TỬ VI TÂY PHƯƠNG THÁNG 1/2018

GIEO QUẺ THÁNG 1/2018 CỦA BẠN

1/- BẢO BÌNH (20/1 – 18/2)

Tháng Giêng Tây đã đến làm cho tình yêu và mối quan hệ của Bảo Bình trở nên sâu sắc hơn. Bảo Bình tiếp tục giữ các mối quan hệ giao tiếp sẽ có nhiều tin tức làm hưng phấn tinh thần, và bạn sẽ có nhiều tiến triển hơn ở khía cạnh tình cảm. Nếu Bảo Bình đã kết hôn, bạn nên luyện tập hơn nữa đức tính kiên trì và thấu hiểu người khác, đặc biệt là vào khoảng hạ tuần tháng này.

Nhiều buổi họp và tiệc tùng trong gia đình Bảo Bình sẽ diễn ra tháng này. Nếu còn độc thân, Bảo Bình có thể sum họp với gia đình hoặc tụ tập với bạn bè. Sức khỏe, sinh lực và năng lực của bạn trong tháng này tốt hơn hẳn. Thất bại không làm Bảo Bình sợ hãi mà tự mình nỗ lực và vươn lên. Với những người sinh ra dưới cung Bảo Bình, việc bị thương tật từ xương cốt có thể xảy ra vào trung tuần tháng này. Nên đề phòng trộm “ghé thăm” nhà bạn, hãy kiểm tra hệ thống báo động (chuông hay camera), khi lưu thông trên đường cũng hãy thận trọng… như đã nói là có thể gặp tai nạn

Ngày may mắn : 1, 10, 11, 19, 27, 28, 31

Ngày không may mắn : 5, 6, 12, 13, 25, 26

Ngày cho tình yêu : 1, 5, 6, 12, 21, 22, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính : 7, 8, 16, 17, 21, 22, 25, 26

Ngày cho công việc : 5, 6, 12, 13, 14, 15, 25

2/- SONG NGƯ (19/2 – 20/3)

Các cuộc hành trình trong tháng đầu năm đang chờ đợi thực hiện nếu Song Ngư đã lên kế hoạch trước. Tình hình tài chính cần được lưu tâm, có nguy cơ Song Ngư phải đánh đổi mối quan tâm của mình với trách nhiệm và giao kèo được thỏa thuận trước. Đồng thời Song Ngư có thể sẽ căng thẳng khi phải làm tròn nghĩa vụ tài chính với gia đình. Nhưng một khi bạn hoàn thành thì mọi việc sẽ trở nên dễ thở hơn rất nhiều.

Tin tốt là sự nghiệp tháng này Song Ngư không có gì phải lo lắng, buồn phiền. Mặt trời sẽ lướt qua cung hoàng đạo của Song Ngư và đem lại thành công cho công việc của bạn. Có thể Song Ngư sẽ đi công tác vào thượng tuần tháng này. Sức khỏe tốt nhưng bạn vẫn nên nghỉ ngơi và thư giãn vào nửa cuối tháng. Tháng Giêng Tây cũng là thời điểm tốt để Song Ngư điều chỉnh chế độ dinh dưỡng và thay đổi thói quen di chuyển. Nếu có bất kỳ vấn đề nào xảy ra với gia đình, Song Ngư hãy cố gắng giải quyết thật nhanh gọn nhé.

Ngày may mắn: 7, 8, 16, 17, 25, 26

Ngày không may mắn: 2, 3, 10, 11, 23, 24, 29, 30, 31

Ngày cho tình yêu: 18, 19, 21, 22, 27, 28, 29, 30

Ngày cho tài chính: 5, 7, 8, 14, 16, 17, 18, 19, 23, 25, 26

Ngày cho công việc : 5, 6, 10, 11, 14, 15, 25, 31

3/- BẠCH DƯƠNG (21/3 – 19/4)

Trong lĩnh vực tình yêu, các Bạch Dương  tháng này có một sức quyến rũ tuyệt vời. Bạn chẳng khác gì một thỏi nam châm đối với các bạn khác giới. Cuối tháng, chuyện tình cảm của Bạch Dương khá ổn, thậm chí, nhiều bạn sẽ có một mối quan hệ vững chắc.

Tháng 1, Bạch Dương hãy dành nhiều thời gian cho gia đình. Một mối quan hệ tình cảm đang chờ đợi bạn nhưng đừng chìm đắm vào nó mà không suy nghĩ gì. Hãy để mọi thứ tự tiến triển. Ngoài ra, sao Kim có thể sẽ báo trước những dấu hiệu tích cực về mặt tài chính và Bạch Dương sẽ có thêm một khoản thu nhập cho mình vào những ngày cuối tháng. Bạch Dương lưu ý trong công việc cố nhẫn nại tìm tòi để giải đáp những khúc mắc tồn tại, điều này sẽ làm cấp trên chú ý đến bạn hơn.

Ngày may mắn: 5, 6, 14, 15, 23, 24, 31

Ngày không may mắn: 2, 3, 10, 11, 16, 17, 29, 30

Ngày cho tình yêu: 5, 6, 14, 15, 21, 22, 25, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 2, 7, 8, 12, 16, 17, 20, 21, 25, 26, 29

Ngày cho công việc: 1, 12, 16, 17, 21, 22, 29

4/- KIM NGƯU (20/4 – 20/5)

Những hy vọng và ước mơ của Kim Ngưu sẽ trở thành hiện thực vào ba tuần đầu tiên của tháng 1. Thậm chí, dù đó chỉ là những điều mới lướt qua trí óc, Kim Ngưu cũng có cơ hội thành công. Trong tình yêu, những quyết định quan trọng và các mối quan hệ Kim Ngưu nên trì hoãn đến những ngày hạ tuần thì tốt đẹp hơn. Kim Ngưu cần phải suy nghĩ mọi chuyện rất cẩn thận và rõ ràng trước khi đưa ra quyết định.

Từ thượng tuần tháng 1, Kim Ngưu có thể mong đợi những cuộc gặp tuyệt vời, những lời mời quan trọng để thăng tiến tốt hơn. Giai đoạn này, Kim Ngưu cũng sẽ gặp những người giúp ích cho công việc kinh doanh của bạn trong tương lai.

Sau những ngày trung tuần tháng 1, Kim Ngưu sẽ trở về với thế giới nội tâm của mình. Kim Ngưu nên dành thời gian ở một mình và tìm nơi yên tĩnh để thư giãn. Hãy suy nghĩ về năm vừa qua cũng như lập kế hoạch, mục tiêu cho năm mới vào thời điểm này.

Ngày may mắn: 5, 6, 14, 15, 23, 24

Ngày không may mắn: 1, 7, 8, 21, 22, 27, 28

Ngày cho tình yêu: 1, 9, 12, 18, 21, 22, 27, 28, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 8, 12, 16, 17, 25, 26, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 4, 5, 7, 8, 15, 16, 17, 25, 26.

5/- SONG NAM (21/5 – 21/6)

Tháng 1 đảm bảo rằng Song Nam có một số dự đĩnh về những chuyến hành trình thú vị đến những nơi độc đáo sẽ diễn ra vào dịp cuối năm âm lịch sắp đến. Có rất nhiều chuyến đi trong 30 ngày tới. Nó có thể cho Song Nam thấy những yếu tố cần thiết phải chuẩn bị trong những giai đoạn khác nhau.

Vào thượng tuần, Song Nam không những có hứng thú với sự hấp dẫn định mệnh mà còn cả sự hòa hợp về tâm hồn. Sự hấp dẫn về hình thức sẽ không đủ đối với Song Nam. Những người còn độc thân sẽ tìm thấy tình yêu định mệnh ở những cuộc họp mặt hay với người ở một hội nghị chuyên đề. Cuộc sống tình cảm của Song Nam sẽ rất vui vẻ và mãn nguyện trong tháng này.

Song Nam hãy cẩn thận với vấn đề sức khỏe. Bạn nên cải thiện hệ miễn dịch của mình bằng việc bổ sung vitamin hay uống trà thảo mộc. Sau những ngày trung tuấn, sức khỏe và phong độ của Song Nam sẽ được cải thiện hơn. Song Nam sẽ trở nên năng nổ hơn trong các hoạt động.

Ngày may mắn: 1, 10, 11, 19, 27, 28, 31

Ngày không may mắn: 2, 3, 16, 17, 23, 24, 29, 30

Ngày cho tình yêu: 1, 8, 9, 12, 17, 18, 21, 22, 23, 24, 26, 29, 30

Ngày cho tài chính: 5, 6, 7, 8, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 25, 26

Ngày cho công vệc: 1, 2, 3, 10, 11, 18, 19, 27, 28, 29, 30, 31

6/- BẮC GIẢI (22/6 – 22/7)

Tháng 1 này, lịch cho các hoạt động xã hội đầy ắp và Bắc Giải dễ cảm thấy bị áp lực khi phải đảm bảo những lịch trình đó. Trong chuyện tình cảm, Bắc Giải luôn mong đợi quá nhiều vì bạn thích mọi thứ diễn ra như bạn muốn. Hãy thận trọng việc bạn cư xử như thế nào trong giai đoạn này. Nó cũng có thể khiến Bắc Giải gặp rắc rối đấy nhé.

Tài chính không đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của Bắc Giải vào tháng này. Đối tác và gia đình sẽ giúp đỡ Bắc Giải. Tháng này cũng thay đổi sự chú ý của Bắc Giải vào mục tiêu công việc. Sức khỏe của Bắc Giải tháng 1 này khá tốt. Tuy nhiên, nếu bị đau chỗ nào, Bắc Giải hãy nghỉ ngơi và đi khám bác sĩ. Nhiều hoạt động xã hội và gặp gỡ với những người mới đang chờ Bắc Giải vào giữa tháng 1 này.

Ngày may mắn : 11, 19, 23, 24, 27, 28, 31

Ngày không may mắn : 7, 8, 14, 15, 21, 22, 30

Ngày cho tình yêu : 1, 4, 5, 17, 21, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho tài chính : 1, 2, 3, 16, 17, 18, 19, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31

Ngày cho công việc : 7, 8, 16, 17, 21, 22, 25, 26

7/- HẢI SƯ (23/7 – 22/8)

Tháng này Hải Sư tràn đầy các hoạt động vui vẻ, sôi động và thú vị cho những ngày Tết sắp đến. Gia đình là nơi Hải Sư dành phần lớn thời gian, bạn hãy mời bạn bè tới chơi và tân trang lại tổ ấm để đón khách.

Về tình yêu, trong vòng hạ tuần tháng 1, khả năng tập trung sẽ giúp Hải Sư trở nên lôi cuốn hơn. Đây là một thời điểm tuyệt vời cho chuyện yêu đương của Hải Sư bởi khả năng tìm được nửa kia là rất cao. Nhưng Hải Sư nên cẩn thận với sức khỏe, đặc biệt, đừng thay đổi thói quen di chuyển quá đột ngột. Hải Sư cũng nên thận trọng hơn khi mua đồ điện tử hay đồ dùng đắt tiền vì như thế là vung tay quá trán đấy !.

Sự lạc quan sẽ xâm chiếm Hải Sư trong suốt tháng 1. Cơ hội việc làm mới sẽ đến với bạn và rất có khả năng, Hải Sư muốn thay đổi công việc để được đổi đời, đổi mới cuộc sống. Tuy thu nhập có thể thấp hơn công việc hiện tại nhưng hẳn Hải Sư sẽ thích thú với công việc mới nhiều hơn.

Ngày may mắn: 7, 8, 16, 17, 25, 26, 29, 30

Ngày không may mắn: 5, 6, 12, 13, 19, 22. 24, 31

Ngày cho tình yêu: 1, 5, 6, 12, 15, 21, 22, 25, 29, 30

Ngày cho tài chính: 16, 17, 18, 25, 26, 27, 28

Ngày cho công việc : 1, 2, 5, 7, 8, 16, 17, 21, 22, 25, 26, 30

8/- XỬ NỮ (23/8 – 22/9)

Tháng Giêng Tây này là khoảng thời gian Xử Nữ dành cho thư giãn, nghỉ ngơi và tận hưởng niềm vui này bằng cả tâm hồn. Xử Nữ hãy dành nhiều tâm trí cho những vấn đề trong gia đình. Hãy nhìn những điều vẫn còn dở dang quanh bạn để tạo ra các thay đổi trong 30 ngày tốt đẹp hơn.

Về tình yêu, mối quan hệ mà Xử Nữ có sẽ gặp vài thử thách và những ngày trung tuần sẽ có nhiều điều đặc biệt, một vài gặp gỡ khá thú vị sẽ làm bạn lấn cấn khi lựa chon, nhưng hãy kiên quyết tìm một nửa còn thiếu cho vơi sự cô độc nhé Xử Nữ. Bạn cũng nên hãy hạn chế có những quyết định về tài chính. Từ khóa cho tháng này là bình tĩnh và kiên nhẫn.

Tháng này cũng dự báo Xử Nữ nên cẩn thận trong di chuyển, có dự báo bạn gặp tật bệnh về máu huyết hoặc xương khớp đấy. Chuyện hao tiền cuối năm mang tính tâm linh “của đi thay người”, Xử Nữ đừng buồn.

Ngày may mắn: 2, 3, 12, 13, 21, 22, 29, 30

Ngày không may mắn: 5, 7, 8, 19, 25, 26, 31

Ngày cho tình yêu: 1, 2, 12, 20, 21, 26, 29, 30

Ngày cho tài chánh: 4, 5, 7, 8, 14, 15, 16, 17, 25, 26

Ngày cho công việc: 5, 6, 12, 21, 22, 29

9/- THIÊN XỨNG (23/9 – 22/1)

Đây là một tháng tuyệt vời dành cho Thiên Xứng. Bạn sẽ dành toàn bộ tập trung vào những thứ mình đang làm. Có thể nói tháng này mang lại cho Thiên Xứng rất nhiều may mắn, vì vậy, hãy nắm bắt ngay những cơ hội đó. Sau ngày trung tuần, Thiên Xứng cần chú ý hơn đến sức khỏe. Không có vấn đề gì nghiêm trọng xảy ra trong tháng tới cả, tuy nhiên, cũng đừng vì thế mà bỏ rơi sức khỏe của mình.

Nếu Thiên Xứng đang yêu, một vài vấn để có thể sẽ xảy ra trong khoảng trung tuần tháng 1. Nhưng đừng lo lắng, chúng sẽ biến mất ngay thôi. Còn đối với những bạn Thiên Xứng vẫn đang cô đơn thì tháng này hãy hy vọng vào một tình yêu rất có thể nảy nở từ chính nơi làm việc của bạn.

Trong những ngày hạ tuần của tháng, tình hình tài chính của Thiên Xứng gặp nhiều thuận lợi và điều ấy còn có thể kéo dài trong suốt tháng 2 sắp tới đấy. Hãy kiên nhẫn với những kế hoạch bị trì hoãn.

