NHỚ NGÀY MẤT NGUYỄN TẤT NHIÊN

NGUYỄN TẤT NHIÊN     

20 NĂM TỪ GIÃ

CÕI HỒNG TRẦN

3/8/1992 -3/8/2012

Nhớ Nhiêncựu học sinh Ngô Quyền – Biên Hòa 

 “…Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ

Phải ê chề cho tóc bạc với thời-gian

Phải đau theo từng hớp rượu tàn

Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…”

(Trích trong bài : “Giữa Trần Gian Tuyệt Vọng” – 1972).

Phải chăng là một điềm báo khi thi-sĩ họa bút viết bài thơ này lúc tròn 20 tuổi ? Đúng 20 năm sau anh ra đi từ giã cõi hồng trần : ngày 3 tháng 8, năm 1992… Hưởng dương 40 tuổi. Và hôm nay: 3 tháng 8, năm 2012 ngày giỗ thứ 20 của Nguyễn-Tất-Nhiên đa tài – bạc mệnh; tôi có duyên may viết về anh thay cho lời tạ-ơn thống-thiết; vì thi-sĩ đã để lại cho hàng triệu nhân-sinh những bài thơ tình tuyệt-tác, những dấu ấn thời-gian không bao giờ phai nhạt của một đời người. Từ những ngày khoác áo trắng Trưng-Vương, chúng tôi đã len-lén thầy-cô truyền tay nhau trong giờ học những vần thơ :

“…Em hãy ra bờ sông nhìn nắng trải

Nhớ cho mình dáng dấp một người yêu

(Lỡ dòng đời tóc có điểm muối tiêu

Còn giây phút chạnh lòng như … mới lớn) …

Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng

Người thì không bắt bóng được bao giờ

Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học

Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng.”

(Nên Sầu Khổ Dịu Dàng – 1970) “…

Cô Bắc Kỳ nho nhỏ

tóc “demi-garcon”

chiều đạp xe vô chợ.

mắt như trời bao dung

anh vì mê mải ngó

nên quên thù đám đông !

đời chia muôn nhánh khổ

anh tận gốc gian nan

cửa chùa tuy rộng mở

tà đạo khó nương thân

anh đành xưng quỉ sứ

lãnh đủ ngọn dao trần !

qua giáo đường kiếm Chúa

xin được làm chiên ngoan

Chúa cười rung thánh giá

bảo : đầu ngươi có sừng !

đời chia muôn nhánh khổ

anh tận gốc gian nan…”

(Đám Đông – 1973).

Nguyễn Tất Nhiên sinh ngày 30 tháng 5, năm 1952 tại quận Đức-Tu, tỉnh Biên-Hòa. Gia-đình có bốn người con trai : Nguyễn-Hoàng-Hải (tên thật của Nguyễn-Tất-Nhiên), Nguyễn-Hoàng-Đệ (đã mất thưở nhỏ), Nguyễn-Hoàng-Nam và Nguyễn-Hoàng-Thi (hiện cùng Cha-Mẹ sống ở California. Hoa-Kỳ).

Anh là học-sinh tại trường Ngô-Quyền từ năm 1963-1970. Biên Hòa lúc xưa có hai trường trung-học lớn : tư-thục Khiết-Tâm (của cố linh mục An-Tôn Lê-Hoàng-Yến) và trường công-lập Ngô Quyền.

Theo nguồn từ Link : http://www.tinmoi.vn/tiet-lo-moi-tinh-don-phuong-cua-nha-tho-nguyen-tat-nhien-07987004.html

“… Qua kho tàng thơ Nguyễn Tất Nhiên, người ta biết đến mối tình của thi-sĩ với một cô gái tên Bùi-Thị-Duyên, dân miền Bắc vào định cư trong Nam. Tình yêu này của Hải dành cho Duyên cả trường trung học Ngô-Quyền ai cũng biết.

“…Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền

nhớ dịu dàng nhưng thầm ý khoe khoang

nhớ duyên dáng, ngây thơ…mà xảo quyệt !

ta sẽ nhớ dặn lòng nên tha thiết

nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ

nên yêu đương bằng khuôn mặt khờ khờ

nên hùng hổ…để đợi giờ thua thiệt !…”

Tình đơn phương hay tình dang dở khiến người ta nghĩ đến nhau nhiều. Những vần thơ đã sống cùng thời gian để rồi người con gái tên Duyên đã thành một biểu tượng và có một vị-trí rất đặc biệt trong thơ Nguyễn-Tất-Nhiên. Bài : “Khúc Buồn Tình – Thà Như Giọt Mưa” (do Hoàng-Thi phổ nhạc sau này) (1) thi-sĩ đã thấy “người từ trăm năm về khơi tình động”. Yêu nhưng không thể đến gần, bởi Duyên cứ cách xa… “trùng trùng gió lộng”.

Một người bạn của Nguyễn Tất Nhiên đã hỏi tại sao lại “Thà Như Giọt Mưa” thì anh trả lời hết sức cắc cớ : “Ai biểu Duyên không yêu tôi thì tôi xin làm giọt mưa… để được khô trên mặt nàng”. “…Thà như giọt mưa vỡ trên mặt Duyên thà như giọt mưa khô trên mặt Duyên để ta nghe thoáng tiếng mưa vội đến những giọt run run ướt ngọn lông măng …. khiến người trăm năm đau khổ ăn năn khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên.”

Cô gái xứ Bắc mang tên Bùi-Thị-Duyên ngày nào, nay sống tại Michigan, Hoa Kỳ. Sau này, qua lời kể của những người quen; Duyên đã nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò áo trắng và tâm-sự rằng : “Tụi này học chung với nhau từ năm đệ tứ. Nhưng lúc đó, tôi ngây thơ chưa nghĩ gì hết, còn Hải nghĩ gì thì tôi không biết. Gặp nhau, biết nhau từ lúc 14, 15 tuổi. Tôi được tặng một quyển thơ nghe nói là có ba bản chính. Một bản của Hải, một bản cho tôi và một bản cho ai tôi quên mất rồi. In ra khoảng chừng 100 quyển thôi. Tôi biết sự hình thành quyển thơ này, tất cả bạn bè trong lớp ai cũng biết, nhưng đó là chuyện hồi nhỏ… Dĩ nhiên là phải xúc động bởi nguyên một quyển thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã nói với anh ấy ngay từ đầu là mình làm bạn thôi ! Nếu có ý gì đó thì tôi không gặp nữa. Về sau Hải phải công nhận là muốn làm bạn, để còn được tiếp tục gặp nhau. Chắc anh ấy cũng quý tôi lắm !”… (ngưng trích).

Âu cũng là một cơ-duyên khi tôi gặp và quen với thân-mẫu cùng bào-đệ của cố thi-sĩ vào năm 1998, trong một buổi thâu hình đại nhạc hội tại Vancouver (Canada) cho “Mây Productions”. Một năm sau đó, tôi về Việt-Nam làm từ-thiện với các Soeur dòng “Nữ-Tử-Bác-Ái” (Daughter of Charity) đã được dịp đến thăm mộ, đốt nhang cầu-nguyện cho Nguyễn-Hoàng-Đệ (em kế Nguyễn-Tất-Nhiên) cùng ghé xem ngôi nhà xưa của cố thi-sĩ tại Biên-Hòa. Sau hôm ấy, tôi tìm đến Nghĩa-Trang Quân-Đội để đọc kinh cầu cho linh-hồn các tử-sĩ Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa; đi giữa những hàng mộ hoang-tàn không nhan, không khói của các chiến-sĩ vô-danh. Chợt nhớ đến bài thơ “Chiều Mệnh Danh Tổ-Quốc” của Nguyễn-Tất-Nhiên mà rơi lệ :

“Người yêu tôi khóc ngất

Chiều quân đội nghĩa trang

Rạt rào hơi gió nóng

Cho đau tà áo tang

Người yêu tôi khóc ngất

Chiều quân đội nghĩa trang

Ngập ngừng hơi xác ướp

Bay pha mùi áo nhang

Người yêu tôi khóc ngất

Trước quan tài sĩ quan

Trước hai chàng lính đứng

Thao diễn nghỉ lạnh lùng

Người yêu tôi khóc ngất

Trung úy thản nhiên cười

Lồng trong khung ảnh đẹp

Dựng sau bình bông tươi

Sự vinh thăng bất ngờ

Là đem theo nước mắt

Là danh dự xót xa

Là một lần đắp mặt

Một lá cờ quốc gia …

Chiều quân đội nghĩa trang

Chiều mệnh danh tổ quốc

Có muôn ngàn câu kinh

Có muôn ngàn tiếng khóc

Có chuyến xe nhà binh

Đưa “Thiên Thần” xuống đất

Còn ai, còn ai chăng ?

Mua cờ bằng tính mệnh

Cho tôi đừng biết tên

Cho tôi đừng nhận diện

Cho tôi đừng chứng kiến

Xác “thiên thần” rã manh

Người yêu tôi khóc ngất

Chiều quân đội nghĩa trang

Vài dặm bụi lang thang ... (1971)

Rồi đến đầu tháng 8 năm 2000, ca-nhạc-sĩ Nguyễn-Hoàng-Thi, Mẹ anh và tôi tổ chức một buổi đi tảo mộ Nguyễn-Tất-Nhiên tại nghĩa-trang Westminster Memorial Park, khu Little Saigon – California. Tôi còn nhớ tự tay mình đã đi mua một ly café đen đá không đường (là thức uống thi-sĩ rất thích lúc sinh thời), một bao thuốc lá và bó hoa huệ trắng đến thăm nơi an nghỉ ngàn thu của anh lần đầu. Tôi đã không cầm được nước mắt khi nghe kể về những năm cuối đời vô cùng nghiệt-ngã, giống y hệt những lời thơ Nguyễn-Tất-Nhiên đã viết trong bài “Hai Hàng Me Đường Gia-Long” – 1973 : “Đời, vốn không nương người thất thế, Thì thôi, ô nhục cũng là danh !”

