NGƯỜI TÌNH CỦA HẮC – BẠCH CÔNG TỬ

Một tài liệu về 1 người đẹp xưa

CÔ BA TRẦN NGỌC TRÀ

Cô Ba Trà đẹp lắm, đẹp đổ quán xiêu đình nên làm mê hoặc, khuynh đảo bao nam nhân lẫy lừng cùng thời, từ những vị thiếu gia miệt tỉnh đến các quý ông học vị học hàm thành thị, văn nhân đa tình…

Đẹp đổ quán xiêu đình

Được các nhà văn, nhà báo tiền bối mô tả như Ngôi sao Sài Gòn, Huê Khôi Nam Kỳ, sắc đẹp của Cô Ba Trà (Trần Ngọc Trà) đã trở thành niềm mơ ước của tất cả người Sài Gòn, Lục tỉnh.

Nhà văn, hoạ sĩ lão thành Phạm Thăng kể rằng : “Hồi trước tôi có được xem một tấm hình huê khôi Ba Trà, là một thiếu nữ đẹp tuyệt trần, đài các như một bà hoàng, quần áo lụa cùng màu, có quàng khăn voan mỏng, ngồi trên xe mui trần lượn trên đường phố Sài Gòn, đăng trên bìa một tờ báo, lâu quá không nhớ tên”.

Cũng vì chót mang phận “hồng nhan đa đoan”, cuộc đời của giai nhân Sài Gòn một thuở quả là bảy nổi ba chìm, lên voi xuống vịnh. Trong quãng thời gian 20 năm làm người đàn bà đẹp, cô đã có không biết bao nhiêu mối tình mà chính cô cũng không nhớ hết; còn cuộc sống thì như thực như mơ, khi nghèo mạt rệp, khi lại cầm tiền vảy như trấu; có lúc không xu teng dính túi, có khi cầm 150 ngàn đồng trong taỵ.

“Đốn ngã” hàng loạt tay chơi hào hoa

Cô ba Trần Ngọc Trà còn được mệnh danh bà hoàng vũ trường, sòng bài Sài gon hồi cuối thế kỷ XIX. Những bậc “máu mặt” đều biết rất rõ, cô Ba Trà chỉ thích chia cho mỗi ngưòi một mảnh tình gặm chơi đỡ buồn, chứ đừng ai mong lấy được Ngôi sao Sài Gòn làm của riêng hay làm người yêu vĩnh viễn vì cô Ba đã lập gia đình vài ba lần và rồi tan vỡ.

Với nhan sắc hiếm có cộng với trí thông minh của mình, cô không chỉ lần lượt “đốn ngã” hàng loạt những tay chơi hào hoa giàu có bậc nhất Sài Gòn, mà cả Nam Vang , Băng Cốc.

Bộ sưu tập người tình của cô gồm các đại điền chủ, đại công tử Cậu Tư Phước Georges (biệt hiệu Bạch Công Tử), con trai của quan Đốc Phủ Sứ Lê Công Sủng, chủ nhân Cù Lao Rồng ở Mỹ Tho; cậu Ba Qui (biệt hiệu Hắc Công Tử), con trai của đại điền chủ Trần Trinh Bạch ở Bạc Liêu, mà Thống Đốc Nam Kỳ gọi bằng Papa (Bố); công tử Bích chủ nhà băng Đông Pháp (chi nhánh Cần Thơ), một người dám cho Cô Ba 70 000 đồng trong lúc lúa 2 cắc 1 gia. Chưa kể, những tay trí thức, máu mặt chốn quan trường thời Pháp thuộc cũng “anh hùng khó qua ải mỹ nhân”, như quan toà Trần Văn Tỷ, thầy Kiện Dương Văn Giáo , bác sĩ Lê Quang Trinh , Nguyễn Văn Áng, vua Cờ Bạc chủ các sòng bạc Sài Gòn là Sáu Ngọ…

“Những ai được quen biết hay cô hạ cố giao thiệp đều xem đó là một niềm vinh dự để chứng minh đẳng cấp, đủ để hiểu ngoài việc xinh đẹp cô còn là một thương hiệu hiếm có, có lẽ do thông minh và hiểu tâm lý đàn ông… Cô Ba Trà , đệ nhất Huê khôi ở Nam kỳ, một người đẹp sắc nước hương trời từng làm say mê biết bao công tử miền Nam. Họ bao quanh cô, tranh nhau vung tiền qua cửa sổ. Bao nhiêu tiền bạc, của cải cha mẹ để lại, các công tử ấy ăn xài, bao gái không tiếc”, cuốn Sài Gòn tả pí lù của Vương Hồng Sển ghi.

Tuổi thơ cay đắng

Khác với cô Ba xà bông con thầy thông Chánh, cô Ba Trần Ngọc Trà, sinh năm 1906, đã có một tuổi thơ cay đắng, bị đánh đập hắt hủi từ lúc mới lên 5 tuổi.

Chuyện là vào thời điểm đó, ba Trà (quê ở Cần Giuộc, làng Phước Khánh) trong một cơn ghen đem lòng nghi vợ không chung thủy và không nhìn Trà là con ruột. Ông giận đến nỗi thổ huyết qua đời. Bà nội Trà quá đau xót trước cái chết của con trai nên khi vừa liệm xong ba Trà, cũng đột ngột mất theo.

Viện cớ lúc hấp hối ba trối rằng Trà không phải con của mình, người bác ruột đã liên tục sĩ nhục, buộc mẹ Trà chịu không nổi, phải bế con ra khỏi nhà, về quê ngoại. Rồi dường như “đau thương giằng xé”, mẹ Trà bị khủng hoảng tinh thần; mỗi lần lên cơn, mẹ lại lấy cô bé Trà ra “gỡ gạc” bằng cách nện những trận đòn roi, đấm đá, củi gậy lên người, với  lời mắng nhiếc “đánh cho tiệt nòi cái giống đoản hậu”.

Và Có lẽ, chính những trận đòn “tra tấn” của mẹ đã hằn lên nếp gấp bi thương trong lòng cô bé Trà , có sức tác động đến sự hình thành một tính cách sau này của Huê khôi Nam kỳ : coi đời “lạnh như băng”…

Cho nên về sau, cô Ba Trà không lúc nào vắng người yêu. Cô vẫy tay một cái là có hàng lô chạy tới xin “yết kiến nữ hoàng” – đông đến nỗi phải lấy số chờ đợi. Nhưng không ai thực sự là chồng đầu gối tay ấp của cô.

Coi đời lạnh như băng !

Vốn coi đời “lạnh như băng”, cô Ba Trà một lúc cặp kè với ba đại công tử, đang hôn người này, người kia đến, bỏ người này đi với người kia… vì chính cô cũng không biết mình yêu ai, hoặc không yêu ai cả. Rồi thậm chí, có tình, có tiền, Huê khôi Nam kỳ vẫn chưa thỏa mãn…

Sắc đẹp “khuynh nước khuynh thành” của cô Ba Trà đã gây ra cuộc đối đầu của hai tay chơi nổi tiếng khi đó là Bạch công tử (tức Lê Công Phước hay còn gọi là George Phước), con trai của đốc phủ Lê Công Sủng, tỉnh Mỹ Tho và Hắc công tử (tức công tử Bạc Liêu Tr ần Trinh Huy) – ai cũng tranh nhau phá của cha mẹ để lại để cung phụng người đẹp.

Chuyện kể rằng, không cần cô Ba Trà mở lời, hễ Bạch công tử nghe nói Hắc công tử tặng cô Ba Trà món đồ gì quý, ông hỏi giá và tìm mua cho kỳ được món quà đắt hơn để tặng. Đến lượt Hắc công tử cũng làm tương tự, vì vậy cô Ba Trà sở hữu không biết bao nhiêu quà tặng quý giá của hai ông, từ túi xánh tay, quần áo hàng hiệu, dây chuyền, nhẫn hột xoàn, nhà cửa, xe cộ…

Trong việc “giành gái” là cô Ba Trà, có giai thoại được nhắc đến nhiều nhất là cuộc thi đốt tiền, không phải 1 lần, mà đến 2 lần. Bạch công tử là người bị động, không tham gia, chính Hắc công tử đã chứng tỏ là người sành đời, đã tung độc chiêu hạ gục đối thủ. Cụ thể, nội dung thách đấu là mỗi người dùng giấy bạc, đốt từng tờ nấu nồi chè 1kg đậu xanh, ai nấu nồi chè sôi trước người ấy thắng. Địa điểm được tổ chức là trước sảnh nhà củ a H ắc công tử và người làm chứng là cô Ba Trà.

Lửa của tiền giấy rất kém nhiệt, chỉ cháy nhỏ, vì thế nấu chè rất lâu trong sự căng thẳng của nhiều người chứng kiến. Cuối cùng, nồi chè của Bạch công tử sôi trước, Công tử Bạc Liêu đành thua cuộc nhưng ông tuyên bố là đã thua trong danh dự.

Theo tính toán của nhiều người, để nấu sôi được nồi chè có 1kg đậu xanh, trong thời gian gần 1 giờ, mỗi công tử đã đốt gần 100 tờ giấy bạc. Nếu Hắc công tử đã đốt toàn giấy 50 đồng trở lên, thì chí ít ông cũng phải đốt 5 ngàn đồng Đông Dương, số tiền có thể mua được 3 ngàn giạ lúa lúc đó, tương đương với khoảng 300 triệu đồng hiện nay.

Lại nói về Georges Lê Văn Phước – đã sang Pháp du học, về nước không theo đường công danh hoạn lộ, chỉ thích ăn chơi bay bướm, người lại trắng trẻo hào hoa nên được giới phong lưu thời ấy tặng cho mỹ danh là Bạch công tử. Với phong độ đang lên, Bạch công tử không thiếu gì người đẹp vây quanh nhưng vẫn thấy hụt hẫng vì đeo đuổi bao lâu mà chưa chinh phục được hoa khôi Trần Ngọc Trà.

Lúc bấy giờ Trà đã nắm trong tay sức mạnh kim tiền lẫn nhan sắc trời cho đang vào độ “mãn khai” và đã trở thành bà hoàng trong các sòng bạc thâu đêm và được gọi bằng một cái tên rất Tây ghép với tên một nữ tài tử nổi tiếng trên màn bạc thành : Yvette Trà.

Để được gần gũi Yvette Trà, một bữa Georges Phước lái một chiếc xe bốn bánh thuộc loại lộng lẫy đương thời đến rước Trà xuống Cần Thơ đổi gió.

Khi hai người vào khách sạn Bungalow, Georges Phước lột chiếc nhẫn kim cương trị giá hơn 3.000 đồng (thời đó vàng chỉ 60 đồng một lượng) đặt lên bàn để vào phòng tắm. Khi bước ra thấy Yvette Trà đang lấy chiếc nhẫn của mình đeo thử vào tay ngắm nghía, Georges Phước liền buột miệng nói chiếc nhẫn coi vừa ngón tay Trà quá, vậy Trà đeo luôn đi. Chỉ trong nháy mắt, chiếc nhẫn kim cương “nặng ký” kia đổi chủ nằm ôm ngón tay thon đẹp của Ngôi sao Sài Gòn.

Biết chuyện, công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy, cũng đang theo đuổi Yvette Trà, liền đến gặp và tặng cô một chiếc nhẫn khác trị giá gấp đôi chiếc nhẫn của Georges Phước. Thế nhưng, cô Ba Trà không chọn chiếc nào để đeo hết, mà “lạnh lùng” ném chúng vào một cuộc chơi. Cô cầm cố, rồi bán tháo cả hai món quà, trút sạch vào trận bài bạc đỏ đen.

Tưởng chỉ Hắc – Bạch công tử mới gặp sự cố như vậy ? Trên thực tế, nhiều món quà có trị giá lớn của những tay chơi đa tình trong giới phong lưu Sài Gòn, Nam Vang, Băng Cốc tặng cô, cũng chóng “đến và đi” như thế. Cô đánh bài, khi ăn bạc vạn, khi thua cháy túi… nhưng thản nhiên như không. Mỗi lần đứng lên, phủi tay rời sòng bạc, cô Ba Trà lại nói : tiền của như bụi đất – tình nghĩa mới thiên thu… Thế nhưng, tại sao Hắc công tử và Bạch công tử chân tình đến vậy, đổ rất nhiều tiền chinh phục trái tim của Yvette Trà đến vậy, mà cuối cùng không ai sở hữu được đóa hoa rực rỡ nhất Nam kỳ thời đó ?

Sống làm vợ khắp người ta

“Sống làm vợ khắp người ta;

Hại thay thác xuống làm ma không chồng…”,

Thầy tướng Vị Kính Trang, một trong số những người đoán mệnh số nổi tiếng của đất Sài Gòn xưa, đã nói về cuộc đời hồng nhan của cô Ba Trà.

Phần lớn các công tử, giới ăn chơi tới “tổ quỷ” của Yvette Trà, dù không được gần cô, vẫn khoe rằng “đã ngủ với Huê khôi Nam kỳ”, để tỏ ra mình là kẻ ăn chơi sành điệu.

Vào đời ở tuổi 14

Ở tuổi 14, cô Ba Tra đẹp như một đóa hàm tiếu, đã bị má ruột vội vã đem gả cho một quan ba người Pháp tuổi trên 30, bởi tục ngữcó câu “nữ thập tam, nam thập lục” tức cơ địa đã phát triển thành niên có thể dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái được rồi. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân đầu đời ép uổng đã sớm tàn nhanh khi anh quan ba mãn hạn về Pháp ngay năm sau, không đoái hoài gì đến Trà nữa. Vậy là ở tuổi 15, Trà trải qua “một đời chồng”.

