NHÌN LẠI MINH TINH SÀI GÒN

PHẬN MÁ HỒNG CỦA

“ĐÀO” HUYỀN THOẠI

SÀI GÒN

Họ đều là người đẹp nổi tiếng đất Sài Gòn và là những diễn viên điện ảnh gặt hái nhiều thành công trong thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ 20. Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh đã tạo được tiếng vang và trở thành gương mặt nữ hiếm hoi của Việt Nam đứng vào “top” minh tinh của châu Á một thời.

THẨM THÚY HẰNG : Tài sắc vẹn toàn

Không chỉ là biểu tượng sắc đẹp miền Nam, Thẩm Thúy Hằng còn là gương mặt diễn viên nữ được “tổ đãi” và danh tiếng nhất trong làng giải trí Việt Nam bấy giờ.

Thẩm Thúy Hằng là nghệ danh do ông bà chủ hãng phim Mỹ Vân đặt cho cô bé Nguyễn Kim Phụng, sinh năm 1941 tại Hải Phòng, nhưng lớn lên tại An Giang. Năm 16 tuổi, do khao khát gắn mình với nghệ thuật, Kim Phụng đã lén cha mẹ ghi danh trong cuộc thi tuyển diễn viên điện ảnh và thật bất ngờ, chị đã vượt qua hơn 2.000 gương mặt khả ái để giành giải nhất.

Thời hoàng kim đã đem về cho Thẩm Thúy Hằng những giải thưởng điện ảnh quốc tếnhư : Hai lần đạt giải Diễn viên xuất sắc Á châu tại Liên hoan phim Đài Bắc, Ảnh hậu Á châu trong liên hoan phim Á Châu tổ chức tại Hồng Kông và Đài Loan (1972, 1974); Nữ diễn viên khả ái nhất vượt qua các đối thủ là những diễn viên xinh đẹp đến từ Đông Âu, Nhật bản, Trung quốc, Mông cổ vào năm 1982.

Thành công của vai diễn đầu tiên Tam nương trong phim Người đẹp Bình Dương đã đưa Thẩm Thúy Hằng bước lên ngôi vị diễn viên khả ái nhất của màn ảnh Sài Gòn. Những hợp đồng đóng phim thi nhau mời gọi và nhan sắc, tài năng của Thúy Hằng ngày càng lên đỉnh cao của nghệ thuật.

Cát xê của chị cao nhất, như năm 1974, chỉ cần xuất hiện một số phân đoạn trong một bộ phim hài chiếu tết, chị đã nhận được hơn 1 triệu đồng (khoảng 1 ký lô vàng 9999). Chị đồng thời lập kỷ đóng nhiều phim nhất của thập niên 50 – 60, với 60 phim truyện nhựa, như : Trà hoa nữ, Tấm cám, Sự tích trầu cau, Bạch viên tôn cát, Nửa hồn thương đau, Mười năm giông tố, Sóng tình, Xin đừng bỏ em…

Năm 1969, chị đứng ra lập nhóm làm phim mang tên Thẩm Thúy Hằng và đây là tiền thân của Vilifilms nổi tiếng ở Sài Gòn. Phim đầu tay Chiều kỷ niệm đã thành công ngoài sức tưởng tượng. Danh tiếng của Thẩm Thúy Hằng được nâng cao hơn khi chị xuất hiện tại Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Indonesia… tham dự các cuộc liên hoan phim. Đối với các diễn viên điện ảnh quốc tế Creg Moris, Wen Tao, Địch Long, Khương Đại Vệ… chị là bạn.

Không dừng ở điện ảnh, Thẩm Thúy Hằng còn thử sức mình ở kịch nghệ, cải lương, tân nhạc… Thời những năm 1960, miền Nam xuất hiện nhiều ban kịch như Dân Nam, Tân Dân Nam, ban kịch Kim Cương, ban kịch Túy Hồng, rồi chị lập ban kịch Thẩm Thúy Hằng… đảm nhận vai trò làm trưởng ban, viết kịch bản và dĩ nhiên là diễn viên chính.

Ban kịch của Thẩm Thúy Hằng được xếp vào một trong mười ban kịch tiêu biểu của kịch nghệ miền Nam, riêng chị nhiều lần được bầu chọn là một trong 12 diễn viên vững chắc của ngành kịch. Vở kịch của Thẩm Thúy Hằng rất được yêu thích là Đôi Mắt. Vai diễn cuối cùng trước khi từ giã lĩnh vực nghệ thuật là Phồn Y trong vỡ Lôi Vũ của đoàn kịch Kim Cương.

Hiện, Thẩm Thúy Hằng không còn tham gia hoạt động nghệ thuật, một phần do sức khoẻ, phần khác là muốn khán giả luôn giữ kỷ niệm đẹp quá khứ… Chị sống giản dị và lặng lẽ. Mọi thông tin về chị hầu như đóng chặt, cho tới khi trên một diễn đàn hải ngoại, bức ảnh chụp Thẩm Thúy Hằng của ngày nay đã khiến ai nấy phải giật mình.

Ban đầu, một số người quả quyết đó chỉ là một sản phẩm của công nghệ photoshop, bởi thời gian dù có ghê gớm đến mấy cũng không thể hủy hoại sắc đẹp nhanh đến vậy. Tuy nhiên, sau đó, họ đành phải ngậm ngùi khi nhiều người trong giới xác nhận, người phụ nữ có khuôn mặt xấu xí trong bức hình chính là kiều nữ họ Thẩm.

KIỀU CHINH : Tài tử Quốc tế

Kiều Chinh tên thật là Nguyễn Thị Chinh, là một nữ minh tinh nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975. Chị mở đầu sự nghiệp điện ảnh với vai chính trong phim Hồi Chuông Thiên Mụ bằng sự tình cờ như có một xếp đặt vô hình. Và tính đến nay, chị đã tham gia diễn xuất cho khoảng 120 bộ phim từ thời trước 1975, cho đến các phim của Hollywood và bây giờ là những bộ phim do chính các nhà sản xuất, đạo diễn người Mỹ gốc Việt thực hiện.

Sau 50 năm góp mặt với điện ảnh, Kiều Chinh đã được nhận nhiều giải thưởng cao quý. Khởi đầu là Ðệ nhất diễn viên Nam Việt Nam năm 1969, và của Ðại Hội điện ảnh Á châu năm 1973. Năm 1996, Viện Khoa học và Nghệ thuật truyền hình Mỹ (Academy of Television Arts and Sciences) đã trao giải Emmy cho phim tài liệu Kieu Chinh : A Journey Home của đạo diễn Patrick Perez/KTTV.

Năm 2003, tại Liên hoan Phim Việt Nam quốc tế, Kiều Chinh được trao giải thưởng Thành tựu suốt đời (Lifetime Achievement Award); và tại Liên hoan phim phụ nữ ở Turin (Ý), chị được trao giải Diễn xuất đặc biệt (Special Acting Award). Và gần đây nhất, tại mạc Ðại hội điện ảnh Á châu San Diego, ngày 14/10/2006, nữ tài tử lại nhận được giải Thành tựu suốt đời .

“Điện ảnh tìm tới tôi, chứ không phải tôi đi tìm điện ảnh. Tình cờ hôm đó tôi đang đi ngoài đường, thì có một người Mỹ tới vỗ vai và hỏi tôi có biết nói tiếng Anh không. Tôi quay lại nhìn và nghĩ rằng ông ta nhầm người”, nữ minh tinh chia sẻ.

Kiều Chinh sinh năm 1937. Năm 16 tuổi, chị đã lập gia đình. Năm 18 tuổi, chị bắt đầu chạm ngõ làng điện ảnh. Phong cách diễn của chị được đánh giá rất bình dị và đơn giản. Chị đã đem vào điện ảnh những suy nghĩ, những quan sát từ cuộc đời.

Với Hollywood, chị là nữ diễn viên đầu tiên của Việt Nam bước chân vào ngôi làng điện ảnh nổi tiếng này và chị đã đóng góp cho Hollywood hàng chục bộ phim, kể cả phim nhựa lẫn phim truyền hình, như A Yank in Vietnam, Devil Within, The Letter, Catfish in Black Bean Sauce, What’s Cooking, Face, Returning Lyly…

Với vai diễn trong phim The Joy Luck Club, Kiều Chinh là diễn viên gốc Á duy nhất có tên trong danh sách 50 diễn viên làm khán giả rơi lệ nhiều nhất trong lịch sử điện ảnh, do Entertainment Weekly số ra ngày 28/11/2003 đưa tin. Trong cuộc bình bầu này, Kiều Chinh xếp thứ 22/50, đứng đầu là “Terms of Endearment” (với Shirley McLaine), thứ 15 là Titanic, thứ 17 là Love Story, thứ 30 là “Romeo and Juliette”, thứ 47 là “Moulin Rouge”…

Tên tuổi Kiều Chinh còn được biết đến trong nhiều vai trò khác như công tác nhân đạo (xây trường học cho trẻ em ở Quảng Trị); diễn giả chuyên nghiệp của nhiều trường đại học và nhiều công việc khác phục vụ cho cộng đồng Việt Nam tại Mỹ.
Hiện, kiều nữ kỳ cựu Sài Gòn sống cùng gia đình ở thành phố Garden Grove (Mỹ). Trong ngôi nhà thân thương xứ người, chị trưng bày một trống đồng lớn, ý muốn nhắc nhở với con cháu, mình là người Việt Nam, con cháu của Vua Hùng.

Yên Huỳnh post (Theo Đất Việt)

BÌNH NGUYÊN LỘC

QUA TRÍ NHỚ

Năm 1965 khi làm tờ Nghệ Thuật, tôi có dịp gặp nhà văn Bình Nguyên Lộc thường xuyên, vì Nghệ Thuật là một tờ tuần báo văn chương, khác với những năm về trước, Sài Gòn có những tạp chí văn học, thường là ra hàng tháng.

Làm báo tuần các nhà văn gặp nhau có nhiều thì giờ trò chuyện hơn, nói về một chuyện gì đó cũng có thể nói lâu hơn là khi làm báo ngày. Viết báo ngày, cầm được bài vở bạn đưa rồi là đi ngay, trở về tòa báo đưa sắp chữ, ít khi ngồi lại dông dài.

Nghệ Thuật số 1 ra ngày 1/10/1965, Bình Nguyên Lộc gửi cho truyện ngắn Con Nai Vàng, đăng hai kỳ báo mới hết. Tới số 5 anh đưa cho truyện ngắn khác, Bệnh Thành Phố. Quen biết nhau từ hồi anh có mặt trên các tờ Nhân Loại của các nhà văn miền Nam, tòa soạn ở Bến Chương Dương, và quanh các nhật báo thời ấy, song từ nhật báo tới tuần báo, không khí môi trường lại khác. Một bên ào ào, một bên thong thả.

