CON MA NHÀ HỌ HỨA

GIAI THOẠI VỀ

CHÚ HỎA HUI BON HOA

– Trúc Giang MN

1/- Con ma nhà họ Hứa

Vào những đêm mưa gió sụt sùi hay trời đất âm u mà ông bà ngày xưa gọi là “Trời hư quỷ lộng, đất động chó tru”, thì phía trên lầu tòa nhà hoang vắng vang lên những tiếng rên rỉ đau thương, đồng thời thấp thoáng một bóng người toàn trắng, tóc tai bù xù, lơ lửng trên hành lang. Người ta chuyền miệng nhau, đó là con ma nhà họ Hứa.

Có rất nhiều giai thoại về cái oan hồn nầy.

Giai thoại là những câu chuyện mà người ta thường nhắc tới, có liên quan đến một nhân vật có thật. Vì chuyền miệng nên khó kiểm chứng thật hư ra sao.

– Giai thoại 1 : Đêm đó, vào ca trực của mình, tôi phát hiện căn phòng của lầu hai, cửa sổ chưa đóng, đèn còn mở. Lập tức, tôi lên cầu thang để đóng cửa và tắt đèn. Vừa bước chân lên vài bậc, thoảng một luồng gió lạnh khiến tôi rùng mình, vì thấy một bóng người toàn trắng đứng trên lầu nhìn xuống. Tôi rọi đèn pin lên, thì không thấy gì. Một cảm giác ớn lạnh chạy suốt xương sống khiến tôi nổi da gà, vì hôm đó trời âm u, bên ngoài đèn đường vàng vọt, khu phố vắng tanh. Chỉ nghe tiếng vổ cánh của vài con chim bay ra khỏi gọn cây cao.

Tôi định thần, lấy lại bình tĩnh, bấm chặt 5 đầu ngón tay, thu hết can đảm, bước lên từng bậc thang. Khi đến phòng, mắt nhìn quanh, nhẹ đưa tay ra khép cửa, thì bất ngờ, một tiếng động lớn, tôi giật mình hoảng hốt, vì một con mèo đen từ đâu phóng ào qua cửa sổ và đứng nhìn tôi chằm chằm. Tim đập thình thịch, tôi cắm đầu chạy một mạch xuống đất.

Sau đó, nghe nói là căn phòng nầy trước kia lâu lắm, là nơi đứa con gái út của chú Hoả chết ở đó vì bịnh phong cùi.

Từ đó, không ai có can đảm lên lầu vào buổi tối cả.

– Câu chuyện về người con gái út của chú Hoả : Chú Hỏa tên là Hứa Bổn Hoà, một người Hoa, đại phú hào ở Sài Gòn năm xưa, có nhiều con trai nhưng chỉ có một con gái út, nên cưng chìu hết mực. Cô tiểu thơ bất hạnh đó mắc phải chứng bịnh phong cùi, mà thời đó, vô phương cứu chữa.

Khi phát hiện chứng bịnh nan y nầy, cô gái đâm ra hoảng loạn. Vốn dĩ được cưng chìu từ thuở bé lại có nhiều kẻ hầu người hạ, nên cô trúc hết những nổi u uất trong lòng lên đầu đám tôi tớ.

Khi bịnh trở nặng, thân thể lở loét trở nên dị dạng, tay chân co quắp. Chú Hoả cho người dùng những tấm ván che kín căn phòng, chỉ chừa một khe hở để người hầu đưa cơm nước, phục vụ mỗi ngày.

Bị nhốt, bị cơn bịnh hành hạ, thân thể nhức nhối, nên tâm trí trở nên điên loạn bất thường, khi khóc lóc, khi chửi bới, lúc cười the thé bất kể ngày đêm. Tất cả nhưng phương thuốc đông, tây cũng bó tay trước căn bịnh quái ác nầy. Hàng chục đội quân xuống tận rừng U Minh, Cà Mau để tìm “ngọc ong”, một loại linh dược của trời đất, hy vọng thần dược nầy hoà cùng kim loại vàng sẽ làm chậm mức phát bịnh, nhưng tất cả đều vô vọng.

Việc con gái la hét, chửi rủa làm náo động khiến cho chú Hỏa lo ngại bị phát giác và buộc phải sống cách ly với gia đình, vào những trại dành cho người bịnh phong cùi.

– Tổ chức đám ma giả : Mục đích để cho bà con, bạn bè tin rằng đứa con gái út không còn ở trên đời nầy nữa, nên chú Hỏa tổ chức một đám ma giả, khai tử đứa con đang còn sống. Đám ma được tổ chức to lớn nhất Sài Gòn Gia Định, nhưng không có việc thăm viếng quan tài vì lý do chết vào giờ trùng nên phải chôn gấp. Hầu như mọi người đều thương tiếc số phận không may của cô tiểu thơ nầy.

Chỉ có một số ít người Tàu giúp việc trong nhà, biết được cô gái đã chết một thời gian sau đám ma.

– Không chôn xác chết : Vì quá thương con, muốn tạo cảm giác như đứa con gái yêu thương vẫn còn sống bên mình, chú Hỏa không khâm liệm, mà đặt trong một quan tài bằng đá, nấp đậy là một tấm kiếng dày 5 phân (5cm). Bà vú người Tàu vẫn ngày ngày mang thức ăn đến như khi còn sống. Công việc đều đặn suốt cả năm.

Hôm ấy, đúng ngày giáp năm, chú Hoả tổ chức một đám giỗ, mời bà con bạn bè đến dự. Chú đặt may một bộ áo đầm trắng, mua con búp bê biết nháy mắt, nằm xuống thì nhắm mắt, đứng dậy, mở mắt và mua một dĩa cơm gà để cúng.

Sau khi khách ra về, bà vú lên phòng dọn dẹp như thường lệ, thì chợt một việc hết sức bất ngờ và kỳ lạ xảy ra :

Dĩa cơm ai ăn hết phân nửa, trong khi các cửa phòng vẫn khoá chặt từ lâu. Trong căn phòng lờ mờ, ánh sáng èo uột, nấp hòm bằng kiếng đã mở ra phân nửa, con búp bê đứng hẳn trên lồng kiếng, đôi mắt nháy lia lịa. Xa hơn nữa, lơ lửng một bóng người con gái mặc áo đầm trắng, tóc tai rối bù bao phủ cả khuôn mặt. Bà Xẩm kinh hoàng, bật tung dậy, cắm đầu chạy xuống lầu, té trẹo giò, mặt xanh như tàu lá, đớ lưỡi, không nói được nửa lời, ú ớ chỉ tay về phía lầu. Sau khi hoàn hồn, bà nói : “Cô chủ về ! Cô chủ về !”

Nghe mọi chuyện, biết có điều không tốt xảy ra, nên một hành động bí mật được thực hiện. Đó là tấm nấp quan tài bằng kiếng được tháo ra, cái xác chết quấn vải trắng trong quan tài bằng đá được đưa sang cái hòm bằng gỗ rồi bí mật đem đi chôn.

– Chuyện phim Con ma nhà họ Hứa : Phim thuộc loại kinh dị, do hảng phim Dạ Lý Hương sản xuất. Các diễn viên là : Bạch Tuyết, Dũng Thanh Lâm, hề Tư Rọm, bà năm Sa Đéc, Ba Vân, Năm Châu, Tâm Phan, Khả Năng, Minh Ngọc, Thanh Việt, Tùng Lâm và bé Thy Mai. Do đạo diễn Lê Hoàng Hoa thực hiện.

Chính chuyện phim Con ma nhà họ Hứa nầy đã làm cho người ta tin tưởng hồn ma của con gái chú Hỏa là chuyện thật, nên được lan truyền suốt hơn 50 năm qua.

Cho đến nay, câu chuyện vẫn còn là một nghi vấn, vì không có chứng cớ nào chính thức và đáng tin cậy cả. Chuyện ma hiện hình đương nhiên là không có thể chứng minh được.

– Nói về bịnh phong cùi : Bịnh phong (phung) còn gọi là bịnh hủi hay cùi, là một bịnh rất hay lây nhưng không di truyền, nghĩa là cha mẹ bị bịnh thì có thể sanh con không bị bịnh. Bịnh do trực trùng Hansen gây ra. Hansen là tên của bác sĩ đã tìm ra trực trùng bịnh hủi vào năm 1873 thông qua kính hiển vi. Tên đầy đủ của bác sĩ người Na Uy là Gerhart Henrick Armauer Hansen (1841-1912)

Người bịnh chảy nhiều nước mũi, trong đó chứa nhiều vi trùng, lây lan qua vết cắt khi tiếp xúc và qua đường hô hấp. Thời gian nung bịnh từ 15 đến 20 năm. Người bịnh mất cảm giác, kim chích không đau, lửa đốt không nóng. Trên mặt hiện ra những cục sần sùi, thân thể lở loét, tay chân co rúc rồi rụng dần.

Ngày nay, nhiều thứ thuốc chữa bịnh phong cùi rất hiệu nghiệm, nếu được phát hiện sớm và chữa trị kịp thời.Do lây lan và truyền nhiễm nên người bịnh phải cách ly để sống trong những trại phong cùi. Trại cùi Bến Sắn, Bình Dương, có 39 hộ với 664 bịnh nhân.

Thi sỹ Hàn Mặc Tử cũng bị phong cùi và chết trẻ. Còn con gái chú Hỏa cũng chết trẻ, nhưng khoa học xác nhận thời gian phát bịnh rất dài, từ 15 đến 20 năm, cho nên có giả thuyết cho rằng Hàn Mặc Tử, tuy bị phong cùi, nhưng chưa chắc đã chết vì bịnh nầy.

2/- Nói về chú Hoả

– Tiểu sử : Chú Hỏa (1845-1901), 56 tuổi. Còn có tên là Hứa Bổn Hòa, Hui Bon Hoa hoặc Jean Baptiste Hui Bon Hoa, nổi tiếng là một trong “Tứ Đại Phú Hào Sài Gòn” vào nửa đầu thế kỷ20. Dân gian tôn vinh “Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Hỏa”.

Nhất Sỹ : Tên thật là Lê Phát Đạt (1841-1900) được phong làm huyện hàm, nên gọi là Huyện Sỹ, người làng Bình Lập, Tân An. Học trường Dòng. Hoạt động phát triển nông nghiệp và truyền bá đạo Thiên Chúa. Ông bỏ tiền ra xây cất trên đất của mình 2 nhà thờ, nhà thờ Huyện Sỹ, quận 1 Sài Gòn và nhà thờ Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.

Cháu ngoại của ông là Nguyễn Hữu Thị Lan, gả cho vua Bảo Đại, danh xưng là Nam Phương Hoàng Hậu.

Nhì Phương : Đỗ Hữu Phương (1844-1914) được phong làm Tổng đốc hàm, nên gọi là Tổng đốc Phương, sinh tại Sài Gòn, người gốc Hoa, biết chữ Hán, thông thạo tiếng Pháp, tiếng Việt.

Ông là một trong những người chủ xuớng và bỏ tiền ra xây trường nữ trung học Collège de Jeunes filles Indigènes vào năm 1915, tức là trường Áo Tím, trường Gia Long ngày nay.

Tam Xường : Còn gọi bá hộ Xường, tên thật là Lý Tường Quan, người gốc Hoa, giỏi tiếng Pháp, thông thuộc tiếng Quảng Đông và tiếng Việt. Là một nhà kinh doanh lương thực, cung cấp độc quyền thịt cá cho Sài Gòn và các tỉnh lân cận.

Tứ Hỏa : Là Hui Bon Hoa, thường gọi là chú Hỏa.

Cũng có người xếp theo thứ tự khác, là : “Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Định”, nhà văn Sơn Nam và học giả Vương Hồng Sển cũng ghi như vậy.

Tứ Định : Tên thật là Trần Hữu Định. Kinh doanh đất đai, mở tiệm cầm đồ, xuất nhập cảng vải sợi. Tài sản kết xù nhưng bị con ăn chơi hoang phí, phá sạch sau khi ông chết.

Chú Hỏa có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng bộ mặt Sài Gòn năm xưa. Nhà biên khảo Vương Hồng Sển nêu nhận xét : “Tuy làm giàu cho mình đã đành, chú Hỏa còn giúp ích rất nhiều trong việc mở mang kinh tế miền Nam”.

– Những giai thoại về thời hàn vi của chú Hỏa : Chú Hỏa khởi nghiệp bằng hai bàn tay trắng, với cái gánh ve chai trên vai, đi mua ve chay và phế liệu, đã tạo dựng một cơ nghiệp khổng lồ một cách lẫy lừng, khiến cho người đời nhắc nhở tới luôn.

Rất nhiều giai thoại về cái giàu của chú Hoả.

Có người cho biết, trong một lần thu mua phế liệu, chú Hỏa nhặt được một túi vàng nằm trong chiếc ghế nệm cũ. Cũng có tin nói rằng, chú mua được một bức tượng đồng bên trong đầy vàng, rồi, nào là nhờ biết đọc chữ Hán, nên mua trúng đổ cỗ từ thời nhà Minh, nhà Thanh và cả nhà Hán nữa.

Tất cả những giai thoại trên không đứng vững.

Cơ hội đến. Trúng thầu 20 ngàn máy truyền tin phế thải : Trong một cuộc đấu giá, viên thượng sĩ người Pháp cho biết muốn thanh lý 20 ngàn máy truyền tin cũ, thì các ông chủ thầu thu mua phế liệu phì cười bỏ qua, vì thời đó, máy truyền tin cũ không có một giá trị nào đối với việc tái sản xuất cả. Riêng chú Hỏa thì rất thích thú, bởi vì chú đã thành công trong việc phân kim lấy vàng từ một máy truyền tin loại đó.

Vận dụng tất cả những mối quan hệ, mượn tiền, vay vốn, cầm cố tài sản để kiếm cho đủ số tiền mua trọn bộ 20 ngàn cái máy truyền tin phế thải.

Sau khi phân kim, chú Hỏa thu được một số lượng vàng khá lớn. Chú Hỏa đã từng mở tiệm cầm đồ,làm việc với vàng bạc, nên có kinh nghiệm trong việc giám định, thử vàng và phân kim để lọc vàng.

– Vua nhà đất : Khi có vàng, chú Hỏa chuyển sang kinh doanh nhà đất, bất động sản. Nhờ có óc kinh doanh, đặc biệt là có tầm nhìn xa cả trăm năm, mà bây giờ, người ta gọi đó là “đón đầu quy hạch”

Thời đó, khu chợ Bến Thành bây giờ, chỉ là một vũng lầy với con kinh 20. Bắt được tin tức người Pháp có kế hoạch lấp vũng lầy và lấp con kinh để xây một cái chợ mới, nằm sát ngôi chợ đã có gọi là Chợ Cũ ngày nay.

Chú Hỏa bèn tung tiền ra mua toàn bộ vùng đất vừa mới lấp. Người ta cho đó là một vụ giao dịch rất táo bạo, vì thời đó, không có kiểu giao dịch bất động sản nào theo kiểu “Đón đầu quy hoạch” như ngày nay cả. Ở cái thời mà người ta còn dùng bạc cắc, đất trống Sài Gòn, Gia Định giá rẻ như bèo.

Sau khi khu chợ mới xây xong, ngày nay là Chợ Bến Thành, và sau đó, trong tay chú Hỏa có 20,000 căn nhà phố cho mướn.

Những toà nhà nguy nga tráng lệ được chú Hỏa xây cất theo lối kiến trúc châu Âu, mà ngày nay cũng chưa lỗi thời, đó là khách sạn Majestic, nhà ở của chú Hỏa bây giờ là Bảo tàng Mỹ thuật thành phố, nhà bảo sanh Từ Dũ, bịnh viện Sài Gòn trên đường Lê Lợi, khu nhà khách chánh phủ, nhiều ngân hàng, trụ sở mua bán, khách sạn Palace-Long Hải, chùa Kỳ Viên…

– Giai thoại về ngôi nhà 99 cửa của chú Hoả : Tòa nhà tọa lạc tại số 97 đường Phó Đức Chính ngày nay, thuộc quận 1, Sài Gòn. Trải qua gần 100 năm mà vẫn sừng sững với dáng dấp cổ kính, tĩnh lặng, âm u, càng làm cho những giai thoại về chú Hỏa trở nên huyền hoặc.

Dù ngày nay là Bảo tàng Mỹ thuật của thành phố Sai Gòn, nhưng ngôi nhà vẫn chứa nhiều bí ẩn, gợi tò mò, bởi vì nó gắn liền với những huyền thoại về một đại phú gia gốc Trung Hoa, nổi tiếng lừng lẫy của thời 100 năm về trước. Ngôi nhà hoàn thành năm 1920, cũng còn được gọi là nhà 99 cửa.

Ngôi nhà kiến trúc rất đẹp, hoà hợp giữa hai trường phái xây dựng Âu-Á. Tường nhà đúc kiên cố,dày từ 40 cm đến 60cm. Có giai thoại về tòa nhà ba gian hình vòng cung, với 100 cửa lớn nhỏ, cửa sổ. Tin rằng, khi duyệt sơ đồ kiến trúc, viên toàn quyền người Pháp bắt buộc phải bỏ bớt một cửa, và không cho mở cửa cổng chính vì cổng nầy lớn hơn cổng của Dinh Toàn quyền, như dinh Độc Lập có 2 cổng phụ ở hai bên cổng chính vậy.

Sau tháng 4 năm 1975, quân Giải Phóng vào tiếp thu nhà và đến năm 1987 thì dùng là nhà Bảo tàng Mỹ thuật của thành phố Sài Gòn. Bà Mã Thanh Cao, Giám đốc nhà Bảo tàng cho biết :

“Hồi tháng 7 năm 2006, những người họ hàng của ông Hứa Bổn Hòa đang sống nhiều nơi trên thế giới như Hồng Kông, Hoa Kỳ, Đài Loan, Singapore đã về VN tham quan, cho nên sự thật phơi bày. Người cháu nội ông Hòa, 91 tuổi cho xem danh mục gia phả dòng họ Hứa, sự thật, ông Hứa Bổn Hoà có 3 người con trai và không có người con gái nào cả.

Việc ông Hoà làm giàu, thì người cháu nội cho biết : “Gia đình không giàu có từ nghề ve chai, cũng không phải nhặt được vàng hay kho báu, mà bắt đầu từ tiệm cầm đồ. Toà nhà nầy trước kia đã từng là cửa hàng cầm đồ đầu tiên ở Sài Gòn. Công việc làm ăn phát đạt, dần dần trở nên giàu có, rồi mở rộng ra trong nghề mua bán bất động sản, xây dựng những công trình lớn”.

Bà Cao nói tiếp : “Chúng tôi cố gắng liên lạc với các thành viên trong gia đình họ Hứa để được cung cấp những bản thiết kế, hồ sơ hoàn công, cũng như tìm hiểu thêm về thông tin của dòng họ, hình ảnh gia đình, để qua đó có thể giúp cho khách tham quan nhà Bảo tàng hiểu rõ hơn về sự tích toà nhà và về các giai thoại có liên quan đến ông Hứa”.

Bảo tàng Mỹ thuật nầy lớn nhất VN, có 20,000 tác phẩm nghệ thuật và mỹ nghệ dân gian, qua các thời kỳ lịch sử. Mỗi năm thu hút hơn 200,000 lượt khách tham quan, đa số là người ngoại quốc.

Bà Cao cho biết :“Chính tôi và tất cả bảo vệ ở đây không có ai nhìn thấy con ma nào cả”.

Dân chúng cho rằng, việc không thấy ma là có thật, nhưng những lời bà giám đốc Mã Thanh Cao cũng chỉ là một trong những giai thoại về gia đình chú Hỏa mà thôi, bởi vì chính quyền có bao giờ nói thật đâu. Căn giữa của tòa nhà vẫn còn để trống, và dân chúng chẳng có ai dám đến gần toà nhà trong buổi tối cả.

3/- Đi tìm mộ chú Hoả

Khi còn sống, đã có không ít những giai thoại ly kỳ về bản thân, gia đình, nhà cửa, khi mất, chú Hỏa gây tò mò về bí ẩn kế tiếp là nơi chôn cất của ông.

“Vào tháng 7 năm 2006, vài thành viên trong dòng họ Hui Bon Hoa từ Pháp trở về, mục đích thăm lại cảnh trí cũ, mồ mả cha ông, và tìm hiểu lịch sử gia đình. Họ ngụ tại khách sạn Majestic, là toà nhà do chú Hỏa xây vào năm 1925. Một thành viên trong gia đình là Eddie Hui Bon Hoa cho biết, tháng 4 năm 1975, Eddie theo gia đình sang Pháp khi còn trong bụng mẹ. “Các thành viên nầy đều thuộc đời cháu của chú Hỏa, do sống ở nước ngoài khá lâu nên ký ức về gia đình trước đây không có nhiều”, bà giám đốc nhà Bảo tàng Mỹ thuật cho biết như thế.

– Bí ẩn bao trùm : Nhiều người lớn tuổi vẫn còn nhớ, khi mất, chú Hỏa được an táng tại khu vực gần núi Châu Thới, Biên Hòa. Chú Hỏa xem phong thủy rất kỹ, nên chọn khu vực nầy, vì nơi đó có long mạch hiếm thấy, rất thích hợp cho chỗ an nghĩ, đồng thời, con cháu đời sau nhờ đó mà làm ăn phát đạt.

Nơi đây có 2 ngọn núi thấp Bửu Long và Long Ân, là nơi rồng ngủ. Quan sát từ trên cao, thì thấy Bửu Long cổ tự kết hợp với những gò đống lồi lõm uốn quanh của địa thế, tạo thành hình một con rồng khổng lồ nằm vắt ngang qua lưu vực sông Phước Long, xã Tân Thành.

Núi Long Ân là đầu rồng, chuỗi gò đống nói trên là mình rồng uốn khúc, và núi Châu Thới phía nam là đuôi rồng vểnh lên cao.

– Đi tìm mộ chú Hỏa : Sau những chuyện đồn thổi về con ma nhà họ Hứa, thì những giai thoại về nơi an táng của chú Hỏa lại xuất hiện.

Có người cho rằng mộ của Hui Bon Hoa đang nằm tại Thủ Đức. Cũng có tin cho biết hài cốt của chú Hỏa được mang về Pháp vì chú có quốc tịch Pháp, tên Jean Baptiste Hui Bon Hoa. Lại có giai thoại khác, trước khi chết, chú cho xây dựng nhiều lăng mộ, giống như Tào Tháo vậy. Mục đích là bảo đảm an toàn cho mộ phần vì sợ kẻ trộm đào mồ để tìm của cải quý giá chôn theo, mà phong tục người Hoa thường thực hiện. Đồng thời, theo phong thủy, mộ thường hay chôn ở chỗ có long mạch, nên tránh cho long mạch bị quấy phá có ảnh hưởng không tốt cho việc làm ăn của con cháu.

Một nhà báo đi tìm mộ của chú Hỏa. Từ chân lên đỉnh núi Châu Thới có một số ngôi mộ cỗ, đơn sơ lẫn “hoành tráng”, nhưng trong đó không có mộ của chú Hỏa.

Tại xã Bình An, huyện Dĩ An, Bình Dương, có một lò thiêu xác công nghệ cao cũng khá lớn, bên cạnh đó là nghĩa trang cũ của người Hoa mang tính đặc biệt văn hoáTrung Hoa.

Một nhân viên lò thiêu xác cho biết, mộ chú Hỏa không có trong nghĩa trang nầy, hãy đến dốc chú Hỏa cách đây một cây số, vào nhà dân mà hỏi, nghe nói mộ chú Hỏa ở khu vực đó, có lẻ người ta đã cất nhà lên đó rồi.

Tại khu nhà lụp xụp, người đàn ông trung niên trả lời : “Lăng mộ chú Hỏa nhiều lắm, có đến 4, 5 cái, mà ông muốn kiếm cái nào ?” Một người khác góp vô : “Không hiểu tại sao có nhiều người đi tìm mộ chú Hoả như thế ? Rồi thì, nhiều người chỉ ở đây, ở kia, và đó là những mộ giả, rổng ruột, còn mộ thật thì không có ai biết được cả…

4/- Kết

Chuyện con ma thì không ai có thể chứng minh được, nhưng chuyện người phụ nữ mắc chứng phong cùi là chuyện bình thường đã xảy ra cho những gia đình bất hạnh, không ngoại trừ gia đình Hui Bon Hoa.

Nhà chú Hỏa có cái sân rất rộng nên nằm thụt ra phía sau, cách hàng rào sắt bên ngoài rất xa, lại có cây cối um tùm khiến cho toà nhà âm u, vì đèn đường vàng vọt không đủ sáng, cho nên bóng dáng của người phụ nữ điên loạn, ở xa nhìn vào thì có cảm tưởng như là con ma, nhất là những người yếu bóng vía hay sợ ma. Từ đó, nhiều tưởng tượng thêu dệt cho câu chuyện ly kỳ hấp dẫn gây cảm xúc như là những chuyện ma khác.

Chuyện phim kinh dị Con ma nhà họ Hứa đã gây cơn sốt về thiếu vé, do khán giả ùn ùn tranh nhau vào xem phim, đã làm cho con ma nhà họ Hứa tưởng chừng như có thật.

Về chú Hỏa, tuy làm giàu nhưng cũng nghĩ đến đồng bào bằng cách xây dựng những công trình giúp ích cho các cộng dồng và người dân Sài Gòn Gia Định. Nhà bảo sanh Từ Dũ, bịnh viên Sài Gòn, chùa Kỳ Viên… một người Hoa giàu có khác là Quách Đàm, đã bỏ tiền ra xây chợ Bình Tây, còn gọi là Chợ Lớn Mới. Đại gia Huyện Sỹ bỏ tiền ra xây nhà Thờ Huyện Sỹ, nhà thờ Hạnh Thông Tây…

Huỳnh Văn Yên post (theo Trúc Giang – Minnesota ngày 20-1-2012)

NS TRẦN TRỊNH QUA ĐỜI

NHẠC SĨ TRẦN TRỊNH

ĐÃ RA ĐI

Theo tin từ nhạc sĩ Trần Quốc Bảo cho biết là nhạc sĩ Trần Trịnh vừa qua đời lúc 5g25 chiều thứ tư ngày 10 tháng 10 năm 2012.

Lệ Đá- trình bày Dalena, nhạc Trần Trịnh, lời Hà Huyền Chi:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?L=a7DuE66Kdjpg

Nhạc sĩ Trần Trịnh vừa trút hơi thở cuối vào lúc 5g25 chiều thứ tư ngày 10 tháng 10 năm 2012 tại nhà thương UCI Medical. Lúc Ông ra đi, có 2 con trai là Tùng Trần và Ngọc Trần bên cạnh. Chị ruột ông (vợ cố giáo sư Nguyễn Đình Hòa) từ Pala Anto (miền Bắc Cali) cùng 2 con gái có bay xuống thăm em trai cách đây mấy ngày. Ca sĩ Mai Lệ Huyền trước khi đi xa 15 ngày, đã kịp vào thăm Ông lần cuối và Phương Hồng Quế cũng như TQB đã có những đoạn phim thu hình rất xúc động.

Trước đây, vợ cố nhạc sĩ Nhật Ngân đã mua sẵn cho nhạc sĩ Trần Trịnh miếng đất cạnh ngay nơi chôn chồng mình, nhưng 2 tuần cuối cùng này, có lẽ biết mình khó qua, Ông yêu cầu được thiêu để tro cốt 2 vợ chồng được gần nhau. Tang lễ phần tụng niệm sẽ do các thầy của chùa Liên Hoa phụ trách.

Nhạc sĩ Trần Trịnh ra đi, để lại 2 đứa con trai chưa ai lập gia đình, và hoàn cảnh 2 cháu hiện nay cũng gặp nhiều khó khăn về kinh tế. Mọi chia buồn an ủi xin gọi về cho cháu Tùng Trần (con trai lớn của nhạc sĩ Trần Trịnh) : (714) 612-4840

Vài hàng tiểu sử

Nhạc Sĩ Trần Trịnh, tên thật là Trần Văn Lượng, sinh năm 1937 tại Hà Nội. Vào Nam năm 1945. Học Nhạc với Thầy Remy Trịnh Văn Phước (Tiến sĩ âm nhạc tại Roma), vì vậy ông lấy tên là Trần Trịnh.

Tác phấm đầu tay của ông là “Cung Đàn Muôn Điệu”, phổ biến năm 1954. Tác phẩm nổi tiếng “Chuyến Xe Về Nam” được phổ biến năm 1955. Ông đã phổ bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” của T.T.KH. vào năm 1957. Từ năm 1958-1968, ông tạm ngưng sáng tác để nghiên cứu về nhạc.

Năm 1968, ông sáng tác bản “Lệ Đá”, lời của Hà Huyên Chi. Cùng năm ấy, ông điều khiển chương trình Đại Hợp Tấu và Hợp Xướng “Đống Đa” trên Đài Truyền Hình.

Cộng tác với Nhạc sĩ Nhật Ngân và Nhạc sĩ Lâm Đệ, lấy tên chung là TRỊNH LÂM NGÂN, với những tác phẩm nổi tiếng như : “ Xuân Này Con Không Về”, “Mùa Xuân Của Mẹ”, “Thu Xuân Trên Rừng Cao”, “Qua Cơn Mê”, “Yêu Một Mình”… Ca khúc ”Tiếng Hát Nửa Vời”, sáng tác năm 1975.

Ông đến Hoa Kỳ năm 1995 và định cư tại California. Tác phẩm mới nhất năm 2006: Chiếc Lá Cuối Cùng, phổ bài thơ “La Dernière Feuille”.

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=443&Itemid=47

“Lệ Đá” lời theo nhạc hay phổ thơ ?  

NHẠC SĨ TRẦN TRỊNH

HÔM QUA & HÔM NAY…

* Bài Nguyễn Việt

Bài viết này được post làm 2 kỳ vào ngày 1 & 2 tháng 11/2009 trên địa chỉ :

http://my.opera.com/khaisang2002/ tức trang “Văn nghệ người Sài Gòn” do Nguyễn Việt phụ trách. Sau đây chỉ trích lại bài đầu, để xem hết 2 bài, các bạn có thể Click vào đường dẫn sau đây :

01st "Lệ Đá" lời nhạc hay phổ thơ ? (1)

02nd "Lệ Đá" lời nhạc hay phổ thơ ? (2)

Khi viết về nhà thơ Hà Huyền Chi với các lời trong ca khúc “Lệ Đá”, chúng ta cũng không quên nhạc sĩ Trần Trịnh là cha đẻ những nốt nhạc cho nhạc phẩm này. Theo chúng tôi biết hiện giờ nhạc sĩ Trần Trịnh sống rất khó khăn bên trời Mỹ và sau đây có ít dòng viết về ông.

Nhạc sĩ Trần Trịnh tên thật Trần Văn Lượng, sinh năm 1937 tại Thái Lan nhưng trưởng thành tại Hà Nội và vào Nam vào năm 1945. Ông theo học tại trường Trung Học Taberd Sài Gòn, và học nhạc lý với thầy Remi Trịnh Văn Phước (tiến sĩ âm nhạc tại Roma) tại trường này, nên lấy bút danh là họ của 2 người thành tên Trần Trịnh từ đó.

Theo lời kể của nhạc sĩ Trần Trịnh, cho biết âm nhạc đã quyến rũ từ lúc ông đang theo học chương trình Pháp tại trường Taberd suốt 10 năm ròng, từ 1945 cho đến 1955, và đậu bằng Tú Tài 2 thời Pháp trong thời gian này. Nhưng niềm đam mê âm nhạc của ông đã gặp trở ngại, bố mẹ ông đã không đồng ý cho ông đitheo ngành này. Mặc dù bố ông là một nhân viên của tòa đại sứ Pháp theo tây học, nhưng cụ vẫn mang tính phong kiến, không mấy cảm tình với cuộc đời nghệ sĩ cho rằng “xướng cavô loại”. Còn mẹ ông, một phụ nữ người Lào – vợ sau của bố ông – cũng chẳng khuyến khích cậu con út trong 3 người con của bà theo đuổi ước mơ.

Dù vậy nhạc sĩ Trần Trịnh đã đến với lãnh vực sáng tác, khi còn theo học những giờ nhạc lý do thầy Rémi hướng dẫn, và về sau ông còn theo thầy qua Chủng viện Taberd bên Thanh Đa, được thầy huấn luyện về âm nhạc trong suốt 9 năm từ năm 1958 đến năm 1967. Nên ông đã có được một căn bản vững vàng về nhạc pháp cũng như về nghệ thuật sử dụng piano.

Sáng tác đầu tiên của nhạc sĩ Trần Trịnh là “Cung Đàn Muôn Điệu” viết năm 1950, năm ông được 14 tuổi. Đến năm 17 tuổi nhạc phẩm này mới được nhà xuất bản An Phú nhận phổ biến; năm 1956 lại được nhà xuất bản Diên Hồng đem tái bản. Sau này được dùng làm nhạc chuyển mục trong một chương trình tân nhạc cùng với bài “Chuyến Xe Về Nam” (do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành năm 1955). Cũng trong năm1956, ông lại cho ra thêm một nhạc phẩm khác mang tên “Viết Trên Đường Nở Hoa”.

Sau khi đậu bằng Tú Tài 2 Pháp, năm 1955 nhạc sĩ Trần Trịnh được gia đình gửi lên Đà Lạt để vừa học vừa làm tại Nha Kiến Trúc. Năm 1957, ông đi quân dịch, đã viết bài “Đôi Mươi”. Đến năm 1958, ông phổ thơ bài “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” của thi sĩ T.T.KH. đây cũng là một bản nhạc rất ăn khách lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, người yêu nhạc biết đến tên tuổi của nhạc sĩ Trần Trịnh vẫn là bài “Lệ Đá” do ông sáng tác nhạc năm 1968 được nhà thơ Hà Huyền Chi đặt lời.

Ngoài nhạc phẩm điển hình này, ông còn là tác giả của nhiều nhạc phẩm đặc sắc khác, mà trong số có rất nhiều bài là đồng sáng tác với hai người bạn nghệ sĩ là Nhật Ngân và Lâm Đệ ký dưới bút danh Trịnh Lâm Ngân trong những thập niên 60 và 70. Cả ba từng quen nhau trong Ban văn nghệ thuộc TT huấn luyện Quang Trung. Trong bộ ba, Trần Trịnh và Nhật Ngân phụ trách viết nhạc và lời, còn Lâm Đệ phụ trách phần thâu thanh và phát hành.

Trong thời gian này, bộ ba đã sáng tác một số lớn những bài hát với âm hưởng dân tộc như : Xuân này con không về, Mùa xuân của mẹ, Qua cơn mê, Yêu một mình, Hai trái tim vàng, Chiều qua phà Hậu giang, v.v… Không chỉ là người sáng tác nhạc, nhạc sĩ Trần Trịnh còn là một trong những nhạc sĩ có nhiều gắn bó với các phòng trà khiêu vũ trường tại Sài Gòn lúc đó.

Vào những năm học cuối cùng với thầy Rémi, ông bắt đầu đi tìm việc tại các phòng trà trong vai trò nhạc công sử dụng đàn piano. Khởi đầu cộng tác với một phòng trà nhỏ tên Lệ Liễu. Sau vào làm tại phòng trà Bồng Lai trên đường Nguyễn Trung Trực – Lê Lợi (trên tầng thượng quán Kim Sơn). Và dần dần được mời cộng tác với tất cả những phòng trà và khiêu vũ trường khác tại Sài Gòn.

Nhận biết được khả năng âm nhạc của Trần Trịnh, đài truyền hình đã giao ông phụ trách một chương trình ca nhạc vào năm 1967, từ đó ông trở thành nhạc trưởng của ban văn nghệ Đống Đa, cùng với ban Vũ Thành và Tiếng Tơ Đồng, là 3 ban văn nghệ có giá trị nghệ thuật vào giai đoạn đó.

Trong một lần tham gia công tác văn nghệ tại Bình Long vào năm 1964, nhạc sĩ Trần Trịnh quen với Mai Lệ Huyền, lúc đó là ca sĩ nghiệp dư trong ban văn nghệ của tỉnh do nhạc sĩ Bắc Sơn làm trưởng ban. Thời kỳ này Mai Lệ Huyền đang sống cùng cha mẹ ở đây.

Sau khi trở về, hai người thường thư từ qua lại và dần dần có những tình cảm đậm đà. Trần Trịnh đề nghị Mai Lệ Huyền về Sài Gòn để được gần gũi và tiện việc “lăng-xê” hơn. Mai Lệ Huyền nhận lời, và chỉ sau một thời gian cả hai đã trở thành vợ chồng trong năm 1964, có cùng nhau một con gái tên Lệ Trinh, sinh năm 1965, hiện cũng là một ca sĩ.

Sau khi thành vợ chồng, nhạc sĩ Trần Trịnh đã giới thiệu Mai Lệ Huyền đi hát ở tất cả những phòng trà khiêu vũ trường ông cộng tác. Cũng khởi đầu tại phòng trà Lệ Liễu, vì nhận thấy giọng hát của Mai Lệ Huyền thích hợp với thể loại nhạc tươi vui, vì thế ông cùng với nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác loại nhạc kích động để vợ trình diễn song ca cùng Hùng Cường như Gặp nhau trên phố, Vòng hoa yêu thương, Hai trái tim vàng, v.v…
Trong khi đó nhạc sĩ Trần Trịnh không thể đi vì song thân ông đã cao tuổi. Vào năm 1977, ông còn ở lại quê hương và lập gia đình lần thứ hai. Người vợ sau đã cho ông 3 người con trai. Nhưng người con đầu lòng bị thiệt mạng trong lúc tắm sông với bạn bè. Người thứ nhì Trần Tùng hiện đang phục vụ trong binh chủng hải quân Mỹ, có khả năng sử dụng kèn trumpet. Người con út Trần Ngọc cũng rất thích nhạc nhưng không có khuynh hướng đi theo con đường của ông.

Sau 1975 còn ở lại quê hương, nhạc sĩ Trần Trịnh không còn sáng tác nhạc, chỉ chú trọng đến việc cộng tác với hết đoàn hát này đến đoàn cải lương hay gánh xiếc khác để mưu sinh. Khởi đầu ông cộng tác với đoàn cải lương Cửu Long cùng với tay trống Phùng Trọng và vài nhạc sĩ khác. Mãi đến năm 1982, khi các phòng trà được phép hoạt động, ông về làm nhạc trưởng tại phòng trà Đệ Nhất Khách Sạn là nơi ông đã từng giữ vai trò then chốt về chương trình từ khi mới khai trương vào đầu thập niên 70.

Liên tục ông làm tại phòng trà Đệ Nhất sau là các vũ trường, suốt gần 10 năm liền, rồi sang cộng tác với vũ trường Maxim’s vào năm 1991. Nhưng chỉ hơn 3 năm, ông đã gặp một tai nạn xe cộ khiến bị thương nặng ở chân nên phải xin nghĩ việc.

Vào tháng 10/1995 nhạc sĩ Trần Trịnh đi Mỹ theo diện ODP (đoàn tụ gia đình) do người chị ruột bảo lãnh. Nhưng chỉ sau 3 tháng ở San Francisco, gia đình ông quyết định dời xuống Orange County, bởi ở đây có môi trường hoạt động âm nhạc và ông dự định sẽ có cơ hội phát triển hơn ở San Francisco.

Nhưng thật sự hoạt động của nhạc sĩ Trần Trịnh chỉ duy trì được ở mức trung bình do tình trạng băng đĩa từ Việt Nam càng ngay càng đổ qua ào ạt khiến nhiều trung tâm âm nhạc và trình diễn cũng như các nghệ sĩ độc lập phải chùn bước trước trước sự cạnh tranh đáng ngại này. Bởi vậy, khả năng âm nhạc của ông cũng đã không còn được sử dụng.

Hiện nay ông chỉ chú tâm vào việc nghiên cứu nhạc và đã sáng tác thêm một số bản nhạc, trong số những bài này có Trái sầu đầy và Một đoá bâng khuâng màu e ấp. Ngoài ra, một số bản nhạc mang lời Anh ngữ do ông sáng tác được Hilltop Records Hollywood giới thiệu vào albums, có những bản Forget Me Not, The Stars Band, Crying Rocks, mà gần đây nhất là bài Forever Love vào năm 2008 trong album “The Best of Hilltop.”

Tuy không còn nhiều hứng thú trong việc sáng tác, nhưng gần đây nhạc sĩ Trần Trịnh đã bất chợt tìm lại được nguồn rung cảm khi thưởng thức lại bài thơ La Dernière Feuille (Chiếc lá cuối cùng) của thi sĩ Théophile Gauthier, liền sau đó ông đã phổ nhạc cho bài thơ bất hủ này. Nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” cũng chính là nhạc phẩm cuối cùng trong cuộc đời sáng tác của ông.

Cuộc sống hiện nay của nhạc sĩ Trần Trịnh rất vất vả, vợ ông vừa qua đời sau nhiều năm chống chọi với căn bệnh ung thư ác nghiệt và bản thân ông sức khoẻ cũng suy giảm nhiều. Hiện nay ông chỉ sinh hoạt với ban nhạc Stars Band(Nguyễn Việt, web: My Opera)

Nguyễn Toàn (chuyển tiếp)

CÔNG TỬ BẠC LIÊU

KHÔNG NHƯ GIAI THOẠI

Giữa tháng 5/1975, mấy anh em viết báo chúng tôi vọt xuống Đất Mũi, nhưng vì đi bằng xe Honda 67 nên phải tấp vào Bạc Liêu nghỉ, ai dè bị đồng nghiệp Khu 9 giữ lại nhậu rồi giới thiệu một địa điểm nổi tiếng : dinh thự của đại điền chủ Trần Trinh Trạch.

Ngôi nhà được xây dựng năm 1919, do một kỹ sư người Pháp thiết kế, phần lớn vật liệu xây dựng đều mua từ Pháp. Ngôi biệt thự này còn được dân địa phương gọi là nhà Công tử Bạc Liêu hoặc nhà Lớn.

Mà nó lớn thật, lại nằm trong khuôn viên rộng lớn toàn cây cảnh quý, với mặt tiền là sông Bạc Liêu. Chúng tôi được cho biết, nội thất nhà đại điền chủ Trạch có vô số đồ gỗ, sứ, đồng cổ và quý hiếm nhưng từ lâu, những bảo vật đó không còn, chỉ có hai món là chiếc giường ngủ nạm vàng và bộ bàn trà khảm xà cừ được giữ nguyên vẹn ở chùa Chén Kiểu (Sóc Trăng), do Trần Trinh Huy tặng.

Rồi bạn đồng nghiệp – cũng sàn sàn chưa đến “tuổi băm” như tôi, tức cũng chỉ “nghe nói” – kể về sự hào hoa phong nhã và mức độ ăn chơi cùng những giai thoại về công tử Bạc Liêu.

Nhiều năm qua, tôi tìm hiểu về gia tộc Trần Trinh Trạch không chỉ vì tò mò, mà còn để biết đâu là sự thật trong những giai thoại về công tử Bạc Liêu, nhất là từ khi cụm từ “Công tử Bạc Liêu” trở thành một thương hiệu du lịch.

Trần Trinh Trạch sinh năm 1872 ở Vĩnh Lợi, Bạc Liêu (bao gồm cả tỉnh Cà Mau sau này), vốn là kẻ ăn người ở cho một điền chủ nhập quốc tịch Pháp, được vị điền chủ này cho học tiếng Pháp. Nhờ thế mà Trạch được tuyển làm thư ký tòa bố Bạc Liêu (hành chánh tỉnh), phụ trách bắt rượu lậu, sau đó được giao lập bộ để cấp bằng khoán, tức giấy chủ quyền đất.

Những người nấu rượu lậu và điền chủ lớn bé ở Bạc Liêu đều phải qua tay Trạch mới mong không bị phạt nặng, mới mong có bằng khoán những sở điền mà những người tiên phong mở đất phương Nam đã khai khẩn từ trước (là một hình thức cướp đất trắng trợn). Bằng tiền hối lộ, Trạch đã tích lũy được một số vốn lớn.

Vốn cần kiệm và kỹ lưỡng, dần dần Trạch trở thành điền chủ, rồi đại điền chủ giàu nhất nước, có 74 sở điền khắp lục tỉnh với 145.000ha và hơn 10.000ha ruộng muối, có cả ruộng muối ở miền Trung. (Điền chủ giàu thứ nhì lúc đó là Vưu Tung với 75.000ha, thứ ba là Châu Oai với 40.000ha).

Ngoài kinh doanh lúa gạo bằng cách xây một số nhà máy chà gạo ở lục tỉnh, Trạch còn xây nhiều dãy phố lầu ở thị xã Bạc Liêu, ở Sài Gòn để cho mướn. Ông còn là đồng sáng lập Ngân hàng Việt Nam (năm 1927) – ngân hàng đầu tiên của người Việt.

Những năm 1929-1930, các nước châu Âu rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, Trần Trinh Trạch đã “ủng hộ” chính phủ Pháp một khoản tiền lớn đến mức “mẫu quốc” ân thưởng ông ta mề đay Ngũ đẳng Bội tinh và một thanh kiếm quốc bảo.

Trong 7 người con thì chỉ Trần Trinh Huy (Ba Huy, sinh năm 1900) được đại điền chủ Trạch cho du học Pháp với kỳ vọng mở mang kiến thức để khuếch trương tài sản gia tộc Trần Trinh. Nhưng ba năm ở Pháp, Huy chỉ mang về cho gia tộc khả năng ăn chơi, lái xe, lái máy bay và kinh nghiệm bồ bịch.

Là người cha hết lòng yêu thương Huy, nhưng đại điền chủ Trạch đã chọn nhầm kẻ thừa kế mình. Chính vì thế mà gia sản của Trần gia, dưới tay Ba Huy lần lượt “ra đi”, đến mức trước tháng 5/1975 chỉ còn mảnh đất hương hỏa có mấy phần mộ ở Cái Dầy, ngoại vi thị xã Bạc Liêu !

Được cha giao trông coi điền sản, Ba Huy đi kiểm tra sở điền bằng xe Ford Vedette hoặc ca nô. Ba Huy còn sắm xe Peugeot Sport, lúc đó ở Việt Nam chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của vua Bảo Đại.

Ba Huy cũng là người Việt đầu tiên sở hữu máy bay, đó là chiếc Morane tối tân nhất trong dòng máy bay nhỏ của Pháp thời bấy giờ, và sân bay riêng, dù chỉ là những sở điền được san phẳng. Chiếc Morane này cũng là chiếc thứ hai và duy nhất ở Việt Nam sau chiếc đầu tiên của triều đình Huế.

Bạc Liêu những năm đầu thế kỷ XX có khoảng 2% điền chủ nhưng chiếm đến 95% ruộng đất nhờ chính sách điền địa bất công của thực dân Pháp. Không riêng Ba Huy, con cái của những điền chủ này, như Dù Hột, Hai Lũy, Ba Cân, Hai Đình… thừa mứa tiền của không phải do mình làm ra nên đua nhau ăn chơi cho sướng thân và khuếch trương thanh thế không những ở miền Tây mà còn ở Sài Gòn.

Theo nhà văn Phan Trung Nghĩa, trong số đó, Ba Huy là số 1. Vì thế mà câu chuyện có thật sau đây được gắn cho Ba Huy.

Chuyện rằng, Dù Hột là con của đại điền chủ Chá, một lần từ khách sạn Majestic Saigon bước ra, một đám xe kéo tay giành chở vì nhiều lần anh ta trả tiền chẵn không cần thối lại, thấy khó xử, Dù Hột bảo “đi hết”. Thế là xe chở người, xe chở nón, xe chở áo vest, xe chở cù ngoéo (can)… chạy lòng vòng Sài Gòn, dân chúng bu đen coi ngó.

Đám xe kéo hớn hở cho biết đang chở công tử Bạc Liêu ! Và cũng từ câu chuyện này mà có thành ngữ “Công tử Bạc Liêu” để chỉ lối sống giàu sang, phóng túng.

Công tử nghĩa đen là con quan, nhưng với Ba Huy, từ này còn mang ý nghĩa khác, nặng về chơi trội, chơi ngông, không ai đủ sức xài tiền như Ba Huy, vì thế, về sau, thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy. Từ đó “Công tử Bạc Liêu” trở thành danh xưng riêng của Ba Huy, không ai có thể tranh chấp.

Vì thế mà nhân vật “ngon nhất” Nam bộ này có nhiều chuyện thực hư, hư thực lẫn lộn, trở thành những giai thoại. Ba Huy không những nổi tiếng xài lớn, như những lần cùng người đẹp vào Đại Thế Giới, vứt ra những xấp tiền 30.000 đồng (lúc đó lúa 1,7 đồng/giạ, lương thống đốc Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng/tháng) không để ăn thua mà để giựt le với mỹ nữ.

Nhưng có hai chuyện mà chính Ba Huy lúc cuối đời xác nhận là do thiên hạ bày đặt rồi gán cho mình. Đó là chuyện đốt tiền tìm tiền và đốt tiền thi nấu đậu xanh.

Số là trong đám công tử lục tỉnh có một nhân vật mà so với Ba Huy thì kẻ tám lạng người nửa cân, đó là Phước Georges, hay còn gọi là Bạch Công tử (vì da trắng, để phân biệt với Hắc Công tử, tức Ba Huy, vì da hơi ngăm đen), quê Mỹ Tho. Phước và Huy đều mê người đẹp có tên Ba Trà.

Một hôm, cả ba vào rạp Modern (đường Lê Thánh Tôn, TP.HCM bây giờ) xem phim Tarzan, cô Ba làm rơi tờ tiền Con Công (5 đồng), trong khi Ba Huy đang tìm hộp quẹt thì Phước đã châm tờ bạc Con Đầm (20 đồng) cho mỹ nhân tìm. Chuyện có vậy mà thiên hạ đồn Ba Huy đốt tờ tiền Bộ Lư (100 đồng) cho người đẹp tìm tờ 5 đồng !

Một chuyện khác là do tranh giành Bảy Hột Điều bất phân thắng bại mà hai công tử thách nhau đốt tiền nấu một cân đậu xanh chia hai, giai nhân ấy sẽ thuộc về ai có nồi đậu chín trước. Lần ấy Hắc Công tử thua.

Một ký giả Sài Gòn thuật lại chuyện gặp Ba Huy năm 1972, khi hỏi chuyện nấu đậu bằng tiền giấy, Ba Huy nói : “Tụi tui là người có chữ nghĩa, biết chơi ngông tới đâu thì dừng, ngu gì đem tiền ra đốt khơi khơi vậy !”.

Nhà Lớn của Trần gia đã bị chính quyền Sài Gòn xung công từ năm 1973 (có lẽ gần như bỏ hoang, chỉ có một cháu ngoại của gia tộc họ Trần ở, lại không có di chúc thừa kế), Sau 1975 là chính quyền thuộc tỉnh Bạc Liêu quản lý. Trải qua bao biến cố, những năm gần đây, nhà Lớn trở thành khách sạn Công tử Bạc Liêu với 7 phòng ngủ, nhưng khuôn viên thì rất đông khách uống cà phê.

Bao người tò mò muốn biết công tử Bạc Liêu đích thực là ai, giai thoại về vị công tử này hư thực đến đâu, vì thế nó ngày càng nổi tiếng và trở thành một thương hiệu du lịch.

Tiếc rằng, cho đến bây giờ, chỉ có căn nhà của Trần gia được khai thác làm khách sạn, nhưng cơ quan sử dụng nó không thuộc ngành du lịch nên kinh doanh không chuyên nghiệp, ngay cả căn phòng ngày xưa công tử Bạc Liêu ở cũng không có bảng tên để thu hút du khách, chưa nói đến việc không tổ chức giới thiệu được về Trần Trinh Huy và gia tộc, mà qua đó du khách hiểu thêm một giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất phương Nam.

Tôi vừa gặp con trai công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Đức, tại nhà Lớn sau bao năm lưu lạc trở về. Ông Đức cho biết, chính quyền tỉnh Bạc Liêu có ý định cấp cho ông một thửa đất để xây nhà thờ Trần gia và mời ông thuyết trình cho du khách nghe về gia tộc Trần Trinh và công tử Bạc Liêu, khi mà khách sạn Công tử Bạc Liêu được Saigontourist đầu tư sửa sang, nâng cấp trang thiết bị.

“Ý định” ấy là quá tốt để ngành du lịch phát huy thương hiệu Công tử Bạc Liêu, nhưng phải làm sớm, vì nhân chứng sống duy nhất là ông Đức đã ngoài 60 tuổi!

Yên Huỳnh post (Theo Phương Hà Doanh nhân Sài Gòn)

Công tử Bạc Liêu (phần 1)

http://www.youtube.com/watch?v=uWDh8Vej6cc

Công tử Bạc Liêu (phần 2)

http://www.youtube.com/watch?v=C21oWpTEPsc&feature=relmfu