Trong “Link”: http://chutluulai.net/forums/showthread.php?p=14516 Tác-giả Nguyễn-Mạnh-Trinh ghi nhận rằng: “… Cái bi thiết của một người nuôi nhiều mơ mộng nhưng thực tế lại mênh mông những bóng tối thẳm sâu. Cuộc sống như trải dài từ những nợ này đến nợ khác, để thi sĩ phải tự than thân “Ta mấy kiếp vẫn là ta mắc nợ”. Nợ tình, nợ đời, thành những câu thơ bi thiết, thành những tâm tình đầy dằn vặt thảm thê. Thơ, là nỗi niềm tràn ra từ những lời ân hận, những cấu xé của thâm tâm…

Lạ lùng, thơ như trải ra trước những phận số, nói trước những bi đát trong đời Nguyễn-Tất-Nhiên. Làm thơ trong ngày sinh-nhật của người yêu sắp cưới thành vợ, sao lại có những câu như lời sám hối :

“Khổ đau oằn nặng sinh thời

yêu ai tôi chỉ có lời thở than

có môi hôn trộm vội vàng

khiến em hoảng hốt trong cơn tình đầu

nụ cười giữ được bao lâu

nhân sinh là một dòng sầu miên man

sông dài rồi cũng chia phân

tình bao nhiêu lớn cũng tàn phai thôi

tôi đam mê siết thân người

hay đâu đá tảng đeo đời trăm năm

em gầy guộc, em mong manh

em chưa đủ sức long đong cùng chàng

em ngây thơ đến rỡ ràng

em chưa đủ lượng khoan hồng thứ dung

em tội nghiệp, em tủi thân

Em chưa tự chủ kịp ngăn lệ tràn

lôi người té sấp. Gian nan

lỗi tôi, ừ đó, muôn phần lỗi tôi !”

Khi thành vợ thành chồng rồi hai người ly thân, Nguyễn-Tất-Nhiên buồn bã (vì xa vợ và hai người con trai còn thơ bé) mang đời sống tình cảm của một phận số không may… Những bài thơ của chia ly, nhớ thương và của những nỗi niềm ăn năn thống hối. Như trong bài “Minh Khúc, 90.” Nói lên những não lòng, nỗi niềm bời bời trong tim trong óc. Tôi đọc và vì nghĩ tim mình không phải là gỗ đá nên cũng thấy một phút se long :

“Đường không gian – đã phân ly

đường thời gian – đã một đi không về

những con đường mịt sương che

tôi vô định lái chuyến xe mù đời

cu tí ngủ gục đâu rồi ?

Băng sau, ngoái lại, bời bời nhớ con !

Đường trăm năm – nát tan lòng

Đường ngàn năm – hận, xin đừng trả nhau !

Những con đường cuối năm nào

Cho tôi tìm lại cành đào ba sinh

Khi em lễ mễ với tình

Thắp nhang tạ tội sinh thành con đi

Đường chung đôi – đã chia đời

Đường chia đôi – vẫn hơi người quẩn quanh

Chim đêm hót tiếng đau tình

Đau tim tôi chở lòng thành kiếm em.”

(Westminster, CA, 2.1.1990)

Chiếc xe, có phải là nơi chốn mà chàng thi sĩ thở hơi thở cuối cùng rồi đi vào miên-viễn. Nơi đó, trong một phút thảng thốt, nhìn lại băng sau để thấy “bời bời nhớ con”. Cũng chiếc xe ấy, đã có lúc chung đường chung đôi mà bây giờ thì chia đời … vạn dặm… Nguyễn Tất Nhiên, muôn thuở vẫn là một người xa lạ với cuộc sống dưới đất và gần gũi với trăng sao trên trời. Và, cũng phải có một lúc, để trở về với nơi chốn thân quen, mà bất hạnh cũng nở hoa kết trái giống như hạnh phúc. Cái kinh nghiệm khổ đau của kiếp người có phải là một ấn chứng để tâm hồn vượt lên trên bão dông, để ngôn ngữ yêu nhau vẫn còn dù đã nhiều nghịch cảnh.

Theo tôi, Nguyễn Tất Nhiên là một thi sĩ thực sự mang đời sống mình làm ví dụ cho một trường hợp của khoan dung và từ ái ?…” (Ngưng trích).

Ngày 7 tháng 8, năm 1992. Bốn ngày sau khi Nguyễn-Tất-Nhiên lìa đời nơi sân chùa Việt-Nam (đường Magnolia, thành-phố Garden Grove. California). Ký-giả Lily Dizon của nhật báo Los Angeles đã đăng bài tường-trình trong trang tin địa-phương với nhan đề : “Popular Local Poet Nhien Tat Nguyen Dead : Obituary: His melancholic Vietnamese verse intertwined religion and romantic love. An apparent suicide ends a poor and painful life.”

Link: http://articles.latimes.com/1992-08-07/local/me-4915_1_romantic-love

Nguyễn-Tất-Nhiên sau những năm tháng dài lang thang như kẻ Homeless không cửa, không nhà; (trên xe anh lúc nào cũng có những bịch khoai tây sống để khi đói thì dùng). Ngày 3 tháng 8, 1992 Nguyễn-Tất-Nhiên đã tự chọn cho mình một phương cách rời bỏ loài người cùng cuộc đời ô-trọc : “Mỗi một người một lý lẽ bất an, Mỗi cái chết có một hình thức khác… 20 năm rồi, chàng đã về cùng bụi cát trùng khơi, mà sao những lời thơ còn vương vấn mãi cõi dương-trần, để người đời như tôi mỗi lần nhớ tới thơ anh phải bàng-hoàng, phải thống-khổ, cảm-nhận đến tận cùng nỗi cam-chịu của một kiếp người :

“Sớt Cho Ai Một Chút Buồn.

Sao Ta Không Nỡ Nên Thầm Cạn Ly”. “…

Sao thiên thu không là thiên thu ?

nên những người yêu là những ngôi mồ

tôi đứng một mình trong nghĩa địa

và chắc không đành quên khổ đau !…”

(Thiên-Thu – 1970)

Chiều nay, lang thang trên hè phố xứ người. Tôi thấy tim mình bỗng nhớ quắt-quay; nhớ thơ tình Nguyễn-Tất-Nhiên, nhớ anh Nguyễn-Hoàng-Hải; dù chưa bao giờ được diện-kiến thi-sĩ trong đời : “…Cây xanh nói với lòng đường, Mỗi khi vắng bóng ta thường nhớ nhau. . .” Xin mượn bài thơ “Minh Khúc 9” của chính anh để tặng cho tất-cả những ai đã, đang hoặc chưa từng biết về cố thi-sĩ Nguyễn-Tất-Nhiên :

“Đong tình đong nghĩa cho nhau

Trái tim nhân loại dù sao cũng còn

Đâu đây, đâu đó bên đường

Có thêm một tấm lòng thương tấm lòng

Nợ đời trả kiếp chưa xong

Ai đem đổ biển đổ sông nợ tình

Cho nhau nhiều ít chân thành

Cũng như hương hỏa ba sinh

vẫn còn Sẻ chia khúc ruột đoạn trường

Kẻo vua Lê trách chàng Trương phũ phàng

Nợ đời trả chút văn chương

Nợ tình, ừ, trả con đường em đi

Sống không trách móc không về

Qua sao trách bậu lỗi nghì trúc mai

Chỉ xin sợi vắn sợi dài

tóc mai nhắn gió thương hoài ngàn năm

bữa qua qua bỗng đau lòng

nhớ hôm bậu hát bài đừng xa nhau..”

(Westminster, CA 27 tháng 4, năm 1990).

Đinh Mỹ Chơn – CHS Ngô quyền – Biên Hòa

(chuyển tiếp từ Diamond Bích-Ngọc).

(1)/- có lẽ người viết sai tên người nhạc sĩ đã phổ nhạc “Thà như giọt mưa” là Phạm Duy. Hoặc sau này có thêm nhạc sĩ Hoàng Thi cũng phổ nhạc bài thơ này ?

Advertisements

BUỒN VUI VỚI PHIM “CHÂN TRỜI TÍM”

Văn Quang – viết từ Sài Gòn

VÀI KỶ NIỆM VỚI ĐẠO DIỄN

PHIM “CHÂN TRỜI TÍM”

LÊ HOÀNG HOA VỪA TỪ TRẦN

Ông Lê Hoàng Hoa, đạo diễn phim Chân Trời Tím vừa tạ thế tại Sài Gòn đêm 30/7/2012, nơi đã làm nên tên tuổi ông, chứng tỏ tài nghệ vượt trội của ông từ ngày mới bước chân vào làng Điện Ảnh miền Nam VN. Trước hết, xin chia buồn cùng gia đình cố đạo diễn, cầu chúc linh hồn nghệ sĩ sớm tiêu diêu miền cực lạc.

Trong tôi có nhiều luyến tiếc và đáng tiếc, cũng như có khá nhiều kỷ niệm với anh Lê Hoàng Hoa. Để bạn đọc hiều rõ hơn về sự ra đi gần như quá đột ngột này, tôi xin tóm tắt nguyên văn (xin nhắc lại đúng nguyên văn) những hàng tin gần giống hệt nhau trên các báo ở VN trong mấy ngày qua : “Đạo diễn “Ván bài lật ngửa” qua đời.

Lê Hoàng Hoa, một trong những đạo diễn nổi tiếng của điện ảnh miền Nam trước năm 1975 qua đời khuya 30/7 tại Sài Gòn, thọ 79 tuổi.

Cách đây khoảng một tuần, ông bị ngã và được đưa vào cấp cứu tại một bệnh viện. Nhưng sau đó bệnh diễn tiến nặng hơn, đánh gục vị đạo diễn tài hoa. Trước khi qua đời, ông ủy thác cho vài người bạn thân lo phần hậu sự khi ông nằm xuống. Được biết, vợ của đạo diễn Lê Hoàng Hoa hiện đang nằm viện ở Malaysia. Tang lễ của đạo diễn Lê Hoàng Hoa dự kiến được tổ chức tại Nhà tang lễ Thành phố.