Từ tòa soạn ở đường Phạm Ngũ Lão tới tư gia tác giả Ký Thác, Ðò Dọc, ở bên kia đường Trần Hưng Ðạo, chỉ khoảng mười phút. Còn nhớ, nhà anh ở trong một con ngõ, lối đi phẳng phiu, tương đối rộng, khác hẳn những con ngõ ngoằn ngoèo khu Phan Ðình Phùng, hay Nancy. Anh thường đi bộ từ nhà tới các tòa báo ở đường Phạm Ngũ Lão : Văn, Kịch Ảnh, Màn Ảnh, Phổ Thông, Thời Nay, Sài Gòn Mới, Nghệ Thuật, Khởi Hành,… góc Phạm Ngũ Lão – Ðề Thám – Bùi Viện là “Ngã Tư Quốc Tế,” nơi đặt tổng hành dinh của một nhà phát hành báo (nhà phát hành Đồng Nai).

Căn phòng “con nai đồng bằng” ngồi viết chật ních sách vở, không phải trên kệ sách, mà xếp chồng chất trên các mặt bàn mặt ghế. Anh thường mặc pyjama màu nhạt, hay màu xanh thật nhạt. Lúc ra mở cửa tiếp khách, nụ cười đã sẵn sàng, tay phải luôn luôn cầm một cái bút nguyên tử. Anh đang viết dở một cái gì đó. Còn bài cho bạn, anh hẹn tới lấy, thì đã xong rồi, ở góc xấp bài đóng ghim cẩn thận. Phòng anh không được sáng lắm, lại càng không sáng vì những tấm song sắt mỏng che các mặt kính, như nếu kính có vỡ, người ngoài cũng không thể xâm phạm tới bên trong. Ðó là những hình ảnh giờ này nhớ lại, sự thực có thể là khác hơn.

Bản thảo Bình-nguyên Lộc là xấp giấy có kẻ dòng, xé ra từ tập vở học trò, nét chữ nghiêng, rõ ràng. Nét bút bi nhỏ sắc, dễ đọc. Ðọc bài anh viết cũng như nói chuyện với anh, là tiếp xúc với một người viết nhà nghề, khác hẳn cung cách của mấy anh cầm bút tài tử, vừa văn hoa lên bổng xuống trầm, vừa đọc vừa đoán, tuy thế đôi khi con chữ của Bình-nguyên Lộc nhỏ quá, dễ đọc lộn. Anh hay khôi hài dí dỏm, trong câu chuyện với anh, dù là chuyện gì, cũng vang lên tiếng cười. Ðặt các nhà văn gốc miền Nam khác bên cạnh anh, như Tam Ích, Sơn Nam, Ngọc Linh, Tùng Long, Minh Quân, Thụy Vũ, Sĩ Trung, Hoài Điệp Tử,… Bình-nguyên Lộc có tâm hồn thi sĩ hơn cả. Nhà văn ấy từng có những câu thơ vô cùng cảm xúc :

Kẽo kẹt xà nhà tiếng võng đưa

Ðâu đây đồng vọng cõi xa xưa

Thổ ngơi thơm phức, hồn ma cũ

Lòng rộn vui mà mắt lệ mờ.

(BNL Dâng má thương)

Bình-nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ngày 7/3/1914 tại làng Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa, mất ngày 7/3/1987 tại San Jose. Ông học chữ Pháp ở nhà, tới bậc trung học thì lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký, năm 1936 làm công chức ở Kho Bạc Sài Gòn. Trong thời gian này ông bắt đầu viết văn, tác phẩm đầu tay của ông nhan đề Phù Sa, đăng trên tạp chí Thanh Niên ở Sài Gòn năm 1943. Năm 1952, chủ trương tuần báo Vui Sống, chuyên về y học phổ thông. Năm 1956, ông cùng bạn hữu ra tuần báo Bến Nghé, có khuynh hướng khơi dậy không khí Gia Ðịnh xưa.

Tác phẩm để lại gồm nhiều thể loại, có chú giải các tác phẩm cổ điển như Văn Tế Chiêu Hồn (Nguyễn Du), Tự Tình Khúc (Cao Bá Nhạ)… Cuốn biên khảo đồ sộ Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt Nam (1971), Lột Trần Việt Ngữ (1972), Tự Vựng Ðối Chiếu 10.000 từ (1971)…

Phần chính trong sự nghiệp của ông là sáng tác, ít ra là còn tìm được 30 cuốn : Nhốt Gió (1950), Ðò Dọc (1958), Gieo Gió Gặt Bão, Tân Liêu Trai (1959), Ký Thác (1960), Nhện Chờ Mối Ai (1962), Nửa Ðêm Trăng Sụp, Xô Ngã Bức Tường Rêu, Mối Tình Cuối Cùng, Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương, Tâm Trạng Hồng, Hoa Hậu Bồ Ðào, Bóng Ai Qua Ngoài Song Cửa, Bí Mật Của Nàng (1963), Mưa Thu Nhớ Tằm, Ðừng Hỏi Tại Sao? (1965), Tình Ðất, Những Bước Lang Thang Trên Hè Phố Của Gã Bình-nguyên Lộc (1966), Thầm Lặng, Một Nàng Hai Chàng,…(1967), Ðèn Cần Giờ, Sau Ðêm Bố Ráp…(1968), Cuống Rún Chưa Lìa, Nhìn Xuân Người Khác…(1969). Sau 75 vào giữa thập niên ’80 rời bỏ quê hương mà ông yêu mến nhất, qua Hoa Kỳ.

Trong tuần báo Khởi Hành số 24 (bộ cũ) đề ngày Thứ Năm, 9/10/1969, xuất bản tại Sài Gòn, nhà văn Bình Nguyên Lộc có tham dự cuộc phỏng vấn có chủ đề nhà văn, truyện dài, truyện ngắn với khoảng 20 nhà văn tên tuổi khác. Ông đã trả lời Tổng Thư Ký Tòa Soạn Viên Linh tất cả các câu hỏi. Sau đây là một vài đoạn trích dẫn.

– Ông viết văn như thế nào ? Một ngày ông viết được bao nhiêu trang ? Ông có đọc lại những gì ông viết ra không ?

– Tôi đoán rằng quí báo muốn thỏa mãn tánh tò mò của bạn đọc vì những cái tật lạ của mỗi nhà văn chăng ? Tôi không có tật lạ nào hết, chỉ thắc mắc một chứng bịnh mà thôi, là không thể viết ra chữ trên loại giấy nào khác hơn là giấy học trò. Tôi mắc bịnh này sau năm 1953 mà tôi bắt đầu làm nghề thư ký tòa soạn. Tới phút chót, các ông thợ báo tin rằng thiếu nửa cột chữ 8, không tít. Là lối 500 tiếng, lại phải biết mình nên cung cấp cho thợ bao nhiêu trang bản thảo của mình. Giấy tập học trò giúp tôi biết rằng tôi phải đưa hai trang bản thảo. Như vậy trong một phút đồng hồ, tôi đủ thì giờ phân bố ý tứ cho 2 trang đó và viết được ngay, kẻo thợ họ không nghe cho mình. Tôi thấy loại giấy đó có lợi quá, nên dùng nó để cung cấp tiểu thuyết cho các báo đăng hàng ngày, họ đăng không giống nhau, có báo đăng ba trang, có báo đăng ba trang rưỡi, có báo đăng bốn trang chữ viết của tôi. Chỉ dùng giấy tập tôi mới cung cấp được, không thiếu cũng không dư. Làm như vậy suốt 16 năm trời thì nó thành thói.

Xin thú thật rằng không có thì giờ đọc lại. Nhưng nếu có thì giờ đọc thì chắc mỗi ngày không viết tới 5 trang được, bởi hễ đọc lại thì muốn sửa chữa, sửa chữa rồi, đọc lại nữa, và cứ như vậy hoài thì biết bao giờ mới có bài. Ðôi khi sửa chữa mãi hóa ra dở hơn lần phóng bút ban đầu.

– Ông nghĩ gì về nghề văn ở VN ?

– Nghề văn VN hơi buồn. Mình viết văn ngoài các mục đích thiển cận, có một mục đích là muốn thiên hạ biết ý và lòng mình ra sao. Nhưng trung bình chỉ có lối ba ngàn người tìm biết thì thất vọng lắm. Dân ta đông tới 30 triệu, còn 29 triệu 9 trăm 97 ngàn người khác không thèm biết mình gì thì tủi thân quá… (Cuộc phỏng vấn năm 1969). Nhưng bạn hữu tôi an ủi tôi rằng tuy vậy mà số người đọc báo cọp và sách cọp đông lắm, nên tôi cũng hả dạ phần nào. Những ông cọp chỉ giết chủ báo và chủ nhà xuất bản, chớ tôi thì có lợi về tinh thần. Tôi cũng bị thiệt hại lây, vì các ông chủ báo, chủ nhà xuất bản kiếm tiền không được, không nuôi tôi no ấm lắm, nhưng dầu sao cũng có một tí lợi tinh thần đã nói.

Lê Hoàng Nguyễn (Trích trong : Viên Linh “Hồi Ký Văn Học”, chưa hoàn tất)

Advertisements

2 Nhạc sĩ VĂN PHỤNG & HÙNG LÂN

NHẠC SĨ VĂN PHỤNG

(1930 – 1999)

Văn Phụng là một nhạc sĩ nổi tiếng của dòng nhạc tình miền Nam trước 1975. Một số nhạc phẩm của ông được xếp vào thể loại tiền chiến. Văn Phụng còn được xem như một trong những nhạc sĩ hòa âmhay nhất Sài Gòn trước 1975.

Nhạc sĩ Văn Phụng tên thật là Nguyễn Văn Phụng, sinh năm 1930 tại Hà Nộitrong một gia đình tám anh em mà ông là thứ hai. Học  dương cầm từ nhỏ, được sự chỉ dạy của hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng, năm 1945 Văn Phụng đã đoạt giải nhất độc tấu dương cầm trong một cuộc tuyển lựa tại Hà Nội với nhạc phẩm La Prière d’Une Vierge.

Thời đi học Văn Phụng là một học sinh xuất sắc, ông học tiểu học tại trường Louis Pasteur, trung học ở Albert Sarraut. Năm 16 tuổi, sau khi tốt nghiệp Tú Tài, Văn Phụng theo học ngành Y, vì ý muốn của cha ông. Nhưng chỉ được một năm Văn Phụng bỏ học để theo âm nhạc.

Năm 1946 trong một lần chạy loạn về Nam Định, Văn Phụng trú tại tại nhà thờ Tứ Trùng ở Chợ Cồn và ông gặp linh mục Mai Xuân Đình. Vị linh mục đã chỉ dạy cho ông về âm nhạc và giáo lý. Và Văn Phụng cũng trở thành người theo đạo Thiên Chúa từ ngày đó.

Năm 1948 , Văn Phụng quay về Hà Nội,  gia nhập Ban Quân nhạc Đệ tam tiểu đoàn danh dự. Chính ở đây, Văn Phụng đã quen với những người mà về sau cũng trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng của miền Nam như Nhật Bằng, Đan Thọ, Nguyễn Hiền, Vũ Thành… Thời gian đó, ông được nhạc trưởng người Pháp gốc Đức tên Schmetzer chỉ dẫn vể hòa âm.

