MỘT BÀI VIẾT VỀ KHÁNH LY

KHÁNH LY

ĐA ĐOAN

MỘT KIẾP CẦM CA

Khánh Ly hát hay, Khánh Ly nổi tiếng, nhưng cuộc đời thì sao? Câu trả lời là: Tài hoa cũng lắm, đa đoan cũng nhiều! Tài hoa thì do thiên phú. Còn đa đoan thì hầu như do Khánh Ly chọn lựa.

Khánh Ly là nghệ danh được ghép từ tên của hai nhân vật lừng lẫy trong truyện “Đông Chu Liệt Quốc” : Khánh Kỵ và Yêu Ly. Nhưng xem ra, cách sống và xử sự của Khánh Ly chẳng giống chút nào với hai con người khí khái này.

Chào đời tại Hà Nội vào năm đói Ất Dậu (1945), tên cúng cơm của Khánh Ly là Nguyễn Thị Lệ Mai, bạn bè thương gọi là “Mai Đen”. Được trời ban cho một chất giọng đặc biệt, 9 tuổi Khánh Ly đã bước lên sân khấu tham gia một cuộc thi ca hát với ca khúc “Ngây thơ”, nhưng chẳng nhận được một thứ hạng đáng kể nào cả. Năm 1956, sau khi theo gia đình vào định cư tại Đà Lạt, Khánh Ly đã tham gia cuộc thi hát nhi đồng, do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức tại Sài Gòn. Với nhạc phẩm “Ngày trở về” của Phạm Duy, Khánh Ly đoạt được giải nhì. Mãi đến năm 1962, Khánh Ly mới thật sự bước vào đời ca hát chuyên nghiệp tại phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Chưa có tiếng tăm gì, khó cạnh tranh, chỉ một thời gian ngắn, Khánh Ly phải quay về Đà Lại hát cho một vài hộp đêm tại đó.

Mãi đến năm 1967, Khánh Ly mới thật sự nổi tiếng. Cô nhanh chóng chinh phục được người nghe bằng dòng nhạc của Trịnh Công Sơn, trở thành một trong ba giọng ca nữ hàng đầu của Sài Gòn thời đó, theo thứ tự là Thái Thanh – Lệ Thu – Khánh Ly. Năm 1968, cô đứng ra thành lập hội quán Cây Tre ở số 2bis Đinh Tiên Hoàng, Đakao, thu hút đông đảo văn nghệ sĩ và thanh niên, sinh viên, học sinh tìm đến.

Hội quán Cây Tre tuy rất nổi tiếng nhưng không có hiệu quả về kinh tế. Đến năm 1972, Khánh Ly trở thành bà chủ phòng trà cùng tên (Khánh Ly) tại số 12 – 14 đường Tự Do (Đồng Khởi). Nhưng tiền của kiếm được bao nhiêu, hầu như Khánh Ly đều nướng sạch vào những canh bạc thâu đêm suốt sáng, thường xuyên tổ chức tại phòng trà cũng là nơi ở của mình. Tại địa chỉ này, Khánh Ly còn tập họp một số “bằng hữu” toàn là những tay anh chị khét tiếng trong đám sĩ quan người nhái, có mặt hằng đêm, như: Phong Nhái, Chánh Râu, Chất Lựu Đạn… Đám giang hồ áo lính này coi phòng trà Khánh Ly như trụ sở, từ đó bung ra đi thu tiền bảo kê hầu hết các vũ trường, snack bar, night club khắp trung tâm Sài Gòn, rồi quay về “trụ sở Khánh Ly” chia chác chiến lợi phẩm. Hai món cờ bạc mà Khánh Ly say mê nhất là xì phé và xập xám. Dường như câu nói cửa miệng của dân đổ bác : “Tiền xâu, đánh đâu, thua đó” đã hoàn toàn ứng nghiệm vào cuộc đỏ đen của Khánh Ly.

Tài danh có thừa, nhưng đời ca hát của Khánh Ly không chỉ toàn vinh quang, mà cũng có khi lắm nỗi nhục nhằn. Năm 1973, Khánh Ly tổ chức một chương trình ca nhạc tại Đà Lạt. Nhiều ngày trước đó, người ta thấy trên những băng rôn quảng cáo có nhiều tên tuổi ca sĩ nổi tiếng. Thế là khán giả nô nức đến xem, vé đã được bán sạch sành sanh. Vậy mà xuyên suốt chương trình, chỉ có Khánh Ly và Ngọc Minh thay nhau bao hết. Ngoài ra không có một ca sĩ nào khác. Cho là mình bị lừa, khán giả bắt đầu la ó, rồi tràn lên sân khấu đập phá. Khánh Ly phải chui ván sàn thoát thân. Ngày hôm sau, một tờ nhật báo tại Sài Gòn đã đưa tin với tựa đề giựt gân “Khánh Ly chui lỗ chó chạy trốn tại Đà Lạt”. Khánh Ly cay lắm, nhưng đành ngậm bồ hòn.

Dân văn nghệ Sài Gòn trước năm 1975, thảy đều biết rằng Khánh Ly rất kỵ Lệ Thu, chỉ vì con gà ganh nhau tiếng gáy. Dạo đó nhiều bầu sô và người làm chương trình đến mời Khánh Ly tham gia, đều bị hỏi một câu : “Có Lệ Thu không ? Có bà ấy là không có tôi !”. Một lần, nhân dịp họp mặt khóa 10 trường Võ bị Đà Lạt được tổ chức tại hồ nước trong khuôn viên Tiểu đoàn 61 Pháo binh, tại Gò Vấp (nay là UBND quận Gò Vấp), người làm chương trình cố tình sắp xếp cho Lệ Thu hát mở màn và Khánh Ly hát phần sau để tránh cho hai người gặp nhau. Chẳng may, sau khi hát xong, thay vì về sớm thì Lệ Thu lại được tướng Lê Minh Đảo mời ngồi lại đến mãn tiệc. Khi đến nơi, thoáng thấy Lệ Thu, Khánh Ly lập tức bỏ hát quay về. Người làm chương trình hết lòng nài nỉ, nhưng Khánh Ly vẫn không đổi ý : “Anh nói với tôi là không có Lệ Thu, tôi mới nhận lời. Tôi đã nói trước với anh rồi, có Lệ Thu là không có tôi”.

Có một dạo, dư luận xã hội đồn ầm lên rằng, chất giọng được mệnh danh là “giọng hát ma túy” của Khánh Ly có được là do chơi thuốc phiện. Kỳ tình “Mai Đen” không hề dính líu tới ả phù dung. Nhưng một lần, Khánh Ly đi từ Sài Gòn lên Thủ Đức trên một xe du lịch với một ông cò Cảnh sát. Khi đi ngang qua lãnh địa của một ông cò khác, thuộc phe đối nghịch, xe bị chặn lại khám xét. Mở cốp xe ra thì thấy một bàn đèn để hút thuốc phiện. Tuyệt nhiên, thuốc phiện thì không thấy. Khánh Ly nhận là của mình, nhưng cho đó chỉ là vật trang trí. Vậy là hôm sau, đi đâu cũng nghe người ta bàn tán việc Khánh Ly hút xách một cách sôi nổi với những tình tiết được thêm mắm, thêm muối thật hấp dẫn. Khánh Ly có vóc dáng mình hạc xương mai, phảng phất nét liêu trai chí dị. Khuôn mặt dễ nhìn, không thuộc loại “hồng nhan”, nhưng đường tình ái cũng rất “đa truân !”.

Thuở mới thành danh, Khánh Ly gá nghĩa vợ chồng với một tay chơi, có cái biệt danh kèm theo tên cúng cơm rất ấn tượng : “Minh Đĩ”. Anh chàng này vốn con nhà giàu, có bà chị lấy chồng là một đại tá không quân. Nhờ vào tiền của và thế lực của ông anh rể, Minh Đĩ chui vào làm lính kiểng với cấp hàm trung sĩ, thuộc binh chủng không quân, để tránh ra trận. Được hai mặt con thì Khánh Ly và Minh Đĩ ca bài chia tay. Chẳng bao lâu, Khánh Ly lấy Mai Bá Trác, một Đại úy biệt kích, khi ông ta đang làm trưởng trại Lực lượng đặc biệt (LLĐB) Thiện Ngôn ở biên giới Tây Ninh. Thời đó mà được làm trưởng trại LLĐB là coi như trúng số. Dưới quyền, có từ 4 đến 5 Đại đội biệt kích quân, phần lớn là người Miên và dân tộc thiểu số. Thứ lính này không có số quân, do Mỹ trang bị và trả lương. Mỗi đại đội chỉ cần vài chục lính ma, lính kiểng là mỗi tháng, sau khi chia chác cho đàn em, trưởng trại dễ dàng đút túi cả chục cây vàng. Cứ tưởng tượng, lúc bấy giờ ông Trác đã sắm xe du lịch Mustang, để sẵn ở Sài Gòn thì đủ biết. Tháng nào, ông ta cũng về ăn chơi xả láng, tiêu tiền như nước, nên dễ dàng chinh phục được Khánh Ly.

Sống với Mai Bá Trác có một mặt con thì năm 1972, nhân một chuyến đi hát tiền đồn để úy lạo binh sĩ, Khánh Ly gặp Đỗ Hữu Tùng, Trung tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Thủy quân lục chiến. Bị ngay một tiếng sét ái tình, dù trai đã có vợ, gái đã có chồng, họ vẫn rất say đắm nhau. Tuy là mối tình “ngoài luồng” nhưng hầu hết những ai quen biết hai người trong cuộc đều xác nhận đây là một đôi nhân tình rất xứng đôi, vừa lứa về mọi mặt. Bây giờ, Tùng đã thành người thiên cổ. Ông ta tử trận tại bãi biển Đà Nẵng năm 1975, nhưng Khánh Ly vẫn tâm sự với bạn bè thân thiết, rằng Tùng là người mà Khánh Ly yêu thương nhất đời.

Sau tháng 1975, trên bước đường di tản, định mệnh đã xui khiến Khánh Ly gặp Nguyễn Hoàng Đoan, người chồng đang sống với Khánh Ly từ đó cho đến nay. Nhiều người đã tỏ ra tiếc cho Khánh Ly, vì có một người bạn (cuối cùng) đời thuộc loại văn dốt, võ dát dù ông ta mang danh là một nhà báo của làng báo Sài Gòn cũ. Nguyễn Hoàng Đoan chỉ thật sự được nhiều người biết đến từ khi sang Mỹ và trở thành “ông Khánh Ly”.

Từ năm 1972 cho đến ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ, Nguyễn Hoàng Đoan thất nghiệp. Không một tờ báo nào nhận ông ta vì khả năng viết lách thì yếu kém nhưng lại giỏi ăn tạp. Ông ta đã có vợ và 2 con gái, nhưng Nguyễn Hoàng Đoan lại sống vô trách nhiệm. Chính xác, Đoan lo thân mình còn chưa xong, lấy đâu ra để lo cho vợ con. Không chu toàn được cơm áo, Đoan cũng chẳng là chỗ dựa tinh thần cho con cái. Suốt ngày, ông ta thường xuyên có mặt chầu rìa tại sòng bài Ba Hóa ở khu vực nhà thờ Huyện Sĩ. Dần dà, ông ta tán tỉnh được cô con gái của chủ sòng bài khét tiếng này, để trở thành một “đấng trai bao” ! Thời gian rảnh, Đoan thường xuyên có mặt tại hai động chứa gái hạng sang. Một ở trên đường Huỳnh Tịnh Của và một tại villa số 11, đường Đặng Đức Siêu (nay là Nam Quốc Cang) để kiếm ăn và chơi lụi.

Sang Mỹ, chẳng có nghề ngỗng gì, nên Đoan phải bám váy Khánh Ly. Việc hát xướng của Khánh Ly tại hải ngoại cũng không đều đặn, thu nhập cũng chẳng là bao, đời sống cũng khá chật vật. Nguyễn Hoàng Đoan đã “tham mưu” cho Khánh Ly cách làm mình, làm mẩy và lật lọng với các bầu show. Ai mời đi hát ở đâu đó, dù rỗi rảnh, Khánh Ly vẫn hô hoán : “Chết rồi, chị trót nhận lời hát cho một người quen, lỡ nhận tiền trước rồi !”. Nếu như đối tác tiếp tục năn nỉ, Khánh Ly sẽ dở chiêu đòi tăng giá vào giờ chót, lật bài ngửa : “Vậy thì em trả thêm cho chị chút đỉnh !”. Cô thường đồng ý tham gia chương trình để bầu show quảng cáo tên tuổi ì xèo. Kề ngày diễn, Khánh Ly đột ngột đòi tăng giá từ 3.000 lên 5.000 USD mới có mặt. Thế là bầu show phải đắng cay ngậm quả bồ hòn. Giới bầu show hải ngoại đã đặt cho Khánh Ly hai biệt hiệu rất lẫy lừng: “nữ hoàng nâng giá”, và “ca sĩ xù show”. Ngay cả nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cũng không được Khánh Ly nể mặt. Cay đắng đến độ, trước khi qua đời, người nhạc sĩ tài hoa này đã trăn trối với vợ con: Cấm cửa, không cho Khánh Ly đến viếng!

Tháng 5/2000, Khánh Ly có về Việt Nam thăm gia đình. Quay lại Mỹ, Nguyễn Hoàng Đoan và Khánh Ly, kẻ xướng, người họa, nửa úp, nửa mở : “Việt Nam mời tôi về hát với catse 2 triệu USD. Nhưng chắc không có chuyện đó với tôi”. Chẳng cần truy cứu hư thực, mới nghe ai cũng đã phì cười, bởi sự bịa đặt hết sức ấu trĩ của “nữ hoàng nâng giá”.

Đúng là nồi nào úp vung nấy. Đáng tiếc cho danh ca của một thời

(theo Đoàn Thạch Hãn – báo CAND)

LỜI BÀN CỦA CAO BỒI GIÀ : Cái bài này không biết có đúng 100% hay không, nhưng đã có đến mấy người bạn như Yên Huỳnh, Nguyễn Toàn, Lan caysu và Thụyvi gửi về. Có lẽ bức xúc thấy bài viết mà ý tứ có phần quá nặng nề với Khánh Ly. Còn người biết chuyện như Cao Bồi Già đọc qua thấy có đến 50 – 60 % thuộc vào phần thêm mắm dặm muối cùng tiêu hành gia vị nêm vào cho bài viết trở nên “nặng mùi” đả kích đối tượng.

Thật ra thằng Cao Bồi Già này cũng không thích gì đời tư của Khánh Ly (mời xem bài VĂN HÓA VĂN NGHỆ (7)  trong trang blog http://hncgroup2012.wordpress.com – muốn xem xin bấm vào đường dẫn trên– trong đó có bài viết về CẶP TRỊNH CÔNG SƠN & KHÁNH LY) nhưng cũng phải lên tiếng dùm cho “tiếng hát ma tuý” này.

Còn ông Đoàn Thạch Hãn là ai, giới văn nghệ sĩ Sài Gòn xưa và nay ai mà không biết ông, nên miễn bàn (có lẽ lúc này ông “chạy thuốc” cho nhà thuốc tây nào đó, mệt quá nên nói sảng rồi chăng ?)

Ghi chú : hình ảnh tư liệu của Nguyễn Việt (cá nhân và trên Net)

Phản hồi : Lời bàn của Cao Bồi Già trong bài

– Theo tôi biết sở dĩ tác giả ĐTH hăng tiết vịt chửi bới Khánh ly là vì bị ông “thợ nổ” Du Tử Lê mới về VN thăm gia đình và ĐTH hồi tháng 3/2012 vừa rồi, đã “cấy” lung tung giới văn nghệ hải ngoại, nhất là ở Hoa Kỳ.

Nên ĐTH trước 75 chưa biết gì nhiều về Khánh Ly (lúc đó anh ta chỉ là tên phóng viên quèn, đệ tử của Huỳnh Bá thành trên báo Điện Tín, nên biết đếch gì về giới ca sĩ Sài Gòn thời 40 năm về trước), nghe Du Tử Lê nói sao viết vậy.

Xin mượn câu kết của ĐTH tặng lại cho chính ĐTH “Đúng là nồi nào úp vung nấy….” Ngưu tầm ngưu – Mã tầm mã….

minhnguyen/Bestlight

NHẠC SĨ

ĐẶNG THẾ PHONG

Nhạc phẩm Giọt Mưa Thu – tác phẩm âm nhạc của Đặng Thế Phong. Giọng hát Ngọc Hạ

http://youtu.be/5ObYbyCsMB4

Văn đàn Việt Nam trong Thập niên 30,40 đã phải chứng kiến những mất mát to lớn cho nền Văn học nước nhà khi tuổi của họ còn quá trẻ : (1) Nhà văn Vũ Trọng Phụng ra đi ở tuổi 27 (1939) vì bệnh lao; (2) Nhà thơ nổi tiếng Hàn Mặc Tử mất khi ông mới 28 tuổi (1940) vì bệnh cùi, và (3) Nhạc sĩ Đặng Thế Phong cũng đã ra đi ở độ tuổi còn quá trẻ 24 (1943) vì bệnh lao… để lại bao tiếc thương vô hạn.

Sinh thời Đặng Thế Phong chỉ viết 3 bài hát : Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến và Giọt Mưa Thu.

– Nghe Giọt mưa thu : http://youtu.be/5LYBSbgkcxA

– Nghe Đêm Thu : http://youtu.be/WiERRvQZy6c

Cũng như Vũ Trọng Phụng, phải mãi sau này khi làn gió Đổi mới đến với đất nước ta thì các nhạc phẩm nổi đình đám một thời của Đặng Thế Phong và các Nhạc sĩ Tiền chiến khác mới được đánh giá một cách đúng mức trong kho tàng Lịch sử Âm nhạc Việt Nam (mặc dầu Ông đã là Nhạc sĩ có một không hai gắn liền tên tuổi mình với mùa Thu trong lòng người hâm mộ từ lâu).

Theo Tác giả Trần Phước Hùng :

“Đặng Thế Phong sinh ra trong một gia đình công chức ở thành Nam nhưng không may mắn. Cha mất sớm buộc Đặng Thế Phong phải sớm tìm con đường mưu sinh : vừa đi học, vừa vẽ thuê kiếm sống.

Mới hơn hai mươi tuổi đầu đã lang thang nơi đất khách quê người tận xứ Nam Vang làm đủ thứ nghề vẽ thuê, dạy nhạc… để sống, học và sáng tác. Năng khiếu bẩm sinh về Âm nhạc cho phép Đặng Thế Phong có thể vừa ôm đàn, vừa sáng tác, vừa biểu diễn tác phẩm của mình với chất giọng tenor rất đặc biệt.

Theo các bạn bè và bà Đặng Thanh Kim, em út của Đặng Thế Phong thì Ông là một thanh niên rất điển trai, hoạt bát, thích ăn diện, ăn nói rất có duyên lại giỏi đàn hát nên được rất nhiều cô gái thành Nam yêu mến. Đặc biệt Đặng Thế Phong có biệt tài sắm các vai nữ, y như thật. Nhiều cô gái mê ông vì thế.

Trong số đó có ba cô lọt vào mắt xanh chàng trai trẻ đa tình. Đó là cô Hà Tiên, học sinh Trường Sarcree coeur Nam Định; cô Nguyễn Thị Na, tức Lê ở khu Ga Hải Phòng; và cô Bạch Yến ở Hàng Bông, Hà Nội.

Trong ba cô thì Bạch Yến xem ra nặng tình hơn cả bởi cô là người chăm sóc và tiễn đưa Đặng Thế Phong đến nơi an nghỉ cuối cùng và buồn thay cuộc đời của cả ba người đều lỡ dở.

Đặng Thế Phong viết “Đêm thu” năm 1940. Ca khúc này ông viết và biểu diễn ở những đêm lửa trại, lời ca được nhiều bạn bè đóng góp chỉnh sửa nên rất trong trẻo hồn nhiên, thể hiện nỗi đam mê của con người trước thiên nhiên và cuộc sống. Ngay lập tức bài hát được giới trẻ hưởng ứng nhiệt liệt. Song phải đến “Con thuyền không bến” viết vào tháng 9/1941 sau khi Nhạc sĩ đi Phnom Penh trở về thì tên tuổi Đặng Thế Phong mới nổi như cồn.

Hôm đó tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ca sĩ Vũ Thị Hiển lần đầu tiên hát ca khúc này đã làm xôn xao dư luận. Sau đó chính tác giả đã trình bày bài hát này tại rạp Olimpia ở phố Hàng Da thì công chúng Hà Nội càng thêm mến mộ một tài năng. Không chỉ bởi chất giọng của người nhạc sĩ kiêm ca sĩ mà bởi chất thơ nhuần nhuyễn trong từng giai điệu và lời ca thẫm đẫm chất Thu :

Đêm nay thu sang cùng heo may

Đêm nay sương lam mờ chân mây

Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng

Như nhớ thương ai chùng tơ lòng.

Có một điều rất khó lý giải là tại sao ở cái tuổi mới hơn hai mươi mà Đặng Thế Phong lại nhuần nhuyễn từ ca từ đến làn điệu thấm đẫm chất dân ca đồng bằng Bắc Bộ như vậy.

“Lướt theo chiều gió. Một con thuyền theo trăng trong…”

Giai điệu này lặp đi lặp lại nhiều lần như một điểm nhấn, nó nghe như một làn điệu Dân ca mơ hồ, Chầu văn hay Chèo nào đó. Cũng lạ, trong lúc Âm nhạc Pháp đang tràn ngập Việt Nam, tâm lý hướng ngoại đang là “mốt” trong giới trí thức, những đĩa hát Tango Chinoise 78 vòng/phút đầy chất lính kèn lê dương, phong trào Tân nhạc chủ yếu là đặt lời cho các bài hát tây thì nhạc phẩm của Đặng Thế Phong lại thấm đẫm tâm hồn Việt…

Năm 1942, Đặng Thế Phong viết “Vạn cổ sầu”, sau Bùi Công Kỳ sửa lời và đặt tên mới là “Giọt mưa thu”. Đây là nhạc phẩm thứ ba của Đặng Thế Phong và lại có chủ đề là mùa Thu :

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi

Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi.

Giọt mưa thu rơi thánh thót. Thật không có hình ảnh nào sống động chính xác hơn. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, người ta vẫn ví những khúc ca lộng lẫy đó như là “hoa hậu” của ca từ Âm nhạc hiện đại Việt Nam.

“Giọt mưa thu” là một nhạc phẩm song cũng là một mảng tâm hồn của con người. Nó như một lời ru kỳ diệu đưa hồn người hòa đồng vào các cung bậc cảm xúc đầy sắc màu của thiên nhiên, nó như giãi bày hộ nỗi buồn nhân thế đang mong được giải tỏa.

Một tiếng tơ lòng cất lên mỏng manh như tâm hồn người Nghệ sĩ. Đã bao năm rồi, đã có biết bao thế hệ người Việt Nam cất tiếng hát :

“Ai nức nở thương đời

Châu buông mau, dương thế bao la sầu…”

Sự tích Ngưu Lang – Chức Nữ chia xa, mỗi năm được gặp nhau một lần ngắn ngủi, nước mắt của Tình yêu và nỗi nhớ giội từ trên trời cao xuống hiu hắt lắng đọng từ cõi vô biên, phải chăng đó là chất xúc tác để chàng nghệ sĩ họ Đặng cảm xúc cất lên những âm thanh siêu ảo vượt lên nỗi buồn thế tục, phải chăng giọt mưa thu chính là thiên sứ của tình yêu đã được nhân cách hóa một cách tài tình.

Hãy thử tưởng tượng trong một ngày “mưa Thu” rơi thánh thót ngoài hiên, tiếng vĩ cầm cất lên réo rắt những giai điệu như nức nở của giọt mưa thu của Đặng Thế Phong, người ta có cảm nhận như đâu đây tiếng lòng thổn thúc của thơ Verlain, hay tiếng nhạc buồn của Chopin, hay những cánh lá vàng trong bức tranh “Mùa thu vàng” của Levitan. Thiên nhiên và lòng người hòa quyện một cách tài tình trong bàn tay sáng tạo của người Nghệ sĩ.

Chỉ với ba nhạc phẩm, Đặng Thế Phong đã là một hiện tượng trong lịch sử nền Âm nhạc Việt Nam. Từ “Đêm thu” với những kỷ niệm hồi thơ bé :

Qua lá cành ánh trăng lan dịu dàng

Ru hồn bao nhớ nhung.

đến “Con thuyền không bến” mộng mơ :

Một con thuyền trong đêm thâu

Trên sông bao la thuyền mơ bến nơi đâu ?

đã là một bước chuyển rất lớn trong tâm hồn người Nghệ sĩ.

Đến “Giọt mưa thu”: Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ.

Có thể thấy Đặng Thế Phong đã hóa thân vào tiếng Thu lòng thổn thức một cách tài tình như thế nào.

Trong số những người bạn học thân của Đặng Thế Phong hồi thiếu thời ở Nam Định có Vũ Đức Oong. Ông này sau tham gia cách mạng bị Pháp bắt giam ở nhà ngục Sơn La. Từ trong tù, nghe tin bạn bị lao mà chết, năm 1943, ông cảm thán viết bài thơ “Nhớ Thế Phong”, trong đó có đoạn :

Đã mấy thu rồi xa cách lắm

Mấy lần thu tới mấy thu đi

Bạn ơi ! Có biết thu này khác

Trăng úa bên rừng khóc biệt ly !

Cũng lại ý tứ mùa Thu. Phải chăng hai người bạn nối khố này rất đồng cảm với nhau. Năm 1945 ra tù tham gia cướp chính quyền ở Nam Định, ông Oong đã đến ngay gia đình Đặng Thế Phong và còn giữ nhiều tấm ảnh quý về gia đình họ Đặng này. Ông nói : “Nếu tôi không bị đi tù thì tôi không để cho Phong đi Campuchia và ốm đau bệnh tật như thế !”.

Thoắt đấy mà đã hơn 90 năm ngày sinh của một Nhạc sĩ tài hoa nhưng đoản mệnh. Hôm qua chúng ta đã hát những ca khúc buồn của Ông, hôm nay chúng ta tiếp tục hát những ca khúc của Ông nhưng với một tâm thế khác. Ngày mai cũng vậy. Bởi lẽ đó là những ca khúc Bất hủ của một tài năng đích thực..”.

Chúng ta hôm nay hãy cùng nhau “lắng nghe tiếng lòng” của cố Nhạc sĩ Đặng Thế Phong trong Giọt Mưa Thu, do Ngọc Hạ trình bày. Tình Thân, Kính.

NNS

– Mời nghe tiếp tiếng hát của Ngọc Hạ : http://www.youtube.com/user/mlgtwo#g/u

TÌM HIỂU VỀ MẠI DÂM SÀI GÒN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

VỀ MẠI DÂM 

Kimberly Hoàng, tốt nghiệp tiến sĩ Xã hội học tại UC Berkeley năm 2011, đã được Hội Xã hội học Mỹ trao giải “luận án hay nhất” cho luận án tiến sĩ về mại dâm tại Việt Nam.
Luận án tựa đề Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam, là công trình 15 tháng nghiên cứu về dân tộc học tại TP Saigon; tại đây TS Kimberly Hoàng đã làm việc như một chiêu đãi viên tại bốn quán bar phục vụ cho các nhóm khách hàng khác nhau. Theo giáo sư xã hội học Berkeley Raka Ray, chủ tịch ủy ban luận án, nghiên cứu của Kimberly Hoàng “không những chỉ làm nổi bật là cấu trúc và cách hành nghề mại dâm ở Việt Nam mà còn giải thích mại dâm giữ vai trò quan trọng như tiền mặt trong nền kinh tế chính trị của Việt Nam.”

Trong lá thư đề cử, GS. Ray gọi luận án Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam là “một tác phẩm tuyệt vời” của “một nhà tư tưởng can đảm và sáng tạo” và ông nói thêm rằng TS. Hoàng “nghiên cứu điền dã ít người dám thực hiện”.

Kimberly Hoàng là con gái trong một gia đình di cư, chủ tiệm bi-da trong khu phố cũ, tốt nghiệp danh dự tại đại học UC Santa Barbara năm 2005 rồi lấy Thạc sĩ tại đại học Stanford trước khi đến học ở Berkeley. Hiện nay TS. Kimberly Hoàng là một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu Giới tính, Phụ nữ và Tình dục tại Đại học Rice; TS. Hoàng sẽ giảng dạy tại Khoa Xã hội học tại Boston College vào năm 2013.

Giải thưởng của Kimbery Hoàng sẽ được trao vào tháng Tám tại cuộc họp thường niên của Hội Xã hội học Hoa Kỳ (The American Sociological Association, ASA).

TIỀN, SEX VÀ TÌNH YÊU

Nạn buôn người và sự liên hệ giữa HIV và mại dâm tại Việt Nam đã được nói đến nhiều. Mới tháng Sáu năm nay, Bộ Ngoại giao Mỹ ra báo cáo, đưa Việt Nam vào danh sách loại 2 (cần được theo dõi). Trên thế giới, cả người theo quan điểm bảo thủ lẫn tự do đều cố gắng quyên tiền, xây dựng các tổ chức phi chính phủ (NGO) để cứu những phụ nữ bị buôn bán qua biên giới hoặc bị bắt bán dâm.

Tuy vậy, sự tập trung quá mức vào vấn nạn buôn người ở Việt Nam khiến chúng ta có thể bỏ qua cuộc sống của những cô gái không bị ép làm nghề bán dâm. Bài viết của tôi muốn hé lộ cuộc sống của những phụ nữ tự nguyện làm nghề bán dâm ở Việt Nam, và quan sát những người đàn ông – địa phương và nước ngoài – hưởng thụ sex.

Khách hàng thay đổi

Trong thập niên đầu tiên kể từ sau Đổi mới 1986, nền kinh tế Việt Nam chứng kiến tiền kiều hối của Việt kiều tăng vọt. Ví dụ, thống kê năm 2005 của Ngân hàng Thế giới cho biết Việt Nam nhận gần 4 tỉ đôla kiều hối, chiếm 8% GDP đất nước. Luồng vốn và nhân lực nước ngoài đổ vào đất nước cũng gia tăng. Báo chí cũng tường thuật rằng đến năm 2009, nguồn vốn chủ yếu đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã chuyển từ Mỹ, châu Âu sang các nước châu Á như Đài Loan, Nam Hàn, Malaysia, Nhật Bản, Singapore.

Những thay đổi kinh tế vĩ mô này đã biến đổi cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, và cũng ảnh hưởng cả ngành công nghiệp tình dục. Các khu vực mới trong ngành công nghiệp sex xuất hiện khi mà khách hàng nam giới cũng có những đổi thay về giai cấp và chủng tộc.

Ví dụ, giai đoạn 2006-07, tôi phát hiện rằng khách hàng trả tiền cao nhất chủ yếu là Việt kiều hưởng thụ trong khi về Việt Nam chơi hay thăm gia đình. Điều này không ngạc nhiên vì khi đó, tiền kiều hối còn cao hơn FDI.

Nhưng đến năm 2009, khu vực cao giá nhất trong ngành công nghiệp sex lại quay sang phục vụ các doanh nhân người Việt trong nước và châu Á. Trung bình một tháng họ bỏ ra 15000- 20000 đôla ở các quán bar cao cấp. Những quán bar này chỉ có hệ thống karaoke bình thường, nhưng điều duy nhất đưa chúng lên thành cao cấp là loại rượu whisky, Johnny Walker, Blue Label. Các cô phục vụ cũng bán dâm cho nhiều khách hàng, và có thu nhập trung bình 2000 đôla một tháng nhờ tiền boa, và khoảng 150 – 200 đôla cho mỗi lần qua đêm với khách.

Trao đổi với các cô gái, tôi nhanh chóng nhận ra là rất ít cô ở Sài Gòn xem mình là bị bắt đi bán dâm. Thực tế, nhiều cô gái nói rõ là họ xem công việc này còn ít bị bóc lột hơn là nghề bồi bàn, giúp việc hay làm trong xưởng may.

Những cô gái ở quê sợ sệt hay chậm chạp mới phải đi làm nhà máy, kiếm 700.000 đồng một tháng.

Vân, một cô gái bar

Vân, một cô gái 24 tuổi, nói : “Những cô gái ở quê sợ sệt hay chậm chạp mới phải đi làm nhà máy, kiếm 700.000 đồng một tháng. Họ sẽ luôn nghèo vì không đủ dũng cảm hay thông minh để đổi đời”. “Những người thông minh bỏ nhà máy, đi làm ở bar vì số lương kia họ kiếm được chỉ sau một giờ, và khách hàng đối xử còn đàng hoàng hơn ông chủ nhà máy.”

Các quán bar cao cấp là không gian nơi đàn ông trong nước chứng tỏ cho đối tác Á châu thấy rằng mặc dù Việt Nam là đất nước nhỏ, nước này cũng là dân chơi máu mặt trong nền kinh tế toàn cầu. Sau khi nốc sáu chai whisky, Thắng, một doanh nhân 56 tuổi, giải thích : “Thời kỳ Việt kiều đã qua rồi. Dân trong nước nay đi xe Bentley giá nửa triệu đôla. Khi dân Việt Nam đã chơi, thì còn dữ hơn dân Á châu hay Việt kiều.”

Cho dù doanh nhân trong nước và Á châu chiếm lĩnh khu vực cao giá nhất của ngành công nghiệp sex, đàn ông Việt kiều cũng không kém mấy. Khách hàng Việt kiều thường đến các club mở cho công chúng. Bên trong là bàn ghế để ngồi, uống rượu, có khi xem nhạc sống và mời các cô PG (promotion girl) đến bàn. Đêm đến, khách hàng có thể chèo kéo một cô gái nào đó qua đêm với giá chừng 100 đôla.

Công việc ‘thực sự’

Một buổi tối ở quán bar vắng khách, tôi nói chuyện với các cô về nghề của họ. Tôi hỏi họ có muốn tìm nghề khác không. Yến, 23 tuổi, nói : “Em xem đây là công việc thực sự. Nếu phục vụ trong nhà hàng hay quán cà phê, chỉ được khoảng 4 triệu đồng một tháng. Số tiền đó hai đêm ở đây là được, mà lại còn vui hơn. Em được gặp bao nhiêu người từ khắp thế giới.”

Thoại, 24 tuổi, nói them : “Người ta nghĩ em hẳn phải ngu lắm, em làm nghề này vì không tìm được việc. Nhưng ở đây em kiếm nhiều tiền hơn, thế ai ngu hơn ? Khi em mới tới Sài Gòn, em làm ở xưởng có lương 1 triệu đồng một tháng. Ở Sài Gòn, lương vậy sao mà sống ?”

Cũng có những quán bar phục vụ người Tây phương làm việc ở Việt Nam và du lịch ba lô. Chúng khác với các quán cho dân trong nước và Việt kiều ở chỗ đàn ông ở đây có thể mua bia rẻ tiền chỉ có 2 đôla. Năm 2007, tôi gặp Linh, 22 tuổi, làm ở khu dành cho các nhóm du lịch ba lô. Khi ấy, cô có quan hệ với 3 người khác nhau. Họ gửi tiền cho cô hàng tháng, rồi lại cả một khoản lớn để mở cửa hàng, giúp cô nuôi người cha đau yếu. Khi được hỏi cô có yêu người nào không, cô nói: “Khi mới vào nghề, em còn trẻ, không khôn ngoan lắm. Tôi yêu dễ dàng và rồi đau khổ. Nay em muốn thay đổi đời mình trước tiên, yêu là chuyện đi sau.”

Tình yêu

Vài tháng sau, Linh giới thiệu cho tôi gặp James, một người đàn ông 60 tuổi về hưu từ Úc. Tôi ngạc nhiên khi biết ông ta không chỉ tìm kiếm sex. Ông muốn yêu một cô gái mà ông mô tả là “trung thực, chăm làm, nhưng mắc kẹt ở đất nước thế giới thứ ba không có nhiều cơ hội.” James không đề cập chuyện lấy tiền đổi sex, mà ông xem quan hệ với Linh dựa trên tình yêu thật. Ông cũng tin rằng cô ấy yêu ông. Ông bày tỏ niềm tin rằng ông sẽ là người “cứu” cô ra khỏi cuộc đời làm gái bar.

Hai năm sau, 2009, Linh và James kết hôn và cô được cấp visa di cư sang Úc. Ở buổi tiệc chia tay, tôi hỏi : “Em có yêu anh ta không ?”.

Cô trả lời : “Tụi em vất vả lắm để có visa, và ảnh rất cố gắng. Nay em yêu ảnh. Trong đời này hên sui thôi, em cảm thấy rất may mắn.”

Quan hệ của Linh và James minh họa cho cách mà các cô gái bán dâm đã có ý thức vượt qua lằn ranh giữa chuyện “ăn bánh trả tiền” và góc cạnh thân mật hơn. Những phụ nữ có vẻ yếu ớt lại có thể lợi dụng hệ thống áp bức họ, có lợi nhờ mối liên hệ đa quốc gia. Công việc bán dâm đôi khi chuyển hóa thành quan hệ thân mật, và nếu họ “may mắn”, họ còn có thể có những tình yêu chân thật.

Về tác giả : Kimberly Hoang là nghiên cứu sinh Khoa Xã hội học, Đại học California tại Berkeley. Cô viết riêng bài này cho BBC Việt ngữ, dựa trên bài nghiên cứu học thuật dài hơn đã đăng trên tạp chí Sexualities tháng Tư 2010

Nguyễn văn Danh post

MÙA THU CHẾT

Mùa thu chết được Phạm Duy sáng tác năm 1965, rất nổi tiếng trong thập nên 70 ở miền Nam,lấy ý từ bài thơ L’Adieu của Guillaume Apollinaire.

“Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch thảo

Em nhớ cho : Mùa Thu đã chết rồi !”

Hoa Thạch thảo.

1/- Theo Lê Trung Ngân : “Hoa Thạch thảo (Aster amellus L) thuộc họ Cúc (Asteraceae). Tất cả các loại thạch thảo đều trong gia đình Ericaceae, có một loại hoa thạch thảo duy nhất thuộc giống Calluna, ngoài ra là loại Erica.

Tại Việt Nam, người miền Nam hay gọi là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, người Bắc gọi là Thạch thảo. Thạch thảo hay mọc thành bụi, nhiều bong với cánh đơn xoè rộng ra. Hoa Thạch thảo có ba màu chính: tím, hồng, trắng. Thạch thảo ngày nay được lai tạo thêm thành loại hoa cánh kép.

Hoa Thạch thảo cánh mối cũng như các loại hoa cúc thường nở vào mùa Thu, khi mà đa số các loại hoa khác đã tàn.

Như vậy, hoa Thạch Thảo (hay cúc Sao, cúc Nhật, cúc Cánh Mối) là 1 tên Việt của loài Aster amellus L. thuộc họ Cúc (Asteraceae), tên Anh ngữ là Aster và Pháp là Astère. Nhóm Cúc (cả trồng làm hoa hay mọc hoang) thường được gọi chung là Chrysanthemum/Aster, trong đó các loài mọc hoang thường có 1 chùm lông ở cuối mỗi hột (khi trái chín) và phát tán nhờ gió (nên mọc hoang, rải rác vào mùa xuân khi có nắng ấm ở Âu châu, hoa chỉ sống trong vài tháng! ).

Các loài cúc trồng thì không phát tán tự nhiên được vì hột không có lông như Vạn Thọ (marigold), cúc Giấy (zinnia). Có loại được trồng từ hột, có loại trồng bằng củ; cúc Thạch Thảo (cúc sao/Aster), và nói chung loại nhiều loại cúc thường trồng từ cây con nhảy chồi (do mọc thành bụi, hoa thường bất thụ).

Hoa Thạch thảo Âu châu là thuộc cây Bruyère (tiếng Pháp) hay Heather (tiếng Anh) còn gọi là Common Ling hay Briar. Nếu nói về ý nghĩa của màu hoa Thạch thảo thì Thạch thảo trắng tượng trưng cho sự che chở, cho sự mong mỏi. Thạch thảo mầu hồng tượng trưng cho may mắn, và màu xanh lạt lavender tượng trưng cho cô đơn, sự hâm mộ thán phục.

2/. Bùi Giáng dịch L’Adieu của Guillaume Apollinaire (1880-1918) :

L’Adieu

J’ai cueilli ce brin de bruyère

L’automne est morte souviens-t’en

Nous ne nous verrons plus sur terre

Odeur du temps brin de bruyère

Et souviens-toi que je t’attends

Bản dịch của Bùi Giáng

Lời vĩnh biệt

Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo

Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi

Chúng ta sẽ không tao phùng đựợc nữa

Mộng trùng lai không có ở trên đời

Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi

Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó …

3/. Guillaume Apollinaire (August 1880- November 1918)

Guillaume Apollinaire : tên thật Wilhelm Albert Vladimir. Là nhà thơ Pháp gốc Ba Lan, sinh ở Roma, Italy. Nãm 1887 Wilhelm Kostrowitzky cùng gia đình mẹ chuyển về Monaco và học ở Monaco, Cannes.

Từ nãm 1899 chuyển về sống ở Paris, làm thơ, viết báo với bút hiệu Guillaume Apollinaire, ông cộng tác với một số tờ báo như La Revue blanche, La Plume và Le Mercure de France. Năm 1903, ông lập ra các tờ tạp chí của chính mình Le Festin d”Esope (November 1903-August 1904) và La Revue immoraliste (1905).

Năm 1912 ông cùng bạn bè thành lập tạp chí “Les soirées de Paris” và làm chủ bút từ năm 1913. Cũng trong năm này in bài thơ nổi tiếng nhất của ông : Le Pont Mirabeau và trường ca Zone. Năm 1913 ông phát hành tập thơ Alcools (Rượu), và năm 1914 có xuất bản một số bài thơ viết theo kiểu tạo hình.

Apollinaire mất ngày 9 tháng 11, năm 1918 tại Paris. Mộ ông chôn ở nghĩa trang Père Lachaise ở Paris.

Apollinaire làm bài thơ L’Adieu sau khi đi thăm mộ con gái của Đại Văn hào Victor Hugo vào ngày 16 September 1913. Arnaud Laster, Giáo sư văn chương tại trường Sorbonne (University of Paris III), trong một bài viết đã đặt câu hỏi : “Có phải Apollinaire đã viết bài L’Adieu này để tưởng nhớ Victor Hugo sau khi đi thăm mộ người con gái của Hugo tên là Léopoldine đã chết đuối cùng chồng ở biển tại tỉnh Villequier vào năm 1843”. Bài này có thể có liên hệ với bài Demain, dès l’aube của Victor Hugo và là nguồn cảm xúc để Apollinaire sáng tác bài L’Adieu chăng ?

Hoa Thạch thảo (bruyère) được nhiều Thi sĩ mang vào Thơ, nhưng có thể nói rằng hoa Thạch thảo đã được đời đời gắn liền với bài thơ Demain, dès l’aube của Victor Hugo và L’Adieu của Guillaume Apollinaire.

Có phải chăng thu miền viễn đông, 

Nơi có Thạch thảo mọc ven sông,

Hoa chuông nho nhỏ vờn trong gió

Gợi nhớ thành sầu trĩu mênh mông ?

(Bài Viết của NNS)

NÓI VỀ NHẠC SĨ PHẠM DUY

Ý Nghĩa nhạc phẩm “Mùa Thu chết”

Khi NNS nói đến bài thơ L’Adieu của Guillaume Apollinaire, nhắc đến Hoa Thạch Thảo không ai không nhớ đến nhạc phẩm “Mùa Thu Chết” của nhạc sĩ Phạm Duy.

Và khi nói đến nền tân nhạc miền Nam nếu không nói về Phạm Duy quả thiếu sót, không phải Phạm Duy thuộc hàng cổ thụ, có quá trình sáng tác dồi dào từ dân ca, nhạc trẻ, trữ tình lãng mạn, nhạc lá cải cho đến nhạc được đặt hàng theo yêu cầu, chỉ thiếu một thứ Phạm Duy chưa soạn thứ nhạc quảng cáo dùng cho băng vệ sinh, thuốc tăng lực như các nhạc sĩ có tên tại Sài Gòn hiện nay vẫn làm.

Trước ngày 30/4, Phạm Duy thường cho rằng ông là niềm vinh dự của chính phủ lúc bấy giờ, vì chính Phạm Duy từng nói : “… chính phủ phải sử dụng đến tôi, nếu ở Hà Nội có Văn Cao thì ở Sài Gòn chỉ có Phạm Duy để tạo thế cân bằng văn nghệ giữa hai miền, thuộc ngón đòn tâm lý chiến chính phủ cần sử dụng”.

Có lẽ vì vậy sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đỗ, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương lúc này do tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch, giao Phạm Duy cho bộ Công Dân Vụ do Nguyễn Tôn Hoàn chủ đạo; sử dụng Phạm Duy trong chiến dịch “Bình Định Nông Thôn” làm chiêu bài thu hút thành phần SVHS tham gia, một chiến dịch không phải đi cất nhà, làm đường cho dân quê mà để mật vụ đặc nhiệm lùng sục bắt bớ du kích Việt Cộng nằm vùng. Chiến dịch được Mỹ tài trợ, Phạm Duy đưa SVHS đi vào vùng sâu vùng xa hát cho dân quê nghe những bài như “Giọt mưa trên lá” mới sáng tác không lâu v.v…

Hay từ năm Mậu Thân trở đi Mặt trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) công cụ của Bắc Việt đang bành trướng, Phạm Duy liền có bài “Mùa Thu Chết” để đánh đòn tâm lý chiến với các chiến binh cộng sản chính quy cũng như du kích địa phương.

Thật ra Phạm Duy phổ bài “Mùa Thu Chết” theo một thi ca trữ tình lãng mạn của Pháp. Nhưng lúc phổ biến nhạc phẩm ra công chúng, lại vào rơi vào khoảng không gian khi Hà Nội và MTGPMN hô hào kỷ niệm cuộc Cách Mạng tháng 8 còn gọi Cách Mạng Mùa Thu.

Vậy ý nghĩa “Mùa Thu Chết” là gì ? Phải chăng nên hiểu, Cách Mạng Mùa Thu sẽ không tồn tại, mà không tồn tại có nghĩa miền Bắc sẽ không còn Cộng Sản, vì đã vào tay người miền Nam (?), bởi lúc này tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ đang hô hào Bắc tiến. Để rồi có một Bạch Tuyết và một Thẩm Thúy Hằng ngồi tại một tiền đồn heo hút trên đầu đội nón sắt lính VNCH mang hàng chữ “hãy bỏ bom Bắc Việt”, được in chần dần trên tờ Time và Newsweek dạo đó ai cũng thấy.

Phạm Duy tiếp tục ca tụng một Phạm Phú Quốc rớt máy bay chết tại một cây cầu miền Bắc với bài “Huyền thoại ca một người mang tên Quốc” hay bài “Kỷ vật cho em” ca tụng những người lính đã bỏ mình vì nước.

Nguyễn Cao Kỳ ưu ái đến Phạm Duy qua chiến dịch “Bình định nông thôn” hay những nhạc phẩm Phạm Duy ca ngợi người lính VNCH và cho cả ông ta.

Sau khi Đài Truyền Hình số 9 được Mỹ xây dựng lên vài năm (hình thành sau ngày Ngô Đình Diệm bị lật đỗ), Phạm Duy từ bên Công Dân Vụ được cắt cử về trông phần văn nghệ của đài.

Từ khi Phạm Duy về làm ở Đài truyền hình số 9, nhiều “đại gia văn nghệ” tranh nhau miếng đất màu mở này để kiếm tiền, không phải tiền “chương trình” được đài chi trả – vì thù lao chẳng có là bao, một show ca nhạc 45 phút được trả tối đa 20.000đ bấy giờ (khi vàng 24K mới hơn 30.000đ/lượng), bao gồm chi phí cảnh trí, ca sĩ, nhạc phẩm, nhạc công và các tạp vụ khác. Tính chi li mỗi nhạc phẩm được ca sĩ trình diễn, bình quân chỉ có 2.000đ, trong khi bầu show phải trả thực tế tiền cát-xê cho ca sĩ như Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy từ 5.000 đến 10.000đ/bài, trung bình như Giao Linh, Phương Hồng Quế từ 3.000 đến 5.000đ/bài, tức nếu có một chương trình trên Đài số 9, ông bà bầu show đều chịu lỗ (một show ca nhạc 45 phút thường gồm 9 đến 10 ca khúc) nhưng các ông bà bầu show vẫn làm và làm càng xuất sắc, lý do mỗi khi họ có chương trình trên truyền hình thì họ sẽ có tất cả : tiền quảng cáo nhạc phẩm do nhạc sĩ sáng tác hay các nhà xuất bản porter bỏ ra chi phí, đôi khi chi cả tiền “poa” cho caméraman để có góc cạnh đẹp; Còn bầu show được tiếng có chương trình hay, lò nhạc hay đại nhạc hội, phòng trà khiêu vũ trường của họ được nổi tiếng là cách gián tiếp tiếp thị quảng cáo rất có trọng lượng, riêng các nhạc sĩ hay nhà xuất bản nhạc những người bỏ tiền chi phí cho màn trình diễn của ca sĩ cũng hốt bạc do poster bán rất chạy. Và chính Phạm Duy thuộc loại “ngư ông đắc lợi”, ngoài việc bầu show có nghĩa vụ “điếu đóm” lại được chính quyền khen ngợi là một thiên tài văn nghệ.

Đài TH số 9 thời Phạm Duy là như thế, các ông bà bầu show người có khả năng nghề nghiệp, người chỉ là dân i-tờ trong làng văn nghệ, đúng là bát nháo ! Nhưng Phạm Duy lại hãnh diện bởi công việc của mình, và để góp thêm phần bát nháo, Phạm Duy sáng tác những bài hát như Sức mấy mà buồn, Bỏ qua đi Tám mà ông gọi là “Tục Ca” hay nhạc vĩa hè, nhạc cái bang.

Giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ có nhận xét, Phạm Duy đã đánh mất cái tôi của mình, hiện thân một người xu thế, nhạc sĩ của mọi thời, một người có vòng quay 180 độ. Khi Tạ Tỵ viết về Phạm Duy trong cuốn “Phạm Duy còn đó nổi buồn” tuy không lên án và có phần bênh vực cho một người đang bị xã hội chê cười, vẫn đánh giá “Phạm Duy hôm nay không còn là Phạm Duy ngày xưa nữa !”

Ở trào ông Diệm, Phạm Duy cùng với các xếp Trần Kim Tuyến, Nguyễn Tôn Hoàn phát động phong trào Bình Định Nông Thôn với áo bà ba đen, vỗ ngực là người của 9 năm kháng chiến chống Pháp để mà mị những người dân ruộng đồng chất phát luôn sùng bái những ngày đánh Pháp, ở chiến dịch này Phạm Duy có các bài hát “Ngày trở về”, “Giọt mưa trên lá”, qua thời Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh do phong trào SVHS đang cuồng nộ với chế độ quân sự, Phạm Duy đưa ra những bản nhạc Du ca để đánh bóng tên tuổi khi những Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên làm mưa làm gió về tình ca, được sự yêu chuộng của giới trẻ các nơi. Phạm Duy viết những nhạc phẩm như Kỷ vật cho em, Người tình không chân dung, Huyền sử ca một người mang tên Quốc, Mùa thu chết (hình thức nhạc tâm lý chiến), Phượng yêu, Tóc mai sợi vắn sợi dài (loại nhạc tình ca)… để tranh thủ cảm tình tầng lớp người trẻ đã đánh mất và lấy lòng chánh quyền.

Đến đời Nguyễn văn Thiệu, Phạm Duy không còn làm ở Đài số 9, liền nhảy sang cộng tác với nhóm Văn Hóa Mỹ của đài phát thanh Tiếng nói Tự Do, làm cố vấn các chương trình chiến tranh tâm lý.

Phạm Duy còn là “thợ  sáng  tác” theo đơn đặt  hàng của các  nhà  xuất bản hay các hãng băng nhạc, vì chỉ trong vòng vài ngày Phạm Duy có ngay tác phẩm theo yêu cầu. Tôi có nghe nhà phát hành Minh Phát lúc đó – nằm ở góc Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực bây giờ –  nói nhạc Việt  hóa  tức nhạc ngoại quốc lời Việt đang thịnh hành nên có đặt Phạm Duy phổ lời cho cả chục bài để xuất bản, tôi nói sáng tác như vậy lấy gì là hay, ý tứ đâu mà chỉ trong vài ngày là xong cả chục bài hát ? Ông Minh Phát cười trả lời, chỉ cần cái tên trên bản nhạc là hốt bạc rồi, cần gì lời ca !? Do  mình  nhái  tên  Phạm Duy không được đành phải mua cái tên với giá 100.000đ một bài, nhiều khi Phạm Duy còn để cho con cái phổ nhạc không chừng – con Phạm Duy – Thái Hằng là Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo ban The Dream’s còn con dâu là Julie Quang –

Con người Phạm Duy cũng rất trần tục, nhớ lại những năm đầu di cư vào Nam 1954; báo Sàigòn Mới của bà Bút Trà đã làm rùm cái chuyện “Phạm Duy ăn chè Nhà Bè”, một scandal của làng tân nhạc thời bấy giờ, báo Sàigòn Mới kể rằng : Phạm Duy trốn vợ để dẫn cô em vợ Khánh Ngọc xuống tận Nhà Bè hú hí, nhưng trời bất dung nhan Thái Hằng biết được đánh ghen um sùm, các báo lúc đó như SàiGòn Mới, Tiếng Chuông, Dân Chúng thi nhau khai thác, khiến Phạm Duy phải cầu cứu với Bộ Thông Tin yêu cầu các báo ngưng loạt bài đó.

Vào năm 1972 hay 73 gì đó, Phạm Duy được mời tham dự cuộc thi Nhạc Pop tại Nhật, cùng Ngọc Chánh, Thanh Lan mang chuông đi đánh xứ người với hai nhạc phẩm “Tuổi biết buồn” và “Bao giờ biết tương tư. Chuyện đáng nói trong chuyến đi dự thi, ban tổ chức cuộc thi không biết điều khiển phần hòa âm phối khí bài Tuổi biết buồn như thế nào, còn bài Bao giờ biết tương tư chỉ mang tính biểu diễn. Vì rằng phần hòa âm phối khí của Phạm Duy quá lỗi thời đến chục năm so với tiến bộ của thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng. Hòa âm bài “Tuổi biết buồn” của Phạm Duy chỉ sử dụng chừng mười nhạc khí, còn hòa âm tại cuộc thi nhạc Pop là cả dàn đại hợp xướng, sử dụng hàng mấy chục nhạc khí.

Thanh Lan khi trở về đã mô tả, họ phải hòa âm lại hết và chỉ cho cô ca thử một lần khi tổng dượt, nên không thể nào hát hay được, lại thêm khi trình diễn với sân khấu quay 4 chiều càng làm ca sĩ bị khớp, nên kết quả bài “Tuổi biết buồn” đứng cuối bảng xếp hạng, còn Phạm Duy chẳng cần chuyện có thứ hạng hay không, vì thời đó mốt xuất ngoại để hưởng thụ đang thịnh hành, mỗi khi được ra nước ngoài nếu không là du học sinh thì phải thuộc tầng lớp ông nghị trở lên với mác đi công vụ… Phạm Duy là thế !

(Trích hồi ký “Ca Nhạc Sĩ Sài Gòn trước 1975” cùa Nguyễn Việt)

Ký giả thể thao HUYỀN VŨ

KÝ GIẢ HUYỀN VŨ

VỚI NGƯỜI SÀIGÒN

– Văn Quang

Nghe Huyền Vũ tường thuật mới đúng là “vừa được nghe, vừa được xem đá banh”. Đã từ lâu tôi vẫn đinh ninh rằng “ai cũng có thể thay thế được, dù cho đó là một thiên tài”. Nhưng đến hôm nay thì tôi nghĩ khác : “vừa có một người mất đi mà không ai thay thế được”. Đó không phải là ý kiến của riêng tôi, mà là ý kiến của hầu hết những người còn ở lại Sài Gòn tôi vừa gặp. Kể cả người có tuổi và người trẻ tuổi, người có thích coi đá banh hay không. Tôi nói thế hẳn bạn đọc đã biết là nói về ai rồi. Không là ông Huyền Vũ thì không thể là ai khác trong phạm vi này.

Chắc chắn đến hôm nay, nhiều bạn đọc đã biết tin ông Huyền Vũ từ trần vào lúc 01 giờ 56′ ngày 24 tháng 8 năm 2005 tại Hampton – Virginia, Hoa Kỳ. Và cũng chắc chắn đã có khá nhiều bài viết về ông Huyền Vũ. Nhưng người ở Sài Gòn thì chưa chắc đã có ai viết về sự kiện này. Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà tôi viết về ông, tôi viết vì có một bổn phận thôi thúc phải viết, một tiếng nói của người hiện còn đang sống ở Sài Gòn tưởng nhớ và thương tiếc ông. Tôi không là đại diện cho ai cả, tôi viết với tính cách của một “fan” hâm mộ ông cùng với một số bạn bè tôi, với nỗi tiếc thương vô hạn.

Bóng cây đại thụ bao trùm lên tất cả

Ông mất ở tuổi 90, ông hơn tôi đến gần 20 tuổi, tôi chưa bao giờ được là bạn ông. Chỉ là một người quen biết và một người hâm mộ đúng nghĩa. Tuy rằng trước những năm 1975, cái thời mà chúng tôi thường gặp nhau ở sân banh Cộng Hòa, ngồi trên hàng ghế ký giả, ông làm việc tường thuật của ông, gần chỗ chúng tôi. Nếu có gặp nhau chỉ vẫy tay chào nhau là đủ. Tuy ông cũng tường thuật trực tiếp qua làn sóng điện phát thanh của Đài Tiếng Nói Quân Đội, nhưng thật ra đài Quân Đội chỉ là tường thuật “ké” đài Sài Gòn. Ông là phát thanh viên chính thức của đài phát thanh Sài Gòn, còn gọi là Đài PT Quốc Gia, mỗi khi có tường thuật trực tiếp đá banh, chúng tôi chỉ điện thoại sang yêu cầu Đài Quốc Gia cho Đài Quân Đội “nhập sóng” là xong. Tức là lúc đó “mình với ta tuy hai mà một”, nghe đài nào cũng như nhau, cũng là ông Huyền Vũ tường thuật. Còn có ai khác nữa đâu.

Hồi đó chúng tôi cũng đã có dự định “tuyển” một tay nói năng lưu loát, tường thuật cho ra vẻ ta đây cũng có “giá” như đài Sài Gòn. Nhưng trải qua vài cuộc thử nghiệm đều không thể tìm được ai làm xướng ngôn viên trực tiếp khả dĩ gần bằng ông Huyền Vũ chứ chưa nói đến bằng ông. Vì thế nên chúng tôi đành “thua”.

Thêm một điều nữa cần phải nói là trong thời chiến, đài phát thanh Quân Đội và Đài Sài Gòn thường là một người của quân đội sang chỉ huy, nhưng vẫn cứ “cạnh tranh” rất thẳng thắn. Đài nào cũng muốn có tin trước và tin hay. Đó là lương tâm nghề nghiệp. Ngay cả khi bạn tôi là ông Nhất Tuấn hay ông Vũ Đức Vinh làm “sếp” ở đài Sài Gòn và tôi phục vụ ở Đài Quân Đội thì chúng tôi cũng cạnh tranh gay gắt như thường. Các phóng viên và biên tập viên hai đài phát thanh này cũng vậy, họ thường là bạn của nhau, thậm chí là bạn thân, nhưng đến khi vào việc thì mỗi người chạy theo một cách lấy tin, mỗi người đều có cách tường trình “đặc biệt” của mình. Nếu không thế thì đài nọ dựa vào đài kia, làm sao có chương trình hay phục vụ thính giả được. Nhưng đến khi có ông Huyền Vũ tường thuật đá banh thì chúng tôi phải xin “Quý đài cho nhập sóng” để quân nhân ở các đồn xa được nghe ông Huyền Vũ chứ không phải người khác.
Ông Huyền Vũ đã trở thành một thứ không thể thiếu của tất cả những trận đá banh của Sài Gòn trước những năm 1975.

Một trận đá banh mà không có Huyền Vũ tường thuật thì kể như đó là một trận “tầm thường”. Cái tên ông gắn liền với giá trị của tất cả những trận banh. Người lính trên khắp các quân khu, ngay cả khi ở chiến trường, cũng mong ngóng chờ nghe tường thuật đá banh, một điều tất nhiên là nghe ông Huyền Vũ tường thuật mới đúng là “vừa được nghe, vừa được xem đá banh”. Chúng tôi hiểu rất rõ điều này nên dù là xin “tường thuật ké” cũng sẵn sàng dẹp hết “lòng tự ái” để làm. Trong khi những tin tức chiến trường, những tin tức đặc biệt, bao giờ chúng tôi cũng làm tường thuật với những phóng viên của đài mình. Như thế đủ chứng tỏ cái giá của ông Huyền Vũ lớn lắm, cái bóng của ông như cây đại thụ bao trùm lên tất cả những giá trị khác.

Từ ngữ Huyền Vũ không thể quên

Sau này, khi ông không còn ở trong quân đội nữa, thỉnh thoảng ông vẫn có dịp ghé vào đài Quân Đội theo lời mời của Ban chương trình để nói về một vấn đề thể thao hoặc tự đọc một bản tin thể thao nào đó. Tôi cho rằng ông cũng vẫn còn những tình cảm đậm đà với những quân nhân lúc nào cũng là thính giả trung thành của ông. Tôi chỉ được gặp ông một hai lần và câu chuyện cũng chỉ là những chuyện thông thường. Trong tôi, ông vẫn là một người anh, rất gần mà rất xa. Bởi tôi thường không gặp ông ở bất kỳ một nơi chốn nào mà những nhà báo hay đến, có lẽ chỉ có nhà hàng Thanh Thế là nơi những ký giả “gạo cội” của “làng thể thao Sài Gòn” hay ngồi thì tôi lại thường ít lui tới.

Lúc đó, ký giả Thạch Lê, nguyên là “sếp” của tôi, cũng là một ký giả thể thao có tầm cỡ ngoài miền Trung, nhưng cũng chưa thể nào so sánh với ông Huyền Vũ được. Hầu như suốt những năm tháng sống ở Sài Gòn trước năm 1975, không có trận banh nào mà ông Thạch Lê không kéo tôi đi. Khi có những trận banh ở sân Tao Đàn và sau này là sân Cộng Hòa, phòng báo chí của Cục TLC gần như ngưng làm việc. Chỉ có Huy Vân ngồi một mình cặm cụi với chồng bài vở. Sau khi đi xem đá banh về, ông Thạch Lê đến tòa báo ngồi viết tường thuật, hôm nào ông dở chứng lười thì bảo tôi viết tường thuật “cho vui”. Cũng may mà tôi chỉ viết một hai bài, đến nay tôi không còn nhớ rõ, nhưng chữ nghĩa về tường thuật đá banh thì chắc là phải “mượn” chữ của ông Huyền Vũ. Bởi có những từ ngữ ông dùng rất hay mà khó có thể thay thế được. Đến nay, sau hơn ba mươi năm rồi mà tôi còn nhớ như in hai chữ “quả da” mà ông dùng thay cho quả banh và “mũi tên vàng Nguyễn Văn Tư bên cánh trái đang lao xuống… lao xuống, đi tới… tới nữa và … sút”. Tim tôi muốn nhảy dựng lên với giọng nói truyền cảm kỳ lạ của ông.

Khi nghe ông nói thì xúc động như thế, song khi viết ra theo lối của mình thì thấy nó… vô duyên thế nào ấy. Không thể nào bắt chước được lối tường thuật của ông, dù là trên chữ nghĩa. Ông đã là một bậc thầy không ai bắt chước được.

Những thính giả trung thành còn ở lại Sài Gòn

Ở đây, tôi không lạm bàn thêm đến tài nghệ và uy tín cũng như cuộc sống của ông bởi tôi đã vừa được đọc những bài của các ông Phạm Trần, ông Vũ Đức Vinh, ông Nguyễn Thiện Ân, – là những nhà văn, nhà báo, tôi cho rằng “có đủ thẩm quyền” viết về Huyền Vũ vì các vị này đã từng biết về ông cả trước và sau năm 1975. Tôi chỉ xin nói về những chuyện ở Sài Gòn khi tôi được tin ông vừa mất.

Ông Vũ Đức Vinh gửi “meo” báo tin và gửi bài viết về ông cho tôi trước khi ông Huyền Vũ mất 1 ngày. Sở dĩ như thế vì trong bài, ông Vinh có một đoạn đề cập đến tôi và những buổi trực tiếp xem truyền hình đá banh tại VN. Ông là người rất kỹ tính và cũng muốn biết thêm vài chi tiết nên hỏi cho “chắc ăn”. Được hỏi bất ngờ nên tôi chưa sẵn sàng tài liệu gửi cho ông, nhất là những cái tên của những “chuyên viên tường thuật bóng đá” ở VN hiện nay. Bởi có tới năm, mười “chuyên viên bình luận” từ Hà Nội đến Sài Gòn và các đài địa phương nên tôi không thể nào nhớ hết và cũng chẳng có ai nổi trội nên tôi không để ý đến tên tuổi.

Hôm sau, vào ngày 24/8, khi tôi còn ở Sài Gòn, được ông Vinh báo tin “đại lão ký giả Huyền Vũ đã ra đi”. Trưa hôm đó, tôi phải trở về Lộc Ninh. Lại nhận được “toàn văn” cáo phó và tiểu sử của ông Huyền Vũ của anh Đỗ Nghi, Tổng thư ký Thời Báo ở Canada và anh “gáy” tôi “chắc chắn anh sẽ viết bài cho kỳ sau phải không ?”. Ngay lúc đó, tôi trả lời đã có bài của anh Vinh, tôi viết có là thừa không ? Thêm một điều nữa là tôi chỉ được biết về ông rất ít vào những năm còn ở Sài Gòn, từ khi ông qua Mỹ thì tôi không biết gì thêm, những anh em ở bên đó biết nhiều hơn tôi. Thế nhưng một ông chủ báo ở Mỹ bèn “gáy” tiếp : “người Sài Gòn thì phải có tiếng nói của Sài Gòn chứ”. Tôi nghĩ ông này đúng nên điện thoại về Sài Gòn, hỏi một người bạn có khá nhiều liên hệ với “cánh báo chí”, anh này trả lời chưa biết tin tức gì về ông Huyền Vũ ra đi. Hỏi thêm một vài người nữa, cũng “chưa biết gì” về tin này.

Trịnh Cung : một thế hệ say mê Huyền Vũ

Tôi điện thoại cho họa sĩ Trịnh Cung, ông này cũng là một tay “ghiền” bóng đá. Vài lần ngồi với những người bạn khác, khi bàn về những trận bóng đá gần nhất, Trịnh Cung tỏ ra sắc sảo và hứng thú khi “bình luận” về vấn đề này. Vừa nghe tôi báo tin, anh cũng kêu lên:

– Trời ơi, ông ấy mất rồi sao ?

Lặng đi một lát, anh mới nói được :

– Tôi nghe ông từ khi còn bé, đến bây giờ vẫn không thể nào quên. Đúng là cho đến bây giờ vẫn chưa ai có thể “bén gót” được ông chứ đừng nói đến thay thế. Hối đó còn là cậu học sinh trung học, không phải chỉ mình tôi mà cả một “thế hệ” những học sinh ở Nha Trang như tôi đều “mê” ông.

Tất nhiên, tôi lợi dụng ngay cơ hội này để hỏi tiếp :

– Anh vừa nói “không ai thay thế được”, vậy còn những chuyên viên bình luận bóng đá của các đài phát thanh truyền hình bây giờ ở Việt Nam thì sao ?

Không úp mở, Trịnh Cung trả lời ngay :

– Làm sao mà bì được với Huyền Vũ. Có thể nói chưa ai có thể so sánh được với ông.

– Bây giờ họ bình luận thế nào ?

– Tôi chỉ xem và nghe ở truyền hình chứ không nghe truyền thanh. Hầu hết là lớp trẻ, họ “cà kê dê ngỗng” quá nhiều làm giảm “tiết tấu” của cuộc tường thuật một trận banh đang hào hứng. Họ la lên “hào hứng, sôi nổi” mà không thấy sôi nổi như trên sân banh. Trong khi, vào thời đó chưa có truyền hình, ông Huyền Vũ chỉ có tiếng nói qua “làn sóng điện” chứ không có hình, vậy mà nghe ông, thính giả cứ tưởng như đang được coi một trận đấu thực thụ đang diễn ra từng pha bóng trước mặt mình. Ông thấy chưa, một sự khác biệt lớn lao đến thế đấy. Nghe ông ấy truyền thanh từng đường banh: “đi tới trước khung thành rồi, Ngầu đang lừa banh, qua rồi, Há đứng đợi bên trong, đưa banh, Há bỏ cho Ngầu, Liêm ở phía sau sẵn sàng, cú sút như trái phá… nhưng “quả da” đụng khung thành bật ra. Tam Lang lại được banh từ giữa sân, đưa dài lên, cú sút của Tư chéo góc… Dzô ! Dzô ! Dzô, tuyệt tác. Sân cỏ nổ tung ! Rồi Đực, rồi Rạng với đường banh huê mỹ vặn chéo người cứu một bàn thua trông thấy khiến khán giả choáng váng…”. Ông ấy làm tôi ở nhà cũng choáng váng theo.

Ngừng một chút Trịnh Cung kể tiếp:

– Hồi ấy những đội banh như Ngôi sao Gia Định, AJS và sau là Tổng Tham Mưu, Quan Thuế đấu với nhau. Rồi những Autobus Hồng Kông, Nam Hoa sang VN thi đấu là những ngày hội lớn của Sài Gòn và của cả tụi học sinh trung học tỉnh lẻ như bọn tôi, bàn tán mấy ngày trước và sau trận đấu chưa dứt. Và “học” lại toàn những từ ngữ của ông Huyền Vũ.

– Vậy phải kể như ông ấy là một thiên tài.

– Đúng thế. Một thiên tài trăm năm trước không có, trăm năm sau chắc cũng chưa thể có.
Chúng tôi hỉ hả cười vì nhận định đó và gác máy.

Ngay buổi chiều hôm đó Trịnh Cung lại điện thoại cho tôi ngỏ ý muốn có bản Cáo phó và Tiểu sử của ông Huyền Vũ. Theo anh thì anh sẽ viết bài cho một tờ báo nào đó, có lẽ là ở Sài Gòn và cần thêm một hai tấm hình gửi theo bài. Tôi chỉ có vài tấm hình của mấy người bạn từ Virginia gửi về, đúng ra thì phải giữ làm “bửu bối”, nhưng trong trường hợp này thì càng được phổ biến bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Tôi cứ nghĩ thế nên dù cho những hình ảnh mà tôi gửi theo đây đã được đăng rồi cũng xin được đăng lại để cùng bạn đọc, thêm một lần nữa nhớ về một thiên tài vừa khuất bóng.

Thầy giáo cũng bỏ học nghe Huyền Vũ tường thuật

Người thứ hai mà tôi hỏi chuyện là Thái Phương – một ông nhà giáo và cũng là nhà văn. Tôi cứ đinh ninh ông nhà giáo chắc biết ít hơn về đá banh. Quả đúng như vậy, nhưng Thái Phương nói :

– Tôi ít xem đá banh, song lại rất mê ông Huyền Vũ ngay từ những ngày còn học đệ nhất Chu Văn An.

– Tức là khi nghe khi không ?

– Vâng, chúi đầu vào học, thỉnh thoảng mới có thì giờ nghe thôi. Cứ đụng nghe là mê, thế là bỏ luôn một buổi ngồi học. Tôi sợ “mê” ông ấy quá bỏ học lu bù, thi không đậu thì phải đòn. Mỗi lần nghe loáng thoáng ông ấy tường thuật qua một cái radio nhà hàng xóm hoặc của một người bạn nào đó, tôi lại “trốn”. Nhưng anh ạ, trốn cũng không khỏi “ma lực” của cái giọng nói “quái đản” ấy. Cứ như “Học trò xứ Quảng ra thi. Thấy cô gái Huế bỏ đi không đành”. Tôi lại mon men đến nghe và nghe rồi là quên luôn sách vở.

– Thế thì ông mê Huyền Vũ còn hơn mê bà xã của ông hồi đó.

– Ấy, dù có thế thật thì xin anh cứ cho như mê bằng nhau đi cho nó vui cửa vui nhà.

Thái Phương vẫn có tiếng cười hồn nhiên chân thật của một anh “nhà giáo”. Anh tỏ vẻ tiếc nuối một tài năng có một không hai của Việt Nam. Anh lại ngẩn ngơ :

– Tiếc rằng sau này lớn lên, có thì giờ để xem đá banh và nghe tường thuật thì ông Huyền Vũ không còn ở Sài Gòn nữa.

– Thì anh coi và nghe những người bây giờ cũng được chứ sao.

Thái Phương lại cười :

– Tất nhiên là cũng được, nhưng rất nhiều lần tôi nói với thằng con trai tôi là những trận này mà nghe ông Huyền Vũ “diễn tả” mới thật là sướng tai. Có lần nghe ông tường thuật, bố suýt đá vào… mông “bà già” con đấy. Tôi tính kể cho nó nghe ông ấy tường thuật như thế nào mà không sao kể được. Nó… kỳ lạ quá, tôi cố gắng bắt chước, không bao giờ giống. Tuy vậy, thằng con tôi cũng hiểu được ông Huyền Vũ đôi phần.

– Cho thế hệ trẻ ngày nay biết được về ông Huyền Vũ là hay lắm rồi, anh đừng đòi hỏi gì hơn. Chính vì cái sự “ngắc ngứ” của anh mà cậu con trai của anh sẽ hiểu thêm được rằng bố nó tài giỏi như thế mà không “diễn tả” được hết tài năng của ông Huyền Vũ thì ông ấy còn tài năng đến như thế nào. Sự tưởng tượng đôi khi còn mạnh hơn là những gì ông muốn cho con trai ông biết đấy. Nó sẽ còn sống mãi trong tâm tưởng của lớp trẻ bây giờ.

– Tôi cũng mong như thế. Anh đã làm được một việc đáng làm anh ạ.

Giáo sư trường Quốc Học cũng mê

Sau đó tôi lại gọi cho ông Lê Khắc Cầm, một nhà nghiên cứu văn học hiện nay, trước năm 1975, ông là giáo sư Anh văn của Trường Quốc Học – Huế. Tôi gọi “cầu âu” thôi, bởi cứ cho rằng ông giáo sư đạo mạo này ít khi có thì giờ theo dõi đá banh. Thế nhưng tôi lại găp may một lần nữa. Ông Cầm sốt sắng trả lời ngay:

– Không nhiều lắm nhưng cũng đủ để biết ông Huyền Vũ là một nhà tường thuật tài danh. Bao nhiêu năm cũng không thể quên một con người như thế.

– Hồi này ông còn coi đá banh không ?

– Đôi khi xem truyền hình, không coi đá banh thì chẳng biết coi cái gì. Thế nên vẫn coi.

– Ông thấy hồi này các nhà bình luận thể thao thế nào ?

– Tôi chỉ biết về những người bình luận “bóng đá” trên truyền hình thôi. Hiện nay có một số người trẻ tuổi, tôi chỉ nhớ ở đài truyền hình Hà Nội có Long Vũ, anh em Quang Tùng và Quang Huy, thường xuyên có tiếng nói ở các trận đấu quan trọng trong nước cũng như những trận của nước ngoài. Ở Sài Gòn có Lý Chánh, Anh Tuấn… Họ mua quyền phát sóng trực tiếp từ các kênh thể thao quốc tế và ngồi tường thuật bằng tiếng Việt. Đôi khi họ bê nguyên con tiếng Anh ở các kênh như Star Sport.

– Theo ông thì người nào bình luận nổi nhất ?

Suy nghĩ một chút, ông Cầm dứt khoát :

– Nói cho đúng, họ sàn sàn nhau. Nếu cần phải đưa ra một so sánh tạm thời thì tôi thấy có một bình luận viên của đài Đồng Nai là khá hơn cả. Trong thời đại thông tin điện tử bùng nổ này, họ có lợi thế là lấy được rất nhiều tư liệu trên net hoặc qua báo chí nước ngoài. Phần tài liệu của họ đầy đủ, có kiến thức bao quát, nhưng họ xen vào các trận đấu quá nhiều chi tiết làm giảm đi tính hấp dẫn của trận đấu đang diễn ra. Họ cho khán giả biết những cái chưa cần biết vội. Còn ông Huyền Vũ cho khán giả “thấy” cả những gì cần biết đang diễn ra. Ông Huyền Vũ nói năng lưu loát, tuôn trào như suối chảy thì bây giờ một vài người bình luận “ngắc ngứ, giật cục”, thường phải dừng lại để tìm chữ, tìm tên cầu thủ cho đúng, làm mất cái hứng thú của một trận đấu. Nếu sửa được những khuyết điểm này, họ sẽ khá hơn.

Ông Cầm suy nghĩ trước khi tiếp :

– Nghe một trận ông Huyền Vũ tường thuật có cảm tưởng như ngồi trên sân banh đã đành, ông còn truyền cho thính giả ngồi nhà cả cái “máu me” của các cầu thủ đang đi banh, lừa banh, bị thương hoặc chiến thắng và ngay cả khi thua trận. Đôi khi, tôi cứ nghĩ là ông ấy đang đọc truyện trinh thám. Ngoài khả năng ra, ông ấy là một tài năng thiên phú đấy ông ạ.

Tôi cũng nghĩ như ông Cầm. Bởi thiên tài cần phải có thêm yếu tố thiên phú, tức là cái của “trời cho”, như một người con gái đẹp hay xấu là do “thiên định”. Muốn đẹp như Tây Thi cũng chẳng được mà muốn xấu như Chung Vô Diệm cũng chẳng xong. Thế nên, cái chất giọng trầm ấm của Huyền Vũ là của trời cho. Và ông Cầm kết luận giùm tôi:
– Không ai thay thế ông Huyền Vũ được.

Người trẻ tuổi ở đây vẫn còn biết ông Huyền Vũ

Khi tôi nói chuyện ông Huyền Vũ vừa tạ thế với một vài người trẻ tuổi như Khôi Hạo, năm nay chừng hơn ba mươi tuổi. Anh ta cũng biết và cũng nghe danh tiếng của ông Huyền Vũ, dù chưa một lần được nghe ông tường thuật bóng đá. Mấy người bạn Khôi Hạo ở tuốt vùng quê này cũng thế. Có vẻ như lớp tuổi ngoài ba mươi ở VN vẫn còn biết đến ông, có lẽ do “dư âm” của những bậc đàn anh kể lại. Nhưng lớp sau 30 chắc không còn biết gì về ông Huyền Vũ nữa. Tuy nhiên, những bài báo của những Phan Trần, Vũ Đức Vinh, Nguyễn Thiện Ân… và nhiều người khác nữa sẽ để lại hình ảnh và tiếng tăm của ông vang vọng mãi dù bất cứ ở đâu. Tôi cứ hy vọng rằng đã là người Việt Nam thì phải biết và nhớ đến ông Huyền Vũ.

Tôi tưởng nói như thế cũng là đủ cho tâm trạng của một người và không ít người hiện ở Sài Gòn tưởng nhớ đến ông Huyền Vũ với tất cả tấm lòng thương tiếc vô hạn của mình.

Xem Clip : Cuộc phỏng vấn sau cùng với cựu danh thủ túc cầu VN Lại Văn Ngôn (Ngôn II)

http://youtu.be/kgQVY9Q61qk

MỘT HUYỀN VŨ

Vũ Đức Vinh

Qua điện thoại tôi nói chuyện với ký giả Huyền Vũ lần chót vào quãng thời gian trên bốn năm trước. Tiếng nói của ông hồi đó còn tốt nhưng ông đã gặp khó khăn trong việc cầm ống nghe, rồi ít lâu sau người nhà cho biết cơ thể ông ngày càng suy yếu không thể nói chuyện điện thoại được nữa. Coi như đã cách biệt ông từ lần đó. Cho tới sáng hôm qua ký giả Nguyễn Thiên Ân từ Oklahoma cho hay ký giả đại lão Huyền Vũ đang ở trong giờ phút có thể giã biệt con cháu bất cứ lúc nào. Ông Ân nói chắc đã tới phiên đại lão nhận vé lên tầu – chuyến tầu suốt về đoàn tụ với tổ tiên.

Là một ký giả thể thao lão thành danh tiếng qua các bản tường trình các trận tranh giải bóng đá quốc gia, quốc tế qua các làn sóng phát thanh của đài Phat Thanh Sai-gòn trong suốt thời gian gần 25 năm, Huyền Vũ có nhiều bạn bè quí mến ông, và hàng triệu người say mê bóng đá mến mộ ông dù chưa từng gặp. Hẳn tất cả những người này sẽ ngậm ngùi đón nhận tin ông ra đi như một mất mát. Họ đã thiếu vắng tiếng nói của ông từ ba mươi năm trước, khi các làn sóng phát thanh quốc gia đã im tắt, nhưng giờ đây họ mất đi một con người đã từng chinh phục lòng mến mộ của họ qua nhiều năm.

Huyền Vũ có một giọng nói thiên phú, trường âm và truyền cảm; ông lại có một phương thức tường thuật các trận tranh giải bóng đá rất tự nhiên và sống động. Đằc biệt ông nắm vững kỹ thuật, chiến thuật bóng đá, và có một trí nhớ đặc biệt có thể nói đúng boong tên từng cầu thủ ngay khi cầu thủ cùng đội bóng ra quân lần đầu, và dù là cầu thủ mang tên Việt ngắn gọn hay tên Thái, tên Lào, tên Thụy Điển dài lê thê. Qua làn sóng truyền thanh vô hình, lời tường thuật của Huyền Vũ có thể giúp người nghe mường tượng ra quang cảnh trận đấu, theo dõi được từng đường banh công thủ giữa hai đội tranh tài để rồi hòa mình với những cảm xúc biến đổi thăng trầm của hàng chục ngàn khán giả quanh sân cỏ. Ông dẫn dắt người nghe xác định vị trí trái banh từ lúc khởi đi, đưa ngang qua trái hoặc qua phải, trả về hoặc thọc sâu, đánh đầu hoặc đá móc… cho đến lúc banh gặp chân làm bàn tạo nên cú sút sấm sét để thọc lưới….., và rồi tiếng nói của ông vui reo lên theo tiếng hò vang trấn động cầu trường.

Cũng có khi trái banh đi trật sà ngang trong gang tấc ra ngoài khung thành thì tiếng nói của ông bỗng hét lên giận dữ hay sìu xuống tiếc nuối sót sa, phản ảnh cái tâm trạng vui buồn của khán giả quanh sân cỏ. Trong lúc tường thuật ông còn thường cung cấp nhiều tin tức, dữ kiện, và bối cảnh liên quan đến thành tich của từng đội bóng, chân cẳng từng cầu thủ , và kỹ thuật, chiến thuật áp dụng trong trận đấu, khiến tính hiếu kỳ tìm hiểu của người nghe được thỏa mãn một cách thoải mái. Bản tường thuật của ông mang rât nhiều chất liệu thông tin (informative) kèm theo những chi tiết có tính cách dẫn giải (educative), do đó nhiều người mộ điệu dù đến tận cầu trường mua vé vào coi trận đấu tận mắt mà vẫn mang theo máy thâu thanh cầm tay để theo dõi tường trình và lời bình giải của Huyền Vũ.

Khi hành nghề ký giả Huyền Vũ thường đứng bên chiếc máy vi âm và các dụng cụ trang bị truyền thanh đăt ngay khu khán đài danh dư. Ông nói không ngừng trong suốt trận đấu, kể cả thời gian giải lao và những lúc chờ nhặt bóng bay ra ngoài biên, hay thay đổi cầu thủ. Ông sử dụng từ ngữ thật ngắn gọn, xúc tich và gợi hình để diễn tả từng diễn biến trên sân cỏ khiến người nghe có thể dễ dàng ghi nhận dù không chính mắt nhìn thấy. Ông cũng luôn luôn dùng những từ ngữ ẩn dụ khiến lời lẽ dễ dàng lọt tai và người nghe lãnh hội cảm nhận được ngay. Có một thời nhiều từ ngữ ông dùng trên sân cỏ trở thành phổ thông trong dân gian, như: “uổng dịp thắng bằng vàng”, “con én không mang lại mùa xuân”, “hụt thắng trong đường tơ kẽ tóc”, “cú sút sấm sét”. Rồi những đường banh ngang dọc trao trả ăn nhịp như đan thêu trên sân cỏ được ông mô tả một cách vui tươi thi vị là “những đuòng banh huê dạng”. Qua cách nói của ông, nhiều từ ngữ thông dụng đã trở nên mặn mà có duyên. Có thể nói Huyền Vũ đã thi vị hóa ngôn ngữ tiếng Việt trong nền thể thao bóng đá, và đã khiến dân mê bóng đá qua làn sóng phat thanh thấy gần ông, quí mến ông, coi tiếng nói Huyền Vũ là tiếng nói của họ.

Cùng thời với Huyền Vũ có các ký giả thể thao danh tiếng khác như Thiệu Võ, Phan Như Mỹ. Nhưng Huyền Vũ đã nổi bật, sáng chói, được giới mộ điệu biết đến nhiều hơn qua chương trình bình luận tường thuật truyền thanh bóng đá trên các làn sóng phát thanh của hai đài Sài-gòn và Quân Đội. Chương trình của ông thu hút một khôí lượng thính giả khổng lồ rất trung thành cho hai đài này. Trong mùa bóng, cứ mỗi khi có trực tiếp truyền thanh trận bóng lớn là các chương trình phát thanh trùng ngày giờ hôm đó đương nhiên bị dẹp bỏ để nhường làn sóng cho bóng đá. Huyền Vũ được rất, rất nhiều người nghe và yêu mến.

Cách đây trên 5 năm, để bày tỏ tấm lòng quý mến trong tình đồng nghiệp với ký giả thể thao Huyền Vũ, một số cựu ký giả của miền Nam Việt Nam trước 1975 đã tỗ chức một ngày vinh danh ông tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Đuợc yêu cầu góp ý trong dịp đó tôi đã có nhận xét là khó có một Huyền Vũ thứ hai để nối tiếp Huyền Vũ đi trước. Điều này đến nay được nhà văn Văn Quang rất sành điệu bóng đá từ trong nước xác nhận còn đúng. Ông Văn Quang từng là một “fan” của Huyền Vũ trong suốt 21 năm Cộng Hòa. Rồi từ gần 20 năm qua ông lại coi đá bóng trên “khắp các kênh” (cứ kênh nào có trận đá thì coi); ông còn có cả “đài kỹ thuật số” để coi các trận của Anh, Pháp, và theo dõi qua vệ tinh các trận đấu của các đội Nam Mỹ như Brasil, Mexico. Chính ông cũng đã từng tường thuật các trận bóng đá trên báo. Nói như vậy để thấy ông là người có nhiều hiểu biết về tình hình bóng đá trong nuớc hiện nay.

Ông cho biết hiện có 5 hay 6 “ký giả thanh niên” trong số có con trai của Lý Quý Chung (cố dân biểu Việt Nam Cộng Hòa) phụ trách bình luận và tường thuật bóng đá trên các đài truyền hình và đài phát thanh Sài-gòn. Họ nghiên cứu về các trận đấu và các cầu thủ rât kỹ, đến mức có thể nhớ và mang so sánh một đường banh ở trận đấu này với đường banh ở một trận đấu khác đã diễn ra từ cả tuần cả tháng trước. Mỗi ký giả này làm cho một đài, nhưng nói chung họ được khá nhiều khán thính giả theo dõi. Theo Văn Quang, không thể nói là các ký giả thể thao truyền thanh truyền hình hiện nay thua kém tài nghệ Huyền Vũ, nhưng ông ghi nhận Huyền Vũ được chính ông và các thính giả, khán giả gần gủi hơn, dành cho nhiều cảm tình riêng tư hơn. Hiển nhiên Huyền Vũ đã tạo được một sắc thái riêng, vượt trội, lôi cuốn hơn, được quý mến hơn, mà người khác dù tài nghệ có cao cũng khó bắt kịp.

Tôi tin rằng những người yêu chuộng bóng đá, mến mộ Huyền Vũ vẫn mong có một Huyền Vũ mới để kế tiếp Huyển Vũ của thế kỷ trước, để giúp người mộ điệu tận hưởng cái thú rộn rã háo hức sôi động khi thưởng thức trận đấu bóng đá, thưởng thức bằng mắt và bằng tai luôn. Chắc chính Huyền Vũ tiền bối cũng mong như thế khi hướng về lớp hậu duệ. Nhưng đến bây giờ, qua tin tức ghi nhận mới nhất trên đây, chúng ta vẫn chỉ có một Huyền Vũ . Ký giả đại lão Huyền Vũ có ra đi, tiếng nói tường thuật bóng đá của ông qua các làn sóng phát thanh những năm xưa vẫn và sẽ còn âm hưởng lâu dài trong lòng người mến mộ ông và trong lịch sử nền thể thao bóng đá Việt Nam.
Bài viết này được hoàn tất ngay sau khi người viết đuợc tin không lành về tình trạng sức khỏe của ký giả đại lão Huyền Vũ. Hi vọng con tầu đón ông chưa đến hay không đi, vé tầu ông chưa nhận hay nếu có nhận thì còn đề nó trong túi, và hy vọng tới lúc này ông vẫn nghe đuợc những gì thân hữu và những người mến mộ ông viết về ông.

(Bellevue, Bang Washington – Ngày 21 tháng 8, 2005)

MỘT CHÚT VỀ HUYỀN VŨ (1914-2005)

Tên thật Nguyễn Ngọc Nhung, tự Huyền Vũ

– Sanh ngày 1/10/1914 tai Phan Thiết

– Đến Mỹ và định cư ở Newport News, Virginia năm 1975

 – 1976-1981: Làm việc cho hãng NOLAND về Data Processing.

 – 1988 : Đậu bằng Cữ Nhân về Political Science ở Đại Học Christopher Newport University (CNU) Newport News, Virginia.

Vì muốn làm gương cho con cháu để thấy sự cần thiết của học vấn và bất cứ lớp tuổi nào cũng có thể học được, nhứt là ở Hoa Kỳ có đủ phương tiện cho những ai muốn đi học. Vừa làm việc ở hãng Noland vừa đi học để thi GED, trước khi đi học bán thời gian, 8 năm, ở Đại Học Christopher Newport (CNU) để lấy bằng Củ Nhân về Political Science.
Trong khi làm việc với Noland Company và sau khi hưu trí ông có viết thể thao, kịch ngắn, chuyện vui cho báo và nguyệt san, thâu âm các tin tức thể thao cho chương trình phát thanh Việt ngữ.

Ngoài ra ông cũng có tham dự các buổi tổ chức Thể Vận Thể Thao Việt Nam ở Michigan, Texas, Washington DC ….

– 1988 : Ra mắt hồi ký “ Tôi làm Ký Giả Thể Thao”

 – 1999 : Duyệt lại và tái bản hồi ký “Tôi Làm Ký Giả Thể Thao”

Ông chuẩn bị để viết hai cuốn sách về “Lưu Vong Trên đất Mỹ” và chuyện tình giữa ông và người bạn đời, Madeleine Ngà, nhưng không thực hiện đươc ý định nầy vì bệnh Parkinson.

– Madeleine Hồ Thị Ngà, qua đời năm 1997

– Chọn Newport News, Virginia để lập nghiệp vì ông bà Joe Leming, người bảo trợ của gia đình là bạn của anh cả Nguyễn Quốc Dũng khi hai người được thụ huấn về ngành Quân Vận ở Fort Eustis (Newport News, VA)

– Tất cả 8 người con, 6 trai và 2 gái đang ở Virginia. Cháu nội, ngoại : 19 – Cháu cố : 13

thụyvi post

NÓI VỀ PHIM “NHƯ HẠT MƯA SA”

AI LÀM PHIM ?

“NHƯ HẠT MƯA SA”

Cuối tuần không tiền nên buồn đành ngồi gải háng, kiếm chuyện trên trời dưới đất để tám cùng các bạn nghe chơi, cũng nhằm để thư giãn giải buồn.

Như cái ông bạn đồng môn (*) Nguyễn Toàn, tuy bằng tuổi với Cao bồi Già nhưng nó vào Đệ Thất trường ta trước một khóa (59-66). Trước tháng 4/75, nó và Cao Bồi Già viết báo mảng “ký giả kịch trường” cho các báo ở Sài Gòn bấy giờ. Sau 30/4/75 nó được ông Bùi Sơn Duân (lúc đó phải đổi tên là đạo diễn Lam Sơn – có lẽ ông lấy tên này là vì ở khu Lam Sơn trên đường Lê Văn Sĩ) giới thiệu vào làm trong xưởng phim Giải Phóng (nằm trên đường Lý Chính Thắng bây giờ) với vai trò lo đạo cụ. Mãi sau 1985-1986 gì đó nó mới vượt biên. Còn Cao Bồi Già có mấy cái nón được Ban Quân Quản tặng, nên không vào làm nghề cũ được vì “không có biên chế”.

Nói như thế cho thấy bài viết của Nguyễn Toàn sau đây là đúng đến 100 phần dầu, về việc nữ tài tử Thẩm Thúy Hằng có “làm” (khác với “đóng”) phim “Như hạt mưa sa” hay không. Các bạn hãy đọc trước rồi Cao Bồi Già sẽ có lời bàn sau :

Sự thật về phim

“Như hạt Mưa Sa”

Ngày hôm qua  – thứ  Sáu  4 tháng  5  – bà Bùi Sơn Duân  vợ của cố đạo diễn Bùi Sơn Duân từ Nam Cali  đã gọi điện thoại cho tôi – nhờ tôi lên tiếng  dùm cho bà về Sự Thật của phim “Như Hạt Mưa Sa”  của chồng bà – theo bà cho biết chồng bà  Bùi Sơn Duân rất thích tác phẩm Điện ảnh đầu tay của mình (hồi sinh tiền – đạo diễn Bùi Sơn Duân là người anh Văn nghệ  của tôi).

Bà Duân cho biết như sau : Mấy lúc gần đây trên các Diễn đàn Net đã phổ biến đi khắp nơi và kể cả Đài Truyền hình Tiếng Việt ở Nam Cali cũng đọc bài viết của một tác giả trong nuớc viết về nữ Tài tử Thẩm thúy Hằng (bài kèm phiá dưới). Sau khi viết về tiểu sử Thẩm thúy Hằng  cùng sự nghiệp – nhất là  phần viết về  Điện ảnh Sau khi thành công với  phim “Chiều kỷ niệm” do hãng phim Việt Nam của Thẩm Thúy Hằng thực hiện sản xuất  đầu thập niên 1970 – nữ  tài tử Thẩm Thúy  Hằng thừa thắng xông lên hực hiện phim “Như hạt mưa Sa” phần tô đậm trong bài là “HOÀN TOÀN SAI SỰ THẬT ”  

Vì theo bà Bùi sơn Duân : Phim  “Như hạt mưa sa” dựa theo Truyện của cố nhà văn Ngọc Linh do chính đạo diễn Bùi Sơn Duân viết thành truyện Phim – Tự Đạo diễn – và Phát hành Sản xuất – tức là đạo diễn  Bùi Sơn  Duân hoàn toàn Bỏ Vốn để thực hiện phim “Như hạt Mưa sa” với hãng Phim mang tên Việt Ảnh Công ty toạ lạc tại số 248 đường Pasteur,Quận 3, Sàigon.

Phim Đen trắng 35 ly gồm có các nam nữ diễn viên chính như Thẩm Thúy Hằng – Trần Quang – cố  tài tử Đoàn Châu Mậu, Trần Hoàng Ngữ   v..v… theo lời  của bà  Bùi sơn Duân – hiện giờ  các Poster  cùng những hình ảnh  tài liệu của phim “Như hạt mưa Sa” chứng minh là Sản phẩm của chồng bà hiện đang được bà lưu giữ  ở  Brea  Nam Cali   CA 92.823.

Tôi là  Nguyễn  Toàn  ký gỉa  Tân Nhạc – Điện Ảnh   trước 1975  –  Xin  xác nhận  những lời  nói của bà Bùi Sơn Duân là Sự Thật  100%. Phim Như Hạt Mưa Sa là của cố đạo diễn Bùi Sơn Duân tự thực hiện Sản xuất, phim Như Hạt mưa Sa  đen trắng – Sau này  cố đạo diễn Bùi  Sơn Duân còn thực hiện phim  màu ”Như giọt Sương Khuya” và Hải vụ 709.  (phim Hải vụ 709 hợp tác sản xuất với Thái Lan – phim chưa được chiếu ra Rạp vì biến cố  30 tháng 4 -1975)

Nguyễn Toàn (Sydney ngày 5 tháng 5 năm 2012)

Mời xem, bấm vào đường dẫn : POST – Noi ve Thẩm Thúy Hằng

Này Toàn ơi, tao từng post qua cho mày bài viết được kèm theo trên đây qua đường Link, và nhận thấy bài “Nói về Thẩm Thúy Hằng” ký tên Đoàn Dự gì đó, có phần sai sự thật ở đoạn mày tô đậm. Và cũng viết sai ở đoạn “ngôi biệt thự cũ của Thẩm Thúy Hằng và Giáo sư Oánh trên đường Cách Mạng Tháng 8 trong một con ngõ gần chợ Hoà Hưng”, vì đây là ngôi biệt thư sơn màu gạch cua nằm mặt tiền đường, mang số nhà 608, gần cống Bà Xếp, rất xa chợ Hòa Hưng. Còn vợ chồng Tùng Lâm – Bạch Lan Thanh mới ở trong hẻm gần đó.

Bởi ông Duân rất thân tình với “nhóm thân hữu ký giả Điện ảnh Tân Nhạc VN” thời đó và sau 1975 tụi mình còn liên lạc, thì làm sao nói Thẩm Thúy Hằng sản xuất ra cuốn phim này được. Có lẽ ông Đoàn Dự, thứ nhất là người mới viết kịch trường nên không hiểu hết các sinh hoạt; thứ nhì là ông còn trẻ lại qua Mỹ quá sớm nên sử dụng tiếng Việt không rành nên theo kiểu viết “văn bồi”, vì thế mà văn phạm và câu từ có sai sót trong lúc viết. Thôi mày nói bà Duân đừng chấp nê nữa. Bởi sự thật vẫn là sự thật.

Cao Bồi Già

(*) đồng môn : là vì người viết bài này cùng Nguyễn Toàn đều là CHS trường Hồ Ngọc Cẩn (trước đây thuộc tỉnh Gia Định, gần chợ Bà Chiểu)

PHẢN HỒI CHUYỆN AI LÀM PHIM

“NHƯ HẠT MƯA SA” *

Bài này là bài ăn cắp của tôi, tác giả LÊ QUANG THANH TÂM trong nước rồi ĐOÀN DỰ xào nấu lại. Bài này tôi viết mấy chục năm rồi và đăng liên tục (LÝ HƯƠNG không sai khi không ký tên tác giả)

Lê Quang Thanh Tâm

Hi Cao Bồi Già,

Mày không biết  Đoàn  Dự  người viết bài TTH tức  ký giả Thái  Phương  của báo ”Tự Do” của ông Phạm Việt Tuyền làm chủ nhiệm. Hiện giờ  Đoàn Dự nhà ở Thị Nghè, tức là đã già không còn trẻ.

Năng Nguyễn

Chào 2 bạn,

Không ngờ bài viết này mau có “ép phê” ghê, mới biết “thân thế & sự nghiệp” của ông Đoàn Dự là ai. Vì khi “ăn cắp” (theo như tác giả Thanh Tâm cho biết) thì không thể hiểu hết về nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng hay về đạo diễn Bùi Sơn Duân. Nhưng già như Đoàn Dự mà còn xào nấu bài mà không ghi chữ “theo” bài viết của ai, là không ổn. Vì…

Nhưng cũng trách tác giả Thanh Tâm cũng không hiểu gì về đời làm phim đóng phim của Thẩm Thúy Hằng, Bùi Sơn Duân nên viết chưa chính xác, nên để nhiều người “ăn cắp” cứ sao y bản chánh. Riêng bài do Lý Hương viết cũng lấy từ nguồn này, nhưng do Cao Bồi Già đã có biên tập lại, nên phim “Như Hạt Mưa Sa” đã không phải do Thẩm Thúy Hằng “làm” mà chỉ “đóng” phim này thôi.

Cao Bồi Già

(*) xem thêm Bản tin số 127 – Ngày 6/5/12

PHƯƠNG DUNG

CON NHẠN TRẮNG

GÒ CÔNG

Mời nghe nhạc phẩm “Nỗi buồn gác trọ” làm nên tên tuổi của nữ ca sĩ Phương Dung, còn có tên gọi “Con nhạn trắng Gò công”

Noi buon gac tro – Phuong Dung – YouTube

Nếu kể đến những giọng ca được coi là huyền thoại đã đi vào làng tân nhạc Việt Nam thì chắc chắn Phương Dung không thể nằm ngoài danh sách này, những nữ ca sĩ thuộc huyền thoại không nhiều có thể kể tên như Thái Thanh, Bạch Yến, Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, sau này có Khánh Ly, Lệ Thu là những tiếng hát nữ của những năm trước 1975, được đại đa số người biết tiếng.

Với nữ ca sĩ Phương Dung chất giọng của chị đã chính thức đến với người nghe từ cuối thập niên 50, khi còn là một thiếu nhi 13, 14 tuổi. Giọng ca đó càng ngày càng gây nhiều chú ý trong bối cảnh của cuộc chiến tranh với những nhạc phẩm mang nội dung thật gần gũi với tình yêu trong thời chinh chiến hoặc với những nét đẹp của quê hương.

Những yếu tố đó đã mang đến cho Phương Dung một sự thành công thật lớn để chị có thể hãnh diện về sự đóng góp của mình cho nền tân nhạc Việt Nam.

Sau khi xuất hiện không bao lâu, Phương Dung đã được báo chí và những người ái mộ tặng cho danh hiệu “Con Nhạn Trắng Gò Công”, bắt nguồn từ thành phố nơi chị sinh trưởng ở vùng Tiền Giang vào năm 1945…

Gia đình Phương Dung là một gia đình khá giả ở Gò Công, có vườn tược, hoa mầu cùng cửa hàng buôn bán như chị cho biết. Song thân chị có tất cả 4 người con. Ngoài Phương Dung, là một người con gái lớn và 2 người con trai. Cả hai người sau đều gia nhập binh chủng Nhảy Dù, trong số có một người tử trận tại Cổ Thành Quảng Trị vào mùa hè năm 72. Trưởng thành trong một hoàn cảnh thoải mái về vật chất, người con thứ hai trong gia đình với một người mẹ là em vợ nhà văn nổi tiếng Hồ Biểu Chánh, rất yêu thích văn chương.

Thân phụ Phương Dung là người xuất gia một thời gian từ khi còn trẻ. Tuy nhiên sự xuất gia này được chị giải thích là chỉ gieo duyên chứ không đi hẳn vào vào con đường tu hành. Điều này có nghĩa sau thời gian gieo duyên vài năm, ông trở về coi sóc vườn tược của gia đình. Riêng về việc Phương Dung muốn ca hát, ông tỏ ra rất ủng hộ chị trên con đường nghệ thuật. Ông nói rằng “đi hát là một cái nghề rất là lương thiện mà tự vì người dân của mình họ bảo thủ và có một cái nhìn sai lạc về những người làm nghệ thuật nói chung. Nhưng mà con đi hát thì phải biết mình là người yêu nghệ thuật mà đi hát chứ không phải sống một cuộc sống bừa bãi. Tự vì người nghệ sĩ mà không làm nghệ thuật giỏi và hay thì người ta đâu có thích. Và nếu nói theo Phật pháp người mà được người ta thương mến nhiều là người có tu nhiều kiếp lắm”, đó là nguyên văn lời Phương Dung kể về ông bố của mình đối với nghiệp cầm ca.

Tuy song thân Phương Dung sống theo lối cổ, mang nhiều ảnh hưởng của Nho học và thích thơ phú. Nhưng cả hai đều có đầu óc rất cởi mở. Có thể vì vậy Phương Dung ít ra cũng mang chút ảnh hưởng về nghệ thuật, về sự phóng khoáng trong tâm hồn khi tỏ ra rất thích đọc sách về thơ văn để hết lòng ngưỡng mộ nhà văn Nguyễn Tuân và say mê những tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Ngoài ra chị cũng rất thích những sáng tác thuộc loại văn chương “miệt vườn” của Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam vv…

Trong lần tâm sự với người viết, Phương Dung cho biết nếu được đi lại từ đầu, chị vẫn thích theo đuổi con đường nghệ thuật. Nếu không thành ca sĩ cũng sẽ thành một nhạc sĩ hoặc một nhà văn hay một nhà đạo diễn điện ảnh. Lý do dễ hiểu là chị là một con người mang một tâm hồn rất nhậy cảm nên dễ xúc động, chẳng hạn như trước những vần thơ hay mà chị thuộc nằm lòng. Phương Dung đã tỏ ra say sưa khi đề cập đến vấn đề này: “là một người tình cảm thì phải nhiều chứ. Như vậy, mới hát đuợc, mới sống được với trái tim của người khác. Như vậy mới có thể rung động trước những câu thơ như :

“Ta đem trái đất ngâm thành rượu,

Ta lấy càn khôn biến thành môi…”

Khi còn theo học ở trường tiểu học nữ Gò Công, cô bé Phan Phương Dung nhiều tình cảm đã tỏ ra rất yêu thích ca hát và luôn có mặt trong các chương trình văn nghệ do trường tổ chức… Sau khi học hết bậc tiểu học, gia đình cho Phương Dung lên Sài Gòn thi vào lớp Đệ Thất trường trung học Gia Long niên khóa 1958 – 1959. Sau khi thi, dù lúc đó không nuôi mộng trở thành ca sĩ để sống mà chỉ thích được ca, được hát cho hay như chị nói. Nhưng Phương Dung cũng đã tự mình mò mẫm hỏi thăm đường đến tận đài phát thanh Sài Gòn sau khi biết được nơi đây sắp tổ chức một cuộc tuyển lựa ca sĩ. Sau này Phương Dung cũng không biết tại sao mình đã bạo dạn như vậy. Chắc chắn không có lý do nào khác hơn là niềm say mê ca hát.

Thời gian này tân nhạc Việt Nam đã có nhiều ca sĩ nổi tiếng, đang cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn như Thu Hương, Tâm Vấn, Thái Thanh, Thanh Thúy, Lệ Thanh, Bạch Yến, Bích Chiêu, vv… Đó là những khuôn mặt chị nhìn thấy vào đài phát thanh một cách dễ dàng lúc đứng ngòai cổng nhìn vào. Trong khi “tôi đứng ở ngoài thì ông gác-dan ra hỏi: này cô bé làm gì mà cứ thập thò ngoaì này hoài vậy.” “Thưa con muốn vào để lấy đơn dự thi ca sĩ”. Ông biểu ngừng xe đạp đây vào trong phòng đó, để cái thẻ học sinh ở đây vào queo tay trái có ông nhạc sĩ nào đeo kính cận già già thì hỏi xin giấy tờ làm thủ tục dự thi ca sĩ”

Cô bé tỉnh Gò Công mặc dù rất bỡ ngỡ, nhưng cũng theo lời chỉ dẫn của người gác dan vào gặp nhạc sĩ Võ Đức Tuyết. Khi Phương Dung cho biết ý định muốn dự thi hát của mình, chị đã được vị nhạc sư tên tuổi này đề nghị hát thử nhạc phẩm “Em Bé Quê” là bài Phương Dung sẽ dự thi. Nhờ đã quen đứng trước khán giả qua những buổi văn nghệ tại trường, Phương Dung đã không ngại ngùng gì đứng hát ngay giữa phòng, trước bao nhiêu người là những giọng ca nổi tiếng…

Nhưng may mắn chỉ đến với Phương Dung ở vòng sơ khảo và bán kết của cuộc tuyển lựa ca sĩ vào năm 58 của Đài Phát Thanh Sài Gòn. Vì “vào chung kết thì Phương Dung rớt. Tại vì lúc cuối cùng họ đưa một cái bài bắt mình vừa phải vừa xướng thanh, vừa hát luôn, tất nhiên là mình phải biết rành về solfège mới làm được. Mấy người kia vì họ có đem theo đờn. Họ đờn, họ dượt nên họ hát hay. Còn mình hát thì có lỗi trong lúc mình xướng âm. Thành ra mình rớt.. Mình chỉ được đứng hạng 4”. Hai trong ba người được chấm đậu mà Phương Dung còn nhới là Nhật Thiên Lan và Thanh Sơn. Người sau trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng sau đó và là tác giả của ca khúc từng một thời hầu như ai cũng biết tới là “Nỗi Buồn Hoa Phương”…

Tuy buồn vì không được lọt vào trong ba giải đầu, nhưng Phương Dung lại may mắn được giới thiệu với một nhạc sĩ nổi tiếng vào thời đó là Khánh Băng trong thời gian ông phụ trách chương trình văn nghệ cho giải trí trường Thị Nghè, là nơi xuất thân của không ít nghệ sĩ nổi tiếng. Vì số tuổi còn nhỏ nên chỉ quen mặc đầm, Phương Dung tỏ ra hơi ngượng ngập trong chiếc áo dài đầu đời khi xuất hiện lần đầu tên trên sân khấu giải trí trường Thị Nghè. Nhưng do mê hát nên cuối cùng cũng đã vượt qua được những ngượng ngùng, e thẹn lúc ban đầu để dần dần gây được chú ý bằng tiếng hát của mình. Chỉ trong vài năm đầu tiên đi hát, Phương Dung đã mau chóng gặp những cơ hội tiến thân tại những địa điểm trình diễn mà trước đó nhiều nghệ sĩ tên tuổi đã đi qua. Chẳng hạn như phòng trà Tứ Hải của ông Trần Cao Tăng, một thời là giám đốc đài phát thanh Pháp Á, là nơi Phương Dung hát “lót đường” vào năm 59 cho những giọng ca đã có tên tuổi mà Thanh Thuý là một trong số này. Năm sau, 1960, chị về hát ở phòng trà Anh Vũ là nơi trình diễn của rất nhiều nghệ sĩ như : Thanh Thuý, Trúc Mai, Bạch Yến, Cao Thái, Bích Chiêu, Trần Văn Trạch, ban Tam Vân, Phương Lan, Quốc Thắng, v v…

Vào thời gian này, vì đi hát nhiều và nhất là chỉ chú tâm vào niềm đam mê ca nhạc nên Phương Dung đã không có được đủ điểm trong những kỳ thi tam cá nguyệt nên chỉ theo học trường Gia Long được đúng một niên khóa. Sau đó chị chuyển qua trường Đức Trí và học tại trường tư thục này đến hết lớp 11 rồi nghỉ học luôn. Song song trong thời kỳ đó, chị cũng đã theo học tại Hội Việt – Mỹ đến hết lớp 6.

Ít ai còn nhớ và cũng không ngờ là thời kỳ hát ở Anh Vũ, Phương Dung lại là giọng ca chuyên trình bày những nhạc phẩm tiền chiến như Thiên Thai, Khối Tình Trương Chi, Trương Chi, Đàn Chim Việt, Suối Mơ, Buồn Tàn Thu, v v… Nguyên nhân là chị đã được hướng dẫn trong thời kỳ đầu bởi nhạc sĩ Lê Trung Quân (cũng đi hát dưới tên Vân Quang), cũng là một sĩ quan Không Quân là một người dạy chị hát theo giọng Bắc để trình bày những ca khúc tiền chiến. Cũng do đó, Phương Dung đã rất thích trước khi chuyển qua loại nhạc thời trang theo thị hiếu của khán thính giả và do các hãng đĩa nhạc yêu cầu, với các sáng tác của Lê Minh Bằng, Thanh Sơn, Châu Kỳ, vv…

Nhưng phải công nhận từ khi chuyển hẳn qua nhạc tình cảm phổ thông có tính cách đại chúng, Phương Dung đã mau chóng thành công và được biết tới nhiều với những ca khúc như : Chuyện Tình Lan Và Điệp, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, Hoa Nở Về Đêm, Những Đồi Hoa Sim, v v… Với nhạc phẩm Đường Về Khuya của người nhạc sĩ cùng gốc Gò Công là Lê Dinh, Phương Dung lần đầu tiên thu thanh tiếng hát mình trên đĩa nhựa. Kế đó là những nhạc phẩm Vọng Gác Đêm Xuân, Hai Kỷ Niệm Một Chuyến Đi, vv…rất được khán thính giả ưa thích. Nhưng phải đợi đến năm 1962 khi nhạc phẩm Nỗi Buồn Gác Trọ ra đời thì tên tuổi Phương Dung thật sự đã bước vào một khúc quanh quan trọng, nhất là khi nhạc phẩm này được đưa vào phim “Saigon By Night” của hãng phim Alpha.

Trước sự ăn khách của Phương Dung, hãng đĩa Sóng Nhạc của ông Lê Tất Oanh đã mời chị ký một giao kèo độc quyền vào năm 1964 với một giá rất cao vào thời đó là nửa triệu đồng. Mỗi tháng thu thanh 4 nhạc phẩm, dù không có bài để thu vẫn được trả lương. Với Sóng Nhạc, Phương Dung tiếp tục làm say mê thính giả với tiếng hát của mình trong những ca khúc đã trở thành bất hủ như Huyền Sử Ca Một Người Mang tên Quốc (hát với Nhật Trường), Những Đồi Hoa Sim, vv… Riêng Những Đồi Hoa Sim do Dũng Chinh phổ nhạc từ thơ của Hữu Loan đã được dùng làm nhạc phẩm chính cho cuốn phim Tiếng Hát Nửa Khuya (“Songs At Night”) do Phòng Thông Tin Hoa Kỳ thực hiện vào năm 1964. Trong phim này Phương Dung đã được mời thủ diễn một vai quan trọng bên cạnh nam tài tử Huy Cường. Ngoài Những Đồi Hoa Sim, còn một vài nhạc phẩm khác do Phương Dung trình bày cũng được đưa vào cuốn phim này như Không Bao Giờ Ngăn Cách, Bóng Đêm, vv..

Cũng trong lãnh vực điện ảnh, Phương Dung từng được mời đóng một vai nhỏ trong phim “Hai Chuyến Xe Hoa”. Sau này, trong thời gian cư ngụ tại Úc, chị cũng từng được mời xuất hiện trong bộ phim “Mission Impossible”.

Đến năm 1965, Phương Dung chuyển qua trình bày nhiều nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh và rất được khán thính giả thích thú.. Cũng trong năm đó, nhạc phẩm Tạ Từ Trong Đêm của Trần Thiện Thanh do Phương Dung trình bày đã đoạt giải Bài Hát Hay Nhất cùng với Huy Chương Vàng dành cho ca sĩ trình bày xuất sắc do Thanh Thương Hội trao tặng. Ngoài ra cũng với Tạ Từ Trong Đêm, Phương Dung còn được tạp chí Sân Khấu của ký giả Nguyễn Ang Ca trao giải Nữ Ca Sĩ Được Cảm Tình Nhất Năm 65. Ngoài những sáng tác của Trần Thiện Thanh, tiếng hát Phương Dung còn được biết đến nhiều với những nhạc phẩm của Thanh Sơn, Hoàng Trang, Hồng Vân, Thu Hồ và đặc biệt những sáng tác của nhóm Lê Minh Bằng.

Từ giữa thập niên 60, Phương Dung đã trở thành một trong những giọng ca được mến mộ nhất với thể loại nhạc thời trang. Từ quê ra tỉnh, “Con Nhạn Trắng Gò Công” với tiếng hát đặc biệt của mình hầu như đã chinh phục tất cả mọi người. Riêng tại Sài Gòn, Phương Dung đã cộng tác liên tiếp trong những năm 95, 96 và 97 mỗi đêm với 7 phòng trà và vũ trường. Đó là Tự Do, Maxim’s, Olympia, Quốc Tế, Bồng Lai, Paramount và Văn Cảnh. Đó là một thành tích hiếm có ca sĩ nào đạt nổi.

Phương Dung cũng nằm trong số những nữ ca sĩ quen thuộc của các chương trình đại nhạc hội. Chị còn thường xuyên xuất hiện trong những chương trình truyền hình hoặc cộng tác với những chương trình phát thanh trên cả hai đài Quân Đội và Sài Gòn.

Việc xây dựng hôn nhân đã đến với Phương Dung vào năm 1967 sau khi gặp người chồng tương lai một cách thật tình cờ tại Bangkok, Thái Lan, một năm trước đó trong một dịp sang đây hát. Vị đại sứ thời đó là em bà luật sư Trương Đình Dzu và là anh ruột của đạo diễn Võ Doãn Châu đã mời Phương Dung đến thăm tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại đây. Và chính từ đó chị đã gặp anh Võ Doãn Ngọc, hơn chị 13 tuổi, là người đã trở thành người bạn đời của chị sau đó. Anh Ngọc du học tại Pháp từ năm 13, 14 tuổi. Sau đó sang Thụy Sĩ làm việc và tình cờ gặp Phương Dung trong một dịp sang Bangkok nghỉ Tết với gia đình.

Sau lần gặp Phương Dung, anh Ngọc tự ý thôi việc để về Việt Nam xin cưới người mà anh đã cảm thấy rung động ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên. Đó cũng là lần thứ nhất anh Ngọc trở lại Việt Nam và lưu lại đây luôn cho đến khi cùng vợ và các con vựợt biên. Sau khi thành hôn, từ năm 1968, Phương Dung quyết định nghỉ hát trong khi tên tuổi vẫn đang trên đà lên cao. Lý do này được chị giải thích là : “tại vì lúc đó thật sự mà nói thứ nhất là Tết Mậu Thân kéo dài thì ông xã cứ nói, thôi mình lập gia đình cho rồi. Thì nghĩ thôi thì lập gia đình đi vì mình lúc bấy giờ đã 22, 23 tuổi rồi. Với lại thật tình mà nói là lúc đó cũng thấy cái tình cảm ông theo đuổi mình mình cũng cảm động nữa. Vậy cho nên mình lập gia đình trong thời gian đó cho rồi”

Sau khi lập gia đình. Phương Dung cùng chồng theo đuổi ngành kinh doanh. Họ sở hữu một trại gà và một số tầu đánh cá ở Gò Công. Ngoài ra hai người còn điều hành một công ty xuất khẩu tôm đông lạnh nên cuộc sống vật chất rất thoải mái. Hai lần xuất hiện cuối cùng của Phương Dung đã diễn ra trong một chương trình đại nhạc hội tổ chức tại hai rạp Quốc Thanh và Hưng Đạo đã đánh dấu cho quyết định quan trọng của “Con Nhạn Trắng Gò Công”. Sau đó, Phương Dung chỉ còn một sự liên hệ về ca hát qua những lần thu thanh cho hãng Continental của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho đến năm 1975. Hai băng nhạc nổi tiếng của Phương Dung trong giai đoạn này là “Sơn Ca 5” và “Sơn Ca 11” dưới nhãn hiệu Continental.

Phương Dung cho biết vợ chồng chị không có những sở thích giống nhau. Lý do dễ hiểu là anh Ngọc là một người theo Tây học, chịu ảnh hưởng nặng nề của nền văn hoá Tây phương. Trong khi Phương Dung là một người mang nặng tình cảm quê hương với nền văn hoá hoàn toàn Việt Nam. Nhưng theo chị, có thể nhờ vậy họ đã có được một sự bổ sung cần thiết cho nhau… Và cũng nhờ thế, hai người đã sống một cuộc sống hạnh phúc cho đến nay đã được đúng 40 năm. Vợ chồng Phương Dung có với nhau tất cả 8 người con : 6 trai và 2 gái. Hai người con gái của chị tên Hoàng Ly (tên đặt dựa trên một bài thơ Đường của Đỗ Phủ) và Phương Vy. Phương Vy từng có thời kỳ xuất hiện trên vài chương trình Paris By Night với những nhạc phẩm ngoại quốc trẻ trung. Trong khi đó cô chị Hoàng Ly lại đi theo con đường nhạc thời trang của mẹ. Cả hai hiện đang có ý định quay trở lại với những sinh hoạt ca nhạc sau khi mới hoàn tất một CD.

Hai năm sau khi xẩy ra biến cố tháng 4 năm 75, hai vợ chồng Phương Dung và các con vượt biên bằng tầu của gia đình vào năm 1977. Họ tới được Mã Lai và được phái đoàn Mỹ nhận cho định cư ngay, nhưng vợ chồng chị từ chối để xin đi Úc. Bây giờ nghĩ lại Phương Dung nhận biết đó là một quyết định sai lầm đối với một người muốn theo con đường ca hát, theo lời chị kể : “phái đoàn Mỹ nói, cô là ca sĩ mà. Ở bên Mỹ người ta gửi thư về đây nói rằng có một cô ca sĩ ở đây vì vậy chúng tôi cho cô đi Mỹ. Nhưng tại lúc đó mình nghe nói bên Úc người tỵ nạn được ưu đãi lắm, hơn nữa nước này có đất đai rộng rãi nên vợ chồng tôi quyết định xin định cư ở Úc. Nhưng bây giờ hối hân lắm. Thật ra cái nghề của mình là phải ở Mỹ vì có nhiều cơ hội lắm. Nhưng dù sao thì cũng có một bàn tay vô hình sắp đặt cho mình, thành ra khi mà mình đã đi đâu cứ đi theo mình, đừng đi ngược lại cái định mệnh đã an bài cho mình. Đi ngược lại mình gian nan, mình khổ lắm !”

Từ đó Phương Dung càng tin ở số mệnh hơn để có được kinh nghiệm là số mệnh mình đã có từ lúc mình sanh ra cho tới khi trưởng thành. Được an bài, sắp xếp như thế nào thì cứ nên theo như vậy.

Gia đình Phương Dung tới Úc năm 1977 và cư ngụ ở Melbourne. Chỉ 8 tháng sau khi tới đây, hai vợ chồng chị đã đứng ra khai thác 2 nhà hàng có trình diễn ca nhạc là Cửu Long và Tự Do. Sau khi không còn khai thác nhà hàng vào năm 1983, Phương Dung nhận được lời mời sang Mỹ của nhạc sĩ Anh Bằng để thu cuốn băng đầu tiên tại hải ngoại mang tựa đề Kỷ Niệm Còn Đây, gồm 10 ca khúc tiêu biểu của Phương Dung Năm 84, chị trở lại làm tổng đại lý những phim bộ Hồng Kông chuyển âm tiếng Việt . Nhưng chỉ được một thời gian vì quá vất vả và nhất là tiền bản quyền càng ngày càng cao, nên chị chuyển qua làm với một người con trong ngành may mặc. Đến năm 89, 90 chị hoàn tất thủ tục xin định cư tại Mỹ. Hai người con gái của chị đã đã có quốc tịch Mỹ trước đó. Riêng những người con trai của chị vẫn sống tại Úc.

Từ khi sang Mỹ đến nay, Phương Dung hầu như chỉ cộng tác với trung tâm Asia với những ca khúc quen thuộc của thể loại nhạc thời trang ngày nào… Một thời lẫy lừng tên tuổi của “Con Nhạn Trắng Gò Công” đã qua đi. Đối với Phương Dung đó cũng là sự sắp đặt của định mệnh nên chị chẳng hề có một điều gì tiếc nuối. Có chăng là những kỷ niệm đẹp về cuộc đời đi hát của mình. Từ hơn 12 năm nay chị chỉ chú tâm vào những công tác từ thiện, một mặt chú tâm vào việc tu học để tìm được sự thanh thản trong tâm hồn. Các con Phương Dung cũng rất khuyến khích mẹ trong những việc làm từ thiện đúng với chủ trương của chị là luôn cần phải phát tâm Bồ Đề, đi theo con đường của Đức Quan Thế Âm để nghe ngóng tiếng kêu than của loài người đau khổ. Cũng như chị tuy là một người theo Phật Giáo, nhưng cũng coi những việc làm của mình như những việc tông đồ bên Công Giáo theo lời khuyên của Chúa là làm vui người cũng như làm vui mình. Nhờ vậy chị thấy cuộc đời có nhiều ý nghĩa hơn, nhất là được chồng và các con ủng hộ. Phương Dung từng đóng góp cho Dòng Đa Minh vào việc mổ mắt cho những giáo dân ở Long Khánh, giúp đỡ Dòng Mến thánh Giá ở Phan Rang cũng như tặng nhiều phần quà cho những người thuộc dân tộc thiểu số ở đây, vv… thêm vào đó là góp một bàn tay vào việc xây hồ, đào giếng cho đồng bào ở một số vùng xa xôi.
Hiện Phương Dung chỉ còn một ước nguyện là thực hiện một DVD để kỷ niệm về cuộc đới đi hát của mình. Sau đó chị sẽ xuất gia là một tu sĩ để đi theo hạnh Bồ Tát cho đến cuối đời…

Yên Huỳnh post