Lễ nhập quan đạo diễn Lê Hoàng Hoa được tổ chức tại nhà tang lễ Bệnh viện An Bình (397 Trần Phú, quận 5) vào lúc 14h chiều 31/7. Lễ truy điệu đạo diễn Lê Hoàng Hoa được tổ chức lúc 7 giờ ngày 3/8 tại Nhà tang lễ Lê Quý Đôn và hỏa táng tại Nghĩa trang Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân.

Đạo diễn Lê Hoàng Hoa tên thật Đoàn Lê Hoa (còn có nghệ danh Khôi Nguyên), sinh năm 1933 tại Nha Trang.

Sau một thời gian dài sống ở Ba Lan, năm 2004, ông về thăm quê và ấp ủ nhiều dự định với điện ảnh. Một số phim nổi tiếng của ông trước 1975 có : Gác chuông nhà thờ, Điệu ru nước mắt, Vết thù trên lưng ngựa hoang… Và sau 1975 là : Ván bài lật ngửa, Đằng sau một số phận, Vĩnh biệt mùa hè, Tình nhỏ làm sao quên, Vĩnh biệt Cali, Lệnh truy nã, Tây Sơn hiệp khách…Trong đó, Ván bài lật ngửa được xem là một trong những tác phẩm điện ảnh kinh điển của Việt Nam.”

Phim Chân Trời Tím… không có trong sự nghiệp của đạo diễn Lê Hoàng Hoa ?

Như bạn đọc đã thấy, khi nhắc tới giai đoạn làm phim của ông trước năm 1975, hầu hết các báo lại dè dặt, không nhắc tới phim Chân Trời Tím. Không phải là người làm tin không biết đến phim này, nhưng vì một lý do nào đó, họ “không thể” nhắc đến. Có lẽ người làm tin cũng cảm thấy có một chút băn khoăn, nhưng… đành vậy thôi.

Tôi hiểu sự “tế nhị” đó và như thế tôi càng hiểu được vị trí của tác giả truyện dài Chân Trời Tím đã chuyển thể thành phim, hiện nay đứng ở cái thế chênh vênh nào. Tôi hoàn toàn không buồn, không lo ngại vì điều đó và thật ra còn thấy… hơi buồn cười và “thú vị” nữa là khác. Chắc bạn đọc ở nước ngoài dễ thông cảm điều đó với tôi. Cái gì người ta cố tình muốn mọi người quên thì người ta lại dễ nhớ. Cái gì muốn “khai tử” hay đúng hơn là “bức tử”, thì nó lại dễ trở thành bất tử. Cũng như có một thời người ta “cố tình khai tử” cái gọi là “nhạc vàng”, vậy mà nhạc vàng vẫn sống mãi trong lòng mọi người. Nói như thế tôi cố tình ví von phim CTT cũng có giá trị như những bản nhạc bất hủ, chỉ là cùng một trường hợp. Giá trị của tác phẩm chỉ ở trong lòng công chúng, không ai ép nó được.

Vì vậy tôi có bổn phận phải nhắc tới Chận Trời Tím, không phải vì tôi muốn tranh giành hay tự đánh bóng mình vì điều đó hoàn toàn không cần thiết. Hầu hết các nghệ sĩ và người dân, ai đã từng sống ở miền Nam VN trước năm 1975, ai đã từng xem phim, chắc chưa ai quên cái tên phim Chân Trời Tím gắn liền với tên đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Tôi chỉ muốn nhắc đến một sự “chính danh”, nhất là cần một thông tin chân thật, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Bởi thế tôi nêu ngay từ đầu tiêu đề bài này là “đạo diễn phim Chân Trời Tím vừa từ trần”.

Một điều khác cần nói, ngay cả cuốn phim “Ván bài lật ngửa”, cũng mang tên đạo diễn là Khôi Nguyên, chứ không phải Lê Hoàng Hoa. Vậy “chính danh” ở đây là gì ? Lý do nào anh thay tên là chuyện khác, chỉ có anh mới biết.

Tuy nhiên vẫn có một vài bài lẻ tẻ nhắc tới một dòng về Chân Trời Tím khi viết theo nhật  ký của anh Lê Hoàng Hoa. Gần đây trên báo Thanh Niên, trong mục “Điện ảnh Sài Gòn một thuở” lại viết một loạt bài về Đạo Diễn Lê Hoàng Hoa, khi ông còn khỏe mạnh. Chỉ chưa đầy một tuần sau, ông tạ thế. Có một “điềm gở báo trước” gì chăng ?

Bài này rất dài, hiện còn đang đăng tiếp theo.Bài đầu tiên, theo nhật ký của người quá cố là những kỷ niệm về khi làm phim Chân Trời Tím. Xin trích nguyên văn một đoạn trong bài này

– Trích bài “Chân trời tím và cuộc tình bất ngờ” của tác giả Giao Hưởng

–  Ngày  25/07/2012 trên nhật báo Thanh Niên:

“Chúng tôi đến thăm, được ông đưa mượn cuốn bút ký Những tháng ngày làm phim do ông viết chưa xuất bản, chỉ mới đăng một phần trên tạp chí Kịch Ảnh ấn hành bên Mỹ. Dựa vào nội dung bút ký trên, cũng như một số hồi ức do ông trực tiếp kể lại, chúng tôi trích lược dưới đây những nội dung liên quan đến hoạt động của điện ảnh Sài Gòn năm xưa. Mà trước nhất là chuyện làm phim Chân trời tím – bộ phim điển hình đánh dấu đỉnh cao trong hoạt động nghệ thuật của ông thời trước, cũng là bộ phim để lại kỷ niệm đậm đà về một cuộc tình bất ngờ đã đến với ông ngoài đời đúng vào ngày bấm máy…

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương vào phim với Nửa hồn thương đau

Đó là ngày 11/12/1969 – ngày thu hình phân đoạn (sequence) đầu tiên của phim Chân trời tím tại khách sạn Continental với cảnh nhân vật chính là ca sĩ Liên (Kim Vui đóng) đang buồn thương rã rời khi biết tin người yêu mình bị đẩy ra tiền đồn xa xôi, khó mong ngày gặp lại nên đưa nỗi niềm vào tiếng hát. Để tìm bài hát thích hợp với tâm thái của Liên trong phân đoạn ấy, Lê Hoàng Hoa và Tổng giám đốc Liên Ảnh Công ty (đơn vị đầu tư sản xuất phim) là ông Quốc Phong (chủ nhiệm tạp chí Kịch Ảnh) cùng “đến phòng trà Đêm Màu Hồng gặp nhạc sĩ Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc để nhờ sáng tác một bản nhạc riêng cho phim Chân trời tím. Đó là nhạc phẩm Nửa hồn thương đau” (Bút ký Những tháng ngày làm phim của Lê Hoàng Hoa).

Như vậy, nhạc phẩm nổi tiếng ấy được Phạm Đình Chương viết cho phim Chân trời tím năm 40 tuổi (sau thời phải xót xa chia tay với vợ là ca sĩ Khánh Ngọc) và được phổ biến qua tiếng hát của em gái ruột Phạm Đình Chương là ca sĩ Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh). Nơi quay phân đoạn trên là phòng ăn của khách sạn Continental do nhân viên phụ trách dàn dựng của đoàn phim khéo sửa thành một “phòng trà ca nhạc” để nhân vật Liên sẽ lên hát. Theo ý đạo diễn, để gây ấn tượng mạnh về nỗi cô đơn của Liên, không nên có mặt toàn ban nhạc đệm ở phía sau Liên mà chỉ có “một nhạc sĩ kéo violon đứng cạnh ca sĩ và thật dễ thương khi nhạc sĩ Phạm Đình Chương đồng ý với tôi là anh sẽ đảm nhận vai người kéo violon đó”. Ấn định sẽ bấm máy lúc 7 giờ tối hôm ấy…”  – Ngưng trích

Tại sao tôi phải đi theo đoàn làm phim

Sau đó tác giả kể đến những chuyện “hậu trường” cùng với những chuyện tình của nhà đạo diễn đào hoa ấy. Theo nhận định riêng của tôi, dù phải loại bỏ bớt một số câu chữ, nhưng đoạn viết theo bút ký này có nhiều điều đứng đắn, chân thật. Tôi có thể xác nhận điều này vì tôi là người cũng có mặt trong suốt thời gian quay phim Chân trời tím ngay từ ngày đầu quay phim ở khách sạn Continental và cũng có mặt ở Đêm Màu Hồng khi thương thảo với anh Phạm Đình Chương soạn nhạc chính cho phim CTT.

Tôi đi theo đoàn làm phim vì hai lý do. Thứ nhất anh Mai Thảo và tôi được anh Quốc Phong, Tổng giám đốc hãng phim Liên Ảnh nhờ chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết dày hơn 500 trang để quay phim. Chúng tôi viết “kịch bản đối thoại”, còn phần “kịch bản kỹ thuật”, tất nhiên do đạo diễn làm, nên cần thiết phải có sự phối hợp ăn ý.

Thứ hai, tôi được Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đề nghị với Bộ Tổng Tham Mưu làm đại diện yểm trợ các phương tiện của quân đội cho đoàn làm phim đồng thời góp ý kiến về những cảnh quay có liên quan tới đời sống trong quân ngũ và chiến trường. Do đó ngoài nhiệm vụ làm ở phòng Báo Chí Quân Đội, tôi luôn đi theo đoàn làm phim này từ Saigon đến Nha Trang, Cam Ranh (xin nói rõ ở đoạn sau). Cho nên tôi muốn bổ sung ở đây vài chi tiết cùng vài kỷ niệm xưa với nhà đạo diễn quá cố Lê Hoàng Hoa.

Kỷ niệm thứ nhất: bê giường ca sĩ Minh Hiếu chạy mưa

Anh sinh năm 1933, cũng vừa đúng bằng tuổi tôi. Sau 6 năm du học ở Mỹ về điện ảnh tại thành phố Clarkesville bang Georgia (1952 – 1958), Lê Hoàng Hoa về nước năm 25 tuổi. Tôi quen anh như một chuyện tất nhiên như quen với nhiều anh em khác, không thể nhớ rõ vì sao và ở đâu. Có một kỷ niệm ban đầu giũa chúng tôi khá ngộ nghĩnh. Thời kỳ anh mới học ở Mỹ về, Mai Thảo, Hoài Bắc, Thanh Nam thường gọi đùa anh là Tony Hoa.

