NHỮNG NHẠC SĨ GỐC HUẾ (2/2)

NHỮNG NHẠC SĨ

GỐC HUẾ (2)

(Tiếp theo và hết)

6/- NHẠC SĨ LÊ MỘNG BẢO

Nhạc sĩ Lê Mộng Bảo  sinh năm 1923 tại Huế trong một gia đình nho giáo gốc Minh Hương. Năm 1940 lúc lên 17 tuổi ông đã bắt đầu sống tự lập. Ông ra Bắc làm việc cho tờ báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ông học chữ Hán với cụ Phan Bội Châu, học nhạc với  nhạc sĩ  Đặng Thế Phong và Nguyễn Văn Thương. Năm 1944  ông trở về Huế  và làm việc tại Sở Bưu điện Huế .

Năm 1945 ông thôi việc và mở một tiệm bán sách trên đường Trần Hưng Đạo. Ông xuất bản nhạc phẩm “Quảng đường mai ” của Nguyễn Hữu Ba và từ đó ông đi luôn vào ngành xuất bản âm nhạc. Vì công việc làm ăn nên ông thường hay đi Hà Nội, do đó ông quen biết nhiều nhạc sĩ sống ở miền Bắc như Văn Cao, Phạm Duy, Nguyễn Xuân Khoát, Bùi Công Kỳ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Phúc  vv…Trong thời gian này, theo phong trào chống Pháp ông sáng tác bản nhạc đầu tay “Không làm nô lệ”.

Năm 1948 ông cộng tác với nhà xuất bản Tinh Hoa của ông Tăng Duyệt và chính ông đã giúp ông Tăng Duyệt phát triển thành nhà xuất bản nhạc phẩm uy tín nhất VN. Năm 1952  ông Tăng Duyệt cử ông vào Saigon lập chi nhánh nhà xuất bản Tinh Hoa 2  để xuất bản những nhạc phẩm của các nhạc sĩ miền Nam .

Năm 1956 nhà xuất bản Tinh Hoa Huế ngưng hoạt động vì tình hình chính trị thay đổi. Tại Saigon một mình Lê Mộng Bảo khai trương nhà xuất bản lấy tên là Tinh Hoa Miền Nam. Ông có tài kinh doanh nên ngoài việc xuất bản ông còn phân phối nhạc phẩm đến tận các nhà sách và các nhà dù bán nhạc trên các lề đường Saigon. Nhà xuất bản nhạc phẩm của ông là nhà xuất bản VN đầu tiên có tên trong danh mục các nhà xuất bản nhạc quốc tế “Worldwide music trade directory ” .

Ông có nhiều nhạc phẩm sáng tác như  “Đổi thay ”, ”Mùa ve sầu”, “Phận nghèo”, “Thân phận”, “Bọt bèo”, “Xa anh rồi”, “Không hiểu tại sao”, “Sao lừa dối em”.  Ông có sáng tác chung với  các nhạc sĩ khác như Văn Phụng, Mạnh Phát, Tô Kiều Ngân , phạm Mạnh Cương … Ông cũng có bài tân cổ giao duyên  “Thân phận” soạn chung với soạn giả cải lương Quế Chi. Bản này được thu thanh vào dĩa qua giọng ca của Minh Vương và Thanh Kim Huệ.

Ông cùng các nhạc sĩ Lê Thương, Nguyễn Hữu Ba, Phạm Duy, Xuân Phát … thành lập Hội nhạc sĩ VN .

Năm 1973 ông cùng với nhac sĩ Văn Giảng, các ca sĩ Mộc Lan, Kim Tước  phụ trách lớp nhạc lý  tại Viện khoa học giáo dục. Ông cùng với nhạc sĩ Song Ngọc phụ trách chương trình “Hoa tình thương” trên  Đài truyền hình VN và đi lưu diễn tại các tiền đồn xa xôi. Ông cũng là chuyên viên báo chí thời Hoàng Đức Nhã làm Bộ trưởng Thông tin và Dân vận. Ông phụ trách tờ báo “Lẽ sống” ở Saigon.

Sau 1975 ông đi học tập cải tạo đến 1981. Năm 1993 ông sang Hoa Kỳ theo diện HO và đang định cư tại Cali.

7/- NHẠC SĨ  LÊ MỘNG NGUYÊN  

Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sinh năm 1930 tại Huế trong một gia đình trí thức và yêu văn học, nghệ thuật.

Ông có người anh tên Lê Mộng Hoàng là một ca sĩ có giọng ca Ténor nổi tiếng trong thập niên 40 của Đài phát thanh Huế. Nhưng ông anh thích làm diễn viên điện ảnh hơn làm ca sĩ. Sau khi du học ở Pháp về ngành điện ảnh, ông trở về VN đạo diễn phim  “Bụi đời” và Lê Mộng Nguyên viết nhạc cho phim.

Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sáng tác nhạc hồi còn rất trẻ  nhưng mãi đến năm 1948 ông mới cho ra mắt nhạc phẩm “Mừng Khánh Đản” nhân dịp khánh thành chùa Từ Đàm Huế , “Vó ngựa giang hồ” , “Mùa lúa mới”, “Trường ca quân tiến” …

Khi ông 19 tuổi ông yêu tha thiết một cô gái Huế tên M. và chính người đẹp này là nguồn cảm hứng để ông viết bài “Trăng mờ bên suối” (1949). Sáng tác xong, ông gởi ngay cho nhạc sĩ Thu Hồ  lúc ấy đang là một ca sĩ nổi danh của đài phát thanh Pháp Á, mặc dù trước đó hai người chưa hề quen biết nhau. Thu Hồ đã thu thanh bản nhạc này với ban nhạc Trần Văn Lý. Từ Huế nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên nghe giọng hát cũa Thu Hồ trình bày nhạc phẩm của mình với cái radio của người hàng xóm qua làn sóng điện của đài Pháp Á. Từ đó ông tiếp tục gởi thêm những bài khác cho Thu Hồ và hai người trở nên đôi bạn thân cho đến cuối cuộc đời.

Năm 1950  ông sang Pháp du học về ngành luật. Sau khi đỗ tiến sĩ ông dạy tại Đại học Paris về Luật hiến pháp, Khoa học Chính trị  và kinh tế.  Năm 1996  ông về hưu và được bầu vào Hàn Lâm Viện Khoa học hải ngoại Pháp.

Những nhạc phẩm của Lê Mộng Nguyên gồm có :

1948 –  Mừng Khánh Đản, Mùa lúa mới, Vó ngựa giang hồ.

1949 – Trăng mờ bên suối, Một chiều thương nhớ, Trọng Thủy Mỵ Châu, Chiều thu, Mưa Huế.

1950 – Hoàng Hoa Thôn, Nhớ Huế, Bài thơ Huế, Cô gái Huế, Về chơi thôn Vỹ Dạ, Đôi mắt nhung, Mơ Đà Lạt, Ly hương.

1956 – Bên dòng sông Seine, Xuân tha hương, Lá thư cho mẹ, Trời Âu.

1957- Bụi đời, Người đã trở về. 1980 – Xuân về nhớ mãi quê hương. 1988 – Chiều vàng trên chợ Đông Ba.  1991 – Quê tôi. 1992 – Kiếp giang hồ.

8/- NHẠC SĨ  THU HỒ

Nhạc sĩ Thu Hồ tên thật là Hồ Thu sinh ngày 14/10/1919 tại làng Tân Mỹ (gần Thuận An), tỉnh Thừa Thiên. Ông có khiếu về âm nhạc và thơ lúc mới 12 tuổi. Ông là ca sĩ đầu tiên đưa những bài hát VN đầu tiên đến với thính giả, là gạch nối giữa những bài hát Pháp lời Việt do cô Kim Thoa, Thanh Tùng, Tư Chơi khởi xướng và các bài hát hoàn toàn VN. Thời gian theo học tại trường trung học Pellerin, ông ở trọ tại nhà ông bác của nhạc sĩ Trần Văn Lý và được nhạc sĩ truyền dạy cho nhạc lý Tây phương. Ông rất thích hát những bài mà Tino Rossi hay hát. Ông cũng là ca sĩ đầu tiên hát trước công chúng tại Hội Chợ Huế bài “La chanson du gondolier”.

Năm 1943 ông làm trưởng ga xe lửa Dầu Giây. Xa quê, xa gia đình, ông nhớ nhà, rồi nhớ đến hai câu ca dao “Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” khiến ông nhớ đến mẹ và viết nên bài “Quê mẹ”. Tuy là tác phẩm đầu tay nhưng lại là bài hát tiêu biểu trong sự nghiệp âm nhạc của ông.

Năm 1947 ông tham gia vào ban “Thần Kinh nhạc đoàn với ban nhạc của nhạc sĩ Trần Văn Lý và các ca sĩ như Châu Kỳ, Mộc Lan, Minh Diệu, Minh Tần, Kim Nguyên, Mạnh Phát, Thu Thu, Vĩnh Lợi  vv …

Năm 1948 đài Pháp Á mở thêm chương trình tân nhạc VN và mời ông cộng tác. Từ đó tiếng hát cũng như tên tuổi của ông đã vang đi khắp nước. Ngoài đài Pháp Á sau này đổi tên thành Đài phát thanh Saigon ông còn hát cho đài Quân Đội. Thu Hồ không chỉ là ca sĩ mà còn là nhà soạn kịch và diễn viên sân khấu. Ông đã soạn trên một trăm vở kịch và cũng là diễn viên trong các vở kịch như “Hai chàng một áo”, “Thầy lang bất đắc dĩ” vv… Thẫm Thúy Hằng đã mua những kịch bản của ông để diễn trên Đài truyền hình.

Năm 1954 ông đi quân dịch, làm Trưởng ban tuyên truyền lưu động Đệ I Quân khu  đi ủy lạo binh sĩ ở các tiền đồn biên giới. Trong dịp này ông làm bài “Khúc ca Đồng Tháp”.

Năm 1957 mãn hạn quân dịch, ông gia nhập ban văn nghệ  “Vì dân” của Tổng nha Cảnh sát Quốc gia .

Từ 1959 đến 1970  ông là giáo sư âm nhạc các trường trung học ở Saigon như  Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Bá Tòng, Thiên Phước, Thánh Thomas… Ông là thành viên của SACEM, hội âm nhạc của Pháp, trụ sở đặt tại Paris. Thu Hồ còn là nhà thơ đưọc nhiều người mến mộ. Ông cho ra mắt tập thơ mang tên “Ánh bình minh” năm 1965 .

Sau năm 1975 ông kẹt lại ở Saigon. Năm 1990 Mỹ Hà con gái lớn của ông và chồng là tài tử điện ảnh Trần Quang bảo lãnh gia đìng ông sang Hoa Kỳ. Ông sống tại Santa Ana với người con thứ là ca sĩ Mỹ Huyền cho đến cuối đời.

Năm 1993 ông và nhà thơ luật sư Ðỗ Đức Hậu được Hội Thi sĩ quốc tế  (International Society Of  Poets) bầu là “Đại sứ thi ca hòa bình” trong hội nghị thi ca họp tại Hoa Thịnh Đốn. Để đánh dấu nhạc phẩm “Quê mẹ” tròn 50 tuổi, một đêm ca nhạc mang tên “Đêm quê mẹ” được tổ chức tại vũ trường  Ritz  tối 14/10/1993 tại Anaheim. Trong dịp này ông cho ra mắt tuyển tập nhạc “Hoa bốn mùa” gồm 22 bản nhạc ưng ý nhất của ông  như “Quê mẹ”, “Tiếng sáo chiều quê”, “Sầu ly biệt”, “Nhớ nhau”, “Tím cả rừng chiều”, “Cô nữ sinh Đồng Khánh”, “Tà áo Trưng Vương”, “Mái tóc em gái Gia Long”, “Trăng huyền diệu” vv…

Một tuần trước khi ông từ giã cõi đời, các bạn bè đã tổ chức một đêm dạ vũ tương trợ dành cho ông tại Vũ trường  Ritz. Theo ý nguyện của ông các bạn trích ra  567 $ góp vào quỹ tượng đài Chiến sĩ tự do. Ông mất ngày 19/05/2000, hưỏng thọ 81 tuổi.

9/- NHẠC SĨ  ĐỖ KIM BẢNG

Nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng gốc Quảng Nam, sinh năm 1932 tại Huế. Ông là bạn đồng khoá với nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương từ trường trung học Khải Định cho đến trường Cao đẳng Sư phạm và Đại học Văn khoa Hà Nội. Ông học đàn với nhạc sĩ  Lê Quang Nhạc, học lóm nhạc lý Tây phương với nhạc sĩ  Văn Giảng và học thêm cổ nhạc với nhạc sĩ  Nguyễn Hữu Ba. Những năm học trung học ông tham gia sinh hoạt văn nghệ trong trường và trong Gia đình Phật tử với các bạn như Phạm Mạnh Cương, Hồ Đăng Tín, Hoàng Nguyên, Kiêm Đạt, Diên Nghị, Tạ Ký (thơ), Minh Tuyền (nhiếp ảnh), Lữ Hồ (văn học) …

Năm 1949 ông sáng tác ca khúc  “Mục Kiền Liên” và trình bày trong mùa Vu Lan tại Huế. Năm 1951 ông làm bài  “Mùa thi” được ban hợp ca Thăng Long  dựng thành nhạc cảnh và trình diễn nơi ở trong nước.

Hôm nay mùa thi, bao nhiêu người đi

Xe rộn ràng, lớp ồn ào, niềm vui vấn vương .

Thi ơi là thi, sinh mi làm chi,

“bay” nghẹn ngào, “bám” ồn ào, buồn vui vì mi” .

Sau đó được ban Gió Nam của nghệ sĩ Trần Văn Trạch cùng ban Thăng Long trình diễn “Mùa thi”  tại Hà Nội năm 1954. Ban Thăng Long đã làm bài hát này nổi tiếng và đưa tên tuổi ông đến giới hâm mộ nhạc VN.

Năm 1953 ông ra Hà Nội học tại Đại học Văn khoa và Cao đẳng Sư phạm. Trong thời gian này ông học thêm âm nhạc với nhạc sĩ Hùng Lân. Cuối năm 1954 ông  di cư vào Saigon. Năm 1955 ông tốt nghiệp Cao đẳng Sư Phạm, được bộ Giáo dục biệt phái sang  bộ Quốc phòng và dạy tại trường Võ bị Quốc Gia  Đà Lạt  từ 1955 đến 1960. Trong thời gian này ông sáng tác bản “Khúc hát ngày mai” được ban Thăng Long trình bày trên đài phát thanh Saigon và đài Quân đội.

Năm 1960 về lại bộ Giáo dục  ông dạy tại trường Trần Lục rồi Nguyễn Du. Trong năm này ông cho ra đời bài “Mưa đêm ngoại ô” và năm 1963 bài “Bước chân chiều Chủ nhật” do Thanh Thúy hát.

Năm 1965 ông nhập ngũ khóa 21 trường Võ bị Thủ Đức. Ra trường với cấp bậc chuẩn úy, ông làm việc dưới quyền của thi sĩ Tô Kiều Ngân, lúc ấy là  đại úy Trưởng phòng và thi sĩ Tô Thùy Yên, trung úy phụ tá Trưởng phòng  của Phòng Văn nghệ  Cục Tâm lý chiến. Tại đây ông cùng làm việc với các nhạc sĩ khác như Lam Phương, Duy Khánh, Trầm Tử Thiêng, Song Ngọc, Phạm Minh Cảnh, Anh Việt Thu  vv… Cùng phục vụ trong Cục Tâm lý chiến ông cũng đã gặp và quen biết các nhạc sĩ cùng các văn, nghệ sĩ như  Trần Trịnh, Trần Thiện Thanh, Mai Trung Tỉnh, Tường Linh, Du Tử Lê, Phạm Lê Phương, Tạ Tỵ…. Cũng trong thời gian này ông viết bản trường ca  “Những người đi giữ quê hương  được Ban hợp ca Quân đội trình bày tại rạp Thống Nhất  nhân ngày Quân lực VNCH năm 1969, dưới sự điều khiển của nhạc sĩ Vũ Minh Tuynh và Ngô Mạnh Thu.

Năm 1969 ông được biệt phái về lại bộ Giáo dục và tiếp tục dạy học cho đến tháng  4/1975. Sau đó ông đi học tập cải tạo đến năm 1978. Năm 1980 ông vượt biên rồi được định cư tại Hoa Kỳ. Ông đi học lại nghề cũ và dạy học ở Boston cho đến 1999 về hưu. Trong thời gian ở Mỹ ông phổ nhạc bài thơ “Tháng ba đi hành quân” của Trần Hoài Thư.

Ngoài những nhạc phẩm nêu trên ông còn những sáng tác khác như : Mưa đêm ngoại ô, Sương đêm, Vòng tay giữ trọn ân tình, Vui dựng gia đình, Xin dìu nhau đến tình yêu.

10/- NHẠC SĨ  HOÀNG NGUYÊN

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc sinh ngày  03/01/1932 tại Quảng Trị, nhưng lớn lên và học hành tại Huế. Ông mất ngày  21/08/ 1973 tại Saigon  trong một tai nạn xe cộ  lúc  ông  41  tuổi  là lúc tài năng sáng tác đang lên .

Ông học trung học tại trường Quốc Học Huế, đậu Cử nhân Anh văn tại Đại học Saigon, dạy anh văn và âm nhạc tại Đà Lạt, Vĩnh Long, Saigon. Ông phụ trách ban nhạc đại hòa tấu “Hương thời gian” trên Đài truyền hình VN và chương trình “Tiếng thời gian” trên Đài phát thanh Saigon .

Ông có nhiều kỷ niệm với Đà Lạt và hai nhạc phẩm nói về miền cao nguyên này là “Ai lên xứ hoa đào”, “Bài thơ hoa đào” trở thành tác phẩm tiêu biểu của ông. Hai tác phẩm này hiện nay được nữ ca sĩ Ánh Tuyết trình bày rất thành công, đã làm rung động những tâm hồn yêu nhạc. Nhạc đã hay mà lời lại như thơ.

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi gió len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dặt dìu như tiếng tơ

Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ

Nghe tâm tư mơ ước chuyện Đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa…

Về xứ Huế ông đã để lại cho đất Thần Kinh nhạc phẩm “Tà áo tím” một bài hát trữ tình lãng mạn, êm đềm, thơ mộng và đã được ca sĩ Hà Thanh ru vào lòng người :

Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang

Tôi gặp một tà áo tím nhẹ thấp thoáng trong nắng vương

Màu áo tím sao luyến thương , màu áo tím sao vấn vương

Rồi lòng bâng khuâng theo màu áo ấy , màu áo tím hôm nào

Tình quyến luyến ban đầu, chập chờn tâm tư màu áo thoáng chiêm bao …

Những ca khúc khác của  Hoàng Nguyên gồm có  :  Anh đi mai về, Anh đi về đâu, Bài Tango riêng cho em, Cho người tình lỡ, Đường nào em đi, Đường nào lên Thiên thai, Duyên nước tình trăng, Em chờ anh trở lại, Lá rụng ven sông, Lời dặn dò, Sao em không đến, Thuở ấy yêu nhau .

11/- NHẠC SĨ LÊ CAO PHAN

Nếu không có bài hát “Phật giáo Việt Nam” được dùng làm bài ca chính thức cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất  thì rất ít người VN biết đến nhạc sĩ Lê Cao Phan.

Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc, Nam, Trung  từ đây

Một lòng chúng ta tiến lên vì Đài Sen…

Trước đây ông chỉ sáng tác những ca khúc vui tươi dành cho thiếu nhi, cho học sinh nên thường những ai làm nghề nhà giáo mới biết đến ông. Các bài hát vui của ông dành cho thiếu nhi gồm có : Bài ca tình bạn, Ca mùa học vui, Hai chú gà con, Nhi đồng múa ca, Ra chơi, Tập tầm vông, Tiếng còi đánh thức, Vui đi học.

12/- NHẠC SĨ  PHẠM MẠNH CƯƠNG

Nói đến nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương, người yêu nhạc nhớ đến “Thu ca”, một trong  những ca khúc được thu thanh nhiều nhất từ trong nước đến hải ngoại và cũng là nhạc hiệu quen thuộc của những chương trình ca nhạc của ông tại các Đài phát thanh và truyền hình Saigon trước năm 1975.

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sinh quán tại Huế, tỉnh Thừa Thiên. Ông theo học bậc trung học tại trường Khải Định, đỗ Tú tài 2 năm 1953. Sau đó ông ra Hà Nội tiếp tục việc học, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm và Cử nhân Văn khoa  1955.

Từ 1955 đến 1958 ông là giáo sư  tại trường trung học  Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho.

Từ 1958 đến 1975 ông là giáo sư môn triết và môn văn tại trường trung học công lập Pétrus Ký và các trường tư thục lớn ở Saigon như Văn Học, Nguyễn Văn Khuê, Bồ Đề, Hưng Đạo, Văn Lang, Lê Bảo Tịnh, Huỳnh Thị Ngà, Thượng Hiền…

Từ 1960 đến 1975 ông vừa dạy học vừa hoạt động âm nhạc. Ông là trưởng ban các chương trình “Hoa thời đại” của Đài Phát thanh Saigon, “Tiếng hát hậu phương”,  “Nghệ sĩ và chiến sĩ ” của Đài Tiếng nói Quân đội, “Chương trình Phạm Mạnh Cương” của Đài truyền hình. Ông còn là giám đốc trung tâm “Tú Quỳnh”, một trung tâm băng nhạc quy mô đầu tiên tại Saigon.

Năm 1980 ông rời Việt Nam và định cư  tại thành phố Montreal, tỉnh Quebec, Canada. Ông tiếp tục hoạt động văn nghệ : thành lập ban nhạc Phạm Mạnh Cương với hai người con là nhạc sĩ Phạm Mạnh Quỳnh và Phạm Lê Diễm Phúc. Đồng thời ông là chủ biên nguyệt san Thẩm Mỹ từ năm 1994 đến nay.

Một số nhạc phẩm nổi tiếng của ông đã xuất bản và thu thanh tại VN trước 1975 :  Thung lũng hồng, Mắt lệ cho người tình, Tóc em chưa úa nắng hè, Thương hoài ngàn năm, Tình yêu đã mất, Giã từ cố đô, Về thăm cố đô  Loài hoa không vỡ, Tháng bảy mưa ngâu, Sầu ly biệt, Nhạc khúc mừng xuân, Thu về trong mắt em…

Tháng 04/2003  nhạc sĩ  Phạm Mạnh Cương đã được trung tâm Thúy Nga mời xuất hiện trên băng Vidéo “Paris By Night 70”, chủ đề “Thu ca” cùng với hai nhạc sĩ Lê Dinh và Trường Sa.

13/- NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sinh ngày 28/02/1939 tại Lạc Giao (cao nguyên miền Trung) trong một gia đình trung lưu gốc Thừa Thiên. Ông lớn lên tại Huế và đỗ Tú tài ban triết học ở trường Chasseloup Laubat Saigon. Ông tự học nhạc, học sáng tác không qua một trường lớp nào cả. Trong thập niên 60 nhạc của ông xuất hiện như một ngôi sao sáng trong vòm trời âm nhạc VN. “Ướt mi” là tác phẩm đầu tay được sáng tác năm 1958. Ông mất ngày 01/04/2001 tại Saigon.

Mỗi bài hát của T.C.Sơn có một nét độc đáo riêng. Ngay cả lời ca trong nhạc T.C.S. cũng có một sắc thái riêng không giống với các nhạc sĩ khác. Lời ca của TCS không sống sượng theo lối tả chân, không văn chương theo lối mòn sáo rổng hay rập khuôn theo những qui ước có sẵn. TCS có lối sử dụng ngôn ngữ một cách khéo léo, mới lạ để diễn tả một thứ tình cả m lang lâng, mơ hồ phải nhờ cảm tính người ta mới hiểu được. Ví dụ TCS nói đến tình yêu đôi lứa mà không dùng đến chữ “yêu” vì đã có bàn tay, mái tóc, đôi mắt … nói hộ cho rồi :

ưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ

Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao

Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ

Đưòng dài hun hút cho mắt them sâu …

(Diễm Xưa)

Lùa nắng cho buồn vào tóc em

Bàn tay xanh xao đón ưu phiền

Ngày xưa sao lá thu không vàng

Và nắng chưa vào trong mắt em …

(Nắng Thủy Tinh)

Mỗi bài ca là một bài thơ. Ngoài chất thơ ra trong nhạc TCS còn mang chút triết lý về thân phận con người , hạnh phúc , khổ đau , lẽ vô thường của kiếp sống :

Bao nhiêu năm làm kiếp con người

Chợt một chiều tóc trắng như vôi

Lá úa trên cao rụng đầy

Cho trăm năm vào chết một ngày …

(Cát Bụi)

Có điều gì gần như niềm tuyệt vọng

Sông bao lần sông đã ra đi

Những ngàn năm trôi đến bây giờ

Sông ra đi hay mới bước về …

(Gần Như Niềm Tuyệt Vọng)

Ôi tiếng buồn rơi đều

Nhìn lại mình đời đả xanh rêu …

(Tình Xa)

TCS đã từ giã cõi đời, ông đã trở về với  “Cát bụi”, “Một cõi đi về” của kiếp con người vì ông cũng chỉ là một  “Đóa hoa vô thường”. Đường trần ông đã đi qua, “Dấu chân địa đàng” ông để lại là một gia tài âm nhạc gồm có các tuyển tập :

1967 – Ca khúc Trịnh Công Sơn – Tình Khúc Trịnh Công Sơn – Ca khúc da vàng.

1968 – Kinh Việt Nam

1969 – Ca khúc da vàng 2 – Ta phải thấy mặt trời .

1972 – Như cánh vạc bay – Cỏ xót xa đưa – Khói trời mênh mông – Tự tình khúc –  Phụ khúc da vàng.

1973 – Lời đất đá cũ – Nhân danh việt Nam .

1989 – Một cõi đi về.

1991 – Em còn nhớ hay em đã quên – Cho con.

1992 – Lời của dòng sông –  Khói trời mênh mông 2 .

1993 – Bên đời hiu quạnh – Trong nỗi đau tình cờ – Thuở ấy mưa hồng.

1995 – Những bài ca không năm tháng.

1999 – Tuyển tập ca khúc Trịnh Công Sơn  1, 2, 3, 4, 5, 6.

Ngoài các nhạc sĩ chào đời ở Huế hoặc lớn lên và học hành tại Huế còn có những nhạc sĩ tuy không sinh ra ở Huế nhưng có một thời gian sống hoặc làm việc ở đây, rất nặng lòng với đất cố đô và đã sáng tác  nhiều ca khúc bất hủ dành cho xứ Huế. Trong số nhạc sĩ này ta có  Duy Khánh, Hoàng Thi Thơ, Dương Thiệu Tước  vv…

 Yên Huỳnh post

NHỮNG NHẠC SĨ GỐC HUẾ (1/2)

NHỮNG NHẠC SĨ

GỐC HUẾ

Một bài viết về Các Ca Nhạc Sĩ đất Thần Kinh trước 1975 tương đối đầy đủ. Vẫn còn một số tên tuổi không thể thiếu : Dương Thiệu Tước , Hoàng Thi Thơ… Còn … sau này ? Vẫn là một dấu hỏi để trống không biết đến bao giờ !

Đa số người VN biết Huế không chỉ vì Huế có nhiều cảnh đẹp, có nhiều di tích lịch sử như đền đài, lăng tẩm, thành quách cổ kính mà còn vì những bài thơ trữ tình của các thi nhân nổi tiếng, những câu hò êm ái đượm tình quê hương và nhất là những bản tân nhạc ca tụng xứ Huế thơ mộng đã được phổ biến đến khắp mọi miền trên đất nước. Có những người chưa bao giờ đặt chân đến Huế nhưng qua các bài hát lại thuộc lòng tên những danh lam thắng cảnh của đất cố đô như sông Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền, chùa Thiên Mụ, đài Nam Giao, thôn Vĩ Dạ vv… Huế là cái nôi văn hóa của miền Trung, là nguồn cảm hứng của các văn nhân, nghệ sĩ, là nơi dừng chân của các tao nhân mặc khách. Người ta biết đến Huế nhiều nhưng ít ai biết đất cố đô đã sản sinh ra bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác tài hoa. Khi người Pháp đặt chân lên đất nước VN họ mang theo vào cả nền âm nhạc Tây phương và đem truyền bá trong dân chúng. Những nhạc sĩ của đất Thần Kinh cũng dần dần làm quen với ký âm pháp phương Tây và từ đó các nhạc sĩ sang tác tân nhạc đầu tiên ra đời .

1/- NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN THƯƠNG 

Người nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc VN ở cố đô Huế là nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Ông sinh ngày 22/05/1919 và mất ngày 06/12/ 2002 tại Saigon, hưởng thọ 84 tuổi. Ông sinh ra trong một gia đình yêu thích âm nhạc. Năm lên 9 tuổi ông bắt đầu học đàn nguyệt sau đó qua sách vở của người Pháp ông tự học ký âm pháp. Năm 1936 ông tốt nghiệp bậc trung học tại trường Khải Định Huế và cũng năm này ông sáng tác bản nhạc đầu tay “Tiếng sông Hương” là bài tân nhạc đầu tiên của xứ Huế. Lúc ấy ông mới 17 tuổi nhưng tên của ông đã bắt đầu đi vào làng âm nhạc VN.

Năm 1939 ông lại cho ra đời bản “Đêm đông” là một kiệt tác của tân nhạc VN thời bấy giờ. Bài hát với nét nhạc trữ tình êm ái tiềm ẩn một nỗi buồn man mác, lời ca trau chuốt, mượt mà, đã đi vào lòng người VN qua bao thế hệ. Nữ ca sĩ Bạch Yến là người hát bài “Đêm đông” hay nhất. Bài ca này lúc đầu được viết theo thể điệu Tango nhưng khi Bạch Yến trình diễn thì chuyển qua Slow Rock nghe hay hơn.

Trong thập niên 60 cô cũng đã trình bày nhạc phẩm này trong sô Ed Sullivan của Mỹ. Năm 1942 nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác thêm ca khúc “Bướm hoa” cũng được nhiều người ưa thích nhưng không bằng “Đêm đông”.

Sau đó ông theo kháng chiến tập kết ra Bắc. Ở ngoài Bắc trong thời gian chống Pháp ông viết bản “Bình Trị Thiên khói lửa”, soạn nhạc cho các điệu múa của các vở kịch “Chim gâu”, “Tấm Cám”, “Múa ô”, “Chàm rông”. Nhạc phẩm “Bài ca trên núi” ông viết cho phim “Vợ chồng A Phủ”.

Sau một thời gian tu nghiệp tại CHDC Đức ông trở về nước làm giám đốc Nhạc viện Hà Nội và tiếp tục sang tác. Ông có những tác phẩm về khí nhạc như “Lý hoài nam”, “Buôn làng vào hội”, “Quê hương”. Trong thời gian ở Đức ông có sáng tác khí nhạc như “Ngày hội non sông”, “Rhapsodie 2”, “Trở về đất mẹ”. Bản giao hưởng “Đồng khởi” của ông được trình diễn ở Leipzig (CHDC Đức) năm 1971.

Cho dù các tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương có uyên bác đến đâu đi nữa rất ít người biết đến. Đa số người VN chỉ biết đến ông qua nhạc phẩm “Đêm đông” mà thôi.

Đêm đông xa trông cố hương buồn lòng chinh phu

Đêm đông bên sông ngẩn ngơ kìa ai mong chồng

Đêm đông thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư

Đêm đông ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng

Đêm đông ta lê bước chân phong trần tha hương

Có ai thấu tình cô lữ đem đông không nhà .

Hoàn cảnh đưa đẩy nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác bài ca bất hủ này đã được chính tác giã kể lại cho nhạc sĩ Trương Quang Lục như sau :

“Sau khi đỗ Thành Chung ở Huế tôi ra Hà Nội học để thi Tú Tài. Dịp Tết Nguyên đán năm 1939, không có đủ tiền để về quê ăn Tết, đêm giao thừa tôi đi lang thang khắp phố phường Hà Nội dưới trời mưa phùn lạnh buốt, không một bóng người qua lại trên đường. Qua ga Hàng Cỏ nghe tiếng còi vang lên trong đêm khuya càng thêm nhớ nhà da diết. Dọc phố Khâm Thiên một vài căn nhà vẫn còn sáng đèn. Nghe tiếng chân qua đường, một cô gái bước ra nhìn, thất vọng quay vào, ghé mình soi gương treo cạnh cửa, đưa tay vuốt mái tóc. Trời đã khuya, tôi trở về phòng trọ, gió lùa qua khe cửa rít lên từng hồi suốt đêm. Tôi trăn trở không ngủ được, nghĩ đến cuộc đời bất hạnh của những người nghèo khổ, tha hương trong đêm đông lạnh lẽo. Và bài hát “Đêm đông ” ra đời trong đêm ấy.

