NÓI VỀ TÊN CA SĨ “MÍT-TỜ”

NÓI HAY ĐỪNG

Các bạn,

Câu chuyện tên ca sĩ khỉ gió họ Đàm “hôn môi” nhà tu Pháp Định diễn ra vào tối 4/11, tức đã qua 2 tuần, các báo chữ báo mạng nói đến rất nhiều, nhưng trang nhà không hề nhắc đến, vì rằng có thể đây là một vấn đề nhạy cảm đối với tôn giáo, ma96c dù cả hai đều có hình thức bị kỷ luật : nhà tu bị “biệt chúng” 3 tháng (đúng nghĩa là “cấm nhà tu” không gặp một ai – không khác như ở tù), còn tên khỉ gió bị phạt 5 triệu (giá quá bèo chưa bằng cát sê tham gia một show ca nhạc).

Nay thì sự thể rõ ràng, vì thế Cao Bồi Già có thể post lên tin tức này, lý do như thế nào xin mời các bạn đọc 2 đoạn tin sau đây.

Cao Bồi Già xưa nay rất “dị ứng” với cái ông “mít-tơ” này, thứ nhất “ông” ta loại hỉ mũi chưa sạch mà đã xưng ông xưng bà với mọi người, thứ hai “ông” ta là một con người không chút liêm sĩ, bản chất của “ông” là một tên phó cạo, con của một bà tham ô nổi tiếng lấy của công phải đi tù; tiền đó “ông” ta làm PR để thành ca sĩ chuyên hát nhạc lá cải, nhưng khi đi thăm mẹ ở Hàm Tân “ông” ta  không dám nhận người đàn bà ấy là mẹ của mình ?! Vì sĩ diện của một “mít-tờ” chăng ? nhưng nên nhớ phải có cội nguồn, mới có tên “mít-tơ” Khỉ Gió này.

Nói như thế mới thấy trên đời lắm chuyện khỉ gió với tên ca sĩ khỉ gió này.

Cao Bồi Già

CHUYỆN VỀ NHÀ SƯ

BỊ CA SĨ KHỈ GIÓ “KHÓA MÔI”

Sau khi bức thư của Đàm Vĩnh Hưng bị rò rỉ tiết lộ sự thật khiến nam ca sĩ phải “khóa môi” thầy Thích Pháp Định, những hình ảnh có thể nói là vô cùng phàm tục của sư thầy Pháp Định cũng bị lộ ra.

Chiều qua, 16/11, cư dân mạng lại “dậy sóng” khi xuất hiện bức thư nói lên sự thật lý do khiến ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng phải “khoá môi” sư thầy Thích Pháp Định. Mặc dù chưa thể xác định được sự thật mà Mr.Đàm đã nói chính xác bao nhiêu phần trăm, thế nhưng những hình ảnh sau đây có thể sẽ khiến độc giả phần nào hình dung được “hình ảnh” chân thật nhất của sư thầy Thích Pháp Định.

Đây là những hình ảnh được cho là chụp từ facebook hiện tại của sư thầy này vào chiều 16/11 (trong thời gian biệt chúng) cũng như những hình ảnh trước đây đã được sư thầy đăng tải công khai sau đó xóa đi khi sự việc trên xảy ra.

thụyvi post

“Nhà sư khóa môi” Mr. Đàm

đã hoàn tục

Nhà sư “khóa môi” Thích Pháp Định đã xin hoàn tục và đươc Thượng tọa Thích Bửu Chánh cùng chư tăng Thiền viện Phước Sơn (xã Phước Tân, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) chấp thuận.

Hôn nhà sư, Đàm Vĩnh Hưng bị phạt 5 triệu “Mức phạt Đàm Vĩnh Hưng nghe buồn cười quá” Hôn môi sư, 5 triệu đồng và sự ức chế lớn Nụ hôn “ước lệ” vẽ chân dung văn hóa “lùn”

Sáng ngày 17/11, Thượng tọa Thích Bửu Chánh, Phó trưởng ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai (THPGĐN) phụ trách Phật giáo Nam tông, trụ trì Thiền viện Phước Sơn cho biết: “Chiều ngày 15/11, tôi nhận được đơn xin hoàn tục của Pháp Định (thế danh Phan Văn Triển). Lý do xin hoàn tục mà Pháp Định viết trong đơn là vì hoàn cảnh gia đình. Thực tế thì hoàn cảnh hiện tại của gia đình Pháp Định cũng rất neo đơn nên đã nhiều lần ngỏ ý muốn Pháp Định hoàn tục về phụ giúp gia đình.

Vì vậy, 9 giờ sáng ngày 16/11, tại chánh điện của thiền viện, chư tăng chúng tôi đã cử hành lễ tác pháp Yết-ma xả 227 giới tỳ-kheo theo Phật giáo Nam tông cho Pháp Định và Pháp Định đã trả tam y tỳ kheo và bình bát cho chúng tôi rồi (Theo luật chế, người xuất gia trước khi hoàn tục phải được chư tăng tác pháp Yết-ma xả giới tỳ kheo/ tỳ kheo ni hay sa-di/ sadi-ni và phải trao trả y bát lại cho nhà chùa).

Hiện tại Pháp Định không còn là tu sĩ Phật giáo nữa, mà chỉ là một cư sĩ thọ trì Tam quy Ngũ giới bình thường như bao cư sỹ khác. Từ nay trở đi, tôi xin mọi người đừng gọi Pháp Định là nhà sư, là đại đức, là tỳ kheo mà làm tổn phước đức của Pháp Định cũng như làm ảnh hưởng đến uy tín của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và hình ảnh của các tu sỹ phật giáo khác.”

Về việc sau này Pháp Định có nguyện vọng xin xuất gia trở lại, thiền viện Phước Sơn có chấp thuận hay không, theo TT. Bửu Chánh thì giới luật nhà Phật cho phép một người có thể xuất gia và hoàn tục được 7 lần.

Trong cuộc đấu giá  từ thiện để ủng hộ cho ca sỹ WanBi Tuấn Anh chữa bệnh được tổ chức tại phòng trà Không Tên (quận 1) tối ngày 4/11, Pháp Định, trong mầu áo nhà Phật, được Mr Đàm “khóa môi”. Hình ảnh phản cảm này sau đó bị dư luận “ném đá” dữ dội. (Theo Kienthuc – Vietnam Net)

BUỒN CHO THỊ HIẾU

Nghệ sĩ là người của công chúng, đã hẳn là thế. Nhưng công chúng nào, nghệ sĩ nào ?

