VUA KHÔNG NGAI CHỢ LỚN

Logo nhan vat 1

Tr chu Chet 1LÝ LONG THÂN

ÔNG VUA KHÔNG NGAI

TRONG CHỢ LỚN

Trúc Giang MN

Trước năm 1975, tin đồn và cả báo chí đều loan truyền về những ông vua không ngai của những người Việt gốc Hoa trong Chợ Lớn. Vua phế liệu và tín dụng Lâm Huê Hồ, vua lúa gạo Mã Hĩ và bà Lại Kim Dung (nữ hoàng gạo), vua bột ngọt Vị Hương Tố, Trưởng bang Triều Châu là Trần Thành, vua dệt và sắt thép Lý Long Thân…

Trong đó nổi bật nhất là Lý Long Thân. Tin đồn đãi cường điệu hóa sai sự thật cho rằng, ở Sài Gòn Chợ Lớn chỉ có hai người muốn gặp Tổng thống Thiệu lúc nào cũng được, đó là Lý Long Thân và Trần Thành, miễn là cứ đến Dinh Độc Lập thì được mở cửa mời vào. Lý do được ưu đãi là vì hai người nầy đã bỏ tiền ra giúp Tổng thống Thiệu trong cuộc tranh cử.

Người bình dân lười suy nghĩ, nhẹ dạ dễ tin thì cho rằng đó là sự thật, nhưng nghĩ ra thì hoàn toàn vô lý.

Sự thật đơn giản là, bất cứ một ai, khi muốn gặp một người lớn hơn mình, hay ngưòi ngang hàng như bạn bè, hoặc người nhỏ hơn mình như thuộc cấp hay con cháu, thì cũng phải báo trước để xem người mình muốn gặp có ở nhà hay không ?. Nếu ra ngoài thì chừng nào về ?

Nhất là đối với các cấp chỉ huy quân đội, lãnh đạo quốc gia, thì việc giải quyết chiến trường là Tr Chu chet 6tối quan trọng, có ảnh hưởng đến sự tồn vong của quốc gia, dân tộc, không ai có thì giờ nhàn rỗi để sẵn sàng tiếp những tên cha căn chú kiết nào đó để nói chuyện tào lao cả. Hơn nữa, các cấp chỉ huy đều có tùy viên hoặc chánh văn phòng phụ trách những cuộc tiếp xúc, gặp gỡ, để xếp thứ tự ưu tiên tùy theo tính cách quan trọng của sự việc.

Những ông vua đã không có “ngai vàng” trong một thành phố nhỏ như Chợ Lớn thì làm sao mà sánh được với ông vua thực sự là Tổng thống, thì làm gì mà Tổng thống phải nể sợ ?

Tóm lại, tin đồn đó xuất hiện sau năm 1975 mang tính xuyên tạc, mục đích đánh phá chế độ Việt Nam Cộng Hoà.

1/- Những giai thoại về Lý Long Thân

Giai thoại là những câu chuyện có liên quan đến con người thật, đuợc truyền miệng trong dân gian nhưng không có tài liệu xác nhận là thật hay giả, đúng hay sai.

A/- Lý Long Thân với cơn sốt chim cút : Những năm 1970, Sài Gòn rầm rộ dấy lên phong trào nuôi chim cút, lấy trứng và bán thịt cho các nhà hàng, tiệm ăn. Dư luận cho rằng tỷ phú người Hoa Lý Long Thân là người đã tạo ra cơn sốt chim cút làm cho rất nhiều người phải tán gia bại sản, trái lại Lý Long Thân thu vào một số tiền kết xù trong một thời gian ngắn.

Chim cút được nuôi ít nhất là từng cặp, trống, mái. Hai tháng sau khi nở, cút mái đẻ từ 10 đến 12 trứng mỗi đợt. Sau khi không còn đẻ nữa thì được bán làm thịt.

9 Ly long than 1Cơn sốt chim cút là gíá bán tăng lên một cách kinh khủng từng ngày, từng giờ một, cùng với tin đồn dồn dập “cút đẻ ra vàng”. Quảng cáo trên báo, người cần mua một cặp cút giá 5,000 đồng, người cần bán 3 cặp chim cút với giá 8,000$ một cặp. Thế rồi giá bán, giá mua được phổ biến tăng lên đến điểm đỉnh lá 15,000$ một cặp. Nhiều tay chơi bạo muốn làm giàu nhanh chóng, bán xe, vay nợ, mang hết tài sản ra mua chim cút để hốt bạc, nhưng bỗng dưng không còn ai mua cút nữa, thế là tán gia bại sản, cút đem rô ti nhậu chơi.

Thủ đoạn của gian thương : Trước hết, nắm được số lượng chim cút của phong trào mới bắt đầu, tỷ phú tung tiền ra cho đám thuộc hạ là hệ thống chân rết thu gom một số lượng lớn với giá rẻ để tích trữ, chờ khi giá lên cao tung ra bán để hốt bạc.

Đồng thời phát động những tin đồn “cút đẻ ra vàng” ra khắp nơi. Các mục quảng cáo trên báo liên tục đưa tin tăng giá, tăng đến cao điểm là 15,000 một cặp cút đang đẻ. Người đăng báo muốn mua và muốn bán thật ra cũng chỉ là người trong đám chân rết của đại gia mà thôi. Nhiều người thật sự đã thu lời do bán một vài ba cặp cút, nhưng sau đó lại bỏ thêm tiền mua vào để kiếm lời nhiều hơn nữa.

Tr Chu chet 2Tóm lại, cơn sốt chim cút chỉ là việc đầu cơ tích trữ, tạo khan hiếm giả tạo để nâng giá, và cuối tung tung số lượng tích trữ ra bán giá cao để thu lợi. Gian thương hốt bạc, những người muốn làm giàu nhanh chóng mà không có kinh nghiệm thương trường lãnh đủ. Trắng tay.

B/- Lý Long Thân với vụ tàu chở giấy Viễn Đông : Vụ cơn sốt chim cút do tăng giá để hốt bạc, vụ tàu giấy Viễn Đông do hạ giá để hốt bạc.

Ngày 12/5/1974, văn phòng công ty Đại Nam của Lý Long Thân nhận được điện tín của một nhân viên thuộc hạ ở ngoại quốc báo tin, lúc 6 giờ sáng cùng ngày tàu Viễn Đông đã rời cảng Stockhohm (Thụy Điển) chở về Sài Gòn cho công ty X 6,000 tấn giấy, gồm 4,000 tấn giấy vở học sinh và 2,000 tấn giấy in báo. Đồng thời bức điện cũng cho biết giá giấy trên thị trường quốc tế.

Đọc xong bản tin, Lý Long Thân tính nhẩm ngay ra số tiền lời có thể thu được, mặc dù tàu giấy đó không phải của anh ta, mà cũng không phải giấy là ngành nghề kinh doanh của họ Lý.

– Kế hoạch hạ giá : Lập tức, Lý hạ lịnh cho các cửa hàng trong hệ thống chân rết của anh ta, hạ giá giấy 10%, riêng khu vực Sài Gòn hạ 20%, rồi 30%, đồng thời đăng quảng cáo rầm rộ là có 2 tàu chở giấy sẽ cập bến Sài Gòn với giấy tốt, giá rẻ.

Tin tức quá ồn ào. Giá giấy hạ xuống đột ngột khiến các nhà in, các tờ báo, các nhà kinh doanh giấy đều e ngại, không dám tích trữ giấy, cũng không dám mua vào vì sợ tiêu thụ không được. Đích thân ông chủ công ty X đi chào hàng, nhưng đến đâu cũng nhận được những cái lắc đầu mà thôi.