Cũng năm 1948 là năm Văn Phụng sáng tác ca khúc đầu tay Ô mê ly trong một lần vui đùa ca hát cùng bạn bè. Ông thường trình diễn nhạc phẩm này tại những vũ trường ở Hà Nội. Bài hát đã được hoan nghênh đón nhận và kể từ đó tên tuổi Văn Phụng được giới yêu nhạc chú ý. Về sau Ô mê ly còn nổi tiếng cùng tiếng hát của ban hợp ca Thăng Long. Hiện nay ca sĩ Ánh Tuyếtcũng thường trình diễn nhạc phẩm này.

Khoảng năm 54 – 55Văn Phụngvào miền Namvà trở thành Nhạc Trưởng của Đài Phát thanh Quân đội và phụ trách chương trình ca nhạc trên Đài Phát thanh Sài Gòn.

Khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc với Ô mê ly vào năm 1948 và kết thúc với Chán nản vào năm 1972 , Văn Phụng đã sáng tác hàng trăm ca khúc, trong số đó có rất nhiều nhạc phẩm đặc sắc như Trăng sơn cước, Yêu, Tôi đi giữa hoàng hôn, Suối tóc, Mưa, Tiếng dương cầm, Giấc mộng viễn du, Tình, Bức họa đồng quê

Tuy được xem như là một trong số các nhạc sĩ theo trường phái cổ điển Tây Phương, Văn Phụng cũng viết những bản nhạc giá trị với âm hưởng dân tộc như Trăng sáng vườn chè (thơ Nguyễn Bính), Các anh đi (thơ Hoàng Trung Thông), Đêm buồn (phổ ca dao), Nhớ bến Đà Giang… Ông cònhòa âm cho nhiều cuốn băng nổi tiếng và được xem như một trong những nhạc sĩ hòa âm xuất sắc nhất của Sài Gòn khi đó.

Năm 1978, gia đình Văn Phụng vượt biển đến đảo ở Malaysia. Sau 5, 6 tháng ở đây gia đình ông đến tiểu bang Virginia, cư ngụ tại Fairfax. Văn Phụng qua đời vào ngày 17/12/1999do tác hại của bệnh tiểu đường.

(Trích nguồn Wikipedia)

Ô MÊ LY

– tạp ghi của thụyvi

Tranh vẽ miền quê, từ lâu nay tôi vẫn ngây ngất trước bức họa “Ánh lửa trong nhà”  bằng màu nước thật thâm trầm của họa sĩ Nguyễn Đồng.

Còn về dòng nhạc miền quê, tôi mê nhất Hương xưa thật êm ả của Cung Tiến. Đặc biệt, khi nghe bản Ô mê ly rộn rã của Văn Phụng thì chắc chắn mọi buồn phiền, hệ lụy cuộc đời sẽ trôi đi tuồn tuột.

Theo Wikipedia, nhạc sĩ Văn Phụng tên thật là Nguyễn Văn Phụng sinh năm 1930 tại Hà Nội trong một gia đình tám anh em mà ông là thứ hai. Học đàn dương cầm từ nhỏ, được sự chỉ dạy của hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng, năm 1945 Văn Phụng đã đoạt giải nhất độc tấu dương cầm trong một cuộc tuyển lựa tại Nhà hát lớn Hà Nội với nhạc phẩm La Prière d’Une Vierge.

Năm 1948 cũng là năm Văn Phụng sáng tác ca khúc đầu tay Ô mê ly trong một lần vui đùa ca hát cùng bạn bè. Ông thường trình diễn nhạc phẩm này tại những vũ trường ở Hà Nội. Bài hát đã được hoan nghênh đón nhận và kể từ đó tên tuổi Văn Phụng được giới yêu nhạc chú ý.

Ngày trước, trong những giọng ca nữ, không ai hát bài này hay hơn Thái Thanh. Giọng bà đủ cao để diễn tả đầy đủ hình ảnh trong một không gian bao la – Này là cánh đồng rộng rãi với gió lướt, mây trắng, mưa rơi, nắng lên – Bà đủ tình cảm mang tiếng hát thôn nữ từ đám lúa xanh nõn nà như xuân sắc bay vút lên…. Bài hát này được thu thanh với ban nhạc Thăng Long đã lâu, lúc đó bà còn trẻ nên giọng của bà nhả ra thật nũng nịu.

Vào năm 1993 giữa một Sài Gòn sôi động, có một nữ ca sĩ khiến Văn Cao chảy nước mắt khi ông nghe cô trình bày những ca khúc của ông thật hay. Ông cảm động đến hãnh diện khi nói “Đầu đời nhạc Văn Cao có Kim Tiêu. Cuối đời nhạc Văn Cao có Ánh Tuyết …” Báo chí sau đó đồng loạt viết về Ánh Tuyết như một hiện tượng trong làng âm nhạc Việt Nam, đặc biệt với những ca khúc của Văn Cao.

Ánh Tuyết không phải chỉ chinh phục người nghe với những ca khúc của Văn Cao. Năm 2000 Ánh Tuyết hát Ô mê ly. Giọng hát rõ lời, véo von luyến láy thật tươi trẻ những điệp khúc chạy rào rào thật nhanh thật tuyệt vời của cô một lần nữa lại chinh phục khán thính giả, kể cả những người nghe khó tính nhất.

Ô mê ly, mê ly ! / Ô mê ly, mê ly đời ta ! / Ô mê ly đời sống với cây đàn / Tình tính tang dạo phím rồi ca vang

Chiều êm êm nhìn phía xa mây vàng / Giục lòng ta dạo khúc ca với đàn / Một chiều mưa ta hát vang “Mưa rơi !” / Rồi cùng ta mưa đáp : “Cho tươi đời !”

Một ngày nắng ta hát vang : “Nắng tươi !” / Đàn cầm tay say sưa hát là nguồn vui / Gió sớm đã về, cùng tiếng hát tiếng cười / Thấp thoáng bóng người ngoài đám lúa cất lời / Thấy tiếng hát cười là gió sớm đến mời: “Người ơi, đàn đi !”

Ô mê ly, mê ly ! / Ô mê ly, mê ly đời ta ! / Đứng giữa cánh đồng nhìn ánh nắng phớt hồng / Có tiếng hát chòng từ đám lúa lướt về / Thoáng thấy tiếng nàng và thoáng có tiếng cười, đàn ta hòa vang

Ô mê ly, tơ duyên ! / Ô mê ly, khúc ca triền miên ! / Ô mê ly đời sống bao duyên tình / Trời về trưa ngồi dưới hàng cây xanh

Nhìn bao la đồng lúa xa xa mờ / Đàn hòa vang tựa sóng xô đến bờ / Đường về thôn em bé vui câu ca / Giục hồn thơ tha thiết yêu quê nhà / Đàn cùng ta reo khúc ca chơi vơi / Nhạc còn vang nhịp nhàng đưa ngàn nơi. (*)

Nhạc đã trổi lên rồi, nào chúng ta hãy tay cầm tay say sưa nhún nhẩy trong một tâm trạng thoáng đạt. Hãy bước qua khung cửa chật hẹp để thấy những ruộng đồng bát ngát phiêu bồng… Và hát vang lên Ô mê ly, mê ly đời ta…                

thụyvi (Chào mùa Xuân 2011 của Michigan)

(*) Lời bài hát Ô mê ly của nhạc sĩ Văn Phụng.

Nghe nhạc phẩm : Ô mê ly

(Sáng tác: Văn Phụng – Biểu diễn: Ánh Tuyết)

Mời Click vào đường dẫn : http://youtu.be/iDLWdCfkodc

Hoặc như sau đây : Bạn có thể download bài hát này về lưu ở máy tính của mình để nghe lại tùy thích bằng cách click chuột vào Download rồi chọn Save As hay Save File.

NHẠC SĨ HÙNG LÂN

(1922 – 1986)

Hùng Lân tên thật là Hoàng Văn Cường, nhưng do nhầm lẫn, giấy khai sinh ghi là Hoàng Văn Hường, sau lại đổi là Hoàng Văn Hương. Ông sinh ngày 23/6/1922tại phố Phủ Doãn, Hoàn Kiếm, Hà Nội, trong một gia đình đạo Thiên Chúa. Ông là người con thứ 4 trong gia đình có 11 anh chị em. Thân mẫu ông là bà Nguyễn Thị Nhạ, người tỉnh Hà Nam. Thân phụ ông vốn là người họ Nguyễn, tên thật là Nguyễn Văn Thiện, người làng Hương Điền (?), tỉnh Sa Đéc. Vốn ông nội của ông là Nguyễn Minh Châu từ  Sa Đéc ra Hà Nội làm việc, mang theo ông Thiện. Sau khi ông Châu trở về Sa Đéc thì gửi lại ông Thiện cho một người bạn ở Sơn tây là Hoàng Xuân Khoát. Về sau, ông Thiện được ông Khoát nhận làm con và cho đổi sang họ Hoàng. Từ đó, ông Thiện và các con sau này đều mang họ Hoàng.

Thời niên thiếu

Xuất thân trong gia đình Công giáo, vì vậy từ nhỏ ông đã chịu phép rửa tội và mang tên thánh Pherô. Năm 1928, ông theo học tại trường tiểu học Gendreau. Ngay từ năm 8 tuổi, ông đã bắt đầu học nhạc với linh mục người Pháp tên P. Depautis (còn gọi là Cố Hương) và được tuyển vào ban hợp xướng nhà thờ Hà Nội. Năm 1931, ông theo học bậc trung học tại trường dòng Lasan Puginier. Năm 1934, ông học nhạc dưới sự hướng dẫn của linh mục J. Bouis tại tiểu chủng việnThánh Phêrô Hoàng Nguyên ở  Hà Đông(nay thuộc Hà Nội), rồi sau đó là Đại chủng viện Xuân Bích (Saint Sulpice) ở Hà Nội.

Bắt đầu sự nghiệp âm nhạc

Ngay từ khi còn học nhạc ở Đại chủng viện Xuân Bích, ông và nhóm sinh viên Đại chủng viện Xuân Bích Hà Nội đã nghĩ đến việc sáng tác những bài Thánh ca Việt Nam theo thể loại mới. Từ đó, vào tháng 7 năm 1945, Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh được thành lập, do ông làm Đoàn trưởng. Trong suốt thời gian 30 năm, Nhạc đoàn đã có nhiều đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam, trong đó Hùng Lân cũng có phần không nhỏ. Thời gian này, ông bắt đầu dùng bút danh ‘Nam Hoa, Lâm Thanh để sáng tác nhạc. Năm 1943, ông sáng tác nhạc phẩm “Rạng đông, được giải thưởng của Hội Khuyến Học Hà Nội. Năm 1944, ông sáng tác bài hát “Việt Nam minh châu trời Đông”, được giải nhất kỳ thi Âm nhạc Toàn quốc trong năm đó.