Trở về ở lại với má, Trà tiếp tục bán hàng rong trên chuyến xe lửa Sài Gòn đi Phan Thiết và sau đó gặp Toàn – con trai tỷ phú đất Phan Rang. Lúc đó, Toàn tình cờ gặp Trà đang bươn bả ngoài phố đã ngẩn ngơ trước sắc đẹp của cô hoa khôi tương lai nên nhiều lần viết thơ tỏ tình nhờ người đưa tới. Và rồi, vì quá si mê Trà nên chỉ trong vòng đôi tuần sau cuộc gặp lần đầu, Toàn đã cùng ba má đem lễ vào Sài Gòn làm đám cưới và thế là Trà lại sang ngang một lần nữa ở tuổi trăng rằm. Nhưng cũng chỉ được 2 năm, Toàn bắt đầu bồ bịch lăng nhăng, Trà đã bỏ đi vì can chồng không được.

Chua xót vì cuộc tình tan vỡ với Toàn, Trà đã kết thân với bác sĩ Trần Ngọc Án và trở thành phu nhân của ông khi bước sang tuổi 18. Song, vì sai lầm giao cô hoa khôi vào cửa ăn chơi của dì Tư Ăng-lê, mà vị bác sĩ này mất vợ.

Sau ngày chia tay với Án, Trà sống tự do phóng khoáng, không ràng buộc dưới một mái ấm nào cả; trở thành người sành điệu, giao du rộng rãi với giới phong lưu ở Sài Gòn, những tay ăn chơi vượt rào từ Lục tỉnh…; và ngày càng lấn sâu vào chiếu đỏ – đen. Yvette Trà cũng bổ sung thêm vào bộ sưu tập ông chồng thứ 4 là một nhà triệu phú trẻ tuổi làm “trung gian thương mãi” ở Chợ Lớn…

Chủ “tổ quỷ” hành lạc nhứt dạ đế vương

Trong lịch sử ăn chơi Đông Tây kim cổ nước ta, chưa có người nào có thể so sánh với cuộc đời cô Ba Trà. Trong khi sở phí Đông Pháp lữ quán càng cao, nợ nần càng nhiều, cô Ba Trà muốn giải nghệ thì chính là lúc các công tử Ba Qui, cậu Tư Phước George mê cô và một nhà triệu phú trẻ tuổi khác làm “trung gian thương mãi” họ Lương đã bỏ tiền ra để cô trả nợ, rồi thuê riêng một căn phố lầu sang trọng định xây tổ uyên ương, ăn đời ở kiếp với cô – được đặt tên Nguyệt Tiên Cung – là cái “tổ quỷ” hành lạc nhứt dạ đế vương của bọn công tử, nhà giàu tới ve vuốt Trà.

Không có điều lệ thành văn, nhưng lâu ngày thành thói quen nhứt định, khách hào hoa muốn vô Nguyệt Tiên Cung phải nạp 1000 đồng lệ phí, gọi là “đi lễ”.  Số tiền ấy phải gồm 10 tờ giấy xăng bộ lư (giấy 100 đồng có in hình bộ lư), đựng trong bao thơ, đặt trên một cái mâm do một cô xẩm bưng lên lầu để “xin ra mắt cô Ba”.

Sau khi được tiếp đãi, nghe xẩm, ăn uống, nếu may mắn, khách được ôm ấp người đẹp Yvette Trà trong một phòng ngủ sang trọng như nữ hoàng. Rồi, vì tiếng đồn Nguyệt Tiên Cung, nhiều ông nhà giàu trọng tuổi, còn hảo ngọt, từ Hậu Giang, đã bán mấy ghe chài lúa, lên Sài Gòn ăn chơi huy hoắc với cô chỉ hơn một tháng mà lúc trở về còn tay không.

Phong tình là vậy, Trà không thể nhớ nổi mình đã ban bố tình cảm và ngủ với bao nhiêu người đàn ông. Thế nhưng, sau này, khi kể cho một vị có tiếng trong làng văn Sài Gòn nghe, cô Ba Trà đã tự bạch : “Tôi gặp không biết bao nhiêu (người đàn ông) mà đếm, nhưng anh Toàn, tôi còn nhớ mãi không quên”. Với cô Ba Trà , đó là mối tình đầu đúng nghĩa !

Bài bạc đỏ đen… tàn tạ 

Vướng vào con đường cờ bạc, cô Ba Trà thường lui tới các sòng bài ăn thua lớn như sòng bài của thầy Sáu Ngọ ở Chợ Lón, thầy Sáu Nhiều, thầy Bảy Phương ở đường Caribelli…

Từ thời điểm bác sĩ Trần Ngọc Án gửi gắm Trà cho dì Tư Ăng-lê coi sóc, Hoa khôi Sài Gòn bắt đầu bị lây và ngày càng lậm sâu hơn vào “vòng đổ bác”.

Từ chủ sòng…

Giã từ Đông Pháp lữ quán, Cô Ba Trà được “quái nhơn” tung tiền, bỏ vốn cho xây động Nguyệt tiên – không chỉ được mệnh danh là tổ quỷ hành lạc nhứt dạ đế vương, mà còn là điểm bài bạc đỏ đen của chính cô với giới công tử, nhà giàu khắp Sài Gòn, Lục tỉnh.

Vương Hồng Sển đã viết trong cuốn Sài Gòn tả pí lù : “Ở Nguyệt tiên cung còn có phòng đánh bạc, chơi các thứ bài ăn thua lớn và con bạc thường không thiếu những người có máu mặt trên thương trường, cũng không loại trừ những công chức người Việt lẫn người Pháp giấu tên, cần bảo mật, nên những nơi ra vào đều đặt tín hiệu báo động để tránh bị bố ráp, lục xét bất ngờ”.

Lại nói thời kỳ ở Nguyệt Tiên Cung, vừa được đức ông chồng Lương mái chính cung phụng, vừa là người tình của các công tử phong lưu như cậu Tư Phước George , cậu Ba Qui, cậu Bích, Trà sống trong “đống tiền”, nhan sắc thêm phần lộng lẫy và cũng điên loạn mê mệt cờ bạc. Mỗi ngày cô mặc một bộ đồ khác nhau, ngây thơ như nữ sinh trong trắng, con nhà lành.  Có lúc cô lăng xê mốt mặc quần và áo dài cùng một loại hàng mỏng, thứ đắt tiền, cùng màu. Trên cổ cô choàng một khăn voan lụa, ngồi xe du lịch mui trần và thường xuyên lui tới các sòng bài ăn thua lớn như sòng bài của thầy Sáu Ngọ ở Chợ Lón, thầy Sáu Nhiều, thầy Bảy Phương ở đường Caribelli…

… Đến con nợ

Chỉ một thời gian tấp nập khách phong lưu, Nguyệt Tiên Cung bắt đầu vắng khách vì ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế đến Nam Kỳ mạnh mẽ nhứt vào năm 1932. Chỉ trừ một số ít công tử còn phong độ, hầu hết các nhà giàu đều sa cơ. Cậu Tư Phước George đã lập gánh hát Huỳnh Kỳ để làm người tình của các cô đào kiều diễm, lưu diễn khắp miền Lục tỉnh. Cậu Ba Qui, sau một thời gian theo Trà, cũng chán, tìm các cô gái nửa chợ nửa quê nhưng có thân hình rắn chắc để bắt bồ. Lương mái chính, sau khi phát hiện tổ uyên ương Nguyệt tiên là chỗ hành lạc của bọn công tử, nhà giàu, chứ nào phải của mình, đã tạm biệt cô Ba Trà ra đi…

Nợ ngập đầu lại không còn “mạnh thường quân” và cũng chẳng ai cho vay tiền, Yvette Trà chợt nhớ tới chị bạn có chồng ở Xiêm – nghĩ là cứu tinh nên quyết qua đó trốn nợ. Nhưng nào ngờ, rủi ro về giấy tờ, Trà bị bắt; song may mắn gặp ông Đỗ H. giúp đỡ, giai nhân lộn về Sài Gòn – đến khách sạn Hôtel des Nations thuê phòng lánh mặt. Cô sợ người ra vào khách sạn, sợ bị dòm ngó, phát hiện, hễ cơm nước xong lúc nào là rút về phòng nằm giấu kỹ tông tích đến đấy.

Lúng túng cùng đường, bỗng bất ngờ nhận được bao thơ đựng tiền dày cộm do một người không quen biết tên Lâm Kỳ Xuyên gửi biếu, gọi là chút lễ “ra mắt” hoa khôi. Thế là, một lần nữa, sắc đẹp của Trà có ma lực vô hình lôi cuốn thêm một “trái tim tỉ phú”. Về sau chả hiểu giữa hai người đậm đà thắm thiết ra sao, chứ thời gian đầu, Lâm tự nguyện làm người tình không chăn gối để phụng hiến cho Trà những món tiền kếch xù ngay khi chưa cầm được bàn tay hoặc nói một lời âu yếm, vợ chồng.

Nhờ đó, cô hoa khôi đương hồi xuống dốc đã có đủ sức trang trải nợ cũ, vực dậy Nguyệt tiên cung đang cơn hấp hối và đường đường quay lại những sòng bài hạng nhứt Sài Gòn. Có bữa, cô đánh thua to ở chiếu bạc mở trong nhà của chủ tiệm vàng Năm Hy trên đường Bonard (nay là đường Lê Lợi), cô không trực tiếp mà sai em út gọi điện thoại đến ngân hàng Cần Thơ cho Lâm Kỳ Xuyên để Lâm chi gấp… 5.000 đồng (tức hơn 80 cây vàng lúc ấy).

Tiền đều đều tuôn đầy túi như triều cường, song cũng ra khỏi tầm tay Trà nhanh hơn nước rút. Cô Ba lại lâm cảnh trắng và tự thân lặn lội xuống Cần Thơ hỏi Lâm Kỳ Xuyên giúp 40.000 đồng (trị giá thời bấy giờ hơn 660 cây vàng). Vừa cất tiền xong, bỗng thấy Bạch công tử Georges Phước xuất hiện, Trà và Georges Phước sà vào lòng nhau, âu yếm, tình tứ… Rồi tình cờ, Kỳ Xuyên thêm lần nhìn thấy Trà cùng vua cờ bạc Sáu Ngọ tung tăng trên phố, chua chát biết mình chỉ là người đứng bên lề “tình sử” của Trà, đã về Cần Thơ biền biệt..

Cứ thế, “tình – tiền – đỏ đen” đeo bám, dệt nên đoạn kết tàn tạ của hoa khôi Ba Trà. Năm 1936, người ta bắt gặp Trà làm công ở một tiệm tồi tàn trong Chợ Lớn. Cô đã già, tròm trèm 60 tuổi, mặt mày tiều tuỵ, nhưng sống mũi vẫn còn thanh tú, mắt vẫn còn đen láy và loang loáng ánh gương

Huỳnh Văn Yên post

CINÉ & RẠP HÁT SÀI GÒN

Logo bay gio ke

RẠP XI-NÊ Ở SAIGON

TRƯỚC 1975

Sau đây là danh sách các rạp xi-nê Sài Gòn trước 1975 được sắp theo thứ tự abc. Hiện tại, một số lớn các rạp hoặc không còn tồn tại hoặc đã ngưng hoạt động.

Kỷ niệm cá nhân của tôi với các rạp xi-nê thì rất nhiều. Các bạn nào đã xem qua phim “Cinema Paradiso” (1988) hẳn phải biết tâm trạng của những đứa bé mê xi-nê như thế nào.

– Alhambra – Nguyễn Cư Trinh.

– Alliance Française – Đồn Đất. Rạp của Trung Tâm Văn Hóa Pháp chiếu toàn phim Pháp không có phụ đề Việt ngữ, hiếm khi thấy người Việt đi xem. Mặc dù mấy ông Tây rất ghét Mỹ, điều đó ai cũng biết, nhưng đôi khi có chiếu phim Mỹ. Tôi xem được một phim xưa do Humphrey Bogart đóng và phim “Easy Rider” (1969) ở rạp này.

– Aristo – Lê Lai. Sau 1954 đây là nơi trình diễn thường trực của đoàn cải lương Kim Chung di cư từ miền bắc vào nam, đoàn có thêm tên phụ là Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô. Nữ nghệ sĩ chính là Kim Chung.

– Asam – Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao. Rạp này đã dẹp quá lâu rồi, ít ra là vào khoảng từ giữa đến cuối thập niên 60. Rạp không còn vết tích gì nên tôi không còn nhớ, khi bạn bè nhắc lại tôi cũng không hình dung ra sao. Chỉ đến khi nhớ lại phim “Le Retour de Jack Slade” (1955) mà tôi đã xem ở rạp này mới nhớ ra là rạp nằm trong một hẻm nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng giữa đường đường Phan Thanh Giản – Hiền Vương. Gần đó có tiệm mì Cây Nhãn nổi tiếng một thời, về sau nghe nói tiệm mì này dời về ngã tư hay ngã năm Bình Hòa gì đó.

– Cẩm Vân – Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Có những rạp mà dân coi xi-nê làm như không có duyên hội ngộ nên chẳng bao giờ có dịp bước chân vào. Đối với tôi, mặc dù rạp này cách rạp Văn Cầm Phú Nhuận không bao xa nhưng tôi chưa bao giờ đến xem ở đây. Điều này chứng tỏ rạp Cẩm Vân đã không chiếu phim đúng với sở thích của tôi.