Độc hơn nữa, khi tàu gần cập bến, Lý lại cho người mang giấy trắng ra phát không cho những người người bán quà bánh, bán rong trong khu vực cảng, mỗi người vài tập giấy trắng tinh.

Tàu Viễn Đông cập bến, ông chủ công ty X ra đón, thấy giấy trắng gói hàng trắng xoá nằm vung vãi trên mặt đất, Tr cuoi 7bèn hỏi và được trả lời : “Giấy rẻ như cho không, không gói quà thì để làm gì ?”

Tàu Viễn Đông nằm suốt mấy ngày mà chưa có người mua đến chở hàng. Bãi trường mùa hè lại đến, học sinh nghỉ hè nên chưa vội mua sắm tập vở. Các cơ sở bán lẻ giấy cũng chờ đợi giá cả nên không thu vào.

Đúng lúc đó, người của công ty Đại Nam đặt vấn đề mua trọn số giấy trên tàu với giá hạ 50%. Bị lỗ nặng, nhưng không bán không xong, lại phải chịu lỗ thêm về cước phí vận chuyễn. Vậy là, 6,000 tấn giấy vào kho của Lý Long Thân. Sau đó, một số báo “khám phá” ra rằng, tàu chở giấy về Sài Gòn chỉ là “tin vịt”, bố láo, khiến cho giấy lại lên giá và Lý Long Thân lại hốt bạc.

Trước đó, giới thương gia ít có người biết dùng gián điệp kinh tế, báo chí, và phao tin đồn thất thiệt trong việc cạnh tranh trên thương trường.

C/-  Dùng tiền mua quyền lực để kinh doanh

– Tổ chức “Nhất dạ đế vương” chiêu đãi Bảy Viễn : Khi đã giàu có, Lý Long Thân rải tiền ra để mua chuộc, kết giao với những nhân vật có quyền thế trong giới kinh doanh, những nhân vật có tên tuổi trong những bang hội người Hoa. Họ Lý cũng dần dà quen lớn với những tai to mặt lớn trong chính quyền và quân đội, trong đó có Thiếu tướng Lê Văn Viễn, tự là Bảy Viễn, biệt danh con cọp Rừng Sác, cùng hai quân sư tin cậy là Lại Hữu Tài và Lại Hữu Sang.

9 Bay Vien 1Cuối năm 1954, Lý bỏ ra 4 triệu đồng để tổ chức một đêm “Nhất dạ đế vương” mua vui cho Bảy Viễn và một số chức quyền khác. Tại nhà hàng Đại La Thiên, Lý độc quyền bao một vũ nữ nổi tiếng là hoa hậu Phúc Kiến tên Lý Bing Bing. Biết Bảy Viễn ham của lạ và ham vui nên Lý đã ép Lý Bing Bing phục vụ cho Bảy Viễn.

Sáng hôm sau, trước mặt Bảy Viễn và mọi người, Lý Long Thân đã ký check cho vũ nữ hoa hậu một số tiền mà ai ai cũng ngạc nhiên, 50,000$. Với đòn độc nầy, Lý đã thu phục được thủ lãnh Bình Xuyên, thế là những công cuộc kinh doanh bắt đầu thực hiện.

– Thành lập hảng xe đò Nghĩa Hiệp và hệ thống khách sạn ở Vủng Tàu : Khi Bảy Viễn được người Pháp giao cho nhiệm vụ mở đường và giữ an ninh con đường 15 Sài Gòn – Vủng Tàu, Lý Long Thân bỏ ra 500 lượng vàng thành lập hảng xe đò Nghĩa Hiệp, độc quyền vận tải Sài Gòn – Vủng Tàu. Bảy Viễn không bỏ tiền nhưng đứng tên phần hùn và chia tiền lời 50%. Sau đó, Lý vay vốn của ngân hàng Việt Nam Thương Tín để mở một hệ thống nhà hàng khách sạn ở thành phố biển Vủng Tàu. Bảy Viễn cũng đứng tên chia tiền lời.

Lý Long Thân biết nắm lấy thời cơ và thu phục quyền lực để kinh doanh và cạnh tranh trên thương trường.

– Hợp tác với Bảy Viễn mua bán á phiện : Lý Long Thân khởi xướng việc mua bán á phiện, đó là một tổ chức gồm những người đứng tên trong bóng tối là Lý Long Thân, Bảy Viễn, trung tá tình báo Pháp (Phòng Nhì) Antonio Savani, chủ khách sạn Continental Palace là Mathew Franchini. 9 Ly long than 2Khách sạn Continental thuộc 4 sao, tại số 132-134 đường Tự Do, ngang bên hông Hạ Viện. Được xây dựng năm 1878, cao 4 tầng, có 86 phòng. Phòng họp chứa đến 800 người.

Những người lộ diện thực hiện là Trần Phước, Franchini và Mã Tuyên cùng một số đàn em. Trung tá Savani là người móc nối Bảy Viễn bỏ Việt Minh về với chính phủ Quốc Gia của vua Bảo Đại, nên sự liên lạc giữa hai người rất mật thiết.

Trần Phước là tay kinh tài của Bảy Viễn. Trước kia Bảy Viễn làm tài xế cho ông chủ người Hoa giàu có là Trần Phước. Khi Bảy Viễn lên Thiếu tướng và có quyền hành lớn của ngành công an, cảnh sát và quân đội Bình Xuyên, Bảy Viễn đem Trần Phước về nắm nguồn tiền của mình. Lý Long Thân đến với Bảy Viễn qua tay Trần Phước.

Số là năm 1951, tình báo Pháp thành lập một đội quân bí mật mang tên “Lực lượng biệt kích không vận phối hợp” thuộc cơ quan Tình báo Đối ngoại và Phản gián. Nhiệm vụ không vận tiếp tế và huấn luyện những đơn vị biệt kích tại những khu tự trị của người thiểu số Thái, Mèo, HMông ở phía Tây Bắc Bắc Việt và phía Đông Bắc nước Lào. 9 Ly long than 3Những toán quân nầy quấy rối các mật khu của Việt Minh ở Việt Bắc và của Lào ở Sầm Nứa.

Khi trở về, những phi cơ vận tải chở theo á phiện. Đến phi trường Tân Sơn Nhất, á phiện được các xe vũ trang của cảnh sát, hộ tống về nhà kho của Bảy Viễn ở số 43 đường Lacaze (Nguyễn Biểu, Q.5).

Từ đó, Lý Long Thân chỉ đạo phân phối thuốc phiện đến gần 2,500 tiệm hút và nhà hàng ở Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh lân cận.

Số lớn á phiện còn lại thì Franchini chuyển về hải cảng Marseille (Pháp) để cho nhóm Mafia Atoine Gurini chế biến thành heroine cung cấp cho thị trường châu Âu và Hoa Kỳ. Về việc phân phối đến các tiệm hút thì Lý Long Thân điều khiển trong bóng tối và người thi hành là Mã Tuyên, cho nên họ Lý nầy không để lại dấu vết nào cả.

6 Bay Vien 2Dư luận cho rằng Bảo Đại biết được vụ làm ăn nầy nhưng lờ đi cho nên những yêu cầu về tiền bạc của nhà vua được đáp ứng không một chút mặc cả nào. Dư luận còn đồn rằng, một lần cao hứng, nhà vua đòi nửa triệu đô la trong vòng 72 giờ để cung cấp cho cô bồ nhí người Tàu lai Tây tên Hoàng Tiểu Lan (Jenny Woong) đã có một đứa con gái với Bảo Đại, tên là Nguyễn Phúc Phương Ân.

