Đạo diễn BÙI SƠN DUÂN

BÙI SƠN DUÂN

NGƯỜI ĐẠO DIỄN

MỘT THỜI SÀI GÒN

– NGUYỄN VIỆT (tổng hợp)

Đạo diễn điện ảnh Bùi Sơn Duân vừa là tên nghề nghiệp vừa là tên thật. Ông sinh năm 1932 tại Phú Yên và mất vào tháng 2 năm 2001 tại Hoa Kỳ. Trước 30/4/1975, đạo diễn Bùi Sơn Duân cộng tác với Trung tâm Quốc Gia điện ảnh (trực thuộc bộ Thông Tin) thực hiện phim tài liệu sau đạo diễn phim truyện, và 1969 ông ra lập hãng phim riêng lấy Việt Ảnh đặt văn phòng góc Pasteur – Hiền Vương Q3.

Trong quá trình nghề nghiệp, từ năm 1969 khi còn làm đạo diễn cho Trung tâm Quốc Gia điện Ảnh, đạo diễn Bùi Sơn Duân đã làm một cuộc “cách mạng” bằng cách sắp đặt tất cả tài tử diễn viên là người của điện ảnh mới và cũ cùng xây dựng phim, đặc biệt vai chính ông thường chọn một nam hay nữ nghệ sĩ cải lương nổi tiếng thời đó như Thanh Tú hoặc Bạch Tuyết đóng vai chính. Trong Ba Cô Gái Suối Châu do Thanh Tú thủ vai chính; còn trong phim Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya cũng chỉ chọn nữ nghệ sĩ cải lương Bạch Tuyết góp mặt, cùng những khuôn mặt mới gồm Như Loan, Tony Hiếu, Trần Hoàng Ngữ…. Thấy đường lối trên làm ăn khá, khán giả hoan nghênh, đạt kết quả tốt đẹp về tài chánh, nhiều hãng phim khác đã đi theo, và nhờ đó mà một số nghệ sĩ cải lương được dịp chuyển sang lãnh vực điện ảnh và trở nên nổi tiếng hơn, như Hùng Cường, Thành Được, Thanh Nga, Bạch Tuyết v.v…

Khi đạo diễn Bùi Sơn Duân thành lập hãng Việt Ảnh, nhiều diễn viên trở thành “khuôn mặt tủ” của hãng như Trần Quang, Tâm Phan, Đoàn Châu Mậu, Lý Huỳnh, Bạch Tuyết, Như Loan, Trần Hoàng Ngữ, Tony Hiếu, quay phim Trần Đình Mưu cùng nhiều diễn viên trẻ khác kết hợp thành nhóm, làm phim thể loại xã hội đen, buôn lậu, như ba phim Như Hạt Mưa Sa, Như Giọt Sương Khuya, Hải Vụ 709.

Như Hạt Mưa Sa là bộ phim đen trắng của hãng Việt Ảnh, chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngọc Linh, do Bùi Sơn Duân dàn dựng năm 1971 diễn xuất cùng Thẩm Thúy Hằng là Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Diễm Kiều… “Người đẹp Bình Dương” này đảm nhận hai vai diễn là hai chị em sinh đôi với hai tính cách hoàn toàn trái ngược, cô chị thì dịu dàng và nữ tính, còn cô em thì trẻ trung, hiện đại. Bộ phim có doanh thu rất cao, riêng tiền lãi đã giúp cho nhà sản xuất đủ tiền làm tiếp phần 2 là Như Giọt Sương Khuya bằng phim màu, in tráng phim tại Hồng Kông. Nhưng ở bộ phim Như Giọt Sương Khuya quay vào năm 1972, nữ nghệ sĩ Bạch Tuyết vào vai chính bên cạnh nam diễn viên Trần Quang. Như Giọt Sương Khuya được chuyển thể từ tác phẩm Đừng Gọi Anh Bằng Chú của nhà văn Nguyễn Đình Thiều.

Đạo diễn Bùi Sơn Duân còn thực hiện bộ phim Hải Vụ 709 vào năm 1974, do hãng phim Việt Ảnh hợp tác với hãng phim Dan Thai của Thái Lan. Truyện phim và đạo diễn do Bùi Sơn Duân đảm trách. Các diễn viên trong phim phía Thái Lan có Apinya và Duang Jai. Về diễn viên Việt Nam có Đoàn Châu Mậu, Trần Quang, Tony Hiếu, Tâm Phan, Trần Hoàng Ngữ… Quay phim Trần Đình Mưu. Phim đã quay nhiều cảnh đẹp ở Thái Lan cũng như những phong tục cổ truyền của nước này. Các cảnh quay trong nước được thực hiện tại Sài Gòn, Vũng Tàu, Phú Quốc. Một bộ phim màu hoành tráng và công phu, thuộc thể loại xã hội đen, buôn lậu.  Phim Hải Vụ 709 hoàn thành trước ngày 30/4/1975 nhưng chưa kịp chiếu ra mắt công chúng Sài Gòn.

Năm 1973, Liên hoan điện ảnh châu Á được tổ chức tại Sài Gòn. Nam tài tử Trần Quang được phân công đón tiếp phái đoàn điện ảnh các nước. Nhờ vậy, Trần Quang gặp Juisue Horikoshi, nữ diễn viên của Nhật Bản. Năm ấy cô 23 tuổi. Một tuần trôi qua nhanh, liên hoan kết thúc cũng là khi mối tình nảy nở nhưng chưa ai nói với ai lời nào. Khi tiễn đoàn ra phi trường, diễn viên sân khấu điện ảnh Mộng Tuyền (lúc còn hát cải lương có tên Kim Loan) đưa cho Trần Quang một chiếc bông tai : “Có người gửi cho anh cái này, mong có ngày đôi bông tai sẽ được tái ngộ”. Trần Quang chạy như tên bắn lên máy bay, ôm lấy cô ấy như một lời ngầm hẹn ước. Mối tình kéo dài đến năm 1974.

Năm đó đạo diễn Bùi Sơn Duân quyết định hợp tác với một hãng phim của Nhật làm phim Đôi Bông Tai dựa theo câu chuyện của Trần Quang, dự định hai diễn viên cũng chính là người thật : Trần Quang và Horikoshi. Còn cả hai tài tử dự định tháng 7 năm 1975 sẽ làm đám cưới và thực hiện bộ phim nhưng sau đó mọi chuyện đổi khác. Mối tình lãng mạn kéo dài trong ba năm đã kết thúc với những lời hẹn ước còn dang dở.  Trần Quang tâm sự  : “Sau này, nhiều lần tôi muốn qua Nhật tìm cô ấy, nhưng có cái gì níu bước chân tôi. Tôi muốn giữ lại trong nhau những hình ảnh đẹp nhất. Có thể cô ấy đã có chồng, đã có một cuộc sống hạnh phúc, tôi cũng đã có một cuộc sống khác.”

Bùi Sơn Duân vốn là một đạo diễn tâm huyết và rất yêu nghề. Sau năm 1975, với tên mới là đạo diễn Lam Sơn (như Lê Hoàng Hoa đổi tên Khôi Nguyên), ông đã thực hiện các bộ phim như : Giữa Hai Làn Nước, Bản Nhạc Người Tù, Đám Cưới Chạy Tang, Đường Dây Côn Đảo, Tiếng Đàn, Chiếc Vòng Bạc, Ông Hai Cũ, Con Gái Ông Thứ Trưởng, Biển Bờ, Chiều Sâu Tội Ác, Ba Biên Giới.

Năm 1977, trong vòng mấy tháng, đạo diễn Bùi Sơn Duân và nhà quay phim Nguyễn Đông Hồng cùng với đoàn làm phim của Xưởng phim Tổng hợp Thành phố đã làm xong phim Giữa Hai Làn Nước và cho ra mắt khán giả, bộ phim được đánh giá cao.

Năm 1989, đạo diễn Bùi Sơn Duân còn hỗ trợ cố vấn chỉ đạo nghệ thuật cho bộ phim vidéo Ba Biên Giới do Trần Quang (đang còn ở lại VN) muốn thử sức với vai trò đạo diễn.

Năm 1990, đạo diễn Bùi Sơn Duân xuất cảnh đi Mỹ. Năm 1993, ông nhận lời đạo diễn phim Gia Đình Cô Tư, một bộ phim hài với nghệ sĩ sân khấu điện ảnh Túy Hồng, và đây cũng là cuốn phim cuối cùng của ông.

Sống tại hải ngoại, Bùi Sơn Duân thành lập Hội Ðiện ảnh Việt Nam hải ngoại, tổ chức hằng năm các Ngày Điện Ảnh Việt Nam, ông từng tổ chức cuộc thi viết truyện phim với hy vọng khôi phục nền điện ảnh Việt Nam tại hải ngoại, nhưng chưa làm được gì đáng kể thì ông đã vĩnh viễn ra đi vào năm 2001 tại Pomona.

Đạo diễn Bùi Sơn Duân và cố nhạc sĩ Y Vân rất tâm đầu ý hợp nên bất cứ phim nào do đạo diễn Bùi Sơn Duân thực hiện đều mời nhạc sĩ Y Vân làm nhạc đệm cho phim của mình trước 1975 và sau 1975.

Đạo diễn Bùi Sơn Duân còn là bác ruột của diễn viên điện ảnh Thương Tín, hầu như các phim do ông làm đạo diễn sau 1975 đều luôn mời cháu ruột mình tham gia vai chính hoặc vai thứ ở các phim như Tiếng Đàn, Chiếc Vòng Bạc, Ông Hai Cũ, Biển Bờ, Chiều Sâu Tội Ác.

(Nguyễn Việt viết và tổng hợp từ nhiều nguồn)

Họa sĩ HOÀI NAM

NGƯỜI HỌA SĨ VỚI NHỮNG…

MỘNG MỊ HÌNH HÀI

– Trương Đạm Thủy

Năm nào ngày giổ Tổ Nghệ sĩ Sân khấu một số nghệ sĩ trẻ củaTp.Sài Gòn cũng đến viếng thăm những nghệ sĩ lão thành neo đơn đang sống nương tựa với nhau dưới mái nhà Dưỡng lão Nghệ sĩ Sân khấu tại Q8.

Khách đến thăm sẽ gặp lại những ngôi sao từng vang bóng một thời như nghệ sĩ Văn Ngà oai phong trong vai Tô Định dữ dằn thâm độc, Thiên Kim một nữ nghệ sĩ từng làm sáng danh sân khấu miền Nam. Hoặc khách sẽ không khỏi bồi hồi khi được nghe kể lại những ngày cuối đời của nghệ sĩ lừng danh cô Sáu Ngọc Sương nơi căn phòng nhỏ chỉ độ 5 thước vuông trong viện dưỡng lão.

Nơi đây còn có một nghệ sĩ khác dù anh chẳng bao giờ bước lên sân khấu với bất kỳ vai diễn lớn nhỏ nào vì anh là họa sĩ chỉ chuyên thiết kế và vẽ phong màn. Với nét vẽ tài hoa, anh đã được nhiều bầu gánh lớn cưng chiều coi như “của quý” của đoàn hát. Đó là họa sĩ Hoài Nam, xuất thân từ Trường Cao Đẳng Mỹ thuật Gia định (1947 – 1954).

Tôi quen anh từ thập niên sáu mươi, vẫn độc thân từ đó cho đến bây giờ. Dò hỏi mãi, chỉ một lần có chút men cay anh mới chịu tiết lộ điều bí mật “của đời chàng”: Ngày xưa anh cũng có yêu và sắp lập gia đình với một kiều nữ. Dè đâu cuối cùng cô ấy lại bỏ đi lấy chồng Tây. Từ độ ấy đến nay anh “tắt lửa lòng”

Mới đây gặp lại anh với nụ cười móm xọm của tuổi U.80, anh trao tôi món quà là kết quả của những đêm già khó ngủ. Đó là tác phẩm tập photo bản thảo thơ 7 cuốn gồm: 1/Ngũ Âm, 2/Thơ Đường Phố, 3/Túy thi,, 4/Tình thi, 5/Lãng Thi, 6/ Thủy mặc thi, 7/Điền dã thi.

Chưa bao giờ tôi nghĩ Hoài Nam lại có một tâm hồn thơ nồng nàn đến vậy. Anh lại còn tỏ ra có tay nghề với một dòng thơ vừa hiện đại lại vừa u hoài cổ phong như trong “Đêm” :

“Sao đêm trùm chăn lạnh

Lã đời nhẹ ý xanh

Tơ thơ mơ bỡ ngỡ

Vương vương lệ đầu cành

Xanh buồn đi xanh đi..”

Tôi đọc mà bồi hồi, chơi với anh trên nửa thế kỷ có bao giờ nghe Hoài Nam đá động đến thơ. Anh luôn bận rộn với tay cọ phông màn cho các gánh cải lương. Có đồng tiền rủng rỉnh nào Hoài Nam lại hú hí anh em đi nhà hàng Thanh thế, Bồng Lai bia bọt nhậu chơi. Anh thuộc “tuýp” người sống vì bạn. Gia tài anh chẳng có gì ngoài mấy bộ đồ và một căn phòng trọ lúc nào cũng trống huơ trống hoác. Khi chưa có việc làm thì anh náu mình trong đó như con nhộng nằm trong cái kén. Nhưng khi được các gánh hát gọi đặt hàng thì anh khóa cửa ra đi, mà đã đi thì đi cả tháng trời để mặc căn phòng trọ cho con nhện giăng tơ.

Cách đây hơn bốn mươi năm tình cờ tôi gặp anh trong Thương xá Tax. Từ tầng lầu trên anh đi xuống tóc dài chấm vai, áo đen bạc thếch diện trên một cái quần nỉ màu đỏ chót, tay cầm một cáy gậy tre rõ to. Cách phục trang thật quái. Anh nói mới đi Vũng Tàu hái thuốc về. Hỏi hái thuốc gì anh cườ̀i:’ “Lên núi định hái thứ thuốc gì uống cho mau chết dè đâu móc được một mớ hà thủ ô. Đang ngâm rượu bữa nào rủ anh em nhậu chơi”. Tôi chỉ cây gậy tre và hỏi vì sao ăn mặc kiểu “cao bồi” lại xách gậy tre đi giữa phố xá Sài Gòn, Hoài Nam không cười mà chỉ vào đoạn ống đồng nhỏ nhô ra khỏi cây gậy bảo : lúc nầy mình chơi thuốc lào nên đây ngoài việc làm gậy nó còn là cái điếu cày, đi chỗ nào cũng có thể hút chỗ ấy cho tiện vậy mà”. Quái chiêu thật?

Trong tập ” Thơ Đường phố” Hoài Nam tự nhận mình như con ngựa hoang dù đã đi gần hết cả đời người mà vẫn hoài lang thang đơn độc. Anh viết :

“Anh là con ngựa hoang

Nên không có đồng cỏ

Em là con yến nhỏ

Chỉ hát trong lồng son

Ngựa hoang không biết hát

Chỉ thống hí lê thê

Một dòng đời ê chề

Nên ngôn ngữ xa anh

Còn đâu tiếng hát ca…

(Ngựa hoang)

Đọc thơ anh rồi nhắm mắt lại, tôi bồi hồi thấy hiện ra trong tâm tưởng một bức tranh mênh mang một gam màu lạnh u buồn. Thơ anh thật, nó thật như người anh, như đời anh bàng bạc u hoài ?

oOo

Hôm tôi đến tìm anh ở nhà Dưỡng lão Nghệ sĩ Sân khấu, anh đang cặm cụi cuốc mấy luống rau ngoài vườn. Bây giờ Hoài Nam đã là một ông già. Cái còn sót lại quen thuộc chỉ là nụ cười duyên dáng năm xưa. Anh lôi tôi vào cấn phòng nhỏ xíu, ngoài cái giường cá nhân bé tẹo còn lại chỉ toàn sách báo phủ đầy bụi. Việc đầu tiên là anh mò tìm một cái chai rượu thuốc nhỏ : “Rượu của ta ngâm, lâu quá mới gặp phải làm vài ly mừng tái ngộ”. Có chai rượu rồi lại moi tiếp tìm cái cốc. Lấy tay phủi sơ bụi anh rót một chum đầy : “Vô đi, rượu quý để đãi bạn hiền”. Chẳng rõ Hoài Nam ngâm với món… độc dược gì, nhưng rượu mời ai từ chối được bèn làm cái trót. “Ngon”. Chỗ này, căn phòng này, ngôi nhà này là chỗ nương thân buổi xế chiều của “ngựa hoang” Hoài Nam. Anh không có đồng cỏ cho riêng mình nhưng có được một mảnh vườn trồng hoa và rau để anh có thể cày sâu cuốc bẵm, vui khỏe tuổi già.

Đưa qua đưa lại cuối cùng cũng cạn hết chai rượu thuốc. Anh lật tập thơ “Túy thi” hào sảng ngâm nga :

“Hai chiếc lá say lã men say

Thò tay trêu ghẹo trăng mai thẹn thùng”

(Say)

“Con chuồn chuồn đậu trên ngọn cỏ

Tiếng thì thầm hỏi cỏ là ai”

(Thì thầm)

Sao lạc về đâu ta hỏi sao

Trăng hỏi hồn ta lạ c phương nào”

(Sao lạc)

“Hằng đêm ta nối mộng

Mộng hoàng hôn mênh mông”

(Nối mộng).

Thơ anh ngắn như thơ Haiku nhưng mỗi câu mỗi chữ đều đầy tâm trạng. Chẳng biết trong những lúc say thì Hoài Nam làm thơ hay trong cơn say thơ mới làm ra một Hoài Nam mộng mị hình hài?.

MỘT ĐỜI RONG CHƠI

Thanh Nhã

Ngấp nghé tuổi 80, họa sĩ thiết kế Hoài Nam vẫn chưa muốn giã từ con đường nghệ thuật. Rong chơi cho thỏa kiếp phù sinh.

Cơn mưa chiều làm phố vãn người. Quán nhỏ tù mù, khách có cớ nán thêm chút nữa. Ông già râu tóc bạc phơ – họa sĩ Hoài Nam nhấp ngụm rượu, chậm rãi kể chuyện đời: “Gần 80 tuổi rồi, thôi thì rong chơi cho trọn kiếp phù sinh”.

“Trận Xích Bích” trên đất Long An

Ai ngồi hầu chuyện ông đều hiểu đó là thái độ khiêm nhường thường thấy ở bậc cao niên nhiều lận đận nhưng cũng lắm sôi nổi, hào sảng. Bởi lẽ ngót vài chục năm trước, giới mộ điệu cải lương, người yêu nghệ thuật ai chẳng biết danh họa sĩ thiết kế sân khấu Hoài Nam.

Ông nhớ lại, năm 1945, ở tuổi 15, Hoài Nam sớm chứng kiến một biến cố lớn trong lịch sử dân tộc: Sự kiện người Pháp mượn cớ giải giáp quân Nhật để chiếm lại nước ta. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến cứ thôi thúc trong ông.

Vốn say mê tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, ông bàn tính với Đội Thiếu niên tiền phong đất Thủ Thừa (Long An) bài binh bố trận theo trận đồ Xích Bích trong Tam Quốc Chí. Đó là kết ghe thuyền lại với nhau rồi lợi dụng hướng gió, dùng hỏa công đánh tàu Tây trên sông. Không chỉ thế, Hoài Nam còn đề xuất vót cọc nhọn đóng xuống đáy sông, đợi lúc nước lớn cho thuyền khiêu khích tàu Pháp lọt vào thế trận bày sẵn.

Kế hoạch hồn nhiên này nhanh chóng thất bại vì tàu Tây bằng sắt, lại được trang bị vũ khí tối tân. Súng nổ vang trời, lửa cháy ngùn ngụt trên sông; bạn bè ông số bị bắn trọng thương, số bị bắt sống. Còn ông bị giặc bố ráp, phải trốn lên tận Sài Gòn, vất vưởng sống nhờ vào chùa, đình, miếu mạo.

Cơ duyên hội họa

Sài Gòn cuối những năm 40 của thế kỷ trước đầy sôi động với khí thế hừng hực xuống đường của học sinh-sinh viên và quần chúng. Và từ những lần tranh đấu, cuộc đời đưa ông đến với hội họa như một cơ duyên của số phận.

Năm 1950, Hoài Nam cũng theo guồng tranh đấu mà dấn thân, tham gia biểu tình trước cái chết của học sinh Trần Văn Ơn. Lại bị bố ráp nhưng từ đây cơ may đã đến khi một người bạn đưa ông về nhà lánh nạn và giới thiệu ông vào học tại Trường Mỹ nghệ thực hành. Tại đây, ông được nhận làm trợ lý thiết kế cho sân khấu Việt Kịch của cố Nguyễn Thành Châu.

Một nghệ sĩ sân khấu cùng thời với ông khen ngợi những thiết kế sân khấu của họa sĩ Hoài Nam rất tài hoa và mang tính nhân văn, nhân bản sâu sắc. “Từ năm 1958, họa sĩ Hoài Nam còn là người thiết kế phim rất giỏi. Các hãng phim như Tân Dân, Rạng Đông… đều chuộng tài năng của ông và minh chứng rõ nhất là các phim ông thiết kế mà tôi biết như : Xa lộ không đèn, Bàn thờ tổ của cô đào, Nghêu Sò Ốc Hến, Hồi chuông Thiên Mụ…” – nghệ sĩ này nhớ lại.

Bè bạn giới nghệ thuật thường đùa ông là người “ba không”: không nhà, không tiền và không vợ con. Bù lại, Hoài Nam có nhiều bằng hữu. Thực ra Hoài Nam cũng là khách lãng du bước trên cõi trần và dường như hiếm có điều chi khiến ông nặng lòng. Có chăng chỉ là câu chuyện cách nay khá lâu.

Đó là sau năm 1975, đất nước trở mình trong cuộc tái thiết, họa sĩ Hoài Nam được một lãnh đạo của Hội Sân khấu TP. giới thiệu ra Hà Nội nghiên cứu công trình nhà hát để về lại thành phố thiết kế nhà hát. Sau đó ít lâu, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt chỉ đạo xây dựng khu phức hợp nghệ thuật đa năng ở quận 2. Hai công trình lớn cho hoạt động nghệ thuật của thành phố là ấp ủ của Hoài Nam. Ông đã dồn toàn tâm toàn ý để nghiên cứu, phác thảo thiết kế. Cuối cùng, vì những nguyên nhân khách quan, cả hai đều chưa thực hiện được. “Tuy ước mơ chưa thành nhưng không vì thế mà tôi buồn lâu. Bởi làm nghệ thuật như kiếp tằm nhả tơ, biết bao giờ mới dứt” – ông thổ lộ tâm tư.

Rong chơi cho thỏa kiếp phù sinh

Non 10 năm trước, mỗi lần đi đâu ông đều cuốc bộ, bất kể xa gần. Tóc râu bạc phơ, dáng mạo tiên phong đạo cốt của ông khiến không ít người nhầm ông với cố thi sĩ Bùi Giáng. Có lần ông đang lang thang tìm nhà một người bạn thì bị mấy sư cô gọi xích lô chở về chùa vì tưởng lầm Bùi Giáng đi lạc. Lần khác, ông đang uống rượu với bạn ở ven kênh Nhiêu Lộc thì nhiều sinh viên đến xin chữ ký và xin được tặng thơ… Nhớ chuyện cũ, ông hóm hỉnh cười.

Gặp bất kỳ bạn mới nào ông cũng đều tặng họ một bức ký họa chân dung từ xấp giấy trắng và cây bút chì luôn bên mình. Biết ông thích uống rượu, bằng hữu thường mời ông đối ẩm mạn đàm thế sự. Ông kể chai rượu bằng kim loại lúc nào cũng nằm trong túi áo của ông là kỷ vật từ một người bạn. Nhờ nó mà ông thoát chết trong những lần tranh đấu. Hồi đó, trong một lần đi đấu tranh, ông bị bắn vào ngực, may nhờ chai rượu trong túi áo che chắn nên ông không hề hấn gì.

Tuổi 80, họa sĩ Hoài Nam vẫn đang tá túc ở Viện dưỡng lão Nghệ sĩ. Dường như chưa bao giờ ông muốn rời cuộc chơi trên con đường nghệ thuật lẫn trong đường đời. Ông hồn nhiên khoe với tôi bản thiết kế bảo tàng sân khấu và trung tâm dạy nghề cho thân nhân nghệ sĩ đã được làm xong. Còn thở ông sẽ còn theo đuổi để ước vọng này bước từ trang giấy vào cuộc sống.

MỘT NGÀY Ở KHU

DƯỠNG LÃO NGHỆ SĨ

– Hiếu Lê

Ở tận cuối đường Âu Dương Lân, quận 8 (TP.HCM) có một con hẻm sâu hun hút với một khu điều dưỡng mà không phải ai cũng biết. Đó là khu dưỡng lão dành cho các nghệ sĩ cải lương mà người ta thường gọi là khu dưỡng lão nghệ sĩ.

Từ đường Âu Dương Lân rẽ vào hẻm 314 khoảng 200m là đến trung tâm. Sau tấm bảng lớn ghi tên Trung tâm dưỡng lão nghệ sĩ với chữ còn chữ mất là một khu nhà một trệt một lầu cũ kỹ, mốc meo nằm im lìm dựa vào những rặng cây um tùm, hoang vắng… Dọc lối cổng đi vào là vài chú chó đang nằm sưởi nắng, uể oải, lười biếng với những cặp mắt lờ đờ và ít khi sủa lấy một tiếng gọi là.

Ngoài mảnh sân trước nhà, một vài ông bà lão đang ngồi trên ghế đá như những cái bóng nhìn xa xăm về phía cổng. Hai chiếc xe đẩy dành cho người tàn tật nằm lăn lóc trước cửa. Tấm bảng “Chào mừng khách quý” được treo như một thông điệp rằng bất kỳ ai cất công đến nơi này cũng sẽ được đón chào một cách trân trọng.

70 tuổi vẫn… trẻ

“Tui được phân công phụ trách chuyện hành chính của trung tâm chẳng qua do mình ít tuổi so với các cụ đấy thôi – bà Lệ Thẩm, nguyên bầu sô của đoàn Nhụy Hương, bắt đầu câu chuyện như vậy – Mọi người ở đây coi tui còn trẻ nhưng là trẻ ở tuổi 72”. Khu nhà ở gồm có một trệt, một lầu. Tầng trệt có một sảnh khá lớn với mấy chiếc ghế, bàn đã cũ kỹ, trên tường treo hầu hết là các bức hình ghi lại những cuộc thăm hỏi của các nhà hảo tâm tại trung tâm. Phía góc nhà có một dàn ampli, loa khá lớn xếp cạnh những bao gạo được chất ngổn ngang. Ở đây, mỗi nghệ sĩ được ở riêng một buồng. Nói là buồng cho nó kêu thôi chứ đó chỉ là một ô nhỏ tròm trèm khoảng 6m vuông, khá tăm tối với một chiếc giường cá nhân, một vài cái kệ vốn là những thùng gỗ ghép lại để kê đồ lặt vặt, trên tường dán kín những tấm apphich các nghệ sĩ, ca sĩ đang “hot” nhất hiện nay.

Hiện tại trung tâm có 21 nghệ sĩ. Ông Đức Hiền, phó giám đốc Hội Ái hữu nghệ sĩ sân khấu cải lương, đã làm một bài thơ vui về hai chục con người này với độ dài đến… hai câu cho mỗi người. Theo đó, người đọc có thể biết được tài năng các nghệ sĩ cao niên nhất từ Ngọc Văn, Hoài Nam… cho tới Thiên Kim, Lệ Thẩm. Trong số này có hoàn cảnh của bà Bạch Yến dường như thương tâm hơn cả. “Xưa bầu Yến đẹp và nổi tiếng lắm. Nay bà đã ngoài 80 và bị hai lần tai biến” – bà Thẩm cho biết.

Bà Bạch Yến từng là đào chánh trong đoàn Kim Phụng, Kim Chung (Hà Nội), sau năm 1954 bà vào Nam theo đoàn Kim Chung rồi gia nhập đoàn Năm Phỉ. Sau này lập ra đoàn Bạch Yến, đoàn này cũng có tên tuổi khá nổi tiếng. Sau khi chồng chết vì tai nạn, do gánh hát ế ẩm quá, bà Yến phải bán hết cơ ngơi ở đường Bùi Viện để trả nợ nhưng rồi gánh hát vẫn tan rã. Hiện bà được người con gái tên Yến Nga, 65 tuổi, cũng thuộc diện nghệ sĩ không nhà, không chồng, không con được trung tâm cho ở tạm ở đây để chăm sóc bà.

Bà Yến Nga đã làm đơn xin được ở chính thức tại trung tâm nhưng chưa được, có lẽ bà phải chờ đến khi có một chỗ trống nào đó.

Để được vào sống ở trung tâm, các nghệ sĩ phải có đủ ba điều kiện: có tối thiểu 25 năm trong nghề sân khấu cải lương, nghèo khổ; không người nuôi dưỡng, không nơi nương tựa và phải có tên tuổi”.

Bữa ăn “nghệ sĩ”

Khoảng 10 giờ sáng, chị phục vụ đã lo xong bữa trưa cho mọi người. Tại căn buồng nhỏ bên góc hồ cá của nghệ sĩ Hoàng Nô, người viết bài đã được ông mời vào chơi và mục kích thực đơn trưa của người nghệ sĩ 85 tuổi này. Bữa trưa gồm một cặp lồng cơm nhỏ, mấy con tép rang và một chén canh. Dưới gầm giường là một con chó vện ốm nheo ốm nhách đang nằm ngáp ngắn ngáp dài, thỉnh thoảng lại gãi sồn sột. “Chắc suất ăn này không chỉ dành riêng cho ông” – tôi nghĩ.

Theo bà Lệ Thẩm, kinh phí sinh hoạt của các nghệ sĩ hạn hẹp lắm, trước đây họ được cấp 4.000 đồng/ngày theo quy định chung, Hội Ái hữu trợ cấp thêm 9.000 đồng/ngày nữa. Số tiền này không chỉ dành cho ăn uống mà còn cho điện, nước. Vì vậy, trung tâm phải “liệu cơm gắp mắm”. Thỉnh thoảng có các nhà hảo tâm đến cho thêm nhưng cũng phải để dành vì có đến một phần tư các nghệ sĩ ở đây đang bị bệnh rất nặng, chẳng biết ra đi lúc nào. Chị phục vụ còn nói thêm việc đi chợ cũng mệt bởi hầu hết các cụ bị bệnh tiểu đường, huyết áp…, mỗi người thích ăn một kiểu nên nấu được một bữa cơm với chi phí vậy là cực lắm.

Ngược lại với khu nhà ở, khu hội trường có lẽ là khu nhà “hoành tráng” nhất của trung tâm. Trong hội trường có một bàn thờ khá đơn giản ghi tên những nghệ sĩ đã mất tại đây. Con số hiện tại đang tạm dừng ở số 22. Hội trường chính là nơi mà vào đêm rằm mỗi tháng, các nghệ sĩ lại tổ chức những đêm cải lương miễn phí. Nhìn những ông già, bà lão đang câm lặng ngồi dựa ghế nhìn xa xăm, thẫn thờ ra phía cổng xa, chắc không mấy ai có thể tưởng tượng được rằng có những đêm tối, một vài người còn sức khỏe hơn như Thiên Kim, Lệ Thẩm… lại hóa trang lên sân khấu, thả hồn vào những vai diễn một thời của họ. Có lẽ ánh đèn sân khấu chẳng bao giờ tắt trong tâm trí những con người này.

Nghiệp cải lương

Từ cuối thế kỷ 19, từ thể loại đờn ca tài tử, nghề cải lương đã bắt đầu xuất hiện ở miền Nam. Năm 1920, gánh hát cải lương chính thức đầu tiên ở Sài Gòn của bầu Trương Văn Thông mang tên Tân Thinh ra đời. Từ cải lương chính là hai chữ đầu câu liễn do ông Lư Hoài Nghĩa và Nguyễn Biểu Quốc viết: “Cải cách hát ca cho tiến bộ. Lương truyền tuồng tích sáng văn minh”. Trong những năm chiến tranh, cải lương ở miền Nam phát triển khá rầm rộ.

Thập niên 1960 được coi là thời hoàng kim của nghề cải lương miền Nam với nhiều gánh hát tên tuổi. Đi cùng những gánh hát này là những cặp nghệ sĩ cải lương được đông đảo người mến mộ như Thành Được – Út Bạch Lan, Hùng Cường – Bạch Tuyết, Thanh Nga – Thanh Sang, Minh Phụng – Mỹ Châu, Minh Vương – Lệ Thủy. Trong số này có những nghệ sĩ mà sự giàu có đã đi cùng tên tuổi như Thành Được, Hùng Cường.

Tuy nhiên, dường như nghề cải lương khi sinh ra đã mang trong mình một nghiệp chướng. Theo ông Tần Nguyên – phó giám đốc Hội Ái hữu nghệ sĩ cải lương TP, trước đây những người theo nghề cải lương hầu hết không qua trường lớp. Do vậy, mặc dù họ rất có tài năng nhưng khi đã mất giọng, nghỉ hát thì ít có khả năng kiếm sống bằng nghề khác.

Ngoài ra, do đặc trưng nghề nghiệp, người hát cải lương phải đi lưu diễn đây đó, lấy gánh hát làm nhà nên con cái không có điều kiện học hành, tiền bạc cũng không dành dụm được. Nhiều người không thể đem con cái theo gánh hát nên đã phải nhờ gia đình nuôi nấng, thậm chí phải đem cho. Vì thế đến khi về già, do không gắn bó từ nhỏ nên con cái cũng ít gắn bó và chăm sóc cha mẹ đẻ của mình. Những lý do chính này đã khiến đa số nghệ sĩ cải lương gần như “trắng tay” khi vào tuổi xế chiều.

Một đời chưa vợ

Hiện nay, tại địa bàn thành phố có khoảng 400 nghệ sĩ cải lương đã giải nghệ đang có cuộc sống nghèo khó, nhiều người đã phải sống lang thang ở các vỉa hè, rạp hát… Ngoài Trung tâm dưỡng lão nghệ sĩ, Hội Ái hữu trợ cấp 70 người với mức 100.000 đồng/tháng, 60 người với mức 5kg gạo/tháng.

Ở tuổi 80, họa sĩ Hoài Nam vẫn còn giữ được dáng dấp thư sinh, nghệ sĩ và khá đẹp trai một thời của ông. Ông già này có đến 60 năm cầm bút vẽ đi theo các gánh hát cải lương và đích đến cuối cùng là khu dưỡng lão này. Ông cười móm mém một cách hiền lành khi nói về chuyện ông chưa bao giờ lấy vợ: “Chú không lấy vợ cũng có cái lý của nó”.

Theo họa sĩ Hoài Nam, ngày còn nhỏ ông đã được chứng kiến cha mẹ mất sớm, sau đó là bảy anh chị em cũng mất nốt. Trong gia đình ông không ai sống được quá 40 tuổi. Do vậy, khi đã học hành xong, đi đây đi đó, ông chỉ nghĩ chắc mình cũng không qua được cái ngưỡng 40 tuổi của gia đình. Những năm tháng rong ruổi đi cùng các gánh hát, xung quanh ông không phải thiếu đào đẹp, hát hay, những cô gái hâm mộ sẵn sàng bỏ nhà đi theo anh họa sĩ tài ba, đẹp trai. Tuy nhiên, ông chỉ dừng lại ở một vài mối tình chứ cũng chẳng kết duyên, cùng ai.

Tâm Đạm – Dương Trữ La

TÂM ĐẠM – DƯƠNG TRỮ LA

một người đã đi xa !

Dương Ngọc Lạc là tên thật, còn Tâm Đạm và Dương Trữ La là bút hiệu. Ông sinh ngày 16/3/1937 tại An Nhơn, Gò Vấp tỉnh Gia Định. Gia nhập vào làng văn làng báo Sài Gòn từ cuối thập niên 1950 thuộc thế kỷ 20, cùng thời với Hoài Điệp Tử, Ngô Tỵ, Phan Yến Linh (còn có tên Phan Trần Duyên, Thái Châu), Trần Xuân Thành, Trương Đạm Thủy, Thiên Hà, Phương Triều, Tô Kiều Phương, Song Phố, Thanh Việt Thanh, Hoài Hương Tử… Vì ông bắt đầu làm thơ từ năm 1955

Năm 1963, sau khi đoạt giải nhứt truyện ngắn báo Tiếng Chuông, bút danh Dương Trữ La mới bắt đầu xuất hiện chung với nhà văn Bình Nguyên Lộc trong một tiểu thuyết tình cảm xã hội “Lòng Ngỡ Quên Mà Nhớ Rất Xa” đăng báo hàng ngày (feuilleton). Từ đó Dương Trữ La trở thành một nhà văn viết tiểu thuyết hơn là nhà thơ Tâm Đạm. Tuy nhiên với bút hiệu Tâm Đạm, ông làm thơ rất nhiều và rất tình, đăng trên các báo thời ấy, nhưng chưa hề in thơ để bán.

Sau năm 1975, ông ngưng viết một thời gian, làm công tác Bảo tàng. Năm 1982 ông cầm bút trở lại viết tiểu thuyết cho đến phút lâm chung lúc 0 giờ ngày 20-7-2000 (tức 20 tháng 6 năm Canh Thìn)

Dương Trữ La – Tâm Đạm là nhà văn, nhà thơ chuyên viết về đề tài văn học xã hội đầy tình tự dân tộc. Văn phong giản dị mà chân thực thẳng thắn, bình dân mà súc tích, huỵch toẹt mà bao dung, độ lượng, khác nào tính khí người Sài Gòn, bản chất hào phóng người miền Nam. Tác phẩm của ông ít nhiều phản ánh được cuộc sống của lớp nghèo thành thị trong giai đoạn 1955-1975.

TÁC PHẨM:

Thơ (chưa in) : Đường máu tâm tư (1961); Giọt linh hồn (1962); Đường thơ dưới mộ (1963)

Văn (đã in) : Bàn tay vào mộng (tập truyện 1963); Lòng ngỡ quên mà nhớ rất xa (tiểu thuyết đăng báo với Bình Nguyên Lộc 1963-1964); Nhớ nhung, Vẫn còn dang dở (truyện dài 1966); Gái hoàn lương, Tình yêu và chiến tranh, Nắng bên kia đồi (tiểu thuyết 1967); Con gái tuổi Dần (truyện dài 1968); Tuyển tập mùa Thu (truyện ngắn 1969); Chiều nghiêng bóng nhỏ, Cuối đường kỷ niệm (tiểu thuyết 1969); Bên kia một dòng sông (tiểu thuyết 1971); Cho buồn lòng ai (tiểu thuyết 1972, tái bản 1990 và 1997); Tình ơi… chia xa (truyện dài 1990); Đời em như áng mây (tiểu thuyết 1991)…

TÔI CÒN KỶ NIỆM…

Trương Đạm Thủy

Có lẽ cuộc đời gặp người này gặp người kia rồi quên đi, nhưng cũng có khi như duyên số chỉ gặp nhau dù chỉ một lần rồi trở thành tình bạn bè keo sơn. Tôi với Tâm Đạm – Dương Trữ La với Thiên Hà ở vào trường hợp đó.

Tôi ở Bến Tre đầu thập niên 60 lang thang lên Sài Gòn với mộng mơ sẽ được đi vào con đường viết văn viết báo. Mộng mơ thì mộng mơ vậy thôi chứ con đường ấy đâu phải dễ đi. Rồi như duyên “bèo bọt” vào những ngày ngao du trên đất Sài thành, một ngày nọ tôi gặp Tâm Đạm trước tòa soạn báo Tiếng Chuông. Cùng một mộng tưởng như nhau, hai đứa dắt nhau ra quán Kim Sơn trên góc đường Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực ngồi uống cà phê bàn chuyện văn chương. Có lẽ đó là một ngày đáng nhớ nhất đời tôi.

Thời ấy quán cà phê Kim Sơn nơi hàng hiên là… “lãnh địa” của những tay văn nghệ sĩ “nhí”. Tâm Đạm lúc này đã có thơ đăng rải rác trên các báo nên được một số người biết đến. Được ngồi cùng bàn với anh đối với tôi đó là một vinh hạnh vô biên. Từ đó quán Kim Sơn là nơi hò hẹn giữa tôi và Tâm Đạm. Cách uống cà phê của anh cũng thể hiện… “đẳng cấp” trước bọn tụi tôi. Từ bốn giờ chiều đến sáu giờ tối Tâm Đạm uống ít nhất là bốn tách cà phê đen, hút chừng hai gói Mélia vàng nên móng tay của anh lúc nào cũng đóng vàng nhựa thuốc làm anh em “nể” lắm.

Nhưng đó chỉ mới là khúc dạo đầu cho tình bạn giữa chúng tôi.

Mãi đến năm 63 trong đợt VII dự thi “Truyện ngắn báo Tiếng Chuông” chúng tôi đều đoạt giải. Rồi cũng tại đây, chúng tôi được biết thêm anh chàng Thiên Hà gốc người Cà Mau, sinh viên “Thánh Kinh Thần Học Viện” – Nha Trang, gác mộng thiên đường “nhập thế” theo nghiệp văn chương trong cõi hồn nhiên đời thường. Và từ đó bọn tôi trở thành một bộ ba. Tuy chưa là gì hết nhưng qua những giải thưởng của báo Tiếng Chuông bọn ba đứa chúng tôi cũng đã tự hào và hạnh phúc lắm, tự coi mình như con ve lột xác ấu trùng, có thể hát ca giữa mùa Hạ nồng nàn nắng ấm.

Sau đó ít lâu, Tâm Đạm được nhà văn Bình Nguyên Lộc ưu ái cho đứng tên chung với bút hiệu mới là Dương Trữ La viết feuilleton trên một nhật báo lớn. Lúc này tôi thì về viết truyện ngắn cho tuần báo Ngày Mới của bác Hoàng Phố, còn Thiên Hà thì vừa làm correcteur (thầy cò) sửa bài cho nhà in báo Nhân Loại, vừa làm thơ viết văn phụ trách trang văn nghệ Tân nhạc, Điện ảnh cho một vài tờ tuần báo như Kỷ Nguyên Mới, Văn Nghệ Học Sinh, Bình Dân, Phụ Nữ Diễn Đàn….

Tình bạn giữa chúng tôi ngày càng gắn bó. Đạm thuê một căn gác xóm Vườn Chuối hẻm Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu), tôi ở một căn gác trên đường Hai Mươi tức Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ), còn Thiên Hà thì… “sang” hơn, chuyên thuê tháng ở các phòng khách sạn, đi làm bằng xe Vespa, ngậm ống vố đeo kiếng trắng cho ra vẻ… “người lớn”. Nhưng rồi về sau chẳng hiểu nghĩ sao anh lại về khu bến xe An Đông đường Petrus Ký (nay là Lê Hồng Phong) thuê căn gác trọ ở trong một xóm rất… “bụi đời”.

Ba đứa ở ba nơi nhưng tôi vẫn thường như con thoi đạp xe đạp đòn dong khi tạt qua nơi Tâm Đạm, lúc ghé về chỗ Thiên Hà. Bọn tôi hay viết lách trong đêm. Còn quá trẻ nên có tiền là ăn xài đến khi cạn túi đôi khi phải ăn cơm chịu hoặc nhịn đói. Sau nhiều “kinh nghiệm đau thương” nên mỗi khi lãnh nhuận bút, tôi và Thiên Hà luôn ưu tiên mua cả chục ổ bánh mì rồi lấy giấy báo bao kỹ quăng lên nóc mùng dự trữ. Khuya hai đứa ngồi hai nơi đầu bàn mạnh ai nấy viết bài của mình. Đói thì xuống hàng quán nơi chỗ bến xe mua một ly sữa nóng về gác trọ hai đứa lấy bánh mì cũ ra chấm sữa để tạm no.

Tuy có những ngày “cầm hơi” kiểu đó, nhưng tính “cậu ba Hà” vẫn chẳng bao giờ thèm tích cốc phòng cơ, hễ có tiền là đèo tôi phóng xe kiếm nhà hàng nào kha khá cỡ nhà hàng Chí Tài – Thanh Thế – La Pagode… để ăn uống cho sướng miệng. Hoặc xuống bến tàu gần cột cờ Thủ Ngữ nhậu nằm trên những tấm đệm bàng ở các hàng quán cóc ổi sát bờ sông. Hà thích uống xong chai bia nào thì mua một cái bong bóng hơi cột vào cổ chai rồi thả xuống sông cho cái chai lắc lư trôi theo dòng nước. Chẳng biết có cái chai nào mang thơ trôi về một bến bờ nào đó ở bên kia biển Thái Bình Dương(?)

Cũng có nhiều đêm tôi và Thiên Hà ghé vào gác trọ của Tâm Đạm. Ba đứa trải chiếu trên sàn nằm bàn chuyện tương lai. Dù chưa có đủ tiền nhưng đứa nào cũng nhất định phải có tác phẩm in thành sách đặng… “để đời”. In sách là giấc mơ của ba đứa tụi tôi hồi đó. Nhưng phải nói Thiên Hà bao giờ cũng là người nhanh tay lẹ chân, lục đục mấy tháng sau đó giữa năm 1963 đã thấy sách Hà xuất bản bày bán khắp nơi. Đó là tập thơ “Tiếng Hờn” đầu đời của Hà. Và cũng do sự “kích hoạt” của chàng trai đất Cà Mau này mà rồi bọn tôi như Phan Yến Linh, Ngô Tỵ, Dương Trữ La, Phương Triều, Bùi Hoàng Thư và tôi lần lượt có tác phẩm ra mắt công chúng. Đó có thể được coi như một thời rất vui, rất năng nổ của thế hệ văn nghệ sĩ trẻ chúng tôi một thời Sài Gòn thập niên 60, trẻ trung lãng mạn vậy!

oOo

Trong một tình cờ cách nay năm năm, tôi gặp lại Thiên Hà, người bạn cũ sau mấy chục năm xa vắng. Cái khoảng vắng nhau ấy cũng gần bằng khoảng thời gian hai đứa chúng tôi lang thang kiếm sống ở mảnh đất Sài Gòn trước đó rất xa. Thiên Hà vừa nghỉ hưu là anh đã vội đến Hội quán văn nghệ 81 Trần Quốc Thảo tìm tôi. Đó là cuộc hội ngộ sau gần 40 năm. Do nhiều hoàn cảnh mà rồi mỗi đứa có một cuộc sống riêng cho đến ngày gặp lại nhau thì hai đứa đã bước qua tuổi lục tuần, nhìn nhau vừa lạ vừa quen, cười vui mà cũng rưng rưng gần như muốn khóc.

Ngồi trước ly bia tái ngộ tôi kể cho Thiên Hà nghe về những ngày cuối đời của Tâm Đạm. Lúc Tâm Đạm ra sống ở Cần Giờ có lần tôi đạp xe qua ngã tư Phan Đình Phùng – Duy Tân (cũ) tình cờ gặp Đạm đang đứng ở đó. Mừng quá hai đứa bèn kéo nhau vào quán cóc ven đường gọi mỗi đứa một cốc cà phê. Tâm Đạm lúc bấy giờ gầy quá, anh nói mình đang đi điều trị chứng đau phổi và anh cho biết anh đã chia tay với người vợ đầu đời. Tôi nhìn Đạm cảm thương. Anh là một nhà thơ – nhà văn có tài nhưng đời cũng nhiều lận đận. Trải qua những cuộc bể dâu bấy giờ trông anh xuống sắc và trên nét mặt hiện ra một vẻ u buồn xa vắng.

Bẵng đi một thời gian nữa tôi nhận được thư Tâm Đạm, anh cho biết giờ thôi “phiêu lãng giang hồ” giã từ miền duyên hải Cần Giờ về sống với đứa con trai trên đường Huỳnh Văn Bánh – Phú Nhuận. Thời gian này Đạm chỉ nằm nhà không còn cùng bạn bè trà sớm rượu trưa nữa. Anh thích “trò chuyện” cùng tôi qua thư tín. Từ quận Phú Nhuận qua Bình Thạnh đâu có xa, thế mà hầu như tuần nào anh ấy cũng gởi cho tôi một phong thư trong đó nói đủ thứ chuyện trên đời. Có một lá thư Tâm Đạm buồn và nói rằng chắc mình sắp chết. Tôi đạp xe lên nhà thăm anh. Đạm ra mở cửa cho tôi nét mặt vui hẳn lên. Hai anh em bắt ghế ra sân ngồi trò chuyện. Đạm giới thiệu đây là nhà đứa con trai. Tôi khen ngôi nhà xinh quá, Đạm cười buồn: “Hồi nó còn nhỏ, mình mãi lo rong chơi bây giờ già lại về cùng với nó, tội cho con”. Thấy Đạm có vẻ băn khoăn tôi nói với Đạm là nhà con như nhà mình thôi, sống với con cho con nó vui vậy là được rồi, áy náy làm chi cho khổ tâm. Đạm chỉ cho tôi cái bàn làm việc mới tinh và chiếc máy chữ còn nguyên trong hộp, bảo : “Thằng Lam , con tôi nó mới mua cho tôi đó. Hôm nào tôi sẽ khai trương cái máy chữ bằng lá thư gởi cho ông”.

Quả nhiên mấy hôm sau, tôi nhận được thư của Đạm. Thư đánh máy chứ không viết tay như mọi khi. Lần này nội dung lá thư diễn tả tinh thần Đạm vui hơn, ít than vãn nỗi buồn hơn. Đạm còn khoe vừa mới có đứa cháu nội xinh lắm, dễ thương lắm, mỗi khi buồn nhìn nó là vui ngay.

Thế nhưng đến lá thư sau Đạm lại nói với tôi là anh biết mình không còn ở xa bến bờ sinh tử là mấy. Anh viết: “Nhưng tôi vẫn chẳng sợ ngày đó, tôi còn muốn biết giây phút đó nó như thế nào. Song chắc sẽ tiếc lắm bởi khi kinh nghiệm ấy xảy ra rồi làm sao tôi còn có thể kể lại cho ông nghe…”. Rồi lúc 0 giờ ngày 20-07-2000 (tức ngày 26-06 năm Canh Thìn) anh ấy thanh thản ra đi, hưởng thọ được 63 tuổi. Vài tuần sau đám tang cha, D.K.L mang chiếc máy chữ nó mua cho ba nó, đến nhà giao cho tôi để nhớ ba nó. Đó là kỷ vật của Đạm, mỗi khi thấy nó tôi nhớ anh quá chừng.

oOo

Mới đó mà đã hơn nửa thế kỷ qua rồi! Bắt đầu tập tễnh anh em bước vào làng văn làng báo cuối thập niên 50 và từ đó là những năm tháng tình bạn bè giữa Tâm Đạm – Dương Trữ La, Thiên Hà và tôi luôn gắn bó nhau dù đôi khi gián đoạn gặp gỡ nhau do thời cuộc lúc bấy giờ.

Dù nay Tâm Đạm đã đi xa tôi vẫn luôn nhớ đến anh ấy bởi chữ Đạm lót trong bút hiệu Trương Đạm Thủy của tôi chính là do anh ấy tặng cho từ lúc tôi mới viết được cái truyện ngắn đầu đời.

Cùng với Ngô Tỵ, Phan Yến Linh, Hoài Điệp Tử, Phương Triều, Dương Trữ La – Tâm Đạm nay cũng đã ra người thiên cổ. Giờ chỉ còn lại đây Thiên Hà và tôi. Hai anh em mới ngày nào còn “tung tăng tung tẩy” trên chiếc Vespa cà tàng nay Kim Sơn, mai Thanh Thế, mốt Bồng Lai… vậy mà bây giờ mái tóc mỗi đứa muối nhiều hơn tiêu. Và mỗi khi hai đứa có dịp ngồi với nhau lại nhớ đến bạn bè, nhớ đến Tâm Đạm của những ngày ba đứa viết văn viết báo kiếm cơm một cách vui vầy, cứ một đứa có nhuận bút, lãnh lương thì cả mấy đứa… đều say.

Thời gian như dòng sông trôi, quá khứ trôi về phương nào không giữ được nhưng có lẽ kỷ niệm giống như những vết hằn năm tháng mà mỗi khi nhớ lại, mỗi khi nghĩ đến lòng bỗng nhiên sao cứ mãi… ngậm ngùi!

Sài Gòn tháng 10-2009

Tưởng mất mà còn

– Bút ký : HÀ CẨM TÂM

Tháng 4 năm 1997 về thăm nhà sau 20 năm ở mấy nước ngoài, nước Mỹ là nhiều nhất.

Tôi thăm Sài gòn, Đồng Tháp, Châu Đốc, Long Xuyên. Sẵn dịp làm một cuộc triển lãm cá nhân tại Hội Mỹ Thuật thành phố trong 10 ngày vào đầu tháng 6/1997.

45 bức tranh sơn dầu tôi vẽ tại Sài Gòn trong một tháng. Ý đồ làm triển lãm tranh là để gặp lại những người xưa thân ái. Thực ra trong lòng tôi quá ngán ngẩm về ba cái vụ triển lãm, nào thủ tục thủ tiết, thiệp mời thiệp mọc, đề tài đề xỉu … Cái khổ và không thật nhất là mặt mày phải hồ hỡi hân hoan – mệt muốn hụt hơi từ lúc chuẩn bị đến buổi khai mạc, khiêng vác mấy chục bức tranh khổ lớn như khiêng mấy chục bao gạo nặng ký chạy tới chạy lui chân cẳng rã rời – mà gặp ai cũng phải cười cười nói nói – dù rằng chắng có cái gì để nói để cười – trong buổi lễ khai mạc phòng tranh. Có lúc phải chạm trán với một vài ông bà trí thức hay triệu phú yêu cầu hoạ sĩ giải nghĩa bức tranh họ thích, thì tá hoả tam tinh, muốn qua đời ngay tức khắc cho rảnh nợ trần ai.

Đúng như ý nguyện, tôi gặp lại hầu hết các bạn xưa trước 1975 – trung bình từ 60 đến 90 tuổi, từ các nam nữ học sinh học vẽ với tôi đến các người tình cũ, các bậc Thầy, các đàn anh, đàn chị. Rồi ôm nhau, cười, khóc, im thin thít, nói lung tung, người khoanh chân, kẻ múa tay, quay cuồng, giống y như ngày Tết họ hàng bà con cô bác anh chị em lâu ngày mới gặp lại nhau. Mỗi người một vẻ, vui không thể tả. Chỉ có một cái duy nhất giống nhau là ông nào bà nấy già qúa xá là già. Ông nào cũng bập bẹ điếu thuốc trên môi, khói bay mịt mờ, túi quần sau là chai rượu wisky dẹp nhỏ, hai túi bên hông là các loại thuốc trị cao máu hay sưng khớp, loét bao tử, viêm gan hay các chứng bịnh ghê gớm nhất mà từ trước tới nay tôi chưa từng nghe đến bao giờ. Các cô các bà có vẻ bình thản và đàng hoàng hơn. Tính tình, thói quen, và giọng nói vẫn như thuở thiếu thời. Tôi có cảm giác như tôi chưa từng xa cách Việt Nam bao giờ.

Bỗng có tiếng la thật lớn fía sau lưng: Ê! Hà Cẩm Tâm ! Tôi ngó ngoái lại thì đúng là Dương Trữ La, người bạn rất thân 30 năm trước. Thật là tên nào người đó. La xong rồi Dương Trữ La nhìn tôi từ đầu đến chân nói lớn tiếng: Việt kiều gì mà ốm nhom ốm nhách. Nói tới đó như micro bị cúp điện, anh đứng êm ru bà rù, nét mặt ngơ ngơ chẳng vui chẳng buồn. Anh giống như tượng đá đứng giữa trời mùa đông Paris, suốt đời làm cu li. Dương Trữ La là một văn sĩ rất quen thuộc và nổi tiếng vào hai thập niên 1955-1975. Anh là người có văn tài viết về đời sống của giới bình dân ở thành phố và nông thôn Miền Nam. Lối văn giản dị nhưng ấm áp và chân thành, tình tiết đơn sơ nhưng nồng nàn say đắm. Các nhân vật phần đông thuộc về thành phần gia đình bình dân, đơn thuần, nhưng tấm lòng đẹp như gấm như hoa.

Những tình tiết thường tình, những sinh hoạt thường nhật, những trắc trở thường nghe, những lời lẽ bình dân, nhưng ngòi bút tài hoa của Dương Trữ La biến chế, trăn trở, nhấn vuốt, kết hợp và sáng tạo thành những tác phẩm văn chương rất linh động, đóng góp vào nền văn học Việt Nam. Dương Trữ La viết văn như người hoạ sĩ vẽ tranh, ngôn ngữ là những sắc độ chập chùng, những đường nét vững chãi, có khi nhẹ nhàng như mây bay, lắm lúc bão bùng như gió táp mưa sa. Văn chương Dương Trữ La là những câu chuyện tâm tình nói lên lòng can đảm, sự hy sinh, sự dâng hiến, tính dịu hiền, những trắc ẩn của các nhân vật trong những truyện ngắn, truyện dài.

Đặc điểm của chuyện Dương Trữ La viết bắt nguồn từ sự thật của đời sống, cảnh ngộ, thời gian xảy ra hàng ngày trong xã hội miền Nam. Đọc xong chuyện của anh, người đọc như được tắm mát trong một dòng sông mát rượi với bao thú vị tuyệt vời, bao kỷ niệm đáng yêu, bao con người đáng qúy, bao nhân vật đáng ghét, bao con người dễ thương. Dương Trữ La hướng dẫn người đọc về lòng tin giữa con người với con người, trong tình thương và cái đẹp mà vốn bên trong mỗi người đều có sẵn để nở một đóa hoa tươi thắm.

Dương Trữ La ở phòng tranh chơi với tôi suốt buổi chiều. Ra ngồi uống cà phê vĩa hè đường Pasteur, tôi ngước mắt nhìn hai hàng cây trẻ thơ hai bên đường năm nào mà hôm nay đã thành những cổ thụ già như trong Ai Xuôi Vạn Lý của Lê Thương. Chẳng nói nhiều với nhau, thỉnh thoảng chỉ nhắc lại kỷ niệm, bạn bè kẻ còn người mất, người chết kiểu này, kẻ sống kiểu kia, người ở lại, kẻ ra đi mịt mờ sương khói.

Trong tâm thức, cả hai đều chung một con đường tuần cảm, một chấn động đầy vơi, một nỗi bàng hoàng, một niềm chua xót. Nhìn qua bên kia thấy Minh Lương lên xe honda định ra về, gặp bọn  tôi thì lại rủ ra Kim Sơn tiếp tục uống cà phê (Kim Sơn là một nhà hàng ở góc đường Lê Lợi và Nguyễn Trung Trực, giữa trung tâm Sài Gòn, là nơi các anh em văn nghệ sĩ hay ngồi như nhà hàng Pagode ở đường Tự Do, nhưng Kim Sơn có hàng ghế ngồi bên ngoài hành lang, vừa uống cà phê vừa ngắm giai nhân qua lai, một công hai việc, thật đáng đồng tiền bát gạo.

Nhà văn Trương Đạm Thủy

TRƯƠNG ĐẠM THỦY

Sống với niềm vui

Bài Lê Hoàng Nguyễn

Nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy, tên thật Trương Minh Hiếu. Sinh năm 1940 tại Bến Tre. Anh từng đoạt giải truyện ngắn trên nhật báo Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai vào đầu thập niên 1960 và sống chết với ngòi bút tại Sài Gòn cũng từ năm 1960 cho đến nay.

Tôi biết nhà văn Trương Đạm Thủy từ giữa thập niên 1960 từ tờ tuần báo Ngày Mới của ông Hoàng Phố lúc đó nằm ở số 54 Võ Tánh (nay là một siêu thị trên tên đường mớ i là Nguyễn Trãi) gần ngã sáu Phù Đổng; còn tôi chỉ là một “văn nghệ trẻ” đang tập tễnh vào đời. Lúc đó anh còn rất trẻ, viết truyện ngắn và làm thơ rất hay, cùng với Bình Nguyên Lộc, Phan Trần Duyên (Phan Yến Linh), Phương Triều, Ngô Tỵ  thay nhau mỗi người mỗi tập truyện ngắn mỗi tuần.

Lúc đó tôi mê một truyện ngắn của Trương Đạm Thủy, một truyện có tên “Tháng giêng cỏ non” nói về một cô gái gánh nước mướn bị người cha dượng hãm hiếp không còn đời con gái, khi có một chàng trai ngỏ ý lấy cô làm vợ, cô gái khóc nói “sợi dây thừng đã đứt, nếu cột thì vẫn còn tỳ vết” – loại dây câu móc thùng lấy từ giếng nước lên – để thấy một cô gái dù thất học nhưng luân lý đạo đức Á Đông vẫn luôn tồn tại trong đầu óc mọi người, luôn lấy tiết trinh đánh giá nhân phẩm của người phụ nữ. Cô gái mang mặc cảm vì không còn tiết trinh để trao lại cho người yêu. Còn chàng trai trẻ không vì tính phong kiến của người đời, vẫn giang tay đón nhận thực tế dù cho có phũ phàng, để cùng người yêu đến một chân trời mới nơi đó chỉ có tháng Giêng mùa Xuân và cỏ non. Hay một bài thơ mang tựa “Thì thầm trong tối” mà tôi mê nhất một đoạn : “nếu biết tôi nghèo, em yêu tôi không / sự nghiệp trắng tay tóc xanh phiêu bồng / con tim nhỏ, mang nhiều thương tích lớn / Ước vọng chưa thành đời đã long đong…” diễn tả nội tâm của một anh nghèo đang yêu và mặc cảm trong tình yêu v.v… và v.v…

Và vì truyện và thơ Trương Đạm Thủy làm tôi say mê, thích lối văn phong bình dị mà sâu sắc, lãng mạn và trữ tình, và ai đọc cũng hiểu bởi văn chương thơ phú của anh không “xa hoa” với những ngôn từ “vĩ mô” theo mốt thời thượng bây giờ. Tôi xin làm em anh từ dạo đó.

Nhà văn Trương Đạm Thủy rất ít người thân, anh nói mồ côi cha mẹ từ dưới quê Bến Tre lên Sài Gòn kiếm sống, rồi anh dẫn tôi về trên một gác trọ nhỏ đang thuê trong hẽm đường Phan Thanh Giản khi xưa, để tiện dịp anh em gặp gỡ nhau hơn. Cũng từ đó tôi biết nhà văn Trương Đạm anh còn cộng tác với nhiều báo – từ giữa thập niên 1960 – như Lẽ Sống, Chuông Mai… và các tuần san tuần báo khác, đa phần do người miền Nam biên tập. Sau này khi tôi về cộng tác với nhật báo Trắng Đen, anh đã có mặt ngay từ số báo đầu tiên phụ trách trang trong, giữ mục tuyển thơ cùng Cẩm Thi – Lý Dũng Tâm, Phan Trần Duyên, trang văn nghệ trẻ và một fueilleton. Khi anh bận bịu và không thích gò bó bị “đóng khung” của những người làm báo chuyên nghiệp, anh đã giao lại những khoản mục này cho tôi phụ trách để được tự do bay nhảy khắp các nơi.

Vì thế tôi biết cuộc đời nhà văn Trương Đạm Thủy rất “ba chìm bảy nổi”, lúc ngày xưa người ta đi xe gắn máy nhiều hơn đi xe hơi, thì anh đã có một chiếc xe “Đơ-chơ-vô con cóc” cầm lái chạy giật le với đời, tuy chiếc xe không mới tinh hoành tráng nhưng cũng đủ làm mọi người phải nhìn anh bằng đôi mắt thán phục.

Với nghề cầm bút, ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy ngoài tài viết truyện ngắn, làm thơ anh còn viết fueilleton, giữ mục tuyển thơ cho nhiều tờ nhật báo và tuần báo vào thời trước 1975, nổi tiếng trong nhóm “Sông Hậu” cùng với các nhà văn nhà thơ khác như Hoài Điệp Tử, Tâm Đạm – Dương Trữ La, Ngô Tỵ, Phương Triều; nhóm này giờ đây chỉ còn có anh là đang sống để tiếp tục “dzung dzăng dzung dẻ” với văn nghệ và với cõi dương trần đang trong độ tuổi gần Thất Tuần này.

Và cũng ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy còn là một võ sư hoặc từng kinh qua nhiều môn võ thuật khác như Vovinam, Thái Cực Quyền, Aikido… nhờ vậy sau những năm 1975 nhiều gia đình phải ăn cơm độn với bobo, còn gia đình anh vẫn có gạo trắng nước trong của miền đồng bằng sông Cửu Long để nấu nhờ vào tiền “bồi dưỡng” vào mỗi sáng anh dạy võ dưỡng sinh cho người cao tuổi nơi những công viên cây xanh.

Bây giờ cuộc sống mọi người đã khá hơn, còn anh thì lại “long đong” với phận già, viết chuyện phiếm, làm thơ, viết văn cho các báo để nhận nhuận bút từng bài rồi cùng các anh em tri kỷ của “một thời Sài Gòn” như nhà thơ Thiên Hà, như tôi – bởi người của một thời giờ xưa giờ đây không còn nhiều, có người đã khuất núi, có người đã đi xa – cùng vô CLB Văn Nghệ uống lai rai vài chai bia để nói chuyện “văn nghệ văn gừng” quá khứ hiện tại tương lai, rồi về ngủ một giấc, cho đến hôm sau tiếp tục kéo cày để tiếp tục hùn tiền uống bia cùng với mọi người, cho cuộc sống tồn tại của ngày hôm ấy luôn thấy vui vẻ, yêu đời.

Vào đầu thiên niên kỷ thứ III mọi người còn thấy nhà văn Trương Đạm Thủy một mình một ngựa sắt (chiếc “xế điếc” đòn dông) rong ruổi trên các đường phố đi tìm bạn bè thân hữu mới cũ cho qua ngày tháng. Cái năm mọi người đã bắt đầu đi xe gắn máy hàng hiệu, hàng thùng, thì anh chỉ có một cái xe cánh én loại “sơ-công-hen” dùng lã lướt cho khỏi mỏi gối chùng chân, đi  từ ngã tư Xóm Gà – Gia Định (nơi anh đang sống) đến quán Văn Nghệ ngồi nhâm nhi bên ly bia và đấu láo mọi sự trên đời cùng mọi người – trừ chuyện “chính trị chính em”, anh không bao giờ hưởng ứng. Thấy vậy vào giữa năm 2009 vừa qua, đứa con trai lớn mới hay ra, anh thường vất vả khi cái “xế nổ” cũ xì này hay giỡ chứng giữa đường, đã sắm cho anh một chiếc xe gắn máy mới khui thùng. Bây giờ anh “yêu xe như con, yêu xăng như máu” chăm chút cho xe mỗi ngày.

Cuộc đời nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy là như thế, rất văn nghệ và sống bằng văn nghệ. Anh không luồn cúi, bi lụy ai để có một cuộc sống xuyênh xoang như mọi đồng nghiệp khác; mà sống tự tại bằng thế “đứng tấn” bởi hai chân cũng như bằng đôi tay còn cầm bút được. Nên không ai biết anh là nhà văn hội viên trong Hội Nhà Văn thành phố, vì anh cũng khá trầm tính và rất khiêm tốn không khoe khoang với những chức danh in trong danh thiếp, hay trong những tập truyện, thơ từng xuất bản cũng không có đôi dòng nói về tiểu sử hay cuộc đời của anh…

Còn nói về tình ái, nhà văn nhà thơ nào mà không lãng mạn, ngày anh còn trẻ đã yêu đơn phương một chị làm “thầy cò” trên báo Ngày Mới, đến giờ anh vẫn còn nhắc đến tên Họa Mi của chị, rồi hỏi tôi có còn gặp không. Nói như thế không phải nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy không chung tình, chung thủy; trước 1975 anh cưới vợ, vợ anh làm ở một hãng dược phẩm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay vẫn “đầu gối tay ấp” mặn nồng bên nhau cùng với hai con. Con trai anh hiện giờ đang thành đạt trên trường đời, con gái đã lấy chồng đi theo chồng xa xứ. Nên ngày ngày anh vui với những đứa cháu nội sau những giờ không đi tìm bạn bè thân hữu…uống bia.

Có lẽ tôi chỉ biết về nhà văn, nhà thơ, nhà báo Trương Đạm Thủy chỉ có bấy nhiêu, và nhưng có lẽ cũng đã gói ghém hết cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của anh trong bài viết này, không còn thiếu xót bao nhiêu, nếu có, xin mọi người cho thêm những đóng góp phản hồi.

Những tác phẩm của nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy đã xuất bản vào thập niên 1960 – 1975 : Miền đất hồi sinh (tập truyện), Cành cây nước lũ (tiểu thuyết), Chuyện những dòng sông (tập truyện). Từ thập niên 1990 : Không có tình yêu (tiểu thuyết), Bên kia bờ cỏ xanh (tiểu thuyết), Như lá vàng bay (tiểu thuyết). Vào thập niên thế kỷ 21 : Thơ tình Trương Đạm Thủy,  Hát xẩm giữa đêm (thơ) – Hợp tuyển thơ Bến Tâm Hồn 1, 2 (Một thời Sài Gòn), 3 (Tôi còn kỷ niệm). Đang thai nghén tập truyện ngắn : Vượt vũ môn sẽ ra mắt cuối năm nay hay đầu năm 2010.

LÊ HOÀNG NGUYỄN