3 KHUÔN MẶT VĂN THƠ NHẠC QUA ĐỜI

NHÀ THƠ

NGUYỄN TÔN NHAN

QUA ĐỜI…!

Nhận được tin dịch giả – nhà thơ – nhà biên khảo Nguyễn Tôn Nhan đã qua đời lúc 16:30 ngày 31/1/2011 vì tại nạn giao thông. Hưởng thọ 63 tuổi. Và được hỏa thiêu vào ngày 2/2 /2011 (nhằm 30 tháng Chạp năm Canh Dần, tức 30 tết)…

Nguyễn Tôn Nhan, sinh năm Đinh Hợi ngày 01/02/1948 nhằm ngày 22 tháng chạp năm Đinh Hợi) tại Cẩm Giàng, Hải Dương. Trưởng thành tại miền nam Việt Nam. Có thơ, văn đang tãi trên hầu hết các báo Văn học ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Những tác phẩm chủ yếu đã xuất bản như sau :

– Từ điển thành ngữ điển tích Trung Quốc – Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc – Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng – 100 tác phẩm nổi tiếng nhất của Văn Hóa Trung Hoa – 100 nhân vật nổi tiếng nhất Văn Hóa Trung Hoa. – Những vụ án Văn Chương trong lịch sử Trung Hoa. – Dịch Đạo Đức kinh – Dịch Nam Hoa Kinh – Dịch Xung Hư Chân Kinh. – Lục bát 3 câu (Thơ) – Tự Điển Văn Hóa Bách Khoa Trung Quốc – Nho giáo Trung Quốc. – Hoài Nam Tử.

– Và trên 30 quyển sưu khảo khác….

Nguyễn Tôn Nhan tên thật là Nguyễn Hữu Thành, là một dịch giả và là một văn nghệ sĩ làm việc cần mẫn và nghiêm túc,. Làm việc miệt mài trong mọi tình huống, mọi lảnh vực như nghiên cứu, phê bình, sưu khảo hay trên bình diện thơ ca. Lãnh vực nào anh cũng chu đáo.

Sự ra đi đột ngột của anh để lại trong tâm hồn bằng hữu, anh em văn nghệ sĩ nhiều nỗi thương tiếc. Xin cầu nguyện cho hương hồn anh bình an trong cõi vĩnh hằng.

KHÓC TIẾC NHỚ

NGUYỄN TÔN NHAN

– Triệu Từ Truyền

Nguyễn Tôn Nhan và tôi cùng sống ở Sài Gòn từ năm lên bảy, bố mẹ Nhan và ba má tôi đều là người Việt Nam lương thiện bị cuốn vào dòng chảy khắc nghiệt của chiến tranh, của vòng xoáy lịch sử với những lực đẩy ngoại lai từ nhiều phía trên hành tinh.

Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt. Bố mẹ Nhan từ bình nguyên sông Hồng vào định cư tại Sài Gòn, ba má tôi từ miền sông nước Cửu long cũng lên sinh sống tại Sài Gòn. Chúng tôi may mắn được nuôi dạy trong một thành phố văn minh và xinh đẹp bậc nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ.

Hơn nữa không khí văn nghệ ở Sài Gòn trong trẻo và hấp dẫn, người cầm bút khuynh hướng khác nhau đều được tự do sáng tác, và có đất để dụng võ. Những cây bút từ bưng biền kháng chiến, những cây bút vừa di cư vào Nam, kể cả nhiều người ở phương Tây về nước,… Theo tôi, trong thế kỷ 20 văn học Việt Nam ở đây là phong phú, kết nối tinh hoa của dân dộc và nhân loại hài hòa nhất. Phải chăng Sài Gòn không thua kém bất kỳ thành phố nào ở Châu Á về văn học và văn hóa kể cả nghiên cứu triết học? Điều đó khá dể hiểu, ở đâu bộ máy cầm quyền, (dù do dân của dân vì dân hay không, bù nhìn hay không, nhưng đừng vội can thiệp sâu vào văn nhệ, kinh tế chưa lệ thuộc tuyệt đối vào hàng hóa – tiền tệ), nghĩa là ở đó văn học chưa bị quyền lực và đồng tiền dẫn dắt, thì sáng tác văn học thật sự tự do, tự do ngay lúc động não để hình thành câu chữ.

Sài Gòn với môi trường xanh biếc, hào phóng nêu trên sẽ tạo khí hậu tươi mát và vùng đất phì nhiêu cho những mầm non mang nghiệp văn chương. Nguyễn Tôn Nhan viết về thuở ấy : “Triệu Từ Truyền và tôi là bạn với nhau từ những năm của thập niên 60 thế kỷ trước, khi ấy chúng tôi còn là những thiếu niên 15, 16 tuổi vừa mới bị “trúng bùa” của văn chương thi ca.

Thời trẻ dại ấy ở miền Nam Việt nam (hay có lẽ ở bất cứ một miền cõi nào có bụi cát trên thế giới loài người) đẹp một cách kỳ lạ. Tôi vừa nhắc đến chữ “bụi cát”. Vâng, chính bụi cát của những chuyến xe buýt về muộn dọc đường Sài Gòn – Gia Định đã làm dấy lên biết bao tư duy ngôn ngữ không có thật (hoặc có thật cũng chẳng sao) của vũ trụ Lão Trang, Khổng, Phật trong những tấm thân non nớt đang sẵn sàng run lên lẩy bẩy dưới mấy tàn cây keo, hay một loại cây gì đó mọc bên đường Nguyễn Văn Học (nay là Nơ Trang Long) và Chi Lăng (Phan Đăng Lưu). Ồ, nhựa loài cây ấy thơm quá, hình như nó có ẩn cả mùi thi ca của các lãng tử thi nhân như Rimbaud, A.M.Rilke ở trời Tây phương mắt xanh nào đó. Tôi và cả Triệu Từ Truyền rung lên bần bật. Đâu còn con đường nào nữa, chúng tôi làm thơ. …(Đoạn ngắn về thời gian Đêm lên cơn dài- Ngu Cốc cuối tháng một, năm Sửu 2009 )”

Lúc ấy tôi ký bút danh Triệu Cung Tinh, bạn tôi còn dùng tên Trần Hồng Nhan với tâm thức tự mình hấp thu hết bao truân chuyên, bi đát của “thuở trời đất nổi cơn gió bụi”, song đánh dấu bước trưởng thành Nhan đã lấy lại họ thật của mình và bút danh được viết lại Nguyễn Tôn Nhan ngay sau đó ít lâu. (hơn 30 năm sau má tôi trên giường bệnh vẫn còn hỏi tôi “Nhan đâu sao không ghé chơi ?”). Có lẽ vì mang bùa văn học như Nhan đã viết nên tình bạn của chúng tôi không bị ô nhiễm thái độ chính trị hoặc tín ngưỡng.

Nhiều năm, ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau, thậm chí sáng uống cà phê ở La Pagode quận I Sài Gòn, chiều về Bà Chiểu Gia Định dùng cơm ở nhà mẹ hay nhà má. Luôn bàn chuyện thơ văn, đôi khi trộn vào triết học. Nhan ngày ấy ít nói hơn các bạn khác, thường thường tôi và ai đó nói nhiều hơn. Các bạn cầm bút của tôi chưa bao giờ có một lời cản ngăn tôi tham gia cách mạng. Chúng tôi thân nhau đúng vào thời kỳ đầy xáo trộn, nội các liên tiếp lên xuống, biểu tình liên miên, hai tôn giáo lớn có lúc đối đầu bằng gậy gộc, quân đội Mỹ đổ bộ, quân giải phóng bám sát ven đô… Không hiểu sao trong tôi chưa bao giờ xung khắc giữa đam mê văn học và hoạt động cách mạng. Sáng, bàn với Nhan và các bạn khác về việc in tập thơ, trưa và chiều tôi cầm đầu xuống đường đụng độ ác liệt với cảnh sát dã chiến.

Tôi còn nhớ rất rõ, 1965 dù tên tôi bị đọc trên đài phát thanh theo lệnh truy nã của nội các chiến tranh vì tôi ký tên đề nghị Nhà cầm quyền Sài gòn thương lượng với Mặt trận dân tộc giải phóng, Nhan vẫn tìm gặp tôi ở một thiền viện vùng Cây Quéo, Gò Vấp (Quận Bình Thạnh) ngày ấy vùng này còn vườn cây um tùm, rậm rạp như cánh rừng thưa. Chúng tôi trao đổi về xuất bản tập thơ Đêm lên cơn dài của Triệu Cung Tinh và tuyên ngôn của Bộ Lạc Mới, do tôi dự thảo trước để vài tháng sau sẽ in trên báo văn học Bộ Lạc Mới, với dòng chữ ngay dưới tên báo: văn học của vùng người xanh biếc – số đắp nền.

Đối với Nhan có lẽ nhân tính của con người bộc lộ trong văn chương, chứ không phải qua hành vi chính trị hay nghi lễ tôn giáo, nên Nhan không quan tâm hoạt động khác của tôi. Xin phép Nhan, buộc lòng mình phải kể việc này để đọc giả hiểu ra thái độ trung dung ấy của người bạn mà không ai bù đắp nổi cho tôi, nếu phải vĩnh viễn xa nhau. Có lần Nhan kể với mình bố theo đạo Phật (thuộc dòng dõi Nho gia nổi tiếng ở Hải Dương, ông nội và bác ruột đều đỗ đạt dưới triều Nguyễn). Mẹ là con chiên của đạo Thiên Chúa, tần tảo nuôi các con, một người mẹ rất mẫu mực. Nhiều lần mẹ thuê nhà chỗ khác để được thờ kính Chúa trang trọng nhất, vì ở ngôi nhà của cả gia đình, bàn thờ đã có Đức Phật do bố thờ cúng. Phải chăng Nhan đồng thuận với R.Tagore, thơ là tôn giáo của tôi?

Thời gian này tôi thường dùng cơm với gia đình bố mẹ Nhan, Nhan hay nhắc mẹ cho vài lát chanh, vì Nhan biêt tôi trong bữa ăn rất thích vị chua. Ba mươi năm sau, Nhan cũng nhắc chị Quỳnh Hương (phu nhân Nguyễn Tôn Nhan) như thế.

Vào khoảng năm 1990, Mịch La Phong có lần nói với tôi: “Nhan rất thương Truyền, nó dặn tôi khi gặp Truyền nói năng phải nhẹ nhàng vì Truyền bạn chí thân của tôi nhạy cảm, tâm hồn mịn màng, tế nhị, không nên bạo quá!”. Nhan đã xử sự với người bạn như vậy, mà người bạn ấy đã có lúc sống chết với một học thuyết chính trị mà Nhan nhận thấy còn nhiều khiếm khuyết.

Năm 1991, Nhan viết đầy ưu ái : “Triệu Cung Tinh sớm có những hoạt động cách mạng từ những ngày còn học Trung học. Anh luôn băn khoăn về số phận của đất nước lúc ấy đầy tràn những bóng lính Mỹ. Có lẽ từ lòng yêu thơ, yêu cái đẹp mà càng ngày Triệu Cung Tinh càng tiến đến gần cách mạng giải phóng dân tộc chăng ? (chút kỷ niệm thơ với Triệu Cung Tinh – Sài gòn 7/1991).

Vì nhớ và thương bạn mà Nhan đã bất chấp nguy hiểm, giấu tờ tuần báo Nghệ Thuật (chủ bút Mai Thảo – thư ký tòa soạn Viên Linh) vào giỏ tiếp tế thức ăn của gia đình gửi vào khám Chí Hòa cho tôi, tôi mở báo đọc lướt thật sung sướng thấy dòng chữ viết tay của Nhan “Bộ Lạc Mới số dựng lều sẽ in, Thánh Ca đã xuất bản”, đấy là món quà vô giá của tôi ở tuổi 20 (1967), lúc đang bị tù với tội danh phá rối cuộc trị an.

Tháng 5 năm 1969, tôi được các bên ở Hội Đàm Paris can thiệp để trả tự do vì bị bại liệt ở chuồng cọp Côn Đảo. Về lại khu vực Thành Gia Định, Nhan đến thăm tôi thường xuyên ở nhiều nơi khác nhau, vì tôi vẫn hoạt động bí mật. Vào một buổi học sáng, Nhan chở tôi bằng Honda đến Hội Việt Mỹ (trường học tiếng Anh) ở đường Mạc Đĩnh Chi để “coi mắt” một cô gái Huế, cô gái xinh đẹp, đài các ấy sau này chính là phu nhân của Nguyễn Tôn Than.

Những ký ức không phai của chúng tôi không thể nào kể hết được. Thương quý nhau vì tâm huyết với văn chương, cảm thông nhau vì cùng một lứa gian nan trong chinh chiến, hơn nữa trong sâu thẳm tâm thức của chúng tôi biết rằng mình thuộc về tâm hồn Việt Nam, tính linh Việt Nam nên dù có bao nhiêu tác động ngọai lai, mê hoặc đến đâu, khoa học đến đâu, duy lý đến đâu cũng không phá vỡ nổi tâm thức Việt Nam, trở thành bản năng gốc trong chúng tôi.