Liên tiếp trong hai năm 1945 – 1946, thân mẫu rồi đến thân phụ của Hùng Lân qua đời. Ông phải bỏ học để có điều kiện lo lắng cho gia đình vì các em còn nhỏ. Năm 1945, ông nhận dạy học ở trường Kẻ Giảng (nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam), cách Phủ Lý chừng 5, 6 cây số. Trong nhà thờ Kẻ Sở của vùng này, bấy giờ có một cây harmonium rất tốt và ông thường dùng để sáng tác nhiều bài hát và về sau trở nên nổi tiếng. Cũng trong thời gian này, bút hiệu Hùng Lân ra đời, được ghép từ hai tên của người em thứ năm và thứ tám của ông. Sau đó, ông nhận làm giáo sư dạy âm nhạc tại trường Trung học Nguyễn Trãi Hà Nội.

Năm 1946, nhân cảm hứng về lời kêu gọi tập thể dục, ông đã viết một bài hát hưởng ứng với tên gọi “Khỏe vì Nước”. Bài hát nhanh chóng được phổ biến và trở thành bài hát chính cho phong trào thể dục thể thao.

Khi cuộc kháng chiến chống Phápbùng nổ ở Hà Nội, ông cũng theo kháng chiến một thời gian. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh gia đình, ông đành rời chiến khu trở về Hà Nội tiếp tục dạy học. Năm 1948, ông dạy âm nhạc ở trường Chu Văn An, Hà Nội. Năm 1949, ông cho xuất bản sách dạy âm nhạc khai tâm và sơ đẳng gồm 2 tập, mang tên “Cây Đàn Sống” được Nhà xuất bản Thế Giới Hà Nội ấn hành. Sau đó, vào các năm 1952, 1952, ông tiếp tục cho ra đời các bộ sách “Giáo khoa Âm nhạc” cho lớp Đệ thất, Đệ lục, Đệ ngũ, Đệ tứ. Có thể nói ông là người đầu tiên soạn sách giáo khoa dạy âm nhạc trong nhà trường phổ thông.

Hoạt động âm nhạc tại miền Nam

Sau 1954 , Hùng Lân vào Nam làm giáo sư âm nhạc của trường Ca vũ nhạc Phổ thông Sài Gòn và cũng là trưởng ban Phát thanh Nha Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể thao Sài Gòn. Từ năm 1957, ông là giáo sư dạy môn Ký xướng âm của trường Quốc Gia Âm Nhạc Kịch NghệSài Gòn. Cùng thời gian đó, ông ghi tên học và tốt nghiệp bằng Cử nhân Văn Chương Pháp tại ĐH Văn Khoa vàonăm 1963.

Cùng năm đó, ông về làm việc tại Trung tâm Học liệu, Bộ Quốc gia Giáo dục. Năm 1965, ông được bổ nhiệm chức Chủ sự Phòng Phát thanh Học đường, Trung tâm Học liệu, Bộ Quốc gia Giáo dục. Năm 1967-1968, ông được cử đi tu nghiệp một khóa ngắn hạn tại Mỹ về ngành giáo dục truyền thông tại Đại học Syracuse, New York. Sau khi trở về Việt Nam, ông đã xây dựng chương trình “Đố vui để học” do Trung tâm Học liệu phát hình lần đầu vào năm 1969.

Từ năm 1971cho đến năm 1975, ông về Trường Sư phạm thuộc ĐH Đà Lạtdạy môn Sư phạm Âm nhạc.

Sau 1975, ông trở về tư gia tại đường Nguyễn Văn Thủ, Q1. Ông tiếp tục việc dạy nhạc và nghiên cứu âm nhạc tại tư gia cho đến tận khi qua đời ngày 17/9/1986.

(Trích nguồn Wikipedia)

HÈ VỀ !

tạp ghi của thụyvi

Mùa hè, nghe những ca khúc về hè, chúng ta sụt sùi nhớ chuyện ngày xưa – xưa lơ xưa lắt…Trời ạ ! cái bài hát hơn 40 năm trước đang hiển hiện trong đầu. Nhịp hát rộn rã vang vang đâu đây… “Trời hồng hồng, sáng trong trong. Ngàn phượng ru nắng ngoài song (*)  …” Đó là một ca khúc nổi tiếng trong giới sinh viên học sinh của nhạc sĩ Hùng Lân – có thời học sinh THKT được thầy Lương Văn Liêng tập hát trong tốp ca hoặc hợp ca trước những ngày lễ bế giảng nghỉ hè ngày xưa.

Ngày xưa, ngày xưa… Cái thời xa xưa hơn 40 năm sao mà cứ nhớ… Năm đó, lớp đệ lục A (1964 – 1965) có vài bạn được chọn trong ban tốp ca. Đầu đàn hát hay nhất trong lớp là An Ngọc Quang. An đặc biệt được thầy Liêng chọn vào hát solo cho điệp khúc và chúng tôi được vào 1 trong 3 tốp ca hát bè (là kỹ thuật hát lạ lẫm cho học trò trường tỉnh nhỏ, hiu hắt, ven biên giới lúc đó).

Theo Hồi ký Phạm Duy, nhạc sĩ Hùng Lân được biết như sau :

“… Khi Tân nhạc Việt Nam đang thành hình và phát triển, có một người hoạt động rất mạnh mẽ trong cả hai lĩnh vực nhạc đạo và nhạc đời, đó là Hùng Lân. Là người Công giáo, xuất thân từ nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh, ông là một trong những người tạo dựng nhạc Thánh ca.

Trong lĩnh vực nhạc đời, Hùng Lân là người có công lớn trong việc tạo dựng một nền nhạc vui khỏe. Nhạc vui tươi đã có người khởi đầu là Nguyễn Xuân Khoát, nay Hùng Lân là người tiếp tục, cùng với Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước v.v…

Nhạc phẩm của Hùng Lân có thể tạm chia ra ba loại :

– loại tình cảm cá nhân như Sầu lữ thứ, Hận Trương Chi… Bài thứ hai không đặc sắc lắm vì đáng lẽ phải tả tình (anh Trương Chi hay cô Mỵ Nương) thì Hùng Lân chỉ tả cảnh…
– loại tình cảm thiên nhiên như Vườn xuân, Trăng lên, Một mùa xuân huyền ảo…

Tác giả là nhà mô phạm nên ca khúc có thêm

– loại kêu gọi thanh niên như Rạng đông, Tiếng gọi lên đường, Hè về, Khỏe vì nước, Mùa hợp tấu, Việt Nam minh châu trời Ðông… Về sau, những bài này được in ra trong hai nhạc tập mang tên ÐỜI TRAI và HỌC SINH, dành riêng cho thanh, thiếu niên và nhi đồng, khi ông làm việc cho Trung tâm Học liệu của Bộ Quốc gia Giáo dục. Ðây là loại ca thành công nhất của Hùng Lân. …

Vì không đủ phương tiện để thu thập các tài liệu tham khảo. Tuy nhiên, theo các tài liệu có được của gia đình và đồng nghiệp, nhạc sĩ Hùng Lân đã biên soạn hơn 900 tác phẩm. Bao gồm các sáng tác ca khúc, công trình nghiên cứu âm nhạc và biên soạn sách giáo khoa.”

Thời gian tập hát với thầy Liêng thật vui, có nhiều kỷ niệm lụn vụn thật dễ thương… Bây giờ nhớ lại, ngoài lối giảng bài lôi cuốn – một dáng dấp cao gầy – một khuôn mặt cương nghị –  thầy còn có một phong thái thật lịch lãm, điệu nghệ khi vung tay đánh nhịp cho ban họp ca của trường. Nếu giờ thầy còn sống, chắc chắn thầy vẫn là một cụ ông đẹp lão.

– Trời hồng hồng, sáng trong trong

Ngàn phượng ru nắng ngoài song (*)

Cành mềm mềm, gió ru êm

Lọc màu mây bích ngọc qua màu duyên

Đàn nhịp nhàng, hát vang vang

Nhạc hòa thơ đón hè sang

Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ

Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ

Hè về gieo ánh tơ

– Bâng khuâng nghe nắng đùa mây trắng

Đàn chim cánh đo trời

Phân vân đôi mái chèo lữ thứ

Thuyền ai biếng trôi

– Xa xa lớp lúa dồn cao

Sóng vàng leo dốc chân đồi

Thanh thanh hương sen nồng ướp gió

Trắng khi chiều rơi

– Hè về, hè về

Nắng tung nguồn sống khắp nơi

Hè về, hè về

Tiếng ca nhịp phách lên khơi

Đầu ghềnh suối mát

Reo vui dào dạt ngợp trời gió mát

Ven mây phiêu bạt, hồn say ý chơi vơi

Ngày xanh thắm nét cười

Lòng tha thiết yêu đời

– Đây suối trăng rừng thơ

Đây gió nhung thuyền mơ

Đây phím ngọc đường tơ

Đây tứ nhạc ngàn xưa

Hè về non nước mến yêu

Hè về nắng thông reo

(Hè về – Hùng Lân)

Mặc dù, Kiến Tường không có cây phượng nào, nhưng hàng điệp già, cũng như những bài hát cũ là một trong những hình ảnh, kỷ niệm như rêu bám hoài trong trí nhớ.

thụyvi (Hầm Nắng Michigan, 5-2011)

(*) Có người phát âm trật song thành sông.

Nhạc phẩm: Hè về

Bạn có thể download bài hát này về lưu ở máy tính của mình để nghe lại tùy thích bằng cách click chuột vào Download rồi chọn Save As hay Save File.

Nếu bạn đang sử dụng trình duyệt Web Firefox mà không thể nghe được bản nhạc này, xin vui lòng click vào đây để tải file Plug-in về save vào một thư mục nào đó trong máy tính. Sau đó, đóng (Exit) Firefox lại, chạy file wmpfirefoxplugin.exe mới tải về để cài đặt. Mở lại Firefox để sử dụng.

VIỆN DƯỠNG LÃO NGHỆ SĨ SÀI GÒN

KHI BỨC MÀN NHUNG

ĐÃ KHÉP

– Soạn giả Nguyễn Phương

Chưa có trên thế giới

Nhân đây, Nguyễn Phương xin phép được giới thiệu những thành tích tốt có tẩm vóc quốc tế của giới nghệ sĩ cải lương : Đó là việc Hội nghệ sĩ ái hữu tương tế lập ngôi chùa nghệ sĩ, nghĩa trang nghệ sĩ và viện dưỡng lão nghệ sĩ cải lương ở Việt Nam.

Tôi dùng mấy chữ Tầm Vóc Quốc tế không phải để nói là ba công trình kiến trúc đó lớn rộng hay nguy nga, ngang tầm với những kiến trúc nổi tiếng trên thế giới, tôi chỉ muốn nhấn mạnh ở điểm là những công việc như xây chùa nghệ sĩ, lập nghĩa trang nghệ sĩ và viện dưỡng lão nghệ sĩ cải lương thì trên thế giới chưa có nghệ sĩ nước nào làm, chưa có một giới nào thuộc về ngành nghề khác làm được.