Ngày may mắn: 2, 3, 12, 13, 21, 22, 29,

Ngày không may mắn: 1, 7, 8, 14, 15, 27, 28, 31

Ngày cho tình yêu: 1, 4, 5, 7, 8, 12, 15, 16, 17, 21, 22, 25, 26, 29

Ngày cho tài chính: 7, 8, 9, 16, 17, 18, 23, 24, 25, 26

Ngày cho công việc: 4, 5, 14, 15, 16, 17, 25, 26, 31

10/- HỔ CÁP (23/10 – 21/11)

Tháng 1, Hổ Cáp cần cẩn trọng hơn trong lời ăn tiếng nói với những người xung quanh. Hãy đảm bảo rằng mọi người hiểu đúng ý của Hổ Cáp và chủ động hỏi khi gặp phải vấn đề nào đó chưa chắc chắn. Tháng 1 này cũng báo trước về những vấn đề có thể xảy ra trong nội bộ gia đình của Hổ Cáp. Nếu buộc phải quyết định một điều gì đó quan trọng, bạn hãy cân nhắc kỹ càng cả mặt tích cực lẫn hạn chế.

Về tình hình tài chính, những khoản tiền sẽ đến cùng sự thành công của Hổ Cáp vào giữa tháng 1, nhưng không nên tiêu xài quá hoang phí. 30 ngày của tháng này tập trung chủ yếu vào tình hình tài chính và thu nhập vì tết Âm lịch sắp đến. Điều tốt đẹp nhất là dường như Hổ Cáp chắc chắn sẽ nhận được một khoản thu nhập phụ trội.

Về tình yêu, Hổ Cáp có thể kỳ vọng về những chuyển biến tốt đẹp trong chuyện tình cảm. Sức khỏe của Hổ Cáp tháng này khá ổn nhưng bạn sẽ cảm thấy đôi chút mệt mỏi vào những ngày hạ tuấn. Hãy cố gắng dành thời gian để thư giãn và nghỉ ngơi nhé!

Ngày may mắn: 7, 8, 16, 17, 25, 26

Ngày không may mắn:1, 14, 15, 21, 22, 27, 28, 31

Ngày cho tình yêu:1, 7, 8, 12, 16, 17, 21, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho tài chính:5, 6, 7, 8, 10, 11, 14, 15, 16, 17, 25, 26

Ngày cho công việc:1, 9, 18, 27, 28, 31

11/- NHÂN MÃ (22/11 – 21/12)

Hãy ném những vấn đề buồn bực của Nhân Mã vào cơn gió đi bạn nhé, ít nhất là vào cuối tháng 1 khi có những hoạt động vui chơi sôi động. Nhân Mã không cần nghỉ ngơi vì thời gian này ai cũng vui chơi thụ hưởng không khí của năm mới

Trong vấn đề tình cảm, Nhân Mã sẽ có nhiều sự hài hòa hơn là mâu thuẫn. Bạn có thể tìm thấy tình yêu ở nơi làm việc, nơi khám bệnh hay ở nơi thư giãn. Sức khỏe tốt tác động đến Nhân Mã về đời sống tình cảm và ngược lại. Vào tháng 1 này, Nhân Mã sẽ nhận ra rằng nếu bạn thật sự yêu một ai đó, bạn hãy dành nhiều thời gian cho người đó.

Giữa tháng 1, Nhân Mã nên cẩn thận khi lái xe. Có mối nguy hiểm đang đe dọa bạn. Hãy kiểm tra xe nếu dự định đi xa. Trong hạ tuần của tháng 1, khả năng thăng tiến trong công việc có thể đến với Nhân Mã. Bạn sẽ có những cơ hội để kiếm nhiều tiền hơn. Những cơ hội tài chính sẽ xuất hiện, Nhân Mã có thể sẽ có một khoản thu nhập không mong đợi qua của hoạnh tài.

Ngày may mắn: 5, 6, 14, 15, 23, 24, 30, 31

Ngày không may mắn: 12, 13, 19, 25, 26

Ngày cho tình yêu 12, 14, 18, 19, 21, 22, 23, 29, 30

Ngày cho tài chính: 4, 5, 7, 8, 15, 16, 17, 25, 26, 31

Ngày cho công việc: 2, 12, 20, 21, 25, 26, 29

12/- NAM DƯƠNG (22/12 – 19/1)

Nam Dương tháng này muốn dành thời gian để xử lý công việc hơn là đi chơi. Sự tự tin của Nam Dương giảm sút rất nhiều trong thời gian này. Về bản chất, đó là một điều tích cực vì từ bây giờ, bạn sẽ tập trung hơn vào những người khác, thay vì vào chính bản thân mình.

Tình yêu của Nam Dương rất lãng mạn. Không nên vội vàng mà cần bình tĩnh trong mọi hành động, nhất là khi các Nam Dương muốn thể hiện tình cảm của mình. Người yêu hoặc gia đình sẽ hỗ trợ bạn trong vấn đề tài chính. Nam Dương cũng có khá nhiều ý tưởng tuyệt vời, thậm chí là sinh lời cho bạn nữa. Tuy nhiên, hãy suy nghĩ và tìm hiểu mọi thứ cẩn thận. Đừng để mình bị phản bội !

Đến giữa tháng 1, Nam Dương cần cẩn trọng hơn trong việc lái xe. Nếu bạn sắp đi du lịch xa thì hãy chuẩn bị tinh thần bởi những dự báo ưu phiền có thể xảy ra. Đồng thời bạn hãy cân đong tài chánh trước khi thực hiện, nếu không càng them lo lắng cho những ngày sắp tới đấy.

Ngày may mắn: 2, 3, 12, 13, 21, 22, 29, 30. 31

Ngày không may mắn: 10, 11, 16, 17, 23, 24

Ngày cho tình yêu: 16, 17, 21, 22, 29, 30. 31

Ngày cho tài chính: 1, 5, 6, 7, 8, 12, 21, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho công việc: 8, 9, 17, 18, 23, 24, 26

Quế Phương (theo Horoscope)

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

Advertisements

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC

NHỮNG KHẨU PHÁO

THẦN CÔNG CỔ

BẬC NHẤT VIỆT NAM

Được sản xuất vào những năm đầu thế kỷ 19, Cửu vị Thần công được xem là những khẩu pháo sở hữu sức mạnh hỏa lực lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

H1: Cửu vị Thần công hay khẩu pháo thần công có thể coi là một trong những khẩu đại bác cổ nhất và lớn nhất Việt Nam từng chế tạo do các nghệ nhân của nước ta tự tay đúc. Chín khẩu thần công này được đúc từ năm 1803 tới 1804, dưới thời vua Gia Long.

H2: Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và lên ngôi, chính vua Gia Long đã ra lệnh cho các nghệ nhân thời đấy thu thập đồng từ các loại binh khí thừa thãi sau chiến tranh để đúc thành chín khẩu thần công làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. H3: Mỗi khẩu thần công này có chiều dài 510 cm và nặng tới 17 tấn chưa tính giá đỡ. Tổng cộng, 9 khẩu thần công đã tốn tới 153 tấn đồng nguyên chất, đây là một con số khổng lồ thời bấy giờ khi mà công nghệ luyện kim còn rất sơ khai.

H4: Quá trình đúc Cửu vị Thần công chỉ kéo dài trong chưa đầy một năm, từ năm 1803 tới năm 1804 là hoàn thành. Bên ngoài của các khẩu thần công cùng với bệ đỡ được trạm trổ cực kỳ tinh vi. H5: Thậm chí, trên phần thân súng còn được trạm trổ cả trọng lượng, vị thứ, danh hiệu và cả… cách dùng súng. Mặc dù là một công trình mang tính biểu tượng nhưng việc trạm cả cách dùng súng vào thân súng cho thấy những khẩu thần công này hoàn toàn có thể bắn được.

H6: Chín khẩu thần công này được đặt tên theo thứ tự tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông và theo ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. H7: Thời gian đầu khi vừa được đúc xong, Cửu vị Thần công được đặt dưới chân Hoàng Thành, trước cửa Ngọ Môn – kinh thành Huế. Tuy nhiên tới đời vua Khải Định, chúng đã được di dời vào trong kinh thành và chính thức trở thành công trình mang tính biểu tượng như các bảo vật trấn quốc.

H8: Trong quá khứ, Cửu vị Thần công chưa từng được mang ra sử dụng bất cứ một lần nào và chỉ là một loại vũ khí mang tính biểu tượng sức mạnh của nhà Nguyễn. Dưới triều Nguyễn, Cửu vị Thần công thường có quân canh gác và thường được tổ chức cúng lễ rất linh đình. H9: Tới khi Pháp xâm lược Việt Nam, việc cúng bái Cửu vị Thần công bị bãi bỏ chính thức. Tuy nhiên binh lính và người dân sống gần khu vực này vẫn tự mang đồ lên đây cúng tế Cửu vị Thần công vì đây vốn được xem là chính vị thần linh bảo vệ Kinh thành.

H10: Cửu vị Thần công được di dời vào vị trí mới, do phương tiện lạc hậu nên việc di chuyển những khẩu trọng pháo nặng tới 17 tấn này là cả một quá trình gian nan. H11: Ngày nay, Cửu vị Thần công được xem là một bảo vật vô giá của nước ta với tuổi đời đã hơn 200 năm. H12: Hiện tại, Cửu vị Thần công đang được trưng bày cho khách du lịch viếng thăm ngay trong Kinh thành Huế.

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN

NGÀY TRƯỚC

Sau năm 1954, ngoài Khu Dân Sinh bán buôn đủ loại mặt hàng thượng vàng hạ cám ở gần Cầu Muối, người tuổi trung niên trở lên chắc hẳn còn nhớ khu Chợ Cũ quanh đường Tôn Thất Đạm, Huỳnh Thúc Kháng giữa trung tâm Sài Gòn xuất hiện kiểu chợ trời tự phát trên vỉa hè bày bán một số loại thực phẩm đóng hộp của Mỹ, rượu Tây, thuốc lá và quần áo cũ.

Khoảng thời gian này, người Sài Gòn bắt đầu tiếp cận “hàng hoá Mỹ” một cách rộng rãi hơn nhờ cả triệu người miền Bắc di cư vào Nam sinh sống.

Ông bạn lớn tuổi của tôi nhớ lại cảnh lều bạt tại một khu tiếp nhận người di cư miền Bắc trong trường đua Phú Thọ. Ngoài tiền bạc trợ giúp chi phí sinh hoạt, dân di cư còn được cấp quần áo, thực phẩm vài ba tháng đầu để ổn định cuộc sống mới. Rất nhiều người di cư, chưa quen cách ăn mặc và khẩu vị của đồ ăn đóng hộp đem bán cho mấy đầu nậu thu gom bán lại ra thị trường chợ trời.

Với công việc điều hành tiếp nhận, cấp phát hàng trợ giúp cho bà con di cư, ông bạn tôi thường nhận được nhiều hàng “hiến tặng” mà không cần phải bỏ tiền mua lại những thứ thực phẩm đóng mác “Donated by The People of The USA. Do Not Resale”. (Được sự đóng góp của Nhân dân Hoa Kỳ. Không bán lại”).

Ðồ Mỹ viện trợ phần nhiều là dầu ăn, phô mai, thịt đóng hộp và ba loại kẹo bánh. Nói chung là một ít mặt hàng thiết yếu dùng hằng ngày cho người lớn và trẻ con. Ông nhớ mãi chuyện của nhiều gia đình di cư mang phô mai đến nhà tặng. Thú thật, “ban đầu tôi không dám nhận vì nhiều quá, một vài miếng phô mai thì cứ xem như nghĩa tình, đằng này cả đống phô mai, lại là loại giá trị của Pháp nhưng đối với nhiều người không biết ăn, không sành ăn phô mai Pháp thì coi như món đậu hủ thúi của người Hồng Kông, ngửi mùi đủ phát ớn, làm sao nuốt trôi qua cổ họng”.

“Tôi không hiểu sao trong hàng viện trợ của Mỹ lại có thực phẩm của Pháp nữa. Món phô mai Vieux Boulogne gói giấy bạc vuông vức. Mùi phô mai này khó ngửi nhưng lại là một trong những loại phô mai ngon mà tôi thỉnh thoảng được mấy người bạn Pháp hồi còn làm ở Kho Bạc nhà nước tặng cho. Loại phô mai này làm thủ công bằng sữa bò nguyên chất, ngâm trong bia lên men nhiều ngày. Phô mai Vieux Boulogne nhâm nhi với rượu vang Bordeaux thì rất tuyệt. Tội cho người di cư chưa quen mấy món ăn Tây”.

Thật ra, người Sài Gòn bắt đầu “yêu thích” hàng thực phẩm Mỹ bán ở chợ trời là khoảng thời gian hơn mười năm sau đó. Thời gian này, lính Mỹ vào miền Nam cả nửa triệu quân, để phục vụ miếng ăn thức uống theo khẩu vị quê nhà, các nhà thầu Mỹ thiết lập các cửa hàng PX (Post Exchange) tức là hàng hoá tiêu dùng của Mỹ dành cho quân nhân và viên chức Hoa Kỳ đóng quân ở nhiều vùng, trong đó Sài Gòn có hai cửa hàng lớn.

Một là PX Sài Gòn nằm trên đường Tự Do góc bên hông khách sạn Majestic và cái khác là PX Chợ Lớn nằm trên đường Nguyễn Tri Phương gần góc Ngã Sáu. Hàng hoá bán ra chợ trời phần lớn từ nơi đây.

Chuyện này có lần tôi đã nhắc tới trong bài viết “Hàng PX và đô la đỏ”. Và xin trích lại một bài phóng sự điều tra của ký giả Lederer William J. đăng trên tạp chí Der Spiegel số 44 ngày 28/10/1968 rằng: “Hệ thống cửa hàng PX có trên 5,000 phụ nữ người Việt được nhận vào để bán hàng. Trong tháng 5 năm 1967, chỉ riêng một cửa hàng PX ở Sài Gòn đã mất 65,000 dollar vì ăn cắp vặt. Và đó chỉ là một cửa hàng nhỏ.

Có một thời gian, ban giám đốc cho khám xét những người Việt bán hàng lúc họ tan ca ra về, khiến nhân viên dọa sẽ đình công nếu như việc kiểm tra này không chấm dứt. Trong thời gian thực hiện bài điều tra ở Sài Gòn, tôi đã quan sát thấy bốn lần chiếc xe tải chở đầy thực phẩm từ cửa hàng PX vào kho tiếp liệu của khách sạn Continental như thế nào. Có một lần, một kiện thịt to, có in tên Tướng Westmoreland, được đưa cùng với nước ép cà chua vào cửa kho khách sạn Continental”.

Và đâu chỉ có nhân viên bán hàng, kể cả những người làm nhiệm vụ quản lý người Hàn Quốc hoặc Phi Luật Tân cũng thông báo cho thân nhân của mình những đợt hàng có giá trị mới về để mua bán kiếm lời. Thế là một lô hàng tủ lạnh mới đưa vào cửa hàng ngày hôm qua, vừa mới mở cửa bán sáng nay cho lính Mỹ thì đã bị gom sạch. Ðâu chỉ thế, kể cả một số lính Mỹ cũng tham gia mua hàng mỗi ngày rồi đem ra bán lại cho con buôn thông đồng từ trước.

Cũng trong thời gian này, vài ba công ty nhập cảng hàng điện tử tủ lạnh, tivi, radio, máy hát đĩa than, máy Akai, mở đại lý chuyên bán mặt hàng này trên đường Huỳnh Thúc Kháng. Bên cạnh đó, các gian hàng nhỏ chuyên bán phụ tùng đi kèm, bao da radio, anten truyền hình, loa nhạc, băng từ và các phụ tùng transistor để sửa chữa ra đời góp phần làm nên tên chợ trời điện tử Huỳnh Thúc Kháng bán buôn nhộn nhịp trước năm 1975.

