SÀI GÒN QUA GÓC ẢNH XƯA

CON NGƯỜI, CẢNH VẬT SÀI GÒN

QUA GÓC ẢNH XƯA

Hoa hậu Sài Gòn năm 1925 đoan trang, e ấp trong tà áo dài. Những con đườngrợp bóng cây xanh, thưa thớt người… là hình ảnh đầy hoài niệm về một Hòn ngọc Viễn Đông xưa, nay đang phát triển năng động.

Tại Hội sách lần thứ 7 tổ chức tại công viên Lê Văn Tám ở Sài Gòn trong tháng ba năm 2012, triển lãm 100 bức ảnh đen trắng ghi nhận phong cảnh, sinh hoạt, chân dung người Sài Gòn xưa đã thu hút hàng chục nghìn lượt người tham quan.

Xin giới thiệu lại các bức ảnh tư liệu quý:

H1/-  nhạc Sài Gòn năm 1900. H2/- Đoàn hát Sài Gòn tham dự hội chợ Marseille năm 1906. H3/- Trang phục phụ nữ Sài Gòn đầu thế kỷ 20.

H4/- Xích lô Sài Gòn xuất hiện vào khoảng năm 1939. Chiếc đầu tiên do một người dân Pháp tên Coupeaud phát kiến ra. Thành phố đầu tiên được cấp phép sử dụng loại phương tiện này là Phnompenh. Từ Phnompenh, Coupeaud đã tổ chức một hành trình đến Sài Gòn. Hai người đạp thuê đã thay phiên nhau đạp gần 200 km, hết 17 giờ 23 phút. Số liệu thống kê cho biết, cuối năm 1939, Sài Gòn chỉ có 40 chiếc xích lô thì qua năm 1940, con số này đã là 200 chiếc. H5/- Cảnh sinh hoạt bên bờ sông Sài Gòn năm 1880. H6/- Những cô gái Sài Gòn chơi bài 3 lá.

H7/- Hoa hậu Sài Gòn năm 1925. H8/- Vườn Bách thảo Sài Gòn được xây dựng năm 1864 trên diện tích 12 ha vùng thuộc vùng đất hoang ở phía Đông Bắc rạch Thị Nghè. Năm 1865 vườn Bách Thảo được nới rộng diện tích đến 20 ha và đặt dưới sự quản lý của Hội đồng thành phố Sài Gòn. Ông Jean Baptiste Louis Pierre là người sáng lập và là giám đốc đầu tiên của Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Trong vườn Bách Thảo tồn tại hai công trình kiến trúc đặc sắc là đền thờ Vua Hùng (xây dựng năm 1926) và Bảo tàng lịch sử mở cửa từ năm 1929. H9/- Tuyến xe đò từ Sài Gòn đi Vũng Tàu năm 1925.

H10/- Một sứ đoàn Trung Hoa từ tàu thủy xuống bến cảng Sài Gòn năm 1920. H11/- Bệnh viện Gia Định trong những thập niên đầu thế kỷ 20. Bệnh viện Gia Định sơ khai do người Pháp xây dựng với bảng hiệu Hopital de GiaDinh. Năm 1945, Hopital de GiaDinh được đổi tên thành bệnh viện Nguyễn Văn Học. Đến năm 1968 được xây dựng mới và đổi tên thành Trung tâm thực tập Y khoa Gia Định. Sau năm 1975, Bệnh viện Nguyễn Văn Học được đổi tên thành Bệnh viện Nhân Dân Gia Định. H12/- Một xe ngựa chở khách ở Sài Gòn.

H13/- Một đường phố xưa ở Trung tâm Sài Gòn năm 1915. H14/- Tàu neo đậu trên sông Sài Gòn năm 1920. H15/- Chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp chiếm Gia Định. Đầu tiên, chợ được đặt dọc theo bờ sông Bến Nghé, sau đó được xây dựng bên bờ nam một con kinh được gọi là Kinh Lớn. Năm 1887, người lấp con kinh này, chợ được dời về nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (tức địa điểm chợ Bến Thành ngày nay). Chợ được khởi công xây dựng từ năm 1912, đến cuối tháng 3/1914 thì hoàn thành. Lễ ăn mừng chợ Bến Thành được gọi là “Tân Vương hội”. Khu chợ mới này vẫn mang tên chợ Bến Thành. Tuy nhiên, nhiều người Sài Gòn thường gọi đây là chợ Sài Gòn hay chợ Mới để phân biệt với chợ Cũ.

H16/- Thương xá Tax được xây dựng từ năm 1880. Một thời gian dài Thương xá Tax mang tên Les Grands Magazins Charner, chuyên bán các mặt hàng bazar của các nước trên thế giới, chủ yếu là Pháp, Anh. Thời bấy giờ chỉ có giới thượng lưu ở Sài Gòn hoặc các đại điền chủ ở miền quê đến đây mua sắm mặt hàng vải, đồng hồ, máy hát. Năm 1942, Thương xá đập bỏ phần tháp đồng hồ ở bên trên xây thêm một tầng nữa. Năm 1960, Charner được giao lại cho Hội mậu dịch, đổi tên là Thương xá Tax với hoạt động chủ yếu là cho thương nhân thuê mặt bằng để kinh doanh.

H17/- Quán cà phê đầu tiên ở Trung tâm Sài Gòn năm 1915. H18/- Dinh Xã Tây được xây dựng từ năm 1898-1909, theo đồ án của kiến trúc sư Gardès, mô phỏng kiểu những lầu chuông ở miền Bắc nước Pháp. Mặt tiền của tòa nhà được trang trí bằng hình người, mặt nạ và vòng hoa theo các điển tích phương Tây. Thời Pháp nơi đây là Dinh Xã Tây, thời chế độ Sài Gòn là Tòa Đô Chính. Sau năm 1975, nơi đây trở thành trụ sở của UBND Thành phố.

H19/- Hãng buôn Boy-Landry, một trong những hãng buôn nổi tiếng của người Pháp nằm ở trung tâm thành phố Sài Gòn những năm đầu thế kỷ 20. H20/- Khách sạn Grand (Grand Hotel Saigon) cổ kính được xây dựng năm 1930 với lối kiến trúc của Pháp. Tọa lạc tại khu vực trung tâm Sài Gòn. Khách sạn này là nơi đón tiếp các doanh nhân và du khách quốc tế. Từ đây chỉ cần tản bộ một đoạn đường là có thể ngắm khung cảnh tuyệt vời của con sông Sài Gòn. H21/- Tòa hòa giải Sài Gòn (nay là tòa nhà Sunwah ở quận 1).

H22/- Đường Huyền Trân Công Chúa nằm bên hông dinh Norodom, thời Pháp mang tên đường MissCavell. Từ năm 1955, chính quyền Sài Gòn đổi tên là đường Huyền Trân Công Chúa. H23/- Đường L’Avenue Jaccareo năm 1925 nay là đường Tản Đà. H24/- Quảng trường trước nhà thờ, nhìn từ hướng Nhà thờ Đức Bà. Năm 1958 nơi đây có tên là Quảng trường Hòa Bình, hiện nay là Quảng trường Công xã Paris.

Tranh Ben ThanhSÀIGÒN CỦA TÔI

Một bài viết hay về Sài gòn trên Trang “Sài Gòn xưa & nay”, rất tiếc chưa tìm ra được tác giả.

“Hồi 54, cả trăm ngàn dân di cư mang theo đủ loại kiểu sống bó trong luỹ tre làng đem nhét hết vô mảnh đất nhỏ xíu này, cũng gây xáo trộn cho người ta chứ. Phong tục, tập quán, ở đất người ta mà cứ như là ở đất mình. Nhưng người Sài Gòn chỉ hiếu kỳ một chút, khó chịu một chút, rồi cũng xuề xoà đón nhận.

Lúc đầu tụi bạn ghẹo tôi là “thằng Bắc kỳ rau muống”. Con nít đổi giọng nhanh mà, trong nhà giọng Bắc, ra ngoài giọng Nam. Thế là huề hết. Rủ nhau đi oánh lộn phe nhóm là chuyện thường. Khỏi cần biết đúng sai, mày đánh bạn tao, thì tao đánh lại, oánh lộn tưng bừng. Vài ngày sau lại rủ nhau đi xem xinê cọp. Dễ giận dễ quên.

Hè, tụi bạn về quê, Bến Lức, Vĩnh Long, Kiến Hoà… Cũng chia tay hứa hẹn, tình cảm ra rít : “Tao về quê sẽ mang lên cho mày ổi xá lỵ, xoài tượng…” Tôi ngóng cổ chờ bạn, 9 Sai gon 1chờ quà. Thực ra, tôi thèm có quê để về.

Tết đến, thầy cô, bạn bè về quê, nhiều người Sài Gòn xôn xao về quê. Tôi ở lại Sài Gòn mà thấy mình vẫn không phải dân Sài Gòn. Vậy ai là dân Sài Gòn chính hiệu đây ? Chẳng lẽ phải tính từ thời mấy ông Pétrus Ký hay Paulus Của ?

Sài Gòn trẻ măng, mới chừng hơn 300 tuổi tính từ thời Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền ở đây. Sài Gòn khi cắt ra khi nhập vào, to nhỏ tuỳ lúc. To nhất khi nó là huyện Tân Bình, kéo dài đến tận Biên Hoà. Nhỏ nhất là vào thời Pháp mang tên Sài Gòn. Ngay trước 1975, Sài Gòn rộng chừng 70km2, có 11 quận, từ số 1 – 11. Hồi đó Phú Nhuận, Tân Bình, Thủ Đức… còn được xem là nhà quê (tỉnh Gia Định). Bây giờ Sài Gòn rộng tới 2.000km2.

Sài Gòn đắc địa, có cảng nối biển, là đầu mối giao thương quốc tế, tiếp cận văn minh Tây phương sớm. Dân Sài Gòn không có địa giới rõ rệt. Nói tới họ có vẻ như là nói tới phong cách của dân miền Nam. Họ là những lưu dân khai phá, hành trang không có bờ rào luỹ tre nên tính tình phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, nói năng bộc trực… Ai thành đại gia thì cứ là đại gia, ai bán hàng rong thì cứ bán.

Sài Gòn không tự hào mình là người thanh lịch, không khách sáo, không mời lơi. Họ lấy bụng đãi nhau. Sài Gòn có mua bán chém chặt ? Có, đúng hơn là nói thách. Cứ vô chợ Bến Thành xem mấy bà bán mỹ phẩm, hột xoàn hét giá mát trời ông Địa. Không cứ khách tỉnh, dân Sài Gòn lơ mơ cũng mua hớ như thường.

9 Sai gon 2Ít nơi nào nhiều hội ái hữu, hội tương tế, hội đồng hương như Sài Gòn. Có máu lưu dân trong người, dân Sài Gòn thông cảm đón nhận hết, không ganh tị, không thắc mắc, không kỳ thị. Người ta kỳ thị Sài Gòn, chứ Sài Gòn chẳng kỳ thị ai.

Nhiều gia đình người Bắc người Trung ngại dâu ngại rể Sài Gòn, chứ dân Sài Gòn chấp hết, miễn sao ăn ở biết phải quấy là được.

Dân Sài Gòn làm giàu bằng năng lực hơn là quyền lực. Người ta nói “dân chơi Sài Gòn”. Trời đất ! Sài Gòn mà “tay chơi” cái nỗi gì. Tay chơi dành cho những đại gia giàu lên đột xuất từ đâu đó đến. Sài Gòn a dua thì có, nhưng a dua biết chọn lọc. Coi vậy chứ dân Sài Gòn đâu đó còn chút máu “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”. Cứ xem dân Sài Gòn làm công tác xã hội thì biết, cứu trợ lũ lụt thấy người ta lạnh quá, cởi áo len đang mặc tặng luôn. Họ làm vì cái bụng nó thế, chứ không phải vì PR, đánh bóng bộ mặt.

Biết bao văn nghệ sĩ miền Bắc, miền Trung vào đất này “quậy” tưng, tạo ra cái gọi là văn học miền Nam hậu 54 coi cũng được quá chứ ? Nhạc sĩ Lam Phương, quê Rạch Giá, mười tuổi đã lưu lạc lên Sài Gòn kiếm sống. Năm 17 tuổi nổi danh với bản Kiếp nghèo và khá giả từ đó.

Tiếp cận văn minh phương Tây sớm, nên dân Sài Gòn có thói quen ngả mũ chào khi gặp đám ma, xe hơi không ép xe máy, xe máy không ép người đi bộ, chạy xe lỡ va quẹt nhau, giơ tay chào ngỏ ý xin lỗi là huề. Những thói quen này giờ đây đang mất dần, nhưng dân Sài Gòn không đổ thừa cho dân nhập cư. Họ cố gắng duy trì (dù hơi tuyệt vọng) để người mới đến bắt chước. 9 Sai gon 3Chợ hoa là một chút văn hoá của Sài Gòn, có cả nửa thế kỷ nay rồi, có dân nhập cư nào “yêu” hoa mà ra đó cướp giựt hoa đâu.

Sài Gòn nhỏ tuổi nhiều tên, nhưng dù thế nào Sài Gòn vẫn là Sài Gòn. Nhiều người thành danh từ mảnh đất này. Sài Gòn nhớ không hết, nhưng mấy ai nhớ đến chút tình của Sài Gòn ? May ra những người xa Sài Gòn còn chút gì nhức nhối. Tôi có người bạn Bắc kỳ chín nút, xa Việt Nam cũng gần 40 năm. Tên này một đi không trở lại, vừa rồi phone về nói chuyện lăn tăn, rồi chợt hỏi : “Sài Gòn còn mưa không ?” – “Đang mưa”. Đầu phone bên kia thở dài : “Tao nhớ Sài Gòn chết… mẹ !” Sài Gòn nay buồn mai quên, nhưng cũng có nỗi buồn chẳng dễ gì quên.

Mới đây đi trong con hẻm lầy lội ở Khánh Hội, chợt nghe bài Kiếp nghèo vọng ra từ quán cóc ven đường. Tôi ghé vào gọi ly càphê. Giọng Thanh Thuý sao da diết quá: “Thương cho kiếp sống tha hương, thân gầy gò gởi theo gió sương…” Chủ quán, ngoài 60 cầm chồng báo cũ thẩy nhẹ lên bàn “Thầy Hai đọc báo…” Hai tiếng “thầy Hai” nghe quen quen… Tự nhiên tôi thấy Sài Gòn như máu chảy từ tâm, Sài Gòn bao dung. Tôi chợt hiểu ra, mình đã là người Sài Gòn từ thuở bào thai rồi, cần gì xin nhập tịch.”

Xuân Mai chuyển tiếp


HỌA MI – LÊ TẤN QUỐC

GẶP NHAU TRONG

ÂM NHẠC VÀ TÂM HỒN

Đối với sinh hoạt về đêm ở Sài Gòn trước cũng như sau năm 75 và cho đến hiện nay, Lê Tấn Quốc là một nhạc sĩ sử dụng kèn được nhiều người biết tới. Một phần vì khả năng nhuần nhuyễn của anh qua các loại kèn saxo, nổi bật hơn cả là Tenor sax. Phần khác, anh là một nhạc sĩ khiếm thị, nhưng tài nghệ đã khiến nhiều người trong nghề cảm phục.

Lê Tấn Quốc sinh tại Sài Gòn năm 1953. Song thân anh có 7 người con, không kể một số con riêng của cha anh với 2 đời vợ trước. Lê Tấn Quốc còn có hai người anh cũng là những nhạc sĩ quen thuộc của các vũ trường Sài Gòn từ rất lâu, biệt danh là Paul và Jacques.

Lê Tấn Quốc lập gia đình

với ca sĩ Họa Mi 1976.

Đến tháng giêng năm 88, Họa Mi sang Pháp trình diễn. Sau đó, Họa Mi đã quyết định ở lại và không hề báo cho Quốc biết trước quyết định này. Lê Tấn Quốc tâm sự thêm là sau khi Họa Mi ra đi, anh biết là cuộc sống hôn nhân của anh đã chấm dứt :

– “Khi Họa Mi đi coi như xong rồi, coi như tan vỡ rồi. Đó là định mệnh”. Và khi biết Họa Mi không trở lại Việt Nam : “Lúc đó mình thấy cũng hụt hẫng lắm. Đi làm về thấy 3 đứa con nằm ngủ lăn lóc rất tội nghiệp.” Lê Tấn Quốc cho rằng Họa Mi đi Pháp ở là do tình trạng kinh tế khó khăn của gia đình chứ không có lý do gì khác. Vì sau đó vợ anh cũng đã hoàn tất thủ tục cho chồng con cùng sang đoàn tụ tại Pháp.

Năm 1990, Lê Tấn Quốc cùng 3 con sang Pháp với Họa Mi. Vấn đề đầu tiên là hai người tìm cách chữa trị bệnh mắt của anh. Tuy nhiên, các bác sĩ điều trị cho biết họ cũng bó tay.

Sau vài tháng ở Pháp, Họa Mi đề nghị làm thủ tục để Quốc được hưởng qui chế tỵ nạn, nhưng Quốc nhất định từ chối, anh quyết định quay trở lại Việt Nam. Anh cũng không giấu diếm những mặc cảm của mình. Anh cho biết sẽ chỉ ở lại nếu mắt của mình có thể chữa được. Anh nói :

– “Tới bây giờ em chưa bao giờ ân hận vì đã trở về. Em để các con ở lại với mẹ chúng, cho chúng nó ăn học”.

Lê Tấn Quốc quay trở lại Sài Gòn vào cuối năm 1990, để lại 3 con sống với Họa Mi. Con trai lớn của 2 người năm nay 31 tuổi và đã có gia đình, người con trai kế 27 tuổi và cô con gái út năm nay 24.

Lê Tấn Quốc cũng cho biết Họa Mi đã không giấu diếm khi tâm sự với anh là có cảm tình với một người Việt lớn hơn chị 12 tuổi trong thời gian sống ở Pháp. Người này là giám đốc một công ty sản xuất kem và bánh ngọt. Anh mừng cho Họa Mi đã gặp được một người tốt. Nguyên nhân khiến họ chia tay không phải đến từ sự đổ vỡ hạnh phúc. Và cũng chẳng phải do lỗi lầm của một ai hoặc do một sự xung đột nào đó. Mà chỉ do đầu óc thực tế của cả đôi bên. Vì thật sự cho đến lúc quyết định như vậy, cả hai đều vẫn dành cho nhau những tình cảm rất tốt đẹp sau khi đã có với nhau 3 người con.

Chuyện tình giữa ca sĩ Họa Mi

và nhạc sĩ Lê Tấn Quốc

Cuộc tình này có tất cả tính chất bi tráng, oan khiên và hệ lụy của những cặp tình nhân, đã gặp nhau, yêu nhau, cưới nhau và xa nhau trong hoàn cảnh nghiệt ngã của một giai đoạn lịch sử đầy thảm khốc. Chàng nhạc sĩ khiếm thị ngày nay có thể không còn nhìn rõ mặt người yêu như những ngày đầu còn mặn nồng 1976 và cô ca sĩ ngày nay trên chiếc thuyền mới của cuộc đời với tất cả trách nhiệm gia đình trên đôi vai bé nhỏ.Thế nhưng trong tâm hồn họ vẫn còn một góc dành cho nhau, và góc riêng tư đó không cần nhìn bằng đôi mắt, góc riêng tư đó không có thời gian và không có không gian, góc riêng tư đó chỉ có tiếng chim Họa Mi hót bên dòng suối Saxo ngọt ngào mãi mãi.

Họa Mi yêu ca hát từ nhỏ và rất được sự khuyến khích của mẹ : “Nếu sợ ba con rầy thì con cứ hát nhỏ nhỏ cho má nghe cũng được”, đó là lời Họa Mi tâm tình trên video Paris By Night Thúy Nga.

Sinh ngày 1 tháng 5 năm 1955, Họa Mi tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn và được sự hướng dẫn về nghệ thuật của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Bấy giờ nữ ca sĩ Sơn Ca là giọng ca nữ chính bên cạnh nam ca sĩ Bùi Thiện, nên Họa Mi chưa thật sự nổi bật trên sân khấu Maxim’s của Đoàn Văn Nghệ Hoàng Thi Thơ, cũng như những sân khấu phòng trà hay khiêu vũ trường khác. Đến khi Họa Mi được Ngọc Chánh và Thanh Thúy ký hợp đồng thu âm cho băng nhạc của cơ sở Nguồn Sống (các nhãn băng như Shotguns, Thanh Thúy v.v…) và một lý do khách quan khác, báo chí bấy giờ (khoảng năm 1972) đã “dập” cô  ca sĩ Sơn Ca khiến phải thân bại danh liệt, để từ đó tiếng hát của Họa Mi cất cánh lên cao trên bầu trời ca nhạc Sài Gòn và miền Nam lúc đó.

Rời Việt Nam năm 1988, Hoạ Mi được nhiều cơ hội tham gia tích cực vào những sinh hoạt văn nghệ hải ngoại và đã từng trình diễn ở rất nhiều quốc gia : Pháp, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hòa Lan, Na Uy, Úc, Nhật Bản, Anh, Hoa Kỳ và ngay cả Liên Sô (trước 1988).

Trong phong thái trình diễn rất nhẹ nhàng thoải mái, với tiếng hát ấm và trong, Họa Mi đã từng làm say mê khán thính giả trong những ca khúc trữ tình lãng mạn. Nhạc phẩm “Đưa Em Xuống Thuyền” của Nhạc Sĩ Hoàng Thi Thơ đã được Họa Mi lựa chọn để trình diễn trong lần đầu tiên ra mắt khán thính giả tại nhà hàng Maxim’s Sài Gòn. Những ai đã từng ái mộ tiếng hát Họa Mi chắc không thể quên được nhạc phẩm “Em Đi Rồi” của nhạc sĩ Lam Phương đã được Họa Mi trình bày một cách xuất sắc, chừng như tiéng nức nở nghẹn ngào của từng âm thanh rung động trên vành môi, người ca sĩ đáng yêu kia đã gởi gấm đâu đây một phần đời của chính mình ? Họa Mi yêu màu trắng và thích nhấn con số 8 (đây là con số “Phát tài” theo sự tin tưởng của người Trung Hoa). Cho đến nay, Họa Mi đã xuất hiện rất nhiều trên băng Paris By Night cũng như đã thâu băng và CD. Ngoài ra, cô còn cộng tác với 1 số vũ trường tại Paris. Đối với Họa Mi, trong tình yêu, sự thành thật là yếu tố quan trọng hàng đầụ Họa Mi cho rằng được có một mái ấm gia đình là cả một hạnh phúc lớn, còn về cuộc đời, Họa Mi thấy rất ngắn ngủi và mong manh.

Nhiều người có nhận xét rằng Họa Mi rất đẹp không những trên sân khấu mà kể cả ở ngoài đời và cô có một giọng hát trong, thánh thót ở những nốt nhạc cao và ấm áp, tình cảm ỡ những nốt nhạc thấp hơn.

Yêu nhau một thời, xa nhau một đời

Hơn hai mươi năm rời sân khấu, rời Sài Gòn, Họa Mi đã có một cuộc đời khác. Hai mươi năm nhiều biến động, có thể nói là những biến động nghiệt ngã nhất của đời người, đã làm Họa Mi bình tĩnh hơn, nhẹ nhàng hơn vào những tháng năm này Nữ danh ca thập niên 70 của Sài Gòn, giọng ca quen thuộc của đoàn Kim Cương những năm đầu giải phóng, phát hành album đầu tay “Một thời yêu nhau” khi bước vào tuổi 54. Khi số phận bắt chị phải lựa chọn, chị đã lựa chọn gia đình và những đứa con. Phía sau cuộc ra đi nhiều sóng gió của Họa Mi năm 1988 tới Pháp, ít ai biết, đó là cả một sự hy sinh thầm lặng đến quên mình…

Sài Gòn là một ký ức đẹp, mà ở đó chị đã có tất cả. 18 tuổi, khi đang học Trường Quốc gia âm nhạc, Họa Mi được nhạc sỹ Hoàng Thi Thơ mời đến hát tại nhà hàng Maxim’s, một trong những nhà hàng nổi tiếng nhất Sài Gòn khi ấy. Và ngay từ những bài hát đầu tiên “Đưa em xuống thuyền”, “Đưa em qua cánh đồng vàng”, Họa Mi đã là một hiện tượng không trộn lẫn.

Họa Mi được đánh giá là một trong những ca sỹ hiếm hoi được học thanh nhạc bài bản, có nền tảng tốt. Chị nhớ lại, tên chị là Trịnh Thị Mỹ, khi bắt đầu được đi hát, chị lấy tên là Trường My, nhưng ngay buổi đầu tiên đi hát, chị được ông bầu Hoàng Thi Thơ giới thiệu là Họa Mi, và đó chính là cái tên theo chị suốt cuộc đời ca hát.

Sau khi 1975, Họa Mi nghĩ mình sẽ không còn cơ hội để ca hát nữa. Khi ấy chị hai mươi tuổi và bắt đầu theo học ngành Luật. Cho đến một ngày, nhạc sỹ Ngọc Chánh đến tìm chị. Anh nói, thành phố thành lập một đoàn ca nhạc hát chung với đoàn Kim Cương. Và anh muốn chị đi hát lại. Khi ấy, đoàn ca nhạc gồm hầu hết những gương mặt quen thuộc trong giới ca nhạc sau này, như Thanh Phong, Phương Đại, Thái Châu, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Sơn Ca… Và chị đã tiếp tục con đường ca hát, với một phong cách mới. Bài hát đầu tiên trên sân khấu là “Bóng cây Kơ nia”, Họa Mi đã hát với tình yêu say đắm của tuổi hai mươi khi ấy.

