Label. Sơn đã có lần tâm sự: “Trên lối đi dẫn vào cuộc sống tôi đã găïp gỡ Tình Yêu và Rượu…Tuy nhiên đã có những ngày tháng dài tôi sống không tình yêu và tôi cũng không có ý định tìm lại nó.

Đó là thời gian trắng ,một thứ âm bản của tâm hồn.Không có một nỗi vui buồn nào đang chờ đợi.Không vẫy chào. Không từ giả.Thế giới trôi đi và tôi ở lại. Hình như thế. Dù sao đó cũng chỉ là một thứ cảm nhận bâng quơ. Giờ đây tôi đang nói thêm một lời tạm biệt khác. Tạm biệt những ly rượu nồng nàn những sáng, trưa, chiều, tối…”

Sơn đã chịu vào khuôn phép, không biện minh bằng lý luận này hay hay lập luận khác để tiếp tục uống như trước đây. Có thể Sơn đã hiểu rõ tình trạng sức khỏe của mình hơn ai hết. Hơn nữa, Sơn cũng thấy được sự quan tâm chăm sóc của các em và những bạn bè thường xuyên gần gủi đã làm Sơn chùn lại trước những cơn khát rựơu.

Hằng ngày chúng tôi uống trà với nhau như thế cho đến gần 12 giờ mới về nhà để Sơn kịp chích thuốc điều trị bệnh tiểu đường. Sau đó, ăn cơm chung với gia đình, chuyện trò đến khoảng 1,30 giờ Sơn nghỉ trưa. Buổi chiều ở nhà hoặc ngồi ở Givral hay đâu đó rồi về, hoặc ăn cơm tối ở quán Ba Miền, Tib hoặc Trịnh… Những năm gần đây buổi tối Sơn thường ngủ rất sớm, khoảng 9.30 giờ sau khi theo dõi tin tức, xem phim,đọc sách, hoặc viết một vài trang gì đó.

Nhưng Sơn cũng có thói quen điện thoại cho một ai đó trong số những bạn bè gần gủi đến với Sơn, thường thì rất khuya mới chịu chia tay. Đặc biệt không có phụ nữ. Có thể nói mấy năm sau này thật sự Sơn không có tình yêu, không một phụ nữ nào có vị trí trong trái tim Sơn. Sơn đã từng có lần bày tỏ: “Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa”.

Suốt mấy tháng trời, không ngày nào Sơn không ngồi ở Givral, hoặc Saigon Center, có ngày đến hai ba lần: sáng, trưa, tối với các em, và những người bạn thường xuyên gần gũi với Sơn.

Báo động đầu tiên về sức khỏe của Sơn ,nếu tôi nhớ không nhầm thì đó là sáng 26/11/2000, cũng tại nhà hàng Givral. Sơn đang ngồi uống trà, tự nhiên Sơn có phản ứng hơi bất thường, mất trí nhớ đến nỗi không nhận ra Tịnh, em trai mình. Sau đó Sơn được đưa đi bệnh viện chĩnh hình đến buổi chiều thì chuyễn đến bệnh viện Chợ Rẫy, Khu Chăm Sóc Đặc Biệt, lầu 10 phòng 7 để điều trị.

Nhưng chỉ 9 ngày sau thì sức khỏe của Sơn hồi phục và được xuất viện. Sau khi lấy lại sức khỏe, Sơn tiếp tục cuộc sống bình thường vẫn quanh quẩn giữa các em và bạn bè. Sơn hẹn sẽ chơi bài vào những ngày đầu năm tại nhà Trai, Sơn cũng hứa sẽ đến đạp đất một số nhà của bạn bè thân quen vào dịp Giao Thừa sắp tới.

Nhưng đến trưa 22/01/2001 tức 28 Tết Âm Lịch, từ nhà hàng Givral trở về như mọi ngày thì Sơn kêu đau chân. Rồi sau giấc ngủ trưa hôm đó, Sơn cho biết chân càng đau đớn hơn, nhất là những lúc trở mình hay di chuyễn thì đau đớn không chịu nỗi. Có lẽ đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy Sơn nhăn nhó vì đau đớn. Những lần trước dù đã từng bứơc qua Khu Cấp Cứu Hồi Sức nhưng hình như Sơn không có cảm giác đau đớn hay ít ra không biểu hiện sự đau đớn trên nét mặt. Vã lại, Sơn rất ghét ai thương hại mình, nếu kiềm chế được thì nhất định Sơn không để lộ ra bên ngoài.

Có thể nói bắt đầu từ hôm đó, Sơn không tự mình đi đứng được, muốn di chuyễn phải nhờ người giúp đỡ. Đôi chân Sơn, đôi chân của Người Hát Rong bây giờ không sử dụng đúng với chức năng của nó. Sơn đã không thể tiếp tục những chuyến đi của mình trên Cõi Tạm này. Đó thật sự cũng là một bi kịch, bi kịch của một Người Hát Rong.

Đôi mắt Sơn chứa dấu một chút gì gần như nỗi chua xót. Có thể vì thế mà Sơn trượt dài theo căn bệnh của mình chăng ? Đến ngày 27/01/2001, tức mồng 4 Tết, Sơn không ăn, và xuống cân rất nhanh, buộc gia đình phải đưa Sơn vào bệnh viện để được theo dõi. Lại vẫn Khu Chăm Sóc Đặc Biệt, lầu 10, phòng 5. Sơn tỏ ra không chịu đầu hàng số phận. Sơn vẫn chiến đấu, vẫn chống chỏi. Vì cuộc đời còn đáng yêu quá, đáng sống quá, Sơn không nỡ từ bỏ cái thế giới này dù chỉ là nơi Ở Trọ.

Hằng ngày bên cạnh Sơn thường có các em Sơn và bạn bè… đã khích lệ Sơn rất nhiều… Buổi trưa, buổi tối dù bận đến mấy, tôi cũng cố gắng vào bệnh viện để kịp ăn cơm chung với Sơn, ít nhất là một lần trong ngày.

Và tôi cũng không thể không nhắc tới, trong những ngày ở bệnh viện Sơn vẫn nhận được rất nhiều hoa của những người yêu mến Sơn khắp nơi gưỉ đến. Có những bó hoa được hái đâu đó trong vườn nhà, hay ngoài đồng cỏ cột dây vụng về của các em nhỏ. Nhưng đó cũng là những bó hoa Sơn trân quý hơn hết.