“Một hôm tôi đang ngồi trong tòa soạn tờ Diễn Đàn ở đường Nguyễn An Ninh với Đặng Tấn Tới thì Triệu Cung Tinh lù lù lên thang lầu. Người anh gầy hơn khi còn ở Sài Gòn, anh rủ tôi ra La Pagode uống càphê. Lúc ấy tôi đang trong tình trạng bất hợp lệ quân dịch và cũng biết rất rõ anh vừa ở “trong Bưng ra” nhưng vì tình bạn, tôi vui vẻ theo anh lang thang trên các nẻo phố Sài Gòn. Chúng tôi bàn với nhau về văn chương, về cả viễn ảnh hòa bình tương lai của đất nước (là điều tôi chỉ có một ý niệm rất mơ hồ). Năm ấy đặc san mùa xuân “Sinh Viên” (của Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn) có nhờ tôi lấy bài giúp và tôi đề nghị luôn anh viết truyện ngắn. Cái truyện ấy tôi đã đăng và đến bây giờ tôi còn nhớ tựa của nó “Nhánh tay xanh” (Chút kỷ niệm thơ với Triệu Cung Tinh -1991)

Không phải chỉ có thế, Nhan giữ nhiều bài thơ của tôi trước khi tôi bị lưu đày, và lần lượt cho đăng trên các tờ báo văn nghệ trong suốt những năm tôi bị giam cầm. Phải chăng chúng tôi xứng đáng được gọi là bạn chí thân, tâm giao, tri âm, tri kỷ của nhau ?

Từ năm 1971 đến 1975, chúng tôi lại phải xa nhau, vì tôi bị lưu đày Côn Đảo lần thứ hai. Nhan viết : “Tôi vẫn tiếc sao anh không ở lại Sài Gòn để cùng làm văn nghệ với chúng tôi, mặc dù có thể lý tưởng giải phóng đất nước của anh là chính đáng. Sau đó là thời gian liên tiếp anh bị giải từ nhà tù này đến nhà tù khác, tôi chỉ còn biết thỉnh thoảng ghé thăm người mẹ già của anh (khi anh ở tù thân phụ anh đã qua đời) và an ủi bà những câu có lẽ cũng trở thành vô nghĩa. Chúng tôi xa nhau đến ngày 30/4/1975. Trung ơi, chúng ta đã có với nhau quá nhiều kỷ nịệm. Từ thuở 20, đến nay đứa nào cũng trên 40 cả rồi nhưng sao tôi thấy tôi vẫn trẻ dại như ngày nào, và những mộng ước thơ ca của tôi vẫn còn tươi rói. Nó sẽ còn tươi rói đến bao giờ ? (như trên).
Đúng như Nhan nói, ngày đầu tháng 5/1975 từ bưng biền tôi về thăm má và các em rồi đi ngay qua nhà Nhan, vừa nhớ bạn vừa lo bạn gặp rắc rối vì những ngày ấy, tôi lại gặp Nguyễn Đức Sơn đang đọc sách và ăn cơm ở đó. Trước và sau 1975, từ Đất Đứng (1965), Bộ Lạc Mới (1966) cho đến Bông Trang (1990) và Gieo & Mở (1995),…

Nhan luôn là người sát cánh cùng tôi để thực hiện những tờ báo văn chương ấy. Cho đến nay đã tập họp trên 200 bài thơ lục bát ba câu của Nguyễn Tôn Nhan, một thể cách súc tích, cô đọng nhất của thơ. Tôi còn nhớ trước hai tập thơ Thánh ca (1967) và Lục bát ba câu, Nhan có in chung với một người khác (con trai của một chủ Nhà Sách) trong một tập thơ, rất tiếc tôi không nhớ tên người đồng tác giả với Trần Hồng Nhan và cả tên tập thơ. Cùng với những bài thơ trước đó, Nguyễn Tôn Nhan trước hết và đích thực là một thi sĩ. Đồng thời, Nhan đã nghiên cứu có hệ thống nền văn học chữ Hán cổ, vì đó cũng là một nhánh suối bắt nguồn của dòng sông văn hiến Việt Nam, trên 60 đầu sách được được xuất bản đã minh chứng sức làm việc của Nhan, cật lực và bền bỉ, vừa vì lợi ích trong lãnh vực văn hóa, vừa có thu nhâp để bảo bọc gia đình, giúp con học hành đến nơi đến chốn, làm tròn bổn phận làm cha.
Nhan ơi, chúng ta bất chấp một thứ lịch sử do những kẻ mạnh áp đặt, làm đau khổ triền miên dân tộc và gia đình chúng ta từ hai thế kỷ qua (với chúng tôi lịch sử cũng có nhiều khả năng của xác suất như cơ học lượng tử đã lý giải). Những chủ nghĩa, học thuyết núp sau súng đạn lần lượt đổ bộ vào quê hương thân yêu của chúng ta, làm gãy đổ biết bao mộng ước lành mạnh của con người Việt Nam thuần khiết. Chúng ta đã sống đầm ấm với nhau, nương tựa nhau, kiên trì bên nhau góp phần làm phong phú văn học và văn hóa Việt Nam, mà không thế lực đen tối nào phủ nhận nổi. Chúng ta không quá tự tôn để nói với con cháu rằng Nguyễn Tôn Nhan tự hào đã đi theo con đường của Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh,… trong điều kiện khác theo yêu cầu của văn hóa.

Nhan ơi ! Mỗi lần găp lại sau một thời gian nào đó mình phải xa nhau Nhan nói “tôi nhớ Trung quá…”. Bây giờ tôi biết nói gì hơn: “tôi thương nhớ Nhan vô cùng!”.

Gia Định thành, tháng giêng, Tân Mẹo – 2011 (10/02/2011)

Triệu Từ Truyền

NHÀ VĂN PHẠM CÔNG THIỆN

QUA ĐỜI (1941 – 2011)

Nhà văn, Giáo sư Phạm Công Thiện, Pháp danh: Nguyên Tánh. Sinh ngày : 01/06/1941 tại Mỹ Tho – Mất ngày : 08/03/2011 tại Houston, Texas. Theo Cáo bạch ngày 9/3/2011 của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ cũng như sự xác nhận của gia đình là ông đã vĩnh viễn rời xa nhân thế.

Tiểu sử :

Theo tin từ Houston, Texas, nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng, dịch giả, giáo sư, cư sĩ Phật giáo Phạm Công Thiện vừa qua đời vào ngày 8/3,2011 tại Houston, hưởng thọ 71 tuổi. Theo lời một thành viên trong gia đình nói với thân hữu, ông Phạm Công Thiện dường như biết trước thời điểm “sẽ đi,” và trong ngày cuối cùng của cuộc đời, ông dặn gia đình “không làm tang lễ rườm rà, mà chỉ hỏa thiêu”. Chiều cùng ngày, vẫn theo lời gia đình, ông Thiện thấy “mệt dần, bắt đầu nhập định, và ra đi nhẹ nhàng.”

Ông tên thật là Phạm Công Thiện, thời trẻ còn có bút hiệu Hoàng Thu Uyên cho các tác phẩm dịch, sinh ngày 1/6/1941 tại Mỹ Tho trong một gia đình Thiên Chúa giáo. Từ tuổi thiếu niên ông đã nổi tiếng thần đồng về ngôn ngữ, năm 15 tuổi đã đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Sancrit và tiếng La Tinh.

Năm 1957, 16 tuổi, ông xuất bản cuốn tự điển Anh Ngữ Tinh Âm, nhưng từ vài năm trước đó cho đến khi rời Việt Nam vào năm 1970, ông đã cộng tác với các báo Bông Lúa, Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ. Từ những năm cuối thập niên 1950 ông đi dạy Anh ngữ tại một số trường tại Sài Gòn.

Ðầu năm 1964, ông chuyển ra Nha Trang sống để an dưỡng sau một cuộc “khủng hoảng tinh thần.” Tại đây ông quy y ở chùa Hải Ðức, lấy pháp danh Nguyên Tánh. Một thời gian sau ông lại về Sài Gòn.

Từ năm 1966-1968, ông là giám đốc soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa viện Ðại Học Vạn Hạnh. Từ năm 1968-1970, giữ chức trưởng khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của viện. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.

Ông rời Việt Nam từ năm 1970, sang sống ở Israel, Ðức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Tại đây ông trút áo cà sa để lấy vợ và sau đó làm giáo sư Triết học Tây phương của viện Ðại Học Toulouse.

Năm 1983, ông sang Hoa Kỳ, định cư ở Los Angeles, giữ chức giáo sư viện Phật Giáo College of Buddhist Studies. Từ khoảng năm 2005, ông sang cư ngụ tại Houston, tiểu bang Texas cho đến ngày ông qua đời.

Tác phẩm :

Giữa thập niên 1960, Giáo Sư Phạm Công Thiện bắt đầu nổi tiếng với các tác phẩm xuất bản tại Sài Gòn, mà cuốn đầu tiên gây chú ý nhiều cho giới văn nghệ và thanh niên sinh viên là Ý Thức Mới Trong Văn nghệ và Triết Học (1965), rồi đến Yên Lặng Hố Thẳm (1967), Hố Thẳm Của Tư Tưởng (1967), Mặt Trời Không Bao Giờ Có Thực (1967). Về tôn giáo có “Tiểu luận về Bồ Ðề Ðạt Ma, Tổ sư Thiền Tông” (1964), thơ thì có “Ngày sinh của rắn” (1967), các tác phẩm văn học thiên về tư tưởng: “Trời tháng Tư” (1966), “Bay đi những cơn mưa phùn” (1970). Tất cả các tác phẩm này đều do hai nhà An Tiêm và Lá Bối tại Sài Gòn ấn hành.

Tại hải ngoại ông đã xuất bản khoảng mười tác phẩm, hầu hết trong thập niên 1990, như Ði Cho Hết Một Ðêm Hoang Vu Trên Mặt Ðất (1988), Sự Chuyển Ðộng Toàn Diện Của Tâm Thức Trong Tư Tưởng Phật Giáo (1994), Triết Lý Việt Nam Về Sự Vượt Biên (1995), Tinh Túy Trong Sáng Của Ðạo Lý Phật Giáo (1998), v.v…Ông cũng đóng góp nhiều cho báo chí, chẳng hạn viết cho tạp chí Thế Kỷ 21, nhật báo Người Việt.
Thượng Tọa Thích Viên Lý, viện chủ Chùa Ðiều Ngự, California, người từng nhiều năm cư ngụ cùng Phạm Công Thiện tại chùa Diệu Pháp, nói rằng cư sĩ Phạm Công Thiện đã “đóng góp rất lớn về mặt văn hóa đối với Việt Nam,” và luôn “mong Phật Giáo Việt Nam được xiển dương một cách đúng mức.”

Từ khi còn rất trẻ cho đến cuối đời, Phạm Công Thiện đã đóng góp rất nhiều cho văn hóa Việt Nam về các phương diện ngôn ngữ, thơ, văn và đặc biệt về tư tưởng triết học. Ðối với Phật Giáo ông cũng là người có công lớn với các công trình nghiên cứu Phật học, và đặc biệt, đã góp nhiều công sức xây dựng viện Ðại Học Phật Giáo Việt Nam đầu tiên Vạn Hạnh tại Sài Gòn từ năm 1966, trong đó có tập san Tư Tưởng là cơ quan phát huy tư tưởng Phật Giáo quan trọng nhất của Việt Nam trong thời cận đại.

NGÀY GIỖ NS TRƯỜNG KỲ

Ngày thứ tư 23/3/2011 vừa qua là ngày Trường Kỳ chết đã  2 năm. Gởi bài viết về Trường Kỳ đã in trong sách “Rong chơi cuối đời quên lãng” do bạn bè viết – nhân  giỗ đầu năm 2010.

Trường  Kỳ và Tuyển Tập Nghệ  sĩ

Tin Trường Kỳ qua đời đến với tôi vào lúc 2 giờ trưa  ngày thứ hai 23/3/2009   theo giờ Đông bộ Sydney – Australia tức chiều tối chủ nhật 22/ 3 ở Toronto – Canada.

Tự dưng tôi không tin vào thư Email mà tôi nhận được. Tôi bèn viết thư mail  hỏi  lại bạn bè bên Cali. Và  chỉ 15 phút sau, tôi  được tin chính thức bạn tôi Trường Kỳ thực sự đã qua đời khoảng trưa chủ nhật 22/3 sau khi được chở đi Cứu Cấp tại một bệnh viện ở Toronto.

Theo lời thuật lại mà tôi đọc được trên Mail của các thân hữu Trường Kỳ, thì được biết ngày thứ bẩy  21/3 Trường Kỳ từ Montreal sang Toronto để dự buổi ra  mắt   phát hành một  CD mới mà Trường Kỳ đã nhận lời. Trước  khi đi Toronto, sức khoẻ của bạn tôi không đến nỗi gì, áp huyết  hơi thấp. Như vậy chứng tỏ bạn tôi vẫn yêu nghề viết lách nên nhất quyết  lên đường.

Và như số mênh đã an bài, bạn tôi đã được Chúa gọi về trưa  chủ nhật  22/3 mà   không có  Vợ, Con bên cạnh.

Quen biết  Trường Kỳ

Vào  đầu thập niên 70, qua  sự giới  thiệu của nhà báo Ngọc Hoài Phương (tuần báo Kịch Ảnh – hiện nay là chủ nhiệm tạp chí  Hồn Việt), tôi quen biết Trường Kỳ  trong   dịp tôi ghé tuần báo  Kịch Ảnh. Và  sau đôi lần gặp  gỡ nhau ở các phòng trà ca nhạc   Queenbee hay Rizt, tôi và Kỳ quen thân nhau. Chúng tôi có những tin tức về Văn nghệ  hay  trao đổi lẫn nhau.