Ðây là nơi lần đầu tiên tôi biết đến một dãy cửa tiệm bán đồ điện tử ở Sài Gòn đông người lui tới. Ba tôi đi dạo một vòng xem giá rồi cuối cùng mua cái tivi trắng đen Panasonic nhỏ nhất. Tivi có cái cửa lùa, bên dưới là bốn cái chân tròn thanh mảnh màu vàng đất trông rất dễ thương. Việc ba tôi mua cái tivi là do một lần đi làm về bắt gặp tôi đứng chen chân trước cửa sổ nhà hàng xóm coi bộ phim cao bồi hấp dẫn đang bắn súng ì xèo.

Ông đứng đằng sau lay vai tôi, lúc đó do say mê xem phim tôi cứ tưởng đứa hàng xóm nào chen lấn, miệng còn lên tiếng cự nự : “Coi thì cứ coi đi, làm gì mà chen với lấn”. Với tuổi học trò cuối cấp tiểu học, được ba dẫn đi chợ hàng điện tử mua cái tivi coi cho thỏa thích đương nhiên tôi rất khoái.

Tôi cũng khoái đứng xem người ta lựa quần áo đổ đống trên vỉa hè đường Tôn Thất Ðạm. Ba tôi bảo đó là chợ trời quần áo cũ của những nước giàu viện trợ cho những nước nghèo. Nhìn những đống quần áo đủ màu đủ kiểu, nhất là những chiếc áo thun còn mới tôi rất thích với ánh mắt thèm muốn có được vài bộ đồ đẹp với chúng bạn. Nhưng ba tôi bảo thà mua vải về may mặc vừa vặn, đẹp hơn. Là đồ của mình, mình mặc chứ không phải mặc đồ của người ta.

Nói đến chợ trời đồ ăn thức uống của Mỹ không phải một số sạp hàng quanh khu Chợ Cũ mà phải nhắc đến chợ trời trên đường Nguyễn Thông. Từ khi học đệ thất, tôi mới biết đến những thứ hàng hoá đa dạng đầy hấp dẫn này. Mỗi chiều tan học tôi đều lội bộ trên con đường tắt ngang đây để xem người ta buôn bán đủ thứ kẹo chewing gum, chocolate, kẹo trái cây và từng đống đồ hộp thịt hay cá chất cao theo hình kim tự tháp.

Từ ngã ba Kỳ Ðồng kéo dài đến cuối đường gần vách tường chắn khu vực ga xe lửa Hoà Hưng, hai bên đông đúc người mua kẻ bán. Có cả đồ ăn của lính Mỹ, bột sy-rô, cacao thậm chí hàng quân tiếp vụ từ mì gói đến xà bông, đường sữa gì cũng có.

Tôi thích nhất là kẹo đậu phộng Hàn quốc, mỗi gói 6 viên, bọc trong giấy dầu, bên trong là giấy bóng, không cần phải lột vì khi bỏ vào miệng nó tan biến đâu mất. Viên kẹo giòn tan thơm đậu phộng rang xay nhuyễn, không cứng như cục kẹo gừng, kẹo kéo, kẹo ú mà mấy năm trước còn hấp dẫn đám trẻ chúng tôi.

Nguồn hàng đồ hộp của Mỹ bày bán trên đường Nguyễn Thông, ngoài hàng PX, còn có khẩu phần đồ ăn cá nhân của lính Mỹ đi trận ở mấy kho tiếp liệu. Tên vắn tắt gọi là hàng MCI (Meal Combat Individual), mỗi thùng có 12 hộp giấy nhỏ, trên mỗi hộp có ghi ký hiệu B-1, B-2 hay B-3 dùng cho bữa ăn sáng trưa chiều tối.

Sau này, tôi mới biết những ký hiệu ghi trên vỏ hộp. Hồi đó, tôi chỉ biết hộp này có ba miếng thịt heo chiên lên ăn khá ngon, thịt bò thì nghe mùi trầu không ngon bằng loại cá khô vuông vắn bằng ba ngón tay ngâm nước lạnh cho mềm chiên lên không khác gì miếng cá phi lê tươi rói.

Khi nghe chuyện đồ ăn của lính Mỹ, mấy người bạn lớn tuổi của tôi gần như rất vui, nhớ lại từng mùi vị của mỗi loại khẩu phần đóng gói. Có ông còn ganh tị, cùng là phận lính chiến, người thì ăn cơm sấy ngâm nước lạnh, hút Bastos xanh; thằng thì ăn bánh mì đồ hộp đủ loại thịt cá, hút Salem phì phèo, nhai kẹo cao su, uống thì cà phê hoà tan, cacao sữa, thậm chí còn có khăn giấy lau miệng, giấy vệ sinh đi cầu.

Chẳng lính nào trên thế giới sang hơn lính Mỹ viễn chinh xứ mình. Ðồ ăn của lính Mỹ đi trận không được bán ra ngoài. Thế nhưng muốn kiếm vài chục thùng đồ ăn MCI cứ đến chợ trời Nguyễn Thông thể nào cũng có. Nguồn hàng này từ đâu? Từ kho tiếp liệu tuồn ra !

SÀI GÒN XƯA :

CÀ PHÊ VỢT PHA BẰNG SIÊU ĐẤT,

HƠN 50 NĂM NÍU GIỮ CHÂN NGƯỜI

Sài Gòn nổi tiếng bởi những quán hàng cà phê trải dài khắp các con phố với đủ thứ đủ loại: Cà phê phin, cà phê sữa, cà phê nội ngoại,… Nhưng trong tất cả những thức đồ ấy, tồn tại một món cà phê xưa cũ từng là kí ức quen thuộc, là hoài niệm thân thương của bao người dân xứ Gia Định, đặc biệt là người Hoa sống tại nơi đây, đó chính là Cà phê vợt.

Từ đầu thế kỷ 20, cà phê được người Sài Gòn đón nhận khá nồng nhiệt. Vào khoảng những năm 1930, khắp địa phương Sài Gòn – Chợ Lớn (Région de Saigon – Cholon) hầu như sáng nào cũng có các quán cà phê đông khách. Theo thời gian, hương cà phê len lỏi và ngấm dần vào thói quen và kí ức của người dân khu phố thị bậc nhất xứ Nam Kỳ này.

Trước khi uống cà phê kiểu Pháp, người Sài Gòn pha cà phê vợt theo kiểu Trung Hoa. Cà phê vợt hay còn được gọi với những cái tên khác như cà phê bít tất hay cà phê kho là một trong những nét văn hóa xưa của cộng đồng người Hoa còn sót lại tại Sài Gòn. Cà phê xay nhuyễn được lọc qua vợt bằng vải the dài như bít tất, ủ trong siêu thuốc bắc để ra hết vị. Thứ nước đầu này được tiếp tục đem kho liu riu trên bếp than.

Đến nay, Sài Gòn có lẽ chỉ còn sót lại 2 quán cà phê vợt kho bằng siêu đất tồn tại đã trên nửa thế kỷ, một ở quận 3 và một ở quận 11. Hương cà phê vợt “kho” trong siêu đất có sự hấp dẫn riêng mà có lẽ không vị cà phê tân thời nào có thể sánh được.

“Chỉ cần ngửi mùi thơm là người ta tự đến”

Quán cà phê vợt tồn tại đã nửa thế kỷ của ông Lưu Nhân Thanh nằm trong hẻm 313 Tân Phước, P. 6, Q.11. Không gian quán nhỏ xinh đậm chất người Hoa nằm trong một con hẻm nhỏ, nhìn vào đây đã thấy một thời xưa cũ và phong cách uống cà phê mộc mạc, bình dân vô cùng..

Người Việt Nam biết cách thưởng thức cà phê một cách đích thực và đúng nghĩa chắc cũng không có nhiều. Trải bao thăng trầm cùng thời gian, sự biến đổi cách uống, cách phục vụ cà phê, ông Thanh vẫn bảo tồn vẹn nguyên phong cách pha cà phê truyền thống.

Ông Thanh pha bằng siêu đất, loại siêu mà người ta chuyên dùng để nấu thuốc bắc. Ông chia sẻ : “Chỉ có giữ nóng bằng cái siêu đất, hương thơm cà phê vợt mới ngon hơn hẳn cà phê đựng trong cái phin bằng kim loại”. Bí quyết của ông là không bao giờ giặt vợt bằng xà phòng vì sẽ làm mất mùi cà phê, chỉ cần rửa bằng nước sạch là đủ. Vợt càng dùng lâu năm, càng đen thì pha cà phê lại càng ngon.

Cà phê pha xong bằng siêu đất mới được ông đổ ra ấm nhôm để bán cho khách. Nước cà phê đầu tiên gọi là nước cốt, đây cũng là lượt cà phê chất lượng nhất của một lần pha. Ấm cà phê cốt được bắc lên một bếp than trước khi rót cho khách.

Khi dùng bạn có thể cho thêm chút đường, khuấy đều rồi bưng tách cà phê lên để nếm thử hương vị cà phê tinh khiết lúc còn nóng. Nhấp một chút rất ít cà phê rồi dùng lưỡi trải mỏng nước cà phê khắp miệng và nuốt nhẹ nhàng.  Sau đó, thở ra từ từ để hương thơm cà phê xông lên từ hốc mũi, vòm mũi và bạn cảm nhận mùi hương cà phê dường như lan tỏa lên đến đỉnh đầu.

Điều đặc biệt cà phê vợt ở đây giá chỉ 5.000 đồng, thêm sữa thì giá 1 ca sẽ là 6.000 đồng. Những khách hàng của ông Thanh hầu hết là những người trung tuổi và cao tuổi. Họ uống như một thói quen hay nói đúng hơn là thỏa cơn ghiền cà phê vợt, nhất là khi kiểu pha chế này đã gần như đang bị mất hút tại Sài Gòn.

Nhiều năm qua quán của ông Thanh cũng chứng kiến nhiều câu chuyện, nhiều cảnh đời trái ngược ngang qua. Nhưng ông vẫn luôn tận tâm phục vụ mọi người bằng một lòng nhiệt huyết và đam mê pha cà phê truyền thống.

Cà phê nguyên chất có hương thơm và hậu vị tinh tế, đậm đà theo cách tao nhã, thanh thoát hoàn toàn khác với mùi thơm nồng của hương liệu, vị đậm và đắng nặng nề, màu nước đen thui và sánh kẹo của các loại hạt ngũ cốc như bắp, đậu rang cháy được tẩm hương liệu nồng độ cao trong quy trình sản phẩm cà phê pha tạp.

Rất nhiều người dân Sài Gòn cũng không thể nào nhớ rằng cà phê vợt có từ thời nào, nhưng ai cũng hiểu rằng quán như của ông Thanh đang góp phần níu giữ “hồn” cà phê vợt và nét văn hoá một thời của người Sài Gòn một thời.

Cheo Leo – Quán cà phê lâu đời nhất Sài Gòn

Ngang qua mấy con hẻm trên đường Bàn Cờ tới Nguyễn Thiện Thuật, quận 3. Thật không khó để tìm được quán cà phê vợt Cheo Leo dù có bị lọt thỏm giữa những ngôi nhà cao tầng san sát, bởi mùi cà phê thơm sực nức cùng tiếng nhạc xưa  đã tự dẫn người tìm đường tìm đến đúng nơi cần tìm.

Cà phê Cheo Leo của cụ cố Vĩnh Ngô được mở bán từ cuối những năm thập niên 30 của thế kỷ trước. “Những ngày đầu nhà tui về đây xung quanh đồng không trống trải, nhà cửa thưa thớt với vài ngọn đèn leo lét, nên cha tui đặt tên quán là Cheo Leo”, cô Hoa người con thứ 6 của cụ cố Vĩnh Ngô kể lại.

Thời đó, Cheo Leo là một trong những quán cà phê nhạc nổi tiếng Sài Gòn, là nơi hẹn hò của những cô cậu học trò trường Chu Văn An, Petrus Ký và đây cũng là nơi thường xuyên lui tới của một vài nghệ sĩ vang bóng một thời Sài Gòn.

Trong suốt 79 năm, hương vị cà phê cùng với cách pha độc đáo vẫn được từ chiếc vợt vẫn được mọi thành viên trong gia đình giữ nguyên.

Cô Hoa chia sẻ : “Lửa rất quan trọng khi luộc cà phê. Nếu để lửa lớn quá cà phê sẽ bị kho ra vị chua, còn nhỏ, cà phê sẽ bị nguội, uống vô không còn mùi vị”.

Lò nung cha chị làm từ cái thùng phuy chèn thêm lớp gạch pha với đường cát vàng hạt lớn. Giữa lò nung có than lửa làm nước sôi, nước sôi già mới đổ vào cái siêu mà người ta thường đun thuốc Bắc. Trong siêu có tấm vải lược, tức cái vợt, bỏ cà phê xay nhuyễn vào đó. Ủ một lúc thì chắt nước cà phê qua cái siêu khác, đặt bên rìa lò nung giữ nóng lâu, hoặc chắt liền vào ly phục vụ khách vừa tới quán.

Một khách ruột của quán tâm sự : “Sanh thời ông Cheo Leo điệu nghệ lắm. Ổng luôn vận quần soọc, cỡi xe Vespa đi chợ Bến Thành mua cà phê chánh hiệu Meilleur Gout, Jean Martin mang dzìa pha vợt. Tới khi Sài Gòn đã hiếm quán cà phê pha vợt, ổng cũng không chịu pha phin, biểu pha bằng cái phin thì cà phê cũng chẳng ngon hơn chút nào, mà nỡ bỏ đi cái cách cà phê pha vợt đã quá thân thương với người Sài Gòn. Tụi tui mến ổng là vậy”.

Khi muốn cảm thụ hương vị của tách cà phê đích thực, sự thư thái trong tâm hồn cùng với những cốc nhựa cà phê ở đây, nhiều người khám phá ra cà phê vợt đem đến cho bạn trải nghiệm thú vị và bổ ích.

oOo

Giữa nhịp sống hiện đại và náo nhiệt, hình ảnh những người già ngồi bên tách cà phê cạnh lò đun nghi ngút khói trở thành một nét duyên thầm trong thế giới ẩm thực và đời sống văn hóa vốn đã lắm phong phú của Sài Gòn.

Ngày nay, cà phê vợt không chỉ là thức uống được người lao động bình dân ưa chuộng, đó đã là niềm khao khát, là thói quen chung của nhiều người thích tĩnh lặng, nhớ hoài cổ và nét trầm mặc của thời gian.

Dù chúng ta có đi rất xa, chúng ta vẫn luôn mong muốn có một điều nào đó để nhớ về. Nhất là về với những kỉ niệm, những nét văn hóa truyền thống rất riêng còn lưu giữ lại, mọi thứ đều góp phần tạo nên một bức tranh muôn màu khiến Sài Gòn trở nên đẹp hơn.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

Logo vannghe A

9 Khanh Ngoc 1BÓNG HỒNG TRONG :

NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

Những tình khúc Nửa hồn thương đau, Người đi qua đời tôi… của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã quá quen thuộc với công chúng từ hơn nửa thế kỷ qua. Tuy nhiên, hoàn cảnh ra đời các ca khúc tuyệt vời này lại thấm đẫm một nỗi buồn…

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Hà Nội trong một gia đình giàu truyền thống âm nhạc. Cha ông là một nghệ sĩ đàn tranh, còn mẹ ông là nghệ sĩ đàn bầu. Cả hai chơi đàn rất tuyệt.

Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947 khi vừa 18 tuổi. Hầu hết những sáng tác của ông trong giai đoạn này có phong cách tươi trẻ, hùng tráng như Hò leo núi, Sáng rừng, Trăng rừng, Trăng Mường Luông, Ra đi khi trời vừa sáng(viết chung với Phạm Duy)…

9 Pham D Chuong 1Năm 1951, Phạm Đình Chương chuyển vào Nam, và ban hợp ca Thăng Long được thành lập với những thành viên là anh chị em ruột trong gia đình gồm : Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Thái Hằng (Phạm Thị Quang Thái), Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Thái Thanh (Phạm Thị Băng Thanh), đôi khi còn có sự góp mặt của ca sĩ Khánh Ngọc. Ban hợp ca này mau chóng trở nên nổi tiếng. Trong khoảng gần 10 năm tiếp theo, Phạm Đình Chương đã sáng tác được nhiều ca khúc tuyệt vời như Tiếng dân chài, Được mùa, Đợi chờ, Xóm đêm, Ly rượu mừng, Đón xuân… đặc biệt là trường ca Hội Trùng dương (Tiếng sông Hồng, Tiếng sông Hương và Tiếng sông Cửu Long).

Trước đây, nhiều người từng cho rằng Phạm Đình Chương thật đáng tự hào khi là “sở hữu chủ” của một giai nhân kiều diễm và có một thân hình bốc lửa như nữ ca sĩ Khánh Ngọc (biệt danh “ngọn núi lửa”). Danh tiếng của Khánh Ngọc nổi như cồn trong khoảng 5 năm (từ 1955-1960), không chỉ trong lĩnh vực ca nhạc mà cả trong điện ảnh, cô nổi tiếng trước cả Kiều Chinh, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương… (qua các phim Chúng tôi muốn sống, Đất lành…) Sau biến cố được cho là do vợ ngoại tình (với nhạc sĩ Phạm Duy – anh rể trong nhà, 9 Ban Thang Long 2chồng của Thái Hằng), Phạm Đình Chương ly dị vợ, và ông được quyền nuôi đứa con trai (lúc đó khoảng 4-5 tuổi).

Thời gian này, Phạm Đình Chương không còn tâm trí để cùng biểu diễn với ban hợp ca Thăng Long được nữa. Ông sống khép kín, ít giao thiệp với bên ngoài. Cũng từ đây, những bản tình ca ai oán của Phạm Đình Chương đã ra đời trong nước mắt. Những nốt nhạc là kết tinh của những cơn đau thương, của những hoài niệm xót xa, với những ca từ bi thiết, đó là những ca khúc: Đêm cuối cùng, Thuở ban đầu…

Riêng với 2 ca khúc Người đi qua đời tôi Nửa hồn thương đau thì trong tâm trạng đau đớn tột cùng bởi gia đình tan nát, chia lìa, Phạm Đình Chương đã tìm thấy sự đồng cảm từ bài thơ của Trần Dạ Từ :

Tr Da Tu“Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu.

Mưa mù lên mấy vai, gió mù lên mấy trời.

Người đi qua đời tôi, hồn lưng miền rét mướt.

Vàng xưa đầy dấu chân, đen tối vùng lãng quên.

Bàn tay mềm khói sương, tiếng hát nào hơ nóng.

Và ai qua đời tôi, chiều âm vang ngàn sóng, trên lối về nghĩa trang…

Người đi qua đời tôi, không nhớ gì sao người…

Em đi qua đời anh, không nhớ gì sao em” (Người đi qua đời tôi).

Đặc biệt, từ bài thơ Lệ đá xanh của Thanh Tâm Tuyền, ông đã viết thêm ý rồi đổi tựa để thành ca khúc Nửa hồn thương đau bất hủ : “Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa, cho tôi về đường cũ nên thơ, cho tôi gặp người xưa ước mơ. Hay chỉ là giấc mơ thôi, nghe tình đang chết trong tôi, cho lòng tiếc nuối, xót thương suốt đời. Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau. Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau, hay ta còn hẹn nhau kiếp nào. Anh ở đâu ? Em ở đâu ? Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu. 9 Khanh Ngoc 3Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt, chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất, và tiếng hát, và nước mắt… Đôi khi em muốn tin… Ôi những người… Khóc lẻ loi một mình”.

Ca khúc Nửa hồn thương đau được người em ruột của ông là ca sĩ Thái Thanh trình bày khiến những ai đã nghe qua khó thể quên được. Nhưng nếu trong một cơn say nào đó được chính tác giả hát lên thì người nghe mới thật sự xúc động. Giọng ca của Hoài Bắc vốn trầm và dội, sau cú sốc tình cảm quá lớn lại như có ướp thêm men rượu. Nếu như ai đã từng quen ngồi phòng trà Đêm màu hồng – tên một bản nhạc của Phạm Đình Chương phổ thơ Thanh Tâm Tuyền tại Sài Gòn vào những năm trước 1975, chắc chắn từng bắt gặp Phạm Đình Chương tay cầm ly rượu và điếu thuốc cháy dở, hát đơn ca bằng một chất giọng nhừa nhựa rất phiêu.

Thực ra đây là ca khúc ông viết cho phim Chân trời tím. Đến lúc bộ phim sắp hoàn tất, bị nhắc nhở vì trễ hẹn và trong men say chếnh choáng Phạm Đình Chương đã trút hết nỗi đau của mình vào Nửa hồn thương đau.

Khánh Ngọc sang Mỹ từ năm 1961 để học thêm về điện ảnh và đã có gia đình mới, nhạc sĩ Phạm Đình Chương từ trần tại California (Mỹ) năm 1991.

9 Khanh Ngoc 2Khánh Ngọc bây giờ ra sao ?

Khánh Ngọc cho biết hiện cô đang ở Los Angeles,  rất bằng lòng với đời sống hiện tại, lâu lâu đi hát cho các hội từ thiện và  bạn bè ở các tiểu bang, rất vui gặp lại bạn bè mới và cũ. Cô nói cô có nhiều kỷ niệm trong đời nghệ sĩ, mỗi lần gặp lại bạn bè, nhắc những kỷ niệm cũ cô cảm thấy rất vui, Cô cố giữ những kỷ niệm vui này trong tâm trí và  mong một ngày nào đó  trở về VN cùng với bạn bè  sống cho hết quảng đời còn lại.

Được hỏi, sau khi tốt nghiệp điện ảnh rồi sao cô không trở về VN, Ca sĩ Khánh Ngọc cho biết  trong thời gian lưu diễn các tiểu bang cô có gặp một sinh viên VN, hai người đã kết hôn  và có ba con nên rất bận rộn và gia đình cũng ngăn cản con đuờng nghệ thuật của cô. Tuy nhiên cô không buồn vì rất hạnh phúc với gia đình.  Khánh Ngọc cho biết nay cô đã về hưu, niềm  vui hiện tại của cô là với gia đình và các cháu. Cô rất thích nấu nướng và làm bánh… Mỗi lần đi các tiểu bang, gặp lại khán giả đã biết cô  và vẫn giữ lòng quý mến cô, cô cảm thấy rất là hạnh phúc(theo Hà Đình Nguyên)

9 Khanh Ngoc 4Nhạc phẩm : “Nửa hồn thương đau” của Phạm Đình Chương

Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa

Cho tôi về đường cũ nên thơ

Cho tôi gặp người xưa ước mơ

Hay chỉ là giấc mơ thôi

Nghe tình đang chết trong tôi

Cho lòng tiếc nuối xót thương suốt đời.

Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau

Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau

Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào

Em ở đâu? Anh ở đâu ?

9 Pham D Chuong 2Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu.

Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt

Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất

Và tiếng hát và nước mắt.

Đôi khi anh muốn tin

Đôi khi anh muốn tin

Ôi những người, ôi những người

Khóc lẻ loi một mình.

Nghe : tiếng hát THÁI THANH

http://youtu.be/1PyP4z3xO2k

Xem thêm Nói về nhạc phẩm NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

9 Le Thu 1NỮ CA SĨ LỆ THU

KHỜ KHẠO NÊN PHẢI

TRẢI QUA 3 ĐỜI CHỒNG

Bài hát đưa nữ danh ca lên đỉnh cao nghiệp diễn có tên “Dang dở”, như một điềm báo cho hạnh phúc không trọn vẹn với ba cuộc hôn nhân và mối tình đẹp, mà câu trả lời cuối cùng vẫn là không ai cùng đi trọn một con đường.

Tình duyên là thế, nhưng cuộc đời đã bù lại cho chị một sự nghiệp không phải ai cũng có được. Để rồi gần 50 năm qua, giọng ca Lệ Thu cất lên một niềm đồng cảm với những cuộc tình không trọn vẹn. Chị như người kể chuyện tình, đắm say qua nhiều thế hệ.

Lệ Thu chia sẻ, chị là người biết làm chủ cảm xúc và diễn tả nó một cách tỉnh táo, trong các ca khúc, chứ không bị chi phối bởi những đổ vỡ đớn đau của cuộc đời. Có thể tiếng hát Lệ Thu có trước những mất mát riêng tư của chị. Nhưng người nghe lại thấy trong giọng hát Lệ Thu có điều gì như uẩn ức, như muốn nói lời bí mật nào đó đã làm người hát đẩy nỗi đau lên đến tột cùng trong từng nốt nhạc.

Cô bé đi hia vạn dặm

– Chị là người nổi tiếng nhút nhát và khờ khạo, lại sinh ra trong một gia đình phong kiến. Tại sao một cô gái như thế lại chọn nghiệp ca sĩ ?

Tôi cho rằng đó là cái nghiệp. Gia đình tôi, chú bác, cậu đến người anh đều hát hay. Tôi hát chẳng là gì so với họ, nhưng chắc không ai có cái nghiệp như tôi. Tôi được học piano từ nhỏ, âm nhạc đã ngấm vào máu. Rồi mẹ đưa tôi từ Hải Phòng vào Sài Gòn sống. Gần nhà có người thầy dạy guitar, tôi theo học và thỉnh thoảng có hát. Hàng xóm khuyến khích đi thì, tôi chối đây đẩy: 9 Le Thu 2“Thôi thôi, hát tài tử thì được chứ đi thi thì không”. Lý do là trước khi đi thi, phải nhìn vào gương để tập hát, tôi nhìn thấy chính mình nên rất sợ.

Cho đến dịp sinh nhật người bạn vào năm 1960, đang ăn uống vui vẻ ở phòng trà Bồng Lai, một đứa bảo bạn : “Ê, Oanh, mày hát cho tụi tao nghe một bài”. Tôi từ chối, nhưng bạn bè đẩy quá nên hát bài Tà áo xanh (có tên khác là Dang dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Đến giờ tôi cũng không hiểu tại sao có thể bài hát đó để mở đầu cho sự nghiệp ca hát của mình.

Ông chủ phòng trà Bồng Lai khen : “Em hát được lắm, em có muốn đi hát không ?”. Tôi trả lời : “Dạ thưa không, mẹ cháu không muốn cho cháu đi hát”. Ông ấy thuyết phục: “Em đi hát nhưng vẫn có thể đi học được. Em không phải thức khuya, vì đến đây hát lúc 9 giờ, 10 giờ đã về rồi. Một tiếng đó, em có thể nói với mẹ là đến nhà đứa bạn học bài”. Rồi ông đưa ra mức thù lao, tôi thực sự choáng vì ngoài sức tưởng tượng. Tôi không nhớ là bao nhiêu, nhưng đối với nữ sinh lúc đó là cả một vấn đề. Nghĩ tới nghĩ lui, bạn bè cũng nói vào nên tôi quyết định đi hát.

– Như chị nói, con đường ca hát của chị được trải thảm đỏ ngay từ đầu. Nhưng để một tên tuổi nổi lên đâu phải dễ, nhất là đang có những cái bóng quá lớn như Thái Thanh, Mộc Lan, Kim Tước, Bạch Yến…?

Đúng là thập niên đó, các bậc đàn anh đàn chị đình đám lắm. Nhưng hầu hết đều hát giọng mũi, còn tôi là giọng nữ trung, đầy, rõ nên xuất hiện như một nhân tố lạ. Tôi trở thành cô bé đi hia vạn dặm, nhưng cuộc sống vẫn không có nhiều thay đổi.

Tôi nhớ những ngày đầu trốn mẹ đi hát ở Bồng Lai, vừa hát vừa sợ. Rồi mẹ tôi cũng biết do một anh hàng xóm mách lại. Anh ấy vốn rất mê tôi nhưng không được đáp lại tình cảm nên tố cáo chuyện tôi đi hát với mẹ. Bà nỏi giận đùng đùng, nhưng vẫn gọi tôi đến hỏi : “Oanh, tại sao con lại làm thế ? Dòng họ nhà mình có ai thế đâu. Con không biết xướng ca là vô loài ?”. Tôi chỉ biết im lặng. Và mẹ cấm cửa, không cho tôi ra khỏi nhà vào ban đêm.

Bốn ngày sau, ông chủ phòng trà Bồng Lai tìm đến thuyết phục mẹ tôi : “Bác ạ, nghề ca hát không phải xướng ca vô loài như hồi xưa. Nếu không tin, bác cứ đi với em đây đến phòng trà của con. Nếu bác thấy không được thì con thôi không làm phiền nữa. Em đứng trên bục hát hay, người ta vỗ tay và hát xong em về. Không ai đụng được đến em đâu”.

9 Le Thu 3Mẹ tôi nghe hay nên cũng đi cho biết. Thấy con gái hát ca khúc Sayonara được vỗ tay nhiều quá và chẳng “vô loài” gì cả, bà dần đổi ý. Rồi mẹ hỏi : “Thế đi hát thế, là… hát chơi à”. Ông chủ bảo có thù lao, rồi nói mức lương, bà ngạc nhiên đến mức té ngửa.

– Nhân chị nói về mẹ, xin được hỏi khi vào Sài Gòn, sao lại chỉ là hai mẹ con?

Đó là một câu chuyện dài. Mẹ tôi là vợ lẽ, sống dưới quyền người vợ cả, phải chịu đựng đủ điều. Một sân thóc rộng mênh mông, giữa trưa nắng đổ lửa, mẹ phải phơi, trở thóc, rồi thu dọn, quét sân từ trưa đến khi xế bóng. Không chỉ thế, còn đủ thứ việc trong nhà, chẳng bao giờ bà được nghỉ tay. Mẹ sinh 8 người con, cứ đến 3 tuổi là mất, chỉ có tôi là sống.

Năm 1953, khi mẹ con tôi vào đây, bố không đi vì tiếc gia tài. Một năm sau, ngày nọ tôi đi học về, mẹ chỉ ngắn gọn : “Thầy con mất rồi”. Từ đó mẹ sống lặng lẽ, không đi bước nữa. Và cũng từ đó tôi không biết tin tức gì ngoài đó nữa.

– Cuộc sống những ngày đó của mẹ con chị ở vùng đất mới như thế nào ?

Không đến nỗi nào, tuy chẳng khá giả nhưng không cơ cực. Tôi nhớ nhiều chuyện vui lắm. Năm 14 tuổi, đã có ngực mà tôi hồn nhiên đi tắm mưa không mặc áo, cũng không mặc áo ngực. Hàng xóm hàng phố đổ ra coi. Tôi không biết họ coi cái gì. Mãi sau mới biết họ nhìn mình, không biết là mình đang “triển lãm” trước mặt người ta.

– Từ chuyện đó nên anh hàng xóm mới thích chị ?

