NGƯỜI BẠN ĐÊM GIAO THỪA

NGƯỜI BẠN

ĐÊM GIAO THỪA

– Tâm Không Vĩnh Hữu

Mọi lần, khi vợ chồng tôi cãi vã nhau chẳng đi đến đâu, tôi đều giận lẫy bỏ đi khỏi nhà, khi thì bồng con theo khi thì chỉ đi một mình tay không. Và, anh ấy sẽ chạy theo, đến một chỗ vắng vẻ nào đó mới níu kéo, năn nỉ, xuống nước xin lỗi. Anh ấy luôn luôn là người nhường nhịn, làm hòa trước. Vậy mà lần này, sau cuộc kình cãi kịch liệt, lời qua tiếng lại có phần động chạm tự ái của nhau, tôi giận muốn khùng lên, bỏ đi khỏi căn nhà đang ấm cúng. Tôi bỏ đi khỏi nhà lần này nhằm vào lúc chẳng còn bao lâu nữa là bước sang năm mới, vậy mới là… giận. Vừa đi, tôi vừa nhìn chừng lại phía sau, hy vọng anh ấy sẽ đuổi theo. Nhưng không, không hề thấy anh ấy.

Tôi tức giận thêm, khóc tấm tức. Đến một ngã sáu, lèo tèo một vài người thơ thẩn, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe rú ga vù đi qua phố thênh thang, tôi đứng lại bần thần, rồi nhìn đồng hồ : 10 giờ 30 phút. Anh ấy đã không tìm tôi, không màng kêu gào tôi về để cùng đón giao thừa với nhau. Bé Mi Mi của tôi chắc vẫn còn đang ngủ say. Còn anh ấy đang làm gì ở nhà ? Khui mấy chai rượu Tết uống trước giải sầu ư ?

Tôi băng qua đường, tiến về phía bùng binh trước một siêu thị lớn đã đóng cửa. Nơi ấy, đang có một cô gái ngồi ủ rũ một mình. Tôi đang muốn có bạn trong lúc đang rối trí, buồn phiền, để mình trút bỏ tâm sự cho nhẹ nhàng, biết đâu đầu óc sẽ sáng suốt, lòng thanh thản. Lỗi của tôi, hay của anh ấy, hay lỗi của cả hai, cần phải có một người ngoại cuộc phán xét.

Cô gái ngước mắt nhìn tôi. Một cô gái mặt hoa da phấn nhợt nhạt, mắt đượm ưu buồn, tóc tai rũ rượi. Tôi ngồi xuống cạnh cô gái thật khẽ khàng. Ném mắt nhìn tôi dò xét, cô gái hỏi với giọng lạnh lùng cộc lốc :

– Muốn gì ?

– Ngồi chơi. Buồn quá.

– Không có nhà, không có gia đình để về đón giao thừa à ?

– Có chứ. Nhưng mới gây với ông xã, nên bỏ đi cho khuây khỏa…

– Một đi không trở lại ?

– Trở lại chứ !

– Trở lại thì đừng nên bỏ đi. Mất công.

Tôi chưng hửng. Cô gái làm tôi kinh ngạc, tôi có cảm tình ngay. Nhìn ngắm cô gái từ mấy lọn tóc đến những móng chân, tôi nhỏ nhẹ :

– Chị sao ngồi đây ? Sao chưa chịu về nhà ?

– Không nhà cửa. Không chồng con. Không bà con dòng họ. Quê nhà thì ở xa quá, tận vùng cao heo hút. Vậy thì về đâu ?

– Vậy à ? Xin lỗi… chị làm gì, ở đâu ?

– Nói thẳng ra là làm đĩ !

Tôi đoán không sai. Nhưng cách trả lời của cô gái sống sượng quá, phũ phàng quá, làm cho tôi lạnh mình, và cũng chạnh lòng. Tôi ngần ngại hỏi :

– Không còn chỗ nào để về ăn Tết thật sao ?

– Chỗ nào ? Chỉ có nhà trọ, nhà chứa, quanh năm chui nhủi bám víu vào những chỗ ấy mà sống qua ngày. Nhưng bây giờ, tiền hết thì nhà trọ đuổi, nợ nần chưa trả xong, lại thêm tàn tạ héo úa, thì nhà chứa cũng chẳng chịu chứa nữa !

– Sao người ta tệ bạc vậy ? Vắt chanh bỏ vỏ à ?

– Người ta ưu ái cho mấy đứa trẻ măng, mấy đứa tuổi mười tám đôi mươi thậm chí có đứa mới đôi tám. Mình địch không lại tụi nó đâu. Tụi nhỏ bây giờ đông lắm, ở khắp các vùng quê nghèo đổ về phồn hoa đô hội để tiến thân bằng cách… hiến thân !

Tiến thân bằng cách hiến thân. Những từ ngữ ấy thật lạ lẫm đối với tôi, lần đầu tiên tôi nghe được, lại được thốt lên từ một giọng mỉa mai chua chát của cô gái giang hồ, khiến cho tôi thoáng rùng mình kinh sợ, lại thấy tim mình nhoi nhói vì một nỗi xót thương cho phận gái truân chuyên giữa dòng đời bát nháo… Tôi bàng hoàng, xót xa. Cái đau đớn, tủi nhục, cùng cực của cô gái đã dập tắt những nỗi buồn nhẹ tênh, tự ái vặt vãnh trong tôi, dập tắt thật nhanh. Tôi quên đi chuyện mình vừa mới xích mích với chồng, chỉ còn biết trước mặt tôi là thân phận bèo dạt hoa trôi vô định, mang theo một ước ao bé nhỏ, nhưng không hề với tới được. Tôi sờ ngực áo, rút ra mấy tờ giấy bạc polymer còn nằm nguyên từ chiều, trao hết qua tay cô gái. Cô gái không chút vui mừng, không vồn vã cũng không tỏ vẻ bất cần, thản nhiên nhận mấy tờ bạc, chẳng thèm đếm thử xem được bao nhiêu tiền, trên ba trăm nghìn đồng chứ đâu có ít, hỏi:

– Còn chị thì sao đây ?

Tôi kể sơ qua chuyện mình. Cô gái cười sằng sặc nói :

– Chị rõ khùng. Chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt, vớ vẩn, mà dám bỏ đi khỏi tổ ấm gia đình của mình đang đầy ắp hạnh phúc. Chị hãy biết quý trọng những gì đang có được, chứ đừng làm hao hụt, uổng !

Tôi rùng mình, tỉnh ngộ. Cô gái cười mếu máo, nói tiếp :

– Tôi cả đời cứ ước mơ có được tấm chồng, một mái ấm nghèo nát cũng được, rồi có đứa con. Vợ chồng có nhau trong đói khổ cũng vui. Hạnh phúc nhỏ nhoi, ước mơ nhỏ bé quá, mà sao cứ ở mãi trong chiêm bao mộng mị, không bao giờ nắm bắt được…

Tôi đứng dậy. Tôi phải về ngay. Cô gái vẫn tiếp tục :

– Ngay từ giây phút này đây, tôi chỉ mong ước có một điều…

Tôi khựng lại, hỏi :

– Điều gì ?

Cười chua chát, cô gái thều thào :

– Ước gì trong giờ giao thừa, có một chàng ngớ ngẩn nào đó, xấu xí cũng được, đần độn cũng được, nghèo rách cũng được, nhưng miễn là thương tôi, thích tôi, chịu dìu tôi về nhà, hai đứa sẽ cùng đón giao thừa, ăn ngủ với nhau, qua ba ngày Tết thật vui vẻ, rồi chia tay nhau cũng được, mà sống luôn với nhau thì càng tốt, quá hạnh phúc cho tôi. Nhưng điều này… lại là chiêm bao!

Tôi cảm thấy như vừa bị ai đó xát muối vào ruột gan mình. Nhắm mắt lại cho nước mắt rơi ra, rồi bước thật nhanh rời khỏi nơi cô gái ngồi, tôi băng băng về nhà mình… Anh ấy đã bồng bé Mi Mi đi đâu rồi. Chắc là anh ấy đang đi tìm tôi, tìm ở hướng ngược lại. Sao không chịu đi ra phố ngã sáu nhỉ ? Tôi tất tả băng đi trên đường vắng ngắt, mắt dáo dác ngó xa ngó gần, tìm hình bóng thân quen của chồng con. Không thấy đâu. Đã sắp đến giờ đón giao thừa rồi. Tôi bắt đầu bước như chạy ngược trở lại phố ngã sáu có bùng binh vòng xuyến. Phố im ắng. Bùng binh trơ trọi. Cô gái đã đi rồi. Tôi ngơ ngác giữa phố khuya vào đêm cuối năm, bắt đầu tự chửi rủa mình. Chợt, từ xa một chiếc xích lô đang chở khách phóng lại. Xích lô thắng kít một bên tôi. Tôi trố mắt nhìn lên, nhận ra người ngồi trên xe là… cô gái khi nãy. Cô gái vui vẻ ra mặt, giọng cất lên cũng đầy sinh khí hỏi :

– Sao chưa chịu về nhà mà còn đứng sớ rớ ở đây nữa hả “bà” ?

Tôi ngạc nhiên nhìn cô gái, rồi nhìn anh xích lô nói :

– Về rồi, nhưng anh ấy bồng con đi đâu mất tiêu…

– Đi tìm chị chứ đi đâu. Mới thấy một ông bồng con đi lên đi xuống hớt hơ hớt hải ở dưới dốc kia kìa, chắc là anh ấy rồi. Về lẹ đi. Lẹ đi !

Tôi mừng quá, định bước đi, nhưng chợt nhớ lại hỏi :

– Chị bây giờ định đi đâu ?

– Đi về nhà ảnh, đón giao thừa với ảnh !

Tôi nhìn anh xích lô bằng ánh mắt nghi ngại, nói tỉnh :

– Coi chừng vợ người ta đánh ghen thì… mất ăn Tết đó !

Anh xích lô cười ha hả vang rền cả trời khuya vắng, nói giọng oang oang :

– Đừng lo. Tôi độc thân, chưa có vợ con gì, cũng chẳng có nhà cửa, cũng là dân bụi sống rày đây mai đó thôi !

– Vậy bây giờ anh chở chị ấy đi đâu ?

– Về vỉa hè, về tổ ấm tạm bợ của tôi. Đón giao thừa hai đứa, ăn Tết một cặp một đôi, thì chắc là vui hơn một mình sô-lô rồi !

Cô gái cười hồn nhiên, nheo mắt với tôi, nói rổn rảng :

– Ước gì được nấy rồi, còn gì sướng bằng ? Thôi, đi nghen, chị về lẹ đi! Của báu ở ngay trong nhà mà không biết giữ!

Tôi ngẩn người ra đứng đó. “Của báu trong nhà”.. Tôi chợt nhớ đến câu kệ “Gia trung hữu bảo hưu tầm mích; Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (của báu trong nhà thôi tìm kiếm, đối cảnh vô tâm hỏi chi thiền), mà đầu óc sáng bừng lên. Chiếc xích lô lăn bánh đi, chở theo một người bạn mới quen của tôi chạy về một nơi chốn nào đó thật mơ hồ. Nhưng có điều không mơ hồ chút nào, thấy rất rõ, là niềm hân hoan hớn hở đang tràn đầy và sáng rực trên nét mặt của cô gái giang hồ, và cả anh chàng đạp xích lô đen đủi xấu xí. Tôi đứng dõi mắt trông theo, thầm cầu chúc cho họ tận hưởng được không chỉ là giờ phút, hay ngày tháng, mà là những năm thật sự hạnh phúc, cho dù là hạnh phúc đơn sơ nhỏ bé.

Chiếc xích lô khuất hẳn sau khúc quanh. Tôi trở về với chính mình. Và, tôi đi như chạy bằng đôi chân hỏng đất về hướng con dốc chạy xuống chợ. Chưa bao giờ tôi thèm khát nhào đến ôm chầm lấy chồng và con mình như trong giây phút này…

(Theo Tâm Không Vĩnh Hữu)

TẾT ! TẾT ! TẾT ĐẾN…

NĂM MÃO KHÁO CHUYỆN

MÈO THEO KINH THÁNH

– Hoàng Đức Trinh

Mão là năm thứ tư trong chu kỳ tính âm lịch theo mười hai địa chi. Việt Nam ta các cụ xưa đã đặt con Mèo làm con vật biểu tượng. Ở các nước khác họ lại cho con thỏ là vật cầm tinh năm Mão, có lẽ Việt Nam là nước nông nghiệp, đại đa số dân chúng sống trên đồng bằng, mèo là con vật hữu dụng, phổ quát hơn. Con thỏ hiếm thấy, nên cha ông ta xưa đã chọn con mèo làm con vật cho chi Mão.

Năm Mão lại đến, chúng tôi lại có dịp mở Kinh Thánh để tìm xem con mèo có được các sách Kinh Thánh nhắc đến không ?

Gốc gác con Mèo

Trong chuyện cổ nước ta có nhiều chuyện nói đến lai lịch con Mèo. Nhưng chúng tôi muốn nhắc đến con mèo của Bà E-Và. Ai cũng biết Kinh Thánh ghi rằng Bà E-Và là Mẹ chúng sinh, nên nếu có con mèo của bà E-Và, ắt hẳn nó phải là con mèo đầu tiên được người nuôi trên trái đất.

Chúng tôi nhớ mãi hồi còn nhỏ, chúng tôi đã đọc được chuyện con mèo của bà E-Và trong một tờ báo với trí tưởng tượng như sau :

Khi bà E-Và thấy ông A-đam có con hổ làm hầu cận, bà E-Và rất thích con hổ, nhưng nó quá uy dũng lại to lớn, bà không thể ôm ấp cưng chiều nó. Vì thế bà nũng nịu vòi ông A-đam xin Chúa cho bà một con vật hoàn toàn giống như con hổ, nhưng nhỏ nhắn, mềm mại hơn để bà có bạn. Chúa truyền cho A-đam lấy đất và bông gòn làm thành con vật như ý E-Và, rồi đem trình trước Chúa. Chúa thổi hơi ban sự sống cho nó. Khi A-đam trao con vật cho E-Và, con vật vui vẻ kêu lên những tiếng “meo meo”, dụi đầu vào người E-Và, bà liền gọi nó là con Mèo.

Từ đó bà E-Và luôn đem theo con mèo bên mình. Những buổi trưa nóng bức, bà thường tìm đến ngồi mát dưới bóng râm của cây Cấm. Bà đang thiu thiu ngủ… bỗng bà nghe tiếng kêu chế diễu “eo…eo” và tiếng phun phì phì của con mèo. Bà nhìn lên thì thấy có con rắn to tướng quấn trên cành cây cấm… Con mèo không theo bà đến gốc cây cấm nữa. Bà E-Và dùng sợi dây thắt một cái nơ thật đẹp trên cổ mèo, sợi dây không cho mèo xa bà, nên mèo phải miễn cưỡng theo bà ra gốc cây cấm. Cho đến một hôm con mèo thấy bà hái trái cấm, nó liền khép chặt con ngươi trong đôi mắt lại, không dám nhìn bà.

Vì thế giống mèo cứ đến trưa thì tròng đen của mắt chúng khép chặt lại, và dáng bộ con mèo ủ rũ buồn chán, như nhớ lại giờ tội lỗi nhập vào thế gian. Cũng từ đó hễ con mèo gặp rắn là lại phun phì phì như phỉ nhổ vào biểu tượng của quân cám dỗ.

Kinh Thánh có nói đến Mèo không ?

Chả mấy người nghĩ rằng trong Kinh Thánh có nhắc đến con mèo, Vì khi nghe Sách Thánh, trong suốt 3 năm trong chu kỳ Phụng vụ, không nghe đến con mèo bao giờ. Các ông bà Dòng Ba Đaminh, hằng ngày nguyện các giờ Kinh Phụng vụ, cũng chẳng đọc được chữ mèo khi nào. Quý vị đã thấy chúng tôi trích từ Kinh Thánh những câu nói đến con chuột của năm Tỳ. Con trâu của năm Sửu, Con hùm của năm Dần. Còn trong năm Mão, không biết Thánh Kinh có nói đến con Mèo không ?

Câu hỏi làm kẻ viết bài này phải gia công tìm kiếm mãi cho ra câu trả lời. Chắc chắn Kinh Thánh cũng có nhắc đến con mèo. Nếu không, chúng tôi đã không dám nêu chủ đề “12 con giáp trong Kinh Thánh”. Chỉ không rõ là KinhThánh nói đến mèo nhiều hay ít. Tổ tiên ta xưa đã đặt con trâu là biểu tượng cho năm Sửu, con mèo là biểu tương cho năm Mão, chứ không theo Tầu đặt con bò, con thỏ cho hai năm đó (chứng tỏ Việt Nam chúng ta không lệ thuộc Tầu). Con Mèo là con vật cầm tinh cho năm Mão, nên Tết này chúng tôi phải nói chuyện về con mèo trong Kinh Thánh thì mới hợp với ý của tiền nhân xưa, đã coi người sinh năm Mão được gọi là người tuổi con Mèo.

Vì thế năm Mão này, mời quý vị theo dõi chuyện Mèo, chúng tôi trích từ Kinh Thánh. Mặc dầu trong Kinh Thánh hiếm có sách nói đến con mèo.

Mèo trong sách Tiên tri I-sai-a

Ngôn sứ I-sai-a được coi là anh hùng của đất nước Do Thái (Ít-ra-en) vì sự tham gia tích cực của ông vào những vấn đề của quốc gia. Ông còn là một thi sĩ có biệt tài, chiều hướng tôn giáo vẫn nổi bật nơi ông. Ông luôn tin tưởng Thiên Chúa là Đấng chí thánh, Đấng Uy dũng, Đấng đầy quyền năng, Đấng cai trị muôn loài trên trời, dưới đất. Con người là một thực thể bị tội lỗi làm nhơ uế, và Thiên Chúa đòi hỏi họ phải sám hối đền tội, để được tình yêu của Thiên Chúa che chở.

Khi Ít-ra-en bị lưu đầy bên Ba-by-lon, I-sai-a đã tuyên sấm rằng Ba-by-lon sẽ trở thành đổ nát và ra hoang phế, biến ra nơi cho thú hoang, chim trời trú ngụ :

– “Cho đến ngàn thu, nó sẽ không có người ở, không có một lều trú cho đến đời đời. Ở đó mèo hoang làm ổ và cú vọ ở đầy. Ổ đó đà điểu sẽ lưu trú, và dê rừng tha hồ quẩng dỡn. (Is 13, 20-21)

Không những Ba-by-lon, mà còn Ê-đom cũng bị nguyền rủa. Nhắc việc xưa, dân Ít-ra-en trên đường về Đất Hứa, gần đến Ê-đom đã cho sứ giả đến đề nghị Ê-đom cho mượn đường đi ngang qua, nhưng nhà cầm quyền Ê-đom không cho quá cảnh mà còn đe dọa sẽ cho binh đội kéo ra đón đánh nếu xâm phạm lãnh thổ họ. Ít-ra-en phải rẽ qua hướng khác.

Ê-đom ở sát biên giới Giu-đê-a về phía nam, luôn thù nghịch với Ít-ra-en, lúc Ít-ra-en mất quyền kiểm soát Giu-đê-a, Ê-đom lợi dụng cơ hội đã lấn đất của Giu-đê-a. Vì thế ngôn sứ I-sai-a đã tuyên sấm cho Ê-đom sẽ ra hoang phế, trở thành nơi trú ẩn của muông thú, chim chóc hoang dã:

– “Lâu đài của nó mọc gai tua tủa, đồn canh phòng thì cây dại tầm na, mắc cở mọc um tùm. Nó biến thành hang ổ của thú hoang, sân chim đà điểu. Ở đó mèo hoang sống với chó rừng, dê núi tìm nhau kéo đến ở.” ( Is 34, 14).

Như vậy, dưới cái nhìn của ngôn sứ I-sai-a, mèo hoang dã, bị liệt vào loại thú vật dơ bẩn, dữ dằn gớm tởm đối với con người.

Ngôn sứ Ba-rúc cũng nói đến mèo

Ba-rúc là thư ký của ngôn sứ Giê-ri-mi-a, sách Ba-rúc được viết tại Ba-by-lon sau cuôc phát lưu và được gửi về Giê-ru-sa-lem để người còn ở lại đọc trong các buổi nhóm hội phụng vụ. Sách được viết khoảng giữa thế kỷ thứ nhất trước công nguyên. Trong phần thư của ngôn sứ Giê-ri-mi-a được Ba-rúc trích lại, là một bình luận minh giáo, chống lại việc thờ ngẫu tượng.

Sách của ngôn sứ Ba-rúc thuyết phục dân Chúa không phải sợ các thần dân ngoại tại nơi bị lưu đày : Rồi đây tại Ba-by-lon, anh em sẽ thấy những tượng thần bằng vàng bạc hay bằng đá. Vì các thần ấy đều do tay con người làm ra. Tay thần cầm gươm cầm rìu nhưng không tự bảo vệ được mình. Người ta thắp cho thần nhiều đèn nến nhưng dù một đốm lửa thần cũng chẳng nhìn thấy… Còn nhiều những lý do ngôn sứ đưa ra chứng minh rằng những thần ấy không phải là linh thiêng, cho nên dân Chúa không phải sợ hãi mà tôn kính các thần ấy, như dân ngoại tôn kính.

Những thần ấy được đặt trong đền miếu, nhưng đúng là bị người ta nhốt như giam giữ kẻ phạm pháp, mặc cho chim chuột tung hoành, tranh nhau đồ cúng rơi rớt chung quanh, mà thần cũng không làm gì được : “Mặt thần đã bị khói từ đèn nến hun đen thui, trên thân mình chúng cũng như trên đầu chúng, người ta thấy bay lượn nào dơi, nào nhạn và các thứ chim khác, lại có cả mèo nữa. Cứ thế anh em đủ biết chúng không phải là thần : sợ chúng mà làm chi !”

Có lẽ mèo xuất hiện tại đền miếu là để tìm săn chim chuột… những con vật lợi dụng lúc vắng người, bò ra kiếm ăn. Vì thế bàn thờ thần biến thành nơi cho các con vật dơ bẩn tìm đến tranh giành đồ ăn thức uống, từ những đồ cúng rơi rớt

Con mèo của Thánh Gia

Việt Nam ta là nước nông nghiệp, trước kia nhà nào cũng có nuôi ít là một con mèo để diệt chuột, giúp bảo vệ lương thực, mùa màng. Tuy nhiên, người Việt Nam không quý mèo như người Ai-cập. Tại Ai-cập các nhà khảo cổ đã khám phá ra nhiều bãi tha ma chôn hàng chục ngàn con mèo, với những ngôi mộ kiên cố, thật đẹp chứa xác ướp của mèo. Người Ai-cập coi mèo như là thần linh ban phúc, nếu không thì là phù thủy giáng họa, đàng nào cũng phải kính sợ mèo. Cho nên không những khi mèo chết người ta đã ướp xác lập mộ, mà khi mèo còn sống người Ai-cập rất cưng chiều cung phụng. Chính vì thế mà có chuyện “con mèo của Thánh Gia”.

“Khi Thánh Thiên thần báo tin cho Đức Mẹ rằng : Vua Erore đi tìm Đức Chúa Giêsu mà giết, thì Đức Mẹ đem Con sang nước Ichitô, mà Người thương Con còn non nớt mới sinh, và lo buồn đau đớn như phải dao sắc thâu qua lòng vậy”. (Tây-ban-nha gọi Ai-cập là “iexiptô” nên các cố Yphanho chuyển âm qua tiếng Việt là Ichitô). Không những Đức Mẹ phải trốn đi vượt biên ban đêm, mà còn bị người Ai-cập xua đuổi không cho trú nhờ. Cho đến khi Thánh Giuse đeo theo gói hành trang đi gõ cửa thêm một căn nhà nhỏ, để năn nỉ lần nữa. Chủ nhà hé cửa thò đẩu ra hỏi, anh ta thấy trong gói hành trang của Thánh Giuse có con mèo nhô đầu lên, anh chủ nhà vội vàng mở rộng cánh cửa, niềm nở tiếp đón Thánh Gia vào nhà. Khác với Việt Nam “mèo đến nhà thì khó” người Ai-cập được mèo đến nhà là một hạnh phúc như thần linh tới phù hộ. Từ đó chị chủ nhà cung phụng phục vụ Hài nhi Giêsu trước cả con nhỏ của mình. Truyền thuyết kể rằng, mỗi chiều chị đều sắp nước cho Hài nhi tắm xong, rồi chị dùng lại nước đó tắm cho con chị, con chị khỏi hết ghẻ lở và các bệnh khác. Người ta còn nói, người trộm lành cùng chịu án đóng đinh với Chúa Giêsu, chính là đứa trẻ được mẹ dùng lại nước tắm của Hài nhi thánh khi trước.

Con mèo của Thánh Gia đã đem hên đến cho gia đình người đón tiếp các ngài.

Hơi hướm Thánh Kinh

Con mèo của bà E-Và, con mèo của Thánh Gia dĩ nhiên không có trong Sách Thánh, cùng lắm thì hai con mèo ấy cũng chỉ có hơi hướm một chút Kinh Thánh, nhưng vì trong Kinh Thánh Công giáo chỉ có hai sách nhắc đến mèo. (Chúng tôi nói Kinh Thánh Công giáo, vì bên anh em Tin Lành không có sách của Tiên tri Barúc) nên chúng tôi mới có dịp theo truyền thuyết nhắc lại cho thêm vui câu chuyện Tết con mèo

(theo Hoàng Đức Trinh)

Yên Huỳnh post

Nữ Quái kiệt KIM NGỌC

NỬ NGHỆ SĨ HÀI KIM NGỌC

ĐỘT NGỘT QUA ĐỜI

Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc, nguyên là đào hài đào lẵng trên các sân khấu đoàn Thủ Đô, Dạ Lý Hương trước 1975, sau này trở thành một cây hài có tiếng của sân khấu Sài Gòn, và là mẹ của nghệ sĩ hài Hiếu Hiền.

Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc sinh năm 1943 trong một gia đình bán thịt heo tại Giồng Ông Tố, huyện Thủ Đức (nay là Q.2). Thuở nhỏ, bà rất vất vả để phụ mẹ chăm sóc 14 người em.  Nhưng với giọng hát trời phú cho, bà được hàng xóm phát hiện và tiếng lành đồn xa, Kim Ngọc được ông bầu Ba Bản tuyển vào đoàn Thủ Đô. Từ đó, Kim Ngọc theo nghiệp cải lương qua nhiều đoàn hát khác nhau và dần trở nên nổi tiếng, nhất là vai diễn Chu Chỉ Nhược trong tuồng Cô gái Đồ Long. Kim Ngọc được ký giả kịch trường khi ấy phong là “nữ quái kiệt Kim Ngọc”.

Sau này khi cải lương xuống dốc, Kim Ngọc chuyển qua tấu hài cùng con trai là nghệ sĩ Hiếu Hiền. Hai mẹ con lập nhóm hài Mẹ và con chuyên đi diễn ở khắp các sân khấu, tụ điểm, lưu diễn tỉnh và rất được khán giả yêu mến.

Dù cuộc đời bà có nhiều nỗi buồn, nhiều truân chuyên nhưng trên sân khấu (từng chung sống với nam nghệ sĩ Hoàng Long vào đầu thập niên 70 thế kỷ trước), khán giả luôn thấy một Kim Ngọc hóm hỉnh, dí dỏm, hết lòng với nghệ thuật và luôn đem lại tiếng cười cho mọi người. Ngoài sân khấu, nữ nghệ sĩ Kim Ngọc được nhiều người yêu quý vì tính tình thẳng thắn, không để bụng và luôn vui vẻ, hoạt bát, sôi nổi.

Sự ra đi của nữ nghệ sĩ Kim Ngọc là một mất mát rất lớn cho sân khấu cải lương và tấu hài.

Tin cho biết, nữ nghệ sĩ Kim Ngọc từ trần tại BV Long Thành vào lúc 11g30 ngày 16/01/2011, do tai biến mạch máu não, hưởng thọ 67 tuổi. Đám tang của nghệ sĩ Kim Ngọc được tổ chức tại tư gia, C9/4B10 Phạm Hùng, phường Bình Hưng, huyện Bình Chánh. Lễ động quan lúc 6 giờ ngày 21/1/2011, được an táng tại chùa Linh Sơn, Q.9.

Trước tin buồn này. Chúng tôi xin thành thật chia buồn cùng gia đình nghệ sĩ Kim Ngọc !

Nguyễn Việt (theo tin TN –TT)

Nữ nghệ sĩ hài Kim Ngọc,

người nổi danh Nữ quái !

– Soạn giả Nguyễn Phương

Trong tình hình sân khấu cải lương ngày một mất dần khán giả, ngành biểu diễn hài kịch, tấu hài trong các khu trung tâm giải trí được mùa phát triển. Từ một vài nhóm tấu hài ban đầu, ngày nay có hơn bốn chục nhóm chuyên môn tấu hài, hát quậy để chọc cười khán giả. Các nghệ sĩ cải lương không kiếm sống được bằng nghề hát cải lương đành bước sang ngành kịch nói, nhất là ngành tấu hài.

Không ít nghệ sĩ cải lương đã thành công quá sức tưởng tượng khi bước sang lãnh vực tấu hài. Trong số những diễn viên cải lương đổi nghề mà thành công rực rở đó có nữ nghệ sĩ Kim Ngọc, người mà ngày xưa trên sân khấu Dạ Lý Hương, Kim Ngọc nổi danh Chu Chỉ Nhược trong tuồng Cô Gái Đồ Long, Kim Ngọc là một cô đào hát tài sắc, ngày nay Kim Ngọc nổi danh nữ quái  Kim Ngọc trong làng tấu hài.

Thuở nhỏ cơ hàn

Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc sanh năm 1946 tại chợ Giồng Ông Tố huyện Thủ Đức, con thứ hai trong gia đình có tới 14 anh chị em. Theo lời tự thuật của Kim Ngọc thì gia đình của Ba má cô rất nghèo vì nhà đông con. Má của Kim Ngọc bán thịt heo ở chợ Giồng Ông Tố, bà cứ sanh con năm một và có năm bà lại sanh đôi. Ba của Kim Ngọc đặt tên các con như sau : « Hoàng, Ngọc, Ẩn, Non, Côn, Vàng, Cầm, Nơi, Hoa, Lệ, Thủy Triều, Phượng, Nở» ý nói nôm na là  «Hòn ngọc ẩn ở núi Côn không sánh bằng nước mắt của người tình trong mùa phượng nở».

Năm 1970, Ba của Kim Ngọc mất vì bịnh xuất huyết bao tử khi cô đang tập tuồng hát tại rạp Quốc Thanh. Chuyện đặt tên có vần có ý nghĩa của cha cô Kim Ngọc như là một lời tiên tri, ứng vào cuộc đời của Kim Ngọc. Kim Ngọc là vàng ngọc nhưng lại không bằng giọt nước mắt người tình mùa Phượng nở nên Kim Ngọc chịu nghèo khổ khá lâu mới được rạng rở như ngày hôm nay khi cô nín đau trong lòng để chọc cười khán giả.

Những năm 14, 15 tuổi, Kim Ngọc còn ở nhà giúp mẹ, khi thì đi chợ Giồng Ông Tố phụ bán thịt heo, khi thì phải thay mẹ ở nhà chăm sóc đàn em dại, giặt giũ áo quần cho chúng. Kế bên nhà của Kim Ngọc, ông Ba Xậy có máy hát dĩa quay bằng tay, thường hát các dĩa vọng cổ của Út Trà Ôn ca Tổn Tẩn Giả Điên, Thái Sư Văn Trọng giáng thập điều, Tình anh bán chiếu… Kim Ngọc nghe riết rồi học ca theo, thuộc lòng các bản vọng cổ của thần tượng Út Trà Ôn.

Khi ngồi giặt áo quần cho các em, Kim Ngọc ca nghêu ngao những bài vọng cổ học lóm đó, anh Minh Thành, thợ hớt tóc trong xóm, xưa kia là nhạc sĩ cổ nhạc, nghe Kim Ngọc có hơi ca tốt mà không rành nhịp điệu và bài bản nên anh gọi Kim Ngọc đến mỗi ngày cho anh dạy Kim Ngọc ca ba nam, sáu bắc và vọng cổ. Khi Kim Ngọc ca rành rẽ các bài bản cổ nhạc, cô được thầy Minh Thành và cha của cô dẩn đi ca tài tử trong các cuộc tiệc vui trong xóm.

Ông bầu Ba Bản thành lập đoàn Thủ Đô, nghe đồn giọng ca của Kim Ngọc, ông đã đến nhà xin cha mẹ Kim Ngọc cho cô theo đoàn ông để học hát và ông trao cho má Kim Ngọc một ngàn năm trăm đồng để bà mướn người làm công việc nhà thay cho Kim Ngọc để Kim Ngọc đi học hát. Nhưng gánh hát Thủ Đô của ông bầu Ban Bản mới thành lập, tập trung nhiều đào kép thượng thặng nên Kim Ngọc chỉ được cho ngâm thơ hậu trường hay ca vọng cổ ngoài màn chớ chưa có vai nào trong tuồng hát của đoàn.

Năm sau, Kim Ngọc về đoàn hát Trùng Dương, rồi theo đoàn Tuấn Kiệt hát chung với Phương Quang, Phượng Liên.

Nổi tiếng trên sân khấu

Năm 1962, Kim Ngọc được báo chí kịch trường khen là cô đào trẻ đang lên nên ông bầu Minh Bằng (gia đình của nữ diễn viên Diệp Tuyết Anh) đến mời cô hát chánh trong gánh hát của ông. Vở tuồng đầu tiên Kim Ngọc hát là vở Trăng Lên Đỉnh Núi, hát cặp với kép chánh Trọng Sỹ. Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc nhận được contrat 10.000 đồng khi đi hát với gánh hát của bầu Minh Bằng. Cô đưa hết số tiền đó để giúp cha mẹ cô trong việc nuôi đàn em đông đúc của cô ăn học và được no ấm.

Năm 1964, Kim Ngọc được ông bầu Thu An ký hợp đồng vế tập tuồng, chuẩn bị khai trương gánh hát Hương Mùa Thu nhưng chưa đầy một tháng sau, ông Bầu Xuân đoàn Dạ Lý Hương ký một số tiền contrat cao gấp đôi số tiền của đoàn Hương Mùa thu để Kim Ngọc về hát cho đoàn Dạ Lý Hương.

Kim Ngọc sáng chói trong tuồng Cô Gái Đồ Long của Hà Triều Hoa Phượng, nghệ sĩ Tấn Tài trong vai Vô Kỵ, Ngọc Giàu trong vai Triệu Minh, Kim Ngọc trong vai Chu Chỉ Nhược, ba giọng ca vàng nầy đã làm cho bảng hiệu Dạ Lý Hương rực sáng, làm cho các đoàn hát thượng thặng như Thanh Minh Thanh Nga, Kim Chung, Thủ Đô phải mệt nhoài để đối phó.

Lúc đó Kim Ngọc quá đẹp, với vòng đo thân mình 80-61-85, nặng 43 ký, nét mặt xinh tươi sắc sảo, giọng ca lanh lãnh, hơi rông, ca giọng cổ điêu luyện. Kim Ngọc sánh chung với vua vọng cổ trên làng dĩa nhựa Tấn Tài và giọng ca nhung lụa của Ngọc Giàu là một dàn đào kép lý tưởng của đoàn Dạ Lý Hương khiến cho các ký giả kịch trường và khán giả ái mộ, gởi thơ đề cử cho Kim Ngọc vào dự thi giành huy chương vảng giải Thanh Tâm năm 1964. Theo lời Ban chấm giải, đáng lý ra Kim Ngọc cũng được huy chương vàng năm 1964, cùng với nữ nghệ sĩ Lệ Thủy như vì giải thường quy định chỉ chọn một nam, một nữ, mà vai nữ thì Lệ Thủy cao ráo hơn, sắc vóc chiếm ưu thế hơn Kim Ngọc nên Kim Ngọc mất dịp may không được giải Thanh Tâm.

Tuy nhiên năm 1973, 1974, nhật báo Trắng Đen tổ chức giải thưởng văn nghệ Kim Khánh thì Kim Ngọc hai năm liền được đọc giả bỏ phiếu tặng thưởng huy chương Kim Khánh của nhật báo Trắng Đen của ông chủ báo Việt Định Phương.

Năm 1972, Kim Ngọc về đoàn hát Bạch Tuyết – Hùng Cường, khi hát tuồng Trăng Thề Vườn Thúy, hề Tùng Lâm té xe gảy tay, Kim Ngọc tình nguyện thế vay Hề Đồng của Tùng Lâm để bảo đảm đêm hát không trở ngại, không ngờ Kim Ngọc hát quá hay, quá có duyên nên cô chuyển qua diễn một số vai hài của đoàn Bạch Tuyết – Hùng Cường.

Chồng cũ di cư qua Pháp

Sau năm 1975. Kim Ngọc cũng như nhiều nghệ sĩ khác, vì đoàn hát tư nhân bị giải tán, trong khi chờ chánh phủ mới lập đoàn hát theo kiểu văn công hay tập thể, Kim Ngọc mỗi khuya ba giờ, cùng với cô con gái tên Kim Ngân xuống chợ Cầu Ông Lãnh, lột võ tôm mướn để kiếm sống qua ngày. Vàng Ngọc (tức Kim Ngọc) và Vàng Bạc tức Kim Ngân, hai mẹ con có tên ngọc ngà trở thành thợ bốc võ tôm để kiếm sống theo cách lao động chân chính.

Sau đó, có đoàn hát, Kim Ngọc trở về với sân khấu, nhưng thời hoàng kim của sân khấu cải lương đã qua rồi, Kim Ngọc sống chật vật với những vai tuồng mới, với đồng lương mới. Hoàng Long, chồng cô đã vượt biển với đứa con trai lớn là Hoàng Phương. Trước đó thì hai vợ chồng đã chia tay nhau vì những vụ ghen hờn. Kim Ngọc nuôi đứa con gái Kim Ngân, chồng Hoàng Long và con Hoàng Phương định cư tại Pháp.

Chuyển qua tấu hài, Kim Ngọc lập tức nổi danh Nữ Quái với vai Tư Xã Láng và diễn viên hài Quốc Hòa trong vai Hai Mưa Nắng trong nhiều chương trình truyền hình Chuyện trong nhà ngoài phố. Cặp diễn viên hài Kim Ngọc – Quốc Hòa diễn chung được nhiều năm, kiếm sống được vì khán giả thích được chọc cười.

Khoảng năm 1980, khi đi hát chung trong một đoàn hát, nhạc sĩ Đức Lang, người đờn chánh cho đoàn hát Thanh Tú – Trang Bích Liểu mà Hồng Nga và Kim Ngọc đang cộng tác bỗng trồng cây si Kim Ngọc. Chỉ hát qua vài bến diễn, nhạc sĩ Đức Lang bèn chân thành ngõ ý cưới Kim Ngọc. Các bạn diễn trong đoàn hát cũng tán thành cặp nghệ sĩ hiền hậu nầy, nên rồi chiều theo ý trời và lòng người, Kim Ngọc bước thêm bước nữa với nhạc sĩ Đức Lang. Kim Ngọc đã được hơn ba mươi năm hạnh phúc với ông chồng Đức Lang nhạc sĩ, một người chỉ biết yêu vợ và chiều lòng vợ.

Hai người có với nhau một đứa con tài ba là nghệ sĩ hài Hiếu Hiền. Hiếu Hiền được Kim Ngọc dạy tấu hài nên Hiếu Hiền và Kim Ngọc trở thành một cặp diễn hài ăn khách nhất hiện nay. Khán giả thích cặp tấu hài So Le với các tiểu phẩm Bà Bầu Liều Mạng, Hoa Hậu Vũ Trụ, Câu Chuyện Cái Ti Vi.

Kim Ngọc lại có một đứa con nuôi tên Kim Đạt, cùng xuất hiện chung trong một chương trình tấu hài. Vừa bước ra sân khấu, khán giả đã cười vì Kim Đạt thì cao như một cây tre miễu, còn Kim Ngọc và Hiếu Hiền thì mập và lùn như hột mít. Nhóm hài Kim Ngọc đã diễn ở các tụ điểm giải trí Saigon, ở các tỉnh Bình Dương, Long Khánh, Vũng Tàu, Bà Rịa, các tỉnh miền Hậu Giang, Đồng Tháp, Cà Mau.

Con gái của Kim Ngọc tên Kim Ngân, kinh doanh một cơ sở sản xuất lưỡi câu rất là phát đạt. Gần đây Kim Ngân mở thêm một cơ sở sản xuất xe đạp hiệu Thanh Bình, đạt chất lượng cao, được ưa chuộng trên thị trường cả nước.

Nữ quái Kim Ngọc vẫn say mê sân khấu, cô vẫn thèm muốn được hát một tuồng chính chắn như các tuồng hát hồi xưa. Nhưng Chu Chỉ Nhược xinh đẹp ngày xưa, giờ đây đã mập tròn và nặng gần tám mươi ký, hết hát đào mùi được thì cô đành đem nụ cười lại cho khán giả, đó cũng là ước vọng của Kim Ngọc khi tuổi đã đến sáu mươi.

Nguyễn Phương

ĐÀO MÙI – ĐÀO LẴNG

“CHU CHỈ NHƯỢC”

KIM NGỌC

(1946-2011)

Cô đào mùi, đào đẹp một thời của sân khấu cải lương xưa và cũng là cây hài mập lùn ngày nay, với biệt danh “nữ quái” Kim Ngọc đã ra đi sau một cơn đột quỵ vào trưa ngày 16/1/2011 tại Long Thành, Đồng Nai, hưởng thọ 67 tuổi.

Ngay trước khi đột quỵ, nghệ sĩ Kim Ngọc đang tham dự một buổi tiệc và hào hứng lên sân khấu ca một bài vọng cổ. Âu cũng là cái nghiệp của con người suốt đời say mê sân khấu, đem giọng ca tiếng cười của mình phục vụ cho khán giả. Nghệ sĩ ra đi sau cơn đột quỵ, nhưng cũng đã kịp để lại câu hát cuối cùng của mình cho mọi người.

Đào hát xinh đẹp

Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc sinh năm 1946 tại Giồng Ông Tố, quận Thủ Đức, trong gia đình nghèo có tới 14 anh chị em. 14, 15 tuổi, nghe hàng xóm mở Út Trà Ôn ca vọng cổ là Kim Ngọc cứ ngân nga ca theo. Đi chợ phụ mẹ bán thịt heo hay ở nhà chăm sóc đàn em nheo nhóc, giặt giũ áo quần vẫn không làm vơi đi tình yêu ca hát của Kim Ngọc.

Ông bầu Ba Bản, chủ đoàn Thủ Đô, nghe đồn giọng ca của Kim Ngọc nổi danh Giồng Ông Tố nên đã đến nhà xin cha mẹ Kim Ngọc cho cô theo đoàn ông để học hát. Ông đưa cho gia đình Kim Ngọc một ngàn năm trăm đồng để bà mướn người làm công việc nhà thay cho Kim Ngọc. Thủ Đô là gánh hát đầu tiên Kim Ngọc tham gia dù ở đây, Kim Ngọc mới chỉ được ngâm thơ hậu trường, ca vọng cổ giữa giờ chứ chưa có vai chính nào trong tuồng hát.

Sau Thủ Đô, Kim Ngọc gia nhập đoàn Dạ Lý Hương, Hương Mùa Thu, Bạch Tuyết – Hùng Cường và sau này tiếp tục với nhà hát Trần Hữu Trang, Thanh Tú – Trang Bích Liễu…

Gương mặt thanh tú, vóc dáng cân đối, giọng ca thánh thót, Kim Ngọc để lại dấu ấn trong lòng người hâm mộ với vai đào đẹp, đào mùi Chu Chỉ Nhược trong Cô gái Đồ Long, Mai Đình trong Hàn Mặc Tử, Kim Liên trong Kiều Nguyệt Nga… Cùng với nghệ sĩ Tấn Tài vai Vô Kỵ, Ngọc Giàu vai Triệu Minh trong Cô gái Đồ Long, bộ ba Kim Ngọc -Tấn Tài – Ngọc Giàu đã làm cho bảng hiệu của đoàn Dạ Lý Hương nổi danh và đắt khách.

Nhận xét về Kim Ngọc với các vai đào chính kịch, soạn giả Nguyễn Phương từng cho biết : “Nếu chỉ cao thêm chút xíu, Kim Ngọc sẽ đoạt giải Thanh Tâm vào năm 1964, năm Lệ Thủy nhận giải”. Năm 1973, 1974, nhật báo Trắng Đen tổ chức giải văn nghệ Kim Khánh, Kim Ngọc hai năm liền nhận huy chương Kim Khánh, giải thưởng vinh dự vì do bạn đọc bỏ phiếu bình chọn.

Cây cười Tư Xả Láng

Sau 1975, cải lương từ từ xuống dốc, đó cũng là thời điểm Kim Ngọc từ một cô đào xinh xắn nặng 40kg trở nên mập tròn với 60kg rồi từ từ lên 80kg… Kim Ngọc vẫn say mê sân khấu, thèm muốn hát như ngày xưa nhưng vì thế đành chuyển qua làm cây hài chuyên chọc cười khán giả.

“Lỡ bước sang ngang” ai dè Kim Ngọc vẫn tiếp tục nổi danh như một “nữ quái” mập lùn với lối giễu cười rổn rảng, phóng khoáng như tính cách của người miền nam. Vai Tư Xả Láng diễn cùng với Quốc Hòa trong Chuyện trong nhà ngoài phố của Kim Ngọc đã trở thành vai diễn để đời khi trong suốt một thời gian dài, người ta gọi Kim Ngọc bằng cái tên Tư Xả Láng.

Sau này, nghệ sĩ Kim Ngọc còn hợp tác với Tấn Beo, Tấn Bo rồi con trai Hiếu Hiền lập nhóm tấu hài, đem cái duyên của mình phục vụ cho khán giả bình dân. Hai năm gần đây, về cộng tác với kịch Nụ Cười Mới, cái duyên hài của nghệ sĩ Kim Ngọc càng trở nên đậm đà hơn bởi có dịp sử dụng lại sở trường đóng bi và thiên về tâm lý.

Cái đáng quý ở nghệ sĩ Kim Ngọc là dù ở trong hoàn cảnh nào, chị vẫn là một nghệ sĩ hết lòng vì công chúng. Còn nhan sắc thì diễn đào đẹp, đào mùi, mập béo thì đi chọc cười, không nề hà vai lớn vai nhỏ, chỉ cần đứng dưới ánh đèn sân khấu, được phục vụ khán giả là niềm hạnh phúc rất lớn.

Bao nhiêu năm qua, cái tên Kim Ngọc bền chặt trong lòng anh chị em nghệ sĩ và trong lòng khán giả cũng vì sự gần gũi, thân thuộc và bình dân, chất phác này.

Những ngày cuối năm, sự ra đi của nghệ sĩ Kim Ngọc tiếp tục là một mát lớn của sân khấu thành phố. Với gia đình của con trai Hiếu Hiền càng mất mát lớn hơn. Đám cưới của Hiếu Hiền chưa được bao lâu, cha anh là nghệ sĩ Đức Lang cũng vừa trải qua cơn bệnh hồi tháng 10… Nghệ sĩ Kim Ngọc không chỉ là một người mẹ của Hiếu Hiền mà còn là người thầy, đồng nghiệp và người bạn thân dẫn dắt, dạy bảo và chia sẻ với Hiếu Hiền từ những ngày đầu mới đi theo nghề nên chắc chắn, mất mát đột ngột này với Hiếu Hiền là quá lớn…

(Theo Phạm Vi)

TRƯỚC LÚC

ĐỘT QUỴ

QUA ĐỜI

Bằng lời kể ngắt quãng, nghẹn ngào, Hiếu Hiền con trai nữ nghệ sĩ Kim Ngọc, kể lại những giây phút cuối cùng của mẹ.

“Hôm qua mẹ tham gia một buổi họp mặt tại Đồng Nai, mẹ nhận lời đỡ đầu cho phong trào ca cổ tại đó mà. Mẹ lên ca hai câu vọng cổ, sau khi mẹ ca xong người ta lại yêu cầu ca thêm nữa, xong rồi mẹ về chỗ thì tự nhiên lịm xuống, lúc đó khoảng 10h sáng.

Mọi người ngay lập tức đưa mẹ vào BVĐK Đồng Nai nhưng bác sĩ nói mẹ bị nhồi máu cơ tim và mất lúc khoảng 11h hơn ngày 16/1”. Hiếu Hiền kể lại những giây phút cuối cùng của mẹ mình trong tiếng nấc nghẹn ngào.

Đến viếng cố nghệ sĩ Kim Ngọc tại nhà riêng có rất nhiều bà con, bạn bè và những người hâm mộ. Mặc dù người nghệ sĩ đã ra đi mãi nhưng trong lòng những người yêu quý “mẹ” Kim Ngọc, những câu ca cổ và những nụ cười mà người nghệ sĩ tài danh mang đến cho họ trong những tiểu phẩm của mình vẫn luôn còn mãi.

Bên cạnh tài năng, người ta yêu quý “má” Kim Ngọc ở chỗ bà là người luôn dành những tình cảm chân thành nhất và luôn dìu dắt những mầm non nghệ thuật. Bởi vậy cho nên, không chỉ khán giả mà các nghệ sĩ cũng dành những tình cảm chân thành nhất cho “mẹ Kim Ngọc, điều đó thể hiện qua một loạt dài những vòng hoa phúng viếng trên tường.

Hiếu Hiền nghẹn ngào nói về mẹ

Cùng với nhau, hai mẹ con Kim Ngọc, Hiếu Hiền đã lập ra nhóm hài Mẹ và con, cùng nhau tung hứng, cùng nhau chọc cười khán giả trong nhiều năm liền. Luôn luôn làm việc cùng nhau, luôn có nhau trong mọi khó khăn cũng như buồn vui, lại là một người con vô cùng có hiếu nên Hiếu Hiền đã cảm thấy thật sự hụt hẫng và đau lòng trước mất mát quá lớn này. Anh nghẹn ngào kể lại:

“Mẹ vẫn còn rất khỏe trong buổi diễn tối hôm trước, hai mẹ con vẫn còn “tung hứng” với nhau bình thường. Tôi không thể nào tin được là mẹ lại ra đi như vậy khi vẫn còn rất sung sức và nhiều dự định trong nghệ thuật. Tối hôm qua tôi vẫn phải đi diễn, một phần vì hợp đồng đã ký và một phần lớn vì tôi sợ mình sẽ ngã quỵ mất. Tôi yêu mẹ tôi nhất trên đời và vẫn không thể chấp nhận được sự thật rằng mẹ đã ra đi mãi mãi. Tuy mẹ đã ra đi nhưng trong lòng những đứa con như chúng tôi, mẹ luôn sống mãi”. Hiếu Hiền nghẹn ngào kể.

“Chết trên Sân khấu là sướng nhất”!

Vừa mới đây thôi, bà còn cùng con dâu tay xách nách mang cả chồng thiệp cưới đến Hội Sân khấu mời mọi người tới chung vui cùng gia đình bà. Vừa mới đây thôi, trong đám cưới con trai Hiếu Hiền, bà lên sân khấu nhảy nhót làm mọi người cười no bụng. Hôm ấy bà còn nói : “Vậy là bà khỏe, Hiếu Hiền có bạn đời rồi. Bà chỉ ước mong tụi nó ấm êm, hạnh phúc”… Mới đó thôi mà giờ bà đã rời xa, buông bỏ tất cả rồi.

Tin bà ra đi lan rất nhanh, không chỉ trong giới cải lương. Cả công chúng và những ai dính dáng tới sân khấu, điện ảnh đều bàng hoàng khi nghe tin bà đột tử. Con trai Hiếu Hiền đang quay phim phải bỏ dở, chạy nhanh về bệnh viện Long Thành, mà không kịp nghe lời mẹ lần cuối, khóc không thành tiếng.

Buổi sáng chủ nhật 16/1, UBND huyện Long Thành ra mắt Câu lạc bộ Đờn ca tài tử. Vì muốn hiếu hỉ với địa phương nơi công ty con gái đang làm việc, nên bà Kim Ngọc nhất quyết ghé qua hát giúp vui. Kim Ngọc ca tròn vẹn hai câu vọng cổ “ruột” của Kim Liên (thế nữ của Kiều Nguyệt Nga trong vở Cải lương Kiều Nguyệt Nga, vở do Bạch Tuyết đóng vai chính). Bà lắng nghe tiếng vỗ tay, trầm trồ của khán giả rồi về chỗ ngồi không lâu thì đổ gục.

Nghệ sĩ Kim Ngọc đã từ giã thế gian theo cách đó. Lần cuối cùng bà bước lên sân khấu không phải trong một vai diễn hài, không phải là một vai kịch, mà là trong một vai diễn để đời với hai câu vọng cổ.

Có ai ngờ câu nói trong lúc đùa vui của bà đã thành hiện thực “Chết trên Sân khấu là sướng nhất” !

Nhớ Tư xả láng

Nữ nghệ sĩ Kim Ngọc thành danh từ những vai diễn như Chu Chỉ Nhuợc (Cô gái Đồ Long), Mai Đình (Hàn Mặc Tử), Tiểu đồng (Trăn thề vườn thúy), Kim Liên (Kiều Nguyệt Nga), Hiệu úy Kỳ Hoa (Thái hậu Dương Vân Nga), cô Tư Điểu (Tình Mẫu tử), Sen (Đoạn Tuyệt),… Còn nhớ giải thưởng Kim Khánh (trước 1975) từng vinh danh tên tuổi cô đào trẻ triển vọng Kim Ngọc. Đặc biệt bà được báo giới tặng biệt danh “nữ quái kiệt” sau vai Tiểu đồng (Trăng thể vườn thúy) – vai diễn khẳng định tài năng, nét duyên hài độc đáo của bà.

Khi thân hình không còn thon thả, bà nhẹ nhàng bước sang lĩnh vực hài và nhanh chóng chiếm được tình cảm của công chúng bằng tiếng cười hào sảng. Ở gần bà, dường như chẳng có gì gọi là “khủng khiếp” trong cuộc sống bon chen, ganh đua. Bà cứ thong thả bước, cười mọi lúc mọi nơi, cười cả khi cuộc sống khó khăn.

Cũng tiếng cười lạc quan đó, một thời cặp bài trùng Kim Ngọc – Quốc Hòa đã gây “sóng gió” ở các sân khấu hài vào những năm 80, với nhiều tiểu phẩm hài vui nhộn. Và suốt quãng đường sự nghiệp, biệt danh “Tư xả láng” (Những mối tình trắc trở – Trong Nhà ngoài phố – HTV) được công chúng cả nước và kiều bào nước ngoài thương mến gọi tên bà.

Không chỉ là một nghệ sĩ yêu đời, nhân hậu, Kim Ngọc còn là người vợ, người mẹ hết lòng với chồng con. Khi Hiếu Hiền đi học xa nhà, gia cảnh khó khăn, bà vẫn cố gắng lo cho con. Sau này, các con trưởng thành, sự nghiệp rỡ ràng, bà vẫn chăm chút đến những chuyện tưởng chừng thật nhỏ, như cách phải hiếu hỉ ở những chỗ con gái làm ăn, những nơi con trai hoạt động.

Tình yêu ấy luôn ấm áp ở cách bà hạnh phúc khi thấy con trai nối nghiệp mình và được nhiều khán giả yêu mến. Các con học được ở bà lối sống chan hòa, cởi mở trước cuộc đời. Nơi nào bà tới đều có tiếng cười. Với đồng nghiệp, gần như bà không làm mích lòng ai, chẳng ai buồn được bà. Nếu như quan niệm cuộc đời là cõi tạm thì tròn 50 năm qua bà đã “xả láng” hết mình ở cõi tạm này và chia xa mọi người trong tư thế là một NGHỆ SĨ.

Ở cõi người hiền bà đang tới, tiếng cười của “Tư xả láng” hẳn vẫn sẽ vang vang…

(Theo Liên Chi)

Nói tiếp về Thi Sĩ BÙI GIÁNG

NHỮNG MẨU CHUYỆN

VỀ BÙI GIÁNG

– Nguyễn Thùy

(Xin xem thêm bài Bùi Giáng – điên hay tỉnh ?” trên trang này, ngày 21/10/2010. Để xem chọn phần BÀI VIẾT HAY LỊCH : năm 2010 – Tháng 10 – Ngày 21 và bấm chuột vào đây)

Ai đã gần Bùi Giáng ít lâu cũng đều có thể ghi lại đôi sư việc khác thường dần dần được xem như là ‘giai thoại’ trong cuộc sống của ông..

Bùi Giáng và tôi quen thân nhau trước tiên do cùng đồng hương xứ Quảng, tiếp theo do thời gian thuê nhà ờ sát bên nhau vào những năm 1960-1962 tại một hẻm đường Trương Tấn Bửu (nay tên đường là Trần Huy Liệu – Phú Nhuận), sau nầy Bùi Giáng thường đến nhà tôi ở chung cư Minh Mạng đường Sư Vạn Hạnh, đi đi về về có lúc gần cả hai ba tháng. Có nhiều sự việc lạ kỳ nơi anh nhưng tôi không nhớ hết, chỉ xin kể đôi việc do chính tôi chứng kiến.

Những người nữ Việt Nam mà anh hay nhắc đến là : Ni cô Trí Hải, Nam Phương Hoàng Hậu và Kim Cương (thỉnh thoảng có Hà Thanh và Thu Trang). Với Nam Phương Hoàng Hậu, anh không có lời nào bông đùa, vô lễ, có lẽ anh quí trọng nét phúc đức hiền hậu, nét thiên hương quốc sắc mà cũng có thể do anh nhớ lời Jésus qua câu nói bí hiểm : ”Trong cuộc xét đoán Nữ vương Nam Phương sẽ đứng lên với dòng dõi nầy mà định tội nó…” (Ma :12-42). Thử nghe một đoạn anh nói về Hoàng Hậu Nam Phương: «…Nhưng tại sao từ Cổ chí Kim, chỉ riêng nhịp bước khoan thai của Nam Phương Hoàng Hậu là nhu mì, kiều diễm mà thôi ? Thậm chí đôi phen Nam Phương Hoàng Hậu vội vàng chạy cuống cuồng hấp tấp, thiên hạ nhìn vào vẫn cứ thấy là rất mực kiều diễm du dương ? Thế thì ? Nếu như Quốc Sắc Thiên Hương có riêng thể lệ ẩn mật của thiên tài thiên hương quốc sắc thì Thiên Tài Thi Nhiên kinh thiên động địa há chăng chẳng thể nào có riêng thể lệ thiên tài của nó dựng lập lên từ bờm xờm ngổn ngang gò đống dâu biển hay sao ?».

Với Ni Cô Trí Hải, thường anh gọi là Mẫu thân và cũng không lời nào xúc phạm vì là một nữ tu và anh xem như là hình ảnh một nhân vật võ hiệp trong tiều thuyết ‘Tiếu ngạo giang hồ’ cùa Kim Dung (hình như là Ni cô Nghi Lâm, thì phải).

Riêng với Kim Cương, anh thường gọi là mẫu thân, kỳ nữ, tiên nương, nương tử và hay đùa cợt. Một lần tôi theo anh đi ngang qua nhà Kim Cương nơi đường Trương Minh Ký, anh đi qua đi lại và la lớn : «Cô Kim Cương có mấy cái… Cô Kim Cương có ba cái… ; ». (xin lỗi cô Kim Cương, có thể Cô quên sự việc này, nhưng tôi thì nhớ). Kim Cương trong nhà bỗng mở cửa gọi lớn : «Anh Giáng, anh lại đây..». Anh đang do dự, Kim Cương lại gọi : «Anh đến đây, Kim nói điều nầy cho nghe..». Anh vừa bước đến, Kim lôi cả anh và tôi vào nhà rồi năn nỉ : «Anh Giáng, Kim van anh, anh đừng nói thế nữa. Anh cứ oang oang như thế, bọn trẻ thấy Kim nơi đâu cũng réo như vậy, Kim chịu sao nổi..». Anh xin lỗi, hứa không nói nữa, rồi uống xong hai chén trà, lại ra đi, Kim Cương giữ lại ăn tối, nhất định không chịu.

Có lẽ chỉ với Kim Cương, Bùi Giáng mới thương mến nhất, gần gụi nhất để rồi bông đùa nhiều lúc sàm sỡ. Kim Cương không hề giận anh mà luôn tỏ ra quí mến anh. Thấy anh nhiều cảm tình và thương mến Kim Cương, một hôm tôi đề nghị : “Cô Kim, hay là cô lấy anh Giáng làm chồng đi. Biết đâu Cô sẽ giúp anh ta bớt khùng và sẽ viết lách đường hoàng, chĩnh chạc, dễ hiểu hơn”. Kim Cương bảo : ’Không chịu nổi ảnh đâu, anh Thùy ơi ! Ảnh sống kỳ cục lắm. Với lại, ảnh có yêu Kim đâu. Ảnh chỉ thương mến thôi. Anh xem, ảnh chỉ ngồi nói chuyện nhiều lắm là 5, 10 phút rồi lại chạy ra đường múa may một hồi rồi mới trở lại rồi lại tiếp tục như thế. Anh ta không bao giờ ngồi với Kim hay với cô gái nào được lâu đâu. Kim cũng muốn giúp anh Giáng nhiều thứ nhưng ảnh có nhận đâu. Ảnh vẫn chứng nào tật nấy, thích đi lông bông, nhảy múa ngoài đường, la hét, chọc lũ nhỏ,..».

Tôi không rõ, anh để ý Kim Cương có do từ Cô là người nghệ sĩ chịu đựng được thói bông đùa dai dẳng và nhìn anh với con mắt có khác với bao người. Có thể nói Bùi Giáng dành cho Kim Cương nhiều cảm tình nhất và Kim Cương đối với anh cũng thế. Ðiều Kim Cương nói có thể đúng, Giáng chỉ thương người chứ không yêu ai cả, theo nghĩa mối tình nam nữ. (Kim Cương, lúc nói chuyện, chỉ xưng là Kim không thôi. Tôi và Kim Cương cũng có nhiều chuyện có thể được xem là ‘giai thoại’. Kim Cương là bạn thân của vợ tôi (vợ tôi tên Hạnh).

Dù sao, suốt cuộc sống tình cảm của Kim Cương, qua bao trắc trở đau thương về tình ái (như Kim có kể tôi nghe những lần cô chui vào đống rác nơi đường Nguyễn Huỳnh Đức hay tại bờ sông bến Bạch Đằng) hoặc vui mừng được một nhà thơ tài hoa Bùi Giáng dành cho rât nhiều kính yêu, đã đem tên cô vào thơ của mình và cô cũng đã đáp lại bằng những tình cảm chân thật, thương mến vô ngần. Cuộc tình – nếu có thể gọi như thế – giữa một tài hoa thơ văn, một ‘đười ươi thi sĩ’ với một ‘kỳ nữ’ (nguời ta hay gọi Kim như thế, đối lại với ‘quái kiệt’ Trần Văn Trạch) quả cũng là một ‘giai thoại văn chương’ thú vị.

Ngày anh Giáng và vợ chồng tôi thuê nhà ở sát cạnh nhau, anh còn ‘chĩnh chạc’ lắm, đi dạy ở các trường Tân Thịnh, Tân Thanh (do Phan Thuyết và Phan Út, người Quảng Nam, có bà con xa gần với anh, làm Hiệu trưởng), anh nuôi cô em đi học. Lúc nầy, anh viết khảo luận văn học, vẽ tranh và làm thơ. Tranh anh vẽ, chẳng ai hiểu gì, chẳng thuộc một trường phái nào cả, nội dung, theo anh là minh họa các huyền thoại, thần thoại Hy Lạp. Thơ anh lúc nầy chưa ‘kỳ cục’ như sau nầy. Anh thường kéo tôi theo anh vào những lùm cây đường Nguyễn Huỳnh Ðức, ngồi hết gốc cây nầy đến gốc cây khác và anh làm thơ dù nhiều lúc trời tối mịt, anh vẫn cứ viết trên một cuốn tập nhỏ. Một lần kiến cắn anh, anh phủi tùm lum cả người, rồi la lên : ‘Kiến cắn thơ tao’. Một buổi chiều, Nguyễn Ðức Quỳnh đến chơi, vợ tôi mời anh qua ăn cơm. Tôi phải đi dạy tối , lúc về, vợ tôi thuật lại là anh và Nguyễn Ðức Quỳnh cãi nhau thế nào đó, anh quơ tay hất hết cả thức ăn, chén dĩa xuống đất.

Hầu như, từ lâu, anh không mấy thiện cảm với các nhà Học giả, các Giáo sư Ðại học, các nhà phê bình. Trong ‘Con đường Ngã Ba’ (An Tiêm xuất bản, Saigon 1972), Bùi Giáng cho đấy là «những ‘đạo thính đồ thuyết’ (nghe ngoài đường và nói ngoài đường) là hoạt tinh thể của con người mạt hậu. Nó thông minh một cách thô thiển, nó vểnh tai ở ngoài đường và bi bô ăn nói ở ngoài đường để tàn phá mọi ngã ba đường của bước chân đi từ nội tâm nội mật. Nguyễn Bách Khoa là lãnh tụ bọn chúng. Phó lãnh tụ là Ðặng Thái Mai. Tổng Thư Ký là Vũ Ngọc Phan». Cũng thế, Bùi Giáng công kích Jean Wahl, giáo sư Ðại học Sorbonne, Jean Paul Sartre khi nhà văn, nhà triết nầy viết ‘Giảng luận về ‘Kẻ xa lạ’ (explication de l’Étranger) của Albert Camus, công kích Giáo sư Trần Thái Ðỉnh, học giả Phùng Hưũ Lan, Thiền sư Daisets Teltars Suzuki,… Với một số người VN, anh không phẩm bình gì, chẳng nói gì về các nhân vật chính trị Miền Nam cũng như Miền Bắc. Có lần, tôi hỏi anh về Phạm Công Thiện, về Sư Nhất Hạnh, anh chỉ trả lời thoáng qua, đại để : “Giỏi, thông minh, và… cũng .. mưu đồ”.

Cái ‘điên’ của Bùi Giáng thật khó lòng phân tích. Đọc hết các tập thơ, các sách anh viết, nhất là các tập ‘TưTưởng Hiện Đại’ rồi kết hợp với lối sống kỳ cục của anh, tôi có nhìn ra lý do khiến anh ‘điên’ nhưng xin không nói nơi đây vì thực ra, tôi cũng chưa quả quyết là đúng. Điều rõ ràng nơi anh là tấm lòng thương người của anh, nhất là lớp người già và trẻ nhỏ. Anh là người rất ‘căm thù’ bạo lực, căm thù thói giả hình, man trá, lật lường của những kẻ ‘trí thức’ hương nguyện, trưởng giả. Tôi có cảm tưởng “Anh là một Bồ Tát thị hiện giữa ‘mạt thế ma cung’ nhưng là một ‘Bồ Tát bị đọa’ vì chưa đoạn diệt ̀ được bốn tướng ‘Ngã tướng, Nhân tướng, Chúng sanh tướng, Thọ giả tướng’’.

Không dễ gì hiểu thơ và các sách của Bùi Giáng. Nơi anh tư tưởng Phật, Chúa, Khổng, Lão, Nguyễn Du, Heidegger, Nietzche cùng của các nhà văn, nhà triết : St Exupéry, André Gide, Gérard de Nerval, René Char, Albert Camus, Simone Weil, Wall Whitman… cả thơ Huy Cận thuờng đi chung với nhau.

Anh rất yêu nước, yêu người nhưng hình như anh chưa tìm ra cách thế nào diễn giải thật rõ ràng. Có thể trích đoạn anh viết bằng Pháp ngữ trong ‘Lettre à René Char’ nơi tập Dialogue của Phật Giáo VN Thống Nhất năm 1965 để thấy được điều nầy : ‘Pour nous, la Grèce antique, la Chine ancienne,… c’est-à-dire le VietNam de toujours, lieu essentiel du dévoilement de l’être à travers le sommeil éthéré de la terre’ (tôi xin tạm dịch sang tiếng Việt : ‘Với chúng tôi, Hy Lạp cổ, Trung Hoa xưa,.. nghĩa là xứ VN miên viễn, nơi thiết yếu cho Đạo Thể mở phơi, thị hiện qua giấc ngủ mộng mị khinh thanh của địa cầu’. Theo anh cho biết, nhà thơ Pháp có trả lời và tôi chỉ nhớ loang thoáng có đoạn là ‘L’horloge du VN sonne le Calvaire’ (Đồng hồ VN đang điểm giờ lên đỉnh Calvaire). Có lẽ, René Char mượn cái Chết của Chúa Jésus trên Thập Tự giá để ba ngày sau ‘sống lại’, báo biểu cho Bùi Giáng đừng bi quan vì ‘VN sẽ phải trải qua cái thảm họa vô cùng và sẽ ‘sống lại’, sẽ ‘hồi sinh sau cơn thảm họa tuyệt trù’.

Theo Bùi Giáng, thảm họa của đất nước và dân tộc VN nằm chung trong cái ‘thế dạ nhân hoàn’ (l’obcurcissement du monde) mà M. Heidegger thường nói. Người đương thời khó hiểu được ‘cơn điên’ và lối sống kỳ cục của anh. Các Văn Nghệ sĩ Miền Nam lúc bấy giờ không hiểu được và cũng ít chịu khó tìm hiểu nên xem anh là một ‘hiện tượng’ và không mấy thiện cảm với thơ văn của anh. Chỉ sau khi anh qua đời, người ta mới nhận ra ít nhiều và viết khá nhiều về anh. Hầu như anh cố đi tìm những ẩn ngữ nào đó trong lời Chúa, lời Phật. Bài thơ ‘Tứ Tuyệt bát cú’ sau đây nói lên những khó khăn, lúng túng của anh khi đi vào những ẩn ngữ đó (bài thơ tôi không nhớ nhan đề) :

Người nằm đó tự nghìn thu thấp thoáng (Người là đức Phật)

Tôi bước qua từ ngữ rụng hai lần

Tờ sa mạc như bồi phong tẩy địa

Trút linh hồn từng như thể nhu thân.

Anh từng nói với tôi là ông Chúa là kẻ ‘chịu chơi’ nhất thế gian. Ông ‘thí mạng cùi’ đi vào hiểm họa thế gian để thế gian nầy ‘sống lại’ nhưng thế gian vẫn chưa chịu sống lại. Lúc bấy giờ, tôi chẳng biết gì về Kinh Thánh Ki-Tô giáo cùng Kinh điển Phật giáo nên chỉ biết nghe anh nói thôi.

Đọc thơ Bùi Giáng, nhất là những bài thơ ‘tếu’, thơ ‘ngông’, thơ ‘đùa’, thơ ‘giỡn’, ta buồn cười nhưng trong đó vẫn ẩn chứa một ‘tình thương vô hạn’ đối với những điều tầm thường, những lớp nguời hẩm hiu trong xã hội. Ngày tôi qua Úc (năm 2006), gặp cô bác sĩ Lâm Kim Loan tại nhà người bạn, ông Trần Thiện Hiếu vốn là nhà thơ có hạng (tôi đã viết bài nhận định về thơ ông bạn nầy). Cô bác sĩ Loan có viết sau tấm ảnh tặng tôi, hai câu : “Nhớ ai bởi cái ‘lạ lùng’, Thương ai ở chỗ ‘không cùng’ người ta’’, ông bạn Trần Thiện Hiếu nói câu trên của Cô bác sĩ do ông đã đọc cho cô nghe từ hai câu của Bùi Giáng : “Yêu em yêu quá chừng chừng. Bởi em có cái lạ lùng bên trong’’ (tôi chưa đọc được hai câu thơ nầy nơi tập thơ nào của Bùi Giáng). Bác sĩ Lâm Kim Loan làm thơ ít thôi nhưng thơ khá hay, khá sâu sắc. Cô cũng viết đôi truyện ngắn, đôi ‘tạp văn’ cũng khá hấp dẫn, lúc nào cũng đầy ắp yêu thương, yêu thương người, yêu thương vạn vật.

Ngày tôi về ở Chung cư Minh Mạng, anh thường đến tôi, có lúc ở liền hai tháng, ban ngày ‘thiền hành’ với bộ quần áo ‘cái bang’, đêm về lăn kềnh ra sàn xi măng ngủ hoặc đọc thơ, nói oang oang những gì khiến người các nhà kế bên không ngủ được. Một lần, anh xách về một con mèo chết, cẩn thận treo nơi sợi giây thép phía sau nhà, tôi dùng để phơi áo quần. Hai ba ngày sau, mùi hôi thối không chịu nổi, tôi năn nỉ mấy, anh cũng không chịu xách quăng đi. Cuối cùng hàng xóm la ó quá, tôi nhân lúc anh đi vắng, xách ném vào đống rác; lúc anh về biết rõ sự việc, chỉ lắc đầu nhưng rồi lại bảo : “chú mày làm được lắm”.

Sau 1975, anh không còn làm thơ cũng như không viết lách gì; thường ngồi nơi chân cầu thang chung cư tôi ở, anh có làm ít câu nhưng rồi không tiếp tục và thường trùng với những câu trong các tác phẩm trước. Anh đi vào cuộc điên nhiều hơn. Những lần ‘được điên’, anh vui lắm như được sống trong một thế giới nào khác thường, thật hạnh phúc. Những lần không đi được vào cuộc điên, anh dã dượi, tê liệt, nằm suốt cả mấy ngày hay hằng tuần liên tiếp như một lần ở Chùa Long Vân Gò Vấp; mấy thầy trong Chùa và tôi đến lay anh dậy ăn cơm, anh đều nằm lỳ, bất động. Lúc đó, đọc thơ hay nói chuyện tư tưởng nào Phật, Chúa, Heidegger, Nietzche, Nguyễn Du… anh đều khoát tay không nghe và không cho nói.

Lúc vào cơn điên, anh chạy nhảy, múa may, chọc ghẹo đủ mọi hạng người từ trẻ con đến ông già, các bà bán hàng, các cô bán thuốc lá. Tôi khổ nhất là phải theo anh, nghe anh ‘chửi bới lung tung, mượn tôi làm đòn kê để chửi thiên hạ, rồi nói tục hết sức tục, bắt tôi phải cúi lạy các cô bán thuốc lá lẻ, bảo đấy là thánh nữ, tiên nương, là Quán Thế Âm Bồ Tát… Anh cứ bảo tôi là bỏ dạy, bỏ hết mọi thứ, theo anh, điên như anh mới thấy vui, mới cứu được đời. Phải nói rằng anh ‘làm khổ’ tôi rất nhiều nhưng không hiểu sao, cứ có anh là tôi lại thấy vui ra, một cái vui không thể phân tích được, một cái vui kín nhiệm, bàng bạc lạ kỳ; vì thế mà tôi chịu khó với anh. Có tôi đi bên anh, anh càng dễ điên hơn, vui hơn và thấy yên ổn hơn. Anh bảo rằng tôi là thầy giáo, hiền lành nên nếu có ai ‘trận thượng’ với anh, tôi can thiệp, người ta sẽ bỏ qua.

Nhiều khi, có một cô gái nào đó, mến anh, đi theo anh ‘thiền hành’ dọc đường, anh thấy vui và yên tâm lắm. Cô bồ tôi là HHTV, sinh viên Ðại học Sư phạm ban Anh Văn thường theo anh và uống cà phê với anh, quàng vai anh trông giống như một nhân tình, anh thấy vui và thú vị lắm. Năm 1976, lúc cô phải tiếp tục năm học sau cùng, anh thường đến Ðại học Vạn Hạnh, đứng dưới réo to lên : Cô Thanh Vân ơi ! Bồ Tát Thanh Vân ơi ! Xuống đây, đưa tôi đi uống cà phê, học làm gì nữa, bọn dốt đó biết gì mà dạy cô. Cô phải dạy chúng nó chứ,..”.

Một buổi tối, tôi đi vắng, ở nhà, anh đưa mấy bài thơ tiếng Anh cho cô dịch, anh khen cô thông minh, rồi bảo cô hãy đặt chân lên đầu anh. Cô không dám, anh liền nâng chân cô đặt lên đầu mình rồi lảm nhảm những gì đó. Sau nầy, vào các năm 1982, 1983, cô Đ.N.L.H., một giáo viên cấp 3, hình như là cháu bà Tôn Nữ Hỷ Khương cùng một cô nữa (tôi quên tên) hình như là cháu của nhà văn Cung Giữ Nguyên (theo cô bảo) bỗng xách đồ đạc đến ở nhà tôi, một tháng sau cô nầy bỏ đi, cô Hà còn ở lại những mấy tháng nữa. Bùi Giáng đến, hai cô hoảng quá, nhưng sau đấy, thấy Bùi Giáng «đường hoàng» nên lại cảm mến. Cô Hà lại chịu khó theo anh ‘thiền hành’ qua các ngã đường’, vào quán cà phê, quàng tay, ôm Bùi Giáng khiến mọi người rất ngạc nhiên. Trong thời gian, cô Hà ở nhà tôi, nhà họa kiêm điêu khắc Phạm Văn Hạng cũng thường đến gặp Bùi Giáng. Có cả Giáo sư Nguyễn Văn Trung đến, nghe cô Hà ngâm thơ nhưng ông Trung không gặp Bùi Giáng. Lại có cả nhà thơ Trần Ðới và sau nầy thêm nhà thơ Lê Nhược Thủy. Có một cô gái trẻ mà anh không biết, không quen, theo anh suốt một tuần trong các cuộc điên của anh, anh thấy lạ, hỏi tôi : “Có phải chúng nó cho cô ta theo dõi tao không ?’.

Còn nhớ trước 1975, Bùi Giáng quen với Huệ Nhật giúp việc cho Hội ‘Ðất Lành’ (Terre des hommes) của Ðức. Một bà Tiến sĩ người Ðức thuộc cơ sở nầy đến ở ngay nơi nhà Huệ Nhật nơi dưới phía cầu Tân Thuận. Bùi Giáng rủ tôi cùng đến nhà Huệ Nhật gặp bà đó. Nghĩ rằng Bà nầy chắc biết nhiều về Triết, về tư tưởng, Bùi Giáng nói huyên thiêng về thơ văn, về Nietzche, về Heidegger, về Holderlin,…Nhưng Bà ta nào có biết gì về tư tưởng, lại thêm giọng Ðức, giọng Anh của Bùi Giáng chẳng ‘ra hồn’ gì mà Bà lại không biết tiếng Pháp nên mặc cho Bùi Giáng nói, Bà chỉ nghe thôi. Nhưng tỏ ra rất chăm chú, rất thích, có lẽ Bà lặng yên nghe để từ Tiềm thức, Vô thức dậy lên những ý tình cao xa nào đó. Nhưng Bà rất kính trọng Bùi Giáng, mỗi lấn anh và tôi đến, không có Huệ Nhật thì chính Bà nấu trà và đem bánh ra đãi.

Sau 1975, vào những năm 1982, 1983 gì đó, Huệ Nhật ở chung với cô Nguyễn Thị Muộn. Hai người lập một quán cơm Xã hội ở một đường vùng Chợ Lớn . Bùi Giáng thường đến. Chính tại quán cơm xã hội nầy, một buổi chiều mưa, anh Giáng ngồi, mượn tôi chửi đổng thiên hạ cho đến tối mịt. Vừa hết mưa, tôi giục anh về; đến nhà thờ Ngã Sáu, lại mưa, cả hai chui vào căn lều bằng tấm bạt của một ông già (hình như trốn vùng Kinh tế mới về). Anh lại la to và nói tục, khiến ông già đuổi đi. Cả hai lại đi trong mưa, về đến Chung cư, tôi thay đồ, bật đèn ngồi viết còn anh thì cứ để nguyên áo quần cái bang ướt át, lăn kềnh ra sàn nhà, ngủ. Một ít lâu sau, do Huệ Nhật nói sao không biết, thêm đứa học trò cũ của tôi, nhà ở Chung cư Ấn Quang rủ rê thế nào, giới thiệu anh tiếp xúc với đôi mục sư Tin Lành từ Quận 8 sang nhà Huệ Nhật, anh Giáng lại ngã theo Tin Lành. Các vị Mục sư cũng vui lắm, được Bùi Giáng theo đạo thật vô cùng quí. Nhưng chỉ chừng hơn nửa tháng sau, anh đến tôi với quần áo cái bang như cũ. Tôi hỏi : “Sao, Chúa bỏ anh hay anh bỏ Chúa ?”. Anh trả lời : “Ông Chúa, ông Phật có bỏ ai đâu; tao bỏ các ổng. Mà lạ quá, tao khoái các ổng, mà theo thì… khó chịu quá. Các ổng điên khác tao. Cũng giống như Tô Ðông Pha không chịu làm Thiền sư để chỉ làm thơ thôi”.

Anh tiếp xúc nhiều với các tu sĩ Phật giáo, nhờ anh mà tôi được biết các Ngài Huyền Quang (tại chùa Kim Cương đường Trương Tấn Bữu), Thích Minh Châu ở Ðại học Vạn Hạnh, Thích Ðức Nhuận (tại đường Phan Thanh Giản), Sư Viên Minh (chùa Thereveda đường Phan Ðình Phùng), các thầy ở chùa Long Vân Gò Vấp. Anh cũng gặp và nói chuyện với đôi Linh mục, Mục sư. Anh luôn luôn thiện cảm, ca tụng và đề cao nữa nhưng không thể theo một Giáo hội nào. Đối với các Linh Mục, Mục Sư, anh ít đùa nhưng với đôi nhà Sư thì anh thường rất tếu.

Ði với tôi, anh chỉ đọc thơ, nói oang oang những gì đâu đâu, chằng bao giờ giảng tôi nghe về Phật, Chúa, Khổng, Trang cũng chẳng giảng gì về Nguyễn Du, Heidegger,…Tôi bảo anh phải nói sao chứ cứ lối điên điên, khùng khùng ấy, làm sao tôi hiểu. Anh bảo là : “Chú mày chỉ nghe, không cần hiểu”. Anh nói là tôi có cái Tâm tốt, có chút thông minh, và thường nhìn tôi lúc tôi thiu thiu ngủ như muốn tìm xem nơi tôi có nét gì đó mà chưa hiện ra. Sau nầy, từ 1979, tôi bỗng nhiên làm thơ, viết sách, những gì anh nói lối phiêu bồng phiêu hốt đó bỗng nhiên mơ hồ đến với tôi và tôi hình dung ra là anh đã gián tiếp ‘giáo dục’ tôi theo lối «giáo ngoại biệt truyền» hay ‘tâm truyền tâm’.

Môt nửa tháng, trước khi quyết định vượt biên (cuối năm 1988), tôi ngỏ ý rủ anh. Anh trầm ngâm, không nói gì. Ít hôm sau, anh bảo : «Tao không đi được. Ở bên nầy còn có các bà già, bọn trẻ con với bạn bè như chú mầy cho tao ăn, chứ qua bên đó, người ta nhốt tao vào nhà thương điên đến rục xương, tao sống sao được». Ít hôm sau nữa, anh bảo : “Hay là mầy đừng đi, ở lại vào cuộc điên với tao. Mày đi, tao buồn đến chết thôi”. Sau ít ngày, anh lại bảo : «Mà mầy đi cũng được lắm. Mày ở lại chẳng làm được gì. Mày có cái Tâm tốt, bây giờ đã vào đại hải rồi, qua bên đó biết đâu sẽ làm được cái gì». Trước ngày tôi đi, tôi gởi tặng anh một bài thơ, anh xem xong, chỉ trầm ngâm, gật gật đầu, không nói lời gì nhưng xem ra anh buồn lắm.

Bùi Giáng là người đức độ lớn. Anh thương tất cả mọi người. Anh nhìn ai cũng như thấy cái tâm hồn thánh nhân và anh muốn khơi động tấm lòng nhân thánh đó qua lối điên khùng của anh. Một lần, một người bạn bên Pháp về, bảo anh : «Brigite Bardot đi tắm biển, nằm trên ghế xích đu đọc sách anh, thích thú lắm’. Anh hỏi lại : “Cô có biết tiếng Việt đâu mà đọc sách tôi ?”. Người bạn đáp : “Cô ta đoc quyển Dialogue trong đó có bài anh viết cho René Char ấy”. Thế là anh tin và kể với tôi. Ðể anh vui, tôi bảo : “Có thể lắm”. Một lần, anh kể với tôi và sau nầy, hình như anh viết lại trong «Ngày tháng ngao du» chuyện sau đây :

«Một hôm, Brigite Bardot chạy tới ôm chầm Bùi Giáng rồi bảo :

– Anh yêu ơi ! Hôm nay em mới rõ là anh yêu em, nhiều, thật nhiều, hơn cả chị Monroe.

– Sao cô biết ?

– Thì đây nầy. Thư anh viết cho em dở ẹt, còn anh viết cho chị Monroe thì văn hoa, bay bướm không thể tả.

– Thư tôi viết cho cô dở ẹt, sao cô bảo tôi yêu cô hơn Monroe ?

– Anh còn giả vờ nữa. Thư viết dở ẹt thì tình mới thật, mới chân; còn thư viết bay bướm thì chỉ là tán tỉnh chứ tình đâu có thật».

Một chuyện giữa anh và tôi. Một hôm vừa chạng vạng, trời mưa lâm râm, anh đến tìm tôi nơi nhà anh Lê Ðình Duyên nơi tôi trọ (Lê Ðình Duyên lúc nầy dạy học ở trường Tân Thạnh, sau nầy làm Ðổng lý Văn phòng Bộ Thông Tin, bộ trưởng là Phạm Thái thời Nguyễn Khánh, sau đó làm Dân biểu), đọc mấy câu thơ của Nguyên Sa :

Anh sẽ cầm lấy đôi bàn tay

Tóc em anh sẽ bảo là mây

Ngày mai hai đứa mình xa cách

Anh vẫn được nhìn mây trắng bay.

(Không rõ tôi nhớ đúng nguyên văn không)

Rồi hỏi tôi : “Mầy thấy hay không ?”. Tôi đáp : “Kể ra thơ tình tuổi Sinh viên, học sinh, như thế cũng có thể xem là hay”. Anh hỏi tiếp : “Thế, theo mầy, Truyện Kiều có hay không ?”. Tôi bảo : “Hay là cái cẳng rồi”. Anh bỗng nổi sùng, mắng tôi : “Mày bảo Truyện Kiều hay ? Mày phải nói «Truyện Kiều dở như cứt; Truyện Kiều đáng đem chùi đít; như thế Ông Nguyễn Du sẽ cười ha hả, cho rằng trên thế gian có kẻ hậu sinh hiểu ông. Mày mà khen Truyện Kiều là mày làm nhục ông Nguyễn Du, dưới suối vàng ông không nhắm mắt được đâu”. Nói xong, anh bỏ đi ngay. Bực mình nhưng tôi nín thinh.

Trước nay, đi dạy, tôi giảng Truyện Kiều cũng chỉ theo các sách giáo khoa đã có, chứ chưa để ý đào sâu. Có lẽ, theo anh, tôi không đủ khả năng hiểu Truyện Kiều. Câu mắng của anh ám ảnh tôi mãi cho đến năm 1983, tôi bắt đầu viết cuốn ‘Ðoạn trường tân thanh : Tiếng vui trong lời buồn’ mới phát hiện được những độc đáo thâm sâu của Nguyễn Du và nhận ra rằng “Ðoạn trường tân thanh» là một tác phẩm tư tưởng không riêng của dân tộc ta mà chung cho cả nhân loại.

Có hai ‘giai thoại’ thường được mọi người kể và đã đăng nơi một số báo :
Chuyện thứ nhất như sau : «Một hôm, nơi quán café Huy Tưởng (một nhà thơ) ở một đường đâm ra đường Hai Bà Trưng Tân Ðịnh, anh ngồi uống café ở một góc quán, không mấy ai để ý. Bên trong quán, có nhà thơ Thu Bồn (người Quảng Nam) đang nghe cô Thu Ba tán tụng : “Anh là nhà thơ lớn, tất cả đều hâm mộ. Anh vào Nam, tôi nghĩ anh có thể dạy cho người miền Nam biết làm thơ, chứ lâu nay, thơ ca miền Nam chẳng ra gì. Có Bùi Giáng chút ít nào đó, nhưng xem ra cũng chẳng đáng giá gì mấy”.

Hình như Bùi Giáng nghe được, lát sau, đứng dậy, khúm núm đến trước hai người, tự giới thiệu và nói : “Thưa Anh, thưa Cô, tôi là Bùi Giáng. Xin lỗi, lúc nãy, tôi có nghe Cô nói anh là nhà thơ lớn miền Bắc, không ai sánh kịp. Cô có bảo là miền Nam, thơ ca chẳng ra gì. Ðúng vậy, tôi cũng thấy như thế. Nếu anh dạy cho người miền Nam biết làm thơ thì thật là quí hóa. Lúc nãy, cô có nhã ý nhắc đến thơ tôi, thú thật thơ tôi cũng chẳng đáng gọi là thơ. Nhưng thói quen cứ muốn học đòi làm thơ nên lúc nảy, ngồi nhâm nhi chút café, có làm được hai câu mà không rõ có phải là thơ không vì đọc lại chẳng có vần có điệu gì cả. Xin Anh và Cô cho phép tôi đọc hai câu đó và xin anh là nhà thơ lớn sửa hộ. Hai câu thơ của tôi thế nầy :

Thu Ba ca ngợi Thu Bồn

Thu Bồn khoái chí sờ… Thu Ba

Hai câu nghe chẳng ra sao cả. Xin Anh và Cô vui lòng sửa hộ cho ăn vần. Cảm tạ, cảm tạ…”

Tôi thuật lại chuyện nầy cho Bùi Giáng tại nhà tôi. Anh chỉ cười. Ðây chỉ là câu chuyện tiếu lâm, ai đó đặt ra chứ sự việc không phải do Bùi Giáng.

Trên đây là những điều có thật về Bùi Giáng mà tôi được chứng kiến. Tôi kể lại trung thực, không hoa hoè, thêm bớt. Còn một số chuyện nữa nhưng đã quá dài. Có thể phần nào, tôi tự xem là kẻ ‘chịu chơi’ với cơn điên của Bùi Giáng nhiều, chịu khổ với cơn điên của anh cũng nhiều (tôi lãnh anh ra khỏi nhà thương Chợ Quán hai lần và một lần tại Phường 1 Cảnh Sát Quận 10 ngày 29/4/1975), chịu nghe anh mắng chửi nhiều nhất và cũng nhận được nơi anh nguồn vui tin lạ kỳ mỗi khi được ở bên anh. Tôi muốn viết một tác phẩm về ‘Tư tưởng Bùi Giáng’ nhưng chưa có thì giờ và hiện chẳng có một tác phẩm nào của anh. Bài thơ đặc sắc, tiêu biểu và làm cơ sở cho khuynh hướng tư tưởng của anh, theo tôi là bài ‘Chào Nguyên Xuân’, bài thơ đầu trong tập ‘Mưa Nguồn’ .

Nguyễn Thùy

Kỳ nữ KIM CƯƠNG

“KỲ NỮ” KIM CƯƠNG

Cây cổ thụ

trong làng Thoại Kịch

Có lúc người ta gọi chị là “kỳ nữ”, có lúc lại mang một cái tên “rất con trai” là Hoàng Dũng với những kịch bản đậm màu sắc xã hội. Bẵng đi một thời gian, người ta thấy chị đi cùng những đoàn cứu trợ xã hội, rồi thỉnh thoảng lại vào chùa học đạo… Người đó là nghệ sĩ tài danh Kim Cương.

Lên sân khấu từ trong bụng mẹ

Góp nhặt những lần được chuyện trò với nữ nghệ sĩ tài danh Kim Cương, tôi có thể tóm lược những nét chính về một khởi đầu sự nghiệp khá lạ của chị : trong vai Na Tra (vở Na Tra lóc thịt, kịch bản của nghệ sĩ Bảy Nam – tức mẹ ruột của chị), Kim Cương lên sân khấu miền Nam từ năm 7 tuổi cùng với mẹ và dì ruột là những nghệ sĩ Bảy Nam, Năm Phỉ nổi tiếng, được khán giả vỗ tay rần rần.

Thành quả đó khiến cô bé Nguyễn Thị Kim Cương tưởng đâu đời mình sẽ gắn liền với nghiệp ca hát mấy đời của gia đình. Nhưng không ! Sau khi cha mất trên đường lưu diễn ở Phan Thiết, cả mẹ Năm và mẹ Bảy cùng đưa ra quyết định không cho cô bé theo cái nghiệp quá bạc bẽo này. Kim Cương được gửi vào trường nội trú theo học văn hóa cùng các soeur…

“Sau này khi đã thành danh, nghệ sĩ Năm Châu kể lại rằng, thật ra tôi đã diễn từ trong bụng mẹ diễn ra, khi bà có mang tôi chưa được bao lâu. Khi diễn xuất với cái bầu, có lúc bà đứng dậy không nổi, bèn nhờ bạn diễn là nghệ sĩ Năm Châu đỡ dậy. Đến khi vài tháng tuổi, lại được ra Huế “đóng vai” đứa bé con của Thị Mầu trong vở Quan Âm Thị Kính nhân dịp sinh nhật bà Từ Cung là mẹ của vua Bảo Đại ở cung An Định. Nhưng “vai” này chỉ nằm yên trong chiếc khăn lông và một bình sữa để… khỏi khóc thôi !…”, nghệ sĩ Kim Cương kể.

Những ngày xa đoàn hát, xa gia đình để đi học, Kim Cương mới cảm thấy nỗi nhớ sân khấu là cái gì đó rất ghê gớm. Sự lên xuống của đoàn hát của mẹ luôn thể hiện rõ trong sự học của chị hồi đó. “Khi đoàn hát khá, có tiền thì lên học trường lớn ở Đà Lạt, khi diễn ế lại về học ở Tân Định. Đến lúc nghèo quá không đủ tiền, mẹ Bảy Nam lại gửi tôi vào cô nhi viện của nhà thờ Cha Tam trên Chợ Lớn…”, Kim Cương nhớ lại.

“Nỗi ám ảnh từ cái chết của cha”

Những tưởng sẽ xa mãi ánh đèn sân khấu, nào dè năm 17 tuổi, nhân dịp nghỉ hè, khi trở về đoàn hát giúp gia đình thì chị lại bị sân khấu mê hoặc. Năm đó, chị quyết định đi thăm mẹ đang lưu diễn cùng đoàn hát ở Châu Đốc. Đêm đầu tiên xảy ra sự cố quân Ngô Đình Diệm bắn nhau với quân các giáo phái (với Hòa Hảo). Dì Năm quyết định cứ diễn rồi khóa cửa rạp, đề phòng khách nhốn nháo chạy ra dễ dính đạn lạc. Vở diễn kết thúc, súng vẫn nổ, để cầm khách lại trong rạp, các nghệ sĩ trong đoàn phải thay phiên nhau lần lượt hát. Riết rồi cũng hết người mà súng vẫn còn nổ, má Bảy đã cho phép Kim Cương ra hát. Kim Cương hát bản tân nhạc Nụ cười sơn cước đã được khán giả nhiệt liệt tán thưởng. Đêm hát tân nhạc đó đã thay đổi cuộc đời chị và sau đó chị đã thành công với vai chính A Liễu trong vở cải lương Giai nhân và ác quỷ mà soạn giả Duy Lân đã viết riêng để giới thiệu Kim Cương.

Ở vị trí nào cũng xuất sắc

Những năm nghệ sĩ Bảy Nam không còn sức khỏe, Kim Cương lại thay mẹ gánh vác đoàn hát. Lúc nhiều tác giả kịch bản Sài Gòn chuyển qua viết tuồng cải lương, kịch nói “đói” vở diễn, Kim Cương lại xuất hiện dưới cái tên Hoàng Dũng và các kịch bản nổi tiếng sau đó ra đời như : Lá sầu riêng, Dưới hai màu áo…

Chẳng biết từ lúc nào, báo chí và dư luận đã tặng cho chị cái danh hiệu “kỳ nữ”, mà sau này trong một dịp giao lưu với khán giả, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã giải thích “kỳ nữ” chính là tên được dành cho Mạnh Lệ Quân, một phụ nữ kỳ tài trong lịch sử Trung Quốc. Một Kim Cương nghệ sĩ, trưởng đoàn, viết kịch bản, và cả đạo diễn… ở vị trí nào chị cũng trở nên xuất sắc nên xứng đáng được ca ngợi như vậy lắm chứ ! Sau ngày 30/4, Kim Cương cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác ở lại Sài Gòn và tiếp tục sự nghiệp. Đoàn kịch nói Kim Cương do chị quản lý lưu diễn khắp 3 miền với những thành công vượt bậc. Đó cũng là giai đoạn đáng nhớ nhất, thành công nhất của chị…

“Hơn 40 năm, có tất cả những vinh quang, đau khổ tôi mới hiểu ra vì sao gia đình ngày xưa đã không cho đi theo nghề hát. Danh vọng của nghệ sĩ, nhất là một nữ nghệ sĩ đã phải đánh đổi với một giá rất đắt. Một nửa cuộc đời mình phải sống cho người khác, luôn bị áp lực tinh thần rất nặng. Dư luận nhiều khi nói những chuyện oan ức nhưng chẳng thể giãi bày hoặc thậm chí có lúc họ ca ngợi mình lên mây, thì mình vẫn thấy chưa xứng đáng…”, một hôm ngồi với tôi ngoài vườn Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn ở Hội An, Kim Cương tâm sự.

Những câu chuyện trên đường cứu trợ

Một lần, tôi cùng chị và anh Phạm Phú Ngọc Trai đi ủy lạo những bệnh nhân tâm thần ở Tam Kỳ (Quảng Nam), xe vừa dừng đã thấy Kim Cương tất bật kéo xuống những bao tải lớn chứa đầy quần áo. Đó là phần đóng góp bằng hiện vật của riêng chị và bạn bè. Kim Cương gặp ai cũng hỏi xin quần áo cũ rồi tự giặt, ủi, phân loại, đóng gói mang theo trong những chuyến làm từ thiện…

Trong những lúc ngồi xe di chuyển từ nơi này đến nơi khác, tôi lại thấy một Kim Cương khác trẻ trung với những câu chuyện vui trên sàn diễn. Những chuyện của chị luôn làm cho những người cùng đi quên hết đoạn đường dài.

Chị kể, một lần cố nghệ sĩ Trần Văn Trạch lúc còn sống, vào vai đi tìm một tên cướp để giết. Hồi đó, khi diễn cảnh bắn súng thì trong hậu trường phải chuẩn bị 4-5 gói thuốc pháo để kích nổ khi nhân vật bóp cò. Trần Văn Trạch gặp cừu địch, liền rút súng ra rồi dõng dạc nói : “Mi là kẻ tàn ác, ta sẽ giết mi !”. Nhưng anh bóp cò liên hồi mà trong hậu trường vẫn im re không nghe tiếng súng nổ. Thế là Trần Văn Trạch nói : “Thôi hôm nay ta tạm tha cho mi !”. Nói rồi, vừa đút súng vào lưng thì tiếng nổ vang lên. Trần Văn Trạch lại lớn tiếng thị uy : “Ta phải bắn một phát để… mi sợ !”. Những chuyện vui phía sau sân khấu như vậy, Kim Cương có rất nhiều, mà chị hứa là sẽ viết thành sách.

Nhưng trong hàng trăm chuyện buồn, vui đã trải, có lẽ cái chết của người cha đã để lại vết thương lòng sâu nặng nhất trong lòng “kỳ nữ” Kim Cương. Chị kể lúc đó mới 6-7 tuổi, đi theo đoàn hát Đại Phước Cương của cha mình ra diễn ở Phan Thiết. Rất đông khán giả đến xem mỗi đêm. Ông chủ rạp do bán được nhiều vé đã thết đãi và ca ngợi cha chị hết lời.

“Nhưng một tháng khi đang diễn ở Mũi Né thì cha tôi lâm bệnh nặng. Mẹ tôi phải thuê xe bò chở cha về Phan Thiết tìm bác sĩ chữa chạy. Trong lúc tìm thầy, mẹ đưa cha tôi đến xin tá túc trong rạp hát cũ. Người gác gian xếp một chỗ trong góc rạp cho ông nằm, nhưng bị ông chủ đến la ó om sòm và đuổi chúng tôi đi vì sợ người chết trong rạp của mình sẽ để lại xui xẻo !…”. Lúc đó, bà Bảy Nam đã phải quỳ xuống vái lạy và nói rằng đoàn hát đã đem lại vinh quang cho ông chỉ mới tháng trước, sao bây giờ ông lại đối xử như vậy. Ông chủ rạp mặt lạnh như tiền, bảo làm ăn là làm ăn, thương là thương. Rồi ông yêu cầu sáng mai phải mang chồng con đi khỏi rạp.

Kim Cương nhớ như in, đêm đó chị đã ngồi chết lặng trong rạp và nhớ lại cảnh bao nhiêu người vỗ tay, đã ca ngợi cha mình và bây giờ là sự xua đuổi lạnh lùng đến tàn nhẫn. Hôm sau, cha chị được những người yêu mến đưa đến tá túc trong một ngôi chùa và ông đã tắt thở ở đó vì bệnh quá nặng… Chị tâm sự : “Với một đứa con nít mới 6 tuổi, đó là câu chuyện ám ảnh cả cuộc đời sau này. Nỗi ám ảnh về sự vô thường của cuộc đời !”.

“Tôi đã đến với Phật giáo từ những câu chuyện bình thường, hoặc những cuốn sách của các nhà văn Phật giáo Nguyễn Tường Bách, Cao Huy Thuần, Võ Đình Cường… mà tôi đã đọc”

Tu bằng cách yêu thương con người

Bắt đầu từ cải lương nhưng người ta luôn nhớ đến Kim Cương như một nghệ sĩ lớn của sân khấu thoại kịch với những vở để đời như Lá sầu riêng và Dưới hai màu áo. Cả với tư cách diễn viên lẫn tác giả kịch bản, đó là vở diễn để lại những kỷ niệm sâu đậm sau gần nửa thế kỷ của chị bởi nó đề cập đến tình mẫu tử.

“Trên thế gian này không có gì thiêng liêng bằng tình mẹ, đó là thứ tình cảm tự nhiên vì không bao giờ có sự trao đổi”. Sau này khi đến với những người nghèo chị lại nghiệm thấy điều đó. Chị gặp một bà mẹ 57 tuổi ở Thủ Đức phải nuôi 4 đứa con bại não, đứa lớn nhất đã gần 30 tuổi. “Sao không gởi cháu vào trung tâm nuôi dưỡng ?”, chị hỏi và người mẹ trả lời : “Người ta nuôi con mình không kỹ bằng mình, nên dù khổ cũng phải tự nuôi”. “Người mẹ ấy khác gì bồ tát !”, Kim Cương kết luận.

“Nhưng không phải vì cha tôi được nhà chùa giúp đỡ hay hình ảnh người mẹ khổ đau kia mà tôi theo đạo Phật”. Kim Cương bảo chị không phải là người giác ngộ sớm. Chị đã đến với Phật giáo bằng con đường đau khổ. Cái khổ của một nữ nghệ sĩ là không thể tả. Khổ đến nỗi nuốt vào trong lòng và cách đây 20 năm, có lúc chị đã muốn tự tử. Chị tìm đến một vị thượng tọa để giãi bày và được vị này chỉ bảo : “Vui buồn, hạnh phúc, khổ đau đều như một áng mây, ôm vào hay xua đi đều không được. Rồi nó sẽ qua như lẽ sanh diệt, hợp tan vậy !”. Một lần khác quá đau khổ vì tình chị cũng… đòi chết nữa, thì được dạy : “Trên đời này đâu phải ai muốn gì cũng được. Kim Cương muốn 10 điều thì đã được 7, vậy còn đòi gì nữa! Còn bao nhiêu người đau khổ hơn cô ở ngoài kia. Kim Cương phải biết chấp nhận trong đời có những cái mình muốn mà không bao giờ được !”.

Nhưng lời răn dạy đó đã giúp chị tỉnh ngộ, hiểu, chấp nhận và cố sống tốt đẹp hơn. Qua công tác từ thiện, chị kể rằng chị cũng học được nhiều hơn ở con người. Có nhiều tâm hồn rất đẹp nhưng không hề phô trương. Đối với nhiều người, làm điều lành là con đường không có chỗ dừng và cũng không bao giờ là muộn và với một tấm lòng thật sự cảm thông, thật sự chia sẻ. Như ngay sau vụ sập cầu ở Cần Thơ, chị đã có mặt tại chỗ và huy động được nhiều trăm triệu đồng để đến chia sẻ với những người chị, người vợ đang đau khổ vì mất người thân. Nhưng khi chị đến nơi cũng đã có nhiều con người nhân hậu khác. Sự có mặt và chia sẻ kịp thời đôi khi đã góp phần làm dịu đi phần nào nỗi đau của người khác. Một bà cụ suốt 10 năm nấu cháo hằng ngày mang đến bệnh viện ung bướu. Một chủ xí nghiệp có mặt kịp thời ở các tòa soạn báo mỗi khi có bão lụt ở đâu đó cần sự giúp đỡ. Nhiều em học sinh đập heo đất dành dụm bấy lâu để giúp các gia đình bị hỏa hoạn… Của cho không bằng cách cho. Tất cả họ đâu có ai cần nêu tên.

Trương Điện Thắng (Theo TNO)

TÔI LÀ NGƯỜI CỦA SÂN KHẤU

“Nói thiệt, nhớ sân khấu lắm chứ. Nhiều lúc nửa đêm bật dậy ôm bàn thờ má mà khóc mà la : Tôi nhớ má quá, nhớ sân khấu quá. Khóc vậy rồi thôi chứ tôi biết không thể níu kéo lại những gì đã qua”, Kim Cương bộc bạch.

Là con nhà nòi, mẹ là nghệ sĩ Bảy Nam và đặc biệt dì là đệ nhất tài danh sân khấu Năm Phỉ, dòng máu nghệ thuật đã chảy sẵn trong người Kim Cương. Định mệnh đã sẵn dành cho chị là một nghệ sĩ chứ không thể khác được. Chỉ mấy ngày tuổi, bé Kim Cương đã được mẹ bế lên sân khấu, tuổi đôi mươi của chị tỏa sáng rực rỡ trên sân khấu cải lương với biệt danh “kỳ nữ” do báo giới phong tặng, rồi trở thành một trong những ngôi sao điện ảnh đầu tiên và hàng đầu của nền điện ảnh non trẻ Việt Nam, rồi nhanh chóng gặt hái thành công khi “liều mình” khai phá mảnh đất hoang thoại kịch. Có cảm tưởng con người chị sinh ra là để thành công. Nghe vậy, chị cười : “Không đâu, con người tôi sinh ra là để dành cho nghệ thuật. Rời xa sân khấu tôi chỉ là một người phụ nữ bình thường thậm chí là dưới mức trung bình. Chỉ có trên sân khấu tôi mới có thể bộc lộ hết những phẩm chất, những thiên năng của mình”.

Trong suốt thời gian hoạt động nghệ thuật, chị đã viết 60 kịch bản (đã được Guiness Việt Nam công nhận là nữ tác giả kịch nói có nhiều tác phẩm nhất) trong đó có những vở diễn in dấu sâu đậm trong lòng khán giả cũng như làm nên phong cách “kịch Kim Cương” : Lá sầu riêng, Dưới hai màu áo, Tôi là mẹ, Hai mùa giáng sinh, Chiều cao vực thẳm, Bông hồng cài áo… Kịch Kim Cương đầy nữ tính với hình tượng trung tâm là những người mẹ, người vợ, người phụ nữ Việt Nam truân chuyên, chịu thương chịu khó.

Chị bảo : “Đã là con người thì ai cũng phải vất vả tranh đấu, trong đó phụ nữ bao giờ cũng vất vả hơn. Hình tượng người phụ nữ dễ khai thác, dễ “lấy nước mắt” khán giả hơn. Vả lại tôi viết cho mình diễn nên nhân vật nữ, nhất là hình tượng người mẹ, luôn chiếm vị trí quan trọng”.

Có thể nói “kỳ nữ” Kim Cương là một trường hợp đặc biệt khi thành công cùng một lúc với nhiều vai trò : tác giả, đạo diễn, diễn viên chính. Với chị, viết là để thỏa mãn đam mê sân khấu của mình, viết để nói những gì ngoài đời mình không nói được, viết để có thể trở thành những con người mà mình mong muốn hay đơn giản viết để làm những gì mình thích : “Tự dưng tôi thích được mặc đồ bà phước, được nếm trải cảm giác trong những nhà tu thì viết Hai mùa giáng sinh để mình làm… nữ tu. Lúc thích làm người điên, lúc thấy mặc áo bầu hay hay (dù rằng chưa có chồng con)… thì cũng viết ngay các kịch bản có những nhân vật như ý thích để được hóa thân và trải nghiệm cùng nhân vật”…

Sân khấu không nghiêm túc là không được

Dịu dàng, mềm mỏng, đầy nữ tính và cả nhạy cảm, mau nước mắt là những suy nghĩ thông thường của mọi người về nữ nghệ sĩ Kim Cương. Và quả thật, trên sân khấu chị khóc hay thật ! Thế nhưng ngoài đời lại là một Kim Cương thật bản lĩnh và cứng rắn, đặc biệt đối với đoàn kịch Kim Cương, chị còn cho mình là một người “độc quyền”. Từ căn bản của một gia đình giàu truyền thống, từ bản thân người nghệ sĩ trọng nghề nghiệp, Kim Cương đã “gò” cả đoàn kịch Kim Cương theo những nguyên tắc, kỷ luật của mình : nghiêm túc là yếu tố được đặt lên hàng đầu.

“Tôi luôn tâm niệm trong lòng lời dạy của má rằng : sân khấu không phải là nghề mà là một cái đạo làm người. Đây không phải là nơi để kiếm tiền mà là để đóng góp cho đời đẹp hơn. Nên với tôi, với đoàn kịch Kim Cương, sự nghiêm túc trên sân khấu luôn là yếu tố quyết định. Diễn viên dù có diễn xuất hay cách mấy mà không nghiêm túc cũng không được. Tôi thường nói với anh chị em diễn viên : Mỗi đêm diễn đều là một trận đánh chỉ có thắng hay thua mà thôi. Người nghệ sĩ mỗi khi lên sân khấu là phải “cháy” hết mình”.

Kim Cương còn tạo nên một không khí xem hát rất kỷ luật cho những khán giả đến với đoàn. Mỗi đêm diễn dưới khán phòng luôn có tám bảo vệ giữ trật tự bảo đảm không cho con nít khóc, không để người lớn nói chuyện. Mỗi khi mở màn đều có lời nhắn nhủ khán giả giữ trật tự tập trung thưởng thức trọn vẹn những gì mà người nghệ sĩ nỗ lực đem đến. Còn bên trong cánh gà, mỗi khi kéo màn là hậu trường tuyệt đối yên lặng hỗ trợ cho nghệ sĩ trên sân khấu.

Với chị, sự nghiêm túc trong hậu trường chính là sự hóa trang tâm hồn hỗ trợ để bên ngoài người nghệ sĩ thăng hoa và bên trong cũng chuẩn bị kỹ lưỡng cho những lớp diễn kế tiếp. “Tôi còn kỹ tính đến mức không cho phép hậu trường, nơi nghệ sĩ trang điểm bị dơ (bẩn). Tôi cho đóng các bàn trang điểm riêng dành cho nghệ sĩ, mỗi người một nơi và luôn bảo đảm gọn gàng. Bản thân mình phải làm gương, phải dọn mình cho các anh chị em theo đó mà thể hiện”, chị cho biết.

Là người “đứng mũi chịu sào”, bàn trang điểm của Kim Cương luôn được kê sát cánh gà để lỡ nghệ sĩ có cao hứng “cương” (diễn ra ngoài kịch bản) là chị nhào sát ra sân khấu nhắc nhở ngay. Chị thuộc lòng từng vai diễn, từng cái chấm phết, nắm được chỗ nào lên đèn, xuống đèn, từng cái dằn âm thanh… “Tôi còn nhớ một người thầy đã từng nói : người nghệ sĩ giống như que diêm, cái hay tột đỉnh là khi nó chết. Mỗi đêm hát với tôi rất thiêng liêng trong đó cần sự hỗ trợ của nhiều bộ phận: diễn viên, âm thanh, ánh sáng, hậu đài… và đặc biệt là của khán giả. Khán giả phải tôn trọng sân khấu, toàn tâm toàn ý thưởng thức nghệ thuật thì người nghệ sĩ mới có thể thăng hoa. Kịch Kim Cương đâu phải vở nào cũng hay nhưng sự nghiêm túc thì không khi nào được bỏ quên, đấy là phong cách và nó đã giúp kịch Kim Cương được khán giả yêu mến suốt bao nhiêu năm”.

Hỏi chị phải chăng việc tập hợp một ê-kíp chuyên nghiệp đến tập đúng giờ, tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu của đạo diễn, hết lòng trên sàn diễn chứ không mải nghĩ đến chuyện chạy sô… như khi xưa trong tình hình sân khấu hiện nay là điều không thể nên chị đã rút lui khỏi sân khấu dù vẫn còn sung sức ? Chị cười nhẹ nhàng: “Sân khấu ngày nay rất sôi động nhưng sự giao thoa và tôn trọng giữa nghệ sĩ, sân khấu với khán giả tôi lại không tìm được. Có lẽ sân khấu mỗi thời mỗi khác. Và thời gian của tôi lúc này cũng không còn thích hợp để dành cho sân khấu nữa”.

“Sân khấu tác động đến xã hội đôi khi còn ghê gớm hơn sách vở nhiều. Khi tôi diễn vở Bông hồng cài áo, ra ngoài đường gặp nhiều em nhỏ, tụi nó hồn nhiên : “Con ghét bà nội lắm, không thèm ngủ chung với bà nội đâu”, nghe mà giật mình. Nói gì thì nói, sân khấu phải làm người ta sống đẹp hơn. Là tác giả – tôi đòi hỏi cao ở nội dung thể hiện, là một nghệ sĩ – tôi cần sự nghiêm túc. Tôi cảm thấy khó chịu khi xem nhiều tiết mục tấu hài phổ biến hình ảnh vợ chửi chồng, cởi dép rượt chồng chạy vòng vòng, nói năng lăng nhăng thậm chí là tục tĩu. Chính những cái tưởng như vui cười vô hại ấy sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến các em nhỏ sau này…”, chị khẽ nói.

Theo Thể thao & Văn hóa

KIM CƯƠNG – THẨM THÚY HẰNG

Mỗi dịp ghé nhà thăm nữ nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng, mở đầu câu chuyện bao giờ chị cũng nhắc đến người bạn thân : Kỳ nữ kim Cương. Có lúc chị kể chuyện vui, ví von “bà Kim” (tên thân mật mà chị thường gọi Kim Cương) mang danh kỳ nữ đôi lúc… kỳ cục lắm.

Lúc chị lại kể chuyện buồn. Buồn vì một thời hiểu lầm nhau, tránh xa, lánh mặt tưởng “bứt” tình bạn, tình đồng nghiệp, chị em thắm thiết. Còn đối với Kim Cương, mỗi câu chuyện kể về người đẹp Bình Dương là một đúc kết sâu sắc của một mối quan hệ có đến 45 lăm gắn bó.

Vẻ đẹp mỹ miều, sang trọng của Thẩm Thúy Hằng đã từng được xem là vẻ đẹp đại diện cho điện ảnh Sài Gòn thập niên 60 – 70. Thời đó Hằng được Hãng phim Mỹ Vân chọn trong hàng trăm thí sinh tham dự cuộc thi tuyển vai chính trong bộ phim Người đẹp Bình Dương, Hằng đã vuợt qua tất cả để đánh dấu sự kiện đến với nghề diễn viên. Chị Kim Cương kể : “Thời đó đọc báo, nhìn qua ảnh tôi đã giật mình truớc nét đẹp yêu kiều của Hằng. Má tôi, Bảy Nam, đã nhận định : ”Cô này sẽ đem lại cho điện ảnh làn gió mới”.

Quả không sai, Hằng được khán giả hâm mộ bởi nét diễn mộc mạc, chân thật. Sự cạnh tranh của các hãng phim thời đó đã tác động đến tâm lý của những ngôi sao đương thời. Hễ ai đóng chốt cho hãng nào thì ra sức bảo vệ thương hiệu của mình. Tôi biết Hằng đã né tôi nhiều lần. Vì một số cây bút kịch trường thời đó đã tạo xì-căng-đan, so sánh giữa tôi với Hằng. Có lần tôi đến nhà mời tham gia đóng phim với Kim Cương tôi đưa cả kịch bản mời Hằng chọn vai. Ngay việc Hằng đóng chính, tôi đóng phụ cũng được, miễn sao hai chị em có mặt trong một bộ phim, thế nhưng Hằng từ chối. Sau này hãng Mỹ Vân – nơi Hằng ký hợp đồng độc quyền mời tôi tham gia đồng phim Tứ quái Sài Gòn, gồm có anh Tùng Lâm, Khả Năng, La Thoại Tân, Thanh Việt… Lúc đó tôi và Hằng mới có dịp đứng chung truớc ống kính ghi hình”.

Nhắc đến sự kiện bị chia rẽ bởi sự tác động của một số ký giả bẻ cong ngòi bút thời đó, nữ nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng cuời : “Còn trẻ mà, dễ bị tác động. Tôi “”quê”” nhất khi đọc những bài báo so sánh tôi diễn hơn thua với bà Kim. Thiệt tình mà nói Kim Cương là con nhà nòi, tôi là dân tay ngang đến với nghệ thuật, thì so sánh như thế sẽ khập khiễng. Thời gian và tình bạn đã giúp tôi hiểu, cuộc đời là đường trường. Rồi có lúc những trắc trở nghiệt ngã sẽ được hóa giải. Sau bộ phim Tứ quái Sài Gòn tôi đóng vai đào chính của một hãng phim, Kim đóng vai thôn nữ dưới tỉnh lên thành tìm người yêu. Chị em thân nhau, hỗ trợ nhau trên con đường làm nghề. Đến khi Kim tổ chức vở Lôi Vũ, chị em lại có đôi. Tôi đóng Phồn Y, Kim đóng Thị Bình. Nghĩ cũng lạ. Dường như số mệnh khắc khẩu giữa tôi với Kim cứ ám hai chị em, nên vai vế trên sân khấu cũng như lửa với nước. Ngập ngừng giây phút rồi chị Hằng chợt cười thật tươi : “”Kỳ nữ đôi lúc kỳ cục ở chỗ hay hờn mát. Nhiều chuyện không đâu cũng dỗi. Ngẫm nghĩ như lời má Bảy Nam đã nói: “Nghệ sĩ có cái cục tự ái hơn người bình thường”. Vậy chứ hoạn nạn không bỏ nhau được.

Kỳ nữ Kim Cương chỈ có một bé Tô Rô, còn người đẹp Bình Dương có đến năm người con trai. Ngày bé Tô Rô bị bắt cóc tống tiền, NSƯT Kim Cương như điên dại. Lúc đó Thẩm Thúy Hằng luôn bên cạnh chia sẻ, an ủi chị. Kim Cương xúc động : “Giữa chúng tôi như có một sợi dây vô hình buộc chúng tôi lại với nhau. Nhưng Hằng may mắn hon tôi, trong mái ấm gia đình còn có một người đàn ông làm trụ cột. Còn tôi, hơn 20 năm qua vừa làm cha, vừa làm mẹ đối với con trai mình. Cái bền vững nhất là tình bạn trong sáng giữa tôi và Hằng.

Trả lời câu hỏi “”điều gì giúp chị đủ sức sống với nghề khi hạnh phúc gia đình không mấy suôn sẻ ?””. Kim Cương trả lời : “”Tình bạn và lòng yêu nghề đã cho tôi sức mạnh để gắn bó với sân khấu””.

Bây giờ cả hai đều có tuổi, nhưng Thẩm Thúy Hằng và Kim Cương lại chung một sở thích : nghiên cứu Phật giáo, ăn chay, đi chùa, làm từ thiện. Cuộc sống riêng của Thẩm Thúy Hằng được 5 con trai bao bọc. Kim Cương đã có dâu, có cháu nội. “Bà” Kim vẫn lui tới thăm “”bà” Hằng. Bây giờ trong câu hỏi thăm thường xuyên có lời “than” : đau lưng, nhức mỏi ! Nhưng hai người không “”nhức mỏi”” khi nhắc lại với nhau một thủa sống cùng nghề

Theo Phụ nữ CN

KIM CƯƠNG VÀ ĐIỆN ẢNH

Có lẽ Kim Cương từ thoại kịch mới bước sang điện ảnh (trái lại Thẩm Thúy Hằng từ điện ảnh bước sang sân khấu thoại kịch), vì thế báo chí khi nói về nữ nghệ sĩ Kim Cương đều nói đến chị qua bộ môn kịch nghệ như một “cây cổ thụ” chưa ai có thể so sánh. Dù rằng trước đó đã có những ban kịch ra đời trước đoàn thoại kịch Kim Cương như ban Dân Nam, ban Vũ Huân Vũ Huyến hay Năm Châu từ cải lương chuyển thể, với những nữ nghệ sĩ đàn chị như Kim Lan, Kim Cúc, Bích Thuận, Bích Sơn, Kiều Hạnh v.v…

Và thật ra nếu so sánh giữa Kim Cương và Thẩm Thúy Hằng qua bộ môn điện ảnh, thì tên tuổi kỳ nữ Kim Cương không bằng. Lý do như đã nói, Kim Cương bước vào bộ môn nghệ thuật thứ bảy này sau Thẩm Thúy Hằng. Khi đó Thẩm Thúy Hằng đã đang là vơ-đét của nền điện ảnh miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng; còn Kim Cương đang sống ở Pháp để “trốn” một “mối tình” không chờ mà đến.

Đây là một chuyện riêng tư có lẽ chỉ những trong cuộc mới rõ, hoặc có thêm là quái kiệt Trần Văn Trạch cùng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông khi đó đang tổ chức Đại Nhạc Hội Một Cây tại rạp Thống Nhất hồi đầu thập niên 60 thế kỷ trước mới rõ. Vì “mối tình” này được hình thành từ lúc đó, khiến Kim Cương quá lo sợ mà qua Pháp ‘trốn” vài năm sau mới dám về lại quê hương, bắt đầu xây dựng đoàn kịch Kim Cương về sau.

Gần cuối thập niên 60, Kim Cương mới bước chân vào làng điện ảnh qua những cuốn phim do Quách Thoại Huấn bỏ tiền sản xuất. Trước đó Kim Cương cũng đóng nhiều phim cho hãng Alpha của ông Thái Thúc Nha. Đa số phim Kim Cương trong vai chánh thường đóng cặp với nam vai chánh là nghệ sĩ Thành Được, đôi khi với Vân Hùng (như Thẩm Thúy Hằng đóng cặp với La Thoại Tân, Trần Quang) như phim Hai mùa Giáng sinh, Mưa trong bình minh, Chiếc bóng bên đường, Lá soài riêng v.v…

Đường sự nghiệp điện ảnh của Kim Cương không nhiều, nên báo chí khi nhắc đến Kim Cương chỉ qua con đường sân khấu thoại kịch là thế.

Lê Hoàng Nguyễn.

HÀ THANH – Giọng ca xứ Huế

HÀ THANH

TIẾNG HÁT CỦA

DÒNG SÔNG XANH

Gọi tên hoa súng : LỤC HÀ

Gọi thôn LIỄU HẠ : quê nhà bên sông

Gọi TRẦN KIÊM : họ sắc… không

Gọi HÀ THANH: tiếng hát dòng Hương Giang

Có một loài chim khi cất tiếng hót thánh thót vang vọng giữa trời mây sông nước, không gian như lắng đọng để hoà nhập trong âm điệu du dương: hòang oanh. Mang âm hưởng đó, có tiếng ca ngọt ngào, truyền cảm như làn gió nhẹ, như tiếng reo của thuỳ dương, như tơ vương giăng mắc, như sương khói lững lờ, như lời tình tự giữa trăng thanh, như ru ta vào cõi mộng mơ, dìu ta lạc bước vào đất thần kinh với hoàng thành cung điện, với đền đài lăng tẩm, với sông nước hữu tình, với nhạc điệu trầm bỗng, thướt tha : Hà Thanh.

Nữ ca sĩ Hà Thanh tên thật Lục Hà, sinh trưởng ở Liễu Cốc Hạ, Hương Trà, lớn lên bên dòng Bến Ngự đường Huyền Trân Công Chúa; Trần Thị Lục Hà sinh ra trong gia đình gia giáo có mười anh chị em, theo học Trường Nữ Trung học Đồng Khánh. Là một Phật tử thuần thành, thuở nhỏ đã được quy y với Đức Tăng thống Thích Tịnh Khiết.

Lục Hà thích hát từ thuở mới cắp sách đến trường, dần dà năng khiếu về ca hát được thể hiện qua chương trình “Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học – Đồng Khánh” trên Đài phát thanh Huế.

Năm 1955, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, cô nữ sinh Lục Hà của Trường Đồng Khánh mới 16 tuổi tham dự với danh xưng Hà Thanh. Qua 6 nhạc phẩm rất khó hát được Hà Thanh trình diễn như Dòng Sông Xanh (Le Beau Danube Bleu) của J.Strauss, lời Việt của Phạm Duy, Nhạc Buồn (Tristesse) của Chopin, lời Việt của Anh Ngọc, Đêm Tàn Bến Ngự & Áng Mây Chiều của Dương Thiệu Tước, Được Mùa của Phạm Đình Chương, Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay của Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Hà Thanh được Ban Giám Khảo chấm giải nhất với số điểm 19/20.

Tên tuổi Hà Thanh đã được giới yêu thích âm nhạc ái mộ với làn hơi trong sáng, êm ái, ngọt ngào, cao sang, mượt mà, bóng bẩy, tình tự quê hương, có nét độc đáo trong âm điệu đất thần kinh. Tuy yêu nghề nhưng chưa dấn thân vào nghiệp, Hà Thanh vẫn tiếp tục con đường học vấn, chỉ hát ở Huế nhưng những ca khúc được trình bày đã vang xa khắp bốn phương trời qua lán sóng phát thanh của Đài phát thanh Huế, đánh dấu sự chờ đợi, hẹn hò của các trung tâm phát hành đĩa nhạc ở Thủ đô Sài Gòn.

Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, Hà Thanh đã được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm chọn lọc.

Năm 1965, Hà Thanh chính thức gia nhập trong môi sinh hoạt ca nhạc ở Sài Gòn. Từ đó, góp mặt với những tiếng hát hàng đầu như Thái Thanh, Mộc Lan, Kim Tước, Mai Hương, Lệ Thu, Minh Hiếu, Thanh Thuý… Vào giữa thập niên 60, tiếng hát Hà Thanh thường xuyên hiện diện trên các Đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội, Tự Do, trong các chương trình Đại nhạc hội… Thời gian kế tiếp, xuất hiện trên Đài Truyền hình, một giọng ca rất Huế, một hình ảnh rất thân quen đã tạo dựng cho tên tuổi Hà Thanh với sắc thái đặc biệt gắn liền với nhiều bản tình ca in sâu vào tâm tư tình cảm tha nhân.

Vào cuối thập niên 1950, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho ra mắt vài nhạc phẩm đầu tay như Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Mầu Nhớ… Quái kiệt Trần Văn Trạch đã đưa ca khúc Chiều Mưa Biên Giới lên đỉnh trăng sao trong khung trời ca nhạc. Thập niên 1960, NS Nguyễn Văn Đông làm Giám đốc nghệ thuật trung tâm đĩa nhạc Continental, ca khúc Chiều Mưa Biên Giới qua tiếng hát Hà Thanh đã đưa người nghe lâng lâng tâm hồn, bay bỗng “theo áng mây trôi chiều hoang, bầu trời xanh xanh, vầng trăng, cờ về chiều tung bay phất phới…”. Và, hình ảnh biên giới với người đi khu chiến được khơi dậy trong lòng mọi người.

Từ đó, nhiều ca khúc của Nguyễn Văn Đông được Hà Thanh trình bày, qua gần 4 thập niên, vẫn là tiếng hoàng oanh ngân vang đầu núi. Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Hải Ngoại Thương Ca, Nhớ Một Chiều Xuân… của Nguyễn Văn Đông, qua tiếng hát, vô hình chung trở nên bản quyền của Hà Thanh. Ở đó, có khi như định mệnh, thời gian ở hải ngoại, Hà Thanh gắn liền với Hải Ngoại Thương Ca. Với ca khúc Tiếng Xưa, Đêm Tàn Bến Ngự của Dương Thiệu Tước, với Tà Áo Tím, Thuở Ấy Yêu Em, Anh Đi Về Đâu của Hoàng Nguyên, với Chùa Hương của Hoàng Quý, Dứt Đường Tơ của Văn Thuỷ và Dzoãn Mẫn với Mối Tình Trương Chi của Phạm Duy, và nhất là Hẹn Một Ngày Về của Lê Hữu Mục… được Hà Thanh trình bày, qua bao thập niên, vẫn là giọt sương long lanh, tiếng hót của loài chim quý trênđỉnh núi, lời tình tự ngát hương.

Trong văn giới, Mai Thảo đã một thời mê bóng dáng Hà Thanh. Vào thập niên 1960, Mai Thảo trông coi tạp chí Kịch Ảnh nên có nhiều “quan hệ” trong giới ca nhạc. Lê Hà Nam trong bài viết về Mai Thảo đã đề cập : …”Vào cuối thập niên 50, đã từ Sài Gòn, một mình bay ra cố đô Huế; lừng lững tới tận nhà người ca sĩ họ Lục (sau nầy trở thành danh ca dưới tên Hà Thanh). Đó là Mai Thảo, ông hoàng của Đêm sài Gòn. Không chỉ đa số các khán giả không biết mà, ngay cả song thân của người ca sĩ họ Lục cũng kinh ngạc, ngỡ ngàng khi nghe Mai Thảo nói :

– Tôi là Mai Thảo, từ Sài Gòn ra, chúng tôi thật sự muốn lấy Lục Hà làm vợ…

Và, cũng ngay sau đó, song thân của người con gái họ Lục tự thấy rằng sẽ khó khăn cho họ biết là chừng nào, nếu có một chàng rể như… Mai Thảo”.

Hình như ca sĩ thường lập gia đình rất sớm, nhưng Hà Thanh lập gia đình vào tuổi tam thập nhi lập. Năm 1970 kết duyên với người hùng trong Binh chủng Thiết Giáp, Trung tá tá Bùi Thế Dung, Thiết đoàn trưởng. Năm 1972, Kim Huyên ra đời. Hiện nay, Kim Huyên nối nghiệp cầm ca theo thân mẫu.

Hà Thanh cùng chồng sống bên nhau được bốn năm, biến cố tang thương, cách xa mười lăm năm, mang tiếng hát “bi thương” trang trải nơi hải ngoại.

Năm 1975, phu quân Hà Thanh vào chốn lao tù và trải qua 13 năm, Hà Thanh đã chay tịnh cầu an, thề nguyện. Năm 1984 Hà Thanh và đứa con duy nhất được gia đình bảo lãnh sang định cư tại miền Đông Hoa Kỳ.

Năm 1990, vợ chồng được sum họp với nhau. Thế nhưng, theo dòng thời gian với bao nỗi trớ trêu của hệ luỵ, bóng tối cuộc tình đổ xuống trong tuổi bóng xế của cuộc đời sau 2 năm gần gủi bên nhau.

Tuy là ca sĩ chuyên nghiệp nhưng hoàn cảnh đời sống hải ngoại đưa đẫy công việc không liên quan đến nghề nghiệp trong sinh hoạt văn nghệ. Nói như thi hào Nguyễn Du “Đã mang lấy nghiệp vào thân”, làm sao rời bỏ tiếng ca, giọng hát khi lòng còn tha thiết, vẫn còn trong sáng, ngọt ngào, nét độc đáo trong tiếng hát. Trong suốt thời gian vợ chồng xa cách, Hà Thanh rất ít xuất hiện trên sân khấu, con chim hoàng oanh ngậm ngùi im tiếng. Đã một thời nơi đất thần kinh, Hà Thanh được mệnh danh con chim hoạ mi trong vòm trời ca nhạc.

Bước vào thập niên 1990, thỉnh thoảng về thăm Little Saigon, Hà Thanh xuất hiện, trình làng tiếng ca trong vài cuốn CD. Ngoài những ca khúc được hát chung với vài ca sĩ thành danh, tiếng hát Hà Thanh với CD khởi đầu Hải Ngoại Thương Ca, và CD kế tiếp Chiều Mưa Biên Giới, gồm hai mươi ca khúc quen thuộc, vang danh. Những ca khúc nầy đã một thời tạo dựng tên tuổi Hà Thanh nổi tiếng trong kiếp cầm ca. Và, ngược lại, đôi khi còn là của riêng bởi giọng ca đặc biệt ngọt ngào, thướt tha, mềm mại như lụa đào, như dáng liễu nhẹ nhàng tung bay trong làn gió nhẹ.

Ở đây, gặp lại những tình khúc một thời luyến nhớ từ Chiều Mưa Biên Giới. Mấy Dặm Sơn Khê, Nhớ Một Chiều Xuân, Hải Ngoại Thương Ca, Khúc Tình Ca hàng Hàng Lớp Lớp của Nguyễn Văn Đông đến Thiên Thai của Văn Cao, Chiều Vàng của Nguyễn Văn Khánh, Nỗi Niềm của Tuấn Khanh, Tiếng Xưa của Dương Thiệu Tước, Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn của Văn Phụng.

CD Sầu Mộng gồm mười nhạc phẩm được chọn lọc của Phạm Vũ như Hương Bay, Sầu Mộng, Mây Mùa Thu… tuy không được ái mộ nhiều nhưng cũng là món quà đóng góp trong vườn hoa nghệ thuật hải ngoại.

CD Ngát Hương Đàm gồm 12 ca khúc mang mầu sắc Phật Giáo, ngợi ca đức tin, lòng yêu thương, huyền nhiệm cao cả giữa đạo và đời. Là Phật Tử, Hà Thanh thường đi trình diễn trong dịp lễ của Phật Giáo như công quả thệ nguyện.

CD Nhành Dương Cưu Khổ được tiếp nối sau CD về đạo ca mà Hà Thanh ôm ấp trong tâm tưởng.

Hà Thanh được hầu hết mọi người ái mộ từ nhân cách của người ca sĩ đến giọng ca được trải dài trong gần nửa thế kỷ. Bước vào thiên niên kỷ mới, Hà Thanh bước sang tuổi lục tuần. Hà Thanh còn giữ được giọng ca truyền cảm, điêu luyện để đóng góp vào dòng sinh hoạt ca nhạc hải ngoại, Hà Thanh thực hiện tiếng ca của con chim hoàng oanh để được lưu truyền, nếu không, phôi phai theo thời gian, mỗi chuổi giây đưa ta về miền cát bụi… rồi một ngày nào đó, không còn tác phẩm cho đời, ngậm ngùi tiếc nuối. Trước kia, Hà Thanh không xuất hiện ở vũ trường, vào đầu thập niên 70 Hà Thanh xuất hiện với lý do đặc biệt vì không nhận thù lao.

Hà Thanh, một giọng ca bay bỗng, lẫy lừng, tiếng hát đã chinh phục hàng triệu trái tim trên làn sóng điện, và, một cuộc sống trầm lặng. mộ đạo, hiếu thảo bên thân mẫu vào tuổi cửu tuần. Tiếng hát Hà Thanh cao vút, luyến láy rất nhuần nhuyễn khơi dậy nhựng mạch nguồn của nhớ nhung, của một thời yêu thương với khung trời vấn vương bao kỹ niệm, của hương xưa, của thuở chiến chinh, của trời mây non nước… tất cả mang theo hình ảnh thân thương của bóng dáng quê hương. Tiếng hát Hà Thanh như cuốn hút người nghe thả hồn về quá khứ, thả mình trong tĩnh lặng, trong nỗi xa xăm bị đánh mất, mịt mù thức mây… được vỡ về, bầy tỏ, an ủi cho nhau bởi âm điệu ngọt ngào du dương.

Có hai gã Trần Kiêm lang bạt xa quê gặp nhau bên trời Tây cùng nói về một nhân vật. Thi sĩ Kiêm Thêm nói về “mụ O” và tôi nói về “bà Chị” nghệ sĩ của mình là ca sĩ Hà Thanh bằng một mẫu “sơ yếu lý lịch” hợp soạn hòa âm rất chơn chất và… nên thơ như thế đó.

Thuở nhỏ ở làng Liễu Hạ, tôi thường lên mặt hãnh diện khi cuối tuần ngồi quanh cái “Ra-dô” ở làng với bọn nhóc tì trong xóm nghe chương trình ca nhạc của ban Việt Thanh (do nhạc sĩ Văn Giảng — cũng là Thông Đạt tác giả Ai Về Sông Tương — thành lập và điều khiển) ở đài phát thanh Huế, mà trong đó, Hà Thanh, bà chị họ của tôi, là ca sĩ… hát hay nhất. Nhóm bình luận gia âm nhạc chân đất làng tôi từ sáp nhỏ cho đến người lớn chẳng biết có mang hội chứng “trái ấu” (“Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo”. Tục ngữ dân gian) hay không nhưng ai cũng xuýt xoa khen giọng hát Hà Thanh thuở đó là “hay nhứt xứ.”

Làng Liễu Hạ và họ Trần nhà tôi — có lẽ luôn cả Huế — hầu hết là những rặng thông già kẻ sĩ không lớn kịp với mùa Xuân nghệ sĩ đang lên. Đó là hiện tượng nghịch lý rằng, ai cũng mến mộ giọng hát của Hà Thanh, nhưng lại ái ngại khi một cô nữ sinh xinh đẹp xứ Huế, ái nữ của một gia đình nho phong “êm đềm trướng rủ màn che” trở thành ca sĩ.

Nhất là dòng họ Trần Kiêm chúng tôi có bác Trần Kiêm Phổ làm trưởng tộc thì lại càng quan tâm nhiều hơn. Bác “Trợ Phổ”, thân phụ của chị Hà Thanh, với dung mạo uy nghi, thường cầm cân nẩy mực cho cả dòng họ, nay lại cho phép chị Hà đi hát công khai trên đài phát thanh, thì quả là một cuộc “đại cách mạng” trong quan niệm truyền thống còn mang nhiều định kiến của đất lề quê thói rất Huế đương thời.

Ngày đó, khu nhà vườn cổ kính ở mé này nhánh sông Hương nối liền với sông An Cựu nắng đục mưa trong; ngó qua mé bên tê sông là trường Pellerin vẫn thường được giới nam nhi Huế ròng và Huế “bậu” — bắt chước Lan Đình gọi là “Vườn Thúy Hạnh” – vì một nhà mà có nhiều hơn cả “ngũ long công chúa”, đều mang tên chữ có bộ thảo và rất chi là… tường Đông ong bướm đi về mặc ai: Tố Cần, Hà Thanh, Phương Thảo, Liên Như, Thúy Vy, Bạch Lan, Hoàng Mai.

Đời nghệ sĩ của Hà Thanh bắt đầu từ năm 1953, lần đầu đài Phát Thanh Huế mở một cuộc tuyển lựa ca sĩ với quy mô lớn. Anh Trần Kiêm Tịnh biết cô em gái mình có giọng hát hay quá nên đã dắt em đi thi. Điều kiện ghi danh dự thi là phải từ 15 tuổi trở lên. Ngày đó, Lục Hà, cô nữ sinh áo trắng nón bài thơ Huế mới 14 tuổi, nên phải “kiếm thêm một tuổi trời cho” nữa mới đủ tuổi dự thi và kết quả đứng đầu cuộc thi.

Tuy ông cụ thân sinh chị Hà Thanh là người theo Tây học với tinh thần cởi mở phương Tây, nhưng “phương Tây Huế” thuở đó cũng vẫn còn trong mẫu mực nho phong. Nhạc sĩ Ngô Ganh là giám đốc đài phát thanh Huế đương thời, phải dùng uy tín của mình đến nhà năn nỉ, rằng : “Học hành thì đứa nào học chẳng được, nhưng còn cái tài của cháu Hà Thanh là một tài năng độc đáo, có giá trị trong cả nước Việt Nam. Nếu không cho đi hát thì tài năng sẽ bị mai một đi, uổng lắm.” Ông cụ nghe lời minh giải hợp lý nên cho đi hát ở đài phát thanh mà thôi, không hát ở phòng trà hay sân khấu. Từ đó, tiếng hát Hà Thanh đã vọng ra xa hơn bên ngoài rào dậu Vườn Thúy Hạnh.

Người ta vừa thưởng thức giọng hát thanh thoát, mượt mà (uyển thanh) như tiếng sông Hương đang lên của Hà Thanh; nhưng đồng thời cũng vừa quan sát nàng ca sĩ xứ Huế đó như một hiện tượng.

Nói về giọng hát thiên phú của Hà Thanh đã có rất nhiều văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ… nhiệt thành khen tặng. Một vị thầy âm nhạc của tôi ở trường Hàm Nghi Huế là nhạc sĩ Văn Giảng (cũng ký tên là Thông Đạt, tác giả Ai Về Sông Tương…) đã cho rằng, Hà Thanh là một ca sĩ tiêu biểu của Huế. Chị có một giọng hát thanh tao, quý phái với mức thể hiện cường độ và trường độ âm thanh vừa vặn, diễn cảm tuyệt vời. Đặc biệt là những luyến láy mềm mại rất có hồn và gợi cảm trong tiếng ca. Luyến láy mà không làm điệu tới mức uốn lượn quanh co thành ra làm dáng trình diễn là nét độc đáo nhất trong tiếng ca Hà Thanh.
Nhân dáng, điệu bộ trình diễn và phong cách sinh hoạt đời thường cũng như trong hội diễn vẫn bị xem là một “đại nghiệp dĩ” của người ca sĩ.

Nếu như nói theo Đào Uyển Minh, nhà phê bình nghệ thuật Đài Loan khi nhận định về Quỳnh Dao, thì phong thái của một nghệ sĩ là “sự biểu hiện cụ thể của một chuỗi phản ứng tâm lý có điều kiện khi tài năng thiên phú đối mặt và tương tác với trình độ giáo dục, hoàn cảnh xã hội và xu hướng nghệ thuật của thời đại” thì quan niệm nầy có vẻ sát hợp với Hà Thanh. Chị sinh ra và lớn lên ở Huế. Huế được người đời nhớ nhung và yêu thương không chỉ vì Huế đẹp, Huế thơ mà còn vì Huế là vùng đất của nhiều tai trời ách nước; chịu nhiều oan khiên và đổ vỡ tan tác từ thuở công chúa Huyền Trân đổi mình cho Huế, áo xiêm phiêu bạt về Chiêm quốc. Cho nên, hầu như tất cả nghệ sĩ xứ Huế đều không có sự biểu hiện táo bạo, vỡ bờ, chinh phục để cuốn hút khách thưởng ngoạn qua dáng vẻ bên ngoài. Đấy cũng là cảm nhận của Thu Bồn, một nhà thơ xứ Quảng :

“… sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.”

Nhà thơ Nhất Tuấn, tác giả “Chuyện Chúng Mình” vang tiếng một thời, nói về Hà Thanh như sau :

“Tôi có dịp gặp Hà Thanh khi làm quản đốc đài Phát Thanh Quân Đội (1968) tại Sài Gòn. Hà Thanh lúc đó hát rất hay và xuất hiện thường xuyên trên các đài VOF, Mẹ Việt Nam, đài Sài Gòn, đài Quân Đội. Hà Thanh càng ngày càng nổi tiếng. So với những ngày còn ở Huế, sự giao thiệp của Hà Thanh có phần bạo dạn hơn đôi chút, nhưng vẫn còn dè dặt và giới hạn lắm. Thời này Hà Thanh hát nhiều bài của Nhất Tuấn do Phạm Duy, Đan Thọ, Hoàng Lan phổ nhạc. Đặc biệt là Hà Thanh hát rất nổi tiếng những nhạc phẩm của Nguyễn Văn Đông và nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn, Từ Linh. Bài nào Hà Thanh hát lên cững làm người nghe rung động vì khi hát nàng để hết tâm hồn vào lời thơ, ý nhạc của tác giả muốn gởi gắm trong bài. Hà Thanh như ‘nhập’ vào bài hát để diễn tả, để làm toát lên giọng Huế rất dễ thương.”

Tác giả Chuyện Chúng Mình mô tả Hà Thanh :

“Dáng người thanh tú, cao cao, nụ cười vui tươi luôn nở trên môi với nét mặt rạng rỡ. Tính nết Hà Thanh nhu mì, hiền dịu, khác biệt trong giới nghệ sĩ.”[5]
Và nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương đã “phong Huế” cho Hà Thanh, rằng: “Dáng nhỏ nhắn, thanh thoát, dịu hiền, khiêm tốn; tuy tươi mát, thân tình nhưng cũng rất e dè và chừng mực của Hà Thanh là nét tiêu biểu cho con người và phong thái của ‘vùng đất khó’… Huế.”

Những góc nhìn và cách nhìn có thể khác nhau về một Hà Thanh ca sĩ, nhưng hình ảnh và nhận định về một Hà Thanh hiện thực vẫn là chung nhất. Đó là một Hà Thanh mà về hình tướng cũng như về phong cách sinh hoạt và trình diễn văn nghệ rất tiêu biểu cho “tính Huế” đã ăn sâu trong từng nỗi niềm nhớ Huế : Sâu lắng, nồng nàn, trang trọng, tài hoa.

Chị Hà Thanh sang Mỹ năm 1984. Có những cây cầu đã gãy trong chiến tranh và những mối tình gãy đổ sau cuộc chiến. Trong cảnh “trải qua một cuộc bể dâu”, Hà Thanh tìm về với thiền học, thiền định và thiền ca. Những bản nhạc Thiền do Hà Thanh hát hoặc vừa phổ nhạc thơ thiền, vừa ca mang âm hưởng thâm trầm, gợi cảm mà gần gũi của nước “sông An Cựu Nắng đục mưa trong” và sự lắng đọng thấm vào lòng người của hồi chuông Thiên Mụ. Những khi buồn nhất và lắng lòng chiêm nghiệm từng vọng âm suy tưởng từ tâm mình, tôi lại thích nghe thiền ca do Hà Thanh hát.

Giọng hát đậm đà còn mang cái gốc thanh âm giọng Huế của chị làm cho người nghe có cảm tưởng như đang nghe những lời tự tình của Huế. Nghe Hà Thanh hát thiền ca, người ta bỗng quên đi sự hiện hữu của thời gian đã làm cho đời phôi pha và quên luôn khoảng cách thời gian làm nên tuổi tác của chị. Một cảm giác thanh tân, tươi mát và lắng đọng đầy ắp lòng người chợt đến, chợt đi hay thấm đượm vào trong cảm xúc.

Khán giả ái mộ Hà Thanh liên tưởng đến nguồn Thiền đang tưới tẩm bản chất nghệ sĩ của chị khi chị xuất hiện gần đây trong các cuộc trình diễn và thu băng gây quỹ từ thiện, cũng như trong các chương trình nhạc hội Asia, Paris by Night với dáng vẻ trẻ trung, tươi mát như cả mấy mươi năm về trước. Trong thế giới ca sĩ trẻ đang lên, Hà Thanh không bị chiếc cầu thế hệ ngăn cách; trái lại, chị đã làm cho khán giả ái mộ cảm động và thưởng thức giọng hát vẫn trong ngần, quý phái của chị trên nẻo về gần “thất thập cổ lai hy.” Hà Thanh có một chỗ đứng riêng trong lịch sử tân nhạc Việt Nam và một vị trí độc sáng trong lòng người yêu nhạc xứ Huế.

Nửa thế kỷ, những dòng sông xanh vẫn luân lưu chảy. Tiếng hát vượt thời gian của Hà Thanh vẫn còn xanh mát như tên chị, như những dòng sông xanh mà muôn đời con nước vẫn đang về, đang tới. Và, nói thêm bằng những nét chấm phá thi vị như một nhà thơ nào đó, “…có một chút gì rất Huế, rất thương… Có một chút gì rất Huế trang đài…” trong tiếng hát Hà Thanh.

Trần Kiêm Đoàn (Natomas)

Slide Shows  và  Videos với Tiếng hát Hà Thanh

(click để xem pps hoặc download)

Power Point Show “Hoa Xuân”

Power Point Show “Sàigòn Trong Trái Tim Tôi”

Power Point Show “Chào Đất Nước Tự Do và Hy Vọng”

Power Point Show “Chiều Mưa Biên Giới”

Power Point Show “Ai Lên Xứ Hoa Đào”

Power Point Show “Đêm Đông”

Power Point Show “Tà Áo Tím”

Power Point Show “Nụ Cười Sơn Cước”

Power Point Show “Hải Ngọai Thương Ca”

Power Point Show “Đêm Tàn Bến Ngự”

Videos youtube:

Chieu Vang

http://www.youtube.com/v/XOTKEJ1p3tY

Mấy Dậm Sơn Khê

http://www.youtube.com/watch?v=fAclyT-7Ajc&feature=related

Nho Mot Chieu Xuan

http://www.youtube.com/watch?v=5yCw1JDqMy4&feature=related

Hoặc click link sau đây để có tất cả các videos youtube cù a Hà Thanh :

http://www.youtube.com/results?search_query=ha+thanh

Đoàn Hồng post