Nhà thơ nữ LỆ KHÁNH

LỆ KHÁNH

Một đời gian truân

Một đời bạc phận

VIẾT VỀ LỆ KHÁNH

– Tùy bút : MH Hoài Linh Phương

Trong nhịp sống xứ người hối hả, tôi đã nhiều lần đuối sức, quỵ ngã khi chạy theo vòng xe xuôi ngược để làm lại từ đầu đời mình một lần nữa. Tôi không còn giờ khắc nào để suy nghĩ suốt bao nhiêu năm ở trường từ sáng đến tối mù. Và cuối tuần thì tất tả một công việc part-time cho đời cơm áo… .

Nhưng những buổi sáng sương mù co ro trong hơi lạnh đi đến lớp, nhìn hoa hồng rực rỡ trong vườn nhà ai, tôi bỗng nhớ Dalat đến thắt lòng, đến một nơi chốn thân quen, như một quê hương êm ấm để tìm về, ở đó… có những vạt hoa vàng trên đồi cao, lũng thấp, có những kỷ niệm một thời gắn bó, dấu yêu, và ở đó, còn một điều xé lòng để nhớ, Lệ Khánh, người chị văn nghệ đầy bất hạnh của tôi.

Tôi muốn ủ lại, giữ kín thật sâu nỗi niềm riêng của chị. Sự phơi bày, với tôi là một điều không chấp nhận. Tội nghiệp cho chị và cho cả những người thân của chị. Nhưng, trong nỗi bất lực riêng tôi trước hòan cảnh bi thương của chị, sự tiếp tay đầu tiên của Vũ Uyên Giang, trích từ quỹ tương trợ của Đất Sống khoản tiền nhuận bút của anh em trong ban biên tập tự nguyện đóng góp gửi về cho chị, sau khi nghe tôi cho biết, từ một người quen, chị lâm trọng bệnh giữa cơn túng quẩn, ngặt nghèo, rồi kế đến là Tạp chí Tiếng Vang, đã lên tiếng xẻ chia những giọt nước mắt mặn đắng của một người thơ Dalat ngày xưa, cho tôi bớt những ngần ngại, phân vân khi viết lên những lời kêu cứu tuyệt vọng của chị.

Tôi quen Lệ Khánh thật tình cờ. Thuở ấy tôi chưa đến 15 tuổi, mắt tròn xoe với hai bím tóc, còn ngậm ô mai, áo đầm trắng trường soeur, mang sandale như các nữ tu dòng Mến Thánh Giá, thường đăng thơ hàng ngày trên nhật báo Chính Luận, thì Lệ Khánh đã là một nhà thơ tên tuổi lúc bấy giờ, rất nhiều độc giả muốn làm quen, ái mộ. Chị làm việc ở Tòa Hành Chánh Dalat, mỗi năm thường về thăm quê ngoại ở Nha Trang. Ở đó chị có những người bạn văn nghệ học lớp Đệ Nhất C Võ Tánh, như Sao Trên Rừng, Sương Biên Thùy, Trăng Thệ Hải và… anh Duy – con nuôi của Ba Mẹ tôi.

Đến một ngày chị khám phá ra anh Duy, bạn chị, có một cô em làm thơ vớ vẩn là tôi – rất chân tình, chị mừng rỡ, viết cho tôi chung cùng trong lá thư gửi cho anh Duy, khuyến khích tôi hãy làm nhiều thơ hơn nữa, từ nay chị sẽ có thêm tôi, một cô em nhỏ (Lúc ấy, anh Duy đã vào Saigon học Văn Khoa và sống chung với gia đình tôi). Và chúng tôi liên lạc thư từ thường xuyên với nhau kể từ ngày đó…

Hầu như lần nào từ Dalat về Saigon chị cũng ghé thăm tôi. Hai chị em lăng quăng đi phố, ăn quà vặt và kể chuyện đất trời. Chị thường mặc áo dài đen ẩn hoa tuyn mỏng. Ở chị có một cái gì hút xa, sâu thẳm. Chị có một thân hình đẹp, nếu không nói là hấp dẫn. Tôi nhận ra chị rất mượt mà, có gì là “Em là gái trời bắt xấu” như chị thường than thở đâu, mặc dù cái mũi bị gãy gập lại. Hay là tại tôi thương chị nên nhìn khuôn mặt chị tôi không cảm thấy một điều gì bất ổn. Chị không đẹp, nhưng cũng đâu có nghĩa là xấu. Chị nói đi cạnh Phương, chắc người ta tưởng Phương là… con chị.

Tôi lúc lắc đầu. Trời ơi ! Phương đâu có bé tí xíu đến vậy đâu – Phương không tin hả ? Nhìn hình hai chị em chụp chung đây này. Giống y chang. Trong cái đầu ngây ngơ của tôi lúc ấy, chị cái gì cũng hay và giỏi. Kinh nghiệm, từng trải, từ chuyện thơ văn mơ mộng đến cả chuyện đời thường. Những lần vui đó, tiếng cười khua vang một góc phố, còn có Ngô Kim Thu, nhỏ bạn văn nghệ cũng tập tành viết văn, làm thơ con cóc như tôi. Thu cũng mê thơ Lệ Khánh, lên Dalat đi tìm chị, và chúng tôi trở thành ban tam ca Ba Con Chí Mén hăng say sáng tác tưng bừng gởi thơ đăng các báo.

Nhưng có phải, không ai có thể đứng lại hoài bên một dòng sông cũ. Năm tháng đã trôi. Nụ cười đã tắt. Tôi được tin Lệ Khánh về hẳn ở Saigon, thuyên chuyển về làm việc ở Tòa Hành Chánh tỉnh Gia Định. Chị liều lĩnh đắm mình trong một mối tình ngang trái. Chuyện một màu alpha đỏ xưa đã là quá khứ. Và cháu Vũ Khánh Thục ra đời. Chị không có ai là họ hàng thân thuộc ở Saigon. Mỗi ngày tôi vào thăm chị ở bảo sanh viện Đức Chính, mang cho chị những thứ cần thiết, ru cho cháu Thục ngủ… Người đàn ông của chị tôi chỉ gặp một lần (Thuở ấy, lúc mới quen chị, chúng tôi có đi ăn tối cùng với Đinh Hùng, Phổ Đức, Nguyễn Thị Vinh, Động Đình Hồ ở một quán nhỏ bên Gia Định, và càfé Thu Hương khi đêm đã vào khuya…). Và sau đó, gần như cách vài tuần tơi gặp chị một lần. Chị sống một mình với con trên một căn gác nhỏ lợp tôn thuê ở một con ngõ sâu đường Nguyễn Huệ, Gia Định. Căn gác nóng hầm hập vào mùa hè đổ lửa. Chị bươn chải cô đơn trong cảnh đời phồn hoa xa lạ, xót xa nhìn con trẻ khóc, để thơ chị chỉ còn là những tiếng thở dài :

Bây giờ mẹ chỉ có con

Con thơ thơm sữa, mẹ mòn tuổi yêu.

(Lệ Khánh)

Tôi thương cảm sự nhẫn nhục của chị. Cơn mê đã tàn. Tình yêu đã tắt. Từ một cô con gái tiểu thư, con gái một Phó Ty Cảnh Sát Dalat, với nhà cao cửa rộng, chị đuổi theo một hạnh phúc mong manh, để bắt đầu một đời bạc phận, long đong…

Những ngày trước 75, chị đã có một chỗ ở khang trang hơn, trong một cư xá công chức mới xây gần Tòa Hành Chánh tỉnh Gia Định mà chính phủ cho nhân viên trả góp. Đó là chút vốn liếng đầu tiên của chị sau khi lập gia đình. Nhưng chị nói với tôi, chị muốn về lại Dalat để ở gần Ba Mẹ chị, cho cháu Thục còn có ông bà, và các dì, cậu. Đơn thuyên chuyển đã gửi đi, chị về lại Dalat, chưa kịp nhận nhiệm sở, thì Dalat mất. Chị lại cùng với gia đình di tản về lại Saigon, cùng với thời gian Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam rút quân.

Mọi dự tính, ước mơ tan như bọt sóng. Về Saigon với hai bàn tay trắng, căn nhà cũ đã được bán đi trước khi về Dalat, chị nương náu trong một căn nhà trống trước, trống sau, gần như bỏ hoang trước đó của Ba chị dành cho. Nỗi khổ của chị gần như cũng giống với nỗi đau của những người điêu linh trong di tản, trong cái họa mất nước của tháng tư đen. Tại nơi này, tôi đã gặp vài người đàn bà quen chị, thuộc giới áp-phe, cũng là phu nhân của các vị sĩ quan trước 75. Chị nói với tôi họ giúp chị buôn bán, làm ăn. Nhưng chỉ vài tuần sau đó, căn nhà của chị bị nhà nước quản lý, và chị phải ăn nhờ, ở tạm một nơi khác.

Từ đó, cuộc sống chị hoàn toàn bất định. Tôi chỉ gặp chị nếu chị xuất hiện ghé thăm tôi. Có việc gì cần tìm chị tôi không biết tìm ở đâu, vì chị nói mình đã ở nhờ nhà người ta mà còn tiếp bạn bè, ngại lắm. Rồi bẵng đi một dạo, tôi phải rời thành phố để đi dạy học ở một miền xa, tôi không còn biết tin tức gì về chị nữa. Bỗng một lần tôi ghé về thăm nhà, Ngô Kim Thu cho biết, Lệ Khánh đang bị giam chung với một số văn nghệ sĩ can tội viết bài gửi đăng báo ở hải ngoại. Nhưng tội trạng của chị khác với mọi người, chị can tội hình sự, vì lường gạt tiền bạc theo đơn thưa. Tôi nghe trái tim mình nhói đau, quặn thắt.

Định nệnh nào nghiệt ngã đã đẩy đưa người thơ Dalat với giọng thơ trữ tình chan chứa, thành một tội phạm giữa cảnh đời đá nát, vàng phai. Ngô Kim Thu nói, chị không dám liên lạc với chúng tôi, cũng không dám nhắn về chị đang gian nguy, khốn khổ vì tránh cho chúng tôi những hệ lụy. Có một người đàn bà quen biết gia đình Thu được tha về, bị giam chung phòng với chị đã kể lại. Chị thật thà quá, chị không lường gạt ai hết, nhưng đã bị những tay áp-phe đầu nậu hất vào tù khi chuyện bể ra, bởi chị cùng chung băng nhóm. Tôi chợt nhớ đến những người đàn bà tôi đã gặp ở Gia Định một ngày nào, vừa sau khi mất nước, mà rất vui mừng chị kể tôi nghe chị phải đi theo họ để học chuyện bán buôn…

Chiều hôm đó đi với Thu qua những con phố xưa, Saigon đã thay tên, chúng tôi đi trong Saigon mà nhớ Saigon. Nhớ đến chảy nước mắt khoảng trời mênh mông cũ, Lệ Khánh tội tù, còn tôi ngày mai lại trở về với kênh đào, nước đục, với đám học trò nông thôn vừa đi học, vừa cấy lúa, nhà ở cách trường một con sông, mỗi lần đi học, lội bì bõm, quần áo sạch phải cất vào trong cặp, đến lớp, mới chuẩn bị mặc vào….

Chúng tôi nén để không bật thành tiếng khóc bởi Ngô Kim Thu và tôi, hai đứa không biết phải giúp Lệ Khánh bằng cách nào, trong khi chúng tôi cũng mù mịt tương lai, tuổi trẻ chúng tôi chìm vào tối tăm không lối thoát…

Tôi vẫn tiếp tục cuộc đời cô giáo nhỏ, bị lưu đày ở một nơi nước mặn đồng chua vì mang lý lịch “Con gái Ngụy Quân”, vài tháng tạt về nhà đôi lần mang cho Mẹ miếng đường mía, mang cho em chút gạo trắng tiêu chuẩn dành dụm chắt chiu.

Một ngày cuối năm 1978, trong một lần về thăm Mẹ, Mẹ tôi cho biết chị Lệ Khánh vừa đến tìm tôi. Chị đang ở vùng kinh tế mới, gánh củi về để bán. Không gặp tôi, chị được Mẹ tôi giữ lại, nhưng chị không ở, ăn xong bữa cơm chị đi ngay. Mẹ tôi lắc đầu, tội nghiệp quá ! Chị đã thực sự bước vào đời lao động sau khi ra tù. Những ngón tay trần bây giờ không phải để làm thơ, để ca ngợi một màu áo chiến, mà phải đốn tre, xẻ gỗ để tìm miếng cơm, manh áo. Tôi hỏi Mẹ tôi, rồi chị có nói bao giờ chị trở lại nữa không. Mẹ tôi lắc đầu, Mẹ có nói, con đã đi làm xa, lâu lâu mới về, nên Lệ Khánh không hẹn sẽ gặp lại. Bởi vì tôi và chị thân nhau, nên từ một thuở nào, chị hòa nhập như một thành viên trong gia đình. Ba Mẹ tôi thương chị. Các em tôi quý chị. Bất chợt chị đến, ăn ngủ và ra đi đó là chuyện thường. Nhà tôi, không ai thắc mắc. Có tôi, chị ở lại vài hôm. Vắng tôi, chị vẫn ân cần chuyện trò với những người thân tôi, như một đứa con xa lưu lạc…

Khi tôi quyết định bỏ việc, về lại Saigon, vì Mẹ tôi mỗi ngày một yếu, các em tôi còn nhỏ không đảm đang nổi trước sau. Ba tôi đã mất trong trại Yên Bái, Hồng Liên Sơn, cũng là lúc tôi gặp lại chị Lệ Khánh. Chị vẫn ở vùng kinh tế mới. Biết chị là một công chức chế độ cũ, nên người ta nhờ chị dạy Bổ Túc Văn Hóa cho dân trong vùng. Cuộc sống tương đối dễ thở hơn, nhưng chị nói không thế nào ở mãi nơi này, còn tương lai của cháu Thục. Nhìn quanh chỉ thấy rừng với núi, đêm đêm nghe tiếng gió hú, nhớ Dalat, nhớ Lâm Viên… Mãn hạn tù, không hộ khẩu thường trú, chị bắt buộc phải về đây, nhưng phải làm sao để thoát được cảnh đời này. Tôi thương chị. Tôi thương tôi. Tôi thương tất cả số phận hẩm hiu của những người con gái bạc phận trong thời chinh chiến vì khi hết chiến tranh rồi, nghe hòa bình còn mỉa mai, cay đắng nhiều hơn…

Tôi đã tìm được một việc làm mới khả dĩ, gần gia đình. Bỏ hết bằng cấp về với Saigon, chuyển xoay theo dòng đời xê dịch. Và chị Lệ Khánh cũng về lại với Saigon, sống lang thang bất định, rạc rày, lam lũ. Thỉnh thoảng chị ghé tôi, tôi làm cho chị những gì tôi có thể làm được, từ những ký gạo trắng đến miếng cá, miếng rau… Chị chỉ nói với tôi tạm buôn bán qua ngày, nhưng hụt vốn liên tiếp, nên kết quả, phải đi cầu cứu bạn bè… Với số lương hành chánh ba cọc, ba đồng tôi cũng không thể làm một điều gì lớn hơn cho chị. Nhưng khoản tiền chị cần, thông thường chị hay ghé Ngô Kim Thu. Vì gia đình Thu có một cơ sở đóng sách, bế hộp ở Tân Định, cuộc sống tương đối dư dã. Bố của Thu lại là một người làm ăn giỏi trên thương trường. Thời nào cũng vượt qua được những khó khăn. Nhìn lại trong đám bạn bè, Ngô Kim Thu có một tuổi thiếu nữ huy hoàng, dài lâu nhất. Bố Thu vẫn giữ được chiếc xe hơi đời mới để di chuyển công việc trong khi mọi gia đình khó có ai còn có chiếc xe gắn máy, chỉ có xe đạp đầy đường trong thời buổi “gạo châu củi quế” mà thôi ! Nhưng đến Ngô Kim Thu hoài chị cũng ngại, có lúc chị đến hỏi mượn tiền tôi. Tôi diễu cợt cho quên buồn, Thu là “cây tiền” mà chị không hỏi nó, chị hỏi Phương, thôi chị chờ Phương nuôi heo đất cho lớn chờ chị. Chịu chưa ?…

Chị vẫn nói với tôi là chị đi buôn bán, nhưng chị không nói là chị buôn bán những gì. Mà tôi là người không có thói quen tị mị hỏi về những chi tiết mà người thân mình chưa muốn nói. Mãi đến một hôm, tình cờ gặp Trần Thị Kim Anh, một độc giả của tôi, cô nữ sinh Gia Long ngày xưa, sau này làm việc ở trường Trung học Sư Phạm, Kim Anh cho biết thấy chị Lệ Khánh bán những rổ chanh ớt, kim chỉ ở bến xe Chợ Lớn. Chị đội cái nón lá sâu, rộng vành, sụp xuống không ai nhìn rõ mặt, nhưng Kim Anh vẫn nhận ra… (Kim Anh biết chị Lệ Khánh vì có lần cùng đi với tôi đến thăm chị ở Tòa Hành Chánh Gia Định trước 75, khi chị mới dời từ Dalat về).

Với chị trong tôi vẫn là một nỗi thương cảm, ngậm ngùi, quay cuồng với cái ăn, cái mặc chắc chị bây giờ không còn nghĩ nữa đến niềm đau nhan sắc. Vận nước nổi trôi. Một cuộc đổi đời lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Cái lằn gạch giữa có và không, giữa còn và mất chỉ là một đường chỉ mỏng. Chỉ còn lại chăng là tình nghĩa, là tấm lòng có còn giữ được cho nhau. Mệt mỏi, cô đơn, một thân lạc loài nuôi con thơ dại, chị quyết định về Dalat sống với gia đình. Căn nhà xinh xắn của Ba Mẹ chị ở 71 Duy Tân xưa bị nhà nước tiếp thu làm cơ quan, ban ơn mưa móc cho cả gia đình hơn mười người được tá túc trong cái garage để xe cũ kỹ chật hẹp của chính họ. Sau nhiều lần sửa chữa, chị có một chỗ riêng, một căn gác nhỏ, mà Ngô Kim Thu và tôi đã lên sống với chị những giờ khắc ở đó.

Khoảng trời Dalat lộng gió với thông ngàn, mượt mà hoa hồng và mimosa bị đọng lại trong cái góc tối đen, buồn bã. Chỉ nghe cái hiu hắt lạnh, cái se lòng trong tẫm đẫm hơi sương Dalat. Ngoài ra, một Dalat đã chết, như đời của chị tôi vẫn sống nhưng là một đời sống chết của một kiếp người cơ cực, lầm than… Ba chị ra khỏi tù, bệnh trở nặng. Mẹ chị co ro trong chiếc áo laine cũ ngồi trên lề đường Duy Tân bán từng điếu thuốc lá lẻ. Những đứa em trai sửa xe đạp trước hiên nhà, lặng thinh, câm nín, không buồn nhìn đến kẻ lại, người qua. Những đứa em gái nghề nghiệp bấp bênh, Hồng vừa bị cho nghỉ việc vì phong trào chống học ngoại ngữ, mà Hồng là cơ giáo dạy Pháp văn. Trang chuẩn bị thành ma soeur, hiến dâng đời cho Thiên Chúa…

Nghe Thu và tôi lên thăm, Ba Má chị nhất định giữ lại ăn cơm. Từ chối thì hai bác buồn, mà nhìn thấy tận mắt cái cảnh đạm bạc của gia đình chị không thể không nát lòng. Bữa ăn được dọn ra với con cá nục được cắt làm đôi nấu mặn lại với muối, có một ít nước, theo kiểu người miền Trung và tô canh đọt mùng. Tôi và Thu không dám gắp thức ăn để chị em chị dành cá cho cha mẹ, chỉ ăn nước mà thôi…

Từ năm sau đó, gần như tôi đi Dalat hằng năm, nhưng tôi chỉ gặp mặt chị đôi lần. Thường tôi hay mang một ít thức ăn ở Saigon lên cho chị. Nhưng lần nào Bác cũng nói chị đi bán quần áo cũ tối mịt mới về, bán ở chợ không có khách hàng chị phải trèo đèo leo núi, quảy túi quần áo cũ trên vai vào những buôn thượng xa xôi. Nên khi chị về được đến nhà, tay chân rã rời, mọi người đã yên giấc. Tôi hẹn sẽ trở lại, chị vẫn bằn bặt. Tôi đi lang thang với Hồng, em gái chị ở café Tùng, ở phở Hiếu… rồi chia tay. Tuy nhiên, có dịp về Saigon là chị đến tôi có thể năm ba tháng một lần. Tôi gom hết quần áo cũ để dành cho chị. Hai chị em cơm nước xong, ghé Tân Định với Ngô Kim Thu, rồi về nhà tâm sự cho đến sáng.