Năm 1976, Họa Mi lập gia đình với nghệ sỹ saxophone Lê Tấn Quốc. Họa Mi nói, khi ấy cả anh và chị đều có hoàn cảnh giống nhau, nên rất dễ thương nhau. Họa Mi mất ba từ năm 11 tuổi và năm 18 tuổi mẹ chị cũng rời trần thế, bỏ lại chị một mình trong thành phố những ngày nhiều biến động. Hai người yêu nhau 6 tháng thì cưới. Anh vẫn thổi kèn cho chị hát. Và họ đã là một biểu tượng của hạnh phúc.

Hình ảnh vợ chồng Họa Mi – Lê Tấn Quốc thể hiện được rất rõ khí chất và tình nghệ sỹ lâu bền… Họ đã sống với nhau hơn 10 năm và có với nhau 3 đứa con.

Lê Tấn Quốc với chứng bệnh mắt bẩm sinh, mắt ngày càng kém hơn. Cuộc sống thành phố những năm 80 của thế kỷ trước bộn bề gian khó. Cặp vợ chồng nghệ sỹ vật lộn tìm đường sống để nuôi ba con nhỏ. Hạnh phúc tưởng như trọn vẹn, nhưng lại không dễ dàng. Và năm 1988, Họa Mi có chuyến đi biểu diễn tại Pháp. Chuyến đi ấy chị đã không trở về. Sự không trở về của Họa Mi gây ra những sóng gió lớn. Những chuyện sau này, có rất nhiều sự thêu dệt về sự ra đi của chị. Và người ta từng nghĩ, chị sẽ bị… cấm vận vĩnh viễn. Và việc chị ra đi, bỏ lại người chồng mắt bị lòa là một việc làm nhẫn tâm, vô tình vô nghĩa.

Nhà văn Nguyễn Đông Thức, một trong những người bạn của Họa Mi nhớ lại, khi ấy Họa Mi rất yêu chồng. Và việc chị tìm cách ở lại Pháp, không phải để mưu cầu hạnh phúc riêng tư, cũng không phải vì mục đích chính trị hay bất cứ ham muốn nào khác, mà chỉ vì mục đích là tìm đường chữa đôi mắt cho chồng. Khi ấy, VN chấp nhận cho chị đưa nhạc sỹ Lê Tấn Quốc và ba con sang Pháp để anh có điều kiện chữa mắt. Nhưng, đôi mắt ấy không bao giờ có thể chữa lành. Ngay cả những bác sỹ giỏi nhất tại Pháp cũng đành ngậm ngùi lắc đầu.

Và, người nghệ sỹ từ nhỏ đã sống với cây kèn, quen với những đêm diễn, bỗng chốc phải thay đổi đột ngột, không còn không gian cho âm nhạc nữa, khiến Lê Tấn Quốc trở nên tuyệt vọng. Và anh trở về Việt Nam… Cuộc chia tay ấy mang nhiều nước mắt. Bởi, họ vẫn còn rất yêu nhau. Nhưng cá tính nghệ sỹ mạnh mẽ hơn rất nhiều. Câu chuyện tình yêu của Họa Mi – Lê Tấn Quốc đã thành giai thoại trong giới âm nhạc Sài Gòn. Bao nhiêu năm qua đi, câu chuyện ấy vẫn là một minh chứng sống của tình nghệ sỹ.

Chia tay nhau, xa cách đầy giông bão. Số phận đã buộc họ phải lựa chọn. Nhưng Họa Mi không còn cách nào khác, không thể quay về, buộc phải tiếp tục hành trình sống nơi xứ người, tìm cách mưu sinh và nuôi con. Họ vẫn quan tâm đến nhau, như những người bạn tri kỷ. Mỗi khi chị về nước, đều tìm đến thăm anh. Và khi Họa Mi làm đám cưới với người chồng mới tại nhà hàng Maxim’s, cả gia đình và người vợ mới của Lê Tấn Quốc cũng đến dự.

Phía sau sự xa cách định mệnh lại là những tháng ngày thái bình. Bởi hơn ai hết, cả hai người từng yêu nhau đắm say, hiểu được cái giá của mất mát. Và, đến lúc này, họ vẫn thường xuyên quan tâm tới nhau. Trong đĩa nhạc mới sắp phát hành của Họa Mi,

Lê Tấn Quốc vẫn thổi kèn đệm cho chị hát. Trong âm nhạc, họ chưa bao giờ xa nhau.

Họa Mi nhớ lại, khi qua Pháp chị phải tìm mọi cách để được sống tốt và nuôi các con. Khi ấy, chị đi hát vì mưu sinh trong một nhà hàng của người Hoa. Thực khách của nhà hàng rất đa dạng, nhưng những người nghe chị hát không nhiều. Đó là những ngày rất buồn. Khi phải gắn đời nghệ sỹ vào với cơm áo, là khi người nghệ sỹ phải thỏa hiệp và chấp nhận nhiều thua thiệt. Khi ấy, cũng có những lời mời từ các trung tâm biểu diễn tại hải ngoại, nhưng Họa Mi không thể để bỏ các con lại, với những chuyến lưu diễn dài ngày. Thật lâu, chị tham gia vài chương trình ghi hình rồi vội vã trở về Pháp.

Năm 1995, Họa Mi lập gia đình với một kỹ sư gốc Sa Đéc. Anh đã sống nhiều năm ở Pháp và hoàn toàn không biết chị… hát gì. Nhưng họ đã yêu nhau thành thật. Cô con gái của họ đã bước vào tuổi 14 và anh cũng không còn làm kỹ sư nữa. Hai vợ chồng chị mở một xưởng sản xuất bánh ngọt giao cho những nhà hàng tại Paris.

Họa Mi nói, thực ra suốt nhiều năm tôi không đi hát chỉ vì nghĩ mình buộc phải lựa chọn gia đình. Tôi hiểu rất rõ cuộc sống của những đứa trẻ trong những gia đình thiếu hụt. Tôi đã không giữ được cho con tôi một mái ấm khi qua Pháp, thì phải ráng giữ sao cho con khỏi thiệt thòi. Khi tôi lập gia đình với người chồng mới cũng vì một điều, anh thực sự biết chia sẻ và nâng đỡ các con tôi.

Họa Mi, ở tuổi 54, đã tìm đường trở về Việt Nam, bắt đầu cho những dự định ca hát dang dở. Kể như là một kế hoạch đã muộn. Nhưng chị vẫn làm. Làm cho mình và tri ân những người vẫn còn lưu nhớ giọng hát chị. Một đĩa nhạc tình quen thuộc, nhưng lần đầu tiên chị hát.

Trong lời đề từ đĩa nhạc “Một thời yêu nhau”, Họa Mi viết : “Ngày thàng đã qua đi trong chớp mắt, tóc đã điểm bạc. Có chăng là kỷ niệm, là hạnh phúc, là khổ đau. Tôi muốn giữ mãi những phút giây quý giá của hạnh phúc. Tôi muốn tôi quên đi những chuỗi ngày của buồn đau, của những vết thương lòng đã chôn chặt từ lâu”…

Chị đã không lựa chọn cộng đồng người Việt tại Mỹ để xuất hiện, dù biết những khán giả đó mới là khán giả chính yêu thích những bản nhạc tình xa xưa. Chị nói, chị đã có những ngày tháng đẹp ở thành phố này. Chị ra đi và chị trở về, như một sự trở lại, tìm đến những ân tình cũ. Chị không có ý định gì to lớn, ngoài việc lưu giữ lại những kỷ niệm đẹp đẽ của đời mình. Họa Mi cười, chị đang tìm cách thuyết phục chồng chị về định cư tại Việt Nam. Vì năm tháng xa xôi đã đủ để chị biết, nơi này vẫn là nơi chị đáng sống nhất, trong những ngày còn lại của đời mình…

Quế Phượng (tổng hợp)

Advertisements

NGHỀ LÀM BÁO TRƯỚC 1975

Logo bay gio ke

SG Ng Viet 4NGHỀ LÀM BÁO TRƯỚC 1975

– Hồi ký Nguyễn Việt

Khi bước chân vào nghề báo, người yêu nghề phải biết lựa chọn 1 trong 2 cách để tiến thân :

– Thứ nhất : kinh qua các trường lớp chuyên nghiệp để được đào tạo chính quy; nhưng thông thường các trường đại học, trung học chuyên nghiệp chỉ giảng dạy bằng những lý thuyết từ chương, đến khi vào nghề giữa lý thuyết và thực hành lại rất xa rời thực tế. Lý do : vì điều kiện tờ báo, vì mục đích tôn chỉ tờ báo khi xin phép xuất bản, và còn do đồng vốn; cuối cùng là do nhiệm vụ được ban biên tập giao trách nhiệm.

Và bạn là một sinh viên mới ra trường, bạn sẽ không có quyền chọn lựa giữa năng khiếu và sự trưởng thành trong đào tạo; mà nhất định phải chịu sự điều phối từ ban biên tập.

Đây là mấu chốt trong nghề làm báo hay viết báo, khi bạn mới chân ướt chấn ráo vào nghề.

– Thứ nhì : nói như thế, trước khi chọn lựa đi vào nghề này bạn phải có người đỡ đầu, hoặc người hướng dẫn trong nghề nghiệp, và phải đi từng bước vào nghề, đừng vội đi hia bẩy dặm. Những người đỡ đầu ấy, hoặc đứng tuổi hoặc có thâm niên trong nghề,9 Nghe bao 1 thì thật quý.

Kinh nghiệm của người viết khi vào nghề báo, đã phải đứng trước hai sự lựa chọn :

– 1- làm phóng viên (viết báo)

– 2 – làm biên tập viên (làm báo).

Và người viết đã chọn nghề làm biên tập.

– Nghề làm báo có 2 loại, loại chuyên nghiệp và loại không chuyên. Loại chuyên nghiệp có thể làm đủ mọi thể loại sách báo, có thể thay đổi mọi hình thức của tờ báo, thay đổi cả quan điểm lập trường của tờ báo, theo bất cứ yêu cầu nào của chủ báo.

Còn không chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, là chỉ thực hiện theo mẩu mã đã định sẵn (từ nội dung đến hình thức), sẽ không thích nghi theo yêu cầu thị trường, dể gây nhàm chán trong xử lý tin tức.

– Thứ nhất người làm báo và viết báo, phải nắm được tính thời sự của tin tức, biết khai thác đúng lúc không quá sớm hay quá muộn.

– Thứ hai biết nhận xét và phân tích sự việc như một điều tra viên, sau đó mới có phương hướng đi tìm tài liệu.

– Khi điều tra phải hiểu rõ trạng thái tâm lý người mình muốn khai thác, phải có bản lĩnh hỏi đáp với đối tượng và luôn luôn phải chứng tỏ mình là người đang nắm rõ vấn đề.

– Thứ ba khi viết bài, phải viết cô đọng, viết báo không như làm luận văn phải có mở đầu, thân bài và kết luận, hãy vào đề ngay với sự kiện chính trong tin tức, sau đó mới đi vào chi tiết. Như thế bài viết sẽ dẫn dắt người đọc, tạo cảm giác cho người đọc không phải đọc thừa, để tránh gây nhàm chán và choán chỗ trên trang báo (vốn dĩ rất cần nhiều tin tức, mà số trang chỉ có giới hạn)

– Người làm báo biết hướng dẫn phóng viên đi đến nơi đâu để khai thác đề tài. Khi người phóng viên viết xong, phải sửa bài cho đúng đường lối ội dung tôn chỉ của tờ báo (gồm nhiều yếu tố chủ quan và khách quan), cắt tỉa hay thêm thắt cho bài viết ấy thêm sinh động (action) hơn.

Từ nội dung vụ việc, người làm báo sẽ ấn định, bài được đăng với tít (titre) mấy cột báo (báo ngày trước có 8 cột, mỗi cột chiếm 4,5 cm – nay là 5cm

9 Nghe bao 2Thông thường những tin chủ lực trong ngày đều cho lên tít 8 cột từ 1 đến 2 dòng, xuống từ 4 đến 2 cột tùy theo cách trình bày tờ báo. Những tin tức bài vỡ thuộc dạng cần gây chú ý hàng nhì, cho lên tít từ 6 đến 4 cột và nằm nơi phần trên của nửa tờ báo, sau đó là những tít phụ và những tít nhỏ (sous titre) diễn giải nội dung.

Những hàng tít này phải sử dụng câu chữ dễ gây chú ý. (Bởi báo chí, không kể đến tạp chí tuần san, có quá nhiều trên sạp báo, muốn cạnh tranh và có đọc giả, người biên tập phải biết cách thu hút người đọc vào từng tin tức bài vỡ một).

Trong làng báo lúc đó (trước 30/4/1975), có nhiều tờ báo có cách trình bày trang báo (xem hình vẽ dẫn giải) :

– Trình bày theo lối Bắc, là những hàng tít chủ lực không bao giờ đi quá 4 cột, tít chữ cỡ 2cm cao, chữ không chân, không có nhiều tít phụ, và không có phi-lê (filet) bỏ dọc phân theo từng bài viết. Những loạt bài khác tít chữ cũng chỉ cao khoảng 1,2 đến 1,5cm.

Chủ yếu những tờ báo trình bày theo lối Bắc, xuất phát từ lớp người làm báo từ Bắc vào Nam năm 1954, như nhóm báo Chính Luận, Ngôn Luận, Tự Do, sau có nhóm báo Sống, Con Ong… Trong nghề còn gọi là trình bày theo lối Mỹ.

– Trình bày theo lối Nam, lại trái hẳn với lối Bắc, thường trên báo có hàng tít chạy dài 8 cột, loại chữ có chân cao cỡ 4 đến 6 cm, và những tít phụ cũng cao đến 2 cm, kiểu chữ không đồng bộ với tít lớn, có phi-lê gạch dưới cả hai và có từ 1 đến 2 hàng tít nhỏ (sous titre), có phi-lê bổ dọc phân ra từng bài vỡ.

Đây là cung cách làm báo cổ điển được du nhập từ thời Pháp, điển hình như những tờ Thần Chung, Sàigòn Mới, Tiếng Chuông, Lẽ Sống; sau này có Đuốc Nhà Nam, Trắng Đen, Tia Sáng, Thách Đố… Tuy có cải tiến cách trình bày trông đỡ rườm rà, do bỏ bớt những phi-lê gạch dưới hàng tít, nhìn trang báo thấy sáng sủa hơn, hoặc phóng túng đi những hàng tít có hoặc không có chân. Đây là cách trình bày báo theo Pháp khi xưa.

Trong nghề làm báo tối kỵ những cách trình bày (ngày xưa gọi là “mi” nay là “dàn trang”) như :

– Lên xuống thang. – Chữ T. – Suôn đuột.

Là những cách trình bày dễ làm người đọc thấy tờ báo không có thẩm mỹ, và như có một cái gì trái khoáy không hợp với nhãn quan.

Phải nói tờ TĐ trước 1975, là tờ báo được in offset đầu tiên tại miền Nam bấy giờ, vào năm 1971 (kể cả tuần báo, tuần san và tạp chí đang phải in typo với bản chì – mỗi bản chì nếu có nhiều antimoine cũng chỉ in khoảng 5.000 bản, là chữ đã mòn nhoè không đọc được nữa, còn mỗi bản kẽm in trên máy offset có số lượng không dưới 20.000 bản, hình ảnh chữ nghĩa rất rõ ràng dễ đọc). 9 Nghe bao 5Lúc đó anh em họa sĩ vẽ tranh cho thiếu nhi bằng mực tàu, vẽ trên giấy bóng mờ, chụp lên bản kẽm rất đẹp, còn với loại chữ nhỏ – có co chữ 7 đến 8 points – trên báo lúc đó chưa ai dám in thử nghiệm.

Do đang giữ vai trò biên tập kiêm kỹ thuật, người viết đã mạnh dạn cho “vỗ bài” từng nữa trang báo, trên máy in Tasming, hay trên máy in typo khổ 65×100, thay cho giấy in là giấy bóng mờ, vẫn sử dụng mực in nhưng trên trang in đó được phủ lên một lớp bột nhũ màu đen (hoặc bột nhũ vàng), trước là cho mực in không bị nhoè, sau là cho dàn đèn huỳnh quang trong kỹ thuật chụp bản kẽm không lọt ánh sáng.

Thời gian này chưa ai nhập máy in offset rotative (máy in offset tự động), nên in một tờ báo có số lượng ấn hành hàng ngày trên 100.000 bản, phải sử dụng ít nhất là 10 máy in Offset bán tự động (bình quân mỗi giờ chỉ in được từ 4.000 đến 6.000 bản/mặt), và do thời gian in không được kéo dài quá 3 tiếng trước lúc báo phát hành.

Thời gian trước 1975, các báo phát hành vào buổi chiều, các trang trong và trang quảng cáo được in vào buổi sáng, còn trang ngoài thợ sắp chữ làm từ 5 giờ sáng đến 10 giờ 30 phải kết thúc, đến 11 giờ đưa montage, rồi chụp bản kẽm, khoảng 12 giờ báo bắt đầu in để đem nạp bản, 1 giờ trưa báo mới được phép phát hành.

Nhưng việc in ấn phát hành sẽ không quá 3 giờ chiều phải hoàn tất, vì các đơn vị phát hành sẽ không đến nhận báo giao đi nữa. Giờ giấc bị hạn chế và ràng buộc, nên số lượng in càng nhiều càng phải có nhiều máy in ra cho đúng lịch nói trên,

Khu nhà in ngày trước thường tập trung tại đường Phạm Ngũ Lão, Lê Lai và Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi, Q.1), đa số là máy in typo hoặc được trang bị thêm máy offset đặt tay in bìa tập san, tuần san, (sau này ngành in offset chiếm hẳn thị phần, nên các khu vực trên chỉ cho thuê làm tòa soạn báo). Nhà in lớn và hiện đại lúc đó chỉ có Indeo (Nhà máy in Trần Phú ở đường Thi Sách) và Nguyễn Bá Tòng 9 Nghe bao 6(Liksin đường Bùi Thị Xuân, Tôn Thất Tùng), còn lại chỉ thuộc loại vừa và nhỏ đều do tư nhân kinh doanh, còn khu vực in nhà nước không nhận in gia công cho tư nhân.

Khi ngành in offset được tuyệt đại đa số báo chí ra ngày, tuần hay tháng đặt in, bấy giờ các chủ nhà in lại thi nhau nhập máy, như nhà in Nguyễn Tấn Đời (một nghiệp chủ ngân hàng trước khi ngồi tù vì vỡ nợ, cũng ra làm báo – tờ Việt Nam – và lập nhà in), mua về máy in offset rotative in 4 màu 8 trang đặt tại cao ốc Trần Hưng Đạo (gần khu Chợ Quán, Trần Bình Trọng), nhưng máy khai thác không hết công suất, vì tờ Việt Nam in ra không bán được. Đến một nghiệp chủ ngân hàng khác – ông Phạm Sanh – mua máy rotative về in báo mướn, đặt tại đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, sau này Phạm Sanh cũng đỗ nợ, vì buôn gạo cho Tổng Cục Tiếp Tế, nhà in bị trưng thu), nên khi nói về ngành in, thì từ năm 1972 trở đi miền Nam mới có những thiết bị tiên tiến hiện đại…

Làm báo xưa và nay

Ngày trước bạn có một số vốn, dù không có tay nghề vẫn có thể là một chủ báo (xin nhấn mạnh ở dây, chủ báo không đồng nghĩa với chủ nhiệm báo, vì chủ nhiệm báo là pháp nhân được nhà nước cấp giấy phép cho xuất bản báo, còn chủ báo chỉ có trong thực tế do có tiền bỏ ra làm báo, không có tư cách pháp nhân, thông thường nắm vai trò Giám đốc trị sự hoặc kiêm chức hàm chủ bút).

Thời kỳ đó, nhiều chủ nhiệm báo cho thuê manchette (tức tên báo) để người khác kinh doanh, hay hợp tác kinh doanh, trước hết giữ được sự tồn tại của tờ báo, sau là chủ nhiệm có tiền lương hàng tháng, mà không phải suy nghĩ đến việc lời lỗ.

Làm một tờ báo, dù là báo ngày hay báo tuần, đều phải có điều kiện :

– Vốn (Ban trị sự)

– Ban biên tập (biên tập viên và phóng viên, ký giả)

– Địa điểm tòa soạn và nơi in

Khi hội đủ các yếu tố trên, xem như tờ báo đã đi được nữa chặng đường hình thành.

Tiền vốn : Trong tiền vốn bỏ ra, ngoài những khoản tiền ban đầu, như nơi đặt tòa soạn và nhà in, còn phải :

– Tìm ê kíp sắp chữ, mua chữ chì theo số trang được phép xuất bản (nếu tòa soạn và nhà in không ở cùng địa điểm, bắt buộc phải mua chữ chì về đây, do ê-kíp sắp chữ luôn luôn phải ở cùng địa điểm với ban biên tập). Hiện nay báo chí không còn sắp 9 Nghe bao 7chữ chì như ngày trước, vì bài vỡ được đánh máy và dàn trang ngay trên máy vi tính (PC).

– Ban trị sự có nhiệm vụ thu chi tài chính : Chi trả lương, tiền các bản tin và hình ảnh, trả tiền gia công in, mua giấy in. Còn thu, qua các phần nhận quảng cáo và bán báo. (Trong bán báo có phần tiền thu ngay – thường do nhóm bán báo cổ động thanh toán ngay sau khi phát hành – và thu có gối đầu, do các nhà phát hành ấn định, thông thường báo ra hàng ngày bị gối đầu khoảng nữa tháng, báo tuần từ 4 đến 5 số định kỳ).

Vì vậy khi ra 1 tờ báo phải có số vốn lưu động rất lớn, nếu không tờ báo sẽ không thể hoạt động và cạnh tranh, (nếu tờ báo bán chạy, người chủ báo sẽ bớt lo, vì khoản tiền do tư nhân bán báo sẽ thanh toán rất nhanh, còn ngược lại tờ báo sẽ không đủ vốn chịu đựng được vài tháng khi bắt đầu có độc giả thường xuyên).

Ban biên tập :

– Chủ nhiệm, chủ bút (người đưa ra chủ trương đường lối chiến lược của tờ báo) – Nay thông thường do một cơ quan chủ quản nhà nước nào đó chịu trách nhiệm.

– Tổng thu ký – Thư ký tòa soạn : trình bày báo, xem xét nội dung bài vỡ tin tức, chỉ đạo đặc phái viên, phóng viên (gọi tắt là ký giả), đi thu thập tài liệu. Tổng thư ký phần lớn có nhiệm vụ coi tin quốc tế và đường lối chính trị của tờ báo, còn thư ký tòa soạn là trợ lý cho tổng thư ký, xem phần tin quốc nội và xã hội kiêm phụ trách trang trong (là các trang chuyên đề).

– Phụ trách chuyên đề : Thông thường tờ báo ngày có những trang chuyên đề, như Văn hóa nghệ thuật (bao gồm những trang chính : Điện ảnh – Sân khấu – Tân nhạc – Thoại kịch – Cải lương), Phụ nữ Gia đình (bao gồm những nội dung tình yêu, hôn nhân, gia đình và xã hội), Văn nghệ (gồm những mục thơ, truyện ngắn, thiếu niên nhi đồng). Và những tiểu thuyết đăng nhiều kỳ (feuilleton) của các nhà văn.

– Phụ trách kỹ thuật : là người theo dõi bộ phận sắp chữ (nay là bộ phận vi tính), thực hiện cách trình bày dàn trang các chuyên đề đã định, cùng tư duy người phụ trách, làm sao cho tờ báo có những hình thức lôi cuốn người đọc (sắp xếp thêm hình ảnh, tranh vẽ vào bài vỡ v.v…).. Bộ phận kỹ thuật còn theo dõi lúc in ấn, có thẩm quyền cho in hay không, những bản kẽm vừa lên máy, hoặc khi in xảy ra những sự cố kỹ thuật trong ấn loát.

– Ký giả : bao gồm từ 2 đến 3 thành phần chính trong một tờ báo : Đặc phái viên, phóng viên và thông tín viên.

– Đặc phái viên : cũng là ký giả, nhưng được đặc phái trực tiếp điều tra, thu lượm tin tức, có sự giới thiệu từ ban biên tập, hoặc đặc phái tiếp xúc với một nhân vật VIP nào đó, là người có thể đại diện để giải quyết mà không cần xin ý kiến trước từ ban biên tập. Đặc phái viên có lúc được chỉ định đứng đầu 1 tổ điều tra.

– Phóng viên : là ký giả chỉ thực hiện những nhiệm vụ được phân công trước (như phụ trách mảng tin kinh tế, xã hội, thanh niên, phụ nữ, thể thao, văn hóa v.v…), không đủ 9 Nghe bao 3thẩm quyền đại diện cho tờ báo để tiếp xúc với các cơ quan ban ngành xin truy cứu hồ sơ (nếu không có sự giới thiệu từ ban biên tập).

– Thông tín viên hay cộng tác viên : là những người không ăn lương tháng, chỉ ăn lương theo bài vở, tin tức được đăng (hưởng nhuận bút), không phải là người viết chính thức trong tờ báo. Thường những thông tín viên, cộng tác viên họ thường trú tại các tỉnh, thành trong nước và nước ngoài, thu nhận tin tức và quảng cáo – nếu có vụ án lớn, sẽ đề nghị báo cử phóng viên hay đặc phái viên đến cùng thực hiện.

Một loại thông tín viên khác, là những người đứng ra thành lập bản tin riêng, (những bản tin xe cán, đánh ghen, trộm cướp v.v…, in ronéo hay pho to bán cho nhiều tờ báo, nay bán qua mạng Internet – ngày xưa có nhóm Văn Đô, Thanh Huy, Đức Hiền …)

Các báo mua các bản tin này trả tiền tháng, nhưng giá khá rẻ so với lương ký giả. Thông tín viên về hình ảnh khi được báo chọn đăng mới được tính tiền.