Khi  nền Điện ảnh Việt nam phát  triển. Nam ca  sĩ kiêm  ông bầu phòng trà Rizt   Jo Marcel cũng tự thực hiện một  phim truyện 16 ly, mà truyện phim lại  là  của Trường Kỳ “Vết  chân hoang”. Đây là  một cuốn phim hoàn toàn do các  bạn Trẻ  thực hiện. Nữ  tài tử  chính trong phim là  Diễn viên Minh Lý. Một khám phá mới của Jo Marcel. Trong buổi ra mắt phim “Vết chân hoang“ rất đông anh em  ký giả Tân nhạc – Điện ảnh của các báo đã đến phòng trà Rizt để xem. Và bạn tôi mặc dù là tác gỉa của “Vết chân hoang “ vẫn đứng tận ngoài  cửa để đón anh em  ký gỉa  chúng tôi. Một điều hiếm có  trong buổi ra mắt phim. Chứng tỏ bạn tôi cũng đóng góp  một phần nhỏ nhoi trong việc thực hiện phim “Vết chân hoang“

Sau lần ra mắt phim đó, Trường Kỳ thường rủ tôi  ghé chốn “Bồng Lai“ ở đường  Nguyễn Trung Trực nơi cư ngụ của bạn tôi để ăn uống hay đấu láo. Nhưng vì binh  nghiệp nên  thỉnh thoảng tôi mới ghé  thăm và ngủ lại qua  đêm sau khi uống cạn vài  chai bia 33 với các món ăn Bắc Kỳ được mua về từ Quán Cơm Bà  Cả Đọi  trên  đường Nguyễn Huệ.

Trường  Kỳ  và Cây Mùa  Xuân Chiến sĩ

Mặc dù suốt cuộc  đời trai trẻ, tTrai độc nhất và  cận thị nặng, tuy vậy Kỳ vẫn  luôn luôn  sát  cánh  cùng Tổng Cục CTCT để tổ chức Đại hội Nhạc Trẻ gây qũy Muà  Xuân cho các  Chiến sĩ   mỗi dịp Tết  đến, từ năm  1964 đến  đầu năm 1975. Phải  nói   với bộ 3 Trường Kỳ, Nam Lộc, Tùng Giang các buổi  Đại nhạc hội gây qũy Mùa  Xuân   Chiến sĩ đã thu hút rất đông hàng chục ngàn bạn Trẻ đến tham dự, lúc tổ chức ở Sở Thú, Sân Vận động Hoa Lư hay sân Trường Taberd nơi Kỳ đã  theo học  thời niên thiếu.

Trường Kỳ  và  Tuyển tập Nghệ sĩ

Sau  ngày 30/4/1975, tôi và Kỳ không còn liên lạc với nhau, vì mỗi người mỗi ngả. Đến năm 1980, trong một lần nghe lén đài VOA, tôi được biết bạn tôi đã đến được bến bờ Tự Do, định cư ở Nhật bản một thời gian sau đó qua Canada định cư.

Sau  khi nghỉ làm ở Bưu điện năm 1995, Trường kỳ  dành nhiều thời giờ để bắt đầu viết sách “Tuyển tập Nghệ sĩ “, cùng cộng tác với một số báo chí ở Canada, Cali  và Đài phát thanh VOA trong mục “Nghệ sĩ  và Đời Sống” phát thanh mỗi tuần 1 lần.

Năm 1996, tôi mới liên lạc lại với Trường Kỳ. Và nhận lời bán sách Tuyển tập  Nghệ sĩ ở Sydney, và cộng tác với Kỳ viết  giới thiệu một số Nam nữ ca sĩ và các ban  nhạc  ở Sydney. Tuyển tập nghệ sĩ cuối cùng tôi bán  giúp cho Kỳ là Tuyển  tập Nghệ sĩ  số 6. Ngoài ra Tuyển tập Nghệ sĩ viết về các  Nghệ sĩ Cải lương đã bán hết nên  không có sách bán ở Sydney.

Khi  nghe tin Trường Kỳ viết và phát hành Sách “Tuyển tập Nghệ sĩ “Bác TTH   (bạn thân với  bố cuả  Kỳ) đã  có nhắn với tôi rủ Kỳ đến Sydney để ra mắt sách và Bác  cháu gặp nhau. Nhưng Kỳ vẫn lưỡng lự vì ngại đường xa, từ Bắc bán cầu xuống  Nam bán  cầu.

Nghe đâu vào đầu năm 2009, Kỳ đã dự tính Úc du với sự bảo trợ của Tuần báo Tivi Tuần san ở Melbourne, nhưng vì bà  già vợ của Kỳ ở VN bị đau, nên Kỳ đã hủy bỏ  chuyến Úc du và trở về VN cùng lúc ghé Thái Lan. (xem ảnh trên : hàng đứng : bà Kim Yến – chị Khánh Ly – Ngọc An – vợ nhà thơ Thiên Hà – hàng ngồi : Quỳnh Như, nhà văn Văn Quang, Trường Kỳ và Thiên Hà).

Trên đây là những kỷ niệm của tôi với Trường Kỳ. Tôi ghi lại để tưởng nhớ  người bạn hiền mang tên Vũ trường Kỳ  .

Nguyễn Toàn (Sydney/Australia)

Nữ ca sĩ THÁI THANH

THÁI THANH

TIẾNG HÁT

VƯỢT THỜI GIAN

Thái Thanh (sinh năm 1934) là một nữ ca sĩ nổi tiếng, được mệnh danh “tiếng hát vượt thời gian”. Thành danh ở Sài Gòn  từ cuối  thập niên 50 thế kỷ trước, tiếng hát Thái Thanh gắn liền với nhạc của Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Cao và nhiều ca khúc tiền chiến khác. Bà đã tạo ra một “trường phái” riêng, ảnh hưởng tới nhiều giọng ca thế hệ sau như Mai Hương, Ánh Tuyết. Bà được xem như một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của nền tân nhạc VN.

Nữ ca sĩ Thái Thanh, tên thật Phạm Thị Băng Thanh. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, thân phụ là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm.

Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ  Mai Hương, còn Phạm đình Viêm tức nam ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long. Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con : trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ Phạm Duy; con trai thứ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc; và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh.

Thái Thanh bắt đầu sự nghiệp ca hát khi mới 13, 14 tuổi trong những năm kháng chiến chống Pháp, lúc nhỏ bà tự luyện tập giọng hát theo lối chầu văn, hát chèo.. Năm 1951, Thái Thanh cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn.

Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng từ đó cho đến những ngày cuối của miền Nam vào năm 1975. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình. Cùng với Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, Phạm Duy, Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) lập nên ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng. Giọng ca Thái Thanh cũng từng gắn bó với vũ trường Đêm Mầu Hồng vào những năm đầu 1970.

Thái Thanh lập gia đình với nam tài tử Lê Quỳnh vào khoảng giữa thập niên 1950, nhưng hai người đã chính thức ly dị khi người con gái đầu lòng là ca sĩ Ý Lan mới được 8 tuổi.

Năm 1985  Thái Thanh rời Việt Nam và định cư tại Mỹ. Tại hải ngoại bà tiếp tục trình diễn (bắt đầu từ đêm diễn Thái Thanh – Đêm Tái Ngộ vào năm 1986) và ghi âm một số CD. Hai con gái của bà là ÝLan và Quỳnh Hương cũng là những ca sĩ nổi tiếng. Thái Thanh giải nghệ vào năm 2002, nhưng đến năm 2006, bà lại xuất hiện trên sân khấu chương trình “Thái Thanh và ba thế hệ”

Bà có tất cả 5 con – 3 gái, 2 trai – và 12 cháu nội ngoại, bà cho biết sẽ không về Việt Nam an hưởng tuổi già.

Ca khúc thành côngcủa bà như Tình ca, Hòn vọng phu, Hội trùng dương, Con đường cái quan, trường ca Mẹ Việt Nam và nhất là bản Dòng Sông Xanh nhạc Việt Hóa của nhạc sĩ Phạm Duy.

Trước 1975 : Từ khoảng cuối thập niên 1950 đến 1975, Thái Thanh thâu âm rất nhiều trên đĩa than 78 vòng, đĩa nhựa 45 vòng, băng Akai của các hãng đĩa Việt Nam, Tân Thanh, Sơn Ca, Shotguns, Thanh Thúy, Phạm Mạnh Cương, Trường Sơn, Continental, Diễm Ca, Song Ngọc, Nhật Trường, Trường Hải, Nghệ Thuật – Tâm Anh…

THÁI THANH

Khuôn Mặt Văn Nghệ

Đã Đi Qua Đời Tôi

– Tạ Tỵ

Một bữa, nhận được tin Thanh Tâm Tuyền được tha, qua Doãn Quốc Sỹ, chúng tôi rủ nhau tới thăm, có cả Thái Thanh. Sáng sớm, tôi và Sỹ đã có mặt tại nhà Thái Thanh ở gần chợ Thái Bình. Sau khi trèo chiếc cầu thang cao dốc ngược, tôi thấy Thái Thanh đang chải đầu. Xung quanh nhà toàn chậu hoa, tôi biết Thái Thanh mê cây cảnh. Sợ mất xe đạp, tôi và Sỹ xuống thang, chờ Thái Thanh ở dưới chân cầu thang.

Chừng 15 phút sau, Thái Thanh khoan thai, tay xách cây dù nhỏ đi xuống. Tôi và Sỹ đều gếch chân lên bàn đạp sẵn sàng. Doãn quốc Sỹ mời Thái Thanh ngồi vào chiếc pọoc-ba-ga để anh đèo, nhưng Thái Thanh nói :

– Em nặng quá, anh đèo gì nổi, từ đây lên anh Tuyền bên Gia Định xa lắm !

Nói xong, Thái Thanh đi ra phía lộ, kêu xích lô. Sau khi ngã giá, Thái Thanh bước lên xích lô ngồi, trông vẫn đúng điệu lắm. Tôi và Doãn Quốc Sỹ như hai vệ sĩ già, đạp xe lẽo đẽo theo sau. Khi xe leo khỏi con dốc Cầu Kiệu, tôi mệt muốn đứt hơi, rồi qua Lăng Tả Quân, gặp Tòa Tỉnh Trưởng Gia-Định cũ, chúng tôi quẹo trái, rồi quẹo mặt, qua Trường Trung Học Hồ Ngọc Cẩn một đoạn khá dài, chúng tôi nhìn thấy Thanh Tâm Tuyền đứng chờ ở ven đường.

Doãn Quốc Sỹ đã hẹn trước với Thanh Tâm Tuyền rồi. Lúc ấy đã gần 9 giờ sáng. Thấy đói, tôi mời tất cả vào một quán cóc bên lề đường ăn sáng, uống cà phê. Ăn uống xong, Tuyền đưa chúng tôi vào nhà bằng lối đi ngoằn ngoèo, nhỏ hẹp đến căn nhà trệt xinh xắn có hàng ba sơn màu xanh, có cả giàn hoa giấy màu tím hồng trông rất nên thơ. Vào đến trong nhà, ngoài chiếc bàn nhỏ, trên mặt để sẵn đĩa bánh bích quy loại bình dân và ấm nước trà. Cách đấy một khoảng có mắc chiếc võng. Ở cuối nhà, kê chiếc phản gỗ. Chị Tuyền, người miền Nam, trông hãy còn duyên dáng lắm ra chào, rồi xin phép phải đi có chút việc.

Thế là chỉ có chúng tôi, nói chuyện tù mãi cũng chán, Thái Thanh lấy cây đàn guitare treo trên vách xuống, so lại dây rồi hát những ca khúc của Phạm Duy, Cung Tiến. Thoạt đầu tiếng hát còn nhỏ, sau như không trấn áp nổi sự hào hứng, Thái Thanh hát thật mạnh, thật to. Tiếng hát âm vang rồi thoát qua khung cửa sổ, qua chiếc cửa ra vào không khép, nên chỉ thoáng sau, một rừng người lố nhố che kín cả khoảng rộng để nghe tiếng hát Thái Thanh. Chúng tôi vui chơi đến trưa mới ra về. Thanh Tâm Tuyền lại đưa tiễn ra tận lề đường. Chờ cho Thái Thanh kiếm được xích-lô, lúc ấy tôi và Doãn Quốc Sỹ mới đạp xe theo. Lần về, khi đến Đakao, tôi quẹo qua ngả khác đến thăm một người bạn, chì còn Doãn quốc Sỹ đưa Thái Thanh về nhà.

Trích : Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi. (xuất bản 1990.)

THÁI THANH

TIẾNG HÁT LÊN TRỜI

– Thụy Khuê

Trong những phút giây thiếu vắng trống trải nhất hay những nhớ nhung tha thiết nhất của cuộc đời, mọi hiện diện hữu hình đều vô nghĩa; ta chờ đợi một đổi trao, khát khao một giao cảm thì bỗng đâu, một hiện diện vô hình lóe lên tựa nguồn sáng, tựa tri âm: sự hiện diện của tiếng hát.

Nếu thơ là một ngôn ngữ riêng trong ngôn ngữ chung, theo Valéry, hay thi ca là tiếng nói của nội tâm không giống một thứ tiếng nói nào của con người, theo Croce, thì âm nhạc hẳn là tiếng nói của những trạng thái tâm hồn và nhạc công hay ca sĩ là nguồn chuyển tiếp, truyền đạt những rung động từ hồn nhạc sĩ đến tâm người nghe.

