Nhà văn DƯƠNG HÀ & NS NGUYỄN VĂN TÝ

BÊN DÒNG SÔNG TRẸM

Tiểu thuyết “phơi-ơ-tông”

– NGUYỄN VIỆT

Nhà văn lão thành Dương Hà như đã hoàn thành tâm nguyện. Ở tuổi 77 nhưng ông vẫn mang nặng nghiệp văn. Vừa qua nhà văn Dương Hà cho tái bản lại một số tác phẩm cũ từng ăn khách trước những năm 1975, và sau 1975 còn được dựng thành phim và tuồng cải lương lẫn thoại kịch.

Trong đợt tái bản đầu tiên, nhà văn Dương Hà cho ra mắt bộ tiểu thuyết “Bên Dòng Sông Trẹm” gồm 2 cuốn 1 và 2, đưa câu chuyện vào cuộc sống ở miền quê còn chịu nhiều ảnh hưởng phong kiến, nên trong cuộc sống ấy bị xáo trộn qua những mối tình không cân xứng giữa giàu và nghèo, giữa địa chủ và nông dân, cuối cùng là một đoạn kết đầy bi thương. Mỗi cuốn dày trên dưới 200 trang in trên giấy ford trắng rất đẹp mắt.

Như nhà văn Hoàng Hải Thủy từng viết về nhà văn Dương Hà :

“Tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn năm 1951. Năm ấy 18 tuổi, tôi đến học ở trường Tư Thục Tân Thanh. Trường mới mở, Hiệu Trưởng là Kỹ sư Phan Út, giáo sư chính là hai thầy Phan Thụy, Phan Ngô. Trường sở là một nhà tư nằm trong một góc khuất trên đường Lacoste, sau năm 1956 đường Lacoste là đường Pham Hồng Thái, Sài Gòn. Tại đây tôi gặp Dương Hà, một trong những người viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông nổi tiếng của làng báo Sài Gòn. Dương Hà tên thật là Dương Văn Chánh, người miền Nam, anh hơn tôi chừng hai, ba tuổi. Năm ấy Dương Hà và tôi học chung một lớp ở trường Tân Thanh. Hai chúng tôi không thân nhau lắm nhưng chúng tôi cũng biết nhau có mộng viết tiểu thuyết.

“Chưa hết năm 1951 Dương Hà và tôi đã bỏ học. Năm 1952 Dương Hà nổi tiếng với tiểu thuyết phơi-ơ-tông “Bên Dòng Sông Trẹm”, truyện đăng trên nhật báo Sàigònmới, truyện đầu tay mà “ăn khách”, tức có nhiều người đọc, nên truyện được xuất bản thành sách ngay sau khi đăng hết trên báo.

“… Độc giả tiểu thuyết phơi-ơ-tông những năm xưa ở Sài Gòn đa phần là phụ nữ. Những thập niên 50, 60, trong xã hội miền Nam một người đi làm, thường là người đàn ông chủ gia đình, kiếm được tiền đủ nuôi vợ con. Người vợ trong những gia đình thường không phải đi làm. Ngoài việc mỗi ngày đi chợ, thường là ra khỏi nhà vài bước là có chợ đầu xóm bán đủ thức ăn, ngoài việc nấu ăn, trông con, những phụ nữ ấy có nhiều thì giờ nhàn rỗi, họ đọc tiểu thuyết đăng từng ngày trong các nhật báo.

“Họ là lớp độc giả chính, trung thành của tiểu thuyết phơi-ơ-tông, và họ rất chịu bỏ tiền mua báo. Báo nào có tiểu thuyết được họ đọc là báo bán chạy. Và họ thích đọc những truyện tình ái mùi mẫn, éo le trong đó nhân vật chính là những thiếu nữ xinh đẹp, hiền hậu, con nhà nghèo – nghèo mà vẫn giữ được trong sạch – bị rơi vào những cảnh ngộ oan trái nhưng sau cùng vượt thắng được nghịch cảnh, gặp tình yêu. Hoặc nhân vật chính là một thiếu nữ con nhà giàu sang yêu một chàng trai nghèo nhưng lương thiện. Họ thích những mối tình trong đó hai người yêu nhau bị chia cách bởi giầu nghèo, sang trọng và bình dân, điều quan trọng nhất là sau cùng tình yêu phải thắng, đôi tình nhân sau trăm cay, nghìn đắng, sẽ thành vợ, thành chồng, sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi….”

“Bên Dòng Sông Trẹm” là tác phẩm tiểu thuyết đầu tay và là tác phẩm xuất sắc nhất của Dương Hà. Năm 1990 “Bên Dòng Sông Trẹm” được tái bản ở Sài Gòn, năm 1995 “Bên Dòng Sông Trẹm” được làm thành phim.

“Từ năm 1952 Dương Hà chuyên viết tiểu thuyết để sống, anh không làm phóng viên, tức anh không làm ký giả nhà báo, không làm việc ở tòa soạn, anh chỉ viết tiểu thuyết đăng báo, anh viết tiểu thuyết cho nhật báo Sàigònmới từ năm 1952 dài dài cho đến đầu năm 1964 nhật báo Sàigònmới bị đóng cửa….

“Những năm của thập kỷ 50 – 60 thế kỷ trước; làng báo Sài Gòn có mấy cây viết phơi-ơ-tông về “tâm lý tình cảm xã hội” nổi tiếng như Dương Hà, Trọng Nguyên, bà Tùng Long sau có thêm bà Lan Phương. Như Dương Hà, bà Tùng Long là cây viết tiểu thuyết trụ cột của nhật báo Sàigònmới, bà viết truyện cho báo Sàigònmới từ năm 1950 cho đến ngày Sàigònmới bị đình bản năm 1964. Bà Lan Phương cũng viết nhiều, cũng có nhiều tác phẩm xuất bản thành sách, nội dung những tiểu thuyết của bà Lan Phương giống như nội dung những tiểu thuyết của Dương Hà, Trọng Nguyên hay bà Tùng Long như đã nói trên.

TÌM TÁC PHẨM CŨ

Nhà văn lão thành Dương Hà rất hồ hỡi với cuốn tiểu thuyết “Bên dòng sông Trẹm” vừa tái bản (sách dày 440 trang chia làm 2 tập : phần một và phần hai) do nhà văn nhà báo Nguyễn Việt liên kết xuất bản với NXB Thanh Niên.
Nhiều nhà sách đang muốn độc quyền phát hành, bởi số lượng đọc giả ái mộ nhà văn Dương Hà từ trước năm 1975 rất đông.

Như nhà văn Hoàng Hải Thủy đã viết, nhà văn Dương Hà là nhà văn chuyên viết feuilleton trên các báo năm xưa qua những tiểu thuyết tình cảm tâm lý xã hội.

Có nhiều nhà văn cùng thời với Dương Hà cũng theo trường phái viết “tiểu thuyết tình cảm tâm lý xã hội” như Trọng Nguyên, bà Tùng Long, bà Lan Phương… nhưng chưa ai có tác phẩm dựng thành phim hay tuồng cải lương như các tác phẩm của nhà văn Dương Hà. Riêng bộ “Bên dòng sông Trẹm” nổi tiếng từ trong nước ra đến hải ngoại, qua cuốn phim phát hành năm 1993 và mới đây đài truyền hình HTV của Sài Gòn đã dựng thành tuồng cải lương (trước 1975 cũng đã được nhiều soạn giả phóng tác đưa lên sân khấu cải lương lẫn thoại kịch). Do các diễn viên điện ảnh và sân khấu thủ diễn như : Y Phụng, Lý Hùng, Lê Công Tuấn Anh, Lê Tuấn Anh, bà Bảy Nam, Bảo Quốc, Minh Phụng, Kiều Tiên v.v…

Trong tinh thần hồ hỡi, nhà văn Dương Hà xin nhắn đến các đọc giả, các nhà cho thuê sách từ trong nước ra đến nước ngoài bản tin :

– Ai còn giữ tác phẩm tiểu thuyết mang tên Dương Hà, xin báo tin, một xin tặng lại tác giả, hai thỏa thuận giá bán lại. Nhất là hai tác phẩm sau đây :

– Truyện ngắn “Bên song cửa” và – Tiểu thuyết “Anh ơi ! Đừng yêu em”

Mong rằng các đọc giả nhận tin này giúp đỡ nhà văn Dương Hà hết mình, vì sau 1975, các tác phẩm xuất bản trước 1975 của ông đều bị thất lạc.
Xin liên lạc qua email : khaisang2002@yahoo.com hoặc Nguyễn Việt người đại diện nhà văn Dương Hà qua số Điện thoại 0903.639.821.

(Quế Phượng post)

NGUYỄN VĂN TÝ, 

NGỒI THỨC VỚI XA XĂM

Kỉ niệm 35 năm ngày 30/4/1975, cũng kỉ niệm luôn ngày sinh nhật của mình he he, mình ngồi ở quán đođo với mấy anh chị em TNXP đồng đội năm xưa của Nguyễn Nhật Ánh, uống rượu và hát liên miên bài này sang bài khác. Mấy cô văn công năm xưa nay đã U50 rồi mà giọng hát vẫn trong vắt trẻ trung, mắt lúng la lúng liếng thật dễ thương.

Thích nhất hai bài Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao và Dư âm của Nguyễn Văn Tý, mình bắt mấy cô hát đi hát lại hoài. Anh Nhượng (Nguyễn  Khắc Nhượng, nguyên TTK toà soạn báo Thanh Niên) ngồi cạnh mình, ghé tai mình nói cụ Tý bây giờ sống khổ lắm, nghe biết vậy chứ cũng chẳng hỏi gì thêm.

Mình không quen Nguyễn Văn Tý, duy nhất một lần thấy cụ ở Đồng Hới, hình như năm 1970 thì phải. Lúc đó cụ đã hơn 45 tuổi rồi mà vẫn rất phong độ, đẹp trai cực, miệng rộng môi tươi, cười có lúm đồng tiền sâu hoắm. Hồi này cụ đã nổi tiếng lắm rồi, dân Quảng Bình quên ai thì quên chứ Hoàng Vân và Nguyễn Văn Tý thì không bao giờ quên.

Khi cụ từ hội trường tỉnh uỷ đi ra, bao nhiêu cô nhìn cụ với những cái nhìn ngưỡng mộ thèm khát bốc cháy như muốn ăn tươi nuốt sống cụ, bảo đảm chỉ cần cụ vẫy khẽ cái là có cả chục cô chạy theo liền. Cụ nổi tiếng đào hoa, nhạc sĩ chuyên trị phụ nữ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, những bài hát về phụ nữ của cụ đều hay, tất nhiên vô thiên lủng phụ nữ say mê cụ, khỏi phải nói.

Bài Dư âm là kết quả của cuộc tán gái bất thành của Nguyễn Văn Tý, hi hi. Năm 1950 khi cụ là đoàn trưởng đoàn văn công sư đoàn 304, cụ đến tán cô chị 21 tuổi nhưng cô em 16 tuổi lại mê luôn cụ. Cụ cũng chết mê chết mệt cô em, thả luôn cô chị. Gia đình tức lắm, cấm cung cô em, cấm cửa  không cụ cho được đến nhà. Cái gì bí tất sẽ phát, bài Dư âm đã ra đời trong một đêm điên cuồng vì yêu của cụ. Chuyện này mình nghe qua radio trong taxi cách đây mấy năm rồi.

Hôm nay sinh nhật mình, Đỗ Trung Quân mang đến cho chai rượu, anh ngồi thừ, nói cụ Tý vừa gọi điện cho tôi, buồn quá. Mình hỏi sao, Quân nói từ ngày bị tai biến liệt nửa người, cụ sống một mình khổ nghèo buồn tủi, tội lắm. Cụ gọi điện cho tôi, nói Quân ơi mai ba mươi tháng tư có chương trình văn nghệ nào vui cho mình đi xem với. Cụ có cả một Hội nhạc sĩ, một tấn bạn bè  nhạc sĩ ca sĩ lại đi hỏi mình, nghĩ cái sự đời mà chán.

Té ra Nguyễn Văn Tý ở rất gần chỗ mình, đi bộ chừng chục phút là đến nhà cụ. Mình gõ cửa, từ chỗ cụ nằm ra cửa không đầy bốn mét mà cụ phải đi chừng năm phút, đúng hơn cụ lết chứ không phải đi, toàn thân run lẩy bẩy, lúc nào cũng có cảm tưởng cụ sắp đổ xuống sàn. Duy nhất gương mặt đẹp lão vẫn còn tươi tỉnh còn tất cả đều tàn tạ, cả thân xác lẫn căn hộ ám khói nơi cụ sống.

Cụ chẳng biết mình là ai, có lẽ cụ chẳng đọc một chữ nào của mình, nhắc tên Nguyễn Quang Lập hai ba lần cụ chỉ nhăn răng cười trừ, nhưng mà cụ vui, vui lắm. Cụ lập cà lập cập đòi pha trà uống nước, mình ngăn mãi không được. Cụ nhìn quanh quất chép miệng, nói có lon bia mình uống mất rồi, không có mời Lập. Chỉ chừng ấy thôi mình biết cụ thèm khách đến nhường nào.

Mình hỏi bạn bè có hay đến thăm anh không (giới văn nghệ ai lớn tuổi hơn mình đều gọi bằng anh, không chú bác gì hết), cụ cười nhẹ khẽ lắc đầu, nói chỉ còn một thằng thôi, thằng này tháng nào nó cũng đến thăm, cho hai trăm ngàn, tháng nào nó bận không đến thì tháng sau nó cho bù bốn trăm.

Mình ngước lên bức tường thấy bức ảnh cụ chụp chung với nhạc sĩ đại ca được phóng to treo rất trang trọng. Mình biết nhạc sĩ đại ca là bạn chí thiết của cụ từ hồi chống Pháp, hơn nửa thế kỉ chia ly nay cả hai đã gặp nhau, sống cùng thành phố. Trong khi cụ đã tàn tạ, đếm ngày xuống lỗ thì nhạc sĩ đại ca vẫn rất hoành tráng, tiền nhiều như quân Nguyên.

Mình chỉ tấm ảnh cười cười, nói Đại ca không đến thăm anh à ? Cụ  cười hiền lành, nói thằng đó thì tính làm gì. Thời kháng Pháp nó ốm nặng, nằm ở nhà mình cả tháng. Mẹ mình có đàn gà 12 con, lần lượt thịt từng con một nấu cháo cho nó ăn, ăn đến con thứ 12 nó ngước lên hỏi mẹ mình một câu lạnh tanh, nói đây là con cuối cùng à. Thế thôi.

Tưởng đến chết nó cũng không thể quên chuyện đó, chẳng ngờ anh em gặp nhau, nhắc đến chuyện cũ nó không hề nhớ gì, ngơ ngác hỏi gà nào nhỉ gà nào nhỉ ? Đỗ Trung Quân ngồi cạnh, nói chú có biết Đại ca viết hồi kí nhắc đến chú thế nào không ? Cụ lắc đầu nói không, Quân nói Đại ca viết nguyên xi thế này nhé : “ Tôi nhớ ngày đó trong văn công có một anh cán bộ tên là Tý, có làm nhạc..” Chú lừng danh với bài Dư âm trước cả khi gặp Đại ca, đúng không. Bạn bè thân thiết mà nói vậy là không có được.

Cụ cười khì khì, nói nó còn nhắc tên Tý là may lắm rồi. Rồi cụ ngước nhìn ra cửa sổ khẽ thở dài, nói bạn bè mỗi đứa một nết, trách nhau thì trách cả ngày. Mình nhìn cụ thấy thương thương, chợt nhớ chuyện Quân kể năm ngoái chương trình âm nhạc của Đại ca được làm rất hoành tráng, vé bán hai triệu đồng một cặp,  không được Đại ca cho vào danh sách khách mời nhưng cụ vẫn đến. Có người nói người ta đã không mời, anh đến làm gì. Cụ nói chương trình âm nhạc của bạn tôi tại sao tôi không đến.

Cụ đứng rúm ró ở cửa nhà hát không biết làm sao có được cái vé, may gặp Đỗ Trung Quân, anh kéo cụ vào, nói cháu cũng không có vé nhưng cháu xin vào được. Quân xin bảo vệ cho vào, bố trí cụ ngồi một ghế trống, nói chú cứ ngồi đây, nếu có ai đến đòi ghế chú cứ dơ tay lên là cháu vọt tới liền. Cụ ngồi thắc thỏm không yên, hễ có ai tới gần là cụ nhỏm dậy lúng ta lúng túng. Trong khi Đại ca bận rộn bắt tay bắt chân quan khách thì cụ ngồi lo bị đuổi ra khỏi ghế.

Một cặp vợ chồng trẻ đến, nói chú ngồi lộn ghế tụi cháu rồi. Mặt cụ tái nhợt, nói vâng vâng rồi ngồi đực mặt không biết làm gì. Đỗ Trung Qúân vọt đến, nói đây là nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, cụ không có vé. Cặp vợ chồng trẻ  mắt trố miệng há, nói vậy mời chú ngồi, vợ chồng cháu ra sau đứng cũng được, nước mắt cụ dàn dụa, nói may quá may quá…

Quân  nhắc lại chuyện này, nói đó, chú thấy chưa, đời vẫn yêu chú lắm. Cụ mỉm cười lặng lẽ, cất giọng run run hát bài Ru người trăm năm, lời thơ của Trần Mạnh Hảo-Ngủ đi người của anh ơi. Xin nhờ làn gió về nơi em nằm. Anh ngồi thức với xa xăm. Ðến em phải vượt hàng trăm tinh cầu… Cách xa như đất với trời. Ðêm đêm anh lặng ru người trăm năm.

Đang hát cụ chợt dừng lại ngồi yên, nước mắt rân rấn. Mình nói sao thế anh, cụ lặng lẽ nhìn mình, nói tự nhiên nhớ bạn, bạn bè mình nhiều lắm.

NGUYỄN QUANG LẬP (thụyvi post)

Advertisements

“ĐẠO GIA THI SĨ” N.N.NGHIỄM

NGÔ NGUYÊN NGHIỄM

cùng Đạo lẫn Thơ

– TRẦN TUẤN KIỆT

Ngô Nguyên Nghiễm sinh ngày Rằm tháng Sáu Giáp Thân, dưới chân rặng Thất Sơn bờ phù sa sông Cửu Long.

Thơ gần với đạo, nhưng không phải là đạo – Đạo lẫn thơ. Không phải đó là thơ – Thơ xem ra vô cùng nhưng rồi cũng như hạt bụi, bông hoa ở bên ta – Ngô Nguyên Nghiễm đã sống và chiêm nghiệm với thơ cả một đời người – Muốn hiểu về anh, hơn gì hết là mời bạn đọc qua Thơ Kinh Tự của anh – Có lẽ, nhà thơ ấy hơn ai hết ở thời đại này, đã sống chân thật với lương tri của một nhà văn hóa Đông Phương. Những vần thơ duỗi dài như làn gió thiên thu thổi qua những mùa đời giữa cõi trần gian vắng lặng của kiếp người – những vần thơ kiệt tác :

Ngày tháng lang thang tìm bản mệnh

Dưới vầng nhật nguyệt lặng bay quanh

Quả là rất nhiều như những thung lũng, những núi đồi thiên vạn cổ nối nhau thành những hiện tượng thơ vô cùng vô tận. Trong khi đó thì thế giới tinh thần càng ngày càng ngột ngạt, mâu thuẩn xung đột vì tư tưởng Tâm Vật, vì quốc gia chủng tộc, vì tôn giáo, và vì bạo lực toàn cầu của các thế lực của kinh tế chính trị, con người cá nhân bị bóp nghẹt, bị lùa vào cuộc chiến của các chủ trương đường lối.

Thơ không còn nữa ? Câu hỏi từng đặt ra giữa bao người – loại thơ tinh khiết của chân tình người, tự nhiên của đạo ? Ta thấy Ngô Nguyên Nghiễm suốt đời với thơ, với đạo làm người, đạo làm thơ.

Và anh xuất hiện như một loại hoa qùy mọc trên đỉnh Thất Sơn hùng vĩ, âm thầm hứng lấy những giọt sương của Đông phong, của nhật nguyệt. Đọc thơ anh người ta còn như nhớ, như gợi lên đây những lời sấm ký của đức PhậtThầy Tây An, nghe vẳng và trông thấy luồng linh khí của vùng đất địa linh thiêng huyền nhiệm. Cao sâu kỳ bí và trầm tư về cuộc trường sinh tiến hóa của nhân loại như một thiền sư đời Trần, một đạo gia thời chiến quốc còn lạc loài đâu đây giữa thế giới nhân loại… nầy !

Nếu cả một đời làm thơ của ai đó, mà ta chỉ đọc có một hai bài, một vài thi phẩm mà lên giọng giảng đạo thơ, bình phẩm thơ… ắt là không phải và ắt là không làm đúng với thiên chức một người nhận thức về thơ, huống chỉ nhận thức thiên lệch chỉ có một chiều, rồi gán ghép hay đặt cho nhà thơ một cái tội gì đấy, thì thật là lếu láo vô cùng.

Thơ họ Ngô bao hàm tư tưởng mà cũng là tư chất và nguồn cảm hứng vô tận với hồn thi -nhiên vạn đại nó bao hàm mùi đạo lý Đông Phương, giữa giòng định mệnh con người với tạo vật và nhất là giữa nhà thơ và vũ trụ thơ quanh mình. Mọi chiều kích tâm hồn phóng hoạt ra vô vàn hiện tượng muôn màu sắc về thơ, như một nhà tư tưởng thâm sâu mà ta khó lòng dò hết được. Chỉ qua một tập Chớp bể mưa nguồn thôi, đã gặp không biết bao nhiêu giòng thơ tuyệt đẹp như :

‘Có mẹ già đầu bạc như bông’

‘Gánh đời dâu biển’

‘Vài cơn mộng trở mình’

‘Ngậm chút tinh anh’

Thơ anh là một cuộc hội thoại lớn giữa hồ bãi biển dâu của đời người những trầm lặng giữa bến bờ lịch sử. Trên đỉnh Thiền Môn Trúc Lâm Yên Tử, hay trong tư duy hữu thể thời gian mà tại thế chúng ta đã hoá giải được gì giữa những hội thoại, và giữa những mâu thuẩn của tư tưởng ngày nay.

Ngô Nguyên Nghiễm đúng là một đạo gia thi sĩ, một nguồn sống tinh thần với vĩnh cửu, ý thơ như ngọc sáng soi rọi qua màn hư vô huyền hoặc và rất đậm đặt giá buốt tê dại giữa đời.

Anh còn quá nhiều thơ để cho bạn, cho đời đi vào khu vườn kỳ bí. Và, bây giờ xin mời các bạn đồng hành hãy bước vào với cái thế giới huyền nhiệm ấy của những thi phẩm như Hiến dâng cát bụi, Tổ Ấm, Người hành giả và khúc trường ca sinh tử, hay thi tập Thiên thu ca để nhìn thấy qua mơ hồ hình ảnh họ Ngô của Việt Nam có cái gì đó không khác với quan điểm thi ca R. Tagore của Aán Độ là bao nhiêu.

Giá trị tinh thần của Ngô Nguyên Nghiễm đặt nền tảng siêu hình học hiện đại, cũng là nền tảng hóa giải mọi mâu thuẫn trên đời, để cho thơ bình yên chảy xuôi trọn một giòng của nó, qua bờ bến vạn đại. Chẳng khác nào đạo của Khổng Phu Tử tuôn chảy theo giòng sông từ ngọn nguồn ra đến bể Đông vậy.

Và hiện nay ta cũng nhận ra rằng, họ Ngô và rất nhiều bằng hữu đương thời như Nguyễn Tôn Nhan, Triệu Từ Truyền, Nguyễn Lương Vị, Trần Hữu Dũng, Trịnh Bửu Hoài, Nguyễn Bạch Dương, Lưu Nhữ Thụy…. Cả nhà thư họa Trụ Vũ, cả một chàng rất trẻ là Bùi Chí Vinh cũng đã hòa nhập vào dòng thơ lớn mà tuôn trào, mà tạo những lớp lang mới của lịch sử Thơ Việt hiện đại. Nói như một số người nhận định về các trường phái thi ca hiện đại, thì ít nhiều gì đó họ Ngô là người đẩy mạnh hồn thiêng, để tiếng thơ luôn luôn có phong thái của một thi nhân của thời đại, mà Hồ Hữu Tường gọi là Thời Tân Xuân Thu, thơ tràn ngập hương vị và phong độ của một đạo gia khi thì xuất thế, lại cũng có lúc hoà nhập vào thời đại mà ca hát thiên thu đầy âm vọng của huyền nhiệm thể – những vần thơ lung linh đầy mộng ảo :

Nhởn nhơ con bướm muôn năm trước

Còn sống theo ta thật lạ lùng

Những giấc mơ, những hoài niệm, những viễn tượng chen lộn mông lung như cõi mơ hồ hư thực của Trang Chu muôn thuở trước.

Có những vần thơ nhắc gợi cho ta nhớ đến những loại Thi Sơn, kiễu Mê Hồn Ca của Đinh Hùng ngày nọ:

Ta vỗ cánh trôi về ngôi mộ cổ

Luồng khí thiêng ma quái vụt xông lên

Nhưng hầu như nguồn thi hứng nọ, cứ phưởng phất đưa ta vào những vần thơ của các giáo phái từ Phật Thầy Tây An với Sấm giảng đến các Thánh Thất Cao Đài mà chiều chiều ai có từng sống ở ‘phố khuya Nam Việt bên bờ Cửu Long’ (Bùi Giáng) đều có thể nghe thấy và sống lại với nó trong những giờ huyền nhiệm nhất.

Điều kỳ diệu kết tinh lại trong thơ Ngô Nguyên Nghiễm là sự thừa truyền đạo lý và triết học Đông Phương từ Lý Dịch đến Nam Hoa Kinh, đến Hoa Nghiêm, hay Bát Nhã Ba La Mật hình như đang chan hòa trong tinh thần của nhà thơ miền Nam ở vùng Thất Sơn cựu địa ấy.

Và, anh mở ra mười phương trời đất, bát ngát chân tình với thiên nhiên vạn đại, hát lên điệu hòa ca với tạo vật bằng những bài thơ hết dạ tin yêu, hết dạ chân tình.

Lịch sử vẫn lên xuống và dồn bước chân người lữ hành đi về một nẽo, nhưng tâm tình dâng hiến cho thơ của anh thì thiên vạn cổ vẫn còn đó – nó như một tổ ấm trong cõi hồng trần cho những tâm hồn khao khát linh thiêng, huyền nhiệm là điều cần phải có trong linh hồn, mà con người hiện đại hầu như đã cạn kệt tâm linh vì bao trào lưu triết lý duy lý duy vật bạo hành.

Vâng ! Thế giới này có tan tành ra cát bụi thì ít ra một lần ta cũng được vào trong ngọn nguồn mát mẻ và phong vị của thơ.

Nhưng dù sao thì cũng còn đó những âm vang và những cảm thông trong cõi sa mạc trần gian này. Thơ không lòn cuối bất cứ một ai. Có lần Bùi Giáng bảo những bài thơ hay những nhà thơ đẹp như loài chim Phượng hoàng trắng kỳ bí chỉ đậu ở mút mù trên đỉnh Thiên Sơn – hay ta có thể nói là đỉnh Thất Sơn Việt Nam này. Loài chim quí đó hiếm có và trăm năm mới đẻ ra trứng một lần, và chỉ duy nhất một lần ấp nở ra một con, gần như dần dần bị mai một, bị diệt vong. Loài chim qúy ấy ngày nay chợt cất tiếng kêu trên ngọn núi thiêng, để đáp lại cho sự mỏi mòn của quê hương chờ đợi – cũng như lời thơ hoằng viễn của họ Ngô vừa xuất hiện hôm nay vậy – có người đem tâm tình viết lịch sử, có người mang cả tinh thần sáng tạo lại buổi bình minh của uyên-nguyên tư tưởng, họ Ngô cũng là một nông dân gieo mạ vàng một lần trên bờ bến Cửu Long, để cho mọi người vui vẻ trước ngày mùa gặt hái bội thu để nuôi sống lại cái vốn tinh thần của dân tộc Việt của văn minh và thi ca Việt hôm nay và mai hậu.

Nói đến đây ta bỗng nhiên chợt giật mình? Thế giới nhân loại không sống như đời sống tâm linh của ta. Ta bị tha hóa chăng ? Hay là ta lạc hậu giữa nhưng tiến hóa của xã hội, của sinh học, địa cầu vật lý, quang lượng tử và các cuộc cách mạng công nghệ, trong hệ mặt trời… Vâng, cái thời có chủ nghĩa duy vật, duy lý ra đời. Cái thời chán bỏ tất cả tâm lý và vật chất, chỉ có trực giác và tiềm thức là đúng chân lý, rồi trở về với siêu hình Đông Phương lại chạy theo sự phát triển vũ khí vũ trụ, sinh con trong ống nghiệm, vi mạch điện tử, cuộc nổi loạn của tôn giáo thánh chiến, và cuộc trừng phạt của số đông cùng khổ chống lại bất công xã hội… Từ nguyên tử hiện đại đến hư vô, từ Albert Einstein đến Martin Heidegger, Nieztsche, Saint Exupéri, Camus… Sartre, Trần Đức Thảo và Bùi Giáng và Andre Maurois, Auguste Courte – tình trạng siêu hình (các giả thiết) đều bị vượt… Khoa học duy lý, cả đến Thiền Tông đều thất bại trước thế giới ngày nay….

Liệu thơ với những tinh thần phản phục siêu hình đó có tồn tại nổi chăng ?

Tuy nhiên, chúng ta cũng không th ất vọng quá trước sự đổ vỡ trong ý thức xã hội loài người, và run sợ trước sự thành công choáng ngộp…. Và hết sức duy lý làm tan nát tinh thần nhân bản cao đẹp, khi nào đó con cừu Doly, hay con khỉ, con chồn, cọp beo, và cả loài khủng long được nhân bản, thì con người với ý thức kinh nghiệm, kiểm nghiệm, tiết chế và đồng hoá, nhân loại hóa vạn vật để vạn vật tuân theo tâm trí con người mà phụng sự cho nhân loại bớt lầm than và bớt lỡ lầm gây ra mọi thảm họa! Nói như thế để thấy rằng tiếng thơ ấy vẫn là tiếng nói nhân bản nhân h ậu để vươn đến siêu việt… Và như thế tâm tình nhân loại mới thoát được bao nhiêu trào lưu tư tưởng ức chế mọi mặt – tinh thần đến vật chất, cảm thụ đến tiềm thức hoàn toàn trong một kỷ nguyên ghê gớm nhất cho sự duy lý chưa từng thấy ở những thời đại trước kia! Tất nhiên là trước đệ nhị chiến tranh, và chiến tranh giải phóng, cả chiến tranh chống độc tài, quân phiệt và tôn giáo trên thế giới. Thi sĩ dường như vẫn tự do tồn tại trên thế giới này. Trong đó có nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm.

TRẦN TUẤN KIỆT

Thơ NGÔ NGUYÊN NGHIỄM

TRĂNG SOI HOA NỞ

(Tặng Nguyễn Tôn Nhan)

Trí tuệ nẩy mầm thiên tuế

Khoảnh khắc dừng gót phiêu bồng

Triệu quang niên quay tít quanh hồn

Ngoại thiên chất chồng từng dãy

oOo

Đáy mắt chứa hằng hà quẻ quái

Động rèm thiêng cỏ dậy mơ hồ

Gió lung lay vi khuẩn hoang sơ

Chớp nhoáng soi bờ thu thảo

oOo

Sấm động phạm thiên vỗ áo

Hoàng hoa thiên cổ xuống nghe trăng

Từng hạt Kinh quẫy lá chiều sang

Cát bụi hồ bay lãng đãng…

oOo

Trước mặt đầm đìa sương tả ngạn

(Trùng trùng sương trắng xóa nhân gian)

Dấu chân trâu Lão tử ngược dòng

Hóa ra, phong trần trên nếp áo

Rượu càn khôn rải theo dấu máu

Chuyển pháp luân dưới ngón tay gầy

Hiểu rằng, mát ngọn gió may…

oOo

Sáng nay hoa tường vi nở rộ

Quả khí cầu lăn quanh mộ cổ

Ngỡ ngàng mấy giọt lân tinh

Cháy lân la trời đất vô tình

Rúng động mười phương bằn bặt

oOo

Giày cỏ, tiếng côn trùng lảnh lót

Nạ dòng ngạ quỷ căm căm

Vạch cổ thi soi đậm bóng trăng

Ôm hàn khí sếu hồng bay mất

Đất bừng nở cát vàng bồ tát

Từng bước đi ngọc vỡ long lanh

Rồng bay theo bước Kinh hành

Pháp hoa rải sáng trời tân ước…

oOo

Giở nón chào đuôi trâu biến mất

Lạ lùng thiên địa mảy lông

Cởi áo người, cởi áo trời rồng

Phong thổ thấm nhuần hơi thở

Ngồi, ổn định đầu mây cuối gió

Vùn vụt trời xanh thoát qua thân

oOo

Trải hồn như chiếc kén ngàn năm

Giây phút định thần hóa bướm

Áo rách máng tàn cây xóm vắng

Chờ nhân gian hoa nở trăng soi…

Đêm tháng 3-2000

NHẮC CHI NGÀY XƯA ĐÓ (Kỳ 2)

Nhà văn nữ thụyvi

NHẮC CHI NGÀY XƯA ĐÓ

. tự truyện thụyvi

(Châu, và trường Phan Chu Trinh ngày xưa)

(Kỳ 2 – hết)

…….* Căn nhà ở khu xa lộ ba cất đã xong và mình phải  trở lại Sàigòn để kịp niên học mới.

Biên Hoà – Sài Gòn đứng vói tay cũng tới, nhưng hai đứa tưởng như nghìn trùng xa cách.

……. * Mình học ở Lê Văn Duyệt, năm nay hai đứa cùng thi, tuy không mỗi ngày gặp nhau nhưng nếu hể rảnh thì hắn lại lấp ló đứng trước cổng trường đón mình tan học. Nhìn thấy hắn cứ tà tà, học phất phơ cà ngơ cà ngất là mình sốt ruột, nhiều lần mình làm mặt giận nhưng khi chạm phải ánh mắt thiết tha một trời thương yêu của hắn thì mình tiêu tan giận hờn.

Cuối năm đó mình đậu, còn hắn rớt !  Chuyện xảy ra từ đoạn này.

…….* Hôm đó, sau khi tan lớp cua Lý Hoá, mình phóng xe vừa quẹo ra đường Hồng Thập Tự thì…Trời ! một ông tròn vo như cái lu chạy xe đạp đâm đầu vô… Rầm. Hết biết, người quay lơ, cày xuống đường, tay chân tóe máu. Anh chàng đi xe đạp kinh hãi, lính quýnh, kéo mình vô trong lề đường, vài ba người bu lại, lao nhao chỉ chỏ cho biết đàng kia có một phòng mạch, thấy anh chàng tròn vo loay hoay với hai chiếc xe, mình xộc xệch chân thấp chân cao tới đó một mình.

Sau khi khâu mấy mũi ở lưng bàn tay, trong lúc ngồi nghỉ mệt, thấy ông tròn vo ngồi đối diện dòm qua cười méo mó. Chiều, mình được chiếc xích lô máy chở về cùng với chiếc Honda.

Đêm đó mình mẩy mình đau đớn ê ẩm. Bên ngoài trời mưa tầm tã, hình như dự báo thời tiết  báo tin cơn bão lớn đang kéo về đâu đó ngoài khơi Vũng Tàu. Mình nằm im trong đêm tối mênh mông nghe tiếng gió ào ào, tiếng sấm chớp, tiếng nước mưa xối xả trên nóc nhà, tâm hồn mình thả trôi  theo từng kỷ niệm của một cuộc tình nồng nàn, lãng mạn thật trong sáng đầu đời, bỗng dưng mình nôn nao và nhớ hắn, thôi thúc ước mong có hắn bên cạnh lúc này, ngay bây giờ – có lẽ từ ngày quen hắn đến nay, đây là lần đầu tiên mình cảm thấy thật lẻ loi trơ trọi, mình ngủ chập chờn, mình kéo nỗi buồn quạnh hiu theo mình vào trong giấc ngủ nhiều mộng mị.

…….* Trong lúc mấy ngày gió bão nhổ bật từng cột điện, từng gốc cây bên lề đường, nó cũng nhận chìm mình vào cơn sốt thương hàn mịt mù, cổ họng mình đắng ngắt, đầu như đeo đá, tay chân nhức nhối cảm giác bồng bềnh. Nhờ mấy liều thuốc của ông chú Bác sĩ và món cháo giải cảm của bà vú Ù mà mình khoẻ lại từ từ. Trong lúc này hắn đâu?

Cơn bão chưa tan thì hắn xuất hiện. Mặt hắn có chút bơ phờ sau mấy ngày người Mẹ phải nằm bịnh viện. Gặp mình, hắn kinh hoảng. Sao vậy em?  Mình đọc thấy trong đáy mắt hắn là sự ân hận xót xa như muốn gánh chịu hết nỗi đau của mình và đôi mắt vời vợi một trời yêu thương của hắn đủ cuốn phăng hết mọi thứ đau đớn mệt mỏi buồn phiền mà mình chịu đựng suốt mấy ngày nay.

Khi hắn đặt cái gói giấy đẹp, mềm, lên tay mình, sợ mình đau, hắn vuốt nhẹ những ngón tay như dỗ dành “Cái này của em, lụa Hà Đông dệt tay…” Đang nói, bỗng dưng hắn dừng lại, rồi không nói nữa. Mình thấy hắn nhìn trân vào bàn tay bị thương của mình, đôi mắt nhìn lâu vào ngón áp út. Hắn im lặng tần ngần một hồi rồi nhìn mình nói nhỏ, giọng dứt khoát “Anh về ! ” và hắn đứng lên quay lưng đi thật mau ra cửa.

M  ình còn đang ngơ ngác. Trời !  Chợt nhớ ra, định kêu lại để giải thích, nhưng bóng dáng hắn mất hút, thấy hắn vô lý mà mình choáng người đến bàng hoàng. Nhưng mình không làm sao quên được khoảnh khắc hắn nhìn mình, ánh mắt hắn tối sầm lạnh tanh.

Không biết xui khiến gì để anh chàng tròn vo hôm nọ tông vô khiến tay mình đổ máu, lại còn làm chiếc nhẫn bay biến mất tiêu. Mất gì sao không mất, lại mất đi chiếc nhẫn của hắn tặng ?

Suốt hơn mười ngày, hắn mất hút, chưa bao giờ hai đứa lại vắng nhau lâu, tuy trong lòng mình còn ngút ngàn nỗi giận, nhưng hình ảnh hắn vẫn chói chang sừng sững cao lớn trong đầu. Mỗi ngày, lúc tan học, lòng mình hồi hộp. Hắn đang chờ ngoài cổng ? Hắn bặt tăm, trôi tít tắp phương nào. Lòng mình chùn xuống, thoáng chút tủi thân, rồi lại tự dỗ dành mình, có lẽ hắn đâu đó gần lắm đang dõi mắt theo. Có lẽ…Có lẽ…

Trong lúc mình không chờ đợi thì hắn xuất hiện ngay sát bên cạnh. Hắn ốm nhom râu ria phủ đầy mặt, mình rưng rưng trong lòng vừa mừng vừa tủi và hân hoan trong nỗi vui bất ngờ. Có lẽ cả hai thấy giận nhau cực quá, khổ quá, lận đận quá, vì thế khi gặp nhau không ai muốn nhắc nhở trách móc gây huyên náo lại chuyện vừa qua, nhưng mình cũng nhận ra trong ánh mắt vời vợi một trời thương yêu của hắn có thoáng một chút gì đó thật buồn.

….* Hai đứa gặp nhau gần như mỗi ngày. Vẫn là những chăm chút thương yêu, những lần chỉ có hai đứa, hắn thường ôm choàng để ngực của hắn làm ấm triền lưng của mình, hắn vùi mặt phả hơi thở vào mái tóc mình, cứ như thế và im lặng. Mình biết hắn không cần phải nói. Tấm lòng của hắn đã trải phẳng phiu trước mặt mình. Trái tim của hắn mở cho mình thấy như cuốn sách được lật từng trang.

Thế nhưng cuộc đời đâu phải chỉ là những chuỗi dài mộng mơ tuổi nhỏ, cho nên mình ý thức được hai đứa cần phải có sự nghiệp, nhưng hắn thì như không cần biết khiến mình cứ băn khoăn. Có lần mình đem điều đó nói với hắn thì hắn chỉ cười cười với giọng bỡn cợt  “Lương trung sĩ, anh nuôi nổi em mà, phải không?

…….* Hôm nay Chủ Nhật, nhằm mùa măng cục, hắn rủ mình lên Lái Thiêu vừa ăn bánh bèo vừa mua trái cây, mình kêu hắn chờ rồi hớn hở chạy lên gát thay quần áo, đi ngang cửa sổ nhìn ra, đột nhiên nghe tiếng gọi “Cô bé !” Mình khựng lại, thò đầu gắt giọng hỏi “Hả ?” Gã hàng xóm giơ cao quyển sách “Trả cho cô bé” Mình đi vòng ra phía balcon vói tay lấy quyển sách, nhưng gã hàng xóm muốn làm quen cứ đứng bên kia balcon ê a kéo dài câu chuyện khiến mình vừa sốt ruột vừa bực mình, đang lúc mình tính bỏ vô nhà khép cửa thì nghe một tiếng động thật mạnh, nhìn xuống thấy hắn nhìn lên – không nói gì, ánh mắt rực lửa. Hắn phóng xe ra cửa như mũi tên, bay vút.

Nhớ tới cơn ghen của hắn mà mình ghê người. Cơn ghen như nham thạch vỡ tung, sôi trào, nóng bỏng. Lần đầu tiên mình thấy lo sợ, không phải sự lo sợ vu vơ, mà mình lo sợ cho những tháng ngày sắp tới. Mình biết rõ hắn thương mình lắm, thương cho đến nỗi chỉ muốn mình là loài tầm gửi quấn quít bên hắn hay chỉ là quả trứng mong manh mà hắn nâng niu che chở. Thật sự bây giờ mình cảm thấy có chút mệt mỏi và có chút muộn phiền.

……..* Hai đứa vẫn gặp nhau, nhưng thiếu mất vẻ hồn nhiên. Hắn trầm lặng hơn, và đã bắt đầu hút thuốc. Còn mình lại càng ít nói, và càng tránh né những chuyện không đâu để khỏi bị những điên rồ ghen tuông của hắn bột phát. Những lần chỉ có hai đứa với nhau, bao giờ hắn cũng thích ôm choàng lấy triền lưng, xiết chặt và vùi mặt trong dòng tóc của mình, bao giờ hắn cũng im lặng nhưng bây giờ lại có thêm tiếng thở dài. Tiếng thở dài của hắn khiến mình muốn khóc và thật là xốn xang, nó lay động trái tim mềm yếu của mình.

……..* Hắn rớt. Mình đậu. Kết quả đương nhiên vậy, nhưng khi nó đến thì mình lại áy náy không yên.

Khi hắn đến chúc mừng, mình nói thật thà, không hề có ý dỗ ngọt hay an ủi, mình dứt khoát, giọng thản nhiên “Em vẫn là của mình anh” Hắn cười, đôi mắt long lanh như có nước, hơi thở hắn ngan ngát mùi thuốc lá, mùi rượu, cả mùi cay đắng nữa. Mình thương hắn và đang chờ đợi lời cầu hôn.

……..* Sau ngày đó hắn với mình càng ngày càng ít gặp nhau. Hễ gặp nhau thì không có gì vui. Mình khổ sở hụt hẫng nhất là hắn đã đánh mất lòng tự tin và ý chí. Bởi vì trong lòng mình hắn lúc nào cũng là cây tùng cây bách là cây cao bóng cả chở che cuộc đời mình. Vậy mà hắn bỏ cuộc, buông xuôi chỉ biết bám viú phung phí thời gian vào những chuyện không đâu. Không có người nào dạy mình  phải làm gì để gỡ rối cái mớ bòng bong này. Mình cứ trôi đi trong sự tự kiêu của một đứa con gái và hắn trượt dài trong sự bất đắc chí của một đứa con trai.

Cái kiểu tự ái thơ dại của hai đứa đã làm thương tổn lẫn nhau rất nhiều, mặc dù mình biết rõ trong trái tim hai đứa đều quặn thắt và có cùng nỗi đau đớn như nhau.

……..* Hôm đó, mình đang thơ thẩn trong nhà, bỗng có tiếng chuông kêu cửa, tưởng là hắn, mình vui sướng nín thở chạy ra, bất ngờ, trước mặt mình là một người đàn ông trong chiếc jacket da màu đen, bên cạnh là chiếc xe gắn máy nhiều phân khối, đang ngờ ngợ thì người đó vừa cười vừa lột cặp mắt kính ra, mình bật miệng kêu lên ngạc nhiên “Chú Duy !” Rồi mừng rỡ tiú tít hỏi dồn “Chú về hồi nào ?” Chú dí dỏm “Chú vừa về, là đến ngay trình diện ! ”

Khi chú với mình ngồi đối diện nhau, mình thấy chú có vẻ rắn rỏi hơn, đặc biệt chú có nụ cười thật ấm,  mặc dù chú kể những chuyện thật ý nhị lý thú – đưa mình tới những xứ xở văn minh hiện đại xa xôi  bên kia bờ Thái Bình Dương tít tắp nơi kia, nhưng mình nghe mà đầu óc cứ lo ra, trong bụng thì phập phòng bồn chồn không yên vì nếu hắn xuất hiện trong lúc này thì trời long đất lở !

……..* Trời chưa long, đất chưa lở nhưng trái tim mình nát bấy. Ngày lễ Hai Bà Trưng, nghỉ ở nhà, không biết làm gì, buồn, mình ghé thăm người bạn cũ ở Biên Hoà lâu rồi không gặp.

Người bạn gái này hiền lắm, vì hoàn cảnh nên phải bỏ học đi làm, hai đứa huyên thuyên kể lể những chuyện vụn vặt xưa thì cô bạn vô tình khoe mình tấm hình sinh nhật của một người bạn hôm tuần rồi “Có anh Châu nữa nè” Mình đưa lên lướt mắt và nhìn sững vào một cô gái khá đẹp, có mái tóc thật dài và nụ cười thật tươi, đứng sát và dường như âu yếm  muốn tựa đầu vào vai của hắn, mình chỉ vào cô gái, ngón tay run nhẹ “Người nầy là ai vậy Trúc ?” Cô bạn khựng lại, ngập ngừng “ Quỳnh Xuyến”. Chới với. Mình biết cô gái đó là ai.

……..* Suốt mấy ngày, mình không thể làm gì, cứ ra vào quay quắt ray rức bơ phờ. Tấm hình hắn và cô bồ cũ thân mật chụp chung làm tràn ly nước mâu thuẫn đã đầy. Mình vẽ ra trong đầu những hình ảnh họ bên nhau và mê man trong đau khổ vô bờ. Thường, khi xúc động thì mình  nghẹn ngào. Bây giờ mình đang xúc động dữ dội như cơn địa chấn mà cặp mắt mình ráo hoảnh tái tê, nếu mình có thể khóc  thì lồng ngực của mình sẽ nhẹ bớt phần nào sự chịu đựng quá lớn này.

Trong thâm tâm, mình mơ hồ mong đợi một lời giải thích, và một câu nói thẳng thắn, nhưng bây giờ hắn ở đâu ? Mình có lỗi gì !

……..* Vì không muốn bị đốn gục. Ngoài một trường đại học chính thức, mình còn theo học ở QGÂN & KN. Có lẽ nhờ mình thất tình nên Sàigòn mới có thêm một người làm thơ. Mình bắt đầu lò dò lên sân khấu, xuất hiện trong vài vở kịch của trường ! Mình vẫn còn lặng lẽ ra đi vào mỗi buổi sớm mai và lặng lẽ trở về vào mỗi buổi chiều, cuộc sống tại sao phải lặng lẽ vậy hả trong khi  thấp thoáng chung quanh mình đang  có nhiều ánh mắt ngưõng vọng muốn làm quen.

……..* Trong một lá thư. Chú Duy ngỏ lời cầu hôn thật độc đáo, chú viết : Nếu Vân Hồng gật đầu, chú sẵn sàng cung nghinh thánh giá ! Mình không bất ngờ, vì sự nhạy cảm của một người con gái mình đã đoán được cái tình cảm này từ lâu.  Những lá thư gửi mình, chú hay gọi: Nàng yểu điệu thục nữ. Cách gọi này, sao bây giờ dễ làm mình rơi nước mắt!

…….* Có lần mình đi với chú Duy đến dự buổi ca nhạc do bác VĐP tổ chức ăn mừng đã kiếm được cô công chúa Phi Châu lạc loài. Đêm đó, lần đầu tiên mình gặp nhạc sĩ Anh Thy tác giả những bản nhạc về lính biển, cũng như được gặp lại những người bạn chí thiết một thời của gia đình. Sau khi trở về, mình ngủ say trên gác. Có ai lắt nhẹ chân mình, tiếng bà vú Ù thì thào “Cô, có cậu Châu” Mình bật dậy lẹ làng “Đâu ?” Vú Ù chỉ tay ra cửa, thì thào “Cậu đứng ngoài đường, không chịu vô” Mình hồi hộp đi tới  cửa sổ, bên dãy nhà đối diện, có dáng người nhập nhoà trong bóng đêm, cái đốm lửa sáng quen thuộc bùng lên đủ để mình nhận ra là hắn. Lòng mình mềm lại, nhưng tánh tự ái và kiêu hãnh kéo mình trở vô nhà với đầu óc ngổn ngang, vú Ù chậm rải “Cô à, cậu Châu đứng đó đã mấy đêm rồi, lúc đầu tôi tưởng là ăn trộm rình nhà mình, hồi tối này tôi làm bộ đi đổ rác, đi ngang dòm ai dè là cậu Châu, tôi mừng quá sức, mời  vào, mà cậu chỉ lắc đầu nói cám ơn” Nghe xong mình hốt hoảng chạy ra cửa, nhưng chỉ thấy bóng đêm mịt mờ.

…….* Ngày lên đêm xuống. Mình chờ đợi mỏi mòn. Phải chi lúc đó mình trầm tỉnh hơn, trưởng thành hơn, có lẽ mình sẽ  không ngại ngùng đi tìm hắn để nói hết những điều từ trong trái tim của mình muốn nói, nhưng, lúc đó mình nông nỗi quá, hờn ghen quá, tự cao quá, háo thắng quá, để rồi thất lạc nhau.

……* Mình khóc. Những giọt nước mắt cay đắng mà không một ai hay.

……* Trong lúc mình gần như yên ổn thì nó lù lù lại đến và khuấy động tâm trí mình lần nữa. Mình nhận được lá thư của hắn, dấu bưu điện Nha Trang.

Suốt hai trang giấy đầy đặc chữ của hắn, chỉ là những lời hỏi thăm, kể chuyện, chừng mực như của một người bạn sơ giao. Mình buông lá thư xuống, hồi lâu mới đọc lại, cũng vẫn chỉ là những dòng chữ vô hồn nhạt nhẽo vô tình, một lá thư mình không hề mong đợi chút nào.

Sau những tháng năm lận đận đau khổ mệt mỏi thăm thẳm vô tận. Cuộc tình này không còn gì để đền đáp, để gửi trao nữa rồi. Trong lặng lẽ, coi như hai đứa mất nhau từ đây.

…….* Mình đồng ý lấy chú Duy. Tại sao không ? Chú thương yêu mình sâu đậm. Nếu không, sao chú đeo đuổi mình suốt sáu năm trời.

…….* Một lễ hỏi đơn giản, tháng sau sẽ cưới. Thiệp mời đã phát ra, mẹ, cùng bà con họ hàng bận rộn, sắp đặt. Họ muốn nghi lễ này thật hoàn chỉnh, vì mình là đứa con gái duy nhất trong gia đình mà ít nhiều cũng đã làm cho họ hãnh diện. Nhiều người xuýt xoa khen “Trai tài gái sắc” Mẹ không nói gì, ba thì trầm ngâm và hỏi “Con suy nghĩ thật kỷ chưa? ”. Chú Duy hội đủ điều kiện mà những người con gái thường mơ ước. Sao ba lại hỏi vậy ?

…….* Từ Toà Soạn về nhà, ngay quán nước đầu đường, mình vừa quẹo cua, hắn xông ra, chận lại. Hai đứa vào quán. Hắn thay đổi quá, mình suýt không nhận ra. Hắn già dặn phong trần, ngạo mạn. Hai đứa cùng yên lặng, mình nín thinh để nỗi đau cũ nằm im. Mình nhìn vào mắt hắn chờ đợi. Trong đầu hắn dường như  đang dằn co mâu thuẫn, hắn hút thuốc liên miên, ngón tay vàng khè. Khi bắt gặp lại ánh mắt năm nào, mình kềm giữ để trái tim của mình không vỡ toát. Hắn lúng túng giây lâu, nói giọng khàn đặc “Chúc mừng em” Mình nhắm mắt lại để chờ hắn có nói thêm câu nào khác ? Không, hắn chỉ nhả khói đều đều lặng im. Và chia tay. Hai đứa đi thui thủi tẻ ra hai hướng.

…….* Tiệc cưới được tổ chức tại một nhà hàng trong chợ Cũ. Bà ngoại theo nếp xưa, nên mình chọn mặc áo thụng khăn vành. Thường trong ngày cưới cô dâu nào cũng đẹp, mình cũng vậy. Một đám cưới làm nở mặt cho bà con hai họ.

…….* Làm vợ, mình trở nên thuần khiết hơn. Chú Duy và mình đang chờ đón đứa con đầu lòng. Sự nồng nàn chăm sóc, yêu thương vợ chồng, bổn phận, đã phủ trùm, hình như cũng che mất bóng xưa. Mình yêu chú Duy và yêu con còn hơn yêu mình. Chắc không còn yêu ai khác.

……* Có lẽ, cuộc sống và những nỗi lo toan bận rộn. Để không còn mộng mơ lãng du như thời trẻ nhỏ năm nào.

…….* Chú Duy yêu vợ, đằm thắm, say đắm. Thương con nồng nàn. Một người chồng tánh tình khiêm nhường giản dị, luôn mang những điều tốt đẹp đến cho mọi người, thì cuộc sống người vợ phải trôi trong bình an hạnh phúc. Mình đã rất tự hào về điều này.

…….* Chú Duy mừng rỡ chờ đón đứa con thứ hai. Đứa bé chưa kịp chào đời. Ngày 30 tháng 4 biến đổi cuộc đời. Chú Duy quẩy túi nhẹ bổng đi tù, cải tạo !

…….* Cửa nhà bị tịch thu. Tiền bạc chỉ sống đủ vài ba tháng. Đứa con trai đầu lòng vừa mới ba tuổi. Đứa con gái nhỏ chưa đầy tháng. Mẹ con mình làm sao sống đây ?

……* Mình và hai con đã sống qua những ngày tháng ấy suốt bảy năm trời. Làm sao kể hết những nỗi đoạn trường. Chỉ biết trong trùng trùng phiền muộn, cay cực, cô đơn. Và, trùng trùng bất trắc. Mình cảm ơn mình. Mặc dù mình sống chưa thoả hiệp với xã hội mình phải sống. Không ít lần đã bị đói. Trái tim mình vẫn nguyên khôi, không bán !

…….* Ngày 25 tháng 6 năm 1982. Người tù cải tạo tên Lê Duy được thả.

……* Chú Duy điềm đạm tuy có phần ít nói, nhưng chú có một tấm lòng rộng như biển, biển chú bao năm êm ru say đắm đời mình. Ra khỏi nhà tù, chú rơi vào cõi khác, ngột ngạt hơn, nên thường tức tối nghiến răng, biển trong chú dậy sóng dữ dội, khiến mình bao lần mình phải khóc – trong nhà không một ai hay.

……* Một người đàn ông bất đắc chí thật là dễ sợ. Trái tim người vợ lặng đi như bất lực.

Bảy năm. Từ lúc đất trời nổi cơn gió bụi. Một mình, cõng hai con. Sóng to, gió lớn nào mà mình chưa vượt qua. Núi cao, đường dài thăm thẳm nào mà mình chưa trèo tới. Gánh nặng và sự thương nhớ chồng làm kiệt quệ sức lực người đàn bà. Nhưng cho tới hôm nay, ngay bây giờ, mình tuy có  khóc, những giọt nước mắt rơi trong lặng thinh nhưng nhất định không đánh mất chính mình.

……* Mình trở lại Biên Hoà, thọ tang ông cố. Mười lăm năm rồi, có lẽ ? Cảnh thì cũ, người thì mới. Chiều hôm đó, hòm xuống huyệt trong màu trời hiu hắt, nước mắt mình cứ ràn rụa không thôi, lòng buồn rười rượi bâng khuâng. Căn nhà trở nên vắng vẻ thê lương. Bây giờ mình cảm nhận thật thấm thía cảnh sinh ly tử biệt, đời sống mỏng manh, cái lẽ phù ảo này nó làm người ta phải đau nhói từng cơn. Mình bùi ngùi chậm rãi lật xem những tấm hình xưa, nó gợi cho mình nhớ những yêu thương sâu đậm những tháng ngày hạnh phúc đó.

Bỗng có tiếng động nhẹ, mình chưa kịp quay lại thì có tiếng kêu nhỏ lắm “Vân Hồng !” Tiếng kêu đã làm mình rợn người. Rất nhanh, mình biết, là hắn! Bản năng thôi thúc, mình nhìn lên, vừa chạm vào đôi mắt đó, giống như mới vừa hôm qua, hôm kia, đôi mắt vẫn vời vợi một trời thương yêu. Giây phút sững sờ không mong đợi nó khiến mình ngơ ngẩn thật lâu, cố dằn cơn xúc động. Không kềm được, như tủi thân, mình bỗng oà khóc. Hắn nhỏ nhẹ an ủi “Người già ai cũng phải ra đi, em đừng khóc”. Bao nhiêu năm rồi Trời ạ, vậy mà vẫn còn ngộ nhận ! Hai đứa cùng tránh né không dám chạm vào nỗi đau của nhau, chỉ nói với nhau những chuyện bâng qươ, những câu rời rã, đôi lúc không nói gì thì yên lặng thở dài thật nhẹ, nhẹ lắm.

Lúc đưa hắn ra cổng, đi ngang qua chỗ năm xưa hắn đã ôm và hôn mình. Thấy hắn có chút ngập ngừng, còn mình đứng yên lặng nhìn theo, như một bức tượng thật cô đơn.

…….* Khi biết sáng nay mình sẽ trở về Sàigòn bằng chuyến xe lửa, hắn rủ mình đến một nơi của hai đứa – Là người bạn đã chia những nỗi vui thân thiết của hắn và mình – Quán Tuyệt còn y nguyên nhưng quá củ kỷ, cũng như mình với hắn cũng quá đỗi cổi cằn.

Mình yên lặng để nghe những hồi ức êm đềm, những chông chênh cuộc đời đang hỗn độn trong trí nhớ, mình lan man chắp nối vì mình có biết bao nhiêu chuyện để kể với hắn mà không biết phải bắt đầu từ đâu, mình cúi đầu bối rối hớp ly café sửa nóng và bồi hồi ngắm nhìn lại khung cảnh mênh mông tình đầu.

Có lẽ hắn không chịu đựng được cái không khí im ắng buồn này, hắn gợi lại những hình ảnh thân thương năm nào, hắn chỉ cho mình thấy chổ ngồi mà lần đầu tiên hắn gặp mình thật tình cờ…Rồi hắn say sưa kể lại chuyện xảy ra ngày hôm đó khi hắn gặp một cô gái xa lạ, xinh đẹp, mong manh, đang tinh nghịch với chiếc muỗng, và loay hoay với ly sâm bổ lượng trên tay, cái hình ảnh thật dễ thương một cách lạ lùng và hắn cũng thố lộ đã yêu mình từ giây phút đó. Hắn nhìn mình, nói như trối “ Anh thương yêu em, và chỉ một mình em cho đến bây giờ”   Mình chấn động. Lời tỏ tình cầu hôn trễ tràng gần hai mươi năm !  Mình hỏi hắn, lòng đầy giận dỗi “ Anh đưa em đến đây chỉ để nói mấy câu này ?” Hắn nín thinh, đưa bàn tay trái ra cho mình thấy chiếc nhẩn kiểu mắc trúc năm nào mòn vẹt vẫn ôm chặc ngón tay áp út của hắn. Mình muốn đổ gục và chết liền. Nhưng mình ngồi cúi đầu, nước mắt lả chả không dám ngẩn lên.

Hắn dắt mình lên toa tầu, dúi vào tay mình một giỏ trái cây và một hộp giấy. Hắn bóp nhẹ bờ vai gầy guộc của mình, và dường như muốn ôm choàng lấy triền lưng xưa, nhưng hắn đứng im hồi lâu, không nói gì và quay lưng. Qua màn nước mắt, mình thấy hắn đi thật nhanh. Mình nhớ ra chưa kịp nói gì với hắn, một lời nói tạm biệt. Mình nhìn theo cho đến khi không còn thấy hắn.

Mình khẻ khàng mở chiếc hộp. Cầm lên xấp lụa màu nắng, kèm theo tờ giấy : “Của em, lụa Hà Đông dệt tay”

……… Thêm hai mươi năm nữa lại trôi qua. Em như cánh chim mất tăm biền biệt. Viết đoạn rời này cho anh, sau khi em trở về, một mình trong thành phố, bước tới nơi nào, em cũng hình dung ra được tấm lòng của anh, là tình yêu, là thương yêu… “Có những vợ chồng, không là trăm năm, mà là yêu thương” Chúng ta có lần đã thấm thía câu thơ, và không ngờ lại vận vào cuộc tình anh thường nói không bao giờ có đoạn kết. Có lần, mấy đứa bạn của chúng ta, gặp em “Vân Hồng ơi, tóc Châu bạc trắng !” Em im sững, lòng rưng rưng, trong bụng miên man : Nếu Trời cho chúng ta còn sống, thì dù có thêm vài chục năm nữa, tình cờ gặp lại, em cũng nhận ra anh nữa là. “Vân Hồng ơi, ta thấy Châu khóc, đàn ông  rơi nước mắt đau lắm phải không, mi ?”. Một người con gái phụ bạc, vô ơn, hơn ba mươi năm rồi mà anh còn rơi nước mắt thì há chẳng phải là ân sủng tuyệt diệu mà Thượng Đế đã dành cho em sao ! Biết đâu, có thể, đó chỉ là hạt bụi vướng rơi trong mắt của anh, nhưng em vẫn thấy bao nhiêu nỗi vui sướng vây quanh như lần đầu tiên em nhận nụ hôn do anh mang tới.

.  thụyvi ( Hầm Nắng, cuối tháng 4 – 2010 )

Nhà văn nữ thụyvi

NHÀ VĂN NỮ THỤY VI

thụyvi tên thật Nguyễn thị Vân Hồng. Tốt nghiệp trường ĐH Luật Khoa, Văn Khoa và Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ.

Vào năm 15 tuổi, đã được tờ báo Sống của Chu Tử đăng thơ và truyện ngắn. Theo thụyvi kể, lúc đến nhận nhuận bút, nhà văn Chu Tử đã ngạc nhiên vì thấy cô bé xíu. Từ đó ông có cảm tình và đặt cho bút hiệu thụyvi (đặt biệt nhà văn Chu Tử khi viết tên thụyvi thì cách viết hai tên dính lại không hoa, có lẽ ông thấy cô còn con nít nên viết vậy chăng? ) Tuy nhiên vì lòng kính trọng một nhân cách lẫm liệt của nhà văn lão thành, nên sau khi ông mất, thụyvi giữ kiểu chữ này như một kỷ niệm đáng trân trọng.

Trong thời gian lui tới các toà soạn để nhận nhuận bút, tình cờ thụyvi được nhà văn Linh Trang thương như con gái và sau đó bà đã nhận thụyvi làm nghĩa nữ, đặt tên gọi là bé Diễm.

Cha mẹ cô ly dị hồi cô mới 6 tuổi. May mắn cô được ông bà Ngoại thương yêu và gửi cô vào trường đạo  nội trú suốt những năm Tiểu học.  Có lẽ do cám cảnh chuyện gia đình của một cô bé dễ thương, nên nhà văn Nhất Giang đã viết một cuốn truyện kể về một đứa bé mồ côi và đặt tên cuốn sách là THỤY VI.

Thụyvi vừa đi học vừa viết lai rai cho các tờ Tuổi Ngọc, Tuổi Hoa. Lớn lên, thụyvi viết cho tờ Công Luận, Màn Ảnh, Kịch Ảnh ( có giữ trang Phụ Nữ & Sắc Đẹp ) ký bút hiệu là bà Huyền Trinh.

Khi đang theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ ở khoa Thoại Kịch, thụyvi được vinh dự chọn đóng vai Mộng Cầm cho vở kịch nổi tiếng Hàn Mặc Tử, được giải Văn Học Nghệ Thuật của Tổng Thống vào năm 1970.

Sau đó thụyvi tiếp tục cộng tác với ban kịch Trương Đình Hầu, ban kịch Hoa Lư, Thụy Vi, Đắc Lộ… ( Những ban kịch diễn cho giới HS & SV ) Thời gian này, thụyvi thử có dịp góp mặt với những vai nhỏ trong các phim Như Giọt Sương Khuya, Mẹ.

Là đứa cháu ngoại hiếu thảo, lúc nào cũng nghe lời khuyên dạy của ông Ngoại,  nên chỉ một thời gian ngắn, thụyvi mạnh dạn rời bỏ con đường Văn Nghệ và chuyên tâm đi học.

Sau khi tốt nghiệp Đại Học, thụyvi trở thành Giáo Sư Đệ Nhị Cấp dạy học tại các trường Mạc Đỉnh Chi, Đoàn Thị Điểm và các trường tư thục tại Mỹ Tho.

Hiện nay thụyvi đang sống tại hải ngoại, viết đủ thể loại như Ký, Tạp Ghi, Thời Sự, Thơ, Truyện Ngắn, Phụ Nữ và cả vẽ tranh

Ngoài bút hiệu thụyvi, cô còn ký những tên như Kha Thụy Vy, Gió Thông, Hạt Huyền, Vân Hồng. Bà Huyền Trinh

Vào Google, gỏ tên thụyvi (đúng kiểu chữ riêng của cô) người đọc sẽ thấy gần cả trăm bài viết, nhưng đến nay, thụyvi chưa có dịp  in tác phẩm nào cho riêng mình.

Chúng ta hãy đọc qua tự truyện sau đây để biết thêm về thụyvi : (truyện đăng 2 kỳ)

NHẮC CHI NGÀY XƯA ĐÓ

. tự truyện thụyvi

(Châu, và trường Phan Chu Trinh ngày xưa)

Nhắc lại, như nhen lên một chút lửa nồng, như tự đốt ngọn pháo bông nở bung ánh sáng đầy màu sắc, như một chút biếc trên những chồi cây sau mùa đông dài dằng dặc, như  con chim nhỏ vui mừng nhìn thấy ánh nắng loang loáng trên vạt lá xanh.  Nhắc lại, bởi những kỷ niệm vẫn còn đó tươi nguyên chói gắt trong trí nhớ của mình…

….*   Năm đó, Sài Gòn có rất nhiều biến động, nhưng biến động trong nhà là cái cớ chính đáng để ba mẹ gửi mình đến nhà ông bà Cố bà con bên ngoại tại thành phố Biên Hoà.

….*  Vì lở dở niên học, ba phải ghi danh cho mình vô trường tư. Ngôi trường có ba dãy lớp nằm xéo xéo cạnh rạp hát, gần đường đi vào nhà ga xe lửa.

…..* Thêm tuần lễ buồn chán trôi qua. Ngôi trường lạ lẫm chưa mang đến cho mình một tình cảm hay xúc động nào, những giờ học bời rời, khiến mình uể oải đâm ra lười, cứ trông về sớm…  Ông giám thị bước vào báo tin – Không có GS. Trời ! cả lớp mừng rỡ la ó, ồn ào tuá ra. Được thoát khỏi cái hộp nóng bức ngột ngạt chật chội, mình phơi phới, muốn kiếm gì đó uống, sinh tố ?  Sâm bổ lượng ? Bên kia đường có quán tên Tuyệt, mình lẹ chân bước vào.

Quán hôm nay vắng, mình chọn ngay cái ghế gần cửa sổ có những chùm hoa như điểm xuyết thêm vẻ đẹp của mái vòm kiểu cổ. Trong khi chờ, mình đảo mắt ngắm những khung tượng, tranh sơn dầu bày biện rối rắm nhưng mỹ thuật chung quanh.  Bỗng, chạm phải ánh mắt của một gã thanh niên ngồi khuất đàng kia, bất thình lình bị bắt tại trận, hắn lúng túng cười cười, mình giả lơ, làm bộ không thấy.

Quán là ngôi biệt thự nhỏ, nằm khuất sâu bên trong con ngõ cụt phủ màu lá xanh um thật mát, tách biệt với nhịp hối hả bên ngoài và dường như mọi tiếng động bị chặn lại bởi vòng tường cũ kỹ bao quanh. Khung cảnh yên ắng lạ thường, nghe rõ cả tiếng rì rào của gió, mình tinh nghịch khuấy mạnh cái muỗng trong ly nước, lắng nghe những tiếng ròn rã lanh canh thật vui tai. Mình bật cười, thích thú say mê với trò chơi ngộ nghĩnh. Chợt nhớ ra, mình xoay người, gã thanh niên còn ngồi đó, tự nhiên mình đâm ra lúng túng, thiệt ngượng, ngồi một chút rồi trả tiền đi ra. Ly sâm bổ lượng có kịp uống gì đâu, còn y nguyên.

….*  Mấy ngày sau. Vừa băng qua đường. Bóng người chận ngay trước mặt. Ngó lên. Hả ?  anh chàng gặp trong quán nước ! Gì đây ? Hắn cười cười nói tỉnh queo “Tôi là Châu, cho xin làm quen, cô bé ?”

..…..*  Hai đứa quen nhau từ đó. Rồi thân nhau. Mình đã sa vào cái bẫy êm ái lãng mạng của hắn hồi nào không hay.

……..*  Một ngày, hắn tặng mình bài thơ.

Em, nai vàng

Nắng ngập lối đi hoang vùng sa mạc

Loài hải âu lạc lõng hướng ân tình

Trời một phương, điệu nhạc đại dương

Hình ảnh những tinh cầu không định hướng

Sáng như mắt em long lanh tiền kiếp

Thâm u rừng tiếp nhận nét khác sơ

Thượng Đế dựng nên đôi bờ mi ngọc

Con nai vàng ngơ ngác giữa chiều thơ….

…..* Bài thơ đầu tiên mình nhận trong đời, rồi từ đó hai đứa thân nhau, và hình như thương nhau. Mặc dù, hắn chưa nói câu tỏ tình nào. Tình yêu không cần nói? Chắc vậy, mình đã đến với hắn bằng sự tin cậy, còn hắn thì hết lòng chở che, phả vào đời sống con gái mình nỗi vui phẳng phiu, hắn làm mình quên đi những buồn bã, bỏ trôi đi những vướng mắc hụt hặc của người lớn. Mình đang thở hơi hạnh phúc và sống thật hồn nhiên như búp màu lá xanh non.

…..* Cậu Ngân mặt mày lơ láo. Ông ngoại qua đời. Đón mình về gấp trong chuyến xe đò trưa nay. Mình bàng hoàng, đứng im sững rồi khóc nức nở.

Đoạn đường về nhà ngoại đâu xa xôi gì, là đoạn đường nối với quốc lộ 4 lên Sàigòn, nhưng đường lộ bị đào xới, xe đò dằn xóc ngả nghiêng chạy như bò…. Cuối cùng, xe tới bến. Mình vội ngóng cổ, vừa thấy tấm bạt che trước cửa nhà, mình điếng hồn, lụp chụp nhảy xuống thiệt lẹ, chạy băng băng, ào vô nhà, khựng lại sững sờ. Giữa nhà chiếc quan tài chưa đóng nắp, sừng sững.

Đêm viếng cuối, chuẩn bị cho buổi sáng di quan. Tiếng chuông, mõ, trống, cùng tiếng ê a tụng niệm nghe có phần bi thiết. Khách ra vô thật đông. Các cậu thay phiên nhau phục linh, lạy tạ. Ngày xưa ông ngoại là một công chức gần lắm với ông Ngô Đình Nhu, đến đây trong chương trình xây dựng Khu trù mật. Làm việc được dân  có cảm tình, cho nên ngoại bỏ Sàigòn đem luôn sạp vải Thọ Lộc của bà ngoại ở chợ Tân Định về đây – vui lòng chọn Mộc Hoá làm quê hương cuối đời. Kỷ niệm ngày xưa, cùng với ý thức về một sự vĩnh viễn chia lìa khiến mình đau như cắt cứ nấm nuối nhìn chiếc quan tài qua làn khói nhang trầm hương dày đặc

Buổi sáng xe tang đưa ông ngoại đi một vòng chào phố chợ lần cuối. Trời buồn lắm, xầm xuống một màu xám, rồi xám ngoét, tối om. Trời muốn khóc ?  Đoàn xe tang hình như chạy nhanh hơn. Nước mưa rơi xuống lộp độp.

…..* Mấy ngày tang lễ qua rồi. Mình lang thang trên phố, chợt có tiếng xe dừng sát bên, bất ngờ thấy chú Duy, chú chào mình “Chú xin chia buồn”. Mình gật đầu, nghẹn ngào không nói được. Chú phân trần “Xin lỗi Vân Hồng chú ở Sàigòn về trễ, không kịp đến viếng tang”. Mình chớp mắt  “dạ … không sao, chú” Chú Duy nhìn mình trắc ẩn nói bâng qươ vài câu rồi từ giã, lái xe đi, mình nhìn theo đầu óc lặng lờ, câu cám ơn còn trong cổ họng, thiệt tệ.

Mấy năm trước, lúc mình còn ở với ngoại, chú Duy là láng giềng, mỗi buổi sáng đi học ngang qua nhà chú, lần nào nhìn lên cũng thấy chú đứng nơi cửa sổ như đang chờ đợi ai.  Có lần vô tình, chạm phải ánh mắt chú Duy, mình vội vàng quay đi và mơ hồ cảm thấy có điều gì đó là lạ !?

…..* Đi thăm lại trường cũ. Mình không ngờ khi trở lại, ngôi trường hình như bé nhỏ hơn, mặc dù dãy lớp học trắng toát vẫn nằm mát rượi dưới bóng lá của hàng điệp già cỗi sù sì. Bên kia tầm mắt là dinh Tỉnh trưởng, ngước mắt lên một chút là ngọn tháp chuông mỗi buổi sáng thường rung leng keng trong màu sương chưa tan loãng. Thành phố sát bên biên giới, nhỏ lắm, đi một vòng đã về chốn củ, nhưng với mình, là một thành phố có bao nhiêu điều để nhớ. Cũng như ngồi đây, trên bậc tam cấp nham nhám của lớp học, để nghe nhớ nhung những kỷ niệm bé thơ. Những khuôn mặt thầy cô bè bạn hiện dần trong trí nhớ. Quên sao được giọng Hà Nội của thầy Hoà. Dáng dấp lịch lãm của thầy Liêng dạy Địa Lý. Thầy Tính dạy Việt Văn. Thầy Nhu dạy Toán. Và thầy Trần Ba hiệu trưởng mà đứa học trò nào cũng sợ… Nhớ những vạt áo lụa trắng như đàn bướm quấn  quít những bước chân tha thướt đến trường. Nhớ và có chút ngậm ngùi. Sao vậy ?  Mình đã lớn, đang bước qua  thời con nít ?  Nhiều lúc tự ngắm mình trong chiếc gương, thấy mình xa lạ,  sung sướng thầm hỏi với chính mình, mình đây sao? Và xúc động đến ngẩn ngơ.  .

…..* Trở lại Biên Hoà. Gặp lại nhau hai đứa kể đủ chuyện không thôi. Khuya lắm, không thể ở thêm. Hắn chuẩn bị về. Ra cửa, hắn níu tay “Đừng đi lâu như vậy nghe em” Mình nhắm mắt, tình chưa !

Hai đứa chung trường, ngày nào cũng gặp. Lúc tan học, hắn ra trước đứng chờ ngay ngã tư, dắt mình qua đường rồi hộ tống tới nhà. Hắn giải thích “Em có quá nhiều cái đuôi, anh sợ !” Mình quay mặt đi dấu nụ cười.

Thường buổi chiều mát trời, hắn xin phép chở mình đi quanh quẩn trong thành phố. Khi thì ghé vô tiệm sách, ghé vô tiệm kem, nói vu vơ rồi đi về nhưng không lúc nào quên mua đem về cho mình vài cái bánh, lúc chùm nho, khi trái táo. Thả mình vào nhà cứ căn dặn không thôi “Đừng học bài khuya quá, nghe em ”.

Mình có một tuổi thơ lận đận, so với bạn bè mình nhát lắm. Hắn thương mình lẻ loi như đứa trẻ mồ côi nên chăm sóc lo lắng cho mình từng chút một.  Mình thầm biết ơn hắn – chàng tuổi trẻ, cao lênh khênh có nụ cười thật hiền và ánh mắt vời vợi một trời yêu thương. Từ đây, mình biết hắn là cái bóng theo mình không rời suốt cuộc đời này…

…..* Tình hình không an ninh, Ba và các cậu phải cắm trại. Cuối cùng mình vô Mộc Hoá ăn tết với bà ngoại. Lúc đưa mình ra bến xe, mặt hắn buồn thiu, dù trước đó mấy ngày, hắn đã cẩn thận sắp sẵn hết cho mình. Mình biết rõ trong đống hành lý lỉnh kỉnh bánh trái thuốc men, đã chất chứa ủ kín trọn vẹn tấm lòng của hắn. Trước khi lên xe, ánh mắt hắn cũng đã bày tỏ hết sự chăm sóc lo lắng của hắn đối với mình, hắn cứ bịn rịn cho tới khi xe lăn bánh. Không hiểu sao mình chợt hốt hoảng, chồm đầu ra chới với ngoái nhìn cho đến khi hắn chỉ còn là một chấm thật nhỏ ở bên đường.

…..*  Đến thăm chị Nguyên, người bạn hơn mình hai lớp, là người hát bản Besame Mucho hay nhất trường. Hai chị em lâu ngày gặp, huyên thuyên đủ thứ, đang nói bỗng thấy chị có chút gì đó thật lạ, như băn khoăn, vẻ như sốt ruột… rồi  biến đâu mất ?  Mình chờ một hồi  thì cửa bật mở và chú Duy xuất hiện, rồi tới chị Nguyên bước vào miệng cười tủm tỉm ! Mình chợt hiểu, thì ra chị Nguyên chạy đi báo tin cho chú Duy ! Mình quay lui ngồi xuống, tuy gặp bất ngờ nhưng vui, thoải mái. Người đàn ông lớn tuổi này gợi chuyện thật khéo, dí dỏm, chịu khó nghe mình lan man chuyện trường lớp bạn bè con nít,chuyện Sàigòn chuyện Biên Hòa, nhưng mình chưa dám kể chuyện về hắn, làm sao dám ?

Lúc từ giã, mình thấy chú Duy tần ngần như muốn nói điều gì và nhiều tháng sau đó, mình mới biết chú đã rời Mộc Hoá đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ .

……* Trước khi về lại Biên Hòa, mình ghé Sài Gòn. Ngủ đêm tại căn nhà cũ, một nếp nhà cổ kính từng là mái ấm quây quần của một đại gia đình hạnh phúc. Là nơi ngày xưa thường rộn lên những tràng cười giòn tan của mẹ cùng các cậu nghịch đùa ầm ĩ. Là nơi mình chào đời, cất giữ ăm ắp những kỷ niệm ngọt ngào từ những bước chân chập chững của mình.

Bây giờ ngôi nhà già lắm, hắt hiu. Tất cả đã tứ tán, mỗi người bay đến nơi chốn riêng của mình. Chỉ còn lại Mẹ, Ba ngập chìm trong những mâu thuẫn của một cuộc hôn nhân bất ý.

Mình bồn chồn muốn trở lên Biên Hòa ngay trưa nay, nhưng khi bước ra khỏi cửa, mình cứ ngập ngừng bịn rịn, mình đưa tay đóng nhẹ cánh cổng, tiếng kin kít quen thuộc thân thương  khiến trái tim mình đau nhói. Mình nhắm mắt  xoa nhẹ cánh cổng cũ kỹ hồi lâu, để nghe cái cảm giác lành lạnh nham nhám trên những ngón tay thấm sâu vào từng sớ thịt. Mình vói lên ngắt một chùm Tigôn đong đưa trước mặt, rồi cúi đầu bước mau qua đường. Không chịu nổi, mình phải quay lại – mình và ngôi nhà lại nhìn nhau buồn bã, mình ráng không khóc mà nước mắt cứ ứa ra, mình ngoắc chiếc xích lô, leo lên, rưng rức nhưng không dám ngoái đầu.

…….* Hắn với mình làm như có hẹn. Vừa vào con ngõ, thấy hắn lênh khênh chạy ra, miệng cười hết cỡ và đón mình với đôi mắt một trời thương yêu.

Bà cố nấu mấy món mà mình thích, tắm táp ăn uống xong, mình chuồi trên giường ngập sâu trong đống mền gối, cảm thấy được an ủi, nỗi buồn như nguôi ngoai. Lát sau mình ngủ hồi nào không hay.

Một tiếng nổ kinh hồn, dựng mình bật choàng dậy ngơ ngác, gạch đá ào ào mù mịt rơi đổ trên đầu phủ đầy trên mặt, mình kịp nghe được tiếng bà cố thét vang thất thần, còn mình như phản xạ vô thức miệng bật lên như tia chớp “ Trời ơi !” trong tiếng đạn nổ xối xả khắp nơi. Mình nằm mẹp xuống chuồi thật lẹ vô gậm divan rồi lết  tuốt vô trong. Trong lúc máy bay rền vang trên nóc nhà, thì ngoài sân tiếng la hét tiếng chạy đuổi huỳnh hụych…

Có trái đạn súng cối lớn rớt trúng nhà ai gần đó nghe như mặt đất rung rinh vang trời lồng lộng tiếng khóc la cầu cưú. Đạn kêu quanh nhà, chợt có tiếng thất thanh “cháy nhà, cháy nhà” mình hé mắt thấy ánh lửa bập bùng lan rộng và ngửi được mùi lửa ngan ngát chung quanh, mình chắc chắn cả nhà không chết vì đạn cũng chết vì lửa, vì tình cảnh này biết chạy đâu bây giờ ?!.. Đạn bắn rát trước cửa, tiếng súng lớn nhỏ, đôi khi nổi lên một lượt, khiến ai nấy co rúm nín thở, mình níu chặt lấy tay bà cố. Những âm thanh hỗn loạn ghê rợn dồn dập như xoáy vào óc, làm tê liệt thần kinh, hai chân mình run như cầy sấy, Ông cố thì thào đứt quảng, tiếng bà cố vừa niệm Phật vừa rên thãm thiết “Ông ôi…chết, kỳ này chết !”

Tiếng súng vẫn tiếp tục nổ liên hồi, máy bay trực thăng vần vũ  trên nóc nhà và quét từng luồng ánh đèn sáng rực, cuồng nộ.  Đạn nổ khắp nơi, hướng nào cũng ầm ĩ …

Sau mấy tiếng đồng hồ nín thở chờ đợi bất hạnh xảy ra, chờ đợi cái chết đang lừng lững đến, bỗng nhiên tiếng súng ào ào giận dữ từ từ thưa dần rồi lẻ tẻ chát chúa rời rạc đâu đó xa xa. Đột nhiên có tiếng réo gọi ồn ào, đập rầm rầm, mình kinh khủng, trái tim đập thình thịch. Bà cố lắp bắp “Ai kêu ?…” Ông cố nín thinh như nghe ngóng rồi mừng rỡ  “Ai như tiếng anh Quí”. Tiếng gọi lúc nảy lại vang lên thúc dục. Hai ông bà run rẩy lập cập bò ra. Tiếng giày khua náo vang động, rồi giọng nói quen thuộc trên đầu “ba đây, con”. Nghe tiếng của ba, mình tưởng chiêm bao, mình được ba kéo ra khỏi chổ núp, lồm cồm đứng lên, cả thân hình loạng choạng đổ nhào, có ai đó lẹ làng ôm ghị lại, ngó lên, Trời ạ, hắn ! Thật không thể nào tưởng tượng, trong lúc tên bay đạn lạc, hắn xuất hiện ngay bên cạnh mình.

Hắn muốn cõng mình thoát ra khu vực này, nói mình leo lên lưng hắn rồi nhắm mắt lại. Kỳ lạ, trong hoàn cảnh hết sức ghê rợn, không hiểu sao, nằm lắt lẻo trên bờ lưng của hắn, đi qua những xác người mà mình lại cảm thấy thật yên tâm. Hắn cõng mình từ nhà ra đến rạp hát, quãng đường thật xa. Khi biết chắc đã an toàn, nhẹ thả mình xuống rồi ôm dìu vô quán. Mình vừa ngồi, thì có nhiều người kéo tới hỏi thăm. Khuôn mặt họ đầy lo âu, thấp thỏm lo cho số phận những người thân còn kẹt trong đống đổ nát.

Không biết do mãnh lực ghê gớm gì mà hắn đã liều lĩnh bất chấp mọi nguy hiểm trong tình hình thiết quân lực trong lúc đạn rơi bom nổ ngút trời và không hiểu bằng cách nào mà hắn đã vượt qua những chướng ngại của khu quân sự, qua bao nhiêu hàng kẽm gai để lọt vô được quân đoàn tìm cho được ba mình để rồi cùng ông đến lôi mình ra từ trong nơi lửa đạn hiểm nghèo.

Lâu lâu nhắc lại, ba khen hắn liều mạng ! Tuy ba không nói, nhưng ba biết chắc chỉ do mãnh lực tình yêu biển cả với con gái của ba  mà người thanh niên này mới liều mình bất kể mạng sống của mình. Ba mình vui lắm, cảm động nữa, cứ khen hoài.

……* Tuổi thơ của mình không có ngày sinh nhật.  Tuổi thơ của mình, một chuỗi đời chật hẹp buồn thiu.  Cho nên, hôm nay – 18 đóa hồng tinh khôi đã làm mình bồi hồi, trái tim vỡ ra với nỗi hân hoan vô bờ, huống chi hắn còn chuẩn bị một bửa thịnh soạn ngoài trời gồm gà nướng, bánh kem, trái cây ….với khá đông bạn học, thầy cô quây quanh hát cười chúc tụng.  Hắn sắm sẵn, chu đáo cho mình mọi bề. Chắc chắn mình đã nợ hắn một món nợ quá lớn. Một tấm lòng.

Gần một năm trời kể từ ngày hai đứa quen nhau. Hắn vẫn chưa nói câu tỏ tình, nhưng đôi mắt một trời thương yêu của hắn khi nhìn mình thì hạt muối cũng xẻ đôi và mình yêu hắn cho nên những múi bưởi mọng chất nước ngọt được chia đều từng phiên một.  Hắn với mình phơi phới hồn nhiên. Mình với hắn có hàng triệu  điều để nhớ, có hàng triệu điều để kể. Từng vòm cây, từng góc đường – nơi nào cũng ghi dấu từng kỷ niệm, nơi nào cũng là tình yêu. Những điều tưởng chừng vụn vặt, bé mọn, nhưng là những dấu yêu vô cùng, một đời, mãi mãi. Chắc chắn không thể nào dễ dàng quên.

……*  Thường thường sau khi mình học bài xong, hắn hay mang tới cho mình một món  gì đó để mình ăn trước khi đi ngủ, đêm nay cũng vậy, lúc mình đưa hắn ra cửa đi về, trong bóng đêm, bất ngờ, hắn ôm choàng lấy mình và ngửa mặt mình ra, hắn áp môi hắn vào môi mình, đầu lưởi mềm mại, ướt và thật ấm của hắn chạm nhẹ và lướt êm say đắm quấn quít hối hả mê man trong vòm miệng, mình như nín thở, ngây ngất, muốn kêu lên chới với, nhưng  tay chân mình mềm nhũn, một cảm giác thật lạ lùng, vừa dịu dàng vừa cuồng nhiệt khiến mình sợ hãi buông hắn ra, vội vã hốt hoảng bỏ vào nhà như người đi trốn.

Từ nơi cửa sổ, mình thấy hắn đứng tần ngần  rồi từ từ lẫn vào đêm tối. Bên ngoài đêm sâu thăm thẳm mịt mù, đêm yên ắng với mùi thơm ngay ngáy của không khí đẫm màu sương. Mình nghe rõ tiếng trái tim đập thình thịch trong lồng ngực, mình lên giường, vùi mặt xuống gối tìm giấc ngủ nhưng không thể nào nhắm mắt, mình nghe niềm sung sướng  hạnh phúc  ùa tới vây quanh. Nụ hôn đêm nay là một ám ảnh sâu đậm dịu dàng nhất suốt cuộc đời này.

…….* Mình ngồi dậy. Một ngày mới bắt đầu. Nghĩ tới lát nữa đây phải gặp hắn, mình thấy có chút mắc cỡ và muốn trốn học ở nhà đắp mền nằm mơ mộng, nhưng nhớ tới nụ cười thật ấm và đôi mắt một trời thương yêu của hắn thì lòng mình lại thôi thúc nôn nao, mình ngập ngừng, rồi quyết định thay quần áo thật lẹ vì biết hắn đang kiên nhẫn đứng đợi nơi ngã tư  ngoài đầu ngõ.

Vừa chạm ánh mắt đầy vẻ băn khoăn và chờ đợi của hắn, mình bối rối ngượng ngùng cứ ngó lảng đi nơi khác. Hai đứa im lặng và đi thật chậm bên nhau, khi hắn ngập ngừng tìm bàn tay mình để nắm dắt qua đường, bàn tay mình run nhẹ trong bàn tay của hắn.

Suốt buổi học sáng nay, tâm hồn mình cứ lang thang đâu đâu ngoài cửa lớp, và trong cái đầu bé tí nhỏ nhoi của mình thì đầy đặc những hình ảnh đêm qua. Hình như chất ngọt của nụ hôn  vẫn còn nồng nàn ấm áp vấn vương trên đầu lưỡi của mình. Nụ hôn đầu đời nó mãnh liệt và say đắm như vậy đó sao. Và trái tim mộng mơ của mình sẽ nói gì với hắn, đây hả?

……*  Mình chưa kịp nói gì thì hắn lên tiếng  “Đi với anh” Mình định hỏi đi đâu nhưng thấy ánh mắt thành khẩn của hắn thì mình ngoan ngoãn lên xe ngồi cho hắn chở. Quán Tuyệt là người bạn thân thiết của hắn và mình. Ngày hôm nay, hắn đeo vào ngón tay mình chiếc nhẫn mỏng manh khắc chạm kiểu mắc trúc xinh xắn. Hắn không hề có nữa lời lãng mạng chỉ gọn lỏn quyết đoán như buộc chặt với nhau suốt đời “Của em” và chiếc kia “Của anh”.

Thường, thì hắn hay quyết định làm những chuyện thật cảm động và bất ngờ cho mình, nhưng hôm nay không hiểu sao mình lại có một cảm giác gì đó rất đỗi hồi hộp.

…….* Ngày mai…

Ba Mẹ đặt con ngã ba ghềnh thác

Gió, thổi quật con về phiá ba

Sóng, đẩy xô con về phía mẹ

Trái tim non bật máu!

Cơn giông lên, đen tím cả bầu trời

Con đứng ở ngã ba

suốt cả một đời

Suốt đời con gọi:

Ba đâu rồi !

Mẹ đâu rồi !….

Trong bất cứ cuộc hôn nhân tan vỡ nào, không nhiều thì ít đều là những cú sốc làm đau lòng những người trong thân tộc họ hàng, mặc dù mình rất gần gũi với bên ngoại nhưng giữa mình với mẹ thì dường như có một khoảng cách vô hình ngăn trở, cho nên khi nghe quyết định mình về sống với ba, mẹ nhìn mình với ánh mắt kiêu hãnh trên khuôn mặt còn rất đẹp. Dù chọn đứng về phiá ba, nhưng con thương mẹ lắm, mẹ biết không ?

(Còn 1 kỳ nữa)

Nhà thơ nhà báo NGUYỄN VỸ

NGUYỄN VỸ VỚI THƠ VÀ BÁO

Nhà báo Nguyễn Vỹ sinh năm 1912 tại làng Tân Hội (sau đổi là Tân Phong, và năm 1945 lại đổi tên Phổ Phong), thuộc huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Cha ông tên Nguyễn Tuyên từng làm quan ở huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, nhưng do chống Pháp nên đã từ chức, còn mẹ ông là bà Trần Thị Luyến. Ngoài ra ông có người bác là Nguyễn Thuyên từng bị quân Pháp đày Côn Đảo, anh họ là Nguyễn Nghiêm, thủ lĩnh phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh ở Quảng Ngãi năm 1930 sau bị giết hại tại tỉnh nhà.

Nguyễn Vỹ từng theo học tại trường Trung học Pháp-Việt ở Qui Nhơn 19241927, rồi gián đoạn vì tham gia các cuộc vận động chống thực dân, sau đó ra miền Bắc theo học ban tú tài tại Hà Nội.

Năm 1934, ông xuất bản tập thơ đầu tiên, tên là Tập thơ đầu. Tập thơ này gồm hơn 30 bài thơ Việt và thơ Pháp. Tập thơ đầu in ra không được nhiều thiện cảm, bị cho là rườm rà. Năm 1937, Nguyễn Vỹ sáng lập tờ Việt Pháp lấy tên là Le Cygne, tức Bạch Nga. Báo này ngoài Nguyễn Vỹ còn có nhà văn nổi tiếng bấy giờ là Trương Tửu cộng tác. Sau do Nguyễn Vỹ có viết nhiều bài viết chỉ trích đường lối cai trị của Pháp nên tờ báo rút giấy phép xuất bản vĩnh viễn. Còn bản thân ông bị qui kết tội phá rối trị an và phá hoại nền an ninh quốc gia. Kết quả ông bị tòa án thực dân tuyên phạt 6 tháng tù và 3000 quan tiền phạt. Ông mãn tù năm 1939, lúc Pháp thất trận khi quân Nhật vào chiếm đóng. Nguyễn Vỹ lại tranh đấu chống Nhật, ông dùng ngòi bút cho xuất bản hai quyển sách chống chế độ quân phiệt Nhật là : Kẻ thù là Nhật bản; Cái họa Nhật-Bản.

Lần này, Nguyễn Vỹ lại bị quân Nhật bắt giam tại ngục Trà Khê (sau này trong tạp chí Phổ thông bộ mới, Nguyễn Vỹ có kể lại những ngày sống trong tù ngục với tựa bài Người tù 69).

Năm 1945, thế chiến thứ hai chấm dứt, Nguyễn Vỹ ra tù, sáng lập tờ báo Tổ quốc tại Sài Gòn, trong ấy có những bài công kích chính quyền đương thời nên chỉ ít lâu sau, báo này bị đóng cửa. Sau đấy, Nguyễn Vỹ lại cho ra tờ Dân chủ xuất bản ở Ðà Lạt, chống chính sách quân chủ lập hiến của Bảo Ðại. Tồn tại chẳng bao lâu, đến lượt tờ báo trên cũng bị đình bản.

Năm 1952, một nhật báo khác cũng do Nguyễn Vỹ chủ trương là tờ Dân ta, sống được một thời gian, cuối cùng cũng bị đóng cửa như các tờ báo trước. Mãi đến năm 1958, ông đứng ra chủ trương bán nguyệt san Phổ Thông, chú trọng về nghệ thuật và văn học, tạp chí này được kể là có nhiều uy tín đối với làng báo miền Nam. Ngoài ra, ông còn cho ra tuần báo Bông Lúa, Tuần báo thiếu nhi Thằng Bờm

Năm 1956, Nguyễn Vỹ được mời làm cố vấn cho chính quyền thời bấy giờ, nhưng chỉ ít lâu sau ông rút lui. Trong khoảng thời gian này ông được phép tái bản nhật báo Dân ta (bộ mới) nhưng đến năm 1965 cũng lại bị đóng cửa và từ 19674 tháng 2 năm 1971, ông qua đời do tại nạn xe hơi trên đoạn đường Tân An (thuộc tỉnh Long An)- Sài Gòn, hưởng dương 59 tuổi. Nguyễn Vỹ chỉ còn chủ trương tạp chí Phổ Thông mà thôi. Vào ngày

Tác phẩm : Tập thơ đầu – Premières poésies (Thơ Việt và Pháp), xuất bản tại Hà Nội, 1934Đứa con hoang (tiểu thuyết) Nxb Minh Phương, Hà Nội, 1936Grandeurs et Servitudes de Nguyễn Văn Nguyên (tập truyện ngắn Việt Nam bằng Pháp văn) Nxb Đông Tây, Hà Nội, 1937Kẻ thù là Nhật Bản (luận đề chính trị), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1938Cái họa Nhật Bản (luận đề chính trị), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1938Đứng trước thảm kịch Việt Pháp – Devant le drame Franco Vietnamien, (luận đề chính trị bằng Việt và Pháp văn) xuất bản ở Đà Lạt 1947Hào quang Đức Phật (luận đề tôn giáo) tác giả xuất bản, Đà Lạt 1948Thi sĩ Kì Phong (tiểu thuyết, 1938)Chiếc Bóng (tiểu thuyết) Nxb Cộng Lực, Hà Nội 1941 – Chiếc áo cưới mầu hồng (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sàigòn 1957Người yêu của hoàng thượng (tiểu thuyết) Nxb Minh Phương, Hà Nội 1958)Giây bí rợ (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sàigòn 1957Hai thiêng liêng I & II (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sàigòn 1957Hoang vu (thơ) Nxb Phổ Thông, Sàigòn 1962Mồ hôi nước mắt (tiểu thuyết), Nxb Sống Mới, Sàigòn 1965Những đàn bà lừng danh trong lịch sử (biên khảo), Nxb Sống Mới, Sàigòn 1970Tuấn, chàng trai nước Việt I & II, (chứng tích thời đại), Nxb Triêu Dương, Sàigòn, 1970Văn thi sĩ tiền chiến (ký ức văn học), Nxb Khai Trí, sàigòn, 1970Buồn muốn khóc lên (thơ) 1970Mình ơi (văn hóa tổng quát) 1970Thơ lên ruột (thơ trào phúng) 1971

Bên cạnh những tập sách biên khảo có giá trị như Văn thi sĩ tiền chiến, Tuấn – chàng trai nước Việt… Nguyễn Vỹ còn viết nhiều bộ tiểu thuyết, nhưng được đánh giá là không thành công. Riêng về thơ, ông nhận được nhiều lời khen chê. Trong Tập thơ đầu (1934), Nguyễn Vỹ có đăng vài bài theo lối 12 chân (alexandrins), một lối thơ mới trên thi đàn Việt Nam, nhưng không lạ gì đối với thi đàn Phương Tây.

Đến ngày nay cảnh non sông đã phủ mấy lớp sương mù

Mà còn rên dưới rễ cỏ những vết hận lòng lai láng…

(Gửi một thi sĩ của nước tôi, Hà Nội báo, số 23, 1936)

Chính vì lẽ đó, ông bị Thế Lữ cho rằng ông có ý định toan lòe và bịp mọi người[4], còn Vũ Ngọc Phan thì viết : Với thời gian, không một ai có thể bị cám dỗ mãi về những cái tầm thường, chỉ cầu kỳ có bề mặt. Hoài ThanhHoài Chân đã viết về Nguyễn Vỹ như sau :

Nguyễn Vỹ đã đến giữa làng thơ với chiêng trống, xập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ nhau xem. Nhưng chúng ta lại tưng hửng trở vào vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu bộ lố lăng, lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì…

Chê bai, nhưng ngay sau đó hai ông cũng phải nhìn nhận:

Một bài như bài “sương rơi” được rất nhiều người thích. Người ta thấy Nguyễn Vỹ đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để diễn tả một cái gì đương rơi. Cái gì đó có thể là những giọt lệ…Nhưng “sương rơi” còn có vẻ một bài văn. “Gửi Trương Tửu” mới thực là kiệt tác của Nguyễn Vỹ. Lời thơ thống thiết, uất ức, đủ dãi nỗi bi phẫn cho cả một hạng người.

Khác với những ý trên, Lan Khai trong báo Đông Phương, Phạm Huy Thông trong báo L’Annam nouveau (báo của Nguyễn Văn Vĩnh), Lê Tràng Kiều trong Hà Nội báo (số 23, ngày 10 tháng 6 năm 1936) lại hết sức khen ngợi thơ Nguyễn Vỹ. Và trong quyển Hồn Thơ nước Việt thế kỷ XX. có ghi lời của Lam Giang (tác giả Khảo luận thơ mới, NXB Hà nội, 1940) như sau :

Phê bình Nguyễn vỹ, Hoài Thanh phát biểu một ý kiến võ đoán : “Nguyễn Vỹ chí lớn mà tài nhỏ nên hay lập dị, chứ thật sự ít có thành tích văn chương”. Tôi thiết tưởng cái công du nhập đầu tiên lối thơ nhạc vào thi đàn Việt Nam, giữa lúc rất nhiều người chỉ chăm lo đả kích Luật Đường, chứ chưa sáng tạo được một thể điệu gì mới, cũng đáng cho chúng ta nhìn tác giả với một nhãn quang nhiều thiện cảm hơn.

Năm 1962, tập thơ thứ nhì mang tên Hoang vu ra đời. Bình luận về tập thơ này, nhà văn Thiết Mai trong Sáng dội miền Nam viết :

Nguyễn Vỹ đã nếm mùi tân khổ, gian lao…lại ở vào cảnh giao thời của hai thế hệ, trong tình trạng bi đát nhất của lịch sử nước nhà, nên Nguyễn Vỹ đã trở thành con người rắn rỏi, yếm thế…rồi đi đến tâm trạng căm hờn, biếm nhạo, khắc khe, chua chát…Nhưng lúc trở lại với bẩm tính vốn có, chúng ta thấy ông hiền dịu, đa tình, đa cảm, thiết tha với một đời sống êm đềm…

Về tài thơ, ta thấy thơ của ông được cấu tạo đễ dàng, không gò ép…Điều đáng chú ý là ông như muốn đưa những thể mới, có tác dụng gây xúc cảm, có âm điệu du dương, hợp tình để gợi tình và tả chân mạnh hơn. Thể mới ấy được thấy trong các bài thơ: Sương rơi, Mưa rào, Tiếng chuông chùa…

Về ý thơ, Nguyễn Vỹ đã có nhiều ý tưởng, nhiều câu văn táo bạo (Hai người điên, Hai con chó, Trăng, Chó, Tù, Đêm trinh…). Điều này khiến thơ của ông thoát ra khỏi lối thường tình, cổ điển và cũng chứng tỏ ông là con người có nội tâm cứng rắn, thành thật, dám biểu lộ tâm tư mình bằng những hình ảnh thiết thực do lòng mình suy tưởng…

Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng viết trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (Quyển thượng):

Nguyễn Vỹ góp mặt vào làng thơ tiền chiến từ năm 1934, thời kỳ thơ mới đang hồi phát triển mạnh mẽ. Trong giai đoạn này, phần đông thi sĩ thường đem khung cảnh lãng mạn, chuyện tình ái vào thi ca…Nhưng với Nguyễn Vỹ, có thể nói nhà thơ không lấy tình yêu làm đối tượng, vì thế thơ ông có một đường nét độc đáo riêng biệt.

Đọc Nguyễn Vỹ, người ta cảm nhận những điều mỉa mai, chua chát…là sự tức tối như muốn phá vỡ cái gì trong hiện tại đang bị dồn ép, uất ức để nói lên nỗi thống khổ của kiếp người…

Thời tiền chiến, thân phận Nguyễn Vỹ đã thế, nhưng với ý chí phục vụ văn nghệ, trung thành đường hướng vạch sẵn, ông, một nhà thơ từng chịu nhiều cam go trên đường tạo lập văn nghiệp, đã kiên trì xây dựng lại Trường thơ Bạch Nga trong bán nguyệt san Phổ Thông từ Trung thu năm 1962 và được nhiều bạn đọc hưởng ứng, chứng tỏ lời nói trước kia của Lê tràng Kiều là đúng: “Người ta công kích ta, chỉ chứng tỏ là ta sống”…. Vậy, Nguyễn Vỹ ngày nay hãy yên ổn với trường phái của mình.”

Nguyễn Vỹ là một nhà thơ có thực tài.Ông có cái nhìn thường xuyên vào thực trạng xã hội, theo dõi những màu sắc biến đổi của nhịp sống dân tộc đã chịu nhiều thảm họa; hòa lẫn vào đấy là tình thương yêu đồng loại. Tiếng thơ của Nguyễn Vỹ là tiếng nói chân thành phát xuất tự con người còn nghĩ đến quê hương.

(Trong Wikipedia)

TAO ĐÀN BẠCH NGA CỦA NGUYỄN VỸ

Thuở còn bé ở Sa đéc, tôi ở với người cậu Năm là một nhà trí thức mới ở tỉnh nhà. Nhà nghèo nhưng sách vở không thiếu quyển gì, nhất là báo chí của thời kỳ đó. Thường thì tôi lén lấy xem trong lúc cậu tôi đi làm ở tòa hòa giải Sa Đéc. Tôi coi hết các báo trong đó có tờ Phổ thông bán nguyệt san khá mỏng với những nhà văn như Lê Tràng kiều, Thượng Sỹ…

Thời gian qua, sách vở xưa hầu như rêu mốc cả, cậu tôi đi quân dịch rồi đi luôn. Tôi với bà ngoại phải lên Saigon ở nương náu nhà người cậu Tư, nhưng không ở lâu được tôi bỏ nhà ra đi bụi đời từ năm mười lăm, mười sáu tuổi.

Tôi nhớ lại năm 1963, ông Nguyễn Vỹ có cho tôi ba ngàn đồng tiền riêng để tôi in tập thơ đầu tiên Thơ Trần Tuấn Kiệt do Bùi Giáng đề tựa và Nguyễn Trung vẽ bìa.

Thời kỳ sung túc nhất của báo Phổ Thông sau này khác với Phổ Thông bán nguyệt san thời xưa, thời tiền chiến. Báo quy tụ hầu hết các nhân vật tên tuổi, các nhà văn hóa từ Bắc di cư vào và các nhà văn miền Nam như Thiếu Sơn, ông Triệu Công Minh là chồng bà Ái Lan tên tuổi lẫy lừng thời đó.

Tôi không làm hẳn ở Phổ Thông, chỉ đến chơi với Nguyễn Thu Minh và vợ là Phương Duyên. Hai người này đều có chân trong tao đàn của Nguyễn Vỹ. Đó là thi đàn Bạch Nga lấy tờ nguyệt san Phổ Thông làm diễn đàn. Tao đàn Bạch Nga có Nguyễn Vỹ làm chủ soái. Nguyễn Thu Minh làm thư ký và rất đông các thi sĩ đương thời góp mặt như cô Thu Nhi, Tôn Nữ Hỷ Khương, Minh Đức Hoài Trinh (Pháp), Ngọc Hân, Phương Đài, Thùy Dương Tử, Tuệ Mai, bác sĩ Nguyễn Tuấn Phát  và tôi.

Lúc này tôi đồng ý vào tao đàn Bạch Nga với Nguyễn Vỹ làm thơ 2 chữ, 10 chữ, 12 chữ, tất nhiên là còn các loại thơ khác. Mỗi năm Tao đàn Bạch Nga mở cuộc thi sáng tác thơ tự do. Tôi phụ trách chấm thi hầu hết các giải này, nhờ thế tôi khám phá ra nhà thơ Thùy Dương Tử ở Quảng Nam làm thơ thật hay để chấm anh giải nhất của Tao đàn Bạch Nga.

Sở dĩ ông Nguyễn Vỹ không bắt buộc các nhà thơ làm thơ làm thơ 2 cước, 8 cước, 12 cước như ông để tránh bị phản đối kịch liệt như thơ tiền chiến. Thời đó ông ở nhóm Hàn Thuyên có Đặng Thái Mai, Nguyễn Đức Quỳnh… theo thuyết xã hội thường phê phán các tác phẩm của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam chủ trương Tự Lực văn đoàn. Nổi bật nhất là cụ Thượng Sỹ đưa ra nhiều bài phê bình các tác giả thời đó, tất nhiên là bị nhóm Tự lực văn đoàn tấn công lại dữ dội.

Nguyễn Vỹ nêu lên cách làm thơ hai chữ, mười hai chữ như Tây. Người công kích ông nhiều nhất là Hoài Chân, Hoài Thanh trong Thi nhân Viêt Nam cho Nguyễn Vỹ là bất tài, khua chiêng trống rùm beng mà thôi. Tôi cũng một thời gian chịu ảnh hưởng sự công kích ấy nên sau này khi soạn Thi Ca Việt Nam Hiện Đại, sách dầy 1300 trang do nhà Khai Trí in và tái bản vài lần ở Mỹ, tôi cũng lên tiếng chỉ trích. Công tâm nhận xét thì ông Nguyễn Vỹ đã cố gắng phổ biến Tao đàn Bạch Nga, cổ súy cho thơ từ 2 chữ đến 12 chữ theo Âu châu cũng là ý kiến tốt, muốn đổi mới nghệ thuật thơ mới vì thơ cũ ở VN thời đó đã khá nhàm. Thi phẩm Hoang Vu của ông có giá trị ngang hàng với tất cả những thi nhân đương thời và cả ngày nay.

Phong cách Âu châu, tư tưởng cấp tiến của ông thời đó đã làm xốn con mắt của nhiều người đương thời nhất là Hoài Chân, Hoài Thanh trong khi quyển thi nhân VN của Hoài Chân Hoài Thanh tái bản luôn mà không sửa đổi gì cả. Thế ra cái án văn chương này vẫn còn tiền lệ tạo ra sự coi thường nhà thơ Nguyễn Vỹ bất công đến bao giờ.

Trong bài thơ nổi tiếng Gửi Trương Tửu, Nguyễn Vỹ đã than thở : Nhà văn An Nam khổ như chó. Quả vậy, Vita tác giả Mây Ngàn chết vì lao bên Pháp, Vũ Trọng Phụng chết vì lao ở VN, Anh Hợp chết bên đống rác hay Hàn Mặc Tử lẩn lút đau thương trọn đời về bệnh cùi. Lê Văn Trương do anh em chôn cất lúc đó Nguyễn Vỹ lo liệu gần hết, chôn xong thì căn nhà của Lê Văn Trương vừa bán ở đường Trần Hưng Đạo phải giao cho người ta. Cụ Tam Ích tuy được gia đình lo cho đầy đủ nhưng có lần ngồi quán ở Cao Thắng với TTKiệt, cụ cũng nói :

– Mày đi mua cho thày mấy viên aspirin.

Bài thơ của Nguyễn Vỹ đã lột lên chân tướng xã hội của các nhà văn đương thời. Ta thử nhìn lại loại thi ca thời tiền chiến, Xuân Diệu ca ngợi ân tình quên đi những kiếp người khốn khổ. Bài thơ Lời Kỹ Nữ có có cái thi hứng phong lưu thời đại hơn là lột trần ra sự cùng khổ thời đại như Victor Hugo, Chế Lan Viên ca ngợi đất nước Chiêm Thành cũ và nói về sự vong quốc, Quách Tấn ảnh hưởng nặng nề của Trung quốc, Vũ Hoàng Chương viết Kinh Kha sang Tần… Thời đại ấy làm thơ viết văn tả thực dường như chỉ có Gởi Trương Tửu là tiêu biểu nhất. Thế mà Hoài Thanh Hoài Chân đã phớt lờ hay nhắc rất ít lời. Quả nhiên là có nhiều vị kỷ, thiên kiến mà ra vậy.

Mặc dù thời trai trẻ than thở Nhà văn An nam khổ như chó nhưng đến trung niên thì đất nước chia đôi. Các nhà thơ di cư vào Nam, xuất bản sách vở báo chí ra được nhiều độc giả chào đón nồng nhiệt. Báo Phổ thông lúc bán chạy nhất lên đến hai mươi lăm ngàn số. Nguyễn Vỹ rất nhiệt tình giúp đỡ các nhà văn cũ như Lê Tràng Kiều, Vũ Bằng. Một nhà văn lão thành là cụ Đàm Quang Thiện đã dịch Thần thoại Hy Lạp cho Phổ thông, cả Thẩm Thệ Hà, Thanh Việt Thanh và nhất là Lê Văn Trương khi còn sống.

Tao đàn Bạch Nga rất đông vui, lúc nào cũng có các thi sĩ trẻ đến chơi và nhập đoàn. Phạm Công Thiện cũng dịch cho báo. Nguyễn Vỹ gây dựng được thanh thế và giàu có. Ông sắm xe hơi đắt tiền, mướn lầu ở gần Cầu Kho đầy đủ mọi phương tiện. Nhưng có tài thì có tật, đó là điều người đời dị nghị về ông nhiều. Ngoài gái gọi mà tôi thường gặp ở căn lầu đó, nhiều phụ nữ khác đến với ông vì chuộng danh tiếng tài năng của ông. Vì thế sự ganh tỵ về bè nhóm cũng không phải là ít.

Một hôm tại nhà của bà chị thi sĩ Bích Khê (Tinh Huyết thi phẩm) giữa lúc đông có cả Đinh Hùng, Đinh Cường, ông Nguyễn Vỹ cầm tập Thơ Trần Tuấn Kiệt mới xuất bản và dường như có giới thiệu tôi là một thiên tài mới xuất hiện. Sau đó một năm, tôi cho in quyển Thơ Nai và gởi tặng nhà thơ Đinh Hùng ở ban Tao Đàn trên đài Phát thanh Saigon. Lúc này cụ Lam Giang Nguyễn Quang Trứ có đề xuất tôi cộng tác cho Đài Phát thanh, giám đốc là nhà thơ Phạm Xuân Ninh tức Hà Thượng Nhân.

Một buổi sáng, chợt họa sĩ Nghiêu Đề chạy đến hỏi :

– Mày có nghe chương trình Tao đàn chưa ?

– Tao không nghe. Có gì không ?

Nghiêu Đề nói :

– Hồi tối Tao đàn đọc thơ mày trên đài nhưng có vẻ tấn công mày.

Tôi nổi dóa, lập tức đi lên Đài phát thanh ghé vào văn phòng Hà Thượng Nhân hỏi :

– Đêm hôm qua Đinh Hùng tấn công thơ tôi trên đài, ông có biết không ?

Hà Thượng Nhân từ tốn nói :

– Tôi có nghe, mà Đinh Hùng đâu có chê gì đâu ?

– Để tôi lấy bài viết của Đinh Hùng cho ông xem lại.

Tôi bỏ đi xuống lầu, đến chỗ ngăn để bài, lấy ngay bài của Đinh Hùng trong ngăn mục Tao đàn ra xem qua, lên trao Hà Thượng Nhân rồi bỏ về nhà.

Từ khi tôi in Thơ Trần Tuấn Kiệt và Thơ Nai, các báo chí đều viết khen ngợi, không ai chê cả nên nên tạo cho tuổi trẻ của tôi lúc đó sự kiêu hãnh. Nay đọc bài viết của Đinh Hùng nói thơ Trần Tuấn Kiệt chịu ảnh hưởng Haikai, tanka… của Nhật bản. Tôi bực bội bèn viết một bài trả lời Đinh Hùng đem đến Phổ Thông. Trong đó tôi tấn công dữ dội Tao Đàn, trả lời cho Đinh Hùng biết loại thơ nhỏ vài ba câu do tôi sáng tạo chứ không hề chịu ảnh hưởng gì của Nhật cả. Thơ Nhật ngoài thi hào Basho, ít có thi sĩ làm thơ hay, kém cả thơ Tàu, thơ Tây nhiều, không thể nói tôi chịu ảnh hưởng thơ Nhật được. Tôi tấn công Đinh Hùng là vọng ngoại và thách ông đấu thơ với tôi ở bất cứ nơi nào.

Nguyễn Vỹ thấy trầm trọng quá nên lưỡng lự không dám đăng. Một là sợ xảy ra bút chiến, hai là thế lực Đinh Hùng rất mạnh. Ông này là bạn của cố vấn Ngô Đình Nhu, thường nằm hút chung mâm đèn với cố vấn. Chỉ cần cố vấn gặc cái dọc tẩu xuống mâm đèn, ra lệnh một tiếng thì Nguyễn Vỹ và tôi bị mật vụ hỏi thăm sức khỏe ngay.

Nguyễn Vỹ trả lại bài viết, tôi cả giận nói :

– Ông không đăng bài tôi trả lời trên Phổ thông, tôi sẽ đăng báo khác.

Lúc đó một thiếu nữ trẻ trung xinh đẹp đi vào, cũng là thi sĩ của tao đàn Bạch Nga, chị Ngọc Hân nói với Nguyễn Vỹ :

– Đăng bài trả lời của anh Kiệt đi anh.

Nguyễn Vỹ nghe nói bèn chiều lòng nàng, bảo với tôi :

– Thôi anh đem bài cho chef typo sắp chữ

Lúc này anh Năm Ô tức thi sĩ Nguyễn Vương, một người thợ sắp chữ và trình bày cho báo Phổ thông, sau đó là báo Nghệ thuật của Mai Thảo, anh cùng quê với tôi ở Sa Đéc, lập tức chia bài cho thợ xếp chữ ngay cho kịp số báo tới. Bài báo vô tình tạo ra một hố ngăn cách và hiềm khích mãnh liệt giữa hai bên.

Tao đàn Bạch Nga ở được một thời gian khi báo Phổ thông lên, rồi đến thời kỳ sa sút, Phổ thông bán ế dần cho đến khi chỉ còn một ngàn số.

Đó là vì thời đại này có nhiều báo ra đời như Văn hóa Ngày nay, Tân Phong của Nhất Linh , báo Văn do Trần Phong Giao làm thư ký, Văn học, nhất là các báo Tiểu thuyết Thứ Bảy… lấy hết độc giả của Nguyễn Vỹ, nhiều lần tôi đề nghị thay đổi từ nội dung cho đến cách trình bày nhưng Nguyễn Vỹ là người kỳ cựu trong làng báo, không khi nào nghe lời một thanh niên còn quá trẻ như tôi, ông trở thành bảo thủ hơn nữa. Khi báo thất bại, Nguyễn Vỹ thường rủ anh em đến chùa Cổ Sơn Môn chơi giải khuây.

Càng ngày có nhiều báo mới ra, nguyệt san Thời Nay toàn dịch tài liệu trên báo ngoại quốc như Selection. Tờ này lấy rất nhiều độc giả của Phổ Thông vì tin tức và bài vở ăn khách. Ngoài ra còn Văn của Trần Phong Giao lấy bài của các tác giả cộng tác định kỳ về in. Một vài báo của sinh viên như Huyền của Khưu Ban Lâm, Mai Vi Phúc, Nguyễn Á Châu… tôi làm thư ký tòa soạn báo này.

Đáng kể là Văn hóa Ngày nay của Nhất Linh, đối với tờ này là Sáng Tạo của nhóm Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Hoàng Bảo Việt, Vương Tân, Trần Dạ Từ… Họ viết nhiều đến chủ nghĩa hiện sinh. Đó là thời của Hiện sinh, ai cũng thích đọc và nghiên cứu về thi ca siêu thực của Breton và các tác giả mới của văn hóa hiện đại. Có cả Văn Nghệ do anh ruột của thi sĩ Quách Thoại là là Đoàn Tường trông nom.

Nguyễn Vỹ và tao đàn Bạch Nga như đóa hoa héo dần, sau này Phổ Thông in một ngàn số mà cũng rất khó bán. Nguyễn Vỹ còn cho ra đời nhật báo Dân Ta do Hải Âu làm tổng thư ký và ông Triệu Công Minh, chồng bà Ái Lan, mới ở Pháp về, hợp tác. Độc gỉả quên dần Phổ Thông để đọc các báo mới từ văn nghệ đến văn học nghệ thuật đều tân tiến.

Anh em chúng tôi làm báo Ngàn Khơi của Nguyễn Hữu Đông rồi tạp chí Tiếng Nói của Trần Dạ Từ. Các báo Văn học, Thế Kỷ Hai Mươi, Đại Học và rất nhiều báo khác tự do ra đời. Các tờ báo như Giáo Dục dường như có bài của Kiêm Đạt. Giáo sư Nguyễn Duy Diễn được giới học sinh và phụ huynh sốt sắng ủng hộ. Tân Phong, Thẩm Mỹ, Phụ Nữ Diễn Đàn có nhiều độc giả, Bình Nguyên Lộc ra báo Vui Sống. Quá nhiều sách báo in ấn thời đó phổ biến tư tưởng văn hóa Âu Mỹ ào ạt vào VN được giới trẻ hưởng ứng.

Lần cuối cùng tôi gặp Nguyễn Vỹ và cụ Đàm Quang Thiện, người dịch thần thoại Hy Lạp cho báo Phổ Thông ở Ngã Bảy rồi sau đó Nguyễn Vỹ mất vì tai nạn xe ở Tân An lúc gần Tết. Ngọc Hân là thi sĩ duyên dáng và vui tính trong tao đàn Bạch Nga, người đã nói Nguyễn Vỹ đăng bài Trả Lời Đinh Hùng của tôi. Sau này chị làm nghề nhiếp ảnh, có lần tôi gặp tại Thị Nghè, bây giờ con cháu đầy đàn cả rồi. Nhắc lại thời Tao Đàn Bạch Nga, tôi và chị, ai nấy đều như luyến tiếc một điều gì đó, một thời tự do của tuổi trẻ đã mất rồi.

Sa Giang – Trần Tuấn Kiệt