Một lần, khi tôi xuất bản truyện dài “Những lá thư màu xanh”, nhà xuất bản nhờ tôi đi tìm một tấm hình màu làm bìa sách. Gặp Nguyễn Mộng Hùng, (tức Hùng Sùi, cái nick name tôi đặt cho ông trong nhiều bài phóng sự, hiện nay ông ở San Jose), hồi đó ông Hùng mới là trung úy thuộc binh chủng nhảy dù. Ông Hùng nói biết nhà nữ ca sĩ Minh Hiếu. Năm đó Minh Hiếu mới ra hát, còn trẻ, mũm mĩm dễ… ghét lắm.Hùng Sùi nói “tao là fan số 1 của Minh Hiếu” và ông móc trong bóp ra một sợi tóc nói là tóc của nữ ca sĩ này, ông xin được, luôn để trong bóp. Thế là tôi và Lê Hoàng Hoa cùng Hùng Sùi hẹn đến nhà Minh Hiếu chụp ảnh in bìa sách. Hồi đó cô còn ở căn nhà bên đường xe lửa, dường như là đường xe lửa số 6, ở Phú Nhuận, cô ở trên lầu. Minh Hiếu trang điểm khá công phu, mặc bộ đồ ngủ rất đẹp, chuẩn bị sẵn một sấp thư. Tư thế chụp hình do Lê Hoàng Hoa sắp đặt : MH nằm sấp trên giường đọc những lá thư rải rác quanh cô. Bất ngờ khi vừa chuẩn bị xong, trời đổ cơn mưa lớn. Nhà bị dột, giường Minh Hiếu nằm cũng tí tách những giọt mưa rớt xuống. Hùng sùi và Lê Hoàng Hoa cấp tốc bê chiếc giường sang gian bên cạnh, tiếp tục chụp ảnh. Hơn 10 tấm ảnh màu của Lê Hoàng Hoa ra đời từ đấy. Bìa sách “Những lá thư màu xanh”, chọn một tấm và cho xuất bản vào năm 1963. Tiếc rằng tôi không còn cuốn sách để gửi tác phẩm ảnh này của nhà đạo diễn đến bạn đọc. Kỷ niệm này, sau 40 năm, mỗi lần gặp nhau chúng tôi còn nhắc lại.

Phim Chân trời tím ra đời như thế nào

Trước hết, anh Quốc Phong thương lượng với tôi để làm thành một cuốn phim “đặc biệt”,  thời đó kỹ thuật mới nhất của điện ảnh là cinemascope, màu technicolor… Chúng tôi nghĩ đến đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, người ôm ấp rất nhiều ý tưởng “làm mới” theo điện ảnh nước ngoài. Gặp Hoàng Vĩnh Lộc, người cũng rất hào hứng sau khi đọc Chân Trời Tím, anh loay hoay viết tạm kịch bản và tìm diễn viên. Anh muốn có một khuôn mặt mới cho điện ảnh VN nên tìm được một anh sinh viên cao ráo, bảnh trai, hoạt bát, đóng vai Phi, vai chính trong phim, rồi đến một dàn nữ diễn viên như Kiều Chinh, Thanh Lan… Nhưng 7 ông chủ của hãng phim Liên Ảnh lại có nhiều bất đồng. Sau đó anh Quốc Phong đề nghị đạo diễn Lê Hoàng Hoa và 2 diễn viên nam nữ chính là Hùng Cường và Kim Vui. Chẳng biết ông Quốc Phong thuyết phục ra sao, tất cả 7 ông chủ hãng phim đều gật đầu.

Nhưng quả thật về Hùng Cường và Kim Vui, khiến tôi lo ngại.

Tin đó được tung ra, có nhiều dư luận bất lợi vì đố kỵ, ghen ghét, Hùng Cường đã bị một đám phá rối. Một ký giả hồi đó, tường thuật lại chuyện tai nghe mắt thấy, xin trích một đoạn ngắn:

Hùng Cường và Kim Vui bị phá rối 

“…Một buổi nọ tại sàn quay của Liên Ảnh công ty, đạo diễn đang hướng dẫn Hùng Cường và Kim Vui về diễn xuất trước ống kính của máy quay phim, thì tại quán cà phê gần trước cửa phim trường, có mấy tay tài tử chuyên nghiệp thuộc dạng thường, chuyên đóng vai phụ, nếu nói theo cải lương thì kép nhì, kép ba. Mấy tay này dựng Honda, một tên đi vào phim trường coi tập dượt, còn mấy tên kia thì ngồi lại kêu cà phê uống ngồi chờ. Ðộ nửa giờ đồng hồ thì tên kia đi trở ra, mấy tên ngồi chờ chưa kịp hỏi thì anh ta phát tay lia lịa, miệng thì thốt lên : “Hôi mùi cải lương quá” ! Ði ra lẹ lẹ không dám coi thêm… Thế là mấy tên cười rần lên như đang coi một màn hài hước.

Lúc đó cách một chiếc bàn, nghệ sĩ Năm Châu cũng đang ngồi uống cà phê, ông được Liên Ảnh mời đến xem Hùng Cường đóng phim, lại gặp người mà trước đây từng quen biết trong lúc chuyển âm phim, nên ngồi trò chuyện. Khi nghe mấy tên này nói như vậy, ông lên tiếng : “Mùi hôi cải lương như thế nào vậy ? Mấy chú nói rõ lên đi”.

Gặp phải một nghệ sĩ kỳ cựu của cải lương có máu mặt, mấy tên du đãng lên Honda dông mất. Và sau việc Hùng Cường bị châm chích thì người ta tự hỏi, phải chăng nghệ thuật điện ảnh chỉ dành riêng cho một số người mà thôi, những ai đang làm nghề nghiệp khác nếu bước vào thì cũng bị “tai họa” như Hùng Cường !”

Bất ngờ lớn nhất của tôi

Thật ra tôi cũng bị ám ảnh bởi cái tên Hùng Cường trên các sân khấu cải lương và Kim Vui gần như chưa tạo được tên tuổi gì trong làng ca nhạc chứ chưa nói tới điện ảnh. Nhưng tôi đã lầm. Khi xem Kim Vui diễn xuất lần đầu tiên với Hùng Cường dưới bàn tay “phù thủy” Lê Hoàng Hoa, tôi thầm thán phục tài năng của bộ ba này. Họ đóng phim rất tự nhiên, thuần thục. Nói như anh Mai Thảo dặn dò Hùng Cường : “Đóng phim là không đóng gì cả”.

Hùng Cường lột bỏ ngay được bộ mặt thường có trên sân khấu, anh vào vai diễn bình thường, giản dị như một anh hạ sĩ quan thật ngoài đời. Kim Vui vào vai cô vũ nữ đang yêu tận tình, dịu dàng, chung thủy nhưng khi cần tàn nhẫn lại rất “kinh khủng”. Cả hai như có tài năng thiên phú hay “gien” di truyền. Anh Quốc Phong quá hài lòng vì sự lựa chọn của mình, tuyệt đối tin tưởng vào bộ ba này. Một tờ báo đã viết :

“Trường hợp Liên Ảnh công ty đã dẹp bỏ mọi dư luận, mọi thành kiến và cả sự công kích của một số người. Ông giám đốc Quốc Phong được coi như là người làm thương mại, ông đã nhắm vào con số đông đảo khán giả cải lương, nên đã mời Hùng Cường cộng tác và phim đã thành công như nhiều người biết.

Quả đúng như vậy khi phim Chân Trời Tím được trình chiếu chẳng những thành công về tài chánh, mà còn đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật năm 1971. Chưa dừng lại ở đó, Chân Trời Tím lại còn được chiếu tại Lào và Pháp. Đó là lần đầu tiên một cuốn phim Việt Nam phụ đề Pháp ngữ mang tên Lhorizon Pourpre được gởi đi trình chiếu tại Ðại Hội Ðiện Ảnh tổ chức ở Dianard, Anh Quốc.”

Hùng Cường đi mua “lon hạ sĩ”

Cũng trong ngày đầu quay phim, Hùng Cường chạy đến ghé tai tôi hỏi nhỏ : “Anh ơi cái lon hạ sĩ thế nào, em chưa có”. Chết thật, Hùng Cường đóng vai chính là hạ Sĩ tên Phi trong phim, vậy mà không ai ngờ anh chưa biết cái lon hạ sĩ ra sao, đeo ở đâu. Tôi bèn lôi ngay Hùng Cường ra xe, chở đến tiệm An Thành trước cửa chợ Bến Thành, mua một cặp “lon hạ sĩ” và đeo giùm lên tay áo. Trẻ con, người lớn, nhất là phụ nữ kéo đến xem nghệ sĩ Hùng Cường, cứ nháo nhác hỏi nhau “anh ấy vào lính khi nào vậy” rồi chỉ trỏ lung tung, chả ai thèm nhìn tôi cả. Cái “lon” ấy Hùng Cường đeo gần hết cuốn phim.
Năm 1996 Hùng Cường mất tại Mỹ, nhưng vẫn còn mãi mãi một giọng ca vàng sân khấu cải lương, một tiếng hát nồng ấm mạnh mẽ trên sân khấu ca nhạc cùng Mai Lệ Huyền và một diễn viên điện ảnh xuất chúng. Hùng Cường đã ra đi vĩnh viễn để lại đàng sau người con nam ca sĩ cũng nổi tiếng trong nhiều năm qua là Quang Bình và một đạo diễn nổi tiếng không kém đó là Quang Đại.

Kim Vui có thân hình tuyệt đẹp

Nhà văn và cũng là nhà phê bình Hồ Trường An đã diễn tả vẻ đẹp của Kim Vui trong bài “Theo Chân Những Tiếng Hát” trên báo Tổ Hợp Miền Đông Hoa Kỳ xb 1998:

“Kim Vui mặc áo dài thì áo dài phải mang ơn chị, vì nhờ chị mà áo mới đạt được cái đẹp trong công việc bợ ngực bó eo người mặc. Cái eo của chị thon, lưng chị dài, đùi chị cũng dài, ngực và mông chị đều cao và lồng lộng nét tròn mê hoặc. Chị mặc áo đầm hở vai, và mang găng tay kéo lên khuỷu tay, áo và găng đều bằng nhung đỏ hay nhung đen thì quá choáng lộn, quá bốc lửa như Rita Hayworth trong phim Gilda. Kim Vui cuốn tóc từng lọn boucles anglaises thì đẹp và sang như bà hoàng. Rất tiếc, khán thích giả thích xem nhan sắc của chị lúc chị hát chứ không kể số gì tới giọng hát có căn bản của chị.

Về phim ảnh, Kim Vui đóng ba phim như Chân Trời Tím, Thương Hận, và Cúi Mặt. Chính nhờ vai Liên trong Chân Trời Tím, chị đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc. Trong phim nầy, chị có dịp mặc áo tắm và có dịp khỏa thân trước giá vẽ của nhân vật họa sĩ để phô bày đường cong nét lượn tuyệt mỹ trên thân thể chị. Hùng Cường, bạn đồng diễn của chị trong phim Chân Trời Tím có lần tuyên bố với báo chí rằng về điện ảnh, Kim Vui là bạn đồng diễn lý tưởng nhất của anh. Ngoài tài năng nghệ thuật trình diễn đa diện, Kim Vui còn biết vẽ tranh sơn dầu”…

Những diễn viên đã có mặt trong CTT

Thật ra phim Chân trời tím còn có một số tài tử, danh ca khác cùng tham gia diễn xuất, tôi không nhớ hết, xin tạm kể : Diễn viên trong phim gồm : Hùng Cường vai Phi, Kim Vui vai Liên, Thanh Lan và Mộng Tuyền trong vai hai cô con gái của trung tá Lạc, Ánh Nga vai Loan, Bảo Ân vai Điền, Ngọc Đức vai Paul, Ngọc Phu vai đại úy Minh, Hà Huyền Chi, Khả Năng dù đóng phim lần đầu song cũng rất “ngầu” trong vai quân nhân bảo vệ tiền đồn… Và hơn 200 diễn viên quân đội. Bộ phim này đoạt ba giải vàng về Văn học nghệ thuật trước năm 1975…”

Những đơn vị đã yểm trợ và đóng phim

Theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham Mưu, một buổi họp tại Bộ Tư Lệnh Biệt Kích tại Nha Trang được tổ chức. Tham dự gồm có cái vị đại diện có thẩm quyền tại Bộ Tư Lệnh Biệt Kích, Bộ TL KQ tại Nha Trang, Trường Biệt Kích – Động Bà Thìn (Cam Ranh), Trường Hạ Sĩ quan Đồng Đế, Bộ TL Hải Quân, Tiểu Khu Nha Trang… Ông Quốc Phong đại diện hãng phim và tôi là đại diện của Bộ TTM thuyết trình về cuốn phim và nhu cầu yểm trợ. Buổi họp được các vị tư lệnh các binh chủng có mặt thảo luận sôi nổi và rất tích cực giúp mọi phương tiện cho cuốn phim.

Trường BK có một tiểu đoàn đóng vai “địch tấn công đồn”. Một tiểu đoàn của Trường HSQ Đồng Đế làm đơn vị đồn trú bị tấn công được không quân yểm trợ, sau đó là pháo binh, thiết giáp. Vũ khí địch được điều động từ Phòng 4 Bộ TTM ra.

Tiền đồn Suối Dầu (gần Nha Trang) đã hư hỏng nên được lệnh xây dựng một đồn khác. Chúng tôi đã xin cho dời lại ngày phá đồn để quay phim. Cảnh không quân giải vây, dội bom, bắn đạn xối xả xuống khu quanh đồn và phá hủy tiền đồn là cảnh quay thật.  Thiết giáp cũng tha hồ nhả đạn. Cảnh này được một sĩ quan không quân và đại tá tư lệnh BCH Biệt Kích chỉ huy. Lê Hoàng Hoa ở bên cạnh làm công việc chuyên môn rất thành công, không một sơ sót nào xảy ra nên không có tai nạn như chúng tôi lo ngại.

Kỷ niệm và những điều về thực hiện phim Chân trời tím với Lê Hoàng Hoa còn rất nhiều. Tiếc rằng tôi không thể viết hết và trí nhớ ở cái tuổi tôi có lẽ cũng không còn được minh mẫn nữa.

Sau này, có thể kể là những năm sau 2.000, Lê Hoàng Hoa từ Ba Lan về gặp lại chúng tôi vài lần. Vẫn thắm đượm tình anh em. Tuy nhiên tôi cũng thấy được Lê Hoàng Hoa có một chút “mặc cảm” với chúng tôi, có lẽ vì anh đã làm phim CTT rồi sau đó lại làm những phim khác hẳn với CTT… Tôi cũng xác nhận sau năm 1975, Lê Hoàng Hoa làm nhiều phim, trong đó phim Ván Bài Lật Ngửa (với tên đạo diễn Khôi Nguyên) là nổi tiếng hơn cả. Nhưng đó là chuyện của những năm sau 1975. Tuy nhiên chúng tôi đều cố tránh nhắc đến chuyện đó, đôi khi con người có những nghịch cảnh oái oăm, khó nói thành lời.

Xin mượn bài viết này vĩnh biệt Lê Hoàng Hoa, nhà đạo diễn tài ba và cũng đào hoa hạng nhất VN qua nhiều thời kỳ. Hôm nay cũng là ngày đưa anh tới nơi an nghỉ cuối cùng.

Văn Quang  (Sài Gòn 3-8-2012)

– Mời nghe Ngọc Hạ – Nguyên Khang trong nhạc phẩm “Chân trời tím” của Trần Thiện Thanh

http://youtu.be/BpAU7kQ8qhk

NS BẢO THU – HS LÊ MINH

BẢO THU

TỪ ẢO THUẬT GIA

THÀNH NHẠC SĨ

Ông là nhạc sĩ của những ca khúc quen thuộc với đông đảo quần chúng từ trước năm 1975 như “Ước vọng tương phùng”, “Giọng ca dĩ vãng”, “Đừng hỏi vì sao tôi buồn”. Ngoài ra, ông còn nổi tiếng là ảo thuật gia có tài. Dưới đây là tâm sự của ông.

– Tại sao từ ảo thuật gia Nguyễn Khuyến, ông lại trở thành nhạc sĩ Bảo Thu ?

– Con người tôi khá ôm đồm. Ngoài ảo thuật, tôi còn sáng tác nhạc, biên tập, dàn dựng, đạo diễn nhiều chương trình và phim video ca nhạc. Thậm chí cả lĩnh vực múa, kịch rối tôi cũng đã học ở Hà Lan năm 1971. Riêng âm nhạc, 8 tuổi tôi đã học đàn mandoline, 15 tuổi học guitar. Thấy một thằng Sơn Đông mãi võ nghèo xác xơ nhưng chú tâm học hỏi, thầy thương, miễn học phí rồi cho cả cây đàn. Năm 20 tuổi, tôi viết bản nhạc đầu tiên Ước vọng tương phùng, năm sau ra ấn phẩm đầu tiên là Đừng hỏi vì sao tôi buồn.

– Anh có thể nói về hoàn cảnh ra đời ca khúc “Giọng ca dĩ vãng” ?

– Dạo đó, cô ấy sinh hoạt trong Ban văn nghệ thiếu nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức. Tôi thỉnh thoảng cũng đến tham gia sinh hoạt và phụ thầy Đức dạy nhạc cho nhóm. Rồi vì nhà ở gần nhau nên tôi thường đến nhà cô ấy dạy nhạc thêm. Tình cảm giữa hai đứa nảy sinh, nhưng chưa đi đến đâu thì cô ấy cho hay là gia đình đã đính hôn cho cô từ trước. Tôi bị sốc, bèn viết : “Ngày xưa, mỗi lần em buông tiếng hát, thì anh tay phím nắn nót cung đàn. Từng nhịp nhặt khoan anh ru hồn theo tiếng tơ, nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc… Cung lỡ dây chùng, mấy ai đàn đừng sai”. Sau khi chia tay, chỉ 1-2 năm sau cô ấy trở thành ca sĩ nổi tiếng. Dẫu vậy, đến năm 1970 vẫn chưa thấy cô ấy lấy chồng.

– Thế còn bà xã anh hiện nay ?

– Cô ấy là ca sĩ Thanh Tâm. Thanh Tâm cũng là học trò của tôi trong những năm 1969-1970, nhưng đến năm 1973 thì trò hết hát, thầy hết dạy vì phải cùng… chuẩn bị cho đứa con đầu lòng.

– Công việc hiện nay của anh như thế nào ?

– Sản xuất, thực hiện các chương trình video cải lương. Đạo diễn các video clip ca nhạc… Bận rộn lắm. Tôi vừa đi vào vùng rốn lũ ở Tân Hồng, Đồng Tháp để làm phim ca nhạc.

Từ “tiếng hát học trò” đến Giọng ca dĩ vãng

Tôi gặp nhạc sĩ Bảo Thu vào một sáng trung tuần tháng 10/2011 ở hành lang Bích Câu trong Cung văn hóa Lao động. Lúc này, anh đang “cuốn gói” sau thời gian trưng bày gian hàng bán dụng cụ ảo thuật từ một hội chợ diễn ra ở đây.

Vậy là anh gắn bó với “nghiệp” ảo thuật đến gần 60 năm rồi. Bảo Thu kể năm 16 tuổi (1960), anh nổi tiếng trong làng ảo thuật với nghệ danh Nguyễn Khuyến (anh tên thật là Nguyễn Trung Khuyến). Chơi chung với anh là Tùng Phương – một nghệ sĩ đàn guitar, dạo mới 11 tuổi đã nổi tiếng là “thần đồng độc tấu Tây ban cầm”. Những lúc ngồi đợi đến lượt diễn, anh thường “nghịch ngợm” với đám nhạc cụ (trống, guitar…). Tiếng là nghịch nhưng thực ra anh đã chơi được mandolin và học nhạc lý căn bản từ hồi 8 tuổi, lại “học lóm” của Tùng Phương vài chiêu nên cũng không quá khó để xử lý mấy món “đồ chơi” này.