Thị giác giúp chúng ta đọc một bài văn, nghiền ngẫm một bài thơ, nhưng chẳng mấy ai có thể thưởng thức một bản nhạc bằng thị quan của riêng mình mà phải nhờ đến người trình diễn, đến ca công, ca kỹ. Ngàn xưa nếu người kỹ nữ bến Tầm Dương chẳng gieo “tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây” chắc gì ngàn sau còn lưu dấu vết Tỳ Bà Hành ?

Sự biểu đạt tác phẩm nghệ thuật hay sự truyền thông cảm xúc từ nhạc bản đến thính giả, nơi một vài nghệ sĩ kỳ tài, không chỉ ngưng ở mực độ trình diễn mà còn đi xa hơn nữa, cao hơn nữa, tới một tầm mức nào đó, ca nhân đã sáng tạo, đã đi vào lãnh vực nghệ thuật: nghệ thuật vô hình của sự truyền cảm, nghệ thuật huyền diệu sai khiến con người tìm nhau trong bom lửa, tìm nhau trong mưa bão, nghệ thuật dị kỳ tái tạo bối cảnh quê hương đã nghìn trùng xa cách, nghệ thuật mời gọi những tâm hồn đơn lạc xích lại gần nhau dìu nhau đưa nhau vào ngàn thu, nghệ thuật không tưởng đừng cho không gian đụng thời gian khi ca nương cất tiếng hát, tiếng hát của bầu trời, giao hưởng niềm đau và hạnh phúc : Thái Thanh.

oOo

Người ta nói nhiều đến sự nhạy cảm của phụ nữ, đến một thứ giác quan nào đó ngoại tầm nam giới. Những người đàn bà phi thường như Callas, Piaf, Thái Thanh,… đã tận dụng đến cùng cảm quan bén nhạy của mình để sai khiến, xao động, chuyển hóa ngôn ngữ, âm thanh của bài hát thành nội cảm cầm ca, cấu tạo nên một vũ trụ thứ hai, đắm đuối, cuồng say, trong lòng người :

Trời trong em, đồi choáng váng / Rồi run lên cùng gió bốn miền

Tiếng hát Thái Thanh đến với chúng ta bằng rung động trực giác rồi tan loãng trong suy tư, xoáy vào những hố sâu, những đỉnh cao, vào tiềm lực của sự sống. Trong nghệ thuật hội họa, Van Gogh dùng sắc độ chói rạng để diễn tả những cuồng nhiệt, những trận bão trong tâm hồn. Trong nghệ thuật trình diễn, Thái Thanh vận dụng tiết tấu âm thanh, tạo nên sức cuốn hút mãnh liệt giữa con người, tình yêu và vũ trụ :

Ngày đó có bơ vơ lạc về trời

Tìm trên mây xa khơi có áo dài khăn cưới

Ngày đó có kêu lên gọi hồn người

Trùng Dương ơi ! Có xót xa cũng hoài mà thôi !

oOo

Vẽ lên hình ảnh người nữ ca sĩ dưới ánh đèn sân khấu, Hoàng Trúc Ly đã có câu thơ thật hay:

Vì  em tiếng hát lên trời

Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh

Câu này, trái với vài truyền thuyết, không nhắm vào một danh ca nào nhất định, chỉ gợi lên không khí các phòng trà ca nhạc Sàigòn khoảng 1960. Nhưng tiếng hát lên trời là một hình ảnh có lẽ hợp với giọng ca Thái Thanh nhất, giữa những tiếng hát thời qua và thời nay. Thái Thanh là một danh hiệu, nhưng như có ý nghĩa tiền định : bầu-trời-xanh-tiếng-hát. Hay tiếng hát xanh thắm màu trời. Tiếng hát long lanh đáy nước trong thơ Nguyễn Du, lơ lửng trời xanh ngắt trong vòm thu Yên Ðổ, tiếng hát sâu chót vót dưới đáy Tràng Giang Huy Cận, hay đẫm sương trăng, ngừng lưng trời trong không gian Xuân Diệu, tiếng hát cao như thông vút, buồn như liễu đến từ cõi thiên thai nào đó trong mộng tưởng Thế Lữ.

oOo

Ngày nay, những khi tìm lại giọng ca huyền ảo của Thái Thanh trong tiện nghi, ấm cúng, ít ai còn nhớ đến định mệnh gian truân của một tiếng hát, những bước gập ghềnh khúc khuỷu, chênh vênh, trôi nổi, theo vận nước lênh đênh. Tiếng nhạc Phạm Duy gắn bó với tiếng hát Thái Thanh thành tiếng của định mệnh, chứng nhân của nửa thế kỷ tang thương, chia lìa trên đất nước. Tiếng Thái Thanh là tiếng nước tôi, là tiếng nước ta, là tiếng chúng ta, là tiếng tình yêu, là tiếng hy vọng, là tiếng chia ly, oan khổ…

Tiếng hát Thái Thanh vang vọng những đớn đau riêng của phận đàn bà, mà người xưa đã nhiều lần nhắc đến bằng những công thức: hồng nhan đa truân, tài mệnh tương đố, tạo vật đố hồng nhan. Giọng hát Thái Thanh dịu dàng đằm thắm nhưng vẫn có chất gì đắm đuối và khốc liệt. Thái Thanh tình tự những khát vọng và những đau thương của hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, những thế hệ đàn bà bị dập vùi trong cuộc chiến kéo dài hằng nửa thế kỷ, kèm theo những giằng co tranh chấp, những băng hoại của một xã hội bất an. Nạn nhân âm thầm, vô danh là những người tình, những người vợ, những người mẹ đã có dịp nức nở với tiếng hát Thái Thanh: từ o nghèo thở dài một đêm thanh vắng đến nàng gánh lúa cho anh đi diệt thù, đến lúc anh trở về bại tướng cụt chân, đến nhiều, rất nhiều bà mẹ Việt Nam, từ Cai Kinh ngang tàng đến Gio Linh Ðồng Tháp suốt đời cuốc đất trồng khoai… Tiếng hát Thái Thanh là tiếng vọng khuya khoắt của những cơn bão lịch sử.

Và Thái Thanh đã sống lăn lóc giữa cơn lốc đó. Từ tuổi mười lăm, mười bảy, cô Băng Thanh – tên thật Thái Thanh – đã mang ba-lô theo kháng chiến chống Pháp : Hà Nội, khu III, khu IV, chợ Sim, chợ Ðại, chợ Neo, Trung Ðoàn 9. Về thành, cô đã góp công, tích cực và hiệu lực vào việc củng cố, phát triển nền tân nhạc phôi thai với ban hợp ca Thăng Long, sau đó là kiếp ca nhi phòng trà những nơi gọi là “Sài Thành hoa lệ”, những đêm màu hồng, chiều màu tím.

Trong mười năm sa mạc, Bầu trời xanh không hát, chim gìn giữ tiếng, tiếng chim Thanh như lời Phạm Duy trong một tổ khúc. Sang Hoa Kỳ, Thái Thanh hát lại, vẫn đắm say, vừa kiêu sa vừa gần gũi, đam mê và điêu luyện.

oOo

Thái Thanh tạo cho mỗi tác phẩm một sinh mệnh mới : Bài hát được “Thái Thanh hóa”, như đã đạt được “đỉnh cao” của cuộc đời, từ đó khó tìm thấy ai đưa nó vượt lên cao hơn nữa. Bởi Thái Thanh, ngoài giọng hát điêu luyện phong phú mở rộng trên nhiều cung bậc, còn có nghệ thuật làm nổi bật lời ca trong nhạc khúc và tạo ra một khí hậu, một tâm cảnh chung quanh bài hát. Nghe Thái Thanh hát là thưởng thức một khúc nhạc, một bài thơ, trong một thế giới nghệ thuật trọn vẹn. Giọng hát xoắn sâu, xoáy mạnh vào tâm tư người nghe, khi lâng lâng, khi tẻ buốt, sai khiến tâm tư vươn lên, hay lắng xuống. Giọng hát Thái Thanh tha thướt và tha thiết buộc người nghe phải sống cao hơn, sâu hơn, sống nhiều hơn. Tiếng hát Thái Thanh có lúc gợi cảm, khơi tình, hổn hển như lời của nước mây như lời thơ Hàn Mặc Tử.

Khi tiếng hát cất lên, dường như mọi hữu thể làm bằng sỏi đá, sắt thép, thân xác và nước mắt phút chốc tan biến, trở nên vô hình, vô thể, hóa thân trong tiếng hát, khi trầm mặc, khi vút cao; Thái Thanh, phù thủy của âm thanh là một thứ Ðào Nương trong truyền thuyết có ma lực hú về những âm tình u khuất.

oOo

Trong những cassette giới thiệu nhạc của mình, Phạm Duy một đôi lần có lưu ý Thái Thanh thỉnh thoảng hát sai. Dĩ nhiên một tác giả có quyền đòi hỏi người khác phải trung thành với văn bản của mình; riêng trong nghề ca xướng, nghệ nhân vẫn có thông lệ đổi vài chữ cho hợp với hoàn cảnh, nhất là ở Việt Nam, nền văn nghệ trình diễn vốn dựa trên truyền thống truyền khẩu lâu đời.

Ví dụ như bài Cho Nhau, Phạm Duy viết :

Cho nhau ngòi bút cùn trơ…

Cho nhau, cho những câu thơ tàn mùa

Cho nốt đêm mơ về già

Thái Thanh hát :

Cho nhau ngòi bút còn lưa …

Cho nối đêm mơ về già

Lưa là một chữ cổ, có nghĩa là còn sót lại, nhưng mang một âm thanh u hoài, luyến lưu, tiếc nuối. Ca dao Bình Trị Thiên có câu :

Trăm năm dù lỗi hẹn hò

Cây đa bến Cộ con đò vắng đưa

Cây đa bến Cộ còn lưa

Con đò đã thác năm xưa tê rồi.

Chính Phạm Duy cũng có lần sử dụng chữ lưa trong bài Mộng Du : Ta theo đường mộng còn lưa… Dĩ nhiên ngòi bút cùn trơ chính xác hơn, nhưng không thi vị bằng ngòi bút còn lưa.

Cho nốt đêm mơ về già, như Phạm Duy đã viết, là cho phứt đi, cho đi cho xong. Thái Thanh thay chữ nốt bằng chữ nối, tình tứ và thủy chung hơn : những giấc mơ về già chỉ là tiếp nối những giấc mơ tuổi xuân mà anh không tặng được em vì gặp em quá muộn; cho nhau chỉ còn trái đắng cuối mùa, nhựa sống trong thân cây chỉ còn dâng được cho em dư vị chua chát và cay đắng.

Phạm Duy viết :

Cho nhau thù oán hờn ghen…

Cho nhau cho cõi âm ty một miền

Thái Thanh hát :

Cho nhau cho nỗi âm ty một miền

Chữ nỗi vô tình buông ra mà hay hơn chữ cõi, vì cõi chỉ là một miền, một không gian, một ý niệm hiện hữu, có vẻ bao la nhưng thực ra hữu hạn. Chữ nỗi vô hình, nhỏ bé nhưng vô hạn, đi sâu vào tâm linh con người: với tuổi già nỗi chết nằm trong cuộc sống. Cho em nỗi chết là cho tất cả những niềm hoang mang, khắc khoải, đau thương còn lại, nghĩa là chút tình yêu còn lưa trong từng nhịp đập yếu ớt của trái tim đã cạn dần cạn mòn hết những mùa xuân.

oOo

Nói như thế, không có nghĩa là khuyến khích ca nhân đổi lời tác giả. Chính Thái Thanh nhiều khi hát sai, ví dụ như trong Về Miền Trung : Tan thân thiếu phụ, nát đầu hài nhi mà đổi ra thành Thương thân thiếu phụ, khóc đầu hài nhi là hỏng, nhưng người nghe dễ nhận ra và điều chỉnh. Nhiều chỗ sai, người nghe không để ý.

Ví dụ câu này có thể xem như là một trong những câu hay nhất của Phạm Duy và tân nhạc Việt Nam :

Về miền Trung còn chờ mong núi về đồng xanh

Một chiều nao đốt lửa rực đô thành

Thái Thanh hát một chiều mai đốt lửa... là đánh vỡ một viên ngọc quý. Chữ nao mơ hồ, phiếm định, chỉ là giấc mơ ánh sáng, màu sắc của nghệ sĩ – mà Nguyễn Tuân gọi là cơn hỏa mộng – nó chỉ là hình ảnh nghệ thuật, chứ Phạm Duy mong chi ngày đốt kinh thành Huế ? Có lẽ ông còn giữ trong ký ức câu thơ của Chính Hữu trong Ngày Về mà ông rất thích :

Bỏ kinh thành rừng rực cháy sau lưng

oOo

Thơ không thể dịch được, nghĩa là không thể chuyển thơ từ ngôn ngữ nước này sang ngôn ngữ nước khác mà không làm mất hồn thơ, làm mất chất thơ, nhưng có thể chuyển thơ sang hình thức nghệ thuật khác như chuyển thơ sang nhạc hay phổ nhạc những bài thơ hoặc ngược lại, đặt lời thơ cho bản nhạc.