Ngày 12/02/2001 tức 16 ngày sau Sơn lại được xuất viện, tuy nhiên chân Sơn không di chuyễn được. Theo chẩn đoán, các bác sĩ chuyên khoa cho biết chất sụn giữa các khớp xương đã bị khô đi, phải giải phẩu mới sớm đi được, nhưng thể lực của Sơn hiện tại không cho phép một cuộc giải phẩu như vậy. Nhìn vẻ ngoài thì sức khỏe của Sơn khá tốt, thỉnh thoảng Sơn kể chuyện tiếu lâm hay đùa cợt một câu gì đó để dịu đi nỗi lo lắng của những người chung quanh.

Ngày Tình Yêu (Valentine’s Day) 14/02 năm nay đối với Sơn có phần khác hơn mọi năm. Sơn không có một phụ nữ nào tăng hoa cho Sơn và Sơn đón nhận nó đúng với ý nghĩa của ngày lễ. Nói một cách khác Sơn không có tình yêu, Sơn chỉ có nỗi cô đơn. Sơn đã cảm thấy “(…) trò chơi tình yêu không còn gì thích thú nữa thì tạm ngừng để chuẩn bị một trò chơi khác. Thí dụ một trò chơi riêng, trò chơi của một người với chỉ có bóng hình của nó, dững dưng với tất cả”.

Nhưng Sơn vui hẳn lên trong những ngày chuẩn bị đón mừng Sinh Nhật của Sơn : ngày 24/02, Chuyết, chồng Thúy từ Canada về, ngày hôm sau đến phiên Hà, em trai kế của Sơn cũng từ Mỹ về. Mỗi trưa, mỗi tối Sơn luôn muốn cùng ngồi ăn chung với các em và một vài người bạn. Lượng đường trong máu của Sơn thời gian này tương đối ổn định, Sơn lên có tới 4 kg, ai cũng nghĩ Sơn đang phục hồi dần. Và Sơn nói rất nhiều về những dự tính của mình. Sơn mơ ứơc xây dựng một công trình mà Sơn đặt tên là Nhà Nguyện Tình Yêu…

Sinh Nhật thứ 62 của Sơn (28/2/2001) dự định tổ chức một cách đơn giản chỉ gồm những người trong gia đình và một số ít bạn bè theo đề nghị của Sơn. Nhưng hôm đó vẫn có rất nhiều người không được mời vẫn đến. Vì không biết tự bao giờ ngày Sinh Nhật của Sơn đã không còn là của riêng Sơn và ngôi nhà của Sơn ngập đầy những hoa và hoa.

Đôi chân Sơn vẫn đau, không di chuyễn được, nhưng khuôn mặt và nụ cười của Sơn rạng rỡ và ấm áp giữa những người thân, bạn bè… Thỉnh thoảng Sơn nhăn nhó vì đau ở chân do đổi thế ngồi. Mỗi lần như thế tôi rùng mình theo Sơn, theo cái chân của Người Hát Rong, mà tôi thú thật không biết làm gì… Đơn giản là vì tôi không phải là Thượng Đế, cũng không phải là bác sĩ. Tôi chỉ thấy cái chân của Sơn đau, và như nhiều người nói, chỉ cần tập trung chữa cái chân của Sơn là đủ. Trong gia đình cũng có dự định xây cho Sơn một cái hồ bơi ngay tại nhà để Sơn tập vận động theo gợi ý của một chuyên gia.

Sau cuộc vui, mọi người ra về, ai cũng nghĩ Sơn đang phục hồi, chỉ còn vấn đề thời gian. Tôi cũng ngây thơ như mọi người, tin rằng điều đó là thật.

Mấy ngày sau, một người bạn gái cũ của Sơn từ Mỹ về. Nội cái tình ấy cũng có thể là một niềm động viên cho Sơn trong những ngày này ? Tôi thầm hỏi như thế. Cô chỉ có phép 11 ngày mà hết ba ngày di chuyễn. Những ngày còn lại, ngày nào cũng như ngày nào cô vẫn ngồi bên Sơn, im lặng không nói. Bóng cô hắt lên tường giống như bóng của ngừơi Thiếu phụ Nam Xương trong truyện cổ tích. Không hiểu sao tôi có sự liên tưởng lạ lùng như vậy mà cho đến giây phút này tôi cũng không giải thích được.

Bên cạnh Sơn thỉnh thoảng cũng có một vài bóng hồng khác… Sơn yêu quý họ như yêu quý một nhan sắc, nhưng đó không phải là tình yêu. Người phụ nữ Sơn yêu không có thật. Những ngày kế tiếp, lượng đường trong máu của Sơn có tăng giãm, nhưng không đột biến, chân vẫn đau, muốn di chuyễn phải nhờ đến người khác. Đó chính là nỗi phiền muộn đối với Sơn, nhưng vẻ ngoài sức khỏe Sơn vẫn bình thường.

Sơn vẫn đọc báo, theo dõi tin tức thời sự hằng ngày trên màn ảnh nhỏ. Sơn tự mình trả lời điện t hoại cho bất cứ ai gọi đến: từ một học sinh ở tận Quãng Ninh, một bà bán tạp hóa ở chợ Cà Mau, đến một người bạn ở Mỹ hay một nhà báo ở Paris… Sơn vẫn sống trong tình yêu thương trân quý của các em Sơn, các bạn bè thân thiết và những người yêu mến Sơn ở khắp nơi trong và ngoài nước. Tôi có cảm giác trong thời gian gần đây hình như trong ánh mắt Sơn đã bớt đi niềm tự tin vốn có.

Tôi lờ mờ hiểu được rằng tất cả đều do nơi cái chân đau, cái chân không đi được của Sơn. Trước đây Sơn không như vậy. Sơn có bệnh, đã từng chạm mặt với Thần Chết, nhưng đau đớn như lần này thì không. Sơn thực sự cảm thấy đau đớn, gần như bất lực và phụ thuộc vào người khác, phụ thuộc ngay cả những việc nhỏ nhặt, tầm thường nhất trong cuộc sống hằng ngày đến nỗi Sơn đã phần nào vô tình lõng buông ý chí muốn sống của mình, sức mạnh đã giúp Sơn bao lần vượt qua những giây phút hiễm nghèo trong cuộc sống.

Sơn tiết lộ : “Tôi thường rơi vào cơn hôn mê trong giấc ngủ. Ở biên giới đó tôi hốt hoảng thấy mình lơ lững giữa sự sống và cái chết. Những giây phút như thể vồ chụp lấy tôimỗi đêm. Khi quanh tôi mọi người đã yên ngủ (…)”.

Ngày 24/03 Hồng Nhung đến thăm và tạm biệt Sơn trước khi đi biểu diễn ở Australia. Trong bữa ăn chung hôm đó, Sơn vẫn vui vẻ nói cười. Tôi vẫn nhớ nụ cười của Sơn, nụ cười thật hồn nhiên, phảng phất một nét buồn vừa như một đứa trẻ thơ, vừa như một nhà hiền triết.

