Ca nhạc sĩ MIÊN ĐỨC THẮNG

Người nghệ sĩ đa tài với

âm thanh quyện sắc màu

– NGUYỄN VIỆT

Bảo Tàng Mỹ Thuật và triển lãm số 69 Phó Đức Chính, Quận 1, trong năm 2009 có mở một cuộc triển lãm tranh tượng (từ ngày 6 đến 15/8/2009) lấy tên “10 trại sáng tác & tác phẩm mới” báo cáo và giới thiệu trên dưới 700 tranh tượng của các hội viên Hội Mỹ Thuật TP.

Trong số tranh tượng triển lãm chỉ có đúng 12 giải thưởng, và Miên Đức Thắng một nhạc sĩ tên tuổi nay thêm một tài nghề mới là hội họa và nặn tượng, đã đoạt 1 trong 12 giải thưởng trên, qua bức sơn dầu mang tên “Phố Trăng” trong khổ 100x100cm.

Thế mới thấy Miên Đức Thắng là người đa tài, bởi mọi người biết nhiều về anh qua môi trường là một ca nhạc sĩ hơn là một họa sĩ vẽ tranh và nặn gốm sứ nghệ thuật.

Theo nhà thơ nhà báo Thiên Hà viết về Miên Đức Thắng, trong cuốn hợp tuyển thơ nhạc họa “Một thời Sài Gòn” :

Thanh âm quyện sắc màu

Hơn 40 năm trước người con trai 20 của sông Hương núi Ngự bỗng cất cao giọng hát thấm đẫm tình người giữa lòng Sài Gòn đang từng giờ nung độ nóng. Từ những đêm rực lửa thắp sáng những khoảng khuôn viên Đại học, những bãi cỏ, lều tranh, quán Tre, quán Lá… tiếng “Hát từ đồng hoang” vang dậy phố phường át tiếng bom, tiếng đại bác nửa khuya vọng về thành phố, khiến bao người thức tỉnh giữa đêm đen. Những ca khúc, hành khúc, tự tình khúc ấy vang lên tự đáy lòng khát vọng yêu thương như triều sóng, hòa cùng nhịp đập của hàng chục vạn trái tim tuổi trẻ trong triệu triệu trái tim Việt Nam, dốc đổ, dâng trào.

Đó là cung bậc, giai điệu, là thanh âm được toát ra từ lồng ngực của chàng sinh viên Đại học Khoa học Sài Gòn những năm 1965-1967 có biệt danh Miên Đức Thắng như một hiện tượng âm nhạc gắn liền với cuộc sống và “Lớn mãi không ngừng”. Đối với Miên Đức Thắng, sáng tác và trình diễn âm nhạc là hơi thở, là bạn đồng hành không những trong quá trình theo anh lên Ban Cao học tại Viện Đại học Vạn Hạnh cũng như Đại học Đà Lạt vào thời gian tiếp theo (1968-1972) mà âm nhạc luôn gắn bó với anh dọc những năm dài dâu bể. Dù ở đâu, làm gì âm nhạc vẫn là máu thịt anh.

Năm 1989, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng sống và làm việc tại CHLB Đức như một cuộc trở mình, và anh lại bỗng cất cao tiếng hát Việt Nam – một thời Sài Gòn tại một số nước Châu Âu như Đức, Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Hà Lan… và Hoa Kỳ, Canada… sống lại tuổi hai mươi.

Sau những năm phiêu bạt bặt tăm, chúng tôi gặp lại nhau trong một thoáng tình cờ, chợt nhận ra chút gì đó đổi thay trên khuôn mặt, vừa bỡ ngỡ vừa mừng vui mà nước mắt chực ứa ra, mới hay rằng đời chưa thất lạc vẫn còn hiện diện trên cõi nhân gian. Theo ý tưởng triết học thì sự hiện diện là một cái gì đó đã mất đi, và sự mất đi chừng nào, sự khát khao hiện diện lại càng rõ chừng đó. Con người chịu sự thay đổi, biến thiên theo dòng thời gian, theo dòng thế sự thăng trầm mà vẫn đầy ắp ước mơ. Tuổi trẻ thời chiến có lẽ ước mơ nhiều hơn, cao vọng nhiều hơn thời hòa bình. Nhưng không phải vì những nghĩ suy ấy mà nhạc sĩ Miên Đức Thắng hôm nay vơi đi những khát vọng. Trái lại anh có nhiều mơ ước mãnh liệt hơn, nhằm thay đổi cách nhìn qua lăng kính Hội họa. Song song với việc sáng tác âm nhạc, với lòng đam mê nghệ thuật vươn tới tầm cao, Miên Đức Thắng bước vào thế giới sắc màu bằng tất cả tâm hồn của người nghệ sĩ, và anh đã tự khẳng định được thế đứng của mình. Qua những lần triển lãm và trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật, tranh Miên Đức Thắng được đánh giá cao và anh từng nhận giải thưởng của Hội Mỹ thuật Thành phố.

Thỉnh thoảng tôi tạt qua “bếp vẽ” của Miên Đức Thắng ở trên đường Lý Tự Trọng, Quận 1 để được nghe anh đánh dương cầm, anh hát những ca khúc mới sáng tác trong tập “Sóng Chờ”, và được xem tranh anh đang vẽ. Phải công nhận, lĩnh vực nào Miên Đức Thắng cũng gây ấn tượng. Tiếng hát Miên Đức Thắng vẫn ngọt ngào, trẻ trung như ngày nào và tranh anh là sự hòa trộn sắc màu tạo thành ngôn ngữ hội họa của một thế giới sâu thẳm riêng tư.

Mùa Xuân đã qua đi và mùa Đông đang tới trên những ngọn thông vàng, mà dòng nhạc, thanh âm quyện sắc màu của Miên Đức Thắng vẫn xanh tuổi xuân thì, mênh mang, sống động.

Một chút tiểu sử về Miên Đức Thắng

Miên Đức Thắng sinh tại Huế năm 1945, đã có gia đình gồm một vợ và 4 cô con gái (đang định cư tại CHLB Đức cùng gia đình từ năm 1989 tới nay). Còn nhà ở Lý Tự Trọng, Quận 1, Sài Gòn, nơi mỗi khi anh trú chân về quê hương.

Miên Đức Thắng xuất thân từ Đại Học Khoa Học Sàigòn (1965-66-67), Đại Học Vạn Hạnh (1968), Ban Cao Học Đà Lạt (1972) và học âm nhạc với thầy Văn Giảng nguyên Giám đốc Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn.

Như đã nói, vào trước năm 1975 mọi người chỉ được biết Miên Đức Thắng qua phong trào du ca cùng SVHS từ cuối thập niên 60 đến giữa thập niên 70 của thế kỷ trước.

Trong quá trình sự nghiệp là ca nhạc sĩ, vì anh vừa trình bày các ca khúc do chính anh sáng tác cùng những nhạc phẩm của các nhạc sĩ khác.

Sự nghiệp ca nhạc sĩ của Miên Đức Thắng :

– 1965-1966 góp mặt trong tập nhạc “Hát từ đồng hoang”

– 1970 : Xuất bản 3 cuộn băng mang tên Việt Nam 1, 2 và 3

– Các tác phẩm tiêu biểu : “Hát từ đồng hoang” (1965), “Lớn mãi không ngừng” (1966), “Sóng chờ” (2005).

Chính kiến trong sáng tác :

Trong một bài phỏng vấn, có ký giả đã hỏi nhạc sĩ Miên Đức Thắng, chúng tôi xin trích đăng những câu hỏi đáp như sau :

– Hỏi : Nói đến nhạc sĩ Miên Đức Thắng, là nói đến dòng nhạc phản ánh, đi sát với cuộc sống, khởi sự từ những năm 60-70 tươi rói tính thời sự, tới nay, xin ông cho biết sự khác biệt gì trong sáng tác của ông hiện tại ?

– Đáp : Trong một ý tưởng triết học, có nói rằng, sự hiện diện là một cái gì đã mất đi. Và sự mất đi chừng nào, sự khao khát hiện diện lại càng rõ chừng đó. Càng xa quê hương chừng nào, sự hiện diện quê hương trong tâm tưởng tôi càng rõ chừng đó vậy. Cũng giống như khi người mẹ còn sống, mình ít lưu tâm. Nhưng rồi mất mẹ, càng nhớ thương nhiều hơn. Cho tới bây giờ, nhắc lại thời kỳ sáng tác nhạc những năm 60-70, tôi vẫn còn nghe dòng chảy quê hương trong tâm tư mình. Đó cũng là điều thích thú lắm.

– Hỏi : Thấm thoát, nhìn lại thời gian xa xứ đã hơn 30 năm, như một giấc mơ dài cho những người Việt rời xa quê hương kể từ dấu mốc 1975, ngồi ở đây, nhìn ngược lại dòng quay lịch sử, thời điểm của 30 năm trước, nhạc sĩ Miên Đức Thắng là một thanh niên trẻ yêu đời, lý tưởng… từ những ca khúc trong tập “Hát trên đồng hoang”, ông có thấy những ca khúc đó có tính chất “tiên tri” nào hay không, có đúng hay là… trật lất?

– Đáp : Con người chịu sự thay đổi, biến thiên của thời cuộc. Nói theo triết lý nhà Phật, đời là vô thường. Cái gì cũng thay đổi hết, theo thời gian. Tuổi trẻ bao giờ cũng mang một lý tưởng khác thường. Tuổi trẻ của chúng tôi trong chiến tranh, có lẽ ước mơ nhiều hơn tuổi trẻ bây giờ. Tuổi trẻ của thời chiến cao vọng nhiều hơn là thời bình, tôi nghĩ vậy. Bây giờ khi lớn tuổi, về hưu, tôi nhìn mọi vấn đề khác xưa, tất nhiên, và tâm cảnh thay đổi theo tuổi tác và sức khỏe. Âm nhạc, hội họa của tôi đã thay đổi.

– Hỏi : Âm nhạc, hay nói chung, nghệ thuật là sự phản ảnh từ cái tâm của người sáng tác, cho tới giờ phút này khivề hưu, nhìn lại chặng đường đã qua, ông có thấy những gì tiếc nuối, hoặc chưa nói lên hết được qua âm nhạc, hội họa hay không?

– Đáp : Âm nhạc và hội họa của tôi, vẫn chỉ là những bước bắt đầu mà thôi. Lý do, tôi nhìn mưa, nhìn trăng, vẫn xúc động như thuở nào. Tất nhiên, nỗi xúc động hôm nay khác xưa. Tôi cảm thấy mình chưa đủ khả năng để diễn tả nổi những gì mình cảm nhận đối với những gì xảy ra xung quanh. Nói về sự thất bại của ngôn ngữ âm nhạc, hay kỹ thuật vẽ tranh, tôi cảm nhận sâu xa sự giới hạn của mình. Do đó, tôi hầu như không thấy hài lòng những gì mình đã làm.

– Hỏi : Câu chuyện của chúng ta đã đi từ hiện tại, đi ngược về quá khứ, xin ông một câu hỏi cho tương lai, trong những năm tháng sắp tới, nghiệp viết nhạc, vẽ tranh của ông sẽ không tách rời khỏi nhau, ông sẽ viết nhạc, vẽ tranh về đề tài, khuynh hướng như thế nào ?

– Đáp : Ước mơ của tôi, chắc cũng không khác các bạn trong giới nghệ sĩ là tiếp tục được viết, vẽ, sáng tác nhiều nữa… như ban đầu, với một tấm lòng trong sáng, thơ ngây, với sự háo hức của tuổi trẻ là lúc nào cũng vươn tới, không bao giờ thấy hài lòng với mình. Mới viết một ca khúc hôm qua đó, hôm sau đã muốn viết tiếp một khúc nhạc mới hay hơn, ý nghĩa hơn, hay mới vẽ một bức tranh của hôm trước, hôm sau đã bị thôi thúc một bức tranh khác đẹp hơn, tươi sáng hơn.

Như vậy, sẽ làm cho mình lúc nào cũng mới hoài, mới hoài với chính mình. Tôi nghĩ câu “Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân” (Ngày mới, ngày mới lại ngày mới) là điều tôi mong muốn. Nhìn lại những gì mình viết, tôi thấy mình viết đến con người là nhiều nhất. Con người với những lo toan, khuynh hướng nhân sinh nhiều hơn. Còn khuynh hướng “nghệ thuật vị nghệ thuật”, cũng là ước mơ vương tới của tôi, nhưng chưa đạt được. Khả năng của tôi chỉ có thể đụng tới sự kiện liên quan đến cuộc sống, đến con người cụ thể, trong bối cảnh xã hội cụ thể mà thôi.

NGUYỄN VIỆT

Advertisements

Nhạc sĩ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

Nhạc sĩ phổ thơ mang tính thiên tài

– Nguyễn Việt

Nói đến nhạc sĩ Phạm Đình Chương là nói đến những nhạc phẩm tình ca lãng mạn được sáng tác từ thời tiền chiến cho đến bây giờ. Đa số nhạc phẩm do ông sáng tác được phổ từ thơ.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một tên tuổi lớn của nền âm nhạc Việt Nam. Nếu phải so sánh giữa Phạm Đình Chương với Phạm Duy, có lẽ cả hai đều  “kẻ tám lạng người nửa cân”, chỉ có điều Phạm Đình Chương không sáng tác nhạc đủ thể loại và theo kiểu “thị trường” như “Sức Mấy Mà Buồn”, “Bỏ Qua Đi Tám” hay nhạc Việt hóa v.v… mà Phạm Duy có sở trường. Phạm Đình Chương chỉ có một con đường để đi, là chọn con đường vì văn học nghệ thuật.

Chúng ta thử điểm qua những sáng tác tiêu biểu của Phạm Đình Chương từ trước đến nay :

– Hội trùng dương, Ly rượu mừng, Tiếng dân chài, Anh đi chiến dịch, Bên trời phiêu lãng, Đất lành, Đêm cuối cùng, Đến trường, Định mệnh buồn, Đón xuân, Ra đi khi trời vừa sáng (viết với Phạm Duy), Đợi chờ (viết với Nhật Bằng), Được mùa, Hò leo núi, Khi cuộc tình đã chết, Khúc giao duyên, Kiếp Cuội già, Lá thư mùa xuân, Lá thư người chiến sĩ, Mỗi độ xuân về, Mười thương, Nhớ bạn tri âm, Sáng rừng, Ta ở trời tây, Thằng Cuội, Thuở ban đầu, Trăng mường Luông, Trăng rừng, Xóm đêm, Xuân tha hương…

Nhạc phổ thơ có những ca khúc như : Buồn đêm mưa (thơ Huy Cận), Cho một thành phố mất tên (thơ Hoàng Ngọc Ẩn), Nửa hồn thương đau, Bài ngợi ca tình yêu, Dạ tâm khúc , Đêm màu hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn, Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển, Quê hương là người đó (thơ Du Tử Lê), Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Hạt bụi nào bay qua (thơ Thái Tú Hạp), Heo may tình cũ (thơ Cao Tiêu), Mắt buồn (thơ Lưu Trọng Lư, tặng Lệ Thu), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ)… và còn rất nhiều nhạc phẩm khác v.v…

Một chút tiểu sử :

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 và qua đời vào năm 1991. Khi soạn nhạc ông ký bút hiệu Phạm Đình Chương, còn đi hát, chỉ trong ban hợp ca Thăng Long, ông có tên gọi ca sĩ Hoài Bắc.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh 14/11/1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ở Hà Nội còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cha ông, sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung, trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói. Người vợ sau tức mẹ ruột Phạm Đình Chương sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út là Phạm Thị Băng Thanh, tức nữ ca sĩ Thái Thanh.

Từ nhỏ Phạm Đình Chương được nhiều người chỉ dẫn về nhạc lý, nhưng phần lớn ông vẫn tự học là chính. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc cùng các anh chị em ruột hai dòng như Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV, để từ đó thành tên Ban hợp ca Thăng Long.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác âm nhạc vào năm 1947, lúc mới 18 tuổi, nhưng phần nhiều nhạc phẩm của ông thường được xếp vào dòng tiền chiến bởi mang phong cách trữ tình lãng mạn. Các nhạc phẩm đầu tiên như Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, Hò Leo Núi… có không khí hùng tráng tươi trẻ.

Năm 1954, nhạc sĩ Phạm Đình Chương cùng gia đình chuyển vào miền Nam sinh sống, rồi tái lập lại Ban hợp ca Thăng Long để hoạt động. Thời kỳ này các sáng tác của ông thường mang âm hưởng miền Bắc như nói lên tâm trạng hoài hương của mình như các nhạc phẩm : Khúc giao duyên, Thằng Cuội, Được mùa, Tiếng dân chài… Thời gian sau, ông viết nhiều bản nhạc nổi tiếng và vui tươi hơn : Xóm đêm, Đợi chờ, Ly rượu mừng, Đón xuân…

Sau khi cuộc hôn nhân với nữ ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá : Đêm cuối cùng, Thuở ban đầu, Người đi qua đời tôi, Nửa hồn thương đau…

Có thể nói Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Nhiều bản nhạc phổ thơ của ông đã trở thành những bài hát bất hủ, có một sức sống riêng như Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê)… ông cũng đóng góp cho nền tân nhạc Việt với một bản trường ca bất hủ mang tựa “Hội trùng dương” viết về ba con sông nước Việt là sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long.

Sau 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại California, Hoa Kỳ, và mất vào ngày 22/8/1991.

“NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU”

VỚI TÂM SỰ RIÊNG TƯ

Vào những năm 1960 thế kỷ trước, báo chí Sài Gòn đã hao tốn rất nhiều giấy mực vì phải đăng nhiều kỳ vụ nhạc sĩ Phạm Đình Chương ly dị vợ là nữ ca sĩ Khánh Ngọc. Tòa án xét xử nhiều lần chưa xong, vì thế vụ việc càng làm cả hai trở nên nổi tiếng, vừa theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

Bởi lúc đó, ban hợp ca Thăng Long đang nổi đình đám nhất trong sinh hoạt ca vũ nhạc kịch thời bấy giờ, lúc ấy “nhóm Thăng Long” bao gồm nhiều nghệ sĩ nổi danh như Hoài Trung, vợ chồng ca sĩ Thái Hằng – Phạm Duy, ca sĩ Thái Thanh, vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương (Hoài Bắc) – Khánh Ngọc. Nếu không kể đến người chị dâu Kiều Hạnh cũng là một nữ kịch sĩ đang được ái mộ trên các sân khấu thoại kịch.

Phải nói trong thời gian sau 1954, các ca kịch sĩ miền Bắc xuất hiện rất đông đảo trên các sân khấu lẫn đài phát thanh như Vũ Huân, Vũ Huyến, Lê Văn Vũ Bắc Tiến, Kiều Hạnh, Duy Trác, Anh Ngọc, Châu Hà, Hà Thanh v.v… Một phần, do ca sĩ trong Nam lúc đó chưa xuất hiện nhiều tên tuổi lớn, chỉ có một số ca sĩ đầy triển vọng từ phòng trà Đức Quỳnh giới thiệu như Bạch Yến, Cao Thái, sau có Minh Hiếu, Thanh Thúy, Túy Phượng… nhỏ hơn thì có Quốc Thắng, Kim Chi trong ban nhi đồng của nhạc sĩ Nguyễn Đức.

Khánh Ngọc đang là vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, là một ca sĩ được nhiều người biết với tên gọi “ngọn núi lửa”, bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả say đắm mỗi khi cô lên hát. Đồng thời Khánh Ngọc còn đóng mấy phim với nam tài tử Lê Quỳnh một loạt phim nói về những ngày di cư từ Bắc vào Nam do Mỹ thực hiện.

Trước khi đưa đơn ra tòa, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh Khánh Ngọc ngoại tình. Nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những nguồn tin “lá cải” ấy. Chỉ đến khi một số người bạn hẹn ông đi bắt ghen tại Nhà Bè thì sự việc mới đổ bể. Lúc đó báo chí Sài Gòn biết rất nhanh, và vụ “ăn chè Nhà Bè” được các báo khai thác triệt để, do vợ chồng Phạm Đình Chương và “thủ phạm” đều là những người nổi tiếng, mọi người mới biết kẻ trong cuộc gây ra chuyện này không ai xa lạ, chính là người anh rể của ông.

Người đau lòng nhất chính là Phạm Đình Chương chồng Khánh Ngọc, vì ông rất yêu vợ, nhưng bấy giờ dư luận xã hội đều đã rõ tường tận nên đành phải gửi đơn xin ly dị.

Đây là quãng thời gian đau khổ, Phạm Đình Chương không còn tâm trí biểu diễn cùng các anh chị trong Ban hợp ca Thăng Long, ông lui về trong bóng tối thầm lặng viết những bài tình ca buồn, như để tâm sự với chính mình. Một loạt ca khúc mang tâm trạng như thế ra đời như “Đêm cuối cùng”, “Người đi qua đời tôi”, “Khi cuộc tình đã chết”, “Thuở ban đầu”, “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”…

Sau khi ly dị, nhạc sĩ Phạm Đình Chương được quyền nuôi con, khi ấy mới khoảng 4 – 5 tuổi, ông bắt đầu đi hát trở lại. Một lần tình cờ gặp Khánh Ngọc trên một sân khấu đại nhạc hội, ông có ý muốn đưa cô vợ đã ly dị về nhà vì trời đang mưa, nhưng bị từ chối. Bởi vậy khi lặng lẽ trở về căn nhà kỷ niệm với một thời sống cùng Khánh Ngọc, nhìn qua màn mưa nhớ về những ngày hạnh phúc, giờ đang trôi theo dòng nước.… có người nói Phạm Đình Chương định tự tử lúc bấy giờ, nhưng nghe tiếng khóc của con, ông mới từ bỏ ý định !?

Hình ảnh của đêm khốn cùng ấy đã đi vào từng lời bài hát “ Nửa hồn thương đau” được Phạm Đình Chương viết trong đêm rã rời đó. Nếu ai đã nghe một lần bài hát này và cũng đồng cảm với cuộc đời của ông sẽ hiểu được tâm hồn con người chỉ có thể chịu đựng một giới hạn nhất định.

NGƯỜI PHỔ THƠ MANG TÍNH THIÊN TÀI

Thật ra nhạc phẩm “Nửa hồn thương đau” của Phạm Đình Chương là được ông phổ từ thơ của Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ “Lệ đá xanh”, nhưng ông đã đổi tựa và thêm ý tứ cho phù hợp với tâm trạng của ông lúc bấy giờ.

Có người nhận xét, lối phổ thơ thành nhạc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương mang đặc tính thiên tài, từ những vần thơ của các thi sĩ trở thành những nhạc phẩm luôn lưu lại nhiều kỷ niệm sâu đậm trong lòng người ái mộ như các ca khúc Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Nửa hồn thương đau, Đêm màu hồng, Dạ tâm khúc (thơ Thanh Tâm Tuyền), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê) v.v… cho nên nếu so sánh cung cách phổ thơ của Phạm Duy, có thể nói Phạm Đình Chương xuất sắc không kém, do ông lấy văn học đưa vào nhạc, còn Phạm Duy đôi khi đưa thơ vào nhạc mang tính thị hiếu nhiều hơn.

Có người nói sự nghiệp của nhạc sĩ Phạm Đình Chương còn rộng tỏa trên bình diện của thể nhạc trữ tình lãng mạn, với những sáng tác phong phú đủ chủ đề về tuổi trẻ, tình yêu, hiện thực, hoặc chia sẻ nhịp rung cảm cùng mọi người như các tác phẩm : Bài ca tuổi trẻ, Thuở ban đầu, Mười thương, Mộng dưới hoa, Bài ca ngợi tình yêu, Đêm cuối cùng, Heo may tình cũ, Xóm đêm v.v…

Xuyên qua các nhạc phẩm trên, người ta lại càng nhận thức đầy đủ hơn nơi ý nhạc lời ca của Phạm Đinh Chương có một tâm hồn tươi trẻ, nồng nhiệt và cũng không kém phần thương đau, xót xa trong tan vỡ của yêu đương luyến nhớ, hay những khối chân tình qua từng bước chân phiêu bạt mà ông đã đi qua.

“Có lẽ sự rung động dễ thương của những con tim khi chớm nở loài hoa tình yêu mới là cảm xúc tuyệt diệu nhất được Phạm Đình Chương diễn tả bằng chính nội tâm hiện thực của ông qua ca khúc “Mộng dưới hoa” phổ thơ Đinh Hùng :

Chưa gặp em anh vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh là bóng dừa hoang dại

Âu yếm nhìn anh không nói năng ….

“Cuối cùng không thể không đề cập đến “Trường khúc Tam Giang” tức “Hội Trùng Dương” với những nỗi niềm diễn tả tâm tư mang lời tự thuật thật sống động, đặc sắc của 3 con sông lớn đại biểu cho mạch sống của ba miền và được xem như là một đại tác phẩm trường tấu để đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Trường ca này được liên kết thật chặt chẽ bằng những tiết tấu phối hợp sự biến âm đặc biệt biểu hiện tình cảm khi nhẹ nhàng, lúc khoan thai, khi hùng tráng, lúc trầm lắng, khi ngọt ngào, lúc thiết tha, quyện lẫn trong các câu hò mang sắc thái âm điệu thổ ngữ Bắc, Trung, Nam rất duyên dáng chân thành và trong sáng tình yêu quê hương vốn được hun đúc từ ngàn đời, tựa như 3 dòng sông tuôn chảy miệt mài ra biển Đông.

Sau đây là những nhạc phẩm do nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ từ thơ (một vài ca khúc tiêu biểu) :

NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

– Phổ thơ Thanh Tâm Tuyền

Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa / Cho tôi về đường cũ nên thơ / Cho tôi gặp người xưa ước mơ / Hay chỉ là giấc mơ thôi / Nghe tình đang chết trong tôi / Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời

Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau / Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau / Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào / Em ở đâu? Anh ở đâu? / Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu

Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt / Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất / Và tiếng hát và nước mắt

Đôi khi anh muốn tin/ Đôi khi anh muốn tin / Ôi những người ôi những người / Khóc lẻ loi một mình…

ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY

– Phổ thơ Quang Dũng

Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai / Sông xa từng lớp lớp mưa dài / Mắt em ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh / Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm mai

Đôi mắt Người Sơn Tây / U uẩn chiều luân lạc / Buồn viễn xứ khôn khuây, / Buồn viễn xứ khôn khuây / Em hãy cùng ta mơ / Mơ một ngày đất mẹ / Ngày bóng dáng quê hương / Đường hoa khô ráo lệ

Tôi từ chinh chiến đã ra đi / Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì / Sông Đáy chạm nguồn quanh phủ Quốc / Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tay

Em vì chinh chiến thiếu quê hương / Sài Sơn, Bương Cấn mãi u buồn / Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm / Em có bao giờ, Em có bao giờ, Em thương nhớ thương.

Nguyễn Việt

Họa sĩ LƯƠNG TRƯỜNG THỌ

Từ một mẩu gỗ thừa làm nên tác phẩm !

– Nguyễn Việt

Họa sĩ Lương Trường Thọ sinh năm 1948 tại Khánh Hoà, hiện nay đang ở số 12/12 đường Man Thiện thuộc, Q.9, Sài Gòn. Ông tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Gia Định và hoạt động hội họa từ năm 1966 đến nay.

Hội viên : Hội Mỹ Thuật TP.HCM – Mekong Art – Exotic Art Clup Hambung – CHLB Đức từ năm 2001, hội viên World Art Foundation (WAF), và còn là họa sĩ VN đầu tiên trở thành hội viên của Hội Mỹ thuật Cali vào năm 2008 (California Art Club) – một hội mỹ thuật ra đời từ năm 1909.

Họa sĩ Lương Trường Thọ đã tham gia nhiều triển lãm nhóm trong nước và quốc tế, tại CHLB Đức, Hà Lan, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… như các cuộc triển lãm vào năm :

– 1972 1974 tại Thái Lan, Singapore; 2001 tại Hamburg Đức, 2004 – 2006 ở Mỹ; 2006 ở Seoul – Hàn Quốc. Còn trong nước từ năm 1970 đến nay đều có triển lãm cá nhân, hay nhóm CLB hằng năm, chủ yếu là nhóm CLB Mekong Art

Họa sĩ Lương Trường Thọ từng đoạt nhiều giải thưởng như Ngôi sao vàng BID Madrid tại Tây Ban Nha; Huy chương vàng Mỹ thuật gỗ Hội Mỹ thuật TP. Và mới đây ông vừa đoạt 1 trong 12 giải thưởng tại cuộc triễn lãm “10 trại sáng tác & tác phẩm mới năm 2009” qua tác phẩm “Gốm đỏ”.

Từ một mẩu gỗ thừa

Nhưng những người yêu nghệ thuật hội họa lại biết họa sĩ Lương Trường Thọ nổi tiếng với một nghề kinh doanh không tưởng, là từ một mẩu gỗ thừa ông cũng làm thành tác phẩm. Nên có ký giả của báo TT&VH từng đến phỏng vấn hoạ sĩ Lương Trường Thọ về ứng dụng trên.

Vợ chồng HS Lương Trường Thọ

Trong bài viết có ghi nhận những cảm nghĩ sâu sắc của ông về sự nghiệp như sau :

– Vì là thành viên của các hội mỹ thuật quốc tế nên tôi đã được tham dự khá nhiều cuộc triển lãm chung hay cá nhân, cũng như có tranh trong các sưu tập ở nhiều nước trên thế giới. Tại các cuộc triển lãm đó, tôi được gặp gỡ, giao lưu với nhiều bạn bè trên thế giới từ đó tầm nhìn được mở rộng hơn… Nhưng, không phải đã là hội viên của một tổ chức nghệ thuật nào là cứ yên vị và bằng lòng với mình. Trái lại, người nghệ sĩ khi đó còn phải làm việc nhiều hơn để khẳng định mình. Cụ thể, trong mọi lĩnh vực mỗi người đều phải tìm cho mình một cái gì “riêng” một hướng đi đã vạch với niềm đam mê và làm việc nghiêm túc – sáng tạo – không rập khuôn. Người nghệ sĩ đó phải biết chấp nhận khen – chê, phải luôn làm mới mình – mỗi lần ra mắt phải là một cái gì đó mới mẻ làm cho người thưởng ngoạn thấy được và cảm xúc với những suy tư của mình….

Có câu hỏi được đặt ra khá thú vị :

– Vì cuộc sống mưu sinh mà nghệ thuật chạm khắc gỗ đã đến với họa sĩ. Theo hoạ sĩ đấy là sự ngẫu nhiên hay duyên trời định? Nếu gọi họa sĩ là một ông thợ mộc tài hoa thì họa sĩ thấy thế nào? Bên cạnh đó, người ta nhắc nhiều đến việc họa sĩ đã biết tận dụng những mẩu gỗ thừa để làm nên những tác phẩm nghệ thuật. Và chỉ với những mẩu gỗ thừa ấy tôi nghi ngờ rằng sẽ chẳng bao giờ Lương Trường Thọ nổi tiếng nếu như người họa sĩ này không thổi vào đó tâm hồn của người nghệ sĩ. Khi đó vai trò của người họa sĩ và người thợ mộc nên xếp theo thứ tự nào?

HS Lương Trường Thọ, nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà và Thiên Hà– Tôi đã từng trả lời với nhiều người rằng: Nghệ thuật điêu khắc gỗ cũng là một mảng lớn trong đời sống nghệ thuật của tôi – chính nó đã là một mảng nội lực thứ 2 để tạo nên một Lương Trường Thọ. Vì thế, hội họa cùng với mỹ nghệ đã giúp tôi có được sự cân bằng trong đời sống tinh thần lẫn vật chất – cả hai lĩnh vực nghệ thuật này đều đầy sáng tạo. Với tôi từ một mẩu gỗ thừa cũng trở thành tác phẩm – nếu chúng ta biết đưa vào nó một cái gì đó như các bạn đã nói “thổi hồn” – nó trở nên sinh động – nghệ thuật… Và tất nhiên chưa khi nào tôi phân biệt Họa sĩ hay thợ điêu khắc, bởi tôi nghĩ với Lương Trường Thọ cả 2 cái là 1 để đi đến mục tiêu tiến lên trên đường Nghệ thuật. Dù biết chắc cái đích cái đỉnh cao ấy cả đời mình cũng chưa bao giờ đến nổi – nhưng đó chính là cái để mình phải nghĩ tới và đi, đi tới không cảm thấy mệt mỏi – vì đường còn xa…

Họa sĩ của trường phái tranh trừu tượng

… Tôi đã vẽ tranh từ năm 1964 và đã trải qua đủ mọi thể loại – mọi chất liệu – nên như đã nói – mỗi chặng đường nghệ thuật là có 1 điểm đến – hiện nay tôi đang rất hào hứng với “trừu tượng” và xin thưa hiện nay Việt Nam ta có rất nhiều người hiểu tranh trừu tượng rất tốt rất có chiều sâu. Tôi không ngại có nhiều hay ít người thích tranh trừu tượng bởi nó là một hiện thực trong lịch sử hội họa đương đại. Cũng giống như những trường phái khác khi mới xuất hiện thường ít được đón nhận ngay mà phải trải qua 1 quá trình. Tôi thấy rằng, tranh “trừu tượng” ở Việt Nam đâu phải là mới lắm…, đúng không? Có lẽ vì thế, lâu nay những người thưởng thức nghệ thuật biết Lương Trường Thọ là họa sĩ nhiều hơn để rồi có nhiều người ngạc nhiên khi biết tôi còn là người làm gỗ mỹ nghệ…. (trích bài của Miên Thảo trên báo TT&VH)

Nói về vẽ tranh trừu tượng của họa sĩ Lương Trường Thọ, ông có viết trong cuốn “Bến Tâm Hồn” một hợp tuyển thơ – nhạc – họa mang chủ đề “Một thời Sài Gòn”, đã giải thích nội dung trong các sáng tác phẩm như sau :

– “Cái đẹp theo tôi phải là cái làm người ta thích thú, cảm thụ được, mang đến cảm xúc mới mẻ và gần gũi với ta. Đó chính là cái hồn là sự hòa trộn của sắc màu và rung động nghệ thuật.

“Tranh của tôi là một thế giới riêng của sự hồi nhớ, của những suy tưởng và cả những cảm nhận rất gần, mang tính cách tân qua một tâm hồn Việt – Nón lá, áo dài, bóng dáng sương khói của người thiếu nữ, biển cả núi sông, đều trong trẻo, an lành, mang một chút bí ẩn…

“Hội họa là người bạn đồng hành trong cõi riêng đầy màu sắc và tâm linh của tôi. Tôi sẽ không bao giờ rời bỏ nó. Tôi thích sự thơ ngây, hồn nhiên, thích khám phá những bí ẩn trong tâm hồn và sự vật chung quanh trên tấm toan màu trắng bằng những hoa sắc của riêng mình…”

Còn nhà thơ nhà báo Thiên Hà đã viết về họa sĩ Lương Trường Thọ :

SẮC MÀU KHÔNG GIAN,

ĐƯỜNG CỌ XUYÊN BIÊN GIỚI

Điều không ai có thể ngờ tới đã trở thành hiện thực trong giới Hội Họa Việt Nam. Đó là vào ngày 23 tháng Bảy năm 2009 tại Hoa Kỳ, Tổ chức Mỹ thuật Thế giới (World Art Foundation) đã công bố kết nạp thành viên mới là họa sĩ Sài Gòn – Lương Trường Thọ. Một vinh dự lớn không chỉ đối với giới cầm cọ Việt Nam mà cả giới cầm cọ Đông Nam Á cũng đáng hãnh diện. Bởi lẽ từ trước tới nay chưa có một họa sĩ Châu Á nào đứng chân trong World Art Foundation (WAF).

Không phải ngẫu nhiên mà người họa sĩ da vàng Việt Nam được sinh ra tại thành phố biển Nha Trang, lớn lên học hành tử tế, sống và làm việc giữa Sài Gòn nghiễm nhiên được công nhận là Hội viên WAF. Có thể coi đây là điều khá bất ngờ không tưởng đối với họa sĩ Lương Trường Thọ nhưng, là một bất ngờ thú vị.

Là một người yêu và đam mê sắc màu, biết cầm cọ, cầm bay hoạt động hội họa suốt dọc chiều dài 42 năm, có hàng trăm tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao qua các kỳ triển lãm trong nước và quốc tế, bộn lần tại Thái Lan, Singapore, Hamburg – Đức, Mỹ, Seoul – Hàn Quốc… từ 1970 đến nay; cũng như anh có khá nhiều tranh trong những gallery, trong các bộ sưu tập khắp nơi trên thế giới như CHLB Đức,  Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản… nên có rất nhiều người biết đến, ngưỡng mộ cũng là điều dễ hiểu.

Lương Trường Thọ, Thiên Hà, Lê Thanh, Miên Đức ThắngTự thân Lương Trường Thọ đã khẳng định được khả năng, thế đứng của một họa sĩ trong cõi sắc màu. Tranh anh là một thế giới riêng của sự hồi nhớ, suy tưởng, cảm nhận, rất gần trong nỗi vắng xa, mang tính cách tân qua một tâm hồn Việt  Nón lá, áo dài, bóng dáng khói sương của người thiếu nữ, biển cả, núi sông, ruộng đồng đều trong trẻo an lành mang một chút bí ẩn… riêng tư. Đó chính là cái hồn, là sự hòa trộn của màu sắc và rung động nghệ thuật.

Họa sĩ Lương Trường Thọ là một trong ba mươi Master Artist được WAF chọn tham dự triển lãm mùa Đông qua 10 thành phố tại Hoa Kỳ từ ngày 17-10-2009 đến giữa năm 2010. WAF cũng đã tuyển chọn hai họa phẩm của anh dự triển lãm: “Vòng Tay Âu Yếm” (Hustler) sơn dầu 122x92cm và “Mộng Điệp” (Deep Enchanted Dream) sơn dầu 120x100cm (tranh bìa hợp tuyển Bến Tâm Hồn 2 “Một Thời Sài Gòn” đã phát hành tháng 09-2009).

Thiết nghĩ Lương Trường Thọ là một họa sĩ sắc màu vượt không gian, đường cọ xuyên biên giới không là điều ngẫu nhiên.

Lương Trường Thọ trong chuyến Mỹ du

Trở thành hội viên chính thức, hoạ sĩ Lương Trường Thọ là 1 trong 30 hoạ sĩ trên thế giới được mời tham dự một tour triển lãm hội họa vòng quanh nước Mỹ, gồm 10 thành phố lớn trên lãnh thổ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, do Hội Mỹ Thuật Thế Giới (World Art Foundation – WAF) tổ chức (nơi đã kết nạp ông làm hội viên). Và họa sĩ Lương Trường Thọ mới về nước hồi đầu tháng 12/2009 cho biết, kể từ tháng 9 đến khi ông về nước, WAF tổ chức được 3 cuộc triển lãm, vì vậy tối mùng 4 tết Canh Dần tới đây ông sẽ phải tiếp tục bay sang Mỹ tham dự tiếp các cuộc triển lãm còn lại.

WAF được sáng lập bởi Jojo Marengo, chủ nhiệm của 21 tạp chí nghệ thuật và lối sống xuất bản tại California. Ông còn là người tổ chức hội chợ nghệ thuật World Art Expo California 2009 với sự tham gia của hơn 200 nghệ sĩ tạo hình.

Còn mục đích cuộc triển lãm lưu động qua 10 thành phố Hoa Kỳ trong thời gian qua và sắp tới, là nhằm giới thiệu 30 thành viên mới vừa được kết nạp vào WAF trong năm 2009 trong đó có hoạ sĩ Lương Trường Thọ (Việt Nam) là người châu Á duy nhất, và ở cấp độ master, nổi bật trong số hàng ngàn hoạ sĩ trên khắp thế giới đăng ký xin gia gia nhập vào WAF (theo thông tin đăng trên tạp chí của Hội Mỹ Thuật thế Giới, mỗi ngày có cả hàng trăm đơn xin gia nhập, khi hội viên của WAF hiện đang ở con số 50.000 hoạ sĩ).

WAF giới thiệu các tác phẩm hội hoạ đến báo giới và người hâm mộ môn nghệ thuật này ở các đô thị quan trọng tại Hoa Kỳ; nói cách khác tác phẩm của các hoạ sĩ vừa được kết nạp sẽ được đưa đến trưng bày tại những gallery lớn có uy tín nhất ở Mỹ.

Trong các cuộc triển lãm vừa qua, tác phẩm Mộng Điệp của ông được đánh giá cao, chính ông Jojo Marengo luôn đứng ra giới thiệu bức tranh nói trên cùng hoạ sĩ Lương Trường Thọ trước các cuộc họp báo giới thiệu buổi triển lãm. Quả là tin mừng cho một hoạ sĩ duy nhất của Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung.

Nguyễn Việt

Nhà văn HOÀI ĐIỆP TỬ

NHỚ VỀ NHÀ VĂN “TRÁI CẤM”

–  NGUYỄN VIỆT

Hôm naynhư mỗi ngày và có lẽ chỉ trừ ngày chủ nhật, muốn tìm nhà văn, nhà thơ, nhà báo Trương Đạm Thủy thật dễ, muốn gặp ư ? Cứ tới CLB Văn Nghệ nằm trên đường Trần Quốc Thảo sẽ gặp ngay một người nhỏ nhắn, mái tóc hớt cua “muối nhiều hơn tiêu” đang ngồi nhâm nhi với các thân hữu bên ly bia, nói chuyện tào lao rồi về ngủ.

Cuộc sống của nhà văn Trương Đạm Thủy như thế, tôi mới đi tìm anh để báo lại, nhiều người hỏi về cuộc đời sự nghiệp sáng tác thơ văn của anh, tôi đã viết một bài về anh trên trang blog mienyeuthuong và đăng lại trên guyenlequan.blogspot.com. Và ở đây anh cũng vui mừng báo cho tôi biết “Chị Mai, vợ Hoài Điệp Tử cũng mới gọi điện thoại về cho anh, giọng chị ấy rất cảm động khi biết anh còn khoẻ mạnh đang ở Sài Gòn”; cuối cùng anh thở dài và nói tiếp trong luyến nhớ, ngày xưa nhóm Sông Hậu có sáu người là Hoài Điệp Tử, Dương Trữ La, Ngô Tỵ, Phương Triều, Phan Yến Linh, giờ chỉ còn mình anh. Nhớ đến họ mà anh quên cuộc đời và tiểu sử nhiều người thật đáng tiếc, Dương Trữ La, Phương Triều mới mất còn dễ tìm đọc lại đôi hàng mọi người viết về họ, còn Hoài Điệp Tử bị chết oan ức nơi xứ người, muốn có một chút gì để viết lại những kỷ niệm về những người bạn cố tri của một thời Sài Gòn, của một thời nhóm Sông Hậu xưa, mà không có nhiều dữ liệu.

Và tôi cũng muốn viết về anh Hoài Điệp Tử, một người anh văn nghệ khi xưa của tôi qua sự giới thiệu của nhà văn Trương Đạm Thủy. Tuy tôi không nhiều kỷ niệm như anh Trương Đạm Thủy nhưng rất được anh Hoài Điệp Tử quý mến. Khi tôi đang cộng tác trên các báo ở Sài Gòn thời bấy giờ, lâu lâu anh em gặp nhau, như khi anh ra cuốn “Trái Cấm” vừa đăng feuilleton xong trên báo Tiếng Dân là có người mua ngay bản quyền để in, và anh tặng tôi một quyển làm kỷ niệm. Và cũng từ tác phẩm này tên tuổi của nhà văn Hoài Điệp Tử mới thật sự nổi bậc trên văn đàn, mọi người chú ý đến anh nhiều hơn trước.

Rồi sau ngày 30/41975, cũng như mọi người lo cơm áo gạo tiền cho gia đình bằng mọi cách, anh ra Nguyễn Huệ đứng bán thuốc tây mấy năm liền. Một hôm tôi đi ngang, anh nói nhỏ bên tai “em muốn cùng anh đi vượt biên không ?”. Thật sự  đời sống lúc đó phải sống bằng tem phiếu, cơm trộn bobo hàng ngày, nên ai mà không muốn tìm đến thiên đường. Nhưng lực bất tòng tâm, tôi đành lắc đầu.

Vậy mà anh đi trót lọt ngay lần đầu, trong lúc nhiều người ra đi dỡ khóc dỡ cười đôi khi tài sản tiêu tan mà vẫn còn ở lại.

Rồi chỉ vài năm sau, tôi chợt nghe tin nhà văn Hoài Điệp Tử qua đời, anh chết vì súng đạn, vì thủ phạm cho rằng anh thân Cộng (?!), tôi cũng chẳng hiểu sự thật như thế nào.

Bởi thế khi nhà văn Trương Đạm Thủy muốn nhớ về Hoài Điệp Tử, một người bạn năm xưa trong nhóm Sông Hậu, tôi cố công tìm tòi đôi chút về nhà văn Hoài Điệp Tử để có các tài liệu sau đây :

Tiểu Sử Hoài Điệp Tử

Nhà văn Hoài Điệp Tử tên thật Phạm Văn Tập, sinh năm 1942 tức năm Tân Tỵ, tại Bạc Liêu. Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Điệp Yên Hà, Lê Thăng, Kép Độc, Kiều Linh Khanh. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 14 tuổi, chính thức viết văn vào năm 1958 với truyện dài đầu tiên “Mớ tóc gái Phù Sa” viết trên nhật báo Chuông Mai của ông Huỳnh Hoài Lạc.

Lần lượt nhà văn Hoài Điệp Tử cộng tác với các nhật báo tuần san như Chuông Mai của Huỳnh Hoài Lạc, Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai, Dân Đen của Nguyễn Duy Hinh, Tiếng Dân, Tia Sáng của Nguyễn Trung Thành, Tiếng Nói Dân Tộc của Lý Quý Chung, Độc Lập của Hoàng Châu, Tin Sáng của Ngô Công Đức, Thách Đố của Đặng Văn Bé v.v…

– Năm 1966 sáng lập Nhà xuất bản Sông Hậu cùng với các thân hữu như Trương Đạm Thủy, Ngô Tỵ, Phan Yến Linh, Phương Triều, Tâm Đạm Dương Trữ La.

– Khi sang Mỹ từ năm 1981, nhà văn Hoài Điệp Tử làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Mai (Nam California) từ năm 1982 đến 1987.

Trước năm 1975, ông học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, sau làm việc tại nhật báo Tiền Tuyến cho đến ngày 30/4/75.

Sau năm 1975, nhà văn Hoài Điệp Tử buôn bán ở chợ Nguyễn Huệ. Vượt biên bằng đường biển đến đảo Pulau Bidong năm 1980 và định cư tại Hoa Kỳ vào tháng Sáu năm 1981. Tại hải ngoại, khởi đầu ông cộng tác cho tờ Saigon News của Du Miên. Năm 1982, ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Mai. Ông bị sát hại tại tòa soạn trên đường Westminster (Nam California) lúc 2 giờ 15 sáng chủ nhật ngày 9 tháng 8 năm 1987. Vụ án mạng đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Các tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam :

– Vũng Lầy (1964) – Trái Cấm – Tuổi Tình Yêu, nhà xuất bản Sống Mới phát hành, 1965. – 16 Phiên Buồn (1966) – Lửa Đạn Về Thành – Tình Biển (1968) – Đỉnh Núi Sương Mù – Còn Xanh Kỷ Niệm (1969) – Bến Đục – Giọt Máu Cho Cánh Đồng Mùa Hạ (1970) – Tặng Phẩm Của Đêm – Bụi Thành Phố (1971) – Mặt Trời Mọc Cho Ai – Hành Lang Đen (1972) – Cao Ốc Số 8 (1973) – Sóng Hoang, nhà xuất bản Sông Hậu phát hành (1974)…. và một số thơ cùng truyện ngắn.

Tác phẩm đã xuất bản tại Mỹ :

– Truyện dài: Trên Đầu Sóng, nhà xuất bản Hải Ngoại phát hành, 1982.

Sẽ ấn hành truyện dài :

– Dấu Chân Chim Trên Khắp Mặt Địa Cầu – Còn Một Thời Để Nhớ…

Một số bài viết về cái chết

của nhà văn Hoài Điệp Tử

Tóm lược tin tờ Dân Chúng ra ngày 5 /8 /1995 viết “Ai giết Hoài Điệp Tử Chính Trị ? Tiền ? Hay Tình ?”

Ai giết nhà văn Hoài Điệp Tử ? Câu hỏi có trọng lượng của một trái bom cỡ lớn đang vang động trong cộng đồng Việt, trên báo chí Việt và Anh ngữ. Thêm một lần ! Đúng thế, phải nói đây là trái bom hai lần nổ. Ngay từ khi nhà thơ, nhà văn Hoài Điệp Tử bị hạ sát cách đây 8 năm (1987).

Tám năm trôi qua, chuyện tưởng như đã chìm vào quên lãng, nhưng từ tuần lễ cuối tháng 7 cho tới nay, báo chí người Việt ở Hoa Kỳ phản ảnh những biến chuyển mới, nhất loạt đề cập đến vụ án “ám sát” nhà văn Hoài Điệp Tử. Nói lên biến cố mới : Cơ quan an ninh Liên Bang Mỹ (FBI) đã mở lại hồ sơ, phỏng vấn những nhân chứng. Bà Trần Thị Mai tức quả phụ nhà văn Hoài Điệp Tử, ông Trương Thiện Hoàn chủ nhân nhà in Mekong Printing; ông Trần Công Đỉnh Chủ Nhiệm tuần báo Mới, đều được mời phỏng vấn.

Sáng 2/8, tờ báo Mỹ hàng đầu ở miền Nam California tờ Los Angeles Times, cũng làm tin “Hồ Sơ Vụ nhắc lại vụ nhà văn Hoài Điệp Tử nguyên cố chủ nhiệm tuần báo Mai, bị chết trong đêm tòa soạn bị đốt cháy. Đám cháy tương đối nhỏ nhưng nhà văn lại vĩnh viễn ra đi. Vào thời điểm ấy, một tổ chức mang tên Diệt Cộng Hưng Quốc Đảng tự nhận là thủ phạm. Họ gởi một văn thư xác nhận đến các báo Việt ngữ ở đây. Và nguồn tin bên lề cho rằng, thời đó tờ Mai của Hoài Điệp Tử vì đăng quảng cáo cho một vài hãng bên Canada buôn bán với Việt Nam nên mới xảy ra án mạng.

Từ sự kiện có những cuộc phỏng vấn đang diễn ra đưa tới câu hỏi : Tại sao có những cuộc phỏng vấn này ? Phải chăng vụ án mạng Hoài Điệp Tử được mở lại hồ sơ ? Chính tờ Los Angeles Times cũng nêu câu hỏi và cũng thử trả lời.

Từ mấy hôm nay có những người cho rằng bà Mai – vợ Hoài Điệp Tử là động lực đó. Phải chăng bà Mai đã cung cấp cho cơ quan FBI những dữ kiện mới đủ mạnh để làm cho cơ quan này mở lại cuộc điều tra. Đó chỉ là một giả thuyết, vì bà Mai đã phủ nhận giả thuyết này (lúc đó bà còn ở VN). Giả thuyết khác được nhiều người nói đến, là FBI có một số dữ kiện mới, nhưng từ đâu mà ra chỉ có cơ quan này biết được và dữ kiện mới này đã làm vụ án mạng được điều tra trở lại.

Tuy vậy tờ Los Angeles Times nghi ngờ nguyên nhân thúc đẩy việc mở lại hồ sơ về cái chết của nhà văn Hoài Điệp Tử, là từ “Ban Bảo Vệ Ký Giả” (Committee To Protect Journalists) có trụ sở ở New York kêu gọi FBI nổ lực điều tra về 10 ký giả di dân chết trên đất Mỹ, trong số có cố Chủ nhiệm tuần báo Mai.

Trong một tương lai gần người ta có thể biết án mạng có những yếu tố của nó, trước hết “như thế nào” trong đó bằng vũ khí nào.

Tám năm trước (1987) dư luận cho rằng nhà văn Hoài Điệp Tử – Chủ Nhiệm báo Mai – đã chết cháy do tòa soạn bị đốt, và vì nhà văn đang nằm ngủ trong tòa soạn chết vì ngộp khói. Hôm nay (1995) có nguồn dư luận cho hay, dường như Chủ nhiệm báo Mai không chết vì ngộp khói mà có thể đã chết trước khi nhà bị đốt.

Ông Trương Thiện Hoàn, bạn thân của nhà văn Hoài Điệp Tử cho báo Mỹ hay, vào thời điểm đó không khí chống Cộng ở Hoa Kỳ đang rất mạnh mẽ, đăng quảng cáo cho hãng buôn làm ăn với VN rất nguy hiểm (Ông Hoàn đi cùng chuyến thuyền với nhà văn Hoài Điệp Tử khi vượt biên, và sau này chính ông lo cho vợ con nhà văn Hoài Điệp Tử sang Mỹ sinh sống). Và ông Hoàn vẫn cho rằng chính trị là nguyên nhân chính của cái chết nhà văn Hoài Điệp Tử, vì sau khi chết cháy người ta còn tìm thấy trong tòa soạn tiền, nữ trang và vàng còn nguyên vẹn, trị giá 80 ngàn đô la, nên loại bỏ giả thuyết án mạng vì tiền.

Cũng trên số báo này mục “

SỔ TAY NGUYÊN SA” đã viết :

Nhà văn, nhà thơ Hoài Điệp Tử nằm trong nhà quàn ở đường Beach, mớ tóc được chải gọn gàng, khuôn mặt, vành môi được sửa soạn cẩn thận. Cặp mắt anh nhắm nghiền như người đang ngủ. Cặp mắt đó bỗng nhiên mở trừng, lòng trắng hiện ra thật nhiều, gần như chỉ còn nhìn thấy lòng trắng không có lòng đen. Một người nào đó vừa đi ngang linh cửu của anh. Sự hiện diện của một người trong dương thế, thủ phạm chăng, làm kinh động đến hồn người ở thế giới bên kia ? Một phản xạ của cơ thể có nguyên nhân là một mũi nhọn, một sự va chạm làm rung động, một cánh cửa vừa mở làm ùa vào một luồng ánh sáng? Trong mọi trường hợp, cặp mắt đầy ắp lòng trắng của nhà thơ đã mở lớn không khép lại mặc dù những người lo việc an táng của anh dã làm đủ mọi cách, dùng tay ấn cặp mắt xuống, xoa đầu, lễ lạy, cầu nguyện. Sau chót, người ta dùng băng keo để dán chặt lại hai bờ của đôi mắt mà những người thân của anh nhìn thấy sự uất nghẹn muốn bùng lên.

Đó là những hình ảnh chuyển về VN mà chị Hoài Điệp Tử và gia đình đã nhìn thấy cách đây 8 năm khi còn ở Việt Nam. Đôi mắt uất nghẹn bật mở tung được dán chặt lại giống như cánh cửa hy vọng bị đóng lại trong cuộc đời chị Hoài Điệp Tử, tên là Mai giống như tên tờ báo của anh Hoài. Bị đóng lại tưởng như vĩnh viễn cánh cửa xuất ngoại, cánh cửa đoàn tụ. Cánh cửa ngăn cách cõi âm và dương thế cho một nhà thơ là cánh cửa vĩnh viễn ngăn cách sự đoàn tụ của chị Mai và các cháu với anh, dù cho nhà thơ Hoài Điệp Tử đã xúc tiến thủ tục xin cho vợ con đoàn tụ gia đình kết quả đã gần kề. Ở bên này đại dương là cái chết của con người, bên kia là cái chết của những tâm hồn mẹ góa con côi mất đi cánh tay, bờ vai nương tựa.

Tám năm trôi qua, cái chết của nhà văn nhà thơ chìm vào im lặng có dáng vẻ như an bài trong dĩ vãng và lãng quên, bỗng nhiên, nói theo danh từ của báo chí, nổ lớn. Tin “Hồ Sơ Vụ Án Hoài Điệp Tử mở lại” được báo chí loan tải và loan truyền đi như một trái bom. Tin Vụ Án Hoài Điệp Tử Mở Lại với nhiều người ở quận Cam làm mờ đi những tin Hội Nghị các nước trong Hiệp Hội Đông Nam Á, tin bom nổ ở Paris và cả tin vụ án Simpson.

Người ta hỏi nhau cơ quan nào mở lại cuộc điều tra, phải có dữ kiện mới thì mới mở lại cuộc điều tra. Chứ sao, vụ án xử đã xếp hồ sơ phải có gì người ta mới mở lại chớ, có nhiều người bị phỏng vấn, ai, mấy người, có khai quật tử thi để giảo nghiệm không, hỏa thiêu à, sao không chôn mà hỏa thiêu, nghi vấn chỉ có làn khói mỏng mà chết sao, phải chăng nạn nhân đã bị giết hay bị đánh thuốc mê trước khi tòa báo, nơi anh chết bị đốt, động lực nào, tiền, tình, chính trị.

Giả thuyết chính trị người ta nói tới nhiều hồi đó, hôm nay, người ta nói nhiều hơn đến giả thuyết tình và tiền. Chính trị, tình và tiền đều không ngăn được những bước tiến của công lý trên xứ sở tự do và pháp trị này. (NGUYÊN SA 5/8/1995)

oOo

Nếu chúng ta chỉ biết nhà văn Hoài Điệp Tử qua những tác phẩm truyện ngắn, truyện dài đăng feuilleton trên báo rồi được in thành tiểu thuyết. Ít người biết ông còn là nhà thơ. Sau đây chúng tôi xin trích đăng ca khúc “Hồn khói thuốc” thơ Hoài Điệp Tử do Hoàng Thanh Tâm phổ nhạc :

HỒN KHÓI THUỐC

Định mệnh nào xui em ở lại

Phép lạ nào đưa tôi ra đi

Giữa hai đứa giữa niềm đau lớn dậy

Buồn nào nhiều hơn…em hay tôi?

Em còn đó một quê hương nắng cháy

Thành phố bụi mờ nhưng thành phố có em

Tôi ở đây chiều xuống hết lang thang

Vắng quán hàng đêm bên vệ đường ghế thấp…

Lá vẫn đổ những mùa thu hiu hắt

Và mặt trời một chút nắng ban trưa

Tâm hồn tôi hồn khói thuốc bơ vơ

Trên xa lạ nổi vật vờ đâu đó…

Thả dùm tôi vài hơi khói Việt Nam

Thăm dùm tôi từng góc phố khuôn viên

Lang thang dùm tôi qua những đường phố cũ

Ấm lòng chưa trong ngày lạnh cuối năm

Định mệnh nào xui em ở lại

Phép lạ nào đưa tôi ra đi

Giữa hai đứa giữa niềm đau lớn dậy

Buồn nào nhiều hơn, em hay tôi?

NGUYỄN VIỆT

Nhà thơ THIÊN HÀ

ĐỨA CON CỦA

ĐẤT MŨI CÀ MAU

– Quế Phượng

Nhà thơ Thiên Hà tên thật Dương Cao Thâm, sinh ngày 12/8/1941 tại Tân Duyệt, Đầm Dơi, Cà Mau. Làm thơ, viết văn, viết báo. Hội viên Hội Nhà Báo, huy chương vì sự nghiệp báo chí. Anh thường cho rằng mình là đứa con của đất Cà Mau vùng Bãi Bồi, U Minh Hạ, là một “người cầm viết ngẩn ngơ giữa trường-văn-trận-bút”; sống chết với văn thơ bút mực trên mảnh đất Sài Gòn từ những năm 1960.

Nhà thơ Thiên Hà góp mặt với đời hàng trăm bài thơ, truyện ký và hàng nghìn bài báo đủ thể loại. Có nhiều tác phẩm thơ văn xuất bản từ 1963 đến nay được đánh giá cao, trong đó có nhiều bài thơ được phổ thành ca khúc, tình khúc như Nhớ Nhau Hoài 1966, Gió Về Miền Xuôi 1967, Xa Dấu Ngựa Hồng 1970 (nhạc sĩ Anh Việt Thu); Áo Mới Ngày Xuân 1969, Tận Cùng Nỗi Nhớ 2008 (nhạc sĩ Song Ngọc); Chiều Hồ Lăk 2004, Đêm Lang Biang 2005 (nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên); Bài Ca M’Nông 2005 (nhạc sĩ Phạm Thư Sinh); Chiều Ghềnh Ráng 1999, Sài Gòn Nhớ Hà Nội 2001 (nhạc sĩ Vũ Trung)…

Trước năm 1975 sau khi đoạt giải truyện ngắn trên nhật báo Tiếng Chuông vào năm1962 với tác phẩm “Mình Nỡ Quên Sao”; nhà thơ Thiên Hà đã cho xuất bản nhiều thơ, truyện và sau này hàng năm anh đều thai nghén ra mắt một tập thơ hay truyện của chính anh, hoặc nằm trong hợp tuyển. Cụ thể :

Trước những năm 1975 với các tập : Tiếng Hờn (thơ – 1963) – Khoảng Tối Sau Lưng (truyện ngắn – 1965) – Tiếng Hát Quê Hương (trường ca – 1968) – Nhập Cuộc (bút ký – 1972) – Mặt Trời Phương Đó (truyện vừa – 1973).

Sau năm 1975 với các sáng tác phẩm : Gió Về Miền Xuôi (thơ – 2004) – Cuộc Tình Tay Ba (phóng sự – 2005) – Huyền Thoại Tình Yêu (Thơ – 2006) – Lật Lại Hồ Sơ Vụ Án (điều tra – 2006) – Nhớ Nhau Hoài (thơ nhạc – 2007) – Còn Thương Mãi Thương (thơ nhạc – 2007) – Bến Tâm Hồn (hợp tuyển – 2007) – Cõi Trú (thơ – 2008) và mới đây nhà thơ Thiên Hà tiếp tục cho ra mắt tập hợp tuyển Bến Tâm Hồn 2 và 3 mang các chủ đề “Một thời Sài Gòn”  và  “Tôi còn kỷ  niệm” (2009). Hiện giờ đang soạn tập thơ Bến Tâm Hồn 4 mang chủ đề “Sài Gòn ngày ấy bây giờ” gồm nhiều khuôn mặt văn nghệ sĩ gồm thơ văn nhạc họa, sẽ ra mắt vào năm 2010 tới đây.

Ngoài những thơ truyện đã xuất bản như đã nói trên đây, nhà thơ Thiên Hà còn có nhiều tác phẩm khác như : “Cuối Đường” tiểu thuyết đăng báo 1966; “Nghìn Đêm Ánh Sáng” tiểu thuyết bằng hình 1967; “Một Ngày Nào Đó” kịch bản phim 1970; “Trí Nhớ Của Tên Kiện Vong” kịch bản phim 1974; “Chuyên Án K98″ kịch bản phim 2008.

Trong các tác phẩm thơ ca của nhà thơ Thiên Hà có nhiều bài được phổ nhạc như đã nói, tuy vậy chỉ có 2 bài “Nhớ Nhau Hoài” và “Gió Về Miền Xuôi” được nhạc sĩ Anh Việt Thu phổ thành ca khúc đã gây được tiếng vang lớn trong giới hâm mộ âm nhạc, đến nay vẫn còn được nhiều ca sĩ trong và ngoài nước trình diễn trên sân khấu hay các album CD – VCD – DVD.

Các văn nghệ sĩ nhận xét

về nhà thơ Thiên Hà

Nhà thơ soạn giả Kiên Giang – Hà Huy Hà :

Qua bài “Nhà thơ trên báo, nhà báo trong thơ” của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà, đã viết :

– Bốn mươi năm trước tôi biết Thiên Hà – một sinh viên làm corretteur cho nhà in báo Nhân Loại, là em chú bác ruột với nhà văn Ngọc Linh là cậu của nhạc sĩ Nguyễn Đức. Thỉnh thoảng bắt gặp thơ Thiên Hà đăng báo rất có hồn khiến tôi đặc biệt chú ý đến cậu “thầy cò” cần mẫn, siêng năng lại làm thơ sao mà giống tôi, cũng xuất thân từ “thầy cò” .

Khi làm báo Tiếng Chuông, tôi lại biết thêm người bạn trẻ “thầy cò” ấy có truyện ngắn được tuyển đăng khá nhiều. Tôi không ngạc nhiên mà rất mừng khi Thiên Hà nhận giải thưởng truyện ngắn báo Tiếng Chuông vào năm 1962, rồi được các chủ báo mời viết feuilleton, phụ trách trang trong các nhật báo về văn học nghệ thuật; bình chọn thơ và thực hiện tiểu thuyết hình (roman photo) cho một số tuần báo, được minh tinh Thẩm Thúy Hằng nhận đóng vai chính độc quyền cho  sáng tác phẩm của Thiên Hà…

… Từ chỗ ngồi “thầy cò”, thế đứng anh thợ chụp hình, đến dáng dấp nhà thơ, nhà văn, nhà báo, bất kỳ tư thế nào Thiên Hà cũng đứng thẳng ngẩng cao.

Sau ngày đất nước thống nhất, Thiên Hà từ Huyện Đoàn Thủ Đức cùng anh em “khai sinh” tờ báo Tuổi Trẻ. Thiên Hà hiển nhiên là nhà báo đích thực. Nhiều năm qua Thiên Hà còn là một trong những cây bút chủ lực của báo Công An  thành phố. Nay đã nghỉ hưu.

Vốn là nhà thơ trước khi làm báo, Thiên Hà giấu tay mặt trong tay trái, nên có người lầm tưởng trái tim nhà thơ “đóng băng”. Tưởng vậy mà không phải vậy ! Thiên Hà vẫn làm thơ – những vần thơ trong sáng hồn nhiên, chân thật và rất …  tình như con người thật của thi nhân.

Cố nhà văn Sơn Nam viết :

Hơn bốn mươi năm trước, Thiên Hà – chàng trai miệt rừng đước Cà Mau đến với làng văn, làng báo Sài Gòn, chẳng sợ ai và cũng chẳng nịnh ai. Khi tôi mới ra tù, còn bị quản thúc mọi người không dám tới gần sợ liên lụy, vậy mà Thiên Hà không ngại đến với tôi, mà còn tỏ ý muốn kết thân, muốn được tôi viết lời bạt cho tập truyện ngắn “Khoảng tối sau lưng” của cậu ta.

Tôi hỏi: “Bộ Thiên Hà không sợ… sao không nhờ Ngọc Linh, anh em trong nhà viết, chắc sẽ êm hơn…”, Thì Thiên Hà cười nhẹ : “Bởi vì anh Ngọc Linh có Đôi mắt người xưa nhìn thấu tim đen, em ngại lắm; còn anh Sơn Nam là ngọn núi trời Nam có Hương rừng Cà Mau nên em muốn được chút “hương” của “rừng” vậy mà!”. Nghe sao mà chân tình thân thiết khiến tôi có thiện cảm với người bạn trẻ này.

Từ đó Thiên Hà tự khẳng định được thế đứng bằng khả năng thơ văn chữ nghĩa, rồi ngẩng cao ngọn bút chiến đấu dọc ngang qua từng thời kỳ cho tới hôm nay, đủ cho anh em bè bạn nở mặt nở mày…

Nếu như Kiên Giang bảo Thiên Hà là “nhà thơ trên báo nhà báo trong thơ” có tình, có tâm trong từng con chữ; Nguyễn Quang Sáng  cho rằng trong Thiên Hà đã thể hiện hai con người vừa thơ vừa báo, hỗ tương bổ sung nên một Thiên Hà “hảo hớn” hữu dụng cho đời, thì  Sơn Nam này luôn coi Thiên Hà là “đứa con” của Hương rừng Cà Mau, biết cầm viết …. giữa đất trời – Một đồng nghiệp có nhân cách lớn, đồng hành suốt mấy chục năm, trải bao biến đổi thăng trầm mà vẫn một mực thủy chung với ngòi bút. Không hề than van, không hề kêu ca, cũng không hề sợ hãi trước những thách thức khó khăn là tính cách chàng trai miệt rừng đước năm nào.

Nhà văn Trương Đạm Thủy viết :

– Trong một tình cờ tôi gặp lại Thiên Hà, người bạn cũ sau mấy chục năm xa vắng. Cái khoảng vắng nhau ấy cũng gần bằng với cái khoảng thời gian hai đứa chúng tôi lang thang kiếm sống ở mảnh đất Sài Gòn trước đó rất xa.

Năm 1962 tôi, Thiên Hà và Dương Trữ La không hẹn mà gặp nhau ở  “Giải truyện ngắn báo Tiếng Chuông”. Con đường dẫn vào “trường văn trận bút” và tình bạn văn nghệ thân thiết giữa ba chúng tôi cũng từ đó bắt đầu .

Thiên Hà có một căn phòng thuê ở xóm An Đông trên đường Pétrus Ký (đường Lê Hồng Phong bây giờ). Dương Trữ La thì trọ nơi một căn gác ở Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng (nay tên đường Nguyễn Đình Chiểu). Tôi thì  nay tạt vào với Dương Trữ La, mai lại ghé qua Thiên Hà để cùng thức đêm nói chuyện đời, chuyện nghề nghiệp, chuyện tương lai. Mới chân ướt chân ráo bước vào làng văn, làng báo Sài Gòn, ở tuổi đôi mươi còn nhiều tham vọng, cả ba đều đính ước với nhau sẽ chọn nghề này đi suốt cuộc đời mình .

Dương Trữ La từ một tay chuyên viết truyện ngắn đã được “ông thầy” Bình Nguyên Lộc cho đứng chung tên trên một feuilleton của một tờ báo lớn.

Thiên Hà vừa làm corretteur (thầy cò) sửa bài cho một nhà in, vừa làm thơ, viết văn, phụ trách một số trang văn nghệ, tân nhạc, điện ảnh cho một vài tờ tuần báo. Biết nghề mình rất dễ có một lúc mưa lúc nắng thất thường, nên mỗi lần nhận được tiền nhuận bút, Thiên Hà thường mua cả chục ổ bánh mì rồi dùng giấy báo gói thật kín, sau đó ném lên nóc mùng. Có đêm tôi ghé qua và ở lại, Hà đi mua sữa lấy bánh mì dự trữ ra và hai đứa dùng bữa tối “thịnh soạn” …

Gác thơ của Thiên Hà không có tủ, chỉ có một cái rương cũ đựng quần áo đặt dưới gầm giường, nhưng lại có một chiếc bàn khá bề thế kê liền một kệ sách giá trị, đủ chỗ cho hai đứa viết lách. Cái mùng thì buông rủ quanh năm, “cần gì phải vén lên thả xuống cho mệt !”, nhà thơ thường hóm hỉnh nói như thế. Còn sàn gác phòng cu cậu thì chẳng còn ai có thể thấy mặt sàn đâu cả. Giấy nháp viết dở dang, giấy báo cũ xem rồi được ném vô tư xuống đó. “Tao không lười nhưng tao thích trang trí cho phòng tao một kiểu đề-co như thế”, anh chàng Hà thường hay biện hộ như vậy .

Cái thú chơi ngông cũng là một trong những …  phong cách của chàng lãng tử xứ Cà Mau này. Hồi đó trên bờ kè bến Bạch Đằng vào buổi chiều có những người bày bán bia rượu. Khách nhậu ngồi hoặc nằm tùy ý trên những tấm đệm bàng trải sát bờ sông. Thiên Hà thường đèo tôi trên chiếc Vespa cà tàng ra “nằm” nhậu bia ở đó. Uống xong chai nào Hà mua mấy chiếc bong bóng hơi cột vào cổ chai rồi ném xuống dòng sông. Con nước chiều dật dờ mang những chai và bóng trôi đi …  chẳng biết sao “gã thi sĩ gàn” này lại thích trò chơi đó đến nỗi bây giờ tôi không sao nhớ nổi là đã có mấy trăm “chiếc thuyền chai” như thế đã từng trôi dạt trên bến Bạch Đằng .

Chuyện mới đó mà hơn 40 năm phiêu bạt. Qua rồi một thời trai trẻ biết bao vật đổi sao dời với mỗi người một cuộc sống, một số phận, chợt buồn, chợt mừng khi gặp lại nhau kẻ còn người mất. Dương Trữ La đã trở thành người thiên cổ. Ba đứa bạn thân ngày nào nay còn lại hai … và chợt nhận ra sợi nhớ bạc mái đầu.

QUẾ PHƯỢNG