Tôi cũng không biết, nhưng hồi đó tôi xinh lắm. Anh hàng xóm nhà giàu, mỗi lần ăn xong, có tráng miệng lúc trái na, lúc trái cam, anh không ăn mà để dành cho tôi. Mỗi lần thấy tôi đi qua, không dám đưa tận tay, anh quẳng cho tôi và tôi cũng hồn nhiên nhận. Anh ấy và tôi học khác trường. Bốn năm trời anh cứ đạp xe đứng ngóng tôi trong những giờ ra chơi. Mặc dù chưa một lần nắm tay, chưa một lần đi cùng, cũng chưa bao giờ nói thương tôi nhưng đến bây giờ khi gặp lại, anh bảo vẫn còn nhớ tôi. 9 Le Thu 4Nghe nói, cuộc sống riêng của anh ấy cũng không hạnh phúc lắm.

Khờ khạo nên mất chồng

– Từ một cô bé hồn nhiên tắm mưa để rồi thành ca sĩ nổi tiếng, cuộc đời của chị hẳn thay đổi nhiều lắm?

Mẹ tôi bảo có con gái trong nhà như trái bom nổ chậm, lại theo ca hát nên sợ tôi ế và đặc biệt là lo sa ngã. Đi hát, gặp một anh chàng không quân thích tôi, gia đình họ đến đặt vấn đề. Tôi lấy chồng khi chưa một lần nắm tay người khác giới, chưa bao giờ hôn nên trong cuộc sống gối chăn, tôi cứ như… khúc gỗ. Người chồng thất vọng não nề về sự ngây thơ, thậm chí đần độn của vợ. Chỉ được hai tháng, anh ấy không thể chịu đựng nữa nên quyết định bỏ.

Gia đình chồng người Huế, anh ấy là con cưng. Còn tôi lại không biết nấu ăn, không biết làm dâu, nên họ không hài lòng. Kết thúc hôn nhân không có con cái, tôi về với mẹ. Bà cũng chẳng buồn vì mỗi lần lên thăm con đều cảm nhận được cảnh cơm nguội canh nhạt.

Lạ lùng bị chồng bỏ, tôi không thấy đau khổ. Có lẽ vì không yêu. Bởi nếu có một tình yêu đúng nghĩa, bằng mọi cách tôi sẽ giữ lấy tình yêu của mình. Chia tay khoảng 5 -7 năm, tôi gặp lại anh ấy một cách tình cờ. Khi ấy tên tuổi của tôi đã nổi lắm rồi. Anh ấy cũng hát hay và đi hát như một niềm đam mê.

– Cuộc hôn nhân đầu tiên không thành do chưa có kinh nghiệm với đàn ông, chưa biết thế nào là yêu. Vậy với cuộc hôn nhân thứ hai thì sao ?

Tôi gặp một Việt kiều về nước chơi. Anh ấy ở Pháp từ nhỏ, đã có vợ con bên đó nhưng về đây thấy tôi thì mê và bỏ luôn gia đình bên đó. Năm 1963, tôi đi bước nữa. Sau này tôi mới biết chuyện này chứ nếu biết anh ấy có vợ con rồi, chẳng bao giờ tôi tiến đến hôn nhân. Gọi là rung cảm thực sự cũng chưa hẳn, nhưng tôi nghĩ nên có một gia đình để yên thân yên phận. Rồi hỏi, rồi cưới, rồi dang dở. Có thể người nghệ sĩ được ông trời ban cho thanh sắc, thì hạnh phúc gia đình bị lấy đi chăng?

– Giữ được hay đánh mất hạnh phúc, một phần cũng do người đấy chứ ?

9 Le Thu 6Tôi từng tính bỏ hát để yên phận. Nhưng anh ấy không phải là người đàn ông của gia đình, đúng hơn là không phải là người chung thủy. Anh ấy hào hoa có sẵn, lăng nhăng có thừa, lại ảnh hưởng lối sống Tây hóa, tôi không chịu nổi nên cuối cùng phải bỏ, dù không cãi vã to tiếng. Bảy năm cho cuộc hôn nhân đó, chúng tôi có hai đứa con gái. Nếu đủ bản lĩnh, tôi đã giữ được chồng vì tôi có tiền, có danh, nhưng tôi không biết cách và cũng chẳng muốn giữ.

Anh ấy nhảy giỏi, đẹp trai, con nhà giàu, nhiều phụ nữ thích cũng là bình thường. Nhưng thấy họ mê mình, anh ấy cũng mê lại. Ca sĩ L. cùng thời với tôi và rất nổi tiếng, theo đuổi chồng tôi. Tôi ít biết ghen, nhưng đã không thể chịu đựng những gì diễn ra trước mắt, tôi gần như phát điên. Đang đêm tôi tung mền, xé quần áo lao ra đường. Hai người giúp việc phải chạy theo trùm mền đưa về nhà. Đó là một cuộc hôn nhân bi thảm.

Ngỡ đã ngọt ngào

– Sau những cay đắng, hạnh phúc mỉm cười với chị khi nên duyên với một nhà báo. Nhiều người nói chính chị đã bỏ hạnh phúc này để đi Mỹ ?

Không phải thế. Năm 1969, chúng tôi gặp nhau, đến năm 1974 mới tổ chức đám cưới. Cuộc hôn nhân kéo dài 10 năm, có với nhau một đứa con gái, anh ấy rất yêu thương, lo lắng cho tôi. Hạnh phúc được thử thách qua tháng ngày gian khổ, thế nên tôi hoàn toàn yên tâm đó là những gì ngọt ngào có được sau bao nhiêu cay đắng. Nhưng khốn khổ cho tôi. Tôi vừa đi Mỹ, lập tức đã có người phụ nữ khác đến nhà sống với anh ấy. Và một lần nữa, tôi vẫn là người khờ khạo.

– Đổ vỡ trong hôn nhân cũng là điều bình thường trong cuộc sống. Nhưng xin lỗi chị, đổ vỡ nhiều mà vẫn khờ khạo, liệu có bình thường không?

Người ta đồn tôi rất đoan chính, không ai đụng đến được nhưng không phải vậy. Thật ra tôi là kẻ khờ khạo, không dám lăng nhăng. Chẳng phải vì tôi nổi tiếng nên sợ lăng nhăng, người ta bêu rếu mình đâu. Đến giờ, tôi vẫn chưa giải thích được sự khờ khạo đó.

9 Le Thu 5Tôi từng có một cuộc tình rất thắm thiết. Năm 1988, gặp người đó, tôi mới biết rung động thật sự là gì, tình yêu đúng nghĩa là gì, nhưng tôi vẫn khờ khạo không giữ được tình yêu của mình. Và từ đó, tôi chẳng yêu ai được nữa. Tính tôi vốn nhát, không bao giờ đi tán tỉnh hay giành giật đàn ông dù có thích hoặc ước gì họ là người yêu của mình.

– Sau này chị gặp lại người những đàn ông đó, có thành bạn bè như người chồng đầu tiên? Họ bây giờ ra sao ?

Cả ba người đàn ông đó giờ đều còn sống, kể cả anh hàng xóm si tình năm ấy, có người qua Mỹ, có người còn ở Việt Nam. Chúng tôi vẫn là bạn và thăm hỏi nhau nếu có dịp. Riêng người chồng thứ hai ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi có ghé thăm anh ấy. Và tôi đã hóa giải hết mọi chuyện trong quá khứ rồi. Những người làm tôi đau, thậm chí kẻ thù, tôi bỏ qua hết để làm bạn. Tính của tôi vốn vậy, vì hận thù chỉ làm khổ mình thôi. Những người đã đi qua đời mình hay những gì mình trải qua đều là duyên, đều là ngộ, đều là nợ nhau cả và mình phải trả. Trả hết thì thôi. (theo Mốt & Cuộc Sống)

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

– Tình ca mùa Thu (2:01’)

https://youtu.be/tFvp11ZlMC0

01- Mùa Thu Cho Em – Lâm Thúy Vân 02. Thu Quyến Rũ – Tuấn Ngọc 03. Nước Mắt Mùa Thu – Khánh Ly 04. Mùa Thu Trong Mưa – Hợp Ca 05. Chuyện Hoa Tigon – Diệp Thanh Thanh 06. Giọt Mưa Thu – Khánh Hà 07. Autumn Night – Shayla 08. Tím Cả Chiều Hoang – Bảo Tuấn 09. Thu Vắng – Thanh Lan 10. Dấu Vết – Gia Huy

11/- Liên Khúc Mùa Thu – Thúy Hà Tú 12. Lá Đổ Muôn Chiều – Vũ Khanh 13. Autumn Leaves – Trish Thùy Trang 14. Chuyện Tình Mùa Thu – Duy Linh 15. Về Ðâu Hỡi Em ? – Lâm Nhật Tiến 16. Thu Sầu – Yến Phương 17. Nếu Có Em – Lê Tâm 18. Những Mùa Thu Qua Trên Cuộc Tình Tôi – Ninh Cát Loan Châu 19. Hoai Thu – Mạnh Đình 20. Xa Nhau Mua Thu – Thanh Trúc 21. Thu Hát Cho Người – Việt Dzũng.

– Những tình khúc bất hủ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1:20’)

https://youtu.be/RrM6X-yvcss

Những Tình Khúc Bất Hủ Của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước : Mai Hương,Khánh ly, Hương Lan, Thái Thanh

Danh Sách Bìa Hát : 1/. Bóng Chiều – Mai Hương 2/. Chiều – Mai Hương 3/. Tiếng Xưa – Mai Hương 4/. Bóng Chiều Xưa – Khánh Ly 5/. Đêm Tàn Bến Ngự – Mai Hương 6/. Khúc Nhạc Dưới Trăng – Mai Hương 7/. Kiếp Hoa – Mai Hương 8/. Ngọc Lan – Mai Hương 9/. Thuyền Mơ – Mai Hương 10/. Áng Mây Chiều – Mai Hương 11/. Cánh Buồm Lướt Gió 12/. Đêm Ngắn Tình Dài – Thái Thanh 13/. Bến Xuân Xanh – Mai Hương 14/. Ơn Nghỉa Sinh Thành – Hương Lan 15/. Vườn Xuân Thắm Tươi – Mai Hương

Quế Phượng chuyển tiếp

NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM

Logo tai lieu

logo vietSƠ LƯỢC NGUỒN GỐC

MỘT SỐ ĐịA DANH MIỀN NAM

Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó… riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy ?

Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.

Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác – để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

1/- Tên do địa hình, địa thế 

Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, tỉnh Bến Tre : 9 Dia danh 1“Gió đưa gió đẩy, / về rẫy ăn còng, / về bưng ăn cá, / về giồng ăn dưa…”

– Giồng là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát : “trên đất giồng mình trồng khoai lang…”

Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một quận (huyện). Lại nhắc đến một câu hát khác : “Ai dzìa Giồng Dứa qua truông Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…” Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Luơng đến cầu Long Định, ở bên phải quốc lộ 4 là Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn). Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì ?

– Truông là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. 9 Dia danh 2Ở vùng Dĩ An có truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có truông nhà Hồ.

“Thương em anh cũng muốn vô Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang” Tại sao lại có câu ca dao này ? Ngày xưa truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.

– Phá là lạch biển, nơi hội ngộ của các con sông trước khi đổ ra biển nên nước xoáy,sóng nhiều thường gây nguy hiểm cho thuyền bè. Phá Tam Giang thuộc tỉnh Thừa Thiên, phía bắc của phá Tam Giang là sông Ô Lâu đổ ra biển, phía nam là sông Hương đổ ra cửa Thuận An.

– Bàu : là nơi đất trũng, mùa mưa nước khá sâu nhưng mùa nắng chỉ còn những vũng nước nhỏ hay khô hẳn. Khác với đầm, vì đầm có nước quanh năm. Ở Sài Gòn, qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền chừng 1 km về hướng Hóc Môn, phía bên trái có khu Bàu Cát. Bây giờ đường xá được mở rộng, nhà cửa xây rất đẹp nhưng mùa mưa vẫn thường bị ngập nước. Ở Long Khánh có Bàu Cá, Rạch Giá có Bàu Cò.

– Đầm : là chỗ trũng có nước quanh năm, mùa mưa nước sâu hơn mùa nắng, thường là chỗ tận cùng của một dòng nước đổ ra sông rạch hoặc chỗ một con sông lở bờ nước tràn ra hai bên nhưng vẫn dòng nước vẫn tiếp tục con đường của nó. Ở Cà mau có Đầm Dơi, Đầm Cùn. Ở quận 11 Sài Gòn có Đầm Sen, bây giờ trở thành một trung tâm giải trí rất lớn.

9 Dia danh 3Bưng : từ gốc Khmer là bâng, chỉ chỗ đất trũng giữa một cánh đồng, mùa nắng không có nước đọng, nhưng mùa mưa thì ngập khá sâu và có các thứ lác, đưng… mọc. Mùa mưa ở bưng thường có nhiều cá đồng. “…về bưng ăn cá, về giồng ăn dưa”. Ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, có hai bưng là Bưng TrômBưng Cốc.

– Láng : chỗ đất thấp sát bên đường nước chảy nên do nước tràn lên làm ngập nước hoặc ẩm thấp quanh năm. Ở Bình Chánh (gíap ranh Sài Gòn – Long An) có Láng Le, được gọi như vậy vì ở láng này có nhiều chim le le đến kiếm ăn và đẻ. Vùng Khánh Hội (quận 4 Sài Gòn) xưa kia được gọi là Láng Thọ vì có những chỗ ngập do nước sông Sài Gòn tràn lên. Người Pháp phát âm Láng Thọ thành Lăng Tô, một địa danh rất phổ biến thời Pháp thuộc.

Trảng : chỗ trống trải vì không có cây mọc, ở giữa một khu rừng hay bên cạnh một khu rừng. Ở Tây Ninh có Trảng Bàng, địa danh xuất phát từ một cái trảng xưa kia có nhiều cỏ bàng vì ở vùng ven Đồng Tháp Mười. Ở Biên Hoà có Trảng Bom, Trảng Táo.

Đồng : khoảng đất rất rộng lớn bằng phẳng, có thể gồm toàn ruộng, hoặc vừa ruộng vừa những vùng hoang chưa khai phá. Một vùng trên đường từ Gia Định đi Thủ Đức, qua khỏi ngã tư Bình Hoà, trước kia toàn là ruộng, gọi là Đồng Ông Cộ. Ra khỏi Sài Gòn chừng 10 km trên đường đi Lái Thiêu có Đồng Chó Ngáp, được gọi như thế vì trước kia là vùng đất phèn không thuận tiện cho việc cày cấy, bị bỏ hoang và rất vắng vẻ, trống trải. Ở Củ Chi có Đồng Dù, 9 Dia danh 4vì đã từng dược dùng làm nơi tập nhảy dù. Và to, rộng hơn rất nhiều là Đồng Tháp Mười.

Hố : chỗ đất trũng, mùa nắng khô ráo nhưng mùa mưa có nơi nước lấp xấp. Ở Củ Chi có Hố Bò, vì bò nuôi trong vùng thường đến đó ăn cỏ. Biên Hoà có Hố Nai, là nơi những người Bắc đạo Công Giáo di cư năm 1954 đến lập nghiệp, tạo thành một khu vực sầm uất.

2/- Tên bắt nguồn từ tiếng Khmer

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hoá đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hoá một cách tài tình.

9 Dia danh 13– Cần Thơ : Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre), không thấy có liên quan gì về ngữ âm, người nghiên cứu chưa thể vội vàng kết luận là Cần Thơ là một địa danh hoàn toàn Việt Nam và vội đi tìm hiểu căn cứ ở các nghĩa có thể hiểu được của hai chữ Hán Việt “cần” và “thơ”.