Không có sẵn tiền đô la, Lý Long Thân và Bảy Viễn tung đàn em đi lùng vét mua đô la với giá cao, khiến cho Sài Gòn hết sạch tiền Mỹ. Lúc đó, Bảy Viễn nắm nguồn tiền từ hai sòng bài Kim Chung và Đại Thế Giới, khu mãi dâm Xóm Bình Khang, hảng xe đò và hệ thống nhà hàng khách sạn Vủng Tàu, mua bán á phiện… nên có đủ khả năng đáp ứng một số tiền khổng lồ như thế.

Tốc độ làm giàu của Lý Long Thân trong giai đoạn nầy nhanh đến chóng mặt, nhưng đã khôn khéo không để lại dấu vết của những cuộc làm ăn phi pháp. Tiền bạc quá nhiều, nên Lý Long Thân cũng có mưu kế chuyển tài sản ra ngoại quốc thông qua những công ty xuất nhập cảng của người Hoa trong Chợ Lớn, lợi dụng ngay cả viên phó tổng lãnh sự tên Hồng Cảnh Tùng của Đài Loan tại Sài Gòn.

D/- Lý Long Thân bán đứng Mã Tuyên : Những năm 1960, Mã Tuyên làm trưởng mười bang người Hoa trong Chợ Lớn, trong đó có những băng nhóm xã hội đen như nhóm Tam Hoàng do Hoàng Long làm thủ lãnh, băng nhóm của Tín Mã Nàm đã từng gây kinh hồn khiếp vía trong cộng đồng Hoa kiều nầy.

Quyền thế Mã Tuyên rất lớn và được anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm tin cậy, đã từ Dinh Gia Long vào lánh nạn trong nhà Mã Tuyên đêm 1/11/1963.

Sau khi Đệ nhất Cộng hoà bị sụp đổ, Mã Tuyên bị cho là làm kinh tài cho gia đình Tổng thống Diệm, nên phải trốn chui trốn nhủi trước sự truy lùng của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

9 Ly long than 4Đến ngày 6/11/1963, Mã Tuyên trốn được vào nhà của Lý Long Thân. Mã Tuyên đã từng hợp tác với họ Lý trong việc mua bán á phiện, từng làm thủ lãnh 10 bang hội, nhưng nay đã hết thời nên họ Lý không dám bảo bọc sợ mang họa vào thân. Lý dùng lời lẻ ngọt ngào khuyên và đề nghị giúp Mã Tuyên trốn ngay tức khắc sang Nam Vang.

Đến 8 giờ tối hôm đó, khi Mã Tuyên ra khỏi nhà khoảng 300 mét thì bị cảnh sát chờ sẵn bắt đi.

Để tránh tiếng phản bạn và tránh những ánh mắt nghi ngờ trong giới người Hoa, nên ngày 26/11/1963 Lý Long Thân gởi đơn đến Đô trưởng Sài Gòn xin bảo lãnh cho Mã Tuyên được ra bịnh viện Grall chữa bịnh. Không ai biết cuộc vận động thế nào, nhưng đơn xin được chấp thuận. Tại bịnh viện Grall, cuộc thăm viếng giữa Mã Tuyên với Lý Long Thân chỉ kéo dài trong vòng vài ba phút vì Mã Tuyên nhất định không muốn thấy mặt Lý Long Thân. Thế là Mã Tuyên ra toà lãnh 3 năm tù. Tài sản bị tịch thu bán đấu giá, những đồng hương người Hoa mua lại và trao trả lại cho gia đình ông. Sau 1975, Mã Tuyên bị tù cải tạo 4 năm. Năm 1983 sang định cư ở Đài Bắc (Đài Loan). Tháng 2 năm 1992, Mã Tuyên cùng một phần gia đình trở về sống ở Sài Gòn và qua đời vào tháng 9 năm 1994, đuợc chôn tại nhị tỳ người Hoa.

E/- Cách dùng người của Lý Long Thân : Khác với truyền thống kinh doanh của người Hoa là đưa con cháu hoặc thân nhân vào giữ những vị trí then chốt trong bộ máy làm ăn, Lý Long Thân không làm như vậy. Ông thường nói “Kẻ nào biết rõ về ta, kẻ ấy thắng ta một nửa”. Do đó, họ Lý chủ trương tuyển dụng những tay chân thân tín ở ngoài dòng họ, nhất là chiêu mộ những người xuất sắc, 9 Ly long than 5có thực tài, có uy thế và khả năng làm được việc lớn, đã từng quen biết qua những vụ làm ăn.

Một trong những người đó là Châu Trần Tọa, đồng hương Phúc Kiến, là một thành viên của Quốc Dân Đảng thuộc loại gộc ở Đài Loan. Trần Tọa được chính quyền Việt Nam cho phép hoạt động trong chi bộ Quốc Dân Đảng của Trần Y Linh, bí thư của Đại sứ quán Trung hoa Dân Quốc (Đài Loan) ở Sài Gòn. Tọa đã có 4 lần qua Đài Loan mừng thọ của Tưởng Giới Thạch với tư cách khách mời.

Sau khi Mã Tuyên bị tù, Lý Long Thân bỏ tiền ra và vận động quyên góp 13 triệu đồng để bảo lãnh Châu Trần Tọa trám vào chức vụ “mại bản” (Compradore) tại ngân hàng Việt Nam Thương Tín mà Mã Tuyên đã giữ trước đó.

Ở mỗi công ty, nhà máy, cửa hàng, các ban bệ… Lý Long Thân đều đặt thêm tai mắt thân tín để giám sát mọi viêc. Lý không cho con cái tham gia công việc mà gởi hai con là Lee Poon Leung và Lee Sok Wah đến Đại học Kowloon (Đài Loan). Thời thế thay đổi, tay trắng khó làm nên sự nghiệp.

Một trong những lý do không cho con cái tham gia công việc làm ăn, là đến khi cần thiết thì không e ngại bán đứng người đã hết lòng chung lưng đâu cật gầy dựng sản nghiệp cho mình. Mã Tuyên là một ví dụ.

2/-  Tổng quát về Lý Long Thân

A/-  Vài nét về lý lịch : Người dân Sài Gòn-Chợ Lớn ít nhiều đã nghe tiếng về một thương gia người Hoa mà báo chí thường nhắc đến như một ông vua không ngai trong nền kinh tế miền Nam, đó là Lý Long Thân. Tìm hiểu về con người nầy hơi khó bởi vì ông ta cũng sống bình thường, khá giản dị và kín đáo.

Tr chu Chet 4Lý Long Thân sinh ngày 27/8/1918 tại Amoy tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Cha là Lý Ngọc, mẹ tên Trương Thị. Gia đình nông dân đông con, bữa đói bữa no, nên ngay từ nhỏ, Lý đã có khát vọng cho một cuộc đổi đời.

Năm 1938, lúc 20 tuổi, Lý và người bạn tên A Chảy đi làm thuê, góp tiền làm lộ phí, đến giữa năm đó thì họ có mặt ở Hải Phòng. Nhưng hải cảng nầy không phải là nơi dung thân của họ Lý. Hắn lại trốn lên tàu, làm thuê, mò đường vào Sài Gòn. Anh ta tìm đến bang hội Phúc Kiến ở Chợ Lớn để nhờ giúp đở.

Do mặt mày sáng sủa, ăn nói lễ độ, tay chân nhanh nhẹn, thu phục được tình cảm của Bang chủ, nên anh ta được giới thiệu vào làm việc tại một hiệu kim hoàng nổi tiếng là Kim Thành.

B/- Tay trắng làm nên sự nghiệp

– Phần hùn trong tiệm vàng Kim Thành : Lý Long Thân thông minh, sáng dạ, cần mẫn và chăm chỉ nên được chủ tiệm tin cậy. Do bặt thiệp, dễ mến, Lý sốt sắng chỉ mối, giúp đổi tiền, làm trung gian giữa khách hàng và chủ tiệm trong việc mua và bán vàng. Khách hàng là những người có địa vị, làm ăn lớn, giàu có, trúng mánh nhờ cờ bạc hoặc áp phe buôn bán. Qua trung gian ăn chặn, hưởng hoa hồng, nhờ thông minh, nhạy bén nắm bắt thời cơ khi giá vàng lên, xuống, trong 5 năm Lý đã có một số vốn khá to, bỏ tiền vào phần hùn của tiệm. Kim Thành là một tiệm mua bán vàng uy tín lớn ở Đông Nam Á, từ Sài Gòn, Hà Nội, Nam Vang (Phnom Penh) và Lào…

9 Ly long than 6Vàng Kim Thành nổi tiếng với hình trái núi, độ vàng ròng tinh khiết 999.9 % nên được gọi là vàng 4 số 9. Một lượng vàng lá nặng 37.5 g, gồm 2 miếng rưởi. Hai miếng nặng 15g/miếng và 1 miếng nhỏ nặng 7.5g. Cả 3 lá được gói trong một bao giấy dầu hiệu Kim Thành.

– Mở công ty môi giới địa ốc Tong Yuan và Savico : Khi vốn đã lên tới bạc triệu, Lý bỏ Kim Thành, ra lập công ty môi giới địa ốc Tong Yuan. Nhờ kinh nghiệm môi giới, quen biết rộng rãi, việc làm ăn phát đạt thu về hàng vạn bạc mỗi tháng.

Năm 1943, Lý đem hết tiền mua cổ phần công ty SAVICO (Địa ốc thương cuộc) rồi mở mang sang việc xuất nhập cảng dựa trên quan hệ Hoa kiều Chợ Lớn với người Hoa Hồng Kông, Đài Loan và cả Hoa lục nữa, mà Lý là một mắt xích. Việc kinh doanh mang tầm vóc quốc tế.

3/-  Ông vua hai ngai

A/ Ngành dệt tơ sợi : Chính quyền Đệ nhất Cộng Hòa cấm người Hoa kinh doanh một số ngành nghề, ngay lập tức, Lý Long Thân xin nhập quốc tịch Việt Nam.

Vào tháng 3 năm 1959, Lý Long Thân ký quỹ một số tiền rất lớn để được giữ chức vụ Hoa Vụ Kinh Lý tại ngân hàng Việt Nam Thương Tín. Ở chức vụ nầy họ Lý chuyên trách thu hút đầu tư của các đại xì thẩu người Hoa, để thành lập hai công ty VINATEXCO (Việt Nam Vải Sợi Công Ty) và VINATEFINCO (Việt Nam Vải Sợi Hoàn Tất Công Ty). Vừa sản xuất, vừa kinh doanh xuất nhập cảng nên Lý Long Thân thao túng phần lớn thị trường vải sợi miền Nam.

9 Ly long than 11Tại nhà kho ngay cầu Tham Lương, gần ngã tư Bảy Hiền, vật liệu và hoá chất phục vụ cho dệt nhuộm nhiều đến nổi cung cấp liên tục trong 3 năm không hết.

B/- Ngành sắt thép và máy móc : Lý Long Thân không ngừng phát triển kinh doanh, ngành nghề nào hái ra tiền thì chớp thời cơ nhảy vào hốt bạc. Từ dệt tơ sợi, nhảy sang sắt thép. Thành lập nhà máy cán thép VISACA. Đến năm 1974 nhà máy nầy có số vốn là 600 triệu đồng.

“Người cày có ruộng”. Nông thôn chuyển mình. Nắm bắt cơ hội, Lý Long Thân cho ra đời hàng chục công ty lớn nhỏ, nhập cảng ào ạt các loại máy móc nông nghiệp, ngư cụ và hàng tiêu dùng. Dưới tay họ Lý, 19 kho hàng và hàng chục cơ xưởng rải ra khắp Sài Gòn – Chợ Lớn. Bất cứ lúc nào, những nhà kho trong Phú Thọ Hoà cũng có sẵn hàng trăm chiếc máy cày hiệu Kohler, Kubota, máy bơm nước, máy phát điện nhỏ, máy đuôi tôm, nhập cảng từ Nhật Bản. Hàng loạt nhà kho chứa đầy phụ tùng các loại xe gắn máy, hàng tiêu dùng…

Để quản lý khối tài sản khổng lồ thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, Lý Long Thân đã tạo ra những liên minh quyền lực chằng chịt dày đặc. Và Lý Long Thân đã trở thành ông vua hai ngai, ngành dệt vải và máy móc

4/- Vài nét về lịch sử thành phố Chợ Lớn

A/- Thành phố Chợ Lớn : Có hai việc cần phân biệt là thành phố Chợ Lớn và ngôi chợ mang tên Chợ Lớn, vì sau khi ngôi chợ đầu tiên bị cháy rụi, một ngôi chợ khác được xây dựng, mang tên Chợ Lớn Mới hay Chợ Bình Tây hoặc chợ Quách Đàm. Đó là ngôi chợ ngày nay trong thành phố Chợ Lớn.

Thành phố Chợ Lớn có đông người Hoa sinh sống, nằm ven kinh Tè, trải dài từ quận 5 và quận 6  ở Sài Gòn.

– Nguồn gốc : Năm 1778, những người Hoa chạy tránh chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, từ Biên Hoà, Mỹ Tho, Hà Tiên về tập trung sinh sống tại khu vực nầy. Phần lớn là gốc Quảng Đông, Triều Châu, 9 Ly long than 7nhưng cũng có một số gốc Phúc Kiến, Hẹ, Quảng Tây từ cù lao Phố (Biên Hoà) cũng chạy về sống trong cộng đồng nầy.

Chợ Lớn được chính thức công nhận là Thành Phố Chợ Lớn ngày 6/6/1865. Trong thành phố có một ngôi chợ cũng mang tên Chợ Lớn.

Sau một vụ cháy, ngôi chợ đã từng nằm ngay nhà Bưu Điện Chợ Lớn ngày nay, bị thiêu rụi và sau đó, một ngôi chợ xây cất lên trong thành phố, gọi là Chợ Lớn Mới. Người Hoa sinh sống đông nhất ở quận 5 của thành phố Chợ Lớn.

– Chợ Lớn Mới hay Chợ Bình Tây : Năm 1927, một thương gia người Hoa là Quách Đàm mua một khu đất và bỏ tiền ra xây một ngôi chợ đồ sộ, xi măng cốt sắt, mặt tiền ngôi chợ nằm trên đường Tháp Mười, giữa đường Hải Thượng Lãn Ông (còn gọi là đường Khổng Tử) và đường Hậu Giang, quận 6.

Chợ Lớn Mới còn gọi là Chợ Bình Tây hoặc Chợ Quách Đàm, 9 Ly long than 9bên trong chợ có đặt một tượng đồng của Quách Đàm ngay ở cửa chính.

Kết luận

Rất nhiều người Việt gốc Hoa đã góp phần xây dựng nền kinh tế của Việt Nam Cộng Hòa, tuy nhiên trong thế giới người Hoa ở Chợ Lớn cũng có nhiều gian thương đã từng làm mưa làm gió trên thị trường, lủng đoạn nền kinh tế quốc gia mà chính quyền phải bó tay.

Thương gia người Hoa thường có một hệ thống chân rết bên dưới, chuyên thu mua gom hàng hoá, tích trữ, tạo khan hiếm giả tạo, làm cho giá cả tăng cao rồi tung hàng ra bán để hốt bạc. Đầu cơ tích trữ là cái mánh ruột của gian thương.

9 Ly long than 8Việc lập pháp trường cát thời Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp TW, xử bắn Tạ Vinh chỉ là một đòn dằn mặt cảnh cáo, nhưng chưa chắc gì chấm dứt được đầu cơ tích trữ, vì hàng hoá phân tán rộng rãi trong hệ thống chân rết, không tập trung tại một nhà kho, thì làm sao mà lập biên bản tích trữ số lượng hàng hoá lớn cho được ?