Trước khi đến sở, tôi đưa chị đi ăn sáng, và lần nào tôi cũng gửi chị tiền xe về lại Dalat, dù chị không hỏi.

Ngày Vũ Khánh Thục thành hôn, chị cũng xuống gửi thiệp cưới cho tôi. Phương chia xẻ niềm vui với chị, Thục đã lớn khôn, nhưng không về Dalat để góp vui với chị được cho Phương gửi chút quà mừng. Chị cảm động ôm tôi. Chị không ngờ cái tình văn nghệ tưởng chỉ là văn nghệ vậy mà bền chặt đã mấy mươi năm…

Thường chị ít chịu kể về những thay đổi trong cuộc sống của chị. Nhưng tôi linh cảm chị không còn ở Dalat nữa, mà ở rất gần tôi. Tuy nhiên lần nào sau khi ghé thăm tôi, tôi cũng gửi chị một ít lệ phí trở về Dalat. Năm nào, những ngày gần Tết chị cũng đến tôi. Tôi cất dành sẵn cho chị những món ăn ngày Tết, như bánh mứt, lạp xưởng, để chị không phải mua sắm, và tủi thân buồn. Chừng như xúc động vì chân tình tôi dành cho chị, có lần chị lãng đãng nói :

– “Mấy lần Phương đi thăm chị ở Dalat, chị trốn, vì không có quần áo đẹp để đi phố với em. Những quần áo em cho, chị túng tiền về bán hết, không còn giữ lại bộ nào. Có lần nằm một mình trên gác, nhìn theo bóng em khuất xa, chị đã khóc lặng lẽ… Chị cũng không hiểu sao chị làm vậy.”

Cũng như có một lần, sau khi tôi đi Dalat về, những món quà Dalat cho gia đình còn đó, chưa được mở ra, chị tất bật tạt qua nhà tôi trong vội vã. Chị kẹt tiền mua bán và hỏi tôi. Rất thật thà, tôi trả lời, em hết tiền, vì vừa mới ở Dalat về. Chị nhận cho em một ít quà được không. Chị nhất định không cầm gì hết và quày quả bước đi… Sau này chị phản tỉnh, kể lại tôi nghe, lần ấy chị giận tôi lắm, và thề trong lòng không bao giờ gặp tôi nữa. Nhưng nghĩ lại, thấy mình vô lý quá, tôi vẫn đối với chị thật đầy, có lầm lỗi nào đâu? Nên chị lại đã không rời xa tôi được.

Lần cuối cùng tôi gặp chị, chị hớt hãi, ngơ ngác cho tôi biết không thể sống được, chỉ có nước tự tử vì bị úp hụi. Có định mệnh, số kiếp cay nghiệt nào vẫn còn theo đuổi một người thơ đến suốt cuộc đời. Tình yêu, nhan sắc, danh vọng, bạc tiền là một con số không to lớn phủ kín hồn chị. Người chị mong ước sống chết mãi mãi cĩónhau đã ra đi không bao giờ trở lại sau biến cố 75. Từ những tuyệt vọng, khốn cùng, thiếu niềm tin bám víu chị có ý định trở lại đạo, để được nguyện cầu dưới chân Thiên Chúa.

Tôi thấy mình nhỏ bé, bất lực. Nỗi khó khăn của chị là một đại dương, mà tôi chỉ là con ốc nhỏ. Sự giúp đỡ chỉ như muối bỏ biển, như gió vào nhà trống, tôi cúi đầu không biết phải làm sao…

Và dòng sông xưa đã về biển lớn, theo gia đình, tôi lìa bỏ quê hương, tìm về một vùng đất mới, bắt đầu kiếp người nổi trôi lưu lạc. Năm tháng đầu tiên xứ người, tôi dành dụm ít tiền kiếm được trong lúc vừa học, vừa cày gửi về cho chị. Vẫn không có hồi âm. Chị không còn ở Dalat nữa. Không biết chị đã trôi giạt về một phương nào. Tất cả đã ở ngoài tầm tay tôi. Tiếp đó tôi biết tin Mẹ chị từ trần, và Ba chị cũng đã nằm xuống năm ngoái trong khổ đau vì chị. Chị không thể đền đáp hiếu đễ cho mẹ cha từ buổi sinh tiền đến lúc mãn phần vì nợ nần vây kín. Bây giờ nghe tin chị đau nặng, không ngồi dậy được, và đã trở về mái nhà xưa vì không còn bôn ba được nữa, sao đất trời, số mệnh vẫn chưa chịu buông tha. Và nếu nợ nần của chị lên đến hàng trăm triệu do lãi mẹ đẻ lãi con, chị phải đi trốn nợ nên không thể thư từ liên lạc với tôi, thì cũng đành thôi, tôi chẳng bao giờ hờn và trách chị bởi bao giờ tôi cũng hiểu chị như ngày xưa những lần quá khổ chị đã khóc với tôi cho vơi nỗi xót xa…

Có lẽ bây giờ tiếng thơ chị đã nghẹn ngào tắt lịm nhưng những câu thơ xưa thì vẫn đẹp ngàn đời. Ngô Kim Thu đã viết về thơ chị: “Bài thơ hay như một bình rượu quý, một bức tranh đẹp chẳng hề ảnh hưởng bởi thời gian. Mỗi mùa xuân về, dù đang ở bất cứ nơi nào xa vạn dặm, đọc lại những vần thơ sau đây của người thơ Dalat, người đọc lại thấy mình như đang trở về những ngày xa xưa với những cô gái Dalat mắt quá đổi trong, môi quá chừng hồng, những mối mình màu hoa đào thuở đầu đời quá đẹp, mà trên bước đường đời đôi khi chẳng thể còn gặp lại…”

Sau những bộn bề nơi đất khách, một chút trầm tư, bên chén trà sen, kính mời quý vị cùng đọc lại với Phương và Ngô Kim Thu một bài thơ cũ sau đây của Lệ Khánh, để xẻ chia những thăng trầm, bạc phận của một người thơ xứ lạnh, và hy vọng những dòng tùy bút của Phương hôm nay không rơi vào lạc lõng của sự lãng quên.

MH HOÀI LINH PHƯƠNG – Minneapolis

CHIẾN Y LÀM ĐẸP PHỐ PHƯỜNG

Trời hôm nay nắng buồn hong gió thổi

Chiến y về làm đẹp phố cao nguyên

Em lặng nhìn, mang chua xót làm riêng

Rưng rức nhớ… em gượng cười quên ca?

Chiến y đó nhưng chỉ toàn xa la.

Em cúi đầu nước mắt nhẹ vương mi

Áo cưới ngày nào… bạn cũ vu quy

Nên áo chiến người yêu xa vắng phố

Vui hạnh phúc họ quên em gái nho ?

Hay dỗi hờn, hay khóc giận vu vơ

Tình đơn phương cô bé sớm làm thơ

Và khôn lớn khi tuổi đời chưa lớn

Trời hôm nay bướm buồn bay lởn vởn

Bướm đùa hoa, hoa cợt bướm… vui chưa ?

Em nghĩ mình, em thẹn với hồn thơ

Thơ vẫn đẹp, sao hồn em chẳng đẹp

Áo muôn sắc giữa phố phường khép nép

Chiến y về làm hồng má hây hây

Mắt đa tình gợn suối tóc bay bay

Alpha đỏ, Ô đẹp màu môi con gái

Em kỷ niệm với mía đường tình ái

Nên độc hành tìm áo chiến ngày xưa

Để đem về ướp trọn mấy vần thơ

Thơ nhè nhẹ gửi người trai lính chiến

Đêm dừng quân có bao giờ anh biết

Có một người em gái nhỏ thương anh

Luôn nguyện cầu đất nước thôi chiến tranh

Ngày trở lại, có tình em đón đợi

Hôm nay gió, hoa anh đào phất phới

Có một người “thi sĩ nhỏ” cô đơn

Gọi tên anh… một tiếng gọi rất buồn:

“Người biên ải có thương người hậu tuyến?”

Trời Dalat hôm nay nhiều áo chiến

Áo chiến mùa đông pha màu đỏ alpha

Em nhớ anh nên nước mắt em nhòa

Song gạt vội : “Bụi đường bay ác quá !”

LỆ KHÁNH

MỘT CHÚT VỀ LỆ KHÁNH

Nhà thơ nữ Lệ Khánh, tên thật: Dương Thị Khánh, sinh năm 1944 tại tỉnh Thừa Thiên – Huế. Hiện đang sinh sống cùng con trai ở số 71 đường 3/2 thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng. Đ T : 063.3828534.

Là một người thơ nữ mang nặng tình thơ lẫn tình đời trong chuỗi “Một đời gian truân – Một đời bạc phận” như MH Hoài Linh Phương tâm sự ở trên..

Theo một bài viết của La Ngạc Thụy :

– “Vào những năm thập kỷ 60, trên diễn đàn văn nghệ xuất hiện một nhà thơ gây xôn xao dư luận, có thể nói là ngang tầm với hiện tượng T.T.Kh, đó là nhà thơ Lệ Khánh tác giả của 5 tập thơ “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” do nhà xuất bản Khai Trí xuất bản liên tục trong 3 năm từ năm 1964 đến năm 1966.

“Chính tên tập thơ “Em là gái trời bắt xấu” đã gây chú ý hấp dẫn, từ đó độc giả đã “đua nhau” tìm đọc. Điều làm mọi người kinh ngạc là Lệ Khánh xuất bản thơ với tựa đề “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” nhưng thật ra Lệ Khánh lại là một cô gái Huế xinh đẹp từng làm nhiều chàng trai đất Quảng ngẩn ngơ chứ chẳng hề xấu chút nào, lúc xuất bản tập thơ đầu tiên Lệ Khánh vừa đúng 20 tuổi.

“… Một điều đáng chú ý khác là đời thơ của Lệ Khánh không dài, chỉ bắt đầu vào năm 1964 và kết thúc trước năm 1975; sau đó có sáng tác thêm gì cũng không còn cái chất thơ “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” như xưa nữa.

Chuyện tình của Lệ Khánh

Lệ Khánh sống ở Đà lạt thành phố sương mù, thành phố của tình yêu nhưng lại khổ vì tình, lụy vì tình. Nhưng nhờ éo le trong tình yêu mà Lệ Khánh đã có những vần thơ để đời…

Vì vào thập niên 60, báo chí thời đó phần nhiều theo chiều hướng “Tình thơ cho lính”, ngoại trừ một số rất ít là loại thơ hơi mới. Tiêu biểu phải kể đến Lệ Khánh nổi tiếng với tập thơ “Em là gái trời bắt xấu”, lúc đó có người yêu là nhạc sĩ Thục Vũ đang mang cấp bậc Đại Úy.

Thục Vũ tên thật là Vũ Văn Sâm, sinh năm 1932 tại làng Nam Lạng – Trực Ninh – Bắc Việt. Ông tốt nghiệp khóa 4 phụ Đà Lạt năm 1954, năm ký hiệp định đình chiến  Geneva. Vì thế, ông ở lại miền Nam Việt Nam bỏ lại phía bên kia người vợ chưa cưới. Năm 1955, người vợ chưa cưới của ông vào Nam và làm lễ cưới năm 1956.

Là một nghệ sĩ, Thục Vũ không thoát khỏi hệ lụy của chữ tình. Ông đã gặp và yêu Lệ Khánh, lúc nữ thi sĩ vừa tròn 20 tuổi, trong thời gian này ông đã phổ nhạc bài thơ “Vòng Tay Nào Cho Em”, làm xôn xao giới yêu nhạc, yêu thơ với mối tình của ông và Lệ Khánh. Hai người có một đứa con là Vũ Khánh Thục. Bà Thục Vũ biết nhưng không làm to chuyện mà còn đến thăm nom, chăm sóc cho ngày con Lệ Khánh ra đời… Sau đó, Thục Vũ lên Trung Tá ở Sư Đoàn 5 Bộ Binh thì miền Nam mất. Sau 1975, ông đi cải tạo và chết trong trại năm 1978, để lại cho bà vợ lớn 5 đứa con, và nhà thơ Lệ Khánh 1 đứa con.

Mối tình của cô gái làm thơ trời bắt xấu được nhiều người trong giới văn nghệ biết đến như là một mối tình đẹp….

Tác phẩm đã xuất bản : Em là gái trời bắt xấu (thơ tập 1, 2, 3, 4, 5) Khai Trí Sài Gòn xuất bản : 1964 1965-1966; Vòng tay nào cho em (thơ 1966); Nói với người yêu (thơ 1967).

Lê Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (3/3)

CHÚT TÂM TÌNH VỚI

NHÀ VĂN

BÌNH NGUYÊN LỘC

– Lê Phương Chi (Kỳ 2)

Những cốt truyện thành hình

– Tôi viết truyện nào cũng công phu và tỉ mỉ như nhau. Chỉ có đề tài nào tôi thai nghén rỉ rả lâu ngày, và đề tài nào tôi thích hơn thì tác phẩm đó được tôi thương nhiều hơn , mà tôi cũng có cảm tưởng là mình viết truyện đó hay hơn nữa chớ.

– Nội dung truyện Quán Tai Heo ra sao, thưa ông ?

– Vai chánh trong Quán Tai Heo là thi sĩ Minh Phẩm, chắc anh cũng biết anh Phẩm chớ ? Trong câu chuyện có một bài thơ của anh ấy, bài thơ làm tôi xúc động tột độ.

– Ông đã làm việc như thế nào từ lúc thai nghén cốt truyện cho đến khi hình thành một đứa con tinh thần ?

– Như tôi đã nói, những yếu tố để cho tôi thai nghén một tác phẩm không phải là cốt truyện mà là ý truyện. Chẳng hạn như những sự kiện sinh hoạt xảy ra xung quanh tôi hằng ngày, hoặc các tin tức tôi đọc rải rác trên báo chí. Tôi ít chú ý đến những câu chuyện ly kỳ gay cấn, mà chỉ có những ý tưởng ngộ nghĩnh mới thâm nhập vào cơ năng sáng tác của tôi. Như câu chuyện về niềm đau của một thanh niên trót yêu một thiếu phụ mà anh ta lầm tưởng là chưa chồng, đã cho tôi ý truyện để hình thành một tiểu thuyết Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương ….

– Nhưng câu chuyện trong Ái Ân Thâu Ngắn cũng ly kỳ hấp dẫn chớ, thưa ông ?

– Ấy ,tôi chưa nói hết mà anh ! Sau khi tôi bắt gặp ý truyện, tôi mới dựng nên cốt truyện, rồi đi tom góp những chi tiết, những địa điểm có thật trong đời sống mà tôi thấy thích hợp có liên quan với nội dung câu chuyện. Những bối cảnh nào có sẵn trong tâm khảm của tiềm thức tôi, thì tôi bắt tiềm thức làm việc, còn những địa danh nào cần phải tìm hiểu, thì tôi phải đích thân đến nơi để nghiên cứu tường tận. Chẳng hạn như chuyện chìm đò trong Ái Ân Thâu Ngắn, tôi cho hai vai chánh là thanh niên và thiếu phụ ấy tắp vào cù lao Rồng ở Mỹ Tho, là do tôi đã tìm tòi nghiên cứu tận nơi ròng rã hơn năm tháng trời chứ đâu phải ít. Cho nên, tất cả những chi tiết trong hầu hết tác phẩm của tôi đều là có thật ở khắp nơi mà tôi đã tìm đến, đã gặp hoặc tôi cũng là một vai trong những sự việc xảy ra, chớ tôi không bịa được chi tiết. Mà tôi chỉ bịa cốt truyện để trình bày cho phù hợp ý truyện của tôi, do tôi đã thu nhặt được những chi tiết cụ thể trong đời sống hằng ngày mà thôi.

– Xin ông cho thêm ví dụ cụ thể của tác phẩm khác ?

– Trường hợp Nhện Chờ Mối Ai ? Cũng là những chi tiết của một câu chuyện có thật đã xảy ra ở khu vực gần chợ Nguyễn Tri Phương do nữ văn sĩ V.L có nhã ý biếu tôi câu chuyện. Sau khi nghe kể, tôi tìm thấy trong ấy một ý truyện ngộ nghĩnh :

– Hai thanh niên nam nữ trong câu chuyện sao không sáp với nhau cho rồi mà còn chờ gì nữa ? Cũng tỉ như con nhện sao cứ mãi giăng tơ, còn chờ mối ai mới chịu ráp mối để ngừng nghỉ ? Sau đó, tôi nhờ cô V.L đưa tôi đến tận nơi xảy ra câu chuyện để quan sát và nghiên cứu thêm cho đầy đủ các chi tiết cần thiết. Rồi tôi mới khởi viết feuilleton cho nhựt báo Tiếng Chuông … Cho nên có thể nói, tất cả tác phẩm của tôi dù truyện ngắn hay tiểu thuyết dài cũng chỉ tóm tắt đầy đủ đại ý của cốt truyện trong vài câu …..

– Ông viết truyện dài từng kỳ mỗi ngày cho nhật báo (Roman feuilleton) có khác với viết một truyện ngắn, chẳng hạn như Ba Con Cáo, Nhốt Gió, Ký Thác không ?

– Như tôi đã nói lúc nãy, bất cứ viết một tác phẩm nào , cho dầu là một truyện ngắn diễm tình để đăng các nhựt báo hay là một tiểu thuyết dài để dành đó, tôi cũng viết công phu như nhau. Có điều là người đọc thấy dở hoặc khen hay , có lẽ là do đề tài ấy thích hợp với tôi cho nên tôi viết hay, hoặc những tình tiết trong truyện ấy hợp với quan điểm bạn đọc. Vậy thôi.

– Ông viết một mạch rồi sửa chữa, rồi lại viết tiếp, hay là viết trang nào chữa liền trang nấy ?

– Viết luôn một mạch chớ ! Những khi đang viết mà gặp những từ ngữ dùng chưa được chính xác lắm, tôi cũng dùng tạm rồi sau đó tôi mới chỉnh đốn lại. Trước hết là tôi tra tự điển để chỉnh những chữ mà lúc viết mình còn nghi ngờ. Tôi là dân Nam kỳ mà anh ! Tôi thường bị sai mấy chữ có g hoặc không g, hay là chữ cuối bằng t hay c ; mà rắc rối cho tôi nhứt là dấu hỏi và dấu ngã. Sau khi chữa xong chánh tả là đến việc tìm từ ngữ để thay những từ mà lúc viết mình dùng chưa chính xác. Vậy mà trong truyện dài Đò Dọc tôi còn bị sai danh từ quan sát, thay vì phải dùng từ nhận xét mới sát nghĩa

– Chắc là ông thích viết vào những lúc yên tĩnh như thế này ?