Chúng ta có nhiều nghệ sĩ sáng tác những nhạc khúc tuyệt vời với ngôn ngữ thi ca, nhưng chúng ta có ít ca sĩ thấm được hồn thơ trong nhạc bản. Ðạt tới tuyệt đỉnh trong ngành trình diễn, Thái Thanh nắm vững cả bốn vùng nghệ thuật: nghệ thuật truyền cảm, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật thi ca và nghệ thuật phát âm tiếng Việt, giữ địa vị độc tôn trong tân nhạc Việt Nam gần nửa thế kỷ: Thái Thanh chẳng cần làm thơ cũng đã là thi sĩ.

Giữa những phôi pha của cuộc đời, tàn phai của năm tháng, giọng hát Thái Thanh vang vọng trong bầu trời thơ diễm tuyệt, ở đó đau thương và hạnh phúc quyện lẫn với nhau, người ta cho nhau cả bốn trùng dương và mặc tàn phai, mặc tháng năm, tiếng hát vẫn bay bổng ở chốn trần gian hoặc ở vô hình.

(Paris, tháng 11-1990)

Chú thích : Những lời ca trích trong bài này của nhạc sĩ Phạm Duy.

CLIP TIẾNG HÁT THÁI THANH

Nhiều bài nghe Thái Thanh ca không thể nào chán được,

http://chuvanan.free.fr/ThaiThanh/

Cột bên trái liệt kê một số tên những bản nhạc mà Thái Thanh đã trình diễn. Nếu bấm vào tên một bản nhạc thì lời ca bản nhạc đó sẽ hiện lên cùng với hình Thái Thanh chụp hồi đó. Nếu bấm vào cái loa nằm trước tên bản nhạc thỉ sẽ được nghe Thái Thanh hát  dưới dạng Windows Media Player. Mời thưởng thức.

Quế Phượng (tổng hợp)

“Chú Tư Cầu” LÊ XUYÊN

Nhà văn LÊ XUYÊN

TIỂU THUYẾT GIA

VĂN CHƯƠNG NAM BỘ

Viên Linh

Ðược bạn ra đề tài viết về “đồng quê miền Nam” Lê Xuyên viết truyện đầu tiên trong đời : Chú Tư Cầu.

Nhà văn Lê Xuyên mất khoảng 21:30 ngày 2/3/2004 tại Sài Gòn, hai ngày sau một cuộc họp mặt tưởng niệm đã được diễn ra trọng thể tại một hội trường ở Hoa Kỳ, với di ảnh người quá cố và một bình hoa bày trên diễn đàn, cùng rất đông văn nghệ sĩ trí thức, bạn đồng nghiệpnăm xưa, và thân hữu độc giả hâm mộ, đã tới nhắc nhở về anh, kể chuyện về anh, trong không khí trang nghiêm mà ấm áp.

Diễn giả Võ Long Triều, nguyên chủ nhiệm nhật báo Ðại Dân Tộc mà Lê Xuyên là tổng thư ký Tòa soạn, vừa cất tiếng đọc bài tưởng niệm “Lê Xuyên ơi !…” thì nghẹn ngào, không đọc được nữa, khiến nhà thơ Ðỗ Quí Toàn phải đọc thay. Lần lượt lên phát biểu có tác giả Viên Linh, từng viết truyện dài cho tờ Dân Ý khi Lê Xuyên cũng làm tổng thư ký, và các nhà văn Thảo Trường, ông Hoài Sơn, ký giả Vũ Ánh…

Người viết bài này những năm trước 1975 đã bốn lần phỏng vấn Lê Xuyên, mỗi lần phỏng vấn theo một đề tài riêng, không kể những cuộc trò chuyện vô đề, lúc này lúc khác, khi ở tờ báo này, lúc ở tòa soạn khác, hay nơi quán xá, hội trường câu lạc bộ báo chí, v.v… Trong những lần đó, đề tài “Tác phẩm đầu tay” là thú vị nhất.

Trong nghiệp văn, cho dù nổi tiếng đến đâu, hậu vận ra sao mặc lòng, đứa con đầu đời của một nhà văn – tức là tác phẩm đầu tay của nhà văn đó – hầu như chiếm một chỗ lớn nhất, đẹp nhất, trong trí tưởng của người sáng tạo ra nó. Trường hợp vào nghề của Lê Xuyên rất đẹp. Mà tác phầm đầu tay của ông, có thể nói là hiếm hoi, lại là tác phẩm nổi tiếng nhất, quan trọng nhất của ông.

Câu hỏi được đưa cho ông là một lá thư đánh máy gửi đi. Và câu trả lời của Lê Xuyên là một hai tờ giấy viết tay, gửi lại.

Nhà văn Lê Xuyên nói về tác phẩm “Chú Tư cầu”

“Chú Tư Cầu, một chuyện tình kể trong bốn bức tường nhà giam, hễ nghe ai đá động tới là tôi không được mấy yên bụng.

“Ý kiến, cảm tưởng của tôi về tác phẩm đầu tay ? Thật là khó nói. Vì việc tôi vào nghề báo cũng như viết truyện dài đầu tiên đăng trên nhựt báo, bất quá cũng chỉ là một vấn đề số mạng.

“Ðành rằng hồi còn nhỏ, hồi còn đi học tôi cũng thích làm văn, làm thơ, nhưng quả tình tôi không ngờ có ngày mình lọt được vô nghề này. Truyện dài đầu tay của tôi là ‘Chú Tư Cầu’ đăng trên nhựt báo ‘Sài Gòn Mai.’ Ðang thất nghiệp, tôi được anh Vương Hữu Ðức (lúc bấy giờ là tổng thư ký tòa soạn nhựt báo Sài Gòn Mai) gọi tới để làm phụ với anh, và cũng chính anh Ðức đã bảo tôi viết cho tờ S.M. một truyện dài ‘đồng quê miền Nam.’ Có lẽ vì tin tưởng phần nào ở tôi, và chắc do khiếu ‘đánh hơi’ nhà nghề nên anh Ðức chỉ ‘hạ lịnh’ vỏn vẹn cho tôi như thế. Và tôi bắt đầu viết ‘Chú Tư Cầu.’

“Cũng may là hồi còn kẹt trong tù, tôi được mấy anh em ở miệt quê kể cho nghe rất nhiều câu chuyện sống với đầy đủ tình tiết (mà Chú Tư Cầu là một) và trước khi bị kẹt, có một thời gian tôi về ẩn náu tại miền Tây, nên chụp vô chuyện Chú Tư Cầu là tôi viết phăng tới liền, chớ nếu không, thì ‘tang gia bối rối’ biết bao nhiêu !

“Giả sử lúc bấy giờ anh Ðức bảo tôi viết truyện gián điệp hay truyện ma gì đó, tôi cũng viết như thường. Như vậy chẳng do ‘phần số,’ chẳng do ‘thiên định’ là gì ?

“Chưa hết. Sau này, khi tôi viết truyện thứ ba hay thứ tư gì đó, trong một lúc ‘tâm tình cởi mở’ với tôi, ông chủ nhiệm S.M. có tiết lộ rằng hồi tôi mới bắt đầu viết truyện ‘Chú Tư Cầu,’ có người mấy lần khuyên ông nên ‘cúp’ truyện này để thay thế vào một truyện khác, nhưng ông không nghe. (nhưng chắc có lúc ông gần xiêu lòng !) Lời tiết lộ nầy (tuy rất ‘vô hại’) cũng đủ làm cho tôi muốn đổ mồ hôi hột. Giả sử ông chủ nhiệm chịu nghe lời khuyến cáo ấy ? – thì làm gì có trọn truyện ‘Chú Tư Cầu’ – cái được gọi là ‘tác phẩm đầu tay’ của tôi ! Và làm gì còn có Lê Xuyên trên cõi đời này !

“Tất cả chỉ là một thứ hên xui khá toát mồ hôi lạnh đối với một kẻ sống về nghề văn, nghề báo. Bởi vậy, ngày nay, hễ nghe ai đá động đến chuyện ‘tác phẩm đầu tay’ là tôi không được mấy ‘yên trong bụng.’ Ðời tôi, tôi còn phải đương đầu rất nhiều với sự hên xui kia mà ! Và bộ hên hoài được sao ?”

Trong phần trả lời, nhà văn Lê Xuyên có nhắc tới mấy chữ “hồi còn kẹt trong tù.” Ðộc giả có thể không rõ lắm, nếu không tìm hiểu thêm về ông.

Lê Xuyên tên thật Lê Bình Tăng, sinh năm 1927 tại Cần Thơ, hoạt động cầm súng chống Pháp từ trước năm 20 tuổi.

Ở tuổi có ý thức chính trị, ông tham gia đảng phái, cùng hoạt động chung, ở chung phòng với một đảng viên khác rất nổi tiếng là Phạm Thái. Người sau này từng xuất bản tờ báo tranh đấu có tên Tự Quyết ở Sài Gòn. Một nhà cách mạng lão thành khác của đảng Ðại Việt, là ông Hoài Sơn, có lên Diễn Ðàn hôm 5/3/2004 kể rằng Lê Xuyên người thì gầy gò nhỏ bé, nặng có hơn bốn mươi mấy ký lô, nhưng “nhận định thời cuộc rất sắc bén.” Tuy vậy ông ít nói. “Nếu Phạm Thái nói không ngừng, anh em trong phòng gọi là ‘máy nói,’ thì Lê Xuyên bị gọi là ‘máy câm.’”

Lê Xuyên, vì hoạt động đảng phái, nên ở tù thời gia đình trị Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam. Mãi 1960 mới được thả. Một nhà văn nói nhiều có khi chỉ viết được những cuốn sách mỏng; còn Lê Xuyên đã sản xuất những cuốn sách khoảng bảy, tám trăm trang. Không có cuốn truyện nào của ông mỏng hơn bốn trăm trang cả. Chú Tư Cầu: 907 trang. Ðêm Không Cùng: 639 trang. Rặng Trâm Bầu: 419 trang. Vợ Thầy Hương: 496 trang. Vùng Bão Lửa: 543 trang.

Nhà Văn Lê Xuyên

Những Ngày Cuối Đời

– Văn Quang

Gần 10 giờ đêm 2/3/2004, chị Lê Xuyên điện thoại cho tôi báo tin anh Lê Xuyên vừa mất lúc 9 giờ 20, tức là cách đó nửa giờ. Lời chị kèm theo rất chân tình :

– Tôi gọi cho anh trước khi gọi cho nhà đòn.

Tôi hiểu ý chị và phải nói tôi hiểu từ lâu mới đúng. Gia đình anh chị trong hoàn cảnh sinh sống rất khó khăn chật vật, vì thế nên tôi đã dặn chị trước : nếu có chuyện gì cần chị cứ gọi cho tôi. Tôi không tin vào tôi mà tin vào tình yêu thương của bạn bè từ khắp nơi luôn sẵn sàng giúp đỡ Lê Xuyên nên hứa ngay : Chị cứ lo mọi việc cho tang lễ của anh, còn chuyện khác để anh em chúng tôi lo. Chị vui vẻ :

– Nếu thế tôi an tâm rồi.

Buông điện thoại, tôi hoàn toàn không ngạc nhiên trước cái tin buồn này. Từ hai năm nay, Lê Xuyên nằm một chỗ, có thể nói thẳng nằm đó chờ ngày “về với ông bà”. Một năm trước đây thôi, anh phải vào bệnh viện, chị cũng gọi cho tôi, chị cho tôi xem giấy “nhập viện” của anh và số tiền phải trả. Tôi cũng lại làm cái nhiệm vụ thông báo cho một số anh em ở nước ngoài để kiếm tiền trả bệnh viện. Không phải chỉ có riêng chúng tôi mà còn những người quen khác của anh, những người bạn đồng hương, những người học cùng trường cùng lớp, có cả những người không hề quen biết cũng xúm nhau vào chung lo. Hầu như ai cũng hiểu rằng ngày “ra đi” của anh không xa. Nhưng may mắn, anh vẫn còn qua được vài mùa xuân. Những lần sau này tôi đến thăm anh, anh nằm đó nhưng tỉnh táo, không nói chuyện được song hỏi nhiều điều, anh vẫn nhớ, vẫn hiểu. Khi anh gật đầu, thỉnh thoảng có được một nụ cười, đôi mắt ánh lên một niềm vui. Nhất là khi tôi cố gợi lại một vài câu chuyện vớ vẩn từ hồi xa xưa chúng tôi gặp nhau ở ngoài đường hoặc ở toà soạn một vài tờ báo.

Để cho anh được sống lại với những kỷ niệm cũ, tôi kể lại một buổi sáng sớm vào khoảng năm 1971-72, sau một đêm đánh chắn với vợ chồng ông chủ báo Kịch Ảnh đường Cống Quỳnh, tôi lái xe về nhà. Qua đường Lê Lai, tôi thấy Lê Xuyên cúi đầu đi trên hè phố. Tôi đậu xe sát lại, Lê Xuyên vẫn chưa thèm nhận ra là xe của ai. Tôi bóp còi, lúc đó anh mới ngước lên nhìn và toét miệng cười. Ít khi ông Lê Xuyên cười lắm. Tôi đẩy cửa xe, thò đầu ra hỏi :

– Ăn sáng chưa ?

– Chưa… gì hết trọi, có tiền đâu mà ăn.

– Lên đây, tôi đưa ông đi ăn sáng.

Leo lên xe, anh hỏi thẳng :

– Đêm qua được hay thua ?

– Được.

– Nhà không còn một xu, tui để tiền trong túi cũng hết luôn.