– Cao Đồng Hưng – Bạch Đằng, chợ Bà Chiểu, Gia Định.

– Casino Đa Kao – Đinh Tiên Hoàng. Rạp tương đối khang trang, phim khá chọn lọc, giá cả nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện nằm gần Cầu Bông. “Major Dundee” (1965), “The Great Race” (1965).

– Casino Sài Gòn – Pasteur. Tên mới là Vinh Quang. Năm lên 10 tuổi, tôi được bác của tôi cho lên Sài Gòn ăn ở để đi học trường Taberd. Ngay hôm đầu tiên, tôi đã được cho đi xem xi-nê ở rạp này vì bác tôi có giấy mời coi thường xuyên bao nhiêu lần cũng được. Và cứ thế, mỗi chiều cuối tuần tôi đều được coi xi-nê khoái tỷ, rạp chiếu phim gì cũng coi tuốt hết. Thời đó, những phim trình chiếu rất chọn lọc nên ít khi gặp phim dở.

Một kỷ niệm nhớ đời và một bài học quí giá cho tôi là phim “20.000 Dặm Dưới Đảy Biển” (1954). Tuần đó, bác tôi đã cho đi xem một lần nhưng trong nhà còn có người chưa xem nên bác tôi cho cả nhà đi xem một lần nữa. Thế là đến mấy cái màn hay ho tôi đều nói trước làm cho người chưa xem thấy mất hay, nhất là cái màn mấy ông thổ dân bị điện của tàu ngầm giật xẹt lửa tùm lum phải phóng xuống nước. Về nhà, tôi bị chửi cho một trận nên thân. Từ đó trở đi, tôi luôn nhớ không bao giờ tiết lộ cái bất ngờ hoặc đoạn cuối của phim cho người chưa xem. Trong rạp có bán kem eskimo rất ngon nhưng rất đắt tiền. “20000 Leagues under the Sea” (1954), “Drum Beat” (1954), “Touchez Pas Au Grisbi” (1954).

– Cathay – Công Lý, Chợ Cũ.

– Catinat – Tự Do. Nếu tôi nhớ không lầm, rạp xi-nê tí hon này nằm trong một hành lang từ đường Tự Do xuyên qua đường Nguyễn Huệ về sau chuyển đổi thành phòng trà ca nhạc với nhiều tên : ‘Au Chalet’, và ‘Đêm Màu Hồng’, nơi ra mắt của ban ‘Phượng Hoàng’ thời kỳ trước khi nhập với ca sĩ Elvis Phương.

– Cầu Muối – Bến Chương Dương, Cầu ông Lãnh. Chuyên hát bội

Cây Gỏ – Minh Phụng, Chợ Lớn. Chuyên diễn Cải lương

– Diên Hồng – Yersin.

– Đại Đồng – Nguyễn Văn Học, Gia Định.

Đại Đồng – Cao Thắng. Một rạp nhỏ chuyên chiếu phim cũ nhưng khá chọn lọc, giá cả thật nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện. Càng thuận tiện hơn nữa vì cạnh rạp có một tiệm bò bía rất ngon và rẻ, họ cho rau sống và củ sắn thật nhiều nên tôi thường ghé ăn thế bữa cơm luôn.

– Đại Lợi – Thoại Ngọc Hầu, Chợ Ông Tạ.

– Đại Nam – Trần Hưng Đạo. Rạp Đại Nam là rạp sang trọng nhất Sài Gòn, những phim mới được chiếu trước tiên ở đây và một vài rạp khác rồi một thời gian sau mới được đưa đi tỉnh hoặc các rạp nhỏ chuyên chiếu lại. Mỗi phim gồm có nhiều cuộn nên thời đó mấy rạp cùng chiếu chung một phim bằng cách chia lệch giờ khởi chiếu. Mỗi khi chiếu xong một cuộn thì có người xách đi giao cho rạp kế tiếp và ngược lại.

Có lần rạp Đại Nam đang chiếu phim “Pillow Talk” (1959) thì anh chàng đi giao cuộn phim đã mải mê uống nước giải khát hay sao đó mà để mất đi cuộn phim phải giao. Tất cả các rạp cùng chiếu phim đó đành phải ngưng lại và đem phim khác ra chiếu đỡ. Mãi một thời gian sau, không rõ cuộn phim được chuộc lại hay phải mua phim mới Pillow Talk mới được chiếu trở lại. Đến khi rạp Rex ra đời vào năm 1962 thì rạp Đại Nam xuống còn ngôi vị thứ hai. Tôi có ít nhiều kỷ niệm với rạp này.

Gia đình bạn học P.T. Sơn nghe nói sở hữu rạp nên bạn bè chúng tôi thường hay dí bạn Sơn để tìm vé mời. Lâu lâu Sơn cũng chiều ý bạn bè và chìa ra vài vé. Tôi được xem phim “Bernardine” (1957) là do vé mời của Sơn tặng. Một kỷ niệm khác là khi mới bắt đầu chơi nhạc cùng với Lê Hựu Hà vào khoảng năm 1965, chúng tôi được dịp trình diễn một lần ở đây. Lúc đó, Hà mới bắt đầu sáng tác và giao cho tôi trình bày bản “Chiều Về” vì phần hòa âm đòi hỏi Hà phải bận độc tấu guitar suốt bài nhạc không tiện hát chính ngoại trừ những đoạn ca bè theo.

Vài năm sau, một Đai Hội Nhạc Trẻ được tổ chức ở đây. Vào cái thời tiểu thuyết của nữ văn sĩ Trung Hoa Quỳnh Dao đang hồi cực thịnh và được quay thành phim liên miên trong đó có “Mùa Thu Lá Bay” với đôi tài tử đẹp trai đẹp gái Đặng Quang Vinh và Chân Trân, tôi đã xem phim này ở rạp Đại Nam và được cái hân hạnh đưa một cô gái Tàu thật trẻ đẹp đi xem cùng. Đầu đuôi câu chuyện như sau đây. Đám nhạc sĩ chúng tôi khi đến vũ trường nào chơi nhạc trước sau gì rồi cũng dính với một em ca ve ở đó. Rồi khi nhổ neo sang vũ trường khác thường thì cũng đành ca bài chia tay vui dầy duyên mới. Có nhiều em ca ve hay gọi đùa chúng tôi là mấy thằng cha ‘thợ đờn’.

Nói vậy chớ mấy em không hận thù gì hết, thời loạn ly mà, vui được ngày nào hay ngày nấy miễn là còn gặp nhau là còn chơi đẹp với nhau. Năm đó, nhạc sĩ Đức Phú mời tôi vào ban nhạc về cộng tác với vũ trường ‘La Sirène’ nằm trên đường Pasteur đối diện với rạp Casino Sài Gòn. Suốt mấy đêm đầu đứng đàn trên ban nhạc và quan sát thật kỹ lưỡng đội ca ve của vũ trường, tôi hoàn toàn thất vọng. Điệu này đàn ở đây coi bộ mất hứng rồi, không lẽ không còn gì nữa hay sao ?

Ngay lúc đó, tôi bèn giật mình khám phá ra một cô hầu bàn người Tàu rất trẻ và rất xinh đứng trông chừng mấy cái bàn phía tôi hay đi lên đi xuống. Thế là lần này tôi chuyển hướng sang cô xẩm nhỏ và đưa cô ấy đi xem phim Mùa Thu Lá Bay đang chiếu ở rạp Đại Nam. Được dịp coi phim Tàu mà lại có người đẹp Tàu đi xem cùng và phiên dịch cho mình nghe những điểm hay của phim làm tôi rất thích thú… cho đến khi cô ấy đem chai dầu hiệu ‘con sóc’ ra xức thì mọi cái gì hay đẹp đối với tôi đều sụp đổ một cái rụp ! Vốn cái lỗ mũi của tôi trời cho quá thính nên cái mùi gì không hợp là bắt buộc tôi phải tháo chạy. Về sau này, có những lúc nằm chèo queo một mình nhớ lại thấy tiếc. Nhận xét của tôi về nhan sắc của cô gái Tàu rất đúng, một thời gian sau, tôi thấy cô bỏ nghề hầu bàn đi làm ca ve. Chắc chắn là cô ấy cũng nổi tiếng như một vài hoa khôi khác của làng ca ve Sài thành hồi đó và biết đâu cô ấy đã tiến bộ hơn không còn xài dầu con sóc nữa!

– Đại Quang – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn. Rạp này hoàn toàn Trung Hoa chẳng có gì là Việt Nam hết vì họ chiếu toàn phim Tàu nên tôi không bao giờ có dịp bước chân vào. Tuy vậy, tôi lại có một kỷ niệm dễ thương với rạp này do rạp nằm ngay cạnh vũ trường Bách Hỷ, nơi tôi chơi nhạc mấy năm cuối cùng trước khi rời khỏi Việt Nam vào hạ tuần tháng 4 năm 1975.

Do cảm tình đặc biệt, mỗi tối khi tôi đến Bách Hỷ, một em trai chạy đến đem chiếc xe gắn máy honda cà tàng của tôi đi cất cùng với những chiếc xe của khán giả rạp Đại Quang. Khi vũ trường tan, tôi vừa bước ra khỏi cửa là đã thấy em dắt chiếc xe lại cho tôi. Dù đó là một cử chỉ nhỏ nhặt tầm thường nhưng đối với tôi nó có một cái gì thật là ấm lòng chiến sĩ.

– Đồng Nhì – Lê Quang Định, Gia Định.

– Eden – Tự Do. Rạp này quá nổi tiếng và đối với tôi cũng nhiều kỷ niệm. Trước nhất, rạp này không nằm ngoài mặt đường mà lại nằm sâu trong một thương xá cũng được gọi là Eden. Đến rạp, khán giả có thể đi vào từ phía đường Tự Do, Lê Lợi hay Nguyễn Huệ đều được cả. Cái tên rạp tiếng Pháp tự nó cho biết rạp này đã có từ thời Pháp thuộc và kiến trúc bên trong thì đúng y như những rạp bên Pháp được thấy qua các phim xi-nê. Ở Sài Gòn, chỉ duy nhất rạp này mới có hai balcons (tầng lầu). Thông thường, khi xem xi-nê, ngồi balcon 1 là hay nhất vì nhìn xuống vừa tầm mắt không mỏi cổ và không bị cái đầu của người ngồi hàng ghế trước che khuất tầm nhìn. Balcon 2 của rạp Eden thì nhỏ hơn và quá cao nên nhìn sâu xuống muốn cụp cái cổ luôn nên phần đông khán giả chẳng màng để ý đến sự hiện hữu của nó, ngoại trừ dân đào kép Sài Gòn thì chiếu cố rất nhiệt liệt và gọi đó là ‘pigeonnier’ (chuồng bồ câu).

Đi xem xi-nê một mình khi rạp hết chỗ phải lên đó thì buồn lắm vì trên ấy đào kép mùi mẫn chẳng cần biết trên màn ảnh chiếu cái gì, nhất là những cặp ngồi ở hàng ghế chót có sau lưng nguyên bức tường thì tha hồ lâm ly chẳng lo có ai nhìn đến trong cái tối mù mù. Ca sĩ Dalida đã trình diễn ở rạp này. Một lần khác, tôi đi xem một ban nhạc jazz của Tây Đức (thời đó còn Tây Đức và Đông Đức). Mấy năm sau đó, cũng tại rạp này, tôi được xem phim “Parlez-Moi d’Amour” (1961) do Dalida đóng. Một kỷ niệm cho các bạn cùng học Taberd với tôi là khoảng đầu thập niên 60, không rõ là do nhã ý của ai, cả lớp chúng tôi và các lớp khác được đưa đến rạp này để xem phim “Les Pilliers du Ciel” (Pillars of the Sky (1956)), một phim cao bồi của Mỹ do Jeff Chandler và Dorothy Malone đóng.

Còn về kỷ niệm cá nhân thì mấy năm sau nữa, vào một chiêu cuối tuần, tôi mời cô đào của tôi đi nhảy đầm matiné nhưng cô ấy nói đã lỡ mua vé xem phim “My Fair Lady” (1964) tại Eden cùng với một cô bạn rồi. Tôi kêu cô đào của tôi bán cái vé lại cho người khác rồi đi chơi với tôi. Thế là buổi hôm đó, cô bạn gái của cô đào của tôi tự nhiên thấy có một người đàn ông lạ hoắc lù lù đến ngồi kế bên. Nghĩ lại, tôi vẫn thấy buồn cười và nghĩ xa hơn về chuyện đời thì thấy là khi mới quen nhau còn chịu đèn thì mọi việc đều ổn thỏa, đến khi không còn nồng thắm nữa thì cái gì cũng không xong: nào là bận cái này cái nọ, nhức đầu nóng lạnh đủ mọi lý do trên đời !

– Hào Huê – Nguyễn Hoàng, Chợ Lớn.

– Hoàng Cung – Triệu Quang Phục, Chợ Lớn.

– Hồng Liên – Hậu Giang, Chợ Lớn.

– Hùng Vương – Pétrus Ký, Sài Gòn.

– Huỳnh Long – đường Châu Văn Tiếp – hông chợ Bà Chiểu

– Hưng Đạo – Nguyễn Cư Trinh. Trong thời kỳ tin tức chiến sự sôi động biến chuyển từng ngày từng giờ của tháng 4 năm 1975, tinh thần của mọi người giao động đến cực độ và linh tính sẽ có chuyện gì lớn lao sắp xảy ra. Tôi cũng như bao nhiêu người khác còn biết làm gì hơn là chờ đợi những gì sẽ đến.