Cần Thơ không phải là từ Hán Việt và không có nghĩa. Nếu dò tìm trong hướng các địa danh Việt hoá, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của Cần Thơ rất gần với ngữ âm của từ Khmer “kìntho”, là một loại cá hãy còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặc rằn, nhưng người ở Bến Tre vẫn gọi là cá “lò tho”.

Từ quan điểm vững chắc rằng “lò tho” là một danh từ được tạo thành bằng cách Việt hoá tiếng Khmer “kìntho”, người nghiên cứu có thể sưu tầm các tài liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer xa xưa trong địa phương này, rồi đi đến kết luận là địa danh Cần Thơ xuất phát từ danh từ Khmer “kìntho”.

– Mỹ Tho : Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, “mỹ” và “tho”, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người 9 Dia danh 11Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock,chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

Sóc Trăng : Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng. Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn.

Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).Đến thời ông Diệm, lại gọi là tỉnh Ba Xuyên, châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

Bãi Xàu : là tên một quận thuộc tỉnh Sóc Trăng. Đây là một quận ven biển nên có một số người vội quyết đoán, cho rằng đây là một trường hợp sai chính tả, phải gọi là Bãi Sau mới đúng. 9 Dia danh 14Thật ra, tuy là một vùng bờ biển nhưng Bãi Xàu không có nghĩa là bãi nào cả. Nó xuất phát từ tiếng Khmer “bai xao” có nghĩa là cơm sống. Theo truyền thuyết của dân địa phương, có địa danh này là vì nơi đây ngày trước, một lực lượng quân Khmer chống lại nhà Nguyễn đã phải ăn cơm chưa chín để chạy khi bị truy đuổi.

Kế Sách : cũng là một quận của Sóc Trăng. Kế Sách nằm ở gần cửa Ba Thắc (một cửa của sông Củu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K’sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hoá tiếng Khmer “k’sach”.

Một số địa danh khác :

– Cái Răng (thuộc Cần Thơ) là sự Việt hoá của “k’ran”, tức cà ràn, là một loại bếp lò nấu bằng củi, có thể trước kia đây là vùng sản xuất hoặc bán cà ràn.

– Trà Vinh xuất phát từ “prha trapenh” có nghĩa là ao linh thiêng.

– Sông Trà Cuông ở Sóc Trăng do tiếng Khmer “Prek Trakum”, là sông rau muống (trakum là rau muống).

– Sa Đéc xuất phát từ “Phsar Dek”, phsar là chợ, dek là sắt.

– Tha La, một địa danh nổi tiếng ở Tây Ninh (Tha La xóm đạo), do tiếng Khmer “srala”,là nhà nghỉ ngơi, tu dưỡng của tu sĩ Phật giáo.

9 Dia danh 15– Cà Mau là sự Việt hoá của tiếng Khmer “Tưck Khmau”, có nghĩa là nước đen.

3/- Địa danh do công dụng của một địa điểm hay do một khu vực sinh sống làm ăn.

Đây là trường hợp phổ biến nhất trong các địa danh. Theo thói quen, khi muốn hướng dẫn hay diễn tả một nơi chốn nào đó mà thuở ban đầu chưa có tên gọi, người ta thường hay mượn một điểm nào khá phổ biến của nơi đó, như cái chợ cái cầu và thêm vào một vào đặc tính nữa của cái chợ cái cầu đó; lâu ngày rồi thành tên, có khi bao trùm cả một vùng rộng lớn hơn vị trí ban đầu.

Chợ : Phổ biến nhất của các địa danh về chợ là chợ cũ, chợ mới, xuất hiện ở rất nhiều nơi. Sài Gòn có một khu Chợ Cũ ở đường Hàm Nghi đã trở thành một địa danh quen thuộc. Chợ Mới cũng trở thành tên của một quận trong tỉnh An Giang. Kế bên Sài Gòn là Chợ Lớn, xa hơn chút nữa là Chợ Nhỏ ở Thủ Đức. Địa danh về chợ còn được phân biệt như sau;

– Theo loại hàng được bán nhiều nhất ở chợ đó từ lúc mới có chợ, như : Chợ Gạo ở Mỹ Tho, Chợ Búng (đáng lý là Bún) ở Lái Thiêu, Chợ Đệm ở Long An, Chợ Đũi ở Sài Gòn.

Cho Ba Chieu– Theo tên người sáng lập chợ hay chủ chợ (độc quyền thu thuế chợ), như : chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hom, chợ Bà Quẹo, chợ Bà Rịa.

– Theo vị trí của chợ, như : chợ Giữa ở Mỹ Tho, chợ Cầu (vì gần một cây cầu sắt) ở Gò Vấp, chợ Cầu Ông Lãnh ở Sài Gòn.

– Xóm : là một từ để phân biệt một khu vực trong làng hay một địa phương lớn hơn, về mục tiêu sản xuất, thương mại hay chỉ đơn thuần về vị trí. Đơn thuần về vị trí, trong một làng chẳng hạn, có Xóm Trên, Xóm Dưới, Xóm Trong, Xóm Ngoài, Xóm Chùa, Xóm Đình… Về các mục tiêu sản xuất và thương mại, ngày nay cách phân biệt các xóm chỉ còn ở nông thôn mà không còn phổ biến ở thành thị.

Những địa danh còn sót lại về xóm ở khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn : vùng phụ cận chợ Bà Chiểu có Xóm Giá, Xóm Gà. Gò Vấp có Xóm Thơm. Quận 4 có Xóm Chiếu. Chợ Lớn có Xóm Than, Xóm Củi, Xóm Vôi, Xóm Trĩ (Trĩ là những nhánh cây hay thân cây suôn sẻ to cỡ bằng ngón chân cái, 9 Dia danh 5dài chừng 2 mét, dùng để làm rào, làm luới hay làm bủa để nuôi tằm).

Thủ là danh từ chỉ đồn canh gác dọc theo các đường sông, vì khá phổ biến thời trước nên “thủ” đã đi vào một số địa danh hiện nay hãy còn thông dụng, như : Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Ngữ (Sài Gòn), Thủ Thừa (Long An), Thủ Dầu Một (Bình Dương).

Đức, Thiêm, Ngữ, Thừa có lẽ là tên những viên chức được cử đến cai quản các thủ này và đã giữ chức vụ khá lâu nên tên của họ đã được người dân gắn liền với nơi làm việc của họ. Còn Thủ Dầu Một thì ở thủ đó ngày xưa có một cây dầu mọc lẻ loi.

Bến ban đầu là chỗ có đủ điều kiện thuận tiện cho thuyền ghe ghé vào bờ hoặc đậu lại do yêu cầu chuyên chở, lên xuống hàng. Sau này nghĩa rộng ra cho cả xe đò,xe hàng, xe lam… Cũng như chợ, bến thường được phân biệt và đặt tên theo các loại hàng được cất lên nhiều nhất. Một số tên bến đặt theo cách này đã trở thành tên riêng của một số địa phương, như : Bến Cỏ, Bến Súc, Bến Củi ở Bình Dương. Bến Đá ở Thủ Đức. Bến Gỗ ở Biên Hoà. Ngoài ra bến cũng còn có thể được đặt tên theo một đặc điểm nào ở đó, như một loại cây, cỏ nào mọc nhiều ở đó, và cũng trở thành tên của một địa phương, như : Bến Tranh ở Mỹ Tho, Bến Lức ở Long An (đáng lý là lứt, là một loại cây nhỏ lá nhỏ, rễ dùng làm thuốc, đông y gọi là sài hồ).

4/- Một số trường hợp khác

Có một số địa danh được hình thành do vị trí liên hệ đến giao thông, như ngã năm, ngã bảy, cầu, rạch…thêm vào đặc điểm của vị trí đó, hoặc tên riêng của một nhân vật có tiếng ở tại vị trí đó. Ở Sài Gòn có rất nhiều địa danh được hình thành theo cách này: Ngả Tư Bảy Hiền, Ngã Năm Chuồng Chó, Ngã Ba Ông Tạ9 Dia danh 9Ở Trà Vinh có Cầu Ngang đã trở thành tên của một quận.

Trường hợp hình thành của địa danh Nhà Bè khá đặc biệt, đó là vị trí ngã ba sông, nơi gặp nhau của 2 con sông Đồng Nai và Bến Nghé trước khi nhập lại thành sông Lòng Tảo. Lúc ròng, nước của hai con sông đổ ra rất mạnh thuyền bè không thể đi được, phải đậu lại đợi con nước lớn để nương theo sức nước mà về theo hai hướng Gia Định hoặc Đồng Nai. “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.”

Tương truyền có ông Thủ Huồng là một viên chức cai quản “thủ” ở vùng đó, tham nhũng nổi tiếng. Có lần nằm mơ thấy cảnh mình chết bị xuống âm phủ phải đền trả những tội lỗi khi còn sống. Sau đó ông từ chức và bắt đầu làm phúc bố thí rất nhiều; một trong những việc làm phúc của ông là làm một cái bè lớn ở giữa sông trên đó làm nhà, để sẵn những lu nước và củi lửa. 9 Dia danh 6Những ghe thuyền đợi nước lớn có thể cặp đó lên bè để nấu cơm và nghỉ ngơi. Địa danh Nhà Bè bắt nguồn từ đó.

Miền Nam là đất mới đối với người Việt Nam, những địa danh chỉ mới được hình thành trong vài thế kỷ trở lại đây nên những nhà nghiên cứu còn có thể truy nguyên ra nguồn gốc và ghi chép lại để lưu truyền. Cho đến nay thì rất nhiều địa danh chỉ còn lại cái tên mà ý nghĩa hoặc dấu vết nguyên thuỷ đã biến mất theo thời gian.

Thí dụ, Chợ Quán ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, bây giờ chỉ biết có khu Chợ Quán, nhà thờ Chợ Quán, nhà thương Chợ Quán… chứ còn cái chợ có cái quán đố ai mà tìm cho ra được. Hoặc Chợ Đũi (có một số người tưởng lầm là Chợ Đuổi vì người buôn bán hay bị nhân viên công lực rượt đuổi) ban đầu chuyên bán đũi, là một thứ hàng dày dệt bằng tơ lớn sợi, bây giờ mặt hàng đó đã biến mất nhưng địa danh thì vẫn còn.

Ngoài ra, đất Sài Gòn xưa sông rạch nhiều nên có nhiều cầu, sau này thành phố được xây dựng một số sông rạch bị lấp đi, cầu biến mất, nhưng người dân vẫn còn dùng tên cây cũ ở nơi đó để gọi khu đó,như khu Cầu Muối. Và cũng có một số địa danh do phát âm sai nên ý nghĩa ban đầu đã bị biến đổi nhưng người ta đã quen với cái tên được phát âm sai đó nên khi ghi chép lại, vẫn giữ cái tên đã được đa số chấp nhận, như Bến Lức, chợ Búng (Lứt là tên đúng lúc ban đầu, vì nơi đó có nhiều cây lứt; còn chợ Búng nguyên thủy chỉ bán mặt hàng bún, sau này bán đủ mặt hàng và cái tên được viết khác đi).

Phần trên đã nói tới nhiều địa danh của miền Nam, bây giờ là phần bổ túc. 9 Dia danh 12Gặp đâu ghi đó. Có những địa danh có thể đã được đề cập ở phần trên nhưng cũng vẫn ghi lại, vì tôi mới đọc được trong những cuốn sách khác.

1/- Thủ Đức : Ai chẳng một lần nghe nói đến nem Thủ Đức. Người ta nhắc đến cái địa danh Thủ Đức, Xuân Trường như là một nơi danh thắng để giai nhân, tài tử, tao nhân mặc khách đến đây thưởng thức phong quang. Theo lời truyền khẩu của các vị bô lão ở địa phương : Khi xưa, có vị thủ đồn đầu tiên ở nơi này tên là Đức. Đến sau, ông Tạ Dương Minh đứng ra qui dân lập chợ buôn bán, nhớ đến công vị thủ đồn tên Đức, nên lấy tên và chức tước của ông mà đặt cho chợ, gọi là chợ Thủ Đức nay đã thành danh. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh)

2/- Gò Vấp : Gò Vấp là tên một quận của tỉnh Gia Định. Gọi là Gò Vấp có ý nghĩa gì ? Chúng tôi đã dụng công ra tìm những sử sách và hỏi thăm các vị bô lão, nhưng chẳng tìm hiểu được gì đích xác. Tuy nhiên, theo truyền thuyết, cũng có thể tin được, địa danh mang tên Gò Vấp, vì lúc trước nơi ấy là một ngọn đồi trồng cây Vấp (theo tiếng Chàm gọi là Krai, tiếng Việt là Vấp hay Lùn). Thứ cây Vấp là thứ cây mà dân Chàm coi như thần mộc, yểm hộ cho dân tộc Chàm. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh) Cây Vấp (tên khoa học là Mesua Ferrea L.)

3/- Đồng Ông Cộ : Đồng bào ở tỉnh Gia Định từ xưa tới nay thường nghe nói đến tên “Đồng Ông Cộ” nhưng không hiểu rõ cụm từ này do ai đặt ra mà được truyền tụng mãi đến ngày nay.

Ở miền Nam chúng ta, địa phương nào cũng có nhiều huyền thoại, giai thoại truyền khẩu trong dân gian, lâu ngày trở thành một địa danh. Chúng tôi, người tình nguyện vạch bóng thời gian,ghi lại những sự việc xảy ra từng vùng,từng địa phương, để hiến quí bạn đọc hiểu rõ nguồn gốc từ thuở xa xưa nơi địa phương chính mình. Theo một vài vị bô lão cố cựu sinh quán tại Gia Định, thuật lại sự tích “Đồng ông Cộ” cho chúng tôi biết như sau.

8 Cho Saigon 2Đất Gia Định ngày xưa rộng lớn hoang vu, dân chúng ở rải rác từng nhóm theo ruộng gò nổng, rừng chòi dày đặc,đường sá chưa được khai mở, lối đi vất vả khổ cực. Khu đất “Đồng ông Cộ” này ngày xưa thuộc vùng sát cận trung tâm tỉnh Gia Định. Nó ăn từ chợ (ngã ba trong) dài tới cầu Hang; vòng ra đường Nguyễn Văn Học, phía bên này cầu Bình Lợi nó ăn sâu luôn phía trong có hơn 10 cây số, rồi vòng ra khu Hàng Xanh phía lò heo cũ Gia Định chạy dài tới ngã năm Bình Hoà.

Toàn thể khu vực rộng lớn như vậy,thuở xưa không có lấy một con lộ cái quan nào để dân chúng xê dịch. Dân cư trong vùng, sinh sống về nghề ruộng nương, rẫy bái, làm nghề hạ bạc (đánh cá) dọc theo sông cầu Bình Lợi, cầu Băng Ky bây giờ. Những khoảng đất không được khai phá thì toàn là rừng chồi cây lùm mọc rậm rạp. Về sau, Tây lấy Gia Định rồi thì mở mang quốc lộ đi Thủ Đức và khu sát rìa quốc lộ, ăn sâu vô hằng 5-7 cây số (từ phía Gia Định lên nằm bên tay mặt), được Tây khai phá làm rừng cao su. Toàn thể một khu đồng ruộng mênh mông như vậy, hơn phân nửa đất đai toàn là rừng rậm, dân cư lại ít nên không có nhiều đường mòn để xê dịch. Dân chúng di chuyển bằng ngựa cũng không tiện chớ đừng nói chi đến dùng xe bò hoặc xe trâu.