Tôi cười và hiểu cái sự “hết tiền trong túi” của anh dù mới lãnh lương. Móc trong cóp xe, tôi chia cho anh một nửa số tiền được bạc đêm hôm qua và dặn dò rất kỹ :

– Mang về toà soạn cất vào ngăn kéo để tiêu dần đấy.

– Ừ, tốt. Ông ăn sáng chưa, cho tôi đi với. Lâu rồi không được ăn đồ Tây.

Tôi cười :

– Ra Givral hay Brodard, ông thích chỗ nào.

– Đâu cũng được.

Chúng tôi ra Givral, sáng sớm tinh mơ chỉ có hai bàn có khách. Tôi gọi mì jambon là món “đặc sản” ở đây còn Lê Xuyên gọi omelette jambon ngồi nhai bỏm bẻm lấy làm thú vị lắm. Ăn xong tôi bảo ông có tiền rồi, lấy xe taxi về toà soạn, tôi phải về nhà thay quần áo rồi còn vào phải vào sở chào cờ vì hôm nay là sáng thứ hai. Lê Xuyên cười hì hì :

– Cả đời tôi chưa biết chào cờ là cái gì. Tôi chỉ chào ông chủ báo khi lần đầu tiên đến làm. Ngô Quân cũng thế mà Hồ Anh cũng thế.

Thỉnh thoảng tôi đưa bài đến báo Thời Thế, đôi khi vào buổi trưa, tôi lại rủ Lê Xuyên đi ăn trưa, hôm có tiền thì chui vào Chợ Lớn ăn cơm Tàu Bát Đạt. Có lần tôi rủ :

– Chúng tớ có cái phòng thuê ở trên lầu ba để thỉnh thoảng chơi phé, lấy tiền sâu gửi lại tay quản lý nên bất cứ lúc nào cần phòng là có ngay. Ông có muốn nằm lại đây một buổi không ?

Bản tính anh hiền lành nên hỏi lại :

– Nằm làm gì, tôi phải về làm việc chứ.

– Ông ngây thơ thật hay ngây thơ cụ, ông cứ lên với tôi là biết ngay “nằm làm gì”. Ông muốn Tàu cũng có mà ta cũng có.

Dĩ nhiên đến nước này thì ông bạn tôi phải hiểu, nhưng ông lắc đầu quầy quậy như anh con trai mới lớn bị bà mẹ bắt lấy vợ sớm. Tôi đưa ông trở lại toà soạn và xác nhận với anh em rằng “Lê Xuyên nó đứng đắn thật các ông ạ”. Một ông bạn tôi cãi : “Nó nhát chứ đứng đắn cái gì”. Thôi thì nhát cũng được, đứng đắn cũng được nhưng nó không giống tụi mình. Và một điều ai cũng nhận thấy là chưa bao giờ thấy mặt Lê Xuyên ở bất cứ cái phòng trà tiệm nhảy nào, ngay cả chỗ đông người anh cũng tránh. Tôi cứ lẩm cẩm ngồi nhắc lại từng chuyện khiến anh thú lắm, đó là lúc anh được sống với dĩ vãng.

Cũng vào khoảng thời gian đó, tờ báo Thời Thế có một loạt bài điều tra phóng sự về một vụ tham nhũng của một ông “Tướng Vùng”. Ông Tướng nhờ một Đại tá và một Trung tá gặp tôi để nhờ tôi can thiệp. Tôi chẳng biết trắng đen ra sao, nhưng đã có lời nhờ thì tôi làm. Tôi gọi điện thoại cho Lê Xuyên để nói với anh những gì tôi được nghe và đề nghị anh “thông cảm” cho ngưng loạt bài đó kẻo làm mất uy tín của một người chỉ huy vùng chiến thuật. Lê Xuyên nói ngay :

– Ông nói thì tôi nghe, nhưng để tôi thu xếp với anh em cho có đầu có đuôi.
Sau đó tôi điện thoại cho ông chủ báo Hồ Anh, lúc đó tôi mới biết đã có một hai ông nghị sĩ dân biểu can thiệp, nhưng Lê Xuyên vẫn cứ tiếp tục cho đăng loạt bài này. Ông Hồ Anh bảo tôi cứ nói chuyện với Lê Xuyên, nếu anh ấy chịu thì không có gì trở ngại.
Chỉ có thế thôi. Rất bất ngờ, hôm sau tôi đọc được hàng chữ trên trang nhất : “Vì có người bạn chúng tôi can thiệp nên chúng tôi thấy cần phải chấm dứt loạt phóng sự này”.

Quả thật đó là điều khiến tôi hết sức cảm động và ngay lúc đó tôi trở nên áy náy vì biết đâu đó là một sự thật mà công sức của anh phóng viên trẻ đã bỏ ra bị tôi “kỳ đà cản mũi”. Tôi gọi lại cho Lê Xuyên, anh chỉ cười :

– Thông cảm với phóng viên rồi, nó bảo ngưng cũng được, viết thế đủ rồi.

Tôi rủ anh đi ăn trưa, anh nói :

– Tôi vừa ngưng phóng sự mà đi ăn với ông thì khác gì đi ăn hối lộ. Thôi hôm nào ông được bạc mình lại đi ăn đồ Tây. Hôm nay tôi bận quá ông ạ.

Lê Xuyên cúp máy và tôi thì cứ ân hận, chẳng hiểu vì sao. Chuyện này còn có nhiều nhân chứng còn sống ở đâu đó, may ra họ còn nhớ. Tôi thì chẳng bao giờ quên.
Hơn mười năm sau, khi tôi ở trại cải tao ra, Thanh Thương Hoàng dẫn tôi đến thăm Lê Xuyên. Anh ngồi bán thuốc lá lẻ ở một góc phố (*). Chiếc quầy thuốc bé tẹo nhưng cũng đủ che hết tấm thân gầy gò của anh. Chúng tôi nhìn nhau và cùng cảm thông rất sâu sắc cái thân phận mình lúc này. Anh chớp mau mắt nói như để an ủi hơn mười hai năm tù của tôi :

– Trông ông vẫn cứ phong độ như ngày nào.

Tôi thẳng thừng thương bạn :

– Còn ông, trông chán bỏ mẹ. Đ… khóc được chứ…

Hai bàn tay bạn tôi run lên, lật bật đút chiếc chìa khoá vào ngăn tủ kính để mấy gói ba số năm bán lẻ (hồi đó ba số năm quý lắm) :

– Hút thuốc lá không ?

– Không, tớ hút thuốc lào quen rồi, về đây hút thứ nặng hơn mới đủ đô.

Thanh Thương Hoàng rủ sang bên con hẻm phía trước ăn sáng. Đó là con hẻm lối đi vào một ngôi chùa hay ngôi đình gì đó. Không có hủ tíu, Lê Xuyên phải chạy đi gọi ở một nơi nào quen bán chịu cho anh ở gần đó. Lê Xuyên trở lại với con người thật của anh. Vẫn hiền lành, cười tủm và chân quê. Phải nhìn thấy cái cười tủm của anh mới biết tại sao anh viết về những cuộc tình của những đôi trai gái đồng ruộng miền Nam hay đến như thế, láu cá đến như thế. Tôi nhủ thầm : Thằng cha này tâm ngẩm tầm ngầm mà ghê lắm đấy. Nó không nói mà chỉ viết nên nó viết được nhiều hơn mình. Chỉ có nó mới viết được những “dòng chảy ngầm” của trai gái thôn quê miền Nam thật đến thế và hấp dẫn đến thế. Lê Xuyên khác với một số những cây bút hoàn toàn Nam Bộ như Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam ở chính cái “thật” của anh, tiểu thuyết của anh không màu mè, không lý luận, không khoác bộ áo nghiên cứu sưu tầm về phong tục tập quán dưới hình thức này hoặc dáng vẻ khác. Từng động tác, từng thái độ, từng lối ứng xử trong nhân vật của anh cứ như những con người thật lồ lộ đang ở trước mặt chúng ta vậy.

Trước mặt tôi, ông già Lê Xuyên vẫn còn cái hóm hỉnh riêng, nhưng bây giờ thì như anh nói : “..Đếch viết nữa”. Tôi hỏi không viết được hay không thích ? Câu trả lời của anh gọn lỏn : “Bỏ đi Tám”. Tôi không thể hiểu nổi ba chữ “bỏ đi Tám” mà anh dùng. Có một nỗi chua chát nào đó trong cái tâm sự thật của anh ? Đến cái thẻ chứng minh nhân dân anh cũng không muốn làm nên anh ở nàh anh mà anh không có tên trong sổ hộ khẩu, cứ như ở lậu, công dân lậu. Thái độ đó có đồng nghĩa với sự “Bỏ đi Tám” của anh không ? Chỉ có anh mới hiểu và bây giờ anh mang theo anh về thế giới bên kia.
Cách đây vài năm, tôi có viết một bài về Lê Xuyên và may mắn nhận được sự giúp đỡ thiết thực của khá nhiều bạn bè. Trong đó có một vài tờ báo muốn đăng lại những truyện dài của anh, tôi hỏi, anh chỉ lắc đầu: “Chẳng còn cuốn nào” và cả chị Lê Xuyên cũng không kiếm được cuốn nào cả.

Ba năm sau cùng, anh không còn sức để ngồi bán thuốc lá lẻ nữa. Thỉnh thoảng tôi và Nguyễn Thuỵ Long đến thăm anh, cố dìu anh ra quán cà phê cuối ngõ ngồi lai rai tâm sự vặt. Hai năm sau này thì dù chúng tôi có cố lôi anh đi cũng không nổi nữa. Anh như cái bóng trong góc tối của gian phòng chật chội vây quanh bởi hàng trăm thứ lỉnh kỉnh nào bàn ghế, chai lọ, giường tủ. Chỉ có cô con gái út săn sóc cho anh, bà vợ và các con lớn của anh vất vả với công việc hàng ngày. Cái chết đến từ từ theo từng ngày giờ buồn tênh, dường như anh chán cả cái sống và cái chết, không thèm chú ý đến nó nữa.

Khi tôi đến với anh lần cuối là lúc các con anh đang thay quần áo cho anh trước khi nhập quan. Cái thân hình gầy gò trần trụi của anh phơi ra, tất cả chỉ còn có thế. Tôi chuyển ngay cho chị số tiền mà tôi mới gửi e-mail tối hôm qua thông tin về sự ra đi của anh, nhanh chóng được đáp ứng. Các bạn ở Virginia, San Jose, Santa Ana yêu cầu tôi chuyển tiền đến lo tang lễ cho anh. Một người bạn đưa ngay đến 2 triệu và mang đến vòng hoa đầu tiên của bạn bè Sài Gòn. Hôm sau chị Lê Xuyên với bà con đến phúng :

– Có các bác bạn văn của nhà tôi giúp nên tôi mạnh tay làm đủ thứ việc cho nhà tôi. Mạnh vì gạo bạo vì tiền, có phải không các bác ? Không có bạn bè, tôi chẳng còn biết xoay sở ra sao.

Tôi nói với chị :

– Chắc sẽ còn nữa, có một số anh em chưa gửi về kịp, xin chị an tâm đi tiếp con đường ai cũng phải đi.

Buổi chiều ngày 5/3, đúng hai giờ lễ động quan bắt đầu, giữa trời nắng chang chang, chúng tôi đưa người quá cố đến nghĩa trang Bình Hưng Hoà. Có rất nhiều người bên hè phố lặng lẽ tiễn đưa anh. Đám tang nhà văn Lê Xuyên không ồn ào như đám tang của những nhà nghệ sĩ mà ở đây người ta cho rằng đó là những “nhà nghệ sĩ lớn”, nhưng những con người thầm lặng ấy đưa tiễn anh với tất cả tấm lòng mình. Họ không nói gì, không có kèn saxo như trong đám tang Trịnh Công Sơn, không có những giọt nước mắt dài ngắn thở than của những danh ca nghệ sĩ, không có những bài “điếu văn” lâm ly bi đát, nhưng đám tang Lê Xuyên đầy ắp những tình yêu thương từ xa xưa đọng lại, từ bốn phương, tám hướng lãng đãng bay về phủ kín khung trời Sài Gòn.

(*) Xe thuốc lá đẩy nằm trên đường Nguyễn Tri Phương Q10

(chú thích motthoisaigon)

Về nhà văn lão thành Lê Xuyên

– Nguyễn Việt

Tháng 3/2011 là tháng tròn 7 năm ngày mất của nhà văn lão thành Lê Xuyên. Và khi nhắc đến tên ông, không kể giới văn nghệ sĩ, ký giả còn đa số mọi người dân miền Nam khi xưa và đến bây giờ hình như từ trong nước ra đến hải ngoại đều biết đến tên ông qua tác phẩm “Chú Tư Cầu”, một giọng văn giản dị nhưng xúc tích nhiều ngôn từ, ngữ điệu của người miệt đồng bằng sông Cửu Long.

Tôi nhớ mãi một kỷ niệm khó quên, do là người trong ban biên tập của nhật báo Trắng Đen, phụ trách trang trong tức trách nhiệm với những bài vở chuyên mục và cả những feuilleton (tiểu thuyết trường thiên tải đăng mỗi ngày) từ các nhà văn tên tuổi bấy giờ như Trần Đức Lai, Vị Thủy, Lê Xuyên, bà Lan Phương, Trương Đạm Thủy, Kim Sơn, Từ Khánh Phụng, Thương Lan v.v…

Nhà văn Lê Xuyên lúc đó đang làm tổng biên tập bên báo Dân Ý (có trụ sở tòa soạn trên đường Gia Long, đối diện rạp long Phụng) nhưng báo nào mời ông viết feuilleton ông cũng gật đầu cái rẹt. Tính ra, lúc đó mỗi ngày nhà văn Lê Xuyên phải nạp bài cho 3, 4 tờ báo và còn chịu trách nhiệm bài vở bên tờ Dân Ý. Nhiều người nói ông phát tài, với chức vụ và các feuilleton đó, mỗi tháng ông lãnh lương cũng gần cả trăm ngàn. Nên biết với tên tuổi của nhà văn Lê Xuyên, không báo nào trả tiền tác quyền dưới 15 ngàn/tháng (những nhà văn khác chỉ ở khoảng 10 đến 12 ngàn) mà vàng lúc đó chỉ trên 30 ngàn/lượng. Vậy mà ông vẫn đi chiếc vespa cà tang “thời Bảo Đại còn ở truồng tắm mưa” (theo lời dí dỏm của các đồng nghiệp với ông).

Ông chủ báo Trắng Đen giao nhiệm vụ cho tôi, người phụ trách các feuilleton “không để chừa trắng tiểu thuyết của ai với lời cáo lỗi : tác giả bị bệnh bất ngờ, xin cáo lỗi tạm ngưng 1 kỳ”. Ông chủ báo còn nhấn mạnh, nhất là những tiểu thuyết đang “ăn khách” của Trần Đức Lai, Lê Xuyên.

Chính vì lẽ đó, đôi khi có nhà văn bị cảm cúm thật, đôi khi vì quá mệt  mỏi bởi các bài vở khác không còn thời gian… viết. Nhà văn Lê Xuyên thì thường xuyên, nói theo ngôn từ hiện đại ngày nay là bị quá tải, nên luôn luôn trễ giờ hay quên “nộp bài” cho báo. Tôi phải ngồi nặn… thêm khúc không có bài để không “cáo lỗi cùng bạn đọc”. Nhưng mình đâu phải cha đẻ cốt truyện, cho nên những đoạn văn ấy chỉ dám tả cảnh, hay trở lại hồi tưởng v.v… cho trang báo lúc nào cũng đầy chữ. Mà qua bên báo Dân Ý hối ông nộp cũng không xong, đành phải thất lễ.

Một hôm nhà văn Lê Xuyên – sau khi quên nộp bài – ông đến không như những nhà văn khác với bộ mặt giận dỗi – một phần do tự ái, bởi những báo khác nếu không nộp bài kịp giờ thì họ chừa trắng – ông đến lại cười cười nói với tôi “chú mày muốn chia lương với tao sao ?” biết câu nói đùa, nhưng tôi vẫn phải thanh minh “ông chủ báo không cho em để trắng tiểu thuyết của ai, qua hối anh viết cũng không xong, đành viết theo kiểu vô thưởng vô phạt nhằm trám chỗ chờ anh giao bài tiếp thôi mà”. Nhà văn Lê Xuyên, vẫn nụ cười nhân hậu nói : “Ừ để tao cố gắng giao bài cho chú mày đều đặn”.

Tính nhà văn Lê Xuyên là như vậy, và nghề viết feuilleton cũng thường gặp những trường hợp này.

Lê Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

Họa sĩ TÚ DUYÊN & NS NG. ĐỨC QUANG

HỌA SĨ TÚ DUYÊN

như một

ngọn núi dũng mãnh

Buổi trưa. Con đường Nguyễn Công Trứ, như bất cứ một con đường nào ở trung tâm thành phố Sàigòn ngày nay, cũng có cùng một hình ảnh, “cực kỳ ấn tượng!” Đó là sự xô bồ, bát nháo của đám thị dân (đa số lao động) hấp tấp, hối hả trong nhu cầu tranh sống, như thể chỉ một vài ngày nữa thôi, tất cả sẽ biến mất, ngay cá nhân chính họ. Trong khi đó, hai lề đường, cũng không ít những người mệt mỏi ngồi lơ đãng trước những ly café hay nước giải khát, nơi những chiếc ghế thấp, thuộc hàng chục “quán” café “dã chiến,” nháo nhác tranh phần “hiện diện” với hàng chục xe gắn máy đủ loại.

Tháng Bảy. Sàigòn thở hào hển với cơn nóng không chỉ chụp xuống từ bầu trời không một vẩn mây mà, còn hầm hập bốc lên từ đám đông, trộn lẫn mùi quần áo không thay, mùi khói xăng, dầu… được những tiếng còi hung hãn, không ngớt khuếch tán, nện từng chập lên ngực thở, những người không quen.

Cũng buổi trưa. Cũng con đường Nguyễn Công Trứ, thuộc trung tâm thành phố Sàigòn ấy, có một căn nhà (gần như duy nhất) mà, “mặt bằng” không hăm hở bước vào thời “mở cửa” kinh tế.

Đó là căn nhà của lạc lõng, hiểu theo một nghĩa nào, như một “ốc đảo’ của họa sĩ lão thành Tú Duyên; cha đẻ môn Thủ Ấn Họa, đặc thù của người Việt Nam.

Khi cánh cửa khép lại, người viếng thăm tác giả “Thà làm quỷ nước Nam,” cảm thấy như mình vừa bước vào một thế giới khác. Thế giới mà người chủ nhân đặc biệt này, đã buộc thời gian phải ngừng lại, bên ngoài khung cửa hẹp của “am thất” tinh thần và sáng tạo của ông.

Thời gian đóng băng ? Hay một cuộc đời tưởng chừng đã trở thành “Vang bóng một thời,” như những nhân vật trong tập tùy bút cùng tên, của nhà văn Nguyễn Tuân?

Khác nhau chăng, nhân vật đó, vẫn ở cùng chúng ta, với nụ cười đầm ấm, dịu dàng và một tinh thần minh mẫn, thẳm sâu. Người đó là họa sĩ Tú Duyên, cha đẻ của trường phái Thủ Ấn Họa, Việt Nam.

Từ nơi chiếc bàn cũ, cổ, chất đầy những cuộn giấy tròn mà chắc là những bức thủ ấn họa, đây đó ngổn ngang hàng chục cuốn sổ tay vàng – với hàng ngàn bức ký họa.

Trên chiếc ghế thấp, hất tròng kính chỉ dùng tròng kính lão mầu trắng, khi trả lời những câu hỏi của chúng tôi về hành trình hội họa một đời của mình, Họa sĩ Tú Duyên cho biết, ông sinh ngày 20/12/1915 tại làng Bát Tràng huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ông là con thứ tư của một gia đình Nho Giáo, thanh bần, nếu không muốn nói là nghèo. Năm 1935 ông theo học lớp dự bị trường Mỹ Thuật Đông Dương, Hà Nội sở trường về ký họa, vẽ cho báo và tranh khắc gỗ. Sau khi theo học được 3 năm thì ông đành phải bỏ ngang vì, không thể tìm đâu ra 6 đồng tiền học phí mỗi tháng, chưa kể những chi phí khác. Ông nói:

“Trường Mỹ Thuật Đông Dương không dung tôi cho tới năm cuối cùng, nhưng hội họa lại nuôi sống tôi, không chỉ từ thời gian nhập học, mà còn kéo dài hết cuộc đời tôi nữa.”

Trả lời câu hỏi, với tình trạng tài chính khó khăn như vậy, tại sao lại chọn con đường hiểm nghèo, là mộc bản, để rồi từ đó, sáng tạo môn Thủ Ấn Họa. Người họa sĩ kỳ lạ, và, cũng kỳ tài, cho biết : “Lúc còn học ở trường Dự bị Mỹ Thuật Dông Dương Hà Nội. Rất ít, hầu như không sinh viên nào chọn môn học làm tranh trên bảng khắc gỗ vì khó và công phu. Vì vậy tôi chọn môn này để có những sáng tác độc đáo. Hơn nữa, có 2 bạn đồng học là họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ và họa sĩ Nguyễn Sĩ Ngọc, tuy không theo học nhưng luôn khuyến khích tôi theo đuổi môn học này.” Tôi thích đối đầu với khó khăn. Càng khó thì càng hay và càng theo học sẽ có nhiều cái lạ để sáng tác.

Về bút hiệu Tú Duyên, người viết bài này được hưởng một bất ngờ thích thú khi nghe chính ông giải thích :

“Thời trẻ tuổi, tôi còn có một người bạn rất thân. Đó là anh Đỗ Văn Tư. Bạn tôi thuộc gia đình khá giả, có nhà và có công ăn việc làm đàng hoàng. Trong khi tôi thì nghèo, không nhà không cửa. Chúng tôi đã giao ước với nhau rằng, mai sau, khi tôi ra trường, tôi và Tư sẽ cùng làm ăn với nhau. Tên Tứ-Duyên ra đời từ chữ Tư Duyến. Tư là tên bạn tôi. Duyến là tên của tôi. Hai chữ Tư Duyến nói trại lại thành Tứ Duyên. Nhưng khi vào Sàigòn làm ăn, phải tiếp xúc nhiều với người ngoại quốc; khi thấy họ gặp trở ngại lúc phát âm hai chữ ‘Tứ-Duyên’, tôi đành phải bỏ bớt một số dấu, để trở thành… Tú-Duyên.”

Nói về nghệ thuật Thủ Ấn Họa, họa sĩ Vị Ý, nguyên trưởng khoa Trang Trí Thiết Ấn, thuộc trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật Gia Định, trong một bài khảo cứu về mộc bản Việt Nam, đăng tải trên tạp chí TTMT số đề tháng 11 năm 2005, Sàigòn, cho biết, đại ý : Nghề in khắc gỗ ở Việt Nam, có từ thời nhà Lý. Cụ thể là từ năm 1190, với thiền sư Tôn Tín Học khắc kinh trên ván. Tới đời nhà Trần (1298-1332) chúng ta có sư Pháp Loa dùng bản gỗ để in kinh Địa Tạng. Đến triều Lê Sơ (1443-1459) có tiến sĩ Lương Nhữ Học học nghề in khắc của Trung Hoa, khi về ông truyền lại cho dân hai làng Hồng Lục và Liễu Chàng thuộc tỉnh hải Dương.

Vị Ý viết tiếp rằng, sau này “Tranh Đông Hồ xuất phát từ thợ khắc in bùa chú, vàng mã và sau in khắc tranh dân gian. Làng Đông Hồ nằm giáp khu vực chùa Bút Tháp…” Về sự khác biệt giữa tranh mộc bản dân gian và tranh Thủ Ấn Họa của họa sĩ Tú Duyên, Vị Ý nhấn mạnh : “Khác với các loại tranh ấn mộc bản thông thường, chỉ có hai bản khắc gỗ phân biệt : Bản nét và bản màu. Họa sĩ Tú Duyên đã tạo ra các tác phẩm có nhiều độ màu qua kỹ thuật của mình. Chẳng hạn như họa phẩm Trần Bình Trọng, ông đã ‘nhân’ bản đến 23 họa phẩm khác nhau, với mỗi bức là một sáng tạo riêng, màu sắc cũng khác hẳn, tùy theo tâm tư tình cảm của lúc ấy.”

“Với những ngón tay đầy màu của anh thay cho bút cọ, đã tạo cho sắc màu trên bản gỗ trở thành một bức tranh huyền ảo, một mảnh lụa tơ tầm được đặt lên trên bản màu, dùng tay vuốt nhẹ và thỉnh thoảng ấn mạnh lòng bàn tay một vài chỗ cần thiết, xong gỡ lụa ra đưa sang bản khắc nét đã vô màu và cũng dùng tay vuốt đều trên mảnh lụa cho đến lúc hoàn chỉnh. Xong nhắc tấm lụa lên đặt trên mặt ván phẳng, săm soi và hoàn thiện với triện son và chữ ký một cách trịnh trọng để hoàn tất tác phẩm này.”

Ở một đoạn khác, họa sĩ Vị Ý khẳng định :

“Giữa năm 1953, ấn mộc bản cổ truyền có một bước thay đổi được gọi là ‘Thủ Ấn Họa’ trên lụa mà người sáng tạo không ai khác, đó là họa sĩ Tú Duyên.”

Bài viết của họa sĩ Vị Ý nặng tính biên khảo, nên ông đã không đề cập tới những nguồn cảm hứng lớn, làm thành linh hồn của hàng trăm tác phẩm thủ ấn họa của Tú Duyên.

Với những nhà sưu tập tranh ở khắp nơi trên thế giới, có lẽ không ai không nhận ra, có ba nguồn suối chính, làm thành thế giới tranh Tú Duyên, đó là :

– Những nhân vật lịch sử. Điển hình như bức “Thà làm quỷ nước Nam.”

– Từ ca dao, các tác phẩm cổ văn, như Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm Khúc…

Điển hình là những bức tranh, bây giờ còn nhiều người nhớ tới, như bức “Chẳng ham vựa lúa anh đầy – Tham năm ba chữ cho tầy thế gian (ca dao). Hoặc “Mai cốt cách tuyết tinh thần” (Kim Vân Kiều – Cùng 29 bức khác, cũng đi ra từ Truyện Kiều…) (Và…) Phụ nữ Việt Nam.

Giải thích về nguồn cảm hứng mạnh mẽ thứ ba, trong suốt cuộc đời hội họa của mình, họa sĩ Tú Duyên cho biết, ngay từ thời còn thơ ấu, ông đã có lòng yêu quý người mẹ sinh thành ra ông, cùng các chị và em gái của ông.