Tạ Vinh, giám đốc công ty xuất nhập cảng Sui Hing, bị tòa án quân sự đặc biệt kết án tử hình về các tội lủng đoạn nền kinh tế, đầu cơ tích trữ, chuyển ngân bất hợp pháp và hối lộ.

9 Ly long than 10Ngày 14/3/1966, lúc sáng sớm, Tạ Vinh (34 tuổi) bị xử bắn tại pháp trường cát trước cửa chợ Sài Gòn. Toán xạ thủ gồm 10 quân cảnh sử dụng súng carbine bắn vào ngực. Sau loạt đạn, Tạ Vinh quỵ xuống trong bộ đồ complet, cà vạt. Bà vợ cố vượt qua vòng kẻm gai để nhào đến bên chồng nhưng bị cảnh sát chận lại. Bên cạnh đó, có đặt một cái quan tài. Đương sự để lại vợ và 7 con. Tạ Vinh bị xử tử là Tạ Vinh thật, không phải tử tội bị thay thế bởi một người khác như dư luận loan truyền.

Lý Long Thân có một thành tích buôn bán phi pháp nhưng đã khôn khéo bạch hóa hồ sơ trở thành một công dân bình thường.

Rất may là Lý Long Thân nhanh chân dọt trước ngày 30/4/1975 nên không chịu cảnh tù tội như Mã Tuyên, phải gở 4 quyển lịch trong trại tù cải tạo vì là tư sản mại bản.

theo Trúc Giang – Minnesota ngày 13/6/2013

NHỚ VỀ CÀ PHÊ “THẰNG BỜM”

Logo vannghe A

Tr tre con AQUÁN THẰNG BỜM

Thưa bạn cà phê một thời,

Một ngày nào đó… Gặp lại bạn xưa trường cũ Kiến Trúc miền Đông cũng như trường xưa bạn cũ Nguyễn Trãi – Chu Văn An 56-63, với tôi bạn bè là cái gạch nối giữa hiện tại và quá khứ. Mà gặp nhau qua điện thư nên viết trở thành những nhiễu sự cần phải có, nhưng nhiễu nhương là chẳng biết viết gì. Một mảnh vườn, vài chậu bonsai, năm ba món đồ cổ, ngắn gọn rõ ra chỉ từng ấy và không hơn. Viết về mình ư!  Về tình đầu, tình giữa, tình cuối không tránh được những trái khoáy vì đang nằm ở cái tuổi già thì chưa già, nhưng ắt hẳn chẳng còn trẻ nữa.

Nói chung, quanh đi quẩn lại chỉ là chuyện trong nhà đầy tù túng và chật hẹp. Hay hãy bước ra khỏi cửa cho thoáng đãng, hãy tạm dừng chân ở một ngã ba đường, một khúc quanh nào đó… Ở nơi chốn ấy có quán cà phê cùng bằng hữu, qua những mẩu chuyện vu vơ vụn vặt, không đầu không đuôi. Ý đồ tôi là muốn trở lại… một thời với quán Thằng Bờm.

oOo

Năm nào không nhớ rõ lắm, tha hương ngộ cố tri, tình cờ gặp anh Đỗ Ngọc Yến từ quận lỵ của cái xứ nắng nôi tới Houston, chẳng là dạo ấy nơi chốn tôi đang ngụ cư có dăm tiệm “chạp pô” nằm dưới phố. Hai anh em gặp nhau tán gẫu chuyện vật đổi sao dời. Chuyện người chuyện ta. Chuyện vật đổi sao dời thì cả hai vừa chấn ướt chân ráo cùng một lứa bên trời lận đận nên chưa đâu vào đây. Chuyện người với cả một thời xa vắng ẩn hiện và chẳng biết bây giờ họ đang luân lạc ở nơi nao…

BTr dan ong 3ắt qua chuyện ta, anh thân mật vỗ vai tôi và cười bằng mắt : Hay là làm lại quán Thằng Bờm. Tôi cũng chỉ đành lắc đầu cười khỏa lấp. Rồi hai anh em chia tay mỗi người một ngả, anh xuôi về miền viễn tây đất ấm tình nồng, sau làm báo như cái nghiệp dư. Tôi ở lại tiếp tục kéo cầy trả nợ áo cơm. Vì vậy có thể nói, anh Đỗ Ngọc Yến là người tôi gặp đầu tiên và nhắc đến cái quán xưa cũ này.

Mươi năm sau nghe nói có ai đó mở quán cà phê ở bên ấy trang tri như quán Thằng Bờm. Lại cũng với bàn ghế thấp, khung vải bố đóng chung quanh tường. Thêm nữa, gần đây đọc một hai bài báo thấy quán chiếm được dăm đoạn, mươi hàng cùng một chuỗi quá vãng của những ngày này năm nọ. Bài báo có nhắc đến dăm cái tên nghe quen quen, tôi lại bồi hồi nao nao nỗi nhớ…

Như người viết Thụy Vi đã trải dài trên giấy khô mực cạn :

“…Đầu tiên tôi biết quán cà phê Lú là do anh. Quán Lú nằm trên trên một dẫy phố gần chợ Thị Nghè, cách bài trí có chút gì âm phủ ăn cháo lú để quên quên hết chuyện xưa… có lẽ vì ăn cháo nhiều quá, người ta sẽ lú. Còn uống cà phê, mấy ông toàn moi chuyện gì không ra nói, nói hoài…

Chúng tôi cùng ở khu Thị Nghè, nên anh thường rủ tôi đến đó, sẵn dịp gặp anh Mường Mán, gặp anh Cung Tích Biền và vài người bạn văn chương của anh mà lâu rồi tôi đã quên tên.

thuyviThú thật, những lúc ngồi nghe anh và bạn anh nói chuyện trên trời dưới đất… chán lắm, nghe mấy ông khảo về triết lý hiện sinh càng chán hơn, nghe chuyện chiến tranh càng u uất… Tôi ngồi nghe cà ngơ cà ngất nên không thích đến đó…”

Tiếp đến, ở thành phố tôi đang cư ngụ có một nhà thơ ra mắt sách. Ông anh họ nghe hội luận loáng thoáng trên đài thì buổi ra mắt sách mang âm vọng của quán Thằng Bờm ngày nào. Nhưng tiếc là ông anh cho biết quá trễ, nên tôi đã không tìm lại cái không khí của qúan qua những năm tháng. Ừ thì những ngày đó, bạn cũng như tôi, chẳng biết làm gì ngoài… ngồi đồng ở quán cà phê. Những chỗ ngồi đâu đó, mặc dù chỉ thoáng qua âm hưởng một dòng nhạc bất chợt, nhưng ít nhất thì cũng níu kéo một khoảng thời gian với những ngày tháng đang tàn lụi…

Thế nhưng, gửi gió cho mây ngàn bay về cái quán khuất nẻo trên, chẳng hẳn lúc nào cũng như người cưỡi mây. Một ngày, cũng ở thành phố phẳng lặng này, tôi đang thả rong, ngước mặt lên nhìn trời xanh mây tím nắng vàng, bất chợt va vào mắt là cái bảng hiệu có cái tên Quán Thằng Bờm. Không bước vào, nhưng tôi biết bên trong có ánh đèn mầu xanh xanh đỏ đỏ, vì rõ ra ấy là… cà phê ôm. Ghé quán sát bên cạnh, ngồi không, bèn thả hồn đi hoang về lối xưa xe ngựa với Sài Gòn đầu đường cuối ngõ. Và không quên bắt một chai bia lạnh, gọi thêm một ly nước đá.

Để nhớ về một thằng bạn cũ.

oOo

Gần như nửa thời gian đi học tôi ngồi đồng ở các quán cà phê, lúc sáng khi chiều, để đắm chìm trong khói thuốc, day dứt với… người con Việt Nam da vàng của một thời để yêu, một thời để nhớ. Đang em tan trường về đường mưa nho nhỏ thì gặp Lưu Trọng Đạt ở quán cô Hồng. Dạo ấy nó đang học ở Vạn Hạnh, ngành Xã hội học. Nghe lạ, bèn hỏi học cái giuộc ấy mai hậu nên công hầu khanh tướng gì thì được trả lời là cũng không biết luôn. Sau đó, tôi thân hơn với nó hơn khi đi Quân sự học đường tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Buổi tối hai thằng ngồi ngoài sân cột cờ, nó nhấm nhẳng hỏi tôi : Tr dan ong 6Mày họ gì…? Thế đấy, quen nhau cả năm trời, tên thì biết, họ thì không. Mà chẳng lẽ hai thằng thân quen nhau vì hai cái họ Tàu tàu, Lưu Bị không ra Lưu Bị, Tào Tháo không ra Tào Tháo mà tào lao thì có. Tôi đáp: Họ Phí.

Nó, thằng họ Lưu gật gù : Để cuối tuần về phép lục gia phả nhà tao, may ra có họ mày… Xong, nó lẵng nhẵng tiếp nó là con cháu…Lưu Vĩnh Phúc, giặc Cờ Đen. Năm 54 vào Nam chia làm hai nhánh, một nhánh ở Gia Định ăn nói thuần tiếng Việt, nhánh khác vào Chợ Lớn chuyên trị tiếng Tàu. Trở lại trại, nó báo cho tôi một cái tin chẳng mấy vui cho lắm là tôi con cháu của giặc Cờ Trắng ở Đông Triều. Chuyện này thì tôi chẳng mảy may hay nhưng quê ngoại tôi ở Đông Triều thật mới đau… Tiếp đến hai thằng con cháu tướng cướp rủ nhau mở quán… cà phê, kéo thêm mấy thằng bạn ăn cơm nhà vác ngà voi bên Vạn Hạnh, Kiến Trúc và Luật. Để có chuyện… ”tào lao” như thể dưới đây.

Và nó “khảo” về thằng Bờm như thế này : Bờm không phải là tên gọi mà tiếng Hán là “bần”, tiếng Nôm “bờm” là…“nghèo”. Vì thế sau này các cụ phó cạo mới có từ… bờm đầu. Hiểu theo nghĩa là không có tóc, thế nên mới có cụm từ nắm thằng có tóc chứ ai lại nắm thằng trọc đầu. Thằng bờm Lưu Trọng Đạt được thể “luận” tiếp qua một bài báo là khi không thằng Bờm được khoác lên người cái áo bàng bạc với thuyết vô vi như con chuồn chuồn của Lão-Trang… khi vui thì đậu khi buồn thì bay. Thế nên nó đề nghị đặt tên là… quán Thằng Bờm. Tôi ứ hử thì nó ậm ừ ai muốn hiểu sao thì hiểu, miễn chắc như cua gạch có… nắm sôi là được rồi. Nghe dễ ăn như… ăn trứng luộc. Từ tiếng Việt cổ đại, lúc này tôi mới chợt nhớ ra nó là thằng nghèo lõ đít. Hiếm có và ít thấy !

Tôi thuê “căn hộ” ngay ngã ba Đề Thám, Phạm Ngũ Lão, về trang trí tôi có ý đồ dùng tre rồi lấy đèn hàn sì hun nóng cho lên nước ở mấy cái đốt tre. “Học thuật” này tôi học được qua anh họa sĩ Thái Bá lúc tôi làm “thợ vịn” cho anh, nhưng gia chủ không chịu vì phải khoét lỗ, đục tường. Sau thằng bạn Kiến Trúc tên… Trúc “sáng tạo” ra mấy cái khung gỗ, bọc vải bố nhà binh mầu cứt ngựa, vừa để treo tranh triển lãm, vừa để vải bố giữ khói thuốc lá. Ghế, bàn là những khúc cây ghồ ghề thấp tũn, Tr tre con 1ra cái dáng hòa nhập về một vùng hoang sơ thái cổ. Tiếp đến, tôi bổ nhào đi bắt bộ máy Akai ở quán Lam của nhóm bạn Quốc Gia Hành Chánh vừa tưng bừng khai trường đã âm thầm đóng cửa.

Khoảng thời gian này với địa linh nhân kiệt thì quán Anh Vũ gần quán thằng Bờm có Thanh Thúy. Quán Hầm Gíó đường Phan Bội Châu với Thanh Lan, cùng thời Khánh Ly đi chân đất hát nhạc Trịnh Công Sơn ở quán Văn. Thế là quán thành hình trụ trì là ngâm sĩ Thanh Hùng, lâu lâu có cặp Lê Uyên Phương từ Đà Lạt xuống, cuối tuần có mục giới thiệu sách, bình thơ, triển lãm tranh… Bởi nhẽ ”tụ điểm” văn nghệ của những nhà báo, nhà văn lớn, nhà thơ thời danh với vang bóng một thời của thập niên bẩy mươi lúc bấy giờ. Quán đông vào những tối thứ sáu, thứ bẩy, vì có văn nghệ góp gió thành bão như đã dự trù, đông đến độ khách thập phương phải đứng ngòai đường. Ban ngày phất phơ đóng hụi chết có Nguyễn Hoàng Đoan, Vũ Thế Ngọc, Nguyễn Quỳnh và chẳng thể thiếu mặt người của đám đông là anh Đỗ Ngọc Yến…

Thời gian vỗ cánh như quạ bay với một nhớ hai quên. Thế nên thêm một lần, đành phải nhờ vả đến người viết Thụy Vi ở trên qua bài viết Chữ nghĩa – Cà phê văn nghệ:

“…Thời gian này anh và anh Đinh Tiến Luyện tập sự ở tòa sọan Công Luận với Duyên Anh. Đóng chốt ở quán Lú một thời gian, anh và những người bạn đời qua Thằng Bờm vừa mới khai trương. Không hiểu do đâu ngâm sĩ Thanh Hùng biết tôi làm thơ nên đề nghị anh và tôi ngâm thơ ở quán Thằng Bờm cho chương trình thêm phần sôi động. Tôi gặp cặp Lê Uyên và Phương và “Tình khúc cho em” ở đây. Rồi gặp Vũ Thành An với “Bài không tên số 2” cũng ở đây. Gặp cả Phạm Duy với “Thà như giọt mưa”, phổ thơ của Nguyễn Tất Nhiên. Và cặp Từ Công Phụng và Từ Dung với “Bây giờ tháng mấy” cũng ở nơi chốn này…

Những tối cuối tuần Thằng Bờm đông lắm, đứng tràn cả ra con đường Đề Thám nhỏ hẹp. Nơi đây cũng ghi nhiều kỷ niệm của tôi và anh, thường thì khi rời Thằng Bờm chúng tôi thả bộ dưới trời đêm, có lần sau cơn mưa đường đầy nước, tôi tháo đôi giầy đi chân trần cho thỏa thích đùa nghịch dầm trong vũng nước như con nít. Vì thế mảnh sống tôi cứ êm ả với ngất ngầy cùng không gian văn nghệ quyến rũ dễ thường từ quán Thằng Bờm…”

oOo

Thưa bạn cà phê một thưở,

Một ngày nào đó như mới đâu đây… Cả một khoảng không gian thu hẹp của một cõi, cùng những níu kéo ngày là lá tháng là mây. Ít lâu sau gặp lại bạn bè ngồi như đóng chốt ở cái quán cuối phố. Hồi nhớ lại ngày đó, mỗi đứa một góc, cả một khung trời quen thuộc qua thằng này thằng kia. Nghĩ cho cùng ở cái tuổi vắng gió đìu hiu này, cũng cần phải có một nơi chốn để trở về cùng những ngày tháng cũ. Và rồi không ai bảo ai, như gió đánh đò đưa lại cùng nhau hẹn hò về ngày này năm ấy… Ngày ấy quán như một nơi chốn để gặp nhau, tới không gặp để lại một vài hàng nhờ cô thâu ngân chuyển dùm. Cũng nơi chốn ấy, tuần trước thằng bạn về phép, tuần sau bàng hoàng nghe tin anh nằm xuống, hơn một lần… Ngồi chơ vơ một mình, đốt điếu thuốc như thắp nén hương lòng cho những thằng bạn đã bỏ cuộc chơi, để bất chợt thấy ly cà phê đắng chát và nguội ngắt.Tr tre con 2 Ngay lúc này đây, hoài đồng vọng về những thằng bạn quen biết một thưở, đã áo bào thay chiếu anh về đất. Với nhiều thằng, bây giờ với năm tháng còm cõi, chẳng nhớ nổi một cái tên. Lại có cớ nghiêm và buồn, bồi hồi qua câu của người xưa thế sự du du hề, một cuộc bể dâu, nhân kiếp phù sinh hề, một thoáng bạch câu.

Nhớ với quên, để chẳng quên một vài lập dị nhân. Chuyện là có khứa lúc nào cũng ngồi ở một góc cố hữu và quay mặt vào tường, mặt mày đăm táo bón như một triết nhân sinh bất phùng thời qua… dạng Phạm Công Thiện với mặt trăng hiếp dâm mặt trời. Có một nhóm chỉ ngồi ở một bàn từ ngày này qua tháng nọ, đến mụ người như cánh vạc bay, rồi đàn bò vào thành phố cùng cỏ hoang lạc lối. Lắm khi trái nắng trở trời bắt cô thấu ngân cho nghe đi nghe lại… một bản nhạc cho nó phê… Bắt qua một nhóm khác cùng : tuổi trẻ phải là một cái gì. Cái gì đâu không thấy, chỉ toàn nói chuyện đội đá vá trời, trên thông thiên văn dưới thuộc lòng địa lý. Thuốc lá điếu mồi, điếu hút, điếu “sơ cua” thì nhớ đâu vào đó, nhưng khoản chi tiền chầu cà phê thì lờ tít. Rồi bỗng dưng đột nhiên đứng dậy và biến mất như ma… và hôm sau giữa ban ngày ban mặt xuất hiện như ma trơi, lại tiếp nối chuyện… tuổi trẻ phải là một cái gì. Cái thằng tôi không biết làm gì hơn là làm thinh, là lẳng lặng bỏ bao thuốc vào túi.

Nhắc đến những kỳ nhân dị tướng trên thì không quên một thằng Bờm trôi sông lạc chợ người Quảng Ngải. Quảng Nam hay cãi Quảng Ngải hay co là nó đây. Trôi sông lạc chợ vào Sài Gòn, vừa đi học vừa kèm trẻ tư gia. Ấy vậy mà thỉnh thoảng cuối tháng vẫn dấm dúi tiền kèm trẻ cho anh em thằng Bờm đóng hụi chết tiền nhà. Vì rõ ra nắm sôi không… ngon như óc chó như thằng bờm Lưu Trọng Đạt đã luận thuyết.

Nhắc đến thằng Bờm này thì lại nhớ đến thằng khác. Cái thằng đẹp trai học giỏi con nhà giầu học trường Tây, ăn cơm Tây. Nhưng khổ một nỗi vì nó đau bao tử nên sáng trưa chiều tối nuốt khoai tây nghiền nhuyễn nhừ. Nay học luật, trốn việc quan đi ở chùa bằng vào tới quán lau nhà, rửa tách chén mệt nghỉ. Còn cái thằng tôi, việc nhà thì nhác việc thiên hạ sự thì siêng là ghé quán cô Hồng lấy cà phê. 17 Saigoncafe 8Chả là nghe đâu cà phê ở đây trộn lẫn với cau khô giã nhừ. Hay nói khác đi cà phê thằng Bờm là “âm bản” của cà phê Pasteur.

Qua đây, năm thì mười họa đập bể kính ra tìm lấy bóng từng thằng một. Thảng như đảo về thăm quán thằng Bờm trong chốc lát để điểm mặt chỉ tên thì nhớ đến thằng đang học thổi kèn ở trường Quốc Gia Âm Nhạc, mắt hấp ha hấp háy, miệng cười ruồi, tay nhón điếu thuốc lá. Thằng thổi kèn ở bên Úc, hai thằng gặp lại qua quán vắng chiều hôm, qua đường giây điện thoại. Chuyện là mới đây đang mày tao chi tớ, bất chợt nó hỏi: Mày biết tao đang ở đâu không ?. Tiếp, nó cười khục khục là đang ngồi trên xe lăn tới bàn mổ đê thông van mạch, nhớ thì gọi vậy thôi.

Thôi sao được, thế là tôi lưỡi đá miệng : Đừng có đi luôn nghe mày. Vậy mà ngay sau đấy nó… nghe lời tôi lặng lẽ đi vào cõi tĩnh mịch, chẳng ai biết, không ai hay. Cái tình của thằng bạn cà phê là thế đấy. Trước khi đi vào cõi vô cùng cũng chẳng quên ới cho bạn một tiếng. May mà tôi không theo nó, ấy vậy mà may.

oOo

Nhưng chẳng may gì vì quán mỗi ngày một vắng lặng với đại bác đêm đêm vọng về theo ánh hỏa châu của chiến trường. Để rồi, quán cứ thưa thớt dần, khách khứa đếm trên đầu ngón tay, thằng còn thằng mất, anh nằm xuống hơn một lần… Đâu đó gần Mùa hè đỏ lửa 72, đẩy đưa Lưu Trọng Đạt vào nơi gió cát, nó đi tiểu khu nắm một đại đội địa phương quân. Nhờ bà chị quen biết với Hoàng Đức Nhã nên nó có tin hai ba ngày nữa sẽ được biệt phái về Sài Gòn làm cho Cục Dân Vận. Ván cờ đã đến lúc cờ đang tàn cuộc không còn nước, mặc dù vẫn còn mã nhật tượng điền xe liền pháo cách đấy, nhưng nó không muốn mang pháo sang sông, Kinh Kha sang Tần một đi không trở lại.

Thế nên buổi chiều biết sắp đụng lớn, nó mượn hồ trường, nào ai tỉnh, nào ai say, xách súng bắn lung tung ngoài thị xã, cố tình để quân cảnh bắt nhốt. Trước đó, nó kể tôi nghe một ngày, ông quan một là nó đang ngồi quán thịt chó… trấn thủ lưu đồn, Cold 45 lận lưng, thầy trò ngất ngưởng. Bất thình lình ông bố từ Sài Gòn lên thăm, vào tiểu khu không thấy, bèn vào quán thở ra vì cát bụi chân ai. Tr tre con BBất ngờ bắt gặp thằng con đang tuổi trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dươngThế là ông bố nổi xung tát ông con quan một một cái cho đỡ bực dọc đường xa.

Vài năm sau, đến lượt tôi khoác áo lính, cũng có mặt ở thành phố đồi núi heo hút này, cũng ngồi ở một cái quán đầu thị xã, bắt chước nó gác súng M16 gác bên chân và độc ẩm. Lúc ấy, tôi đã mường tượng đến cái cảnh nó bị ông cụ bốp cho một “cái bốp” và… cái mặt anh con cứ nghệt ra. Tôi đã hình dung đến hình ảnh người hùng phố núi…bất đắc dĩ cầm súng bắn vung trời dậy đất ngoài đường phố… Và tôi tần ngần tự hỏi hay là chính ở cái quán thịt chó này cũng nên, cái thằng Lưu Trọng Đạt nó đã ngồi đây…

Và tôi ngẩn người vì gần gũi thằng này bao nhiêu năm, chẳng hay biết nó biết… uống bia tự hồi nào. Vì người tình ẩn khuất chăng ? Nào ai biết ma ăn cỗ.

Trở về lại với trận chiến mà nó có mặt dạo ấy, thế nhưng vì thiếu hụt quân số sao đó, nên nó vẫn bị bốc ra khỏi quân lao đi hành quân, trận đó tiểu đoàn của nó thắng lớn. Vừa lúc có sự vụ lệnh thuyên chuyển, trên đường về tiểu khu, nó dẵm phải mìn. Nhất tướng công thành vạn cốt khô đâu không thấy, chỉ thấy anh trở về…hòm gỗ cài hoa trong một ngày nắng quái chiều hôm, mây mù giăng giăng đầu núi.

Quay quả trở về lại thăm thú quán thằng Bờm như một dấu ấn, đánh dấu một đoạn đường đã qua. Quán thằng Bờm chẳng của riêng ai, vì mỗi người mỗi có một quán cà phê của riêng mình ở ngõ không tên nhà không số nào đấy. Nói cho ngay, quán chỉ là cái mốc của thời gian và không gian nào đó. Như một chuyến đò qua sông, cây đa bến cũ, cùng đam mê, nhiệt tình của những mẫu người, những khuôn mặt như những Bi, những Lộc, những Lập…Nay nếu có hình dung lại từng bóng dáng, hồi tưởng lại từng khuôn mặt, dường như đều mờ nhân ảnh trong một cõi đi về.

oOo

Thưa bạn cà phê một thời, một thưở,

Một ngày nào đó như mới đâu đây, vừa mới qua mau… Lại ngược về lại thập niên 80, giữa lúc nửa đêm về sáng có tiếng chuông điện thoại reo. Giọng bên kia có tiếng như ấm nước sôi reo : Mày còn nhớ tao không ?. Bố khỉ, ông cố nội ai mà nhớ, hiểu theo nghĩa là chẳng chịu nhớ cho. Thế là tìm được thêm một tên bạn cà phê cà pháo. Ít lâu sau gặp lại, gã đang học Anh văn để sinh ngữ sinh tồn, ấy vậy mà hoài bão của gã là mở một quán cà phê bỏ túi trong nhà với ba bốn cái bàn cùng dăm chiếc ghế, không ngoài đốt lò hương cũ về những ngày tháng đã cũ sì mốc meo. Tr tra cafe 3Để rồi bạn bè dăm đứa lại đắm chìm trong khói thuốc, day dứt với cái quán nhỏ, không bảng hiệu, bàn ghế thấp tè cùng hai chị em cô chủ tóc dài liễu trai, lặng lẽ đi ra đi vào như hai chiếc bóng, áo quần như sương mù mờ nhân ảnh : Ấy là quán Pasteur.

Qua gã tôi mới hay quán đã đi vào quá vãng, dãy phố buồn hiu trống vắng, ảm đạm của thành phố một thời người xe tấp nập như nêm cối. Tôi u hòai về cô hàng cà phê tên Hồng chẳng biêt bây giờ trôi dạt về bến bãi nào. Gã cho biết qua một bài viết của Phan Nghị, ông tự sự cô là người tình liễu trai của ông trong cái tuổi thất thập cổ lai hy. Đêm đêm hồn ma của bác phu quét đường, đàn bò, cánh vạc, đại bác, cứ nhè tai ông kêu réo, sau đó ông đành giã từ cõi nhân gian. Chuyện tình cô hàng cà phê là như thế đó. Cà phê nào mà chả đắng, cuộc tình nào mà chả…đen đủi. Thì cũng là chuyện vậy…Ấy vậy mà mất cả mấy năm trời đằng đẵng, đến cái tên của gã, tôi cũng chịu chết không nhớ nổi một cái tên. Mà chỉ nhớ nó là…một thằng bạn cà phê.

Và gặp lại một thằng bạn cà phê khác nữa ngay giữa lòng phố thị vắng gió đìu hiu. Gia dĩ một thời nhá nhem gã là “quán chủ” cà phê Thượng Uyển. Ấy là quán cà phê duy nhất ở Sài Gòn ngự trên sân thượng có chòi lợp lá. Cả hai đang hai quên một nhớ thì có một khứa bạn nữa tạt qua Trúc gia trang. Sau dăm câu chuyện đẩy đưa…hóa ra khứa này lại là cây si mọc rễ ở quán Thượng Uyển với cô thâu ngân. Chuyện cũng chỉ loanh quanh với “người cũ” còn hiện hữu hay chăng, gia chủ bèn vào nhà thăng một giấc để đi vào cõi không. Chẳng phải đi tìm chân ngã như khứa bạn qua ly cà phê đá: giữa đời sống bình thường, viên đá tự tan chảy để tìm về bản thể long lanh của mình. Cho đến khi không nhìn thấy viên đá nữa thì làm sao biết được nó tồn tại hay không tồn tại?Tr tra cafe 6 Mà là để hai cố nhân vật lộn với bóng tối đen như cà phê, bóng tối đắng như cà phê…trong một ngày nhạt nắng.

Tận cùng của Sài Gòn đầu đường cuối ngõ chẳng thể không nhắc tới quán chị Chi. Quán chỉ đủ chỗ cho ba bốn chiếc bàn, không nhạc, không gì cả. Ngoại trừ bức tranh trên vách được cắt ra từ một tờ báo ngoại quốc. Tranh chụp một bàn tay giắt một em bé vai đeo cặp sách, mắt mở to, miệng mếu máo, phía dưới có hàng chữ : “Đi học hả ? Hôm qua đã đi học rồi mà”. Và chẳng mấy ai nhớ đến số nhà của quán cà phê, chỉ biết rằng nó nằm ở con phố nhỏ Nguyễn Phi Khanh. Ấy vậy mà cách đây mươi năm, ngày chị đi vào cõi tĩnh mịch, có tới hơn hai trăm khách cà phê của một thời một thưở theo linh cữu chị để tiễn đưa. Nghĩ cho cùng mấy ai được như vậy. Tất cả chỉ vì cái tình tri ngộ qua hình bóng lắng đọng qua cái tên thân quen, gần gũi: quán chị Chi.

oOo

Ừ thì như trên tôi đã lan man, gặp lại bạn bè cũ qua chữ nghĩa để ủ ê những ngày tháng sập sùi, để tìm lại thấy mình còn có quá khứ, Tr chang buonmặc dù chỉ là một cái quán, qua một cái tên. Nhưng ấy là cái gạch nối để thấy mình còn hiện hữu đằng góc phố cuối đường. Bằng vào tất cả những gì tôi vừa nhắc tới qua bài tạp bút này chỉ là một thóang ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của một trong những quán cà phê Sài Gòn trong trí nhớ. Mây vẫn bay ngày vẫn trôi đi, ai chẳng có một cái quán để nấp bóng còn đang bồng bềnh nổi trôi đâu đó nơi quê nhà. Và cũng để hòai cảm một ngày nào đó, ngồi nơi quán xá bên đường ở một thành phố xa lạ, bỗng dưng bắt gặp một vài khuôn mặt quen thuộc qua một dòng nhạc, qua một ly cà phê…

Để hoài cố nhân với còn ai nữa, những người muôn năm cũ của quá vãng thấp thoáng ẩn hiện như mới đâu đây trong một ngày ít nắng nhiều mây…

Phí Ngọc Hùng