Một ngày thượng tuần của tháng, tôi đến rạp Hưng Đạo xem xi-nê trong cái tinh thần đó, một cách để giết thì giờ chớ tâm trí của tôi không thể chú ý một cách bình thường vào tình tiết đang diễn ra trên màn ảnh. Trong trạng thái xem phim hờ hững đó thì bỗng phim ngưng chiếu và đèn trong rạp bật sáng lên, không phải dấu hiệu của cảnh đứt phim thông thường vì có một số rất đông khán giả ùn ùn đi ra ngoài. Tôi cũng đi theo và được biết là dinh Độc Lập vừa bị dội bom.

Bây giờ, tôi cố nhớ lại lúc đó xem phim gì cũng không ra, chỉ nhớ loáng thoáng là một phim Pháp. Còn về thời điểm chính xác của biến cố, tôi thấy chẳng cần phải truy tìm thêm vì lúc nào cũng có sẵn trên Internet.

– Khá Lạc – Nguyễn Tri Phương. Rạp nằm cạnh tiệm phở Tương Lai hiện vẫn còn bán phở. Một anh bạn thân cho biết lần đầu tiên anh được xem xi nê là tại rạp này với phim “Samson and Delilah” (“Samson et Dalila”). Riêng cá nhân tôi, tôi hoàn toàn không biết rạp này cho đến khi anh bạn nói tới, mặc dù nhà của tôi cùng nằm trên đường Nguyễn Tri Phương kể từ năm 1962. Như vậy, rạp này có lẽ đã hoạt động trước thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

9 Rap Khai HoanMột điểm khác nói về tiệm phở Tương Lai cạnh rạp, trước Tết năm 1966, chúng tôi đến ăn phở ở đây và phải trả 200 đồng cho một tô phở, trước đó chỉ khoảng 150 đồng. Đấy là thời điểm vật giá bắt đầu leo thang vào những năm 60.

– Khải Hoàn – Võ Tánh và Cống Quỳnh. Trong cuộc đời làm người xem xi-nê của tôi, có những rạp không có duyên với tôi nên tôi chưa bao giờ được bước chân vào các rạp đó. Trái lại, có những rạp rất có duyên với tôi nên xem hết phim này đến phim khác. Rạp Khải Hoàn là một. Có thể yếu tố quyết định là rạp này tuyển chọn phim đúng ý tôi và địa điểm tọa lạc nơi thị tứ, giá tiền lại tương đối phải chăng nên tôi đã xem khá nhiều phim ở đây trong đó có phim “Hiệp Sĩ Mù Nghe Gió Kiếm”, và “Mưa Lạnh Hoàng Hôn”.

Riêng phim sau, chương trình quảng cáo có phụ diễn tân nhạc nhưng hôm đó khán giả đã chờ mãi vẫn không thấy hơi hám ca nhạc sĩ đâu hết. Cuối cùng có nghệ sĩ Ngọc Phu bước ra sân khấu làm một màn tự biên tự diễn không đàn địch phụ họa chi cả, anh giả làm tiếng chó sủa, gà gáy, ngựa hí, quạ kêu qua loa cho xong rồi chiếu phim. Hiện tại, anh và gia đình đang sinh sống ở Nam California và tôi cũng đã có lần sinh hoạt văn nghệ với nghệ sĩ đàn anh này.

Một kỷ niệm khác của tôi ở rạp này là gặp phải nạn móc túi. Gặp hôm mua vé có chen lấn, tôi cảm thấy có mấy ngón tay cứ muốn thọt vào túi quần và tôi đã kịp chận lại. Rất có thể đây là một tay chưa chuyên nghiệp. Bằng không thì chắc số tiền ít ỏi của tôi cũng đã bay mất rồi !

– Kim Châu – Nguyễn Văn Sâm, Chợ Cũ. Cảm tình của tôi đối với rạp này tương tợ như đi mua một chiếc xe mới. Khi rạp bắt đầu khai trương thì họ đã quảng cáo sẽ chiếu phim “Sapho” (1960). Tuy chỉ là một phim hạng B hoặc C nhưng nữ tài tữ Tina Louise có vẻ đẹp duyên dáng nên tôi đến xem phim trong tinh thần như vừa mua sắm được một chiếc xe như ý. Qua đến những phim kế tiếp, rạp Kim Châu đã tuyển chọn những phim cùng loại nên rất được khán giả hài lòng.

– Kinh Đô – Lê Văn Duyệt. Đây là một rạp xi-nê hạng sang, chỉ kém hơn rạp Đại Nam một tí. Rạp khai trương sau rạp Đại Nam nhưng lại chỉ hoạt động một thời gian tương đối ngắn ngủi rồi biến thành một chi nhánh của cơ quan USAID. Tôi có một kỷ niệm với rạp này.

Hai cha con tôi vốn là những người ghiền xi-nê, Hôm đó, cha tôi đưa tôi lên Sài Gòn để nhập học nội trú sau một kỳ nghỉ hè, tôi được thả ở ngoài phố để đi dạo mua sắm. Tôi vẫn được sống một cuộc sống tự do như thế từ khi còn nhỏ. Còn khá nhiều thì giờ trước khi phải trình diện mấy sư huynh La San Taberd, tôi bèn lang thang đến rạp Kinh Đô nơi đang chiếu phim “La Dernière Torpille” (“Torpedo Run”) (1958). Trùng hợp thay, tôi gặp lại cha tôi cũng vừa đến đó, thế là cha tôi cho tôi cùng vào xem phim, tôi đỡ phải bỏ tiền ra mua một cái vé xi-nê.

– Kinh Thành – Hai Bà Trưng, Tân Định.

– Lạc Xuân – Gia Long, Gò Vấp. Mặc dầu đơn vị của tôi tọa lạc ở Hạnh Thông Tây cách rạp này không bao xa và sau này có rất nhiều lần đi ngang qua nhưng tôi không hề biết đến sự hiện hữu của nó. Một người bạn thân lúc còn ở quân ngũ đã được huấn luyện gần đó có nhắc nên tôi mới biết. Bà con ở Gò Vấp thì biết rạp này rất rõ.

– Lam Sơn – Bùi Chu. Mũi tàu Lê Lai, Bùi Chu, Võ Tánh chéo góc với nhà thờ Huyện Sĩ, vòng qua bên hông rạp phía đường Lê Lai thì có nhà của nữ kịch sĩ Kim Cương. Rạp xi-nê này chỉ tồn tại một thời gian rất ngắn ngủi rồi bị đóng cửa vì vị trí của rạp quá gần một nhà thờ, vào thời kỳ đó là Đệ Nhất Cộng Hòa, nên Công Giáo đang có ưu thế.

– Lê Lợi – Lê Thánh Tôn. Rạp chiếu phim cũ nhưng tuyển chọn toàn phim hay và chỉ chiếu trong 1, 2, hoặc 3 ngày rồi đổi sang chiếu phim khác. Những phim classic như “High Noon”, “Crimson Pirates”, “Vera Cruz”, “Waterloo Bridge”… được chiếu đi chiếu lại luôn, nếu hụt xem phim nào thì khán giả cứ kiên nhẫn chờ đợi, một thời gian sau thế nào phim đó cũng sẽ được chiếu lại. Lịch trình chiếu phim được niêm yết trước gần một tháng để khán giả chuẩn bị ngày đi xem phim.

Rạp Lê Lợi có thể nói là rạp duy nhất ở Sài Gòn chiếu phim theo phương thức này, một ít rạp khác có bắt chước phần nào nhưng rồi cũng không theo hoàn toàn hoặc sau đó phải thay đổi phương hướng.

Rạp Lê Lợi được nhóm học sinh chúng tôi chiếu cố khá nhiều vì rạp chiếu phim hay và giá vé rất nhẹ. Thời đó, chúng tôi đi học ngày hai buổi nên buổi chiều nào chán học là chúng tôi rủ nhau ‘cúp cua’ đi xem xi nê ở rạp này.

Ngoài ra, một người bạn cùng lớp là con cháu của chủ rạp Lê Lợi nên chúng tôi hay ‘dí’ hắn để kiếm vé mời xem xi nê ở rạp này khỏi tốn tiền, chỉ phải đóng tiền thuế rất nhẹ mà thôi.

Khi qua đến Mỹ, tôi mới được biết loại rạp xi nê này được gọi là ‘revival movie theater’, chỉ khác một chi tiết là họ chiếu hai phim liên tiếp cùng có chủ đề giống nhau. Ai chịu đựng nổi thì ngồi xem hết, ai chịu không nổi thì phải bỏ về thôi vì quá đói bụng, họ không cho đem thức ăn từ ngoài rạp vào và trong rạp chỉ có bán popcorn (bắp rang Mỹ), kẹo, bánh, soda (nước ngọt có ga như: Coca Cola, 7Up…).

Thời đó vào đầu thập niên 80, video cassette vừa mới xuất hiện chưa có ra phim nhiều, những phim Âu Châu rất hiếm, chỉ có thể xem tại các rạp revival này. Rạp Nuart là một, rạp này nằm ở tận Santa Monica cách xa sở làm của tôi cả tiếng đồng hồ lái xe, nhưng khi gặp phim đã kết thì giá nào cũng đi xem cho được. Buổi chiều vừa ra khỏi sở là phóng xe ào ào cho kịp giờ chiếu phim, vào rạp mua một bịt popcorn rồi tử thủ xem cho hết luôn hai phim. Cũng may là popcorn giúp cơ thể chống đói rất hay, nếu chịu không nổi nữa thì có kẹo chocolate, chơi vào một cây ‘Three Musketeers’ là bao tử êm ngay. Tôi học cái bí quyết này từ mấy cô gái Mỹ, đi chơi với họ rất tự nhiên thoải mái. Khi date họ mà trong túi lại ít tiền thì mấy cô ấy bảo cứ mua cho họ một thỏi chocolate là xong, khỏi cần ăn tối để đi chơi mục khác.

– Lệ Thanh – Phan Phú Tiên, Chợ Lớn.

– Lido – Đồng Khánh, Chợ Lớn. Rạp này có một lịch sử khá ly kỳ. Rạp nằm trong vùng Chợ Lớn cạnh Đại Thế Giới cũ chuyên chiếu phim Âu Mỹ trong khi các rạp chung quanh đều chiếu phim Tàu. Đến cuối thập niên 60, rạp ngưng hoạt động để cho Mỹ mướn làm khu cư trú và câu lạc bộ. Sau năm 1975, rạp hoạt động chiếu phim trở lại và chỉ mới gần đây, rạp đã bị đập phá ra để nhường chỗ cho một công trình xây dựng nhà cao tầng hay gì đó. Bạn nào có kỷ niệm đẹp hay quyến luyến rạp này thì chỉ còn có thể nhớ qua ký ức mà thôi vì rạp đã biến mất không còn nữa.

Kỷ niệm của cá nhân tôi đối với rạp này cũng khó quên. Khi còn học ở bậc tiểu học, cha mẹ tôi cho tôi vào nội trú vì gia đình ở tỉnh xa, mỗi lần vào Sài Gòn rước tôi ra chơi thì lưu trú ở khách sạn Kim Linh đối diện với rạp Lido.

Có lần tôi đã mò qua xem một phim của ông già cao bồi Randolph Scott. Về sau, khi chơi nhạc cho các club Mỹ, có lần tôi cộng tác với anh Ngọc Hàm tự là Hàm Râu vì anh để râu giống như Nguyễn Cao Kỳ và cũng hay giả giọng của vị tướng này rất là giống. Tôi thật sự khâm phục biệt tài ăn nói trước khán giả của anh, ngay cả khán giả Mỹ cũng phải lăn ra cười khi anh diễu trên sân khấu. Không biết anh học những cái tếu đó ở đâu hoặc chính anh tự nghĩ ra mà quá hay.

Vào khoảng năm 1969, anh đang là luật sư tập sự và cũng là trưởng ban nhạc do anh lập ra, nhạc sĩ của ban nhạc thường là ráp nối, ít ai cộng tác lâu dài có lẽ vì không có duyên với anh hay sao đó. Hôm đó, anh lãnh một show chơi nhạc cho Mỹ tại club Lido. Thành phần gồm có : Ngọc Hàm (keyboard, vocal), Ngọc Hải (lead guitar, vocal) lúc đó cũng đang tập sự luật sư, Đăng Chí (bass guitar, vocal), tôi không còn nhớ tay trống là ai, ca sĩ có Connie Kim lúc đó chúng tôi thường hay gọi cô bằng tên Phượng.

Như vậy, có thể nói ban nhạc chúng tôi xem như là trí thức nhất rồi vì lúc đó tôi cũng đang theo học Luật Khoa và sau này đã lấy bằng Cử Nhân Luật Khoa Công Pháp vào năm 1973.

Được dịp chơi nhạc ngay phố phường Sài Gòn, Chợ Lớn, chúng tôi rất thích thú thay vì phải di chuyển xa xôi ra các đơn vị tiền đồn của quân đội Mỹ như ở Phước Thành chẳng hạn. Đây là một căn cứ hỏa lực (fire base), khi đi chơi nhạc, xe van của chúng tôi phải chạy lên Dĩ An, rồi từ đó chiếc trực thăng Chinook CH-47 nuốt chửng nguyên chiếc xe van có ban nhạc chúng tôi ngồi trong đó, xong nhả ra tại căn cứ. Chúng tôi chơi nhạc giữa lúc những khẩu đại pháo gà cồ khạc đạn ầm ĩ rung rinh cả barrack và sân khấu trình diễn.