– Bộ phận phiên dịch : dịch các bản tin hoặc sách báo Anh, Pháp, Hoa Ngữ cho ban biên tập sử dụng hàng ngày, hoặc những tài liệu đăng trang chuyên đề.

Sự hình thành một ban biên tập gồm những bộ phận nói trên.

Cũng có nhiều tờ báo ít vốn, họ giảm biên chế tối thiểu, trong ban biên tập chỉ có tổng thư ký và thư ký tòa soạn, một vài ký giả đi săn tin, còn lại mua bài hay đặt hàng từ những người dịch, hoặc ký giả báo khác. Vì lượng tin tức từ các bản tin của Thông tấn xã, AP, UPI, Reuteur … và các thông tín viên, cộng tác viên gởi về có khối lượng thông tin khá nhiều, đủ để khai thác trong ngày… Tuy nhiên những tờ báo này không thể có sắc thái riêng biệt, không nhạy bén trước các tin tức, lý do không đủ người đi nhận tin từ các hiện trường đưa về.

Ngày trước làm một tờ báo hàng ngày, người ta cạnh tranh nhau từng tin tức, từng bài viết, chỉ cần hơn đồng nghiệp một vài chi tiết, là có thể tờ báo có số bán vượt hẳn lên.

Bao trang den 2QUẢNG CÁO

Trong nghề, để báo được sống thọ cùng đọc giả, người làm báo chuyên nghiệp phải có những cách kiếm tiền. Như đã trình bày ở những phần trên, đi tìm những tin tức giật gân (scandal), nếu không có phải làm tít tựa thật giật gân để bán báo. Và còn một cách kiếm tiền khác là nhận quảng cáo.

Bạn đừng nghĩ đơn thuần, tờ báo chỉ nhận đăng quảng cáo từ bạn đọc, hay các cty quảng cáo đem đến. Quảng cáo trên báo có nhiều hình thức :

1- Từ bạn đọc (đa số nhờ đăng rao vặt, chúc mừng, cáo phó, cảm tạ)

2- Từ các nhóm tiếp thị, công ty quảng cáo, đưa đăng quảng cáo từ các cửa hàng, công ty, nhà máy, xí nghiệp, các sản phẩm…

3- Những quảng cáo thuộc dạng tin tức, giá đăng báo thường rất cao so với trang chuyên mục, vì nó nằm ngoài quy hoạch.

4- Và những bài cậy đăng (thông thường những bài cậy đăng là thanh minh, đính chính hoặc công bố một vụ việc gì đó).

Nói như thế để người làm báo có những kinh nghiệm về việc, làm thế nào cho tờ báo sống được.

ĐỘC QUYỀN

Cái hay của người làm báo là sự “độc quyền” được cho phép. Ngày trước báo ngày hay báo tuần, đều đăng tiểu thuyết nhiều kỳ, còn gọi là feuilleton (có khi kéo dài cả năm mới chấm dứt). Một tờ báo xuất bản trong ngày có 8 trang bài vở và 4 trang quảng cáo. Trong 8 trang bài, đã có đến 2 trang tiểu thuyết.

Một tờ báo ngày xưa thường có nhiều tiểu thuyết đăng nhiều kỳ, chia ra các thể loại (trong bài là những tác giả tiêu biểu) : xã hội (bấy giờ có các nhà văn như Tùng Long, Dương Hà, Lan Phương), mang tính gợi dục (Lê Xuyên, Trần Đức Lai, Vũ Bình Thư), tình cảm tuổi đôi mươi (Lệ Hằng), thời đại (Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long), võ hiệp, kiếm hiệp kỳ tình (sáng tác hoặc phóng tác, dịch thuật : Từ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn, Từ Khánh Vân, Thanh Lan) v.v…

Nhiều tờ báo ngày trước thường “mua độc quyền” tên nhà văn, như tờ TĐ với nhà văn Trần Đức Lai (tức ký giả Tô Văn) đang nổi tiếng với tiểu thuyết “Cậu Chó”, tờ TS với Vũ Bình Thư qua “Lệnh Xé Xác” v.v… Không báo nào có tên những nhà văn nói trên viết những feuilleton mới… Vì mỗi nhà văn thường viết tiểu thuyết cho nhiều tờ báo.

Nhưng ăn khách nhất là tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, tiểu thuyết tình cảm của Quỳnh Giao, hai nhà văn Trung Hoa một sống tại Hong Kong và một sống tại Đài Loan, được dịch hàng ngày từ báo in tiếng Hoa xuất bản tại Chợ Lớn.

Bao trang den 1Cho nên người làm báo mang tính chuyên nghiệp phải nhạy bén, biết nắm bắt yếu tố ăn khách đó. Là được đăng độc quyền.

Một chủ nhiệm báo bấy giờ không ngại bỏ tiền sang tận Hong Kong, Đài Loan mua độc quyền tiểu thuyết đang ăn khách đăng (cụ thể tiểu thuyết võ hiệp Lộc Đỉnh Ký đang xuất hiện trong thời gian 74-75 thế kỷ trước).

Độc quyền chỉ dài hơn các báo Hoa ngữ phát hành trong Chợ Lớn hay Việt Ngữ ngoài Sài Gòn, chừng một gang tấc hàng ngày trên báo. Tức thì người đọc đang “ghiền” tiểu thuyết Kim Dung đã đổ xô mua đọc.

Theo người viết được biết, tờ báo đi mua “độc quyền” này thỏa thuận với tác giả Kim Dung và tờ Minh Báo xuất bản tại Hong Kong (đang đăng tiểu thuyết Lộc Đỉnh Ký), hàng ngày gửi theo máy bay qua Sài Gòn, một đoạn trước khi tờ Minh Báo ấn hành trong ngày.

Tuy nhiên để phá “độc quyền”, các báo “chậm chân” đã ra “chiêu” phá bĩnh, bằng cách cho người dịch viết vuốt đuôi chừng đôi ba dòng khác với tờ báo có đoạn “độc quyền”, khác hẳn khi dịch nguyên bản. Làm người đọc phân vân, không còn biết báo nào là “độc quyền” nữa. Đó là mưu mẹo của người làm báo chuyên nghiệp.

Ngoài những thủ thuật trên, có những tờ báo còn “độc quyền” khai thác những vụ án lớn :

– Như vụ “Công chúa Ba Xi – Martine – Bokassa”.

Khi tờ báo phát hiện ra vụ án mang tầm cỡ thu hút được số đông đọc giả, những người trong ban biên tập đã có quyết định “giữ đầu mối”, tức đưa “công chúa Martine” và gia đình về nơi nhà riêng ở, không cho một phóng viên báo nào khác tiếp cận, khai thác.

Trên đây là những “điển hình” về việc giữ “độc quyền”. Trong đó nói về độc quyền tác phẩm, tác giả thuộc dạng “hàng nằm” lôi kéo người đọc dài hạn, còn độc quyền tin tức thuộc dạng “hàng nóng” chỉ giữ người đọc trong một thời gian nhất định.

PHỐI KIỂM BÀI VỞ

Ngày trước cũng như bây giờ, ký giả thường gặp nhiều tai tiếng, vì mọi người đánh giá họ qua câu “nhà báo nói láo ăn tiền” hay “ký giả cà phê” nhằm miệt thị những người làm báo và viết báo không chân chính.

Chính vì thế vai trò của người Tổng biên tập hay Thư ký tòa soạn rất nặng nề, phải nhạy bén tìm ra những bài viết không đúng sự thật, làm thay đen đổi trắng, hoặc dựa vào bản tin viết thành bài quảng cáo có lợi cho “đối tác” v.v…

Việc phối kiểm bài vở thường diễn ra trong một buổi, hay trong ngày, nhất là những vụ án về kinh tế, những phát biểu, hay trả lời phỏng vấn những sự kiện quan trọng, có thể dẫn đến kiện thưa tại tòa án.

Người Tổng biên tập chỉ cần nhấc điện thoại gọi đến hiện trường, đến cơ quan thẩm quyền hay chính đương sự để hỏi thêm chi tiết (nếu là phát biểu quan trọng còn phải có băng ghi âm).

Nhưng còn những bài vở tin tức không quan trọng, như những mẫu tin lượm lặt khỏa lTr Bloggerấp cho đầy trang. Đây là “môi trường” các ký giả cà phê len lõi để kiếm cơm. Như bản tin sau đây :

Nhà máy dệt XYZ ra mắt mặt hàng mới

(XXX) Ngày ……. nhà máy dệt XYZ vừa tung ra thị trường loại vải mới mang tên Teljin, dệt bằng sợi pha Polyester, vải này mịm đẹp dành cho nam giới may quần tây. Về chất lượng, có số đông khách hàng khen ngọi vải không thua kém hàng của Thái Lan, Canada và cả Pháp hiện đang tràn ngập thị trường may mặc, giá lại chỉ bằng một nửa so với vải các nước trên.

Nên trong mấy ngày đầu, nhà máy dệt XYZ tung ra dò dẫm thị trường, được mọi người tìm mua, không đủ số lượng bán buôn tại các chợ đầu mối như Bến Thành, Bình Tây, An Đông, Bà Chiểu. Nhà máy dệt XYZ phải buộc công nhân tăng ca, nhằm đáp ứng số cung cầu cho thị trường đang đòi hỏi.

Bản tin chỉ đăng 1 cột và dài khoảng 8 hay 10 phân báo, nhưng giá trị tinh thần rất lớn, tạo ra lợi nhuận cho nhà máy XYZ rất nhiều, nếu đăng theo hình thức quảng cáo nó sẽ không tạo ra sự “cung cầu” giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Nhưng phóng viên viết nó lại không mang ích lợi tài chánh nào cho tờ báo,(qua tiền quảng cáo, hay bài cậy đăng), hoặc giả thu hút được người đọc.

Nhiều anh chị em phóng viên mới vào nghề không rõ vì vô tình hay cố ý, viết những mẫu tin đại loại như trên, và cuối ngày không thấy tin của mình được đăng, hỏi ra mới biết bài này nếu đăng phải trả tiền, còn bằng không sẽ phải viết lại bản tin như sau :

Một mặt hàng vải ăn khách không thua vải ngoại

(XXX) Theo một số bạn hàng buôn bán vải ở các chợ đầu mối cho biết, gần đây có một loại vải quần tây do 1 nhà máy dệt trong nước sản xuất đã đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu, giá rẻ, bền, đẹp được dân chúng tìm mua, nên rất khan hiếm trên thị trường. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho hàng hóa do người Việt Nam sản xuất.

Bạn thử so sánh 2 bản tin trên, 1 tin mang đặc chất quảng cáo, còn 1 tin chỉ mang tính thời sự.

Nên người làm báo chuyên nghiệp sẽ dễ dàng nhận ra một bản tin có giá trị về quảng cáo và 1 bản tin mang tính thời sự như thế nào, các anh chị em viết báo nhiều khi quá nhiệt tình (khách quan và chủ quan) không hiểu rõ tính chất bài mình viết, thường gây hiểu lầm với ban biên tập.

Đôi khi bên biên tập được sự thỏa thuận từ khách hàng, cử phóng viên đi nhận tin tức, phóng viên lại viết quá khách quan không đúng với giao ước, buộc lòng bên biên tập phải bổ sung lại nội dung, đến khi báo ra người phóng viên không còn nhận ra đó là 9 Nghe bao 4bài viết của mình nữa.

Tuy nhiên có loại tin tức, báo cần chua thêm một dòng “bài cậy đăng”, như đính chính một tin tức, thanh minh một vụ việc. Đại loại như bài dưới đây :

Hãng Giày XYZ nhờ thừa phát lại niêm phong lô hàng giả.

Trong. năm qua, thương hiệu Giày XYZ được mọi tầng lớp dân chúng ưa chuộng, vì kiểu dáng đẹp, bền và giá cả phải chăng. So với những loại Giày của Italy, Pháp, giày mang nhản hiệu XYZ có số lượng tiêu thụ rất mạnh, chính vì thế hãng Giày XYZ đã mang nhản hiệu ra tòa cầu chứng độc quyền, nên hiện nay trên thị trường có những cơ sở sản xuất giày mang giả nhản hiệu XYZ.

Ngày …. hãng Giày XYZ đã nhờ thừa phát lại (*) đến tiệm X. niêm phong 200 đôi giày các loại giả nhản hiệu, và đang nhờ thừa phát lại lập hồ sơ đưa tiệm X. ra tòa.

Bài cậy đăng trên cũng thuộc dạng tin tức, quảng cáo, nhưng sở dĩ phải sử dụng câu từ “Bài cậy đăng” là có lý do :

– Bên hãng XYZ không cho sửa chữa bài viết đưa đến đăng báo, phải đăng nguyên văn.

– Việc niêm phong một số giày của tiệm …. dù là có thật. Nhưng báo vẫn vi phạm vào tội vu khống, do hai bên nguyên và bị đơn chưa được tòa án phân xử tình lý rõ ràng. Đồng thời thừa phát lại có thừa hành việc niêm phong giày tại tiệm X, cũng chỉ mang tư cách độc lập khi được bên nguyên yêu cầu, không phải do cơ quan bên hành pháp đến xử lý.

Vì vậy câu “Bài cậy đăng”, về tính pháp lý, bên nguyên đơn là hãng giày XYZ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước bài viết của mình.

Việc phối kiểm tin tức chỉ là nhiệm vụ thứ yếu của ban biên tập, nhưng không vì thế mà không xem lại các bài vở tin tức do các ký giả mang về đăng tải.

LÀM BÁO NÓI LÁO

Có lẽ trong nghề báo chưa ai dám vỗ ngực xưng mình chưa hề nói biết láo, tức người đó không phải là dân làm báo chuyên nghiệp !

Trong nghề làm báo dù muốn hay không, cũng đôi lần phải nói láo, dù bản thân vẫn muốn giữ vững ngòi bút không bị bẻ cong, và luôn luôn tôn trọng sự thật. Nhưng những ảnh hưởng từ khách quan đưa đến, đôi khi phải chấp nhận để tồn tại ! Lúc tôi làm báo, nhiều lúc báo mất dần đọc giả, ban trị sự lo lắng cho sự sinh tồn của tờ báo, họ lên tiếng báo động tìm những giải pháp cứu gở tình thế sắp bi đát đó.

Mai le huyenNgày xưa các báo đối lập có những bài vở chỉ trích chính quyền, trong đó họ cũng đưa ra nhiều hình ảnh không thực tiễn, “mị người đọc” để hợp lòng dân mà bán báo. Còn người làm báo thương mãi, nếu không thân chính quyền, họ cũng không dám chống đối chính quyền.

Khi báo “bán ế” bên phát hành cổ động đã nắm được, họ thúc hối ban biên tập, nào cải tiến tờ báo bằng hình thức hay nội dung, tìm kiếm những đề tài hấp dẫn nhằm lôi cuốn đọc giả.

Muốn cải tiến tờ báo bằng hình thức thật dễ, chỉ cần thay đổi cách trình bày, in thêm màu, tăng cường một hai tiểu thuyết là được, nhưng không vì thế trong ngày một ngày hai đã tăng đọc giả; muốn tăng thêm đọc giả ngay tức khắc là việc làm rất khó, đâu phải lúc nào cũng có những vụ nóng như Công chúa lọ lem Mar-tine Bokassa (năm 1972, đây là một đề tài xã hội rất sôi nổi trong dân chúng miền Nam bấy giờ).

Những chiêu thức làm sao có lại đọc giả đã được đem ra mổ xẻ :

– Tình hình chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội đang bế tắc về tin tức, càng không thể trở thành báo đối lập “ăn nói huyên thuyên” như các các chủ báo đang khoát áo Dân biểu, Thượng Nghị Sĩ.

Muốn vậy chỉ còn một cách tạo ra “sì-căn-đan” (scandal).

– Và tạo “sì-căn-đan” vào giới ca nghệ sĩ là mau có đọc giả, lại an toàn mọi mặt. Nhưng phải biết ai trong giới ca nhạc sĩ đang được quần chúng mến mộ, có như thế mới có đọc giả. Vậy ai sẽ được chọn làm vật “tế thần” đây ?!

Thời gian đó nhiều ca nghệ sĩ đang được mến mộ, như giới cải lương có “Cải lương chi bảo” Bạch Tuyết, rồi những Thanh Nga, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Hùng Cường, Thành Được, Dũng Thanh Lâm, bên thoại kịch có La Thoại Tân, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, còn điện ảnh có Trần Quang, Huỳnh Thanh Trà, ca nhạc có “Tiếng hát liêu trai” Thanh Thúy, “Giọng hát khói sương” Khánh Ly hay Thanh Lan, Lệ Thu, Mai Lệ Huyền, quái kiệt với những Thanh Việt, Phi Thoàn, có đông đảo người ái mộ từ Bến Hải cho đến Cà Mau.

Việc gây “sì-căn-đan láo” trong giới ca nghệ sĩ để bán báo, được ban biên tập chọn phương án này, được bàn thật kỹ trước khi thực hiện, nếu viết chỉ có Bạch Tuyết, Thanh Nga , Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng là tạo ra “cơn chấn động” mạnh, nhưng có nhiều yếu tố không thể “đụng đến” những người này.

Chỉ có Mai Lệ Huyền mới thật là nhân vật cần tìm ! Thứ nhất đôi song ca MLH và Hùng Cường chuyên hát nhạc sến, từ trẻ em đến người lớn, từ giới bình dân cho đến trí thức, đều biết đến ca sĩ “nhạc sến” MLH. Thứ nhì, cô ca sĩ này cũng hay thay đổi chồng mấy bận, cả nước đều biết. Thứ ba, MLH không có ô dù nào đỡ đầu, đơn thuần là ca sĩ độc lập, MLH sẽ không dám đụng giới báo chí.

Đúng là nhân vật tờ báo đang cần, về mặt chiến lược đều thuận lợi. Còn chiến thuật tạo ra “sì-căn-đan”, làm sao để tránh bị thưa kiện, vì thế tôi tìm đến người thân cận (trông coi báo chí cho MLH) để bàn bạc trước những bài báo sẽ được in ra, và mong giữ “im lặng” trước cô ca sĩ về tin tức giật gân nói về cô ta.

Được người này chấp thuận, tôi lên phương án cho loạt bài như sau :

– Ngày đầu tiên : Tung tin “sì-căn-đan” ca sĩ Mai Lệ Huyền giựt chồng người, vợ một đại úy không quân kêu cứu với báo chí.

– Ngày thứ nhì, thứ ba : Viết về những mảnh đời tình ái “sôi nổi” của cô ca sĩ vừa “chảnh” vừa “hot” đó, khi lấy nhạc sĩ Trần Trịnh như thế nào, ai lăng xê cô ta thành “nữ hoàng nhạc sến”, tại sao MLH bỏ Trần Trịnh đi lấy đạo diễn Việt. làm ở đài truyền hình v.v…

– Bước qua ngày thứ ba, thứ tư : dự đoán có thể MLH đến tòa soạn kêu oan, lúc này phải chuẩn bị chụp hình, phỏng vấn để có những tấm ảnh “nóng sốt” đăng báo.

Tr bang hoang– Ngày thứ năm : Đăng tiếng kêu oan của MLH, cùng các hình ảnh chụp được tại tòa soạn.

– Kết thúc : vợ viên đại úy không quân lên tiếng đính chánh nguồn tin MLH giựt chồng bà ta…

Ghi chú cho kế hoạch : Tìm một tấm ảnh của MLH, phía sau cho ghi mấy chữ “Tặng kỷ niệm”, soạn một bức thư mang danh nghĩa vợ của một đại uý không quân nào đó gửi bằng đường bưu điện cho báo, với lời lẽ khuyên can cô ca sĩ đừng đeo đuổi chồng bà ta, (phải lấy binh chủng không quân cho anh chàng, vì thời kỳ đó đang có phong trào nữ sinh yêu lính không quân), và một bức thư đính chánh chuyện hiểu lầm cô ca sĩ MLH giựt chồng, với lý do : vì chị ta đã mở từ trong bóp chồng mình thấy tấm ảnh MLH ghi mấy câu “Tặng kỷ niệm”, nên chị không có những suy nghĩ chính chắn đã nổi cơn ghen, viết thư nhờ báo chí kêu cứu, đến khi số báo ra mắt và đọc được bài MLH minh oan, lúc đó chồng chị vừa ở đơn vị về giải thích, anh ta vì mê tiếng hát của MLH nên đến CLB Huỳnh Hữu Bạc (dành cho giới không quân làm việc trong sân bay quân Tr hoan hosự Tân Sơn Nhất đến giải trí) nơi MLH đến hát hàng đêm, anh ta có xin một tấm ảnh làm kỷ niệm, ngoài ra chẳng ai gặp nhau bao giờ.

Đó là toàn bộ kế hoạch, và đúng như dự liệu, tin giật gân về “nữ ca sĩ MLH giựt chồng” đăng độc quyền trên báo, báo đã bán rất chạy, hàng ngày số in cứ tăng dần. Trong giai đoạn có thêm đọc giả, chúng tôi cho cải tiến các trang trong, ngoài, thêm nhiều mục mới lạ nhằm giữ khách.

Chỉ tội cho cô ca sĩ bị bêu riếu bất ngờ, đã bị “sốc” và khóc hết nước mắt, đến tòa soạn báo kêu oan. Đọc giả là người bị bịp nhiều nhất, đâu nghi ngờ tờ báo viết láo tạo ra “sì-căn-đan” để bán báo.

Nghề làm báo chuyên nghiệp là như thế, nên đừng trách các tờ báo lá cải bên phương tây tại sao hay dựng đứng các mẫu chuyện của giới VIP, giới minh tinh màn bạc, làm “Sì-căn-đan”, thuê cả trực thăng chỉ để bay lên trời chụp xuống nơi “cung cấm”, để săn những tấm ảnh quý giá từ các bậc phu nhân !

Nghề làm báo là, luôn luôn có mặt thật và mặt trái của vấn đề.

Nguyễn Việt (trích hồi ký “Nghề làm báo”)

HÌNH PHẠT XƯA : CHẶT ĐẦU THAM NHŨNG

VUA MINH MẠNG TỬ HÌNH CHA VỢ

VÌ THAM NHŨNG 30.000 QUAN TIỀN

Là ông vua nghiêm khắc bậc nhất của triều Nguyễn, Vua Minh Mạng thường trị tội rất nặng những kẻ tham nhũng, kể cả hoàng thân quốc thích.

Vua Minh Mạng (1791-1841, tên húy Nguyễn Phúc Đảm) có công xây dựng Đại Nam trở thành quốc gia rộng lớn, hùng mạnh bậc nhất trong khu vực. Các nước lân bang đều phải kính nể.

Để trị tội tham quan, vua từng xử tử, chặt ngón tay của những kẻ có hành vi tham nhũng. Trong số các vụ án trị quan tham của Minh Mạng, nổi tiếng nhất là vụ tử hình bố vợ nhà vua là Huỳnh Công Lý, khi ông này tham nhũng 30.000 quan tiền.

Khắc tinh của tham quan

Theo Đại Nam thực lục, tháng 5/1823, Lý Hữu Diệm làm quan tại phủ Nội vụ, lấy trộm hơn một lạng vàng. Việc bị phát giác, bộ Hình đưa ông Diệm ra xét xử. Theo quy định của Luật Gia Long, tội ăn trộm ngân khố dù ít hay nhiều cũng sẽ bị chém đầu. Nhưng xét thấy Lý Hữu Diệm vốn có nhiều công trạng, Bộ Hình đã tha tội chết, chỉ bắt đi đày viễn xứ. Khi án được tâu lên, vua Minh Mạng không đồng ý với đề nghị của bộ Hình.

Nhà vua nhất quyết yêu cầu Bộ Hình đem can phạm ra trước chợ Đông Ba chém đầu, cho mọi người trông thấy mà sửa mình với chỉ dụ: “Lý Hữu Diệm phải giải ngay đến chợ Đông, chém đầu cho mọi người biết, phải truyền cho viên lại Nội vụ phủ cùng đến xem, hoặc giả mắt thấy lòng sợ mà tự khuyên răn nhau để khỏi mắc tội, há chẳng là một phương thuốc hay cho bọn người sao?”.

Tháng 11/1831, Nguyễn Đức Tuyên, tư vụ Nội vụ phủ, ăn bớt nhựa thơm. Việc bị phát giác, vua Minh Mạng liền ra chỉ dụ: “Đáng lẽ cho trói đem ra chợ Cửa Đông chém đầu, nhưng lần này tạm chặt một bàn tay thủ phạm đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận và nhờ đó để làm cho mọi người đều biết tỉnh ngộ, răn chừa. Thế cũng là một cách trừng trị kẻ gian”.

Năm 1834, đến lượt tuần phủ Trịnh Đức bị thắt cổ chết vì tham ô một nghìn quan tiền nhưng lại nói dối bị giặc cướp mất. Cũng trong năm này, quản mộc Hồ Văn Hạ cũng mất đầu vì tham nhũng.

Xử tử cả bố vợ

Trong số những lần trị tội tham quan, vụ án xử tử cha vợ Huỳnh Công Lý của vua Minh Mạng đã gây rúng động dư luận lúc bấy giờ và nhiều năm sau này. Huỳnh Công Lý là một trong những võ tướng nổi tiếng thời Gia Long, có công giúp Nguyễn Ánh dựng nên cơ đồ nhà Nguyễn, sau được phong làm Lý Chính Hầu.

Khi con gái được vua Minh Mạng phong làm Huệ phi, Huỳnh Công Lý càng được tin dùng. Ông được phong làm Phó tổng trấn Gia Định, quyền hành chỉ sau mỗi Tổng trấn Lê Văn Duyệt. Quyền lực là thế, lại mang danh bố vợ nhà vua, nhưng cuối cùng, người này không thoát án tử vì tội tham nhũng.