2/- NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU BA 

Ông sinh năm 1914 tại làng Đạo Đầu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị và mất năm 1997 tại Saigon, hưởng thọ 83 tuổi. Tuy sinh ra tại Quảng Trị nhưng suốt cuộc đời và sự nghiệp của ông đã gắn liền với cố đô Huế.

Với bút hiệu Đạo Tâm, ngoài tân nhạc ra ông là một nhà nghiên cứu, một nhạc sư cổ nhạc VN. Ông biết sử dụng nhiều loại nhạc khí cổ truyền khác nhau, là người có công phát triển và bảo tồn nền cổ nhạc miền Trung. Năm lên 8 tuổi ông bắt đầu học đàn. Năm 16 tuổi ông đã hòa nhạc cổ thu vào dĩa Beka của Đức.

Năm 1932 ông áp dụng ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc VN ở Huế. Công trình của ông rất được nhiều người tán thưởng. Năm 1938 ông đậu thủ khoa đàn nhị. Tháng 8 năm 1945 sau khi Việt Minh lên nắm chính quyền ông về quê Quảng Trị. Nhưng cuộc đời của ông chỉ có duyên nợ với đất Thần Kinh nên năm 1950 ông trở lại Huế. Cũng năm này ông thành lập Viện Tỳ Bà nhằm phục hưng quốc nhạc VN, bảo tồn nhiều loại nhạc khí cổ truyền, tàng trữ sách vở về âm nhạc cũng như những tài liệu thu thanh quí giá . Chỉ cần vào cửa Thượng Tứ, rẻ trái khoảng một trăm thước ta sẽ thấy Viện Tỳ Bà của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba. Ông được triều đình Huế tặng thưởng huy chương Long Bội Tinh và vinh tặng chức Hàn lâm viện Đãi chiếu.

Sau 1954 ông vào Nam, dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon, làm khoa trưởng lý thuyết các trường đại học Vạn Hạnh, Saigon, Huế. Sau đó ông trở về làm giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế. Sau biến cố Tết Mậu Thân (1968) Viện Tỳ Bà bị tàn phá, gia đình ông dời vào Saigon. Sau năm 1975 gia đình ông thành lập một cơ sở nhỏ chuyên sản xuất các loại đàn cổ rất tinh vi ở quận Phú Nhuận, đồng thời ông cùng người con gái lớn là nhạc sĩ Tuệ Quang mở lớp dạy đàn tranh, học sinh theo học rất đông.

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba là người có công truyền bá cái tinh hoa của nền quốc nhạc về nhiều phương diện như trình diễn, khảo cứu , cổ động và giáo dục. Ông đã đào tạo được nhiều học trò nổi tiếng trong ngành cổ nhạc như Phạm Thúy Hoan (Saigon), Phương Oanh (Paris), Quỳnh Hạnh (Paris).

Tác phẩm ông để lại cho hậu thế cũng khá nhiều .

Về tân nhạc gồm có các nhạc phẩm như : “Quảng đường mai (1940)”, “Xuân xuân (1947)”, “Lửa rừng đêm (1947)”, “Thu khói lửa (1950)”, “Tiếng hát quân Nam (1950)”, “Ánh dương trời Nam (1951)”.

Về các tác phẩm nghiên cứu và giáo dục gồm có : “Tự học đàn nguyệt (1940)”, “Vài thiên kiến về âm nhạc (1950)”, “Bản đàn tranh (1951)”, Nhạc pháp quốc học (1960)”, “Đàn tỳ bà (1962)”, “Đàn độc huyền (1962)”, “Đàn nhị huyền (1962)”, “Bài ca Huế (1962)”, “Phương pháp học đàn tranh (1962)”, “Dân ca VN (1961)”.

Năm 1966 thu thanh tài liệu nhạc Huế (nhạc Cung đình và nhạc Phật giáo) cùng với Ca Huế cho cơ quan UNESCO vào dĩa 33 vòng đặt tên là VIETNAM 1.

Năm 1971 thu thanh VIETNAM 2 do ông cung cấp tài liệu với sự trợ giúp của nhạc sĩ Trần Văn Khê. Năm 1998 cả hai dĩa VN1 và VN2 được hãng đĩa Rounder Records ở Mỹ tái bản dưới hình thức CD.

3/- NHẠC SĨ VĂN GIẢNG

Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12/05/1924 tại Huế trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Ông nội của ông là một nhạc sĩ cổ nhạc. Lúc còn nhỏ ông học đàn mandoline. Khi lên trung học thấy người ta đàn guitare ông rất thích.

Có giai thoại kể rằng thuở đó trong khu phố của ông có một người biết đàn guitare, ông đến xin học nhưng ông thầy này ra điều kiện là phải mua tặng cho ông ta một cây đàn guitare mới. Nhà nghèo làm sao có tiền mua đàn để tặng, ông phải đành ở nhà tự học. Nhưng sau môt thời gian tài nghệ sử dụng đàn guitare cùng kiến thức về âm của ông đã vượt qua ông thầy và chính ông này lại đến nhờ ông chỉ bảo thêm.

Năm 1949 ông sáng tác bài “Thúc quân” một bản nhạc hùng rất được nhiều người ưa thích. Cùng năm này ông cho ra đời bài “Ai về sông Tương” với bút hiệu Thông Đạt. Nhạc phẩm này được thính gìả cả nước tiếp đón một cách nồng nhiệt qua các đài phát thanh, riêng đài Pháp Á chọn làm bài hát hay nhất trong năm 1949 và được tái bản 6 lần không kể những lần in tại hải ngoại sau 1975. Hiện nay nhạc phẩm này được đánh giá là một trong 10 bài hát hay nhất trong âm nhạc VN.

Có một giai thoại khác về nhạc sĩ Văn Giảng với bài Ai về sông Tương” như sau : “Trong các thập niên 40, 50 ở Huế có nhà xuất bản Tinh Hoa nổi tiếng chuyên xuất bản các nhạc phẩm của các nhạc sĩ trong nước. Một hôm ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà xuất bản, nói với nhạc sĩ Văn Giảng đại khái rằng ông chỉ biết làm nhạc hùng chứ không biết làm nhạc trữ tình như các nhạc sĩ khác vì trước đó Văn Giảng chỉ sáng tác nhạc hùng mà thôi. Ông im lặng không nói gì cả. Về nhà ông lặng lẽ sang tác bài “Ai về sông Tương” và gởi đến các đài phát thanh trong nước. Ông Tăng Duyệt nghe bài hát hay quá muốn xuất bản nhưng không biết Thông Đạt là ai. Một hôm nhạc sĩ Đỗ Kim Bãng và nhà văn Lữ Hồ đến nhà Văn Giảng chơi, thấy bản thảo của bài hát này và nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này liền lái xe chạy đến nhà nhạc sĩ thương lượng ký hợp đồng xuất bản. Thời đó các thanh niên đều thuộc bài này và thường hay hát nghêu ngao :

“Ai có về bên bến sông Tương, nhắn người duyên dáng tôi thương, sao đành nỡ dứt tơ vương ….” .

Trong hai thập niên 50-60 ông là giáo sư âm nhạc tại các trường trung học ở Huế như Quốc Học, Hàm Nghi, Trường đào tạo giáo viên tiểu học và trưởng ban nhạc đài phát thanh Huế. Trong thời gian này ông cho xuất bản tập nhạc “Hát mà học” gồm 10 bài hát dành cho thiếu nhi. Ông được học bổng du học ngành nhạc tại Hawai và Bloomington.

Năm 1956 ông thành lập ban hoà tấu Việt Thanh gồm các nhạc cụ cổ truyền như tỳ , nhị, độc huyền, nguyệt ,sáo vv… và ông sáng tác cho ban này bản hòa tấu “Ai đưa con sáo sang sông” dài 60 phút. Ngoài ra ông còn cho xuất bản sách “Kỹ thuật hòa âm” dày 350 trang .

Năm 1969 ông vào Nam, dạy tại trường QGAN Saigon và soạn hòa âm cho hai hãng dĩa Asia và Sóng nhạc. Ông dược Bộ Văn Hóa cử làm Trưởng phòng học vụ Nha Mỹ thuật, đảm trách học vụ các trường âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật .

Năm 1970 ông được Huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống VNCH với bản “Ngũ tấu khúc” (Quintet for flute and strings). Ông còn được dề cử làm giám đốc nghệ thuật điều hành Đoàn văn nghệ VN gồm 100 nghệ sĩ tân, cổ nhạc và vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách cùng ban vũ cổ truyền do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đảm trách tham dự Hội Chợ Quốc Tế ở Osaka Nhật Bản .

Ngoài tên Văn Giảng với các bài ca hùng tráng như “Thúc quân” , “Lục quân VN” (bài hát này dược các quân trường ở miền Nam chọn làm bài ca nhịp bước cho các tân binh mới nhập ngũ), “Đêm Mê Linh”, “Quân hành ca”, “Qua đèo”, “Nhảy lửa”, ông còn có bút hiệu Thông Đạt với các nhạc phẩm trữ tình như “Ai về sông Tương” , “Đôi mắt huyền”, “Hoa cài mái tóc”, “Thương tà áo bay”, “Tình em biển rộng sông dài”, “Xin đừng bỏ nhau”, “Xin đừng chờ em nữa”, “Năm nay em mấy tuổi” và bút hiệu Nguyên Thông với các ca khúc Phật giáo như “Từ Đàm quê hương tôi”, “Mừng Đản sanh” , “Ca Tỳ La Vệ”, “Vô thường”, “Hoa cài áo lam”, “Bao la vô tận”, ”Bờ mê bến giác”, “Buông xả”, ”Dòng sinh diệt ”, “Đời sống Đức Phật” , ”Giả hợp”, “Hãy tự giác”, “Mong tỉnh ngộ”, “Tâm bệnh”, “Tìm đâu xa” , “Vũ khí chơn tâm” .

Sau 1975 ông kẹt lại ở Saigon và có mở lớp dạy nhạc tại đường Phạm Văn Hai, gần chợ Ông Tạ, quận Tân Bình. Năm 1981 ông vượt biên đến đươc Natuna của Nam Dương và để cám ơn hòn đảo đã cho ông dừng chân trên đường đi tìm tự do ông sáng tác bản “Natuna người tình đầu”. Hiện giờ ông đang định cư tại Thành phố Foolscray , bang Victoria, nước Úc. Ông là một nhạc sĩ có tài, nhạc phẩm của ông phong phú đa dạng. Ông đã đóng góp nhiều cho nền âm nhạc VN nhưng không hiểu tại sao các Trung Tâm sản xuất DVD ca nhạc lại nỡ quên đi không làm DVD về sư nghiệp âm nhạc của ông .