Thấy Khuyến có năng khiếu, nhạc sĩ Lâm Tuyền tỏ ý muốn dạy nhạc miễn phí cho cậu. Khuyến muốn học nhưng lại không có đàn, vậy là ông thầy bao luôn cây đàn cho học trò. Chẳng mấy chốc, Khuyến trở thành một nhạc công chuyên nghiệp, có thể “trám” vào bất cứ vị trí nào trong ban nhạc (guitar, trống, bass…). Hành trình âm nhạc của chàng trai sau này trở thành nhạc sĩ Bảo Thu bắt đầu từ đó.

Dạo ấy (khoảng 1965), ở Sài Gòn có nhiều nhạc sĩ mở lò đào tạo ca sĩ (nếu gọi là “trung tâm” thì lớn quá, gọi là “lớp” cũng không đúng, cho nên gọi “lò” là chính xác nhất). Với ban Việt Nhi, cả khi thu âm ở đài phát thanh hay tập dượt ở nhà riêng của nhạc sĩ Nguyễn Đức, hễ thiếu nhạc công là nhạc sĩ gọi Nguyễn Khuyến đến. Ban Việt Nhi gồm toàn những cô gái tuổi dậy thì (khoảng 14, 15 tuổi), hát rất hay và mắt liếc sắc như dao.

Có một cặp mắt trong ban Việt Nhi làm Nguyễn Khuyến xuyến xao. Nàng tên T., nhỏ hơn Khuyến 5 tuổi, dáng người thanh mảnh với đôi mắt to, long lanh. Mái tóc của T. luôn uốn cong cong như một vầng trăng khuyết, che lấp một phần má (sau này Khuyến mới biết, kiểu tóc đặc biệt này là để che một vết sẹo mà tạo hóa đã chơi “khăm” để lại trên má nàng)… Khi đã thân thiết, Khuyến mới biết nhà T. ở đường Tôn Đản (Q.4), gần nhà mình. Vậy là ngoài những buổi tập hát ở nhà thầy Nguyễn Đức, đôi bạn còn có dịp cận kề ở nhà của T. để “… Mỗi lần em buông tiếng hát, thì anh tay phím nắn nót cung đàn. Từng nhịp nhặt khoan anh khẽ dìu theo tiếng em. Nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc. Và rồi hờn yêu trong mỗi lần em hát sai. Em nũng nịu cười, nói : “Sai là tại anh !” (Giọng ca dĩ vãng).

Bảo Thu tâm sự : “Tôi trở thành nhạc sĩ chính là do T. tạo niềm cảm hứng. Tôi nhớ mãi một hôm nàng chợt bảo tôi : “Có khi nào anh hình dung rằng có một người con gái ngồi bên song cửa mơ màng và chợt nhớ đến anh”. Câu nói ấy cứ ám ảnh tôi mãi, và từ ý này tôi ôm đàn viết nhạc, đó là ca khúc đầu tay “Ước vọng tương phùng” ký bằng tên thật. Tưởng viết nhạc chơi cho vui, ai dè Ước vọng tương phùng được giải thưởng của đài phát thanh. Có hứng, tôi viết tiếp vài ca khúc nữa nhưng thú thực là không thành công. Lại một hôm, T. hỏi tôi : “Anh đã nghĩ đến chuyện lập gia đình chưa ?”. Tôi trả lời mình còn nhỏ tuổi, lại chưa có công danh sự nghiệp gì nên cũng chưa nghĩ đến chuyện vợ con (lúc đó tôi mới 21 tuổi, còn T. 16). Chợt T. nói nhỏ cho tôi biết là gia đình em đã hứa hôn cho em với một người. Tôi biết nàng ngầm gợi một điều gì đó ở tôi nhưng tôi chẳng biết phải làm sao hơn ngoài sự hụt hẫng, buồn đến nao lòng… Thế là tôi viết : “Ngày nào mình chưa quen biết, ngỡ ngàng khi đứng bên nhau. Ngày nay đã mến nhau rồi, vẫn còn nhìn nhau không nói… Lần đầu gặp anh em hứa, chúng mình sẽ mãi bên nhau. Giờ đây đôi ngả chia lìa. Chớ hỏi vì sao tôi buồn…” (Đừng hỏi vì sao tôi buồn). Lần này tôi ký tên Bảo Thu. Nghệ danh này là do tôi “mượn” từ tên những cô bạn gái : Bích Bảo, Thanh Thu (Đà Lạt) và Xuân Thu (Sài Gòn)…”.

Rồi cũng đến lúc T. tách khỏi ban Việt Nhi để hát đơn ca. Nàng hay mặc áo dài trắng hát trên sân khấu nên được khán giả và giới báo chí thời đó mệnh danh là “Tiếng hát học trò”. Từ danh xưng này, Bảo Thu lại viết ca khúc Tôi yêu tiếng hát học trò để bày tỏ nỗi lòng. T. thừa biết tình cảm của Thu dành cho nàng. Tuy nhiên, với cốt cách gia giáo, T. vẫn giữ một khoảng cách chừng mực khi tiếp xúc với Thu.

Khoảng 3 năm sau, bạn bè trong giới văn nghệ kháo nhau “T. sắp lấy chồng”. Để tránh cho nàng khó xử, Thu không đến tập hát cho nàng nữa. Trong những cơn buồn thấm thía, ông viết Giọng ca dĩ vãng : “Nhưng em nuôi mộng ước về tương lai, hoa mai giăng ngập nẻo đường em đi. Rồi em đành chối tiếng giao hòa, từ ly là tiếng thét đau lòng, sầu đưa lối… Lời ca ngày ấy đã xa rồi, mà ai còn chuốt mãi cung đàn, vọng về tim…”. Bài hát do Bảo Thu tự xuất bản (1967), bìa do một họa sĩ vẽ với người mẫu là ca sĩ Kim Loan. Lúc này hãng đĩa Sơn Ca của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông mới thành lập và lần đầu tiên ca sĩ Giao Linh được mời thu đĩa, Giao Linh đã chọn bài Giọng ca dĩ vãng. Trước Giao Linh cũng có nhiều ca sĩ hát Giọng ca dĩ vãng, trong đó có cả T. nhưng phải nói chính Giao Linh đã đẩy Giọng ca dĩ vãng lên đỉnh. Số lượng in ra lên đến 500.000 bản, mỗi bản bán 20 đồng. Tính ra trên 1.000 lượng vàng thu được từ tiền bán ấn phẩm ca khúc này. Sau đó, Bảo Thu viết tiếp ca khúc Vọng về tim nhưng không thành công cho lắm.

Nhạc sĩ Bảo Thu nhớ lại : “Sau năm 1975, tôi chưa một lần gặp lại T., nghe nói gia đình T. đã định cư ở Mỹ. Vừa rồi tháng 7/2011, Trung tâm Thúy Nga Paris có đến phỏng vấn tôi tại nhà, hỏi về trường hợp tôi viết ca khúc Giọng ca dĩ vãng. Tôi bảo chuyện này rất tế nhị, bởi tôi nói ra biết đâu lại gây tổn thương cho T. cũng như phương hại đến hạnh phúc gia đình T. Họ cho tôi biết chồng của T. đã qua đời. Tôi lại thấy hụt hẫng… Không hiểu sao, mỗi khi hát Giọng ca dĩ vãng, đến câu cuối “Cung lỡ dây chùng, mấy ai đàn đừng sai”, tôi lại thấy có một cái gì đó xót xa cho những cặp tình nhân đã từng một thời quấn quýt nay phải rời xa”. (theo Hà Đình Nguyên)

ẢO THUẬT VIỆT VỀ ĐÂU ?

Muốn gắn bó với ảo thuật, người làm nghề phải tự thân vận động khi Việt Nam chưa có trường lớp đào tạo chính quy, không có nơi biểu diễn ổn định. Hệ quả là sự nghèo nàn trong biểu diễn, tiết mục chắp vá, sao chép của nhau khiến bộ mặt ảo thuật Việt chưa rõ hình dạng.

Thiếu “sân chơi” đúng nghĩa

Họ đã sống tạm bợ nhờ diễn trong các chương trình “đại nhạc hội”, nhà hàng, quán bar, thậm chí các quán nhậu vỉa hè

Đến xem chương trình Gala ảo thuật 2012 được tổ chức tại Rạp Xiếc ở Công viên 23/9 ở Sài Gòn, nhiều khán giả đã xúc động trước lòng yêu nghề của các ảo thuật gia. Qua 4 suất diễn dưới sự hỗ trợ hết mình của Đoàn Xiếc, cuộc hội ngộ của các nghệ sĩ ảo thuật nổi tiếng là hội viên Hội Ảo thuật gia quốc tế – IBM (Intenational Brotherhood Magicians) đang hoạt động tại Sài Gòn và các tỉnh, thành trong cả nước đã được công chúng đón nhận. Dù lượng vé bán không nhiều nhưng đây là dịp hiếm hoi để các ảo thuật gia gắn bó với nghề quy tụ trên một sàn diễn.

Lên tiếng sau 14 năm

Với họ, dù gala này chưa phải là sân chơi đúng nghĩa để giới thiệu sự phát triển không ngừng của ảo thuật Việt nhưng “có còn hơn không, khi ảo thuật Việt im hơi, lặng tiếng suốt 14 năm qua” – nhà ảo thuật David Hùng bùi ngùi.

Còn với nhà ảo thuật Nguyễn Khuyến (nhạc sĩ Bảo Thu, thành viên Hội đồng Giám khảo Liên hoan Ảo thuật toàn quốc lần 1 năm 2008), người cố vấn chương trình Gala ảo thuật 2012, cho biết : “Nhiều năm rồi, gần 60 nhà ảo thuật Việt có tên tuổi tại Việt Nam và được IBM công nhận mới có dịp tái ngộ khán giả Sài Gòn. Họ đã sống tạm bợ nhờ diễn trong các chương trình “đại nhạc hội”, nhà hàng, quán bar thậm chí diễn ở quán nhậu vỉa hè, khi ảo thuật còn bị xem là tiết mục phụ, chỉ để lấp khoảng trống cho các ca sĩ ngôi sao trong các chương trình văn nghệ. Những ai yêu nghề ảo thuật đều không khỏi chạnh lòng vì họ chưa có sân chơi đúng nghĩa để cống hiến hết tài năng của mình”.

Vào bên trong hậu trường Gala ảo thuật 2012 mới chứng kiến những hình ảnh xúc động của các ảo thuật gia. Ông bầu Duy Ngọc – người từng tổ chức nhiều chương trình ảo thuật xuyên Việt – nhạc sĩ Bảo Thu, nghệ sĩ Tòng Sơn đã nhiều năm rồi mới gặp lại các học trò, đàn em mà tuổi đời cũng đã ngoài 50. Và  từ sau Liên hoan Ảo thuật toàn quốc lần 1-2008 tổ chức tại Hà Nội, đến nay họ mới có điều kiện gặp gỡ, thăm hỏi và trao đổi kinh nghiệm. Trong niềm vui mừng, có cả những giọt nước mắt ngậm ngùi, luyến tiếc. Bởi đã qua rồi cái thời ảo thuật được xem là tiết mục “đinh” của các đêm diễn.

Với họ, 8 suất diễn tại Sài Gòn (từ ngày 11 đến 20/5/2008 sẽ là bước đệm nhằm chuẩn bị tiến tới Liên hoan Ảo thuật toàn quốc lần 2 – 2012 do Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch tổ chức vào tháng 12/2012 tại thủ đô Hà Nội. “Tuy nhiên, điều chúng tôi cần chính là một sân chơi đúng nghĩa để anh em nghệ sĩ ảo thuật có nơi sinh hoạt, làm nghề, thi thố tài năng trước khi nói đến tranh tài tại liên hoan cấp quốc gia” – nhà ảo thuật Taylor (Nhà hát Ca múa nhạc Biển Xanh – Bình Thuận) nói.

Vẫn làm những trò vặt

Tham gia gala lần này, sự có mặt của các ảo thuật gia: Kao Long, Hoàng Lang, David Hùng, Taylor, Thu Huyền, Ngọc Ánh… đã có những tiết mục biểu diễn cuốn hút người xem. Họ đều đã trải qua ít nhất 10 năm trong nghề, nên 2/3 tiết mục họ giới thiệu trong gala này là những tiết mục tự sáng chế, có tính độc đáo và tạo ấn tượng, như: người chui vào thùng đâm kiếm; nhiều thiếu nữ xuất hiện trong một chiếc tủ nhỏ; vải biến thành ô đủ màu sắc…

Thế nhưng, qua đôi mắt nhà nghề của ảo thuật gia Nguyễn Khuyến : “Tất cả đều là những trò cũ, được cấu trúc lại, thêm vài tiểu tiết để trình diễn. Vì lâu nay không có sân chơi chuyên nghiệp, anh em đều phải kiếm sống khắp nơi nên không thể đòi hỏi họ sáng tạo những tiết mục lớn do tiền đầu tư quá cao, lại không thể vận chuyển cơ động”.

Ảo thuật Việt từ thập niên 70 thế kỷ trước đã có những tên tuổi lừng lẫy, tạo được dấu ấn đối với khán giả trong và ngoài nước : Nguyễn Thành Long, Nguyễn Khuyến, Tony Quang, Nguyễn Đức Trường (tức Z27), Nguyễn Kim, Thanh Trúc, Ngọc Phước, Hoàng Biếu, Anh em Lê Hảo Tâm – Mạc Can (anh trai nghệ sĩ hài Mạc Can)… Nhưng đến nay, khi thế hệ vàng của ảo thuật sắp lui vào dĩ vãng, vẫn chưa có thế hệ tiếp nối và viễn cảnh của bộ môn nghệ thuật giải trí này xem ra còn quá mịt mờ.

Vài hàng tiểu sử

Nhạc sĩ Bảo Thu tên thật là Nguyễn Trung Khuyến, SN 1944 tại Sài Gòn (gốc Cần Thơ). Ông còn có những tác phẩm nổi tiếng khác như : Cho tôi được một lần, Đừng hỏi vì sao tôi buồn, Nếu xuân này vắng anh, Hoa sầu đông, Vọng cố nhân, Một lời cho em…

Ngoài sáng tác nhạc, ông còn là nhà ảo thuật nổi tiếng : Giáo sư đại biểu ảo thuật (1964), giám khảo Liên hoan Ảo thuật phía Nam  tại Sài Gòn(1977), giám khảo Liên hoan Ảo thuật toàn quốc – Hà Nội (2008), hội viên Hội Nghệ sĩ Ảo thuật Pháp, hội viên Liên đoàn Nghệ sĩ Ảo thuật quốc tế… Nhạc sĩ Bảo Thu hiện là Giám đốc Công ty văn hóa – văn nghệ ca và hát (Tôn Thất Thuyết, P15, Q4).

Mời nghe ca khúc “Giọng ca dĩ vãng” qua giọng ca của :

Chế Linh : http://youtu.be/54B6aY7Fy3I

Giao Linh : http://youtu.be/hDR-YJ83uaI

Vĩnh biệt nhà ảo thuật “gạo cội”

Sự ra đi 24/3/2012 đầy thương tâm của nhà ảo thuật Tony Quang – Chủ nhiệm Chi hội Xiếc, Ảo thuật Hội Sân khấu ở Sài Gòn – do bệnh ung thư ngay khi gala ảo thuật tại Sài Gòn đang diễn ra đã khiến hầu hết anh em ảo thuật gia đau buồn. Một tên tuổi lớn của làng ảo thuật Việt Nam lừng lẫy với nhiều tiết mục được xem là ấn tượng và được đồng nghiệp kính nể đã vĩnh viễn ra đi.

Vào nghề từ dịp ông được gia đình đưa sang Pháp du học khi lên 9 tuổi, do yêu thích nhà ảo thuật Tony Jaccollte, ông đã nuôi mộng trở thành nhà ảo thuật. Năm 1965, khán giả Sài Gòn ngày ấy đã biết đến tên Tony Quang khi ông vượt qua những trò đơn thuần chỉ đòi hỏi sự tinh mắt, khéo tay để tiến dần đến những trò ảo thuật phải đầu tư mà trò cưa cô gái làm ba khúc là một tiết mục trình diễn ấn tượng khẳng định tên tuổi Tony Quang lúc bấy giờ. (Theo Người Lao Động)

Mời xem ảo thuật gia Tony Quang biểu diễn :  http://youtu.be/xAgvfP-WU5Y

Thùy Lan post

NGƯỜI SÀI GÒN

HỌA SĨ LÊ MINH

Lên đời cùng tiểu thuyết Kim Dung

Người Sài Gòn mê truyện chưởng Kim Dung khó mà quên nét vẽ tài tình của ông trên bìa sách. Ông thú nhận nhờ vậy mới có tiền nuôi vợ, nuôi con.

Thế hệ đầu tiên vẽ tranh trên báo

Làng báo Sài Gòn thập niên 1950-1960 gần như rất hiếm họa sĩ vẽ tranh minh họa và tranh vui. Ngoài cây cọ tài danh Lê Trung, người còn lại là họa sĩ Lê Minh, sinh năm 1937, tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Gia Định năm 1957. Năm 17 tuổi, ông vừa học vừa vẽ tranh minh họa cho loạt truyện Hoa Lư động chúa đăng trên nhật báo Dân Ta của nhà thơ Nguyễn Vỹ. “Người Sài Gòn thời đó gọi là truyện feuilleton, mỗi ngày ra một kỳ kèm theo tranh minh họa. Ngày xưa tôi phải vẽ trên giấy decal, người làm bản kẽm mới đặt giấy đó trên gỗ rồi dùng dao khắc từng chi tiết, rất kỳ công. Hôm nào tôi vẽ nhiều ô vuông nhỏ là bị mắng mỏ bởi thợ khắc gỗ làm quá khổ”, ông nhớ lại.

Mất cha năm 16 tuổi, Lê Minh và người chị gái sống với mẹ. Bà tảo tần nuôi con bằng gánh hàng hoa mua từ chợ Gò Vấp mang về bán tại chợ Bà Chiểu. “Thương mẹ nên tôi biết lo thân từ tấm bé. Ngày tôi thi đậu vào trường mỹ thuật, ba mẹ đều rơi nước mắt. Tôi thường xuyên đi học trễ vì đêm nào cũng thức đến 2 giờ sáng vẽ tranh cho báo. Có lần, báo Sài Gòn mới đặt tôi vẽ gấp bức tranh vui cho số báo ra sáng mai. Tối đó, làm việc đến 3 giờ sáng tôi mệt quá ngủ gục, tay quơ đổ lọ mực tàu trên bàn ướt nhẹp bức vẽ. Hoảng hồn, sáng sớm tôi vội vã đạp xe đến tòa soạn báo tin cho chủ báo Bút Trà và bị la một trận nhớ đời. May mà tòa soạn thay bằng bản tin khác. Thời sinh viên, tôi ngập đầu trong công việc nhưng cũng nhờ đó mà kinh tế gia đình khấm khá hẳn lên. Tôi còn sắm cho chị gái cái máy may để học nghề và sinh sống sau này”, ông kể.

Vẽ minh họa, sắm xe hơi

Đầu thập niên 1960, Sài Gòn tràn ngập truyện chưởng Kim Dung. Nhiều tờ báo bắt đầu trích đăng lại với dạng feuilleton. Lúc đó, họa sĩ Lê Minh được biết đến sau rất nhiều tranh minh họa trên các báo Phụ nữ diễn đàn, Phụ nữ ngày mai, Đẹp…, đặc biệt qua các bức vẽ thiếu nữ. Nhiều nhà xuất bản (NXB) như Thế Kỷ, An Hưng, Trung Thành, Hương Hoa, Sống Mới, Tấn Phát… phát hành truyện Kim Dung săn tìm ông đặt vẽ bìa. “Rất nhiều tác giả dịch truyện Kim Dung như Tiền Phong Từ Khánh Phụng, Đồ Mập, Vũ Tài Lục, Hải Âu Tử… nhưng chẳng hiểu sao phải là Hàn Giang Nhạn chuyển ngữ còn tôi vẽ bìa, sách bán mới đắt hàng. Tôi được trả 2.000 đồng cho một bức vẽ bìa. Giá này là cao so với thời đó”, họa sĩ Lê Minh thú nhận.