Theo Đại Nam thực lục, trong thời gian Lê Văn Duyệt ra Huế (1816-1820), Huỳnh Công Lý được giao giữ chức Phó tổng trấn. Lợi dụng chức vụ và bề trên đi vắng, Huỳnh Công Lý thừa cơ vơ vét của cải từ nhân dân và binh lính. Sau khi Lê Văn Duyệt quay về Gia Định, nhận được tin tố cáo Huỳnh Công Lý tham ô, ông báo về triều đình. Vua Minh Mạng ra lệnh tống giam bố vợ và cử quan Nguyễn Đình Thinh vào Gia Định điều tra.

Theo hồ sơ đã được trình lên vua, số tiền tham nhũng lên đến hơn 30.000 quan tiền. Biết chuyện này, vua Minh Mạng buồn rầu mà nói rằng : “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt, ngấm ngầm chứa đầy túi riêng, mà kẻ quan quả cô độc lại không được thấm nhuần ơn thực.

Gần đây Huỳnh Công Lý làm Phó Tổng trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân trên ba vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả, thì dân ta còn nhờ cậy vào đâu. Trẫm dẫu có lòng săn sóc thương xót cũng không làm thế nào được”.

Khi Nguyễn Đình Thinh đang thu thập lời khai của các nhân chứng ở Gia Định, triều đình phát hiện thêm bằng chứng tham nhũng nữa tại Huế cũng liên quan Huỳnh Công Lý. Trong thời gian làm quan ở Huế, ông đã bắt lính xây dựng nhà riêng ở bên bờ sông Hương. Khi biết tin, vua ra lệnh tịch thu nhà, bán lấy tiền giúp cho cấm binh.

Sau khi cuộc điều tra kết thúc, nắm rõ tội của Huỳnh Công Lý, sau một thời gian cân nhắc, vua Minh Mạng đã ra lệnh cho Lê Văn Duyệt đòi lại số tiền đó cho dân. Khi thành án, vua ra lệnh trao hết hồ sơ cho triều đình bàn xét. Triều đình kết luận đáng tội chết. Năm 1821, Huỳnh Công Lý bị Tổng trấn Lê Văn Duyệt xử tử tại Gia Định, tài sản bị tịch thu để trả lại cho quân lính và dân chúng.

Minh Mạng là vị vua thứ hai của triều Nguyễn, ông là con thứ tư của vua Gia Long, sinh năm Tân Hợi tại Gia Định. Sau khi vua Gia Long qua đời, Minh Mạng được chọn lên kế vị vào năm 1820. Ông trị vì đất nước đến khi qua đời năm 1841.

Theo sách Chín đời chúa, mười ba đời vua triều Nguyễn, Minh Mạng là ông vua hết sức cần mẫn, làm việc không biết mệt mỏi, hết lòng vì nước, là tấm gương sáng cho các bậc đế vương noi theo. Ông là vua có nhiều con nhất trong số các vị vua của chế độ phong kiến Việt Nam với 142 người, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa. (theo Zing)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

HÌNH ẢNH RÙNG RỢN

NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĂN TRỘM

BỊ CHẶT ĐỨT TAY

Những hình ảnh khiến bất cứ ai nhìn vào cũng phải sợ hãi.

Một nhóm chiến binh đã đăng tải một loạt hình ảnh của một người đàn ông bị chặt đứt bàn tay vì tội ăn cắp lên Twitter. Những bức ảnh này khiến ai nhìn vào cũng phải kinh sợ. Được biết, vụ xét xử này diễn ra tại một thị trấn phía bắc Maskanah, gần Aleppo và còn được phát lại kênh truyền thông xã hội thánh chiến.

Trước đó, người đàn ông này đã thừa nhận tội lỗi ăn trộm của mình và bị trừng phạt bằng cách cắt bỏ bàn tay để rửa sạch tội lỗi. Trong các hình ảnh, người đàn ông bị bịt mắt, bàn tay để trên bàn và bị vây quanh bởi những chiến binh. Một người đàn ông mặc áo choàng trắng đứng trước bàn và phía bên kia có một người đàn ông trùm kín đầu tay cầm thanh kiếm lớn. Kẻ ăn trộm đã bị chặt đứt bàn tay, máu me be bét và ngất xỉu.

H1: Hình ảnh khủng khiếp được đăng lên Twitter.

H2: Người đàn ông ăn trộm bị bịt mắt và chặt đứt tay. Hình ảnh còn cho thấy, sau khi bị chặt đứt bàn tay, người này còn ngất đi.

CÁC BIẾN CHUYỂN CỦA HÌNH PHẠT

CHẶT ĐẦU TỪ XƯA TỚI NAY

Ngược dòng lịch sử để hiểu hơn về một trong những hình thức tử hình dã man nhất từng được biết đến – chặt đầu.  Trong hệ thống luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới, tử hình là hình thức trừng phạt cao nhất dành cho những tội đặc biệt nghiêm trọng. Những hình thức tử hình phổ biến hiện nay bao gồm tử hình bằng súng và tiêm thuốc độc.

Thế nhưng, nhiều nước trên thế giới đã từng áp dụng hình thức chặt đầu trong việc tử hình phạm nhân. Theo dòng chảy của lịch sử, hình phạt này hầu như đã bị loại bỏ do tính chất dã man và gây tranh cãi.

H1: Xử trảm (chặt đầu) là hình thức tử hình mà đầu của phạm nhân bị cắt lìa khỏi phần thân bằng cách sử dụng rìu, gươm hoặc máy chém. Trong quá khứ, việc chém đầu phạm nhân đôi khi diễn ra tại những nơi công cộng có đông người qua lại. Hình phạt này còn được gọi là “chém đầu thị chúng”.

H2: Đối với người Trung Quốc và các dân tộc phương Đông, chém đầu là một trong những hình thức tử hình khủng khiếp nhất. Theo quan niệm của Khổng giáo, việc thân thể không còn nguyên vẹn khi bị chết sẽ xúc phạm đến những người cha, người mẹ của người phải chịu án.

H3: Trong khi đó tại nước Anh thời Trung cổ, chém đầu được coi là hình thức xử tử cao quý nhất, chỉ dành riêng cho giới quý tộc và hiệp sĩ. Những phạm nhân ở đẳng cấp thấp hơn trong xã hội sẽ bị tử hình bằng những hình thức khác như treo cổ hoặc bị đưa lên giàn hỏa thiêu.

H4: Hình thức xử tử bằng cách chém đầu từng phổ biến rộng rãi trong rất nhiều nền văn hóa khác nhau. Bức tranh này mô tả cảnh một vị vua trung cổ ở Ethiopia (Đông Phi) ra lệnh xử tử cùng lúc nhiều phạm nhân.

H5: Còn đây là ảnh chụp bên trong ngôi nhà của những thổ dân đảo Borneo, ngày nay thuộc lãnh thổ của Malaysia và Indonesia vào những năm đầu thế kỉ XX. Người bản địa ở Borneo từng có tục lệ săn đầu người rồi trưng bày như chiến lợi phẩm.

H6: Việc tử hình bằng hình thức chặt đầu thường diễn ra rất nhanh chóng và phạm nhân sẽ sớm từ giã cõi đời. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào độ sắc của lưỡi gươm và trình độ của đao phủ. Trong một số trường hợp hi hữu, đao phủ phải cần tới nhiều hơn một nhát gươm để cắt rời hoàn toàn đầu phạm nhân.

Điển hình cho những sự cố như vậy là vụ xử tử nữ hoàng Mary của xứ Scotland vào năm 1587. Bị khép tội mưu sát nữ hoàng Anh Elizabeth I, bà bị đưa lên đoạn đầu đài. Đao phủ phải dùng tới 3 nhát rìu mới thực hiện xong bản án.

H7: Để việc chém đầu diễn ra nhanh hơn và tránh phải những “sự cố” ngoài ý muốn, người Pháp đã phát mình ra chiếc máy chém (guillotine). Lưỡi dao treo trên cao được thả xuống sẽ nhanh chóng kết liễu số phận của người phạm tội.

H8: Năm 1789, cuộc Cách mạng Pháp bùng nổ. Những biến động chính trị sau đó tại Pháp đã dẫn tới việc nhiều nhà quý tộc của nước này, trong đó có cả vua Louis XVI bị đưa lên máy chém.

H9: Một trong những nạn nhân nổi tiếng khác của “guillotine” là nữ hoàng Marie Antoinette – người phụ nữ nổi tiếng cả về sắc đẹp và sự xa hoa phung phí tại cung đình Pháp.

Bà là vợ của Louis XVI và bị bắt giữ cùng với gia đình hoàng tộc trong cuộc cách mạng. Năm 1793, bà bị xử trảm trước công chúng tại quảng trường Concorde ở Paris.

H10: Máy chém guillotine cũng xuất hiện tại nhiều nước thuộc địa của Pháp, trong đó có Việt Nam. Trong hình là một chiếc máy chém được trưng bày tại bảo tàng ở Cần Thơ. Nhiều chiến sĩ cách mạng Việt Nam đã bị Pháp xử chém vì đấu tranh cho độc lập dân tộc, tiêu biểu như Nguyễn Thái Học – lãnh đạo khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.

H11: Đến cuối thế kỉ XX, hình thức tử hình bằng chặt đầu dần bị thay thế bằng các phương pháp khác. Tuy nhiên đến hiện nay, Saudi Arabia, một quốc gia Trung Đông với nhiều hình phạt hà khắc, là quốc gia duy nhất vẫn duy trì hình thức tử hình này. Các phạm nhân bị chém đầu tại quảng trường Deera ở thủ đô Riyadh, nơi có đông người chứng kiến. Ảnh là quang cảnh quảng trường Deera, nơi diễn ra những vụ chém đầu ở Saudi Arabia

H12: Đầu năm 2014, một nữ giúp việc người Indonesia (ảnh trên) vừa thoát án tử hình bằng hình thức xử trảm tại Saudi Arabia. Bị chủ thường xuyên đánh đập, người phụ nữ này đã phản kháng lại và gây ra cái chết cho chủ nhà. Dư luận Indonesia và quốc tế đã vào cuộc mạnh mẽ để cứu người phụ nữ trên thoát khỏi hình phạt tàn khốc.

4 VỊ VUA CHÚA PHONG KIẾN

ĐÁNG TRÁCH NHẤT TRONG SỬ VIỆT

Theo sử sách xưa, như trong Đại Việt sử ký toàn thư ghi : Vua say đắm tửu sắc, phát ra bệnh trĩ. Còn Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: Long Đĩnh bị bệnh trĩ nặng đến mức không ngồi được, mà phải nằm nghe các triều thần tâu trình việc nước…

1/. Lê Long Đĩnh (986 – 1009) là vị vua tàn độc và hoang dâm : Ông được coi là hoàng đế tàn bạo, hoang dâm nhất trong lịch sử các vương triều Đại Việt, mỗi khi người đương thời nhắc nhắc đến tên Lê Long Đĩnh thì ngay lập tức nghĩ tới hình ảnh một hôn quân, bạo chúa.

Sử sách chép rằng, sau khi Lê Hoàn mất vào tháng 3 năm 1005, Lê Long Đĩnh cùng các hoàng tử Ngân Tích, Long Kính, Long Cân tranh giành ngôi vua với Thái tử Lê Long Việt. Đến tháng 10 năm 1005, Lê Ngân Tích bị giết, Long Việt lên ngôi. Tuy nhiên, chỉ ba ngày sau đó, Lê Long Đĩnh đã giết anh và giành ghế thiên tử, tự xưng là Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng đế.

Long Đĩnh “phát minh” ra nhiều cách tra tấn dã man để hành hạ người phạm tội, kể cả tội nặng và tội nhẹ, nên được so sánh với Kiệt, Trụ xưa. Cụ thể, với những tù nhận chịu phạm hình, ông bắt lấy rơm tẩm dầu quấn vào người, rồi đốt sống; hay sai bỏ vào sọt, đem thả xuống sông. Độc ác hơn, nhà vua lấy mía để lên đầu nhà sư mà róc vỏ, rồi thỉnh thoảng giả tảng nhỡ tay bổ dao vào đầu sư chảy máu ra, trông thấy thế làm vui cười.

Nếu chỉ thích máu chảy đầu rơi như trên thì chưa phải con người thật của Lê Long Đĩnh. Theo sử sách, ông vua này còn dâm dục quá độ, để rồi mắc chứng nan y… Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi : Vua say đắm tửu sắc, phát ra bệnh trĩ. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: Long Đĩnh bị bệnh trĩ nặng đến mức không ngồi được, mà phải nằm nghe các triều thần tâu trình việc nước.

2/. Lê Uy Mục – sau ân ái … giết luôn cung nhân : Lê Uy Mục (1505 – 1509) có tên húy Lê Tuấn, là vị vua thứ 8 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ngay từ khi lên ngôi, ông đã nổi tiếng ham rượu chè, gái đẹp và giết người; triều chính bỏ bê cho bọn hoạn quan và bên họ ngoại khuynh đảo, lộng hành… Hậu quả là một số người trong tôn thất và triều thần đã làm loạn, bắt và bức tử nhà vua (năm 1509).

Sử sách chép : Vẫn chưa hả dạ vì xét rằng, Uy Mục không những là kẻ bạo ngược, làm hại đất nước, mà còn là kẻ thù không đội trời chung, đã giết hại cả cha mẹ, anh chị em mình, nên Giản Tu Công Oanh không thể để Hoàng đế Uy Mục chết an lành. Ông ra lệnh đem xác Lê Uy Mục đặt vào miệng súng, bắn tan hài cốt; chỉ lấy một ít tro tàn đem chôn ở làng Phù Chẩn; đồng thời giáng làm Mẫn Lệ Công.

Cũng theo sử sách, tuy mới 20 tuổi, Lê Uy Mục đã có một thú vui tình dục rất vô độ. Đêm nào, ông cũng gọi các phi tần, cung nhân vào uống rượu say sưa, hành lạc vô độ. Khi say, vua giết luôn cả cung nhân vừa được mình ôm ấp. Ai cũng kinh sợ, nhưng vì uy quyền tối thượng của vua, nên không dám chống đối, hay tìm cách trốn tránh.

3/. Loạn dâm Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592) Vị vua lâu nhất trong số các vua Mạc thời hưng thịnh, tại vị 30 năm, lại chính là người khiến cơ nghiệp nhà Mạc suy vong, mà một phần nguyên nhân chính là do… thói hoang dâm hiếu sắc.

Theo sử sách, Mạc Mậu Hợp là con trưởng của hoàng đế Mạc Tuyên Tông. Do vua cha bị bệnh đậu mùa mất sớm, Mạc Mậu Hợp mới lên 2 tuổi đã được Khiêm vương Mạc Kính Điển là phụ chính đưa lên ngôi tháng một năm 1562. Lúc này, triều chính vẫn do hai ông chú là Mạc Kính Điển và Mạc Đôn Nhượng phụ tá. Mậu Hợp sống xa hoa, kiêu ngạo, hay nghe xiểm nịnh, thường ít lắng nghe lời bàn luận, khuyên can của các bậc lương thần và đặc biệt, rất hoang dâm hiếu sắc.

Để thỏa mãn dục vọng, vua không ngần ngại mưu giết bề tôi, đoạt mỹ nhân, cụ thể định giết một danh tướng trong triều để cướp vợ khiến cho một bộ phận binh lực nhà Mạc đã theo viên tướng này về quy phục vua Lê, làm cho thế lực của Mạc Mậu Hợp ngày càng suy yếu. Sách Lê triều thông sử viết: Sự việc này xảy ra vào cuối năm Nhâm Thìn (1592). Vợ viên trấn thủ Nam đạo Sơn quận công Bùi Văn Khuê là Nguyễn Thị Niên, tức con gái Nguyễn Quyện. Chị gái của Thị Niên là hoàng hậu của Mậu Hợp vì thế Thị Niên thường được ra vào trong cung. Mậu Hợp thấy Thị Niên, đem lòng yêu mến bèn ngầm tính kế giết Văn Khuê để cướp vợ y.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho biết rõ hơn: Chúa Mạc là Mậu Hợp ngày ngày say đắm tửu sắc. Nguyễn thị là con gái của Nguyễn Quyện và là vợ Bùi Văn Khuê, nhân có em gái là vợ của Mạc Mậu Hợp, nên thường ra vào trong cấm cung. Mậu Hợp ưng ý Nguyễn thị vì nàng có nhan sắc, nên muốn giết Văn Khuê để chiếm lấy nàng. Văn Khuê biết chuyện… đã đầu hàng Trịnh Tùng…

Sau đó, vua Mậu Hợp đã bị Trịnh Tùng treo sống 3 ngày, rồi chém đầu tại bãi cát Bồ Đề, sau đó đem đóng đinh vào 2 con mắt, bêu ra ngoài chợ 5 ngày.

Tương tự, Mạc Kính Chỉ – con của hoàng thân Mạc Kính Điển và là cháu nội của vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) cũng gây nên chuyện động trời vì ham sắc dục. Sách Đại Việt thông sử viết: Mạc Kính Chỉ là con cả của Kính Điển, mới đầu được phong là Hùng Lễ Vương, vì tư thông với người thiếp của cha nên bị giáng xuống làm thứ dân, sau đó lại khôi phục, phong là Đường An Vương.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, vụ việc loạn luân giữa Mạc Kính chỉ với vợ của cha xảy ra vào đầu năm Giáp Tý (1564), nhưng có một số điểm khác: Bấy giờ, con trưởng của Kính Điển là Đoan Hùng Vương Kính Chỉ ngầm tư thông với vợ lẽ Kính Điển, việc phát giác phải giáng làm thứ dân; lấy con thứ là Kính Phu làm Đường An Vương, giao cho binh quyền. Đến khi Kính Điển chết, họ Mạc lại cho Kính Chỉ làm Hùng Lễ Công, nhưng không cho binh quyền.

4/. Chúa Trịnh Giang – ăn chơi dâm loạn vô chừng : Trịnh Giang (1729 – 1740) là con cả Trịnh Cương. Sử sách chép rằng, nếu các chúa từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Cáng đều là những vị tài ba, đã hoàn thành việc đánh dẹp và cai trị phía Bắc Việt Nam, giữ cho xã hội Đại Việt ổn định trong gần 2 thế kỷ, thì việc lên nắm quyền hành của Trịnh Giang lại là điềm xấu, bắt đầu thời đại suy tàn của họ Trịnh.

Trịnh Giang lên ngôi chúa vào tháng 10.1729, ngay sau khi Trịnh Cương qua đời. Do không tha thiết việc chính sự, năm 1736, Trịnh Giang phong cho Doanh lúc đó mới 17 tuổi làm Tiết chế thủy bộ chủ quân, chức Thái úy, tước Ân Quốc công, cho mở phủ Lượng Quốc. Mỗi tháng ba lần, Trịnh Doanh thay Trịnh Giang triều kiến trăm quan ở Trạch Các để nghe tâu trình công việc.

Nhờ việc giao quyền hành triều chính cho Trịnh Doanh nên Trịnh Giang có thêm thời gian cho những việc chơi bời, hưởng lạc. Trịnh Giang đặc biệt tin dùng hoạn quan Hoàng Công Phụ vì những ủng hộ của viên quan này trong việc ăn chơi của mình. Để phục vụ cho việc ăn chơi, hưởng lạc của mình, chúa Trịnh Giang đã cho xây dựng nhiều cung quán, chùa chiền rất nguy nga và tốn kém…

Cũng bởi việc Trịnh Giang chỉ mải mê lao vào an chơi, ham mê tửu sắc mà không lo bồi dưỡng cơ thể, đảm đương triều chính nên sức khỏe ngày càng kém sút. Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là theo tương truyền, chúa Trịnh Giang có tật mê đàn bà từ thuở nhỏ.

Vậy nên, ngay khi lên nắm quyền chúa, Trịnh Giang đã sớm sử dụng quyền lực của mình để có thể hưởng lạc ái ân. Tất nhiên, ngay sau đó, Trịnh Giang sớm nổi tiếng về thói ăn chơi dâm loạn không chừng mực. Càng về sau, Trịnh Giang càng có nhiều biểu hiện kì dị trong sinh hoạt tình dục.

Hằng ngày, các hoạn quan phải lựa ra một người đẹp trong số các cung nữ hoặc bắt cóc dân nữ sống trong khu vực, tắm cho sạch sẽ rồi bỏ vào bao tải lớn, vác vào phòng chúa Trịnh Giang. Người đẹp này sẽ được chúa “ân sủng” theo ý thích. Việc đam mê đàn bà của chúa Trịnh Giang không chỉ dừng lại ở đó.

Để thỏa mãn nhu cầu dâm loạn của mình, chúa Trịnh Giang còn từng tư thông với vợ lẽ của cha mình. Sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ cho hay: Trịnh Giang là kẻ dâm loạn, từng tư thông với bà Kỳ Viên phi Đặng Thị (người xã Trà Đổng, huyện Tiên Du, nay thuộc Bắc Ninh), vốn là vợ lẽ của chúa Trịnh Cương (cha Trịnh Giang). Chuyện này bị bà Vũ Thái phi (mẹ của Trịnh Giang) phát giác. Bà ép Kỳ Viên phi Đặng Thị phải tự tử.

Một hôm, chẳng hiểu vì sao Trịnh Giang bị sét đánh gần chết, nhân đó mà mắc bệnh kinh quý, hễ nghe có sấm sét là kinh hồn bạt vía. Bọn hoạn quan liền nói với Trịnh Giang rằng, duyên do chẳng qua vì dâm dục thái quá nên bị ác báo, muốn chữa, chỉ có cách… đào hầm làm nhà ở dưới đất. Trịnh Giang bèn dựng cung Thưởng Trì để ở, không dám đi ra ngoài như trước nữa.

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì viết: Từ ngày làm việc bạo nghịch là giết vua (chỉ việc Trịnh Giang phế truất rồi giết chết vua Lê Đế Duy Phường), Trịnh Giang càng ngày càng tiếm quyền, ăn chơi dâm loạn không còn chừng mực gì nữa, cho nên về sau mới mắc bệnh kinh quý, sợ sấm sợ sét lắm. Bọn hoạn quan là Hoàng Công Phụ đánh lừa, đào đất làm cung Thưởng Trì cho Trịnh Giang ở. Từ đấy, Chúa không còn dám bước chân ra ngoài… (theo Dân Việt)

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

CHUYỆN ĐÀ LẠT KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT

CHUYỆN ĐÀ LẠT KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT

DINH III BẢO ĐẠI

& NGÔI BIỆT THỰ ĐÁ

Kể từ khi bác sĩ Yersin tìm ra cao nguyên Lang Biang, Đà Lạt trở thành tên gọi quen thuộc có sức hút mãnh liệt đối với du khách. Vùng đất này vẫn còn ẩn chứa nhiều điều không phải ai cũng biết.

Xin giới thiệu với bạn đọc một số câu chuyện về Đà Lạt ít ai biết, hoặc đã biết nhưng chưa tỏ tường…

Lão bộc nhận lương bằng…. vàng

Ngày 23/12/2017, bộ sưu tập “Báu vật triều Nguyễn tại Đà Lạt” với hơn 120 cổ vật quý giá được đưa ra trưng bày. Bà Đoàn Thị Ngọ, phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng, đã ghi nhận một cách trân trọng rằng ông Nguyễn Đức Hòa là người có công giữ gìn và bàn giao chúng nguyên vẹn cho chính quyền sau năm 1975.

Ông Hòa là ai mà được quyền lưu giữ, bảo quản những cổ vật quý giá được làm từ ngọc, bạc, vàng, đá quý, ngà voi và mã não…? Không nhiều thông tin về ông cho đến khi chúng tôi lục lại những tư liệu cũ liên quan đến dinh Bảo Đại tại Đà Lạt.

Dinh Bảo Đại là một công trình kiến trúc hài hòa giữa phong cách Á – Âu đầu tiên của triều Nguyễn được xây dựng trong bốn năm (1934-1938). Tên gốc của công trình này là Palais Impérial nằm trên đường Darles (nay là đường Triệu Việt Vương), bao quanh là rừng thông mang tên Bois d’amour (Rừng tình) rộng gần 10ha.

Sau năm 1975, có tên mới là Dinh 3. Trong biệt điện có một người quản gia tận tụy từ thời vua Bảo Đại qua chế độ Việt Nam cộng hòa cho đến sau ngày đất nước thống nhất. Đó là ông Nguyễn Đức Hòa (1926-2009).  Sinh thời, giới văn nghệ sĩ và người dân Đà Lạt gọi ông là “lão bộc qua các triều đại”.

Theo vua từ thuở mười ba

Trước năm 1945, dinh thự Palais Impérial là nơi sinh hoạt của gia đình vị vua cuối cùng của vương triều Nguyễn. Khi trở thành quốc trưởng và khai sinh ra Hoàng triều cương thổ (năm 1950), vua Bảo Đại đã sử dụng biệt điện này để ở và tiếp khách.  Công trình kiến trúc này được xây dựng hai tầng, sắp xếp khéo léo từ trong ra ngoài.

Ông Nguyễn Đức Hòa sinh ra và lớn lên tại làng Dương Nỗ (huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế). Năm 13 tuổi, được một người bác họ làm ở đội kỵ mã đưa vào Đại nội giúp việc và được thái hậu Từ Cung (bà Hoàng Thị Cúc, mẹ vua Bảo Đại) tin cậy cho theo hầu Bảo Đại.

Ngày 28/4/1949, Bảo Đại được Pháp đưa về Việt Nam. Ngày 14/4/1950, Bảo Đại ra dụ số 6/QT/TG xác định Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều cương thổ và cao nguyên miền Nam. Ông Nguyễn Đức Hòa được theo vua lên Đà Lạt. Ông được vua Bảo Đại hết sức tin cậy.