“Lớn lên, tôi còn cảm nghiệm thêm được một điều nữa là người phụ nữ Việt Nam chịu rất nhiều thiệt thòi trong đời sống xã hội, hàng ngày của họ…”

Chia sẻ của ông, khiến chúng tôi chợt nhớ, vào cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960 thời điểm “tung hoành” của một Tạ Tỵ (lập thể;) Duy Thanh, Ngọc Dũng, Thái Tuấn… (sơn dầu); trẻ hơn (cũng sơn dầu) có những tên tuổi như Nguyễn Trung, Đinh Cường, Đỗ Quang Em… Thời gian này cũng là thời “đăng quang” của Lâm Triết và Cù Nguyễn… khi họ được trao huy chương vàng từ những cuộc Triển Lãm Hội Họa Mùa Xuân, ở phòng triển lãm Đô Thành (nằm tại ngã tư đường Tự Do và Lê L ợi, Saigòn),  các họa sĩ này cũng vẽ chân dung thiếu nữ, nhưng đó là những chân dung và những màu sắc phản ánh ảnh hưởng hội họa Tây phương; thì cũng tại phòng triển lãm vừa kể, những bức tranh thiếu nữ Việt Nam, với nón quai thao, áo tứ thân lộng lẫy kiêu hãnh, tự tin bên trong khung kính của những cuộc triển lãm cả tháng…

Tôi thấy hầu hết du khách ngoại quốc, nếu không bước hẳn vào trong phòng triển lãm thì, họ cũng phải dán mũi vào khung kính, để ngắm nghía, trầm trồ, trước những bức thiếu nữ Việt Nam trên lụa của người họa sĩ độc đáo này.

Bây giờ, sau gần nửa thế kỷ, không ai biết, lớp người ái mộ Tú-Duyên-Thủ-Ấn-Họa ở đâu, về đâu…! Chỉ biết, riêng người làm thành trường phái Tranh Thủ Ấn Họa, vẫn còn đây. Ông vẫn còn, như một ngọn núi dũng mãnh, lầm lì, trước mọi bão táp thời gian và thế sự. Ông vẫn bắt thời gian phải ngừng lại bên ngoài khung cửa, căn nhà đường Nguyễn Công Trứ. Cũng như, chúng tôi tin, rồi đây, những người viết lịch sử hội họa Việt Nam, sẽ không thể không ghi, dù chỉ một câu ngắn ngủi : “Họa sĩ Tú Duyên, cha đẻ của trường phái Thủ Ấn Họa Việt Nam.”

Và, khi ấy, ông chẳng những không hề là một thứ hình ma, bóng quế, như những nhân vật trong “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân. Mà, ông sẽ sống vĩnh cửu, như ông đã từng một thời – một đời Tú Duyên, Việt Nam.

Nguyễn Văn Danh post (T. Phan – California)

Viết cho Du Ca

Nguyễn Đức Quang

Vào cuối tháng 8-1984, cơn nóng của mùa hè muộn đã thiêu đốt cả miền duyên hải Cali. Trời nóng trên 100 độ F. Thiên hạ đổ xô ra đường vào mỗi cuối tuần để tìm về biển xanh hay núi đỏ. Giao Chỉ tôi thuận bước lãng du, đã có dịp đi ngược chiều con sông Sacramento danh tiếng. Từ miền Santa Clara đi theo con đường số 5 lên phía Bắc cách xa gần 300 dặm tới miền Redding, nơi có 3 con sông gặp nhau giữa núi rừng bao la. Đó là giòng sông Sacramento và hai đứa con song sinh hữu ngạn của nó là nhánh sông McCloud và sông Pit.

Ngày xưa khi người di dân Hoa Kỳ mới đến Cali đã đứng bên bờ nước nhìn xuống cái đại hội sông hồ vĩ đại mà nghĩ cách chế ngự thiên nhiên. Họ muốn tìm cách ngăn chặn khối nước khổng lồ từ các thác nguồn ào ào đổ xuống cùng với những trận mưa rừng ngay tại vùng phát nguyên của ba giòng sông kết hợp.

Một dự án chính thức được liên bang chấp thuận năm 1935 nhưng phải mất 20 năm mới hoàn thành. Đập nước vĩ đại cao 600 bộ, dài 3,500 bộ với 6 triệu thước khối bê tông ngăn ngang hạ lưu con sông Sacramento để giữ lại một khối nước bao la tràn ngập 7,000 dặm vuông, làm thành một hồ nước nhân tạo lớn nhất thế giới. Cái đập nước và hồ nước đó mang tên SHASTA.Đây là một công trình thủy điện đã cung cấp tiện ích cho phần lớn tiểu bang California.

Nếu du khách chưa từng đến miền Shasta, bạn hãy tưởng tượng đến một nơi mà núi rừng xanh um cây cỏ, rồi có một ngày nước dưới vực sâu từ từ dâng lên. Nước lên cao tràn ngập núi rừng và tùy theo thế đất uốn khúc quanh co để lau sậy chen nhau san sát bên bờ nước.

Xuống con thuyền, chèo đi giữa cõi mênh mông u tịch, người du khách Việt Nam mất nước đang đi tìm về nguồn nước. Tưởng như lạc đến miền đất ngàn năm cũ, theo tích xưa Sơn Tinh, Thủy Tinh đánh nhau mới vừa hưu chiến. Nước vẫn còn ngập lưng đèo, và núi non còn muốn vươn mình đứng dậy. Con thuyền nhỏ đi giữa hoàng hôn vắng lặng. Tiếng sóng vỗ nhẹ, làm cặp chim bồ nông nặng nề chuyển động.

Chợt chúng tôi thấy có tiếng ca vang mà ruột gan cồn cào nao nức. Thoạt nghe như thoảng thấy âm điệu Á Châu, càng lại gần càng rõ tiếng Việt. Có lẽ đoàn hướng đạo đồng hương họp trại quanh đây ! Lời ca Việt Nam nghe lanh lảnh giữa trời mây nước Shasta, thật hết sức xúc động. Đổ bộ lên hỏi thăm mới biết có một nhóm anh chị em Du Ca cắm trại.

Bài hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ với lời ca bất hủ một thời vang vang trên hồ Shasta ở miền cực bắc California đã làm tôi xao xuyến bồi hồi. Chúng tôi ngồi xuống bên anh chị em và được nghe lại biết bao nhiêu tiếng hát yêu dấu một thời.

Với cây đàn giây và một cây khẩu cầm, anh chị em Du Ca trẻ của các trường đại học Cali đã đi từĐườngViệt Nam qua Hy vọng đã vươn lên và sau cùng là màn song ca bài Bên kia sông”.

Phong trào nhạc Du Ca được biết có nhiều nhạc sĩ hưởng ứng kể cả Phạm Duy, Trần Quang Lộc, Trầm tử Thiêng v.v… Nhưng buổi trưa hôm đó, các bạn toàn chơi nhạc Nguyễn Đức Quang. Kỷ niệm từ tháng 8-1984 đến nay gần 30 năm, nhưng không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi. Các bạn cho tôi một tập bài ca của Nguyễn Đức Quang. Theo thứ tự ABC, không có mẫu tự nào là không có nhạc của chàng.

(A).Anh em tôi… (B) Bên kia sông… (C) Cần Nhau… (D) Dưới ánh mặt trời… (Đ) Đường Việt Nam… (G) Gươm thiêng… (H) Hy vọng đã vươn lên. (K) Không phải lúc đặt vấn đề,.. cứ như thế mà đi cho đến. (V) Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Du ca tại Việt Nam.

Dù tai đã nghe quen nhạc du ca, nhưng thực sự cá nhân tôi không biết nhiều về tổ chức của anh em. Đọc thêm tài liệu mới biết nhóm Du Ca ngày xưa từ thập niên 60 đã trở thành một phong trào thanh niên. Những người tuổi trẻ lên đường tìm sinh lộ cho dân tôc và lấy tiếng ca làm ngôn ngữ cho cộng đồng. Trong số rất nhiều anh em, Nguyễn Đức Quang là một người vừa soạn nhạc, vừa trình diễn và vừa lãnh đạo phong trào. Bài ca của các anh đem lại hồn dân tộc, bài ca làm cho cả nước trở thành anh hùng. Chợt bừng tỉnh, thấy mình như Thánh Gióng vươn mình đứng dậy, cưỡi con ngựa sắt mà bay lên tận trời xanh.

Du ca trở thành con đường lý tưởng của thanh niên. Tuổi 20 đi trên “Đường Việt Nam. Đi dựng lấy huy hoàng, giống da vàng này là vua đấu tranh.”

Ai cũng có thể vào một buổi sáng thức giấc nghêu ngao : “Đường Việt Nam ôi vô cùng vô tận, Đường ngang tàng ngoài biển Nam, giữa Trường Sơn”.

Nguyễn Đức Quang là người viết nhạc hùng với những lời ca lý luận hết sức thực tế. Đó là bài “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề.” Hãy đứng dậy đón chào bình minh với “Hy vọng đã vươn lên. Trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong mồ sâu quá ưu sầu.”

Và Nguyễn Đức Quang cũng viết bài tình ca. Bài hát thiết tha, dịu dàng là một bài thơ phổ nhạc. Thi sĩ là ông Nguyễn Ngọc Thạch. Nhà thơ đã viết bài Bên kia sông độc đáo “Núi mừng vì mây đến rồi.”

Chàng nói với em rằng “Nói cho vừa mình anh nghe thôi.” Rồi những lời thơ ẩn dụ yêu thương : “Lòng đòi tình vật vã khôn nguôi.” Nhạc sĩ đã dùng lời thơ êm ái đưa vào một điệu nhạc với điều thú vị nhất là hết sức dễ hát.

Du Ca tại San Jose.

Đó là chuyện Du Ca ngày xưa mà nay tôi mới tìm hiểu để trình bày lại. Nhưng điều ngạc nhiên là khi Nguyễn Đức Quang về trình diễn tại San Jose, chúng ta đã có dịp nghe nhóm anh em Du Ca một thời cùng lên sân khấu. Các anh Trương Xuân Mẫn, Trần Anh Kiệt không ngờ cũng đã Du Ca một thời nay vẫn còn phong độ. Các bạn đã cùng trình diễn hết sức sống động những bài ca của thời binh lửa mà ngày nay vẫn còn nguyên nét hào hùng.

Nhưng thực sự phải xem Nguyễn Đức Quang hát mới thấy rõ sự quyến rũ của Du Ca.Tham dự văn nghệ ta thường nói là đi nghe hát, nhưng với Nguyễn Đức Quang thì phải là đi xem hát.

Dân Sinh Media có thu được rất nhiều lần Nguyễn Đức Quang trình diễn, nhưng đã chọn lọc được một lần xuất thần hơn tất cả nhưng lần khác. Các bài “Đường Việt Nam”, “Việt Nam quê hương ngạo nghễ “trình diễn trên sân khấu nhỏ đã được thu hình trong giây phút nghệ sĩ để hồn vào lời ca, tiếng hát, bằng tay chân, bằng dáng điệu và bằng cả tấm lòng. Quí vị có thể tìm thấy và cảm thông với giây phút huyền diệu trong đĩa DVD số 2 của bộ phim San Jose 35 năm nhìn laị qua 3 kỳ biến động.

Phiếm về du ca Nguyễn đức Quang

Tôi không phải là nhà phê bình âm nhạc, nhưng gọi là phiếm luận thì ai cũng có thể. Xin phiếm như sau. Trịnh Công Sơn kêu gọi ngồi xuống thì Nguyễn Đức Quang thôi thúc đứng lên. Cùng trong cuộc chiến, Trịnh Công Sơn than thở thì Nguyễn Đức Quang chấp nhận. Trịnh Công Sơn nhìn thế giới trong hoàng hôn thì ánh bình minh rọi sáng với Nguyễn Đức Quang. So sánh cả với du ca Phạm Duy sống trong thế giới mùa Thu thì du ca Nguyễn Đức Quang vĩnh viễn là mùa hè. Nếu Phạm Duy tuyệt vọng trong cuộc chiến bi thảm thì Nguyễn Đức Quang luôn luôn thấy hy vọng đã vươn lên. Nếu Phạm Duy và Trịnh Công Sơn soạn nhạc cho cuộc đời ca hát thì Nguyễn Đức Quang soạn nhạc để chính mình cùng ca hát với cuộc đời.

Mùa xuân năm nay, Nguyễn Đức Quang dự trù lên San Jose để làm sống lại du ca thêm một lần nữa. Lần nào cũng có thể là lần cuối. Nhưng lại có tin 911 đưa anh vào bệnh viện. Bài viết này sẽ trở thành lời cầu nguyện.

Những nghệ sĩ sáng tác và nghệ sĩ trình diễn, họ chia nhau làm cho cuộc sống thăng hoa. Lấy văn hóa tô điểm cho cuộc đời. Nguyễn đức Quang là một trong số các nghệ sĩ hiếm hoi vừa soạn nhạc vừa trình diễn. Vì vậy mỗi lần đi xem du ca Nguyễn đức Quang, chúng ta lại mắc nợ anh khá nhiều. Anh là nhạc sĩ, là ca sĩ và anh lại còn là diễn viên.

Biết bao giờ khán giả chúng ta mới trả hết nợ nần ?

Yên Huỳnh & De Nguyen post