CUỘC ĐỜI CỦA ĐẠI CATHAY

TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG

TRẦN ĐẠI (ĐẠI TÌ CÁI THẾ)

– Trúc Giang MN

1/- Tổng quát

Cuộc đời của Đại Cathay bắt đầu bằng nổi bất hạnh và kết thúc bằng cái chết đầy bí ẩn.

Từ một cậu bé bụi đời ở đường hẽm sau rạp chiếu bóng Cathay, nhờ liều mạng và lì đòn, Đại đã trở thành một trùm xã hội đen ở Sài Gòn Chợ Lớn với cái tên Đại Cathay.

Lúc bấy giờ, giới giang hồ đất Sài Gòn có 4 đại cao thủ, được gọi là Tứ Đại Thiên Vương, gồm có Đại, Tỳ, Cái, Thế. Đó là Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế.

Đại Cathay được xếp hàng đầu, gọi là đại ca của những đại ca trong giới giang hồ Sài Gòn. Không những là thủ lãnh của những tay du côn, du đảng, đâm thuê chém mướn, đầu trộm đuôi cướp, mà Đại Cathay còn thu phục đám trí thức, công tử con nhà gia thế, học trường Tây, và một số văn nghệ sĩ nữa.

Bên cạnh đó, nhóm Hắc đạo người Hoa trong Chợ Lớn nổi tiếng nhất là Tín Mã Nàm (Con ngựa điên) cũng hùng cứ một phương. Một rừng không thể có 2 cọp, cho nên những cuộc hỗn chiến đẫm máu, kinh hồn nổ ra để tranh giành lãnh địa, quyền lực và chia chác lợi lộc. Chiến thắng trong những trận tranh hùng đã đưa Đại Cathay trở thành ông trùm giang hồ, thời những năm 1960.

Nhiều huyền thoại tô vẽ Đại Cathay làm cho nhân vật nầy, vợ hắn và đàn em, trở thành những nhân vật trong tiểu thuyết, điện ảnh, âm nhạc qua những tác phẩm như Điệu Ru Nước Mắt, Vết Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang, Trần Thị Diễm Châu, đưa tên tuổi Đại Cathay lên tuyệt đỉnh trong làng dao búa.

Tánh ngổ ngáo, ngang tàng coi thường pháp luật đã giết chết tên trùm du đảng nầy. Tự xem mình như ông trời con, ra đường, Đại chễm chệ trên băng trước của chiếc Mustang mui trần, hiệu xe mà chỉ có vài chiếc ở Sài Gòn, cả chục đàn em rú ga xe gắn máy, trước mở đường, sau hộ tống.

Cuộc đời tội lỗi, dù có lẫy lừng đến đâu, rồi thì cũng chết trong tội lỗi.

2/- Tứ Đại Thiên Vương Sài Gòn

Thế giới giang hồ Sài Gòn ở những năm 1960 dưới sự cai quản của 3 tay đại ca nổi tiếng, là Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế (Ba Thế). Ba Thế là một cao thủ tiếng tăm, làm chủ vũ trường Aristo trên đường Lê Lai, bên hông ga xe lửa Sài Gòn. (Admin : bây giờ nơi đây là nhà hàng Lê Lai)

Trước sự lớn mạnh của băng Đại Cathay, 3 tay sếp sòng nầy không mấy vui lòng.

Sau khi ổn định tổ chức, băng đảng của Trần Đại có đến hàng trăm anh em. Những đàn em sừng xỏ như Lâm Đào Già (sau khi bị Tín Mã Nàm chém rụng một ngón tay, nên có tên là Lâm 9 ngón), Hoàng Sayonara (còn gọi là Hoàng Guitar) là quân sư, Hùng Đầu Bò, bác sĩ Nghiệp, Dzách Bửu, Ban tham mưu có đủ văn võ từ đánh đấm đến chiến lược.

Trần Đại quyết định mở rộng uy thế và địa bàn hoạt động, nên gởi thơ đến bộ ba đại ca đầu xỏ đề nghị hợp tác làm ăn. Nhận được thơ, Huỳnh Tỳ chửi thề, Nó là cái thằng nhóc năn nỉ xin được đánh giày cho tao trước kia, nó có tài cán gì mà xưng là đại ca và đòi hợp tác làm ăn.

Cả ba quyết định phục kích, đánh hội đồng để triệt hạ Đại Cathay. Một bữa tiệc được tổ chức, gọi là tiệc đề nghị kết hợp, mời Trần Đại đến dự để bàn công việc.

Không chút nghi ngờ, cứ nghĩ rằng 3 tay anh chị nầy muốn qui thuận, về làm ăn chung với đại gia đình huynh đệ của mình, nên Đại ung dung, đơn thân độc mã đút đầu vào bẩy.

Mới lót tót lên tới cầu thang, vừa đưa tay ra bắt tay với Ba Thế, thì bất ngờ, Ba Thế nhảy lên cao, tung cú đá song phi mạnh như vũ bão, làm cho Trần Đại lộn cổ xuống thang lầu. Bốn tay em phục kích, rút dao ra chém loạn đả, tới tấp, quyết triệt hạ cho được Trần Đại. Đại chụp được chiếc ghế gỗ của bà bán thuốc lá trước cửa, vừa đở vừa tìm đường thoát thân với mình mẫy đầy thương tích, máu me thấm ướt cả áo quần, tưởng đâu mất mạng.

Trong thời gian dưỡng thương, Lâm Đào Già và Hoàng Sayonara huy động đám đàn em tổ chức bảo vệ đại ca, vì sợ bọn cô hồn bộ ba thừa thắng xông lên, tiếp tục tấn công truy sát.

Ngay sau khi các vết thương chưa kịp kéo da non, dù uy thế của Đại lúc đó rất lớn, có cả trăm đàn em, nhưng Trần Đại ra lịnh cho họ phải bất động, chỉ một mình Đại xách dao đi tìm, để tỉa từng người một, những kẻ đã tham gia vụ bề hội đồng vừa qua.

Cả ba tên Tỳ, Cái, Thế và 2 đàn em bị chém suýt toi mạng, tưởng đâu phải đi chuyến tàu suốt xuống Suối vàng. Cuối cùng, 5 tên phải nhờ một lão giang hồ là Tám Lâu, có thân tình với Trần Đại, đứng ra làm trung gian dàn xếp, giảng hòa và xin Trần Đại cho họ có dịp để xin lỗi và chịu thần phục.

Danh xưng Tứ Đại Thiên Vương : Đại, Tỳ, Cái, Thế bắt nguồn từ sau bữa tiệc hòa giải hôm đó.

3/- Trận thư hùng giữa hai băng đảng Việt-Hoa

– Thế giới Hắc Đạo Chợ Lớn

Chợ Lớn là thế giới riêng của người Hoa. Các bang hội như Phước Kiến, Triều Châu, Tiều, Quảng Đông, sinh hoạt riêng biệt, người Việt không thể chen chân vào. Người Hoa có khuynh hướng bao che, ít hợp tác với chính quyền, vì muốn bảo vệ đồng hương và sợ bị trả thù.

Giới kinh doanh người Hoa phát triển rất mạnh, nhiều đại thương gia Chợ Lớn có liên hệ với những tên tài phiệt Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cau, họ có khả năng lủng đoạn nền kinh tế VNCH với những đại xì thẩu như Lý Long Thân, Mã Tuyên, và trước kia là Chú Hỏa, Quách Đàm. Các bang hội bầu ra một Tổng Bang Trưởng, giống như một Bố Già để lãnh đạo cộng đồng Chợ Lớn, thời đó là Mã Tuyên, một nhân vật có uy thế đến nổi Tổng thống Ngô Đình Diệm phải nhờ bảo vệ ở nhà Mã Tuyên trong đêm 1/11/1963, trước khi đến nhà thờ Cha Tam.

So với băng đảng Đại Cathay, Hắc Đạo Chợ Lớn được tổ chức chặt chẽ và hùng mạnh hơn nhiều. Đứng đầu băng đảng Chợ Lớn là Tín Mã Nàm, là nhân vật thứ hai sau Hoàng Long (Rồng Vàng) là người thống lãnh chi nhánh Sài Gòn – Chợ Lớn của Hội Tam Hoàng ở Việt Nam.

– Hội Tam Hoàng

Hội Tam Hoàng là một trong những băng đảng tội phạm lớn ở Hồng Kông, có chi nhánh trên các nước có nhiều người Hoa sinh sống, như Ma Cau, Đài Loan, các khu phố Tàu (China Town) ở châu Âu, Hoa Kỳ, Úc, New Zealand, Chợ Lớn.

Nguồn gốc là tổ chức Phản Thanh Phục Minh của các dòng họ có liên quan mật thiết với triều đình nhà Minh, như Mộc Vương Phủ, mà Kim Dung nói đến trong chuyện Lộc Đỉnh Ký với nhân vật chính là Vy Tiểu Bảo.

Sau nầy, Hội Tam Hoàng được tổ chức bí mật, hoạt động trên mọi lãnh vực như buôn lậu vũ khí, tống tiền, mãi dâm, bắt cóc, làm hàng giả, tiền giả, cho vay nặng lãi, cờ bạc. Riêng tại Hồng Kông, Hội Tam Hoàng có 50 băng đảng, quy tụ 80,000 hội viên.

– Tín Mã Nàm

Tín Mã Nàm tên thật là Trần Hà Tư, lấy hiệu là con ngựa điên, người có thân hình hộ pháp, đã nhiều năm luyện tập võ Thiếu Lâm Hồng Gia Quyền. Năm 17 tuổi đã hạ đo ván võ sĩ vô địch Ma Cau. Băng đảng của Tín Mã Nàm bảo kê các sòng bài, tiệm hút, động mãi dâm, nhà hàng, vũ trường. Các cơ sở kinh doanh người Hoa trong Chợ Lớn cũng phải đóng hụi chết hàng tháng cho Tín Mã Nàm.

Dưới trướng của đại ca nầy có nhiều cao thủ với nhuiều thành tích về đâm thuê, chém mướn, vào tù ra khám, làm ăn bất hợp pháp, như : Sú Há, Hắc Quẩy Chảy, Quầy Thầu Hao, Cọp Chảy, Lục Chỉ, Sám Sò, Hỏi Phoòng Kin (Kim Hải Phòng).

– Kế hoạch mở rộng lãnh địa của Đại Cathay

Sau khi cũng cố thế lực ở quận 1, quận 2, vùng Đa Kao, Tân Định, Đại Cathay quyết định mở rộng địa bàn vào vùng Chợ Lớn.

Theo kế hoạch của quân sư Hoàng Sayonara, Đại mua chuộc tên đàn em của Tín Mã Nàm, vốn có chuyện bất mãn với chủ tướng, là tài pán Dương Chí, phụ trách các sòng bài ở Chợ Lớn. Tên nầy bán đứng đàn anh bằng cách lôi kéo một số lượng lớn những con bạc nặng ký, từ các sòng ở Đại Thế Giới, rạp hát Hào Huê về các sòng ở Cầu Muối do Bảy Sy phụ trách. Bảy Sy là anh vợ của Năm Cam. Sau đó, Dương Chí bỏ luôn Tín Mã Nàm về Sài Gòn mở sòng cho Đại Cathay.

Tín Mã Nàm tức giận, ra lịnh : Tao cho quyền tụi bây chém chết mẹ ló mấy cái thằng làn em nào của Đại Cathay dám ló mặt vào Chợ Lớn.

– Đại Cathay ra tay hành động

Trong suốt 12 tháng liền, Đại tiếp tục đổ quân tập kích các điểm làm ăn của băng Tàu Chợ Lớn. Chém đại bất cứ ai. Tấn công nhanh, chém lẹ rồi rút lui, với mục đích là gây kinh hoàng trong đám khách. Chiến thuật của quân sư Hoàng Sayonara xem ra có kết quả, vừa gây thiệt hại nặng nề cho địch, vừa bảo vệ lực lượng của mình.

– Quyết đánh một trận lẫy lừng

Đích thân Đại dẫn theo 9 đàn em thuộc loại chiến đấu nhất, gồm những cao thủ như Ba Thế, Lâm Đào Già, Phong Khùng, Lộc Điên, chở đôi trên 5 chiếc xe gắn máy hiệu Goebel, máy Sach của Đức, là loại xe chạy nhanh nhất thời đó, so với Mobylette và Velo Solex.

Thần tốc tấn công vào quán cà phê trước rạp hát Hào Huê, là nơi tụ tập của băng Tín Mã Nàm. Bị tấn công bất ngờ, nhưng nhóm nầy cũng phản ứng rất nhanh. Chỉ cần bật mặt quầy lên, thì một thùng mã tấu, đoản kiếm, trường thương đủ trang bị cho cả bọn. Nhóm Tàu Chợ Lớn phản công dữ dội. Phong Khùng và Lộc Điên lãnh thẹo nặng nề, máu phun òng ọc ướt cả áo quần. Lâm Đào Già bị chém văng mất một ngón tay, nên từ đó,đổi tên thành Lâm 9 ngón.

Cuộc tập kích không thành công trọn vẹn, cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề, nhưng sau trận ra quân ác liệt đó, uy tín Đại Cathay lên cao trong giới giang hồ Sài Gòn – Chợ Lớn.

Sau đó, Tín Mã Nàm rơi vào tình trạng tuyệt vọng do công việc làm ăn xuống dốc thê thảm vì khách không dám bén mảng đến Chợ Lớn, sợ bị lãnh thẹo oan mạng. Tín Mã Nàm hận thấu xương, nhưng không có con đường nào khác hơn là cử người mời Trần Đại lên nhà hàng Đồng Khánh để thương lượng.

Quân sư Hoàng Sayonara và Lâm 9 ngón khuyên Trần Đại đừng vào hang cọp. Coi chừng bị mắc bẩy, nhưng Đại Cathay nổi máu anh hùng, quyết định nhận lời lên nhà hàng Đồng Khánh theo y hẹn.

Để tài xế ngoài cửa, Đại một mình, tay không, lên lầu hội kiến với Tín Mã Nàm.

Một bàn tiệc dọn sẵn. Thủ lãnh người Tàu cùng với một đội múa lân gồm mười mấy tên, mặt nào cũng có ngầu, gườm gườm nhìn Đại ung dung bước vào bàn tiệc. Một tên đàn em, thấy Đại đi một mình, là thời cơ thuận tiện, nên xổ một tràng tiếng Tàu, đề nghị chủ tướng ra tay luộc con mồi đem ra nhậu.

Nhìn cử chỉ của Trần Đại, con ngựa điên thầm phục. Tay đại ca vùng Chợ Lớn nhượng bộ, đồng ý giao khu vực từ chợ Nancy ra Sài Gòn cho Đại toàn toàn quyền quản lý. Phần địa bàn Chợ Lớn, thì đàn em của Đại được mở sòng, mở động ở những nơi nào không có cơ sở của người Hoa. Riêng khu chợ Sắt, chợ Tân Thành và đường hẽm 100 là vùng tuyệt đối không được xâm phạm, vì đó là giang sơn của Tín Mã Nàm và là nơi mà vợ bé của hắn đang sinh sống.

Thế là xong một hợp đồng nhượng địa, tuy không có chữ ký, nhưng giang hồ cam kết thì được nghiêm chỉnh thi hành.

Hai ly rượu mừng nâng lên. Uống cạn. Và Đại Cathay ngự trị trong thế giới ngầm Sài Gòn-Chợ Lớn.

4/- Vài nét về Đại Cathay

– Đại Cathay

Trần Đại tuổi Thìn, sanh năm 1940. Gốc miền Trung, nói giọng lơ lớ vùng Nghĩa Bình (Quảng Ngãi-Bình Định). Ngay cả đám em út thân cận cũng không biết rõ về gia thế của Trần Đại. Hơn cả chục lần về bót, hắn khai cả chục bản lý lịch khác nhau, khi thì cha tên Lê Văn Cự, lúc thì tên Trần Văn Trự. Mẹ cũng có nhiều tên, như tên Hương rồi tên Duyên…

Cha chết trong nhà tù Côn Đảo. Mẹ lấy chồng khác. Dượng ghẻ là một người thô lổ lại nghiện thuốc phiện, thường lôi Đại ra dần cho những trận đòn chí tử vì tánh ngỗnghịch, kết bè kết đảng với trẻ bụi đời, không học hành mà chỉ đi đánh lộn. Lúc 10 tuổi, Đại thôi học, bỏ nhà đi bụi đời, đánh giày, bàn báo nuôi thân.

Rạp chiếu bóng Cathay ở ngã tư Công Lý – Nguyễn Công Trứ, thuộc quận nhì thường xảy ra những trận ấu đả giành giựt khách đánh giày của lũ trẻ bụi đời. Trần Đại lì lợm, liều mạng, trăm trận trăm thắng với tay chân mặt mũi đầy những vết bầm tím, rướm máu.

Năm 14 tuổi, Đại xếp sòng khu vực rạp chiếu bóng Cathay, nên được gọi là Đại Cathay từ đó.

Đại đã từng bị tống vào Trại Giáo Hoá Thiếu Nhi, Thủ Đức, trại Tế Bần ở cầu chữ Y.

Đầu năm 1960, Đại trên 20 tuổi, đã trở thành ông trùm khét tiếng. Hắn bảo kê hầu hết các sòng bài, tiệm hút, vũ trường, động mãi dâm ở quận 1.

Ngoài những cao thủ trong làng dao búa, Đại Cathay bắt đầu quen biết với tầng lớp trí thức, con nhà gia thế, học trường Tây, như bác sĩ Nghiệp, Hoàng Sayonara (còn gọi là Hoàng Guitar), Dzách Bửu, Dzí Bửu, Hùng Đầu bò.

Trong giới nghệ sĩ, Duyên Anh là nhà văn, nhà báo nổi tiếng, đã gặp Đại Cathay và Hoàng Sayonara ở tiệm hút. Tên của hai du đảng nầy là nguồn cảm hứng để Duyên Anh sáng tác những tiểu thuyết Điệu Ru Nước Mắt (Đại Cathay), Vết Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang (Hoàng Sayonara), Trần Thị Diễm Châu (Châu Kool – Vợ của Đại tên Nhàn).

Đạo diễn Lê Dân đã đưa những tiểu thuyết nầy của Duyên Anh lên thành phim. Nhạc sĩ Phạm Duy và Ngọc Chánh sáng tác bản nhạc Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang.

– Đại Cathay cặp kè với Đông Nhàn

Nhàn là con gái của thương gia nổi tiếng trong ngành bàn ghế ở đường Hồng Thập Tự, hiệu là Đông Nhàn, sau đổi tên thành Phan Văn Nhị. Nhàn con nhà giàu, học trường Tây, yêu say đắm Đại Cathay, nhưng gia đình cấm cản, nên bỏ nhà theo Đại sống như vợ chồng, và trở thành đàn chị của hàng trăm tên giang hồ thảo khấu.

Câu chuyện của Nhàn được Duyên Anh đưa vào tiểu thuyết mang tên Trần Thị Diễm Châu (Châu Kool vì hút thuốc lá hiệu Kool)

– Hoàng Sayonara

Hoàng Sayonara hay Hoàng Guitar là một tay chơi đàn nổi tiếng với bản nhạc trong phim Sayonara. Hoàng là quân sư của Đại Cathay.

Sau ngày băng đảng của Đại Cathay bị hốt vào trại Cửu Sừng ở Phú Quốc, băng đảng không còn, Hoàng hàn gắn lại mối tình đầu với người yêu tên Ngọc, sống đời bình thường. Cuộc sống túng thiếu, không có việc làm vì cái quá khứ du đảng, nhất là khi vợ có bầu sắp sanh mà tiền không có. Hoàng tham gia vào một phi vụ cuối cùng là hợp tác với băng Thành Điếc, đỗ hàng PX, kiếm tiền cho vợ sanh. (PX, chữviết tắt của Post Exchange, là những cửa hàng bán lẻ do quân đội quản lý, cung cấp nhu yếu phẩm cho quân đội Hoa Kỳ. Hàng miễn các thứ thuế, nên giá rẻ, và chợtrời bày bán đầy đường.)

Vụ bốc hàng bị quân cảnh Mỹ phát giác. Khi bắn nhau với QC Mỹ, Hoàng Guitar lãnh một băng đạn M-16 trên lưng, vết thù trên lưng ngựa hoang. Đó là cảm hứng cho Phạm Duy và Ngọc Chánh sáng tác bản nhạc Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang :

Ngựa hoang về tới bến rồi

Cởi mở lòng ra với cõi đời

Nhưngđời làm ngựa hoang chết gục

Và trên lưng nó, ôi

Còn nguyên những vết thù.

Khi đã bước vào giang hồ, muốn rút chân ra không phải dễ.

5/- Bài trừ du đảng

Với chức vụ Tư lịnh Cảnh Sát Quốc Gia, Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan quyết tâm bài trừ du đảng. Trung Tâm Bài Trừ Du Đảng ở bên kia cầu Bình Triệu, và Biệt Đội Hình Cảnh do Đại úy Trần Kim Chi chỉ huy.

Theo lịnh của Tướng Loan, Biệt Đội Hình Cảnh (BĐHC) được quyền bắn hạ tại chỗ bất cứ tên du đảng nào gây án trên đường phố và chống lại cảnh sát hành sự. Sau một thời gian hoạt động, BĐHC chỉ tóm được những tên tép riêu mà thôi. Đối tượng mà cảnh sát nhắm tới là Đại Cathay thì vẫn nhởn nhơ, thách thức.

Trần Đại không cướp giật, không bị ai tố cáo nên không có đủ bằng chứng để hốt vào tù. Đóng tiền bảo kê là những người làm ăn phi pháp nên cũng không có ai thưa kiện gì cả. Giang hồ cũng có luật lệ riêng của nó, những ai phản bội thì bị trừng phạt, từ lấy thẹo cảnh cáo đến thủ tiêu, cho nên không ai dám bán rẻ anh em, vì thế nhà chức trách rất khó làm việc.

Phụ tá Tướng Loan là Trung tá Mã Sanh Nhơn đưa thơ mời Trần Đại đến trình diện Tổng Nha Cảnh Sát QG. Đại đến. Tướng Nguyễn Ngọc Loan ra lịnh:

– Anh phải giải tán băng đảng. Không được lộng hành.

Trần Đại đồng ý với một điều kiện, là cho bọn đàn em được toàn quyền làm ăn hợp pháp trong việc khai thác các dịch vụ ở các kho, bến tàu bên Khánh Hội, khu vực Cầu Muối, hai bên bờ sông Tẻ, dưới hình thức một nghiệp đoàn bốc vác.

Một đề nghị thật là xấc láo, chơi gác chính quyền, là đòi hợp pháp hoá băng đảng dưới quyền điều khiển của tên trùm xã hội đen. Đúng là tuổi trẻ ngông cuồng không đọ sức mình cũng như châu chấu đá xe, đem trứng chọi đá vậy. Tướng Loan tức giận tuyên bố :

– Tôi ra lịnh cho anh phải giải tán hết. Anh không có quyền điều đình, mặc cả ở đây. Ngày nào tôi còn ngồi ở chiếc ghế nầy, thì ngày đó, cái đám giang hồ cắc ké của mấy anh không còn đất sống.

Trần Đại trả lời :

– Giang hồ không có vua, tôi làm sao có quyền ra lịnh cho các băng đảng được.

Cuộc đối thoại kết thúc. Kể như Đại Cathay tuyên chiến với cảnh sát. Trần Đại không nể mặt chính quyền, tiếng tăm lại nổi lên như cồn trong giới giang hồ, và Đại Cathay không biết được thái độ đó đã đẩy hắn đến gần ngày về chầu diêm chúa.

6/- Đại Cathay vuốt râu hùm

Tướng Nguyễn Ngọc Loan chỉ huy Cảnh Sát Quốc Gia trên cả nước, lại Chỉ huy trưởng Cục An Ninh QĐ và Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo. Đụng với Tướng Loan như vuốt râu hùm, không tránh được cọp vồ, xé xác.

– Đụng độ với Ban Bài Trừ Du Đảng

Một buổi tối, Đại và cả chục anh em kéo đến vũ trường Olympia trên đường Lê Lợi cạnh bệnh viện Sài Gòn, gồm có Lâm 9 ngón, Lành Cầu Muối đến quậy vũ trường nầy. Trong lúc đang vui đùa thì Biệt Đội Hình Cảnh do Thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy đến tấn công. Một trận đấu súng kinh hồn xảy ra, cả vũ trường kinh hoàng. Thiếu úy Trần Tử Thanh là tay thiện xạ, đã bắn què giò Đại Cathay. Nhờ quản lý vũ trường cúp điện, nên bọn đàn em đưa hắn chạy thoát.

Tiếp theo đó, Ban Bài Trừ Du Đảng hốt từng tên đàn em của Đại.

– Cái chết mờ ám của Đại úy Trần Kim Chi

Bị nao núng, Đại tìm cách mua chuộc và hoãn binh. Một buổi tối, hắn bao nguyên nhà hàng Paramount, mở tiệc mời Đại úy Trần Kim Chi, Trưởng Ban Bài Trừ Du Đảng đến nhậu. Sau một tuần rượu, Đại lên tiếng :

– Nếu Đại úy chịu thả đàn em của tôi ra, thì tôi sẽ đền ơn xứng đáng.

Viên Đội trưởng Biệt Đội Hình Cảnh thẳng thừng trả lời :

– Ăn nhậu là ăn nhậu. Bắt là bắt. Nếu anh mời tôi đến đây để mua chuộc, mặc cả, thì coi như tàn tiệc, tôi xin kiếu.

Trần Đại nhũn nhặn :

– Ồ, không không, nếu đại úy không thuận thì thôi. Còn hôm nay tôi mời đại úy đến đây là để cho anh em vui vẻ. Mời đại úy tự nhiên.

Sau bữa tiệc chừng nửa tháng, một chiếc xe be chở 5,6 thân cây to lớn, nặng nề,không rõ xuất xứ, đã bò qua, cán dẹp lép chiếc xe con cóc Citroen 2 ngựa, làm cho tài xế và Đại úy Chi chết tại chỗ trên xa lộ. Chiếc xe be chạy mất, không nhìn được bảng số.

Giang hồ lại bàn tán, chính Đại Cathay là đạo diễn tấm thảm kịch đó. Dư luận đó không chỉ làm nổi danh Đại Cathay, mà còn đưa số phận của tên trùm du đảng, càng đến gần ngày xoá tên trong danh sách của Nam Tào Bắc Đẩu, để cho Ngọc hoàng giũ sổ.

– Đại úy Nguyễn Văn Thọ ra tay

Tháng 8 năm 1966, Đại úy Nguyễn Văn Thọ được cử về chỉ huy Biệt Đội Hình Cảnh, thay chỗ của Đ/U Chi vừa qua đời. BĐHC được dời về Tổng Nha CSQG.

Đ/U Thọ xin Sự vụ lịnh hành quân, rồi đích thân mở chiến dịch lớn, đem xe cây đến tận hang ổ, xúc từng tên và quét sạch bọn đàn em, đồng thời cũng túm cổ Đại Cathay, bác sĩ Nghiệp, Lâm 9 ngón, Hạnh Sún.

20 ngày sau, toàn bộ bị tống lên phi cơ vận tải C-47 đưa ra giam giữ ở Trung Tâm Hướng Nghiệp, Phú Quốc. Ở đó, Đại Cathay đổi tên Trung Tâm Hướng Nghiệp thành Trại Cửu Sừng, bắng cách bốc đại một con mạt chược, trúng con nào thì lấy tên con đó. Cửu Sừng là điểm đến của những tên sa lưới pháp luật bởi những hành vi tội ác.

7/- Kế hoạch vượt trại

– Kế hoạch

Vợ của Đại và người anh tên Cảnh Alain vung tiền ra cứu Đại. Khi biết được người vợ tìm cách chạy chọt, lo lót cho Đại vượt ngục, thì tương kế tựu kế, cảnh sát giương ra cái bẩy, cố ý cho bọn du đảng vượt trại để có cơ hội trừ khử.

Vợ của Đại Cathay là một trong nhóm người thăm nuôi đầu tiên được ra Phú Quốc để gặp thân nhân. Các chỉ huy giám thị trại được chỉ thị làm lơ cho việc trốn trại. Trong cái áo lạnh rẻ tiền mà vợ Đại mang ra, có 62 cây vàng để Đại lo lót cho vụ trốn trại. Vợ Đại cho biết :

– Đám lính gác sẽ làm ngơ cho mọi người trốn thoát.

– Một chiếc xuồng máy chờ sẵn đưa mọi người ra khơi.

– Một tàu hải quân được bố trí để đưa mọi người về đất liền. Sau đó tính tiếp.

– Giờ hành động

12 giờ đêm ngày 7/1/1967, Đại cầm đầu đàn em thoát ra ngoài. Theo kế hoạch, đám tù chia làm hai nhóm.

Nhóm 1. 5 người đi trước để nghi binh

Nhóm 2. Đại và Hải Sún chạy ra hướng biển.

Bất ngờ. Khi 2 nhóm vừa ra khỏi rào thì còi báo động vang lên inh ỏi. Nhóm 1 của Xì Kíp và Hùng Mỏ Chuột bị tóm cổ ngay. Đại và Hải Sún bèn thay đổi kế hoạch, thay vì chạy ra biển, thì chạy ngược về phía Núi Tượng, nơi đó có Vi-Xi hoạt động.

Đến đây, không ai tận mắt trông thấy Đại Cathay và Hải Sún mất tích như thế nào cả.

Sau đó, nguồn tin có thẩm quyền tiết lộ, khi biết Đại chạy vào Núi Tượng, thì một tiểu đội biệt kích do Thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được chở từ Sài Gòn ra Phú Quốc để truy kích với khẩu lệnh là bắn hạ tại chỗ. Toán biệt kích ngụy trang trong những bộ bà ba, đội mủ tai bèo, mang dép râu, xử dụng AK-47.

Tiêu diệt xong, đắp mộ dựng bia đàng hoàng tử tế để dễ nhận diện và làm bằng chứng dư luận. Thiếu úy Trần Tử Thanh sau đó xác nhận, chính đương sự đã nổ súng hạ gục Đại Cathay.

8/- Kết

Trần Đại tuổi trẻ kiêu căng, ngạo mạn, khinh thường pháp luật, giởn mặt chính quyền lại còn cả gan vuốt râu hùm, là tự ký tên vào bản án tử hình của hắn. Tướng Nguyễn Ngọc Loan dẹp loạn miền Trung còn được, huống hồ gì cái đám cắc ké dao búa, đâm thuê chém mướn không biết trời cao đất rộng là gì, chưa thấy quan tài chưa đỗ lệ.

Đại Cathay đã sống trọn một kiếp giang hồ và cũng đã chết bởi luật giang hồ. Sanh nghề tử nghiệp là thế đấy.

Trúc Giang (Minnesota ngày 19-12-2011)

Xem thêm : “Trùm giang hồ Trần Đại” cũng trên trang blog này, post 2 bài vào ngày 30/4/2011 và 8/5/2011

Advertisements

Vợ chồng nhà thơ LAM GIANG – HOA PHƯƠNG

NỮ THI SĨ HOA PHƯƠNG

DỞ DANG VÀ TRỌN VẸN

Ngoài những vần thơ, đôi vợ chồng thi sĩ Lam Giang Nguyễn Quang Trứ và nữ sĩ Hoa Phương đã để lại trên văn đàn những hình ảnh thơ mộng êm đềm như thời Đường sử: vợ làm thơ tình, chồng bình thơ vợ, ngâm nga xướng họa, phu xướng phụ tùy… Tiếc rằng ông đã ra đi vào tháng 9/2009 ở tuổi 91, để lại một mình nữ sĩ hiu quạnh.

– Kính chào nữ sĩ, bà có được mạnh giỏi không ?

– Cảm ơn, cũng thấy yếu lắm, mắt mờ, tai lãng, gối mỏi, tay run, 86 tuổi rồi còn gì.

– Vậy dạo này bà còn làm thơ không ?

– Gác bút hai năm nay rồi. Nhưng vừa rồi lúc khâm liệm anh Lam Giang, tôi có ứng khẩu bài thơ “Khóc chồng” :

Sáu mươi năm ấy cùng chung sống

Gối chiếc bây giờ khóc lẻ đôi

Khăn trắng nghiêng đầu chào vĩnh biệt

Hồn anh ngoảnh lại : Hoa Phương ơi !…

– Hai ông bà đều là những thi sĩ lãng mạn có tiếng trên văn đàn, đồng thời để lại nhiều giai thoại đẹp về sự khăng khít thủy chung. Xin hỏi bà làm thế nào dung hòa các mối quan hệ để giữ được sự bền lâu trong cuộc sống gia đình ?

– Tôi chuyên viết về thơ tình, mà như anh biết đấy, lãng mạn và bay bướm lắm. Nhưng lãng mạn không đồng nghĩa với sự phóng túng mà phải có chừng mực.

Trong cuộc sống gia đình thì người phụ nữ phải như nhà thơ Hồ Dzếnh đã nói :

Mình vừa là chị, là em

Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời …

Tôi mê thơ từ nhỏ và bắt đầu làm thơ từ năm 1944 với mơ ước rằng “Nhân duyên kén chọn một lần/Lấy chồng thi sĩ là phần của tôi”. Mơ ước ấy đã trọn vẹn khi tôi về với anh Lam Giang – một người tài hoa, thủy chung và độ lượng.

Tình đầu dang dở

– Nhưng có nhà nghiên cứu nhận xét rằng : “Tình yêu của Hoa Phương là tình yêu chung thủy, trong sáng với “người xưa” và không làm vẩn đục hạnh phúc gia đình”. Có những bài thơ tình của bà hình như dành riêng cho ai đó chứ không phải cho Lam Giang ?

– Đúng đó, điều này tôi không hề giấu và anh Lam Giang cũng biết rất rõ. Tôi có một mối tình đầu trước khi đến với anh Lam Giang. Mối tình trong sáng và khó quên này là chất xúc tác để tạo nên một “nữ sĩ Hoa Phương” trên thi đàn, không ảnh hưởng gì đến cuộc sống gia đình riêng của tôi và người ấy.

– Thưa nữ sĩ, bà có thể nói rõ hơn một chút về “người ấy” không ?

– Tôi chỉ có thể nói thế này : Đó cũng là một người hay thơ và biết làm thơ – Điều mà tôi mê nhất trên đời.

– Vì đâu mối tình ấy dở dang, thưa bà ?

– Vì gia đình bên đó không muốn lấy con dâu là người ở phố, vì sợ không biết làm lụng. Hồi đó gia phong nghiêm lắm, chỉ biết khóc mà tuân theo thôi. Sau anh ấy đi tập kết đến hơn 30 năm sau mới về. Lúc gặp lại nhau cả hai đều đã bạc tóc. Gia đình vợ con anh ấy cũng rất quý tôi. Bây giờ thì “người ấy” cũng đã đi xa rồi. “Người ấy” chắc cũng như tôi:

Anh giờ quên trước quên sau

Nhưng không quên được tình đầu dở dang…

Người chồng độ lượng

– Trong bài “Còn nguyên bóng hình” bà viết rằng :

Rồi tôi vội vã lấy chồng

Để quên đi một chuyện lòng khó quên

Tam tòng vẫn giữ chính chuyên

Thương con tim rạn còn nguyên bóng hình… 

Việc bà không quên được mối tình đầu ấy có ảnh hưởng gì đến chồng bà – nhà thơ Lam Giang hay không ?

– Ý anh muốn nói là anh Lam Giang có ghen không chứ gì ? Tôi nhiều lần nói rằng Lam Giang là một người quân tử độ lượng. Anh ấy cũng mang trong cơ thể dòng máu thi nhân, rất thông cảm với vợ, sự thông cảm của một nhà thơ với một nhà thơ. Tôi có làm bài thơ “Tạ phu quân” :

Tạ lòng quân tử tương tri

Thương từng cánh mộng xuân thì vương tơ

Tạ lòng tri kỷ tình thơ

Tinh anh kết nụ bây giờ nở hoa. 

Đời tôi thấy có hai người đàn ông độ lượng khiến tôi cảm phục là chồng tôi và phu quân của chị Mai Đình bạn tôi. Tình cảm của chị dành hết cho người yêu cũ Hàn Mặc Tử, trong phòng khách chị treo bức ảnh Hàn thi sĩ để tưởng nhớ, nhưng chồng chị không hề lấy đó làm điều phiền.

– Nếu quả như thế thì bà là người thật hạnh phúc và những câu thơ đượm chất ai oán của thi sĩ Lam Giang Giá như ngày trước mà dang dở / Kỷ niệm bây giờ chắc đẹp hơn” hẳn là không phải ám chỉ đến chuyện “hôn nhân và ái tình” của riêng ông bà ?

– Cuộc sống vợ chồng khó mà không có những va vấp, nhất là với anh Lam Giang – con người tài giỏi, mà cũng nổi tiếng là “gàn”. Nhưng điều đó càng làm chúng tôi gắn bó với nhau hơn.

Tôi kể chuyện này để anh hiểu hơn. Khi hoàn thành bản thảo tập thơ “Sóng thời gian”, tôi đưa cho anh Lam Giang và nói : “Anh hãy đọc, nếu thấy thơ xúc phạm tới anh thì anh hãy xé bỏ”.

Anh đọc hết rồi vui mừng nói : “Thơ thế này làm sao anh xé được ?”. Tôi lại nói : “Hoa Phương có để dành ít tiền để sửa nhà, bây giờ không biết nên in thơ hay sửa nhà trước ?”, anh trả lời ngay : “In thơ trước”.

– Vâng, nhưng tôi cũng có đọc một đoạn bình của Lam Giang mà có vẻ như ông “nhắc nhở” bà ?

– À, đó là bài “Tiềm thức chưa phai” có những câu :

Trong thơ vắng bóng người xưa

Hỏi mình đã thật quên chưa chuyện lòng ?

Lệ đa tình ! tưởng ngừng tuôn

Đêm qua nằm mộng ai còn đến thăm…

Lam Giang bình rằng : Bài thơ lập ý thành thật, không hề dối trá quanh co. Nhưng sự thành thật chỉ có thể bộc lộ với người chồng có độ lượng quân tử. Còn thì phải coi chừng :

Nữa khi sóng gió bất ngờ

Điêu tàn dồn dập đôi bờ cỏ hoa. 

Nếu coi đó là “nhắc nhở” thì cũng là lời nhắc nhở của bậc trượng phu và không phải chỉ với riêng tôi.

– Có cha mẹ đều là nhà thơ tài danh, các con của bà có ai nối nghiệp không ?

– Không có đứa nào làm thơ cả. Đứa thì theo nghề dược, đứa theo nghề điện máy, còn một đứa là Nguyễn Quang Bình, nhạc sĩ, đang giảng dạy âm nhạc ở Mỹ, là Trưởng đoàn Đoàn nghệ thuật MECA, trường Giáo dục đa văn hóa và Tư vấn nghệ thuật bang Texas.

– Với riêng mình, bà còn ao ước gì không, thưa nữ sĩ ?

– Tôi đã ước trong bài “Tự khánh thọ” :

Trời cho sống được mươi năm nữa

Ta chở thơ tình dạo khắp nơi. 

Nếu có kiếp sau tôi vẫn muốn làm thi sĩ và lấy chồng thi sĩ.

Kiếp này làm vợ nhà thơ

Luân hồi nếu có chồng là thi nhân. 

Và tôi đã dặn trước cháu tôi :

Một mai nội có đi xa

Bích Vân nhớ nội chớ ra mộ phần

Di hài nội đã hóa thân

Hồn thơ của nội mãi gần bên con.

– Xin cảm ơn và kính chúc bà an khang !

Thiên Trường (Trích từ BEE.net.vn – 13/01/2010)

Tiểu sử nữ thi sĩ Hoa Phương:

Tên thật : Khưu Thị Hồng Ngưu, sinh năm 1925. Quê quán : Diêu Trì, Tuy Phước, Bình Định. Hiện sống tại quận Bình Thạnh, TP.HCM.

Đã xuất bản: 

Sóng thời gian, Trăng đọng vườn thơ.

Thơ được tuyển chọn – bình luận : Đi tìm những nhà thơ, Thi ca miền Trung Việt Nam, Nữ sĩ Việt Nam…

Thơ được các nhạc sĩ Châu Kỳ, Trần Hinh, Văn Đông, Quốc An phổ nhạc.

Hai bài thơ của Hoa Phương nữ thi sĩ :

Lại viết thơ tình

Đã toan gác bút bao lần

Thơ tình thôi viết, tro tàn thôi khêu.

Trót quen cái nết nàng Kiều

Thơ tình lại viết đêm nhiều gió mưa. 

Trăng đọng vườn thơ

Vị ngọt bùi ai hưởng hết rồi

Riêng mình cay đắng tự trong nôi

Dưới trời bừng nở cành hoa muộn

“Trăng đọng vườn thơ”, giọt lệ cười.

Nguyễn Văn Danh post

NHÀ THƠ LAM GIANG

Nhà thơ Lam Giang tạ thế vào giờ Mùi ngày 7/9/2009. Vậy là thêm một nhà thơ thời tiền chiến ra đi, thọ 90 tuổi tại Sài Gòn.

Nhà thơ Lam Giang tên khai sinh là Nguyễn Quang Trứ – sinh 1919 tại Phù Mỹ (Bình Định). Thuỷ tổ nhà thơ là Cương Quốc Công Nguyễn Xí – một danh tướng thời Lê – vốn quê xứ Thanh. Cha nhà thơ là Nguyễn Kim Thanh – vốn là một Thiền sư, tham gia Cần Vương theo Phan Đình Phùng. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, Thiền sư vào Bình Định lánh nạn, làm nghề thuốc. Có lẽ để ghi nhớ những năm tháng oanh liệt của cha bên dòng sông Lam nên nhà thơ đã lấy bút danh là Lam Giang.

Lam Giang làm thơ ở Bình Định cùng thời với Chế Lan Viên, Yến Lan, nhưng lại gần gũi Quách Tấn hơn, dù Quách Tấn hơn ông gần chục tuổi. Khi Quách Tấn còn ở Bình Định mà Lam Giang đã phiêu bạt vào Sài Gòn, ông đã có thơ tặng bạn vong niên Bình Định thi hào quân thượng tráng/Sài Gòn cô lữ ngã do bần” (Trong các nhà thơ lớn Bình Định anh còn sung sức/ Sống lẻ loi quán trọ đất Sài Gòn tôi còn nghèo – Nguyễn Khôi dịch).

Lam Giang cộng tác với NXB Quốc học Thư xã Hà Nội từ 1941 đến 1945. Đọc những bài thơ Lam Giang thời tiền chiến, dễ liên tưởng tới một nhà thơ xứ Nghệ lập nghiệp ở Hải Phòng, đó là nhà thơ tiền chiến Lan Sơn. Giá như lúc ấy mà những bài thơ “Nhớ về thu trước”, “Hướng dương“… lọt “mắt xanh” Hoài Thanh thì Lam Giang đã có “ghế” trong “Thi nhân Việt Nam”.

Song, giống như đàn anh Khương Hữu Dụng, Lam Giang vẫn đủ tầm vóc của một nhà thơ đáng trân trọng ở thời tiền chiến. Những câu thơ Lam Giang xem ra khá độc đáo về cách cảm, cách lập tứ, cách tìm thi ảnh :

Có một bài thơ từ buổi trước

Bây giờ đem đọc thấy sầu xưa

Có người năm ngoái cho gương lược

Lược vỡ gương tan tự bấy giờ

Có một hoa vàng trong gió lướt

Bay về bến cũ khách ngồi trơ…”.

Ông còn có bài ngũ ngôn ngâm theo kiểu hát dặm đầy khẩu khí về Phan Đình Phùng. Thời tiền chiến đã ghi dấu ấn Lam Giang qua tập “Tây tái Vân Sơn” và tập “Triết học đại cương”.

Khi đất nước tạm chia cắt, Lam Giang đưa gia đình vào Sài Gòn. Ở xứ “Viên ngọc Viễn Đông” thời ấy, ông đã kết thân với Vũ Hoàng Chương. Riêng 1958, ở tuổi “Tứ thập bất hoặc” Lam Giang xuất bản tại NXB Tân Việt 4 tác phẩm. Đó là “Giảng luận về Nguyễn Công Trứ”, “Giảng luận về Cung oán ngâm khúc”,”Giảng luận về Trần Quý Cáp”, “Phương pháp bình văn”.

Năm 1963, khi nhà sư Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật tử, Vũ Hoàng Chương đã viết bài thơ “Lửa” đầy hào khí ca ngợi tấm gương nhà sư. Trong hoàn cảnh bắt bớ, lùng sục, nhà thơ không dám chép ra để tuyên truyền cho đồng bào, Lam Giang đã yêu cầu Vũ Hoàng Chương đọc cho con trai mình nghe đến thuộc rồi sau đó chạy đến chùa đọc lại cho các nhà sư. Bởi thế, bài thơ đã loang rộng khắp Sài Gòn. Cậu con trai đó hiện là nghệ sĩ guitare Nguyễn Quang Bình khá nổi tiếng.

Vào tuổi 75, Lam Giang như hồi sinh. Ông liên tiếp ấn hành những tác phẩm : “Khảo luận về thơ” (NXB Đồng Nai), “Phép giành chiến thắng theo Tôn tử binh pháp” (NXB Thể dục Thể thao 1995), “Những cái khôn của người xưa” (NXB Thanh Niên- 1999), “Những bài thơ hay trong văn chương Việt Nam” (NXB Thanh Niên – 2000), “Truyện hay trang sử Việt” (NXB Thanh Niên 2001), “Vua Quang Trung” (NXB Thanh Niên – 2001) và ấn hành chung cùng vợ, nhà thơ Hoa Phương tập thơ “Trăng đọng vườn thơ” (NXB Thanh niên – 2008).

Đấy là những tâm tình cuối cùng của ông gửi lại dương thế để viên mãn ra đi ở tuổi 90.

(Theo Nguyễn Thuỵ Kha – Lao Động)           

THÚY ĐÃ ĐI RỒI

Trong gia tài sáng tác khá đồ sộ của nhạc sĩ Y Vân, có một bản nhạc đặc biệt: Thúy đã đi rồi… Bản nhạc này rất thịnh hành vào thập niên 60 thế kỷ trước. Tuy nhiên, đằng sau bản nhạc là một bí mật ít người biết tới.

Nghệ sĩ vốn đa tình, cho nên chuyện trăng hoa, ong bướm âu cũng là nghiệp chướng. Nhưng trường hợp của nhạc sĩ Y Vân lại khác, bởi bà Minh Lâm – vợ ông, từng khẳng định với người viết là ông rất đứng đắn, nghiêm túc trong chuyện tình cảm và không giấu bà điều gì. Ngay cả bút danh Y Vân bà cũng biết, đó là cuộc tình thời trai trẻ của ông và thiếu nữ mang tên Tường Vân. Cuộc tình không thành nhưng để lại dấu ấn trong cái tên ký dưới mỗi bản nhạc do ông sáng tác : Y Vân (nghĩa là “Yêu Vân”).

Cả chuyện cô gái chủ quán bi-da mà ông hay đến chơi, thường nhìn ông với ánh mắt “bất thường” để ông có cảm xúc viết thành ca khúc Khi em nhìn anh ông cũng kể hết với bà. Vậy, sao lại có bản “Thúy đã đi rồi”, gọi đích danh tên một người con gái với những ca từ mang tâm trạng của một kẻ đắm đuối trong bể tình :

“Thúy đã đi rồi. Những ngày băng giá không tiếng cười. Thúy đã đi rồi. Biết làm sao cho nhớ thương nguôi. Đời em về đâu ? Cho gió trăng sầu. Tìm em ở đâu ? Đường mây tìm dấu… Thúy quá vô tình. Ví dù em có hay dỗi hờn. Cũng vẫn hơn là bến tình anh lê gót cô đơn…”.

Do nhạc sĩ Y Vân đã mất (năm 1992), nên tôi đem điều này hỏi người em ruột của ông là nhạc sĩ Y Vũ. Ông tiết lộ :

– “Tôi nói rõ sự thật nhé, anh Y Vân đã viết ca khúc này thay cho tâm sự của một người bạn rất thân, đó là tài tử điện ảnh kiêm kịch sĩ Nguyễn Long (còn gọi là Long Đất). Vào đầu thập niên 60 thế kỷ trước, Nguyễn Long yêu say đắm ca sĩ Thanh Thúy nhưng cô ca sĩ tài danh này không chút mảy may động lòng. Nguyễn Long âm thầm sống trong đau khổ, cay đắng một mình. Rồi một hôm, nhạc sĩ Y Vân bắt gặp anh chàng thất tình này trong quán cà phê với bộ dạng “ngó phát chán”, Y Vân hỏi han và Long Đất đã thổ lộ mối tình sâu kín.

Thương cảm mối tình đơn phương của người bạn thân, Y Vân đã viết Thúy đã đi rồi. Bài này trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng của dòng nhạc blue thời bấy giờ. Bài hát được khá nhiều ca sĩ trình bày, trong đó có cả ca sĩ Thanh Thúy. Hát thì cứ hát, nhưng con tim của nàng chẳng chút lay động, cho dù hằng đêm anh chàng Nguyễn Long vẫn bám theo nàng “trên từng cây số”, qua những phòng trà mà cô đến biểu diễn. Người đẹp vẫn đó, vẫn đùa vui trước đôi mắt ngây dại của gã si tình mà chẳng hề quan tâm”.

Đến đây, người viết xin được mở ngoặc để nói về tài sắc của nữ ca sĩ Thanh Thúy. Chị sinh năm 1943 tại Huế. Đi hát từ năm 16 tuổi (1959) và sở hữu một giọng hát hết sức đặc biệt: khàn đặc như có pha rượu, nghẹn ngào, nức nở với dáng dấp mảnh mai, mái tóc dài buông lơi trên đôi vai gầy… Giọng hát ấy, dáng dấp ấy như có ma lực khiến ai “lỡ nghe” rồi là say như điếu đổ… Chẳng thế mà hầu hết văn nghệ sĩ cùng thời đã “nghiện” tiếng hát mà họ ví von với rất nhiều hình ảnh: lơ lửng với khói sương, nhấp nhô cùng sóng nước, đam mê theo cung bậc, thì thầm với kẻ tình si, du dương trong tĩnh lặng, vỗ về với yêu thương.

Năm 1962, Thanh Thúy được bầu chọn là Hoa hậu Nghệ sĩ, đồng thời là “Nữ ca sĩ ăn khách nhất” suốt 3 năm liền.

Tháng 11.1961, Nguyễn Long thực hiện cuốn phim Thúy đã đi rồi, theo ca khúc của nhạc sĩ Y Vân và nhạc phim do ca sĩ Hùng Cường hát. Nữ ca sĩ Minh Hiếu đóng vai Thanh Thúy. Ngoài bộ phim này, hình ảnh Thanh Thúy còn xuất hiện trên kịch sân khấu, kịch truyền hình. Các nghệ sĩ Kim Cương, Bích Thủy, Xuân Dung… đều đã đóng vai Thanh Thúy. Thanh Thúy thật sự là một con người tài sắc nổi trội khiến cánh đàn ông hồi đó có đủ “lý do chính đáng” để mê mệt cô như một thần tượng.

Trở lại với chàng tình si Nguyễn Long – dù đã nặng tình đeo đuổi, thậm chí đã làm phim về nàng nhưng không sao lọt vào mắt xanh của nàng. Mang tâm trạng u uất, Nguyễn Long đã trải lòng qua bài thơ tự sáng tác Thôi. Bài thơ này cũng được Y Vân phổ thành tình khúc mà cho đến nay vẫn còn ghi dấu ấn trong lòng nhiều thế hệ: “Thôi, em đừng khóc nữa làm gì! Kỷ niệm sầu ân tình cũ xa xưa. Thôi em đừng khóc, em đừng khóc, đừng khóc nữa giọt lệ sầu làm sao xóa hết tâm tư… Ôi cuộc đời đầy phong ba giữa lòng người. Lệ sầu chia ly buồn tê tái. Ly rượu này đầy thương đau tấm hình hài. Thu man mác buồn, mùa thu ơi!…”.

Nguyễn Long khi ấy mới khoảng 30 tuổi, nghe nói phải hơn mười năm sau ông mới lập gia đình, còn ca sĩ Thanh Thúy đã lấy chồng trước đó (năm 1964).

Thanh Thúy cũng là “người yêu trong mộng” của rất nhiều người. Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay Ướt mi dành tặng Thanh Thúy. Tôn Thất Lập viết Tiếng hát về khuya vì Thanh Thúy. Thi sĩ Hoàng Trúc Ly “tán” :

“Từ em tiếng hát lên trời

Tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh

Sợi buồn chẻ xuống lòng anh

Lắng nghe da thịt tan thành hư vô”.

Họa sĩ Vũ Hối buông cọ để làm thơ : “Liêu trai tiếng hát khói sương/Nghẹn ngào nhung nhớ dòng Hương quê mình/Nghiên sầu từng nét lung linh/Giọng vàng xứ Huế ấm tình quê hương”… Nhà văn Mai Thảo gọi cô là “Tiếng hát lúc 0 giờ”, giáo sư triết học Nguyễn Văn Trung thì cho là “Tiếng hát liêu trai”, nhạc sĩ Tuấn Huy gọi là “Tiếng sầu ru khuya”…

Hà Đình Nguyên

NS VĂN PHỤNG & NG THỊ HOÀNG

NHẠC SĨ VĂN PHỤNG

Nhạc sĩ Văn Phụng tên thật là Nguyễn Văn Phụng, sinh năm 1930 tại Hà Nội, trong một gia đình có 8 người con mà ông là thứ hai. Thuở ấy, phong trào âm nhạc cải cách (tân nhạc) mới du nhập vào Việt Nam và được giới trẻ nhiệt tình hưởng ứng. Văn Phụng đặc biệt có năng khiếu về tân nhạc nên được các giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng dìu dắt rất tận tình. 15 tuổi, ông đã nổi đình đám khi đoạt giải nhất độc tấu dương cầm với bản La Pirière d’une Viege tại Nhà hát Lớn Hà Nội, 16 tuổi ông đã thi đậu tú tài. Ngặt nỗi ông bố (vốn là thông phán) lại quá nghiêm khắc, ông cấm không cho cậu con trai đi theo phường “xướng ca vô loài” mà chỉ muốn con mình làm… bác sĩ, nhưng Văn Phụng theo học ngành y chỉ được một năm rồi bỏ học đi theo tiếng gọi của âm nhạc.

Năm 1948, Văn Phụng cho ra đời tác phẩm đầu tay Ô mê ly với tiết tấu sôi động, phấn chấn yêu đời Ô mê ly đời sống với cây đàn tình tình tang… Ô mê ly, mê ly đời ta. Ông thường cùng các bạn bè nam, nữ tụ tập đàn hát với nhau. Nếu như trong đám bạn trai, Văn Phụng như là một “chủ súy” bởi ngón đàn tài hoa thì trong đám bạn nữ vút lên một giọng hát rất đỗi “liêu trai” của Châu Hà, người thiếu nữ Hà Nội có mái tóc dài vẫn thường thả lỏng như một dòng suối.

“Trai tài, gái sắc” cứ quấn quýt bên nhau, thế nhưng ông thông phán lại rất ác cảm với nghề xướng ca vô loài nên tìm đủ cách để ly gián tình yêu của con trai mình. Biết rằng gia đình Văn Phụng không chấp nhận mình, Châu Hà phẫn uất đi lấy chồng và theo chồng vào Sài Gòn để xa hẳn một quá khứ đẹp mà… buồn.

Châu Hà đi rồi, một thời gian sau Văn Phụng cũng được bố mẹ cưới vợ. Ông chấp nhận như là để khỏa lấp những trống vắng mà Châu Hà đã để lại cho mình. Vợ ông cũng là người Hà Nội nổi tiếng “đẹp người, đẹp nết” rất được bố mẹ chồng thương quý. Đến khoảng đầu thập niên 1950, vợ chồng Văn Phụng đã có 2 người con gái. Những tưởng mọi sự đã an bài, nhưng tình xưa đâu dễ quên… Tất cả những nỗi nhớ thương đều được ông đưa vào các ca khúc của mình Tìm đâu thấy liễu xanh xanh lả lơi. Hay đi tìm dòng suối tóc trên vai. Ghi trong khóe mắt u hoài hình bóng ai. Tôi thấy em một đêm thu êm ái… Người em gái đứng im trong hồi lâu. Tôi ngập ngừng lòng muốn nói đôi câu. Xin cho suối nước non ngàn tìm đến nhau. Như chúng ta đôi đời hàn gắn thương yêu… (Suối tóc – 1954).

Rồi không ngăn được tiếng gọi của con tim, Văn Phụng vào Nam. Châu Hà lúc này đã trở thành ca sĩ chuyên hát ở đài phát thanh và các phòng trà cùng thời với những Mộc Lan, Linh Sơn, Ánh Tuyết… Văn Phụng cũng mau chóng hòa nhập vào làng ca nhạc miền Nam. Không chỉ sáng tác ca khúc, ông còn thành lập ban tam ca nam đầu tiên ở Việt Nam với Văn Phụng – Anh Ngọc – Nhật Bằng (Ban DoSiLa 1953-1954). “Tình cũ không rủ cũng tới” nhưng… không phải dễ dàng gì bởi còn đó những trói buộc gia đình, còn những lời đàm tiếu, dị nghị chung quanh. Chính những lúc buồn nản nhất, Văn Phụng đã viết Tôi đi giữa hoàng hôn (1962) với điệu slow rock :

Tôi đi giữa hoàng hôn, khi ánh chiều buông, khi nắng còn vương. Một mình tôi ngắm cánh chim lạc loài mà lòng thấy u hoài… Tôi thương nhớ ngày qua, trên bến Hoàng Hoa, trên những đường xa, thường thường hai đứa nắm tay nhau tươi cười, như thầm hẹn nhau mùa sau….

Ở Tôi đi giữa hoàng hôn không hề có sự yếm thế, bi thảm mà là một nỗi buồn lâng lâng, siêu thoát. nhẹ nhàng và trầm ấm đầy chất phương Đông : Dù cho mưa gió bên mái tranh nghèo. Dù cho nắng, dù cho sương khói mịt mờ, niềm tin yêu hằng xin mãi mãi không hề phai. Nhớ… Nhớ… Nhớ đêm nao trên bến Hoàng Hoa, hai đứa nhìn nhau, không nói một câu…

Chính tình yêu đó, cuối cùng, vượt qua mọi trở ngại, “Kim – Kiều” đã lại tái hợp, tạo nên một đôi uyên ương nổi tiếng trong làng ca nhạc Sài Gòn một thời. Văn Phụng – Châu Hà có với nhau 2 người con gái (với người vợ trước ông có 5 gái, 1 trai). Văn Phụng mất ngày 17/12/1999, để lại khoảng 60 ca khúc.

Chúng tôi đã mất đi một người bạn và Việt Nam đã mất đi một thiên tài âm nhạc Từ thập niên 50, 60, từ Hà Nội đến Saigon, nhạc Văn Phụng đã mang đến một nét mới lạ trong vườn nhạc Việt Nam. Qua các làn sóng phát thanh, các đài truyền hình, băng nhạc, các buổi trình diễn, phòng trà, dạ vũ… , các bản nhạc như Ghé bến Saigon, Suối tóc, Ô Mê ly, Trăng sáng vườn chè, Tôi đi giữa hoàng hôn, Yêu, Bức họa đồng quê.. ai nghe cũng mê thích vì nét nhạc khi vui tươi, lúc êm đềm, vài bản với hòa âm kiểu Âu Mỹ, kể cả lời ca cũng khác lạ với những bản nhạc thường nghe.

Từ năm 75 có cuộc di cư vĩ đại ra ngoại quốc, nhạc Văn Phụng lại càng được trọng dụng. Các ban nhạc có khi đổi lại nhịp điệu cho hợp thời trang : slow đổi thành pop, boston thành rumba v.v… , ai mà không thích Ái Vân ca nhạc dân tộc tính Trăng sáng vườn chè…

Tôi là bạn thân của Văn Phụng hơn 50 năm nay, nên biết rõ nhau từ thuở mới bước chân vào nghề nhạc, chưa có danh vọng tiền bạc, cùng thời với Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Phạm Duy, Phạm Nghệ, và vì thời cuộc cùng gia nhập ban Quân nhạc, ta gọi là “lính kèn”, với Nguyễn Khắc Cung, Nhật Bằng, Ðan Thọ, Vũ Thành, Hoàng Trọng v.v… Chúng tôi cùng chia xẻ vui buồn, giúp đỡ nhau trong cuộc sống về nhạc, tuy nhiên không bao giờ tâng bốc nhau trong vấn đề nghệ thuật.

Hôm nay, Văn Phụng đã đi rồi, tôi viết ở đây vài giòng cảm nghĩ của tôi với người bạn vong niên mà tôi vẫn thần cảm phục, và tôi đã gán cho anh danh hiệu “thiên tài”, không phải là không lý do, cũng như đối với vài nhạc sĩ Việt Nam khác. Hai chữ đó là chữ Hán nhưng chắc ai cũng hiểu là nói về những người đã được trời ban cho tài cán đặc biệt mà người khác không thể nào bằng trong một giới nào, nhất là về nghệ thuật. Tìm trong hàng triệu người mới thấy một Beethoven hay một Picasso.

Văn Phụng đã được trời ban cho tài, không những là một nhạc sĩ về sáng tác mà còn là một nhạc sĩ về hòa âm, trình tấu và kỹ thuật âm thanh. Quý vị nào đã chơi hay hiểu về nhạc thấy rằng chỉ giỏi trong một phương diện về nhạc không thôi cũng đã khó và phải có đủ điều kiện thiên phú, thời gian học hỏi, kinh nghiệm v.v…

Trước hết, về tài sáng tác, anh đã viết rất nhiều, bài nào thường cũng hay cả lời lẫn nhạc, nét nhạc và đầu đề thật là độc đáo nên ca sĩ nào cũng thích hát nhạc Văn Phụng. Về tài trình tấu, Văn Phụng chơi nhạc trong ban Quân nhạc Ðệ tam Quân khu, đài phát thanh và Vô tuyến truyền hình Quốc gia và Quân đội, tại phòng trà và vũ trường nhiều năm ở Hà Nội, Saigon và Hoa Kỳ, sử dụng nhiều nhạc khí.

Tôi thích nhất là tiếng kèn clarinet của anh lả lướt êm dịu như của những nhạc sĩ Âu Mỹ có tiếng về jazz và ngón chơi piano đặc biệt của anh, với những lèo láy bay bướm hay những hợp âm mới lạ, lồng theo tiếng ca, khi anh đệm nhạc cho một ca sĩ.

Sau hết, về tài kỹ thuật âm thanh, Văn Phụng rất thành thạo cả về máy móc thâu thanh và các nhạc khí điện tử. Tôi còn nhớ một lần, sau khi mua một đàn điện synthetizer, có hơn 100 tiếng đàn khác nhau, anh đã xóa hết những tiếng cũ và thay vào trong đàn những tiếng theo thứ tự anh lựa chọn, một điều không dễ mà chưa bao giờ một nhạc sĩ mua đàn, mà lại mất công tự làm lại theo ý thích của mình. Hơn nữa, anh lại lấy một số tiếng đàn tây phương thay đổi, chuyển thành tiếng đàn ta như sáo tre, đàn tranh, đàn bầu ..

Vì thế, mỗi lần mua đàn điện mới, tôi cứ việc nhờ Văn Phụng đi mua cho tôi một chiếc đàn giống đàn của anh đã có và đã nghiên cứu rồi về chỉ lại cho tôi chơi ngay, nên tôi không phải mất công đọc sách chỉ dẫn. Tôi đã học hỏi nhiều ở anh nhữõng bước đầu về kỹ thuật và máy móc để thâu thanh.

Anh đã may mắn có nhiều kinh nghiệm về dụng cụ và kỹ thuật âm thanh khi anh làm việc tại đài phát thanh và cơ quan UFO Hoa Kỳ ở Việt Nam cùng đài TV56 PTA ở Virginia .

Nhân tiện, tôi xin phép quý vị kể vài cá tính của anh mà tôi biết đã giúp anh thành công trong đời nhạc sĩ của anh. Nhiều người có thiên tài chưa chắc đã thành công, nếu không thêm vào đó những cá tính hay, đặc biệt của mình.

Thứ nhất là Văn Phụng thật sự có một tâm hồn nghệ sĩ, một điều không bao giờ anh tự nói ra. Anh thích cây cỏ, thiên nhiên… Vài năm sau khi định cư tại Mỹ, anh mua được một căn nhà nhỏ ở đường Baclick, Springfield, Virginia . Anh thích thú trồng nhiều cây khác nhau, như 150 cây hoa hồng đủ các loại và biến mảnh vườn nhỏ của anh thành một tiểu thiên đàng, để sáng dậy sớm ngắm trời xanh, nghe chim hót, ngồi uống trà… Chính anh tự sửa sang vườn lấy, chăm sóc từng cây, nghiên cứu từng loại và anh kể là có lúc anh làm vườn cả ngày trong thời kỳ không có việc. Anh cũng thường nói nếu sau này được sống trong một căn nhà biệt lập trên núi, hoặc ở bãi bể, gần rừng cây để làm nhạc thì thật tuyệt. Giấc mơ đó đã muộn mất rồi !

Văn Phụng thường nói với nhiều người là ước gì cộng đồng Việt Nam thành lập được một Club giống như Country Club của Mỹ, nghĩa là một câu lạc bộ mà ngày nghỉ, gia đình, con cái, bạn bè đến tập họp ăn uống, vui chơi đủ môn giải trí, thể thao . Hơn nữa, câu lạc bộ còn có một sân khấu lớn đầy đủ âm thanh, đèn màu để tổ chức thường xuyên nhạc hội ca vũ nhạc Việt Nam, các đoàn ở xa đến đã có sẵn nơi trình diễn. Về cưới hỏi, câu lạc bộ có thể đảm nhiệm để lấy tiền. Các hội viên là những quý vị yêu nghệ thuật, sẽ đóng góp vài trăm một tháng, nếu cần Văn Phụng sẽ tình nguyện làm manager trông nom. Mỗi lần thấy Văn Phụng nói chuyện đó, tôi và Nhật Bằng thường cười với nhau, vì ước vọng của anh quá lớn, khó có thể thực hiện được.

Cá tính thứ hai của Văn Phụng là sự bền chí để đi đến tuyệt hảọ Anh tự thâu thanh lấy một nhạc phẩm của anh viết , soạn hòa âm và phối khí trên thị trường. Bức tranh lớn, (1.20m x 0.80m) có khi đến 5, 7 lần mà vẫn không nản, thú thật tôi thâu đến 2, 3 lần là phải nghỉ rồi . Anh chơi nhạc tại vũ trường từ xưa nên quen thức đêm, thường đến 1, 2 giờ sáng. Mỗi lần mua một đàn điện, anh thức đêm có khi mấy tháng để nghiên cứu cây đàn mới .

Cá tính thứ ba của Văn Phụng là sự cẩn thận rất mực. Ở nhà anh, bất cứ chỗ nào, nơi làm việc, kể cả trong nhà tắm, nơi nào cũng đầy những mảnh giấy nhỏ ghi bằng mực đậm những điều phải làm, có khi những ý nghĩ riêng của anh nữa. Anh rất có trách nhiệm khi đi trình diễn, bao giờ cũng có mặt trước 2 tiếng đồng hồ.

Một lần tôi đi chơi nhạc đám cưới với anh tại nhà hàng China Garden, bắt đầu lúc 7 giờ, thế mà Văn Phụng đã rủ tôi đi từ lúc 3 giờ chiều để sửa soạn đàn và thử âm thanh. Anh nói sớm còn hơn muộn, ở nhà thêm ít phút có hơn gì đâu. Việc gì cũng có thể xảy ra được, lỡ đi đường gặp tai nạn thì làm sao kịp giờ. Anh không thích ai đến nói chuyện trong khi anh chơi nhạc hay để ly nước trên mặt đàn dương cầm của anh. Trong phòng nhạc, anh tự đóng lấy nhiều kệ bằng gỗ rất đẹp, chạy chung quanh tường, để xếp đàn, sách nhạc, dàn âm thanh v.v…

Vài kỷ niệm và đức tính của Văn Phụng kể trên đây có thể là những điểm son của một người bạn tài hoa, vui tính, đáng mến mới vĩnh biệt chúng tôi và Việt Nam cũng mất đi một thiên tài âm nhạc.

Huỳnh Văn Yên (Trích Nguyễn Túc – Arlington)

VIẾT VỀ

NGƯỜI MỘT THỜI

thụyvi

Vừa nhận được tấm hình mới nhất của nữ văn sĩ do một người bạn từ Saigon gửi qua khiến tôi nảy ra ý định viết về những người đàn bà nổi danh một thời.

Viết về người khác không phải là một việc khó, nhưng viết mà lột trần một vài bí ẩn của họ thì có vẻ tàn nhẫn quá chăng ? Vì thế khi viết về họ, tôi cố gắng viết phớt qua những sự kiện trung thực, một vài nếp sinh hoạt nổi bật, hoặc qua lời người trong cuộc kể lại, hoặc từ những bài viết khả tín.

Tấm hình tôi vừa nhận được là tấm hình bà Nguyễn Thị Hoàng chụp mấy năm gần đây. Lâu rồi không gặp, giờ nhìn lại thấy cung cách bà vẫn như ngày xưa, là thứ dáng dấp trưởng giả cấp tiến của Paris ít người bắt chước cho giống. Bà Nguyễn Thị Hoàng tuy không đẹp, nhưng khi xuất hiện bao giờ cũng tạo cho mình một nét riêng với lối chụp hình huyền ảo, huyễn hoặc.

Trong hình bà Hoàng đội chiếc nón rộng vành màu đen che khuất một góc mũi gãy trên khuôn mặt nhỏ nhắn với đôi mắt tô mí thật đậm nhưng cố tình khép hờ để che giấu nét già nua mỏi mệt cùng với nụ cười mõng tinh quái trong chiếc áo len mềm màu lá úa ôm sát thân hình gầy dẹp nhưng mềm mại.

Trái với bà Linh Bảo và bà Nguyễn Thị Vinh được miệng lưỡi kẻ ái mộ văn chương dệt biết bao huyền thoại đẹp mê hồn từ lúc tác phẩm đầu tiên trình làng thì bà Nguyễn Thị Hoàng gặp biết bao điều tai tiếng.

Trước khi những trang Vòng Tay Học Trò dậy sóng trên Bách Khoa vào khoảng năm 1960 – 62 thì trước đó bà Nguyễn Thị Hoàng được nhiều người biết tới trong một scandale sôi nổi tại thành phố Nha Trang.

Những năm theo học tại trường Võ Tánh bà Nguyễn Thị Hoàng dan díu và có thai với ông Cung Giũ Nguyên, thầy dạy Pháp Văn, hơn bà gần ba mươi tuổi.

Theo anh K. một người hàng xóm với bà Nguyễn Thị Hoàng trên đường Hùng Vương thành phố Nha Trang kể lại vụ án đầy tai tiếng này được dàn xếp êm thấm ngoài sự giao hảo của những người lớn liên hệ chức quyền giữa những người như ông Chánh án Nguyễn Hữu Thứ cựu giáo sư Khải Định (Quốc Học, Huế) với ông Nguyễn Văn Hoằng thân sinh của bà Hoàng đang là Trưởng Ty Học Chánh cùng với ông Cung Giũ Nguyên đang giữ chức Hiệu Trưởng Trung học bán công Lê Qúy Đôn kiêm giáo sư dạy Pháp Văn trường Võ Tánh tại tỉnh Nha Trang mà còn vì câu thú nhận can đảm của bà Nguyễn Thị Hoàng : “Ông Cung Giũ Nguyên không có lỗi trong vụ này. Lỗi là do tôi dụ dỗ ông ta khi theo học thêm lớp Pháp Văn tại nhà, vì tôi muốn có một đứa con thông minh xuất chúng như ông ấy !”.

Đứa con gái với ông Cung Giũ Nguyên sinh ra được bà Nguyễn Thị Hoàng đặt tên Cung Giũ Nguyên Hoàng và giao cho bà vợ chính thức của ông Nguyên nuôi dưỡng vì bà Nguyên không thể có con.

Trong những ngày tang lễ của ông Cung Giũ Nguyên vào tháng 11 năm 2008 người ta thấy cô con gái Cung Giũ Nguyên Hoàng phục tang ôm bát nhang đi trước linh vị của ông.

Theo như ông Hồ Trường An trong cuốn Giai Thoại Hồng, bà Nguyễn Thị Hoàng sau đó lên Đà Lạt để dạy học, bà lại dan díu với một anh học trò tên Mai Tiến Thành. Khi cả hai cùng về Saigon, cuộc tình lại tiếp tục. Bà Nguyễn Thị Hoàng lại có thai, sinh một gái nữa đặt tên là Mai Quỳnh Chi, giao cho mẹ của Thành nuôi. Đứa con này, không bao giờ bà Hoàng đặt chân tới thăm (GTH trang 272 ). Đây chính là mối tình bà Hoàng đã dựng nên cuốn Vòng Tay Học Trò.

Mặc dù anh học trò Mai Tiến Thành là nhân vật có thật đã được gặp ông Hồ Trường An và một số nhà văn. Được ông An đưa đến  thăm bà Nguyễn Thị Hoàng lúc bà Hoàng đang sống với ông Bửu Sum, nhưng mới đây, trong một bài phỏng vấn trong nước, bà Nguyễn Thị Hoàng tâm sự : “…Truyện mình viết thường là truyện tình bế tắc và đi xuống. Trong đó những vai nữ bao giờ cũng khát khao đi tìm một đời sống thật của mình, nghĩa là tìm kiếm chính mình. Những nhân vật nữ lang thang bất định, và xa rời với phận sự gia đình. Chất liệu lấy từ những năm bất ổn lênh đênh trong cuộc đời đã qua của mình, đôi khi được ráp nối với những câu chuyện thời sự, cộng với một phần tưởng tượng, phóng tác, vẽ vời…rồi ráp thành chuyện. Không biết bên đàn ông thì sao, chứ cánh đàn bà thường mắc phải cái này là có những nét của nhân vật hoặc chính, hoặc phụ, thế nào cũng hắt bóng cá tính thói quen, đường nét và vóc dáng của tác giả. Riêng về Vòng Tay Học Trò, nếu bảo đó là thực thì cũng không hẳn là thực mà bảo là không thực thì… cũng chẳng phải là thế. Dư luận trộn lẫn tiểu thuyết của mình với đời sống thật. Cũng vì thế mà có những tiếng ác ý lao xao về đời sống của mình. Cho nên chỉ có cách là…phải thản nhiên. (ngưng trích).

Có lẽ trong số những nữ văn sĩ nỗi tiếng ngày xưa, cuộc đời và tình cảm của bà Nguyễn Thị Hoàng truân chuyên nhất bởi bà không thoả mãn những khát khao. Bởi lối sống lúc nào cũng nghi vệ màu mè mặc dù thực tế vào năm 1970 bà phải bỏ Saigon về sống trong ngôi nhà nhỏ tại miền quê Long Xuyên mà bà đặt tên thật thơ mộng “Trại Đá Mềm” để trốn nợ !

Hãy nghe bà than thở : “..Từ năm 1966 đến 1969, mình viết liên tục theo những “đơn đặt hàng”. Trong thời gian này mình viết rất nhanh, có khi viết hai, ba truyện cùng một lúc… rồi thì lại buồn chán, mệt mỏi, kiệt sức và mất hoàn toàn tinh thần làm việc vì trong suốt những năm dài liên tục mình chỉ sống với bổn phận làm vợ, làm mẹ và gánh vác kinh tế gia đình. Cái nguồn sống riêng phải nín lại, bị khô héo đi. Sau một chuyền đi xa vào năm 1970 mình lấy lại được hứng khởi và phần không nhỏ cũng vì năm đứa con, một đòi hỏi lớn về kinh tế gia đình nên phải tiếp tục viết… Do đó mà chưa có quyển nào coi như được viết từ tim óc của mình. Những cuốn đã xuất bản : Về Trong Sương Mù, Một Ngày Rồi Thôi, Vực Nước Mắt, Cho Ðến Khi Chiều Xuống, Tuần Trăng Mật Màu Xanh, Cuộc Tình Trong Ngục Thất vv…” (ngưng trích).

Cũng theo ông Hồ Trường An. Bà Nguyễn thị Hoàng mặc dù viết như gió táp mưa sa, không thèm đọc lại những gì mình đã viết; ngoài bút của chị như cuồng lưu, như ngựa phi đường xa, lướt phom phom, không có gì ngăn cản nổi. Vậy mà bà Nguyễn Thị Hoàng vẫn có thì giờ chăm sóc năm đứa con, dọn dẹp nhà cửa, đảm đang việc bếp núc. Ông Nguyễn Phúc Bửu Sum, chồng bà  Hoàng (có họ hàng cô cậu với họa sĩ Nghiêu Đề) hết vụ trốn lính tới vụ đào ngũ, rồi bị bắt, rồi đào ngũ, không làm ăn gì được.

Chúng ta thử đọc quyển “Chuyện Tình Trong Ngục Thất” sẽ rõ một đoạn đời cũ của bà Hoàng. Bà giúp chồng đào ngũ khi ông Bửu Sum bị đưa đi tác chiến ngoài Quảng Ngãi. Đây là cuốn sách được nhiều văn hữu ưa thích nhất, không phải vì họ có óc phản chiến, mà vì nó diễn tả trung thực tâm tình và cảm nghĩ của tác giả nhất, chân thành và sống thực nhất, và có ít có tính chất tiểu thuyết hơn các cuốn khác, trừ “Vòng Tay Học Trò”. (GTH trang 278 & 279 ).

Sau năm 1975 trong màn tự phê tự kiểm trong khoá Bồi Dưỡng Chính Trị, bà Nguyễn Thị Hoàng nói trơn như mỡ, như rau muống lặt. Đại khái : “Bọn văn nghệ miền Nam chúng tôi bị tên đầu sỏ đế quốc và chế độ hư hỏng thối nát đầu độc. Chúng tôi là kẻ bịnh hoạn, viết những tác phẩm bịnh hoạn. Xin “cách mạng” giúp đỡ chúng tôi, dìu dắt những kẻ bịnh hoạn, tật nguyền là chúng tôi trên con đường sáng tác…

Rồi bà hướng về chúng tôi, những kẻ cầm bút phe bại trận, giọng van vỉ thật ai oán :

– Xin các anh cùng tôi, trước giờ phút sống chết này nói lên một lời gì đi.

Phe bại trận im lặng, mặt mày lạnh tanh. Còn phe thắng tức phe cán bộ văn hoá tổ chức khoá học tập, trong đó có nhà văn Vũ Hạnh thì mặt mày lầm lì, nặng nề như cái cối đá. Sự kêu ca van nài đã đẩy bà Nguyễn Thị Hoàng vượt qua khỏi cái lằn mức liêm sỉ cuối cùng. Thế là Vũ Hạnh cùng Sáu Lăng xúm lại hạch sách, sỉ vả bà, nêu hết cái tính chất đồi trụy tinh thần trong tác phẩm “Vòng Tay Học Trò”, bốc trần những tư tưởng ngoại lai trong các tác phẩm khác của chị. (GTH trang 280)

Từ đó một phần do chế độ kiểm duyệt nên không thấy bà viết gì. Mặc dù dư luận về sự trục trặc tan vỡ giữa bà với ông Bửu Sum. Vấn đề thêm nhiều mối tình lê thê của bà với người này người nọ vẫn được nhiều người râm ran bàn tán, chứng tỏ với tuổi “thất thập” số phận bà vẫn chưa chịu yên lành.

thụyvi (Hầm Nắng, 29/11/2011)