Nghệ sĩ cải lương chịu ảnh hưởng sâu đậm tính chất chơn chất của người dân miền đồng bằng sông Cửu Long, trong những thập niên 30, 40, 50, sống tập trung thành một đoàn hát, lưu diễn tha phương cầu thực, thu nhập bất định, cuộc sống khó khăn và thường bị ức hiếp, do tính chất sinh hoạt nghề nghiệp và sinh sống giống như người nông dân khi xưa đi khai hoang lập ấp nên nghệ sĩ cải lương mang tâm trạng khí khái của người xưa, thích làm việc nghĩa theo kiểu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” người nghệ sĩ thiết thực trong việc tương thân tương ái với nhau nên khi có điều kiện lập nên Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế, thì theo sau hoạt động của Hội Ái Hữu là việc nghệ sĩ giúp đở nhau khi sống, lúc đang còn hành nghề cũng như khi không còn hành nghề được vì già yếu neo đơn hay bịnh tật.

Ngay khi nghệ sĩ từ trần, việc giúp cho có chổ được yên mồ yên mã cũng là hành động biểu hiện một tinh thần tôn sư trọng đạo, một tình cảm thắm thiết giữa đồng nghiệp với nhau. Người nghệ sĩ thờ phụng Tổ Nghiệp. Tổ nghiệp sân khấu cũng là một dạng với đạo phật, vậy nên khi sống thì Tổ nghiệp độ cho nghệ sĩ hành nghề, khi chết thì Phật độ cho nghệ sĩ siêu thoát, vậy nên nhà thờ Tổ nghiệp và chùa nghệ sĩ là hai nơi linh thiêng cần thiết cho tâm hồn và linh hồn của người nghệ sĩ cải lương.

Còn nhớ ngày 19/4/1948, Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Hòa cấp giấy phép cho thành lập Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu thì Hội bầu nên Ban Trị Sự, tổ chức hát Hội để có một ngân quỹ xây dựng một Hội quán khang trang làm cơ sở chánh thức để hoạt động, gây quỹ cứu trợ nghệ sĩ bị bịnh tật hay tai nạn và và tổ chức cúng giỗ Tổ hàng năm để nghệ sĩ đoàn kết gắn bó với nhau.

Chùa Nhật Quang Tự

Cuối thập niên 60, bà Hội Trưởng Phùng Há vận động Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ giúp tiền để mua một lô đất 6,080 thước vuông, tọa lạc tại xã Hạnh Thông Tây, Gò Vấp để xây chùa nghệ sĩ và lập nghĩa trang nghệ sĩ.

Các nghệ sĩ các đoàn hát tình nguyện hát không nhận thù lao trong các buổi hát Hội để lấy tiền xây chùa và lập nghĩa trang. Các nhà Mạnh Thường Quân và người ái mộ nghệ sĩ cũng hưởng ứng lời kêu gọi của bà Phùng Há và Hội Nghệ Sĩ nên đóng góp cho quỹ của Hội được khá dồi dào.

Năm 1972, Chùa được xây cất xong với tên là Nhật Quang Tự, ngoải cổng vào nghĩa trang có hai câu liểng :

Nhựt Nguyệt Định Hành Đồng Nhứt Lý,

Quang Minh Kỳ Diệu Chuyễn Luân Hồi.

Lấy hai chữ đầu trong câu liểng nầy làm tên chùa Nhật Quang Tự. Sư trụ trì đầu tiên là Thích Quảng An tức ông quản lý gánh hát Lê Minh Công, đi tu với pháp danh là Thích Quảng An. Chùa có một Ban Trị Sư do ông Bầu Thới bầu gánh hát Thái Bình được bầu vào Trưởng Ban Trị Sư để giúp sư Thích Quảng An trong việc quản trị chùa và nghĩa trang.

Vị sư kế tiếp sư Thích Quảng An là hòa thượng Thích Quảng Minh tức là nghệ sĩ Thanh Tao đi tu với pháp danh Thích Quảng Minh. Nhưng vì hòa thượng Thích Quảng Minh đọc kinh kệ, tiếng rất trong, rất hay như ca vọng cổ nên đồng bào phật tử đến cúng chùa và viếng cảnh chủa ngày một đông đão.

Đồng bào phật tử của Nhật Quang Tự thích gọi hòa thượng Thích Quảng Minh là Thích Thanh Tao. Nhà sư cũng hỉ xã chấp nhận tục danh của các bổn đạo của chùa ban cho, khi thì ông là hòa thượng Thích Quảng Minh, khi được gọi là hòa thượng Thích Thanh Tao, ông cũng mô phật rồi cười.

Nghĩa trang nghệ sĩ từ 1972 đến nay đã là nơi an táng mộ phần của hơn 440 cố nghệ sĩ cải lương của ba, bốn thế hệ nghệ sĩ. Ngoài các ngôi mộ kể trên, trong ngôi tháp đựng cốt, tôi đếm được 380 hủ hài cốt nghệ sĩ được hỏa táng, trong số đó có hủ cốt của các nghệ sĩ mất nơi nước ngoài như Tư Út (ở Nam Vang) Hữu Phước (ở Pháp), Hùng Cường (ở Mỹ)…

Tôi quay phim toàn cảnh chùa nghệ sĩ và nghĩa trang nghệ sĩ, tôi chụp ảnh từng ngôi mộ nghệ sĩ trong nghĩa trang : Vì tôi viết về nghệ sĩ và nghệ thuật sân khấu nên tôi cần biết rõ ràng và chắc chắn ngày tháng và năm sanh cũng như ngày tháng và năm tử của nghệ sĩ.

Những nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật cải lương miền Nam có thể đến Chùa và nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp để viếng cảnh và tìm tài liệu. Trên một vách chùa có khuôn hình rộng lớn để hình ảnh, tên tuổi, ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm mất, quê quán của hơn bốn trăm nghệ sĩ được mai táng nơi đây. Ngoài ra có một tấm bản đồ ghi rõ những hàng mộ để giúp khách viếng chùa và thăm mộ dễ dàng tìm đến ngôi mộ mà mình muốn đến thắp nhang.

Tôi thấy trong số các ngôi mộ nghệ sĩ tiền phong có mộ của các anh Ba Vân, Tám Danh, Tám Cũi, Năm Đồ, Thanh Tao, Bảy Cao, Năm Kim Thoa, Hề Lập, Năm Châu, bà Bảy Phùng Há.. mộ các soạn giả Hà Triều, Hoa Phượng, Hoàng Việt, Ba Giáo, Duy Lân, Duy Chức, ca sĩ Thành Công, Chín Sớm, hề Phúc Lai, Hề Minh, nghệ sĩ Túy Định,…Còn nhiều lắm, …

Nhà dưỡng lão nghệ sĩ

Nhà dưỡng lão nghệ sĩ nằm khuất sâu trong hẻm nhỏ đường Âu Dương Lân Q8, có vòng rào, bên ngoài có bảng lớn đề : Nhà dưỡng lão nghệ sĩ. Căn nhà hai tầng lầu, khang trang, chia làm nhiều phòng nhỏ, mỗi phòng cho một nghệ sĩ, đủ để một cái giường một chổ nằm,một tủ nhỏ để đựng đồ đạt, áo quần.

Nhà dưỡng lão có một phòng khách rộng, dùng làm nôi hội hợp, đón khách tới viếng thăm, có bàn ghế để nghệ sĩ dưỡnbg lão ngồi đọc sách, viết thư hoặc để tiếp bạn hữu. Sân chung quanh ngà dưỡng lão khá rộng, trồng nhiều cây kiểng, có nhiều hàng ghế, băng bằng đá mài do những nhà hảo tâm tặng.

Trên các tặng vật : cây kiểng hay bàn ghế bằng đá mài đều có bảng ghi tên nhà hảo tâm đã tặng. Bên ngoài có một bụt cây dùng làm sân khấu cho những đêm ca tài tử Đêm Rầm Cổ Nhạc do các nghệ sĩ lão thành trong viện đờn ca, vừa giúp vui dân chúng trong xóm, vừa để đở nhớ nghề. Tiền boa tặng cho ca sĩ trong đêm hát được tập trung lại dùng trong việc sữa chửa nhà dưỡng lão khi cần thiết. Trên bảng đen sát vách sau bụt diễn, ai đó đã ghi bằng phấn trắng bốn câu thơ :

Buông bức màn rồi danh vọng hết,

Người về lòng rũ sạch sầu thương

Người vào cởi áo lau son phấn

Trả cả vinh hoa lẫn đoạn trường.

Người về là nói về khán giả, người vào là nói về nghệ sĩ, người về và người vào là những khách trong cõi vô thường, có có không không, như hành vân lưu thủy, mây bay nước chảy, thoáng thấy đó bỗng nhiên mất đó.

Nghệ sĩ trong viện dưỡng lão hiện nay có các cô Đoàn Thiên Kim, Kiều Thu, nghệ sĩ Thanh An, Thành Phát, Tám Lang, cô nhạc sĩ piano Ngọc Bê, Lệ Thẩm, bà Bạch Yến, hoạ sĩ Hoài Nam, hề Trường Sơn, quản lý Trường Sinh, ông Tám Hậu Đài, hề Nam Thanh, Tuyết Nga, bà Tô, bà Tám y trang, Minh Viễn…… Các cố lão nghệ sĩ từng ở Viện dưỡng lão và mất ở viện như bà Ba Vân, nghệ sĩ Mai Lan Phương Ngọc Chiếu, Bà Ba Sanh, Văn Sa, Sáu Ngọc Sương,…

Những lão nghệ sĩ nầy đã có một thời đêm đêm đem lời ca tiếng hát mua vui cho khán giả bốn phương, cuộc đời vô định nổi trôi đây đó nhưng niềm vui dưới ánh đèn sân khấu đã an ủi họ và mặc nhiên cho họ tự nhận kiếp tầm phải trả nợ dâu.

Giờ đây tuổi già sức yếu, giọng hát đã khan, nhan sắc đã tàn, cuộc đời về chiều trong cảnh cô đơn đói nghèo, họ gặp lại nhau trong tâm cảnh đồng hội đồng thuyền. Tiếng hát của họ trong các Đêm Rằm Cổ Nhạc tổ chức tại Viện Dưỡng Lão nghệ sĩ còn được tiếng vổ tay cổ võ của số khán giả hiếm hoi trong xóm nhỏ đủ gợi lại cho họ những hình ảnh rực rở của một thời hoàng kim sân khấu đã qua rồi.

Màn nhung sân khấu đã khép lâu rồi, nghệ sĩ dưỡng lão chờ màn nhung cuộc đời của họ sẽ khép trong một tâm thần cam chịu số phận hẩm hiu.

Nguyễn Phương

TÌNH NGƯỜI NƠI

NHÀ DƯỠNG LÃO NGHỆ SĨ Q.8

Nằm trong một con hẻm nhỏ cuối đường Âu Dương Lân, quận 8, là một ngôi nhà tuềnh toàng trên mảnh đất rộng khoảng 600m2, xung quanh rợp bóng cây. Ngôi nhà đơn sơ nhưng là nơi trú ngụ của khoảng 30 con người đã từng một thời vang bóng trên sân khấu và nghệ thuật các bộ môn khác. Họ là những nghệ sĩ tài danh, một thời được rất nhiều người ngưỡng mộ, khi cuối đời phải sống nhờ vào mái ấm này và vui cùng bạn diễn cũ …

Hào quang… một thời ! 