Khi còn sinh hoạt trong dinh, vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu luôn giữ gìn nề nếp gia phong của hoàng tộc. Sau mỗi bữa tối, các hoàng tử, thái tử, công chúa đều được gọi lên phòng để hàn huyên và nghe vua, hoàng hậu giáo huấn, bảo ban.

Sau khi Bảo Đại không còn làm vua nữa, ông Hòa được Việt Nam cộng hòa giữ lại làm việc trong dinh. Đây cũng là điều đặc biệt, có lẽ nhờ bản tính điềm đạm, hiền lành, trung thực của ông.

Gìn giữ báu vật hoàng gia

Trước khi ông Hòa mất, chúng tôi có gặp ông và đề nghị ghi âm cuộc trò chuyện, ông vui vẻ đồng ý. Khi hỏi đến tiền lương, ông nói :

– Ngày còn phục vụ vua Bảo Đại, mỗi tháng tôi được 4 lượng vàng.

– Vậy một năm được 48 lượng vàng, bác tiêu sao hết ?

– Tuổi trẻ ham chơi, tiêu hết rồi…

– Trong thời gian làm việc với Bảo Đại, có bao giờ bác thấy vợ chồng Bảo Đại to tiếng với nhau không ?

– Có chứ ! Nhưng mỗi lần cãi nhau thì họ chuyển sang nói bằng tiếng Pháp. Mình chịu. Ông tiếp : Vua Bảo Đại hay dành thời gian nói chuyện với tôi khi đi xa. Ông cũng có nỗi niềm riêng ít ai biết được.

Rồi ông cho biết them : “Dưới thời ông Ngô Đình Diệm, tôi được trả lương hằng tháng tương đương 5 lượng vàng, thời ông Nguyễn Văn Thiệu là 7 lượng vàng”.

Sau ngày 30/4/1975, chính quyền quân quản cũng tiếp tục nhận ông làm nhân viên, lo các công việc trong dinh Bảo Đại và được hưởng lương theo quy định nhà nước cho đến khi qua đời.

Ông là lão bộc duy nhất được các chế độ khác nhau giữ lại làm quản gia ở dinh Bảo Đại, và là người được Từ Cung thái hậu tín cẩn giao giữ các két sắt có chứa tài sản (gồm tư trang và đồ dùng của gia đình). Về sau, tài sản này đã được đơn vị T78 thuộc Ban Tài chính quản trị Tỉnh ủy Lâm Đồng bảo quản, cất giữ.

Năm 2000, ông Hòa là người đặt ra một số câu hỏi đề nghị những người có trách nhiệm trong chính quyền địa phương trả lời về sự mất còn của số tài sản là ngọc ngà châu báu tại dinh Bảo Đại trước đây.

Ngày 17/2/2000, Văn phòng Chính phủ đã có công văn yêu cầu chủ tịch tỉnh Lâm Đồng làm rõ sự việc và báo cáo kết quả lên Thủ tướng. Kết quả báo cáo như sau (trích) :

Nguồn gốc số tài sản này (gồm tư trang và đồ dùng gia đình) trước ở dinh III là tài sản của Từ Cung thái hậu (mẹ của vua Bảo Đại). Sau ngày 30-4-1975, đơn vị T78 thuộc Ban Tài chính quản trị Tỉnh ủy Lâm Đồng tiếp nhận, bảo quản, cất giữ (có biên bản bàn giao và niêm phong cẩn thận). Đến cuối năm 1996, số tài sản đó được đưa sang Kho bạc Lâm Đồng tiếp nhận niêm phong cất giữ cho đến nay và bảo đảm còn nguyên trạng như khi tiếp nhận từ T78.

Sở dĩ tỉnh chưa có kế hoạch trưng bày các cổ vật này vì : Đây là những cổ vật quý, hiếm, có giá trị về lịch sử nên muốn trưng bày phải có chế độ bảo quản nghiêm ngặt. Ngoài ra, khi cho trưng bày thì phải đầu tư trang bị một số thiết bị chuyên dùng để phục vụ công tác bảo quản tránh hư hao xuống cấp đồ vật”.

Cho đến khi mất, ông Hòa có hơn 60 năm gắn bó với dinh Bảo Đại, khu Rừng tình và những ký ức khó để nói tường tận về vua Bảo Đại.

Trưng bày báu vật triều Nguyễn trong festival hoa

Trong thời gian diễn ra Festival hoa Đà Lạt 2017 (từ ngày 23/12/2017 đến ngày 2/1/2018), Bảo tàng Lâm Đồng đã chọn cung Nam Phương Hoàng Hậu (số 4 Hùng Vương, Đà Lạt) làm nơi trưng bày giới thiệu bộ sưu tập “Báu vật triều Nguyễn tại Đà Lạt”.

Đây cũng là lần đầu tiên bộ sưu tập hiện vật độc đáo này ra mắt công chúng một cách đầy đủ về số lượng và chuẩn xác về thông tin với trên 120 cổ vật.

Phần lớn các hiện vật này đều do Ngự xưởng triều Nguyễn chế tác từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, cá biệt có một ít hiện vật thuộc thế kỷ 18.

NGÔI BIỆT THỰ ĐÁ CỦA BÀ PHI ÁNH

Ngoài Nam Phương hoàng hậu – người vợ chính thức, vua Bảo Đại còn có các thứ phi và những cuộc tình. Câu chuyện tình của cựu hoàng Bảo Đại và thứ phi Phi Ánh là lý do quyết định khiến tôi tìm hiểu thêm về căn biệt thự này

Qua sự “mai mối” của dược sĩ Phan Văn Giáo – thủ hiến Trung Kỳ, cựu hoàng Bảo Đại đã gặp Lê Thị Phi Ánh (sinh năm 1925).

Người tình đặc biệt

Năm 1949, được tin cựu hoàng Bảo Đại trở về nước lại lên ngay Đà Lạt, ông Phan Văn Giáo đã xuống tận phi trường Liên Khương đón vua Bảo Đại và giới thiệu Phi Ánh cho ông. Bà Lê Thị Phi Ánh là con út của ông Lê Quang Sáu ở Huế. Bác của Phi Ánh là ông Lê Quang Thiết, phò mã của vua Thành Thái.

Chúng tôi đã nhiều lần được gặp ông Nguyễn Đắc Xuân – một người luôn gắn bó với công việc nghiên cứu về Huế, đặc biệt là chuyện vua tôi nhà Nguyễn.  Khi nhắc đến Đà Lạt và những câu chuyện liên quan đến những bà thứ phi của cựu hoàng Bảo Đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân rất vui và kể lại rành mạch.

Bà Lê Thị Phi Ánh người trắng trẻo, cao ráo, mũi cao, mắt sáng, đẹp nhất trong bốn cô “phi”. Đang lúc buồn, gặp Phi Ánh, Bảo Đại phải lòng ngay. Không rõ Phan Văn Giáo đã “tâu” với Bảo Đại như thế nào mà sau khi ân ái với Phi Ánh, Bảo Đại đã “tặng” cho bà một số tiền lớn. Và thật bất ngờ, theo một người thân trong gia đình Phi Ánh cho biết, ông vua “ham chơi” đã bị nhân tình “thất lễ” bằng một cái tát.

Phi Ánh giải thích cho Bảo Đại biết bà “muốn làm thứ phi của hoàng đế, chứ không phải là gái làm tiền”. Bảo Đại vỡ lẽ, không những ông không phẫn nộ mà càng yêu quý Phi Ánh hơn.

Bà Phi Ánh xuất thân trong một gia đình tử tế và giàu có với nhiều nhà cửa và biệt thự tại Huế. Bà Ánh gọi bà Lê Thị Kim Lộc (bà ngoại của giáo sư Phan Lương Cầm) là cô ruột.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân còn cho biết thêm: Bà Phi Ánh đã sinh cho vua Bảo Đại được 2 người con. Người con gái là Nguyễn Phước Phương Minh, sinh năm 1950 và qua đời tại Mỹ năm 2012. Người con trai là Nguyễn Phước Bảo Ân, sinh năm 1951 tại Đà Lạt. Sau năm 1975, bà Phi Ánh sống trong cô đơn tại Sài Gòn và qua đời vào năm 1986 ở tuổi 61.

Nhà… đá tặng thứ phi

Cựu hoàng Bảo Đại đã mua một ngôi biệt thự bằng đá nằm trên đường René Robin (nay là đường Quang Trung, P.9, TP Đà Lạt) vào năm 1950, được người Pháp xây dựng theo kiến trúc Tây Ban Nha để làm quà tặng cho bà Phi Ánh.

Đây là món quà tặng đặc biệt của cựu hoàng, nên còn có tên gọi khác là biệt thự Phi Ánh. Theo Trung tâm Quản lý nhà Đà Lạt, biệt thự được xây dựng vào năm 1928.

Khác với các ngôi biệt thự khác, kiến trúc của biệt thự Phi Ánh nằm trên một diện tích sân vườn vừa phải.. Biệt thự được xây phần lớn bằng đá chẻ, có lối đi rộng nối từ căn nhà bên này sang bên kia, có những ô cửa lớn được thiết kế thành những chiếc vòm cao gió lùa bốn phía.

Trong biệt thự này có trưng bày các bức tượng vũ nữ, 12 phù điêu hai mặt trên tường, trong đó có 4 bức hoa sen cách điệu có hình hai đầu chim lạ. Một số bức tranh sơn dầu vẽ cựu hoàng Bảo Đại, thứ phi Lê Thị Phi Ánh trên tầng lầu phía bên trái nhìn từ ngoài vào.

Ông Đặng Nguyễn Văn Tích, giám đốc Trung tâm Quản lý nhà Đà Lạt, cho biết biệt thự Phi Ánh sau năm 1975 được giao cho khoảng 30 hộ dân sống bên trong, khiến nó xuống cấp trầm trọng vì sử dụng không đúng công năng và quá tải bởi hơn trăm người cư ngụ, trong khi nó được thiết kế cho một gia đình.

Sau này, nhà đầu tư đã bỏ tiền di dời dân ra khỏi biệt thự, thuê chuyên gia khôi phục nguyên trạng. Đây là căn biệt thự được đánh giá hồi sinh sau khi giao cho tư nhân sử dụng kinh doanh du lịch.

Sau nhiều lần sang tay đổi chủ, hiện nay biệt thự này có tên mới là nhà hàng Phù Đổng. Ông Nguyễn Trọng Phương – người Hà Nội, là người chủ mới nhất của biệt thự này – không chỉnh sửa nhiều mà cố giữ nguyên trạng, đặc biệt là hình dáng và vật liệu làm nên sự độc đáo của ngôi biệt thự là những khối đá xanh lớn.

Ông Phương cho biết khi đến Đà Lạt có để ý nhiều biệt thự cổ, nhưng sau cùng ông quyết định mua biệt thự Phi Ánh : “Câu chuyện tình của cựu hoàng Bảo Đại và thứ phi Phi Ánh là lý do quyết định khiến tôi tìm hiểu thêm về căn biệt thự này và mua”.

“Có hơi người thì biệt thự Phi Ánh mới có sức sống. Khi tiếp nhận nó, mở cánh cửa từng căn phòng, tôi cảm nhận hơi lạnh tràn từ góc nhà này sang góc nhà khác. Từ lúc đó, tôi biết căn nhà này không được đóng cửa dù chỉ một ngày” – ông Phương nói.

Ông bóng gió rằng chính ký ức mãnh liệt của Đà Lạt thời Bảo Đại khiến căn nhà này có sức sống và độ bền bỉ hơn hàng trăm biệt thự cổ khác ở Đà Lạt. Khi còn sống, kiến trúc sư Nguyễn Văn Lập, nguyên chủ tịch Hội Kiến trúc tỉnh Lâm Đồng, nhận định biệt thự Phi Ánh có nét riêng biệt giữa 170 biệt thự cổ trên địa bàn TP Đà Lạt.

Xét về độ độc đáo, nó có thể so sánh với bốn công trình đặc trưng của Đà Lạt là: Trường cao đẳng Sư phạm Đà Lạt (trước kia là Trường Grand Lycée Yersin, thành lập năm 1927), nhà ga Đà Lạt, nhà thờ Con Gà, Cục Bản đồ (trước là Nha Địa dư) dù có quy mô khiêm tốn hơn nhiều.

Trong một tài liệu mới đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Trân cho biết: sau ngày cựu hoàng bị Ngô Đình Diệm truất phế, bà con, ngay cả bên gia đình của bà Phi Ánh cũng không ai dám chứa chấp mẹ con bà, nên ba mẹ con phải ở nhà thuê, rày đây mai đó, thật mệt mỏi…

Trong hoàn cảnh này, bà Phi Ánh đành phải bước thêm bước nữa cho đỡ cô đơn, vất vả. Các con của bà Phi Ánh và cựu hoàng Bảo Đại cũng có cuộc sống long đong, lận đận không khác gì mẹ mình.

Quan tâm đến người tình

Không riêng gì với thứ phi Phi Ánh, cựu hoàng Bảo Đại luôn quan tâm đến các thứ phi cũng như người tình của mình khi họ cùng lên Đà Lạt sinh sống với ông.

Bà Bùi Mộng Điệp được cựu hoàng Bảo Đại mua tặng một ngôi biệt thự sang trọng của ông Basier trên đường Graffeuille, gần ngã ba Trại Hầm (giao giữa đường Hùng Vương và Hoàng Hoa Thám, P.10, Đà Lạt).

Bà Jenny Woong (Hoàng Tiểu Lan, còn có tên là Tran Ny) được cựu hoàng Bảo Đại đưa về Đà Lạt và dành cho bà một ngôi biệt thự tại số 3 đường Babey (nay là đường Nguyễn Du). (theo Mai Vinh – Ngọc Trác)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

THỦ PHỦ

‘HOÀNG TRIỀU CƯƠNG THỔ’

Đà Lạt dù là vùng đất được phát hiện muộn (năm 1893) nhờ công của bác sĩ Yersin nhưng thành phố nhỏ này luôn được đặt ở một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia cho dù thời thế đã vần chuyển bao lần.

Chính quyền thời Pháp thuộc từng xác định mảnh đất cao nguyên nhỏ bé này là thủ phủ Đông Dương và ra sức quy hoạch, xây dựng. Cựu hoàng Bảo Đại có một thời gian ngắn “làm chủ” vùng đất này và biến nó thành “đất của vua”. Ai muốn đặt chân đến lãnh thổ này (Đà Lạt) phải xin phép Nha công an Hoàng triều cương thổ thuộc Văn phòng Quốc trưởng ở Hà Nội và Sài Gòn

“Đất của vua”

Cựu hoàng Bảo Đại được Pháp đưa về nước năm 1949, cho lập chính phủ mới và làm quốc trưởng “Quốc gia Việt Nam”. Một năm sau, ông ra dụ số 6/QT/TG, lập Hoàng triều cương thổ đặt dưới quyền quản trị của khâm mạng (Nguyễn Đệ nhận chức vụ ấy) nhưng mọi quyết định đều do Khâm sứ Trung kỳ chuẩn phê.

Dụ này cũng xác định Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều cương thổ và cao nguyên miền Nam. Mấy tháng sau, Bảo Đại bổ nhiệm đại tá Didelot làm đại diện cho quốc trưởng tại các tỉnh sơn cước Tây Nguyên: Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk, Kon Tum, Pleiku, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng và gọi là “Hoàng triều cương thổ”, tức đất của nhà vua. Như vậy, Hoàng triều cương thổ trải dài trên khắp các tỉnh Tây Nguyên.

Khi về nước, ông Ngô Đình Diệm được Bảo Đại cử làm thủ tướng của chính phủ “Quốc gia Việt Nam”. Được Mỹ hậu thuẫn, ông Ngô Đình Diệm đã tổ chức truất phế Bảo Đại, lập ra chính phủ “Việt Nam cộng hòa” do ông làm tổng thống.

Ngày 24/3/1955, đại diện quốc trưởng Bảo Đại đã đọc tuyên bố chấm dứt chế độ “Hoàng triều cương thổ” tại buổi lễ tổ chức trước Tòa hành chánh Kon Tum, với sự hiện diện của hàng ngàn đồng bào Thượng (dân tộc thiểu số). Như vậy, Hoàng triều cương thổ vỏn vẹn chỉ tồn tại có 4 năm 11 tháng.

Đến Đà Lạt phải có “visa”

Chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Hữu Tranh, nguyên cán bộ Sở Khoa học kỹ thuật Lâm Đồng. Ông Tranh là người đã sống qua thời “Hoàng triều cương thổ” và có hơn 30 năm tổng hợp tư liệu và nghiên cứu về Đà Lạt.

Khi hỏi đến thời kỳ Hoàng triều cương thổ, ông hào hứng kể : “Năm 1952, lúc ấy tôi mới 13 tuổi đã lên Đà Lạt đi học. Thời đó học sinh giỏi sẽ được nhà trường giới thiệu đưa lên Dinh Bảo Đại dự lễ vạn thọ của cựu hoàng và nhận quà do Bảo Đại tận tay trao”.

Theo ông, cuộc sống ngày đó ở Đà Lạt rất bình yên. Ai muốn đặt chân đến lãnh thổ này phải xin phép Nha công an Hoàng triều cương thổ thuộc Văn phòng Quốc trưởng ở Hà Nội và Sài Gòn.

Thời Pháp thuộc thì phải có giấy khám sức khỏe, phải có bảo lãnh. Thời Hoàng triều cương thổ không cần giấy khám sức khỏe, nhưng bắt buộc phải có người ở Đà Lạt bảo lãnh và phải có công ăn việc làm mới cho nhập cư. Nếu người được bảo lãnh mà phạm pháp thì chính quyền bắt ngay người bảo lãnh.

“Luật pháp nước Nam thời đó có nhiều thứ để bàn nhưng luật lệ ở Đà Lạt có nhiều điểm riêng biệt và nghiêm lắm nên tệ nạn trộm cắp, cướp giật rất khó xảy ra. Ngoài đường người ăn xin, giang hồ đầu trộm đuôi cướp không có.

Cờ bạc, rượu chè say xỉn công khai không xảy ra. Đường sá thì sạch sẽ. Chẳng hạn như chợ Đà Lạt (nay là khu Hòa Bình) thì khoảng 4 giờ chiều mọi người buôn bán đã xịt nước xung quanh rửa chợ sạch bong” – ông Tranh kể.

Nhà lề cửa lối

Chúng tôi hỏi ông Tranh : “Chuyện xây nhà, lấn đất ra sao ?”, ông cười bảo: “Nhà cửa phải lề lối nghiêm túc, mà muốn xây nhà khó lắm. Thông thường những năm đó chỉ có thầu khoán đứng ra xin phép, xây dựng nhà cửa rồi bán lại. Thời thuộc Pháp, nhà cửa phải theo mẫu kiến trúc.

Thời Hoàng triều cương thổ của quốc trưởng Bảo Đại, các thầu khoán xây nhà theo mẫu quy định, giống nhau trên từng con đường đã được xem xét. Chẳng hạn đường Duy Tân (nay là 3/2) chỉ có nhà 3 tầng liền nhau, đường Phan Đình Phùng chỉ có 2 tầng, đường Võ Tánh (nay là Bùi Thị Xuân) hai bên là nhà gỗ.

Dọc theo đường Hai Bà Trưng là khu cư xá của các công sở ở Đà Lạt. Tất cả nhà dân thường làm một kiểu giống nhau, chỉ có một số con đường như Trần Hưng Đạo, Yersin, Trần Bình Trọng, Lê Hồng Phong bấy giờ… là mỗi nhà mỗi kiểu.

Nhà dân cũng phải làm theo mẫu của ban kiến thiết lập ra. Ngay cả làm hàng rào, màu sơn hàng rào cũng phải được chính quyền cho phép”.

Ông Nguyễn Văn Kỳ (91 tuổi, ở đường Lê Hồng Phong, TP Đà Lạt) là công chức làm việc cho quốc trưởng Bảo Đại trong việc đánh morse (truyền điện tín).  Ông kể thời kỳ này, người Việt từ miền xuôi lên đây lập nghiệp rất khó khăn vì Hoàng triều cương thổ chú trọng đến việc phát triển đồng bào dân tộc và cư dân người Kinh hiện hữu.

Cũng như thời kỳ Pháp thuộc, ở Đà Lạt và các vùng trong Hoàng triều cương thổ khi đốn cây, xây dựng nhà đều phải được chính quyền cấp phép, không ai được tự tiện chặt phá rừng, kể cả cây hoa trồng ven đường.

Sau khi giải tán Hoàng triều cương thổ, chế độ Ngô Đình Diệm cho phép người Kinh lên Tây Nguyên sinh sống làm ăn tự do và bãi bỏ nhiều quy định có tính đặc thù khiến trật tự được xây dựng từ thời Pháp thuộc cho đến Hoàng triều cương thổ bị phá bỏ mau chóng.

Giữ những gì còn lại

Giữa năm 2014, Thủ tướng đã phê duyệt “Điều chỉnh quy hoạch chung TP Đà Lạt đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”.  Theo đó, Đà Lạt tương lai sẽ có diện tích gấp 10 lần hiện tại. Quy hoạch này xác định những vùng đất tương đồng với Đà Lạt về mặt thổ nhưỡng, khí hậu, điều kiện phát triển kinh tế để mở rộng môi trường đầu tư cho Đà Lạt và vùng phụ cận; đồng thời tạo nên những đô thị vệ tinh hỗ trợ cho sự phát triển của Đà Lạt, bảo vệ Đà Lạt hiện hữu theo hướng thành phố di sản, thành phố du lịch xanh.

Đồ án do ThS.KTS Thierry Huau và nhóm chuyên gia quy hoạch tại Pháp thực hiện với sự phản biện của các cơ quan chuyên môn quy hoạch trong nước. Trong lần trao đổi với chúng tôi, ông Thierry Huau cũng nhấn mạnh về việc hình thành trục di sản tại Đà Lạt hiện hữu và tương lai để giữ được Đà Lạt – những gì còn lại.

Lan Hương chuyển tiếp

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC

NHỮNG KHẨU PHÁO

THẦN CÔNG CỔ

BẬC NHẤT VIỆT NAM

Được sản xuất vào những năm đầu thế kỷ 19, Cửu vị Thần công được xem là những khẩu pháo sở hữu sức mạnh hỏa lực lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

H1: Cửu vị Thần công hay khẩu pháo thần công có thể coi là một trong những khẩu đại bác cổ nhất và lớn nhất Việt Nam từng chế tạo do các nghệ nhân của nước ta tự tay đúc. Chín khẩu thần công này được đúc từ năm 1803 tới 1804, dưới thời vua Gia Long.

H2: Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và lên ngôi, chính vua Gia Long đã ra lệnh cho các nghệ nhân thời đấy thu thập đồng từ các loại binh khí thừa thãi sau chiến tranh để đúc thành chín khẩu thần công làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. H3: Mỗi khẩu thần công này có chiều dài 510 cm và nặng tới 17 tấn chưa tính giá đỡ. Tổng cộng, 9 khẩu thần công đã tốn tới 153 tấn đồng nguyên chất, đây là một con số khổng lồ thời bấy giờ khi mà công nghệ luyện kim còn rất sơ khai.

H4: Quá trình đúc Cửu vị Thần công chỉ kéo dài trong chưa đầy một năm, từ năm 1803 tới năm 1804 là hoàn thành. Bên ngoài của các khẩu thần công cùng với bệ đỡ được trạm trổ cực kỳ tinh vi. H5: Thậm chí, trên phần thân súng còn được trạm trổ cả trọng lượng, vị thứ, danh hiệu và cả… cách dùng súng. Mặc dù là một công trình mang tính biểu tượng nhưng việc trạm cả cách dùng súng vào thân súng cho thấy những khẩu thần công này hoàn toàn có thể bắn được.

H6: Chín khẩu thần công này được đặt tên theo thứ tự tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông và theo ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. H7: Thời gian đầu khi vừa được đúc xong, Cửu vị Thần công được đặt dưới chân Hoàng Thành, trước cửa Ngọ Môn – kinh thành Huế. Tuy nhiên tới đời vua Khải Định, chúng đã được di dời vào trong kinh thành và chính thức trở thành công trình mang tính biểu tượng như các bảo vật trấn quốc.

H8: Trong quá khứ, Cửu vị Thần công chưa từng được mang ra sử dụng bất cứ một lần nào và chỉ là một loại vũ khí mang tính biểu tượng sức mạnh của nhà Nguyễn. Dưới triều Nguyễn, Cửu vị Thần công thường có quân canh gác và thường được tổ chức cúng lễ rất linh đình. H9: Tới khi Pháp xâm lược Việt Nam, việc cúng bái Cửu vị Thần công bị bãi bỏ chính thức. Tuy nhiên binh lính và người dân sống gần khu vực này vẫn tự mang đồ lên đây cúng tế Cửu vị Thần công vì đây vốn được xem là chính vị thần linh bảo vệ Kinh thành.

H10: Cửu vị Thần công được di dời vào vị trí mới, do phương tiện lạc hậu nên việc di chuyển những khẩu trọng pháo nặng tới 17 tấn này là cả một quá trình gian nan. H11: Ngày nay, Cửu vị Thần công được xem là một bảo vật vô giá của nước ta với tuổi đời đã hơn 200 năm. H12: Hiện tại, Cửu vị Thần công đang được trưng bày cho khách du lịch viếng thăm ngay trong Kinh thành Huế.

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN

NGÀY TRƯỚC

Sau năm 1954, ngoài Khu Dân Sinh bán buôn đủ loại mặt hàng thượng vàng hạ cám ở gần Cầu Muối, người tuổi trung niên trở lên chắc hẳn còn nhớ khu Chợ Cũ quanh đường Tôn Thất Đạm, Huỳnh Thúc Kháng giữa trung tâm Sài Gòn xuất hiện kiểu chợ trời tự phát trên vỉa hè bày bán một số loại thực phẩm đóng hộp của Mỹ, rượu Tây, thuốc lá và quần áo cũ.