9 Dia danh 7Đây khác hơn mọi nơi là chỗ đó ! Mỗi khi dân cư trong vùng này muốn ra tỉnh, lúc đó là thành Gia Định, có việc cần kíp, hoặc rước thày trị bệnh, hoặc tải hàng rẫy, gạo thóc ra chợ bán, hoặc mua đổi các thứ cần thiết đem về dùng…. thật là muôn vạn khó khăn.

Chỉ có những trai tráng khoẻ mạnh mới có thể di chuyển nổi hằng mấy chục cây số đường lồi lõm không khác lên thác xuống ghềnh, khu đất này lại nhiều chỗ dốc lên, dốc xuống, đồi nổng..v.v.. Rất ít chỗ được khai phá, thành giồng như xuyên rừng vậy. Mà hễ mỗi lần đi như vậy thì ruộng nương, rẫy bái ở nhà lại không ai khai phá, làm lụng sản xuất. Lại mỗi lần đi ra thành thì lại mất ít nhất 2 ngày – 1 ngày đi, 1 ngày về mua bán, đổi chác.

Một ngày, bỗng dưng người ta thấy trước cổng nhà của một ông Phú Hộ với nhà ngói 3 gian, 2 chái, 1 dãy nhà bếp, nền đúc cao treo tấm bảng lớn đề mấy chữ : “Đảm nhận ‘Cộ’ người và hàng hoá đi khắp nơi”. Đồng thời với tấm bảng treo lên, ông Phú Hộ trong vùng gọi là ông Ba Phú Hộ truyền thâu dụng tất cả thanh niên vạm vỡ trong toàn khu, hay bất cứ nơi nào,muốn có chuyện làm, ngoài nghề ruộng rẫy.

9 Dia danh 10“Cộ người và hàng” ! Đó là một lối tải người và hàng hoá giản tiện hơn cả võng hay kiệu. Ông Ba Phú Hộ bèn cho dân đan những tấm vạc bằng tre, hai đầu có 4 lóng tre ló ra giống như cái băng ca nhà thương khiêng bệnh, để người đầu trước người đầu gác lên hai vai, khách thì ngồi ở vạc tre khúc giữa thòng chân lủng lẳng để người “Cộ” đi. Hàng hoá thì lại để ở khoảng giữa, thay vì tấm vạc tre đương thì nó là một miếng ván dày để có thể chất nhiều đồ mà không bị oằn chính giữa. Người sử dụng muốn mướn chỉ cần cho ông Ba Phú Hộ hay trước, cho biết nhà rồi thì sáng sớm, khi gà vừa gáy là có dân phu mang “Cộ” đến tận nhà mà rước người, hoặc “Cộ” hàng đi ra thành Gia Định. Từ đó, dân cư bắt đầu xê dịch dễ dàng, không nhọc mệt, bận tâm, hay tốn hao người mỗi khi tải hàng đi ra thành. Rồi thì, thời gian trôi qua, địa danh xuất hiện theo miệng người cư ngụ trong vùng. Khi hỏi : – Ở đâu ? Bèn đáp: – Ở trong đồng ông Ba “Cộ” !

Ông Ba “Cộ” đây có nghĩa là ông Ba Phú Hộ “Cộ” người và hàng hoá. Dần dần, hàng trăm năm sau vùng này được mở mang, nhưng là một vùng rộng lớn, dân chúng quy tụ về càng ngày càng đông lại không có địa danh, nên người ta nhớ ơn ông Ba “Cộ” lập thành vùng này thành địa danh gọi là “Đồng ông Cộ” cho đến ngày nay.

Cộ – danh từ: xe quệt. (td. trâu kéo cộ, một cộ lúa) – động từ: kéo đi, mang chở, khuân lấy (td. cộ lúa từ đồng về nhà) ăn. (td. nồi cơm lớn quá mức tụi tôi đâu có cộ nổi) đảm đương (td. nhiều việc quá liệu mình có cộ nổi khổng) (Theo cuốn Tự Điển Phương Ngữ Nam Bộ.) (Xe quệt, là loại xe dùng trâu hoặc bò để lết trên mặt đất. Khung xe bằng tre đặt trên 2 cây trượt. Đầu 2 cây trượt được gông vào càng xe. Người ta dùng dây chão buộc càng xe vào vai của trâu hoặc bò. Đây là phương tiện vận chuyển đường dài chủ yếu dùng trong mùa vụ nông nghiệp, thích ứng với địa hình phức tạp.)

Xe-cộ là danh từ kép, trong trường này, chữ cộ phải là danh từ để đứng chung với chữ xe. Cái xe và cái cộ cùng là danh từ chỉ một vật dùng để chuyển tải (người hoặc hàng hoá). Giống như danh từ kép chợ-búa, chợ và búa là hai danh từ đồng nghĩa, nhưng chữ búa là từ cổ đã biến mất không ai dùng nữa, chỉ còn tồn tại trong từ kép chợ-búa.  (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh)

9 Dia danh 84/- Đồng Tháp Mười : Chú thích năm 1970. Theo tôi, thuyết dưới đây của ông Lê Hương có phần đáng tin hơn cả. Trong bài Địa danh, di tích, thắng cảnh trong vùng người Việt gốc Miên, tập san Sử Địa số 14, 15 năm 1969, ông viết :

– “Tháp mười là một trong những ngôi tháp làm bằng đá do vua Jayavarman VII xây cất khắp lãnh thổ để thờ vị thần Bà La Môn Lockecvera là vị thần chuyên trị bệnh cho nhân loại. Bên cạnh tháp có những căn nhà sàn gỗ lợp bằng đá mỏng, bằng ngói hay bằng lá thốt nốt để người bịnh nằm dưỡng bệnh do nhân viên y tế hoàng triều coi sóc. Những ngôi tháp được xây dựng dọc theo các con đường lớn trong nước mà ngôi nằm trong đồng Tháp Mười, tính từ địa điểm xuất phát, đứng vào hàng thứ muời.

Thời gian trôi qua, tàn phá tất cả các công trình kiến trúc của cổ nhân, dãy nhà gỗ tiêu tan, chỉ còn một tượng sư tử đá và một linh phù (linga) cũng bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc Phạn (sanscrit) ghi tên Tháp thứ mười.9 Dia danh 16Trong năm 1932, nhà khảo cổ Pháp Parmentier đã đi vào Đồng Tháp bằng ghe và xuồng để đọc những chữ khắc vào đó và phát giác ra ngôi tháp…” (trích trong cuốn Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Muời của Nguyễn Hiến Lê)

5/- Bến Tre : Trường hợp hình thành tên gọi Bến Tre thật đặc biệt, vì đó là sự gán ghép giữa tiếng Khmer và tiếng Việt.Xưa kia người Khmer gọi nơi đó là Srok Treay – srok là xứ,treay là cá. Sau người Việt thay chỗ người Khmer đến sinh sống làm chủ chốn đó, biến chữ srok thành Bến nhưng chữ treay không dịch là cá mà phát âm theo tiếng Khmer thành Tre. Quả tình nơi đó không có tre mà thật nhiều tôm cá.(theo Hồ Đình Vũ)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SỰ RA ĐỜI CỦA MỘT TÌNH KHÚC

SỰ RA ĐỜI NGẪU NHIÊN

CỦA MỘT TÌNH KHÚC 

Theo lời nhà thơ Hà Huyền Chi kể lại về những lờì nhạc của mình

Lệ Đá, trước hết, không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của Trần Trịnh mới đúng.

Do một cơ duyên đặc biệt, Nguyễn Văn Đông, chơi Clarinet (xin nói không phải NS Nguyễn Văn Đông, tác giả Chiều mưa biên giới, Mấy dặm sơn khê…), giới thiệu Trần Trịnh với tôi :

– Nhạc Trần Trịnh khá lắm, nhưng rất ít người biết đến. Xin anh giúp thằng bạn em một lần, đặt lời ca giùm cho nó.

Tôi rất cảm mến Đông, nhưng liền lắc đầu :

– Em biết là anh vốn mù nhạc mà.

Đông tha thiết :

– Em biết chứ, nhưng em thành thực nghĩ rằng chỉ có anh mới giúp được nó.

Trần Trịnh cười hiền :

– Xin anh giúp cho, Tôi nghĩ là sẽ có cách…

Tôi thẳng thắn đặt điều kiện :

– Nể thằng em, coi như tôi thuận trên nguyên tắc. Tuy nhiên, tôi cần nghe anh đàn bản nhạc này vài lần để có khái niệm về nhạc tính. Và tôi cũng cần ý kiến thẩm định về nhạc thuật của bài này cùng Dzương Ngọc Hoán (chồng ca sĩ Quỳnh Giao).

Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội. Trần Trịnh ngồi vào Piano và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ, rất Pianissimo ấy, Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Khi ấy Đông đã kéo Dzương Ngọc Hoán qua và Hoán khen bản nhạc này không tiếc lời, khiến tôi có ngay quyết định giúp Trần Trịnh.

Sau phần thảo luận, chúng tôi tự chế ra một quy ước riêng. Trần Trịnh ghi dưới các nốt nhạc chữ “o” cho những từ không dấu (bình thanh) / Dấu huyền cho các từ mang dấu huyền, hỏi, nặng/ sắc cho các từ mang dấu sắc, ngã.

Tiếc là khi ấy loại máy cassette còn chưa được phổ biến. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hưởng của bản nhạc. Và tôi bắt đầu chơi ô chữ.

Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng tôi, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hoà được cái rung cảm đích thực của thơ tôi cho nhạc Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn. Anh và Hoán cùng hân hoan hát Lệ Đá khiến tôi cũng choáng ngợp niềm vui:

“Hỏi đá xanh rêu bao nhiều tuổi đời

Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời”…

Tôi cứ vừa viết vừa khóc thế đó, như khi ngồi chép lại những dòng này. Tôi bỏ dở bữa ăn, lên đài Quân Đội. Gặp Nhật Trường trước phòng vi âm. Tôi đưa Lệ Đá ra khoe, Nhật Trường hát ngay với nỗi hân hoan bốc lửa. Hắn túm ngay lấy Trần Trịnh đòi soạn cấp kỳ hoà âm cho ban nhạc và 2 bè khác cho Mai Hương, Như Thuỷ. Khoảng nửa giờ sau Lệ Đá được thâu cấp kỳ. Nhật Trường, Mai Hương, Như Thuỷ, mỗi nguời trên tay một bản Lệ Đá “mì ăn liền” say mê hoà ca với nỗi xúc động đồng thiếp. Take one Good take! Hát và thâu hoàn chỉnh ngay lần thứ nhất.

Nhật Trường như bay ra khỏi phòng vi âm ôm lấy tôi và Trần Trịnh :

– Ông đặt lời thần sầu. Bản này sẽ là Top Hit.

Tôi nhún nhường:

– Top Hit được là nhờ nhạc Trần Trịnh bay bổng như diều đấy chứ.

Lệ Đá – Ca khúc thơ phổ nhạc

Trong âm nhạc, các ca khúc “Nhạc phổ thơ” rất phổ biến và đóng một vai trò quan trọng trong nền âm nhạc Việt Nam. Thông thường các nhạc sĩ đồng cảm với những vần thơ, từ đó phổ nhạc viết ra những ca khúc “Nhạc phổ thơ”, ở chiều ngược lại “thơ phổ nhạc” hay là đặt lời cho một bản nhạc ít xuất hiện hơn, bởi có lẽ sẽ khó để cảm nhận được những gì tác giả gửi gắm qua một bản nhạc không lời, chính vì vậy không có nhiều bài “thơ phổ nhạc”, Lệ đá là một trong số ít các ca khúc đó.

Lệ đá vốn là một bản nhạc không tên được nhạc sĩ Trần Trịnh sáng tác vào giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, khi đó Trần Trịnh còn là một nhạc sĩ mới, chưa có nhiều tiếng tăm trong làn tân nhạc thời bấy giờ.

Cơ duyên đã đưa nhạc sĩ Trần Trịnh đến với nhà thơ Hà Huyền Chi, để rồi “Lệ đá” ra đời khi nhà thơ Hà Huyền Chi đã hòa được cảm xúc thơ của mình vào giai điệu thiết tha, dịu nhẹ của nhạc sĩ Trần Trịnh.

Một điều thú vị là, nhà thơ Hà Huyền Chi không chỉ đặt một lời cho nhạc phẩm mà viết tận 5 lời. Lời nào cũng rất thơ và đầy cảm xúc, nhưng có lẽ nổi tiếng hơn cả là chính là lời đầu tiên mà bây giờ chúng ta thường nghe.

Trình bày Lệ Đá với Vũ Khanh :

https://youtu.be/CL6i8zrlqb4

Cái ma kiếp của một bài ca được yêu chuộng thường yểu tử, và xuống cấp. Nhưng Lệ Đá thì không. Nó may mắn thoát khỏi định số ước lệ ấý. Vào những năm 67, 68 nhạc phẩm “Lệ Đá” được cất tiếng thường xuyên hầu như ở khắp mọi sinh hoạt văn nghệ mà thời kỳ này nhạc Trịnh Công Sơn đang được mọi người hâm mộ.

Lệ Đá góp mặt hàng đêm ở các phòng trà, tiệm nhảy. Lệ Đá vào khuê phòng, ra máy nước. Rồi quán cà phê cũng Lệ Đá, phim ảnh cũng Lệ Đá với tiếng hát Khánh Ly, phim do Thanh Nga, Đoàn Châu Mậu diễn xuất, và Bùi Sơn Duân đạo diễn.

May sao, Lệ Đá vẫn chưa trở thành nhạc sến, nhạc đứng đường. May sao, tôi vẫn được yên thân, bởi vẫn giữ kín cơ duyên “nhảy dù” vào nghề viết lời nhạc. Để mọi người đều hiểu lầm rằng Trần Trịnh phổ thơ tôi.

Khi ấy tôi viết thêm lời 3 cho Lệ Đá khi đi công tác ở Sóc Trăng, Cà Mau. Nơi Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc với muỗi mòng dễ nể. Nhà văn Bình Nguyên Lộc dọa, chỉ cần quơ tay một cái là đã túm được cả chục con muỗí. Bạn bè hăm, trâu bò còn phải ngủ trong mùng. Khách sạn tỉnh lẻ không khá gì hơn mấy quán trọ trong phim Anh Hùng Xạ Điêu, Cô Gái Đồ Long. Thực khách vừa nhâm nhi, vừa quơ chưởng, đuổi muỗí. Mới chập tối, tôi đã chui vô chiếc mùng thố. Và buồn tình tôi viết lời Lệ Đá 3.

CA KHÚC ‘AI LÊN XỨ HOA ĐÀO’

VÀ MỐI TÌNH NGANG TRÁI

CỦA NGƯỜI NHẠC SĨ TÀI HOA…

– Hà Thanh : Ai lên xứ hoa đào

https://youtu.be/6Lg1AomuNrw

– 24 ca khúc hay nhất của Hoàng Trọng & Hoàng Nguyên (2:24’)

https://youtu.be/94M2eJpvhbE

Đà Lạt bồng bềnh phiêu lãng, Đà Lạt mờ hơi sương, Đà Lạt của màu hoa đào, của rừng thông, của Hồ Than Thở, của thung lũng Tình Yêu. Mọi thứ ở Đà Lạt đều tràn ngập màu sắc lãng mạn. Nhưng nói đến ca khúc nào viết về Đà Lạt nào hay nhất, đẹp nhất, ấn tượng nhất, thì ai cũng nói rằng, đó là Ai Lên Xứ Hoa Đào của người nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh Hoàng Nguyên….