Ngày 26/03 Sơn có triệu chứng suy nhược, không ăn được nên gia đình lại đưa Sơn vào bệnh viện Chợ Rẫy, Khu Điều Trị Theo Yêu Cầu, dãy nhà sau, tầng trệt, phòng số 4. Ở đây Sơn được điều trị về tiêu hóa, tiểu đường và khớp đùi phải. Chỉ một hôm sau sức khoẻ và mọi sinh hoạt của Sơn trở lại bình thường như những ngày trước đây ở nhà. Sơn đã vui vẻ hưởng ứng đề nghị của Phạm Phú Ngọc Trai đi nghỉ Vũng Tàu vào tuần tới sau khi xuất viện.

Trưa 29/03, Huỳnh Thiện có công việc về trước, chỉ có Tịnh và tôi ở lại ăn trưa với Sơn. Tôi đơm cho Sơn một dĩa cơm khá đầy và khuyến khích Sơn. Sơn vui vẻ cố gắng ăn, nhưng vẫn không hết nổi dĩa cơm. Ăn xong như thường lệ chúng tôi vẫn ngồi bên nhau trò chuyện cho đến lúc Sơn nghỉ trưa.

Giữa lúc đó, Trần Mạnh Tuấn vào thăm Sơn, ngồi nói chuyện một lát thì Trần Mạnh Tuấn kêu riêng tôi ra ngoài và nhờ tôi chuyễn Hợp Đồng xuất bản album CD trong đó có 10 ca khúc của Sơn do Tuấn thổi saxo cho Sơn ký, nếu Sơn đồng ý. Tôi hỏi ý kiến Sơn và Sơn đã đặt bút ký sau khi đã xem kỹ. Sau này tôi hiểu đó là hai chữ ký cuối cùng của Sơn trước khi ra đi.

Những ngày trước đó, có nhiều tin đồn đoán, rằng Sơn đã mất, nhưng gia đình muốn giấu. Tôi không hiểu sao có tin đó, mà nếu như sự thật đau lòng đó xảy ra thì liệu gia đình có giấu được không và giấu để làm gì. Tôi đã nhận không biết bao nhiêu cuộc gọi của bạn bè khắp nơi trên thế giới, những người biết mối quan hệ giữa tôi và Sơn, đã yêu cầu tôi xác nhận về nguồn tin nầy.

Thật tâm, cho đến giờ phút đó tôi vẫn có lòng tin Sơn sẽ không có mệnh hệ gì, sẽ vững vàng bước ra khỏi đây như Sơn đã từng trải qua trước đây, sẽ đi nghỉ Vũng Tàu vào tuần tới, rồi còn lời hứa sẽ đi Âu châu theo lời mời của Phạm Văn Đĩnh, vợ chồng Trương Hồng Liêm, vợ chồng Thanh Hải.. Tôi khẳng định điều đó với Đinh Cường trong cuộc gọi của anh vào sáng hôm đó, cũng như trong những thư điện mấy ngày trước đó.

Nhưng khoảng 11 giờ đêm hôm đó, bất ngờ Sơn rơi vào tình trạng tiền hôn mê. Sơn được chuyễn từ Khu Điều Trị Theo Yêu Cầu lên lầu 8 đặc trị về Gan. Khoảng gần 3 giờ sáng ngày 30/3 Sơn có tỉnh lại, nhận ra được Trai, Hà, vợ chồng Tịnh Hiếu… và một vài người chung quanh. Đến 5 giờ sáng khi mọi người đã về, còn Tịnh và Hiếu, Sơn tỉnh lại một lần nữa và cho biết là rất đau đớn. Một lát sau, Sơn tiếp tục hôn mê và hơi thở càng lúc càng nặng nhọc. Có thể đó là lời chào tiễn biệt vì ngoài điều đó ra Sơn đâu cần nói thêm điều gì nữa. Sơn đã nói quá nhiều trong các tác phẩm của mình.

Đến gần 8 giờ kết quả cuộc hội chẩn cho biết Sơn bị xơ gan, suy thận, tiểu đường, xuất huyết tiêu hóa, viêm phổi. Tôi không tin ở tai mình, sao mới chỉ mấy ngày mà bệnh ở đâu nhiều thế ?

Sau khi làm xong thủ tục Sơn được chuyễn từ lầu 8 xuống lầu 2 Khu Cấp Cứu Hồi Sức. Nhìn Sơn khuất sau cánh cửa lòng tôi thắt lại. Sơn nằm ở giường số 8, được chạy thận nhân tạo và thường xuyên có bác sĩ, điều dưỡng túc trực bên cạnh. Tuy nhiên sức khỏe của Sơn tiếp tục suy giảm rất nhanh.

Khoảng 7 giờ sáng ngày 1/4/2001, Sơn vẫn tiếp tục hôn mê, tri giác giảm dần. Từ 10 giờ 30, Sơn rơi vào tình trạng hôn mê rất sâu. 11giờ 15 tim Sơn ngừng đập lần thứ nhất, nhưng các bác sĩ đã hết sức cố gắng, giành giật từng phút, từng giây với Thần Chết, nhưng vẫn không đo được huyết áp của Sơn. Đúng 12 giờ 45 sau lần thứ năm, trái tim Sơn hoàn toàn ngưng đập.

Khi Sơn thở hơi cuối cùng tôi vẫn ở đó, bên cạnh Sơn, người tôi tê dại, không có chút cảm xúc và cũng không biết có những ai. Tôi không chịu đựng nổi khi nhìn thấy Sơn ra đi, tôi lặng lẽ bước ra, đi quanh một vòng, cũng chẳng biết để làm gì. Tôi cứ đi, cho đến khi tôi trở lại trước phòng Sơn từ lúc nào không biết. Nhìn lên tôi nhìn thấy Trần Mạnh Tuấn, và một người nữa là Tuyết Mai, một người quen thân với gia đình Sơn.

Khi đó tôi mới chợt nhớ bổn phận của mình, tôi lấy điện thoại ra gọi cho bất cứ ai là bạn bè thân quen với Sơn mà tôi kịp nhớ. Sau đó, tôi không nhớ ai đã phân công tôi về nhà trước chuẩn bị để đưa Sơn, có thể là Tịnh hoặc Trai gì đó. Khoảng một hai tiếng đồng hồ sau, Sơn được đưa về tới nhà, xác Sơn được đặt ngay giữa phòng khách nhà trệt, chưa liệm ngay, đợi các em, các cháu đang trên đường về. Tôi nhớ hôm đó trời mưa tầm tã, kéo dài đến tối.

Chung quanh Sơn, ngoài Trịnh Quang Hà, vợ chồng Trịnh Xuân Tịnh, em trai Sơn, Lê Thế Chuyết, em rễ Sơn còn có Phạm Phú Ngọc Trai, Huỳnh Thiện, Phi Long, Bùi Huỳnh Anh, Lê Phước Bốn, Lê Đăng Xu, Bảo Phúc, Trần Mạnh Tuấn, Tương Lai, Nguyễn Quang Sáng… những người lâu nay vẫn gần gũi Sơn, mỗi người một tay làm vệ sinh thân thể và thay áo quần cho Sơn.

Đến 7 giờ tối, thì các em các cháu Sơn mới từ Canada về đến. Chiếc khăn đắp mặt Sơn được giở ra. Những tiếng khóc, than thở vang lên, kéo dài, rồi nghi thức tẫm liệm Sơn được tiến hành. Bắt đầu từ phút giây đó, tôi chỉ thấy loang loáng, những người thân quen, bạn bè và luôn cả những khán giả ngưỡng mộ Sơn lục tục đến, càng lúc càng đông.

Không ai bảo ai, từ đó Phạm Phú Ngọc Trai, Huỳnh Thiện và tôi, ba chúng tôi tự nguyện trở thành những người phụ trách trật tự cho suốt thời gian tang lễ của Sơn. Hôm sau, Cao Lập tình nguyện đưa một nhân viên đến phụ giúp sổ ghi chép. Tôi thật sự không biết bao nhiêu người đến viếng Sơn.

Tối đầu tiên, có lẽ do tin Sơn mất chưa được phổ biến, số lượng người đến viếng chưa nhiều, nên chúng tôi cho phát mỗi người hai thẻ nhang cho những người đến viếng Sơn, một để cúng Phật, một để viếng Sơn, có thắp hương vái lạy. Đến sáng hôm sau trở đi, thì chúng tôi chỉ cho phát một thẻ nhang để vái trước linh cửu Sơn; nhưng về sau số lượng càng lúc càng đông, dù đã sắp đến 3 hàng dài gần mấy trăm mét trước hẽm nhà Sơn ra tới đường Phạm Ngọc Thạch, thì mỗi người chỉ đi qua cắm nhang trước linh cửu Sơn mà không vái lạy. Nhưng điều đặc biệt, dù phải chờ đợi rất lâu để đến lượt mình viếng Sơn, nhưng đám đông vẫn rất trật tự, hoàn toàn không có một xáo trộn ồn ào nào.

Như vậy là Sơn đã rời nơi Ở Trọ, “(…) Không muốn bỏ đi, vậy mà cũng có lúc phải bỏ đi. Cái thân phận con người hữu hạn phải đành thôi” để lên đường tiếp tục cuộc hành trình của Người Hát Rong. Sơn sẽ đặt chân đến một nơi nào trong cái thế giới xa xăm mà tôi không biết được, nhưng nơi đó chắc chắn cũng là một nơi Ở Trọ khác của Sơn. Không biết bao lâu Sơn từ giả nơi mình vừa đến để tiếp tục đi nữa, đi mãi. Nhưng tôi tin bất cứ nơi đâu Sơn đến, muôn loài vạn vật ở đó sẽ hạnh phúc, hoan ca bởi Sơn vẫn tiếp tục hiến dâng trọn vẹn trái tim của mình để làm cho thế giới chung quanh trở nên tươi đẹp hơn và có ý nghĩa hơn. (theo Sâm Thương)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

CÔNG TỬ VƯỢT BIÊN

CÔNG TỬ VƯỢT BIÊN

Sài Gòn, vào những năm 1977, 1978, nếu có ai lỡ lời nói hai chữ vượt biên thì mọi người đều e dè, sợ sệt. Chỉ cần lỡ lời vài ba câu có dính líu đến hai chữ vượt biên là có thể đi tù cải tạo mút mùa. Vậy mà y lại có cái biệt danh thật là ngộ nghĩnh và hết sức ngang tàng : Công Tử Vượt Biên.

Tôi biết y rất rành, rành hơn bất cứ người bạn thân thiết nào của y, là vì một lý do rất đơn giản. Nhà tôi là chỗ trú chân đầu tiên của y mỗi lần vượt biên thất bại, trốn về Sài Gòn chờ móc nối chuyến kế. Mỗi lần như vậy, nhiệm vụ của tôi là đạp xe tới nhà y báo cho gia đình chuyến đi lại thất bại, cần thêm tiền chi tiêu và không quên nhắn thêm câu : Ba Má, tìm cho con mối khác.

Mỗi lần thất bại như vậy, tôi lại càng thấy rõ sự trưởng thành và quyết tâm của y. Bẩy lần vượt biên không làm y nản chí mà trái lại càng làm y thêm kinh nghiệm và mưu lược hơn. Trong cuộc đời tôi, y là người bạn tôi mến phục và học hỏi được nhiều nhất. Người bạn mà có lẽ khó kiếm được trong lúc sống dưới chế độ mà «cái cột đèn nếu có chân nó cũng vượt biên».

Tôi không biết được tình bạn ngày xưa đối xử giữa Bá-Nha và Tử-Kỳ như thế nào. Riêng tôi, lúc nào khi nghĩ tới y tôi đều nhủ thầm. Một trong những cái may mắn nhất trong đời tôi là được quen y. Tôi gặp y vào năm cuối cùng của trung học, trường Nguyễn Bá Tòng, Gia Định, lớp 12C1.

Tôi còn nhớ ngày đầu tiên gặp y trong sân trường Nguyễn Bá Tòng. Y là học sinh duy nhất chuyển từ trường tư Lasan Taberd tới. Chúng tôi thì ngược lại, phần lớn chuyển từ trường công Hồ Ngọc Cẩn qua. Sáu chúng tôi, băng con nhà nghèo hiếu học, đang đứng chơi trước cửa lớp, thì thấy y. Y tuy tới một mình nhưng rất là tự nhiên và tự tin. Trong khi đó băng chúng tôi thì lại e dè, ngại ngùng khi đối mặt. Có lẽ là vì tại Tường, một người bạn trong đám chúng tôi khi thấy y, nói nhỏ :

– Cái thằng đó học sinh trường Tây. Ông già nó giầu có tiếng trong xóm tao đó. Chị tao ngày xưa làm thợ dệt cho nhà nó. Nó con út, số bọc điều. Giầu tiền xài không hết. Tao nghe nói nhà nó bị kiểm kê tài sản đến hai ba lượt rồi. Vậy mà nó vẫn phây phây như thường.