Trở lại chuyện Lido, Ngọc Hải và tôi nhận thấy còn khá nhiều thì giờ trước khi trình diễn nên hai đứa thả bộ lang thang trên đường Đồng Khánh. Mải mê nhìn ngắm thiên hạ nhất là mấy cô xẩm duyên dáng nên khi quay trở về club Lido thì đã trễ đi một chút. Ngọc Hàm bèn mắng hai đứa chúng tôi bằng một câu xem như là trí thức như sau : “Hai đứa bây tưởng tụi bây là ai ?”. Ngọc Hải và tôi chỉ còn nước ngậm câm.

Chính Ngọc Hàm cũng đã làm thay đổi hẳn cuộc đời chơi nhạc của tôi. Trước khi gặp Ngọc Hàm, tôi còn chơi rhythm guitar (guitare d’accords hay accompagnement) rồi từ khi chơi nhạc với Ngọc Hàm lúc đó đang cần một tay bass nên anh bảo tôi chuyển qua đánh bass. Cũng nhờ đó mà sau này khi chuyển qua nhà nghề chơi nhạc với các nhạc sĩ đàn anh suông sẻ hơn lại còn nhờ biết ca hát, gọi là bass ca, nên lương bổng cũng cao hơn một tí.

– Long Duyên – Hồ Văn Ngà.

– Long Phụng – Gia Long, chuyên chiếu phim Ấn Độ.

– Long Thuận – Trương Công Định và Nguyễn An Ninh.

– Long Vân – Phan Thanh Giản.

– Majestic – Tự Do. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Nơi đây được xây thành vũ trường Maxim tầng trên và sân khấu trình diễn ca vũ nhạc kịch tầng dưới do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách.

– Minh Châu – Trương Minh Giảng.

– Minh Phụng – Hồng Bàng, Chợ Lớn. Thật ra, nơi đây là đình Minh Phụng, khi xưa có lúc khai thác chiếu phim ban ngày.

– Mini Rex – Lê Lơị.

– Moderne – Trần Văn Thạch, Tân Định. Tôi không có duyên với rạp này nên chưa bao giờ có dịp bước chân vào. Theo lời một thân hữu, rạp này có vài ba đặc điểm: lối vào rạp đâm ngang hông phía giữa những hàng ghế, ghế bằng cây nên khi dứt phim khán giả cùng đứng dậy làm cho ghế cây khua lên rầm rầm, và cũng vì ghế cây nên đoàn quân rệp tha hồ cắn phá đám khán giả trong bóng tối của buổi chiếu phim.

– Mỹ Đô – Trần Nhân Tôn và Vĩnh Viễn. Tên xưa là Thành Chung, tên mới là Vườn Lài.

– Nam Quang – Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp.

– Nam Tiến – Bến Vân Đồn.

– Nam Việt – Tôn Thất Đạm, Chợ Cũ. “The Bravados” (1958).

– Nguyễn Huệ – Nguyễn Huệ. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là cơ sở U.S.O..

– Nguyễn Văn Hảo – Trần Hưng Đạo.

– Olympic – Hồng Thập Tự. Sau này đoàn Kim Chung hát thường trực

– Oscar – Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn.

Phi Long – Xóm Củi.

– Palace – Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn.

– Quốc Thái – Trần Quốc Toản, Chợ Lớn.

– Quốc Thanh – Nguyễn Trãi. Chuyên Cải lương và Đại nhạc hội

– Rạng Đông – Pasteur. Tên cũ là Hồng Bàng.

– Rex – Nguyễn Huệ.

– Thanh Bình – Phạm Ngũ Lão. (sau là rạp Quốc Tế).

– Thanh Vân – Lê Văn Duyệt, Hòa Hưng.

– Thủ Đô – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn. Tên cũ là Eden. Chuyên diễn cải lương

– Trung Hoa – Đồng Khánh, trước nhà thờ Cha Tam, Chợ Lớn.

– Văn Cầm – Trần Hưng Đạo. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là đại lý Honda đầu tiên tại Việt Nam.

– Văn Cầm – Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Rạp này có cái lệ luôn luôn chiếu một phim ngắn của 3 anh hề ‘Stooges’ trước khi chiếu phim chính. Rạp rất rẻ tiền không có máy lạnh nên rất ngộp thở. Tôi không bao giờ ngồi vào ghế mà lúc nào cũng đứng phía sau cùng nơi có cái màn đen che ánh sáng. Khi nào ngộp thở quá thì vén màn thò đầu ra ngoài thở không khí mát một chút rồi thả màn ra coi tiếp.

Vào năm 1961, tôi đang theo học lớp 5e chương trình Pháp (đệ lục chương trình Việt hoặc lớp 7 bây giờ) ở trường Taberd. Khoảng thời gian đó, tôi mê xem xi nê rạp Văn Cầm gần nơi tôi ở đến độ bỏ đi consigne (bị phạt phải vào lớp chiều Thứ Bảy lúc nghỉ học) nên bị mấy sư huynh hành hạ tơi bời nhớ đời luôn khiến tôi không thể nào quên được cái khoảng đời học sinh tương đối đen tối của lúc đó.

Mời các bạn click vào những giòng dưới đây để xem lại những phim ngắn của mấy anh chàng Stooges.

Hold That Lion. Part 1Hold That Lion. Part 2

– Văn Hoa – Trần Quang Khải, Đa Kao.

– Văn Lang – Cách Mạng, Phú Nhuận.

– Victory Lê Ngọc – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn.

– Việt Long – Cao Thắng (sau trở thành Văn Hoa Sài Gòn, bây giờ là rạp Thăng Long).

– Vĩnh Lợi – Lê Lợi. Khoảng đầu thập niên 60, có xảy ra một vụ nổ lựu đạn trong rạp, có người bị thương nặng phải cưa chân.

Huỳnh Văn Yên post

Nhạc sĩ NGUYỄN ÁNH 9

NGƯỜI TÌNH TRONG

“KHÔNG”

CỦA NGUYỄN ÁNH 9

thụyvi

Hình như trong tất cả chúng ta có ít nhất một lần từng nghe ca khúc của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9. Như thời trước “Không”, “Buồn ơi chào mi”…. hoặc bây giờ là “Tình khúc chiều mưa”, “Lặng lẽ tiếng dương cầm”…

Nguyễn Ánh 9 tên thật là Nguyễn Đình Ánh, sinh ngày 1/1/1940 tại Phan Rang. Hiện ông vẫn còn khoẻ mạnh vui thỏa với niềm đam mê âm nhạc tại một điểm hẹn do chính ông gầy dựng : Quán café Tiếng Dương Cầm (373 Nguyễn Trọng Tuyển, Q.Tân Bình, Saigon)

“ …Cách đây mấy thập niên, cuộc đời nghệ sĩ của Nguyễn Ánh 9 tưởng chừng như dừng lại ở vai trò một nhạc sĩ hòa âm và đệm dương cầm cho một số phòng trà, nhưng nó đã thay đổi trong chuyến đi Nhật vào tháng 8/1970, cùng với Khánh Ly biểu diễn tại hội chợ Osaka (Nhật). Sau buổi diễn, khi cùng với Khánh Ly đứng chờ thang máy lên phòng khách sạn, thấy ông mang vẻ mặt buồn buồn, Khánh Ly lên tiếng hỏi : “Còn thương nó không bạn ?”, ý muốn hỏi về một người tình của Nguyễn Ánh 9 vào thời đó. Câu hỏi như đụng thấu tâm can, với cảm xúc dạt dào, trong vòng vài tiếng đồng hồ, ông viết xong một bản nhạc với những lời lẽ thật lạ. Lúc đầu ông lấy tựa “Không, Không… tôi không còn yêu em nữa”, do được tác động cảm hứng thêm từ một ca khúc của Christopher “Non, Non, Je ne t’aime plus”… Về sau, Nguyễn Ánh 9 cắt gọn tất cả, chỉ còn lại một chữ “KHÔNG” duy nhất.

Khi bài “Không” được phổ biến, tên tuổi của Nguyễn Ánh 9 được mọi người hâm mộ, anh mới thật sự có cảm hứng sáng tác những ca khúc mới lần lượt như “Ai đưa em về”, “Một lời cuối cho em”, “Chia phôi”, “Không 2”, “Trọn kiếp đơn côi”… vào cuối năm 1971 và đầu năm 1972…

Bản nhạc “Không” cũng trở thành một trong những nhạc phẩm gắn liền với cuộc đời ca hát của Elvis Phương, cũng như một số ca khúc khác của Nguyễn Ánh 9 như “Ai đưa em về”, “Chia phôi”, “Lời cuối cho em”,… được Elvis Phương trình bày thường xuyên trên sân khấu của vũ trường Queen Bee (*).

Hẳn chúng ta đang tò mò về “người tình” của Nguyễn Ánh 9 ? Điều còn làm cho chúng ta bất ngờ, ông Nguyễn Ánh 9 không giống như phần đông những nghệ sĩ khác – lê thê nhiều mối tình. Người tình trong bản “Không” là người tình, là tình yêu duy nhất trong đời của người nhạc sĩ.

Hãy nghe ông tâm sự :

“18 tuổi, tôi gặp mối tình đầu. Hai người tình thơ trẻ bị cuốn vào niềm đam mê choáng váng và mãnh liệt. Nhưng dường như là số phận, những mối tình quá đẹp, thường khó vẹn toàn. Gia đình cô gái không đồng ý cho con mình yêu anh nhạc sĩ nghèo, sống lang bạt kỳ hồ. Ngăn không được lòng đôi trẻ, cha mẹ cô dùng kế ly gián, gây nghi ngờ hờn giận cho hai người. Để cách ly, cô ấy bị bố mẹ bắt sang Pháp sống, hòng ngăn cản mối tình “rồ dại” với chàng nhạc sĩ…

Trong tâm trạng tan nát, bẽ bàng vì lầm tưởng bị người tình phụ rẫy, tôi viết bài “Không” với những lời như từ chối, như cố quên. Sau này, khi tôi đã có vợ con, chúng tôi gặp lại nhau thì mới vỡ lẽ rằng, trước đây, cô ấy bị bố mẹ giấu hết thư và không cho liên lạc với tôi. Đến bây giờ cô ấy vẫn sống một mình với dư âm mối tình đầu.

– Hồi nhỏ tôi học rất giỏi, ba mẹ muốn tôi trở thành kỹ sư, bác sĩ, chứ không ưa nghệ sĩ. Ba cho tôi lựa chọn, một là làm theo bố mẹ, hai là ra khỏi nhà. Tôi đã chọn cách thứ hai.

– Cái tên Nguyễn Ánh 9 có liên quan gì tới mối tình này không, thưa ông ?

– Đây là tên mà cô ấy đặt cho tôi. Khi tôi viết những bản nhạc đầu tiên, lấy tên thật là Nguyễn Đình Ánh thì dài quá, mà viết là Nguyễn Ánh thì lại trùng với tên của vua Gia Long. Bởi vậy, cô ấy bảo, chữ Nguyễn Ánh có 9 ký tự, mà số 9 theo quan niệm phương Đông là số may mắn, bởi vậy, nên lấy bút danh là Nguyễn Ánh 9.

– Sau khi biết người yêu đầu tiên vẫn cô đơn, cảm giác của ông như thế nào ?

– Tôi có lỗi rất lớn với gia đình bởi tới giờ tôi vẫn yêu người đó. Nhưng đó là một tình yêu rất xa. Mỗi khi buồn, tôi lại nhớ tới những kỷ niệm xưa và nỗi buồn qua đi. Người ấy đã lấy thành công của tôi để làm niềm vui cho mình. Nghĩ tới điều này càng làm tôi buồn thêm. Tất cả tình khúc của tôi chỉ dành cho người ấy.

– Một tình yêu đẹp thế có làm vợ ông chạnh long ?

– Chắc là vợ tôi cũng khổ lắm, nhưng cô ấy rất dễ thương. Cô ấy hiểu và không trách móc, thậm chí còn an ủi tôi. Vợ tôi quá tuyệt vời, thành ra tôi cảm thấy có tội với cả hai người. Hạnh phúc của tôi là có được một tình yêu chân thực, một người vợ hiền và những đứa con ngoan. Thế là quá nhiều với một con người rồi.

– Sáng tác nhạc bằng chính nỗi đau của mình phải chăng là một sự hành hạ bản than ?

– Mỗi lần sáng tác, tôi đều mong có người ấy ở bên cạnh và cảm giác thường trực của tôi là xót xa. Tôi cố gắng có được thành công để người đó thấy rằng sự hy sinh của cô ấy là xứng đáng….” (**)

Chúng ta hãy bỏ qua những điều tiếng, bỏ qua những phê phán nặng phần đạo đức. Người viết muốn chúng ta cùng chiêm nghiệm, cùng chiêm ngưỡng một mối tình. Một cuộc tình đẹp, đẹp, tuyệt đẹp. Đẹp chung thủy với những ký ức ngọt ngào. Cùng chiêm ngưỡng một nhân cách hành xử của người vợ như hạt tinh khiết lưu ly không tỳ vết bởi đã vượt qua những nỗi ghen tương thường tình.