Đà Lạt, một trong những địa danh được ưu ái nhất của những nhạc sĩ tài hoa…  Đà Lạt, thành phố của ngàn hoa, từ lâu đã đi vào lòng bao khách lãng du bằng vẻ đẹp sương – gió – mây – trời – cỏ cây. Hai tiếng “Đà Lạt” đã đủ khiến người ta mơ mộng.

Trong những năm tháng dạy học tại Đà Lạt vào thập niên 1950, niềm cảm hứng đã tới để nhạc sỹ tài hoa Hoàng Nguyên (1932-1973), người thầy của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, cho ra đời tác phẩm bất hủ này.

Lãng mạn, mộng mơ và tuyệt đẹp… ta có thể tìm thấy tất cả cảm giác bồng bềnh đó ở Đà Lạt, ở Ai Lên Xứ Hoa Đào.

Từ đồi Vọng Cảnh, Thung lũng Tình Yêu hiện ra trong tầm mắt đẹp tựa bức tranh; triền thông vi vu gió như “thôi miên” ta vào cõi hư vô; những ngôi nhà gỗ xinh xắn thấp thoáng trên những ngọn đồi đầy hoa cho cảm giác yên bình đến lạ lùng; những con đường đất đỏ vòng vèo đưa khách phiêu lưu cùng đỉnh Langbian thấp thoáng trong mây…

Những ca khúc tuyệt vời của Hoàng Nguyên viết về Đà Lạt đã được sinh ra chính trong thời gian nhạc sỹ sống và dạy học ở thành phố mù sương, trong tuổi hoa niên tươi đẹp, lãng mạn của chàng thanh niên hai mươi tuổi Hoàng Nguyên.

Có lẽ, trái tim đôi mươi dâng tràn nhựa sống, cảm hứng thi ca trong chàng trai trẻ mang tâm hồn nhạc sỹ đã không thể không bật thành lời trước một Đà Lạt quá đỗi nồng nàn. Ngay từ những lời đầu tiên, những nốt nhạc đầu tiên được cất lên, một Đà Lạt mơ huyền, lãng mạn, một Đà Lạt mang đậm “chất Đà Lạt” đã hiện ra trong lòng người nghe:

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi giá len vào hồn người, chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ

Ca từ tuyệt đẹp, giai điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào đã mang lại cho “Ai lên xứ hoa đào” một vị trí đặc biệt trong lòng người Đà Lạt, người yêu Đà Lạt và làng âm nhạc Việt. Và dù bài hát đã ra đời quá nửa thế kỷ, mỗi khi nhắc tới Đà Lạt, không ai có thể không nhớ tới ca khúc tuyệt vời ấy.

Đà Lạt của Hoàng Nguyên in dấu mộng “Đào Nguyên” của nhạc sĩ Văn Cao

Là người hâm mộ Thiên Thai của nhạc sĩ Văn Cao, chắc hẳn những hình ảnh về một cõi thiên thai “Đào Nguyên” nơi hai chàng Lưu Nguyễn lạc bước đã in dấu trong lòng người nhạc sĩ:

“Đào Nguyên xưa, Lưu Nguyễn quên đường về, tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao..” (Thiên Thai- Văn Cao)

Nên trong bài Ai Lên Xứ Hoa Đào, người ta thấy rất nhiều bóng dáng tiên cảnh :

“Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.

Nghe tâm tư mơ ước Mộng Đào Nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.”

Hay như:

“Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa.

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương.

Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên.”

Một cảm giác rất sâu tìm thấy ở Ai Lên Xứ Hoa Đào, một cảm giác rất khó lý giải..

Đà Lạt trong ca khúc Hoàng Nguyên hiện lên những gì điển hình nhất của phố núi, là sương, là hoa, là thông, là tà áo dài thấp thoáng trong sương. Nhưng sự lãng mạn của ca khúc này đến từ một cái gì đó rất đặc biệt, rất sâu mà người ta khó lý giải được.

Ca từ lãng mạn, âm nhạc của ông nhẹ nhàng, ngọt ngào, tha thiết như một lời tự sự lạ kỳ.

Ngoài “bộ ba”: Bài thơ hoa đào, Ai lên xứ hoa đào và Hoa đào ngày xưa đều được viết với giọng trưởng (major), thì về sau Hoàng Nguyên còn viết bản Đà Lạt mưa bay – một Đà Lạt với giọng thứ (minor), nhịp chậm, mang tâm trạng người trẻ trong thời ly loạn.

Năm 1973, nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh từ giã cõi đời vì tai nạn giao thông ở Vũng Tàu, nhưng đã kịp để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ xuất sắc, với Bài Tango cho riêng em, Cho người tình lỡ, Đà Lạt mưa bay, Tà áo tím, Thuở ấy yêu nhau…vv.

Cuộc đời éo le và mối tình ngang trái của người nhạc sĩ tài hoa

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 1 1932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên lên ở Đà Lạt, Hoàng Nguyên dạy học tại trường tư thục Tuệ Quang, thuộc chùa Linh Quang, khu số 4 Đà Lạt.

Hoàng Nguyên khi đó dạy Việt văn lớp đệ lục. Lúc đó, ông là thầy giáo dạy nhạc cho Nguyễn Ánh 9, người sau này trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng đồng thời là nhạc công chơi đàn dương cầm.

Năm 1956, trong một đợt lùng bắt ở Đà Lạt, do trong nhà có các bản nhạc của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, Hoàng Nguyên bị bắt và đày ra Côn Đảo khoảng năm 1957. Ở Côn Sơn, thiên tình sử của người nghệ sĩ Hoàng Nguyên mở đầu với cảnh tình éo le và tan tác.

Là một tài hoa đa dạng, người tù Hoàng Nguyên được vị Chỉ Huy Trưởng đảo Côn Sơn mến chuộng nên đã đưa chàng ta về tư thất dạy Nhạc và Việt văn cho con gái ông, năm đó khoảng 19 tuổi… Mối tình hai người nảy nở, trăng ngàn sóng biển đã là môi trường cho tình yêu ngang trái. Ông chúa đảo phải lặng lẽ vận động để chàng nhạc sĩ tài hoa sớm được tự do.

Sau khi Hoàng Nguyên được trả tự do, trở về Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học. Trước khi kết hôn, Hoàng Nguyên có ý định quay lại với cô gái ở Côn Sơn, nhưng cô đã đi lấy chồng. Ca khúc Thuở ấy yêu nhau ra đời trong khoảng thời gian đó.

VÌ SAO CÁC ĐẠI HIỆP

TRONG TRUYỆN KIM DUNG

THƯỜNG MỒ CÔI CHA ?

Mười mấy bộ tiểu thuyết của Kim Dung có một điểm chung khá kỳ lạ, đó là nhân vật chính đều hoặc mồ côi cha, hoặc đi tìm cha. Dương Quá, Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc, Thạch Phá Thiên… đều như vậy. Ẩn ý đằng sau là gì ?

Người say mê Kim Dung đều dễ dàng nhận ra rằng, hầu như tất cả các đại hiệp trong truyện của ông đều mồ côi cha.

Đó mặc nhiên trở thành một nguyên tắc bất di bất dịch, muốn làm đại hiệp thì phải… mồ côi cha hoặc thất lạc cha.

Có người sinh ra không biết mặt thân phụ như Lệnh Hồ Xung (Tiếu ngạo giang hồ), Vi Tiểu Bảo (Lộc đỉnh ký). Có người thuở nhỏ mồ côi, cha là đại hiệp anh dũng phi phàm như: Quách Tĩnh (Anh hùng xạ điêu), Viên Thừa Chí (Bích huyết kiếm), Trương Vô Kỵ (Ỷ thiên đồ long ký)…

Lại cũng có người thất lạc cha từ bé, người nuôi nấng mình trưởng thành hóa ra lại chẳng phải cha đẻ như : Tiêu Phong (Thiên long bát bộ – con nuôi một lão nông nhưng cha đẻ là Tiêu Viễn Sơn), Đoàn Dự (Thiên long bát bộ – Đoàn Chính Thuần nuôi lớn nhưng cha ruột lại là Đoàn Diên Khánh) hay Thạch Phá Thiên (Hiệp khách hành – bị bắt cóc từ nhỏ), Hư Trúc (Thiên long bát bộ)…

Câu hỏi đặt ra là vì sao các nam chính trong tiểu thuyết Kim Dung đều mang trong mình một nỗi ám ảnh về người cha ruột lớn đến thế ? Có vài nguyên nhân giải thích điều này.

1/. Thủ pháp nghệ thuật  : Trong tiểu thuyết Kim Dung, các đại hiệp, anh hùng muốn dựng thành tên tuổi đều phải kinh qua hết thảy khổ nạn trong đời ngay từ tấm bé. Kim Dung rất thích đặt nhân vật chính của mình trong một hành trình trưởng thành, một chuyến phiêu lưu. Qua năm tháng dài đằng đẵng ấy, người đọc được chứng kiến từng bước đi của người anh hùng, từng thay đổi, từng bước ngoặt trong đời và từng cảm xúc hỉ nộ ái ố.

Việc để cho các thiếu niên anh hùng mồ côi, thất lạc cha từ nhỏ chính là xếp đặt ra cho họ một bi kịch, đặt họ vào lò lửa luyện đan ngay từ những bước chân đầu tiên. Đó là một thủ pháp nghệ thuật rất tinh tế. Những đại hiệp mồ côi cha thường mang trong lòng nhiều tâm sự, nhiều nỗi niềm, lại thường rất cứng cỏi, nghị lực (vì phải tự lập sớm) nên dễ chiếm được thiện cảm của độc giả.

Thêm một lý do nữa, việc có một mối quan hệ không suôn sẻ với người cha của mình cũng thúc đẩy các mâu thuẫn, đặt ra cho nhân vật chính nhiều nghịch cảnh, buộc họ phải lựa chọn. Có người sùng kính, ngưỡng mộ chỉ mong nối chí cha, có người lại oán hận, căm thù người cha ruột như cừu địch. Điều đó giúp Kim Dung thả sức sáng tạo cốt truyện và tạo ra những điểm cao trào, kịch tính.

Như vậy, đại hiệp mồ côi, trước hết chính là một thủ pháp nghệ thuật.

2/. Bi kịch cá nhân : Ngoài việc là một thủ pháp văn chương, bi kịch mồ côi cha của các đại hiệp trong truyện Kim Dung cũng có nguyên nhân từ chính cuộc đời tác giả.

Cha của Kim Dung là Tra Thụ Huân, trong các bản ghi chép khác còn có tên là Tra Mậu Trung. Gia tộc của Kim Dung là một danh môn vọng tộc ở Chiết Giang. Trong từ đường họ Tra còn treo ngự bút của Khang Hy hoàng đế. Họ Tra là một trong những gia tộc lớn nhất ở Giang Nam, có lịch sử nghìn năm từ những triều đại Đường, Tống…

Đến lúc Kim Dung ra đời, gia tộc ông dù đã suy yếu nhiều nhưng vẫn còn nắm trong tay 3600 mẫu đất, hơn 100 nông dân, các tiền trang. Trong nhà có 5 đại viện và hơn 90 căn phòng, ngoài ra còn có hoa viên lớn. Cha của Kim Dung không chỉ là một địa chủ thông thường. Ông tốt nghiệp các trường đại học nổi tiếng như Đại học Giáo hội, đại học Chấn Đán ở Thượng Hải.

Ở quê nhà, Tra Thụ Huân thường ra tay cứu tế, làm nhiều điều nghĩa hiệp. Những năm cuối đời ông đã dành rất nhiều sức lực, của cải để xây dựng nghĩa trang, miếu thờ tổ tiên và cả trường học. Ông còn đem 1000 mẫu đất của gia đình để dựng “Nghĩa điền” chia ruộng cho các hộ dân làm đất cấy cày.

Những “Nghĩa điền” này đều là ruộng tốt, dù hạn hán hay lũ lụt thì sau khi khấu trừ tổn thất mỗi năm vẫn có thể thu được 300 thạch (một thạch là 120 cân). Tra Thụ Huân bán số lương thực này lấy tiền mỗi tháng cứu tế dân nghèo. Mỗi vụ thu hoạch, ông đều tính toán tỉ mỉ rồi giảm hoặc miễn thuế cho điền nông.

Tra Thụ Huân rất nhiệt tâm xây dựng trường học, trích tiền dựng trường tiểu học Long Đầu Các, miễn phí nhập học cho trẻ nhỏ. Điều khiến người ta cảm khái nhất chính là sau này ông lại bị hành hình trên chính sân cỏ ở ngôi trường này trong nỗi oan khốc hại.

Vào những năm 50 của thế kỷ 20, phong trào “Trấn phản” và “Cải cách ruộng đất” ở Trung Quốc lên thành cao trào. Gia đình Kim Dung bị quy là thành phần địa chủ. Người của tổ chức “Trấn phản” muốn vạch tội Tra Thụ Huân nhưng dân làng không ai đứng ra đấu tố vì ông có ân với rất nhiều người.

Cuối cùng, người ta gán cho ông bốn tội danh : Kháng lương (không chịu nộp lương thảo), chứa chấp thổ phỉ, âm mưu sát hại cán bộ, bịa đặt phá hoại, tạo tin đồn thất thiệt. Tra Thụ Huân bị kết tội là địa chủ bất hợp pháp, phải chịu xử bắn.

Ngày bị xử bắn, ông không được thay quần áo, không được uống rượu, ăn cơm, bị trói cổ đưa đến sân vui chơi của trường tiểu học Long Đầu Các. Thụ Huân bị bốn người đồng thời dùng súng bắn đến khi ngã gục xuống. Sau khi ông chết, mộ phần cũng không dám để lại tên tuổi.

Khi cha mình bị hại, Kim Dung đang làm việc cho tờ “Đại Công Báo” ở Hồng Kông. Rất nhiều năm về sau, trong tự truyện “Nguyệt Vân”, ông viết :

Một đội quân đánh vào quê nhà của Nghi Quan, từ Sơn Đông đến. Cha của Nghi Quan bị phán là địa chủ lừa dối, đàn áp nông dân, phải nhận tử hình. Nghi Quan ở Hồng Kông khóc ba ngày ba đêm, đau lòng hơn nửa năm. Nhưng ông tuyệt không thống hận đội quân đã giết chết cha mình, bởi vì có đến hàng ngàn hàng vạn địa chủ bị phán tử hình. Đây là một biến hóa nghiêng trời lệch đất”. Nghi Quan chính là tên khác của Kim Dung. Cho đến năm 1981, Tra Thụ Huân mới được minh oan. Lúc này vợ của Tra Thụ Huân, Cố Tú Anh đã 73 tuổi.

Nỗi đau mất thân phụ ấy trở thành ám ảnh lớn trong tâm Kim Dung, sau này lại trở thành cảm hứng chắp bút cho ông. Những nhân vật chính của Kim Dung đều có chung một cuộc hành trình tìm cha đầy gian khó. Dương Quá tìm cha, Tiêu Phong tìm cha, Đoàn Dự tìm cha, Hư Trúc tìm cha, Thạch Phá Thiên tìm cha, Trương Vô Kỵ tìm nghĩa phụ… Tất cả đều đang tìm cha.  (theo Thanh Bình – Văn Nhược)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp