ĐÔI UYÊN ƯƠNG CẢI LƯƠNG

Logo nhan vat

9 Thanh Duoc 1

THÀNH ĐƯỢC

VÀ ÚT BẠCH LAN

đôi uyên ương một thời lừng lẫy

Nghệ sĩ tài danh Thành Được vừa tổ chức ở San Jose lễ kỷ niệm 50 năm hoạt động sân khấu và cũng nhân dịp nầy anh tuyên bố giải nghệ. Chúng tôi xiin giới thiệu đôi chút tiểu sử và cuộc đời nghệ thuật của nghệ sĩ Thành Được.

Nghệ sĩ Thành Được tên thật là Châu Văn Được sanh năm 1938 tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, cha mẹ là phú nông, có ruộng vườn tại xã Nhơn Mỹ, Kế Sách. Thành Được học xong Tiểu học tại huyện Kế Sách, anh theo cậu ruột của anh là bầu gánh hát cải lương Thanh Cần, để học hát.

Gánh Thanh Cần là một gánh hát trung ban, chuyên diễn ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ; Thành Được nhờ có giọng ca tốt, sắc diện đẹp trai, lại được diễn trên sân khấu nhà nên nhanh chóng trở thành kép chánh, được khán giả Hậu Giang ái mộ.

Năm 1957, khi bộ tứ Bầu gánh Kim Thanh : Út Trà Ôn, Kim Chưởng, Thúy Nga, Thanh Tao rã phần hùng, giải tán đoàn cải lương Kim Thanh – Út Trà Ôn, nữ nghệ sĩ Thúy Nga quy tụ một số nghệ sĩ cũ của Kim Thanh, thành lập đoàn Thúy Nga – Phước Trọng, mời nghệ sĩ Thành Được làm kép chánh với contrat 150.000 đồng trong hai năm.

Ðoàn cải lương Thúy Nga – Phước Trọng

Vở tuồng khai trương của đoàn cải lương Thúy Nga Phước Trọng là vở Ngưu Lang – Chức Nữ của soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà, Thành Được thủ vai Ngưu Lang, nữ nghệ sĩ Bích Sơn vai Chức Nữ, vở tuồng chỉ đạt được sự thành công tương đối. Sau đó, đoàn Thúy Nga – Phước Trọng trình diễn vở cải lương hương xa (Nhựt Bổn) 9 Ut bach Lan 4“Khi Hoa Anh Đào Nở” của Hà Triều Hoa Phượng, với kép chánh Thành Được trong vai kiếm sĩ Tô Điền Sơn. Vở tuồng Khi Hoa Anh Đào Nở đã thành công lớn về mặt nghệ thuật lẩn tài chánh.

Lúc đó, các phim hát bóng Địa Ngục Môn, Người Phu Xe của Nhựt, đang rất được khán giả ưa thích nên sân khấu cải lương diễn tuồng Nhựt “Khi Hoa Anh Đào Nở”, “Đợi Anh Mùa Lá Rụng”, “Cầu Sương Thiếp Phụ Chàng”, cũng rất ăn khách vì đáp ứng được sở thích của khán giả.

Hồi đó, trong sinh hoạt cải lương, giới báo chí kịch trường mệnh danh sự thành công của đoàn cải lương Thúy Nga – Phước Trọng là một ” hiện tượng ” đặc biệt đáng ghi nhớ.
Trước nhứt là hai soạn giả trẻ Hà Triều – Hoa Phượng, mới có đôi ba tác phẩm đầu tay, đã thành công rực rở với vở ” Khi Hoa Anh Đào Nở”. Hiện tượng thứ hai là sự xuất hiện của kép trẻ Thành Được, một giọng ca thiên phú, một lối diễn xuất chửng chạc, một nghệ sĩ kế thừa phong cách diễn xuất “Đẹp và Thật” của nghệ sĩ tiền phong Năm Châu.

Thêm nữa, những năm từ 1955 đến 1968, có nhiều soạn giả tài danh như Hà Triều Hoa Phương, Thiếu Linh, Kiên Giang, Nguyễn Phương, Qui Sắc, Hoàng Khâm, Thu An… Những soạn giả mới nầy khai thác khả năng ca của các nghệ sĩ trẻ mới nổi lên, tạo ra một lớp diễn viên mới với phong cách diễn xuất tươi mướt hơn, với lối ca vọng cổ quyến rũ hơn lớp nghệ sĩ đàn anh trước kia.

Những nghệ sĩ trẻ thành danh từ năm 1956 đến 1968 có Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường, Tấn Tài, Út Hiền, Thanh Hải, Út Nhị, Minh Tấn, Thanh Tú, Minh Vương, Minh Cảnh, Minh Phụng, Dũng Thanh Lâm..

Phía nữ nghệ sĩ tài danh trong giai đoạn nầy ta thấy có Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Thanh Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Hồng Nga, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Bích Sơn, Ngọc Bích, Bích Hạnh, Thanh Kim Huệ, Hà Mỹ Xuân, 9 Thanh Duoc 2Trương Ánh Loan, Kiều Phượng Loan… vân vân…

Ba diễn viên ăn khách nhất

Ba diễn viên ăn khách nhất lúc bấy giờ là các nghệ sĩ Hữu Phước, Thành Được và Hùng Cường. Trong bộ ba Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường thì Thành Được có giọng ca truyền cảm tuy kém hơn Hữu Phước một chút nhưng hơn hẳn Hùng Cường; về sắc vóc thì Thành Được đẹp trai hơn Hữu Phước.

Hai diễn viên có giọng ca vàng nầy đều có khả năng hơn Hùng Cường về ca , diễn và có nhiều thuận lợi hơn vì được nhiều soạn giả tài danh đương thời cung ứng tuồng tích, giúp cho Hữu Phước và Thành Được nhiều cơ hội biểu dương tài ca diễn của mình. Ký giả Nguyễn Ang Ca, tức soạn giả Ngọc Huyền Lan tặng biệt danh “Giọng ca vàng” cho Hữu Phước và tặng biệt danh “kép hát thượng thặng” cho Thành Được.

Sau khi rã phần hùng với gánh Kim Thanh – Út Trà Ôn, năm 1957, bà Kim Chưởng tách riêng ra lập gánh hát Hoa Anh Đào – Kim Chưởng, Bà bầu Kim Chưởng ký hợp đồng với nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan và kép chánh Thành Được.

Bà Bầu Kim Chưởng xuất thân từ gánh hát Bầu Bòn, học nghệ có căn bản, lại là nữ diễn viên tài danh qua nhiều đoàn hát lớn nên khi bà lập gánh hát thì bà đích thân tập luyện, chỉ dạy cho nghệ sĩ trong đoàn của bà theo phong cách ca, diễn mà bản thân của bà đã được học hỏi trước đó.

Thành Được, Út Bạch Lan được cái may mắn khi mới bước chân vào nghề hát, đã được danh sư Kim Chưởng chỉ dạy. Đoàn Kim Chưởng nổi danh là “Anh Hùng Lưu Diễn” với các diễn viên giỏi tay nghề như Thành Được, Út Bạch Lan, Kim Nên, Mộng Thu, Trường Xuân, Nam Hùng, Thanh Sơn, Hề Minh.

9 Thanh Duoc 3Khán giả khó quên cặp diễn viên “thinh sắc lưởng toàn” Thành Được – Út Bạch Lan qua các vở tuồng: Chưa Tắt Lửa Lòng, Bên Đồi Trăng Cũ, Thuyền Ra Cửa Biển, Áo Trắng Nàng Mộng Trinh, Nữa Bản Tình Ca, Người Đẹp Thành Bát Đa…

Cặp đôi Út Bạch Lan và Thành Được

Trên sân khấu Kim Chưởng, đôi diễn viên tài sắc Thành Được – Út Bạch Lan yêu nhau, đưa đến cuộc hôn nhơn có hôn thơ giá thú, cô Phùng Há, chủ hôn bên đàn trai, cô Kim Chưởng, chủ hôn đàn gái. Đám cưới được tổ chức long trọng, hầu hết các ký giả kịch trường đều được mời tham dự. Báo chí đăng bài phóng sự lễ cưới và các giai thoại về cuộc tình Út Bạch Lan – Thành Được vì đây là lần đầu tiên trong giới nghệ sĩ cải lương có một cuộc hôn nhơn có hôn thơ giá thú đàng hoàng.

Đoàn hát Kim Chưởng nỗi danh Anh Hùng Lưu Diễn, thường đi hát ở các tỉnh Hậu Giang, ở miền Đông, miền Trung trong nhiều tháng liền, ít khi hát ở Saigon. Và đoàn Kim Chưởng lại chuyên hát những tuồng loại hương xa, kiếm hiệp, trong khi đó thì khuynh hướng của khán giả Saigon lại đang thích coi hát những vở tuồng xã hội.

Đoàn hát Thanh Minh chuyên hát những vở tuồng xã hội, lại là một đoàn hát thường hát quanh quẫn các rạp ở Saigon nên phù hợp với ý muốn tiến thân của Út Bạch Lan và Thành Được. Hai nghệ sĩ nầy cũng nói rõ nguyện vọng của mình nên bà Kim Chưởng bằng lòng cho cả hai trả lại tiền contrat đã ký với bà, để Thành Được và Út Bạch Lan về cộng tác với đoàn Thanh Minh của bà Bầu Thơ.

9 Thanh Duoc 4Thành Được, Út Bạch Lan sáng chói hơn hết trong hai nhân vật trung tâm của vở tuồng. Nữa Đời Hương Phấn là nữa đời ngang trái cho thân phận đàn bà, cho tình yêu, cho sự đi tìm bạn tri âm và cho cả sự hy sinh cam chịu sự tan nát của nổi lòng khi Hương biết người con gái mà Tùng kết duyên lại chính là Diệu, em ruột của Hương.

Đầu năm 1962, Út Bạch Lan và Thành Được rời gánh hát Kim Chưởng để gia nhập gánh Thanh Minh Thanh Nga với contrat một triệu đồng năm trăm ngàn đồng, lương hát một suất 1200 đồng. Đoàn nầy lưu diễn miền Trung để tập vở tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” của Hà Triều Hoa Phượng.

Thành Được trong vai Tùng, Út Bạch Lan, vai Hương (tên The khi ở dưới quê), Hữu Phước vai Hai Cang, người anh, vì quan niệm lổi thời môn đăng hộ đối mà phá hủy hạnh phúc của em mình. Ngọc Nuôi, vai Diệu, em của Hương, về sau là vợ chính thức của Tùng.

Thành Được, Út Bạch Lan sáng chói hơn hết trong hai nhân vật trung tâm của vở tuồng. Nửa Đời Hương Phấn là nửa đời ngang trái cho thân phận đàn bà, cho tình yêu, 9 Thanh Duoc 5cho sự đi tìm bạn tri âm và cho cả sự hy sinh cam chịu sự tan nát của nổi lòng khi Hương biết người con gái mà Tùng kết duyên lại chính là Diệu, em ruột của Hương. Hương – Út Bạch Lan ca bản Phụng Hoàng, lấy nước mắt khán giả mà đến nay hơn 40 năm sau, nghe lại lớp ca Phụng Hoàng đó của Út Bạch Lan, tôi vẩn còn bồi hồi xúc cảm như xưa… :

Năm 1961, vở tuồng Nửa Đời Hương Phấn đã lập kỷ lục “ăn khách” nhờ tuồng hay, nhờ Thành Được, Út Bạch Lan, Hữu Phước, Việt Hùng – Ngọc Nuôi diễn giỏi, ca hay. Ấn tượng ban đầu về những nam diễn viên có giọng ca vàng như Thành Được, Hữu Phước là ấn tượng sâu đậm, khó quên.

Thành Được nhờ thành công buổi ban đầu đó, nên anh thành công dể dàng thêm qua các tuồng Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng Của Biển, Bọt Biển, Chuyện Tình 17, Tình Xuân Muôn Tuổi, Rồi Ba Mươi Năm Sau, Giấc Mộng Giữa Hoàng Lăng, Tiếng Hạc Trong Trăng… (theo : ngocanh)

Mai Trung Tín post

9 Ut bach Lan 1ÚT BẠCH LAN

MỘT GIỌNG CA

NHIỀU MỸ DANH

Trong các nghệ sĩ cải lương, nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan là người được trong giới và báo chí kỊch trường trước năm 1975 tôn tặng cho bà nhiều mỹ danh nhất : Nữ hoàng vọng cổ, Đệ nhất đào thương, Nữ hoàng sầu muộn, Sầu nữ Út Bạch Lan, Sầu nữ liêu trai, Vương nữ sương chiều… bởi bà có giọng ca vượt thời gian, dù hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng giọng ca của bà vẫn đọng lại sức truyền cảm : ngọt ngào, sâu lắng, thấm đẵm lòng người…

Một chút riêng tư về cô Út

Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai, sinh ra trong một gia đình nghèo khó, tại xã Lộc Giang – huyện Đức Hòa, tỉnh Long Anh (1935). Mẹ bà gọi bà là bé Út. Lúc bé Út 10 tuổi thì gia đình lại neo đơn hơn. Mẹ bà lại gặp một người đồng cảnh ngộ nên kết thành chị em, và người ấy cũng có một bé trai tên là Đinh Văn Dậm (tức Đệ nhất danh cầm Văn Vĩ sau này). Hai bà mẹ lo tảo tần mua bán nhỏ kiếm sống để nuôi bé Út và Dậm. Đến năm bé Út 11 tuổi, Dậm 15 tuổi thì Dậm đã học đờn Guitar cổ nhạc khá rành và đờn rất hay. Dậm dạy cho Út ca rồi hai anh em dắt nhau đi hát rong từ chợ Lớn đến chợ Bến Thành để kiếm tiền phụ cho hai bà mẹ.

9 Ut bach Lan 5Sau đó gia đình Dậm và Út gặp một người tốt bụng cho che liều ở bên hiên nhà ông (chợ Bầu Sen), và ông gợi ý cho Dậm mở lớp dạy đờn ca Tài tử – Cải lương, lấy nghệ danh là ”Văn Vĩ” (do một ông thầy thuốc đặt cho). Lúc này gia đình Văn Vĩ có cuộc sống tương đối hơn; thỉnh thoảng Văn Vĩ và cô Út được tiệc tùng mời phục vụ. Một dịp tình cờ gặp ở đám tiệc, danh ca đương thời, cô Năm Cần Thơ gặp Út ca, và cô Năm đã có cảm tình, nên sau đó cô Năm Cần Thơ dẫn cô Út đi ca chung ở quán cổ nhạc Họa Mi của cô trong khu Đại Thế Giới (Trung tâm văn hóa quận 5 bây giờ), còn Văn Vĩ cũng đờn cho quán cô Năm. Sau đó cô Năm Cần Thơ giới thiệu cô Út ca cho Đài phát thánh Pháp Á, Văn Vĩ thì được danh ca Thành Công giới thiệu đờn cho Đài phát thánh Pháp Á, và hai người được tham gia vào Ban ca kịch của Đài trong thời gian này. Chính danh ca Thành Công đặt nghệ danh cho cô Út là ”Út Bạch Lan”.

Kế đó nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan đầu quân vào gánh Kim Khánh của bầu Cang (1952), một thời gian nhưng cô không được phân vai vì lúc đó gánh có nhiều nghệ sĩ như: Kim Nên, Thu Ba, Hồng Vân, Ngọc An,…Thế rồi cô qua gánh Tơ Huệ cũng không có gì sáng sủa hơn, dù một vai phụ cô cũng không được đóng. Cô Út trở về Sài Gòn theo nghệ sĩ Thành Công, Sáu Thồng, Chín Sớm ca Vọng cổ cho Đài Pháp Á và Đài phát thanh Sài Gòn.