Và, cùng chiêm ngưỡng sự thật thà thẳng thắn đáng kính trọng của một người đàn ông :

…. “ Tình đầu là mật ngọt, là rượu say, là trọn vẹn nồng nàn, đắng nghét. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã viết tất cả các tình khúc trong đời mình từ dư âm ấy. Giờ đây, đã gần ở tuổi “cổ lai hy”, nhạc sĩ vẫn còn choáng váng: Vết bỏng của tình đầu vĩnh viễn không nguôi dịu. Đôi khi tôi cứ nghĩ đó là nỗi đau trời cho. Nếu thành vợ chồng chắc gì tình yêu sống mãi. Vì không có nhau trọn vẹn nên cô ấy mãi trẻ trung, nhẹ nhàng và thanh cao, lúc nào cũng là thiếu nữ đôi mươi trong tâm hồn tôi. Ký ức về cô ấy là điểm tựa để tôi nương vào, giữ gìn những gì trong lành nhất cho âm nhạc và đời sống của mình”.

Năm 1965, ông lập gia đình và tin tưởng những dông bão của mối tình đầu sẽ ngủ yên. Chăm chút, trách nhiệm hết mực với vợ con, nhưng ông không giấu lòng mình : “Vợ tôi là một người phụ nữ dịu hiền nhân hậu, có lẽ chẳng người phụ nữ nào đủ vị tha và hy sinh cho chồng mình như cô ấy. Tôi mắc nợ trọn kiếp với người bạn đời, bởi tình yêu đã vĩnh viễn câm lặng, trái tim tôi không còn cảm giác sau hình ảnh của mối tình đầu”.

Năm 1974, ông gặp lại người tình xưa khi cô về Sài Gòn, cô vẫn một mình, vẫn yêu ông và chẳng oán trách gì. Đã lỡ làng, có xót xa thì cũng đành sống cho hết bi kịch một kiếp người. Họ lại xa nhau, lần này là mãi mãi, để vùi chôn những dấu yêu xưa cũ vào đáy lòng mình, nhức buốt, cho tới hơi thở cuối cùng.

Người vợ hiền của nhạc sĩ quả là đáng trân trọng bởi sự nhẫn nại, bao dung và tình yêu quá lớn bà dành cho ông. Gần 40 năm kết tóc se tơ, bà chưa từng dằn vặt chồng, luôn câm lặng chịu đựng, và chỉ nén khóc khi còn một mình ngồi nghe lại những bản tình ca ông viết cho người phụ nữ kia. Trong bi kịch này, bà mới thực sự là người bị tổn thương. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 coi vợ như là ân nhân của đời mình, ông nói: “Càng về già, càng thương bà ấy hơn. Tôi “gác kiếm” còn vì muốn có thời gian chăm sóc và bù đắp cho vợ. Tôi coi việc ấy là hệ trọng với những năm còn lại của đời mình”.

Vì thế, ông chẳng nỡ đi đâu xa sợ bà một mình sẽ buồn, làm một việc nhỏ, ông cũng tâm niệm dành thành quả và niềm vui ấy cho vợ. Ở tuổi xế chiều, ông đã thấy quý giá vì được sống trọn đời bên một người phụ nữ, chẳng vì lửa nồng tình yêu mà vì hơi ấm bền bỉ, yên lặng và thiêng liêng của nghĩa nhân duyên. Thứ tình không ồn ào ấy đã cưu mang những lỗi lầm ông vung vãi suốt thời trai trẻ.” ( ***)

Kính mời chúng ta cùng thưởng thức KHÔNG do Elvis Phương trình bày :

Không ! Không ! / Tôi không còn yêu em nữa

Không ! Không ! / Tôi không còn yêu em nữa

Không ! Không ! / không còn yêu em nữa em ơi

Tình đời thay trắng đổi đen / Tình đời còn lắm bon chen / Tình đời còn lắm đam mê / Nên tình còn lắm ê chề

Tình mình có nghĩa gì đâu / Tình mình đã lắm thương đau / Tình mình gian dối cho nhau / Thôi đành hẹn lại kiếp sau

Không ! Không ! / Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa

Không ! không ! / không còn, tôi không còn yêu em nữa

Không ! không ! / Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa em ơi.

(Lời bài hát “Không”).

Bản KHÔNG nổi tiếng trong nước. Ngoài ra còn được dịch ra một số thứ tiếng ở châu Á, như tiếng Hoa, tiếng Nhật,… Một bản tiếng Hoa của bài “Không” do Đặng Lệ Quân (Teresa Teng) trình bày.

Một phiên bản tiếng Nhật của bài Không do ca sĩ Teresa Teng -Japanese (anata) trình bày.

. thụyvi (Hầm Nắng Michigan, 7-6-2011)

Người viết cảm ơn và xin phép được trích từ : (*) nhạc SO. Net. (**) Bài phỏng vấn của Thu Hương (VNExpress). (***) Website của NA9

Mời các bạn nghe nhạc phẩm Không của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 qua tiếng hát Elvis Phương và Đặng Lệ Quân (Teresa Teng) trình bày :

http://youtu.be/1K3bRlAGdGw

http://youtu.be/aJMjKsVjyzw

http://youtu.be/6tjmH2QfdUY

Quế Phượng (tuyển từ Youtube)

50 NĂM ÂM NHẠC

NGUYỄN ÁNH 9

Nguyễn Ánh 9 là một trong những nhạc sĩ kỳ cựu này, được các con – nhạc sĩ Nguyễn Quang và Quang Anh – tổ chức  show “50 năm âm nhạc” tối Thứ Sáu 2/7/2010 năm rồi tại rạp Heritage Forum ở Anaheim.

Mấy cô ca sĩ chắc ít khi nào dám tổ chức “live show” có con số như vậy, lý do là sợ người ta biết tuổi mình. Nhưng mấy ông nhạc sĩ thì không sao; con số càng cao càng chứng tỏ mấy ông đã sống trong nghề lâu, có nhiều bài hát được ưa thích, và vẫn còn đứng trong ánh sáng. Và hình như đây không phải là lần đầu tiên ông tổ chức “live show”, dù ông đã nói nhiều lần rằng ông không phải là nhạc sĩ chuyên nghiệp.

Rạp hát Heritage Forum

Rạp hát Heritage Forum là một rạp hát hoàn toàn mới mẻ đối với khán giả Việt Nam, chưa có show nhạc Việt  nào được tổ chức ở đây cả. Đây là một rạp hát đẹp, mới, với khu parking rộng rãi, lại không xa trung tâm Little Saigon lắm, thật là một địa điểm lý tưởng. Rạp được thiết kế theo hình tròn, sân khấu tròn ở giữa, chỗ ngồi của khán giả bao quanh, cao hơn, lại không cách biệt lắm với sân khấu, dễ tạo không khí thân mật gần gũi với người trình diễn, hơn là những sân khấu có bục cao. Rạp có thể chứa được hơn 2.500 người, nhưng cũng có thể chứa 1.500 người mà không thấy trống vắng, khi chỉ sử dụng 1 nửa sân khấu, như trường hợp đêm nhạc này.

Chương trình

Chương trình được quảng cáo khoảng một tháng trước, với nhiều tên ca sĩ nổi tiếng từ Việt Nam sang biểu diễn, giàn nhạc thì có cả orchestra và nhiều nhạc công tên tuổi, nhưng phải dời ngày trình diễn không biết vì lý do gì. Có lẽ vì dời ngày, nên show nhạc khá luộm thuộm, khai mạc trễ hơn 1 giờ đồng hồ, chương trình bị ngắn đi, ca sĩ đổi khác hoàn toàn, nhiều cô lên “complain” là không có tên trên poster, tiết mục và ca sĩ được giới thiệu hơi… loạn; giới thiệu xong chờ vài phút mới thấy họ chạy lạch bạch xuống sân khấu. Tuy vậy, nói chung là khán giả đã có được một đêm nhạc đáng ghi nhớ, nhờ vào những giọng ca hàng đầu quá xuất sắc như Hồng Nhung, Mỹ Linh, Nguyễn Hồng Nhung, Ánh Tuyết, Elvis Phương…, và tài hòa âm  của nhạc sĩ Nguyễn Quang (con ông), cũng như âm thanh và ánh sáng rất tốt.

Nguyễn Ánh 9 và các nam ca sĩ

Bắt đầu chương trình là nam ca sĩ kỳ cựu Elvis Phương với ca khúc Một Lời Cuối Cho Em, sau màn giới thiệu từng nhạc công trong ban nhạc khá bắt mắt. Elvis Phương vẫn giữ được phong độ ngày nào với giọng ca mạnh mẽ và có phần điêu luyện hơn. Anh có cách trình diễn tự tin, chuyên nghiệp, xứng đáng là một ca sĩ hàng đầu của Việt Nam trước 75 cho đến tận bây giờ.

Sau đó nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 được MC Denny Dũng mời ra sân khấu để giới thiệu bản nhạc đầu tay bất hủ “Không” của ông, được hát bởi Elvis Phương cùng giàn  nhạc Nguyễn Ánh 9 cũ trước 75, gồm có Duy Khiêm bass, Quốc Thái trống và một cây saxo tạm thay thế người cũ đang bệnh. Bằng một  phong cách điềm đạm và thân mật, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 cho biết, Elvis Phương là người đã làm cho bài ca này nổi tiếng, đưa sự nghiệp sáng tác của ông lên. Quả thật Elvis Phương là ca sĩ lý tưởng hát bài này, một bài ca quá “hùng hồn” để chối bỏ tình yêu, với chất giọng mạnh mẽ của anh.

Chương trình chỉ có một nam ca sĩ khác là Kasim Hoàng Vũ, người khá nổi tiếng ở Việt Nam. Anh ăn diện lạ mắt với búi tóc quăn xòe sau gáy và bộ đồ vest công phu. Nhưng phải nói là anh hát không được rõ lời, cũng như chưa được tự tin lắm để có thể gây sự chú ý đến khán giả Little Saigon khó tính.

Nguyễn Ánh 9 còn trở lại sân khấu một vài lần để giới thiệu hai người con trai tài ba của ông, cũng như kể một vài giai thoại trong đời nhạc sĩ.

Các diva nhạc Việt

Chương trình đã được hâm nóng với các diva của âm nhạc Việt kể trên. Hồng Nhung trong chiếc áo đầm mini (mà có lẽ cô không nên mặc) rất duyên dáng, cải chính “tin vịt” của MC đưa ra là cô đến trễ vì bị kẹt xe. Cô kể lại từ lúc 11, 12 tuổi hát trong chương trình thiếu nhi, nhưng vẫn lén ngân nga ca khúc người lớn “Ai Đưa Em Về” của Nguyễn Ánh 9, và bắt vào bài hát một cách tự nhiên và điêu luyện. Tiếc thay, cô chỉ được cho hát có 1 bài và hẹn sẽ trở lại.

Ánh Tuyết, ca sĩ thuần túy miền Bắc (dù cô là người Trung), nổi tiếng từ rất nhiều năm qua. Trước kia, cô phát âm theo kiểu Bắc trước 75, tức là các chữ s,x  và ch,tr phân biệt rõ ràng, tuy đúng “văn phạm” nhưng chẳng thể nghe ra là giọng Bắc Hà Nội. Cô cũng là một trong những ca sĩ hiếm hoi hát giọng “head voice” một cách điêu luyện cỡ Thái Thanh hay Kim Tước của miền Nam. Cô vẫn thường hát những ca khúc của Thái Thanh như Dòng Sông Xanh hay Ô Mê Ly… Nhưng cô cũng hát nhạc “easy listening pop” hay không kém. Ánh Tuyết hôm nay trình bày 2 ca khúc tuyệt vời của Nguyễn Ánh 9 là Cô Đơn và Mùa Thu Cánh Nâu. Bài sau ít được nghe và lần này được hòa âm hoàn toàn tân kỳ với hơi hướng nhạc jazz nghe thật hay. Điều hay hơn nữa là Ánh Tuyết đã bỏ hết lối phát âm xưa, nên nghe bài hát thật toàn hảo. Cô còn trở lại ở phần 2 với ca khúc “Tình Chết Mùa Đông” rất hay, mặc dù có chút trục trặc với ban nhạc.

Mỹ Linh là một diva khác đã hâm nóng không khí đêm nhạc, với giọng hát mượt mà và mạnh mẽ, đủ để chuyên chở những đỉnh cao  của bài hát. Cô phát âm thật chính xác, rõ từng nguyên âm. Điều hay nữa là cô đã mất đi gần hết cái chất giọng ồm ồm khi hát những nốt thấp trong bài. Cô không còn những nét thanh thoát lúc trẻ hơn, nhưng vẫn còn là một người đẹp thật quyến rũ.

Nhưng phải đợi đến Nguyễn Hồng Nhung thì sân khấu mới nổ tung. Xuất hiện cũng như mọi lần, trong chiếc áo sexy xẻ đến rốn, Nguyễn Hồng Nhung chứng tỏ “star quality” của mình đã nở rộ. Thân hình thon mảnh, gợi cảm, gương mặt mũm mĩm trắng bóc, giọng Bắc kỳ thánh thót, lời ăn tiếng nói đong đưa nhí nhảnh…, cô ca sĩ nổi lên ở hải ngoại này càng ngày càng nổi đình đám. Giọng hát và cách trình diễn của cô cũng đã tiến bộ vượt bực và đêm nay cô hoàn toàn chinh phục khán giả qua hai ca khúc, một mới tinh là Trôi Theo Dòng Đời và một cũ là Tình Yêu Đến Trong Giã Từ.

Từ những diva trong buổi nhạc này, tôi kết luận là hát tân nhạc thì phải hát bằng giọng Bắc Hà Nội, và phát âm chính xác từng nguyên âm của từng chữ. Được như vậy thì nghe thật thích thú và cảm thấy tiếng Việt thật là tuyệt diệu.