Một trong những người vào nhà dưỡng lão này từ những ngày đầu tiên chính là nữ nghệ sĩ Nguyễn Thị Thẩm, nghệ danh Lệ Thẩm. Bà sinh năm 1937 tại Bạc Liêu. Ngay từ lúc được 4-5 tuổi, Lệ Thẩm đã đi hát và 17 tuổi đã là đào chánh trong các đoàn hát lớn và năm 17 tuổi là bà bầu của đoàn cải lương Nhị Hương – Tuấn Sĩ. Từ thời đi diễn, nghệ sĩ Lệ Thẩm đã từng thành danh qua các vở “Ánh nắng chiều xưa”,”Cô gái áo vàng”, “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài”…

Vóc dáng đẹp và giọng ca khoẻ, Lệ Thẩm luôn là thần tượng của bao nhiêu người, thế nhưng về cuối đời bà lại không nơi nương tựa. Giọng bà đượm buồn : “Ngày xưa có được mọi thứ nhưng không giữ được. Bây giờ vào đây, nhờ sự giúp đỡ của các vị mạnh thường quân mới có được cơm ngày 2 bữa… Đơn giản nhưng quá vui rồi…!”.

Chúng tôi còn gặp được một nghệ sĩ tài hoa và là một nhân chứng lịch sử đặc biệt còn sót lại của sự kiện khi đoàn Kim Thoa đang hát vở “Lấp Sông Gianh” tại rạp Nguyễn Văn Hảo (nay là rạp Công Nhân ở Q1) vào tối 19/12/1955 đã bị lính Diệm ném lựu đạn, vì vở diễn nói lên sự yêu nước. Nhân vật đặc biệt ấy chính là nữ nghệ sĩ Thiên Kim, tên thật Đoàn Thiên Kim, sinh năm 1934 tại Sài Gòn.

Thiên Kim đã theo gia đình đi hát và lần lượt là đào thương cho các đoàn: Kim Thoa, Năm Châu, Nam Hồng, Lam Sơn, Sóng Mới, Tiếng Chuông, Bích Thuận… và tên tuổi nổi danh từ đó.

Hơn 50 năm trôi qua, nhưng người nghệ sĩ nay đã 72 tuổi này vẫn nhớ như in kỷ niệm đau buồn ngày nào, đó là vào đêm 19-12-1955 đang hát bị ném lựu đạn. Mảnh đạn đã khiến 3 người chết, đó là nghệ sĩ Ba Hương, nhà báo Nguyễn Mai và anh Phiên, vệ sĩ của đoàn. Còn nghệ sĩ khác thì bị đạn cắt đứt 1 chân, Thiên Kim cũng bị mảnh đạn găm trên người, vết tích vẫn còn đến nay…

Người vào nhà dưỡng lão nghệ sĩ… mới nhất là nam nghệ sĩ Thanh An, quê ở Bến Tre, năm nay ông đã 73 tuổi. Tuy đã bước sang tuổi “cổ lai hy” nhưng nghệ sĩ Thanh An vẫn còn giọng ca dài và khoẻ. Ông khoe vừa đi hát từ thiện về. Ông cho biết, đã theo nghề từ năm 17 tuổi. Ông có 9 năm kháng chiến chống Pháp và sau 1954 thì đi hát cho các đoàn lớn như : Út Bạch Lan – Thành Được, Hương Mùa Thu, Thanh Minh – Thanh Nga, Dạ Lý Hương… Nghệ sĩ Thanh An cũng nổi tiếng trong các vở “Khi rừng mới sang thu”, “Con cò trắng”, “Vàng sáu, bạc mười” và “Lan huệ sầu ai ?”… Sau 1975, nghệ sĩ Thanh An đã theo đoàn cải lương Tiếng ca đất Mũi phục vụ các tỉnh Minh Hải, Cà Mau, Bạc Liêu và từ năm 2000 thì ông trở về thành phố…

… sau khi rời sân khấu 

Khi chúng tôi đến thăm nhà dưỡng lão thì các nghệ sĩ đang quét sơn lại ngôi nhà của mình. Hăng hái nhất chính là kép độc Hoàng Nô, người đã từng là “vua, chúa” trên sân khấu. Ông mải mê công việc như một thợ sơn chuyên nghiệp, đôi lúc lại quay sang chọc các bạn diễn cũ sơn chậm. Hỏi ông có học ngày nào không mà sơn tường giỏi vậy thì ông cho biết : “Sơn nhà cũng giống như vẽ mặt trước khi lên sân khấu ngày trước ấy mà”. Ông cho biết ban quản lý tính bỏ ra mấy triệu đồng để thuê người quét sơn nhưng các nghệ sĩ đã tự nguyện làm công việc này và đây cũng là dịp họ không muốn mọi người quên lãng… vì mình đã già rồi !

Trong câu chuyện, chúng tôi được biết vì không muốn bị mọi người… lãng quên mà các nghệ sĩ như Thiên Kim, Lệ Thẩm, Thanh An dù đã qua tuổi 70 nhưng đều chọn giải pháp… đi đóng phim để được trở lại là chính mình và có thêm nguồn thu nhập.

Nổi tiếng đóng phim nhiều vai từ bà ngoại, bà nội cho đến bà vú, quản gia… là nữ nghệ sĩ Thiên Kim. Bà đã tham gia rất nhiều phim như : Võ sĩ bất đắc dĩ, Những đứa con thành phố, Mảnh vỡ, Người bất hạnh, Cạm bẫy… Gần như năm nào bà cũng được xuất… trại đi đóng phim.

Khi tiếp chúng tôi bà còn khoe : “Đạo diễn Lê Cung Bắc vừa gọi điện bảo chuẩn bị đi quay tiếp một phim rồi về ăn tết. Và cũng đang chuẩn bị đây”. Riêng nghệ sĩ Thanh An có lẽ hợp với các vai ông già nên đã được đạo diễn Nguyễn Mạnh Tuấn ưu ái mời vào vai ông già trong 3 bộ phim khác nhau : Địa đạo Củ Chi, Ấp ba nhà và Làng Cát – Bình Thuận…

Qua trò chuyện với các nghệ sĩ, có một điều khá bất ngờ là khi hỏi họ có ước muốn gì không, tất cả đều cười và cho biết “chẳng còn thích gì nữa đâu, Ở đây cơm ngày 2 bữa là đủ quá rồi…”. Nghệ sĩ Bạch Yến, người nữ nghệ sĩ cao tuổi nhất ở đây, sinh năm 1922 ở Hà Nội, năm 16 tuổi đã là kép chính của các đoàn Đại Quốc Hoa và Kim Phụng… tâm sự: “Bây giờ nhờ nghiệp tổ có được miếng cơm hàng ngày là quá đủ rồi. Nhưng lại cảm thương cho nhiều nghệ sĩ khác, có người đang không có nơi nương tựa”.

Lúc đầu, các nghệ sĩ ở đây được nhà nước chu cấp cho mỗi người 4.000đ/ngày (ăn ngày 2 buổi). Ban Ái hữu nghệ sĩ và Hội Sân khấu đã vận động các mạnh thường quân ủng hộ thêm 4.000đ nữa cho mỗi người, nên hiện nay tiêu chuẩn của mọi người ở nhà dưỡng lão là 8.000đ/ngày (nghe nói bây giờ bữa ăn hang ngày đã tăng theo vật giá). Các nghệ sĩ ở đây sẽ được nuôi dưỡng với chế độ này cho đến khi qua đời.

Từ ngày thành lập đến nay nhà dưỡng lão này đã là mái ấm cho đến cuối đời của các nghệ sĩ như : Soạn giả Thành Phát, NS Tư Sa, NS Kiều Thu, NS Thiên Kim, NS Lệ Thẩm, NS Thanh An, NS Trường Sơn, kép độc Hoàng Nô, NS Lam Sơn, hoạ sĩ Hoài Nam, danh hề Cảnh Tượng, Tư Em…

“Và cũng đã có 14 người đã mãi mãi ra đi từ mái nhà này – nghệ sĩ Trường Sơn buồn buồn – thế nhưng đây vẫn là mái ấm chân tình nhất mà nhiều nghệ sĩ không nơi nương tựa luôn mong được nương thân !”.

Việt Nhân

MÀN NHUNG ĐÃ KHÉP

Khi hào quang sân khấu đã tắt, trở về với đời thường, rất nhiều nghệ sĩ đến giờ vẫn đau đáu gánh nặng hai vai : nợ áo cơm và nợ nghệ thuật. Những nỗi niềm ấy dường như dồn lại ở cuối con đường Âu Dương Lân, Q.8,

Những nghệ sĩ đa đoan

Đó là Trung tâm dưỡng lão dành cho hàng chục nghệ sĩ nổi danh một thời. Một trong những người vào nhà dưỡng lão này từ những ngày đầu thành lập là nữ nghệ sĩ Lệ Thẩm. Bà sinh năm 1937 tại Bạc Liêu, mảnh đất đã ghi dấu với bản “Dạ cổ hoài lang” của soạn giả Cao Văn Lầu. Ngay từ nhỏ, cuộc sống của Lệ Thẩm đã thấm đẫm những câu vọng cổ từ những đêm đờn ca tài tử. Yêu nghệ thuật cải lương và có năng khiếu sân khấu, Lệ Thẩm đã sớm tìm đến với bộ môn nghệ thuật này.

Thời đi diễn, nghệ sĩ Lệ Thẩm từng thành danh qua các vở “Ánh nắng chiều xưa”, “Cô gái áo vàng”, “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài”… Vai Tấm (trong vở “Tấm Cám”) đã đưa tên tuổi của bà nổi tiếng khắp nơi. Từ Đoàn Năm Châu rồi qua Đoàn Tiếng Chuông, một thời gian Lệ Thẩm cùng chồng (nghệ sĩ Tuấn Sĩ) gây dựng Đoàn hát Nhụy Hương.

Vóc dáng đẹp và giọng ca khỏe, Lệ Thẩm từng là thần tượng của bao nhiêu người, thế nhưng về cuối đời, bà lại không nơi nương tựa. Khi hỏi về lý do, bà chỉ lắc đầu, giọng đượm buồn: “Ngày xưa tôi từng có mọi thứ nhưng không giữ được. Bây giờ vào đây, nhờ sự giúp đỡ của Nhà nước và các vị mạnh thường quân mới có được cơm ngày 2 bữa. Đơn giản nhưng thế là quá vui rồi”.

Ở nơi đây, chúng tôi còn gặp một nghệ sĩ tài hoa và là nhân chứng của sự kiện Đoàn Kim Thoa đang hát vở “Lấp sông Gianh” (năm 1955) thì bị lính Diệm ném lựu đạn. Nhân vật đặc biệt ấy chính là nghệ sĩ Thiên Kim. Từ nhỏ, Thiên Kim đã theo gia đình đi hát và lần lượt là đào thương cho các đoàn: Kim Thoa, Năm Châu, Nam Hồng, Lam Sơn, Sóng Mới, Tiếng Chuông, Bích Thuận…

Tên tuổi của bà cũng nổi danh từ đó. Giờ đây, có lẽ nhiều khán giả xem truyền hình khi nhìn thấy nghệ sĩ Thiên Kim ngoài đời đều rất dễ nhận ra vì bà thường đóng vai “bà ngoại” trong nhiều bộ phim truyền hình.