Khoảng thời gian này, người Sài Gòn bắt đầu tiếp cận “hàng hoá Mỹ” một cách rộng rãi hơn nhờ cả triệu người miền Bắc di cư vào Nam sinh sống.

Ông bạn lớn tuổi của tôi nhớ lại cảnh lều bạt tại một khu tiếp nhận người di cư miền Bắc trong trường đua Phú Thọ. Ngoài tiền bạc trợ giúp chi phí sinh hoạt, dân di cư còn được cấp quần áo, thực phẩm vài ba tháng đầu để ổn định cuộc sống mới. Rất nhiều người di cư, chưa quen cách ăn mặc và khẩu vị của đồ ăn đóng hộp đem bán cho mấy đầu nậu thu gom bán lại ra thị trường chợ trời.

Với công việc điều hành tiếp nhận, cấp phát hàng trợ giúp cho bà con di cư, ông bạn tôi thường nhận được nhiều hàng “hiến tặng” mà không cần phải bỏ tiền mua lại những thứ thực phẩm đóng mác “Donated by The People of The USA. Do Not Resale”. (Được sự đóng góp của Nhân dân Hoa Kỳ. Không bán lại”).

Ðồ Mỹ viện trợ phần nhiều là dầu ăn, phô mai, thịt đóng hộp và ba loại kẹo bánh. Nói chung là một ít mặt hàng thiết yếu dùng hằng ngày cho người lớn và trẻ con. Ông nhớ mãi chuyện của nhiều gia đình di cư mang phô mai đến nhà tặng. Thú thật, “ban đầu tôi không dám nhận vì nhiều quá, một vài miếng phô mai thì cứ xem như nghĩa tình, đằng này cả đống phô mai, lại là loại giá trị của Pháp nhưng đối với nhiều người không biết ăn, không sành ăn phô mai Pháp thì coi như món đậu hủ thúi của người Hồng Kông, ngửi mùi đủ phát ớn, làm sao nuốt trôi qua cổ họng”.

“Tôi không hiểu sao trong hàng viện trợ của Mỹ lại có thực phẩm của Pháp nữa. Món phô mai Vieux Boulogne gói giấy bạc vuông vức. Mùi phô mai này khó ngửi nhưng lại là một trong những loại phô mai ngon mà tôi thỉnh thoảng được mấy người bạn Pháp hồi còn làm ở Kho Bạc nhà nước tặng cho. Loại phô mai này làm thủ công bằng sữa bò nguyên chất, ngâm trong bia lên men nhiều ngày. Phô mai Vieux Boulogne nhâm nhi với rượu vang Bordeaux thì rất tuyệt. Tội cho người di cư chưa quen mấy món ăn Tây”.

Thật ra, người Sài Gòn bắt đầu “yêu thích” hàng thực phẩm Mỹ bán ở chợ trời là khoảng thời gian hơn mười năm sau đó. Thời gian này, lính Mỹ vào miền Nam cả nửa triệu quân, để phục vụ miếng ăn thức uống theo khẩu vị quê nhà, các nhà thầu Mỹ thiết lập các cửa hàng PX (Post Exchange) tức là hàng hoá tiêu dùng của Mỹ dành cho quân nhân và viên chức Hoa Kỳ đóng quân ở nhiều vùng, trong đó Sài Gòn có hai cửa hàng lớn.

Một là PX Sài Gòn nằm trên đường Tự Do góc bên hông khách sạn Majestic và cái khác là PX Chợ Lớn nằm trên đường Nguyễn Tri Phương gần góc Ngã Sáu. Hàng hoá bán ra chợ trời phần lớn từ nơi đây.

Chuyện này có lần tôi đã nhắc tới trong bài viết “Hàng PX và đô la đỏ”. Và xin trích lại một bài phóng sự điều tra của ký giả Lederer William J. đăng trên tạp chí Der Spiegel số 44 ngày 28/10/1968 rằng: “Hệ thống cửa hàng PX có trên 5,000 phụ nữ người Việt được nhận vào để bán hàng. Trong tháng 5 năm 1967, chỉ riêng một cửa hàng PX ở Sài Gòn đã mất 65,000 dollar vì ăn cắp vặt. Và đó chỉ là một cửa hàng nhỏ.

Có một thời gian, ban giám đốc cho khám xét những người Việt bán hàng lúc họ tan ca ra về, khiến nhân viên dọa sẽ đình công nếu như việc kiểm tra này không chấm dứt. Trong thời gian thực hiện bài điều tra ở Sài Gòn, tôi đã quan sát thấy bốn lần chiếc xe tải chở đầy thực phẩm từ cửa hàng PX vào kho tiếp liệu của khách sạn Continental như thế nào. Có một lần, một kiện thịt to, có in tên Tướng Westmoreland, được đưa cùng với nước ép cà chua vào cửa kho khách sạn Continental”.

Và đâu chỉ có nhân viên bán hàng, kể cả những người làm nhiệm vụ quản lý người Hàn Quốc hoặc Phi Luật Tân cũng thông báo cho thân nhân của mình những đợt hàng có giá trị mới về để mua bán kiếm lời. Thế là một lô hàng tủ lạnh mới đưa vào cửa hàng ngày hôm qua, vừa mới mở cửa bán sáng nay cho lính Mỹ thì đã bị gom sạch. Ðâu chỉ thế, kể cả một số lính Mỹ cũng tham gia mua hàng mỗi ngày rồi đem ra bán lại cho con buôn thông đồng từ trước.

Cũng trong thời gian này, vài ba công ty nhập cảng hàng điện tử tủ lạnh, tivi, radio, máy hát đĩa than, máy Akai, mở đại lý chuyên bán mặt hàng này trên đường Huỳnh Thúc Kháng. Bên cạnh đó, các gian hàng nhỏ chuyên bán phụ tùng đi kèm, bao da radio, anten truyền hình, loa nhạc, băng từ và các phụ tùng transistor để sửa chữa ra đời góp phần làm nên tên chợ trời điện tử Huỳnh Thúc Kháng bán buôn nhộn nhịp trước năm 1975.

Ðây là nơi lần đầu tiên tôi biết đến một dãy cửa tiệm bán đồ điện tử ở Sài Gòn đông người lui tới. Ba tôi đi dạo một vòng xem giá rồi cuối cùng mua cái tivi trắng đen Panasonic nhỏ nhất. Tivi có cái cửa lùa, bên dưới là bốn cái chân tròn thanh mảnh màu vàng đất trông rất dễ thương. Việc ba tôi mua cái tivi là do một lần đi làm về bắt gặp tôi đứng chen chân trước cửa sổ nhà hàng xóm coi bộ phim cao bồi hấp dẫn đang bắn súng ì xèo.

Ông đứng đằng sau lay vai tôi, lúc đó do say mê xem phim tôi cứ tưởng đứa hàng xóm nào chen lấn, miệng còn lên tiếng cự nự : “Coi thì cứ coi đi, làm gì mà chen với lấn”. Với tuổi học trò cuối cấp tiểu học, được ba dẫn đi chợ hàng điện tử mua cái tivi coi cho thỏa thích đương nhiên tôi rất khoái.

Tôi cũng khoái đứng xem người ta lựa quần áo đổ đống trên vỉa hè đường Tôn Thất Ðạm. Ba tôi bảo đó là chợ trời quần áo cũ của những nước giàu viện trợ cho những nước nghèo. Nhìn những đống quần áo đủ màu đủ kiểu, nhất là những chiếc áo thun còn mới tôi rất thích với ánh mắt thèm muốn có được vài bộ đồ đẹp với chúng bạn. Nhưng ba tôi bảo thà mua vải về may mặc vừa vặn, đẹp hơn. Là đồ của mình, mình mặc chứ không phải mặc đồ của người ta.

Nói đến chợ trời đồ ăn thức uống của Mỹ không phải một số sạp hàng quanh khu Chợ Cũ mà phải nhắc đến chợ trời trên đường Nguyễn Thông. Từ khi học đệ thất, tôi mới biết đến những thứ hàng hoá đa dạng đầy hấp dẫn này. Mỗi chiều tan học tôi đều lội bộ trên con đường tắt ngang đây để xem người ta buôn bán đủ thứ kẹo chewing gum, chocolate, kẹo trái cây và từng đống đồ hộp thịt hay cá chất cao theo hình kim tự tháp.

Từ ngã ba Kỳ Ðồng kéo dài đến cuối đường gần vách tường chắn khu vực ga xe lửa Hoà Hưng, hai bên đông đúc người mua kẻ bán. Có cả đồ ăn của lính Mỹ, bột sy-rô, cacao thậm chí hàng quân tiếp vụ từ mì gói đến xà bông, đường sữa gì cũng có.

Tôi thích nhất là kẹo đậu phộng Hàn quốc, mỗi gói 6 viên, bọc trong giấy dầu, bên trong là giấy bóng, không cần phải lột vì khi bỏ vào miệng nó tan biến đâu mất. Viên kẹo giòn tan thơm đậu phộng rang xay nhuyễn, không cứng như cục kẹo gừng, kẹo kéo, kẹo ú mà mấy năm trước còn hấp dẫn đám trẻ chúng tôi.

Nguồn hàng đồ hộp của Mỹ bày bán trên đường Nguyễn Thông, ngoài hàng PX, còn có khẩu phần đồ ăn cá nhân của lính Mỹ đi trận ở mấy kho tiếp liệu. Tên vắn tắt gọi là hàng MCI (Meal Combat Individual), mỗi thùng có 12 hộp giấy nhỏ, trên mỗi hộp có ghi ký hiệu B-1, B-2 hay B-3 dùng cho bữa ăn sáng trưa chiều tối.

Sau này, tôi mới biết những ký hiệu ghi trên vỏ hộp. Hồi đó, tôi chỉ biết hộp này có ba miếng thịt heo chiên lên ăn khá ngon, thịt bò thì nghe mùi trầu không ngon bằng loại cá khô vuông vắn bằng ba ngón tay ngâm nước lạnh cho mềm chiên lên không khác gì miếng cá phi lê tươi rói.

Khi nghe chuyện đồ ăn của lính Mỹ, mấy người bạn lớn tuổi của tôi gần như rất vui, nhớ lại từng mùi vị của mỗi loại khẩu phần đóng gói. Có ông còn ganh tị, cùng là phận lính chiến, người thì ăn cơm sấy ngâm nước lạnh, hút Bastos xanh; thằng thì ăn bánh mì đồ hộp đủ loại thịt cá, hút Salem phì phèo, nhai kẹo cao su, uống thì cà phê hoà tan, cacao sữa, thậm chí còn có khăn giấy lau miệng, giấy vệ sinh đi cầu.

Chẳng lính nào trên thế giới sang hơn lính Mỹ viễn chinh xứ mình. Ðồ ăn của lính Mỹ đi trận không được bán ra ngoài. Thế nhưng muốn kiếm vài chục thùng đồ ăn MCI cứ đến chợ trời Nguyễn Thông thể nào cũng có. Nguồn hàng này từ đâu? Từ kho tiếp liệu tuồn ra !

SÀI GÒN XƯA :

CÀ PHÊ VỢT PHA BẰNG SIÊU ĐẤT,

HƠN 50 NĂM NÍU GIỮ CHÂN NGƯỜI

Sài Gòn nổi tiếng bởi những quán hàng cà phê trải dài khắp các con phố với đủ thứ đủ loại: Cà phê phin, cà phê sữa, cà phê nội ngoại,… Nhưng trong tất cả những thức đồ ấy, tồn tại một món cà phê xưa cũ từng là kí ức quen thuộc, là hoài niệm thân thương của bao người dân xứ Gia Định, đặc biệt là người Hoa sống tại nơi đây, đó chính là Cà phê vợt.

Từ đầu thế kỷ 20, cà phê được người Sài Gòn đón nhận khá nồng nhiệt. Vào khoảng những năm 1930, khắp địa phương Sài Gòn – Chợ Lớn (Région de Saigon – Cholon) hầu như sáng nào cũng có các quán cà phê đông khách. Theo thời gian, hương cà phê len lỏi và ngấm dần vào thói quen và kí ức của người dân khu phố thị bậc nhất xứ Nam Kỳ này.

Trước khi uống cà phê kiểu Pháp, người Sài Gòn pha cà phê vợt theo kiểu Trung Hoa. Cà phê vợt hay còn được gọi với những cái tên khác như cà phê bít tất hay cà phê kho là một trong những nét văn hóa xưa của cộng đồng người Hoa còn sót lại tại Sài Gòn. Cà phê xay nhuyễn được lọc qua vợt bằng vải the dài như bít tất, ủ trong siêu thuốc bắc để ra hết vị. Thứ nước đầu này được tiếp tục đem kho liu riu trên bếp than.

Đến nay, Sài Gòn có lẽ chỉ còn sót lại 2 quán cà phê vợt kho bằng siêu đất tồn tại đã trên nửa thế kỷ, một ở quận 3 và một ở quận 11. Hương cà phê vợt “kho” trong siêu đất có sự hấp dẫn riêng mà có lẽ không vị cà phê tân thời nào có thể sánh được.

“Chỉ cần ngửi mùi thơm là người ta tự đến”

Quán cà phê vợt tồn tại đã nửa thế kỷ của ông Lưu Nhân Thanh nằm trong hẻm 313 Tân Phước, P. 6, Q.11. Không gian quán nhỏ xinh đậm chất người Hoa nằm trong một con hẻm nhỏ, nhìn vào đây đã thấy một thời xưa cũ và phong cách uống cà phê mộc mạc, bình dân vô cùng..

Người Việt Nam biết cách thưởng thức cà phê một cách đích thực và đúng nghĩa chắc cũng không có nhiều. Trải bao thăng trầm cùng thời gian, sự biến đổi cách uống, cách phục vụ cà phê, ông Thanh vẫn bảo tồn vẹn nguyên phong cách pha cà phê truyền thống.

Ông Thanh pha bằng siêu đất, loại siêu mà người ta chuyên dùng để nấu thuốc bắc. Ông chia sẻ : “Chỉ có giữ nóng bằng cái siêu đất, hương thơm cà phê vợt mới ngon hơn hẳn cà phê đựng trong cái phin bằng kim loại”. Bí quyết của ông là không bao giờ giặt vợt bằng xà phòng vì sẽ làm mất mùi cà phê, chỉ cần rửa bằng nước sạch là đủ. Vợt càng dùng lâu năm, càng đen thì pha cà phê lại càng ngon.

Cà phê pha xong bằng siêu đất mới được ông đổ ra ấm nhôm để bán cho khách. Nước cà phê đầu tiên gọi là nước cốt, đây cũng là lượt cà phê chất lượng nhất của một lần pha. Ấm cà phê cốt được bắc lên một bếp than trước khi rót cho khách.

Khi dùng bạn có thể cho thêm chút đường, khuấy đều rồi bưng tách cà phê lên để nếm thử hương vị cà phê tinh khiết lúc còn nóng. Nhấp một chút rất ít cà phê rồi dùng lưỡi trải mỏng nước cà phê khắp miệng và nuốt nhẹ nhàng.  Sau đó, thở ra từ từ để hương thơm cà phê xông lên từ hốc mũi, vòm mũi và bạn cảm nhận mùi hương cà phê dường như lan tỏa lên đến đỉnh đầu.

Điều đặc biệt cà phê vợt ở đây giá chỉ 5.000 đồng, thêm sữa thì giá 1 ca sẽ là 6.000 đồng. Những khách hàng của ông Thanh hầu hết là những người trung tuổi và cao tuổi. Họ uống như một thói quen hay nói đúng hơn là thỏa cơn ghiền cà phê vợt, nhất là khi kiểu pha chế này đã gần như đang bị mất hút tại Sài Gòn.

Nhiều năm qua quán của ông Thanh cũng chứng kiến nhiều câu chuyện, nhiều cảnh đời trái ngược ngang qua. Nhưng ông vẫn luôn tận tâm phục vụ mọi người bằng một lòng nhiệt huyết và đam mê pha cà phê truyền thống.

Cà phê nguyên chất có hương thơm và hậu vị tinh tế, đậm đà theo cách tao nhã, thanh thoát hoàn toàn khác với mùi thơm nồng của hương liệu, vị đậm và đắng nặng nề, màu nước đen thui và sánh kẹo của các loại hạt ngũ cốc như bắp, đậu rang cháy được tẩm hương liệu nồng độ cao trong quy trình sản phẩm cà phê pha tạp.

Rất nhiều người dân Sài Gòn cũng không thể nào nhớ rằng cà phê vợt có từ thời nào, nhưng ai cũng hiểu rằng quán như của ông Thanh đang góp phần níu giữ “hồn” cà phê vợt và nét văn hoá một thời của người Sài Gòn một thời.

Cheo Leo – Quán cà phê lâu đời nhất Sài Gòn

Ngang qua mấy con hẻm trên đường Bàn Cờ tới Nguyễn Thiện Thuật, quận 3. Thật không khó để tìm được quán cà phê vợt Cheo Leo dù có bị lọt thỏm giữa những ngôi nhà cao tầng san sát, bởi mùi cà phê thơm sực nức cùng tiếng nhạc xưa  đã tự dẫn người tìm đường tìm đến đúng nơi cần tìm.

Cà phê Cheo Leo của cụ cố Vĩnh Ngô được mở bán từ cuối những năm thập niên 30 của thế kỷ trước. “Những ngày đầu nhà tui về đây xung quanh đồng không trống trải, nhà cửa thưa thớt với vài ngọn đèn leo lét, nên cha tui đặt tên quán là Cheo Leo”, cô Hoa người con thứ 6 của cụ cố Vĩnh Ngô kể lại.

Thời đó, Cheo Leo là một trong những quán cà phê nhạc nổi tiếng Sài Gòn, là nơi hẹn hò của những cô cậu học trò trường Chu Văn An, Petrus Ký và đây cũng là nơi thường xuyên lui tới của một vài nghệ sĩ vang bóng một thời Sài Gòn.

Trong suốt 79 năm, hương vị cà phê cùng với cách pha độc đáo vẫn được từ chiếc vợt vẫn được mọi thành viên trong gia đình giữ nguyên.

Cô Hoa chia sẻ : “Lửa rất quan trọng khi luộc cà phê. Nếu để lửa lớn quá cà phê sẽ bị kho ra vị chua, còn nhỏ, cà phê sẽ bị nguội, uống vô không còn mùi vị”.

Lò nung cha chị làm từ cái thùng phuy chèn thêm lớp gạch pha với đường cát vàng hạt lớn. Giữa lò nung có than lửa làm nước sôi, nước sôi già mới đổ vào cái siêu mà người ta thường đun thuốc Bắc. Trong siêu có tấm vải lược, tức cái vợt, bỏ cà phê xay nhuyễn vào đó. Ủ một lúc thì chắt nước cà phê qua cái siêu khác, đặt bên rìa lò nung giữ nóng lâu, hoặc chắt liền vào ly phục vụ khách vừa tới quán.

Một khách ruột của quán tâm sự : “Sanh thời ông Cheo Leo điệu nghệ lắm. Ổng luôn vận quần soọc, cỡi xe Vespa đi chợ Bến Thành mua cà phê chánh hiệu Meilleur Gout, Jean Martin mang dzìa pha vợt. Tới khi Sài Gòn đã hiếm quán cà phê pha vợt, ổng cũng không chịu pha phin, biểu pha bằng cái phin thì cà phê cũng chẳng ngon hơn chút nào, mà nỡ bỏ đi cái cách cà phê pha vợt đã quá thân thương với người Sài Gòn. Tụi tui mến ổng là vậy”.

Khi muốn cảm thụ hương vị của tách cà phê đích thực, sự thư thái trong tâm hồn cùng với những cốc nhựa cà phê ở đây, nhiều người khám phá ra cà phê vợt đem đến cho bạn trải nghiệm thú vị và bổ ích.

oOo

Giữa nhịp sống hiện đại và náo nhiệt, hình ảnh những người già ngồi bên tách cà phê cạnh lò đun nghi ngút khói trở thành một nét duyên thầm trong thế giới ẩm thực và đời sống văn hóa vốn đã lắm phong phú của Sài Gòn.

Ngày nay, cà phê vợt không chỉ là thức uống được người lao động bình dân ưa chuộng, đó đã là niềm khao khát, là thói quen chung của nhiều người thích tĩnh lặng, nhớ hoài cổ và nét trầm mặc của thời gian.

Dù chúng ta có đi rất xa, chúng ta vẫn luôn mong muốn có một điều nào đó để nhớ về. Nhất là về với những kỉ niệm, những nét văn hóa truyền thống rất riêng còn lưu giữ lại, mọi thứ đều góp phần tạo nên một bức tranh muôn màu khiến Sài Gòn trở nên đẹp hơn.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

“TÂY DU KÝ” THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ

“TÂY DU KÝ” ĐƯỢC COI LÀ

THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ ?

Nếu như hơn 30 năm trước, bộ phim “Tây Du Ký” của đạo diễn Dương Khiết đã đưa người xem đến với hành trình thỉnh kinh cùng những cảnh trảm yêu bắt quái ly kỳ; thì ngày hôm nay, những phân cảnh “Tây Du Ký” trên sân khấu của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận lại mở ra trước mắt chúng ta một thế giới thần thoại chân thực đến ngỡ ngàng.

Những tiết mục biểu diễn sâu sắc và thấm đẫm nhân văn ấy đã làm chấn động lòng người. Khi tấm màn hạ xuống, người ta lại tự hỏi : “Tây Du Ký” rốt cuộc là tác phẩm thế nào ? Trong kho tàng văn hóa Thần truyền, vì sao “Tây Du Ký” có vị trí quan trọng đến như vậy ? Chúng ta hãy cùng trở lại với nguyên tác của Ngô Thừa Ân để tìm hiểu, điều gì đã làm nên một thiên cổ kỳ thư vĩ đại nhường ấy?

“Tây Du” kỳ thư

“Tây Du Ký” được Ngô Thừa Ân viết vào giữa thời kỳ nhà Minh trong thế kỷ 16. Tác phẩm kể về hành trình của bốn thầy trò Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh cầu Phật Pháp.

Đường Tăng là một nhân vật có thật trong lịch sử. Ông họ Trần, tên Y, pháp danh là Huyền Trang, vốn là người ở huyện Câu Thị, Lạc Châu (ngày nay là Yến Sư, tỉnh Hà Nam). Huyền Trang sinh ra vào năm thứ hai niên hiệu Nhân Thọ, thời Tùy Văn Đế (năm 602), lên 11 tuổi thì xuất gia. Từ nhỏ Huyền Trang đã nổi tiếng là thông minh đĩnh ngộ, tư chất siêu phàm, trở thành tăng nhân nổi tiếng khắp kinh thành khi đó.

Vì Phật Pháp lưu truyền tại Trung Thổ thời bấy giờ còn có nhiều chỗ không rõ ràng, nên vào năm thứ 3 niên hiệu Trinh Quán (năm 629), Huyền Trang đã từ kinh đô Trường An nhà Đường sang Tây Thiên thỉnh kinh. Suốt dọc đường ông đã đi qua Tân Cương, Trung Á, trải qua 17 năm ròng rã, trèo đèo lội suối hơn 5 vạn dặm đường. Cho tới năm thứ 19 niên hiệu Trinh Quán (năm 645), ông đã về đến Trường An, mang theo 657 bộ kinh Phật tiếng Phạn.

Sau đó ông lại tổ chức phiên dịch kinh sách, dịch ra 75 bộ Kinh, Luận, tổng cộng là 1335 quyển. Huyền Trang đã trở thành nhà Phật học, nhà phiên dịch, nhà lữ hành đầu tiên trong lịch sử có cống hiến đặc biệt trong việc lưu truyền Phật Pháp vào phương Đông.

Từ sau đời nhà Đường, câu chuyện Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh được lưu truyền rộng rãi, dần dần trở thành truyền kỳ nửa thực nửa hư, phong phú ly kỳ. “Tây Du Ký” dựa trên câu chuyện Đường Tăng cầu Pháp, rồi thêm vào đó các tình tiết huyền ảo, mang màu sắc thần tiên. Khi tác phẩm vừa mới ra đời, Đường Tăng, Ngộ Không, Bát Giới, và Sa Tăng đã trở thành những nhân vật nhà nhà đều biết, người người đều hay.

Những câu chuyện như “Đại náo thiên cung”, “Ba lần đánh Bạch Cốt Tinh”, “Ba lần mượn quạt Ba Tiêu”, “Tây Lương nữ quốc”, v.v. đã trở thành bộ phận độc đáo hấp dẫn lòng người của văn hóa Trung Hoa.

Duyên khởi lấy kinh

Trong “Tây Du Ký”, cuộc thỉnh Kinh bắt đầu từ một niệm phổ độ chúng sinh của Phật Đà. Đức Phật Như Lai nói : “Ta xem trong bốn đại bộ châu, chúng sinh thiện ác có khác nhau. (…) Duy có người Nam Thiệm Bộ Châu tham dâm gây họa, hay giết hay tranh, chính là nơi đánh nhau cãi cọ, bể ác thị phi”.

Sau đó, Đức Phật muốn tìm người có pháp lực sang phương Đông chọn lấy một thiện tín, bảo người ấy chịu đựng gian khổ, vượt qua muôn núi nghìn sông, đến đất Phật cầu lấy chân kinh để lưu truyền sang phương Đông mãi mãi, khuyến hóa chúng sinh. Quan Âm Bồ Tát lĩnh mệnh, quả nhiên đã tìm được thầy trò năm người, trải qua chín chín tám mươi mốt kiếp nạn, cuối cùng đã lấy được chân kinh, năm người đồng thời cũng tu thành chính quả.