– Không đúng hẳn. Tôi viết lúc nào cũng được. Tôi không sợ ồn ào. Mấy năm gần đây, hễ sắp nhỏ trong nhà làm ồn thì tôi vặn magnétophone cho tiếng kèn của Louis Amstrong hoặc giọng ngâm thơ của Hoàng Oanh lớn hơn một chút rồi tiếp tục viết. Còn trước kia chúng nó đánh giặc, bắn súng, đấu kiếm sát bàn viết tôi cũng thản nhiên viết như thường, chớ không bao giờ la rầy làm gián đoạn cuộc vui của bọn trẻ. Sở dĩ tôi phớt tỉnh Ăng lê được như vậy là nhờ mấy ông công chức cũ ở Kho bạc tỉnh tôi (Biên Hòa) hồi trước tập cho tôi đó……

– Sao lại có chuyện ngộ nghĩnh vậy, xin ông cho nghe ?

– Hồi tôi mới vô làm công chức Kho bạc chừng năm, sáu tháng gì đó, tôi chỉ ngồi ngó đám người ồn ào lộn xộn trước mắt, mà không làm được việc gì cả. Sau đó, nhờ mấy ông công chức lâu năm bày tôi cách tập cho mắt không nhìn thấy đám đông, tai không nghe tiếng ồn ào mà chỉ tập trung vào công việc, sổ sách. Từ đó công việc của tôi mới khỏi ứ đọng. Cũng nhờ vậy mà sau này rất có lợi cho tôi trong việc tập trung tư tưởng lúc ngồi vào bàn viết để sáng tác.

Rồi nhà văn Bình Nguyên Lộc ngó tôi với ánh mắt sáng ngời :

– Anh coi, trong cảnh sinh hoạt xô bồ, náo nhiệt ồ ạt của Sài Gòn , mà tôi cứ ngồi lầm lì để miệt mài viết trên bảy trăm truyện ngắn, và gần bốn chục tiểu thuyết dài, đâu phải tôi không bị chi phối bởi cảnh con đau vợ bịnh và những cơn túng quẫn thúc bách hằng ngày ? Mà sở dĩ viết được như vậy là nhờ khi ngồi vào bàn viết là tôi gác hết mọi chuyện ra ngoài tai…

– Tại sao ông lại thích sáng tác truyện ngắn hơn là tiểu thuyết dài ?

– Có lẽ vì truyện ngắn bắt buộc mình viết câu văn nào cũng cô đọng và phải tìm tòi những từ mới như làm một bài thơ. Không có những câu dư, ý thừa, không tả những hành động vô ích rườm rà như trong tiểu thuyết; chẳng hạn như …. nói đến đây chàng cảm thấy mệt nên cáo từ đứng dậy ra về , hoặc là….. chàng mở bao thuốc lá rồi nói với khách rằng mời ông hút thuốc vv…

Nhà văn Bình Nguyên Lộc tưởng tôi ghi không kịp, ông lặp lại như đọc chánh tả, tôi ngẩng lên hỏi để tiếp tục câu chuyện :

– Khi nãy ông nói đến làm thơ tôi mới nhớ trước kia ông cũng có làm thơ, và tôi cũng đã được đọc một vài bài rất hay. Sao ông không tiếp tục ? Hay là ông không thích làm thơ bằng viết truyện ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc phì cười :

– Tôi cũng thích thơ lắm chớ, nhưng chỉ thích đọc những bài thơ tình cảm thấm thía của các bạn. Riêng tôi, tôi không làm thơ vì thấy thơ mình không được xuất sắc cho nên tôi chuyên viết tiểu thuyết

– Xin ông cho biết chủ trương sáng tác qua các giai đoạn từ loại truyện ngắn Nhốt Gió đến Ký Thác, từ tiểu thuyết Đò Dọc đến tiểu thuyết từng kỳ đăng nhật báo như Nhện Chờ Mối Ai. Và từ khi đăng xong Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương đến nay ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc cười thành tiếng :

– Anh hỏi như vậy có nghĩa là tôi viết hai truyện ngắn Ký Thác và Nhốt Gió thì thận trọng ngòi bút còn khi sáng tác những feuilleton cho nhựt báo là tôi viết cẩu thả chớ gì ?

Rồi nhà văn Bình Nguyên Lộc nhìn tôi với ánh mắt hóm hỉnh và nụ cười thân mật :

– Cũng như một số bạn thân của tôi cho rằng vì tôi viết feuilleton và viết những truyện ngắn diễm tình cho các nhựt báo nên văn của tôi có mòi dở hơn trước. Nhưng hôm nay, riêng với anh, tôi có thể nói thẳng là trong những truyện của tôi đã xuất bản – vì trong số bảy trăm truyện ngắn, tôi mới xuất bản có một trăm năm mươi hai truyện, còn bốn chục tiểu thuyết dài tôi cũng mới xuất bản có mươi cuốn – nếu có tác phẩm nào bị độc giả chê dở là tại vì truyện ấy tôi viết dở, chớ không phải do tôi sáng tác nó trong thời kỳ tôi bắt đầu viết loại tiểu thuyết feuilleton. Bởi có nhiều tác phẩm tôi sáng tác từ trước khi có Ký Thác và Ba Con Cáo mà đến bây giờ tôi mới cho đăng báo. Còn tiểu thuyết Đò Dọc mà được độc giả khen hiện nay, nó cũng là loại feuilleton tôi viết cho nhựt báo Dân Chúng, chắc trước đây anh cũng đã biết. Vì vậy, những tác phẩm của tôi hễ thuận tiện là tôi lôi nó ra cho nó chào đời, chứ không phải theo thứ tự của thời gian sáng tác. Do đó, không thể căn cứ vào thời gian các tác phẩm ấy xuất bản mà phân định giai đoạn sáng tác để rồi đánh giá từng tác phẩm của tôi được.

– Sao lúc sáng tác ông không ghi ngày tháng dưới mỗi tác phẩm ?

– Tôi không quen ghi như vậy anh à. Bởi thế cho nên có lần anh Nguyễn Mạnh Côn đã phàn nàn tôi trong một bài báo anh ấy phê bình văn của tôi. Anh Côn viết rằng nhà văn Bình Nguyên Lộc không chịu ghi năm tháng sáng tác dưới mỗi tác phẩm để dễ dàng cho những cây bút tìm hiểu và phê bình văn chương sau này …

– Viết nhiều như vậy có khi nào ông đọc lại các tác phẩm đã xuất bản để rút ưu khuyết điểm không ?

– Có chớ. Nhờ đọc lại nên tôi mới thấy trong Đò Dọc đã dùng sai từ quan sát thay vì phải viết là nhận xét mới đúng.

– Và ông có thời gian để đọc tác phẩm của các nhà văn khác không ?

– Tôi thích đọc lắm chớ. Dù bận rộn cho mấy, khi gặp những cuốn sách hoặc những bài báo ưng ý, là tôi phải dành thời gian để đọc, mà hễ đọc là tôi đọc một lèo cho đến hết, chớ không bỏ dở để làm chuyện khác rồi bữa sau đọc tiếp. Chẳng hạn những tác phẩm của Sơn Nam thì tôi đọc một hơi cho tới trang cuối, và cũng đọc kỹ lắm

– Ông có đọc cuốn Hương Rừng Cà Mau của anh Sơn Nam không ?

– Có chớ. Trong ấy tôi thích nhứt là truyện ngắn Mùa Len Trâu, và tôi cũng mến anh Sơn Nam là qua đó đó. Tuyệt quá phải không anh ?

– Còn các nhà văn trước kia ? Chắc ông chỉ thích đọc của nhà văn Nhất Linh ?

– Không phải vậy đâu anh. Anh Nhất Linh thì tôi chỉ cảm phục bản lĩnh và thái độ xử thế. Còn văn của ảnh, nói xin lỗi vong linh của ảnh, tôi sắp hạng sau truyện ngắn của Bùi Hiển, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, vì các nhà văn này hợp “gu“ tôi hơn ….

– Xin ông cho nhận xét về ba nhà văn ông vừa kể ?

– Văn phong của Thạch Lam duyên dáng và tế nhị, còn văn Bùi Hiển về kỹ thuật truyện ngắn rất cao, phản ảnh màu sắc địa phương thật tài tình; còn tùy bút của Nguyễn Tuân thì chứa cả một kho danh từ và rất dồi dào ý tứ…

– Còn các nhà văn nước ngoài, ông thích văn của những ai ?

– Anatole France thì tư tưởng độc đáo. Còn Marcel Proust thì nhận xét sâu sắc về tâm tình con người, truyện tình cùa nhà văn này thật là tuyệt-cú-mèo. Anh biết không , những lần tôi sắp sửa viết một đoạn lâm ly say đắm cho cuốn tiểu thuyết nào của tôi, là trước đó tôi phải tìm đọc ông ta một vài đoạn trong bộ À La Recherche Du Temps Perdu (Tìm Lại Thời Gian Đã Mất), tôi phải đọc đi đọc lại để gợi hứng.

– Ông có đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung không ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc chép miệng :

– Chà chà, chưởng phong của thằng cha này khá lợi hại, anh ta thừa cơ hội tình hình chánh trị nước Việt mình đang rối ren, tung một loạt truyện kiếm hiệp, đánh bật tiểu thuyết của tôi ra khỏi những nhà xuất bản từ trước chuyên xuất bản tác phẩm của tôi

Thấy tôi ngó đồng hồ tay, nhà văn Bình Nguyên Lộc mỉm cười :

– Và chẳng biết đến bao giờ anh em mình say câu chuyện mà không phải bận tâm giờ giới nghiêm, hoặc đang câu vui chuyện mà khỏi phải thảng thốt ngó nhau khi chợt nghe vài tiếng nổ chát chúa bất thần như hồi nãy, thì khi đó những tác phẩm văn chương có giá trị mới mong được độc giả xếp hạng đúng theo chất lượng của nó, phải không anh . Còn bây giờ thì … (Bình Nguyên Lộc ngừng nói, đưa hai tay lên tỏ vẻ ngao ngán)

Tôi nói đùa :

– Bây giờ thì tôi cũng phải lo sửa soạn kết thúc câu chuyện phỏng vấn để từ giã ra về là vừa, nếu không sẽ kẹt giờ giới nghiêm phải không ông ?

Chúng tôi cùng cười dài, và nụ cười tiễn khách của nhà văn Bình Nguyên Lộc được giữ trên môi cho đến lúc tôi đẩy chiếc xe Vélo Solex ra khỏi hàng hiên nhà, ông mới chép miệng có vẻ xót xa ái ngại :

– Anh về tận trên đường đua Phú Thọ giờ này bằng xe đó , xa quá hén !!!
– (Vùng chợ Cầu Muối đêm mùng 6 Tết Ất Tỵ, 1965)

Lê Phương Chi (“ Tâm tình văn nghệ sĩ”)

Những tác phẩm của Bình Nguyên Lộc đã xuất bản :

Truyện ngắn và tiểu thuyết :

Câu dầm, truyện ngắn, tuần báo Thanh niên – 1943, Sài Gòn – Nhốt gió, tập truyện, Nhà xuất bản Thời Thế – 1950, Sài Gòn – Đò dọc, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Bến Nghé – 1958, Sài Gòn – Gieo gió gặt bão, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Bến Nghé – 1959, Sài Gòn – Tân Liêu Trai, tập truyện (ký bút danh Phong Ngạn), Nhà xuất bản Bến Nghé – 1959, Sài Gòn – Ký thác, tập truyện, Nhà xuất bản Bến Nghé – 1960, Sài Gòn – Nhện chờ mối ai, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Nam Cường – 1962, Sài Gòn – Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thế Kỷ – 1963, Sài Gòn – Bóng ai qua ngoài song cửa, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thế Kỷ – 1963, Sài Gòn – Bí mật của nàng, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thế Kỷ – 1963, Sài Gòn – Hoa hậu Bồ Đào, Nhà xuất bản Sống Mới – 1963, Sài Gòn – Mối tình cuối cùng, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thế Kỷ – 1963, Sài Gòn – Nửa đêm trăng sụp, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Nam Cường – 1963, Sài Gòn – Tâm trạng hồng, tập truyện, Nhà xuất bản Sống Vui – 1963, Sài Gòn – Xô ngã bức tường rêu, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Sống Vui – 1963, Sài Gòn – Đừng hỏi tại sao, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Tia Sáng – 1965, Sài Gòn – Mùa thu nhớ tằm, tập truyện, Nhà xuất bản Phù Sa – 1965, Sài Gòn – Uống lộn thuốc tiên, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Miền Nam – 1965, Sài Gòn – Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc, tạp bút, Nhà xuất bản Thịnh Ký – 1966, Sài Gòn – Tình đất, tập truyện, Nhà xuất bản Thời Mới, 1966, Sài Gòn – Nụ cười nước mắt học trò, tập truyện, Nhà xuất bản Trương Gia – 1967, Sài Gòn – Quán Tai Heo, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Văn Xương – 1967, Sài Gòn – Thầm lặng, tập truyện, Nhà xuất bản Thụy Hương -1967, Sài Gòn – Diễm Phượng, tập truyện, Nhà xuất bản Thụy Hương – 1968, Sài Gòn – Đèn Cần Giờ – 1968, Sài Gòn – Một chàng hai nàng, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thụy Hương – 1968, Sài Gòn – Sau đêm bố ráp, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Thịnh Ký – 1968, Sài Gòn – Trăm nhớ ngàn thương, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Miền Nam – 1968, Sài Gòn – Khi Từ Thức về trần, truyện, Nhà xuất bản Văn Uyển – 1969, Sài Gòn – Nhìn xuân người khác, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Tiến Bộ – 1969, Sài Gòn – Món nợ thiêng liêng, tiểu thuyết, Nhà xuất bản Ánh Sáng – 1969, Sài Gòn – Cuống rún chưa lìa, tập truyện, Nhà xuất bản Lá Bối – 1969, Sài Gòn – Lương tâm kẻ trộm, truyện ngắn, tạp chí Hương Quê – 1971, Sài Gòn – Lữ đoàn Mông Đen, Nhà xuất bản Xuân Thu – 2001, Hoa Kỳ – Tỳ vết tâm linh

Truyện dài chưa in :

Bọn xé ràoBóng ma dĩ vãngBưởi Biên HòaCon khỉ đột trò xiếcCon quỷ ban trưaCô Sáu Nam VangCuồng ca thế kỷÐôi giày cũ chữ PhạnGái mẹGiấu tận đáy lòngHai kiếp nhả tơHổ phách thời gianHột cơm Ngô chúaKhi chim lìa tổ lạnhLuật rừngLưỡi dao cùnMà vẫn chưa nguôi hình bóng cũMón nợ thiêng liêngMột chuyến ra khơiMuôn triệu năm xưaNgõ 25Ngụy KhôiNguời đẹp bến Ninh KiềuNgười săn ảo ảnhQuang Trung du BắcSuối đổi lốtThuyền trưởng sông LôTrử La bến cũ Trọng Thủy Mị ÐườngSở đoản của đàn ôngTrai cưới gái nàoQuật mồ người đẹpXóm Ðề Bô

Nghiên cứu :

Ca daoCổ văn chú giảiLuận thuyết y họcNguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, khảo luận, Nhà xuất bản Bách Bộc – 1971, Sài Gòn – Thổ ngơi Đồng NaiTừ vựng đối chiếu 10 ngàn từ – 1971, Sài Gòn –Từ vựng danh từ Mã Lai mà Trung Hoa vay mượn – 1972, Sài Gòn – Lột trần Việt ngữ, khảo luận ngôn ngữ Việt, Nhà xuất bản Nguồn Xưa – 1972, Sài Gòn

Thơ :

Thơ tay tráiViệt sử trường caThơ Ba Mén (tiểu thuyết thơ).

Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (2/3)

CHÚT TÂM TÌNH VỚI

NHÀ VĂN

BÌNH NGUYÊN LỘC

– Lê Phương Chi (Kỳ 1)

Tiểu sử : Tên thật : Tô Văn Tuấn. Bút danh : Bình Nguyên Lộc. Sinh ngày : 07/03/1914 (hộ tịch ghi năm 1915). Nguyên quán : làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung , tỉnh Biên Hòa

Thường trú trước đây : đường Nguyễn Khắc Nhu quận Nhì, Sài Gòn (1965)

Học Tiểu học trường Tân Uyên, rồi Biên Hòa. Học cấp Trung học trường Petrus Ký Sài Gòn, đậu Tú tài I năm 1935, gặp hồi đất nước trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, phải bỏ học để thi vào ngạch Thư ký Kho Bạc. Làm công chức hơn mười năm thì gặp Cách mạng tháng 8 năm 1945, từ giã đời công chức về sống với ngòi bút (1965)

Hoạt động văn nghệ :

Tác phẩm đầu tay : Truyện ngắn CÂU DẦM đăng trên tuần báo Thanh Niên xuất bản tại Sài Gòn năm 1943

– Đã miệt mài sáng tác trên bảy trăm truyện ngắn và trên bốn mươi truyện dài, từ năm 1943. Chỉ in trên các báo và chỉ xuất bản được khoảng một phần ba trong số bản thảo đã hoàn thành

– Đã cộng tác với hầu hết các nhật báo và các tạp chí xuất bản ở Sài Gòn

– Đã chủ trương tuần báo trào phúng Tin Mới năm 1952, Tuần báo Vui Sống năm 1959.

– Đã sáng lập nhà xuất bản Bến Nghé năm 1960

Ngoài ra, còn sáng tác một số tiểu thuyết bằng thơ :

– Thơ Ba Mén, Việt Sử Trường Ca. vv…

Nhiều tác phẩm biên khảo : Luận thuyết Y học, Thổ Ngơi Đồng Nai, Ca Dao, Cổ Văn Chú Giải, Mã Lai Nguồn Gốc Dân Tộc Việt, Lột Trần Việt Ngữ
– Đã được trao giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc (thể loại Văn) năm 1959
Có chân trong thành phần Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (Sài Gòn) từ năm 1960

Quan niệm của nhà văn Bình Nguyên Lộc :

“Văn tôi bắt nguồn từ những cảnh đẹp của quê hương và xuất phát từ lòng nhớ nhung tha thiết của tôi đối với nó chứ không phải vì ái tình hoặc yêu đương tác động… “

“Vì tôi thường rụt rè trước cánh cửa tình yêu đã lỏng then cài, chỉ cần mạnh tay, đẩy một cái là cửa mở toang cho tôi bước vào … Nhưng rồi, như độc giả đã thấy rải rác trong tác phẩm của tôi, nhân vật trong ấy đã bỏ lỡ bao nhiêu dịp. Có thể nói, tôi chỉ có những mối tình thoang thoảng nhẹ nhàng , đủ để ghi lại những kỷ niệm đẹp mà thôi…”

“Những yếu tố tôi thai nghén rồi viết thành tác phẩm không phải là cốt truyện mà là ý truyện. Cho nên tôi ít chú ý đến những câu chuyện ly kỳ gay cấn mà chỉ nắm lấy những ý tưởng ngộ nghĩnh trong những sự kiện …”

“Sau khi bắt gặp ý truyện, tôi mới tạo nên cốt truỵện, rồi gom góp những chi tiết, những địa điểm sống ngoài đời mà tôi cho là thích hợp với nội dung. Nơi nào đã có sẵn trong tâm khảm tôi, thì tôi bắt tiềm thức làm việc, còn những gì cần phải tìm hiểu thì tôi đích thân đến tận nơi nghiên cứu từng chi tiết, chứ tôi không bịa đặt…..”

“Tôi thích viết truyện ngắn, vì nó buộc mình viết câu nào cũng cô đọng và phải tìm tòi những ý tưởng mới mẻ như làm một bài thơ … “

Nhà văn Bình Nguyên Lộc có một bút pháp sắc bén, đôn hậu, quan sát tinh tế với những tình tiết phong phú và rất đặc sắc trong thể loại truyện ngắn. Ông viết nhanh và viết nhiều hơn các nhà văn đương thời

Từ một lời khuyên của nhà văn Nhất Linh

Nhìn đúng địa chỉ, tìm mãi không thấy nút chuông điện, tôi rung chấn song sắt một căn nhà có vẻ uy nghi vững chải trong dãy phố ở một ngõ hẻm mà phía ngoài đầu đường, cạnh rạp hát Cầu Muối rất ồn ào náo nhiệt. Vài phút sau, nhà văn Bình Nguyên Lộc ra mở cửa đón tôi vào với nụ cưới hiền hòa khiêm tốn, mà không thiếu sự niềm nở thân tình.

Sau vài ba câu chào hỏi xã giao, tôi bắt đầu gợi chuyện :

– Ông thường làm việc vào giờ nào trong ngày ?

– Bất cứ lúc nào. Hễ rảnh tay là tôi ngồi vào bàn viết ….

– Ông không cần chờ hứng đến sao ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc cười :

– Trước kia thì như vậy, nhưng từ năm 1952, tôi gặp anh Nhất Linh, lúc ảnh ở Hồng Kông vừa về Sài Gòn. Nhắn tôi đến thăm chơi tại nơi ảnh đang tạm trọ trong ngõ đình Phú Thạnh đường Lê Văn Duyệt (Cách mạng tháng 8 hiện nay). Qua vài câu chuyện hàn huyên, ảnh hỏi tôi lúc này sáng tác có đều tay không. Tôi thành thật trả lời là sao lúc này tôi không có hứng thú sáng tác. Nghe vậy, ảnh khuyên tôi : “Một người cầm bút muốn thành công thì không thể chờ hứng đến mới viết theo những cây bút tài tử. Mà mỗi ngày bắt buộc phải ngồi vào bàn viết, viết ít nhất là ba, bốn trang cho thành nếp. Và rồi hứng thú cũng sẽ đến trong lúc viết. Thạch Lam nhờ vậy mà thành công. Chính tôi cũng phải bắt chước Thạch Lam đấy !“. Nghe lời khuyên chính đáng ấy, tôi về làm theo anh Nhất Linh từ đấy đến giờ.

– Hình như trước kia văn hào André Maurois cũng đã nói như thế phải không ông ?

– Đúng vậy, trước khi nghe anh Nhất Linh nói, tôi đã đọc André Maurois từ lâu nhưng tôi không làm theo. Cho đến khi anh Nhất Linh khuyên, có lẽ do mình kính phục anh ấy mà mình làm theo. Tuy vậy, nói thì dễ mà làm thì khó lắm anh ơi ! Tôi suýt bỏ cuộc mấy lần, nhưng đến nay thì thói quen ấy đã thành nếp. Hôm nào mắc chuyện gì phải bỏ viết, là tôi cảm thấy nhớ tiếc như mất mát một cái gì.

– Có phải nhà văn Nhất Linh là người từng khuyến khích ông viết văn và cũng đã nâng đỡ từ trước ?

– Không phải vậy. Tôi mới gặp và quen anh ấy từ năm 1952, còn tôi đã viết văn từ những năm 1942 kìa. À, có chuyện này cũng lạ nghen anh. Hồi 1942- 1943 nhà thơ Xuân Diệu đang làm việc ở Sở Thương Chánh Mỹ Tho, bấy giờ có nhà thơ Huy Cận thường vào thăm chơi, khi ấy tôi có một người bạn thân trong giới công chức, tuy không viết văn nhưng anh ấy có khiếu thưởng thức văn chương rất tinh tế. Anh giao du mật thiết với Xuân Diệu và Huy Cận, hai nhà thơ này cảm phục trình độ thưởng thức văn thơ của ảnh. Nhờ đó, những tác phẩm của tôi lúc đầu được anh ấy đưa qua hai nhà thơ kia đọc, và sau đó được đăng lên báo, bởi nhờ qua uy tín và ảnh hưởng của hai nhà thơ

– Ông có thích thơ của hai nhà thơ này không ?

– Tôi thích và bái phục cả hai vị, nhưng tính chất sôi nổi trong thơ Xuân Diệu ít hợp với tạng của tôi. Còn thơ Huy Cận thì, tôi có thể nói là từng câu từng chữ thấm sâu vào tận đáy lòng tôi, rồi nhè nhẹ lay động con tim tôi. Nếu so sánh thơ của hai nhà thơ này, tôi xin nói cụ thể một cách dung tục như vầy : thơ Xuân Diệu là những món xào cay nồng hấp dẫn và ngon miệng. Còn thơ Huy Cận tôi nhâm nhi như miếng khô mực nảy giờ anh em mình đang nhai đây , càng nhai, cái hậu ngọt của nó càng thấm sâu, càng đậm đà không sao tả xiết. Thơ Huy Cận thấm đượm hương vị quê hương, ví như canh chua cá kho vậy. Chính anh Nhất Linh cũng có lần nói với tôi rằng thể thơ lục bát của Huy Cận xứng đáng là hậu duệ của Nguyễn Du….

– Xin cho biết những yếu tố khác đã tác động ông viết văn từ lúc đầu ?

– Khá nhiều yếu tố, nhưng hôm nay tôi chỉ nói với anh những điều mà tôi nghĩ đó là yếu tố căn bản thôi nghen !

Hồi nhỏ, tôi có một người thím, bà thường kể chuyện cổ tích cho tôi nghe. Còn người chú tôi thì ưa chơi hòn non bộ và chim cảnh. Đó cũng là những món tôi say mê vô cùng. Nhà tôi lại có hai chị, còn tôi là em trai út. Hai chị đi lấy chồng sớm, nhà còn lại mình tôi . Buồn quá, tôi thường ra ngồi ngắm hòn non bộ rồi nhìn chim nhảy nhót trong lòng mà suy tư vơ vẩn. Lại nữa, khi tôi còn học lớp nhứt (cours supérieur) được gặp hai ông thầy, mỗi ông dạy sáu tháng. Ông nào cũng thích văn chương. Vào giờ ổng dạy môn Luận Pháp văn (Rédaction Francaise), ổng thường đem tiểu thuyết của Alphonse Daudet đọc cho cả lớp nghe, rồi bình giảng những đoạn văn hay, phân tích từng câu từng chữ, làm tôi nghe say sưa đến nỗi khi về nhà còn nghiền ngẫm cả mấy ngày sau đó.

Rồi đến khi tôi xuống học nội trú trường Petrus Ký Sài Gòn thì nỗi buồn nhớ nhà, nhớ làng làm cho tôi càng quay quắt. Chắc anh cũng đã có nghe nói về làng Tân Uyên của tôi chớ ? Một làng quê nằm sát hữu ngạn sông Đồng Nai, nơi đó bờ sông cao, nước dưới sông sâu cuồn cuộn chảy xiết quanh năm. Phía sau làng có đám rừng thưa nằm thoai thoải trên đồi, giữa đồi có ngôi đình nằm trang nghiêm. Sau lưng đồi là con suối nước trong vắt, suốt năm tưới cánh đồng lúa xanh tươi, đem lại nguồn sống cho dân làng tôi. Xa xa phía trước về tay trái là khúc quanh con sông, có đám rừng làm bình phong, và những cánh rừng tiếp nối từ xanh đậm đến xanh lơ bát ngát lẫn vào da trời đẹp như một bức tranh thiên tạo

Nói đến đây, nhà văn Bình Nguyên Lộc nhìn ra phía khung cửa với ánh mắt vời vợi như muốn vượt khỏi bức tường nhà ai đang nằm chắn phía bên kia con hẻm. Rồi giọng nói nhà văn bỗng trở nên xa vắng như chìm vào dĩ vãng :

– Anh thấy đó, quê tôi đẹp như vậy và luôn nằm trong tiềm thức tôi, nên văn tôi bắt nguồn từ những cảnh đẹp của quê hương và cũng bắt nguồn từ lòng nhớ nhung tha thiết của tôi đối với nó, rồi thể hiện ra tác phẩm, chớ không phải vì ái tình hoặc vì yêu đương tác động.

Chuyện tình yêu

– Nhưng từ lứa tuổi hai mươi cho đến khi thành gia thất, ít nhứt ông cũng vương vấn một mối tình nào chớ ?

Giọng nói của nhà văn Bình Nguyên Lộc vốn đã nhỏ, giờ lại nhẹ hơn, có đoạn tiếng nói thoang thoảng như không muôn lay động làn không khí yên lặng của gian phòng, làm cho tôi phải nhìn môi ông mấp máy để phỏng đoán những tiếng nói không sao nghe rõ. Tôi không dám hỏi lại vì sợ làm gián đoạn khúc phim dĩ vãng của ông đang quay. Ông vẫn nói đều đều :

– Xin anh đừng hỏi nơi tôi những mối tình yêu đương thiết tha say đắm, hoặc dang dở bi thương. Không có đâu anh ! Chỉ vì hồi đó tôi quá nhiều tự ái và nhiều mặc cảm, tôi thường rụt rè trước những cánh cửa tình yêu đã lỏng then cài, chỉ cần tôi mạnh dạn hơn, đẩy nhẹ một cái là cánh cửa mở toang cho tôi bước vào. Nhưng, như độc giả đã đọc thấy rải rác trong tác phẩm của tôi, tôi chỉ có những mối tình thoang thoảng nhẹ nhàng đủ ghi lại những kỷ niệm đep mà thôi. Để rồi tôi sẽ đưa cho anh mớ tài liệu về tâm tình của tôi đã ghi chép từ trước. Nhưng xin anh giữ kỹ, chờ khi nào tôi không còn nữa, bấy giờ anh tha hồ viết về tôi….

Kỷ niệm thuở thiếu thời

– Còn hiện nay, ông cũng kể cho tôi ghi vài câu chuyện vui buồn hồi còn học trường Petrus Ký, Sài Gòn chớ ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc ngả lưng vào ghế dựa, nhìn lên trần nhà lim dim mắt một lát rồi bật cười thành tiếng :

– À, hồi tôi học nội trú trường Petrus Ký có chuyện này cũng ngồ ngộ. Mà chỉ tức cười chớ không buồn mà cũng không hẳn là vui đâu nghen anh. Đó là năm tôi mười tám tuổi, bấy giờ tôi đang học năm thứ tư ban trung học. Bỗng nhiên trong mấy ngày liền, tim tôi đập mạnh làm cho ngực đau nhói. Tôi lo sợ, đến phòng khám của bác sĩ riêng trong nhà trường. Sau một hồi đặt ống nghe, bác sĩ bảo không thấy có triệu chứng gì. Tôi khẩn khoản kể lại tỉ mỉ trường hợp tim đập mạnh làm cho ngực tôi đau nhói. Ông vẫn lắc đầu bảo là không có bệnh, rồi đuổi ra. Tôi hoang mang quá đỗi, vì thực tế tim mình vẫn đập mạnh, lồng ngực vẫn nhói từng cơn , sao ông bác sĩ lại bảo là không có bệnh ? Hay là mình đã mang chứng bệnh nan y, ông ta không nỡ nói cho mình biết ? Tôi nghĩ như vậy, và nghĩ tiếp theo, là chắc mình sẽ phải chết !

– Rồi ông hành động ra sao sau khi nghĩ là mình sẽ chết ?

– Chủ nhật hôm sau, tôi đi một mình vào nghĩa trang trong khu vườn Bà Lớn, phía sau rạp hát Long Vân gần Ngã Bảy. Hồi ấy nơi đó còn là một bãi tha ma với cây cỏ um tùm. Tôi tìm một gốc cây, ngồi từ trưa cho tới chạng vạng, khổ sở với chứng bệnh nan y đang ám ảnh trong đầu, ý định của tôi là ngồi chớ nếu có chết thì chết luôn ở gốc cây này. Nhưng ….

– Nhưng sao thưa ông ?

– Nhưng cái chết không thấy đến, mà chỉ có những hình thù quái gỡ trong các lùm cây theo bóng hoàng hôn ngày càng bò đến gần mình. Bản tính tôi vốn nhút nhát và sợ ma, nhìn xung quanh thấy bóng tối ngày càng gần, tôi hoảng hồn vụt đứng dậy chạy một lèo từ bãi tha ma về đến cổng trường.

Rồi nhà văn Bình Nguyên Lộc phá lên cười :

– Có lẽ nhờ chạy toát mồ hôi cho nên từ đó về sau nhịp tim của tôi đập trở lại bình thường.

Rồi nhà văn Bình Nguyên Lộc ngưng cười ngó tôi :

– Anh thấy không ? Bác sĩ bấy giờ thiếu nghiên cứu khoa tâm lý, làm cho học sinh mệt và có thể gây tai hại cho các em đang tuổi dậy thì. Sau này tôi mới biết đó chỉ là trường hợp con bệnh của crise d’adolescence (cơn khủng hoảng tuổi thiếu niên) mà bác sĩ không cắt nghĩa nổi cho học sinh hiểu, suýt nữa đã làm hại tuổi trẻ.

– Có phải vì vậy cho nên Tô Dương Hiệp, người con trai lớn của ông đã học Y, về khoa Tâm lý và đã trở thành Phó giám đốc Dưỡng Trí Viện Biên Hòa hiện nay ?

Nhà văn Bình Nguyên Lộc phì cười, sau đó chợt nhớ ra :

– Ý, anh nhắc tới thằng con tôi, làm tôi nhớ tới câu chuyện hồi nhỏ nó làm cho tôi một phen kinh hoàng. Hồi đó tôi mới cảm thấy tất cả sức mạnh dầu có ràng buộc đến mức nào rốt cuộc cũng phải bất lực trước tinh thần của con người. Cho dù với đứa trẻ mới mười lăm tuổi, như thằng Hiệp con tôi lúc ấy.

– Xin ông cho nghe lại câu chuyện lý thú đó ?

– Sở dĩ tôi viết truyện ngắn Nhốt Gió là do câu chuyện này gợi ý. Hồi đó …. để coi (ông bấm đốt tay) đó là năm 1950, vợ chồng tôi còn ở trên Tân Uyên, gởi nó trọ học nhà bà con ở Sài Gòn. Nó lén tôi đi tham gia vụ trò Ơn, khi vỡ lở, sợ bị tôi rầy nó trốn luôn gần ba tháng sau tôi mới tìm được nó.

– Chắc cậu bé hăng say, trốn ra bưng theo kháng chiến ?

– Đâu có. Nó chỉ quanh quẩn mấy nhà bà con của chúng tôi bên miệt Bà Chiểu. Người ta giấu kỹ nó là vì sợ bọn mật thám tìm bắt, cho nên tôi tìm hết hơi mà cũng không sao thấy được ! Anh nghĩ coi, sự giáo huấn con cái của tôi rất nghiêm, đứa nào đi vắng vài tiếng đồng hồ là phải báo trước. Và không được vắng mặt trong những bửa cơm nhà. Cho nên sự bỏ đi của nó làm cho tôi ray rứt và ân hận suốt mấy tháng kiếm tìm. Sau khi tìm được nó về, tôi phải lo thu xếp, mua nhà Sài Gòn để xuống ở gần săn sóc chúng nó. Trong thời gian suy nghĩ chuyện thằng Hiệp bỏ nhà đi, tôi tìm ra một ý :

– Khó mà ràng buộc được tinh thần của con người dù là con mình. Từ ý đó, tôi xây dựng cốt truyện, viết thành truyện ngắn Nhốt Gió.

– Có phải vì kỷ niệm đó, ông thích truyện Nhốt Gió hơn các truyện khác ?

– Tôi không thích truyện nào hơn truyện nào, nhưng tôi thương là thương truyện ngắn Quán Tai Heo, trong tập truyện ngắn Quán Bên Đường

– Sao ông lại dùng từ “thương“ ?

Còn 1 kỳ nữa

Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (1/3)

NHÀ VĂN

BÌNH NGUYÊN LỘC

– Bài viết 3 kỳ

Nhà văn Bình Nguyên Lộc (sinh 7/3/1914 (?) – mất 7/3/1987), tên thật của ông là Tô Văn Tuấn, là một nhà văn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945-1975. Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có các bút danh Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh…

Tiểu sử

Trước 1949 : Bình Nguyên Lộc sinh tại làng Tân Uyên, tổng Chánh Mỹ Trung, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Ông xuất thân trong một gia đình trung lưu đã có mười đời sống tại Tân Uyên. Cha là ông Tô Phương Sâm (1878-1971) làm nghề buôn gỗ. Mẹ là bà Dương Thị Mão (hay Mẹo) (1876-1972).

Theo giấy khai sinh, Bình Nguyên Lộc sinh ngày 7/3/1915. Tuy nhiên, trên thực tế có thể ông sinh ít nhất một năm trước ngày ghi trong giấy khai sinh, nghĩa là năm 1914, nhưng không rõ có đúng là ngày 7/3 hay không. Nhà ông chỉ cách bờ sông Đồng Nai hơn một trăm mét và con sông in đậm dấu ấn trong một số tác phẩm của ông sau này như truyện ngắn Ðồng đội (trong Ký thác), hồi ký Sông vẫn đợi chờ (viết và đăng báo ở California, Mỹ)…

Từ năm 1919 đến 1920, ông theo học chữ nho với một ông đồ trong làng. Sau đó Bình Nguyên Lộc học trường tiểu học ở Tân Uyên vào những năm 1921-1927. Năm 1928 ông ở nhà luyện tiếng Pháp để thi vào trung học Pétrus Ký ở Sài Gòn. Từ 1929 đến 1933, ông học trung học ở trường Pétrus Ký và lấy bằng Thành chung (Diplôme d´Études Primaires Supérieures, tú tài phần thứ nhất) năm 1933. Tuy nhiên, có tài liệu nói ông đậu bằng Thành chung trong niên khóa 1933-1934 và thôi học do kinh tế khủng hoảng. Cũng có tài liệu nói ông không học xong trung học và nghỉ học năm 1935.

Năm 1934, Bình Nguyên Lộc về quê lập gia đình với cô Dương Thị Thiệt. Sau đó ông thi vào ngạch thư ký hành chính, nhưng vì kinh tế khủng hoảng, hơn một năm sau ông mới được tuyển dụng. Ban đầu, ông làm công chức tại kho bạc tỉnh Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương). Năm 1936, ông đổi về làm nhân viên kế toán ở kho bạc Sài Gòn (sau đổi tên thành Tổng nha Ngân khố Sài Gòn). Ông bắt đầu viết văn trong thời gian này.

Truyện ngắn đầu tay của ông có tên Phù sa, viết về công cuộc Nam tiến của người Việt vào miền đất mới Nam Kì, đăng trên tạp chí Thanh niên của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Ông kết bạn với những tác giả khác viết cho báo Thanh niên như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Hoàng Tư, Lâm Thao Huỳnh Văn Phương, Dương Tử Giang, Nguyễn Tấn Sĩ

Vào khoảng năm 1943, ông hoàn tất tác phẩm Hương gió Đồng Nai (khởi thảo từ năm 1935), tập truyện ngắn và tùy bút về hương đồng cỏ nội đất Đồng Nai. Tác phẩm được Xuân Diệu, Huy Cận và vài nhà văn khác tán thưởng, nhưng sau đó bị thất lạc trong chiến tranh.

Năm 1944, Bình Nguyên Lộc bị bệnh thần kinh nên xin nghỉ dài hạn không lương, và từ đó về sau không trở lại với nghề công chức nữa. Năm 1945, ông tản cư về quê, nhưng cuối năm 1946 ông hồi cư trở lại quận Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một. Trong thời gian này, Bình Nguyên Lộc có tham gia công tác kháng chiến tại miền Đông Nam Bộ và là thành viên của Hội Văn hoá cứu quốc tỉnh Biên Hòa. Vào những năm 1944-1947, do bệnh cũ tái phát gây khủng hoảng tinh thần nên Bình Nguyên Lộc không viết tác phẩm nào.

Từ năm 1949 : chuyển nhà xuống Sài Gòn

Năm 1949, ông xuống ở Sài Gòn và ở hẳn đó cho tới năm 1985. Năm 1950, ông viết cuốn Nhốt gió và xuất bản cùng năm. Từ năm 1952, Bình Nguyên Lộc làm thư ký tòa soạn cho vài tờ báo xuất bản tại Sài Gòn. Năm 1952, ông chủ trương tờ Vui sống, tuần báo văn nghệ có khuynh hướng y học với mong muốn áp dụng kiến thức y học phổ thông vào đời sống thực tế. Báo quy tụ nhiều cây bút sáng giá đương thời như Đông Hồ Lâm Tấn Phác, Thanh Nghị Hoàng Trọng Quị, Lê Trương Ngô Đình Hộ, Thiếu Sơn Lê Sĩ Quí, Sơn Nam

Năm 1956, ông cùng các văn hữu cho ra đời tờ Bến Nghé, tuần báo có tinh thần văn nghệ lành mạnh mang màu sắc địa phương với mục đích làm sống dậy sinh khí của đất Gia Định xưa. Ngoài ra, ông cùng các đồng nghiệp thành lập Nhà xuất bản Bến Nghé, chuyên xuất bản các tác phẩm văn chương mang hương sắc Đồng Nai, Bến Nghé.

Trong thời gian 1960-1970, ông vẫn làm báo và làm chủ bút nhiều nhật báo tại Sài Gòn. Bình Nguyên Lộc sáng tác rất đều tay trong giai đoạn này. Hàng năm đều có đôi ba tác phẩm của ông ra mắt công chúng. Trong thời gian này, ông đoạt giải nhất Văn chương toàn quốc 1959-1960 thể loại tiểu thuyết với cuốn Đò dọc. Cùng được giải nhất đồng hạng là nhà văn Vũ Khắc Khoan với cuốn Thần tháp rùa. Giai đoạn 1970-1975, ông làm hội viên Hội đồng văn hóa giáo dục Việt Nam.

Sau 1975, ông ngưng cầm bút vì bệnh nặng. Tháng 10/1985, ông được gia đình bảo lãnh sang Mỹ chữa bệnh. Ngày 7/3/1987, ông từ trần tại Rancho Cordova, Sacramento, California, vì bệnh cao huyết áp, thọ 74 tuổi. Ông được an táng ngày 14/3/1987 tại nghĩa trang Sunset Lawn. Vợ ông, bà Dương Thị Thiệt, qua đời ngày 9/10/1988 cùng nơi với ông.

Gia đình và đời tư

Vợ nhà văn Bình Nguyên Lộc là bà Dương Thị Thiệt (1911-1988). Họ có với nhau năm người con, bao gồm : Tô Dương Hiệp (1935-1973), Tô Hòa Dương (1937), Tô Loan Anh (1939), Tô Mỹ Hạnh (1940) và Tô Vĩnh Phúc (1947).

Bình Nguyên Lộc mắc bệnh thần kinh năm 1944, năm sau thì khỏi. Nhưng từ năm 1950 đến năm 1964, ông trở nên cực kỳ khó tính, thường xuyên gây căng thẳng trong gia đình. Không rõ đây có phải là một dạng thái bệnh tâm thần loại nhẹ biến chứng từ bệnh thần kinh năm 1944 không. Tuy nhiên, Bình Nguyên Lộc cứ đinh ninh bản thân ông không thể mắc bệnh tâm thần, chỉ có vợ, con, cháu và bạn bè ông mới có thể mắc bệnh này (thực ra, ông quả có hai người cháu và vài bạn làng văn mắc bệnh tâm thần). Do đó ông ưa hỏi thăm về bệnh tâm thần để cứu chữa cho… người thân và bạn bè.

Cũng vì quan tâm tới bệnh tâm thần mà ông nghĩ là của người khác, Bình Nguyên Lộc đã cùng người trưởng nam là bác sĩ Tô Dương Hiệp, giám đốc Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, soạn thảo một công trình biên khảo lấy tựa là Khinh tâm bệnh và sáng tác văn nghệ. Có thể một số bài trong tập biên khảo đã được đăng tải trên đặc san của Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa cùng với nhiều tranh vẽ và văn thơ của các văn nghệ sĩ mắc bệnh tâm thần điều trị tại bệnh viện nói trên (như Bùi Giáng, Nguyễn Ngu Ý). Tác phẩm Khinh tâm bệnh và sáng tác văn nghệ chưa xuất bản thì bác sĩ Tô Dương Hiệp từ trần và bản thảo bị thất lạc.

Khi còn ở Việt Nam, Bình Nguyên Lộc thường giao du thân mật với Nguyễn Ang Ca, An Khê, Hà Liên Tử.

Sự nghiệp : Tình cờ cầm bút

Trong tập hồi ký viết dở trước khi qua đời Nếu tôi nhớ kỹ, Bình Nguyên Lộc kể lại rằng ông bước vào nghề viết một cách rất tình cờ. Vào khoảng đầu những năm 1930, một bà phú thương Việt Nam tên Tô Thị Thân thay mặt người chồng Hoa kiều, tục danh là chú Xồi, đứng tên làm chủ 20 tiệm cầm đồ tại Sài Gòn. Vì bị báo chí Sài Gòn khi đó chỉ trích là gian thương, là phường cho vay cắt cổ… bà muốn ra một tờ báo để tự bênh vực, nên bà tìm người phụ trách tờ báo đó. Bà Thân giao việc này cho người thư ký kế toán của bà là ông Tô Văn Giỏi, vốn là anh họ của Bình Nguyên Lộc. Ông Giỏi nhờ Bình Nguyên Lộc tìm người làm báo. Chính do việc tìm kiếm người làm báo đó mà ông bắt đầu tới lui với các văn nghệ sĩ và khiến ông tập viết văn, viết báo.

Trong bài Hăm bảy năm làm báo cũng trích từ tập hồi ký Nếu tôi nhớ kỹ, Bình Nguyên Lộc cho biết ông viết văn, viết báo từ năm 1942 nhưng đến năm 1946 mới làm báo. Bản thảo bài Hăm bảy năm làm báo đã thất lạc, chỉ còn lại trang đầu, nhưng có thể đoán hiểu ý ông muốn nói đến năm 1946 ông mới bắt tay vào những công việc có tính cách kỹ thuật để cho một tờ báo hình thành được như chọn lựa, sắp xếp, trình bày bài vở…

Một cây bút không ngừng nghỉ

Từ năm 1942, ông cộng tác với báo Thanh niên của KTS Huỳnh Tấn Phát. Trong ban biên tập còn có Xuân Diệu, Huy Cận, Mặc Ðỗ… Thời kỳ này, Bình Nguyên Lộc đã đề nghị ban biên tập đăng bài thơ Mã Chiếm Sơn của một độc giả gửi. Ðộc giả đó là Tố Hữu. Ít lâu sau, ông Tố Hữu cũng vào ban biên tập báo Thanh niên. Sau 1954, Tố Hữu xuất bản tập thơ Từ ấy trong đó có cả bài Mã Chiếm Sơn. Từ năm 1949, Bình Nguyên Lộc định cư hẳn ở Sài Gòn, không làm công chức nữa và sinh sống bằng nghề viết báo, làm báo. Ông cộng tác với các báo Lẽ sống (với bút danh Phong Ngạn, Phóng Ngang, Phóng Dọc…), Ðời mới, Tin mới

Năm 1957,1958 ông cộng tác với các tạp chí Bách khoa, Văn hóa ngày nay (của Nhất Linh) và làm chủ nhiệm tuần báo Vui sống năm 1959. Năm 1960-1963 ông phụ trách trang văn nghệ của báo Tiếng chuông, rồi năm 1964-1965 làm chủ biên nhật báo Tin sớm.

Từ năm 1965-1975 ông chuyên viết dài kỳ cho các nhật báo. Ngay từ những năm 1951,1952, Bình Nguyên Lộc đã bắt đầu viết dài kỳ cho các báo, với nội dung phần lớn là các truyện thuộc loại chuyện phiêu lưu, dã sử… được ông ký dưới các bút hiệu khác như Phong Ngạn, Trình Nguyên… Ðến năm 1956, Bình Nguyên Lộc mới bắt đầu viết dài kỳ có cốt truyện tình cảm và dùng luôn bút danh Bình Nguyên Lộc. Những năm 1960-1975 là thời kỳ ông viết truyện dài kỳ nhiều nhất. Có giai đoạn thậm chí ông viết 11 truyện dài kỳ mỗi ngày.

Từ năm 1975-1985 ông không tham gia các sinh hoạt xã hội và văn nghệ với lý do bị bệnh kiệt sức và huyết áp cao. Sau khi sang Mỹ định cư từ tháng 10/1985, bệnh đỡ nhiều, ông tiếp tục viết lách trở lại và đăng báo nhiều bài thuộc các thể loại truyện ngắn, hồi ký, tiểu thuyết, tìm biết, về nguồn, ngôn ngữ học, dân tộc học… Một số tiểu thuyết của ông đang được viết và đăng báo dở dang thì ông qua đời. Những bản thảo chưa đăng báo còn được gia đình ông lưu giữ nhưng phần lớn đã thất lạc.

Di sản đồ sộ

Bình Nguyên Lộc là một nhà văn lớn của Việt Nam, ông thuộc vào ba nhà văn đã sáng tác nhiều nhất của cả nước (Nguyễn Ngu Ý, trong Sống và viết với… Bình Nguyên Lộc, gọi ông là một trong tam kiệt bên cạnh Hồ Biểu ChánhLê Văn Trương). Theo những dữ liệu đã thu thập được, Bình Nguyên Lộc có khoảng 50 tiểu thuyết, 1.000 truyện ngắn và bốn quyển sách nghiên cứu, trong đó quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam chỉ được in phần đầu, phần còn lại độ 800 trang viết tay coi như bị thất lạc.

Hành trình sáng tác và trước tác của Bình Nguyên Lộc có thể tạm chia thành bốn thể loại.

Cổ văn : Bình Nguyên Lộc chú giải các tác phẩm văn chương cổ điển Việt Nam bao gồm Văn tế chiêu hồn (Nguyễn Du), Tiếc thay duyên Tấn phận Tần (Nguyễn Du), Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ), Thu dạ lữ hoài ngâm (Đinh Nhật Thận). Các công trình này lần lượt được công bố trên các tạp chí văn học ở Sài Gòn.

Dân tộc học : Nổi bật là tác phẩm Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (1971). Đây là một công trình dài hơi trong sự nghiệp nghiên cứu của ông. Với tác phẩm này, tác giả đã góp phần vén lên tấm màn dày đã từ lâu phủ kín nguồn gốc mù mờ của dân tộc Việt Nam. Tác phẩm cũng gây nên một dư luận đáng chú ý đối với các nhà nghiên cứu về Việt Nam học.

Ngôn ngữ học : Tiêu biểu là tác phẩm Lột trần Việt ngữ (1972), là một cái nhìn mới về ngữ nghĩa tiếng Việt. Bình Nguyên Lộc đứng trên quan điểm dân tộc học để tìm hiểu nguồn gốc và ngữ nguyên của tiếng Việt từ thời cổ đến thời hiện đại.

Sáng tác : Đây là phần đồ sộ nhất trong hành trình sáng tác của Bình Nguyên Lộc. Ông từng viết tiểu thuyết bằng thơ trường thiên như Thơ Ba Mén, Việt sử trường ca, Luận thuyết y học, Thơ thổ ngơi Đồng Nai, Ca dao… Ông còn có công sưu tầm được hàng chục nghìn câu ca dao và có chú thích về từng đặc trưng của nó. Ngoài ra, ông viết hàng nghìn truyện ngắn và truyện dài kỳ với nhiều đề tài khác nhau.

Phong cách – Cảm hứng chủ đạo : hướng về cội nguồn

Sinh ra trong một gia đình đã có mười đời sống ở Tân Uyên, nhưng trong ý thức, Bình Nguyên Lộc luôn hướng về nguồn cội. Ông muốn tìm kiếm nguồn gốc tổ tiên từ đất Bắc di dân vào Nam. Trong các công trình nghiên cứu như Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (1971), Lột trần Việt ngữ (1971) cũng như những tập bút ký đầu tay như Hương gió Đồng Nai (viết từ 1935 đến 1942, một vài đoạn đã in báo năm 1943, bản thảo mất khi Pháp chiếm Tân Uyên năm 1945), Phù sa (viết năm 1942, in một phần sáu trên báo Thanh niên năm 1943 với tiêu đề Di dân lập ấp), ông đều tập trung lần tìm lại từ thuở mang gươm đi mở cõi / nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long (Huỳnh Văn Nghệ).

Một cách khái quát, cảm hứng chủ đạo làm nên thế giới văn chương của Bình Nguyên Lộc xuất phát từ những vấn đề cốt tử của truyền thống văn hóa Việt Nam : nguồn gốc, ngôn ngữ, di dân, cõi âm – bốn yếu tố đặc sánh tâm hồn Bình Nguyên Lộc. Ngay trong phạm vi một tác phẩm như tập truyện ngắn Ký thác (1960), những vấn đề trên cũng lần lượt hiện ra thông qua đề tài, tư tưởng, chủ đề và thế giới hình tượng của các truyện Ăn cơm chưa, Pì Pế Hán (nguồn gốc), Lầu ba phòng bảy, Đôi bạn mắc hoa vông (ngôn ngữ), Rừng mắm, Rung cây dừa (di dân), Ba con cáo, Ba ngôi sao giữa trời, Hồn ma cũ (cõi âm)…

Tiểu thuyết

Sáng tác trong thời kỳ có sự gắn bó mật thiết giữa văn chương và báo chí, tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc hầu hết là tiểu thuyết dài kỳ in báo. Lối viết của Bình Nguyên Lộc gần giống với tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn, từ kết cấu, tâm lý nhân vật đến giọng điệu trần thuật, miêu tả và nhân vật. Đò dọc (1959), Hoa hậu Bồ Đào (1963), Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương (1963)… là những tiểu thuyết tâm lý thành công của ông.

Với Đò dọc, ông đã được Giải thưởng văn chương toàn quốc (Việt Nam Cộng hòa) (1959-60) thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam in dấu một phong cách tiểu thuyết đặc sắc. Cuốn tiểu thuyết nói về cuộc sống di dân ngược xuôi như những chuyến đò dọc của gia đình ông bà Nam Thành cùng bốn cô con gái, từ Bạc Liêu thuộc miền Tây Nam Bộ lên Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn trôi dạt về miệt Thủ Đức thuộc miền Đông Nam Bộ. Đó là lộ trình của người thị dân, người dân kẻ chợ về vườn, sống lạc lõng, cô đơn ở vùng nửa quê nửa tỉnh. Điều người đọc nhận ra qua bút pháp phân tích tâm lý của tác giả là nỗi cô đơn của phận người, những đố kỵ, ghen tỵ trong cuộc sống gia đình, cuộc sống lạc lõng của người dân ngụ cư. Cuốn tiểu thuyết ra đời sau thời điểm có cuộc di cư của một bộ phận người dân từ Bắc vào Nam sau năm 1954, phải đối mặt với không ít những kỳ thị và khác biệt trong đời sống cộng đồng.

Truyện ngắn đặc sắc

Đặc sắc văn xuôi Bình Nguyên Lộc là ở truyện ngắn và tuỳ bút, cả những tác phẩm đã in thành sách và những tác phẩm chỉ mới in trên các báo. Con số có thể lên đến vài nghìn, nhưng trong đó chỉ có khoảng hơn năm mươi tác phẩm thật hay, nằm rải rác trong các tập như Nhốt gió (1950), Ký thác (1960), Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc (1966), Tình đất (1966), Thầm lặng (1967), Cuống rún chưa lìa (1969)…

Trong Nhốt gió, hình ảnh một thằng bé con có khát vọng “nhốt gió” lại, để gió đừng bay đi và cuối cùng đành phải thoả hiệp đùa chơi với gió là một hình tượng rất lạ, rất mới, hiện đại và đầy ẩn ý.

Ký thác, được nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh tái bản lần gần đây nhất năm 2001, gồm 16 truyện, tiêu biểu cho nghệ thuật truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc. Các truyện ngắn miêu tả lại cuộc chiến đấu với thiên nhiên, lấn biển để giành đất sống của những con người mới ở vùng đất mới (Rừng mắm); hay phân biệt con người với bản năng động vật, kể lại cuộc tranh giành sự sống giữa người và vật, trong vật vã đói khát giữa một bãi tha ma, cuối cùng con người cũng chiến thắng vế vật chất, nhưng lại trĩu nặng những di chứng tinh thần: “Hồ ly rùng mình một cái, không phải vì lạnh, cũng không phải vì sợ ma, mà vì chị bỗng sợ hãi chính mình, sợ hãi con người đã vơi cạn hết chất người”. (Ba con cáo).

Cuống rún chưa lìa là sự tiếp tục Ký thác, lần tái bản gần đây nhất tại California năm 1987, trước khi tác giả mất ít lâu, được gộp chung cả tập Tình đất vào thành 12 truyện và bài thơ Dâng má thương, thể hiện tấm lòng của ông hướng về thổ ngơi, về đất nước như cuống rún chưa lìa lòng mẹ. Cuống rún chưa lìa hướng về cõi âm, là lương tâm của người Việt hướng về hương hồn của những tộc người xa xưa đã phải “điêu tàn”. Những truyện hay trong tập như Bà Mọi hú, Câu dầm, Bám níu, Phân nửa con người, Mấy vụ quật mồ bí mật… từ không khí liêu trai, thoát thai từ đất, đá, nước, cây thành sự sống con người. Một bà Mọi xuất thân từ miền sơn cước, quyết giữ đất, chống lại những người di dân. Một ông già câu cá đã từng xuống cõi âm trở về, không dám câu cá ở sông nữa, mà chỉ câu trộm cá ở ruộng trong mưa dầm gió bấc. Qua trang văn, đất như cỗi rẽ để con người bám vào, còn nước nuôi người sinh sản, lớn khôn.

Với Những bước chân lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc, ông truy tìm nguồn gốc, dĩ vãng của Sài Gòn, một thành phố mới, còn ít tuổi, chưa kịp có dĩ vãng rêu phong. “Sài Gòn không có được một quá khứ lịch sử vang dội như Thăng Long, đài các như Huế, cho nên Bình Nguyên Lộc đã tạo cho Sài Gòn một đời sống trực tiếp, dân dã, dính liền với cõi âm, một cách nối dài lịch sử Sài Gòn với quá khứ bình dân của những người chết không tên tuổi” (T. Khuê, Tự điển văn học, bộ mới, Nhà xuất bản Thế Giới, 2005, trang 133), khi tình cờ lang thang trên đường phố, tác giả phát hiện ra Sài Gòn được “xây dựng trên một bãi tha ma minh mông”, cảm thấy được cái “thổ ngơi thơm phức hồn ma cũ”, thể hiện được cái tài phóng túng tài hoa, phong trần nghệ sĩ nơi Bình Nguyên Lộc.

Phong cách nghệ thuật : giao lưu Bắc-Nam

Khác với các tác giả sinh ra ở miền Bắc, nhưng toàn bộ hành trang cuộc đời và văn nghiệp đều gắn liền với phương Nam như Lê Văn Trương, Nguyễn Hiến Lê, nhưng đồng thời cũng khác với các nhà văn sinh ra ở Nam Bộ nhưng hoàn toàn viết theo lối Bắc như Đông Hồ và cũng không giữ nguyên đậm đặc chất liệu Nam Bộ như Hồ Biểu Chánh, văn chương Bình Nguyên Lộc thể hiện sự giao lưu văn hoá, đứng ở miền giao thoa văn hoá Bắc – Nam từ trong tâm thức, cách nhìn và nhất là giọng điệu văn chương.

Khi sử dụng một từ ngữ có tính chất đặc thù của phương ngữ miền Nam, ông thường tìm cách giải thích, truy nguyên nguồn gốc của nó ở ngoài Bắc thế nào, có khi còn phê bình là nơi nào dùng chính xác, hợp lý hơn, không chỉ trong văn phong khoa học, trong giọng điệu trần thuật hay miêu tả, mà còn thông qua ngôn ngữ nhân vật : “Con chàng hiu má à ! Người Bắc thì kêu nó là con chẫu chuộc nghe ít ghê hơn tên của ta. Tiếng chàng hiu gợi hình dáng một con người mà là người ma, ghê quá.” (Đò dọc).

Bình Nguyên Lộc được ca ngợi là nhà ảo thuật về ngôn từ, khi ông luôn có lối so sánh với những hình dung từ chính xác, đắc địa, hiện đại và tài hoa: “Là con trai tôi không khóc được. Nhưng lòng tôi đã tơi bời như áo mục phơi dưới gió to” (Ăn cơm chưa); hoặc “Vịnh Thái Lan, phần thuộc hải phận Việt Nam, chi chít những đảo là đảo, như có đứa trẻ tinh nghịch nào hốt đá cuội mà vứt rải trên một cái ao con” (Rung cây dừa). Sức nặng trang văn của ông không chỉ ở vốn tri thức về văn hóa, mà còn ở sự kết hợp hài hoà giữa giọng kể và giọng tả, vừa thể hiện sự bộc trực của miệt quê nơi ông sáng tác, vừa phóng túng, mượt mà của một ngôn ngữ chuẩn mực phổ thông.

Bút danh

Bình Nguyên Lộc lấy nhiều bút danh trong quá trình sáng tác. Dưới đây là một số bút danh chủ yếu.

Bình Nguyên Lộc : bút danh chính cho các truyện ngắn, truyện dài tình cảm.

Phong Ngạn : bút danh của tiểu thuyết dã sử Quang Trung du BắcTân Liêu Trai

Phóng Ngang, Phóng Dọc : biến thể của Phong Ngạn, bút danh của những bài trào phúng.

Trình Nguyên : bút danh cho một truyện dài kỳ đăng báo, tiểu thuyết dã sử liên quan đến cuộc chiến Việt Chiêm, chỉ xuất hiện trong một truyện.

Tôn Dzật Huân : bút danh của truyện trinh thám, là một loại đảo chữ biến thể từ tên thật Tô Văn Tuấn, chỉ dùng một lần.

Hồ Văn Huấn : bút danh của khảo cứu Sửa sai cổ sử, cũng là đảo chữ, biến thể từ tên Tô Văn Tuấn, xuất hiện từ khi ở hải ngoại.

Diên Quỳnh : bút danh của chỉ một truyện vừa và của một truyện ngắn.

Tư liệu từ Wikipedia

Còn 2 kỳ nữa

Nhà văn THẢO TRƯỜNG

NHÀ VĂN

THẢO TRƯỜNG

(1936-26/8/2010)

Nhà văn Thảo Trường tên thật là Trần Duy Hinh, sinh 1936 tại Nam Định, nổi tiếng tại miền Nam trước 1975, đã qua đời tại Quận Cam, California, Hoa Kỳ, ngày 26/8/2010 vì bệnh ung thư gan, thọ 74 tuổi. Ông nguyên là sĩ quan thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa tại miền Nam trước 1975, với cấp bực thiếu tá, cũng là một trong những người tù lâu năm nhất  : 17 năm qua 18 trại giam từ Nam ra Bắc.

Di cư vào Nam năm 1954, ông vào trường Sĩ quan Thủ Đức, phục vụ ngành pháo binh vùng giới tuyến và bắt đầu viết văn. Truyện ngắn đầu tiên Hương gió lướt đi đăng trên tạp chí Sáng Tạo, Sài Gòn, ký bút hiệu Thao Trường, đã gây ngay được tiếng vang trong giới độc giả trẻ thời đó, vì đề tài và giọng văn đơn giản và mới mẻ.

Chuyện bắt đầu tại Hà Nội, giữa một cậu học trò mười lăm tuổi, với cô hàng xóm tên Ngân, hơn cậu – người kể chuyện – khoảng năm, bảy tuổi. Ngân làm chủ một quán giải khát, phục vụ lính Pháp, quan tâm đến cậu bé hàng xóm như một người em, và bị các đồng nghiệp « nhà thổ » khác chế riễu : «xê-ri của chị Ngân đấy chúng mày ạ … Nhưng Ngân đã nghiêm chỉnh bảo họ : – các chị đừng đùa. Anh ấy là học sinh, không ưa thế đâu» 1.

Chuyện và văn không có gì lạ, nhưng thời đó,1958 – 1960, độc giả SVHS ham thích vì cách viết thật thà, đơn giản, phản ánh thời đại một cách bàng quan : không khí Hà Nội thời cuối chiến tranh Việt Pháp, cuộc di cư 1954; hai nhân vật gặp lại nhau tại Nha Trang khi «tôi» đã trưởng thành, quan hệ đi xa hơn, rồi Ngân theo chồng về Pháp, vẫn thư từ cho người bạn cũ.

Lối kể chuyện tự nhiên, chân thành đến mức nhiều người đọc ngờ là chuyện tình của tác giả. Sau này Thảo Trường kể lại là chuyện phần nào có thật, nhưng là chuyện của một bạn học cùng lớp, anh nghe được và viết lại 2.

Một truyện khác, cũng trên tạp chí Sáng Tạo, gây hứng thú là Đò dọc : hai người yêu nhau tại Hà Nội, nhưng vào buổi di cư 1954, họ chia tay; cô gái, tên Kim, tặng người yêu tấm khăn san màu đỏ của mình làm kỷ niệm. Họ gặp lại nhau tại Huế trong cảnh oái oăm : chàng đi dạy học, tìm thú chơi bời trên « đò dọc » và gặp lại nàng làm gái điếm. Họ đang mừng mừng tủi tủi trong cơn tái hợp, thì bị kiểm tục bắt quả tang. Chàng không lẩn tránh, bị đuổi việc nhưng chính thức cưới nàng, đúng “theo tập quán xã hội”.

Mẩu đối thoại, chi tiết nhỏ, đã gây ấn tượng cho chúng tôi thời đó :

«Lúc đó Kim hôn tôi như tôi đã hôn nàng. Hai chúng tôi ngả người ra chiếc gối. Ánh đèn dầu lờ mờ, Kim sờ chiếc khăn đỏ ở cổ tôi.

Khăn ngày xưa ?

Không phải. Khăn ngày xưa anh đã cho một người con gái khác. Khăn này anh mua hồi chiều» (Thử Lửa, tr. 54).

Trong truyện Xác Chết, thời ấy, ngay buổi tiếp xúc đầu tiên, người khách làng chơi đã đưa cô Lim, gái điếm, về làm vợ; và họ sống hạnh phúc cho đến ngày người vợ bị tên nhân ngãi cũ ám sát.

Ghi nhanh về tên các cô  gái làng chơi : người tên Ngân, người tên Kim, toàn tên vàng tên bạc. Lim là tên gỗ cứng. Toàn là chất rắn, bền, quý. Nhận xét nhỏ thôi, nhưng có thể là một trong vài ba chìa khóa mở vào thi pháp Thảo Trường.

Cô gái giang hồ từ Nguyễn Du đến Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng là một biểu tượng cho nạn nhân xã hội, không thay đổi bao nhiêu, nhưng từ thế hệ Thảo Trường trở về sau, biểu tượng hàm súc và phức tạp hơn nhiều, nhất là nói chung, truyện ngắn Thảo Trường phản ánh những giai đoạn lịch sử rõ nét.

Trong Thử Lửa, Thảo Trường trực tiếp đề cập đến chính trị, việc phân chia đất nước và kỳ vọng vào cuộc thống nhất trong hòa bình, đoàn kết  «công việc nối liền hai miền, xóa đi cái ranh giới trên đất đai và cái ranh giới trong tâm hồn chúng ta là công việc của chúng ta» (tr.26-27).

Là sĩ quan trẻ tuổi mới ra trường, hoạt động tại miền giới tuyến, Thảo Trường đã suy nghĩ và tin tưởng : «Ý nghĩ đầu tiên của tôi về con sông này : nó chỉ là biên giới của đất đai, nó không là biên giới của tư tưởng. Người bên kia hay bên này không qua lại nhau, nhưng những tư tưởng phát sinh từ tâm hồn người bên này hay bên kia thì cũng nẩy nở sang bên kia hay bên này. Những cái gì được nuôi dưỡng từ trong lòng người này thì cũng có được ở trong lòng người khác. (…) Tôi cố gắng phân biệt ra biên giới nhưng không được, vẫn chỉ là làng mạc, đồng ruộng và đường đi ; muôn đời muôn thuở vẫn là hình ảnh quê hương tôi. (…) Mười ba triệu người đằng sau tôi chắc cũng tin như vậy ? Tôi đứng gác ở tiền tuyến cho nửa dân tộc yêu nhau và tin tưởng con sông trước mặt tôi sẽ không là biên giới » (tr.88).

Điều đó, bây giờ đọc lại, 1975 hay 2010, ta cho là ngây thơ, ảo tưởng. Nhưng thời đó, 1960, cùng với Thảo Trường nhiều người ước mong như vậy. Trong lời giới thiệu Thử Lửa, Nguyễn Văn Trung đã viết,  : «Tôi coi Thao Trường như một trong những người đang đi vào truyền thống của những nhà văn mà sứ mệnh là nhắc nhở cho con người những giá trị làm người thường xuyên bị quên lãng hay bị chà đạp bởi chính con người» (tr.145). (Tập truyện Thử Lửa in 1962, ký tên Thao Trường. Sau đó tác giả mới thêm vào dấu hỏi, có lẽ để tránh sự trùng hợp tình cờ với bút danh của Nguyễn Huy Tưởng đã dùng trên báo Văn Nghệ, Việt Bắc, những năm 1948, 1949).

Quan điểm của Thảo Trường và cả Nguyễn Văn Trung vào một thời điểm nhất định, là thành tâm, thiện chí của một lớp người. (Khi một lý tưởng thất bại thì biến thành ảo tưởng. Nhưng cũng có khi chiến thắng hóa lý tưởng thành ảo tưởng : ngoài đề).

Khi Thảo Trường, vừa mới đổi tên, rời pháo binh vào ngành ANQĐ, đi khắp nơi, ông có dịp tìm hiểu chiến tranh sâu xa hơn, nhưng vẫn chung thủy với ước vọng của mình, là tìm kiếm hòa bình trong tình đoàn kết dân tộc. Ông hợp tác chặt chẽ với báo Hành Trình, quay ronéo, do Nguyễn Văn Trung và một nhóm trí thức công giáo tiến bộ chủ trương, chủ yếu đòi hỏi chấm dứt chiến tranh. Truyện ngắn Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp, nổi tiếng, viết 1964, đăng trên Hành Trình số 1, nhà xuất bản Trình Bày cùng nhóm ấn hành 1966, đã được dịch ra tiếng Pháp đăng trên tuần báo công giáo Témoignage Chrétien phổ biến trên khắp thế giới, thời đó, về sau in trong truyển tập chứng từ chiến tranh 3.

Chuyện kể : người đàn bà mang thai là cán bộ nằm vùng, gài lựu đạn dưới một tấm ván gỗ ghi khẩu hiệu «đả đảo đế quốc Mỹ» để gài bẫy. Toán lính biết được, buộc đương sự phải triệt hạ tấm ván. Lựu đạn rớt xuống, may không nổ. Người đàn bà động thai đẻ non. Viên sĩ quan chỉ huy toán lính phải đỡ đẻ rồi khai sinh cho đứa bé, «cho nó mang họ của ông ta». Và để lại mẩu Nhắn tin ngắn cho cậu bé mai kia, khi lên 20 tuổi : «trước khi hành động… xin cậu hãy nghĩ đến người đàn bà mang thai khốn khổ, hãy nghĩ đến những người mẹ bị rất nhiều chủ nghĩa với những danh tự hoa mỹ hành hạ» 4.

Chuyện viết tại Sài Gòn, ngày 27.11.1964, trong ngụ ý khôi phục tình người qua tình đồng bào, vượt qua chiến tranh, bom đạn. Thế mà rồi Thảo Trường đã phải đi tù non 17 năm. Sang Mỹ 1993, trong truyện ngắn Khẩu hiệu anh viết tiếp câu chuyện, tại Huntington Beach, ngày 25/5/1993, kể chuyện trong một trại tù Việt Bắc, kèm lời Nhắn tin : «nhắn cậu thanh niên ra đời, sẩy thai, thiếu tháng, mang họ nhờ… Người đỡ đẻ và khai sinh cho cậu đã chết trong tù. Khi chiến tranh chấm dứt, cũng không thấy có một người đàn ông nào gọi là cha ruột cậu trở về. Còn mẹ của cậu nghe nói đã có một đời chồng khác» 5.

Đồng thời với Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp, Thảo Trường còn có truyện Viên đạn bắn vào nhà Thục, nguyên tên là Nhãn hiệu Mỹ vì có câu «đạn này nhãn hiệu M » bị kiểm duyệt Sài Gòn thời đó đục bỏ. Sau này khi tái bản tại Mỹ, trong tập truyện Tầm Xa Cũ Bắn hiệu quả (NXB Quan San, 1999, California) câu văn lẫn tên truyện cũ được khôi phục lại. Vì nhiều lý do như thế, giới bình luận thường đặt anh vào hàng tác phẩm phản chiến, điều mà sau này ông đã từ khước, trong một cuộc phỏng vấn ngày 4/8/2008 : «Trước hết, tôi là người tham chiến. Nếu có ai bảo tôi là phản chiến thì không đúng, vì tôi ở trong cuộc chiến đó. Những năm đầu sĩ quan của tôi, tôi đi theo những đơn vị tác chiến, từ vĩ tuyến 17 cho đến đồng bằng sông Cửu Long, và làm một số công việc, chẳng hạn đi tiền sát cho pháo binh trong những trận đánh. Những năm về sau tôi được điều động về cơ quan tham mưu, từ đây tôi có cơ hội tìm hiểu nhiều hơn những diễn tiến của cuộc chiến Việt Nam. Tất cả những cái đó dù muốn dù không cũng « ám » vào tác phẩm của tôi».

Từ ngữ « phản chiến » không còn là một nhãn hiệu ăn khách; không còn mấy ai nhận chịu danh hiệu này. (Có kẻ không muốn chen chân vào hào quang của người chiến thắng, thì nấp vào bóng mát của cây lọng người quân tử sa cơ : ngoài đề)

Nhìn vào những tác phẩm cuối cùng của Thảo Trường trước 1975, vượt qua chữ «phản chiến», ta có thể dùng từ «chủ hòa» để gọi tắt quan điểm của ông, như trong truyện dài in năm 1971 : «Và theo tôi, trong cuộc chiến hiện nay, dù tấn công hay phòng thủ, hình thức này hay hình thức khác, bên này phải nêu rõ lên cái chủ đích đánh lấy hòa của mình.

Và hai bên phải cố duy trì tính cách dân tộc trong phe mình, tránh khỏi sự chi phối của ngoại bang, phát triển cái xã hội trong phần kiểm soát của mình để tiến tới thống nhất đất nước» 6

Trong truyện, Hoán, một sĩ quan miền Nam, đã nói với đồng minh Mỹ «các anh đang giúp chúng tôi. Nhưng chính vì sự có mặt của các anh, ở bên chúng tôi, hay nói một cách khác, chúng tôi đi chung với các anh, tình thế này có vô số vấn đề sẽ bị đặt ra» (tr.101-102). Cuối cùng Hoán đã ngăn chặn người Mỹ từ máy bay bắn xối xả xuống đám đông dân chúng.

Và kết luận : «Rắc rối lắm, khó lắm, kẹt lắm» (tr.116).

Viết như vậy, trong tình hình miền Nam 1971, mà Thảo Trường vẫn phải đi học tập mút mùa, là điều ít người hiểu !!!

oOo

Tổng cộng lại, tại miền Nam trước 1975, Thảo Trường đã xuất bản 14 đầu sách, gồm có truyện ngắn, truyện dài, một tập tùy bút; thêm tiểu thuyết Bà Phi, ăn khách, đăng báo Tiền Tuyến hằng ngày, khoảng 2000 trang.

Tập truyện đầu tay Thử Lửa, 1962, có tầm quan trọng đặc biệt : vừa là một thành tựu nghệ thuật, vừa đánh dấu một giai đoạn tạm gọi là «tiền chiến tranh» qua tâm lý một lớp thanh niên thành thị : lý tưởng, tin vào tình tự dân tộc không phân chia Nam Bắc thành chiến tuyến.

Sau đó chiến tranh lan rộng, mỗi ngày một tàn bạo. Tác phẩm Thảo Trường phản ánh mức khốc liệt và nét phi lý – tạo ra chất bi thảm của chiến tranh và đồng thời bày tỏ khát vọng hòa bình và xóa bỏ thù hận. Tình tự dân tộc và phẩm chất nhân đạo được nâng cao nhờ nghệ thuật văn học. Truyện ngắn Thảo Trường thường đạt đến chất lượng nghệ thuật cao, chủ yếu là cách dựng chuyện hấp dẫn – mà sau này, hai mươi năm sau, ra ngoài nước, tác giả vẫn còn giữ nguyên tính cách.

oOo

Ra tù 1992, sang Mỹ đoàn tụ với gia đình 1993, Thảo Trường tiếp tục viết, in được 8 cuốn. Mới nhất là tuyển tập Những miếng vụn của tiểu thuyết, 2008. Truyện về sau thường kể lại đời sống cơ cực, phi lý trong các trại giam : «tất cả đau khổ tàn nhẫn, xót xa mà anh em trong tù phải chịu, những cảnh trớ trêu mình gặp, hay sự dốt nát tội nghiệp của cai tù… đều đòi hỏi mình để tâm phân tích» (Thảo Trường trả lời phỏng vấn, 4/8/2008). Đồng thời ông cũng mô tả nhiều cảnh oái oăm của xã hội Việt Nam sau 1975, hay cảnh sống của người Việt định cư tại Hoa Kỳ.

Bút pháp linh hoạt : tả cảnh tù tội thì gay cấn, bi đát ; cảnh xã hội Việt Nam mới ly kỳ, cay đắng ; cảnh sống nước ngoài dí dỏm, hoạt kê. Thảo Trường hậu chiến tranh, hậu lao cải, là nhà văn đều tay và điệu nghệ. Nhưng nhìn chung, những truyện ngắn về các trại giam, tích lũy lâu ngày, vẫn là trước tác hàm súc nhất ; chưa kể chúng làm chứng từ chân chính cho một thời đại.

Một truyện tiêu biểu : Những đứa trẻ đầu thai giữa hàng rào. Mẹ bị án chung thân vì tội tòng phạm giết chồng cán bộ ; cha bị 2 án chung thân vì 2 lần giết người. Hai tù nhân bị biệt giam ở hai trại tù nam nữ riêng biệt, cách nhau bởi hàng rào kẽm gai.

«Anh gặp chị ngoài sân trại mấy lần. Nhìn, cười. Cười lại. Nhìn lại. Thế là thân nhau… Bèn nghĩ ra kế truyền tin cho nhau bằng cách dùng cây, chỉ lên những chữ thích hợp trong các chữ ở những khẩu hiệu trên tường nhà giam (…) Thế rồi chị tính toán theo ý chị… chị sẽ mặc một cái quần mỏng hở chỉ dưới đáy…» 7.

Tác giả kể tình tiết hấp dẫn. Và mô tả đời sống trong trại, trong đó có sáu đứa trẻ, con của nữ tù nhân, dĩ nhiên không biết bố là ai. Truyện kết bằng hình ảnh người tù già đóng vai ông ngoại, bào ảnh Thảo Trường : «Bác ở tù đến năm thứ mười bảy và vì là tù binh không có án cho nên bác cũng không biết đến bao giờ mới hết. Bác không thuộc một chế độ nào nữa cả, bác thuộc về lịch sử» (tr.61, sđ d). Vì không được xét xử, không có án, nhưng đã là tù binh, thì phải được hưởng quy chế tù binh theo luật quốc tế, và phải đựợc trao trả. Nhưng trao cho ai, trả về đâu ? Nên Bác thuộc về lịch sử.

oOo

Tác phẩm mới, hư cấu, nhưng phản ánh tâm tình và phong cách Thảo Trường, có lẽ là Đá Mục, một truyện vừa – hơn 100 trang – viết 1997. Truyện trộn lẫn trật từ thời gian, xen thực tại đời sống tại Hoa Kỳ, với nhiều kỷ niệm. Bắt đầu từ thời sĩ quan mới ra trường, trấn đóng tại một tiền đồn miền Thượng hẻo lánh, đời sống êm đềm, hồn nhiên như những cô gái Thượng ngực trần bên suối; đến những ngày trong trại học tập : những oái oăm, gian khổ xen lẫn với các cuộc gặp lại đồng đội, tình nghĩa; cuối cùng là đời sống ở nước ngoài, thư thái, tiện nghi nhưng vẫn chua cay : « ông lão thấy rõ ràng cuộc đổi đời của mình thật phi lý : tự nhiên tình thế xoay chiều… Mình đang là người Kinh ở quê nhà nay hóa ra người Thượng ở quê người. Mà trong cái giới người Thượng này mình còn là người Thượng mới, không giống người Thượng cũ… Hóa cho nên, hỡi người con gái bên bờ suối tiền đồn biên giới năm nào, bây giờ cô đã già, cô ra sao, cô ở đâu ?» 8.

Ôi thương là thương sao những cô con gái miền Thượng xa xôi…

Giọng văn trong Đá Mục linh hoạt, dí dỏm pha chút ưu hoài, nhắc đến lối hành văn phóng khoáng, lãng mạn, cái thuở ban đầu Thử Lửa.

Khi ta nói chuyện một con sông, thì chủ yếu là nói đến một khúc sông, như khúc sông Hương chảy qua thành phố Huế. Nói về một tác giả cũng vậy, ta thường ưu đãi ấn tượng về một tác phẩm nào đó. Trước một sự nghiệp văn học đã trải qua nhiều ghềnh nhiều thác như của Thảo Trường, đánh giá toàn bộ là một việc khó.

Tôi đã đọc Hương gió lướt đi, Đò dọc, trên báo, vào tuổi học trò. Nay cố khôi phục lại cảm nhận của mình, và những trao đổi với bạn bè đồng lứa thời trước 1960. Rồi đọc Người đàn bà mang thai trên Kinh Đồng Tháp vào một giai đoạn khác, nặng ưu tư về chiến tranh và hòa bình. Cuối cùng là Tiếng thì thầm trong bụi tre gai, đọc trong nỗi u hoài về thời cuộc,về những phi lý trong đời và số phận làm người.

Nhưng không lần nào tôi cố tình đặt ra mục tiêu phê bình văn học. Nhưng có lúc cũng đã làm bất đắc dĩ, nghĩa là đánh giá , và «làm trung gian giữa tác giả và người đọc sau tôi», y hệt như lời anh Nguyễn Văn Trung e ngại, đã viết đúng nửa thế kỷ trước, 1960, khi viết lời giới thiệu tập truyện Thử Lửa. Bài này, cũng như tác phẩm Thảo Trường, là những viên sỏi đánh dấu những chặng đường «qua một chiếc cầu, lên một cái dốc» qua nhiều thời điểm. Và theo lời dặn dò, đâu đó, của người mới ra đi :

Phải luôn luôn nhớ rằng hãy quên đi tất cả.

Nguyễn Văn Danh post (theo Đặng Tiến – Orléans, 10/10/2010)

Chú thích :

1 Thao Trường, Thử Lửa, nxb Tự Do, tr. 31, 1962, Sài Gòn. Việt Báo tái bản 2001, California. Truyện in lại trong Tuyển Truyện Sáng Tạo, tr. 113, nxb Tân Văn, 1970. Thư Ấn Quán in lại, 2009, New Jersey, Hoa Kỳ.

2 Thảo Trường, Đá Mục, tr. 125, nxb Đồng Tháp, 1998, California.

3 Le Crépuscule de la Violence (Hoàng hôn của bạo lực) 90 trang, nxb Trình Bày, 1970, Sài Gòn.

4 Thảo Trường, Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai, tr. 13 và 27, nxb Tin, 1995, Paris.

5 Sđd, tr.27

6 Thảo Trường, Cánh đồng đã mất, tr. 17, nxb Tân Văn, 1971, Sài Gòn.

7 Thảo Trường, Tiếng thì thầm trong bụi tre gai, sđd, tr. 53-54

8 Thảo Trường, Đá Mục, tr. 111, nxb Đồng Tháp, 1998, California.

NHỚ VÀ QUÊN !

Chia tay với Thảo Trường, tôi nhớ lại một bài viết của ông về Mai Thảo, có tựa đề Rong Chơi Suốt Một Đời mở đầu bằng câu : Cuối cùng thì ông cũng đã ra đi. Cuối cùng thì cái ngày ấy cũng đã tới, in cuối tập truyện Đá Mục* của ông. Bài viết ngắn chưa tới một nghìn chữ, nhưng ông lặp đi lặp lại 5 lần hai câu đó.  Bây giờ tôi lấy lại gửi cho ông:

Ông Thảo Trường, Cuối cùng thì ông cũng đã ra đi. Cuối cùng thì cái ngày ấy cũng đã tới. Ngày ấy đã đến với ông lúc 3 giờ chiều Chủ nhật 26 tháng Tám, 2010. Ngày ấy cũng sẽ đến với tôi không xa. Chúng ta mỗi người ai cũng sẽ có “cái ngày ấy”.

Nhưng tôi sẽ không nói đến chuyện “cái ngày ấy” ở đây. Nó “tiêu cực” quá. Còn nhớ, cách đây mấy tuần, tôi gọi điện thoại thăm ông, giọng ông vẫn rổn rảng, khoẻ. Và tôi nhớ ông đã nói với tôi “bệnh viện nó chê tôi rồi, nó nói tôi chỉ còn 6 tháng nữa thôi, thế mà tôi đã qua tháng thứ tám rồi đấy!”

Tôi hỏi ông có viết gì không, ông nói, “có, nhưng khi nghe bác sĩ phán như thế tôi bỏ hết rồi!” Tôi nói ông cho tôi một bài gì đi, cho blog của tôi trên VOA, ông nói “để coi, nhưng không chắc đâu”. Ấy thế mà “cái ngày ấy” đã đến với ông, tôi không ngờ. Chắc ông cũng không ngờ!

Nhớ đến ông, hôm nay, tôi sẽ không nhắc tới “cái ngày ấy” nữa. Chuyện cũ!

Tôi muốn nhắc lại một câu viết khác của ông, câu mở đầu trong truyện Đá Mục. Ông viết : “Phải luôn luôn nhớ rằng hãy quên đi tất cả.” Tôi thích câu này.

Nhớquên là hai phản đề, vậy mà ông ghép lại như thế mới hay.

Đêm qua, trong một email trò chuyện với người bạn trẻ ở Pháp, đang trao đổi qua lại, nhắc đến chuyện ông vừa ra đi, bỗng anh bạn hỏi tôi về kinh nghiệm làm báo. Câu hỏi bất ngờ làm tôi bối rối. Nhưng sau cùng tôi viết trả lời đại khái là mỗi nơi, mỗi chỗ, mỗi thời tôi học được một vài kinh nghiệm khác nhau. Chỗ nào tôi cũng được học và học được. Chỗ nào tôi cũng gặp những ông thầy. Có nhiều người lớn tuổi hơn dạy tôi kinh nghiệm nghề nghiệp của người từng trải, có những người cùng tuổi dạy tôi kinh nghiệm của những điều tôi chưa được học, và những người trẻ hơn dạy tôi lòng tin người. Có những điều tôi tưởng là tôi biết, nhưng thực ra tôi không biết gì cả. Có những điều tôi nghĩ rằng lẽ ra phải làm như thế này, nhưng thực sự phải là làm như thế kia. Những bài học ấy dạy tôi phải nói ít đi, nghe nhiều hơn. Im lặng càng tốt. Nên lắng nghe và học hơn là nói. Nhất là không nên nói nhiều. Đừng tưởng cứ nói nhiều thì người ta nghe mình. Trong những lời giải thích có chứa nhiều biện hộ. Đôi khi là ngụy biện. Điều quan trọng là tôi luôn luôn nhớ những người tôi đã gặp và tôi đã coi là bạn. Chẳng hạn:

Cái sức mạnh bền bĩ chịu đựng của Thảo Trường tôi thiếu. Cái tính hào phóng của Mai Thảo còn lâu tôi mới có. Cái sâu sắc như Võ Phiến tôi có cố gắng lắm cũng chỉ là người thợ thủ công đứng bên bậc thầy chữ nghĩa.Tài hoa của Nguyên Sa bao giờ tôi mới nắm được. Kiên trì với chữ nghĩa, lòng kiên nhẫn tôi vốn không bằng Nguyễn Mộng Giác. Chữ nghĩa đanh thép, lý luận sắc bén như Nguyễn Hưng Quốc không phải thời nào cũng có. Văn chương tuyệt vời như Tướng Về Hưu của Nguyễn Huy Thiệp đến thế thì thôi.….

Ở báo Văn những ngày Sài Gòn và ở báo Thế Kỷ 21 cũng như Văn tại Hoa Kỳ, tôi học được kinh nghiệm của người làm tạp chí. Ở báo Người Việt tôi học được cách làm tờ nhật báo của người Việt tại Mỹ, và ở tờ Việt Mercury tôi học được cách làm tuần báo Việt do người Mỹ làm chủ. Tôi nói mỗi nơi, mỗi thời, mỗi lúc vì bài học mà tôi được học không giống nhau. Nếu có một chỗ giống ngoài kinh nghiệm thì đó là trí nhớ của con người.

Trí nhớ con người vốn “khiêm tốn,” nhưng trí nhớ của những người tưởng là bạn còn khiêm tốn hơn nhiều. Dù kinh nghiệm nào đi nữa, tôi vẫn cứ giữ nguyên cho mình một phương thức: Hãy luôn luôn tìm thấy cái tốt của người bạn, cả những người tưởng là bạn, ….

Cái đó lành mạnh hơn. Cho tôi. Cho mỗi chúng ta.

Dù  sao, giờ đây khi viết những dòng chữ này, tôi nhớ tới Thảo Trường. Ông nói đúng : Phải luôn luôn nhớ rằng hãy quên đi tất cả.

Nguyễn Văn Danh post (Theo Nguyễn Xuân Hoàng)

NHỚ PHỞ XƯA Ở SÀI GÒN

PHỞ SÀI GÒN XƯA VÀ NAY

– Phan-Nghị

Cũng như thịt chó, phở là một đặc sản của miền Bắc. Người ta cho rằng nó chỉ mới xuất hiện ở Saigon vào những năm 1951-1952, cùng một thời gian với hai nhà hát ả đào, một ở xóm Monceau và một ở xóm Đại Đồng.

Cả hai thứ ấy đều rất xa lạ với người Saigon thuở đó. Kiếm được một quan viên biết cầm trống chầu không phải chuyện dễ. Cho nên họ chỉ cầm cự được một hai năm rồi dẹp tiệm, mặc dù họ đã biến nó thành một hình thức như ”kem sờ” ở Bờ Hồ (Hà nội) vào những năm 30 hoặc như ”bia ôm” của Saigon hôm nay. Và phở cũng chịu chung một số phận với nó. Người ta chỉ thích hủ tíu, hoành thánh, bánh xếp nước… Chỉ có độc một tiệm phở được gọi là ”Phở Tuyệc”, nằm trên đường Turc (nay thuộc khu vực Đồng Khởi) là kiên trì bám trụ.

Phải đợi tới sau năm 1954, phở mới thực sự thực hiện một bước nhảy vọt từ Bắc vào Nam. Phở khởi đầu sự bành trướng của nó vào giữa thập niên 50 tới giữa thập niên 60. Có cả một dãy phố phở nằm trên hai con đường Pasteur và Hiền Vương.

THƠ PHỞ…

Những nhà hàng phở ngon của Saigon thuở ấy nhiều vô số. Nhưng được người ta chiếu cố nhất chỉ có bốn hoặc năm tiệm, trong đó có phở Trần Minh ở hẻm Casino. Trong cái ngõ cụt ấy, ê hề các hàng quà : phở, bún ốc, bún ốc sườn… Từ đầu ngõ, người ta đã chạm trán với khách ẩm thực, kẻ ra người vô tấp nập. Phở Minh ngon thiệt là ngon. Nó không giống như kẹo kéo “ăn một lại muốn ăn hai, ăn ba ăn bốn lại nài ăn năm”. Người ta chỉ có thể ăn một bát để cho nó thòm thèm rồi mai lại ăn nữa ! Có một người nghiện phở của ông ta, và nghiện luôn cả truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Đó là ông X, chủ một tiệm giày ở đường Lê Thánh Tôn. Ông vừa ăn phở vừa theo dõi cuộc tình của Triệu Minh – Vô Kỵ, hoặc của Doanh Doanh – Lệnh Hồ Xung trên mặt báo. Và tình bằng hữu giữa ông chủ tiệm giày với ông chủ tiệm phở đã thắm thiết hơn lên nhờ một bài thơ phở của ông chủ tiệm giày. Gọi là thơ phở vì đọc lên nghe thấy… toàn mùi phở. Tuy nhiên nó được làm theo thể Đường thi, và chữ nghĩa đối nhau chan chát. Rất tiếc, người viết chỉ còn nhớ được có bốn câu :

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành

Trần Minh phở Bắc đã lừng danh

Chủ đề : tái, chín, gầu, gân, sách

Gia vị : hành, tiêu, ớt, mắm, chanh…

Sau đó, ”mông xừ” Trần Minh đã nhờ một người nhái những nét chữ rồng bay phượng múa của Vũ Hoàng Chương để viết bài thơ ấy và treo ở trong tiệm.

… VÀ CÂU ĐỐI PHỞ

Saigon thuở ấy chỉ có một tiệm duy nhất ở đường Võ Tánh, gần Ngã Sáu, có món tái sách tương gừng và phở tái sách : tiệm Y. Thịt tái mềm, sách ròn nhai gau gáu, chấm với tương Cự Đà thì tuyệt cú mèo. Người ta bèn đổ xô tới để thưởng thức một món ăn lạ miệng. Và tiệm Y phất lên như diều. Từ ngôi nhà lụp xụp, ông đã sửa sang lại cho khang trang và mua thêm một nhà khác để ở cho thoải mái. Phú quí sinh… máu văn nghệ, ông bắt đầu giao du thân mật với cánh nhà văn, nhà báo.

Sau cuộc đảo chính của Dương Văn Minh, trong làng báo có hiện tượng “trăm hoa đua nở”, hễ có tiền là có quyền làm chủ một tờ báo. Thế là ông chủ tiệm phở Y bèn ra báo. Từ tái, chín, nạm, gầu, sụn, nhảy sang địa hạt chữ nghĩa, ông hoàn toàn bỡ ngỡ. Cho nên báo của ông chỉ có thể đến với độc giả bằng con đường ve chai. Dĩ nhiên nó phải chết. Và ít lâu sau ông cũng chết theo nó. Người vợ góa trẻ đẹp kế tục ”sự nghiệp” của ông chồng quá cố. Tiệm Y phát đạt trở lại. Những người bạn văn nghệ của ông Y vẫn lui tới ăn phở như xưa, nhưng mục đích chính của họ là… ngấp nghé ngôi vị chủ tiệm. Sau mấy năm trời theo đuổi mà chẳng đi tới đâu, một người trong bọn họ, tức cảnh sinh tình, bèn mượn danh nghĩa bà quả phụ để ra một vế câu đối như có ý thách thức thiên hạ rằng : “Nếu ai đối được thì em xin nguyện lấy làm chồng”

“Nạc, mỡ nữa làm chi, em nghĩ chín rồi không tái giá ”

Câu đối sặc sụa mùi phở, nhưng hắc búa nhất là cụm từ ”tái giá”, nó vừa có nghĩa là ”đi bước nữa” lại vừa có nghĩa là ”phở tái giá”. Cũng như ”da trắng vỗ bì bạch” của bà Điểm đố Trạng Quỳnh vậy. Hơn ba mươi năm trôi qua, câu đối ấy hiện nay vẫn chỉ có một vế.

PHỞ GÀ TRỐNG THIẾN

Ngay cả Hà Nội – quê hương của phở – từ trước đến nay cũng chưa bao giờ có phở gà trống thiến, cho dù ở phố Huyền Trân Công Chúa, vào đầu những năm 50, đã có một hàng phở gà ngon nổi tiếng khắp Hà thành, đến nổi cụ Nguyễn Tuân khi theo đoàn quân về tiếp quản Thủ đô, ăn xong đã phải khen rằng ”tuyệt phở !”. Người bán phở tên là Chí. Ông ta mới hồi cư, không có đủ tiền để mướn mặt bằng, phải làm phở gánh. Con đường mang tên vị công chúa nhà Trần bé bằng cái lỗ mũi, với cái vỉa hè rộng hơn một mét, khách ăn kẻ đứng, người ngồi, húp xì xụp.

Phở gà trống thiến xuất hiện ở Saigon vào những năm 60, ở phía chợ Vườn Chuối – tuy chưa được liệt vào loại tuyệt phở, nhưng cũng được khách ẩm thực đặc biệt chiếu cố. Phở ngon là một lẽ : thịt gà trống thiến thơm và mềm như gà mái tơ, nước phở trong hợp với khẩu vị của những người kén ăn, nhưng cũng còn một lẽ khác : người ta vừa ăn, vừa ngắm cái vẻ thướt tha yêu kiều của con gái ông chủ tiệm, thỉnh thoảng đi ra đi vô, mỉm cười với người này, gật đầu chào người kia, giơ tay ‘bông rua’ người nọ, tự nhiên như một cô đầm non.

Đó là nữ ca sĩ Y.V, một giọng ca lả lướt của các phòng trà. Ban ngày, nàng giao thiệp với phao câu, đầu cánh, thịt đùi; ban đêm, chìm đắm trong ánh đèn màu. Thế rồi, không kèn không trống, nàng tuyệt tích giang hồ. Người ta bảo rằng nàng đi Tây. Đi Tây thật chứ không phải Tây Ninh. Tiệm phở vắng khách dần và ít lâu sau thì phải dẹp.

PHỞ KHÔNG RAU KHÔNG GIÁ

Tiệm này nằm trên đường Công Lý- cách ngã tư Công Lý – Yên Đỗ (nay là ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Lý Chính Thắng) khoảng 100m – trong một cái hẻm rộng. Người ta gọi là phở Bà Dậu. Nó có những đặc điểm không giống bất cứ một tiệm phở nào : không rau, không giá và rất sạch, và nhất là không có cái mùi phở kinh niên. Thịt thái mỏng và bánh phở to bản thích hợp với cái gu của người Hà Nội. Vì ở sâu trong hẻm, nên thoạt đầu khách tới ăn uống rất lơ thơ tơ liễu buông mành, chỉ có dăm bảy mống. Sau đó, nhờ sự cổ động của người Hà Nội, người ta mới bắt đầu chiếu cố tới hương vị không rau không giá đó.

Trải qua hơn 30 năm, Phở Bà Dậu sau vẫn tồn tại và có phần phát đạt hơn xưa. Có thêm một món mới : tái bắp, thịt mềm và nhai sần sật như sụn. Giá cả cũng tăng, từ 10đ/ bát trong những năm 60 đến 10.000đ/ bát, năm 1996. Nhưng khách ăn vẫn nườm nượp.

TỪ PHỐ PHỞ ĐẾN… BẮC HUỲNH

Hà Nội, quê hương của phở, và thời bao cấp đã sản sinh biết bao thứ phở : phở vịt, phở ngan, phở lợn (thậm chí có cả phở chó), vậy mà chưa có một phố nào chuyên bán phở, trong khi ấy Saigon lại có cả một dãy phố phở. Đó là khu Hiền Vương (Võ Thị Sáu – Pasteur). Hiền Vương chuyên bán phở gà, còn Pasteur, phở bò. Nhưng dù gà hay bò, các tiệm phở ở khu này chưa có một tiệm nào – nếu nói về phở bò – có thể so với phở Tàu Bay ở Lý Thái Tổ, còn nếu nói về phở gà, thì thua xa phở Vọng Các (đường Võ Văn Tần) và phở Bưu Điện hôm nay.

Những tiệm phở bò nổi tiếng thời ấy còn có phở Tàu Thủy ở Nguyễn Thiện Thuật, phở Quyền và phở Bắc Huỳnh ở miệt Phú Nhuận. Sau khi ông Tàu Thủy qua đời, người con trai không có đủ khả năng kế nghiệp ông bố, bèn dẹp tiệm để chuyển sang nghề khác. Còn phở Bắc Huỳnh nguyên là phở Ga Đà Lạt một thời nổi tiếng; Sau 75 ông mò về Saigon, mở tiệm phở Bắc Huỳnh trên đường Võ Tánh góc Trương Tấn Bửu đối xéo góc với nhà thờ Nam. Chỉ mấy tháng sau, Bắc Huỳnh lại nổi tiếng như cồn. Hàng ngày, từ 6 giờ sáng khách mộ điệu phở đã nườm nượp nối đuối kéo vào. Và chỉ tới 10 giờ là bánh, thịt, nước phở đã láng cóong. Phải công nhận phở Bắc Huỳnh hết chỗ chê. Nuớc trong vắt thơm lừng; Miếng thịt chín mùi thơm như pa-tê, thái tay vừa đủ dầy để cắn ngập răng. Miếng gầu sữa trắng toát mịn như miếng thạch, vừa thơm vừa bùi lại ròn tan; Không một chút hoi. Đặc biệt tiệm BH không bán phở toàn tái. Thế mới là chính thống. Phở bò mà lại ăn phở tái thì đúng là nhà quéo.

Đang phát đạt như thế, chẳng biết sao khoảng năm 1982 bỗng dưng ông dẹp tiệm. Dân ghiền phở cứ tiếc hùi hụi. Trong số này có ông cao thủ bóng lông Trần K., khi đó đang chủ trì sân quần vợt đuờng Lê Duẩn. Ông này ghiền phở BH không thua gì mấy anh ghiền thuốc phiện. Sáng sáng, sau khi dợt cho đệ tử mà không được bồi dưỡng hai tô phở BH là ông ngáp lên ngáp xuống. Ông bèn gạ một người bạn ông để người bạn này yêu cầu cô con gái ông BH mượn nồi niêu soong chảo bát đũa của ông già ra sân quần vợt mở một tiệm phở xe. Dân ghiền phở lại kéo tới ăn đông như chẩy hội. Hồi đó nữ ca sĩ Thái Thanh và nữ ca sĩ Tâm Vấn ở tít trong Chợ Lớn, sáng nào cũng ngồi xích lô ra sân quần vợt – không phải để đánh banh lông – mà là để đớp phở.

Cao thủ Trần K. có ông anh cũng tên Trần K. và cũng là cao thủ bóng lông, còn mê phở hơn cả ông em. Sáng nào ông K. anh cũng gò lưng đạp chiếc xe đạp ọp ẹp chở người tình 200 pao từ Chợ Lớn ra sân quần với mục đich cao quý duy nhất là đớp phở của con gái ông BH. Có nhiều lần, có lẽ tại tối trước ông K. anh chơi bóng lông hơi nhiều và hơi khuya, sáng ra chân chùn gối lỏng, ông đạp xe hơi chậm, tới hơi trễ, đã thấy cái thùng nước phở chổng mông lên trời. Phở chính thống là thế : bao nhiêu thịt là bấy nhiêu nước. Hết nước là hết thịt, hết thịt là hết nước. Và hết là hết, chứ không có cái trò đổ vài lon nước lèo hộp, hay ném mấy cục bouillon vào nước, thêm tí mắm tí bột ngọt, đun sôi lên bán với thịt tái. Sau mấy lần đạp xe phờ râu tôm tới nơi lại hụt ăn, ông K. anh đành thương lượng với cô chủ phở như thế này :

Mỗi sáng cô cứ vui lòng để riêng ra hai tô, cất đi cho tôi. Tôi tới kịp để ăn hay không tới ăn được cũng kệ cha tôi. Tôi vưỡn cứ trả tiền như thường. Ấy thế mà, chỉ được hơn năm, chả biết lý do gì, tiệm phở xe này cũng bỗng mất tích. It lâu sau thấy tiệm Bắc Huỳnh lại tái xuất giang hồ. Được ít năm rồi lại dẹp không kèn không trống. Ngày nay nghe đâu ông Bắc Huỳnh và cô con gái đẹp như mơ đã mở hai tiệm phở bên Calgary, Canada. Chả biết còn giữ tên Bắc Huỳnh nữa không.

…PHỞ NGẦU PÍN

Dạo ấy, cả Saigon chỉ có độc một tiệm của chú Woòng ở đường Lý Thái Tổ bán phở ngầu pín. Chú là người Quảng Đông, trước khi di chuyển vào Nam đã mở tiệm phở ở phố Huế, Hà Nội. Vào đầu thập niên 50, phở ngầu pín đối với dân thủ đô, thật hoàn toàn xa lạ. Có mà nhử thính các tiểu thư Hà Nội cũng không dám tới ăn.

Phở ngầu pín vào tới Saigon cũng chả khấm khá gì hơn. Vẫn cái tiệm xập xệ tối thui, như ở phố Huế. Khách tới ăn toàn những ông râu ria xồm xoàm hoặc lún phún râu dê hoặc nhẵn nhụi bảnh bao chẳng có một sợi râu nào. Nhưng tuyệt nhiên không hề có bóng dáng đàn bà.

PHỞ SAU 75 VÀ CƠN SỐT PHỞ BẮC HẢI

Phở leo lên tới tột đỉnh vinh quang bắt đầu từ cuối thập niên 80. Phở tràn ngập thành phố, ngoại trừ khu vực Chợ Lớn, bởi nó không thể địch lại được với hủ tíu, hoành thánh, bánh bao, xíu mại. Nhưng đặc biệt nhất là cơn sốt phở Bắc Hải. Ở thành phố có chí ít vài ba chục tiệm mang cái tên ấy. Tại sao người ta lại không chọn một bảng hiệu khác ? Cũng có nguyên nhân đấy.

Số là vào thời bao cấp, ở phố Thuốc Bắc, Hà Nội có một tiệm phở chui mà ông chủ tên là Bắc Hải. Đó là bí danh, biệt hiệu hay tên thật của ông ? Chả có ai rỗi hơi tìm hiểu. Chỉ biết cứ thế mà gọi. Tiệm của ông dĩ nhiên là đông khách, nhưng toàn khách quen. Những cái mặt lạ hoắc đừng có hòng bước vào. Trong khi phở quốc doanh “chạy qua hàng thịt”, thì phở Bắc Hải cả bánh lẫn thịt đều có chất lượng. Ngoài ra lại còn cái thú uống rượu quốc lủi nhắm với món “bốc mả” (xíu quách). Thịt do dân”bờ lờ” (buôn lậu) từ Phú Xuyên, Thường Tín hoặc ngả Gia Lâm đi theo xe khách thành, đưa vào bán cho các mối. Còn quốc lủi do ngoại thành cung cấp.

Ông Bắc Hải đựng quốc lủi trong cái bong bóng trâu, giấu ở trước bụng, cái áo phủ bên ngoài. Khách nào muốn uống, giơ cái ly xây chừng ra, ông cởi khuy áo, tháo cái nút vòi bong bóng rồi xịt một phát vào ly. Rượu vừa đúng tới mép ly, không tràn ra một giọt nào. Ông bảo đó là cả một nghệ thuật, phải tập mất một tháng mới thực hiện thành công thao tác ấy. Nói cũng đáng tội, phở của ông cũng chả ngon lành gì. Chẳng qua là vì ”trong xứ mù thằng chột làm vua”. Vả lại, nó có đầy đủ chất béo, chất cay. Với một người ”thích đủ thứ”, như vậy là đúng tiêu chuẩn. Từ đó, anh hùng nhất khoảnh, phở Bắc Hải danh trấn giang hồ.

Sau 75, một số đệ tử của ông Bắc Hải vào Nam. Họ kiếm một đầu hẻm, dựng một quán phở lộ thiên. Một trong những đệ tử nổi bật nhất của ”mông xừ” Bắc Hải là Ch. Râu. Gọi như thế là vì trên mặt anh có cả một rừng râu. Trẻ con trong khu phố, mỗi khi thấy anh xuất hiện lại chạy theo trêu chọc : ”Ơ cái râu lồm xồm, ơ cái râu loàm xoàm, cái râu mọc quanh cái mồm”.

Lại vừa may mắn lại vừa có sẵn ít vốn, Ch. Râu kiếm được một mặt bằng ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Phở Bắc Hải của anh ra đời, trội hơn các tiệm Bắc Hải khác với món áp chảo nước, áp chảo khô, và đặc biệt là rượu rắn-bìm bịp, tráng dương bổ thận.

Hiện nay, phở Bắc Hải không những bành trướng trong thành phố mà còn xuất hiện tại các vùng ngoại ô, nhất là khu Tân Sơn Nhất.

Khoảng giữa thập niên 80, tại Bến Sỏi, mé trái cầu Điện Biên Phủ, có một tiệm phở đuôi bò và ngầu pín do một người đàn bà đứng bán. Quán hàng thiết lập trên một vùng đất lổn nhổn sỏi đá. Khách ăn, kẻ đứng người ngồi. Đôi khi cái ghế lùn tịt được dùng thay cho bàn. Và lần đầu tiên trong lịch sử của ỀpínỂ, ngầu pín được các bà các cô chiếu cố. Họ tỉnh queo cắn từng miếng một và nhai sần sật. Đuôi bò của Bến Sỏi cũng tuyệt trần. Mỗi miếng bằng cái nắm tay của trẻ con. Thịt được ninh nhừ nên khi ăn cũng không đến nỗi vất vả.

Phở Bến Sỏi chỉ bán đến 9g30 sáng là hết. Nhưng thông thường, người ta đến sớm hơn. Để tránh cái nắng như đổ lửa xuống đầu. Trông các bà vừa ăn vừa thấm mồ hôi, phấn son nhòe nhẹt, thấy mà thương !

Vài năm sau khấm khá, bà chủ tiệm tậu được một miếng đất rộng lớn ở phía xa lộ rồi chuyển cửa hàng ra đó. Bây giờ gọi là quán phở N., vừa bán phở vừa bán lẩu ngầu pín đuôi bò. Một cái lẩu 20.000đ hai người ăn căng bụng.

PHỞ THẦY CÔ

Bởi lương nhà giáo không đủ sống nên 5 cô và một thầy đã hùn nhau mở một tiệm phở ở vỉa hè đường X., phía sau cổng trường M.C.

Phở thầy cô ra đời khoảng gần hai năm nay. Có một dạo nhà nước dẹp lòng lề đường, có lúc họ phải di chuyển vào mé sân sau trường. Tiệm này chuyên bán phở gà và chỉ bán vào buổi sáng. Dĩ nhiên phở của họ không thể nào ngon bằng các tiệm nhà nghề như phở gà Bưu Điện hoặc Vọng Các hay các tiệm ở đường Võ Thị Sáu, nhưng nó lại có một hương vị đặc biệt – hương vị gia đình. Khách ăn có cảm tưởng như người nhà mình nấu cho mình ăn vậy. Phở ở đây rất có ”chất lượng” và rẻ – rất rẻ là khác : 4.000đ/ tô đầy tú ụ cả thịt lẫn bánh.

Giữa họ đã có sự phân công : mỗi người nấu phở rồi coi phở một ngày. Không có ai trong số họ có sẵn tay nghề. Thoạt đầu thì lúng túng như thợ vụng mất kim, ít lâu mới thành thạo. Nhưng dù sao đối với họ nghề phở cũng là một cái nghề bất đắc dĩ. Đứng trên bục giảng vẫn tốt hơn.

Ở thành phố, ngoài nhóm thầy cô kể trên, còn có một cô giáo nữa cũng đang đứng bán phở, nhưng lại giã từ hẳn cái nghề kỹ sư tâm hồn. Cô nguyên là giảng nghiệm viên của Đại học khoa học, nhà lại sẵn có mặt bằng nằm trên một trục lộ đông đảo người qua lại, bèn quyết định từ bỏ ống nghiệm và các công thức hóa học để ”giao thiệp” với phở. Vốn là một nội trợ giỏi nên từ nấu thức ăn đến làm phở cũng không đến nỗi khó khăn. Cửa tiệm nằm ở phía chân cầu Bông, khách ăn sẽ dễ dàng nhận ra khi thấy trước cửa đậu một dãy xe gắn máy.

Phở Cầu Bông ngoài các món thường lệ như tái, chín, nạm, còn có món đuôi bò. Phở rất ngon nhưng giá một tô có 5.000đ, chỉ bằng một nửa tiền nếu so với phở Hòa ở đường Pasteur, tục gọi là phở Việt kiều, với giá chém treo ngành 12.000đ/ tô. Sở dĩ gọi thế là vì khách ăn đa số là Việt kiều. Họ quen ăn phở với giá 8 đôla/ tô, chưa kể tiền ”bo” 10%, nên với họ, đó là một giá rẻ mạt.

Phở Cầu Bông cũng không làm theo kiểu đại trà với thịt thái sẵn chất đầy một cái khay. Khách ăn tới đâu làm tới đó. Thịt thái mỏng bốc mùi thơm phức. Mỗi miếng thịt mang hình kỷ hà, màu nâu gụ của nó dính với màu mỡ gàu đặt trên nền trắng của bánh trông giống như một bức tranh tĩnh vật.

Cô giáo của trường Khoa học đã đưa cả khoa học lẫn nghệ thuật vào phở.

PHỞ T.D. Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ

Phở có bảng hiệu mang tên số nhà, nhưng người ta cứ quen miệng gọi là phở T. D., tên ông chủ, mặc dù anh không đứng bán. Căn nhà đó, xưa kia, anh mở tiệm cơm Tây với hai món đặc sản : chateaubriand và chân giò nấu đậu trắng. Các bằng hữu của anh đa số là những người làm văn nghệ. Anh cũng được liệt vào số đó, bởi giọng ca tuyệt diệu của anh. Nhưng mỗi năm anh chỉ hát có một lần và chỉ hát có một bài vào đêm Giáng sinh : “Đêm thánh vô cùng” (Silent Night). Một điệu nhạc tắt đèn. Trong lúc tiếng ca thánh thiện của anh vang lên, người ta ôm nhau đi một đường slow.

Sau khi thưởng thức phở Quyền, phở Tàu Bay, phở bà Dậu, nếu muốn đổi hương vị, người ta có thể đến T.D để nếm món ”vú sữa”, tức là khoảng thịt bụng có những núm vú, ăn béo ngậy, thơm và sần sật, nhưng không giống như sụn hoặc nậm của thịt chó. Nhà hàng có mặt bằng rộng, quạt máy quay vù vù, khách ăn không phải chịu cái cảnh mồ hôi mẹ mồ hôi con cùng chảy.

PHỞ CÔNG TỬ SÀI GÒN

Đó là tiệm phở gà H. B. ở đường Võ Thị Sáu. Ông chủ tiệm tên là Q., một người thuộc giới giang hồ mà cả hai đạo hắc bạch đều biết… tiếng từ khi Q. ở địa vị một ông chủ.

Nghề phở đến với anh một cách tình cờ. Trong một cuộc đọ tài cao thấp với một tay anh chị, anh bị hắn thưa về tội đả thương, và sau đó bị đưa đi cải tạo. Thời gian chém tre đẵn gỗ trên ngàn, anh thường hay giúp đỡ một anh bạn đồng cảnh ngộ. Thấy bạn bị bắt nạt là anh can thiệp ngay. Không phải bằng vũ lực, mà chỉ với một chiêu số thôi : bấm vào huyệt nội quan ở cổ tay và huyệt khúc trì ở khuỷu tay, là địch thủ phải thổi bài kèn ”ô rơ lui” ngay. Q. lại còn thường giúp anh ta trong các công tác lao động. Để đáp lại ân tình ấy, người bạn kia đã truyền cho anh nghề nấu phở. Anh ta dạy Q. từ cách lựa chọn gà – phải là gà được nuôi ở nông thôn – đến cách pha chế gia vị cho thùng nước lèo, và cách nấu nướng làm sao cho gà khỏi bị vỡ da.

Sau thời gian cải tạo, Q. về đường Võ Thị Sáu mở tiệm phở H.B. – tiệm phở ngon nhất trong khu phố ấy. Chỉ trong vòng ba năm, anh đã phất lên như diều. Và bây giờ, với 8 năm trong nghề phở, anh chỉ giữ vai trò chuyên viên, và để cho một số đệ tử đứng bán. Còn một chàng nữa cũng phất lên như Q., nhờ phở. Đó là anh D., chủ một tiệm phở ở trong một con hẻm đường Nguyễn Thị Minh Khai, cách nhà thương Từ Dũ khoảng 500m. Từ Hà Nội vô thành phố Sài Gòn, anh chỉ có đủ tiền để làm một gánh phở ở đầu ngõ. Mới đầu, anh chả biết một tí gì về cái nghề này. Toàn đi học mót. Hỏi người này, học người kia, rồi tới ăn ở các tiệm phở danh tiếng để thử nghiệm. Phải mất gần một năm anh mới thành thạo.

Phở D. hôm nay nổi tiếng ngang với phở Quyền ở Phú Nhuận. Tiệm của anh có một món đặc biệt : tái bắp. Muốn ăn món này phải đi sớm, bởi 8 giờ sáng là hết. Có một điều ly kỳ là phở D. ăn vào buổi chiều bao giờ cũng ngon hơn buổi sáng. Cả chủ lẫn khách đều công nhận chuyện đó. Hỏi nguyên nhân tại sao ? Anh lắc đầu vì không giải thích được. ”Sáng và chiều cùng một thùng nước lèo. Nửa thùng buổi sáng còn lại, buổi chiều chỉ việc đun sôi, không pha thêm một chút gia vị nào, thế mà nó lại ngon hơn buổi sáng”, anh mỉm cười nói.

Bây giờ thì phở có bề thế lắm rồi. Anh mới tậu thêm một ngôi nhà ở đầu hẻm. Phở là một đặc sản của Việt Nam. Đó là điều ”quốc tế phải công nhận”. Nhưng ông Tây lại bảo nó là “soupe chinoise”, còn ông Tàu thì lại bảo nó là “ngầu phấn” chỉ là tiếng Quảng Đông, phiên âm ra tiếng Hán Việt là “ngưu” (bò hoặc trâu), ”phấn” (bột gạo). Một điều nữa, hỏi ông tổ của nghề phở là ai ? Các ông chủ tiệm phở đều lắc, mặc dù nhờ phở, họ đã có của ăn của để.

thụyvi post (theo Phan Nghị)