Nói về những vai diễn của mình, nghệ sĩ Thiên Kim cười hiền : “Đạo diễn thường chọn tôi vào tuýp nhân vật ấy chắc vì tôi mang lại được cái hồn cho vai diễn”. Chỉ đóng vai phụ, ở những phân đoạn ngắn nhưng đó là cả một sự cố gắng hết mình của người nghệ sĩ đã ở tuổi 76 này.

Lo toan thực tại

Khi hào quang sân khấu đã tắt, trở về với đời thường, rất nhiều nghệ sĩ đến giờ vẫn đau đáu gánh nặng hai vai: nợ áo cơm và nợ nghệ thuật. Là những người đã quen với cuộc sống tài tử, khi sa cơ, họ đều có hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Người thì con cái quá nghèo, người lại không có con, họ từng phải bon chen kiếm sống bằng những nghề cơ cực không liên quan đến nghệ thuật như bán dạo, làm rẫy.

Người may mắn hơn thì “nhờ” sự nổi tiếng để tham dự những gameshow, hay đóng clip quảng cáo. Đa phần các nghệ sĩ đều phải làm đủ nghề tay trái để nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật. Và sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn gặp một gương mặt quen thuộc của sân khấu, điện ảnh đi bán báo, bán xôi hay mở quán cà phê…

Nghệ sĩ Mộng Lành một thời đình đám trên sân khấu cải lương với giọng ca ngọt ngào truyền cảm. Thế nhưng bà từng nhiều năm phải sống ở gầm cầu, vỉa hè vì không có nhà để ở. Thời gian không đi hát, bà đi bán vé số ở đường Vĩnh Khánh, Q4, để kiếm tiền sống qua ngày. Mãi cho tới khi thấy bà nhiều lần bị đuổi vì tội “chiếm lòng lề đường”, người ta mới “ngã ngửa” vì được biết, người phụ nữ có mái tóc bạc trắng ấy từng là một nghệ sĩ tiếng tăm. Sau này, bà được Hội nghệ sĩ đưa về sống tại khu dưỡng lão.

Cũng có nghệ sĩ vào đây sống không phải vì quá nghèo hay neo đơn mà bởi nhiều lý do khác. Nghệ sĩ Kiều Lệ Thu, một giọng ca tuyệt vời của sân khấu cải lương, tới đây vì một lý do tế nhị : không muốn ảnh hưởng đến cuộc sống của người con trai đã có vợ. Hay như nghệ sĩ Ngọc Đáng, con của 2 nghệ sĩ tài danh Tư Minh – Ngọc Xứng , từng đi hát cho Đoàn Phụng Hảo của nghệ sĩ Phùng Há. Chồng mất khi bà 38 tuổi, bà quyết định không tái giá, ở vậy nuôi con trưởng thành.

Bà chia sẻ : “Bây giờ con cháu đều thành đạt, có gia đình hạnh phúc cả. Mình cũng ngoài 80, nhiều đêm nhớ nghề, nằm nghĩ những lần đi diễn mà chảy nước mắt. Xin vào đây để sống trong bầu không khí nghệ sĩ cho đỡ nhớ, những đêm Rằm còn được hát cùng với các nghệ sĩ, có khán giả vỗ tay tán thưởng, thế là hạnh phúc nhất”.

Trong câu chuyện, chúng tôi được biết vì không muốn bị mọi người… lãng quên mà các nghệ sĩ như Thiên Kim, Lệ Thẩm, Thanh An dù đã qua tuổi 70 nhưng đều chọn giải pháp… đi đóng phim để được trở lại là chính mình và có thêm nguồn thu nhập lo toan cho tuổi già. Bất giác, chúng tôi thấy nao lòng khi nghe nghệ sĩ Lệ Thẩm ngâm nga câu thơ :

“Khi cánh màn nhung khép lại rồi

Chỉ còn hiu hắt nỗi đơn côi

Xiêm y trả lại cho sân khấu

Cả những niềm vui lẫn ngậm ngùi”.

Cứ vào đêm Rằm Âm lịch hàng tháng, tại sân khấu của khu dưỡng lão, các nghệ sĩ lại cùng quây quần biểu diễn. Cũng có cả những nghệ sĩ trẻ tới góp vui. Khán giả kéo đến xem cũng đông như hội. Giờ đây, tuổi già sức yếu, giọng hát đã khan, nhan sắc đã tàn, cuộc đời về chiều trong cảnh cô đơn đói nghèo, họ tựa vào nhau, tìm niềm vui sống. Tiếng hát của họ trong các Đêm Rằm ca hát hòa vào tiếng vỗ tay cổ võ của khán giả cũng đủ gợi lại cho những nghệ sĩ ấy hoài niệm rực rỡ của một thời hoàng kim sân khấu đã qua.

Hiện tại khu dưỡng lão có 21 nghệ sĩ. Để được vào sống ở đây, các nghệ sĩ phải có đủ 3 điều kiện : tối thiểu 25 năm trong nghề sân khấu cải lương, nghèo khổ; không người nuôi dưỡng, không nơi nương tựa và phải có tên tuổi. Khẩu phần ăn mỗi ngày của các nghệ sĩ là 15.000đ/ngày.

Trên địa bàn Sài Gòn hiện còn khoảng 400 nghệ sĩ cải lương đã giải nghệ đang có cuộc sống nghèo khó, nhiều người đã phải sống lang thang ở các vỉa hè, rạp hát…

Minh Tú

Trùm giang hồ TRẦN ĐẠI (2)

“GIAI THOẠI” VỀ ĐẠI CA THAY

TRÙM GIANG HỒ ĐẤT SÀI GÒN

– Yên Huỳnh (kỳ 2 – Hết)

Quá ngạo mạn, đang đang là giai đoạn cực thịnh của băng Cathay, Đại vẫn tiếp tục lộng hành. Không chi ngổ ngáo với tướng Sáu Lèo trong công việc, Đại Cathay còn công khai qua mặt và thách thức viên tướng này trong cả khoản ăn chơi, chẳng thèm lưu tâm gì đến sức nặng của cái lon chuẩn tướng và trọng trách “Chief” ngành cảnh sát mà Nguyễn Ngọc Loan đang nắm giữ.

Đường đường là một vị tướng, Nguyễn Ngọc Loan đâu thèm để mắt tới các cô cave, ca sĩ phòng trà bình thường. Người ta thường thấy “ông tướng độc nhỡn” thường xuyên có mặt tại vũ trường Olympic trên đường Lê Lợi vào mỗi tối thứ 7. Tại đó, Nguyễn Ngọc Loan là chủ nhân của một nhân vật : ca sĩ Phương Dung nổi tiếng xinh đẹp và quý phái, người được mệnh danh là “con nhạn trắng Gò Công”, lấy vũ trường này làm đất biểu diễn. Mỗi lần đến thăm tình nhân, viên tướng xách theo cả chục tên vệ sĩ thuộc hàng thiện xạ, cũng nổi tiếng ngổ ngáo và chịu chơi, phóng xe Jeep bạt mạng với những đường cua cong lề bạt phố, đạp phanh cháy cả mặt đường.

Olympic cũng là chốn mà băng Đại Cathay thường xuyên lui tới. Hơn thế nữa, Thủy Tàu – tài pán vũ trường Olympic còn là một “mối” rất khoái Đại Cathay. Khác với viên tướng và đám lâu la bụi bặm, Đại Cathay thường lướt trên một chiếc Chevrolet có gắn điều hoà không khí, choáng lộn và êm ru nhẹ nhàng bơi đến cửa vũ trường. Loại xe đó, cả Sài Gòn chỉ có dăm ba chiếc. So với đám vệ sĩ với lương lính còm cõi, Đại và băng Cathay luôn sẵn sàng “xài lớn”, rút tiền chẳng bao giờ đếm, người ngợm củng “kẻng” hơn, dĩ nhiên là được các em cave ở đây săn đón nồng nhiệt hơn nhiều. Bị “gác kèo”, đám vệ sĩ tức lắm, nhiều lần hậm hực, nhưng Đại Cathay và đám đàn em vẵn phớt ănglê, coi như “chuyện tép”.

Một tối, Đại và khoảng chục đàn em, trong đó có Lâm Chín ngón và Lành Cầu Muối – một tay cảnh sát ăn “rơ” với giang hồ kéo đến Olympic từ khá sớm. Thấy các đàn anh, đám cave ríu rít túa ra vây lấy bá cổ níu tay, chí choé cả gian bar trên lầu 2. Cả đám “vui vẻ” mới chừng nửa tiếng, cánh cửa lại xịch mở. Đám vệ sĩ của Sáu Lèo – không có chủ tướng đi cùng – xộc vào, cũng cỡ chục tên. Ngồi chờ cả 15 phút, đám vệ sĩ vẫn không thấy cô cave nào đến săn sóc. Trong khi đó, ở mấy bàn bên vẵn lien tục vọng sang tiếng cấu véo giỡn hớt rúc rich của băng Cathay với đám cave như thể trêu ngươi. Nổi cáu, cả đám vệ sĩ đưa mắt nhìn nhau và đứng bật dậy. Thiếu úy Hải, một tay nổi tiếng thiện xạ tiến sang, đứng đối diện với Hải Súng của băng Cathay, hất hàm :

– Vui vẻ quá hả ? Sang bớt mấy em chứ, để bên này ngồi không, coi sao đặng ?”

Vẫn không buông vai cô “đào nhí”, Hải Súng hất mặt :

– Đâu có được, đến trước có phần trước, trâu chậm phải uống nước đục, trách gì ?

Viên thiếu úy gườm gườm, đưa tay vào bụng đặt lên báng súng :

– Đừng chơi quê tụi này chớ !

– Thì đã sao ? – Hải Súng hếch mặt lên. Lúc này băng Cathay và đám cave cũng đã ngưng đùa giỡn, ngẩng lên thủ thế. Được khích lệ, Hải Súng tiếp :

– Thịt người tanh không ăn được, đừng doạ nhau, tụi này không thích !

Bị khiêu khích, mắt thiếu úy Hải vằn lên. Hắn xấn xổ chụp lấy tay cô đào nhí kéo về phía mình, tuyên bố :

– Không thích cũng bắt !

Sợ hãi, cô cave thét lên. Không nói không rằng, Hải Súng vớ ngay chai rượu trên bàn giáng thẳng xuống đầu đối thủ. Phản xạ nhanh, thiếu úy Hải vội buông cô cave nhảy vọt sang một bên và móc súng. Hai băng xông vào nhau. Bàn ghế ly tách bay tứ tán. Đột nhiên, Đại Cathay hét lên :

– Tụi nó chơi súng, rút, tụi bây.