Nói đến thầy trò Đường Tăng, mỗi người đều có lai lịch đặc biệt. Đường Tăng vốn là Kim Thiền Tử, là đồ đệ thứ hai của Như Lai Phật Tổ. Vì khinh mạn Phật Pháp mà bị giáng xuống hạ giới, thác sinh thành Đường Huyền Trang.

Tôn Ngộ Không vốn là khỉ đá trong Thủy Liêm động trên núi Hoa Quả Sơn. Bởi nhận thấy sinh mệnh vô thường, Ngộ Không đến Tây Ngưu Hạ Châu tìm học thuật trường sinh, học được 72 phép thần thông biến hóa và thuật cân đẩu vân. Về sau bởi tâm tranh đấu không bỏ, đại náo thiên cung, Ngộ Không bị Như Lai Phật Tổ đè xuống núi Ngũ Hành suốt 500 năm.

Trư Bát Giới nguyên là Thiên Bồng Nguyên Soái trấn giữ Thiên Hà, bởi uống rượu say chọc ghẹo Hằng Nga, bị Ngọc Đế phạt đánh hai trăm chùy, đày xuống phàm trần. Sau cùng chuyển sinh vào bụng heo, trở thành hình dáng xấu xí mũi dài tai rộng.

Sa hòa thượng vốn là Quyển Liêm đại tướng ở điện Linh Tiêu, bởi sơ ý làm vỡ chén ngọc lưu ly mà bị Ngọc Đế đày xuống hạ giới, bị trừng phạt phi kiếm xuyên ngực ở Lưu Sa Hà, chịu đói chịu rét, phải bắt người ăn thịt mà sống qua ngày.

Còn Bạch Long mã vốn là con trai của Tây Hải Long vương Ngao Nhuận, bởi phóng hỏa đốt cháy viên minh châu trong điện nên phụ thân tâu lên thiên đình, tố cáo tội ngỗ nghịch, khiến Ngọc Đế phạt treo thân trên không trung, đánh ba trăm gậy, chuẩn bị nhận án tử hình.

Quan Âm Bồ Tát đến Đông Thổ tìm người đi lấy kinh là vào năm 13 Trinh Quán nhà Đường. Lúc ấy, vua Đường Thái Tông tổ chức đại hội Thủy Lục, thỉnh mời cao tăng đắc đạo tới giảng kinh thuyết pháp – vị cao tăng đó cũng chính là hòa thượng Huyền Trang. Quan Âm Bồ Tát hóa thân thành lão hòa thượng chốc đầu, điểm hóa Huyền Trang đến đất Phật Như Lai ở chùa Đại Lôi Âm, nước Thiên Trúc để thỉnh cầu Phật Pháp. Sau đó, Thái Tông kết nghĩa huynh đệ với Huyền Trang, rồi cử người hộ tống Huyền Trang sang Tây Thiên thỉnh kinh.

Dọc đường, Huyền Trang đã thu nhận Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng làm đồ đệ, còn Tiểu Bạch Long đang chờ xử trảm cũng hóa thành ngựa trắng đưa Đường Tăng lên đường. Thầy trò năm người, đồng tâm hiệp lực, vượt qua muôn vàn khó khăn nguy hiểm, trải qua hết thảy 81 nạn, cuối cùng công đức viên mãn.

Nét đặc sắc trong Tây Du Ký

1/- Cảnh giới : Điều kỳ diệu trong “Tây Du Ký” chính là ở cảnh giới. Khác với việc lấy kinh trong lịch sử, câu chuyện trong “Tây Du Ký” vượt qua Tứ Đại Bộ Châu, thế giới mười phương, không kể là bảo điện Linh Tiêu của Ngọc Hoàng Đại Đế hay là bảo điện Lôi Âm của Phật Như Lai, không kể là Tứ Hải long cung hay là U Minh địa phủ, cũng bất kể là Thông Thiên hà sóng nước cuồn cuộn hay Hỏa Diệm sơn ngọn lửa hừng hừng, hết thảy đều đã trở thành sân khấu biểu diễn của người thỉnh chân kinh.

2/- Tình tiết : Điều ly kỳ trong “Tây Du Ký” chính là ở tình tiết. Thạch hầu vốn là một tảng đá hấp thụ thiên chân địa tú, tinh hoa nhật nguyệt trên Hoa Quả Sơn. Chỉ nói riêng đến xuất thân thì câu chuyện của Ngộ Không đã rất ly kỳ rồi. Nhưng đặc biệt hơn cả, thạch hầu sẵn sàng từ bỏ vinh hoa phú quý ở Hoa Quả Sơn và cuộc sống tự tại tiêu diêu nơi Thủy Liêm động mà quyết chí vân du tầm sư học đạo.

Ngộ Không gặp được Sư Tổ Bồ Đề đã học biết 72 phép biến hóa thần thông; sau lại xuống Long Cung của Đông Hải Long Vương lấy được cây định hải thần châm, có thể biến hóa tự do như ý; đến khi đại náo Thiên Cung, bị nhốt trong lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân lại luyện được hỏa nhãn kim tinh, có thể lên trời xuống đất, hô phong hoán vũ, thật quá ly kỳ.

Nhưng điều ly kỳ hơn là, dù con khỉ ấy có thần thông quảng đại đến đâu, vẫn không nhảy ra khỏi lòng bàn tay của Như Lai. Mỹ hầu vương có thật có giả, Đường Tăng có thật có giả, Lôi Âm tự có thật có giả, đều đã ly kỳ lắm rồi. Càng ly kỳ hơn nữa, là ngay đến cả kinh Phật ở Tây Thiên Phật thổ cũng có thật có giả.

Những màn khác như đấu phép ở Xa Trì quốc, hái trộm nhân sâm ở Ngũ Trang quán, ba lần đánh Bạch Cốt Tinh, uống nước sông Mẫu Tử rồi mang thai, đàm luận thơ từ ở am Mộc Tiên, thật là kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của con người.

3/- Nhân vật : Đặc sắc của tác phẩm nằm ở nhân vật. Thế giới “Tây Du Ký” không chỉ có người phàm nơi nhân thế mà còn có Thần Phật nhiều không đếm xuể; trong đó không chỉ có Như Lai, Bồ Tát, La Hán, Kim Cang của Phật gia, mà còn có Ngọc Đế, Vương Mẫu, Lão Quân, Thiên Vương của Đạo gia; không chỉ có chính Thần, mà còn có các dạng yêu ma quỷ quái, quỷ mị võng lượng.

Trong năm thầy trò, Bạch Long hóa ngựa đã ly kỳ rồi, càng ly kỳ hơn là Sa Tăng ở Lưu Sa Hà ăn thịt người sống qua ngày, một khi quy y Chính Pháp thì lại chịu cực chịu khổ, đạo tâm kiên cường bất phá. Bát Giới tham ăn biếng làm, sắc tâm không bỏ, ở rể Cao Lão trang đã rất thú vị rồi; càng thú vị hơn là huynh trưởng

Ngộ Không giỏi hàng yêu bắt quái, với bản lĩnh lên trời xuống đất, trước sau một lòng bảo hộ Đường Tăng thân phàm xác thịt sang Tây Thiên lấy kinh. Chỗ đặc sắc hơn cả, vẫn là Đường Huyền Trang, một khi đã thề sang Tây Thiên thì dẫu chết cũng không hối hận, tuy trên đường đâu đâu cũng đều có yêu ma quỷ quái chờ ăn thịt, nhưng nhờ vào sự giúp đỡ của bốn vị cao đồ và sự bảo hộ của Thần Phật và Bồ Tát các nơi, mỗi nạn Đường Tăng đều gặp dữ hóa lành, chuyển nguy thành an, cuối cùng đến được Đại Lôi Âm, công đức viên mãn.

Diệu lý huyền cơ

Tục ngữ có câu : “Trong nghề xem lề lối, ngoài nghề xem náo nhiệt”. Với “Tây Du Ký”, điều độc giả yêu thích nhất là những tình tiết biến hoá ly kỳ, những câu nói hài hước dí dỏm, những nhân vật sống động chân phương. Nhưng với những người có hiểu biết nhất định về Phật gia và Đạo gia, thì sẽ không khó phát hiện rằng đây là bộ tiểu thuyết viết về tu luyện, khắp “Tây Du Ký” đâu đâu cũng đầy ắp những diệu lý huyền cơ.

1/, Mỗi quan nạn đều là chấp trước cần phải tống khứ trong quá trình tu hành : Sau khi Đường Tăng thu nhận Ngộ Không làm đồ đệ, quan nạn đầu tiên gặp phải chính là lục tặc (sáu kẻ cướp đường), gồm có : Nhãn Khán Hỷ (Mắt thấy mừng), Nhĩ Thính Nộ (Tai nghe giận), Tỵ Khứu Ái (Mũi ngửi thích), Thiệt Thường Tư (Lưỡi nếm nghĩ), Thân Bổn Ưu (Thân vốn lo), Ý Kiến Dục (Ý thấy muốn).

Sáu tên giặc này ẩn dụ cho lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà Phật gia nói đến. Đánh chết sáu tên giặc này cũng có nghĩa là bài trừ mọi can nhiễu và phiền não mà cảm quan của nhục thân mang đến cho người tu luyện.

81 kiếp nạn, mỗi một nạn đều đối ứng với tâm chấp trước cần phải trừ bỏ. Phá trừ những quan nạn này, không phải là tiêu diệt số yêu ma quỷ quái hữu hình kia, mà là tu bỏ ma chướng trong tâm người tu luyện. Vậy nên, trong số 81 nạn, có nạn thì nhắm vào tâm sợ hãi của Đường Tăng, có nạn thì nhắm vào tâm tranh đấu của Ngộ Không, có nạn lại nhắm vào tâm tham lam lười biếng và háo sắc của Bát Giới.

Trong hồi thứ 50, khi Ngộ Không ra ngoài xin cơm chay, Đường Tăng, Bát Giới, Sa Tăng đến một gian nhà cũ và nhìn thấy trên bàn có những chiếc áo chẽn bằng gấm. Lúc này tiết trời đang lạnh, Bát Giới và Sa Tăng không chịu nổi cám dỗ, bèn mặc thử cho ấm tấm lưng. Không ngờ vừa mới khoác áo lên người, ngay lập tức bị hai chiếc áo trói chặt lại. Ngộ Không đã phải nhiều phen lao đao vất vả, cuối cùng mới được Thái Thượng Lão Quân ra tay hàng phục Kim Đâu Đại Vương, cũng chính là con trâu xanh của Ngài.

Hồi thứ 98 trong “Tây Du Ký”, thầy trò Đường Tăng trải qua muôn vàn cực khổ, cuối cùng mới đến được chùa Đại Lôi Âm ở Tây Thiên, hai vị Tôn giả A Nan, Ca Diếp phụng mệnh Phật Như Lai dẫn thầy trò đến bảo các lấy kinh. Hai vị Tôn giả xin lễ vật không thành, bèn trao cho họ kinh Phật không có chữ. Hành giả đến cáo trạng với Như Lai, không ngờ Phật Tổ nói rằng :

“Nhà ngươi cứ bình tĩnh. Việc hai người vòi lễ các ngươi ta đã biết rồi. Có điều kinh cũng không phải trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được. Trước kia các Tỳ Kheo thánh tăng xuống núi cũng đem kinh này tụng hết một lượt cho nhà trưởng giả họ Triệu ở nước Xá Vệ, giúp cho nhà ấy người sống yên ổn, kẻ chết siêu thoát, thế mà chỉ lấy có ba đấu ba bơ vàng cốm của họ mang về thôi. Ta còn bảo họ bán kinh rẻ quá, con cháu đời sau lấy tiền đâu mà tiêu. Nhà ngươi tay không đến cầu, nên họ mới trao cho những quyển trắng tinh. Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay. Các ngươi là chúng sinh ở cõi Đông u mê ngu tối, lẽ ra chỉ nên trao cho những thứ đó thôi”.

Hai tôn giả lại dẫn bốn thầy trò đến dưới lầu ngọc gác báu, nhưng vẫn đòi Đường Tăng phải đưa tiền lễ vật. Tam Tạng không có gì dâng lên, đành phải bảo Sa Tăng lấy bát tộ vàng tía dâng lên. A Nan “hổ thẹn, mặt mũi nhăn nhúm, nhưng tay vẫn giữ chặt lấy cái bát tộ”.

Tình tiết này, trước nay đều bị người đời xem là ngòi bút trào phúng của Ngô Thừa Ân : ngay đến cả Thế giới Tây Thiên Cực Lạc cũng có chuyện tham ô nhận hối lộ. Thật ra, người tu luyện với mọi tâm chấp trước đều phải dứt bỏ mới có thể công thành viên mãn.

Tham luyến của Đường Tăng với cái bát tộ vàng, đó đã là có tâm tham tài ái vật, lại có nhân tình với vua Đại Đường trong đó, mà những thứ này vừa khéo lại là tâm mà người tu luyện phải trừ bỏ. Nếu như không thể trừ bỏ những tâm này, thì tâm hữu lậu, không thể nói đến chuyện công đức viên mãn được.

2/, Mọi quan nạn đều là an bài khéo léo của Thần Phật : Mỗi một quan mỗi một nạn trên đường lấy kinh mà thầy trò Đường Tăng gặp phải, đều là an bài khéo léo của Như Lai Phật Tổ và Quan Âm Bồ Tát.

Hoàng Phong quái là con chuột lông vàng đắc đạo dưới chân núi Linh Sơn của Linh Cát Bồ Tát. Hoàng Bào quái là Khuê Mộc Lang – một trong số nhị thập bát tú. Kim Giác Đại Vương, Ngân Giác Đại Vương là hai đồng tử Kim Ngân của Thái Thượng Lão Quân. Linh Cảm Đại Vương là con cá vàng được nuôi trong ao sen của Quan Âm Bồ Tát. Độc Giác Đại Vương là vật cưỡi của Thái Thượng Lão Quân.

Hoàng Mi Lão Quái là đồng tử lông mày vàng gõ chuông khánh của Phật Di Lặc. Thanh Mao Sư Tử quái, Hoàng Nha Lão Tượng quái là vật cưỡi của hai vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền; Đại Bàng tinh là cậu của Phật Như Lai. Quan Âm Bồ Tát lợi dụng quan hệ nhân duyên giữa các sinh mệnh, vừa kết thúc nợ nghiệp giữa các sinh mệnh, lại giúp đỡ thầy trò Đường Tăng tu tâm trừ nghiệp, tu luyện viên mãn.

“Tây Du Ký” xây dựng trên văn hóa tu luyện bác đại tinh thâm trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Những tình tiết, nhân vật, đối thoại, thơ từ trong sách, toàn bộ đều có hàm ý thâm sâu, chứ không phải là những phóng túng nghệ thuật đơn thuần. Bởi vậy, “Tây Du Ký” xứng đáng là báu vật trong kho tàng văn học kim cổ đông tây, mãi mãi tỏa sáng đến ngàn đời. (theo Secretchina)

CẦU NGÓI THANH TOÀN XỨ HUẾ 

– Võ Quang Yến

Thời Thuộc địa, một công chức người Pháp ở Huế, ông Edmond Gras, chịu khó đi tìm xem cầu ngói Thanh Toàn (cầu mái ngói) cách xa thành phố khoảng 10km. Ông đi ngựa cùng với một viên chức địa phương, mất một buổi chiểu mà tìm không ra.

Tuy nhiên ông nhí nhảnh thuật lại trong tờ Đô thành Hiếu cổ BAVH (1917) cuộc hành trình thú vị. Trời hè nóng nhưng mát nhờ con đường đầy bóng cây uốn khúc trên bờ mương, lên xuống mỗi khi qua chiếc cầu tre lắc lư dưới chân ngựa.

Hai bên đường, làng xóm kín đáo núp mình sau các dãy hàng rào cao dày, những ngôi chùa hiu quạnh yên tĩnh dưới bóng cây tối sẩm. Thỉnh thoảng một lỗ trống trong bụi tre xanh để lộ ra một sân nhà quét dọn sạch sẽ quanh đống rơm xây đắp tươm tất, đàn gà con ríu rít bíu chân mẹ, chú heo đen kêu en éc trong rọ mây.

Trong một kiệt nhỏ, mùi hương thơm hoa sứ ngào ngạt như để át mùi phân trâu, phân bò. Một cậu bé trần truồng bất thình lình thấy chúng tôi, lấy roi đập đẩy đàn trâu sang môt bên như để dọn đường rồi nhảy xuống mương… Nhưng chiếc cầu thì vẫn không tìm ra vì như tuồng người dẫn đường cũng chưa khi nào lại viếng cầu !

Trời tối dần, cả hai lấy đò trở về. Trên nền trời đen thẩm, những đám cháy nhắc ông Edmond Gras nhớ đến những ngọn lửa Saint-Jacques ở quê Provence xa xăm của ông. Thì ra người nào đi xa cũng luôn ấp ủ trong lòng hình bóng quê hương của mình.

Ông đã trờ lại Thanh Toàn với cha Leopold Cadière, tổng biên tập tờ BAVH, lần nầy đi xe kéo và thấy được cầu. Thì ra cầu có thật : cột gỗ dài cao trên mặt nước, lợp mái ngói tráng men, hình cong trông từ xa như một con rồng uốn lưng. Trên cầu, những người rảnh rang dạo lượn chân không, học sinh đua thử thăng bằng trên các rầm kèo,… Ông không quên vẽ một bức tranh minh họa bài báo trong tương lai.

Cũng trong cùng tờ báo BAVH còn có hai bài viết về chiếc cầu Thanh Toàn của ông Công sứ Richard Orband, quan chức hành chính dân sự (cùng năm 1917) và của ông Hippolyte Lebreton Hiệu trương trường Quốc học, mười sáu năm sau (1933). Cả hai tác giả nầy đều cỏ miêu tả tỉ mỉ con đường từ Huế về cầu, kiến trúc cây cầu đồng thời lượt thuật lịch sử một kiệt tác hiếm có.

Ở miền Trung, hai chiếc cẩu có lối kiến trúc đặc biệt và giá trị nghệ thuật cao nhất Việt Nam là cầu Nhật Bản tức Chùa Cầu ở Hội An (lúc bấy giờ gọi Faifo) và cầu Thanh Toàn cạnh Huế. Cầu ngói Thanh Toàn có cầu kết thượng gia hạ kiều (trên nhà dưới cầu), là một tác phẩm kiến trúc nhỏ nhắn dài 16,85m (43 thước mộc), rộng 4,63m (14 thước mộc), gồm có bảy gian, gian giữa dùng để thờ cúng.

Hệ thống trụ đỡ sắp thành ba hàng, có chung một khối mộng để chống lún. Mỗi hàng có trụ bằng đá, sáu cột. Hai đầu là hai mố cầu, trang bị bảy hệ thống thống thoát nước. Hệ thống trụ đỡ nối liền các đầu mối cầu. Các thanh bê tông chay dọc từ hai đầu vào giữa dốc dần lên đến gần gian giữa thì nằm ngang.

Tư thế nầy khiến cả mặt cầu lẫn mái cầu trông như gãy khúc, nâng cổng giữa lên cao tạo một hình dáng duyên dáng, khỏe mạnh, đồng thời giúp ghe thuyền qua lại dễ dàng. Trên cầu, các hệ thống trụ cầu có dầm gỗ bắc ngang thành cơ sở dựng cột làm khung nhà. Mỗi vi có bốn hàng cột, giữa hai cột là lòng cầu làm lối đi lại. Từ hai bên cột cái trở ra là cột hiên nâng lên cao làm chỗ hóng mát. Bên ngoài có lan can chấn song để ngồi khỏi ngã. Mọi phần đều thông thoáng, chỉ có phần sườn cầu làm bàn thờ thì bịt kín. Các hệ thống xà thượng, xà hạ đều sắp xếp theo lối xà kép, xà trên nằm trên đầu cột, xà dưới di chuyển qua mộng cột.

Các bộ phận kiến trúc đều bằng gỗ, nhưng không chạm khắc hay trang trí mà chỉ gồm hai loại tiết diện tròn và vuông. Các nghệ nhân đã chạm khắc hình con vật với chủ đề tứ linh ở bộ mái cây cầu : long lân quy phụng. Về trang trí, trước đó chỉ có con giao long, sau này nhường chỗ cho con rồng ở hai đầu và đôi phượng chầu mặt trời ở giữa.

Sử sách ghi làng cũ mang tên Thanh Toàn từ hồi 12 vị tộc trưởng khai canh thế kỷ XVI. Những vị nầy phần lớn là người Việt quê gốc Thanh Hỏa theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa (có tài liệu cho là chậm hơn), nhưng cũng có người Chăm đã sống tại chỗ từ trước. Cũng có thể hai dân tộc sống chung đụng với nhau, ngay cả trong cùng một tộc.

Qua thời Thiệu Trị (1841-1847) chữ Hoàng là tên húy ( ?) nên làng đổi tên thành Thanh Thủy. Làng đông người nên chia ra hai : Thanh Thủy Chánh và Thanh Thủy Thượng, tên giữ nguyên vẹn cho đến nay. Cầu ngói Thanh Toàn nằm ở làng Thanh Thủy Chánh thuộc xã Thủy Thanh, hượng Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Lịch sử cầu dính liền với tiểu sử bà Trần Thị Đạo. Bà người làng Thanh Thủy, cháu sáu đời một trong 12 vị khai canh làng. là vợ của Khâm sai, Chủ sự Hoàng cung, Tổng chỉ huy bộ binh và thủy binh, Tổng đốc của ba huyện Hương Trà, Phú Vang và Quảng Điền, Tứ Xuyên Hầu Phan Trọng Phiên, Nhất trụ triều đình. Vào thời nhà Trịnh đánh chiếm Phú Xuân,

Bà theo chồng ra bắc, nhưng được một thời gian bà trở về bản quán sinh sống. Bà không ngần ngại vượt qua bao mệt nhọc để theo đuổi cuộc hành trình cùng với đoàn của vua. Bà đã dũng cảm làm trọn ba nhiệm vụ của phái nữ. Bà còn để lại cho làng bà nhiều ân huệ mà người ta cần lưu niệm .

Làng Thanh Thủy có một con mương chảy qua, thường hằng ngày dân địa phương phải dùng thuyền, không thì mất thì giờ đợi đò ngang, rất vất vả khi trời đông giá, rét mướt. Mang một bụng dạ thương người, tấm lòng đức độ, thấu hiểu nỗi khó nhọc của người dân quê, bà bỏ tiền túi thuê làm chiếc cầu có mái lợp phòng khi trời mưa gió, cũng là nơi dừng chân của khách bộ hành tìm bóng mát những ngày nắng nóng.

Bà không dè cầu lại là nơi ngắm trăng, hóng gió. Tuy cầu được cấu trúc như một ngôi nhà bình thường nhưng lại là một ngôi nhà ấm áp khi đông về và mát mẻ khi nắng lên. Cầu cũng là nơi dạt dào tình thương nên trai thanh gái lịch trong vùng lại ca hát, giao duyên, hẹn hò, tình tứ.

Ở hai lối vào cầu có hai hàng câu đối chữ Hán được khắc lên trên cầu, nhưng thời gian làm hao mòn nên khó tìm ra câu nguyên vẹn : Kiệt cấu thiên thu truyền thắng tích, ngỏa kiều thắng cảnh cựu quy mô. Tạm dịch : Kiệt tác kiến trúc này là một di tích lưu truyền mãi nghìn năm sau, cầu ngói là một thắng cảnh làm theo quy mô cũ. Còn có câu: Tế xuyên mâu bửu phiệt, thanh thủy thắng hồng lâu. Tạm dịch : Qua sông là bè quý, nghỉ mát ấy gác son.

Căn cứ vào tờ Sắc của vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 thì cầu được xây vào năm 1776. Theo sử sách năm 1925 ghi lại thì vua Khải Định đã ban tặng cho bà Trần Thị Đạo tước vị “Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù”. Vua còn hạ lệnh cho dân làng lập bàn thờ trên cầu để thờ bà và mong bà phù hộ độ trì cho dân làng.

Bên phần dân làng cũng không nề hà và lại sinh hoạt quanh cầu. Phía chân cầu là một vùng đất rộng, người ta đến đây để vui chơi và họp chợ. Giữa vùng đất còn có một cái đình không biết xây từ bao giờ, giao lưu buôn bán cũng không ai rõ từ hồi nào.

Người xưa kể lại chợ trước đây không lớn như bây giờ, buôn bán chỉ có những mặt hàng rất nhỏ như mớ rau, mớ cá, trái cau, lá trầu… Riêng tôi còn thấy trẻ chăn trâu, người đánh cá, hai bà già ngồi cạnh cầu bán cau trầu, thuốc lá trước khi có hội hè đình đám.

Trong rất lâu, người dân đánh cá, bắt cua đưa đến đây trao đổi với nhau qua thời gian tạo nên cái chợ làng. Dần dần đời sống phát triển, các mặt hàng xuất hiện ngày càng đa dạng hơn, hình thức buôn bán cũng trở nên to lớn hơn. Nhưng chợ luôn tự nhiên giới hạn và luôn còn mang nét quê Việt Nam.

Chính vì mang đậm nét bản thể thôn dã cho nên nơi đây được chọn làm hội chợ quê, vào những ngày lễ hội trong thời kỳ festival Huế. Cần phải nhận định, như việc mở mang cần thiết phố xá ngoại ô thành phố, cái bản sắc làng quê căn bản cuộc phát triển liệu rồi có bị hao mòn tiêu biến không.

Ngoài lễ hội chợ quê hai năm một lần thì vào ngày mồng ba tết nguyên đán hàng năm, nơi đây còn tổ chức cuộc đánh bài chòi. Đây là một trò chơi dân gian xưa mang đậm bản sắc và văn hóa người Việt Nam. Ngoài ra còn có một đám lễ nữa cũng được tổ chức linh đình không kém vào ngày rằm tháng tám, theo người dân địa phương thì là ngày giỗ của bà Trần Thị Đạo.