4/ – NHẠC SĨ ƯNG LANG

Người nhạc sĩ đầu tiên của đất Thần Kinh mang dòng máu hoàng tộc là Ưng Lang. Ông tên thật là Nguyễn Phước Ưng Lang, sinh năm 1919 tại Huế. Ông chuyên về Hạ uy cầm (guitare hawaienne) một loại đàn rất thông dụng thời bấy giờ. Ông là tác giả những nhạc phẩm như “Chiều về thôn Vỹ” , “Nhạc lòng” , “Chiều tiễn biệt và nhất là ca khúc “Mưa rơi” viết chung với Châu Kỳ đã đưa tên tuổi ông đến với những người yêu nhạc VN.

Tác phẩm “Mưa rơi” là kết quả của mối tình đầu đau thương của tác giả . Sau khi tốt nghiệp Trường Công chánh Huế ông được bổ nhiệm về Sở Lục Lộ tỉnh Nghệ An đặt ngay tại thị xã Vinh. Lúc ấy ông 21 tuổi. Ông được gia đình bà chị có cửa hàng buôn bán tại Vinh cho một căn phòng để ở. Phòng ông có cửa sổ nhìn sang dãy nhà đối diện bên kia đường. Chiều chiều sau khi đi làm về ông thường mở cửa sổ cho mát và lấy đàn ra lả lướt vái bài cho đỡ buồn. Không ngờ tiếng đàn Hạ Uy cầm du dương của ông lại lọt đến tai của các nghệ sĩ của thị xã. Họ mời ông gia nhập “Ban Nhạc Mang Hưng” mà đa số nhạc sĩ là người Việt gốc Hoa. Nhưng đối với ông tiếng đàn lọt vào tai các nhạc sĩ của thị xã không quan trọng bằng lọt vào tim của một hoa khôi sống với cha mẹ trong căn nhà đối diện với nhà chị ông.

Ta hãy nghe nhạc sĩ Lê Hoàng Long nói về giai nhân, người yêu đầu tiên của nhạc sĩ Ưng Lang như sau : “Ưng Lang đưọc biết mỹ danh người đẹp là Ch.L. tuổi vừa đôi chín. Từ đó, hàng ngày khi màn đêm buông xuống, Ưng Lang lại lấy đàn ra nắn phím buông tơ. Tiếng đàn Hạ Uy cầm réo rắt , ngân nga vọng sang tận bên kia đường rồi vang trong nhà người đẹp. Ngày nào như ngày ấy, đúng giờ là tiếng đàn lại nỉ non, thánh thót khiến mỹ nhân nhẹ nhàng thướt tha, uyển chuyển, lúc ẩn, lúc hiện sau tấm màn cửa đong đưa như đang uốn lượn trong vũ khúc trước làn gió nhẹ. Tay nắn phím, tay buông tơ nhưng mắt Ưng Lang vẫn kín đáo nhìn nên thấy cảnh đẹp như Hằng Nga trong vũ khúc Nghê Thường. Tức cảnh sinh tình, tiếng đàn Ưng Lang lại càng thêm thánh thót và nghe thấy buồn man mác hơn. Nếu ai nhìn thấy được cảnh ấy, khách quan cũng nhận định giai nhân và nghệ sĩ tình trong như đã, mặt ngoài còn e. Ưng Lang mừng thầm cho rằng đây là mối lương duyên tiền định nên ngày ngày chải chuốt từ y phục đến tiếng đàn”.

Sau đó hai người yêu nhau bằng một mối tình thật đằm thắm và thơ mộng. Họ cùng thề non hẹn biển sống với nhau đến hết cuộc đời. Nhưng có ai biết được chữ ngờ. Đôi tình nhân đâu biết cuộc tình nồng thắm của họ sẽ phải tan vỡ vì chiến tranh. Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp và ra lệnh cho tất cả các công chức phải trở về nguyên quán. Ưng Lang cũng không thoát khỏi cái lệnh quái ác ấy nên phải khăn gói trở về làm việc tại Sở Công Chánh Thừa Thiên. Buổi tiễn đưa đôi tình nhân bịn rịn chia tay lòng đau như cắt. Về đến quê nhà lại gặp cảnh mưa rơi rả rich suốt ngày, bầu trời u ám, nỗi buồn càng thêm da diết. Trong hoàn cảnh đó Ưng Lang sang tác nhạc phẩm “Mưa rơi” và bài hát này đã trở thành ca khúc vượt thời gian :

Mưa rơi, chiều nay vắng người

Bên thềm gió lơi, mơ bóng ngàn khơi

Mưa rơi, màn đêm xuống rồi

Mây sầu khắp nơi, thương nhớ đầy vơi

Mưa rơi , đìu hiu giữa trời

Đêm dài vắng ai, thương nhớ nào nguôi .

Sau ngày chia tay hai người thường xuyên viết thư cho nhau và chờ ngày sum họp. Nhưng tháng 8 năm 1945 chiến tranh nổ ra, không biết gia đình của Ch.L. trôi giạt phương trời nào và từ đó đôi tình nhân mất hẳn liên lạc. Vài năm sau Ưng Lang lập gia đình, sống và làm việc tại Huế. Trước 1975 ông là giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế. Mãi đến 20 năm sau ông mới được tin Ch.L., người yêu cũ, đã chết trong chiến tranh.

5/- NHẠC SĨ CHÂU KỲ

Nhạc sĩ Châu Kỳ sinh ngày 05/11/1923 tại làng Dưởng Mong, tỉnh Thừa Thiên trong một gia đình sống bằng nghề cổ ca nên ông rất am hiểu về cổ nhạc miền Trung. Học xong chương trình tiểu học tại trường Tiểu học Dưởng Mong, ông lên Huế học tại trường Pháp Việt. Ông có giọng hát rất hay nên bạn bè rất thích nghe ông hát. Thấy ông hay hát những bài do Tino Rossi ca trong các dĩa của Pháp nên ông đưọc sư huynh Pétrus Thiều dạy cho nhạc lý Tây phương.

Khởi đầu ông học đàn mandoline. Câu chuyện vui ông kể trên sân khấu Thúy Nga là mối tình đầu lãng mạn của lứa tuổi dậy thì thiếu suy nghĩ khi ông muốn dùng tiếng đàn mandoline để chinh phục trái tim người đẹp Kim Anh, con gái của vị thượng thư, để rồi bị giai nhân từ trên lầu tạt nước xuống khiến ông phải ôm đàn chạy trốn. Nhưng thế sự thăng trầm, cuộc đời dâu biển, mười mấy năm sau ông gặp lại người đẹp tại Saigon trong cảnh nghèo khổ, xác xơ trong khi ông đang là một ca,nhạc sĩ nổi tiếng. Sự gặp gỡ mang nhiều kịch tính này làm ông ngậm ngùi nghĩ đến những đổi thay của đời người và ông viết nên nhạc phẩm “Giọt lệ đài trang ” .

Lúc ông còn theo học bậc trung học thì chị của ông là Châu Thị Minh thành lập đoàn ca kịch Huế lấy tên là Hồng Thu. Đoàn rất cần ca sĩ trẻ nên bà chị tha thiết yêu cầu ông giúp. Vì gia đình nghèo ông do dự không biết nên tiếp tục học hay là đi giúp chị. Cuối cùng ông bỏ học đi theo chị, trước là để giúp chị trong lúc khó khăn, sau là có tiền giúp cha mẹ. Từ đó ông theo đoàn đi lưu diễn khắp nơi.

Thoạt đầu đoàn sang Lào trình diễn tại Savannakhet đến Thakhet rồi thủ đô Vạn Tượng. Sau khi gặt hái đưọc kết quả tốt đẹp ở Lào, doàn làm một vòng lưu diễn các tỉnh VN. Đoàn ra Bắc xong trở lại Huế rồi vào Nha Trang. Tại đây trong số khán giả thường trực có một nữ sinh tuyệt đẹp, con nhà tử tế được nhiều chàng trai trong tỉnh theo đuổi, cô vẫn dửng dưng như không. Nhưng khi thấy chàng ca sĩ Châu Kỳ đẹp trai với giọng hát trầm ấm, quyến rủ, tim cô rung động rồi si mê chàng ca sĩ. Châu Kỳ cũng ngất ngây trước vẻ đẹp của cô nữ sinh lãng mạn và hai người yêu nhau.

Nhưng thuở ấy cái thành kiến “xướng ca vô loại” vẫn bám rễ trong đa số gia đình VN nên cha mẹ của Đoàn Thị Sum, tên cô nữ sinh, cấm không cho cô gặp Châu Kỳ nữa. Thất vọng vì tình cô uống thuốc độc tự tử và chết ngày 10/12/1942. Ông quá đau khổ muốn chết theo người yêu nhưng các nghệ sĩ trong đoàn ra sức an ủi, can ngăn, nhắc cho ông biết còn bổn phận đối với cha mẹ và gia đình nên ông mới khuây khỏa phần nào. Do đó ta mới biết được chút ít tại sao những bản tình ca của ông hồi đó đều là nhạc buồn như “Khúc ly ca”, “Xin làm người tình cô đơn” vv… Nghe tin Huế bị bão lụt , ông trở về Huế thăm gia đình. Nhưng khi về đến quê mẹ Thanh Hà ông thấy quang cảnh xác xơ, ruộng đồng bị tàn phá, ngôi nhà cũ đã bị san bằng và mẹ ông bị lũ lụt cuốn trôi đi mất. Hoàn cảnh khổ đau này khiến ông viết lên bài “Trở về”, bài hát tiêu biểu cho sự nghiệp âm nhạc của Châu Kỳ :

Về đây buồn trông cánh chim bay

Về đây buồn nghe gió heo may

Về đây đâu còn phút sum vầy

Đâu còn thắm niềm say

Lạnh lung ngắm trời mây ….

Năm 1947 ông vào Saigon hát cho đài phát thanh Pháp Á trong ban “Thần Kinh” của nhạc sĩ Mạnh Phát với các ca sĩ thời đó như Minh Diệu, Minh Tần, Mộc Lan, Linh Sơn, Phan Đức… và ban “Tiếng Thùy Dương” do chính ông làm trưởng ban. Trong thời gian này ông và ca sĩ Mộc Lan yêu nhau và trở nên vợ chồng. Cặp danh ca Mộc Lan – Châu Kỳ rất nổi tiếng thưòng xuất hiện trong các chương trình đại nhạc hội và chương trình phụ diễn tân nhạc tại các rạp chiếu bóng .

Cuối năm 1949 cặp ca sĩ Châu Kỳ – Mộc Lan được ông Thái Văn Kiểm lúc ấy là Giám đốc Thông tin Huế mời về hát cho Đài phát thanh Huế. Tình nghệ sĩ thường hay mong manh, năm 1952 cặp vợ chồng Châu Kỳ – Mộc Lan chia tay nhau. Ông buồn bã một mình trở lại Saigon. Đây cũng là thời gian buồn khổ khác của Châu Kỳ và ông đã viết lên những bản nhạc buồn như “Từ giã kinh thành” , “Mưa rơi” (viết chung với Ưng Lang)… và ông định cư tại Saigon cho đến ngày nay. Ông tiếp tục hát cho các Đài phát thanh Quốc Gia, Pháp Á và đi trình diễn trong các đại nhạc hội khắp nơi trong nuớc. Sau đó ông bị động viên và phục vụ trong đoàn Văn nghệ quân đội.

Năm 1955 Châu Kỳ kết hôn với Kha Thị Đàng, một cô gái miền Nam. Hôn lễ được cử hành tại nhà hàng Trương Ký ở Chợ Lớn. Trong số khách tham dự có rất nhiều ca, nhạc sĩ như Phạm Duy, Phạm Dình Chương, Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng, Khánh Ngọc, Dương Thiệu Tước, Trần Văn Trạch, Thu Hồ, Văn Phụng, Châu Hà, Hoàng Trọng, Thẩm Oánh… Đôi vợ chồng sống rất hạnh phúc và có bốn người con, ba trai, một gái. Tất cả đều lập gia đình .

Ngoài những bản nhạc nêu trên Châu Kỳ còn có những nhạc phẩm sau : Khi ánh trăng vàng lên khơi, Chiều trên đồi thông, Cố đô yêu dấu, Đừng nói xa nhau, Em không buồn nữ chị ơi, Khuya nay anh đi rồi, Lá vàng khóc lá xanh rơi, Miền Trung thương nhớ, Giữa lòng đất mẹ, Tôi chưa có mùa xuân, Đón xuân này nhớ xuân xưa, Sao chưa thấy hồi âm, Cánh nhạn hồi âm, Con đường xưa em đi, Cuối đường kỷ niệm, Nước mắt quê hương, Em sắp về chưa, Vào mộng cùng em, Được tin em lấy chồng …

Sau 1975 ông bán căn nhà cũ và chiếc xe Vespa dọn qua Tân Qui, Nhà Bè trong căn nhà ọp ẹp với chiếc xe đạp cũ. Tại đây ông đã sáng tác bài “Bóng mát Tân Qui” lời ca của nhà thơ Kiên Giang, “Một mình với ghi-ta”, “Giọt đàn với giọt lệ”, “Bỏ phố lên rừng”, “Đôi dép ngược” …

Yên Huỳnh post

“NGHỀ” HOA HẬU

NƯỚC MẮT CÔ HOA HẬU

Lời riêng: Bài này tôi viết cách đây mấy năm, lúc đó có người không tin. Hôm nay, nạn mãi dâm lan tràn khắp nước Việt Nam. Trong thãm trạng chung có không ít các cô Người mẫu, Hoa hậu, Diễn viên lợi dụng danh hiệu để “đi khách” hoặc làm “tú bà” đang bị báo chí trong nước phanh phui …Tác giả gửi đăng lại bài này với tâm ý gióng thêm tiếng chuông nhỏ để đánh động sự ý thức của các bậc làm cha làm mẹ đang may mắn có những đứa con được Trời ban cho sắc đẹp”

Cửa vừa bật mở, tôi ngán ngẩm khi thấy đồ đạc Lâm bày tứ tung trong nhà, đặt xâu chìa khoá trên bàn, tôi lê đôi chân đến sofa nằm sải dài trên đó với sự mỏi mệt thất vọng tận cùng, tôi dã dượi chỉ muốn chìm sâu vào giấc ngủ để quên những thực trạng chung quanh, tôi muốn ngủ ngay tức khắc cho quên nỗi chán chường, muốn ngủ một giấc để quên những quay quắt bực bội trong lòng, tôi còn muốn ngủ luôn không chỗi dậy, ngủ luôn, ngủ luôn….

Muốn mà không được nên tôi ngẩng đầu nhìn quanh – thấy lòng mình mênh mông thật sầu thãm, thấy ngôi nhà im ắng, lạnh tanh, vắng ngắt… Tôi biết Lâm còn nhậu nhẹt đâu đó chưa về, còn đàn đúm đâu đó chưa buông, còn chững giỡn tục tằn đâu đó chưa thôi… Tự dưng tôi thấy lẻ loi, tôi thấy mình ủ ê, thấy mình trơ trẽn rồi hoảng hốt, ngồi bật dậy, đi xuống nhà, đi lên nhà, muốn khóc, muốn thét lên, kêu lên, lồng lộn lên, cầu cứu cho nhẹ bớt những tủi cực ấm ức dồn nén trong lồng ngực bấy lâu nay. Nhưng, lạ tôi không thể khóc, cứ nín nhịn bước lui bước tới cô đơn như người vô hồn, bước đi như người mộng du, bước đi như người mất trí phách hồn thất lạc, tôi liêu xiêu đi vào phòng, tắm thật lẹ rồi chuồi người trên chiếc giường rộng thênh thang, ngập sâu trong đống mền gối, nằm ngong ngóng chờ đợi giấc ngủ buồn tênh trong thinh lặng.

Tôi biết mình không thể ngủ, chỉ cố gắng nằm im như dỗ dành trong tâm trạng rã rời, trí nhớ buồn bã bắt tôi nhớ lại hình ảnh quấn quýt hạnh phúc của vợ chồng Vĩnh mà tôi lén thấy hồi ban chiều, nhớ lại cảnh tượng hạnh phúc viên mản đó, bỗng dưng trái tim tôi như thắt lại, đau buốt, lòng chùn xuống như tủi thân, uất ức, ích kỷ, nước mắt tôi như sôi lên, nóng hổi trào ra ướt đẫm, tôi khóc, lúc đầu tiếng khóc như cố nén chỉ bật ra ngằn ngặt, nhưng sau đó tôi buông hết, thả lỏng, mặc sức khóc thỏa thuê, khóc dễ dàng như đứa trẻ, tôi không muốn che giấu, giả bộ để tiếp tục tự gạt hay dỗ ngọt mình…

Thời con gái, tôi cao ráo và biết mình đẹp. Lúc phong trào thi hoa hậu nổi đình nổi đám khắp nơi tại Việt Nam, nhà ai có chút tiền, lại thêm có đứa con xinh xắn, sở hữu chắc ăn một đôi chân dài… là đắc địa, dịp may…thời kinh tế thị trường. Trong sự tính toán cực kỳ siêu tốc, cô con gái không cần thiết phải đoạt danh vị hoa hậu ! Chỉ cần cô ấy được xuất hiện trước những ống kính, xuất hiện trên báo, trên đài, được cả nước biết mặt là có biết bao cơ hội mở ra….

Những cơ hội bằng vàng kéo con gái và gia đình họ bước vào một thế giới khác: Sang trọng, phù phiếm, khoe mẽ, được bận những bộ quần áo đẹp đẽ như các các minh tinh Hàn quốc, Hồng Kông, Đài Loan xuất hiện hàng giờ trong những bộ phim dài nhiều tập thay phiên nhau chiếu suốt ngày trên truyền hình. Những hình ảnh này giúp cha mẹ có đứa con gái đẹp vẽ ngay trong đầu những kế hoạch câu mồi hấp dẫn trước tầm ngắm của các đại gia háu gái, những thằng nhà giàu mới phất lên do chụp giựt trúng mánh một phi vụ béo bở, hay những tay giám đốc cạp, gặm, đục, khoét, rút ruột tài tình, những ông già răng mã tấu thời cơ hối lộ lắm của nhiều tiền, được dịp trốn mấy mụ vợ nạ dòng mặt bự phấn, phốp pháp thô ráp nồng nặc mùi nước hoa, hay đám già dịch chịu đèn, lén lút thay nhau choàng tay những người đẹp tuổi đáng con đáng cháu, thanh xuân nõn nà, du hí đó đây bù đắp những ngày ăn lương khô, chui rúc như ma đội mồ… Biết đâu may mắn, các cô được một trong các lão gia, thiếu gia – mê mồi, háu cỏ non, bao luôn làm bồ nhí thì một bước lên trời, biết đâu may mắn được lọt vào mắt xanh của đám đầu nậu người mẫu, lọt vào thế giới diển viên – là thế giới thiên hình vạn trạng, phức tạp thiệt giả khôn lường, thế giới ánh đèn màu sắc đầy ma lực mê hoặc, là ước mơ là nơi chốn của biết bao con gái nhà lành muốn bước vào.

Khi biết tôi quyết định đăng ký dự thi hoa hậu. Anh chị tôi ở Mỹ hết lời can ngăn thậm chí giận hờn… Với tuổi đời qua bao kinh nghiệm mắt thấy tai nghe nên anh chị tôi biết lắm những phũ phàng sau bề trái quyến rũ huyễn hoặc hậu trường sân khấu, vã lại, tôi là đứa em mà họ mong mỏi phải tiến thân bằng con đường chữ nghĩa.

Mặc, tôi nào lý tới lời khuyên của anh chị, chỉ bực mình vì cứ nghe đi nghe lại bài luân lý cũ mèm. Tôi phát cáu khi nghe họ lý tưởng hoá tuổi trẻ ? Thấy chúng tôi miệt mài, ngồi đầy trong các phòng cho mướn máy vi tính, ngỡ chúng tôi ngoan, cắm đầu cặm cụi gạo bài ư ?… Trời ! xưa rồi… Diễm, thử đi một vòng trong thế giới ảo của đám choai choai chúng tôi… bảo đảm sẽ thấy cực kỳ choáng váng… Đừng vội lên án chúng tôi, đừng trách chúng tôi đồi trụy, sa đoạ. Đừng làm thầy đời mà trách móc, bởi sống trong một xã hội nhốn nháo chụp giựt đạp đầu đi lên, láo khoét để sống thì nhân phẩm chỉ là cái gì đó rất mơ hồ, thậm chí nhân phẩm hay lòng tự trọng còn rẻ hơn cái quần Jeans, có khi không bằng bó…rau muống ! Ai nấy chen nhau lên đời, xe còn lên đời huống chi con người phải không ?

Vì vậy, chúng tôi đâu có lạ gì khi “chuyện thường ngày ở Thành phố” con gái hơ hớ dưới 25 tuổi khắp nơi kéo về có mặt trong những dịch vụ mua bán thân xác – Các cô gái này muốn gì phải nhục nhã đứng yên trần truồng trước những cái nhìn soi mói, và chịu đựng để cho những ông lão cà chớn, những thằng già mắc dịch, những thằng bịnh tâm trí người Đài Loan sàm sỡ, bóp vú, nhéo mông, rờ chim và xoa nắn khắp cùng trên thân thể để thẩm định như con vật ? Các cô gái dân dã, đồng ruộng, con nhà nghèo này không phải muốn đổi đời sao ? Vừa đổi đời vừa có được tiếng thơm đầy hoa mỹ như trong bài thơ Trăng Nghẹn của ông thi sĩ nào đó ? Tuy nhiên cả nước đều biết và đồng tình, tạo điều kiện cho những đứa con gái muốn thoát ra cái nghèo đói lam lũ, thoát ra một đời sống vô vọng – họ chấp nhận được xuất cảng sang bất cứ nước nào – làm Osin, làm thiếp, làm đĩ …miễn là ra khỏi nước ! Đó không những chỉ là ước mơ của mấy cô, nó còn là ước mơ của hàng triệu đứa con gái, đàn bà chung quanh tôi.

Mẹ tôi ủng hộ tôi hết mình vì hình ảnh hào nhoáng ca sĩ, người mẫu, hoa hậu được mọi người săn đón, nịnh bợ, ùa đến xem mặt, chen nhau xin chữ ký…khiến mẹ tôi mê tít…Bà chi đẹp cho khoản mua sắm quần áo, mỹ phẫm, bà vung tiền cho tôi tới các viện thẩm mỹ, tư vấn, gửi tôi tới các trung tâm đào tạo hoa hậu. Cả đất nước rộ lên phong trào thi Hoa Hậu là dịp các trung tâm huấn luyện rộ lên như nấm. Là dịch vụ mới mẻ nên cách huấn luyện theo kiểu mì ăn liền, bắt chước thật ngớ ngẩn. Chúng tôi học cách hẩy ngực, thẩy mông, bước sải, ẹo hông… nhưng dù có bắt chước cách mấy cả thân hình chúng tôi không sao giống được những cô người mẫu nước ngoài, chúng tôi vẫn quê quê sến sến thật tội nghiệp.

Vì quyết tâm cho tôi trở thành hoa hậu, phải húc ngã mấy chục cô gái nhan sắc đòn phép ngang ngữa với nhau. Mẹ và tôi tìm đủ mọi cách, chen vào mọi cánh cửa… Cuối cùng, tôi đăng quang, vương miện thuộc về tôi. Sau thắng lợi đó, hình như mẹ chưa đủ hài lòng, sẵn tiền, mẹ chi ra rất đẹp và dĩ nhiên tôi đặc biệt hơn những hoa hậu trước đó. Tôi nổi tiếng vang như cồn. Tên tuổi, hình ảnh tôi nhan nhản khắp mọi nơi, từ những trang bìa của các tạp chí văn nghệ linh tinh lang tang, đến những trang báo xã hội, hình sự, gia đình, phụ nữ mỗi ngày. Tôi cũng được xuất hiện góp mặt với các tài tử, ca sĩ thành danh, lẫy lừng. Được ngự chung trên những tờ lịch quảng cáo với những tư thế đi, đứng, nằm, ngồi, đủ kiểu. Để quảng bá cho chiếc áo dài, chụp hình dù ở tư thế nào, chủ nhân cũng đòi hỏi người mẫu phải tận lực phô hết cỡ cái ngực về phía trước, và hẩy cái mông về phía sau, khiến cả thân hình người mẫu như mất thăng bằng và hình ảnh chiếc áo không còn là hình ảnh mềm mại trang trọng cổ kính. Có lần tôi góp ý, họ trả lời vì lợi nhuận kinh doanh, chỉ cần gây ấn tượng (!) không cần bàn đến nghệ thuật.

Từ đó cứ vài ba tháng trên đất nước tôi có thêm vài cô hoa hậu với những chức danh” Tầm cỡ quốc gia” khác nhau ! Trong lúc này vì cạn tiền (do anh chị tôi cúp viện trợ) mẹ không còn khả năng để chi đẹp, cho nên báo chí cũng không còn hứng thú nhắc nhiều đến tôi như ngày trước, chỉ thỉnh thoảng có một vài hãng phim ghé mắt đến mời, nhưng rồi cũng không đi tới đâu ngoài những hứa hẹn ậm ờ sẽ dành cho tôi dịp khác, những vai chánh tưởng tượng nào đó trong tương lai. Tôi biết rõ họ nói láo và muốn gì, nhưng tôi quá mệt mỏi, không còn hứng thú để cầu cạnh và hết sức ngao ngán khi nhớ lại con đường đi tới ngôi vương miện vừa qua của mình. Con đường đó đâu chỉ đơn giản là khoe ra một nhan sắc trời cho hay chút kiến thức để trả lời những câu hỏi ấm ớ của ban giám khảo ?

Thường, người ta hay thóc mách, tò mò những gì xảy ra “phía sau” của các cuộc thi ? Đối với tôi, phía sau hay phía trước gì cũng như nhau, đầy dẫy nhập nhằng, gỡ gạc, ngoài ra còn nhiều chiêu thức tự phát… có Trời mới biết. Nơi đó còn có hàng trăm điều bí mật mà người ngoài cuộc không thể hiểu. Cũng như thiên hạ đâu ngờ, để đạt được mục đích tôi phải đánh đổi bằng thân xác con gái của mình, vì đó là điều kiện bắt buộc phải có của đám đầu nậu, đám có quyền lực giấu mặt… Cho nên tôi đâu lạ gì khi thấy những nụ cười pha chút đểu cáng trong ánh mắt loang loáng dục tình của mấy tay đạo diễn nửa mùa hoặc mấy tay cò mồi điện ảnh.

Tỉnh mộng. Tôi cứ sống lơ mơ phất phơ như thế trong khi chờ đợi chuyến đi định cư cùng với gia đình đến mảnh đất nhiều cơ hội vươn lên sống một cách tử tế, và cố gắng quên đi đời sống của một hoa hậu trong những năm tháng hào quang và lắm nỗi ê chề khiến tôi học rất nhiều bài học cuộc đời cho đến tận hôm nay.

Hội nhập vào nước Mỹ được vài tháng thì tôi gặp Vĩnh, cuộc gặp gỡ thật tình cờ. Sau đó chúng tôi gặp nhau thường xuyên… Tôi không nhớ mình yêu người đàn ông trầm tĩnh, ít nói, giản dị khiêm nhường này khi nào ? Người đàn ông luôn đi đây đó đem đến những điều tốt đẹp thật thà cho mọi người này từ lúc nào? Nhưng tôi lại nhớ rất rõ tại sao chúng tôi chấm dứt mối tình. Tại sao chúng tôi không nên duyên chồng vợ, mặc dù mọi sự đã hầu như sẵn sang !

Kỳ lạ, tâm lý con người ta cứ mâu thuẫn, nhất là tâm lý của tôi thì càng phức tạp đến khó hiểu. Không biết có phải do tôi bị ảnh hưởng rất nhiều từ mẹ ? Từ cung cách sống hời hợt, từ nếp suy nghĩ nông cạn của bà, hoặc tôi vẫn còn ấp ủ, tiếc nuối những hình ảnh sôi động của một cô hoa hậu ngày nào ? Vì thế tâm trạng của tôi cứ xoay chuyển không ngừng, dằn vật tôi không thôi. Lúc tôi sống trong môi trường huyên náo ánh đèn, bị bao vây trong muôn trùng tráo trở, lợi dụng, kèn cựa bon chen từng chút, tàn nhẫn đạp lên nhau mà đi, thì lúc ấy tôi mong có một chỗ dựa bình yên. Nhưng khi tôi được sống trong khung cảnh yên lành, thì tôi lại cảm thấy đời sống lại quá nhàm chán, tôi lại muốn tưng bừng một chút. Hoặc tình yêu của tôi với Vĩnh chưa đủ sâu đậm, còn nhẹ lắm, mong manh lắm, nên dễ vỡ ?

Đúng lúc đó thì Lâm xuất hiện ! Lâm mang lại cho tôi một cảm giác thật mới mẻ, một kiểu cách thời thượng, trang trọng. Lâm cho tôi cảm tưởng mình là một nàng công chúa được cưng chìu và tôi choáng ngợp với những bộ quần áo, giày dép đồ hiệu, đúng thời trang cùng với những trận cười xập xình đàn trống bên bàn rượu thâu đêm với đám bạn trẻ trung hào nhoáng của anh.

Tôi và Lâm thật sự mê say nhau, hạp nhau, hút cuốn nhau và chúng tôi vội vã tổ chức một đám cưới khá đình đám. Khách mời đều trầm trồ ngợi khen cô dâu chú rể thật đẹp đôi xứng như thanh mai trúc mã.

Tôi đang ngủ say, chợt giật mình, khi bị đè ngữa ra một cách thô bạo, mùi rượu phà ra nồng nặc từ hơi thở dồn dập của Lâm. Tôi đang thiếu ngủ, mệt, nên ậm ự lắc đầu. Tôi nghe tiếng anh cười gằn, như giận dỗi, anh tuột mạnh cái quần lót của tôi, vừa tốc áo tôi khỏi ngực, là anh vội vàng ngồi lên, hạ bộ anh ấn vào người tôi, hai thân thể trần truồng, ấm, vừa chạm nhau, tôi ưởn người, không phải vì khoái lạc, mà bị đau buốt, bị đâm thấu suốt mạnh bạo trong vùng bụng dưới. Tôi trân người, nhắm mắt, như cực hình, đau thốn từng hồi, từng hồi theo cử động nhấp nhô hùng hục và tiếng thở phì phò trên thân thể không còn sức sống của tôi. Lát sau, anh lăn xuống, nằm dã dượi, nghỉ mệt, lúc hơi thở anh chậm lại, giọng lè nhè ghen tuông, ấm ức cất lên như đứt hơi, điệp khúc mất dạy sau cơn động cởn “ Cô ngủ với mấy chục thằng hả cô hoa hậu ?” Tôi kéo chiếc mền, cuộn người lại, nhẫn nhục nín thinh, dòng nước mắt cay đắng, tủi thân nóng hổi của tôi trào ra lặng lẽ.

Cưới nhau về là tôi phải bỏ ngang việc học, vội vàng nhảy vô làm nails kiếm tiền phụ trả những món nợ khổng lồ đến choáng người của Lâm. Chưa hết, có vợ, Lâm càng ỷ lại, càng tiêu pha phung phí, cờ bạc chè chén thường xuyên, những trận rượu tận tình thù tiếp bạn bè tại nhà vào mỗi cuối tuần giờ đây là thêm gánh nặng cho tôi. Ngoài việc nấu nướng, khi tiệc rượu tàn, ai về nhà nấy, Lâm thì đủ ngà ngà nằm phê ở một góc, có lúc mấy người bạn còn kéo anh đàn đúm tiếp đâu đó cho đủ cuộc vui, chỉ có tôi, một mình với mọi thứ ngổn ngang, một mình vật lộn với căn bếp bị xới tung, ấm ức cong mình cọ rửa nhà cầu, bồn rửa mặt cho sạch bóng, nhiều lúc tay chân rã rời muốn thây kệ nó, bỏ mặc, ngủ một giấc…!

Bây giờ một tuần tôi phải làm 6 ngày, làm từ sáng tới tối, đem về tiền mặt, tiền tip cũng chưa thấm tháp vào đâu để đủ trang trải những nhu cầu lớn nhỏ trong cuộc sống nợ nần ngập mặt, vì thế tôi hết còn hứng thú với những đêm dạ vũ đàn trống thâu đêm suốt sáng như ngày nào. Bây giờ tôi tiều tụy không ngờ, như người trên cao té xuống, đau điếng, tả tơi, cảm thấy mình sao bạc phước, đúng với câu hồng nhan bạc phận? Có phải ôngTrời bất công với tôi, hay chính tôi trước đây không biết giữ phẩm giá mình ?