Cách đây chừng năm năm, tại sân Nhạc viện TPHCM, tôi hỏi một nghệ sĩ ưu tú ngành thanh nhạc vốn được đào tạo ở châu Âu những năm sáu mươi thế kỷ trước, lúc ấy đang giảng dạy tại nhạc viện, rằng tại sao có quá nhiều “ngôi sao” ca nhạc hát dở như thể đang phá nát tác phẩm, họ có học ở nhạc viện không vậy ?

Ông nghệ sĩ ưu tú nói ngay : “Tại các anh ! Các anh tâng họ lên, làm cho dân chúng cứ ngỡ họ là “sao” thật nên mê, có người giả vờ mê để khỏi bị chê là dốt! Nhà báo ca ngợi họ là “sao” thì đương nhiên công chúng phải tin. Mấy “sao” mà anh vừa nói là những người có năng khiếu, nhưng chẳng ai được đào tạo có hệ thống cả”.

Rồi ông bảo, nghề hát cũng giống như luyện thể hình, phải được đào tạo và tập luyện hàng ngày, suốt đời luyện hàng ngày.

Hơn nghề nào hết, nghề hát đòi hỏi những kỹ năng chuyên biệt, cho nên chỉ có khát vọng làm ca sĩ thôi chưa đủ. Ca sĩ được đào tạo căn bản trình bày ca khúc khác hẳn người tay ngang.

Về phần mình, thính giả phải có tâm hồn, có kỹ thuật nghe thì mới nhận ra ca sĩ có nghề hay không. Ca sĩ không được đào tạo thì chỉ dăm năm là “đứt hơi”.

Những kỹ năng lấy hơi, nhả chữ, luyện âm vực, rèn sắc thái biểu cảm và hóa thân vào tác phẩm… phải tốn khá nhiều cơm gạo mới học được cho hẳn hoi, chưa nói đến chuyện duy trì hàng ngày.

Trong những năm qua, có khá nhiều “ngôi sao” ca nhạc trẻ tuổi đã nổi đình nổi đám, tạo được sự mê đắm của thính giả trẻ. Họ nổi không phải nhờ trình độ chuyên môn cao mà là công nghệ lăng xê cực kỳ siêu việt.

Nghe họ hát giống như nghe đọc bài chính tả, nhưng biểu diễn hình thể, trang phục rất cuốn hút. Nếu hình dung việc trình diễn một ca khúc giống như đọc một bài thơ thì người nghệ sĩ có nghề sẽ “đọc diễn cảm”, thổi hồn vào tác phẩm, còn người thiếu kỹ năng sẽ “đọc chính tả” mà nhiều khi đọc không rõ chữ.

Thông thường, một người phải mất nhiều năm học trong trường mới có thể thành nghệ sĩ thực thụ, có đầy đủ kỹ năng cần thiết để làm nghề. Họ phải được học nhiều phân môn bổ trợ khác ngoài kỹ thuật thanh nhạc để có đủ tri thức văn hóa đảm bảo hoạt động lâu dài.

Thính giả là những người góp phần quan trọng “nuôi sống” ca sĩ. Nhưng ai trong số họ sẽ phân biệt được sự “đọc diễn cảm” và “đọc chính tả” không tròn vành rõ chữ, như vừa nói trên đây ? Mỗi giọng hát, mỗi phong cách hát có thính giả riêng của nó.

Người nghệ sĩ có chiều sâu sẽ biết nên hạnh phúc hay buồn trước số lượng thính giả không đông đúc, không cuồng nộ của mình…

Chúng tôi vừa nghe tin Đàm Vĩnh Hưng có thể bị phạt 5 triệu đồng. Nhiều người phì cười khi nghe mức phạt này. Trộm nghĩ, may cho Đàm Vĩnh Hưng vì đạo Phật vốn rộng lòng hỷ xả, giới luật cũng không hà khắc, cho nên sau sự cố này, Giáo hội chỉ phạt nặng nhà sư thôi. Có những tôn giáo qui định giới luật rất khắt khe, kẻ xúc phạm nhà tu hoặc tôn giáo của họ có thể bị phạt vạ nguy hiểm đến tính mạng.

Nguyễn Văn Danh post (TheoKhương Hồng Minh)

TIẾNG HÁT VƯỢT THỜI GIAN

THAI THANH… ĐÃ BỊ ALZHEIMER 

Gửi những ai yêu tiếng hát Thái Thanh để “vĩnh biệt linh hồn” người ca sĩ tài danh này : tuy bà chưa chết nhưng linh hồn bà đã bị gã Alzheimer (là bệnh thoái hóa cả não bộ không hồi phục) cướp đi rồi. Bà hiện sống trong nursing home. 

Không chỉ một người, tiếp cận “hiện tượng” Thái Thanh từ góc độ “tiểu sử” (một tiểu sử “trải dài” vài thời kỳ lịch sử thăng trầm của đất nước, mà chủ yếu là “đất nước” VNCH trước 1975) cùng toàn bộ gia tài đồ sộ (năm bẩy trăm) các ca khúc bà đã hát (từ dân ca, tình ca, tâm ca, bi ca, hoan ca, hùng ca, đạo ca, …), đã gọi bà là tiếng “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi“. Cũng không chỉ một người, từ góc độ “thưởng thức ca nhạc”, mệnh danh bà là “tiếng hát vượt thời gian“, “giọng ca vàng không tuổi” – chính xác là “The Ageless Golden Voice“, như được in trên bìa một băng nhạc SG xưa. (Chưa kể đến năm 1998 tôi được nghe một danh xưng nữa dành cho danh ca, từ miệng một giáo viên mới ở Hà Nội vào Sài Gòn : “Ở ngoài ấy người ta gọi Thái Thanh là Tiếng Hát Lên Đồng” !)

Những danh xưng ấy dành cho Thái Thanh tất nhiên không thuyết phục tất cả mọi người (Việt Nam), mà chỉ đúng đối với những ai yêu mến bà. Vì sao ? Giọng hát của nữ danh ca này không dành cho những đôi tai (1) không chuộng các “âm tần cao“, và/hay (2) không chuộng các “cường độ biểu cảm – đặc biệt là bi cảm – quá lớn” (gọi nôm na là “quá mùi“). Tuy nhiên con số những kẻ yêu (giọng hát) Thái Thanh là không nhỏ, và trong số ấy cũng không hề thiếu những tên tuổi lớn các nhà làm văn học nghệ thuật (như nhạc sĩ Phạm Đình Chương, nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Cung Tiến, danh cầm Nghiêm Phú Phi, nhà văn kiêm nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, …),cho nên những lời xưng tụng dành cho người ca sĩ ấy không thể “hàm hồ” được; chúng tất yếu phải “chính xác” và “xứng đáng”. Trong chủ quan hạn hẹp của người viết bài này, tiếng hát Thái Thanh có thể ví như một “đặc sản”, chỉ dành cho những kẻ “sành điệu”, đồng thời cũng từ chối quyết liệt những ai không là “đồng điệu”.

Bạn sẽ nhăn mặt : “Làm gì có một đặc sản như thế” ? Xin thưa rằng có : Quả sầu riêng ! Đúng vậy, mặc ai có thể “bịt mũi xua tay”, vẫn không hiếm người lõi đời “nghiện” nó, xem nó là “số Một“, và nó luôn là một trong những loại quả “quí và đắt nhất”. Vậy thì, vâng, có nhiều người tôi quen biết “nghiện” Thái Thanh (và nghiện cả sầu riêng) ! Thậm chí đối với họ chỉ có mỗi một mình Thái Thanh biết “hát”, còn những ca sĩ khác chỉ là “phát âm một cách khổ sở”. (Tôi nhớ đến truyên biếm “Tiếng hát” khi nghe ai phát biểu về Thái Thanh tương tự như vậy.)

Nói về “ngôi vị” của Thái Thanh trong giới ca sĩ Sài Gòn trước 75 có lẽ không ai chính xác bằng “người trong giới”, đặc biệt là một trong các danh ca hàng đầu thủa ấy – Lệ Thu. Năm 1970, nhân chuyến tham dự khai mạc Hội Chợ Osaka, Nhật Bản, Lệ Thu đã trả lời phỏng vấn của báo chí : “Nếu chị Thái Thanh có mặt ở đây và hát, mọi người sẽ cúi đầu khâm phục !“. Cũng chính Lệ Thu, trong một ca khúc hải ngoại nhớ về Sài Gòn, đã “sửa” ca từ của một câu khi hát “Đâu rộn ràng tiếng hát Thái Thanh ?” Kiêu ngạo và đắt giá nhất trong giới ca sĩ ngày đó, Lệ Thu chỉ chấp nhận “nghiêng đầu” trước Thái Thanh.

Sự thật thì sao ? Mặc dầu Thái Thanh đi trước cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề so với hai diva Lệ Thu và Khánh Ly (cũng như với hầu hết các ca sĩ khác), giọng lẫn cách hát của bà vẫn “trẻ trung”, “hiện đại” và “độc đáo” nhất, đặc biệt với những ca khúc này :

1) CHUYỆN TÌNH BUỒN

2) ĐẠO CA 8 – GIỌT CHUÔNG CAM LỘ

3) ĐẠO CA 9 – CHẮP TAY HOA

4) ĐÊM MÀU HỒNG

5) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

6) RU TA NGẬM NGÙI

7) TẠ ƠN ĐỜI

8) TIẾNG HÁT TO

9) TÌNH SẦU DU TỬ LÊ

Tôi vẫn tin là bạn không cần nhìn các ca sĩ (Việt Nam) “làm trò” khi họ hát, mà chỉ cần nghe cách phát âm cũng đủ để phân biệt và xếp hạng họ là loại ca sĩ nào. Nhưng đối với Thái Thanh thì khác, bạn nên ngắm “khẩu hình” của bà lúc bà hát – cái cách bà cấu âm (articulate) từng “âm”, từng “chữ” – chuyển động của má, môi, cơ miệng, lưỡi, hàm (răng) trên, hàm (răng) dưới, xương quai hàm; điều đó tác động đến cả cặp lông mày, cũng như vầng trán, và tất nhiên rồi, cả đôi mắt nữa. Mà không chỉ thế, hãy nhìn thanh quản ở cổ, nhìn hai vai, và tay,.., của người hát.

Cách “phát âm” / “cấu âm” của Thái Thanh, bắt đầu từ “bộ máy phát âm”, đã tác động hoàn toàn tự nhiên đến các cơ trên mặt, rồi lan tỏa toàn thân. Khi hát, Thái Thanh như “đang bơi”, hay “đang bay”, (theo nghĩa đen) trong âm nhạc, và toàn bộ ngôn ngữ cơ thể của người ca sĩ ấy toát lên thông điệp này: Được cất tiếng hát, đối với bà, là Tất Cả – là Sự Sống, là Hạnh Phúc vô bờ.

Để thấy/hiểu phần nào niềm hạnh phúc của “Người Đàn Bà Hát” Thái Thanh, bạn có thể xem các clip này (và đừng quên rằng lúc ấy bà đã U70) :

1) TÌNH HOÀI HƯƠNG

2) CỎ HỒNG

3) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

4) DÒNG SÔNG XANH

5) TÌNH CA

6) HOÀI CẢM 

Và nếu muốn nghe đầy đủ hơn các bài hát của Thái Thanh, mời bạn click vào đây . Trang này được mở ra không với mục đích nào khác hơn là để dành tặng cho những ai yêu mến tiếng hát Thái Thanh. (Rất tiếc là chúng tôi không thể gửi tặng nó cho người ca sĩ ấy, vì bà đã vào ở hẳn một Viện Dưỡng Lão (ở Hoa Kỳ) từ mấy năm nay rồi.)

Yên Huỳnh post (theo Con Cò)

Đọc thêm

Mời đọc thêm về nữ ca sĩ Thái Thanh, trên trang“Một thời Sài Gòn” được post vào ngày 19/03/2011. Xin click vào đường dẫn :

Nữ ca sĩ THÁI THANH

Clip Tiếng hát Thái Thanh

Nhiều bài nghe Thái Thanh ca không thể nào chán được “

http://chuvanan.free.fr/ThaiThanh/

Cột bên trái liệt kê một số tên những bản nhạc mà Thái Thanh đã trình diễn. Nếu bấm vào tên một bản nhạc thì lời ca bản nhạc đó sẽ hiện lên cùng với hình Thái Thanh chụp hồi đó. Nếu bấm vào cái loa nằm trước tên bản nhạc thỉ sẽ được nghe Thái Thanh hát dưới dạng Windows Media Player. Mời thưởng thức.

Quế Phượng post

HÉ LỘ TÁC GIẢ BÀI THƠ

‘KHÔNG ĐI KHÔNG BIẾT ĐỒ SƠN

Nhiều người tưởng bài thơ trên là thơ… dân gian, khuyết danh. Kỳ thực, tác giả của bài thơ nổi tiếng này là nhạc sĩ, nhà giáo Hà Giang. Bài thơ “Không đi không biết Đồ Sơn” chỉ có bốn câu lục bát :

“Không đi, không biết Đồ Sơn,

Đi thì mới thấy không hơn… đồ nhà!

Đồ nhà tuy có hơi già,

Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”.

Bài thơ nôm na mà ý nhị ấy ra đời đến nay đã hai mươi mấy năm. Đây là bài thơ hay, được rất nhiều người ưa thích. Hay, vì nó độc đáo, dí dỏm, lại nồng ấm nghĩa tình ?

Hà Giang tên thật là Phạm Tiến Giang, quê thôn Đẩu Sơn, xã Bắc Hà thị xã Kiến An tỉnh Kiến An (cũ); hiện nay gia đình ở phường Phù Liễn, quận Kiến An, TP. Hải Phòng.

Anh là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, hội viên Hội Văn học – nghệ thuật Hải Phòng từ những năm 70 của thế kỷ trước, là giáo viên âm nhạc Trường Sư phạm 10 + 3 Hải Phòng, tiền thân của Trường Đại học Hải Phòng (công lập) ngày nay – nơi tôi giảng dạy suốt 32 năm.

Khoá Sư phạm 1972 – 1975, tôi là giáo viên chủ nhiệm lớp C. Văn – Sử, Ban Giám hiệu nhà trường phân công anh Hà Giang làm phó chủ nhiệm lớp của tôi. Anh hơn tôi đến chục tuổi. Anh dạy nhạc rất hay, lúc nào cũng nồng nhiệt, cuốn hút, ca hát rất say sưa, lại sáng tác được nhiều bài hát cho quê hương và cho nhà trường, được mọi người yêu thích.

Trong khi anh bị nhiều căn bệnh hiểm nghèo như áp xe gan, áp xe thành bụng, phải đại phẫu tới 7- 8 lần mà vẫn sống lạc quan; và trong điều kiện gia cảnh anh rất nghèo, vợ làm nông nghiệp, anh chị lại đông con.

Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng vào khoảng cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, khi anh đã “về hưu non” vì lý do sức khỏe, một lần Hà Giang gặp tôi, anh cười giòn tan và bảo : “Tớ mới làm bài thơ như thế này, cậu nghe có được không nhé”. Rồi anh vừa cười như nắc nẻ, vừa đọc rất hồn nhiên : “Không đi, không biết Đồ Sơn,/ Đi thì mới thấy không hơn đồ nhà/ Đồ nhà tuy có hơi già/ Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn” ! Nghe anh đọc xong, tôi cũng cười rũ rượi và ôm chầm lấy anh: “Hay lắm ! Tuyệt vời !”.

Nhưng anh nói thêm : “Tớ hơi lưỡng lự câu cuối : Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn, hay là thay bằng : “Nhưng là đồ thật, không là đồ sơn”. Cậu thấy thế nào”. Tôi nói : “Mỗi câu đều có ý hay riêng. Tùy anh”.

Anh lại cười, bảo : “Thôi cứ để câu cuối “Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”, xem ra nó thật hơn và có vẻ đấu tranh tư tưởng đấy chứ nhỉ”. Từ đấy, trong những câu chuyện vui với bạn bè, Hà Giang lại đọc cho họ nghe bài thơ ấy.

Tôi cũng thuộc loại “tội đồ” truyền miệng bài thơ của anh. Thế rồi bài thơ cứ được truyền từ người này sang người kia và vượt qua lãnh địa Hải Phòng, lan ra các tỉnh và thành phố từ Bắc đến Nam. “Không đi, không biết Đồ Sơn”. Nói thêm, nhà anh Hà Giang chỉ cách Đồ Sơn khoảng 18 km đường nhựa to rộng.

Đồ Sơn là bãi biển của Hải Phòng, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, đẹp nổi tiếng cả nước; có nhiều rừng thông, bãi tắm cuốn hút du khách thập phương; có những biệt thự, khách sạn to đẹp và nhan nhản các nhà hàng, nhà nghỉ, các quán ăn uống, quán cà phê, nhà vườn… Đặc biệt, Đồ Sơn là một khu “ăn chơi” lừng danh, vì có rất nhiều món hải sản quý, mà tôi từng viết : “Ăn một lại muốn ăn hai/ Ăn ba ăn bốn lại đòi ăn năm”.

Nói rộng ra, Đồ Sơn là núi non thơ mộng, là các nhà nghỉ, khách sạn, quán ăn và không thể thiếu các tiếp viên trẻ trung, xinh đẹp, đầy sức quyến rũ, như đã nói ở trên. Còn “đồ nhà”, là cách nói vui chỉ các bà vợ.

Hà Giang đã khuất núi sau một vài năm anh đọc cho tôi nghe bài thơ độc đáo của mình (anh mất năm 1989, khi mới 53 tuổi dương !); nhưng bài thơ thì vẫn còn đó, vẫn tươi mới, hấp dẫn. Anh để lại cho đời một tiếng cười vui sảng khoái và hồn hậu, dí dỏm mà sâu sắc nghĩa tình.

Nguyễn Văn Danh post (theo Đào Ngọc Đệ)

ĐỜI THƯỜNG CỦA NS Y VÂN

TỪ CA KHÚC ‘LÒNG MẸ’

TỚI ĐỜI THƯỜNG NHẠC SĨ Y VÂN

Về thời điểm ra đời của ca khúc “Lòng Mẹ” mà, cá nhân tôi muốn được gọi là “quốc ca của lòng từ mẫu,” đến nay, đã có tới ba ghi nhận khác nhau.

Trước hết, theo trang mạng Wikipedia/Bách khoa toàn thư mở, phần tiểu sử của cố nhạc sĩ Y Vân, có đoạn ghi nhận nguyên văn như sau :

“Năm 1952 (trước di cư 1954) ông (nhạc sĩ Y Vân) vào Nam, tại đây tiếp tục sáng tác, chơi nhạc và dạy nhạc, ngoài ra còn viết sách dạy nhạc và đàn guitar. Những ca khúc nổi tiếng thời điểm này là : Lòng Mẹ, Hồn Quê, Ðò Nghèo,… ngoài ra ông còn là người đi tiên phong cho dòng nhạc nhẹ với những bài hát có giai điệu Cha cha cha, Disco như : Sài Gòn, Ảo Ảnh, Sáu Mươi Năm Cuộc Ðời, Thôi…”

Ðoạn văn trên mở ra một cánh cửa mơ hồ khá to lớn ! Căn cứ vào mạch văn, không ít người suy diễn rằng, ca khúc “Lòng Mẹ” của cố nhạc sĩ Y Vân, đã được sáng tác vào năm 1952.

Nhưng trong bài viết nhan đề “Vài nét về cuộc đời của nhạc sĩ Y Vân,” tác giả Nguyễn Việt viết :

“…Sau một buổi trình diễn với Phủ Tổng Ủy Di Cư về, Y Vân bị mưa ướt như chuột lột, quần áo dơ hết. Mới di cư còn nghèo, chỉ có một bộ đồ coi được nhất để trình diễn, Y Vân rất lo lắng vì ngay sáng hôm sau lại phải đi đàn nữa. Khuya hôm đó, mẹ ông đã đem bộ quần áo ra máy nước công cộng đầu hẻm giặt sạch rồi về nhà đốt than lên hơ cho chóng khô.”

“Sáng hôm sau, Y Vân đã nghiễm nhiên có được bộ quần áo sạch sẽ mặc đi diễn. Ông cảm động lắm và cảm hứng viết nhạc phẩm đầu tay “Lòng Mẹ,” một bài hát đã đi vào lòng hằng triệu người dân nước Việt. Và đó là khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc của một trong những nhạc sĩ tài hoa nhất của Việt Nam…” (2)

Trên thực tế, Phủ Tổng Ủy Di Cư được chính quyền miền Nam thành lập vào năm 1954, với nhiệm vụ lo giúp đỡ thiết thực cho hơn một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam.

Tài liệu chính thức ghi nhận rằng :

“Sau khoảng một tháng, làn sóng di cư trở nên ồ ạt khiến chính phủ phải thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn. Phủ Tổng Ủy lần lượt do các ông Nguyễn Văn Thoại (từ ngày10/8/1954), GS Ngô Ngọc Ðối (từ ngày 21/8/1954), BS Phạm Văn Huyến (từ ngày 4/12/1954), ông Bùi Văn Lương (từ ngày17/5/1955) làm tổng ủy trưởng. Tới ngày 21 tháng 8. Mỗi ban ngành đều có đại diện của Phủ Tổng Ủy. Phủ Tổng Ủy có 3 nhiệm vụ : Cứu trợ và di chuyển; Kiểm soát và tiếp cư; Giúp đỡ định cư… (3)

Nếu tư liệu của tác giả Nguyễn Việt về ca khúc “Lòng Mẹ” của Y Vân là chính xác thì, thời điểm sáng tác của ca khúc phải nằm trong khoảng thời gian từ 1954, tới 1955. Bởi vì, sau đó, Phủ Tổng Ủy Di Cư không còn nữa.

Chưa hết, nhạc sĩ Y Vũ, em ruột của cố nhạc sĩ Y Vân, lại kể với phái viên báo Thanh Niên rằng :

“Cuối thập niên 1950, anh Y Vân là nhạc công chơi cho các nhà hàng ở Sài Gòn. Hằng đêm, mẹ ở nhà giặt quần áo ở máy nước công cộng, có lần giặt đến 2 giờ sáng thì bị cảnh sát chế độ cũ bắt vì tội phá lệnh giới nghiêm. Ðến sáng, anh tôi về nhà, biết chuyện đã khóc và viết ra ‘Lòng Mẹ,’” em trai của nhạc sĩ kể lại.

“Câu hát tha thiết : ‘Lòng mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu. Tình mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ. Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ. Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ… Thương con thao thức bao đêm dài, con đà yên giấc, mẹ hiền vui sướng biết bao. Thương con khuya sớm bao tháng ngày, lặn lội gieo neo, mái tóc trót đành đẫm sương… ’ ’Viết xong, anh hát cho mẹ nghe và bà đã khóc…” (4)

Giống như tác giả Nguyễn Việt, nhạc sĩ Y Vũ cũng không xác định rõ thời gian ra đời của ca khúc “Lòng Mẹ.” Nhưng khi ông nói đó là “cuối thập niên 1950…” thì, chắc chắn không phải là khoảng thời gian 1954-1955. Nó càng rất xa điểm mốc 1952 như tài liệu của Wikipedia, khiến nhiều người ngộ nhận (?).

Tuy nhiên, dù “Lòng Mẹ” ra đời ở thời điểm nào thì, căn cứ vào những tư liệu có được, (luôn cả lời kể của người em ruột, Y Vũ), tất cả đều cho thấy, nhạc sĩ Y Vân xuất thân từ một gia đình ngặt nghèo về vật chất. Ông sống với một bà mẹ đơn chiếc, tần tảo, ngược xuôi, một mình nuôi bầy con.

Ở điểm này, tác giả Nguyễn Việt, trong bài viết của mình cho hay, ông biết khá rõ về gia cảnh của cố nhạc sĩ Y Vân; cũng như nguồn gốc của bút hiệu “Y Vân.” Họ Nguyễn viết:

“Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội nhưng quê gốc ở Thanh Hóa. Thuở thiếu niên ông từng theo học nhạc với giáo sư-nhạc sĩ Tạ Phước, và đã tập tành sáng tác từ rất sớm nhưng không mấy thành công.

“Mồ côi cha, nhà nghèo, mấy mẹ con dắt díu nhau nương náu trong một túp lều xiêu vẹo ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, Trần Tấn Hậu rất thương mẹ và các em.

“Lúc đó chàng nhạc sĩ nghèo chưa lấy nghệ danh Y Vân, ông phải đi dạy đàn để nuôi gia đình. Có một người bạn thân giới thiệu anh đến dạy đàn cho một tiểu thư khuê các, nàng tên là Tường Vân. Rồi giữa họ hé nở một mối tình đằm thắm. Nhưng… tình đầu tan vỡ cũng là lẽ thường, huống chi chàng chỉ là anh ‘Trương Chi’ si tình khốn khổ, còn nàng lại là một ‘Mỵ Nương’ danh gia vọng tộc. Không thành duyên nhưng… thành danh, một loạt các ca khúc của Y Vân (có nghĩa là Yêu Vân) ra đời từ đó như : Ðò Nghèo, Ảo Ảnh, Nhạt Nắng… với phong cách tha thiết, trữ tình rất được công chúng yêu thích (…).

“Năm 1954, ông cùng 2 em và mẹ di cư vào Nam với hai bàn tay trắng, lúc vừa 21 tuổi. Mẹ hiền buôn bán nuôi 3 con. Còn Y Vân thì đã thích nhạc từ nhỏ, học đàn, sáng tác, hòa âm từ trước năm 54 nên vào Nam đã có thể đi trình diễn giúp vui cho đồng bào di cư…” (5)

Tôi không biết có phải vì gia cảnh ngặt nghèo và, mối tình đầu sớm tan vỡ, đã là hai động lực lớn, thúc đẩy tài năng tiềm ẩn của Y Vân/Trần Tấn Hậu, sớm phát tiết và thăng hoa ?

Nếu quan điểm này có phần đúng thì, chúng ta cũng nên cám ơn hai bất hạnh kia của họ Trần. Và trước khi từ trần ngày 28 tháng 11 năm 1992 tại Saigon, tôi tin, dù bản chất khiêm tốn, thâm tâm cố nhạc sĩ Y Vân cũng hài lòng, hãnh diện về những năm, tháng cơ cực của gia đình và, cá nhân ông – Qua những gì ông đã cống hiến cho kho tàng tân nhạc Việt Nam. Một cống hiến nghệ thuật lớn lao mà, không phải nhạc sĩ nào cũng có thể đạt được. Dù cho họ may mắn có hoàn cảnh sống đầy đủ, tốt đẹp hơn ông !

TÌNH KHÚC NHƯ NHÂN CHỨNG KỶ NIỆM

Nói tới đời thường của cố nhạc sĩ Y Vân, tôi nghĩ không ai có thẩm quyền hơn người bạn đời thứ hai, người sau cùng, chia sẻ buồn vui với ông mấy chục năm thăng trầm; nhất là những năm tháng sau biến cố tháng 4/1975. Đó là bà Minh Lâm. Hơn một lần bà tâm sự rằng :

“Nhiều người thêu dệt Y Vân thành một con người đa tình, trăng hoa. Là vợ chồng, mấy mươi năm đầu gối tay ấp nên tôi rất hiểu nhà tôi. Anh ấy là một người đàng hoàng, có gì cũng thật thà kể với vợ (kể cả những việc sâu kín như trường hợp lấy nghệ danh Y Vân). Anh ấy rất có hiếu với mẹ và thương yêu vợ con.

“Thời gian sau năm 1975, Y Vân tham gia Đoàn ca nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn : phối nhạc cho Saigon Audio, viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Anh làm việc cật lực bất kể ngày đêm. Ban trưa, nhìn anh xoay trần viết nhạc dưới mái tôn thấp nóng hầm hập, thấy thương vô cùng. Trời thương, nên giai đoạn đó anh được ‘đặt hàng’ dồn dập, có thể nói là ‘ăn nên, làm ra’, nhờ đó mà gia đình chúng tôi xây lại được căn nhà tạm gọi là ngăn nắp, nhưng anh làm ra cho mẹ con chúng tôi hưởng, bởi chỉ một năm sau thì anh mất…” (6)

Kể lại phản ứng của thân mẫu nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu, người đàn bà không đi thêm bước, dù còn trẻ khi người chồng qua đời (Bà ở vậy nuôi con. Nhờ thế, chúng ta có được ca khúc bất tử “Lòng Mẹ”), người vợ tấm cám của cố nhạc sĩ Y Vân cho biết : “Dạo ấy, đứng trước quan tài của anh đang được quàn tại Hội Âm nhạc TP. Mẹ chồng tôi không hề khóc một tiếng. Có lẽ tất cả nước mắt để khóc thương con, bà cụ đã âm thầm nuốt ngược vào trong. Chúng tôi nghe bà cụ nói : “Người đời thường bảo : Con ‘đi’ trước mẹ là bất hiếu, nhưng mẹ chẳng trách con đâu bởi con đã làm tròn chữ hiếu ngay từ lúc viết xong bài ‘Lòng mẹ’… Con đi trước mẹ nhưng không nợ mẹ, vì mẹ nuôi con 20 năm nhưng con đã nuôi mẹ đến 40 năm…’

“10 tháng sau, Mẹ nhạc sĩ Y Vân mất.” (7)

Về âm nhạc của cố nhạc sĩ Y Vân không chỉ có “Lòng mẹ.” Ông còn để lại cho đời mảng tình khúc, phong phú, rậm rạp như một khu rừng tâm tưởng thăng hoa.

Tôi hằng nghĩ, một tình khúc khi đạt được cả hai yếu tố : Giai điệu đẹp, và ca từ ý nghĩa hoặc, tâm lý thì, những tình khúc ấy sẽ có một vị trí, một chỗ đứng như những kỷ niệm bất hoại trong nhiều cuộc tình đôi lứa. Như những hạt giống gieo trồng an ủi những tâm hồn cô độc. Chúng như người bạn đồng hành, như nhân chứng đi theo tới cuối đời kẻ nào từng có đôi lần hát lên trong ánh sáng yêu thương hay, bóng tối đoạn lìa.

Theo tôi, hầu hết tình ca Y Vân / Trần Tấn Hậu đều có được tính chất đặc biệt này.

Nhìn lại, chúng ta thấy hàng trăm tình khúc của họ Trần chẳng những được đón nhận một cách nồng nàn ngay khi tác phẩm mới phổ biến mà, chúng còn được yêu quý trải qua nhiều thế hệ – Hiểu theo nghĩa chúng đã ở lại bền lâu trong ký ức.

Những tình khúc của Y Vân như “Đồi thông,” Ngăn Cách,” “Đêm giã từ (phổ thơ Thể Vân), “Thôi,” “Đừng lừa dối nhau,” Người em sầu mộng” (phổ thơ Lưu Trọng Lư),  “Hãy yêu tôi” (phổ thơ Đinh Hùng), “Những bước chân âm thầm (phổ thơ Kim Tuấn) v.v…dù với nội dung nào, cũng đều như những nhân chứng của kỷ niệm. Như người bạn thân thiết nhất của những kẻ lạc lõng, cô đơn!

Bên cạnh đó, ca khúc “Ảo ảnh” của Y Vân, sớm được nhiều giai thoại (hay huyền thoại) tìm đến, vây quanh !

Tôi không biết “Ảo ảnh” với những chi tiết được báo Thanh Niên, cột mục “Nghệ thuật yêu” đăng tải, có nằm trong điều mà, người bạn đời của cố nhạc sĩ Y vân từng than phiền là “thêu dệt” (?) – Nhưng, cách gì thì, dưới đây cũng là một giai thoại làm mủi lòng nhiều người :

 “Y Vân lập gia đình năm 1963, lúc này anh đã là trưởng ban nhạc Y Vân danh tiếng ở Sài Gòn (cùng với sự cộng tác của các ca sĩ Thanh Thoại, Tuyết Mai, Mai Hương…). Một buổi trưa năm 1965, từ đài phát thanh, Y Vân dắt xe máy ra cổng chuẩn bị về thì có một chú bé chạy đến mời anh vào quán nước cạnh đấy. Nơi đây, một thiếu nữ khá xinh ngồi chờ sẵn, chú bé giới thiệu đó là chị của mình, tên Huyền, đang là sinh viên Ban Việt-Hán, Đại học Văn khoa Sài Gòn. Huyền có đôi mắt to, đen và buồn. Trên bâu áo của nàng có một mảnh tang đen. Y Vân cố nhớ lại xem mình đã gặp cô gái này ở đâu chưa, nhưng chịu thua. Theo phép xã giao anh ngỏ lời chia buồn. Nhưng cô gái lắc đầu, buồn bã : ‘Em đâu có người thân nào qua đời. Mảnh tang này là dành cho mối tình của em đó !’. Y Vân sượng sùng, anh cũng manh nha đoán rằng phải có một điều bí ẩn gì đó mới khiến cô gái này vượt qua nỗi e dè thường thấy của phái nữ, không ngại điều thị phi để đánh bạo gặp anh, nhưng cũng khó mở miệng để hỏi, đành chỉ ngồi nói chuyện bâng quơ một lát rồi viện cớ cáo từ.

“Hai hôm sau, Y Vân tìm đến nhà Huyền theo địa chỉ cô đã cho. Đó là một căn nhà vách gỗ đơn sơ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ nằm bên chiếc ao rau muống trong con hẻm đường Trương Minh Giảng (gần chợ Phú Nhuận bây giờ). Huyền không có nhà nhưng cậu em trai đã thổ lộ với chàng nhạc sĩ những điều thầm kín của chị mình. Chú bé cho biết họ là con của một địa chủ tiếng tăm ở Long An, được gia đình gửi lên Sài Gòn trọ học. Huyền rất thích âm nhạc và ca hát, đặc biệt là thích nhạc của tác giả Y Vân. Những cuốn vở học trò của Huyền cũng được cô kẻ khung, chép nhạc (hầu hết là nhạc của Y Vân). Tiền gia đình gửi lên để Huyền hoàn tất chương trình cử nhân Văn khoa lại được nàng đem đóng học phí vào… lớp dạy đàn Tây Ban cầm. Suốt ngày Huyền chỉ ôm đàn và hát nhạc Y Vân.

“Việc học bê trễ, mấy năm liền chẳng đậu thêm được chứng chỉ nào. Thấy vậy, ông bố đã bắt hai chị em về quê, ép gả Huyền cho một anh trung úy hải quân. Huyền quyết liệt từ chối. Bẽ mặt với nhà trai, ông bố đăng báo từ con. Huyền đau khổ, trút tâm sự với em trai rằng đã yêu nhạc sĩ Y Vân. Sau khi bàn tính, hai chị em trốn nhà lên Sài Gòn, Huyền phải tìm việc làm để mưu sinh và nuôi hy vọng có ngày sẽ được cùng người trong mộng kết tóc se tơ. Sau nhiều lần dò hỏi, biết chắc nhạc sĩ Y Vân đã có gia đình, Huyền làm một mảnh tang đen, luôn đeo nó trên bâu áo…” (8)

Tác gỉa bài báo kết luận, ca khúc “Ảo ảnh” ra đời từ chuyện tình tuyệt vọng ấy.

THÊU DỆT VÀ SỰ THẬT

Tôi vẫn nghĩ, cái giá mà một người nổi tiếng phải trả, chính là những tin đồn, những dư luận xấu / tốt thêu dệt bên cạnh hào quang của người ấy. Nhất là với các nghệ sĩ ở lãnh vực âm nhạc và trình diễn.

Mức độ tin đồn, thêu dệt xấu / tốt thường tỷ lệ thuận với tiếng tăm mà nghệ sĩ ấy đạt được.

Trước đây nhiều năm, khi công nghệ thông tin chưa phát triển, tin đồn hoặc những thêu dệt quanh đời riêng một nghệ sĩ nổi tiếng, chỉ được phổ biến bằng phương tiện truyền tai. Người này kể với người kia những điều mà họ hãnh diện cho rằng chỉ mình họ biết được!

Nếu những dư luận mang nhiều tính “hư cấu” kia, có được phổ biến trên mặt báo thì, cách gì nó cũng vẫn bị giới hạn với số lượng ấn bản tờ báo đó bán được.

Nhưng từ khi internet ra đời thì, đây là một biến cố lớn của sinh hoạt nhân loại. Hiểu theo cả hai nghĩa tốt và xấu; đúng và sai…

Thí dụ, ở một nơi xa xăm hay một quốc gia nào đó, thiên tai xẩy ra; tức thì, chỉ ít phút sau, mọi người đều biết. Thay vì chúng ta phải đợi, để biết sau nhiều giờ, do báo chí, truyền thông loan tải. Tiếp theo mức độ nhanh nhậy này, là sự lên tiếng chia buồn, tiếp tay cứu trợ nạn nhân, giúp đỡ của các quốc gia khá; tùy theo hoàn cảnh, phương tiện của từng quốc gia ấy. Sự liên đới mang tính tương thân, tương ái này, theo tôi, là một hành động rất ý nghĩa của cộng đồng nhân loại. Từ đó, dù bị bất hạnh bởi thiên tai, các nạn nhân cũng được an ủi, cảm thấy ấm áp phần nào khi họ thấy rõ mình không bị lãng quên.

Nhưng mặt trái của sự nhanh nhậy kia, lại là tính chất vô trách nhiệm: Không thể kiểm chứng những tin tức, bài vở thuộc loại tin đồn, thêu dệt chung quanh đời riêng của các văn nghệ sĩ – Một khi loại tin tức, bài vở ấy được phổ biến trên on-line, tức không-gian-ảo.

Lại nữa, những nhân vật bị / được nói tới, hay những người có liên hệ hầu như không có thói quen lên tiếng đính chính, hoặc chỉnh sửa những dữ kiện thiếu trung thực.

Vì thế, những người muốn nghiên cứu, viết về một tác giả nào đó, vào on-line để tìm thêm tin tức như tiểu sử, sự nghiệp, đời thường một nhân vật, không có cách nào để kiểm chứng đúng / sai – Ngoài sự chọn lựa một trong hai điều, tùy mục đích người viết là:

– Lọc ra những gì được coi là tốt đẹp, hoặc ngược lại về nhân vật mình định viết…(9)

Với nhạc sĩ Y Vân, ông không chỉ nổi tiếng với hàng trăm ca khúc trữ tình mà, còn là tác giả ca khúc “Lòng mẹ” một ca khúc mà tôi muốn được ví như một thứ “quốc ca của tình mẫu tử” thì, tin tức, bài viết liên quan tới ông, từ tiểu sử, sự nghiệp sáng tác tới sinh hoạt đời thường của ông, đương nhiên được nhiều người ghi nhận. Thậm chí, có tác giả vì qúa yêu mến ông (?) mà, tạo thêm những “huyền thoại” bao quanh đời thường của ông.

Trước những tin tức, bài vở không đúng hoặc, mang tính “thêu dệt” phổ biến trên các trang mạng, sau khi nhạc sĩ Y Vân từ trần, thân nhân (tôi muốn nói vợ, con) của tác giả “Ảo ảnh” đã không hề có lời đính chính, giải thích.

Tuy nhiên, may thay, sau loạt bài viết về cố nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu, chúng tôi đã nhận được những tin tức chính xác, rất hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu sâu xa về đời riêng của tác giả “Biển sầu.”

Số lượng tin tức quý báu mà chúng tôi vừa nhắc tới, được cung cấp bởi bà Như Hường, người bạn đời thứ nhất của cố nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu. (10)

Từ bà Như Hường, tương lai, những ai muốn nghiên cứu hay viết tiểu sử về cuộc đời tác giả “quốc ca của tình mẫu tử” sẽ có những dữ kiện xác thực sau đây :

Năm 1959 (không phải 1962 hay 1963), nhạc sĩ Y Vân chính thức kết hôn lần thứ nhất với bà Như Hường.

Một năm sau, năm 1960, họ có với nhau, con trai đầu lòng. Sau đó, là 3 ái nữ.

Những ca khúc nổi tiếng, còn lưu truyền tới bây giờ của cố nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu như “Ảo ảnh,” “Ngăn cách” v.v.… được họ Trần sáng tác trong thời gian chung sống với người bạn đời thứ nhất của ông.

Riêng “Biển sầu” và “Người vợ hiền” là hai ca khúc nhạc sĩ Y Vân viết cho bà Như Hường, như một bày tỏ cụ thể tình yêu, lòng trân trọng của ông dành cho người bạn đời thứ nhất của ông.

Hơn mười năm sau, tức năm 1970, với sự hy sinh rất hiếm xẩy ra trong thời hiện tại, bà Như Hường đã đi cưới vợ cho nhạc sĩ Y Vân.

Theo tiết lộ của Như Hường thì người vợ thứ hai của cố nhạc sĩ Y Vân, tên Minh Lâm – – Là em con cô, con cậu với bà Như Hường. (Thân phụ của bà Minh Lâm là em trai của thân mẫu bà Như Hường.) Cảm thông trước mối tình mãnh liệt của em gái, bà Như Hường đã có quyết định trên, mặc dù bà gặp nhiều phản đối trong gia đình. Điều đáng nói thêm, hai chị em rất hòa thuận.

Nhạc sĩ Y Vân ăn ở với người bạn đời thứ hai của ông, có thêm 4 người con. Cũng gồm có 1 trai và 3 gái. Nói cách khác, cố nhạc sĩ Y Vân có tất cả 8 người con, gồm 2 trai 6 gái.

Bà Như Hường còn xác nhận, bản chất cố nhạc sĩ Y Vân rất đứng đắn. Bà nêu thí dụ chuyện cô Huyền yêu nhạc sĩ Y Vân, từng được đề cập trên báo Thanh Niên, cột mục “Nghệ thuật yêu,” sau đấy phổ biến trên Internet, là một trong những “thêu dệt” do người viết vì quá yêu mến (?) nhạc sĩ Y Vân, nên đã gán ghép cho ông !.

Để kết luận, tôi nghĩ, tuy thiếu thời, nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu không được thong thả như những người bạn cùng trang lứa với ông – Nhưng bù lại, với lòng hiếu đễ, bản chất nghiêm túc và, tài năng thiên phú, tác giả “Lòng mẹ,” xứng đáng nhận được tình yêu thương, sự hy sinh cao cả mà, người bạn đời thứ nhất, bà Như Hường, đã dành cho ông.

Du Tử Lê (Calif. Oct. 2012.)

Chú thích:

(2), (3), (4), (5): Nguồn đd.

(6), (7): Nguyễn Việt, bđd.(8): Nguồn đd.

(9): Cá nhân tôi, trong hầu hết các bài viết của mình, những ngày gần đây, cũng nằm trong số người này. Vì không thể kiểm chứng tin tức được phổ biến trên on-line / không-gian-ảo, nên tôi luôn ghi chú rõ tư liệu được trích dẫn từ đâu, cũng như danh tánh trang chủ (web-site) tức nguồn của những bài vở ấy.

Nguyễn Toàn và  Trần Văn Tư post

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC