MỜI BẠN XEM PHIM SÀI GÒN XƯA

10 PHIM SÀI GÒN

SẢN XUẤT

TRƯỚC NĂM 1975

Rảnh mời mấy Bà con cô bác đi xem cinéma, những phim truyện màu và đen trắng do đạo diễn người Sài Gòn thực hiện trước những năm 1975. Với các tài tử như :  Thẩm Thúy Hằng, La Thoại Tân, Hùng Cường, Thanh Nga, Kim Cương, Kiều Chinh, Thành Được, Vân Hùng, Bảo Ân, Phương Hồng Ngọc, Trang Thanh Lan, Lê Quỳnh, và các danh hề: Tùng Lâm, Thanh Việt, Khả Năng.

Các bạn xem phim nào, xin bấm vào đường dẫn (thí dụ muốn xem phim “Xa lộ không đèn” hay bấm vào Tập 01 trước, xem xong bấm tiếp Tập 02 …. v.v…).

Sau đây là những bộ phim :

1- XA LỘ KHÔNG ĐÈN

Tập 01 | Tập 02 | Tập 03 | Tập 04 | Tập 05 | Tập 06 | Tập 07

2- TỨ QUÁI SÀI GÒN

Tập 01 | Tập 02 | Tập 03 | Tập 04 | Tập 05

3- NGƯỜI TÌNH KHÔNG CHÂN DUNG

Tập 01 | Tập 02 | Tập 03

4- NGÀY QUÂN LỰC 19/6

Tập 01 | Tập 02 | Tập 03 | Tập 04 | Tập 05

5- NẮNG CHIỀU

Tập 01 | Tập 02 | Tập 03 | Tập 04 | Tập 05 |

6- LÁ SẦU RIÊNG

Tập 01 | Tập 02 | Tập 03 | Tập 04 | Tập 05 | Tập 06 | Tập 07 | Tập 08

7- GIỠN MẶT TỬ THẦN

Tập 01 | Tập 02 | Tập 03 | Tập 04 | Tập 05 | Tập 06 | Tập 07

8- CHÚNG TÔI MUỐN SỐNG

Tập 01 | Tập 02 | Tập 03 | Tập 04

9- CHIẾC BÓNG BÊN ĐƯỜNG

Tập 01 | Tập 02 | Tập 03 | Tập 04 | Tập 05 | Tập 06 | Tập 07 | Tập 08

10- BÃO TÌNH

Tập 01 | Tập 02 | Tập 03 | Tập 04 | Tập 05 | Tập 06 | Tập 07

Lê Đình Phú post

TỔNG HỢP CÁC .PPS BỔ ÍCH TRÊN NET

Và sau đây là các slide shows rất ích lợi để xem. Do những người Sài Gòn thực hiện giúp ích cho cộng đồng. Some presentations are in English and some are in Vietnamese.

(Xem slide show nào, xin cứ bấm vào link) :

Y học thường thức (WebMD)Bảo vệ lá gan (KimAnhTruong) Cholesterol (sanpham)  – Bệnh cườm (tamzen)  – Cơn đau tim Nước nóng và tim (ĐoTran) – Cúm heo (ChieuDang) Bệnh do đồ ăn sống (Thoinguyen) – Nghệ  thuật sống khoẻ (huynguyen) Bí quyết sống khỏe (phần 1)(phần 2)Sống khỏe mạnh (SinhĐo)

Sống khỏe (CauĐo) – Làm sao đủ sức ngồi computer (ĐinhCuc) Làm sao trẻ mãi?Nước cẩn cho sự sống (eileen cheng) Xe đẩy đồ tại siêu thị (eileencheng) – Dược tính của thực phẩm Năm nhóm thực phẩm nên tránh (Huynhchieuđăng) – Thực phẩm chống bệnh tật Thực phẩm và bệnh tật (nham thi) – Vài món gia vị (ĐinhCuc) – Bột ngọt(DoTran)

Rau quả trị bệnh (trangtran) – Rau quả (SinhĐo) – Lợi ích của chuối (Kbnguyen) Mật ong và quế (caudo) – Dấm táo và mật ong (thoinguyen)  – Trà xanh (thieuvu) Cà-fê cho người sành điệu (EileenCheng) – Cà-phê và sức khoẻ (thoinguyen) Ăn chay(doanxuan)  – Ăn cayĂn trái cây tươi như thế nào?

Trái cây trị bệnh (thoinguyen) – Chè ngonNước chai (ĐinhCúc) Hạnhphúc tùy theo (Huynguyen)Hạnh phúc ở đâu? Hạnh phúc hãy cầm lấy tay tôi!Sống sao cho hạnh phúc ( Eileen Cheng) Bí quyết sống hạnh phúc (DinhCuc – 11 cách để hạnh phúc (SinhĐo)

Tách xô-cô-la nóng (Ngkbao) – Đời sống và hạnh phúc ( BNguyen) Những vuốt ve của cuộc đời (DoViet) – Hương vị cuộc đời (KimAnh) Đời sống đẹpCười lên đi! (Đoansan) – Sức mạnh nụ cười (NgocLinh) Trẻ mãi không giàDanh ngôn Khổng tử (Huynguyen) Danh ngôn Trung quốc (DoViet) – Danh nhân&danh ngôn (DoViet) Triết lý đời tôi (SungTruong) – Nghịch lý cuộc đời (QuyVu) Những điều hữu lý (QuyVu) – Cây tháng giá (DoViet)

Bệnh viện của Chúa (B.Nguyen) – Sự khôn ngoan của tuổi già (EileenCheng) Cái bình vôi (SinhDo) – Bonsai (Giato) – Bonsaì(2)Hoa phong lan (Bieunguyen) Hãy biêt ơn đời (ThanhTran) – Cám ơn đời (sanpham) Bài học từ bướm (Thoinguyen) – Hãy trân qúi những gì ta có (Eileencheng)

Những điều tâm niệm (Doansan) – Tục ngữ châm ngôn (Thucdo-Vynguyen) Tục ngữ Trung hoa (TamZen) – Danh ngôn (CâuDo) Danh ngôn và mỹ nhân (Ngkbao) – Chim và danh ngôn (SanPham) Hai vấn đề đạo đức (ĐoViet) – Hãy dành thời gian (Doansan) Cái đẹp cũa người phụ nữ (Vienbui-Batran) – Nhìn qua cửa kiếng (Huynguyen) Nhìn qua cửa kiếng 2 (eileenCheng) – Vài lời nhắn nhủ ( Gia tô) Lời nhắn cuối cùng (TamZen) – Lời vĩnh biệt (Bieunguyen) – Lời hay (ĐoViet) Bài học kiên nhẫnCảnh đẹp ý hay (CauDo) – Lời hay ý đẹp Lời hay ý đẹp 2 (SinhĐo) – Lời hay ý đẹp 3( SinhĐo) – Lời hay ỳ đẹp 4 (ThiệuVu) Lời hay ý đẹp 5 (SungTruong) – Lời hay ý đẹp 6 (ĐinhCuc) Lời hay ý đẹp 7 (SinhĐo) – Lời hay ý đẹp 8 (SungTruong) Lời hay ý đẹp 9 (BNguyen) – Lời hay ý đẹp 10 (BNguyen) Tư tưởng đẹp (Thoinguyen) – Châm ngôn (B.Nguyen) Nhạc hay ý đẹp (ĐoanNgoc) – Ba điều…(ĐinhCúc)Bốn mùa(BuiTuyen)

Kỳ quan thế giới (EileenCheng)Những viên đá lớn ( Thoinguyen) Rơi xuống giếng (CauĐo) – Nhân nào, bão nấy (PeterTran) Giá trị của thời gian (SinhDo) – Nghệ thuật sốngHãy sống tốt đẹp hơn ( GiaTo) Hãy sống trọn vẹn (ĐoViet) – Sống tâm thần an lạc ( KimAnh,LoanDang) Một cách sống(NhungNguyen) – Kiếpnhân sinh (Ngkbao, Kimson) Thi ân bất cầu báo (SinhDo) Đời nhiểu ngưởi khổ hơn ta! Bạn thật may mắn hơn người (DoViet) – Học làm người (Sanpham) Tôi học được rằng…(Sanpham) – Bao nhiêu…(Oanhnguyen)

Giọt nước mắt (TheSon) – Hãy mỉm cười (SanPham) Thông điệp tình thương (CauĐo) – Tình thương bao la (ĐinhCuc) Một người bạn (Huynguyen) – Tình bạn bất diệt (Sanpham) – Tình bạn (KimAnh) Tình bạn 2 (DoViet) – Tình bạn 3 (SachDo) – Tình bạn (4) (Eile/enCheng) Tình bạn 5 (BNguyen) – Thế nào là tình bạn? (KimAnh) Tình bạn đáng qúi (Sanpham) – Môt chút ấm áp (Ngkbao) Hi sinh vì bạn (Taopham) – Cứ gặp nhau…(Giato) – Chuỗi ngày còn lại (Ngkbao)

Một thời để yêu (TuyenBui) – Chỉ biết có tình yêu mà thôi (khanhbui) Tình nghĩa vợ chồng (Thoinguyen) – Tình yêu bất diệt (ĐinhCúc) Lời trăn trối (BaTran) – Ông chồng bất nhẫnNước mắt đàn bà (DoViet) Hãy thương yêu cha mẹ già! Niềm tin (Doansanpham) – Khóc em (SinhĐo) Một câu chuyện tuyệt vời! (NguyenBieu) – Cầu mong (BieuNguyen) Cẩumong 2 (SungTruong) – Những ước nguyện theo tiếng chuông vào nửa đêm Hãy yêu thương mẹ (SanPham)Những mong ước của bố mẹ gìa (Hoahuynh)) Tâm sự cha mẹ già (Hoahuynh) – Mừng nhau tuổi thọ Vể hưu (EileenCheng) Đời sống hưu (ĐangngocAi) – Giấc mơ hồi hương(CauĐo) Người già chẳng khác gì côm-pu-tơ cũ!Các em bé dể thượng (ĐanQue) Bí ẩn của các con số (Buibaoson) – Chữ cái (ĐoViet)

Triển lãm hoa lan (BaTran) – Hoa lan (vynguyen)  – Hoa tu-líp (DinhCuc) Tu-lip của tấm lòng (ĐoViet) – Hoa xương rồng (SinhDo) Hoa kết thành giầy (EileenCheng) – Nghệ thuật chụp ảnh (KimAnh) Hình chụp chuyển mầu (Eileencheng) – Hình chụp siêu tốc (DoViet)

Hoa nào trái nấy (DoViet) – Những cây dị thường (Dotran) Vườn hoa hồng (LeThanh) – Thiên nhiên…tuyệt vời (ĐoViet)

Thiên nhiên kỷ diệu (SungTruong) – Tiếng nói của Trái đất thân yêu! (ĐoViet) Trái đấtsao đẹp thế (VietDo) – Vũ trụ (Thoinguyen) – Vũ trụ bao la (VietĐo) Cảnh nước bao la (BaTran) – Những thác nước (ĐoViet) Dòng sông Danube(ĐangQue) – Thế giới muôn mầu (Thoinguyen) Kỳ quan thu gọn (VietDo) – Chuyện lạ đó đây (Eileencheng) Las Vegas (SungTruong) – Macao (SanPham) – e-mail tuyệt vời (ngkbao)

Những tác phẩm điêu khắc (ĐoànSan) – Điêu khắc trên trứng (EileenCheng) Nghệ thuật muôn vẻ (SinhDo) – Nghệ thuật vẽ hình trên thân hình (DoTran) Nghệ thuật vẽ trên bàn tay(DoTran) – Tranh Jia Lu (ĐoViet) Nghệ thuật uôn cây thành người và vật (SinhDo) Nghệ thuật xén tỉa cây kiểng (SanPham) – Nghệ thuật cây ghép(SinhDo) Picasso (DinhCuc) – Tác phẩm Ocampo(TrangTran-KhoiTa) Một hình thành hai (Taopham) – Tượng đắp bằng giấy (ĐoViet) Xe hơi bẳng giấy các-tông (DoViet) – (ĐoViet)Kỹ thuật tân kỳ Những con đường hiểm nghèo (Thoinguyen)  – Thành phố ngẩm cổ xưa (Batran) Chợ nối Hoà lan (DoViet) – Chùa cọp (BaTran) – Sơn Động (LoanPhan)

Mẹ (KimAnh) – Ngày của mẹ (Thoinguyen) – Mẹ là Phật (KimAnh) Say mê (EileenCheng)

Nguyễn Văn Danh post

Soạn giả VIỄN CHÂU

SÁNG NGỜI TÊN TUỔI

VIỄN CHÂU VỚI

TIẾNG ĐÀN BẢY BÁ

& SOẠN GIẢ CẢI LƯƠNG

– Nguyễn Văn Danh

Thuở nhỏ, ông học quốc văn ở trường làng và học Hán văn với những bậc túc nho ở tại nhà. Ngoài ra, ông còn học thêm âm nhạc. Ông khá sành Hán văn và sử dụng khá thành thạo các nhạc cụ dân tộc, đặc biệt là đàn tranh.

Soạn giả Viễn Châu sinh trưởng trong một gia đình Nho giáo vào năm 1924, ông theo đuổi Nho văn và sớm có thiên tư về âm nhạc nhưng khi lớn lên, ông lại không có thiên hướng về khoa cử hay sân khấu. Ông đam mê viết văn và làm thơ hơn.

Truyện ngắn “Chàng trẻ tuổi”, truyện ngắn đầu tay của ông đã được đăng trên báo Dân Mới vào năm 1942. Cùng năm này, bài thơ “Thời mộng” của ông cũng đã được đăng trên báo “Tổng xã mới”.

Ông viết văn, làm thơ nhưng không có duyên nợ với văn chương. Năm 1945, ông chuyển sang soạn tuồng cải lương. Vở tuồng “Hồn chiến sĩ”, vở tuồng đầu tay của ông, có nội dung chống thực dân Pháp, đã được Ủy ban Kháng chiến hành chánh quận Trà Cú (lúc bấy giờ là quận Trần Chí Nam) tổ chức hát bán vé để góp quỹ kháng chiến.

Ông chuẩn bị tham gia kháng chiến thì gia đình gặp biến cố. Năm 1946, người anh thứ sáu của ông là Huỳnh Thanh Tòng bị Pháp bắt và bị bức tử ở đồn Long Toàn. Để tránh khủng bố, ông bỏ xứ Đôn Châu lên Vĩnh Long tá túc trong nhà một người bạn rồi sau đó phiêu bạt lên Sài Gòn. Bút danh “Viễn Châu” của ông có nghĩa là xa Đôn Châu được hình thành từ thời gian này.

Năm 1947, sọn giả Viễn Châu tham gia công tác thành ở Sài Gòn và bị Pháp bắt cùng với 4 người khác. Ông bị đày đi an trí ở Cẩm Giang (Tây Ninh). Sau khi đi an trí về, ông viết vở cải lương “Nát cánh hoa rừng” nhằm tố cáo chế độ thực dân Pháp, tố cáo sự bóc lột của bọn chủ đồn điền Pháp. Vở cải lương “Nát cánh hoa rừng” được đoàn Việt kịch Năm Châu trình diễn vào năm 1950. Đây là vở cải lương đầu tiên của ông được trình diễn trên sân khấu đại ban.

Kể từ năm 1950, qua vở cải lương “Nát cánh hoa rừng” tên tuổi Viễn Châu bắt đầu được giới mộ điệu chú ý. Và trong thời gian này, tiếng đờn trang của ông, tiếng đờn trang của Bảy Bá cũng được các hãng đĩa thu thanh và phát hành liên tục. Cùng với ngón đờn sến Năm Cơ, ngón đờn tranh Bảy Bá là hai ngón đờn cổ nhạc đã được giới mộ điệu đánh giá cao và coi như bậc thầy. Viễn Châu vừa là danh cầm vừa là soạn giả.

Trong thời gian ở Sài Gòn, ngoài đoàn Việt kịch Năm Châu, ông còn cộng tác với các đoàn hát : Kim Thanh Út Trà Ôn (1955), Thanh Tao (1958), Thanh Nga (1962), Dạ Lý Hương (1969), Tân Hoa Lan (1969). Đồng thời, ông còn cộng tác với các hãng đĩa Việt Nam (1950), Kim Long (1951), Việt Hải (1953), Thăng Long (1954), Sống Mới (1968), Nhạc ngày xanh (1969), Hồn nước (1973, của Ngọc Chánh sản xuất băng từ),…

Sau năm 1975, ông cộng tác với Đoàn Văn công (1975), hãng băng Sài Gòn Audio (1978) và nhiều đoàn hát ở các tỉnh. Năm 1984, ông cùng đoàn nghệ thuật 284 lưu diễn ở các nước Tây Âu như : Đức, Bỉ, Pháp, Ý.

Một sáng tạo của Viễn Châu có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực nghệ thuật là việc ghép tân nhạc vào bản vọng cổ mà ông gọi là “Tân cổ giao duyên”. Bản “Tân cổ giao duyên” đầu tiên của ông có tựa “Chàng là ai” (nhạc Nguyễn Hữu Thiết) do Lệ Thủy ca vào năm 1964. Ngoài ra, về âm nhạc, ông cũng có sáng tác một bản nhạc tài tử ngắn tên là “Dạ khúc” đã được thu thanh trong băng cổ nhạc “Hòa tấu I” do Sài Gòn Audio thực hiện vào năm 1978.

Do có thành tích biểu diễn đờn tranh và nhiều đóng góp khác trong lĩnh vực cổ nhạc, ông đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Nghệ sĩ ưu tú” vào năm 1988. Ngoài danh hiệu này, ông còn được giới mộ điệu suy tôn là “ Vua viết lời ca vọng cổ”. Sự suy tôn này kể cũng không quá đáng. Hơn 50 năm sáng tác, ông đã để lại một kho tàng tác phẩm đồ sộ. Trên 50 vở cải lương đã được trình diễn trên các sân khấu đại ban và trên 2000 bản vọng cổ đã được các hãng đĩa, băng thu thanh và phát hành.

Những vở cải lương của ông được khán thính giả biết đến nhiều nhất là: Nát cánh hoa rừng, Tình mẫu tử, Đời cô Nga, Sau bức màn nhung, Bông ô môi, Chuyện tình Hàn Mặc Tử, Quân vương và thiếp, Qua cơn ác mộng, Nợ tình, Hoa Mộc Lan, Con gái Hoa Mộc Lan, Hai nụ cười xuân, Ai điên ai tỉnh,… Vở cải lương “ Ai điên ai tỉnh” vào tháng 02/1975, dưới thời chế độ Sài Gòn cũ, đã được báo giới bình chọn là vở cải lương hay nhất ở miền Nam năm 1974.

Về vọng cổ, nhiều bản vọng cổ của ông được thính giả ưa chuộng như : Tình anh bán chiếu, Sầu vương ý nhạc, Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Tần Quỳnh khóc bạn, Lá trầu xanh, Lòng dạ đàn bà, Lan và Điệp, Hàn Mặc Tử, Tâm sự Mai Đình , Tâm sự Mộng Cầm, Xuân đất khách, Tu là cội phúc, Gánh nước đêm trăng, Mồ em Phượng, Gánh bưởi Biên Hòa, Cô hàng chè tươi, Đêm khuya trông chồng, Mẹ dạy con, Phạm Lãi biệt Tây Thi, Phàn Lê Huê , Tự Đức khóc Bằng Phi, Bông ô môi, Ai ra xứ Huế, Đêm tàn Bến Ngự, Gió biển Hà Tiên, Đêm lạnh trong tù, Hán Đế biệt Chiêu Quân, Dương Quý Phi , Kiếp cầm ca, Đời vũ nữ, Lá bàng rơi, Biệt cố hương, Anh đi xa cách quê nghèo,…

Trong hai bản vọng cổBiệt cố hương” (1960) và Anh đi xa cách quê nghèo” (1974) chứa đựng nỗi đau ly hương và nỗi nhớ quê nhà Trà Vinh của ông rất nhiều. Nỗi niềm, tâm sự của ông gần như in đậm trên từng thanh âm, làn nhạc.
Với Viễn Châu, không gian sáng tác bao trùm vẫn là thiên nhiên sông nước Nam bộ. Chiều sâu tác phẩm của ông cũng là chiều sâu tình cảm, tâm lý người Nam bộ. Tác phẩm của ông khi hòa trở lại với thiên nhiên sông nước Nam bộ, hòa tình cảm, tâm lý người Nam bộ tự nhiên có hồn và có hơi thở riêng của nó.
Lời ca của Viễn Châu bình dị nhưng giàu cảm xúc, giàu chất thơ và giàu hình tượng nên dễ thuộc, dễ đi vào lòng người. Cái đọng lại trong sáng tác của Viễn Châu là tình cảm quê hương, con người, đất nước,… được thể hiện một cách mộc mạc, chân thật. Dựa vào bề dày sáng tác và biểu diễn, có thể coi Viễn Châu là một trong những ngôi sao sáng của bầu trời sân khấu Nam bộ nửa sau thế kỷ 20. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực nghệ thuật nước nhà rất đáng kể và đã góp phần không ít trong việc phát huy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Mọi người biết đến soạn giả Viễn Châu là người viết tuồng cải lương, người khai phá trào lưu “tân cổ giao duyên” và cả tên Bảy Bá qua tiếng đàn trang đờn kìm. Nhưng ít ai có dịp đọc thơ ông, và chúng tôi xin tiêu biểu giới thiệu vài bài thơ của ông và một bản vọng cổ của ông sau đây :

GHE CHIẾU CÀ MAU

KHUẤT DẠNG RỒI

(Để tưởng nhớ nghệ sĩ Út Trà Ôn)

Lối nhỏ vào thôn ngập  lá vàng.

Vai oằn đôi chiếu bước lang thang .

Mồ hôi tùng giọt rơi trên áo ,

Ngã bảy trưa hè nắng chói chang

oOo

Gió thổi tơi bời xác lá bay .

Nhà xưa vắng vẻ cổng then cài .

Đâu rồi cô gái miền sông nước

Đôi chiếu Cà Mau biết gửi ai?!

oOo

Cô đã theo chồng đi đến đâu .

Giòng Kinh Phụng hiệp ngẩn ngơ sầu .

Gối đầu đôi chiếu nằm thao thức ,

Cất tiếng hò khoan để nhớ nhau .

oOo

…Gió buốt về đây lạnh đất trời .

Sương mù nhỏ giọt lá thôi rơi .

Con sông Phụng Hiệp buồn hiu hắc ,

Ghe chiếu Cà Mau khuất dạng rồi .

AO BÀ-OM (*)

Cánh chim về tổ chở mây xa ,

Cổ thụ nghiêng nghiêng dưới nắng tà .

Người đẹp đi rồi , cây nhớ bóng ,

Ao vuông còn đọng dấu hài hoa .

(*) Ao Bà – Om, còn gọi là ao vuông, một thắng cảnh của tỉnh Trà Vinh

KHÓC LẠC Đ(*)

Thắp nén hương lòng Lạc Đế ơi .

Một phương trời nhớ một phương trời .

Cho hay nghiệp chướng yêu là lụy .

Viết chẳng thành câu , nói nghẹn lời .

Ao Bà Om

oOo

Tôi nhớ năm xưa nơi tiểu lộ ,

Trời như trở lạnh nẻo Nam Sơn .

Người vừa nức nở : Lương Sơn Bá !

Chan chứa làn mi đẵm giọt buồn .

oOo

Nhứt biệt trần gian vạn cổ sầu .

Khăn hồng ai thấm hộ giòng châu .

Đưa tay tôi đón vì sao rụng,

Gió cuốn hoa rơi gãy nhịp cầu .

oOo

Năm xưa người tiểu Lương Sơn Bá ,

Lác đác rừng thu rụng lá vàng .

Giờ đây ở giữa lòng đô thị ,

Ai tiễn người ra nghĩa trang ?!

oOo

Đem phấn son mà trả phấn son.

Ba mươi năm lê nghiệp chưa tròn

Màn nhung khép mở câu tâm sự

Nguyệt khuyết  hoa tàn tủi nước non.

oOo

Những tưởng giòng châu đã cạn rồi .

Bao mùa ly loạn máu xương rơi .

Đêm nay bỗng thấy hồn ray rức ,

Không cố nhân mà lệ cũng rơi .

oOo

Người đã đi rồi không trở lại ,

Một trang tình sử , mấy giòng thơ .

Đèn khuya bóng nhỏ nằm thao thức .

Hẹn gặp Anh Đài trong giấc mơ .

(*) Lạc Đế, nữ diễn viên điện ảnh Hồng Kông , người đã đóng chung  với Lăng Bá  trong phim “Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài” nổi tiếng trong thập niên 60

VỌNG CỔ : TRÁI KHỔ QUA

NÓI LỐI : Tôi với em là hai người cùng một xóm / Nhà của em có trồng trái khổ qua / Những bình minh còn nặng giọt sương sa / Tôi nhìn mãi cánh tay ngà em tưới nước.

Dây khổ qua nhụy vàng bông trắng, trái khổ qua tuy đắng nhưng đượm thắm…

VỌNG CỔ

CÂU 1 : ….Hương tình. Mẹ của anh thường khen em thùy mị dịu dàng. Em cúi đầu bẽn lẽn gương mặt đỏ bừng và nở nụ cười duyên, em vội chạy ra sân nhìn nước nhìn mây nhìn đất nhìn trời. Em van vái cho năm nay sớm dứt trận mưa rào để cho đám khổ qua được đâm chồi nẩy lá.

CÂU 2 : Tôi còn nhớ buổi chiều hôm đó khi ánh hoàng hôn còn giăng phủ thôn buồn. Trao cho tôi mấy trái khổ qua em âu yếm bảo tôi rằng :

Thơ Vân Tiên

Công anh tưới nước vun phân

Khổ qua có trái giành phần tặng anh

Khổ qua bông trắng lá xanh

Trái quê thêm đượm mối tình nhà quê

Sang năm anh rước em về

Vui câu loan phụng đẹp bề thất gia.

CÂU 3 : Nhưng giòng nước Trường giang có khi lớn khi ròng thì lòng dạ của người đàn bà cũng theo thời gian mà nay dời mai đổi. Cuối năm ấy có người mang trầu cau dạm hỏi, cha mẹ tham giàu nên nhận lễ gả em.

Tối hôm ấy anh nằm không ngủ đợi đến sáng ngày hỏi xem chuyện chồng con em định liệu ra sao, thì em chỉ nhìn theo con bướm đang chập chờn bay lượn. Chuyện nầy do lịnh mẹ cha, phận em là gái khó cải qua huyên đường.

Hò hơ …. đèn nào cao cho bằng đèn Ba Giác, gái nào bạc cho bằng gái chợ Giồng, ngày em làm lễ tơ hồng là ngày em bẻ gãy .. hò hơ ..là ngày em bẻ gãy chữ đồng với tôi !

Đám cưới của em có đủ mặt bà con lối xóm, nhưng chỉ có riêng tôi là chẳng ai ….

VỌNG CỔ

CÂU 4 : ….Mời . Anh nghe tiếng cười vui mà gan ruột tơi bời, mưa rớt vườn cau theo gió lộng, lòng anh cũng lạnh tựa mưa xuân,

Em đi cạn chén rượu mừng

Anh về biết mấy đêm trường khổ đau

Người ta vui vẻ làm sao

Còn tôi mượn giấc chiêm bao gặp nàng.

CÂU 5 : Đám cưới của em bà con đổ xô ra xem đông đảo mà lòng anh cũng nát tan theo xác pháo bên đàng. Em cười vui còn riêng anh thì lệ đổ muôn hàng. Em ơi tôi đây tuy nghèo tiền nghèo bạc nhưng tôi đâu nghèo nhân đạo thuỷ chung, nhưng nhân đạo không đổi được ruộng vườn cơm áo, còn thuỷ chung mà chi khi người mình yêu không tình không nghĩa chỉ say mê theo vật chất kim tiền.

CÂU 6 : Sáng hôm nay mưa rơi nhiều quá giàn khổ qua trái cũng lớn rồi, mẹ tôi ngày một thêm già còn lụm cụm lo bề cơm nước, sáng hôm ấy người nấu chín nồi canh khổ qua rồi gọi tôi vào dùng bữa, người âu yếm bảo tôi rằng” hôm nay mẹ có nấu một nồi canh khổ qua một món mà con hằng yêu thích .” Tôi cúi đầu không nói nhưng đôi dòng lệ rưng rưng. Mẹ tôi biết tôi có điều chi đau khổ nên người mới nhìn tôi mà buông tiếng thở dài.

Ngoài kia có đôi bướm trắng đang chập chờn đuổi nhau trên giàn khổ qua sai trái.

Như trêu cợt kẻ si tình – Quá yêu người mà không được người yêu.

Nguyễn Văn Danh

CÀ PHÊ SÀI GÒN… XƯA

MỘT THỜI

CÀ PHÊ SÀI GÒN

Bạn đã uống cà phê nhiều, bạn biết muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có khó. Cà phê loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi; muốn kẹo thêm nữa hả? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưỡi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị rhum, thì rhum; bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút bretain vào. Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à ? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà. Đậm làm sao ? Giống như uống coca thì phải có thêm chút muối cho mặn mà đầu lưỡi ấy mà. Uống chanh đường pha thêm chút rhum cho nó ra dáng tay chơi. Như kẻ hảo ngọt nhưng vẫn cắn răng uống cà phê đen không đường cho lập dị. Thèm đá muốn chết nhưng cứ chốn bạn nhậu thì nằng nặc đòi uống chay không đá cho giống khác người, cho đẳng cấp. Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm nhận lấy.

Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc; bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan (dộng vài phát hết gần nửa điếu và rít đỏ đầu), Ruby hay Basto xanh mới đã đời, thú vị phải không ? Bạn đã có đủ những gì bạn cần, sao lại cứ thích đi uống cà phê tiệm? Tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người tại quán cà phê; “uống” không khí và cảnh sắc cà phê; “uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn cùng tôi trở lại không khí cà phê Sài Gòn những năm cuối 1960 và đầu 1970.

Sài Gòn những năm giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tuổi trẻ lớn lên và tự già đi trong chiến tranh. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại ; những mơ mộng hoa bướm tự nó thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng được nhấp vào và quán cà phê trở thành nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng; có một chút làm dáng, thời thượng. Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên; hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Cứ như thế, cái xe cọc cạch, trung thành như một người bạn thân thiết lê la khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.

Những ngày này, tôi là khách thường trực của quán Cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặt quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.

Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không ? Xin cứ ngồi yên đó. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công. Khách đến với Thu Hương là ai ? Nhiều lắm, nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa” lắm; “ông”, “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng thêm các tập san Sử địa, Bách khoa, Văn và vân vân…

Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may áo dài Thiết Lập, vậy bạn có biết cà phê Hồng ở đâu không ? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó xéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung tâm Thực nghiệm Y khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm, chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại. Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che dấu.

Cà phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi; tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành một cái “mốt”, một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán – những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút (làm như không bụi thì không là trí thức) – đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly.

Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ. Lại có cả Time, Newsweek cho những bạn nào khát báo nước ngoài. Quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì, nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người : Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và ít nói, ít cười, trừ cô chị. Những năm 1980, Cà-phê Hồng không còn, tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn vào chốn xưa và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào ?

Viện Đại học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý, cùng với những tên tuổi đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín, vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân. Tuy nhiên, dường như cái hồn của Đại Học Vạn Hạnh được đặt tại một tiệm cà phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó xéo về phía chợ Trương Minh Giảng. Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Các nhóm làm thơ trẻ đang lên và đang chiếm đều đặn nhiều cột thơ trên báo chí Sài Gòn ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ. Nhưng đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau. Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nắng Mới nay không còn. Những con người cũ tứ tán muôn phương.

Có một quán cà phê thân quen nữa không thể không nhắc đến : Quán chị Chi ở gần đầu đường Nguyễn Phi Khanh, kế khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp Casino Đa Kao. Ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè, trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm mà mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường.

Quán chị Chi độ chín mười thước vuông, chỉ đủ chỗ để đặt ba bốn chiếc bàn nhỏ. Quán không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ : “Hôm qua con đã đi học rồi mà”. Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo, mà hoàn toàn do thân hữu truyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho hốp nước nhỏ.

Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm, nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bự. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh – loại bánh đặc biệt của chị Chi- nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm lừng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất, trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm. Quán chị Chi giờ đã biến tướng ít nhiều nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ.

Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, và thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng : Cà phê Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ – Hình như là Đào Duy Từ – gần sân vận động Thống Nhất bây giờ, có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa La. Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra. Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh : Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướm của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, nhưng giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những gốc cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất … Đa La.

Ngày khai trương, Đa La chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả, với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Đa La đông vui, chứng kiến sự nở hoa và tàn úa của nhiều mối tình. Nhưng Đa La vắng dần những người khách cũ và đóng cửa lúc nào tôi không nhớ.

Cà phê Hân ở Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao là quán thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy là xa lạ với dân ngoại đạo cà phê. Nhưng Hân là một nơi hết sức đáng yêu, đáng nhớ của nhiều người, dù ngồi quầy là một ông già đeo kính như bước ra từ một câu chuyện của văn hào Nga Anton Chekov. Về sau, đối diện với Hân có thêm quán cà phê Duyên Anh của hai chị em cô Hà, cô Thanh; cô em xinh hơn cô chị và được nhiều chàng trồng cây si.

Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Hồng Thập Tự – Cường Để còn nhớ, cũng như nhớ món bánh cuốn ở đình Tây Hồ bên trong chợ Đa Kao thờ cụ Phan, nhớ quán cơm “lúc lắc” trong một con hẻm nhỏ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm mà nữ sinh viên vừa đi lên căn gác gỗ vừa run khi được mấy chàng mời cơm.

Bạn nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kính cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối đãi với nhau cũng rất đẹp. Cũng đừng quên nhắc đến quán Chiêu, hẻm Cao Thắng. Rồi còn cà phê hàng me Nguyễn Du, cũng Beatles, cũng Elvis Presley như ai; và cả pha chút Adamo quyến rũ. Giá ở đây thật bình dân nhưng thường xuyên chứng kiến những pha so găng giữa học sinh hai trường nghề Cao Thắng và Nguyễn Trường Tộ.

Chán cà phê thì đi ăn nghêu sò, bò bía, ăn kem trên đường Nguyễn Tri Phương, góc Minh Mạng hoặc bên hông chợ Tân Định. Phá lấu đã có góc Pasteur-Lê Lợi, nhưng chỉ dành cho các bạn có tiền. Rủng rỉnh tí xu dạy kèm cuối tháng có Mai Hương (nay là Bạch Đằng Lê Lợi). Quán Mù U, hẻm Võ Tánh, chỗ thương binh chiếm đất ở gần Ngã tư Bảy Hiền dành cho những bạn muốn mờ mờ ảo ảo. Muốn thưởng thức túp lều tranh mời đến cà phê dựa tường Nguyễn Trung Ngạn gần dòng Kín, đường Cường Để. Rồi quán cà phê Cháo Lú ở chợ Thị Nghè của một tay hoạ sĩ tên Vị Ý.

Cao cấp hơn có La Pagode (đổi thành Hương Lan trước khi giải thể), Brodard, Givral. Thích xem phim Pháp xưa, phim Mỹ xưa và ngồi… cả ngày xin mời vào rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi để chung vai với đám đồng tính nam. Vào Casino Sài Gòn có thể vào luôn hẻm bên cạnh ăn cơm trưa rất ngon tại một quầy tôi đã quên tên. Nhưng rạp Rex vẫn là nơi chọn lựa nhiều nhất của SV, cả nghèo lẫn giàu. Cuộc sống SV cứ thế mà trôi đi trong nhịp sống Sài Gòn. Nghèo nhưng vui và mơ mộng.

Tống Biệt hành, Đôi mắt người Sơn Tây sống chung với Cô hái Mơ. Đại bác ru đêm sánh vai với Thu vàng. Ảo vọng và thực tế lẫn vào nhau. Thi thoảng lại pha thêm chút Tội ác Hình phạt, Zara đã nói như thế ! Che Guervara, Garcia Lorca.

Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, đặc biệt là tặng tất cả những ai tha hương có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở cà phê Hồng, Thu Hương, hay đâu đó ở quê nhà.

Hong Doan post (Theo LƯƠNG THÁI SỸ – AN DÂN)