Mấy năm sau cô trở lại gánh Kim Thanh (của Út Trà Ôn, Thanh Tao, Kim Chưởng và Thúy Nga), cô được soạn giả Viễn Châu viết cho cô hai câu Vọng cổ trong hai vở ”Tình vương hoa thắm” và ”Đời cô Nga” theo kiểu ”đo ni đóng giày”, và nhờ hai câu Vọng cổ này mà cô Út nổi tiếng (1955).  Sau đó cô được một số hãng đĩa ký hợp đồng thu dĩa hát. Cuối năm đó, cô Út rời gánh Kim Thanh qua gánh Thanh Minh, cô được hát đào thương từ vai nhì đến vai chánh ở các vở như : Biên Thùy nổi sóng, Cánh buồm lửa, Tình tráng sĩ, Đồ Bàn di hận, Mưa rừng, Tình người nữ cứu thương, Cung đàn trên sông lạnh, Người đẹp Bạch Hoa Thôn, Hoa Mộc Lan, Sơn nữ Phà Ca,…9 Ut bach Lan 2 Đến năm 1958, Út Bạch Lan về gánh Kim Chưởng hát chánh đào thương trong các vở ”Chưa tắt lửa lòng, Bên đồi trăng cũ, Thuyền ra cửa biển, Áo trắng nàng Mộng Trinh, Nửa bản tình ca, Người đẹp thành Bát-Đa…

Đây là giai đoạn mà báo chí kịch trường tôn tặng cho nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan nhiều danh hiệu nhất cùng với nhiều bài báo có tựa đề điểm xuyế nổi bật, đại loại như : ”Một ngôi sao lạ vụt sáng trên vòm trời sân khấu Cải lương” (ký giả Nguyễn An Ca); ”Sầu nữ Út Bạch Lan chất giọng đồng pha thổ nghe thương cảm chơi vơi, đêm đêm khơi nguồn lệ của hàng ngàn khán giả mộ điệi Cải lương…” (Ký giả Kiên Giang – Hà Huy Hà); ”Út Bạch Lan một giọng ca Vọng cổ thảm sầu, bứt ruột bứt gan người nghe” (ký giả Trần Tấn Quốc)… Năm 1961, nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan lập gánh ”Út Bạch Lan – Thành Được”, bà hát chánh trong các vở Trảm mã trà, Đêm huyền diệu, Chân trời hạnh phúc, Khi rừng mới sang thu, Bốn mùa hoa nở, Bao giờ vườn xứ mưa hoa,Tìm suối tiên, Cuối đường hoa mộng, Thuyền về bến Ngự, Em đi trên phím nhạc, Khi hoa anh đào nở, Trăng sương cầu chúc, Sầu qua mấy nhịp cầu duyên… sau đó gánh này rã, bà về hát chánh cho gánh Thanh Minh – Thanh Nga. Đặc biệt giai đoạn này, Út Bạch Lan tạo một dấu ấn sâu đậm trong lòng khán giả – thính giả mộ điệu qua bài Vọng cổ nói về cuộc đời của bà ”Hoa Lan trắng” (của Viễn Châu).

Sau năm 1975, một thời gian nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan hát cho Đoàn Cải lương Sài Gòn I, rồi về tỉnh làm Phó Đoàn chỉ đạo nghệ thuật Đoàn Cải lương Long An II. Sau năm 1990, bà về cộng tác CLB Cải lương của Hội SKTP ở Sài Gòn được một thời gian rồi hoạt động tự do, với hình thức hát tăng cường cho một số địa phương có yêu cầu, nhất là bà tích cực tham gia các chương trình biểu diễn phục vụ  cho công tác từ thiện xã hội.

9 Ut bach Lan 3Một giọng ca bi cảm

Có thể nói, nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan có một giọng ca rất độc đáo và hiếm lạ từ khi nổi danh vào những năm đầu cảu thập niên 50 – thế lỷ 20 mãi đến sau này. Hơi giọng ngọt ngào, mùi mẫn với âm điệu du dương như ru người nghe vào cõi mộng. Còn âm thanh nghe rất bi cảm, mà nhiều người trong nghề cho rằng ”màu âm” giọng ca của Út Bạch Lan rất sầu thảm, có lẽ vì thế mà ngày trước báo chí kịch trường tặng mỹ danh cho bà là ”Sầu nữ”… Nếu nói về kỹ thuật xử lý hơi – giọng trong ca ngâm thì nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan  rất hạn chế luyến láy, tô điểm, nhấn nhá, ngân rung thanh điệu bất cứ ca từ nào (dấu chữ). Bà ca chân phương với làn hơi chất giọng thật của mình, không ém hơi hay nuốt chữ, mà chỉ sử dụng kỹ thuật nhấn trọng âm; thỉnh thoảng chẻ nhịp; đặc biệt là biểu đạt giọng ca bằng tâm trạng là chính.

Bất cứ Bài Vọng cổ nào hay câu nào trong vở diễn, bà luôn tâm trạng của mình vào đó, ca như tâm sự với chính mình; hoặc là ca với nổi niềm của một nhân vật nào đó mà bà là người thay lời cho họ để bộc lộ tình cảm của mình. Trạng thái ấy được người ca nói thay lời tác giả, có thể cảm nhận giọng ca đầy trăn trở trong từng chữ từng câu mà bà đồng cảm với tác giả để cùng sẻ chia gởi đến người nghe. Vì thế dù bà sử dụng kỹ thuật buông hơi, nhả chữ như thế nào, âm giọng cũng nghe buồn rười rượi. Nếu nội dung bài ca tự sự, bi thương thì giọng ca của bà trở nên sầu thảm hơn, ca mà như than vãn với tâm trạng đầy trắc ẩn; nếu nội dung trữ tình, tươi vui thì giọng ca của bà được biểu đạt màu âm buồn man mác…

Hầu như trong xử lý kỹ thuật luyến láy thanh điệu, bà chỉ nhấn những ca từ mang dấu sắc, nhưng chỉ khi chữ đó là điểm tựa để bà cất giọng. Còn thông thường bà buông hơi cùng phong cách ca ngâm lối tự sự, tức là nghiêng về ca như nói, tiết chế làn hơi thích ứng âm giọng buồn buồn. Bà ít luyến láy dấu sắc,  nhưn khi cần luyến thì những chữ ”có, nhớ, nơi đó, xao xuyến…” khiến âm giọng nghe lảnh lót, làm cho người nghe không khỏi động lòng. Tr cai luongBởi lẽ thiên phú cho giọng bà ”Đồng pha Thổ”:  Đồng có độ âm vang, Thổ trầm buồn; khi nhấn giọng thì cần lực ngân, chất Đồng sẽ vang lên nghe lảnh lót, khi xuống giọng tự sự thì chất Thổ xuất hiện tạo âm giọng trầm buồn; khi tâm trạng buồn nó càng sâu lắng hơn…, bi cảm là ở chỗ đó.

Tôi vinh hạnh được nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan ca của tôi hai bài Vọng cổ trên Đài TNVN và Đài TNTP, sau đó được nhiều Đài PTTH ở một số tỉnh phát lại vào những năm 90 của thế kỷ trước. Chính nhờ giọng ca của bà ca bằng tâm trạng mà hai bài Vọng cổ đó có một thời được bạn nghe Đài yêu thích, yêu cầu phát lại nhiều lần. đó là bài: ”Quê ngoại một góc trời thương nhớ” (Út Bạch Lan ca chung với nghệ sĩ Tuyết Ngân) và bài ”Về thăm Vĩnh Hựu” (Út Bạch Lan ca chung với nghệ sĩ Ngọc Phượng). Bà ca với tâm trạng như người trong cuộc, người xa quê lâu không có dịp về thăm nên lòng luôn nhớ thương nơi chôn nhao, cắt rốn da diếc, nhớ từng kỷ niệm của tuổi thơ, con đường làng nhỏ, bờ sông bến nước,… Bà buông hơi chậm rải, những câu ca buồn thì bà hạ giọng nói theo tự sự, ngân nhẹ một vài chỗ rất bi cảm, rồi chẻ nhịp, nhất là những song lang chánh bà lướt qua, chẻ nhịp sau song lang rất  tuyệt vời, mà người trong nghề gọi là ca quá điệu nghệ.

Nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan có một số học trò và con tinh thần  (con nuôi) vì mến mộ và ảnh hưởng kỹ thuật ca ngâm Vọng cổ của bà, nhưng vẫn chưa có người nào có thể kế thừa một cách tương đối, dù mỗi người có nét hay riêng. Đến bây giờ tuổi của bà đã cận kề bát tuần, nhưng phong cách ca ngâm của bà với xứng đáng với các mỹ danh trước đây, tuy hơi lực có yếu là do tuổi cao là điều tất yếu. Nhân dịp này chúng tôi cầu chúc cho bà thọ lâu thêm nữa. (theo Đỗ Dũng)   

Lan caysu post

9 Viet Hung 1NGHỆ SĨ VIỆT HÙNG

CUỘC ĐỜI & SỰ NGHIỆP

Trong những thập niên 50, 60, 70, đôi nghệ sĩ uyên ương Việt Hùng & Ngọc Nuôi lừng danh trong hàng ngũ những ngôi sao sân khấu cải lương. Anh Việt Hùng tên thật là Nguyễn Việt Hùng, sanh năm 1921 tại Đà Lạt.

Cha mất sớm, anh và chị anh theo mẹ dời về Sài Gòn. Năm 1946, anh Hùng làm tài xế lái xe cho quận trưởng ở Tòa hành chánh Gia Định. Anh có giọng tốt, là ca sĩ tân nhạc hợp tác với nhạc sĩ Mạnh Phát và nữ ca sĩ Minh Diệu trong ban tân nhạc Mạnh Phát trên đài phát thanh Pháp Á. Anh Hùng làm quen với ca sĩ cổ nhạc Thành Công nên được ca sĩ Thành Công với nhạc sĩ Bảy Quới, Hai Khuê, Tư Hiệu dạy cho ca nhiều bài bản cổ nhạc.

Năm 1946, Việt Hùng nổi danh là ca sĩ tân và cổ nhạc đồng thời với các danh ca Chín Sớm, Chiêu Anh, Thành Công, Văn Chung, Sáu Thoàn, cô Ngọc Ánh, cô Năm Cần Thơ. Năm 1948, lúc hát ở rạp hát Thành Xương (sau này là rạp Diên Hồng),, gánh hát Thỉ Phát Huê có 2 cô đào xuân sắc : Kim Nên (thân mẫu của ca sĩ tân nhạc Thái Châu) và Ngọc Nuôi. Kim Nên là em ruột của cô Năm Cần Thơ nên cô Năm Cần Thơ đưa các bạn ca sĩ cùng làm chung ở đài phát thanh Pháp Á đến xem hát.

Dịp này ca sĩ Chiêu Anh si mê đào Kim Nên, ca sĩ Việt Hùng si mê đào Ngọc Nuôi. Khi gánh hát Thỉ Phát Huê hết hát ở rạp hát Thành Xương, dọn đi hát ở các tỉnh thì Việt Hùng bỏ sở làm ở Tòa hành chánh Gia Định. 9 Viet Hung 2Chiêu Anh là phát thanh viên của đài Pháp Á cũng bỏ sở làm. Hai anh bị tiếng sét ái tình nên mới bỏ tất cả để theo gánh hát Thỉ Phát Huê bắt đầu làm một cuộc đời mới. Kết quả là Kim Nên sánh duyên cùng ca sĩ Chiêu Anh. Chiêu Anh không trở thành kép hát mặc dầu anh cao ráo đẹp trai và ca vọng cổ rất mùi. Chiêu Anh trở thành soạn giả, viết nhiều bài ca cổ nhạc cho đài phát thanh Pháp Á và đài quốc gia. Anh cũng viết nhiều bài vọng cổ thu dĩa cho các hãng dĩa Asia, Hoành Sơn.

Còn Việt Hùng, sau khi thành hôn với Ngọc Nuôi, được Ngọc Nuôi hướng dẫn anh từng bước biểu diễn, từng kỹ thuật hóa trang, anh trở thành kép chánh của đoàn hát Thỉ Phát Huê. Sau đó Việt Hùng và Ngọc Nuôi về hát chánh cho đoàn Tân Thiếu Niên. Năm 1952 nghệ sĩ Bảy Cao thành lập đoàn hát Hoa Sen với thành phần diễn viên Bảy Cao, Việt Hùng, Bửu Tài, Ba Khuê. Giàn đào có các cô Kim Luông, Ngọc Nuôi, Ái Hữu, Cẩm Vân, Lệ Út. Đoàn Hoa Sen ăn khách nhất nhờ các tuồng Đàn Chim Sắt, Nợ Núi Sông, Mộng Hòa Bình, Vàng Rơi Song Lệ, Chiếc Áo Mùa Đông.

Việt Hùng cao lớn, lực lưỡng nên khi thủ các vai sĩ quan trên chiến trường máu lửa thì trông rất là oai phong. Anh ca vọng cổ tiếng rất khỏe, nhứt là câu vọng cổ anh ca ngân đổ hột khiến cho khán giả thích thú khi khám phá ra một lối ca nói, khác hẳn lối ca ngọt mùi của các danh ca Bảy Cao và Năm Nghĩa. Năm 1954, có nhiều gánh hát mới được thành lập nên các ông bầu gánh bỏ ra bạc triệu k‎ý hợp đồng để tranh bắt đào kép giỏi về cho đoàn hát của mình

Bầu Sinh, môn đệ của soạn giả Mộng Vân, lập gánh hát Tân Hương Hoa mời Việt Hùng Ngọc Nuôi về hát với số tiền công tra và lương lớn hơn gấp đôi số tiền lương cũ ở đoàn Hoa Sen. 9 Viet Hung 4Việt Hùng Ngọc Nuôi về hát cho đoàn Tân Hương Hoa những tuồng chiến tranh như Khúc Nhạc Ly Hương, Việt Kiều Trên Đất Khách.

Bà Ba Khan, chủ nợ của bầu Sinh và là chị ruột của hai diễn viên Hương Sắc và Hương Huyền muốn tạo cơ hội cho hai em thăng tiến trên đường nghệ thuật nên xuất vốn lập gánh hát lấy bảng hiệu là gánh Việt Hùng – Minh Chí. Gánh hát Việt Hùng – Minh Chí từ bỏ tuồng chiến tranh để hát những vở tuồng tình sử Việt Nam “Đường Lên Xứ Thái” của soạn giả Mộc Linh, lời văn chải chuốt, cốt truyện trữ tình, một hình thức sân khấu thi, ca, vũ, nhạc mới lạ nên sức thu hút khán giả rất là mãnh liệt. Việt Hùng trong vai người chiến sĩ Việt Nam, bị thương, lạc trong một khu rừng già của xứ Thái, được một sơn nữ (do Ngọc Nuôi thủ diễn) cứu trị và đưa về bản làng nương náo. Mối tình giữa người Kinh và người sơn nữ thơ mộng, đẹp tình, đẹp ý, gợi lại những cuộc tình dang dở trong chiến tranh, đã làm cho khán giả phải rơi lệ.

Vở tuồng thứ hai Người Đẹp Bán Tơ của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà ghi thêm sự thành công cho Việt Hùng và Ngọc Nuôi. Nghệ sĩ Việt Hùng có nhiều vai hát rất hay được khán giả và báo chí ngợi khen, nhưng chỉ có vai hát cậu ấm Thân trong tuồng Đoạn Tuyệt của Duy Lân được coi là vai hát để đời của anh. Trong thập niên 1955 đến năm 1965, đoàn Thanh Minh Thanh Nga tập trung được nhiều diễn viên thượng thặng của sân khấu cải lương và nhiều soạn giả thường trực nên đoàn có nhiều tuồng tích hay lạ. Về diễn viên tài danh có kép Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Việt Hùng, Hoàng Giang, Văn Ngà, Ba Xây, Minh Tấn, Minh Điển, hề Kim Quang.

Có Năm Châu, Kim Cúc, Ba Vân, Phùng Há về cộng tác với đoàn trong vài năm. Về phía đào có Út Bạch Lan, Thu Ba, Ngọc Giàu, Ngọc Nuôi, Kim Giác, Thanh Nga, Hoàng Vân, Thanh Hiền, Thanh Lệ, Ngọc Chúng. Giữa những diễn viên tên tuổi lẩy lừng đó, Việt Hùng Ngọc Nuôi thật sự có tài nghệ khác thường mới đứng vững nổi trong đoàn.

Việt Hùng nhờ vóc to lớn, vẻ hào hoa phong nhã nên thành công dễ dàng qua các vai dũng sĩ trong tuồng dã sử như Biên Thùy Nổi Sóng, Tình Tráng Sĩ, Người Về Từ Cửa Biển, Nẻo Tắt Hoành Sơn, Áo Gấm Khôi Nguyên. Nhưng vai để đời của Việt Hùng lại trái với hình tượng mà lâu nay khán giả nghĩ về tài danh sân khấu này, đó là vai Thân trong tuồng Đoạn Tuyệt. Việt Hùng thường đóng vai tráng sĩ, dũng tướng, đẹp trai thì nay vào vai Thân, Việt Hùng thể hiện một cách xuất sắc một cậu ấm ngốc nghếch, ngu si, sợ vợ. Vai Thân được Việt Hùng biểu diễn với hình thức đi đứng chậm chạp, nói năng nhầy nhựa, sợ vợ không dám nhìn thẳng vào mặt Loan, dù Loan rất dịu hiền. Thật là lối diễn xuất hoàn toàn khác với cung cách xưa nay của Việt Hùng. Không ngờ cách ca diễn như vậy lại đạt 9 Viet Hung 3được sự thành công quá sức tưởng tượng. Nhờ cách diễn đó mà tăng thêm phần quái ác của bà mẹ chồng, bà Phán Lợi do bà Năm Sa Đéc diễn và cô em chồng đanh đá do Ngọc Nuôi diễn.

Năm 1975, Việt Hùng cùng các con : Tài, Năng, Ngọc Quý và Ngọc Châu trong Ban nhạc Crazy Dogs biểu diễn ở một club Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhất, được phi cơ Mỹ bốc qua Mỹ. Anh không thể về đón Ngọc Nuôi và hai con. Đến Hoa Kỳ sau khi ổn định cuộc sống, Việt Hùng và nhạc sĩ Tám Trí chủ trương chương trình Thanh Âm Trìu Mến tại đài Little Saigon đào tạo các thế hệ diễn viên trẻ Thu Hồng, Minh Kiệt, Thanh Huyền.

Khi các diễn viên cải lương như Kim Tuyến, Ngọc Đan Thanh, Linh Tuấn, Hương Huyền, Thành Được, Dũng Thanh Lâm sang Mỹ thì Việt Hùng và các nhạc sĩ Chí Tâm, Văn Hoàng, Tám Trí hợp với các nghệ sĩ mới đến Hoa Kỳ làm cho sân khấu cải lương vùng nam bắc Cali thêm phần hứng khởi.

Việt Hùng đã thực hiện băng video cải lương Tiếng Hạc Trong Trăng, Nửa Đời Hương Phấn, Lan và Điệp, và anh ca vọng cổ hát cải lương trong các cuộc họp của cộng đồng Việt Nam định cư ở hải ngoại. Ngày 27/7/2001, Việt Hùng kỷ niệm 80 tuổi đời, 60 năm tuổi nghề. Nguyễn Phương từ Montreal qua dự, nghe Việt Hùng phát biểu và ca hai câu vọng cổ. Tiếng hát của Việt Hùng vẫn còn sang sảng, làn hơi vọng cổ vẫn còn âm hưởng của những ngày thuở thanh xuân. Nhưng ngày 31/12/2001, Việt Hùng từ giả cõi đời để về thiên trúc với pháp danh Minh Chánh, đệ tử của hòa thượng Thích Giác Nhiên. (theo SG Nguyễn Phương)

Mai Trung Tín post

Advertisements

BÌNH LUẬN VỀ GIỚI CA SĨ SHOWBIZ

Logo su kien

Anh Tuyet 1NHẠC VIỆT TRONG MẮT TÔI :

ĐỪNG QUÊN MẮT MÌNH LÀ AI

‘Những ngày qua, không riêng gì tôi mà rất nhiều nghệ sĩ đều bức xúc. Vấn đề bây giờ không còn là chuyện đôi co, tranh cãi giữa nhạc sĩ  Nguyễn Ánh 9 và Đàm Vĩnh Hưng nữa mà điều đáng bàn là lối ứng xử của những người làm văn hóa và sự ảnh hưởng đến cộng đồng’, ca sĩ Ánh Tuyết, bày tỏ.

“Buồn lắm ! Nhục lắm !”

Nghệ sĩ là người đại diện cho văn hóa. Sứ mệnh của họ là được đứng trước công chúng nên họ phải có trách nhiệm mang những cái hay, cái đẹp đến với khán giả và từng cử chỉ, lời nói cũng phải có chừng mực nhất định để xứng với hai từ “nghệ sĩ”. Thế nhưng, không phải ai cũng ý thức được điều đó… Họ ngửa cổ lên mà chửi, đụng đến là chửi mà quên mất mình là ai.

Và từ đây, khi nhìn vào giới nghệ sĩ, công chúng sẽ nghĩ gì ? Có người còn hỏi tôi rằng : “Làm nghệ sĩ là hỗn vậy hả ? Là ăn nói đốp chát, vô học như vậy hả ?”. Buồn lắm ! Nhục lắm !

CS Anh TuyetThời nào cũng có mặt trái, mặt phải nhưng công bằng mà nói lớp nghệ sĩ ngày xưa ăn nói có chừng mực và cẩn trọng hơn bây giờ. Tôi từng gặp các nhạc sĩ lớn tuổi như Hoàng Dương, Hoàng Giáp, các ca sĩ như cô Thái Thanh, Hà Thanh… Họ khen ai, chê ai cũng vô cùng thận trọng và chúng tôi lấy đó là bài học vô cùng quý giá cho mình. Bởi dù có chê, họ cũng chê rất chân tình. Chê là góp ý, là người đi trước muốn đóng góp cho người đi sau, cũng như nhạc sĩ  Nguyễn Ánh 9 vậy.

Tuy nhiên, thời nay dư luận mạnh hơn mà cũng nhiễu loạn hơn. Rồi đây sẽ còn có bao nhiêu kẻ dựa vào sự yêu mến, tung hô của một bộ phận khán giả để nghĩ rằng mình là nhất và sẵn sàng đáp trả và hỗn hào với cả những người đáng tuổi cha chú mình.

Tôi nghĩ, cần thiết chúng ta là những người đang làm văn hóa cho nghệ thuật, mà nghệ thuật lại là mũi nhọn tiêu biểu sắc thái văn hóa của một dân tộc nữa! Vậy nên tôi nghĩ, những người làm văn hóa nghệ thuật thực thụ cùng công chúng yêu mến văn hóa nghệ thuật và những người có trách nhiệm của ngành truyền thông đã đến lúc cần phải lên tiếng cảnh tỉnh ý thức đạo đức người làm văn hóa nghệ thuật và nhất quyết phải loại bỏ điều này!

Nghệ sĩ nhìn lại mình

Có một chuyện như thế này ! Tại sao nhiều nghệ sĩ chân chính tỏ ra chán ngán, thậm chí giận dỗi khi bị đánh đồng với giới showbiz ? Cũng bởi vì có quá nhiều chuyện khiến người ta có cái nhìn không mấy thiện cảm và hiểu sai về giới này.

9 Anh TuyetNếu như ở nước ngoài, giới showbiz là những người đa năng, được công chúng yêu mến thì ở nước mình, đa phần là những người đi lên bằng scandal dẫn đến việc sản sinh ra lớp trẻ cũng học đòi tạo scandal để vào showbiz, đơn cử là trường hợp của nhiều hot girl mới đây (ý nói Bà Tưng Huyền Anh, Angela Phương Trinh thích phơi bày ảnh khiêu gợi ? Cả 2 đã bị cấm trình diễn khắp toàn quốc – Admin).

Tôi thì không đủ sức để đưa ra nhận định Nguyễn Ánh 9 đúng hay sai. Nhưng với đẳng cấp, tuổi đời, tuổi nghề của ông thì lớp nghệ sĩ đi sau cần phải nghe như nghe lời góp ý của bậc cha chú. Phải biết lễ phép là cái gì…! (có lẽ Ánh Tuyết nói về bài phản hồi của tên ca sĩ hớt tóc, mệnh danh Mít tờ Khỉ Gió – Admin)

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 là nhạc sĩ tên tuổi với 60 năm trong nghề, một tay đàn piano đẳng cấp từng đưa bao nhiêu lớp nghệ sĩ đến với công chúng. Ông còn là người luôn sát cánh cùng ca sĩ đến với công chúng hằng đêm, hằng ngày. Ông có đủ quyền để đưa ra những nhận định riêng của mình.

Ở đời không ai hoàn hảo nên cần có những thời điểm phải biết nhìn nhận lại mình. Nguyễn Ánh 9 đưa ra ý kiến của riêng mình là không sai mà chỉ là ông đã nói quá thẳng, quá rõ. Ng Anh 9-2Những lời góp ý này có thể xem là hồi chuông cảnh tỉnh để mọi người có dịp nhìn nhận lại thế nào là nghệ thuật, giải trí và thảm họa.

Công luận nói chung và những người yêu nhạc nói riêng nên cảm ơn những góp ý này dù đúng hay sai. Đó là lời cảm ơn dành cho một người dám nói điều mình nghĩ !

Nhiều người muốn nói sự thật. Nhưng, sự thật, dù nói thế nào cũng dễ mích lòng…!

NS Nguyễn Ánh 9 không hối tiếc lời mình đã nói

Những ngày qua, tôi cũng đã liên hệ, động viên nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9. Khi tôi hỏi tại sao anh mắng xong rồi lại xin lỗi, anh bảo không, không phải xin lỗi vì những lời mình đã nói mà anh xin lỗi tất cả những ai đã hiểu lầm những lời nói đó là chà đạp, sỉ vả. Anh cũng cho biết rất buồn khi lời nói thẳng, nói thật lại bị đáp trả như thế. (theo Thiên Hương ghi)

99% CA SĨ KHÔNG ĐỌC ĐƯỢC NỐT NHẠC !

Đó là thông tin mà nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiên, tác giả của hàng loạt ca khúc được nhiều người biết đến, chia sẻ trên diễn đàn ‘Nhạc Việt trong mắt tôi’. Trong mắt của nhạc sĩ Như khúc tình ca, Ơi cuộc sống mến thương…, từ thời ông đến thời nay, âm nhạc đã biến đổi hoàn toàn, với đầy những day dứt và trăn trở…

Nhạc sĩ sống bằng gì ?

Nhâm nhi ly cà phê, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện mở đầu trầm ngâm : “Nếu ai hỏi ngày xưa nhạc sĩ sống bằng gì, thì xin thưa, 9 NS Ng Ngoc Thien 1chỉ có đài phát thanh trả tiền, chứ làm gì có chuyện in CD, làm liveshow… Ấy vậy mà cái thời gian khổ, hết chống Pháp rồi đến chống Mỹ, chúng ta lại có biết bao ca khúc hay và sống mãi với thời gian. Đến đây thì tôi nhất trí với NS Nguyễn Ánh 9, sáng tác âm nhạc trước hết là để thỏa mãn nhu cầu của mình, bạn bè mình chứ không bao giờ nghĩ viết nhạc để bán kiếm tiền”.

Ông kể thêm, khi ấy, mỗi nhạc sĩ phải có cái nghề chính để sống rồi mới sáng tác được. Người thì làm kinh tế, người đi làm báo, người thì làm bên lực lượng thanh niên xung phong.v.v…

Tình hình khó khăn chung mà giống nhau đến nỗi, hai nhạc sĩ Xuân Hồng và Hoàng Hiệp bảo : “Tôi lo cho nền âm nhạc Việt Nam quá vì mấy em không chuyên tâm vô sáng tác. Các em sống bằng nghề khác, còn sáng tác chỉ để vui chơi”.

“Giờ thì những nhạc sĩ có tên tuổi đã có thể sống bằng nghề, dù thu nhập cũng không ổn định lắm. Tháng nào có ca sĩ đặt bài, mua bài thì coi như “trúng”, không thì lại chờ đến hết quý có thêm tiền bản quyền”, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện chia sẻ. Còn hiện nay, theo ông, nhạc sĩ trẻ đang “ăn nên làm ra” nhờ sáng tác hàng loạt theo đơn đặt hàng.

Tr ca si 2Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện lắc đầu : “Để sáng tác được, tôi phải đi nhiều, hiểu nhiều, phải có sự đồng điệu, cảm thông. Viết theo kiểu đặt hàng như các nhạc sĩ trẻ hiện nay, chắc tôi không viết được. Tôi từng xuống xưởng may để viết ca khúc nhưng vì không ấn tượng và khó chịu với tiếng máy nổ nên rốt cuộc phải ra về tay không”.

Theo ông, nhạc sĩ thường sáng tác theo hai khuynh hướng: Viết ca từ trước và ráp nhạc sau hoặc ngược lại.

“Ngày trước, nhạc sĩ thường bắt đầu bằng việc phổ thơ mà thơ thì như bạn biết rồi đấy, lời hay và ý đẹp. Những câu hát kiểu như “ước gì nhà mình chung vách” thời ấy đã bị chê là thô thiển. Còn bây giờ? Ca từ thô thiển hơn nhiều lần, thuộc “trường phái” văn nói như “hổng dám đâu”, “em sẽ là người ra đi”, “người ấy và tôi em chọn ai”… thì xuất hiện ngày càng nhiều trong thị trường âm nhạc của giới trẻ”, ông nói.

Âm nhạc, từ “nghe” chuyển sang… “nhìn”

“Thời xưa, nhạc để “nghe” chiếm 90% còn nhạc “nhìn” ít lắm. Giờ thì đã thành dòng chủ yếu. Mỗi thời mỗi khác, cũng phải tùy thuộc vào khan giả mà sáng tác cho phù hợp”, nhạc sĩ chia sẻ.

9 NS Ng Ngoc Thien 2“Cũng thế mà sản sinh ra những ca sĩ xinh đẹp nhưng chỉ biết “múa” là chính và vì thế cũng “đẻ” ra những nhạc sĩ sáng tác những ca khúc như thế để kết hợp cho một xu hướng như thế. Họ viết nhạc không cần giai điệu đẹp. Có những bài, tôi nói thật, nếu không có dàn nhạc thì hát không được vì chuyển cung, chuyển điệu lung tung”, nhạc sĩ lắc đầu cho biết.

Nhạc sĩ cũng không ngần ngại nhận xét : “Nói theo nhạc viện, ca sĩ thì phải đọc được nốt. Thế nhưng thời bây giờ, 99% ca sĩ không đọc được nốt. Kể cả những người xuất thân từ nhạc viện đôi khi cũng đọc không chuẩn xác. Người đọc nốt chuẩn nhất khi ra trường lại làm nghề… sửa đàn”.

Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh rằng không nên chỉ đem con mắt của người nghe nhạc tiền chiến mà phê phán những bài hát thuần túy chỉ có nhảy nhót. “Đã gọi đó là nhạc “nhìn” thì phải chấp nhận yếu tố “nhìn” tốt hơn yếu tố “nghe”.

ls-mai-tr-tin-3Nếu như ca sĩ ngày xưa đòi hỏi phải có chất giọng tốt để có thể hát mộc thì bây giờ công nghệ phát triển, những dụng cụ chỉnh, tăng âm… đã làm thay tất cả. Đó cũng là lý do mà theo nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện là “làm sản sinh nhiều ca sĩ”.

Nhạc sĩ chia sẻ thêm: “Âm nhạc giải trí và âm nhạc nghệ thuật rất khó phân biệt rạch ròi. Thường thì bây giờ, nhắc đến giải trí người ta nghĩ đến cái gì đó xấu và bị chê bai nhưng thực tế tốt xấu là do tự thân nó. Giải trí mà chú tâm đến nghệ thuật, đến những ý nghĩa tốt đẹp trong cuộc sống thì vẫn là nghệ thuật. Nhưng ngược lại, nghệ thuật cũng vậy, phải có chất giải trí trong đó thì khán thính giả mới dễ dàng thưởng thức”.(theo Thiên Hương – Diễm Út)

Mai Trung Tín post

Logo nhan vat

9 Vu Trg Phung 1LỄ CƯỚI VÀ ĐÁM TANG

CỦA NHÀ VĂN

VŨ TRỌNG PHỤNG

Chỉ vỏn vẹn được sống 27 năm trên dương thế, nhưng Vũ Trọng Phụng đã để lại một sự nghiệp đồ sộ. 27 năm ấy, Vũ Trọng Phụng đã có một lễ cưới rình rang, và một lễ tang buồn thương, bi thiết…

Trong buổi “Lễ tưởng niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Vũ Trọng Phụng” được tổ chức long trọng tại hội trường Hội nhà văn Việt Nam, bên cạnh những bài phê bình, nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng của nhiều cây bút hậu thế, người nghe còn được biết tới đám cưới và đám tang buồn thương của nhà văn qua hồi ức của ông Nguyễn Bá Đạm.

Ông Nguyễn Bá Đạm năm nay 93 tuổi, xưa là người cùng làng với Vũ Trọng Phụng. Qua giọng đã run run vì tuổi già, ông kể lại những gì đã chứng kiến một lễ cưới long trọng và đám tang buồn thương vĩnh biệt con người tài hoa chỉ có 27 năm tồn tại trên dương thế.

Câu chuyện đã được ông viết lại in trong cuốn “Hà Nội những câu chuyện kể từ cuối thế kỷ XIX-XX” do NXB Văn học ấn hành.

Đám cưới đúng tục lệ và có cả ô tô đón dâu

Vợ nhà văn Vũ Trọng Phụng là bà Vũ Mỵ Lương sinh ra trong gia đình cha mẹ là thầy lang ở Hà Nội. Bà nổi tiếng cần cù, chịu khó, khéo tay hay làm. Thông cảm với hoàn cảnh mồ côi cha từ nhỏ và mến phục tài năng văn chương bà Lương đồng ý lập gia đình với ông.

Đám cưới được tổ chức vào chủ nhật (23/1/1938), tức 22 tháng Chạp năm Đinh Sửu. Cách đây gần một thế kỉ, ít đám cưới nào ở Hà Nội có xe ô tô rước dâu long trọng như vậy. Nửa tháng trước, nhà trai đã làm lễ ăn hỏi, dẫn đến nhà gái đầy đủ lễ vật. Ngày hôm trước, bà con trong họ, trong làng đã kéo đến làm giúp, dựng rạp, kê bàn ghế, làm cỗ… Khách khứa ăn uống ở 5 gian nhà chính và 3 gian nhà ngang, còn phải làm thêm rạp ở ngoài sân mới đủ chỗ ngồi.

Mới sáng ra, trẻ con trong làng đã tụ tập bên bờ ao đình, nhìn sang con đường Láng, chờ xem ôtô đám cưới. Đến gần trưa, một đoàn mười chiếc ôtô sơn đen đi theo hàng một, vượt qua cầu Mọc, rẽ trái, về làng Giáp Nhất. Họ nhà trai người mặc âu phục, người mặc quốc phục, trong đó có chú rể đội khăn, mặc áo đoạn, đi giày hạ. Vũ Trọng Phụng người xương xương, mỏng manh, Tr ga cuoi 1mắt nhỏ, trán nở và cao, miệng có quai ở hai bên mép, vai hơi ngang. Ông có cái nhìn tinh anh, nụ cười hóm hỉnh. Trong số người đi cùng với chú rể có nhiều nhà văn già, trẻ.

Tục lệ mọi đám cưới, trẻ con thường kéo đến chăng dây, nhà trai muốn đi qua phải nộp một phong bao, trong đó có năm, sáu đồng xu bằng đồng. Nhưng ở đám cưới này, chúng nghe có cả các ông nhà báo về dự nên bảo nhau bỏ cái tục không hay ấy đi. Lần đầu tiên, đám cưới Vũ Trọng Phụng được hưởng nếp sống mới.

Chú rể đi tới bàn thờ gia tiên, vừa lúc cô dâu ở trong buồng ra. Chú rể bước lên sập, lễ tiếp. Hôm nay, cô dâu chít khăn vành dây màu lam, đeo hoa tai đầm, kiềng vàng, mặc áo dài màu hồng, đi giày nhưng đen thêu hạt cườm. Mấy năm trước, làng mở hội, có đánh cờ người, cô đã được chọn làm quân sĩ. Giờ hoàng đạo – giữa trưa – sắp đến. Nhà trai xin phép đón dâu.

Mở đường là cụ già râu tóc bạc phơ, đạo mạo, mặc áo sa màu lam, tay cầm lư hương khói nghi ngút. Tiếp theo là chú rể Vũ Trọng Phụng và hai phù rể. Cô dâu đi phía sau, hai tay nâng chiếc quạt che mặt. Hai cô phù dâu mặc đẹp chẳng kém, dáng e lệ, đi hai bên. Hai họ đi bộ tới cổng làng, mới lên ôtô. Hơn nửa giờ sau, đoàn xe dừng bánh ở bên số chẵn phố Hàng Bạc, trong tiếng pháo nổ ran, dân hàng phố kéo đến xem đông nghịt, đứng kín cả vỉa hè. Hai họ phải nhường nhau mới lên nổi căn gác hẹp. Nhìn lên ba bức tường thấy vài câu đối bằng vóc hồng thêu kim tuyến hoặc bằng satanh đỏ thêu con trĩ bên hoa phù dung. Cô dâu lễ gia tiên với chú rể xong, tiếp tục tiếp khách. Chuyện trò hồi lâu, nhà gái xin cáo lui. Riêng các văn hữu còn uống rượu, trò chuyện đến khuya mới chịu về.

9 Vu Trg Phung 2Đám tang không kèn trống

Đó là sáng mà cái nắng gắt như giữa mùa hè, một cỗ xe tang do hai con ngựa kéo lặng lẽ bước đi từ số nhà 73 Cầu Mới đến nghĩa trang Quảng Thiện (ở khu vực Thanh Xuân hiện nay). Theo sau là khoảng ba trăm người vừa đi bộ vừa dắt xe đạp, họ là thân quyến, bạn bè người quá cố, đa số là người viết văn, làm báo. Tiếng khóc của người vợ trẻ nghe não nùng, thảm thiết. Con gái Vũ Trọng Phụng còn trứng nước, chưa đầy một năm tuổi, được một bà bế trên tay. Trông em bé bụ bẫm, hai con mắt đen như hạt nhãn, đội cái mũ mấn khâu bằng vuông vải trắng.

Đi theo những người phu đòn mặc đồng phục màu đen, nẹp trắng, đội nón chóp sơn đen, trước mắt là khu mộ mới. Mộ thi sĩ Tản Đà cũng nằm gần đây, chỉ cách mươi mươi mười lăm bước. Hố huyệt đã được đào từ chiều hôm trước. Linh cữu vừa được từ từ hạ xuống thì người vợ nhà văn, vì quá thương chồng đã lăn xuống huyệt. Người ta phải ra sức kéo lên.

Thay mặt cho giới văn hữu, Lưu Trọng Lư đọc điếu văn. Giọng ông run run, ông đọc: “… Anh là một nhà văn. Tên tuổi anh sẽ sống mãi cùng sự nghiệp của anh. Anh đã chuyển bại thành thắng, ở chỗ này, tử thần đã không làm gì được nữa…”. Mọi người ném xuống mộ nhà văn những nắm đất to nhỏ không đều, chỉ trong khoảnh khắc ngôi mộ đã cao dần và được đắp cho chắc chắn. Những thỏi vàng bồ cũng được rắc lên. Lan Khai và Phùng Tất Đắc suốt mấy ngày bận rộn lo việc tang ma cho bạn, nay lại lanh lẹn vác vòng hoa đặt lên mộ, Phạm Cao Củng mang theo máy ảnh chụp một vài kiểu. Những nén nhang từ từ cháy, làn khói cuộn dần lên theo gió. Mọi người nghiêng mình, cúi đầu hoặc hai tay chắp vái từ biệt Vũ Trọng Phụng lần cuối. L9 Vu Trg Phung 3úc đó là 9 giờ 45 phút sáng ngày chủ nhật, 15/10/1939.

Triển lãm ấn bản “siêu hiếm” của nhà văn Vũ Trọng Phụng

Tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố nhà văn Vũ Trọng Phụng của Hội Nhà văn Việt Nam, không ít người trầm trồ trước triển lãm bút tích, ấn bản thời còn sống của “vua” phóng sự đất Bắc.

Sáng ngày 22/10/2012, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố nhà văn Vũ Trọng Phụng. Với tư cách nhà báo, Vũ Trọng Phụng được mệnh danh là “Vua” phóng sự đất Bắc, với tư cách nhà văn tên tuổi ông gắn với những tiểu thuyết nổi tiếng như Số đỏ, Giông tố

Trước đó, chiều ngày  21/10, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam cũng đã đến thắp hương tại mộ nhà văn Vũ Trọng Phụng ở Nhân Chính, Hà Nội. Đây là dịp để những nhà nghiên cứu, những độc giả cùng nhìn nhận những thành tựu sáng tác của ông – di sản đặc sắc của thế hệ vàng văn chương Việt Nam hiện đại.

Theo GS Phong Lê, trên văn đàn Việt Nam, ít ai có được sức viết như Vũ Trọng Phụng. Với 27 năm tuổi đời và dưới 10 năm tuổi nghề thế mà Vũ Trọng Phụng đã để lại một khối lượng có thể nói là đồ sộ với các tác phẩm thuộc nhiều thể loại, gồm 9 tiểu thuyết, 7 phóng sự dài, 2 vở kịch dài cùng hàng chục truyện ngắn, bút ký, tiểu luận, bản dịch…

Hơn 50 năm sau khi qua đời, Vũ Trọng Phụng đã trở lại một vị trí xứng đáng trên văn đàn Việt Nam, nhiều hoạt động ghi nhận công lao của ông đã được tiến hành: sưu tầm di cảo, xuất bản và tái bản sách, tổ chức hội thảo, đặt tên đường phố…

9 Vu Trg Phung 4Cũng tại buổi lễ này, lần đầu tiên các ấn phẩm của Vũ Trụng Phụng được nhà sưu tập sách cổ Hoàng Minh trưng bày giới thiệu đến các độc giả.

Triển lãm trưng bày bản thảo viết tay tiểu thuyết Vỡ đê, một số ấn bản đều thuộc hàng sách xưa, trước năm 1945 khi Vũ Trọng Phụng còn sống. Có ấn bản thuộc hàng “siêu hiếm” như cuốn Giông tố được NXB Văn Thanh in năm 1937. Theo nhà sưu tập Hoàng Minh, hiện Việt Nam chỉ còn hai ấn bản, một của anh và một của nhà sưu tầm khác.

“Việc có trong tay những bút tích, ấn bản của cố nhà văn Vũ Trọng Phụng không chỉ vì lòng quý trọng của tôi đối với một tài năng vĩ đại mà còn là cơ duyên”, nhà sưu tập Hoàng Minh chia sẻ. Ngoài cố nhà văn Vũ Trọng Phụng, Hoàng Minh còn sưu tập về một số nhà văn khác…

Trước buổi Lễ tưởng niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Vũ Trọng Phụng, công chúng cũng hướng nhiều sự chú ý đến sự kiện: sau Làm đĩGiông tố tiếp bước lên sân khấu kịch.

Ngày 9/8 vừa rồi, nhà viết kịch Chu Thơm đại diện cho sân khấu kịch Hồng Vân và ông Nghiêm Xuân Sơn, con rể cố nhà văn Vũ Trọng Phụng đã có buổi ký kết thoả thuận chuyển thể tiểu thuyết Giông tố lên sân khấu kịch.

Theo biên bản ký kết, nhà viết kịch Chu Thơm giữ vai trò chuyển thể kịch bản và nghệ sĩ Hồng Vân chịu trách nhiệm đạo diễn. Tên gọi của kịch bản phóng tác do tác giả và đạo diễn kịch bản quyết định. Bên cạnh đó, biên bản còn yêu cầu đơn vị chuyển thể phải thực hiện nghĩa vụ bản quyền đối với gia đình nhà văn.

Dự kiến, cuối năm sân khấu kịch Hồng Vân sẽ cho ra mắt vở diễn mới chuyển thể từ tác phẩm Giông tốGiông tố được nhà văn Vũ Trọng Phụng sáng tác vào năm 1936, cùng với thời điểm ra mắt 3 cuốn tiểu thuyết khác là Số đỏ, Vỡ đê và Làm đĩ. Đầu năm 1937, Giông tố được xuất bản thành sách riêng tại nhà xuất bản Văn Thanh ở Hà Nội.

Nhìn lại Vũ Trọng Phụng

Lần đầu tiên bản thảo viết tay và những cuốn sách ấn bản lần đầu chưa qua biên tập nhiều, đã được triển lãm trong “Lễ tưởng niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Vũ Trọng Phụng”.

Nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của “vua phóng sự” đất Bắc, Vũ Trọng Phụng (20/10/1912 – 20/10/2012), Hội nhà văn Việt Nam tổ chức “Lễ tưởng niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Vũ Trọng Phụng”. Tham dự có con rể của nhà văn, ông Nghiêm Xuân Sơn, nhà phê bình Hà Minh Đức, nhà thơ Hữu Thỉnh,… cùng nhiều tên tuổi khác trong làng văn, làng báo.

9 Vu Trg Phung 5

Tại buổi lễ, nhà phê bình Lại Nguyên Ân trong bài phát biểu : “Hậu thế đối xử thế nào với di sản của Vũ Trọng Phụng” có chú trọng đến việc sưu tầm và in ấn các tác phẩm của nhà văn, nhà báo thuộc thế hệ vàng của văn chương Việt Nam. Ông Lại Nguyên Ân cho biết : “Trong số các nhà văn giai đoạn 1930 – 1945 cho đến nay, tác phẩm của Vũ Trọng Phụng được làm lại, in ấn tư liệu nhiều nhất, thống kê có ít nhất từ ba đến bốn tuyển tập. Tuy nhiên nếu đặt ra câu hỏi : Đã sưu tập được hết tác phẩm của ông chưa ? Thì câu trả lời là : Chưa .

Đây là tình trạng chung với di sản của nhiều tác giả khác, cho thấy việc nghiên cứu, sưu tầm văn học ở ta, người nghiên cứu đông đảo nhưng công việc chưa làm được còn nhiều”. Việc sưu tầm được những tác phẩm, bản thảo của nhà văn từ gần một thế kỉ trước với nhiều biến cố thời cuộc thực đòi hỏi công sức và hiểu biết về nguồn gốc, lịch sử văn bản. Hơn thế, Vũ Trọng Phụng là một nhà báo, nhiều tác phẩm của ông được in rải rác trên các báo như “Hà Nội báo”, “Đông Dương tạp chí”với những chương ngắn trong “Cơm thầy cơm cô”, “Giông tố”, cùng truyện ngắn và một số tác phẩm kịch nên việc sưu tầm, tìm lại đầy đủ vô cùng khó khăn.

Trong khuôn khổ lễ tưởng niệm, người xem được tận mắt chứng kiến nhiều di sản quý giá được một người không chuyên sưu tầm là anh Hòang Minh (Q.Tân Bình). Sau hơn mười năm cất công tìm kiếm, anh mang tới những bài báo của Vũ Trọng Phụng đăng trên “Hà Nội báo” (1936), “Đông Dương tạp chí” (1937), “Tiểu thuyết thứ bẩy” (1939) cùng những ấn bản đầu tiên như “Giông tố” (1937), “Kỹ nghệ lấy tây” (1936), “Số đỏ” (1951)…

9 Vu Trg Phung 6

Đây là những cuốn sách quý hiếm đã sống hàng chục năm qua nhiều tủ sách gia đình, những hàng sách cũ mà anh Hoàng Minh mất nhiều thời gian và công sức để mua lại. Khi được hỏi lí do sưu tầm tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, anh tâm sự : “Đó là sở thích của những người có chung niềm hoài cổ. Với tôi Vũ Trọng Phụng là nhà văn vĩ đại nhất, ví như tiểu thuyết “Số đỏ” có lẽ vài trăm năm sau cũng không lạc hậu với thời cuộc”.

Đặc biệt nhất, đến với không gian trưng bày người xem được tận mắt chứng kiến bút tích của nhà văn Vũ Trọng Phụng trên bản thảo “Vỡ đê”. Hiện nay, anh Hoàng Minh có trong tay gần 20 trang bản thảo. Ở đó ghi dấu những nét chữ phóng khoáng, từng câu văn giá trị, người xem được nhìn ngắm những đoạn gạch chân, những dòng chú thích hay sửa chữa được nhà văn đóng khung cẩn thận. Trao đổi với Dân Trí, anh Hoàng Minh cho biết  “Nguồn gốc của bản thảo này rất đặc biệt, sinh thời nhà văn Vũ Trọng Phụng gửi bản thảo này cho NXB Mai Lĩnh. Sau đó, giám đốc NXB là ông Đỗ Xuân Mai mang theo bản thảo quý giá này vào Nam. Một nhà sưu tầm (xin giấu tên) đã mua lại năm 1960. Để có được được bản thảo này, tôi phải theo thuyết phục nhà sưu tầm suốt 8 năm ròng. Đến khi, nhà sưu tầm đã quá già và quyết định truyền lại cho tôi. Có người trả giá một tờ vài trăm USD nhưng tôi nghĩ đây là tài sản vô giá”.

9 Vu Trg Phung 7

Những di sản này, không chỉ có giá trị như một “cổ vật” để nhìn ngắm. Với những nhà nghiên cứu, đây là kho báu để tìm hiểu về “bậc thầy trào phúng” Vũ Trọng Phụng. Theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân : “Những trang văn của Vũ Trọng Phụng thời đó đứng trước nhiều cuộc tranh cãi về khiêu dâm và suy đồi. Không ít tác phẩm trước khi xuất bản bị biên tập quá nhiều. Ví dụ nhiều chi tiết, câu chữ trong “Giông tố” không được in hết và thay bằng dấu ba chấm. Bản thảo ngày càng bị xâm hại đáng tiếc trong những lần xuất bản sau”. Như vậy, những bản thảo viết tay, những truyện ngắn, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng và sách phê bình, lý luận về Vũ Trọng Phụng từ thế kỉ trước là tư liệu quý giá đối với nhà nghiên cứu, phê bình văn học.

Cuốn sách “Giông Tố” (bản in đầu tiên 1937) mà anh Hoàng Minh may mắn mua lại được từ một người chơi sách “có hạng” giúp ích rất nhiều cho công trình nghiên cứu của nhà phê bình Lại Nguyên Ân. Ông đã có những đánh giá chuẩn xác về vấn đề ứng xử với di sản Vũ Trọng Phụng để lại trong công trình văn bản học “Nghiên cứu văn bản Giông Tố” do NXB Tri Thức ấn hành năm 2007. (theo Đinh Nha Trang)

Yên Huỳnh post