Chương trình cũng có sự xuất hiện của Fatima với nhiều cố gắng, Thanh Mai với giọng hát êm ái thuần hậu và Phương Hồng Quế mượt mà. MC Denny Dũng làm tròn nhiệm vụ đáng khen mặc dù anh phải đương đầu với nhiều trục trặc.

Cảm nghĩ

Nhạc Nguyễn Ánh 9 có nhiều bài thật hay với nhịp điệu mới mẻ gợi cảm, nhưng cũng có một số bài nghe không “đã” lắm. Điều đáng nói là những gì ông đã cống hiến cho đời, từ tài năng sáng tác cũng như tài đánh đàn dương cầm của mình, qua những năm tháng dài của cuộc sống, vượt qua biết bao khó khăn khổ nhọc gây ra bởi thời cuộc. Người ta trân quý những cống hiến đó của ông, bằng chứng là những giúp đỡ tận tình của những ca sĩ tài năng đến với ông trong buổi nhạc này. Nhạc sĩ Nguyễn Quang thì quá là giỏi và có nhiều sáng kiến độc đáo. Tiếc là anh chưa được đánh giá đúng mức và hình như là anh có nhiều bực bội trong buổi nhạc hôm nay, nên phong cách quậy quậy của anh làm khán giả có phần “nervous”. Hy vọng trong tương lai anh sẽ có nhiều dịp thi thố tài năng và được thành công hơn nữa.

Trần Hương (trích Web Viễn Đông)

Nam nghệ sĩ THANH SANG

NS THANH SANG

MỘT ĐỜI VỚI CẢI LƯƠNG

Thanh Sang tên thật Nguyễn Văn Thu, sinh năm 1943 tại xã Phước Hải, tỉnh Bà Rịa, là một nghệ sĩ của bộ môn cải lương ở miền Nam VN trong suốt những thập kỷ 60, 70 và 80 của thế kỷ 20. Ông cùng với nữ diễn viên cải lươngThanh Nga một thời được đánh giá là đôi uyên ương lý tưởng trên sân khấu.

Nguyễn Văn Thu lớn lên trong một gia đình ngư phủ, đi biển đánh cá từ năm 11 tuổi đến năm 17 tuổi. Do gia đình sống gần rạp cải lương Hải Lạc, ông bị cuốn hút theo nghề hát xướng. Ban đầu, ông thường nhại lại các giọng của Thành Công, Chín Sớm, Út Trà Ôn rất giống, được bà con tán tưởng.

Năm 1960, đoàn cải lương Ngọc Kiều của bầu Hoàng Kinh, Ngọc Đán đến Hải Lạc biểu diễn. Khi diễn vở “Chiều đông gió lạnh về”, ông Thu thường được đưa vào thay thế khi các kép bị ốm. Bầu Hoàng Kinh thấy vậy mới đặt cho nghệ danh là Thanh Sang.

Năm 1962, Thanh Sang được bầu Hoàng Kinh cho thế Hùng Cường, vai Đông Nhật trong vở “Tuyết phủ chiều đông”. Ông diễn thành công và từ đó thành một kép chánh trong đoàn Cải lương Ngọc Kiều.

Năm 1964 , ông chuyển về hát cho đoàn “Hoa mùa xuân”, sau đổi thành “Dạ lý hương”. Cũng trong năm này ông nhận huy chương vàng giải cải lương Thanh Tâm với vai Tạ Tốn  trong vở “Cô gái Đồ Long”. Vai diễn Tạ Tốn trong vở này bị mù, rất khó diễn song ông lại diễn rất hay, đến mức nhiều người nhắc đến ông bằng bốn chữ Kim Mao Sư Vương – danh hiệu của Tạ Tốn. Vai diễn đã đưa ông từ một anh chàng chài lưới, chưa qua trường lớp, trở thành một ngôi sao trong làng sân khấu.

Từ đó đến năm 1975, Thanh Sang còn thành công với nhiều vai khác như vai Trần Minh trong vở “Bên cầu dệt lụa”, vai Thi Sách trong vở “Tiếng trống Mê Linh”, vai Lê Hoàn trong vở “Thái hậu Dương Vân Nga”…

Năm 1985, ông thôi hát ở các đoàn văn nghệ, chỉ thu băng đĩa và hát phục vụ khi có yêu cầu. Ba năm sau ông mới cùng đoàn nghệ sĩ Việt Nam sang Paris biểu diễn.

Năm 2001, ông bị bệnh nặng, phải rời xa sân khấu một thời gian dài.

Các vai diễn nổi danh

Tạ Tốn trong vở  “Cô gái Đồ Long” – Trần Minh trong vở “Bên cầu dệt lụa” – Thi Sách trong vở “Tiếng trống Mê Linh” – Lê Hoàn trong vở “Thái hậu Dương Vân Nga” – Thế tử Ngũ Châu trong vở “Đường gươm Nguyên Bá” – Lục Vân Tiên trong vở “Lục Vân Tiên”  – Danh trong vở “Tần Nương Thất” – Đường Minh Hoàng trong vở “Dương Quý Phi”…

Tâm sự :

Nhìn về quãng đời nhiều năm gắn bó với nghệ thuật sân khấu của mình, Thanh Sang tâm sự :

“Đa số các vai thành công của tôi lại không phải là vai chọn cho tôi đóng. Lúc trẻ tôi được tin cẩn giao vai già, khi lớn tuổi thì lại được đóng vai trẻ, bên cạnh nhiều cô đào trẻ…”

Mục “bàn tròn nghệ sĩ” có đăng những ý kiến của ông về việc duy trì, phát triển nghệ thuật Cải lương hiện nay : “Nghệ sĩ ngày nay danh nổi trước tài, không chịu rèn luyện trao dồi. Chính nghệ sĩ cũng đang giết cải Lương với nhiều vấn đề như hát nhép, đòi cátxê cao, không thuộc tuồng, diễn hời hợt… Nghệ sĩ phải biết yêu cải Lương, thương cải Lương, trân trọng cải Lương để làm nghề tử tế, quên mình một chút vì cái chung cải Lương mới sống nổi, dù cải Lương sẽ không bao giờ chết.”

Nhận xét về Thanh Sang. Nữ nghệ sĩ cải lương Bạch Tuyết nói : – “Với Thanh Sang, gần như vai diễn nào, anh cũng đặt hết niềm đam mê vào đó và anh biết nắm bắt nhân vật để dẫn dắt bạn diễn đi cùng anh trên sân khấu”.

THANH SANG KHÔNG BAO GIỜ NÓI “GIẢI NGHỆ”

Trong một bài báo, ký giả Hoàng Kim viết :

Nghệ sĩ Thanh Sang năm nay 69 tuổi, có một căn nhà lớn ở khu Văn Thánh, chưa kể mấy căn nhà và đất khác chưa bán được. Vợ con đề huề, làm ăn khấm khá. Tuổi già của ông dường như chẳng có gì để than phiền.

Thật sự tính tình Thanh Sang không cởi mở ngay từ đầu. Mặt ông trông khó đăm đăm và lành lạnh, chẳng nhìn người đối diện. Ai mới làm quen sẽ ngạc nhiên và dễ bật ra. Nhưng khi đã quen rồi mới thấy ông nói nhiều, nói thẳng và chân tình. Ông nổi tiếng trong làng cải lương vì khí chất cứng rắn, bướng bỉnh, không sợ mích lòng. Vì vậy, ông buông một câu: “Tôi không có bạn thân. Mấy chục năm đi hát, người tôi gần gũi nhất chỉ có anh Nam Hùng”.

Cho nên, khi ông nghỉ hát, hầu như chẳng có ai tới lui ngoài mấy ông bạn nhậu ngoài nghề. Thanh Sang cũng chẳng buồn, ông còn cười tỉnh bơ : “Tôi xấu lắm, không ai chơi được đâu!”. Nói vậy mà miệng lại hỏi thăm sức khỏe người này, người kia. Hỏi Thanh Tú ra sao rồi, sau tai biến não đã đi đứng được chưa. Hỏi Diệu Hiền bị gai cột sống thì qua ông chỉ cho cách tập luyện theo Thiếu Lâm tự, vài tuần là hết đau. Bên trong con người ông dường như vẫn có một Trần Minh nồng nàn tình cảm nhưng không thích biểu lộ mà thôi.

Ông không biểu lộ cả những cơn đau. Ông nói về bệnh tật của mình nhẹ như… khoe : “Tôi có tới 7 bệnh à nghen. Tim, thận, gan, tiểu đường, gai cột sống, tuyến tiền liệt, cao huyết áp. Tôi không hiểu sao nhiều nghệ sĩ cứ giấu bệnh. Già thì phải bệnh, có gì xấu hổ mà giấu. Đời người ai hổng vậy!”.

Ông nói xong đứng dậy chỉ dẫn ngay 6 động tác đã giúp ông thu nhỏ 4 cái gai trong cột sống và không còn cảm giác đau đớn gì nữa. Rất đơn giản, dễ làm. Ông sống chung với bệnh như sống chung với lũ, mổ tim xong thì đi hát, tiểu đường thì kiêng ăn, rồi tập thể dục đều đặn mỗi ngày. Cứ thế mà trôi qua thời gian. Nhưng ông cười hà hà : “Tôi kiêng vậy chứ tới chừng thèm là quất một trận. Bữa đi đám giỗ tại nhà thằng bạn, thấy nồi thịt kho nước dừa và tô dưa giá quá trời ngon, tôi “xử” luôn một hơi. Lâu lâu mình “phá giới” cũng chẳng sao !”.

Ông kể luôn chuyện nghệ sĩ Minh Phụng thèm ăn bánh kem, đã lén vợ ăn hết đĩa, rồi đặt miếng khác vào y như… chưa ăn. Ông chép miệng thương Minh Phụng chết sớm. Ông lại bình thản kể mình đã mua hai ngôi mộ dành sẵn cho hai vợ chồng ở Bình Dương, chẳng có gì phải sợ. Hỏi ông sao không vô nghĩa trang nghệ sĩ, ông lắc đầu : “Hồi sống đã không chơi thân với nhau, chết rồi ở chung sao được”.

Yếu không mang nổi giày vẫn diễn

Tối 17/92010, khá đông khán giả đã đến cổ vũ chuyên đề sân khấu kỷ niệm 40 năm đi hát của nghệ sĩ Kiều Phượng Loan. Có lẽ tiết mục làm mọi người hài lòng và cảm động nhất chính là Tiếng trống Mê Linh có sự tham gia của Thanh Sang. Sau một thời gian xa sân khấu vì lý do sức khỏe, anh đã trở lại với vai diễn để đời : tướng quân Thi Sách.

Mọi người không khỏi xúc động khi biết “chỉ 2 năm nữa là Thi Sách bước vào tuổi thất thập cổ lai hy” và chỉ vài ngày trước huyết áp anh lên rất cao tưởng phải nằm liệt giường. Rất may anh đã hồi phục kịp thời để góp mặt trong đêm diễn. Do vẫn còn yếu nên Thanh Sang đành phải mang… giày Tây thay vì vận đôi hài võ tướng vừa cao vừa rất khó đi. Khán giả cũng rất thông cảm với sơ suất bất khả kháng này và mỗi lần “Thi tướng quân” xuống vọng cổ (tất nhiên không còn sang sảng như thuở nào) đều nhận được những tràng pháo tay tưởng thưởng nồng nhiệt khắp khán phòng. (Ngọc Tuyết)

50 năm một tình yêu nghệ thuật

Một phóng viên phỏng vấn Thanh Sang trước một buổi diễn :

Xa sân khấu đã hơn 6 năm, lần này anh trở lại sàn diễn với một live show có phải để giã từ sân khấu ?

– Không phải, tôi vẫn còn mang nợ với nghiệp tổ. Thực ra lâu nay tôi vắng mặt là vì bệnh nặng. Sức khỏe không cho phép mình lên sân khấu ca diễn. Nhưng sau chuyến sang Mỹ du lịch, được bà con kiều bào đề nghị ca vọng cổ, trước tình cảm đó tôi không đành từ chối. Không ngờ tổ nghiệp cho tôi có được cơ hội trở lại với sàn diễn và sau đêm của NS Lệ Thủy, tôi quyết định thực hiện chương trình này tại Nhà hát ở Sài Gòn, với thương hiệu Làn điệu phương Nam.

Trong đêm diễn, anh sẽ tái ngộ với khán giả những vai diễn nào ?

– Hầu hết các vai tôi đóng đều để lại nhiều kỷ niệm đẹp. Tôi được cái nhớ rất lâu, nên vai nào diễn qua tôi cũng thuộc tuồng. Trong đêm diễn này tôi sẽ đáp tạ tấm lòng yêu mến của khán giả qua các vai: Thi Sách (Tiếng trống Mê Linh), An Lộc Sơn (Dương Quí Phi), Trần Minh (Bên cầu dệt lụa), Đảnh (Tần Nương Thất), Lục Vân Tiên (Kiều Nguyệt Nga) cùng với các nghệ sĩ : Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Minh Vương, Hồng Nga, Ánh Hoa, Cẩm Tiên, Lệ Thu, Vũ Luân, Tú Sương, Cao Thúy Vy, Thạch Tiên, Bảo Quốc, Thanh Phú… và các nghệ sĩ hài: Thanh Thủy, Anh Vũ, Minh Béo.

Được biết, hãng phim Trẻ sẽ thực hiện bộ phim về anh cũng trong dịp này ?

– Hãng phim Trẻ thực hiện các video clip để phát trong chương trình và làm một phóng sự ngắn về cuộc đời nghệ thuật của tôi, sau 50 năm đi hát. Bộ DVD này sẽ cùng phát hành chung với DVD. Tôi rất vui vì mình có được một cơ hội để gặp gỡ khán giả và bạn bè đồng nghiệp. Nhiều người đề nghị tôi diễn hai suất nhưng vì tập hợp nghệ sĩ trong mùa Tết rất khó, nên chỉ diễn một suất thôi. Sau này nếu có sức khỏe tôi sẽ hợp tác với chương trình Làn điệu phương Nam để ca diễn những bài vọng cổ của Hà Triều, Hoa Phượng, hai soạn giả mà tôi tâm đắc với nhiều tác phẩm được khán giả yêu thích.

Ông vẫn quan tâm tới cải lương vì vẫn còn sô hát thường xuyên. Trước tết, ông vừa hát với Kiều Phượng Loan trong trích đoạn Tiếng trống Mê Linh, vẫn vai Thi Sách để đời. Ông nói nghệ sĩ đừng bao giờ phát biểu câu “tôi giải nghệ”, nguy hiểm lắm. Vì tổ nghiệp sẽ khiến họ giải nghệ không được nhưng lại lên sân khấu trở thành trò cười cho khán giả. Cái nghề đã nuôi mình và gia đình mấy chục năm, tại sao phải giải ? Chỉ nên nói : “Tôi tạm nghỉ ngơi, chừng nào hát được thì hát”.

Vì vậy, dù sức khỏe kém khiến ông không muốn đeo đẳng sân khấu nữa, nhưng nếu chương trình nào cần ông hỗ trợ để bán vé khá hơn thì ông sẵn sàng giúp. Bà bầu Linh Huyền đang mời ông vào vai Trần Minh để dựng lại Bên cầu dệt lụa tại rạp Kim Châu, ông rất vui vẻ, nhưng phân vân vì không biết ai sẽ đóng Quỳnh Nga cho phù hợp. Ông lo lắng cho cải lương chứ không thản nhiên như vẻ ngoài của ông.

Nhưng ngày đi hát không bao nhiêu, ngày ở nhà mới dài đằng đẵng. Hỏi ông làm gì cho hết khoảng trống, ông chỉ tay vào căn phòng đóng cửa kín mít : “Nhà tù của tôi đó. Sáng đi tập thể dục xong là tôi chui vào, xem phim, xem cải lương, đọc sách, đọc kinh Phật. Tối trước khi đi ngủ cũng đọc vài bài chú Mật Tông”. Nói xong ông đọc một hơi khiến tôi ngạc nhiên. Chú Mật Tông khó đọc, khó thuộc, là thử thách của những phật tử.

Ông còn tỏ mắt để đọc sách như ngày xưa, cũng thật đáng nể. Văn học phương Đông, phương Tây gì ông cũng “ngốn” hết. Thói quen đọc sách hình như khiến ông “khác biệt” với giới đào kép cải lương hồi ấy. Ông cười: “Sách là bạn tốt nhất của tôi, nhờ vậy hết ngày hết tháng hồi nào không hay! Còn bạn nhậu ấy hả? Né hết rồi. Tôi là dân biển mà, nhậu không có đối thủ. Bây giờ đối thủ chính là mấy ông… bác sĩ. Thôi, nghe lời bác sĩ để yên than !”.

Quế phượng (tổng hợp)

ĐỌC THÊM

Bài viết của soạn giả NGUYỄN PHƯƠNG

Thanh Sang tên thật là Nguyễn Văn Thu, sanh năm 1943 tại xã Phước Hải, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu. Cha mẹ của Thu là người quê ở Bình Định, làm nghề ngư phủ. Hai ông bà đã đi đánh cá khắp các vùng biển từ Quy Nhơn đến Cà Mau, Phú Quốc. Hai ông bà chọn xã Phước Hải để định cư . Vì vậy bốn chị em của Thu đều sanh ra tại xã Phước Hải. Cha của Thu mất năm 1949. khi Thu được 7 tuổi. Người chị thứ hai, 10 tuổi đã phải đi bán khoai lang, chuối nấu để kiếm tiền phụ giúp mẹ nuôi em. Thu tuy mới 7 tuổi, cũng phải đi làm mướn cho chủ ghe cá, phụ việc khoanh chạc, tát nước, gở cá khi ghe đi biển đánh cá về.

Thu theo ghe đi biển, tập chèo sĩ, tát nước ghe, gở cá khi lưới kéo lên và nấu cơm, lo nước uống cho các ngư phủ khác.

Năm 14 tuổi, theo ghe ra biển, bị một trận bảo dử dội, nhiều ghe trong đoàn đánh cá bị chìm, ghe của Thu thoát nạn, khi em vô đến bải, chạy về nhà thì thấy mẹ và các chị em đang quỳ trên bải biển, cầu trời khẩn phật mong cho Thu tai qua nạn khỏi. Mẹ của Thu thấy con trở về bình yên, hai mẹ con ôm nhau mà khóc, cả xóm đều cảm động. Bà nhứt quyết không cho Thu theo ghe cá đi biển nữa, nhưng nghèo quá, đành phú cho số trời, Thu lại theo ghe cá đi biển. Thu có sức khỏe nên chuyên chèo sĩ và đánh lưới rùng.

Hơn năm mươi năm trước ghe đi biển chưa có máy nổ, người ta phải chèo hoặc dong buồm. Chèo lái dành cho người có kinh nghiệm và chèo mủi dành cho trai tráng có sức khỏe vì sóng gió đập mạnh vô người chèo sĩ, tức là chèo mủi, người ta thường nói là đứng mủi chịu sào, phải có sức khỏe mới chống cự được với gió to sóng lớn.

Ở Phước Hải có câu hát :

“ Gỏi nào ngon bằng gỏi cá Mai”

“Trai nào giỏi bằng trai lưới Rùng”

Cái lưới rùng là do dân Phước Hải đặt tên cho, trai làng biển phải “Rùng Mình” kéo lưới cá rất nặng, rồi khiên “Con Bò Lưới” nặng trên 100 kílô, ngày nào cũng gánh cá đi cả chục cây số, từ bải biển đến nhà chủ ghe hay ra chợ cá Phước Hải.

Cơ duyên đặc biệt

Thu sanh ra và lớn lên trong một gia đình ngư phủ, theo nghề đi biển đánh cá từ năm 11 tuổi cho đến năm 17 tuổi, nhờ cơ duyên đặc biệt, số phận của Thu thay đổi.

Cơ duyên đó là : gia đình của Thu mướn một căn nhà nhỏ ở sau rạp hát Hải Lạc, xã Phước Hải, vì vậy nếu có đoàn hát nào về hát ở rạp Hải Lạc thì Thu ngồi trong nhà cũng nghe được tiếng đờn câu ca. Nghe hát cải lương riết rồi đâm ra ghiền, mê vọng cổ, Thu theo các bạn học ca cổ nhạc để ca hát nghêu ngao những khi ngồi vá lưới hay đụng trận nhậu, ca chơi trợ hứng cho cuộc nhậu thêm vui…

Cô Kim Nên là thân mẩu của nghệ sĩ tân nhạc Thái Châu. Cô Kim Nên lúc đó là đào chánh, cô xin ông bầu Hoàng Kinh cho Thu theo gánh hát học hát. Thu được nhận cho đóng vai quân sĩ. Bản tánh của Thu cần cù, chịu học hỏi nên đêm đêm Thu ngồi bên cánh gà coi hát và học thầm theo tuồng hát. Đoàn đang hát vở “ Chiều Đông Gió Lạnh Về ”. Thu học thuộc được nhiều vai trong tuồng nầy Khi các vai quân báo hay kép cạnh đau yếu không hát được thì Thu thế vai đó được tròn vẹn, ông bầu Hoàng Kinh mới đặt nghệ danh cho Thu.

Thu nhận tên mới Thanh Sang và dẹp cái tên Thu vào trong quên lảng. Trong các thập niên 70, 80, người làng Phước Hải quên mất tên Thu mà chỉ nhớ và hảnh diện với tên Thanh Sang của anh dân chài làng biển trở thành ngôi sao sân khấu.

Thanh Sang có một dịp may bằng vàng: năm 1962, kép chánh Hùng Cường đánh anh hề Nguyễn Mỹ (con của danh hề Sáu Dình và nữ nghệ sĩ Năm Đặng) Hùng Cường đá Nguyễn Mỹ té xuống phòng khán giả. Hồi đó, Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu, Hội Công Nhân sân khấu, Chi hội Soạn giả, Hội ký giả kịch trường, Hội nào cũng bảo vệ quyền lợi của nghệ sĩ nên bảo trợ cho Nguyễn Mỹ kiện Hùng Cường ra Tòa, làm rùm beng lên để cho Hùng Cường bớt tánh hung hăng.

(Trước đó khi Hùng Cường ca rớt, anh thoi danh cầm mùVăn Vĩ và đá bể thùng âm phi của Văn Vĩ khiến cho danh cầm nầy thề là sẽ không bao giờ đờn cho gánh hát nữa. Văn Vĩ đã giử lời thề nầy cho tới khi anh chết).

Hùng Cường phải đi hầu Tòa nhiều lần, không thể theo gánh hát đi lưu diễn nên ông bầu Hoàng Kinh tập cho Thanh Sang thế vai của Hùng Cường. Đó là vai Đông Nhật trong tuồng Tuyết Phủ Chiều Đông, Thanh Sang trở thành kép chánh đoàn Ngọc Kiều. Các vai hát của Hùng Cường ở đoàn Ngọc Kiều đều được Thanh Sang thay thế.

Chất giọng trầm buồn

Thanh Sang có giọng ca trầm buồn, hơi khỏe khoắn, ngân vang lồng lộng, phong cách diễn xuất chững chạc, gặt hái được nhiều thành công nhưng phần số của Thanh Sang còn nhiều lận đận, Đoàn Ngọc Kiều về Sàigòn, đến trạm Bà Quẹo là rã gánh. Thanh Sang qua hát cho đoàn Ngọc Kiều Mới, nhưng ba tháng sau, Ngọc Kiều mới cũng rã gánh. Thanh Sang lại được mời về làm kép chánh cho đoàn Song Kiều, nhưng Song Kiều chỉ hát được một năm rồi rã gánh.

Thanh Sang nhận được Huy Chương Vàng giải Thanh Tâm năm 1964. Năm đó, đoàn cải lương Dạ Lý Hương hát vở Cô Gái Đồ Long, Tấn Tài thủ vai Trương Vô Kỵ, Bạch Tuyết vai Triệu Minh quận chúa, Út Hiền vai Trương Thúy Sơn, Ngọc Giàu vai Hân Tố Tố, Thanh Sang vai Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn.

Thanh Sang mới 20 tuổi mà phải thủ diễn một nhân vật lão mù, trên năm mươi tuổi, lại đang trong tâm trạng nữa tỉnh nữa điên. Diễn viên rất sợ phải thủ diễn một nhân vật mù. Đôi mắt của diễn viên là một lợi khí sắc bén giúp cho diễn viên chinh phục khán giả trên sân khấu, cái liếc mắt tống tình, liếc mắt căm hờn, liếc mắt nghi ngờ, đôi mắt ngạc nhiên, đôi mắt bối rối… đôi mắt diễn đạt nhanh hơn và hiệu quả hơn lời nói, lời ca.

Diễn một nhân vật mù thì đã mất hết cái lợi thế của đôi mắt nên rất khó diễn. Nhưng Thanh Sang lại diễn nhân vật Tạ Tốn mù rất hay, anh được thưởng huy chương vàng giải Thanh Tâm nhờ vai tuồng nầy.Chỉ sau bốn năm theo nghề hát, Thanh Sang, một chàng trai chài lưới, chưa qua trường lớp nào của sân khấu đã trở thành một ngôi sao cải lương với cái huy chương vàng giải Thanh Tâm.

Thanh Sang thành công trong rất nhiều vai tuồng trước năm 75. Thanh Sang có chất giọng trầm, buồn, những vai nào cần diễn xuất nội tâm nhiều thì Thanh Sang thành công dể dàng như trong tuồng Kiều Phong – A Tỷ, Bạch Tuyết trong vai A Tỷ, Du Thản Chi – Thanh Sang, đầu bịt mặt sắt, lại cỏng A Tỷ trên lưng nhưng Thanh Sang đã dùng diễn xuất tỏ thái độ yêu đương mù quáng, ngu khờ, lúc nào cũng tuân theo mệnh lệnh của trái tim, nên làm cho khán giả thích thú và yêu mến chàng Du Thản Chi si tình.

Thanh Sang có nhiều vai tuồng “ Để Đời” như vai Trần Minh trong vở Bên Cầu Dệt Lụa, vai Thi Sách trong vở Tiếng Trống Mê Linh, vai Lê Hoàn trong vở Thái Hậu Dương Vân Nga, vai Thế Tử Ngũ Châu trong vở Đường Gươm Nguyên Bá.

Về nghệ thuật, Thanh Sang biết kếp hợp nhuần nhuyển giữa ca và diễn, biết khai thác ưu thế diễn xuất của mình để giọng ca trầm thêm tác dụng trong các vai lão. Thanh Sang tha thiết với sân khấu, sẳn sàng giúp bạn diễn và là người có kỹ luật, không bao giờ trể giờ tập tuồng, không trể giờ hát, nổi tiếng là một nghệ sĩ biết giữ chữ tín trong giới sân khấu.

(Theo Nguyễn Phương)