Pằng ! Pằng ! Pằng ! Ầm

Đại chưa dứt câu, dàn đèn phalê đã rơi ụp xuống sàn, vỡ tung toé, đồng thời một viên đạn cũng nhằm đầu gối Đại găm tới, xô y gục xuống. Hải Súng vội xô tới xốc Đại lên bỏ chạy. Trong băng chỉ có Hải và Lâm Chín ngón giắt súng theo. Cả hai cũng vội móc ra bắn loạn xạ. Lâm Chín ngón gào lên :

– Anh em rút đi, để tôi lo !

Lúc này, đám cave, bồi bàn đã hoảng hồn bỏ chạy hết. Thủy Tàu khá nhanh trí, vội chạy bổ vào trong sập cầu dao điện. Bóng tối chụp lấy vũ trường đã hỗ trợ cho băng Cathay bỏ chạy. Bị thương, Đại Cathay khó khăn lắm mới được Hải Súng và Ngân Pôcon dịu được xuống lầu và kéo thẳng ra đường. Lúc này, Lành Cầu Muối cũng vừa vặn trờ chiếc Mustang tới, hốt cả bọn lên xe chạy thẳng. Lâm Chín ngón chạy sau cùng. Sau khi nhả hết đạn, y cũng vội đu cửa số phóng xuống đường cắm đầu chạy luôn một mạch. Sau lưng, đám vệ sĩ Sáu Lèo vẫn nã đạn theo chíu chíu.

Không thu phục được Đại Cathay, tướng Sáu Lèo đã ra lệnh cho “Biệt đội hình cảnh” bắt bỏ tù hàng loạt đàn em nhằm cô lập hắn. Núng thế, Đại Cathay đành tìm cách hoãn binh. Một buổi tối, hắn mua nguyên nhà hàng Paramouth mời đại úy Trần Kim Chi đến dự tiệc. Khi rượu đã chếnh choáng, Đại Cathay mới ngỏ ý :

– Nếu đại úy chịu tha một số anh em của tôi vừa bị bắt, chúng tôi sẽ không quên ơn anh…

Viên đội trưởng “Biệt đội hình cảnh” cũng thuộc loại ngang tàng không kém gì Đại Cathay, từ chối thẳng thừng :

– Ăn nhậu là ăn nhậu, bắt là bắt. Nếu anh mời tôi đến đây là để mặc cả thì coi như tàn tiệc, tôi xin kiếu.

Nếu là trước đó mười hôm, máu côn đồ của Đại Cathay sẽ nổi lên ngay. Nhưng đang yếu thế nên Đại vẫn nhũn nhặn :

– Ồ không không. Nếu đại úy không ưng thuận thì thôi. Còn hôm nay mời đại úy đến là để anh em vui vẻ. Mời đại úy cứ tự nhiên, đêm nay toàn bộ nhà hàng này là chỉ để phục vụ chúng ta, đại úy đừng bận tâm làm gì.

Viên đại úy không vui vẻ được lâu, cũng chẳng còn thời gian để bận tâm lâu hơn nơi cõi thế. Sau buổi tiệc chỉ nửa tháng, một chiếc xe “be” chở gỗ không rõ xuất xứ đã “bò” ngang qua chiếc xe hơi CV2 của Trần Kim Chi khi viên đại úy này đang đi công vụ trên xa lộ. Đại úy Chi và viên lái xe chết tại chỗ, chiếc xe gây tai nạn bỏ chạy mất tăm, “không nhận dạng được biển số”. Giới giang hồ đều cho rằng chính Đại Cathay đã sát hại Trần Kim Chi

Cái chết của Trần Kim Chi đã đánh dấu chấm than cuối cùng cho cuộc đời du đãng của Đại Cathay. Tháng 8.1966, với tội danh “Du đãng đặc biệt”, Đại Cathay lại bị tóm cổ. Cùng với một loạt du đãng khác, ngày 28.11.1966, Đại Cathay bị tống lên máy bay vận tải C47 đưa ra giam giữ tại đảo Phú Quốc.

Gọi là “Trung tâm hướng nghiệp” nhưng chính xác, đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.

Trại là những dãy nhà dã chiến thấp lè tè nằm trong rào kẽm gai bịt bùng đặt cạnh sân bay Phú Quốc ngay tại thị trấn Dương Đông. Gọi là “hướng nghiệp” cho oai, kỳ thực đám tù suốt ngày chỉ ngồi ngáp vặt, đánh mạt chược mà không hẹn ngày về chứ chẳng có việc gì để làm. Một hôm, đang đánh mạt chược, Đại Cathay bảo :

– Gọi “hướng nghiệp” nghe chán thấy mẹ, tụi mình đặt lại tên cho nó đi.

Cả bọn đồng ý. Bác sĩ Nghiệp, một tên du đãng có học đề xuất :

– Bốc đại một con mạt chược, trúng con gì, đặt tên đó.

Đại Cathay quơ được con Cửu Sừng, vậy là “Trung tâm hướng nghiệp Phú Quốc” nghiễm nhiên trở thành “Trại Cửu Sừng”.

Không giống như dự định của tướng Sáu Lèo và cảnh sát, Trại “Cửu Sừng chẳng những không “hướng” được chút “nghiệp” nào cho đám đầu trâu mặt ngựa mà ngược lại hoàn toàn. Toàn bộ đám du đãng bị bắt vào đây như Đại Cathay, Hải Súng, Hoà áo thun, Lâm Chín ngón, Bảy Si, Hỏi Phoòng Kin, Thanh tưa, Quẩy Thầu Hao.. sau này đều là những tên giang hồ cộm cán nhất của Sài Gòn – Chợ Lớn, càng ngày càng hung hãn hơn. “Trại Cửu Sừng” như một con dấu chất lượng để đánh giá giang hồ. Tên nào từng ngồi ở “Trại Cửu Sừng” sau này đểu trở thành đàn anh, được quyền ăn trên ngồi trốc trên chốn giang hồ.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự đối diện với rạp Olympic. Khi Đại và cả đám đàn em bị tống ra đảo Phú Quốc, Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại tù không án như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay .

Đầu tháng 1.1967, Nhân có mặt trong đoàn thân nhân ra thăm nuôi đám du đãng bị nhốt ở Trại Cửu Sừng. Gặp Đại Cathay, cô báo cho chồng biết đã lo xong việc tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục. Đám lính gác sẽ làm ngơ cho Đại Cathay và một số đàn em trốn ra khỏi trại. Một xuồng máy chờ sẵn sẽ đưa đám tù ra khơi, có tàu hải quân do Nhân bố trí sẵn rước về đất liền. Để mua chuộc đám lính gác, Nhân đưa cho Đại một chiếc áo bluson và dặn dò kỹ lưỡng. Nhìn bề ngoài, nó chỉ là một chiếc áo lạnh rẻ tiền, sau lưng có một con rồng ấp quanh bản đồ Việt Nam. Loại áo này bán nhan nhản dọc các tiệm đường Lê Thánh Tôn, trong chợ Dân Sinh… chủ yếu để đám lính Mỹ sắp hồi hương mua về làm kỉ niệm.

Khi chuyển áo cho Đại Cathay, tên lính canh của trại hướng nghiệp Phú Quốc thấy nó nặng hàng ký nên đâm nghi ngờ. Lần theo lưng áo hắn sờ thấy giữa hai lần vải có hàng chục miếng kim loại mỏng được khâu đầy trong đó. Đoán là vàng, tên lính canh định lôi ra khám xét. Lập tức cái liếc xéo mắt của tên sĩ quan đứng cạnh đã ngăn hắn lại. Tên lính đành trả lại áo cho Đại Cathay mang về phòng.

Theo lời đồn đại của giới giang hồ thì khi về phòng, Đại Cathay đã xé chiếc áo lấy ra đúng 62 lá vàng loại 1 lượng khâu trong đó. Với số vàng này, Đại đã mua chuộc đám cai ngục để chúng bố trí cho lính gác làm ngơ khi Đại bỏ trốn.

Đi theo Đại Cathay có khoảng một chục đàn em trong đó có Xì kíp, Lắm Mổ bụng, Hùng Mỏ chuột, Hải Súng và Lâm Chín ngón… Đến phút cuối, Đại Cathay theo lời Hải Súng tham mưu, quyết định để Lâm Chín ngón – gã đệ tử thân nhất – ở lại. Đại nói với cả đám :

– Thằng Lâm lóc chóc, dễ làm bể chuyện lắm. Vả lại, chuyến đi này lành ít dữ nhiều, nó còn trẻ, tội lắm. Chi bằng để nó lại, mình thoát rồi lo cho nó về sau an toàn hơn.

Trước giờ khới sự, Đại Cathay gọi Lâm Chín ngón đến và bảo :

– Mày phải bỏ xì ke đi, hại lắm. Tao chích cho mày một lần cuối cùng, sau đó là phải chừa hẳn, nếu không đừng trách.

Đại đã tự tay chích cho Lâm một mũi gấp đôi đô bình thường do chính tay Hải Súng pha chế, có độn thêm một ít tân dược để tăng nồng độ. Phê thuốc, Lâm Chín ngón quay ra ngủ say như chết. 12 giờ đêm ngày 7.1.1967, Đại Cathay dẫn đàn em đào thoát ra ngoài. Theo sự phân công của Đại Cathay, đám tù trốn trại chia làm hai tốp. Tốp thứ nhất gồm năm tên đi trước để nghi binh. Tốp thứ hai, có Đại Cathay và Hải Súng chạy theo hướng bờ biển. Bất ngờ, khi cả hai tốp vừa vọt ra khỏi vòng rào thì phía trại báo động inh ỏi. Tốp thứ nhất, gồm Xì kíp, Hùng Mỏ chuột,.. bị tóm cổ lại ngay. Đại Cathay và Hải Súng vội đổi kế hoạch, chạy lên phía Bắc đảo, lần vào khu núi tượng.

Đến đây, không ai còn tận mắt gặp lại Đại Cathay và Hải Súng. Và hàng loạt giai thoại giải thích sự mất tích của hai tên du đãng đầu sỏ bắt đầu xuất hiện.

Theo hồ sơ về cái chết của hai tên du đãng mà chúng tôi có được : Biết không trị nổi Đại Cathay, lại nhiều lần bị tên đãng làm bẽ mặt, tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan rất hận, tìm cách loại trừ vĩnh viễn Đại Cathay. Khi biết cô Nhân – vợ Đại – đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh của tướng Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn Đại và Hải, chúng cố ý để cho đào thoát vào núi Tượng. Sau đó, Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại và Hải, bắn hạ chúng. Diệt xong, toán biệt kích dù phải đắp mộ, đề bia tử tế để dễ bề nhận diện và gây dư luận.

Chính thiếu úy Trần Tử Thanh sau này đã từng huênh hoang khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay y đã nổ súng hạ gục Đại Cathay. Khá nhiều người cũng biết rõ ngọn nguồn sự việc, song trước khi chính quyền cũ sụp đổ, không một tờ báo nào dám viết về âm mưu hại địch thủ của tướng Loan. Vì vậy, lời đồn đại, đoán non đoán già vẫn cứ loan ra mãi, đắp thêm chất huyền thoại vào cuộc đời và cái chết của Đại Cathay – tên du đãng ngoại hạng !

Yên Huỳnh (theo Internet)