Vẽ bìa truyện chưởng Kim Dung theo họa sĩ Lê Minh cần tuân thủ một số nguyên tắc mà các NXB quy ước để thu hút độc giả : phải có hình thiếu nữ, vẽ tranh động, không đơn điệu. Giai đoạn này, Sài Gòn cũng có vài họa sĩ vẽ bìa truyện chưởng như Đỗ Phi, Cảnh Thế nhưng nét vẽ không thể so với Lê Minh.

Qua12 năm làm bìa truyện chưởng, Lê Minh nhớ mãi lần vẽ bìa cuốn Tiếu ngạo giang hồ. NXB đặt ông thực hiện gấp bìa có nhân vật Vạn lý độc hành Điền Bá Quang mê ni cô Nghi Lâm. Chưa kịp đọc kỹ bản thảo, nghĩ Điền Bá Quang là kẻ hắc đạo, nhân vật phản diện nên Lê Minh phóng bút vẽ một người hung dữ, đầu tóc râu ria xồm xoàm. Đến khi in bìa xong, ông chủ NXB than trời. “Té ra, Điền Bá Quang trong Tiếu ngạo giang hồ là bạn với Lệnh Hồ Xung. Người thư sinh trắng trẻo, mày râu nhẵn nhụi. Ông chủ NXB kêu trời : Vẽ như vầy là chết tôi rồi”, họa sĩ Lê Minh cười vang.

Ngoài tài vẽ tranh truyện chưởng, họa sĩ Lê Minh còn vẽ tranh tứ bình (truyện 4 cột kèm tranh minh họa, rất được ưa chuộng vào những năm 1950-1960 ở Sài Gòn) kể về những điển tích như Sự tích trầu cau, Bao Công kỳ án, Phạm Công Cúc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương… Ông cũng minh họa nhiều tiểu thuyết của bà Tùng Long, Nguyễn Ngọc Mẫn, Dương Hà…

“Từ số tiền dành dụm qua bao năm vẽ truyện tranh, đặc biệt là bìa truyện chưởng, tôi thành lập tờ báo Em, phát hành tại Sài Gòn những năm 1970. Báo bán chạy lắm, tôi sắm được chiếc xe hơi Simca. Thời đó vậy là bảnh lắm rồi”, ông khoe bằng giọng thật vui.

Ngồi trong ngôi nhà trên đường Lê Quang Định, Q.Gò Vấp của cha mẹ để lại, nay đến lượt ông và con cháu sinh sống, họa sĩ Lê Minh bùi ngùi. Cả đời ông gắn bó với nơi này. Ngôi nhà cất giữ kỷ niệm những ngày ông gò lưng ngồi vẽ báo, kiếm được đồng tiền đầu tiên về phụ giúp mẹ, lo cho gia đình. Con trai út – họa sĩ Lê Phong theo nghiệp bố khiến ông mãn nguyện. Lập gia đình từ năm 1957 nhưng đến giờ theo lời bà Lê Kim Hoa, một y tá trước đây thì : “Ổng chưa bao giờ phản bội vợ con qua ngần ấy năm chung sống. Tôi nghĩ mình là người vợ hạnh phúc”.

75 năm sống trên mảnh đất Sài Gòn, trải qua bao thăng trầm, biến cố, có nhọc nhằn và có cả niềm hân hoan, họa sĩ Lê Minh thổ lộ ông gắn bó nơi này như máu thịt. “Một mảnh đất mình đã chào đời, trải qua thời niên thiếu, rồi thành danh và bây giờ vui vầy với con cháu làm sao không mang cảm giác thân thương ? Tôi tự hào mình là người Sài Gòn lắm”.

Họa sĩ Lê Minh đã tổ chức triển lãm tranh lụa năm 1990 và tranh sơn dầu vào tháng 9.2008 với tên gọi Đất phương Nam tại Sài Gòn. Tranh ông khiến người xem xao lòng trước cảnh làng quê hiền hòa, bờ sông an bình, những con người chất phác. Đặc biệt tranh thiếu nữ đầy nét lãng du, bay bổng, mềm mại. Ông là một trong số ít họa sĩ vẽ tranh minh họa trên báo mang đậm hồn cốt của người Sài Gòn. (theo Đỗ Tuấn)

Bậc thầy vẽ truyện tranh

Đầu năm 1963, khi làn sóng “truyện chưởng” Kim Dung ồ ạt đổ vào miền Nam qua tờ Minh Báo (Hương Cảng), rất nhiều nhật báo Sài Gòn – Chợ Lớn khai thác dịch đăng lại dưới dạng feuilleton (nhiều kỳ) sau đó một số nhà xuất bản (NXB) in thành sách, thời điểm này cũng xuất hiện “tam đại cao thủ” mà tên tuổi gắn liền với tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, đó là dịch giả “Tiền Phong” Từ Khánh Phụng và “Thứ Lang” Hàn Giang Nhạn cùng họa sĩ (HS) Lê Minh.

HS Lê Minh tên thật là Lê Ngọc Minh, SN 1937 tại Sài Gòn, mê vẽ tranh từ bé và thần tượng HS Lê Trung – bậc thầy vẽ chân dung thiếu nữ. Ngay từ năm 17 tuổi, chàng trai Lê Minh đã được độc giả biết đến với nét vẽ ấn tượng sống động qua loạt truyện tranh Hoa Lư động chúa đăng trên nhật báo Dân Ta (do thi sĩ Nguyễn Vỹ làm chủ bút), đến khi học năm thứ hai Trường Mỹ nghệ Gia Định, chàng sinh viên Lê Minh đã được rất nhiều nhật báo, tạp chí, tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai (của Nguyễn Đức Khiết – Kim Châu), Đẹp (của Kim Lệ), Tiếng Dội (của Trần Tấn Quốc), Tiếng Chuông (của Đinh Văn Khai)… tranh nhau mời cộng tác trình bày, vẽ truyện tranh và minh họa.

HS Lê Minh chia sẻ : “Tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung ở NXB Đại Hưng do dịch giả “Tiền Phong” Từ Khánh Phụng dịch, ông này người Hoa nhưng phát âm giọng Bắc, dịch rất nhanh, câu văn gãy gọn xúc tích. Lúc đó tiền công vẽ một bìa đôi (hai mặt trước sau) 2.000 đồng. Bìa “truyện chưởng” phải vẽ sao cho độc giả nhìn vào là thấy gay cấn hấp dẫn, do đó HS cần tuân thủ một số điều kiện bắt buộc: phải có nhân vật nữ, tranh vẽ phải động, bố cục tựa truyện, tên tác giả và người dịch phải cân đối, màu sắc hài hòa không đơn điệu cũng tránh lòe loẹt !”. Lúc này ở Sài Gòn không hiếm HS vẽ bìa “truyện chưởng” như Đỗ Phi (NXB Trung Thành), Cảnh Thế (NXB Hương Hoa) nhưng nét sống động của nhân vật khó ai bì được với Lê Minh.

Hai kỷ niệm không quên qua 12 năm vẽ bìa “truyện chưởng” của HS Lê Minh. Một lần, đang vẽ gấp bìa Cô gái đồ long nhằm kịp mang ra nhà in “làm bảng kẽm” (cliché) thì đột ngột mất điện, phòng làm việc tối om, nóng bức, ngột ngạt, ông chủ NXB Đại Hưng tự tay thắp nến rồi cầm quạt phe phẩy liên tục cho HS Lê Minh thực hiện nốt hình trang bìa còn dang dở.

Một sáng nọ, ông chủ NXB Đại Hưng yêu cầu HS Lê Minh vẽ bìa Tiếu ngạo giang hồ cảnh một người bị treo cổ lơ lửng trên cành cây. Đọc sơ qua bản dịch của Hàn Giang Nhạn, HS Lê Minh chủ quan nghĩ kẻ bị treo cổ là nhân vật phản diện Điền Bá Quang vì thế đã vẽ một gã “râu ria lông ngực” mặt mũi dữ dằn hung tợn, mắt trợn trừng bị treo cổ tòng teng trên cây tùng. Hôm sau bìa truyện in ra, ông chủ NXB Đại Hưng ôm đầu “than trời” bởi Điền Bá Quang là nhân vật có vẻ ngoài trắng trẻo thư sinh, “mày râu nhẵn nhụi” chứ đâu có râu ria xồm xoàm dữ tợn như hình bìa của HS Lê Minh !

Ngoài minh họa bìa “truyện chưởng” Kim Dung, HS Lê Minh còn vẽ truyện tranh nhiều kỳ (mỗi kỳ vẽ 5 cột báo) Người lấy ma, Vợ chồn… của Bồ Tùng Linh trên nhật báo Thần Chung của chủ bút Nguyễn Kỳ Nam, vẽ tranh tứ bình các điển tích Trung Hoa và Việt Nam như Tấm Cám, Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Trầu cau, Vườn đào kết nghĩa, Bao Công kỳ án, Bích câu kỳ ngộ… minh họa bìa và các truyện tranh Hoa Lư động chúa, Đêm biển lạnh lùng, Bên dòng sông Trẹm, Đứa con rơi, Tiếng suối Sau Leng, Hương rừng Cà Mau của nhà văn Dương Hà, Sơn Nam… Sau 1975, HS Lê Minh vẽ truyện tranh Tiết Nhơn Quý chinh đông, Kiếm khách đầu rồng (NXB Mỹ Thuật)…

Năm 1990, trong buổi khai mạc triển lãm tranh Đất phương Nam của HS Lê Minh tổ chức tại Hội Mỹ thuật thành phố, trước những tác phẩm thiếu nữ mang vẻ đẹp mượt mà lãng mạn thuần khiết Á Đông, nhà văn Sơn Nam đã cảm hứng thốt lên câu thơ của Hồ Dzếch : “Trời không nắng trời không mưa / Chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ nhung”. (theo Ngọc Thiện)

Nguyễn Văn Danh post