Minh, người học sinh giỏi nhất trong đám tôi nhìn Tường hỏi :

– Thế nó học cừ không ?

– Tao không biết. Nhưng mà mấy thằng Tây con chắc chẳng học hành gì đâu. Tối ngày đi chọc gái rồi mút xúc-cù-là.

Tôi nhìn y từ trên xuống dưới để cố tìm xem có chất xúc-cù-là trong người y như Tường nói không. Cảm tưởng đầu tiên của tôi về y là giữa hai chúng tôi là hai thái cực. Y dáng dong dỏng cao, mái tóc bồng bềnh, quăn tự nhiên. So với chiều cao của người Việt Nam, thì y bỏ xa. Tôi thì ngược lại. Bạn bè thường gọi là «Lùn Mã Tử».

Tóc tôi lại thưa, loại rễ tre, xỉa thẳng đứng lên trời. Y đẻ trong gia đình giầu có, nhà tôi thì lại thiếu ăn hàng ngày. Tôi con cả, y con út. Có lẽ chúng tôi chỉ có một điều giống nhau. Học tầm thường, chả có gì đặc biệt. Tôi nhủ thầm như vậy trước khi bước vào lớp học đầu tiên của niên khoá 1978-1979.

Không những tôi lầm, mà cả Tường cũng lầm luôn. Sự học vấn và kiến thức của y làm ngạc nhiên không những chúng tôi mà cả thầy chủ nhiệm Vật Lý Nguyễn Văn Lành. Tôi còn nhớ thầy có nói : «Em rất có khiếu về Vật Lý. Sau này có cơ hội nhớ theo ngành này. Em nhé». Chỉ trong hai tuần lễ học, bọn chúng tôi phần lớn chuyển từ Hồ Ngọc Cẩn qua, đã phải bầu y nắm một chức vụ quan trọng nhất trong lớp, đó là trưởng ban học tập.

Sở dĩ chức này quan trọng là vì trưởng lớp do chi đoàn chỉ định, trưởng ban học tập do học sinh bầu. Trưởng ban học tập phải là tay cự phách. Nó đòi hỏi không những thầy cô tin yêu mà anh em nể phục. Trưởng lớp phải là chi đoàn hay cảm tình đoàn. Trưởng ban học tập không cần nhưng phải là tay chiến, dám đối mặt với cả thầy cô lẫn chi đoàn. Y không những không chi đoàn mà còn lại là thành phần chế độ bất dung – tư sản mại bản.

Có lẽ y chiếm được hết cảm tình của lớp chúng tôi qua cách đối xử đặc biệt đầu tiên với cô giáo Hoá-Học Nguyễn Thị Hoàng-Hoa, Phó Chủ Nhiệm lớp. Sau một tuần lễ học, cô khảo bài bốn học sinh trong lớp. Tất cả đều không thuộc bài. Cô tức giận đỏ mặt, hét ầm ầm. Cả lớp im lặng. Y bỗng nhiên đưa tay lên xin phát biểu. Cô gật đầu. Y nói :

– Thưa cô, chúng em không thuộc bài thật là không đúng. Nhưng thái độ của cô đối xử với chúng em cũng không được hoàn toàn đúng lắm.

Cả bọn chúng tôi đều trố mắt nhìn y như một con quái vật. Cô nổi tiếng là dữ nhất trường. Thầy giám hiệu cũng phải kiêng. Cô đẹp, giỏi, hơi lớn tuổi, chưa lập gia đình nên… chẳng sợ ai. Tôi nhớ : mặt cô đang từ đỏ chuyển sang tái xanh. Cô vừa nói vừa thở :

– Em nói rõ tôi nghe chỗ nào tôi đối xử không đúng ?

Y ung dung trả lời :

– Chúng em không thuộc bài, cô la thì đúng nhưng không vì vậy mà cô tức giận, nhăn nhó. Cô sẽ mau già, đau tim, chết sớm. Chúng em không thuộc bài, cô có quyền la nhưng không có quyền tự hành hạ thân thể mình như vậy ! ! !

Cô nhìn y một lúc rồi không nhịn được phải phì cười. Cả lớp chúng tôi phá lên cười theo. Đời cô từ đó cũng thay đổi nhiều vì học được một nhân sinh quan mới từ y.

Y học giỏi không chỉ một vài môn mà đặc biệt ở tất cả các môn học. Từ Toán, Lý, Hoá, cho đến Luận Văn, Anh Văn, Sinh Vật, và cả… Chính Trị nữa. Thầy Khải dân Tập Kết, chuyên dậy môn Chính Trị Học, có lần ngạc nhiên hỏi : Kiến thức em về bác Hồ thật là uyên bác. Có nhiều chuyện về bác không hiểu em đọc từ đâu mà thầy cũng chưa từng nghe tới bao giờ.

Sau này, Tường có kể tôi nghe y nói y lấy những lời nói của những danh nhân và lãnh tụ nổi tiếng trên Thế Giới rồi cứ việc sửa George Washington, Charles De Gaule … thành bác nói.

Không mời mà y tự nhiên coi như đã nhập vào băng chúng tôi. Không những thế mà thái độ y như đứng đầu băng chỉ huy anh em. Minh ức lắm. Vì y bị giáng chức, xuống thứ 2. Minh có biệt danh là Đại Tướng vì tên họ là Dương Văn Minh. Một trong những Đại Tướng có quyết định rất lớn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Phạm Tất Đồng tự Thủ Tướng đứng thứ 3. Kế tới là Tường Kiếm Hiệp, Khánh Khổ, Sáu Luận và tôi «Lùn Mã Tử».

Chúng tôi thường gọi y là Công Tử. Sau vài lần vượt biên hụt, đổi thành Công Tử Vượt Biên. Biệt danh của Sáu Luận sau bị Công Tử đổi thành «Luận Bò». Lần đầu nghe, tôi thích lắm vì nghĩ Công Tử giống tôi, cho sức học của tôi hơn nó. Công Tử giải thích : Không đâu, nó vẫn hơn mày, nhưng tại nó cứ hay cãi bậy với tao. Nó biết sai vẫn cãi cối. Nên là con bò rừng.

Luận Bò hình như rất thích cái biệt danh này hơn. Được có tiếng hay tranh cãi với Công Tử là một vinh hạnh. Tôi buồn bã trở lại vị thứ bẩy của mình. Tuy đứng cuối trong nhóm nhưng vẫn là thứ bẩy của lớp. Tôi vẫn đứng trên nhiều người lắm, trên cả thằng chi đoàn trưởng lớp. Công Tử, dĩ nhiên đứng đầu lớp.

Một lần Tường Kiếm Hiệp khám phá ra trường Lê Văn Duyệt có một cô học sinh rất mi nhon, hay đạp xe ngang qua trường tôi đi học. Hôm đó cả bọn ở lại trễ chờ. Cô bé tuyệt vời, nhỏ nhắn, xinh đẹp thật vừa xứng với kích thước … của tôi.

Tôi đang ngây ngất ngắm thì bỗng Công Tử phán : Con nhỏ này, tưởng gì chứ cho tao 3 ngày là tao sẽ ẵm em đi học ngay. Cả bọn nhao lên, chửi bới um sùm. Công Tử nói : Tụi bay dám cá không, nếu tao làm được thì từ đây sẽ là đại ca nhóm. Còn không, bao tụi mày một chầu. Đi đâu ăn cũng được. Chúng tôi đồng ý.

Ba ngày sau, Công Tử đạp xe chở nàng ngang qua trường chúng tôi. Tôi nhìn nàng ôm eo ếch của Công Tử thật tự nhiên và tình tứ ! ! Phải chi trong đời tôi được một lần đạp xe chở nàng đi học nhỉ ? Từ đó tất cả đều phục tùng tuy rằng sau này khám phá ra cô bé là em họ của Công Tử ! ! !

Chuyến vượt biên đầu tiên của Công Tử vào cuối Tháng Mười Một năm đó. Chúng tôi được tin, hùn tiền, đãi Công Tử bữa tiệc cuối cùng tại vườn nhà Tường Kiếm Hiệp vào chiều Thứ Bảy. Sở dĩ nhà Tường được chọn là vì ở cuối xóm dưới. Chung quanh nhà là ruộng rau muống. chúng tôi tha hồ nói năng phản động tới chế độ mà không sợ sự soi mói của mấy tên “mật vụ” khu phố..

Căn nhà Tường nhỏ 3 gian, vá víu bằng đủ mọi loại vật liệu kiếm được. Mái nửa lá nửa tôn, thỉnh thoảng chen vài viên ngói mẻ, vách chỗ gạch chỗ đất, có chỗ vá cả bằng miếng các tông bự. Tường sống với ba và chị. Ba Tường và Tường chuyên môn cắt, bó rau muống để chị Tường đem bán ngoài chợ nhỏ.

Trước ngày 30/4, chị Tường làm thợ dệt cho nhà Công Tử. Ba Tường phải kiêm luôn việc bán rau. Giữa nhà đặt một cái bàn nước cọc cạch, mấy cái ghế xiêu vẹo và hai tấm phản hai bên để ngủ và ngơi. Đặc biệt chung quanh vách nhà là những giá sách với đầy áp sách… kiếm hiệp. Bố con Tường mê đọc chuyện kiếm hiệp và… cắt rau muống. Đặc biệt dù nghèo cũng không muớn, mà chỉ mua chuyện về đóng thành sách, trưng khắp nhà.

Hôm đó chúng tôi đãi Công Tử bằng một con gà luộc, một đĩa dồi chó và ba chai bia quốc doanh. Thủ Tướng nói phải cho Công Tử ăn món quê hương để suốt đời nhớ… người ở lại ! ! !

Công Tử ở lại nhà Tường mãi tới đêm khuya để nói chuyện với ba Tường. Tôi tưởng họ đang bàn chuyện đất nước hoặc kinh tế Thế Giới. Sau nghe mới biết họ đang nói chuyện … kiếm hiệp ! !

Tối Chủ Nhật hôm sau, Công Tử đáp chuyến xe lửa đi Nha Trang rồi xuống ghe ra khơi. Ngày Thứ Hai kế là ngày dài nhất của bọn chúng tôi. Ngồi nhìn chỗ trống của Công Tử trong lớp, bọn chúng tôi lúc bồi hồi, lúc phập phồng, lúc lo lắng. Chúng tôi phải báo cáo láo với Thầy Lành là Công Tử bị ốm nặng. Qua sáng Thứ Năm, Công Tử lù lù bước vào lớp, cả bọn nửa buồn nửa vui. Buồn vì Công Tử đi chưa được, vui vì lại gặp được người mình ưa thích. Giờ ra chơi, cả bọn bu lại hỏi. Công Tử kể :

– Tao xuống ghe nhỏ để ra ghe lớn. Đợi tới gần sáng chả thấy ghe mẹ gì mới biết bị lừa, nên về thăm tụi mày lại.

Tháng sau, Công Tử lại từ gỉa chúng tôi để đi Phan Thiết. Mặc dù tài chánh eo hẹp, chúng tôi cũng cố gắng tổ chức lại một bữa tiệc tiễn tại vườn nhà Tường. Lần này thiếu món dồi vì nghe nói thịt chó ăn xui.

Hình như thịt gà cũng xui nên Công Tử lại trở về đi học lại. Hai lần sau đó, chúng tôi chỉ đãi uống chứ không ăn. Khánh Khổ than với tôi : Khổ quá, Công Tử chưa tới Mỹ thì mình đã phải khai phá sản. Lúc nào y cũng có thể than khổ.

Lần thứ 5 Công Tử đi ở Vũng-Tầu thì bị bắt và đưa vào Bình-Ba cải tạo lao động. Chúng tôi không thể giấu được trường mãi. Lúc đó thầy trò trong cả trường mới biết tới một nhân vật có biệt danh «Công Tử Vượt Biên».

Chi đoàn họp liên tục, phê bình, kiểm điểm sáng tối. Bọn chúng tôi thủ khẩu như bình. Huyền thoại về Công Tử được mọi người mọi lớp truyền tụng hơn cả huyền thoại về… “bác”.

Mỹ Ngọc, hoa khôi của trường tuyên bố sẵn sàng ra đi với Công Tử bất cứ lúc nào dù là đi… kinh tế mới. Bích Huyền, Bích Ca, hoa hậu song sinh đều đồng ý cùng nâng một khăn, sửa một áo nếu Công Tử có… sức. Thầy chủ nhiệm bị giám hiệu gọi lên khiển trách vì để Công Tử nghỉ ốm nhiều mà không báo cáo. Cô Hồng-Hoa thỉnh thoảng trong lúc giảng bài đi xuống ngồi vào chỗ trống của Công Tử, đăm chiêu nghĩ ngợi thương nhớ về một người học trò ưu tú của mình.

Bốn tháng sau, bố mẹ Công Tử tìm được mối chạy 5 cây vàng để Quản giáo lén chở Công Tử về Sài Gòn. Sợ phường khóm gây rắc rối cho nhà mình, Công Tử tới nhà tôi trú ngụ vì bố tôi là Tổ Trưởng Tổ Dân Phố có thể biết trước ngày nào phường khóm tới khám nhà.

Công Tử, tôi và đứa em kế chia nhau căn gác lửng cuối nhà. Căn gác nhỏ chỉ kê vừa 2 cái bàn học và trải cái chiếu gai. Vậy mà Công Tử ở đó hơn nửa năm. Trong năm đó Công Tử Vượt Biên hụt 2 lần nữa. Lần sau nhờ có kinh nghiệm nên không bị tó. Tôi trở thành người đưa tin giữa Công Tử và gia đình. Mỗi lần sang nhà Công Tử nhắn tin, tôi đều ghé lại nhà Luận Bò để cho tin tới mọi người trong nhóm.

Đối diện nhà Luận có một bông hoa biết nói mà Luận theo đuổi từ hồi mặt mới mọc mụn. Luận thường tự hào gọi nàng là Thiên Hạ Đệ Nhất Niên. Niên thường ngồi cạnh cửa sổ nhà để xếp hàng mà nhà Niên dệt mướn. Thỉnh thoảng cuồng chân, nàng đi dạo vài vòng trước nhà. Lúc nào Niên cũng mặc áo vàng in bông cúc nổi và quần xa tanh bóng đen.

Tôi thắc mắc, Luận thật tình trả lời : «Hỏi Công Tử đó. Tao tốn cả đời theo đuổi không thành. Công Tử chỉ nhập nhóm ca với em mấy ngày là em mê tít. Mẹ kiếp, giọng Công Tử Bắc kỳ the thé vậy mà mắt em cứ lim dim, phê giọng trầm và ấm ! !». Đó là lần đầu tiên tôi mới hiểu tại sao Luận hay so đo, ghen tương với Công Tử.

Niên dáng thanh và cao. Nếu mang guốc cao gót, tôi chắc Luận chỉ đứng tới tai Niên. Công Tử đứng với Niên thật là xứng đôi, như Rồng với Phượng. Niên đứng với Luận như Phượng với … Ngưu. Tôi chắc chính Luận cũng biết vậy. Khi tôi về là Luận vội chạy qua nhà Niên để cho tin và cũng để … chiêm người đẹp.

Chiều hôm ấy tôi cố tình nói chuyện về Luận rồi đưa đẩy tới Niên. Tôi có hỏi sao Công Tử không tìm cách liên lạc với Niên. Công Tử trả lời :

– Mày nghĩ tao đang nghỉ Hè hay sao mà thăm với viếng. Công An mà biết chuyện giữa tao và Niên. Tao chắc nó bám Niên kỹ lắm. Nếu tao gặp Niên là sẽ gặp … “bác” ngay. Cuộc đời có những cái mình phải hiểu để sống. Số tao sinh ra là để vượt biên, đi Mỹ học, số Niên là ở đây ca hát … xây dựng chủ nghĩa. Hai đường đi hai nẻo, phải dứt khoát thì mới làm được cái mình muốn. Rồi Công Tử kể tôi nghe chuyện tình với Niên. Câu chuyện tình đầy tính chất … xã hội chủ nghĩa.

Mùa Hè năm trước, tất cả các học sinh trong phường phải đăng bạ sinh hoạt đoàn thể. Như thường lệ Công Tử ra trình diện trễ 2 ngày. Tên uỷ viên thanh niên thấy gai mắt, cho Công Tử đứng chờ chơi. Đang lúc đó thì Niên tới phàn nàn là tổ ca của nàng thiếu Nam, chỉ toàn mấy em gái choai choai mười hai mười ba thôi. Công Tử kể : «Tên uỷ viên nghe xong, sực nhớ tới tao, nó đưa hàm răng vàng ố, ám khói thuốc lào ra cười hô hố chỉ tao nói :

– Đồng chí xung phong vô tổ ca ngồi kia kìa. Tao đứng dậy tính phản đối, thấy Niên quay qua nhìn, tao gật đầu ngay.

Cũng như mọi chàng trai đất Việt, lần đầu tiên gặp người đẹp, Công Tử bỡ ngỡ nói một câu hết sức … lãng mạn cách mạng. Dân Việt Nam ăn toàn bo bo không, sao lại có người như Niên, xinh đẹp như vậy. Niên đỏ mặt, đổi đề tài, hỏi nhà Công Tử ở chỗ nào trong phường để nàng biết, tới gọi đi họp khi cần. Công Tử kể tiếp :

– Tao chỉ nhà, Niên không tin nói nhà tao chỉ đến bà chị kế tao là hết. Tao nói ông gìa anh mới nhận anh làm con nuôi tối qua.

Hôm sau Niên đi hỏi dò sự thật trong xóm mới biết Công Tử là con Út trong nhà, ít khi ra đường nên phần lớn mọi người không biết tới. Gặp Công Tử, Niên hỏi :

– Anh làm gì mà tối ngày cứ ru rú ở trong nhà không ?

Công Tử đáp :

– Tại chưa gặp Niên nên không muốn ra ngoài, bây giờ thì lúc nào cũng nằm ngoài đường.

Từ đó phường 7, quận Phú-Nhuận có chuyện tình để mọi người kháo cho qua những tháng ngày vô vị dưới chế độ ba khoan. Khoan sống, khoan hưởng và khoan yêu. Họ nhìn Công Tử và Niên để ước sao cho cuộc tình được êm đẹp và thành tựu. Hình như Công Tử và Niên cũng thấy. Họ lúc nào cũng quyến luyến và ước mơ.

Mùa Hè chấm dứt, chị phụ trách sinh hoạt phường, tổ ca, Quách thị Cẩm – Niên đặt bút phê vào sổ sinh hoạt của Công Tử : tiên tiến vượt chỉ tiêu. Tên uỷ viên thanh niên phường gầm gừ phản đối ngầm.

Một ngày cuối Đông năm 1979, Công Tử đưa tiền cho đứa em gái tôi dặn ra chợ Phú Nhuận mua sôi và thịt vịt. Hôm đó nhà chúng tôi được thưởng thức một món mà mọi người ưa thích. Tôi có linh cảm xa nhau thật nhiều. Tối hôm đó Công Tử nói : Bố mẹ tao đóng tiền bán chính thức xong rồi. Ngày mai em họ tao tới đón tao xuống Rạch Gía.

Công Tử đưa tôi xem thẻ căn cước mới có tên Tầu là Lý Phu Trình. Tôi nói : Công Tử Vượt Biên giờ trở thành Cái Nị Dượt Piên. Chúng tôi cười nói nhiều tới khuya. Ba tháng sau, không thấy tin tức gì của Công Tử, tôi ghé qua nhà hỏi. Bà mẹ Bắc Kỳ, thật Việt Nam, thấy tôi bà ôm mừng khóc : Nó đã tới được Mã Lai rồi con ạ. Tôi từ giả vội để chạy qua nhà Luận báo tin.

Mọi lần thì khác, nhưng lần này vừa thấy chiếc xe đạp Mỹ mà Công Tử để lại cho tôi đậu trước nhà Luận, Niên có linh cảm tin mừng, chạy vội băng qua đường.

Đó là lần đầu tiên tôi giáp mặt Niên. Niên có gương mặt trái soan. Cặp mắt không to không nhỏ, rất đi đôi với khuôn mặt. Mũi Niên hơi cao, có sóng, không tẹt như mũi người Việt Nam. Mái tóc dài ngang lưng, không dầy không thưa nhưng đen nhánh như hai hàng lông mi của nàng. Da Niên trắng tựa như người sinh đẻ ở Gia Nã Đại.

Mái tóc đen dài, gương mặt trái soan, làn da trắng, chiếc áo vàng in hình bông cúc nổi, cái quần xa tanh bóng đen, những thứ ấy tương xứng, đối chọi làm Niên đã đẹp càng đẹp thêm. Không chỉ đẹp, dáng Niên cao cao trông sang và quyền quý. Phải nói Niên là một kỳ công tuyệt mỹ của tạo hoá. Bây giờ tôi mới hiểu hết câu nói đầu tiên, ngớ ngẩn của Công Tử khi gặp Niên. Dân Việt Nam ăn toàn bo bo không, sao lại có người như Niên, xinh đẹp như vậy.

Niên bước vào nhà Luận, căn nhà tự nhiên như sáng hẳn ra. Không hiểu từ mái tóc Niên hay từ thân thể Niên, cũng có thể từ sự tưởng tượng của tôi, tôi như thấy một mùi thơm ngọt dịu thoảng qua. Niên không để ý gì cả, chỉ hỏi vội :

– Có tin gì của ảnh, chưa anh ?

Tôi gật đầu đáp :

– Tới Mã Lai rồi.

Chưa đầy một phút sau, hai dòng nước mắt vui mừng đã chảy dài trên gương mặt xinh đẹp của Niên. Tôi cảm động cũng không cầm được nước mắt. Luận Bò cũng khóc. Chúng tôi nhìn nhau, khóc vui mừng thật dễ dàng. Chín tháng sau tôi mới nhận được lá thư đầu tiên của Công Tử gửi từ một nơi có cái tên lạ hoắc của tiểu bang Texas : College Station.

Thủ Tướng gật gù giải thích :

– Thì đúng rồi, Công Tử phải ở chỗ những người giỏi của nước Mỹ. College Station là chỗ của những người ít nhất phải có bằng Đại Học ở.

Chúng tôi đều đồng ý. Tôi mang thư qua nhà Công Tử khoe. Hai ông bà nhìn tôi một lúc rồi khẽ nói :

– Hai bác có chuyện muốn nói với cháu. Trước khi nó đi, hai bác có đóng thêm một chỗ, phòng nếu đi không xong sẽ có mối khác cho nó. Lúc nó đi có nói nếu trót lọt thì để dành cho cháu để cám ơn gia đình cháu đã giúp nó. Tiền Bác đã đóng rồi, lấy về cũng không được. Cháu về thưa với Bố Mẹ, rồi sang cho Hai Bác hay.

Trên đường về, tôi bàng hoàng như người bị say sóng. Bố tôi nghe xong nói :

– Trời Phật thương gia đình mình rồi con ơi. Cơ hội ngàn vàng con đừng bỏ. Con phải đi để cứu các em con và cứu cả bố mẹ thoát khỏi chế độ này … Con đi Bố chỉ mất chức… Tổ Trưởng là cùng.

Hai tuần sau, tầu tôi cập bến Mã Lai. Tôi cũng được chuyển qua đảo Pulau Bidong như Công Tử. Vì thuộc diện chờ nước Mỹ hốt rác nên tôi ở đảo gần 2 năm. Sau khi bị từ chối bởi Úc, Pháp, Ý và Thuỵ Sĩ, tôi mới được Mỹ hốt. Tôi tới Houston vào cuối Đông năm 1982. Trời năm đó lạnh và u ám.

Công Tử ra đón tôi ở phi trường. Vẫn phong thái và kiểu nói của năm xưa, tôi thấy trời đất chuyển ấm và sáng dần :

– Lùn Mã Tử, tao trốn mày gần nửa vòng trái đất, vậy mà mày cũng bám theo. Làm sao tao có thể dứt mày được đây ?

Tôi trả lời :

– Khánh Khổ nói số mày đẻ bọc điều, sinh ra để sống trong nhung lụa. Số tao với nó là số khổ, do đó tao phải bám sát mày. Chỉ cần một tí cái bọc điều của mày, là hưởng suốt đời không hết.

Đúng như Đại Tướng đoán trước, chương trình học 4 năm của Đại Học Mỹ, Công Tử chỉ tốn 3 năm hơn. Tôi vào trường được hơn 1 năm, Công Tử tốt nghiệp Kỹ Sư Cơ Khí và chuyển lên Fort Worth làm cho một hãng máy bay quốc phòng nổi tiếng.

Ngày tôi ra trường, Công Tử lái xe về mừng. Gặp tôi, Công Tử thành thật :

– Tao tính mua tặng mày một món quà thật lớn. Nhưng tuần sau tao xong Cao Học, mày lại phải trả nợ, mua đồ mừng tao. Do đó đổi ý không mua gì cả. Mày mới ra trường chưa có nhiều tiền, chơi cái trò tư bản này không xong đâu.

Tôi có hỏi Công Tử có tiếp tục học lên Tiến Sĩ không ? Công Tử trả lời :

– Phải ngưng một thời gian, ba má tao nói ngưng học, đi lấy vợ học mới… thông ra thêm. Ông bà cũng già rồi, tao tính về thăm một chuyến, tiện thể tính bề gia thất.

Ngập ngừng một lúc tôi mới nói Công Tử một điều mà tôi đã giấu hơn 6 năm nay :

– Niên đã lấy chồng lâu rồi, chắc giờ con cũng đã lớn.

Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi thấy mặt Công Tử đổi sắc. Công Tử nhìn tôi một lúc như muốn hỏi điều gì, nhưng rồi thôi, chỉ quay đi nhìn về một hướng xa xa.

Tôi hiểu Công Tử muốn hỏi gì nên khẽ đáp :

– Luận Bò. (theo Lê Như Đức – Houston)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

Ghi chú : ảnh trong bài chỉ mang tính minh họa