Cái “bí mật” dơ dáy ngày đó không biết sao có người biết và truyền miệng đồn ầm ỉ. Dịp này, đám đàn bà con gái làm chung nghề, ganh tỵ hý hửng mặc sức hả hê, phanh phui và tiếng đồn không bao lâu lọt vô tai Lâm. Cho nên bây giờ anh nhìn tôi, ánh mắt không còn chấp chới tình tứ thưở nào. Bây giờ những đêm gần nhau, anh không còn trườn mình trên người tôi như con trăn ấm mềm mại, không còn đắm say dữ dội trên vùng ngực săn chắc mà lúc trước anh cứ suýt soa khen đẹp. Không còn vùi đầu mê man trên vùng sa mạc phẳng phiu trắng muốt và chết ngất giữa hai đùi đậm đuột mà trước đây anh thường lặng ngắm mê say. Không còn lỏa lồ quấn lấy nhau, dù đã trút hết đầy mãn nguyện, dù niềm hoan lạc thấm từng đốt xương đến ngất ngây rời rã. Bây giờ anh nhìn tôi trần trụi, cần thiết, như mỗi đêm, lúc anh nổi hứng thì cứ dựng tôi dậy, đè nghiến tôi ra y hệt những thằng đàn ông trong đám mồi chài, trong đám có thế lực, trong đám mà đứa con gái đua đòi huênh hoang như tôi cần dựa dẫm trong thế giới người mẫu, hoa hậu ngày nào. Tôi nhớ, trong đám đó, có thằng còn dạy tôi những kiểu cách gợi dục thật ác liệt thật khêu gợi cho nó thỏa mãn hả hê trong cơn hứng tình mà không cần biết đến sự suy nghĩ và cảm giác gì của tôi. Mỗi lần nhớ lại tôi phải buột miệng chưởi đổng cho hả lòng căm giận.

Có lẽ trong cơn tuyệt vọng, hụt hẫng, cô đơn, tiếc nuối hay một thôi thúc mơ hồ nào đó mà hồi chiều tôi đến nhà Vĩnh. Lén đậu xe ở một góc, tôi rưng rưng nhìn thấy Vĩnh đang loay hoay làm gì đó ở khoảng vườn trước cửa nhà. Hình như anh đào đất, và người vợ mới cưới đang lui cui đặt những cụm cây có những cánh bông xoè ra rực rỡ. Tôi thấy họ cúi xuống, cùng chụm đầu bên nhau. Hình như họ cười, tôi nghe được tiếng họ cười với nhau thật rộn ràng. Tôi thấy họ còn rướn người lên và hôn nhau, tôi biết nụ hôn đó thật ngọt, tôi cảm nhận được mùi vị đó, và tôi biết anh nhìn vợ với ánh mắt vời vợi, vời vợi, một trời thương yêu. Tôi như bị thôi miên, mê mải nhìn họ. Nhìn họ. Nhìn họ, tôi im sững và khóc một mình không ai hay.

Không biết bây giờ tôi muốn gì ? Có phải tôi thật sự mơ ước đến một đời sống bình dị mỗi cuối tuần vợ chồng trồng hoa, làm vườn, đi đến nhà thờ, thả bộ ? Hay tôi chỉ là loại phụ nữ thả mồi bắt bóng, đứng núi này tiếc ngọn núi kia quá lý tưởng ? Hãy cho tôi một lời khuyên, cắt nghĩa cho tôi biết làm sao cho tôi vượt qua những ngày tháng khó khăn này.
thụyvi (Hầm Nắng, 2010)

HOA HẬU VÕ THỊ MỸ XUÂN

LÀM ĐỈ KIÊM TÚ BÀ

Như tin trên, Phòng CSĐT tội phạm về TTXH (PC45), đã ra quyết định tạm giữ hình sự 3 người nói trên để điều tra làm rõ về hành vi môi giới mại dâm.

Chúng ta biết rõ họ và tên như sau : 3 người bị tạm giữ gồm Trần Quang Mai (40 tuổi, ngụ Q.3, chủ một tiệm chăm sóc sắc đẹp tại Sài Gòn), Võ Thị Mỹ Xuân (29 tuổi, quê Hậu Giang, ngụ P.Bình Khánh, Q.2) và Nguyễn Hữu Đạt (43 tuổi, ngụ Q.Bình Thạnh, tài xế của một công ty tổ chức sự kiện).

Theo thông tin từ cơ quan công an, năm 2011, trinh sát của Đội 5 (PC45) đã phát hiện và bắt đầu lên kế hoạch triệt phá đường dây mại dâm hoạt động hết sức tinh vi này, nhưng đến đầu tháng 6 năm nay mới có thể tiến hành phá án.

Theo đó, khoảng 15 giờ ngày 2/6, trinh sát dưới sự chỉ huy của đại úy Việt, Trưởng đội 5 (PC45) tiến hành kiểm tra một khách sạn ở P.Bến Thành, Q.1 và bắt quả tang 4 cặp nam nữ đang mua bán dâm.

Cùng thời điểm này, các mũi trinh sát khác tiến hành bắt khẩn cấp và khám xét nơi ở đối với 3 đối tượng chính là Mai, Xuân và Đạt.

Theo cơ quan công an, giá  “giao dịch” của đường dây mại dâm này trung bình từ 2.000 -2.500 USD/lần, trong đó môi giới lấy 60%, số tiền còn lại gái bán dâm hưởng. Khách hàng của đường dây này là những người đàn ông giàu có, thường “ngã giá” với phía môi giới trên bàn nhậu.

Võ Thị Mỹ Xuân, một trong 3 nhân vật môi giới của đường dây này thực ra không phải là một cái tên xa lạ. Cô ta từng đoạt giải Hoa hậu khu vực Nam Mê Kông năm 2009. Ngoài ra, theo cơ quan công an, trong đường dây này còn có Y.D – cũng từng là hoa khôi của một giải thời trang; P. – một người mẫu tuổi teen đang chuẩn bị tham gia giải Hoa hậu khu vực Nam Mê Kông sắp tới.

Riêng “tú bà” Mai trước đây từng là chủ của một quán bar, quen biết rất nhiều đại gia nên nhận được nhiều đơn đặt hàng nhất. Còn người đẹp Mỹ Xuân thì quen biết nhiều “lò” đào tạo các cô gái đẹp tham gia các giải hoa hậu, hoa khôi, người mẫu ở khu vực miền Tây. Trong đó, cô người mẫu tuổi teen tên P. (19 tuổi) là “con át chủ bài” của Mỹ Xuân. Cô này cũng đang được người tình cho 1.000 USD/tháng, mở shop thời trang ở Q.5 nhưng vẫn đi bán dâm.

Tại trụ sở cơ quan CSĐT, bước đầu một số người bị tạm giữ đã cho biết thêm nhiều người mẫu, diễn viên điện ảnh khác cũng tham gia bán dâm và kể cả đi du lịch nước ngoài với giá gần cả 10.000 USD. Tất cả tình tiết này đang được cơ quan điều tra làm rõ. (theo Đàm Huy – TNO)

GIÁ TRỊ CỦA SẮC ĐẸP

ĐANG BỊ XUỐNG CẤP

Cùng với báo Tiền Phong (TP), ông Xuân Nam được coi là “cha đẻ”, người khởi xướng cuộc thi tìm kiếm Hoa hậu Việt Nam. Trước thực trạng các người mẫu rồi hoa hậu liên tiếp bị bắt vì tội “làm đỉ” bán dâm trong những ngày gần đây, một phóng viên ở Hà Nội đã có cuộc trò chuyện nhanh với ông này để nghe bày tỏ quan điểm về những sự việc vừa xảy ra.

HỎI –  Thưa ông, liên tiếp gần đây là những vụ người mẫu bán dâm và mới nhất là Hoa hậu Mekong Võ Thị Mỹ Xuân tổ chức môi giới bán dâm bị đưa ra pháp luật. Là người đã nhiều năm tìm kiếm vẻ đẹp đại diện cho người phụ nữ, ông có phát biểu hay quan điểm gì không ?

Thực sự báo chí mấy ngày gần đây đưa những tin mà đọc xong tôi xót xa vô cùng. Tôi thấy lo ngại vì giá trị đạo đức trong xã hội bị băng hoại nghiêm trọng, đồng tiền lên ngôi đảo lộn hết mọi giá trị truyền thống vốn có. Chưa khi nào đồng tiền có sức mạnh “hủy diệt” như bây giờ, nó cứ như một cơn lốc xoáy cuốn và làm đảo điên mọi giá trị. Thật xót xa hơn là nó tác động quá mạnh tới những người được coi là người của công chúng, là thần tượng của giới trẻ…

Đọc những tin người mẫu bán dâm, rồi hoa hậu bán dâm mà thấy đau lòng và lo ngại. Những người được coi là đại diện cho vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam nhưng cũng bị lu mờ trước đồng tiền, nhân phẩm của họ cũng bị đồng tiền chà đạp. Thực sự tôi không thể hiểu nổi.

HỎI – Ông có nghĩ rằng hiện nay các cuộc thi hoa khôi hoa hậu quá nhiều, chính sự dễ dãi trong việc lựa chọn đã không đáp ứng được những mong mỏi của công chúng về kiến thức cũng như đạo đức nên mới dẫn đến những tình trạng như vậy ?

Tôi cho rằng đây cũng là một nguyên nhân, giờ thì cuộc thi sắc đẹp nở như nấm sau mưa. Đến xã phường cũng có thi người đẹp, rồi trường học cũng có thi hoa khôi, cao hơn nữa thì tỉnh thành, rồi quốc gia… Một năm không biết bao nhiêu là cuộc thi như thế. Vậy nên giờ mới có cụm từ “hoa hậu ao làng”, danh hiệu hoa hậu giờ mất hết thiêng liêng, nó chả còn giá trị gì xứng tầm nữa. Và những cô hoa hậu, hoa khôi bước ra từ những cuộc thi như thế, lấy những cái danh đó đắp lên người để rồi đi làm những chuyện bậy, kiếm tiền trên danh sắc.

HỎI – Ông cảm thấy chán nản và thất vọng hoàn toàn về một công việc mà mình tâm huyết và làm bao nhiêu năm. Giờ mọi thứ không còn như mong muốn ?

Nói thật tôi không còn hứng thú với tình trạng các cuộc thi diễn ra loạn xạ như thế này, thực sự tôi chả thiết tha gì nữa. Báo TP trước kia 2 năm mới tổ chức thi hoa hậu một lần. Một cuộc thi với nhiều tâm huyết của nhiều người, mong muốn tìm ra những gương mặt đẹp, tài, điển hình và là đại diện cho phụ nữ cả một quốc gia. Giải thưởng không đặt nặng, chúng tôi cũng chả lấy cuộc thi ra làm kinh doanh, quảng cáo hay tài trợ gì cả nhưng bây giờ nó khác nhiều rồi. Có tính cơ chế thị trường, mà ở đâu có đồng tiền thì ở đó sẽ có những tác động nhất định.

Tuy nhiên tôi vẫn mong muốn cuộc thi hoa hậu được duy trì, có tính định hướng và thẩm mỹ ngày càng cao hơn. Vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam thời nào cũng cần phải được tôn vinh và trân trọng. (theo EVa)

Cao Bồi Già post