ÁO LỤA HÀ ĐÔNG

Logo vannghe A

Non la 4ÁO LỤA HÀ ĐÔNG

Áo Lụa Hà Đông là một bài hát nổi tiếng của Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, được phổ Nhạc từ bài Thơ cũng rất nổi tiếng của

Thi sĩ Nguyên Sa (Trần Bích Lan). Ai trong chúng ta cũng từng một lần hát bài hát trên, nhưng ít người biết xuất xứ bài Thơ từ một cuộc thi Hoa hậu đầu tiên ở Viet Nam. Vào năm 1930, xứ Bắc kỳ tổ chức cuộc thi Hoa hậu ở Hanoi, cho bất cứ ai, làm nghề gì, không kể tuổi tác.. miễn là khi đi thi phải mặc Áo Lụa Hà Đông. Cuối cùng, người được đăng quang trong cuộc thi là người đẹp Lý Lệ Hằng. Cô xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở Thái Bình, vì mưu sinh phải trôi nổi lên Hanoi kiếm sống và làm nghề hát Cô đầu cho các quán rượu.

Sau khi thay đổi cuộc đời, Cô trở nên nổi tiếng và là niềm ước mơ của bao Công tử nhà giàu trong cả nước. Tuy nhiên chẳng ai có thể với tới được người đẹp “chân lấm, 9 Ngo Thuy Mien 2tay bùn” này và chỉ một thời gian sau Lý lệ Hằng trở thành người tình của Quốc Vương Bảo Đại.

Có lẽ cũng như bao chàng trai si mê sắc đẹp khác, dù đã trải qua hơn 20 năm sau, nhà thơ Nguyên Sa vẫn mơ tưởng đến nụ cười, ánh mắt khuynh đảo của Hoa hậu đầu tiên và buộc Ông phải viết bài thơ ca ngợi người đẹp mặc áo lụa ấy.

Mãi đến năm 1969, khi nghe câu chuyện về Hoa hậu “thuần nông” phút chốc trở thành người yêu của ông Vua cuối cùng Việt Nam, chàng trai Ngô Thụy Miên đã viết nên ca khúc nổi tiếng “Áo Lụa Hà Đông” khi mới 21 tuổi, được phổ lời từ bài Thơ của Nguyên Sa như để ngưỡng mộ những cô gái tựa như đóa sen vươn lên từ đầm lầy.

Và đây là nguyên văn bài Thơ: Áo Lụa Hà Đông:

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát / bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng / anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn  / mà mua thu dài lắm ở chung quanh / linh hồn anh vội vã vẽ chân dung / bay vội vã vào trong hồn mở cửa / gặp một bữa, anh đã mừng một bữa gặp hai hôm thành nhị hỹ của tâm hồn / 9 Nguyen Sa 1thơ học trò anh chất lại thành non và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu / em không nói đã nghe từng gia điệu / em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh / anh trông lên bằng đôi mắt chung tình / với tay trắng, em vào thơ diễm tuyệt

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết / trời chợt mưa, chợt nắng, chẳng vì đâu / nhưng sao đi mà không bảo gì nhau / để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại / để anh giận, mắt anh nhìn vụng dại / giận thơ anh đã nói chẳng nên lời  em đi rồi, sám hối chạy trên môi / những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng / em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn / giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông/ anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.

Xin mời thưởng thức một bài hát hay “Áo lụa hà Đông” thơ Nguyên Sa, nhạc Ngô Thụy Miên qua tiếng hát của Duy Trác. Thực hiện video: Vân Nguyễn :

Áo Lụa Hà Đông

Vậy Lụa Hà Đông xuất xứ ra sao mà đã đi vào Thơ Nhạc lãng mạng như thế ?

Cách Hanoi 10km có một làng chuyên nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng có từ ngàn năm trước, là Làng lụa Hà Đông hay Làng lụa Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông. Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình…

Làng Vạn Phúc vốn có tên Vạn Bảo, do kị húy nhà Nguyễn nên đã đổi thành Vạn Phúc. Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1200 năm, có bà A Lã Thị Nương là vợ của Thái Thú Giao Chỉ là Cao Biền, từng sống ở trang Vạn Bảo, đã từng dạy dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa. Bà Lã Thị Nga, vốn người Hàng Châu (nơi có thương hiệu lụa Hàng Châu nổi tiếng), theo chồng chinh chiến khắp nơi rồi ở lại nơi này.8 Lua Ha Dong 1 Thấy dải đất trù phú ven sông Nhuệ xanh trong, bà dạy người dân trồng dâu, nuôi tằm rồi cho những người thợ lành nghề nhất đến dạy ươm tơ, dệt vải. Từ một ấp nhỏ, Vạn Phúc đã phát triển thành làng nghề sôi động, nức tiếng gần xa. Sau khi mất, bà được phong làm Thành hoàng Làng.

Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1932), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp. Trong tổng số 18 thợ thủ công lành nghề Việt Nam được vinh danh trong 2 cuộc triễn lãm trên, thì có 3 người là con của đất tơ tằm Vạn Phúc (trong đó có cụ Nguyễn Chấp Chung, cụ nội nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh hôm nay, người đang làm lụa khá nổi tiếng tại Vạn Phúc). Từ 1958 sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên Thế giới. Đến ngày nay, làng Vạn Phúc có khoảng hơn 1000 khung dệt, trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại. 8 Lua Ha Dong 2Lụa Vạn Phúc có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam và từng được chọn may trang phục cho Triều đình.

Đặc biệt, theo Ca dao truyền miệng, nổi tiếng nhất trong các loại lụa Vạn Phúc có lẽ là lụa Vân – loại lụa mà hoa văn nổi vân trên mặt lụa mượt.

The La, lĩnh Bởi, chồi Phùng

Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn.

Lụa Vân nói riêng và lụa Vạn Phúc nói chung có đặc điểm ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè. Hoa văn trang trí trên vải lụa rất đa dạng như mẫu Song hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý…

Tóm lại, với đặc tính mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, nhẹ nhàng, mềm mại làm nên giá trị vật chất của Lụa thì cái hồn cốt, cái in dấu trong lòng người từ bao năm qua lại nằm ở cái tình mà người Làng lụa gửi gắm đến chúng ta hôm nay : “Tiếng thơ buồn vọng lại…” (theo Nguyễn Tất Tiến)

Huỳnh Văn Yên chuyển tiếp

Nguyen Vu 1Ca khúc và giai thoại  

40 NĂM

“BÀI THÁNH CA BUỒN”   

Đức Bình

http://youtu.be/mKmocgGUDUI

Hằng năm cứ mỗi dịp gần Noel, vào độ cuối đông tiết trời se lạnh, dường như đã trở thành thông lệ, chúng ta lại nghe thấy giai điệu quen thuộc của “Bài thánh ca buồn” vang lên khắp nơi. Gần nửa thế kỷ trôi qua, vào dịp lễ Giáng sinh, bản tình ca ấy vẫn cứ thản nhiên len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những chòm xóm nhỏ, thậm chí còn quen thuộc hơn cả Thánh ca Giáo đường.

Đã 40 năm trôi qua, giờ đây khi đặt câu hỏi, trong số các bài hát việt về Giáng sinh, ca khúc nào phổ biến nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, văn không ngừng ngân vang trong những đêm lành.

Thực ra, Elvis Phương không phải là ca sĩ đầu tiên thể hiện “Bài thánh ca buồn”, và có lẽ cũng chẳng phải là người cuối cùng, nhưng anh đã là người mặc định cho ca khúc một vị trí hoàn hảo, thổi vào đó dạt dào những cảm xúc từ khung trời kỷ niệm pha trộn giữa mùa Noel xưa và nay, một chút gì tiếc nuối, xa vắng, kết hợp sử lý giọng hát ở không gian cao, rộng, khoan thai, phát âm ca từ rõ ràng, lắng đọng, để rồi đẩy ca khúc lên trở thành một tuyệt tác mà qua biết bao nhiêu thế hệ người nghe, nó vẫn luôn là bài ca Giáng sinh được yêu mến nhất.

Nguyen Vu 2Quay trở lại với nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” thì vốn là một sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Vũ. Ông sáng tác ca khúc này vào năm 1972, tức cách đây đúng 40 năm và được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, nam ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện.

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944 tại Hà Nội nhưng suốt thời thơ ấu ông sống ở Đà Lạt. Chính thành phố sương mù này đã tác động nhiều đến bước đường nghệ thuật của ông.

Năm 12 tuổi (1956), cậu bé Tuấn Khanh từng đoạt giải nhất đơn ca thiếu nhi do đài phát thanh Đà Lạt tổ chức. Năm 23 tuổi, Nguyễn Vũ có bản nhạc đầu tay “Huyền thoại chiều mưa”… Hiện tại, ông có 4 người con gái đều đã trưởng thành nhưng không có ai theo nghiệp âm nhạc của cha. Hiện ông đang mở lớp dạy đàn, dạy nhạc tại Sài Gòn.

Mỗi ca khúc đều có một số phận, nhưng sau hơn 40 năm khi ca khúc ra đời, cha đẻ của Bài thánh ca buồn – nhạc sĩ Nguyễn Vũ – vẫn còn nguyên sự phấn khích : “Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế. Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen”.

Ông kể rằng năm 14 tuổi, ông bị mê đắm bởi một cô gái người công giáo tại thành phố Đà Lạt sương mù. Tình cảm ấy khiến ông cứ lẽo đẽo theo cô trên đường đến nhà thờ. Trong một lần tan lễ, trời mưa rất to, cả hai đành phải trú mưa chung dưới một hiên nhà. Lúc ấy cũng đúng ngày lễ Giáng Sinh. Cô gái và người nhạc sĩ đều im lặng. Khi nghe ca khúc Silent Night (Đêm thánh vô cùng) phát ra từ nhà bên cạnh, cô gái lẩm nhẩm hát theo, hình ảnh ấy cứ ám ảnh người nhạc sĩ cho đến nhiều năm sau đó,Nguyen Vu 3 “trái tim của một gã trai mới lớn thổn thức đến tội nghiệp nhưng lại không có can đảm để làm quen”, vào năm 1972, Nguyễn Vũ đã viết lại cảm xúc của mình”. Và “Bài Thánh Ca Buồn” đã ra đời.

Đối với một tác phẩm nổi tiếng, chúng ta không chỉ xem xét, khẳng định khía cạnh tài năng của người sáng tác, mà còn phải quan tâm tới những nhân tố làm nên sở thích ở người nghe.“Bài thánh ca buồn” quả thực là một ca khúc đã vượt qua sự thử thách của thời gian để trở thành hiện tượng văn hóa, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, nhân văn, thẩm mỹ, lịch sử, khiến cho tác phẩm phẩm vì thế được cả những người Thiên Chúa giáo, lẫn những người ngoại đạo đều yêu thích. Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn, nhưng không bi lụy.

Ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Ngày nay, ngoài việc cộng đồng công giáo tổ chức lễ Noel theo những nghi lễ của tôn giáo nghiêm trang của mình, lễ Giáng sinh còn là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp của nhiều tầng lớp dân chúng nói chung, và đối với họ, Noel là một ngày Hội hơn là một ngày Lễ.

Đã 40 năm kể từ khi ca khúc “Bài thánh ca buồn” ra đời, đến nay nó vẫn được nhiều người nghe, thích và tiếp tục hát, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa dần dần. “Bài thánh ca buồn” đã thực sự trở thành một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh.

Xuân Mai chuyển tiếp

Logo tam su 2

10 ĐỨC TÍNH TỐT & XẤU

CỦA NGƯỜI VIỆT

Một dân tộc tự nhận mình có toàn những đức tính tốt, không có đức tính xấu – là một dân tộc sống trong ảo tưởng. Mà một dân tộc sống trong ảo tưởng thì sớm muộn gì cũng suy thoái hoặc bại vong. Có thể nói không có một dân tộc nào trên trái đất này gồm tòan những đức tính tốt. Chẳng hạn người Nhật. Họ có thể có rất nhiều đức tính tốt, nhưng một đức tính xấu không thể phũ nhận đó là người Nhật khó chơi, khó có thể hòa hợp với các chủng tộc khác. Họ sống khép kín chứ không cởi mở như người Việt Nam.

Tr Bac ky 2Người Do Thái vì quá thông minh cho nên ”ăn người“, không chịu nhả ra. Chính vì thế mà bị người ta ghét. Ăn thì phải nhả ra, tức phải chia xẻ với người khác thì mới lâu bền. Người Pháp có thể cái gì cũng tốt cả nhưng quá kiểu cách, nặng tự ái cho nên tụt hậu so với Đức, Mỹ, Nhật là những nước trước đây thua kém Pháp. Người Mỹ có thể cái gì cũng tốt cả – nhưng quá phóng túng và không dạy luân lý, đạo đức trong học đường. Có thể đây là nguyên do khiến xã hội Hoa Kỳ từ từ băng họai và suy sụp.

Còn Trung Hoa ? Tại sao một đất nước đã sản sinh ra những nhà tư tưởng vĩ đại như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Lão Tử, Trang Tử, Bách Gia Chư Tử … lại có qúa nhiều bạo chúa, đàn bà hung ác, dâm lọan làm suy sụp đất nước và làm khổ con người ? Phải chăng người Tàu có một “căn bệnh trầm kha” gì đó mà chúng ta chưa biết ?

Còn Việt Nam mình thì sao ?

Trong chiều hướng để dân tộc và đất nước cùng tiến lên, tôi thử phân tích xem người Việt chúng ta có những đức gì TỐT và những đức tính gì XẤU. Trong bài hát “Việt Nam ! Việt Nam !” Nhạc sĩ Phạm Duy có giấc mơ vĩ đại là một ngày nào đó dân tộc Việt Nam sẽ đem “Lửa thiêng soi toàn thế giới” .

Tôi cũng mong dân tộc mình có ngày như vậy. Nhưng ngày đó chưa đến. Muốn nó đến thì chúng ta, dân tộc Việt Nam phải nhìn lại mình xem cái tốt thì giữ gìn, phát huy. Cái gì xấu thì bỏ đi. Người có trí tuệ là người thấy mình có lỗi và sửa chữa. Một dân tộc hay một cá nhân sẽ mãi sống trong ảo tưởng và u tối khi tự ru ngủ mình bằng những giá trị mà mình hoặc dân tộc mình không có…

Sau đây là 10 đức tính Xấu và Tốt của người Việt Nam

Mười Đức Tính Tốt :Tr dan ong 6

1/. Thông minh. – 2/. Cần cù, nhẫn nại. – 3/. Chịu đựng trong mọi hòan cảnh khó khăn. – 4/. Bắt chước giỏi, nhanh, dung hợp được cái hay của người. – 5/. Gia đình đùm bọc, che chở, bảo vệ lẫn nhau. – 6/. Thích làm chủ. – 7/. Không cực đoan hoặc bảo thủ, tính tình dung dị, dễ thích nghi với xã hội mới. – 8/. Hiếu học, biết quý trọng giáo dục, người trí thức. – 9/. Yêu nước nồng nàn. Khi có ngọai xâm sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ đất nước. Tôn thờ và quý trọng người hy sinh vì đất nước. – 10/. Biết giữ gìn bản sắc dân tộc, không bao giờ bị đồng hóa.

Mười Đức Tính Xấu:

1/. Đi trễ, không tôn trọng giờ giấc : “Không ăn đậu, không phải là Mễ / Không đi trễ, không phải Việt Nam”. – 2/. Hay nói dối, hoặc nói dối quanh. – 3/. Hay biện minh (tại, bị) thiếu tinh thần trách nhiệm. – 4/. Thích nói xấu người khác, chen vào chuyện người khác (ngồi lê đôi mách), ghen tị. – 5/. Không tôn trọng của công. – 6/. Thù dai. – 7/. Thích ai thì bốc lên tận mây xanh, ghét ai thì dùng mọi lời lẽ để lăng nhục, xỉ vả, chửi bới người ta. Thiếu thận trọng về ngôn ngữ. Thiếu tinh thần vô tư. – 8/. Khó lòng hùn hạp, khó làm ăn chung vì ai cũng muốn thủ lợi riêng. – 9/. Vô kỷ luật. – 10/. Vì chỉ biết có gia đình mình, dòng họ mình cho nên lơ là việc chung.

Trên đây chỉ là những lời phân tích có tính phỏng đoán. Quý vị nào có sự phân tích đúng hơn, hay hơn xin cùng đóng góp để dân tộc, đất nước ta cùng học hỏi, sửa chữa, để mỗi ngày mỗi tiến lên. Tr hi hoa 1Nếu vậy đất nước ta sẽ hùng cường, chúng ta, con cháu chúng ta sẽ đem “Lửa Thiêng Soi TòanThế Giới”.

10 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Đánh giá của Viện nghiên cứu xã hội Mỹ

1/. Cần cù lao động, song có tâm lý huởng thụ.

2/. Thông minh, sáng tạo, song thường có tính chống đối.

3/. Khéo léo, song không duy trì đến cùng, ít quan tâm đến sự hoàn hảo

4/. Vừa thực tế vừa mơ mộng, song lại nhút nhát.

5/. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thụ nhanh, song ít khi học ‘từ đầu đến cuối’ nên kiến thức không hoàn hảo, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không phải là mục tiêu tạo thân của mỗi người (nhỏ học vì gia đình,lớn lên học vì sĩ diện & công ăn việc làm, ít khi vì chí khí hay đam mê)

Tr gai Bac 36/. Vui vẻ cởi mở với mọi người, song không bền.

7/. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những việc vô bổ.

8/. Có tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hòan cảnh khó khăn, bần hàn. Còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện.

9/. Yêu hòa bình nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu chiến, háo thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cuộc.

10/. Thích tụ tập, nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc 1 người làm thì tốt, mà 3 người làm thì kém, và 7 người làm thì hỏng).

Vì vậy, phải đầu tư như thế nào để khắc phục tính cách xấu, phát huy tính cách tốt, để hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam ? (theo bài viết của Đào Văn Bình)

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

Vu KhanhNHỮNG CA KHÚC

VƯỢT THỜI GIAN

http://www.youtube.com/user/phungnangtran/videos

http://www.youtube.com/user/phungnangtran/videos?view=1

1/- NHUNG TINH KHUC VUOT THOI GIAN-1 (Over 79,300 views) :

https://www.youtube.com/playlist?list=PL61C588B26B4A9876

2/- CA SI VU KHANH (Over 46,200 views) :

https://www.youtube.com/playlist?list=PL65DDD21D34746068

3/- CA SI NGOC LAN (Over 36,100 views)

https://www.youtube.com/playlist?list=PLBF9259E528568D7F

4/- NHAC GIANG SINH (Over 30,200 views) :

https://www.youtube.com/playlist?list=PL8071336FFEFFCDF6

5/- CA SI NHU QUYNH (Over 29,800 views) :

https://www.youtube.com/playlist?list=PL8071336FFEFFCDF6

6/- SAIGON, KHUNG TROI KY NIEM (Over 26,400 views) :

https://www.youtube.com/playlist?list=PLA410BAD4E8E51039

7/- A TIME TO LOVE, A TIME TO DIE (Over 26,100 views) ;

https://www.youtube.com/playlist?list=PL1913D2F1226E9FA4

8/- NHAC SI ANH BANG (Over 21,000 views) :

https://www.youtube.com/playlist?list=PL6FF4F5FF417F5B54

9/- NHAC SI TRINH CONG SON (Over 19,000 views) :

https://www.youtube.com/playlist?list=PLE2453F3F59F25F60

10/- NHAC SI TU CONG PHUNG (Over 16,200 views) :

https://www.youtube.com/playlist?list=PL7B7C03228AC49B60

http://www.youtube.com/user/trannangphung/videos

http://www.youtube.com/user/trannangphung/videos?view=1

SaiGon, Khung Troi Ky Niem  25 videos  Nhac Si Hoang Thanh Tam  17 videos

Anh Bang (HD YouTube)  23 videos  Tho Nhac Giao Duyen  15 videos

Em Di Roi  10 videos  Ngoc Hue  37 videos  Da Lat Mong Mo  17 videos

Tinh Ca Xu Hue  22 videos  Ca Si Vu Khanh  39 videos   Tho & Nhac 2  11 videos

Ca Nhac Si Le Quoc Tan  10 videos  Thi Si Hoang Song Liem  14 videos

Nhac Si Anh Bang  46 videos  Nhac Si Nguyen Phan & Minh Tuan  14 videos

Hoa & Nhac  28 videos   Nhac Si Nguyen Van Dong  12 videos  Top-Hit  12 videos

Duy Han  32 videos   PHC  33 videos   VCH  24 videos  NNS -4  20 videos

Quế Phượng chuyển tiếp

Advertisements

MỪNG LỄ GIÁNG SINH

Chuc nam moi 2014

9 Giang sinh 2

25/12 CHÚA GIÁNG SINH

VÀ KITÔ GIÁO

Trong đạo Thiên Chúa (còn gọi là Kitô giáo) có 2 ngày lễ trọng đại nhất, là Lễ Giáng Sinh (vào ngày 25/12 DL hàng năm) và Lễ Phục Sinh (ngày Chủ nhật đầu tiên sau trăng tròn của tiết Xuân Phân).

Giáng Sinh là ngày chúa Jesus ra đời theo lịch và trong sách Phúc âm vào lúc nửa đêm ngày 24 rạng 25 tháng 12 DL. Theo lịch sử và Kinh Thánh viết về cuộc đời của Chúa Jesus và đạo Thiên Chúa như sau :

– Năm thứ nhất của lịch công nguyên, Đức Jesus là dân Do Thái (Israel) ra đời trong một gia đình nghèo tại vùng Galilée. Đức Jesus được sinh ra trong hang Betlé-hem gần thành Jerusalem phía bắc nước Do Thái (thời gian này được gọi là Lễ Giáng Sinh).

Đức Jesus là con của ông Joseph và bà Maria (nhưng theo Kinh Thánh, bà Maria đã nằm mộng thấy Đức Chúa Trời ban cho bà Chúa Jesus xuống thế nhằm chuộc tội cho dân Do Thái. Trùng khớp với lời của nhà tiên tri Prophète báo rằng, thần Jehovah – vị thần linh của dân Do Thái – sắp sai người xuống chuộc tội cho dân chúng, vì nhóm thầy tu được gọi là Pharisièns hay làm điều xằng bậy hiếp đáp dân lành làm ai cũng phẫn nộ).

Le Phuc sinhĐức Jesus được sinh ra rất thông minh, ngài theo Do Thái giáo, sau thấy đám thầy tu làm nhiều chuyện bậy bạ hà hiếp dân lành nên ngài lập ra đạo Kitô để cứu đời.

– Năm 30, Đức Jesus từ bỏ nghiệp cha là thợ mộc để đi rao giảng đạo lý và chữa bệnh, trong thời gian đi khắp nước, ngài thu nhận được 12 tông đồ và dân Do Thái đều rất hâm mộ đạo Kitô. Người cầm quyền Do Thái giáo rất tức giận và báo cho Tổng trấn La Mã là Pontius Pilate đến bắt ngài, cho rằng ngài là mối nguy hiểm chính trị có thể lật đổ chế độ Đế quốc La Mã đang cầm quyền.

– Năm 33, Đức Jesus bị đóng đinh trên cây thập giá. Dù Pilate cho rằng ông không tìm thấy tội gì nơi Đức Jesus, nhưng trước áp lực của những người cầm quyền Do Thái giáo, ông ta phải khuất phục đem Đức Jesus ra xử. Những người theo Đức Jesus xem ngài là Chúa Cứu Thế (Đấng Messiah : Đấng tuyển chọn, tiếng Hy Lạp có nghĩa là Kitô).

Sau khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thâp giá đên chết, bọn La Mã đưa chôn ngài trong một hầm đá, nhưng ba ngày sau, Chúa Jesus đội mồ sống lại và lên trời (đây là thời gian của Lễ Phục sinh).

Lịch sử từ đạo Kitô

Những tông đồ của Chúa Jesus bắt đầu đi rao giảng Kinh Thánh (Kinh thánh có Cựu Ước viết trước công nguyên và Tân ước viết vào thế kỷ thứ I) khắp La Mã, vào năm 313 người La Mã mới chấp nhận Kitô giáo trong đế quốc của mình, khi hoàng đế Constantine lên nắm quyền cai trị đế quốc La Mã.

9 Giang sinh 3Nhiều thế kỷ sau, Kitô giáo lại chia thành 2 nhóm : Nhóm Giáo hội La Mã ở phía tây châu Âu, và nhóm Giáo hội chính thống ở phía đông tập trung vào Constantinople của hoàng đế Byzantine (Năm 1453 thành phố Constan-tinople rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ, người Nga đưa giáo hội phía Đông về Moskva, cho nên theo lịch cũ của người Nga không chấp nhận việc thay đổi ngày 4/10/1582 thành ngày 15/10/1582 như quyết định của Giáo hội La Mã thời Giáo Hoàng Grégoire XIII ban hành. Sau Cách Mạng Tháng Mười, người Nga mới chấp nhận sửa lại ngày của lịch như bây giờ và phục tùng thống nhất một Giáo Hoàng tại La Mã).

Rồi ngay tại châu Âu, Kitô giáo cũng có sự canh tân bởi Luther và Calvin, hai người này không phục tùng Giáo hội La Mã, họ sáng lập hệ thống đạo Tin Lành (vào thế kỷ XVII và XVIII). Đó là quá trình của đạo Kitô (Thiên chúa giáo) cho đến nay.

Những tập tục trong mùa Giáng Sinh

Trong ngày Lễ Giáng Sinh (theo châu Âu còn gọi là lễ Noel), các giáo dân (trên toàn thế giới khoảng 1,3 tỷ người, chưa kể tín đồ theo đạo Tin Lành) từ các quốc gia trên trái đất làm lễ rất trọng thị. Trong đó tín đồ Thiên Chúa giáo người Việt chúng ta rất đông, mọi người ăn mặc thật đẹp như những ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền để đi lễ nhà thờ vào nửa đêm.

Trong dịp Lễ Giáng Sinh, nhà nhà đều treo đèn ngôi sao, tượng trưng lúc Ba Vua theo ánh sao trên trời chỉ đường đến nơi Chúa Hài Đồng mới sinh ra đời, họ cũng dựng cây thông cùng hang đá để nói về nơi Chúa Jesus được sinh ra.

Sau khi dự lễ nửa đêm trở về nhà, mọi người quây quần bên gia đình làm tiệc (réveillon) mừng Chúa giáng sinh, với những món ăn ngon nhất (như thịt Cừu, thịt Dê, thịt Chó – thay cho thịt Chiên – hay thịt Ngỗng. Nhà nghèo cũng thịt gà, thịt vịt…), Noel 6cuối cùng món bánh kem Giáng Sinh theo truyền thống của người châu Âu du nhập vào nước ta từ thời Pháp thuộc.

Lễ Giáng Sinh còn hào hứng với hình ảnh Ông già Noel đi tặng quà các em nhỏ. Còn trong gia đình, cha mẹ cùng các anh chị cũng mua quà để dưới gốc cây thông cho con, cho em mình. Bạn bè thân hữu gửi đi những thiệp mừng chúc tụng nhau hoặc gửi quà cho nhau. Làm không khí trong đêm Giáng Sinh vô cùng náo nhiệt và hào hứng.

Bên Âu – Mỹ người ta nhân dịp Lễ Giáng Sinh cho nghỉ đông, là lúc mọi người rãnh rỗi đi gặp gỡ chúc mừng nhau và cùng ăn mừng lễ cho đến tết Dương lịch mới dứt.

Nguyễn Việt

9 Tin mungLỊCH SỬ

CHÚA JESUS RA ĐỜI

Bà Elisabeth có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gabriel đến một thành miền Galilee, gọi là Nazareth, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Joseph, thuộc dòng dõi vua David. Trinh nữ ấy tên là Maria. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói : “Kính chào bà Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà.”

Nghe lời chào ấy, Đức Mẹ Maria rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói : “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, bà có phúc hơn mọi người nữ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, đặt tên là Jesus”.

Mẹ Maria thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?!” Sứ thần đáp : “Quyền năng Đấng Tối Cao sẽ ban xuống cho bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Elisabeth, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai. Bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”.

Bấy giờ Mẹ Maria nói : “Vâng, tôi đây là tôi tớ của Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”. Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

Bởi vậy trong đạo Công Giáo / Ki Tô Giáo ngày 25 tháng 3 (9 tháng trước lễ Giáng Sinh) vẫn mừng “Lễ Truyền Tin”, là để nhớ về sự kiện trên. Tr Cau nguyen 3Và cũng vì thế mới có “Kinh Kính Mừng”, một kinh cầu cơ bản và quan trọng :

Kính mừng Maria đầy ơn phúc

Đức Chúa Trời ở cùng bà

Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ

và Giê-su con lòng bà gồm phúc lạ

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời

Cầu cho chúng con là kẻ có tội

Khi nay và trong giờ lâm tử – Amen

Xin mời các bác thưởng thức nhạc phẩm Ave Maria của Johann Sebastian Bach (không phải tác phẩm cùng tên của Schubert), qua giọng sopran bất hủ của đệ nhất diva Maria Callas:  http://youtu.be/N6jtO5-Q0YY

Mến chúc các bác và gia đình một mùa lễ Giáng Sinh an lành và được an mạnh, nhiều may mắn trong năm mới 2014 !

Thạch Bích

Logo tim hieu

Chuc mung 2ÔNG GIÀ NOEL LÀ AI ?

Mỗi năm Giáng Sinh về, hình ảnh Ông Già Noel xuất hiện khắp mọi nơi. Ông Già Noel thân thương gần gũi vui vẻ trao quà cho trẻ em. Ông Già Noel thăm viếng và chia sẻ cho những người kém may mắn.

Người Pháp gọi là: Le Père Noel (ông Cha, linh mục Noel), người Anh gọi trực tiếp là Santa Claus (Thánh Nicôla), Thánh Giám mục, lễ mừng ngày 6 tháng 12 hàng năm. Khi tới Việt Nam, dân chúng không hiểu rõ nguồn gốc, thấy hình cụ già râu tóc bạc phơ, nên gọi là Ông Già Noel.

Cả hai giáo hội Ðông Phương và Tây Phương đều vinh danh ngài. Có thể nói, sau Ðức Mẹ, ngài là vị thánh thường được các nghệ sĩ Kitô giáo mô tả. Tuy nhiên, về phương diện lịch sử, chúng ta chỉ biết một dữ kiện, Thánh Nicôla là giám mục ở Myra vào thế kỷ thứ tư. Myra là một thành phố nằm trong Lycia, một tỉnh của Tiểu Á. Tuy nhiên, như nhiều vị thánh khác, chúng ta có thể biết được mối quan hệ giữa thánh nhân và Thiên Chúa qua sự ngưỡng mộ mà các Kitô hữu dành cho ngài. Sự ngưỡng mộ được diễn tả qua các câu truyện đầy màu sắc và thường được kể đi kể lại trong nhiều thế kỷ.

9 Ong gia Noel 1Cuộc đời Thánh Nicôla

Năm 1969, Giáo Hội Công Giáo đã chính thức đặt vấn đề tra cứu về thân thế của Thánh Nicôla. Ngài là một vị thánh thực sự hay chỉ là một huyền thoại ? Sử liệu còn để lại đã chứng minh rằng Ngài là một nhân vật có thật.

Thánh nhân sinh năm 280.Scn, tại một ngôi làng nhỏ tên Batara thuộc vùng Tiểu Á (ngày nay thuộc lãnh thổ nước Thổ Nhỉ Kỳ). Cha mẹ đặt tên cho con trai bằng tiếng Hy Lạp là Nicôla. Lúc ấy nền văn minh và văn hóa Hy lạp còn thống trị nhiều vùng đất rộng lớn trong đó có Thổ Nhỉ Kỳ. Theo tiếng Hy Lạp, Nicôla có nghĩa là Người Anh Hùng của Dân Tộc. Cái tên định mệnh đó rất xứng đáng đối với ngài ít nhất ở lãnh vực đạo đức và tôn giáo. Ông bà thân sinh tuy không giàu có lắm nhưng luôn giúp đỡ người nghèo. Hấp thụ nền đạo đức bác ái từ cha mẹ : “Phải luôn là người lương thiện, nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến mình”, Nicôla đã trở thành một mẫu người thánh thiện ngay khi ngài còn ở độ tuổi thiếu niên. Một cơn dịch bệnh tràn qua thôn xóm. Cha mẹ qua đời, lúc này Nicôla mới 12 tuổi. Tuy vậy, cậu bé vẫn tiếp tục đem tiền bạc giúp đỡ cho những người cùng khổ. Nicôla miệt mài học tập giáo lý. Ngài có một khả năng siêu nhiên lạ lùng là có thể cảm nghiệm được nỗi khổ đau đang xảy ra ở đâu đó và lập tức đến nơi cứu giúp.

Trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, có lẽ thánh Nicôla là người được phong chức Giám Mục thành Mira ở độ tuổi trẻ nhất. Lúc đó ngài mới có 19 tuổi. Vì vậy, bạn bè đặt cho ngài biệt danh vui nhộn là “chú nhóc Giám Mục”. Ngài cười đón nhận và chẳng phiền lòng tí nào.

Năm 303, lúc Nicôla 23 tuổi, Vua La Mã là Dio Pletian buộc mỗi vùng thuộc đế quốc La Mã phải tôn phục ông là thượng đế. Dĩ nhiên Giám Mục Nicôla và giáo dân địa phận Mira không chịu tuân phục. 9 Ong gia Noel 2Ðối với Kitô hữu, chỉ có một Thượng Ðế duy nhất, đó là Thiên Chúa. Vì vậy, thầy trò Nicôla đều được ưu ái mời vô khám nằm đếm lịch, ăn bánh mì đen và uống nước lã. Riêng Nicôla bị biệt giam trong một cái nhà tù nhỏ xíu, bị bỏ đói, khát và lạnh đến 10 năm. Vô cùng mầu nhiệm, ngài vẫn sống.

Đến năm 313, hoàng đế Constantine lên ngôi, ra sắc chỉ Milan, đại xá thiên hạ. Lao lý 10 năm đã làm cho đức tin và con người của Nicôla thêm bền vững. Ngài dốc tâm giảng đạo, phát triển Giáo hội, bố thí của cải và đem vô số người về với Chúa.

Ngày 6 tháng 12 năm 343, ĐGM Nicôla từ trần, hưởng thọ 63 tuổi. Ngài để lại cho trần thế một công nghiệp đồ sộ, một tên tuổi rực chói và những câu chuyện có thật lẫn huyền thoại mà vẫn được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.

Một thời gian ngắn sau khi ĐGM Nicôla từ trần, người dân Mira dựng lên một ngôi đền thờ tôn kính ngài, lưu giữ tất cả các vết tích và các vật dụng của ngài. Ðến năm 800 Giáo Hội Công Giáo Đông Phương chính thức tuyên dương ngài là thánh.

Vài cầu chuyện về Thánh Nicôla.

a/.Thánh Nicôla làm phép lạ trên biển

Câu chuyện kể về người thủy thủ một chiếc tàu sắp bị đắm trong vùng biển Ðịa Trung Hải. Con tàu bị lạc giữa một cơn bão tố và va phải đá ngầm và bị thủng một lỗ to. Nước biển tràn vào ồ ạt. Con tàu chồng chềnh ngã nghiêng và chìm dần xuống.

Một vài thủy thủ chợt nhớ lại tên thánh Nicôla hằng cứu giúp, mặc dầu lúc ấy ngài đã tạ thế. Lập tức họ cùng nhau quỳ xuống khấn nguyện tên ngài và khẩn cầu ngài cứu vớt. Ðột nhiên từ trên không, giữa những làn nước giá buốt trút ầm ầm như thác, giữa những cơn sóng gầm thét điên cuồng, thánh Nicôla trong chiếc áo giám mục màu đỏ từ từ hạ xuống giữa khoang tàu. Gió bỗng thôi gào, mưa bão ngưng tạnh. Thánh Nicôla cùng thuỷ thủ đoàn quỳ xuống tạ ơn Thiên Chúa, rồi ngài cùng họ chèo chống con tàu ra khỏi vùng đá ngầm bằng một chiếc sào dài. 9 Ong gia Noel 3Khi con tàu đã đến chỗ bình yên, thì ngài vẫy tay từ biệt họ, cất mình lên không và biến mất sau những đám mây trắng.

Vẫn chưa chấm hết câu chuyện, khi con tàu cập bến Myra, các thủy thủ cùng vị thuyền trưởng đi đến ngôi đền thờ thánh Nicôla để làm lễ tạ ơn, thật lạ lùng, họ thấy ngài đã hiện ra lúc nào và đang mĩm cười đứng bên đền thờ nhìn họ. Một người hỏi rằng làm thế nào mà ngài đã biết và đến cứu họ. Thánh Nicôla cho biết, ngay từ thuở nhỏ, ngài đã có năng khiếu siêu nhiên là có thể nhìn thấy những người đang lâm nạn và nghe thấy tiếng kêu khóc của họ, vì đó là ý của Chúa. Từ câu chuyện này, mãi cho đến ngày sau, người Hy Lạp thay vì đập chai sâm banh để khánh thành một chiếc tàu mới chuẩn bị hạ thủy thì họ khấn nguyện xin thánh Nicôla bảo hộ cho họ được bình yên trên các nẽo đường hàng hải.

b/. Thánh Nicôla làm phép lạ cứu sống 3 trẻ em.

Có một buổi sáng trời giá lạnh, Đức cha Nicôla bước vào một quán ăn nhỏ bên đường cách đô thị chừng 15km. Chủ quán nhận ra Đức Giám mục liền chào Ngài. Đức cha hỏi: “Quán có gì ăn không ?”. Chủ quán thưa : “Dạ, có thịt, trứng và bánh mì, 9 Ong gia Noel 4nhưng hết mất rượu vang. Xin Đức cha vui lòng ngồi nghỉ chờ con ít phút, con vào trong làng mua rượu”.

Chủ quán đi rồi, Đức cha Nicôla xuống bếp, mở nắp khạp thịt, vỗ vào hông khạp và gọi:

– Dậy đi, các con !

Thế là có ba bé trai lùng nhùng từ đống thịt tươi mới ướp muối, liền lại, sống lại và bước ra. Ngài chỉ chỗ cho ba đứa trẻ lấy quần áo mặc vào, rồi lên nhà trên ngồi vào bàn ăn chờ. Thì ra đó là ba bé trai nhà nghèo, chiều hôm trước đi mót lúa ngoài cánh đồng, bị đói lạnh, đã vào quán xin ăn, bị chủ quán giết chết, chặt ra bỏ vào khạp ướp muối để sẽ nấu món ăn bán cho khách. Thánh nhân biết được nên đã tới cứu các cháu.

Lát sau chủ quán về tới, giật mình trông thấy ba đứa bé anh đã giết chết, ngồi cạnh Đức Giám mục. Anh sợ hãi qùy xuống trước mặt Ngài thú tội :

– Con nghèo quá nên đã làm nhiều sai trái, xin Đức Cha tha tội cho con !

Ngài giải tội cho anh, lại còn cho anh một túi tiền để làm vốn và khuyên anh từ nay không được làm điều ác. Sau đó Ngài bảo anh dọn bánh mì, chiên trứng, bốn cha con ăn xong, Ngài dẫn ba đứa bé đi theo về trả lại cho gia đình và cấp dưỡng cho chúng được ăn học.

Những truyện về Thánh Giám Mục Nicôla còn rất nhiều. Điều chủ yếu muốn nói đến qua các câu chuyện là Ngài rất gần gũi với lễ Giáng Sinh, hay giúp đỡ dân nghèo, đặc biệt là bạn của các thiếu nhi. Dù khi còn ở gia đình, khi đã đi tu, khi làm linh mục hay khi đã làm giám mục, khi còn trẻ hay khi đã râu dài tóc bạc, mỗi mùa Giáng Sinh về, Thánh Nhân đều mang trên lưng một bao lớn bánh mì bánh kẹo, đem tới từng nhà chia cho trẻ em nghèo mừng lễ Giáng Sinh.

Nen chayCuộc đời Thánh Nicôla thắp sáng lên một ngọn đuốc tình yêu trong thế gian.

Xin Chúa cho mỗi người chúng con là một “Little Santa Claus”, một ông già Noel nhỏ. Chúa sinh ra, đem mùa xuân hạnh phúc cho cả nhân loại. Cuộc đời Thánh Nicôla mang niềm vui hạnh phúc cho bao người, đặc biệt là trẻ em. Xin cho chúng con biết đem niềm vui Giáng Sinh đến cho mọi người, đặc biệt những người bên Lương hàng xóm láng giềng của chúng con. Amen. (theoLm Giuse Nguyễn Hữu An)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo vannghe A

Nguyen Vu 1Ca khúc và giai thoại  

40 NĂM

“BÀI THÁNH CA BUỒN”   

Đức Bình

http://youtu.be/mKmocgGUDUI

Hằng năm cứ mỗi dịp gần Noel, vào độ cuối đông tiết trời se lạnh, dường như đã trở thành thông lệ, chúng ta lại nghe thấy giai điệu quen thuộc của “Bài thánh ca buồn” vang lên khắp nơi. Gần nửa thế kỷ trôi qua, vào dịp lễ Giáng sinh, bản tình ca ấy vẫn cứ thản nhiên len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những chòm xóm nhỏ, thậm chí còn quen thuộc hơn cả Thánh ca Giáo đường.

Đã 40 năm trôi qua, giờ đây khi đặt câu hỏi, trong số các bài hát việt về Giáng sinh, ca khúc nào phổ biến nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, văn không ngừng ngân vang trong những đêm lành.

Thực ra, Elvis Phương không phải là ca sĩ đầu tiên thể hiện “Bài thánh ca buồn”, và có lẽ cũng chẳng phải là người cuối cùng, nhưng anh đã là người mặc định cho ca khúc một vị trí hoàn hảo, thổi vào đó dạt dào những cảm xúc từ khung trời kỷ niệm pha trộn giữa mùa Noel xưa và nay, một chút gì tiếc nuối, xa vắng, kết hợp sử lý giọng hát ở không gian cao, rộng, khoan thai, phát âm ca từ rõ ràng, lắng đọng, để rồi đẩy ca khúc lên trở thành một tuyệt tác mà qua biết bao nhiêu thế hệ người nghe, nó vẫn luôn là bài ca Giáng sinh được yêu mến nhất.

Nguyen Vu 2Quay trở lại với nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” thì vốn là một sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Vũ. Ông sáng tác ca khúc này vào năm 1972, tức cách đây đúng 40 năm và được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, nam ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện.

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944 tại Hà Nội nhưng suốt thời thơ ấu ông sống ở Đà Lạt. Chính thành phố sương mù này đã tác động nhiều đến bước đường nghệ thuật của ông.

Năm 12 tuổi (1956), cậu bé Tuấn Khanh từng đoạt giải nhất đơn ca thiếu nhi do đài phát thanh Đà Lạt tổ chức. Năm 23 tuổi, Nguyễn Vũ có bản nhạc đầu tay “Huyền thoại chiều mưa”… Hiện tại, ông có 4 người con gái đều đã trưởng thành nhưng không có ai theo nghiệp âm nhạc của cha. Hiện ông đang mở lớp dạy đàn, dạy nhạc tại Sài Gòn.

Mỗi ca khúc đều có một số phận, nhưng sau hơn 40 năm khi ca khúc ra đời, cha đẻ của Bài thánh ca buồn – nhạc sĩ Nguyễn Vũ – vẫn còn nguyên sự phấn khích : “Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế. Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen”.

Ông kể rằng năm 14 tuổi, ông bị mê đắm bởi một cô gái người công giáo tại thành phố Đà Lạt sương mù. Tình cảm ấy khiến ông cứ lẽo đẽo theo cô trên đường đến nhà thờ. Trong một lần tan lễ, trời mưa rất to, cả hai đành phải trú mưa chung dưới một hiên nhà. Lúc ấy cũng đúng ngày lễ Giáng Sinh. Cô gái và người nhạc sĩ đều im lặng. Khi nghe ca khúc Silent Night (Đêm thánh vô cùng) phát ra từ nhà bên cạnh, cô gái lẩm nhẩm hát theo, hình ảnh ấy cứ ám ảnh người nhạc sĩ cho đến nhiều năm sau đó,Nguyen Vu 3 “trái tim của một gã trai mới lớn thổn thức đến tội nghiệp nhưng lại không có can đảm để làm quen”, vào năm 1972, Nguyễn Vũ đã viết lại cảm xúc của mình”. Và “Bài Thánh Ca Buồn” đã ra đời.

Đối với một tác phẩm nổi tiếng, chúng ta không chỉ xem xét, khẳng định khía cạnh tài năng của người sáng tác, mà còn phải quan tâm tới những nhân tố làm nên sở thích ở người nghe.“Bài thánh ca buồn” quả thực là một ca khúc đã vượt qua sự thử thách của thời gian để trở thành hiện tượng văn hóa, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, nhân văn, thẩm mỹ, lịch sử, khiến cho tác phẩm phẩm vì thế được cả những người Thiên Chúa giáo, lẫn những người ngoại đạo đều yêu thích. Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn, nhưng không bi lụy.

Ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Ngày nay, ngoài việc cộng đồng công giáo tổ chức lễ Noel theo những nghi lễ của tôn giáo nghiêm trang của mình, lễ Giáng sinh còn là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp của nhiều tầng lớp dân chúng nói chung, và đối với họ, Noel là một ngày Hội hơn là một ngày Lễ.

Đã 40 năm kể từ khi ca khúc “Bài thánh ca buồn” ra đời, đến nay nó vẫn được nhiều người nghe, thích và tiếp tục hát, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa dần dần. “Bài thánh ca buồn” đã thực sự trở thành một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh.

Xuân Mai chuyển tiếp

NoelNHỮNG CA KHÚC GIÁNG SINH

HAY NHẤT

http://youtu.be/sS9O5GTNnTM

NHẠC GIÁNG SINH VIỆT NAM

http://qhvn.org/music/nhacgiangsinh.html

Over 30,200 views) :

https://www.youtube.com/playlist?list=PL8071336FFEFFCDF6

NHẠC SĨ LAM PHƯƠNG

Logo su kien 2

9 Lam Phuong 1MỘ CỔ TRONG CÔNG VIÊN TAO ĐÀN

THUỘC DÒNG TỘC NS LAM PHƯƠNG

Sau khi trang du lịch Rough Guides (Anh) tung tin công viên Tao Đàn ở Sài Gòn (trước đây có tên vườn Bờ-Rô, vườn Ông Thượng) là một trong những địa điểm bị ma ám ”ghê rợn nhất thế giới”, nhiều người đã liên tưởng, thậm chí thêm thắt chuyện về cụm mộ bí ẩn đã tồn tại rất lâu tại công viên này.

Phóng viên báo chí đã lần theo nhiều dấu vết tìm hiểu và phát hiện những điều thú vị, giải đáp bí mật của cụm mộ cổ này. Đi cùng phóng viên là Phó giáo sư – tiến sĩ Phạm Đức Mạnh, Trưởng Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Lịch sử, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH KHXH-NV), ĐH Quốc gia thành phố.

Di tích cổ hơn trăm năm ít người biết đến

Mộ có các vòng tường bao vây vòng, ngăn ngang tạo thành ba lần cổng vào lăng mộ. Mộ bao gồm tiền sảnh – sân thờ và nhà mộ. 9 Co mo 1 Lối vào mộ có các trụ cột đài sen hình khối chữ nhật. Mặt trước và phía trong của thân trụ có ô khuông trang trí hình chữ nhật lồng vào nhau. Tuy nhiên, hiện bên trong không còn dấu vết chữ viết hay hoa văn trang trí.  Giữa sân trước có bức bình phong tiền hình chiếu thư đặt trên bệ đỡ.

Nhà bia thể hiện kiểu nhà một gian hai chái. Mái ngói ống đổ trước – sau theo trục mộ với mỗi mái 11 ống ngói. Dọc đòn nóc thể hiện hai khối tượng voi phục châu đầu vào mộ. Nhà mồ liên kết nhà bia qua một rãnh máng nước. Mái lợp 10 ống ngói, viền đòn nóc và đặc biệt có đắp gờ hình đầu rồng và ngẫu tượng voi phục cách điệu.

Những  ngôi mộ này nằm ở phần phía tây bắc của công viên Tao Đàn, cách đường Trương Định khoảng 35 m về phía bên phải, cách giao lộ Nguyễn Thị Minh Khai – Trương Định khoảng 55 m về phía tây bắc. Đây là vị trí rất dễ dàng nhìn thấy với những ai đi qua công viên Tao Đàn. Tuy nhiên, nhiều người dân thường dạo chơi hay người bán hàng ở đây mỗi ngày, thậm chí bảo vệ làm việc từ lâu năm, hầu như đều không biết lai lịch ngôi mộ của ai, có từ khi nào. Điều đó đã tạo nên sự bí ấn và nhiều câu hỏi quanh cụm mộ ở công viên Tao Đàn.

Nhìn tổng thể bên ngoài những ngôi mộ này, Phó giáo sư Phạm Đức Mạnh đánh giá : Mộ có cấu trúc lăng song táng một nấm mộ dạng lăng, quy mô mộ lớn. Có thể thấy, từ bình phong hậu đến trụ cổng ngoài của ngôi mộ dài nhất 11,2 m; rộng nhất là 7,6 m. 9 Co mo 2Ngoài ra, kiến trúc của ngôi mộ khép kín, cầu kỳ.

“Đặc biệt, mộ xây dựng bằng hợp chất, còn gọi là mộ Ô dước – loại nhựa cây đặc sản của rừng Trường Sơn và nông thôn Việt Nam”, Phó giáo sư Phạm Đức Mạnh cho biết.

Theo nghiên cứu, phân tích, Phó giáo sư Phạm Đức Mạnh xác định đây thuộc loại hình mộ phổ biến trong văn hóa Việt từ thế kỷ 15 – đầu thế kỷ 20.

“Ở miền Bắc, loại mộ này chỉ dành cho hoàng gia (như lăng mộ vua Lê Dụ Tông, hoàng hậu, vợ chúa, công chúa,…). Riêng ở Nam bộ, mộ này cũng có trong lăng Hoàng Gia (Gò Công, Tiền Giang), Lăng Mạc Cửu (Hà Tiên, Kiên Giang), Lăng Thoại Ngọc Hầu (Châu Đốc, An Giang).

Tại Sài Gòn, mộ dạng này phổ biến gắn với nhiều danh tướng – danh sĩ – danh nhân thời các Chúa Nguyễn và Vua Nguyễn (nhiều nhất 2 thế kỷ 18-19). Có thể thấy kiểu mộ này ở mộ anh em tổng đốc Lê Văn Duyệt, Lê Văn Phong, Phó tổng trấn Gia Định Huỳnh Công Lý, Thượng thư Trần Văn Học, Võ Di Nguy, Trương Tấn Bửu và kể cả dạng mộ tưởng niệm dành cho quận công Võ Tánh (trên đường Hồ Văn Huê, Q.Phú Nhuận)…”, ông Mạnh phân tích thêm.

Cổ mộ của ai ?

Đi quanh, tìm hiểu thêm ngôi mộ, ông Mạnh chỉ cho chúng tôi tấm bia mộ hiện còn một số chữ Hán. Ông Mạnh cho biết, hai bia mộ này do các con lập. Một bia đề : “Hiển khảo trọng giang (?) Ất Mùi (vị) (?) thu quyên (?) chủ húy tự trường Lâm Tam Lang chi mộ”  tức mộ cha là con trai thứ ba Lâm gia.

9 Co mo 3Bia kế bên là : “Hiển tỷ… chủ lâm nguyên thất… chi mộ”  – dịch nghĩa là mộ mẹ… vợ nhà họ Lâm.

Ông Mạnh cho biết, theo truyền tụng, đây là mộ ông Lâm Tam Lang tự “Nguyên thất” mất vào mùa thu Ất Mão (1795) và bà Mai Thị Xã – vợ ông. Họ Lâm người gốc Quảng Đông.

Đặc biệt, hậu duệ đời thứ 4 của ông Lâm Tam Lang là cụ Lâm Quang Ky – Phó lãnh binh của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Phó lãnh binh Lâm Quang Ky là người đã góp phần không nhỏ trong trận chiến thắng Nhật Tảo.

Hậu duệ đời thứ 7 của ông Lâm Tam Lang là ông Lâm Đình Phùng – chính là nhạc sĩ nổi tiếng Lam Phương.

Sát vách tường bao bên phải còn một mộ nhỏ tương truyền là của thuộc tướng bị bại trận đã tự sát chôn theo chủ nhân mộ chính.

Trong khi đó, lần dỡ thêm một đầu mối khác thì theo Danh mục kiểm kê di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn Sài Gòn giai đoạn 2010-2020 của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch (VH-TT-DL), mộ cổ mang họ Lâm trong công viên Tao Đàn, được xây dựng năm Ất vị (1895).

“Tổng thể công trình kiến trúc được bảo tồn tương đối nguyên vẹn. Đây là một trong những ngôi mộ hợp chất có diện tích lớn và kiến trúc đẹp còn lại ở Sài Gòn”, đánh giá hiện trạng di tích trong Danh mục kiểm kê di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn Sài Gòn giai đoạn 2010-2020.

dmv1381563462Qua đó, theo Sở VH-TT-DL : “Sự tồn tại của mộ cổ mang họ Lâm góp phần đáng kể cho ngành khảo cổ học và nghiên cứu khoa học về loại hình mộ cổ của Việt Nam”.

“Cụm mộ trên là một trong những kỷ niệm cuối cùng của những thế hệ tiền hiền – hậu hiền trong nhiều lớp lương dân đi “mở nước” và xây đắp lãnh thổ và lãnh hải trên các nẻo đường thiên lý hướng về Nam”, Phó giáo sư – tiến sĩ Phạm Đức Mạnh kết luận.

Vì vậy, theo ông Mạnh, các ngôi mộ trong công viên Tao Đàn mang ý nghĩa linh thiêng. Cụm mộ ở đây cũng như rất nhiều công trình cổ mộ khác vẫn được người dân Sài Gòn và Nam bộ tôn thờ và nhang khói thường niên, là biểu trưng cho truyền thống đạo lý “thờ cúng tổ tiên”, “uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam. Cùng với đình chùa, những ngôi mộ cổ là đối tượng cần bảo tồn, gìn giữ. (theo Viên An)

Logo nhan vat

9 Lam Phuong 5NHẠC SĨ LAM PHƯƠNG

TÀI HOA MỘT ĐỜI

Sở dĩ con người của Lam Phương như vậy là bởi tuổi thơ của ông ở miền quê Rạch Giá: nghèo nàn, thiếu thốn nhưng rào rạt yêu thương.

Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh ngày 20/3/1937 tại Rạch Giá. Ông là con trai trưởng trong một gia đình gồm 6 người con. Các em của ông không ai theo con đường âm nhạc hay nghệ thuật gì cả.

Thời Thế Chiến thứ 2, miền quê miền Nam VN thường bị phi cơ của quân đội Đồng Minh (the Allied Forces) dội bom để đánh Nhật (lúc đó đang chiếm đóng toàn cõi Đông Dương). Nhiều gia đình đã phải lánh nạn, đàn ông đi trước dò đường tìm nơi định cư rồi trở về đón gia đình đi theo. Ba của Lam Phương cũng bỏ Rạch Giá lên Saigon tìm đường sinh sống nhưng . . . ông không trở về đón vợ con. Ông ở lại và có nhiều gắn bó với những người đàn bà khác. Kết quả là Lam Phương có rất nhiều em cùng cha khác mẹ.
Bởi vậy, Lam Phương rất thương mẹ. Ông đã dồn hết lòng thương yêu cho người mẹ nghèo nàn, quê mùa đau khổ nhưng thương con vô cùng. Và cũng bởi lòng yêu thương người mẹ hiền mà Lam Phương đã quyết tâm vượt mọi trở ngại để thành công cho bằng được trong sự nghiệp âm nhạc của mình.

Cách đây 3 năm, Lam Phương đã tâm sự bằng giọng miền Nam chân chất và nụ cười hiền hòa : – Tôi thương má tôi lắm. Má tôi là một người đàn bà quê mùa nhưng mà thực lòng thương tôi lắm. Con trai lớn mà ! Má tôi nói một câu thôi mà tôi đã ráng làm muốn chết luôn !

Hình ảnh người mẹ hiền lúc nào cũng phảng phất trong lời ca đơn sơ của ông, nhất là những nhạc phẩm đầu tiên vào giữa thập niên 50. Năm 1947, cuộc sống của gia đình ở miền quê Rạch Giá quá khó khăn nên người con trai trưởng đầu còn xanh chỉ mới 10 tuổi đã phải bơ vơ lên Saigon một mình bỏ lại mẹ và các em để kiếm ăn và . . . để giúp gia đình.

9 Lam Phuong 2Lam Phương đến tá túc tại nhà một người dì ở Tân Định. Khi tạm ổn định, mẹ ông dẫn các em lên theọ Cả gia đình dọn về một ngôi nhà mướn tồi tàn, chật hẹp trong một căn hẻm lầy lội tăm tối ở vùng Da Kao. Những đêm mưa dù không lớn, nước chảy vào nhà, từ trên mái xuống, từ ngõ trước vào và cũng trong một đêm mưa năm 1954 như vậy, Lam Phương đã quá tủi thân cho cảnh cơ cực, bi đát của gia đình nên sáng tác bản “Kiếp Nghèo”. Lúc đó, Lam Phương còn đang học Trung Học.

Đây là thời kỳ Lam Phương bi quan nhất. Suốt tuổi thanh niên, Lam Phương đã sống trong cơ cực nên từ đó tư tưởng bi quan đã hằn sâu trong đầu óc ông. Ta có thể tìm thấy sự bi quan này trong rất nhiều tác phẩm của Lam Phương trong thập niên 60, 70 và sau này ở hải ngoại. Một nhạc phẩm nữa cũng được Lam Phương sáng tác để nói lên cảnh nghèo của gia đình thời còn ở Đa Kao : “Đèn Khuya”, sáng tác năm 1958. Cả hai bài KN và ĐK đều được Thanh Thúy (là ca sĩ ăn khách số 1 của miền Nam lúc đó) trình bày và đều là top ten đầu thập niên 60.

Riêng bài KN thì đã bị dân gian sửa lời Thật ra, Lam Phương là nhạc sĩ tân nhạc có sáng tác bị dân gian sửa lời nhiều nhất trong suốt 68 năm tân nhạc VN (1938 – 2001). 80% sáng tác của ông, nếu không bị Trần văn Trạch, Tùng Lâm, Phi Thoàn và các hề cải lương sửa lời thì cũng bị các anh hùng hè phố, đạp xích lô sửa lời. Lý do: nhạc Lam Phương đã đi vào lòng của giới nghèo.

Sự nghiệp âm nhạc của Lam Phương bắt đầu bằng tấm lòng thương mẹ. Lúc mới mười mấy tuổi, mẹ ông thường nói với ông niềm mơ ước nhỏ bé được có một nơi trú ngụ… đỡ tồi tàn hơn. Câu nói của mẹ là ngọn lửa nung đúc Lam Phương trong thập niên 50 khi Lam Phương chập chững bước vào âm nhạc với quyết tâm là ông sẽ nuôi mẹ và các em bằng âm nhạc. (It was very lucky that he did it because in VN then, you simply couldn’t).

(Ngày nay, tuy đã hơn 60 tuổi nhưng mỗi lần nhắc đến mẹ là ông xúc động và bật khóc nức nở. Ông khóc thành tiếng, những giọt nước mắt chảy đầm đìa xuống đôi gò má khiến người nào đối diện cũng phải mủi lòng. 9 Lam Phuong 3Mẹ ông qua đời năm 1979). Bởi tính tình chất phác, Lam Phương được một thầy “lang băm” tân nhạc thương hại rồi dạy miễn phí căn bản nhạc lý. Tuy nhiên, Lam Phương học ông thầy này thì ít nhưng “học lóm” thì nhiềụ Thế mà cho đến nay, Lam Phương lúc nào cũng nhắc nhở và nhớ ơn vị thầy tốt bụng này cả.

Với chút vốn liếng, năm 1952, Lam Phương sáng tác nhạc phẩm đầu tay của mình tên “Chiều Thu Ấy” và dĩ nhiên là chẳng ai muốn biết đến. Năm 1954, “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” và “Kiếp Nghèo” mới thực sự tạo tên tuổi cho ông. Từ đó, sự nghiệp của LP chắp cánh.

Ban đầu, cùng với Hoàng Thi Thơ, Lam Phương chuyên sáng tác loại dân ca theo thể điệu mambo của Nam Mỹ. Điều lạ lùng là loại nhạc mới này đi vào mọi tầng lớp quần chúng thật nhanh. Có người độc miệng gọi đó là “dân ca mắm bò”. It was the lucky break for Lam Phương. Có lẽ trời không muốn phụ lòng kẻ thương mẹ.

Đây là những bản nhạc thịnh hành của LP theo điệu mambo thời đó : Khúc Ca Ngày Mùa, Trăng Thanh Bình, Nhạc Rừng Khuya. Những bản nhạc của Lam Phương có số bán rất chạy vào cuối thập niên 50 như : Chuyến đò vĩ tuyến, Đoàn Người Lữ Thứ, Sầu Cố Đô, Lá Thư Miền Trung, Bức Tâm Thư.

“Nắng Đẹp Miền Nam” (NĐMN) Bài này do Hồ Đình Phương đặt lời, HDP là một thi sĩ gốc người Huế, làm thơ không được nổi tiếng lắm nhưng đặt lời nhạc thì phải nói là tuyệt. Thanh Nam (nhà văn cũng là chồng nữ văn sĩ Tuý Hồng, Không phải Túy Hồng, ca sĩ kiêm kịch sĩ mà sau này là vợ thứ 1 của Lam Phương) và HDP là 2 chuyên gia đặt lời thời đó. Họ đặt lời cho Hoàng Trọng (vua Tango), Văn Phụng (vua Blue đen), Nguyễn Hiền, Nhật Bằng, Châu Kỳ, Lam Phương.

Bài NĐMN nhờ ca sĩ Kim Hoàng (từ cải lương nhảy qua tân nhạc) hát lần đầu tiên tại Đại Nhạc Hội mà nổi tiếng như cồn. Sau đó dĩa hát vòng có bài này được bán chạy như tôm tươị Và cũng từ đó, Lam Phương thoát khỏi “Kiếp Nghèo”.

Năm 1958, Lam Phương nhập ngũ. Từ đó, ông xoay qua sáng tác nhạc lính (những bản nhạc nổi tiếng như “Chiều Hành Quân”, “Tình Anh Lính Chiến”, “Kiếp Tha Hương“). Năm 1959, ông giải ngũ rồi gia nhập ban văn nghệ Bảo An và đoàn Hoa Tình Thương. Sau đó, Lam Phương cộng tác với Đài Phát Thanh Quân Đội, Saigon, Biệt Đoàn Văn Nghệ.
Ngoài việc sáng tác, Lam Phương còn cộng tác với những ban nhạc trên các đài phát thanh như ban Hoàng Lang, Võ Đức Tuyết, Văn Phụng, ban kịch Thẩm Thúy Hằng và ban kịch Sống của kịch sĩ Tuý Hồng (vợ Lam Phương). Một chi tiết ít người biết là ông thường trình diễn vào ban đêm tại một Club dành cho sĩ quan Mỹ trên lầu rạp Rex ở Saigon vào cuối thập niên 60 (lúc mới lập gia đình với Túy Hồng).

9 Tuy Hong 1Ở đây xin mở ngoặc để nói sơ về Túy Hồng một chút. Túy Hồng ban đầu chỉ biết đóng kịch và là một kịch sĩ nổi tiếng của ban thoại kịch Tân Dân Nam và Kim Cương, sau nhờ Túy Hồng chỉ dẫn nên hát rất nghề. Những bản nổi tiếng của Túy Hồng như “Chiều Tàn”, “Đèn Khuya”, “Mộng Ước”, “Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi” và nhất là “Phút Cuối” được Túy Hồng trình bày thật truyền cảm. Giọng Túy Hồng trong nhưng hơi chát. Túy Hồng ngân rất điêu luyện. Tiếc là khán giả chỉ mến kịch sĩ Túy Hồng chứ không mến ca sĩ Túy Hồng.

Như đã nói ở trên, cuộc sống vật chất của Lam Phương đã sáng sủa hơn rất nhiều một thời gian sau khi nhạc phẩm “Nắng Đẹp Miền Nam” được tung ra và lại càng sáng sủa hơn sau “Tình Anh Lính Chiến” và “Chiều Hành Quân”. Đây là 2 nhạc phẩm do chính Lam Phương xuất bản và tự phát hành. Số lượng bán 2 nhạc phẩm này phải nói là kỷ lục. Lúc này, ông đã có xe gắn máy (Lambretta) để chạy rồi (và cũng để giao nhạc lẻ cho các sạp bán nhạc rời ở Saigon).

Cuối thập niên 60 là giai đoạn vàng son nhất của Lam Phương. Ông đã bớt bi quan. Trước sự thành công của ông, một số nhà xuất bản xúm nhau lại “đánh hội đồng” tẩy chay không phổ biến những tác phẩm của ông. Tuy nhiên, khi thấy Lam Phương tự xuất bản và phát hành mà vẫn thành công và tên tuổi lại càng đi lên thì sau đó nhiều nhà phát hành lớn đã thương lượng để mua những tác phẩm của ông với giá thật cao. Trong thời gian này, Lam Phương đã mua được một căn nhà khang trang trong cư xá Lữ Gia rồi đến năm 1972, ông mua thêm được một căn nhà khác trên đường Nguyễn Tri Phương. Thế là ước mơ của mẹ ông gần 20 năm trước đã được toại nguyện.

Ngày 30/4/1975, ông rời VN trên tàu Trường Xuân cùng với gần 4,000 người khác và là một trong những người Việt Nam đầu tiên đến định cư ở Mỹ. Sau một thời gian cư ngụ tại California, Lam Phương qua Paris sống một thời gian.

Ra hải ngoại, dòng nhạc LP có rất nhiều thay đổị Trước hết, trong thời gian ở Paris, khung cảnh mới lạ mang tính chất lãng mạn và cổ kính của thành phố đó đã ảnh hưởng sâu xa đến dòng nhạc của ông. Ông cảm thấy thoải mái hơn trong việc sáng tác, có dịp sống thật với chính mình và không bị vướng bận về vấn đề thương mại, sinh kế như khi còn ở VN. Trong thời gian này, nhiều nhạc phẩm đặc sắc ra đời như : Mùa Thu Yêu Đương, Tình Hồng Paris, Cho Em Quên Tuổi Ngọc, v.v… Lời nhạc của Lam Phương ở hải ngoại có vẻ bóng bẩy hơn khi còn ở trong nước. Đối tượng của ông bây giờ không còn là giới bình dân nữạ

9 Tuy Hong 2Ông bảo lãnh Túy Hồng sang đoàn tụ. Sau đó không lâu, cuộc hôn nhân giữa Lam Phương và Túy Hồng tan vỡ. Lời nhạc của ông bắt đầu hiện rõ nét chua xót, đắng cay như bài “Tình Vẫn Chưa Yên” chẳng hạn. Sự ngao ngán, thất vọng về cuộc đời, tình người đã khiến Túy Hồng, một người hiền từ, ăn nói nhỏ nhẹ, cư xử thật khiêm tốn phải xúc cảm để có những lời nhạc thống thiết, uất ức như trong bài “Lầm”.

Sau sự đổ vỡ này, LP đã sống những chuỗi ngày thật đau khổ. Cũng nhờ đó mà ông đã cho ra đời nhiều sáng tác đặc sắc mà điển hình là bài “Một Đời Tan Vỡ”.
Sau đó, Túy Hồng tìm được nguồn an ủi trong một cuộc tình rồi biến thành cuộc hôn nhân mới với người vợ tên Diệu cho đến hôm naỵ Lam Phương như tìm lại sức sống mới. Từ đó, những nhạc phẩm như “Từ Ngày Có Em Về”, “Tình Đẹp Như Mơ” ra đờị Dòng nhạc Lam Phương không những phong phú mà còn tha thiết, sống động hơn như ta có thể tìm thấy trong “Bài Tango Cho Em”, “Cỏ Úa”, “Một Mình”.

Cuối thập niên 90, Lam Phương bị bệnh tiểu đường và có lượng cholesterol cao. Ngày 13/3/1999, do biến chứng của bệnh tiểu đường, ông đã phải vào bệnh viện cấp cứu và từ đó Lam Phương bị liệt. Biến cố này đã đưa LP về lại với nỗi bi quan vốn đã đeo đuổi theo ông từ thuở còn thanh niên. (theo hoangvu)

Lan Hương chuyển tiếp

Ca nhacNhững ca khúc của nhạc sĩ Lam Phương

– Chuyến đò vĩ tuyến – Giao Linh

http://youtu.be/V634FEJrusk

– Đèn Khuya – Thanh Thúy

http://youtu.be/ZPVvKO3nmGQ

– Một mình – Quang Dũng

https://www.youtube.com/watch?v=m_B1mBTmpXE

– Chuyến đò vĩ tuyến – Hoàng Oanh

http://youtu.be/8-6sbyFZFL8

– Bức tâm thư – Tuấn Vũ & Ngọc Đan Thanh

http://youtu.be/5jeMNBivXzg

Quế Phượng (tổng hợp)