Họ rước bà từ đình ra cầu cúng lễ, rồi lại rước bà trở lại đình. Sau lễ, các trò chơi cho nhân dân trong làng như ca hát, hò giả gạo, đua thuyền trên mương và kéo co được tồ chức, gây thư giản cho dân quê suốt năm cặm cụi công việc.đồng án.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

CHUYỆN ÔNG GIÀ BA TRI & CẢ CẦN

Logo bay gio ke

9-ba-tri-5ĐI TÌM LỊCH SỬ

ÔNG GIÀ BA TRI”

*Miền Nam có thành ngữ “Ông Già Ba Tri” để chỉ mấy ông già gân, hổng ngán gì hết ! nhưng  không mấy người biết chuyện Ông Già Ba Tri

Ông Già Ba Tri tên thiệt là Thái Hữu Kiểm, sống ở Ba Tri, Bến Tre từ thế kỷ 18. Năm 1806, ông Kiểm dựng chợ Trong bên cạnh rạch Ba Tri, giúp cho dân cư ở khu này mần ăn. Dè đâu mấy cha ở chợ Ngoài đắp đập chặn không cho ghe thuyền từ sông Hàm Luông vô chợ Trong. Chợ ế, dân khóc ròng !

Ông Kiểm nổi quạu, kiện lên quan huyện. Hổng biết quan có ăn hối lộ không, mà phán : “Sông bên làng xã nó nó đắp đập thây kệ cha nó !”. Ông Kiểm thua kiện ! Già mà gân, ông Kiểm nói : “Kiện lên quan hổng được, lão kiện lên… vua !”.

Hèm, hồi đó làm gì có internet hay báo chí, nên ổng hổng có lên blog để kêu được, cũng không có báo chí, điện thoại, thư tín cũng không ! Con đường chắc chắn nhất để khiếu kiện là… đi bộ ra kinh đô gặp vua.

Các bạn biết từ Ba Tri ra Huế bao xa hông ? Theo bản đồ hiện nay với đường sá đàng hoàng là có…1.035 cây số hà ! Mà hồi đó hổng có xe khách chất lượng cao 9-ba-tri-1– giường nằm, càng hổng có máy bay. Đoạn đường miền Tây thì sông rạch chằng chịt mà đâu có đủ cầu như bây giờ. Ra tới Trung thì đèo núi cheo leo.

Hồi mấy năm trước, Hai Ẩu có dịp đi Ba Tri. Từ thành phố Bến Tre đến Ba Tri khoảng 35 km, Hai Ẩu đi bằng xe hơi mà nghe rêm cả mình mẩy vì ổ gà ổ voi quá chừng. Vậy đó, vậy mà ông già Kiểm lặn lội từ Ba Tri ra Bến Tre, ra Mỹ Tho, Sài Gòn… rồi ra tuốt tới đèo Hải Vân, qua đèo để tới Huế. Bái phục ổng thiệt !

Ra tới kinh thành ổng oánh trống thùng thùng đòi gặp vua để kiện. Vua Minh Mạng ra tiếp, hỏi ổng : Khanh ở mô mà ra đến tê ?”. Ổng nói : Lão ở Ba Tri !”.

Rồi kể lể nguồn cơn sự việc. Minh Mạng nói : Trẫm pó tay chấm com với khanh luôn. Thế rồi vua xử cho ổng thắng kiện. Từ đó, ông Kiểm được tặng cho biệt danh Ông Già Ba Tri. Và cũng từ đó thành ngữ Ông Già Ba Tri ra đời để chỉ mấy ông già gân, đã chơi là chơi tới bến !

oOo

Như có kể một phần ở trên, đường đến Ba Tri chả thuận tiện tí nào. Xứ ấy cũng chẳng phải là nơi có nhiều thú vui chơi cho những du khách ham dzui như rì-xọot, nhà hàng, khách sạn sang trọng… 9-ba-tri-2Thế nhưng Hai Ẩu vẫn muốn dụ các bạn đến đó chơi một lần cho biết. Trước là biết quê hương “Ông Già Ba Tri (tới đó, bạn sẽ gặp Ông Già Ba Tri, Bà Già Ba Tri, Chàng Trai Ba Tri, Cô Gái Ba Tri, Thằng Nhỏ Ba Tri... ). Sau là… sẽ là một điều bất ngờ đối với bạn.

Đó là thế này : Cái huyện Ba Tri nhỏ bé ở miền xa heo hút ấy có đến 3 ngôi mộ của 3 vị danh nhân văn hóa lớn trong lịch sử Việt Nam !

Một là lăng mộ và đền thờ cụ Đồ Chiểu. Cùng với mộ Nguyễn Đình Chiểu là mộ vợ và con gái ông (Nữ Sĩ Sương Nguyệt Anh). Hai là lăng mộ và đền thờ của nhà giáo Võ Trường Toản. Và ba là mộ của quan Đại Thần Phan Thanh Giản.

Nếu thăm các di tích và tỏ lòng kính ngưỡng với tiền nhân chưa đủ hấp dẫn với bạn, thì xin giới thiệu với bạn thêm một điểm du lịch sinh thái: Sân chim Vàm Hồ ở Ba Tri.

* Sự thật và huyền thoại về Ông Già Ba Tri

Từng được coi là một trong những huyền thoại về sự can đảm, đức độ, Ông Già Ba Tri gần như là một khuôn mẫu cho hình ảnh một cụ già miền Tây Nam bộ. Xung quanh nhân vật mang đậm màu sắc dân gian 9-ba-tri-3này còn nhiều chuyện lạ lùng được truyền tai nhau qua nhiều thế hệ.

Như chuyện ông đã đi bộ hơn ngàn cây số từ Bến Tre ra kinh thành Huế dâng đơn khiếu nại, thưa kiện với nhà vua đương triều về một việc đến nay vẫn còn tranh cãi, đó là chuyện lấp sông ngòi, kênh rạch phía thượng nguồn.

* Chuyện đời người đi mở cõi

Ông Già Ba Tri tên thật là Thái Hữu Kiểm (hay Cả Kiểm) sống vào thời đầu của triều vua Minh Mạng, tức là khoảng những năm 1820. Ông Kiểm là cháu nội của ông Thái Hữu Xưa, một người quê ở Quảng Ngãi nhưng đã xuôi thuyền vào vùng đất Ba Tri này dựng làng, lập nghiệp, xây chợ cho cư dân quanh vùng, được người dân vô cùng nể trọng và tôn kính.

Ngoài ra, lúc còn trẻ, ông Kiểm còn có công giúp Nguyễn Ánh trong những năm tháng loạn lạc chinh chiến với nhà Tây Sơn nên được sắc phong chức “trùm cả An Bình Đông” của phủ Ba Tri ngày đó. Có lẽ, chính nhờ tước hiệu của vua Gia Long ban cho mà sau này, dân quanh vùng thường gọi ông là Cả Kiểm. Minh MangTuy nhiên, những câu chuyện lưu truyền hậu thế về ông chỉ thực sự đến khi vua Gia Long mất, thời điểm mà bản thân ông Cả Kiểm cũng đã già.

Có thể nói, với cư dân ven sông Hàm Luông thuở ấy, gia tộc họ Thái Hữu là một gia tộc giàu có, uy tín trong vùng. Lúc đó, để mở rộng sinh hoạt cũng như việc làm ăn buôn bán, ông Cả Kiểm đã cho xây dựng chợ Trong (nay là chợ Ba Tri) để người dân thuận tiện trao đổi hàng hóa, thông thương với môi trường bên ngoài nhằm phát triển kinh tế.

Theo đó, do lưu thông đường thủy, đường bộ đều thuận tiện nên dân cư vùng lân cận như Phú Lễ, Bình Tây, Mỹ Chánh… kéo vào chợ Trong ngày một đông, không khí rất tấp nập, hàng hóa đa dạng vô cùng. Các thương lái buôn vải, thủy sản, nông sản, muối, rượu… ở tới tận Mỹ Tho, Trà Vinh, Tam Hiệp, Tân An… cũng men theo sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên, đi qua kênh Ba Tri, con rạch duy nhất vào chợ để tìm đến đây thông thương khiến nơi này bỗng chốc trở nên nhộn nhịp khác thường. Có thể nói, từ khi chợ Ba Tri này được xây dựng, cuộc sống của người dân có nhiều thay đổi, ai cũng thích thú và vui mừng.

Thế nhưng, có một người là ông Xã Hạc, chủ một khu chợ Ngoài đã xây dựng trước đó, nằm ở phía đầu con kênh Ba Tri ngày ấy đã tỏ ra không hài lòng bởi khu chợ của ông đã bị vắng khách từ đó. Thế là, ông Xã Hạc bèn cho người đắp kênh, ngăn đập chắn ngang dòng Ba Tri để ghe thuyền không thể đi từ sông Hàm Luông đi vào chợ Trong được nữa.

Biết chuyện, ông Cả Kiểm bèn đâm đơn kiện ông Xã Hạc lên quan tri huyện, rồi quan tri phủ. ong-giaNgày ấy, vùng Ba Tri này còn thuộc địa phận hành chánh của tỉnh Vĩnh Long nên quan tri phủ Vĩnh Long xử cho ông Xã Hạc thắng kiện với lý lẽ theo kiểu “lệ làng” là đất, sông, kênh, rạch ở làng nào thì làng đó được quyền đào, đắp. Nghĩa là, chuyện ông Xã Hạc đắp một phần rạch Ba Tri chảy qua địa phận của làng ông ở là đúng, không xâm phạm đến đất, kênh rạch của cư dân ở làng khác, dưới dòng Ba Tri.

Có thể nói, đây là cách mà hầu hết các quan lại thời phong kiến thời đó vẫn thường phán xử trong những vụ án tranh chấp. Nhiều người gọi đó là luật làng, là những điều mà dân gian đã từng cho là đúng. Thế nên, do bị bịt mất tuyến đường thủy quan trọng từ sông Hàm Luông dẫn vào, chợ Trong của ông Cả Kiểm lại trở nên vắng khách, tiêu điều. Tuy nhiên, không hài lòng với cách xử của quan tri phủ Vĩnh Long, ông Cả Kiểm đã quyết định lên tận kinh thành Huế xa xôi để dâng đơn kiện tới tận nhà vua, quyết chí kêu oan.

Trong thời gian tìm hiểu về những giai thoại hư và thực quanh nhân vật Ông Già Ba Tri, chúng tôi may mắn gặp ông Trần Văn Tư, 77 tuổi, một người sinh ra và lớn lên ở vùng đất Phú Lễ, Ba Tri. Ông Tư kể với chúng tôi, ở khắp vùng này, từ phía An Thủy, Bảo Thuận cho tới tận Tân Thị, Vàm Hồ… không ai là không biết đến ông già Ba Tri mặc dù những thông tin về đời tư của ông đều là truyền miệng, từ đời này qua đời khác chứ chưa có một tài liệu chính sử nào nhắc tới.

Theo đó, sau khi người dân vùng chợ Ba Tri đang buồn rầu vì con rạch Ba Tri bị lấp mất, chợ vắng vẻ nên ông Cả Kiểm quyết định khăn gói đi bộ cùng hai người bạn già của mình ra tận kinh thành để kêu kiện, dâng đơn lên nhà vua đương triều là Minh Mạng.

9-ba-tri-6

Về chuyện này, có nhiều giai thoại khác nhau. Trong đó, có người bảo bên bị đơn là ông Xã Hạc thực ra cũng là một người bạn của ông Cả Kiểm. Hai ông đều muốn mình thắng kiện để chứng minh mình đúng chứ không phải ăn thua hơn thiệt gì nên ông Xã Hạc cũng theo ông Cả Kiểm ra tận kinh thành Huế với mong muốn được gặp vua đương triều là vua Minh Mạng đòi phân xử. Tuy nhiên, theo một số người già khác ở vùng Ba Tri thì đi theo ông Cả Kiểm ra kinh thành dâng đơn khiếu nại chỉ có 2 người bạn già là ông Nguyễn Văn Tới và Lê Văn Lợi.

* Vụ kiện để đời

Kể tiếp về câu chuyện, vừa uống thêm ngụm nước, ông Tư vừa chậm rãi bảo, với những người dân miền Tây chúng tôi, vụ tranh chấp giữa ông Cả Kiểm và Xã Hạc không đơn giản chỉ là vụ kiện để tìm ra người thắng, kẻ thua mà còn là dấu mốc để xóa bỏ cách hành xử theo lệ làng, cũng được coi là dấu mốc của việc tranh chấp đất đai, dòng sông và nguồn nước đầu tiên ở mảnh đất này.

Riêng về chuyện lặn lội lên tận kinh thành Huế, ở những năm 1820, phương tiện đi lại hầu như chỉ có đi bộ nên phải mất gần nửa năm trời, đoàn cả “bị đơn – nguyên đơn” của ông Cả Kiểm mới tới nơi.9-ba-tri-7Tương truyền, khi ấy ở thành Đại nội có một cái trống kêu oan gọi là trống Đăng Văn, đặt giữa sân chầu, tiếng của nó vang xa mười dặm, ai có oan ức đều có thể vào đó đánh ba hồi trống để vua biết.

Sau khi nghe tiếng trống, vua sẽ lệnh cho quan Tam Pháp ty xử án. Nếu khiếu nại đúng, sẽ được minh oan, giải quyết thỏa đáng còn nếu sai, sẽ bị trị tội để tránh việc người gióng trống vu khống. Ngoài ra, một số vị vua nhà Nguyễn thời sau đó còn cấm người dân trong Đại nội đánh trống để vua phân biệt được với tiếng trống Đăng Văn, như một hình thức trân trọng những người đi kêu oan, khiếu kiện.

Còn về chuyện Ông Già Ba Tri, sau khi đơn khiếu nại được vua Minh Mạng xem xét, thấu đáo tình hình, nhà vua đã bác bỏ cách xử của quan phủ Vĩnh Long và phán rằng : “Lòng sông lòng rạch là của chung, không phải của làng này, làng kia nên quan huyện, phủ phải coi phá đập để dòng chảy thông thương”. Điều đó có nghĩa là ông Cả Kiệm đã thắng kiện và việc tự ý đắp đập khi dòng kênh Ba Tri chảy qua địa phận làng mình của ông Xã Hạc là sai trái.

Có thể nói, đây cũng chính là vụ án đầu tiên được đích thân vua Minh Mạng xử và phán quyết ngược với những “luật làng” truyền miệng từ trước đến nay. Bản án này, sau đó đã làm nức lòng không chỉ người dân trong vùng Ba Tri mà ngay cả những người dân miền Tây đi mở cõi khác, giúp cho hệ thông sông ngòi kênh rạch được thông thương.

Nhìn rộng ra, phán quyết của nhà vua cũng đồng ý với việc mở rộng buôn bán, phản bác tất cả các hình thức ngăn sông cấm chợ trước đây. Qua đó, họ coi ông Cả Kiểm chính là hình mẫu của những người già mà không chịu khuất phục, Tr bang hoangquyết tâm đi tìm công lý, lẽ phải và trên hết, luôn muốn có những điều tốt đẹp cho mọi người xunh quanh. Sau đó, chợ Trong đổi tên thành chợ Ba Tri (có người còn gọi là chợ Đập) để khắc ghi công lao của ông Cả Kiểm thời bấy giờ.

Sau hơn 200 năm trời, vùng đất ven biển Ba Tri ngày xưa đã trù phú hơn rất nhiều, con đường đất độc đạo ngày xưa giờ đã là bùng binh, nơi giao nhau của 5 tuyến đường tỉnh và huyện lộ khác nhau. Cư dân cũng tập trung đông đúc hơn và gia tộc họ Thái Hữu cũng đã chuyển đến vùng đất khác để định cư nhưng những câu chuyện gắn liền với huyền thoại Ông Già Ba Tri thì mãi mãi vẫn còn lưu truyền cho hậu thế như một câu chuyện đẹp đẽ về hình ảnh những người tuy tuổi cao nhưng vẫn tràn đầy nghị lực và sức sống trong cuộc đời.

Video : Ông Già Ba Tri và các di tích văn hóa địa phương.

https://youtu.be/3uI-ydEEKlc

9-banh-baoĐI TÌM LỊCH SỬ

BÁNH BAO ÔNG CẢ CẦN

“Bánh bao Cả Cần” là thứ bánh bao đặc chất của người miền Nam (sản xuất ở Sài Gòn), khác với bánh bao của người Hoa. “Bánh bao Cả Cần” không trắng như bánh bao gốc của người Hoa, mà hơi hẩm, vì không dùng bột tẩy. Vị bánh bao bùi hơn, ăn không dính răng, nhân bánh bao hoàn toàn là thịt băm, không pha lẫn cá và dầu mỡ như bánh bao của người Hoa.

“Bánh bao Cả Cần” nổi tiếng ở Sài Gòn từ đầu thập niên 70 thế kỷ trước xuất hiện ở vài quán nhỏ tại khu vực đường Nguyễn Tri Phương (quận 5 – Chợ Lớn cũ), sau đó, bánh bao mang tên Cả Cần trở thành một quán độc lập, nằm trọn trên khoảng khuôn viên sát cạnh ngã 4 Nguyễn Tri Phương – Hùng Vương, phía trước công viên Văn Lang.

Người đầu tiên sản xuất thứ bánh bao này là ông Trần Phấn Thắng (đã qua đời từ lâu). Từ nhiều năm nay, Sài Gòn có nhiều nơi sản xuất bánh bao (không kể bánh bao của người Hoa), với những thương hiệu không thể nhớ hết. Bên canh những xe bán bánh bao mang biển hiệu: bánh bao Singapore, bánh bao Đài Loan, 9-ca-can-2bánh bao Malaysia… nhưng bánh bao Cả Cần vẫn cứ đông khách như mọi khi. Và ngày nay, thương hiệu “Cả Cần” đã đi vào lịch sử ẩm thực của Sài Gòn.

1/. Về cái tên ông Cả Cần : Người ta chỉ suy đoán chữ CẢ CẦN dựa theo cái nghĩa đen của nó để thêu dệt rằng: Ông Thắng có cha làm ông Cả tên Cần, theo kiểu HAI LÚA thì chắc có em tên BA GẠO.

Thật ra thì Ông Thắng là người gốc Mỹ Tho là người thứ ba trong nhà, có ông anh tên Trần Phấn Phát, sỹ quan VNCH. Cha ông gốc Tàu Minh Hương, không có làm Hương Cả gì cả. Cả hai anh em rất thích văn chương văn nghệ và có một nhóm bạn rất là văn nghệ sỹ trong đó phải kể đến Nhạc Sỹ Lê Thương (tác giả Hòn Vọng Phu) cũng như nhà báo và dân biểu đối lập thời VNCH là Lý Quý Chung chẳng hạn.

Ông Thắng tâm sự : Cần là tên một người bạn thơ ấu của hai anh em chẳng may mất sớm. Chữ Cả ông ghép vào vì cá tính của ông thích những chữ cùng phụ âm như kiểu Tin – Tình – Tiền – Tù – Tội. Và ông tâm đắc câu quảng cáo của ông dùng bao năm nay toàn bằng chữ C : Có Cả Cần Cần Chi Có Cả

Cũng vì thích loại câu dùng cùng một phụ âm này mà tên con ông đặt toàn chữ T. Ông Bà Thắng có đông con (tôi nhớ không lầm thì cũng gần chục). Tôi nhớ được tên của bốn cô con gái của ông là : 9-ca-can-3Trần Mỹ Tiên – Trần Mỹ Trinh – Trần Mỹ Thanh và cô út là Trần Mỹ Tâm

2/. Về sự ra đơi của quán Ông CCần : Ông Bà Cả Cần xuất thân từ công chức VNCH. Bà người gốc Bến Tre, nấu ăn rất ngon. Ông có tài ăn nói duyên dáng và khả năng ngoại giao bạn bè rất rộng. Từ sự kết hợp đó, ông bà quyết định bỏ nghề công chức ra mở quán Hủ Tiếu và Bánh Bao Mỹ Tho. Tên Cả Cần được ông chọn đầu tiên cho Quán đầu tiên nằm ở ngã tư Công Lý – Trương Quốc Dung (tôi mang máng nhớ tên đường này là vậy). Trước năm 1975, nếu ai đi lại con đường ra sân bay Tân Sơn Nhất sẽ không thể không thấy cái Bánh Bao To Tướng trước khi băng qua cổng xe lửa.

Sau thời gian ngắn thì Quán Ông Cả Cần thành công rất nhanh nhờ tài nấu ăn của bà và tài ngoại giao của ông. Cũng vì quen biết giới văn nghệ sỹ thời đó nên ông Thắng mượn nghệ danh của cô Năm Sa Đéc (vợ của ông Vương Hồng Sễn) làm tên quán thứ hai ở Ngã Tư Nguyễn Tri Phương – Nguyễn Trãi (Chợ Lớn)  Đến đây thì nãy sinh một vài đồn đoán rằng :

– Ông Cả Cần gốc Sa Đéc không phải gốc Mỹ Tho

– Bà Năm Sa Đéc có quan hệ với ông Cả Cần

– Bà Năm Sa Đéc có phần hùn trong quán Cả Cần

Cả ba điều này đều là đồn đoán và không có thật. Ai có đến quán Bà Năm Sa Đéc (của ông Trần Phấn Thắng)9-ca-can-1 thì đều biết quán này nằm giữa đường gần như chắn ngang con đường Nguyễn Trãi chạy từ Sài Gòn ra. Vì thế khoảng thập niên 70, ông Thắng bị Đô Trưởng lúc đó là Đỗ Kiến Nhiễu (nghe đâu cũng gốc Mỹ Tho) bắt tháo dỡ. Ông theo vụ kiện đến cùng, kết cục thì ông Thắng thắng và quán vẫn còn tồn tại như ngày nay. Nhưng vì vụ kiện này mà Bà Năm Sa Đéc rút tên ra. Quán mang tên MỸ TIÊN. Mỹ Tiên là tên cô con gái lớn của ông Thắng. Sau 1975, quán vẫn mang tên Mỹ Tiên.

3/. Gia đình Cả Cần nay ở đâu ? Sau năm 1975, gia đình ông Thắng còn giữ được một số tài sản và quyết định ra đi. Vì gia đình có gốc Hoa nên đi cả nhà, thậm chí những người đầu bếp giỏi, phụ bếp và cả phụ vụ bàn. Giá vàng ông phải trả lúc đó khoảng 12 cây vàng cho một đầu người.

Gia đình ông ra đi suôn sẻ trong một đêm lặng gió. Cuối cùng thì định cư tại Montreal, Canada. Đến đất tạm dung Montreal chẳng bao lâu thì với số vốn mà nhân lực mang theo ông bà đã mở được hai quán để tên ONG CA CAN: một ở dưới phố trên đường St Catherine gần trường Đại Học McGill, một ở Côte des Neiges. Cũng vẫn với khiếu chữ nghĩa bẩm sinh của mình, ông Thắng đã dí dỏm gọi quán ở Côte des Neiges là Trên Dốc Tuyết, Montreal là Mộng Lệ An.

Hai ông bà thành công rất nhanh ở xứ Canada cho nên khi VN mở cửa năm 89 thì năm 90 cô con gái lớn ông đã thực hiện chuyến về VN đâu tiên 9-ca-can-4và ông bà cũng lần lượt về sau đó để tìm lại cơ hội làm ăn cũng như lấy lại nhà hàng cũ.

Sau khi ông bà ra đi thì nhà hàng cũ do một người bà con xa cai quản. Ông bà cũng thường gởi tiền về giúp đở. Nhưng về phẩm chất nấu ăn thì không giữ được như trước cho nên nhà hàng dần dần mất tiếng và suy sụp. Đây là điểm yếu của đa số nhà hàng Việt Nam nói chung và nhà hàng Ông Cả Cần nói riêng. Bà Cả Cần là người giỏi giang quán xuyến, nhưng nhà hàng là phương tiện sống của đại gia đình cho nên bà giữ bí quyết rất kỹ. Thậm chí ở Canada, chưa chắc con bà lúc ấy nấu được như bà.

Khi công cuộc điều đình mua lại đất đai nhà hàng cũ còn đang được tiến hành thì bà Cả Cần đột ngột bị tai biến mạch máo não và nằm bất động. Tội nghiệp cho bà. Bà nằm thế đến gần 2 năm trời và bà qua đời năm 1995.

Sau khi bà qua đời thì ông Thắng về Việt Nam thường hơn để làm ăn. Nhà hàng bên Canada thiếu bà không còn đông như trước. Các cô các cậu lập gia đình chỉ còn vài người theo nghề cha mẹ. Chỉ vài năm sau đó thì Ông Cả Cần Trần Phấn Thắng cũng qua đời tại Việt Nam. Nhà hàng Trên Dốc Tuyết đóng cửa. Giờ chỉ còn nhà hàng dưới phố St Catherine.

Có người nói bảng hiệu sau này của nhà hàng trên đường Nguyễn Tri Phương là Ông Cả Cần. 9-banh-baoCó thể nhà hàng đổi tên lại sau khi ông Cả Cần về nước. Bao năm trước đó nó vẫn mang tên Mỹ Tiên. Tên Mỹ Tiên là cái tên thứ hai sau cái tên Bà Năm Sa Đéc …

Nói thêm về hủ tiếu Mỹ Tho của quán Cả Cần : Có nhiều người cứ nhầm hủ tiếu Mỹ Tho với hủ tiếu Nam Vang. Khác hoàn toàn. Nước hủ tiếu được nấu bằng khô mực nhí (vụn), tôm khô và xương nên nước ngọt tự nhiên, thơm và trong. Bánh hủ tiếu, sợi nhỏ dai và là bánh khô. Hủ tiếu Mỹ Tho không có để trứng cút hay tôm tươi mà chỉ có xương, thịt heo hoặc thêm gan heo thôi….

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp