MÓN NGON SÀI GÒN

Logo am thuc

8 Cho Saigon 2ĐI ĂN CHÁO TIỀU

TRONG CHỢ LỚN

Cách ăn của người Hoa cũng rất khác nhau. Nếu như người Quảng Đông chuộng những món chiên xào, hơi nhiều dầu mỡ, người Hẹ trung thành với vị cay nồng trong từng món ăn, thì người Tiều trong Chợ Lớn lại hợp với những món có vị lạt và thanh đạm hơn rất nhiều.

Quán cháo Tiều lâu đời trên đường Hồng Bàng này cũng vậy. Anh Tường chia sẻ rằng rằng ông nội mình những ngày còn ở Kiết Dương, Triều Châu đã có nghề bán cháo,9 Chao Tieu 1 khi sang Việt Nam vẫn tiếp tục rồi truyền lại cho cha anh, rồi sau này mấy anh em nối nghiệp.

Cháo Tiều được coi là món của nhà nghèo, bao gồm nồi nước lèo với cải chua hầm, lòng heo, giò heo, thịt mỡ, huyết heo, đậu hũ… để chung và hầm liu riu lửa qua nhiều ngày, ăn chung với cháo trắng nấu lạt, hạt gạo vừa nở bung mà ta hay gọi là cháo hoa (theo cách gọi bằng thổ âm là món “ciae mué” (chè muế), ăn với “kềm xại”  (cải chua) và “từ tố (lòng heo) hay còn gọi là “tư khoan xoại”).

Quan trọng nhất là nồi nước lèo cải chua hầm, với phần gia vị phần lớn là các vị thảo dược bí truyền. Đây cũng là bí quyết để hãm vị béo trong phá lấu hay giò heo, tương tự như trong món hủ tiếu hồ cũng của người Tiều. Anh Tường cho biết các gia vị này được ông nội mình đúc kết như những bài thuốc, người kế nghiệp cứ theo bí quyết đó mà làm.

9 Chao Tieu 2Với món phá lấu, nhiều tài liệu cho rằng món này được hình thành từ những lần cúng kiếng, giỗ chạp của người Tiều. Con heo cúng ăn không hết, để giữ được lâu ngày thì phải đem tẩm ướp sau bỏ vào nồi ăn dần. Nồi nước phá lấu gồm các gia vị như ngũ vị hương, quế chi, bát giác, đại hồi, tiểu hồi cùng một số vị thuốc bắc. Còn phần thịt của heo bất cứ bộ phận nào cũng đều nấu phá lấu được, từ lưỡi, tai heo, ruột heo cho đến bao tử…

Nồi phá lấu có thể để quanh năm suốt tháng, hết nước lại châm vào, rồi cho thêm chút muối là có thể ăn dần trong cả năm. Trước đây quán cháo Tiều nhà anh Tường có rất nhiều món muối của nhà tự làm, nhưng rồi sau này cực quá nên chỉ giữ lại những món đặc sắc nhất.Món giò heo hầm cũng rất được yêu thích. Giò heo hầm nhừ nhưng phải khéo để không bị nát thịt, chỉ cần dích nhẹ đũa là thịt đã bung ra. Vị đậm đà nhưng rất ít béo nhờ hầm với cải chua có tác dụng rút mỡ, nên ăn không bị ngán.

9 Chao Tieu 3Nếu gõ “Teochew porridge” (cháo Tiều) vào ô tìm kiếm của Google, bạn sẽ nhận được rất nhiều kết quả đến từ Singapore. Ở đây cộng đồng người Tiều vẫn trung thành theo cách nấu cháo “Sua ga Hai”, tức là “núi và biển”. Một tô cháo trắng đúng kiểu người Tiều phải phân ra 2 phần riêng biệt: “núi” là phần gạo nở nằm phía trên, còn “biển” là phần nước phía dưới, nằm tách riêng chứ không trộn lẫn vào nhau. Điều này cũng tương ứng với câu nói quen thuộc của người Tiều “Kháo sơn thực sơn, kháo hải thực hải” (Ở núi ăn núi, ở biển ăn biển): người sống ven biển chuyên về những món cá hấp, còn người miền núi lại có những bí quyết lưu giữ món ăn lâu ngày mà vẫn ngon.

Một món ăn thú vị mà bạn nên thử qua nếu có dịp vào Chợ Lớn. Để giữ nguyên vẹn hương vị qua ngần ấy năm, hẳn người nấu cũng thật nặng lòng với những sản phẩm do chính mình tạo ra. Cũng có thể xem đó như một phần di sản mà những thế hệ đã “để dành” cho nhau.

9 Mi Thieu Ky 1MÌ NGON 70 NĂM

CỦA SÀI GÒN

Tôi đã được nghe rất nhiều giai thoại về xe mì Thiệu Ký trong con hẻm 66 Lê Đại Hành này. Nào là danh tiếng của chủ quán, ông Tư Ky, lừng lẫy đến mức con hẻm 66 này được người dân xung quanh gọi là “hẻm Tư Ky”. Rồi bề dày lịch sử 70 năm của quán, trải qua bao nhiêu ngày tháng, biến cố lịch sử vẫn giữ nguyên một hương vị. Về cọng mì bí truyền, ăn cho đến gần hết tô vẫn dai mà không bị nở…

Những người kế nghiệp quán mì Thiệu Ký ngày nay gọi ông Tư Ky là ông ngoại. Những năm 30 của thế kỷ trước, ông Tư Ky đã chọn Việt Nam làm quê hương thứ hai của mình với nghiệp mưu sinh là gánh mì nhỏ bán quanh khúc giao lộ Thuận Kiều, Trần Quý, Hòa Hảo (quận 11 ngày nay). Rồi gánh mì chuyển lên thành xe mì đẩy đi bán xung quanh khu vực có đông người Hoa sinh sống. Đến sau năm 1975 thì xe Thiệu Ký mới chính thức yên vị trong con hẻm nhỏ 66 Lê Đại Hành này.

Hành trình sản sinh cọng mì và hủ tiếu của người Hoa là một chủ đề khá khá vị. Nếu như cọng hủ tiếu dai trong hủ tiếu Nam Vang là một biến thể thú vị từ những người Mẫn Nam (Phúc Kiến) trong giai đoạn di cư về phía những nước Đông Nam Á, với bột gạo là nguyên liệu chính. Do không có nguyên liệu làm mì, họ đã dùng nguyên liệu tại chỗ là gạo để chế sợi thay cho mì 9 Mi Thieu Ky 2(từ đầu thế kỷ trước 3 nước Đông Dương đã là một vựa gạo khổng lồ với sản lượng xuất khẩu lên đến 1.5 triệu tấn hàng năm).

Tuy cọng hủ tiếu được sản sinh ở những nước Đông Dương xưa (có thể từ thế kỷ 17 đến 18), thì sợi mì vẫn tồn tại song song trong cộng đồng Hoa kiều. Và tất nhiên mỗi quán mì đều có bí quyết chế biến sợi mì, xem như bản sắc của mình. Với quán Thiệu Ký cũng vậy. Đã 70 năm qua, các thành viên trong gia đình ông Tư Ky vẫn giữ nguyên thói quen làm sợi mì riêng cho quán mình. Một quy trình khép kín từ 2h chiều kéo dài đến 5-6h tối. Sợi mì được làm theo một bí quyết chuyên biệt : bột mì trộn cùng trứng vịt và nước tro tàu, ủ một thời gian rồi mới mang đi cán và cắt sợi.

Cũng nhờ vậy mà món chủ lực ở Thiệu Ký – mì khô dầu hào – ngon một cách khó tả. Sợi mì dai, giòn một cách tự nhiên, và đặc biệt không giờ bị nở cho dù bạn ăn thật chậm. Vị mì ngon hòa với một chút dầu hào và tốp mỡ, nêm thêm một chút giấm đỏ (vị chua mà người Việt thường chọn chanh để thay thế), gắp chung một đũa với miếng xá xíu mới là trọn vẹn một tô mì “chính hiệu” Tư Ky.

Bên cạnh món mì bí quyền qua bao nhiêu năm tháng, ở Thiệu Ký còn nhiều món ngon khác như hủ tiếu thập cẩm, bò kho, hoành thánh và sủi cảo. Sủi cảo ở đây khá chất lượng, to và đầy đặn nhân tôm chứ không nhỏ để đáp ứng về mặt số lượng như các quán khác. Hủ tiếu thập cẩm ăn với lòng, sườn heo cũng là món nên thử.

Thời khắc đẹp nhất đế ăn ở Thiệu Ký có lẽ nằm trong khoảng từ 9 đến 10 giờ. Khi đó trời Sài Gòn vừa dịu nắng sáng, con hẻm nhỏ 66 Lê Đại Hành cũng đã vãn bớt thực khách… Để tôi được cảm nhận trọn vẹn hương vị của thời gian, của những đam mê  được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Như là một đặc ân dành cho người Sài Gòn vậy.

9 HT Nam vang 1HÀNH TRÌNH THÚ VỊ

CỦA MỘT PHIÊN BẢN

HỦ TIẾU NAM VANG

Tự nhận món ăn mình phục vụ là “nguyên bản” luôn là một chủ đề gây nhiều tranh cãi, đặc biệt là với dòng hủ tiếu tương đối phổ biến trong đời sống ẩm thực Sài Gòn như hủ tiếu Nam Vang. Tuy nhiên những dữ kiện của phiên bản hủ tiếu Nam Vang – Ty Lum đã gợi mở rất nhiều điều lý thú về món ngon này.

Hủ tiếu Nam Vang khi du nhập vào Việt Nam đã bị lai tạp ít nhiều. Nếu như tô hủ tiếu nguyên bản chỉ có thịt heo bằm và xắt miếng, ăn kèm với xà lách và giá sống (cùng một chút đường) thì khi phiêu bạt theo làn sóng người Tiều gốc Việt về Sài Gòn, hủ tiếu Nam Vang đã thay đổi khá nhiều về hình thức. Nếu như phần nhân bổ sung thêm gan, tim, tôm, trứng cút… thì phần rau ăn kèm cũng phong phú hơn với rau cần, tần ô và hẹ. T9 HT Nam vang 2uy khác biệt là vậy nhưng chung quy hủ tiếu Nam Vang khi du nhập vào Sài Gòn có phần ngon hơn cũng như phù hợp với khẩu vị địa phương, nên có lẽ cũng không ai thắc mắc về những thay đổi này.

Theo như đầu bếp Ty Lum thì món hủ tiếu đầu tiên ra đời vào khoảng năm 1920 tại Bết-Chan, một thị trấn nhỏ cách thủ đô Nam Vang 19km do một gia đình người Tiều từ Trung Hoa sang lập nghiệp sáng chế ra. Rồi sau đó chuyển về WEN – Thành vua (một liên doanh Pháp – Hoa) và mở thêm một quán mới đặt tên là La Pagode tại thủ đô Phnompenh.

Ty Lum vốn là con của một gia đình Việt kiều ở Nam Vang (cách gọi khác của thủ đô Phnompenh). Sau khi học hết trung học, ông theo học nấu ăn tại một trường lớn chuyên về ngành này và may mắn gặp được một ông thầy người Hoa chỉ cho bài “hủ tiếu”. Khi ra trường Ty Lum đứng bếp cho nhà hàng La Pagode trứ danh được 2 năm thì được thu dụng vào Hoàng cung, và trong đó món điểm tâm hủ tiếu Nam Vang được chính Ty Lum phục vụ.

Khi hồi hương, Ty Lum sinh sống bằng nghề buôn quạt máy, rồi sau đó ra Nha Trang mở lò sấy mực khô cung cấp cho các nhà hàng. 9 HT Nam vang 3Cũng nhờ đi khắp nơi nên ông phát hiện Sài Gòn còn thiếu một quán hủ tiếu Nam Vang “đạt chuẩn”, tức là tuy có thay đổi cho phù hợp với khẩu vị địa phương nhưng vẫn phải giữ được chất lượng nguyên thủy của món hủ tiếu này. Nước súp phải rất trong, ngọt nhờ vào xương hầm chứ không phải bột ngọt.

Khi mở tiệm hủ tiếu đầu tiên tại ngã tư Nguyễn Trãi – Huỳnh Mẫn Đạt (quận 05), Ty Lum đã cải tiến thêm phần nhân với miếng chả cá, tim, gan cũng như trứng cút. Thú vị nhất là cọng hủ tiếu được đặt riêng của quán, ăn dai, mịn mà không bị chua. Rồi đến phần tỏi phi thơm lừng chan trên bề mặt tô hủ tiếu, nhất là ở phiên bản khô. Khi trộn đều tất cả lên rồi nêm nếm với chanh, ớt và tỏi chua mới thấy hết vị ngon của món ăn này. Đặc biệt phần nước súp được giữ lại như nguyên bản với vị ngọt đậm mà thanh.

Đã đến Phnompenh và thử qua món hủ tiếu nơi đây, tôi vẫn thấy không đâu ăn hủ tiếu Nam Vang ngon như… Sài Gòn. Có lẽ từ những “can thiệp” thú vị của các đầu bếp tài hoa tụ hội từ tứ phương đã mang lại nét độc đáo cho món hủ tiếu Nam Vang ngay tại Sài Gòn, hình thành nên một xu hướng thưởng thức hết sức đặc biệt của món ngon này.

9 Ca can 1HỦ TIẾU CẢ CẦN:

MỘT PHẦN DI SẢN SÀI GÒN

Người Sài Gòn hầu như ai cũng biết đến thương hiệu hủ tiếu và bánh bao “Cả Cần” nằm ở góc tiểu đảo ngay ngã tư Nguyễn Tri Phương – Hùng Vương này (phía trước công viên Văn Lang và khá gần với bùng binh Ngã Sáu). Cũng có nhiều người thắc mắc sao cái quán đề bảng “hủ tiếu Cả Cần” có phần cũ kỹ, xập xệ đó lúc nào cũng đông khách, nhất là từ giấc trưa đến tối khuya. Nhưng nếu biết được lịch sử thú vị cũng như những câu chuyện xung quanh nó, có thể bạn cũng sẽ rất ngạc nhiên.

Đầu tiên là cái tên trứ danh “Cả Cần”. Chủ của thương hiệu hủ tiếu này là ông Trần Phấn Thắng (nay đã mất). Theo lời tâm sự của ông khi còn sống, thì “Cần” là tên của một người bạn thân chẳng may mất sớm. Chữ “Cả” được ghép thêm vào vì ông thích những chữ có cùng phụ âm theo kiểu “Tin-Tình-Tiền-Tù-Tội”. Và cũng từ cái tên “Cả Cần” đó mà ông rất tâm đắc với câu quảng cáo toàn chữ “c” của quán : ”Có Cả Cần Cần Chi Có Cả”.

9-ba-nam-1Vợ chồng ông Cả Cần xuất thân từ công chức chế độ cũ. Bà là người gốc Bến Tre và nấu ăn rất ngon, còn ông thì khiếu ăn nói khéo léo và tài giao thiệp rộng rãi. Từ sự kết hợp trên họ đã quyết định từ bỏ công việc hiện tại và mở quán hủ tiếu và bánh bao Mỹ Tho. Cái tên “Cả Cần” được ông chọn cho quán đầu tiên nằm ở ngã tư Công Lý (Nguyễn Văn Trổi bây giờ) – Trương Quốc Dung. Năm 1969, khi mở quán thứ hai thì ông Thắng mời bà Năm Sa Đéc (nghệ sĩ cải lương và thoại kịch nổi tiếng một thời, vợ của học giả Vương Hồng Sển) đứng tên hộ như  một cách mượn danh người nổi tiếng để quảng cáo. Cách làm này rất hiệu quả khi những người hâm mộ cải lương và bà Năm Sa Đéc kéo đến nườm nượp để vừa thưởng thức món ăn ngon cũng như chiêm ngưỡng thần tượng của mình bằng xương bằng thịt.

Sự kết hợp này cũng làm nảy sinh nhiều đồn đoán : ông Cả Cần gốc Sa Đéc chứ không phải Mỹ Tho, hoặc bà Năm Sa Đéc có quan hệ với ông Cả Cần, hoặc bà Năm có phần hùn trong quán… Thậm chí còn có nguồn thông tin cho rằng thương hiệu “Cả Cần” do bà Năm tạo dựng ra, và ông Thắng đã hợp thức hóa thương hiệu này trước qua các văn bản pháp luật để chính thức sở hữu nó. Tuy nhiên, thông tin chính xác nhất vẫn là bà Năm chỉ là người đứng tên như một hình thức khuyếch trương thương hiệu. Tiếp theo đó có một vụ thưa kiện giữa quán và chính quyền về việc giải tỏa mặt bằng mà cuối cùng là ông Thắng đã thắng kiện. 9 Ca can 2Bà Năm Sa Đéc sau đó đã rút tên ra. Quán được đổi tên thành ”Mỹ Tiên”, là tên cô con gái lớn của ông Thắng.

Sau năm 1975 gia đình ông Thắng định cư ở Montreal, Canada và mở một số nhà hàng mang thương hiệu “ONG CA CAN” khá thành công. Rồi những năm 90 mở cửa, ông cùng gia đình về lại Việt Nam tìm kiếm cơ hội làm ăn. Quán hủ tiếu nức danh ngày xưa nay đã xuống cấp và mất dần khách. Gia đình ông thương lượng lại mặt bằng, để rồi ngày nay quán có đến 2 chủ : bữa sáng do người quản lý cũ bán, từ chiều đến tối là của gia đình ông. Khách đến đây sẽ thấy dòng chữ Việt – Anh trên tờ menu: “Sáng và chiều khác nhau” (Morning and afternoon different) như một cách làm rõ về những khác nhau trong chất lượng tô hủ tiếu, cũng như khẳng định buổi chiều mới là chính hiệu hủ tiếu và bánh bao Cả Cần.

Tô hủ tiếu Cả Cần theo nấu trường phái hủ tiếu Mỹ Tho, món ăn được “Việt hóa” từ hủ tiếu của người Tiều (Triều Châu). Chủ các tiệm hủ tiếu Mỹ Tho thường là người Việt gốc Hoa, tuy nhiên chủ các lò sản xuất bánh hủ tiếu lại thường là người Việt chính gốc.

9 Ca can 3Bánh hủ tiếu

Mỹ Tho là loại bánh khô được chế biến từ các loại gạo thơm địa phương như Nàng Thơm, Nàng Út hoặc thậm chí là loại cao cấp như Nàng Thơm Chợ Đào. Ngày nay có 2 trung tâm sản xuất bánh hủ tiếu khô nổi tiếng : một ở Mỹ Tho và một ở Gò Công, sản xuất hầu hết hủ tiếu khô cung cấp cho cả nước. Nhờ vậy mà sợi hủ tiếu Mỹ Tho có mùi thơm của gạo, trụng với nước sôi thì mềm nhưng không bở, nhai thì nghe dai dai nên gọi là hủ tiếu dai, ăn không có mùi chua.

Cách thưởng thức món hủ tiếu Cả Cần cũng theo 2 cách là khô và nước. Để thấy hết cái đặc biệt của tô hủ tiếu này tôi nghĩ bạn nên gọi một tô khô. Cái khác biệt và độc đáo của món khô so với nước là ẩn dưới lớp thịt bằm, sườn non, xá xíu và con tôm luộc kia là một loại nước sốt chua ngọt rất đặc biệt. Chính vị chua ngọt này hòa với vị mặn của lớp tôm khô cháy tỏi phía trên tạo nên hương vị đậm đà của tô hủ tiếu khô. Nêm thêm một chút chanh, ngắt thêm vài cọng giá sống, rau cần, hòa lẫn với bánh hủ tiếu mới thấy hết cái ngon của tô hủ tiếu

Cả Cần trứ danh qua bao thập kỷ này.

Hủ tiếu Cả Cần ngày nay có cải biên thêm một chút, ngoài các thành phần sườn non, thịt bằm, xá xíu, tôm còn có thêm chả cây và dồi chiên (như trong món cháo lòng). Phiên bản đặc biệt này được bán với giá 67,000 hẳn sẽ làm bạn hơi bất ngờ. Tuy nhiên với thành phần đặc biệt và đa dạng như vậy, cũng đáng để thử qua.

Tr an uong 5Ngoài ra còn có món bánh bao đã làm nức lòng bao thế hệ khách hàng. Bạn sẽ sửng sốt thêm một lần nữa khi biết một cái bánh bao đặc biệt có giá đến 32.000đ (nhân tôm, thịt, trứng muối và nấm đông cô). Bánh được hấp trên một bếp lớn với kỹ thuật bí truyền, tạo ra độ thơm ngon mà hiếm quán nào sánh bằng. Rất nhiều thực khách khi ăn hủ tiếu xong còn gọi một cái bánh bao đặc biệt ăn thêm, vì như vậy mới trọn vẹn một lần đến ăn ở Cả Cần.

Hơn 40 năm trôi qua cùng với bao biến cố và sự kiện, tô hủ tiếu cùng cái bánh bao vẫn giữ đúng hương vị từng làm mê đắm bao thế hệ người Sài Gòn. Sẽ không quá lời nếu cho rằng hủ tiếu Cả Cần là một phần của di sản ẩm thực Sài Gòn.

Phú Lê post (theo Tân Nhân)

Tr an uong 2XUÝT XOA VỚI

NHỮNG MÓN ĂN

CAY XÉ LƯỠI

Các món ốc : Ốc cau, ốc hương, ốc gai chúa, ốc dừa… được chế biến với vị cay xé lưỡi khiến bạn phải xuýt xoa khi thưởng thức.

1/. Ốc cau rang muối ớt : Ốc cau to bằng đầu ngón tay, có vỏ màu vàng nhạt, thịt giòn, ngọt rất ngon. Ngâm ốc khoảng 30 phút, sau đó vớt ra rửa lại bằng nước sạch và đem luộc chín rồi để ráo nước. Trộn đều ớt xay, muối tôm, một ít muối tinh và nước lạnh, khuấy đều hỗn hợp đó cho hơi sền sệt. Đặt chảo lên bếp, phi thơm một ít tỏi, cho hỗn hợp muối và ốc vào, rang đều tay đến khi muối ớt khô lại, bám trên từng vỏ ốc. Những con ốc được bám một lớp muối ớt bên ngoài, hương thơm cay nồng kích thích vị giác của người ăn.

9 Mon oc 12/. Ốc khế nướng tiêu xanh : Ốc khế luộc chín, dùng mũi dao cậy lấy thịt ốc ra khỏi vỏ, bỏ phần ruột mềm màu trắng bao quanh. Thái thịt ốc thành từng lát vừa ăn, cho trở lại vào vỏ ốc và nướng trên bếp than hồng. Khi ốc bắt đầu nóng lên, chan đều nước mắm đã pha lên thịt ốc, rắc hạt tiêu xanh lên trên và nướng chín. Khi thịt ốc khế săn lại và chuyển sang màu vàng cùng với hương thơm đậm đà của nước mắm, vị cay nồng của tiêu tỏa ra là bạn có thể bắt đầu thưởng thức món ăn này.

3/. Ốc giác nướng muối ớt : Ốc giác nướng muối ớt giữ được vị ngọt tươi nguyên từ thịt ốc. Khi thịt ốc giác săn lại và chuyển sang màu vàng cùng với hương thơm đậm đà của muối ớt là bạn có thể bắt đầu thưởng thức món ăn này. Thịt ốc ăn giòn mềm và hơi dai, cái ngọt của thịt hòa trong cái vị mằn mặn cay cay đem lại cho người ăn cảm giác thích thú vô cùng dễ chịu.

4/. Ốc dừa xào bơ cay : Ốc dừa xào bơ cay là món ăn không no nhưng vui miệng và được nhiều người yêu thích. Cái ngọt của thịt ốc hòa với vị béo, thơm của bơ, cái vị cay của ớt làm tăng thêm hương vị cho món ăn dân dã này. Không gì thú vị bằng trong những ngày trời mưa lành lạnh, tụ tập bên đĩa ốc nóng… vừa ngồi nhể từng con ốc dừa thơm mùi bơ, xuýt xoa vì vị cay của nó vừa tán gẫu cùng bạn bè, người thân sẽ trở thành kỷ niệm khó quên.

9 Mon oc 2

5/. Ốc hương rang muối ớt : Món này được chế biến khá đơn giản, ốc được rửa sạch và luộc sơ cho ốc vừa chín, vớt ra để ráo nước, sau đó cho vào chảo rang với muối, ớt xay và các loại gia vị khác sao cho vừa ăn và đậm đà. Vỏ ốc bên ngoài được rang vàng, thấm đẫm muối ớt nhìn thật hấp dẫn và kích thích vị giác của người ăn. Và cũng chính cái vị mằn mặn, cay cay của muối ớt cùng phần thịt ốc đậm đà, giòn sần sật khiến bạn ăn hoài không ngán.

6/. Ốc đỏ nướng mọi : Ốc đỏ với lớp vỏ cứng ngắc bên ngoài, nhưng khi được nướng muối ớt lại tạo thành một món ăn với hương thơm rất đặc biệt khiến người thưởng thức phải xuýt xoa. Thịt ốc đỏ giòn dai và có vị ngọt rất ngon miệng khi thưởng thức.

9 Mon oc 37/ Ốc gai chúa nướng nước mắm ớt : Ốc gai chúa nướng nước mắm ớt hấp dẫn người ăn bởi hương vị đậm đà cay nồng của nó. Chế biến đơn giản nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ của người đầu bếp. Những con ốc sau khi rửa sạch, cho vào nồi và luộc vừa chín tới. Dùng mũi dao cậy lấy thịt ốc ra khỏi vỏ, bỏ đi phần ruột mềm màu trắng bao quanh. Thái thịt ốc thành từng lát vừa ăn, cho trở lại vào vỏ ốc và nướng trên bếp than hồng.

Chén nước mắm được pha với vị cay đặc biệt. Khi ốc bắt đầu nóng lên, chan đều nước mắm đã pha lên thịt ốc, nhẫn nại ngồi chờ nước mắm ngấm đều trong từng lát thịt ốc. Thịt ốc gai chúa ăn giòn mềm và hơi dai, cái ngọt của thịt hòa trong cái đậm đà của nước chấm lan tỏa nơi đầu lưỡi cùng vị cay của ớt khiến bạn phải xuýt xoa.

Yên Huỳnh post

HỒI ỨC VỀ XI-NÊ SÀO GÒN

Logo vannghe

9 rap cine 1

RẠP XI-NÊ SÀI GÒN XƯA

Có thể nói, đặc điểm nổi bật của xi-nê Sài Gòn thời xưa là có nhiều rạp chiếu ‘thường trực’ (permanente), thường từ 9g sáng đến11g đêm và khán giả có thể mua vé vào xem bất cứ lúc nào, xem chán thì ra. Vì thế, có người lợi dụng những rạp máy lạnh để đánh một giấc ngủ trưa. Thật là một công được cả đôi việc. Ngủ chán, thức dậy xem tiếp !

Tuy vậy, chiếu thường trực cũng có điều bất tiện nếu bạn vào rạp giữa lúc phim đang chiếu đoạn cuối. Đối với loại phim trinh thám, nếu không vào rạp từ đầu phim sẽ mất đi sự hồi hộp nếu biết trước đoạn kết. Cũng có trường hợp vai chính lúc bạn vào xem khúc cuối có thể bị cụt chân nhưng lại hoàn toàn không biết rõ ‘lại lịch’ tại sao chân lại bị cụt. Chẳng khác nào chỉ thấy ngày 30/4/75 thiên hạ chạy giặc, di tản chiến thuật một cách rầm rộ mà không biết xưa kia người Sài Gòn sống, làm việc và ăn chơi ra sao ! Tất cả chỉ vì không vào đúng lúc bắt đầu phim.

Cũng có khi người ta vào rạp xem phim mà thật tình chẳng biết đang chiếu phim gì. Có những cặp tình nhân vào đấy để tâm sự nhỏ to, có những cặp bạo hơn, tuy làm khán giả nhưng… cũng đóng phim. Có điều trên màn ảnh là phim trinh thám hay phim chiến tranh nhưng ở hàng ghế khán giả lại đóng phim tình cảm ướt át.

Vào thời Đệ nhất Cộng hòa, mỗi khi bắt đầu một xuất chiếu phim khán giả phải đứng dậy chào cờ và ‘suy tôn Ngô Tổng thống’ với những lời ca tụng lãnh tụ Ngô Đình Diệm : “Ai bao năm từng lê gót nơi quê người, cứu đất nước thề tranh đấu cho tự do ? Người cương quyết chống Cộng, bài phong kiến bóc lột, diệt thực dân đang rắc reo tàn phá… Toàn dân Việt Nam quyết theo Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống muôn năm…”. Câu sau cùng được trẻ con chế thành… “Toàn dân Việt Nam muốn ăn tô hủ tiếu, tô hủ tiếu, tô hủ tiếu ngon ghê…

9 rap cine 2Trước khi vào phim chính, các rạp còn ‘chiếu dạo’ những phim sắp tới theo chương trình của riêng từng rạp. Dĩ nhiên là chọn cảnh nào hấp dẫn nhất để giới thiệu cùng khán giả, đó cũng là một cách quảng cáo của các hãng nhập cảng phim. Trong trường hợp phim chính quá ngắn, các rạp còn câu khách bằng cách chiếu thêm phim phụ như phim của Charlot, phim thời sự hoặc đôi khi còn có phụ diễn tân nhạc cho… xôm tụ.

Xi-nê Sài Gòn có một truyền thống phải nói là độc đáo với các tờ program (chương trình) phát cho khán giả khi đến mua vé xem phim. Trên tờ program của phim, khán giả có thể đọc để biết đại khái nội dung phim và tên các tài tử trong phim. Đối với dân ghiền xi-nê, có một cái thú tương tự như sưu tầm tem thư: họ sưu tầm program.

Ông anh tôi là một trong những người sưu tầm program thuộc hạng ‘gạo cội’. Ông có những tờ program từ các rạp xi-nê ngoài Hà Nội vào cuối thập niên 30 (trong khi mãi đến năm 1946 tôi mới ra đời)! Khi di cư vào Nam, hành trang của ông có chỗ cho các tờ program quý giá đó. Chỉ tiếc rằng bộ sưu tầm đó nay đã thất lạc, nếu không, chắc chắn trong Hồi Ức này sẽ có hình ảnh của những tờ program ‘cổ lai hy’…

9 rap cine 3

Ở phía dưới cùng, góc phải của tờ program phim Deux Hommes Dans La Ville có dòng chữ “Visa 214/74 ngày 26-10-74” khiến tôi thắc mắc không biết có phải phim này có visa nhập khẩu Sài Gòn được cấp ngày 26/10/74 (?). Nếu đúng vậy, không hiểu bộ phim này có kịp theo dòng người di tản ra khỏi Việt Nam trước 30/4/75 hay còn kẹt lại trong kho tư liệu phim trên đường Phan Kế Bính để tham dự khóa… ‘cải tạo’ chung với ‘ngụy quân, ngụy quyền’?

Sài Gòn xưa có rạp Cinéma Catinat chiếu thường trực, rạp nằm trong hành lang (passage) nối liền đường Tự Do (Catinat) sang đường Nguyễn Huệ (Charner). Đây là rạp chiếu phim thường trực đầu tiên ở Việt Nam, và tất nhiên cũng là rạp chiếu phim thường trực đầu tiên ở Đông Dương.

9 rap cine 4Ciné Catinat có giá vé đồng hạng 10 đồng, rạp còn bán 1 tập 10 vé giá 80 đồng, mua nguyên tập khán giả lợi được 20 đồng. Rạp xi-nê thuộc loại ‘tí hon’ này về sau chuyển đổi thành phòng trà ca nhạc với nhiều tên như Au Chalet rồi Đêm Màu Hồng, nơi ra mắt của ban nhạc Phượng Hoàng thời kỳ trước khi nhập với ca sĩ Elvis Phương.

Vào thập niên 1960, miền Nam an bình, thịnh vượng. Sài Gòn đẹp hơn, sang hơn cho nên nhiều rạp xi-nê ra đời. Những rạp mới này có màn ảnh lớn, gọi là Cinemascope, (màn ảnh đại vĩ tuyến), màu Eastmancolor, máy lạnh tối tân khiến những rạp nhỏ, xưa, với máy chiếu kêu lạch xạch, quạt trần thổi vù vù, dần dần ế khách.

Chủ Cinéma Catinat phá rạp, xây thành chung cư. Trường hợp rạp xưa, cổ lỗ, không có khách cũng xẩy ra với rạp Asam ở Dakao nằm trên đường Ðinh Tiên Hoàng gần Mì cây Nhãn. Nếu từ Casino Dakao (sau đổi tên là rạp Cầu Bông) đi lại thì rạp Asam nằm bên lề phải, còn Mì Cây Nhãn nằm xéo bên lề trái. Vào khoảng năm 1965 rạp Asam cũng bị phá đi và cũng lại xây appartment.

Khi Hồi Ức này đến tay một số thân hữu, anh Trịnh Văn Du, cựu Giảng viên Sinh ngữ Quân đội và là ‘thổ công’ vùng Dakao với tiệm giày Dada đã góp ý bổ sung về Mỳ Cây Nhãn như sau :

9 rap cine 5“… Mỳ Cây Nhãn không phải xéo xéo rạp Ciné Asam, mà là đối diện với trường tiểu học ĐTHoàng. Tại sao gọi MCN ? Bởi vì rằng thì là ngay trong sân, trước xe mỳ (hồi đầu chỉ có một xe mỳ, như loại đẩy bán rong), có hai ba cây nhãn ăn quả.  Khu nhà này (là một nhóm nhà lúp xúp chung nhau) thấp hơn mặt đường ĐTH, có sân đất trước mặt (vì thế mới trồng cây được); muốn vào người ta phải bước xuống hai ba bậc thang gạch.

Sau này khi quán mỳ này nổi tiếng, sân lát gạch sạch sẽ.  Hình như khu đất này của Chà Và (hồi ấy chủ đất đa số là người Ấn độ ?).  Sang thập niên 60, một developer, không biết có phải là VN hay thế nào, mua khu đất đó, và xây thành một chung cư hai ba tầng….

Mỳ CN nằm bên số chẵn, khoảng giữa PTGiản và Tự Đức. Đi qua MCN, hướng một chiều ĐTHoàng (hồi đó ĐTH một chiều theo hướng Saigon đi Cầu Bông) ngày nay ĐTH cũng vẫn là đường một chiều, độ bốn năm căn nhà, qua một ngõ hẻm nhỏ thì tới một tiệm ăn Tây lâu năm, cũng khá nổi tiếng khu Đakao, đó là tiệm Chez Albert.  Tiệm này tồn tại hình như tới mãi 1975.

Cũng xin cám ơn một người bạn khác – anh Đỗ Văn Kiên, cựu giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội – đã bổ sung thêm rạp Long Phụng vào danh sách rạp xi-nê Sài Gòn xưa : Rạp Long Phụng nằm trên đường Gia Long (bây giờ là Lý Tự Trọng) chuyên trị dòng phim thần thoại ca-vũ-nhạc Ấn Độ. Có thể Long Phụng chuyên về phim Ấn vì địa điểm của rạp rất gần với Chùa Chà Và trên đường Trương Công Định chăng ? Nam tài tử Ấn Độ ăn khách nhất thời đó là Rama Rao, ông này sau thời 80-90 làm Thống đốc bang Pradesh thuộc miền Nam nước Ấn”.

9 rap cine 7Xin nói thêm, một số chính khách khác cũng xuất thân từ điện ảnh như Rama Rao. Nổi bật nhất trong những trường hợp này là Richard Nixon, Tổng thống Hoa Kỳ; diễn viên phim hành động người Mỹ gốc Áo, Arnold Schwarzenegger, trở thành Thống đốc tiểu bang California và Joseph Estrada, Tổng thống Philipin, cũng xuất thân từ một tài tử điện ảnh.

Năm 1960 rạp xi-nê Kinh Đô được xây mới trên đường Lê Văn Duyệt, chỗ nhìn sang Trụ sở Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam. Rạp Kinh Đô mới khá hiện đại và đẹp. Máy chiếu phim và máy lạnh đều thuộc loại mới nhất. Khoảng năm 1961, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ mướn rạp Kinh Đô làm nơi chiếu phim cho nhân viên và gia đình đến xem.

Nếu tôi không lầm, hình như vào năm 1962, đặc công VC cho nổ bom plastic trong rạp này. Có thể gọi đây là vụ đánh bom đầu tiên ở Sài Gòn. Sau vụ nổ, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ không mướn rạp Kinh Đô nữa và rồi rạp này được phá đi, khu đất đó xây một tòa nhà là trụ sở USAID với nhiều tầng lầu.

9 rap cine 6Những phim chiếu ở rạp Rex đường Nguyễn Công Trứ (không phải là rạp Rex đường Nguyễn Huệ sau này) là những phim cao bồi, Tarzan, Zoro… Phim cũ, chiếu đi chiếu lại nhiều lần nhưng vẫn có người đến xem, nhất là khán giả nhỏ tuổi. Có khi chiếu được một lúc, đang hồi gay cấn thì bị… đứt phim, phải ngưng để nhân viên phòng máy nối phim. Đèn trong rạp bật sáng. Người lớn, con nít phản đối, húyt gió, la hét rần rần, không thua lúc Tarzan đu giây đến cứu người đẹp Jane, hay Zoro phóng ngựa đến giải cứu người đẹp Juanito !

Tôi nhớ rạp Rex ‘cũ’ ở con đường sau rạp Đại Nam mà Đại Nam là rạp sang trọng nhất Sài Gòn thời đó do ông Ưng Thi làm chủ khi Rex trên đường Nguyễn Huệ chưa có mặt. Phim mới được chiếu trước tiên ở đây và một vài rạp khác rồi một thời gian sau mới được đưa đi tỉnh hoặc các rạp nhỏ chuyên chiếu lại. Mỗi phim gồm nhiều cuộn nên thời đó mấy rạp cùng chiếu chung một phim bằng cách lên lịch chia lệch giờ khởi chiếu. Mỗi khi chiếu xong một cuộn sẽ có người đi xe gắn máy giao cho rạp kế tiếp.

Nghe kể có lần rạp Đại Nam đang chiếu phim Pillow Talk (do Rock Hudson, Doris Day đóng vai chính) thì anh chàng đi giao cuộn phim, hình như mải mê uống nước mía (?) hay sao đó mà để lạc mất cuộn phim. Tất cả các rạp cùng chiếu phim đó đành phải ngưng lại và đem phim khác ra chiếu tạm. Mãi một thời gian sau, không rõ cuộn phim được chuộc lại hay phải nhập phim mới, Pillow Talk mới được tiếp tục chiếu trở lại. (Tên phim Pillow Talk được dịch sang tiếng Việt một cách thi vị là Thì thầm bên gối).

9 rap cine 8Phim chiếu tại Đại Nam có cả phim Tàu từ Đài Loan và Hồng Kông. Nổi bật nhất là Mùa Thu Lá Bay với đôi trai tài gái sắc Đặng Quang Vinh và Trân Trân. Đó là thời tiểu thuyết của nữ văn sĩ Quỳnh Giao, ăn khách không kém truyện võ hiệp hấp dẫn của Kim Dung như Cô gái Đồ Long, Anh hùng xạ điêu, Lục đỉnh ký

Đại Nam nằm trên đường Trần Hưng Đạo, gần chợ Bến Thành, cũng chiếu những phim võ thuật Trung hoa như Hiệp Nữ (A Touch of Zen), Tà Kiếm (Dương Quần đóng), Hắc Hồ Điệp (do “nữ hoàng kiếm hiệp” Trịnh Phối Phối đóng). Phim Tàu chiếu tại Sài Gòn đều có phụ đề Việt ngữ nhưng vào đến Chợ Lớn lại chiếu nguyên bản bằng tiếng Tàu nên chỉ có “con cháu chú Ba” thưởng thức mà thôi.

Xin nhắc lại, Sài Gòn xưa có tới 2 rạp xinê mang tên Rex. Nhiều người chỉ biết có rạp Rex ‘xịn’ ở đường Nguyễn Huệ, xế cửa Tòa Đô Chánh, bắt đầu khai trương năm 1962. Rạp Rex “cũ’ ở đường Nguyễn Công Trứ là một rạp phụ của rạp Majestic. Phim chiếu ở Majestic, năm hay bẩy tháng sau, thậm chí cả năm sau, được mang ra chiếu lại ở rạp Rex cũ. Không khí trong rạp thoang thoảng mùi… nước tiểu vì ngay cửa vào rạp người ta thiết kế toilet. Cũng may, khoảng năm 1955 rạp Rex nhỏ này bị phá. Nơi đây được xây thành vũ trường Maxim tầng trên và sân khấu trình diễn ca vũ nhạc kịch tầng dưới do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách.

9 DalidaNăm 1962, trên đường Nguyễn Huệ xuất hiện rạp Rex ‘hoành tráng’. Đây là rạp hát đầu tiên có thang cuốn (escalator) cũng của ông Ưng Thi, chủ nhân rạp Ðại Nam ở đường Trần Hưng Đạo. Nếu tôi nhớ không lầm, rạp Rex hình như được khai trương với phim Ben Hur (tài tử Charton Heston). Có tin đồn trong ngày khai trương một người đẹp đi lên thang cuốn không hiểu quýnh quáng thế nào mà bị thang cuốn luôn cái quần… (may mà còn panty)! Không biết chuyện có thật hay không nhưng cũng xin ghi lại làm tư liệu về xi-nê và… chiếc quần phụ nữ.

Rex là rạp ‘xịn’ nhất thủ đô Sài Gòn, sau này lại còn có thêm ‘người anh em’ Mini Rex. Theo quảng cáo trên tờ program phim Trà hoa nữ (Camille), Mini Rex là “Rạp chiếu bóng tối tân nhất Việt Nam”. Khán giả vào xem phim thuộc loại thanh lịch và giá vé luôn cao hơn các rạp khác.

Gần rạp Rex là rạp Eden nằm trong Passage Eden có lầu và được phân chia thành từng lô, riêng biệt, rất kín đáo cho khán giả là những người đang yêu, vừa xem phim, vừa tâm tình mùi mẫm. Đi xem xi-nê solo một mình mà phải lên balcon ngồi vì rạp hết chỗ thì… ‘tủi thân’ lắm. Trên ấy đào kép mùi mẫm, mê ly, nhất là những cặp ngồi ở hàng ghế chót, sau lưng là nguyên bức tường, tha hồ tâm sự lòng thong !

Ở Sài Gòn, chỉ duy nhất Eden mới có hai balcon. Thông thường, khi xem xi-nê tại đây, ngồi balcon 1 là hay nhất vì nhìn xuống vừa tầm mắt không mỏi cổ và không bị cái đầu của người ngồi hàng ghế trước che khuất tầm nhìn. Balcon 2 của rạp Eden thì nhỏ hơn và vì quá cao nên nhìn sâu xuống màn ảnh muốn cụp cái cổ nên phần đông khán giả chẳng màng để ý đến sự hiện hữu của nó, ngoại trừ dân ‘đào kép’ Sài Gòn ‘yêu nhau đi trời hôm tối rồi’ thì chiếu cố rất nhiệt liệt và gọi đó là ‘pigeonnier’ (chuồng bồ câu).

Cũng xin ghi lại, giới mê ca nhạc Pháp thập niên 50-60 rất mê giọng ca của ca sĩ Dalida với các bản nhạc thịnh hành tại Sài Gòn như Bambino, Tout l’amour… đã có lần trình diễn tại rạp Eden ‘bằng xương bằng thịt’ trong một chuyến công diễn tại Sài Gòn (*). Mấy năm sau đó, cũng tại rạp này, tôi được xem phim Parlez-Moi d’Amour (1961) do Dalida đóng.

9 rap cine 9Rạp Lê Lợi đường Lê Thánh Tôn, gần chợ Bến Thành, chuyên chiếu phim cũ nhưng tuyển chọn toàn phim khá và chỉ chiếu trong 1, 2, hoặc 3 ngày rồi đổi sang chiếu phim khác. Tuy nhiên, nếu hụt xem phim nào thì khán giả cứ kiên nhẫn chờ đợi, một thời gian sau thế nào phim đó cũng sẽ được chiếu lại. Cái hay là lịch chiếu phim được niêm yết trước để khán giả có thể chọn ngày đi xem. Lê Lợi có thể nói là rạp duy nhất ở Sài Gòn chiếu phim theo phương thức này, một ít rạp khác có bắt chước phần nào nhưng rồi cũng không theo được hoặc sau đó phải thay đổi cách làm khác. Khách hàng thường xuyên của rạp Lê Lợi là những sinh viên, học sinh vì rạp chiếu phim cũ nhưng lại hay và giá vé rất nhẹ. Thời đó, đi học ngày hai buổi nên buổi chiều nào chán hoặc lười học bọn trẻ, trai cũng như gái, rủ nhau ‘cúp cua’ đi xem xi- nê ở rạp này.

Cũng rất gần với rạp Lê Lợi trên đường Lê Thánh Tôn là rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi, bên cạnh Bệnh viện Sài Gòn, ngay khu vực Chợ Bến Thành. Rạp Vĩnh Lợi nổi tiếng trong giới ‘bê-đê’ vì đây là nơi bạn có thể bị bất ngờ vì một bàn tay xờ xoạng của một chàng ‘gay’ ngồi ngay bên cạnh. Khoảng đầu thập niên 60, có xảy ra một vụ nổ lựu đạn trong rạp, may mắn gần Bệnh viện Sài Gòn nên các nạn nhân chỉ cần bước vài bước được cấp cứu ngay !

Khu vực “ngã tư quốc tế” (Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo) đã trở thành một trong những khu hoạt động nhộn nhịp nhất của làng văn nghệ Sài Gòn. Các rạp hát hiện diện tại đây khá nhiều : Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc Thanh, Khải Hoàn và các đoàn cải lương lớn thường xuyên về đây nên đã trở thành điểm hẹn của giới ký giả kịch trường cũng như các ông bà bầu muốn “săn” đào kép mới.

9 rap cine 10Khu vực gần chợ Thái Bình cũng có nhiều rạp chiếu phim. Rạp Quốc Thanh nằm trên đường Nguyễn Trãi, bên hông Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia. Rạp khá khang trang, sau trở thành sân khấu cải lương mà đoàn Dạ Lý Hương đóng đô thường trực và ngày nay Quốc Thanh lại biến thành Nhà hàng Tiệc cưới.

Rạp Khải Hoàn ngay ngã 5 Cống Quỳnh – Phạm Ngũ Lão – Nguyễn Trãi thuộc loại thường chiếu phim bình dân… coi được nhưng kẹt cái thiếu máy lạnh. Khán giả đây xem phim mà cứ muốn… ‘yêu nhau cởi áo cho nhau’. Đây là rạp tôi hay lui tới thường xuyên trong thời gian ở đường Cống Quỳnh. Một kỷ niệm tôi vẫn nhớ mãi ở rạp Khải Hoàn là nạn móc túi lúc chen vào mua vé. Tôi cảm thấy có mấy ngón tay cứ muốn thọc vào túi quần và đã kịp thời chận lại. Có thể đó là tay móc túi mới vào nghề nhưng biết đâu lại là một ‘gay’ lợi dụng lúc đông người thỏa mãn tính rờ rẫm người đồng phái ? Cũng như số phận của Quốc Thanh, rạp Khải hoàn ngày nay đã ‘hóa kiếp’ thành một trung tâm thương mại.

Trên đường Phạm Ngũ Lão, gần chợ Thái Bình, còn có rạp Thanh Bình, sau này sửa sang lại thật lịch sự mang tên rạp Quốc Tế, nhưng chẳng bao lâu sau Sài Gòn đổi chủ nên phải dẹp tiệm vì… ‘đứt phim’. Từ Cống Quỳnh tôi đi đường tắt, băng ngang qua chợ Thái Bình, chỉ mất vài phút là có thể chui vào rạp Thanh Bình để xem phim và cũng để hưởng bầu không khí ‘có máy lạnh’ trong những buổi trưa Sài Gòn đổ lửa.

9 rap cine 11Thời gian đi từ nhà trên đường Cống Quỳnh đến Thanh Bình cũng ngắn như đến rạp Khải Hoàn. Sau này còn có rạp Thăng Long ngay trên đường Cống Quỳnh, chỉ cách nhà vài căn, nhưng có lẽ ‘bụt nhà không thiêng’ nên tôi rất ít khi đến đây. Rạp Thăng Long khi đó còn quá xập xệ, không như nhà hát của trường Sân khấu Điện ảnh bây giờ (tiền thân của trường sân khấu chính là trường Hưng Đạo ngày nào !).

Chỉ cách nhau chưa đầy ba phút đi bộ, mà khu Tân Định có đến hai rạp ciné. Bên hông chợ là Tân Định là rạp Mô-Đẹc và mặt trước của chợ là rạp Kinh Thành. Hai rạp bình dân này thay phiên nhau chiếu phim Ấn Độ và phim cao bồi. Để thay đổi không khí, thỉnh thoảng lại mời các gánh cải lương hay Hồ Quảng về trình diễn, làm nghẽn cứng cả xe cộ lưu thông vào những giờ sắp mở màn hay vãn hát.

Nếu Sài Gòn có Casino Saigon thì Tân Định cũng có Casino Dakao. Tuy không nổi tiếng bằng người anh em bà con ở đường Pasteur nhưng rạp Casino Đa Kao trên đường Đinh Tiên Hoàng tương đối khang trang, phim khá chọn lọc, giá cả lại nhẹ nhàng và địa điểm lại rất thuận tiện vì nằm gần Cầu Bông. Cũng vì lý do đó, Casino Dakao sau này đổi tên là rạp Cầu Bông.

9 rap cine 12Lại nói thêm, ngay bên cạnh Casino (Saigon) có hẻm Casino nổi tiếng không kém gì rạp xi-nê Casino. Phim chiếu ở Casino có thể dở hoặc hay tùy theo sở thích của người xem nhưng có điều ghé vào hẻm Casino người ta sẽ hài lòng với các món ‘khoái khẩu’ mang hương vị đất Bắc. Chủ nhân của các quán trong hẻm Casino đa số là dân ‘Bắc kỳ di cư’ nên có những món ‘tuyệt cú mèo’ như bún chả, bún thang, bún riêu, bánh tôm và dĩ nhiên là phở… Các quán tại đây không thuộc loại sang nhưng giá tiền lại hơi đắt, có lẽ vì nằm ngay trung tâm Sài Gòn. Tài tử, giai nhân thường ‘chui’ vào đây để thưởng thức những món ‘đặc sản’ phương Bắc !

MajesticĐường Cao Thắng có rạp nhỏ mang tên Đại Đồng, chuyên chiếu phim cũ nhưng khá chọn lọc, giá cả thật nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện. Hơn nữa, gần rạp này còn có nhiều quán ăn bình dân như bò viên, bò bía nên khi tan xuất hát có thể ghé vào đây kiếm món gì đó cho ấm bụng.

Xin nhắc các đấng mày râu, hẻm Đại Đồng còn có khu ‘chị em ta’ nên có thể… một công đôi việc ! Gần đó còn có rạp Việt Long cũng nằm trên đường Cao Thắng, sau này sửa sang lại khá khang trang, lịch sự mang tên Văn Hoa Sài gòn, sau 30/4/75 đổi thành tên rạp Thăng Long.

Ôi, rạp xi-nê Sài Gòn xưa còn nhiều lắm. Chỉ nội việc kể tên hơn 60 rạp chiếu phim cũng đã thấy mệt chứ nói gì đến tận nơi để xem phim. Có lẽ không người Sài Gòn nào dám tự hào đã đến hết các rạp xi-nê trên đất phồn hoa đô hội này !

Yên Huỳnh post (theo Nguyễn Ngọc Chính)

(*) Dalida không trình diễn tại Eden mà tại rạp Đại Nam, sau có Johnny Halyday (chồng Sylvie Vartan) trình diễn tại rạp Nguyễn văn Hảo. Cả hai ca sĩ được Trung Tâm Văn Hóa Pháp tại Sài Gòn thời Đệ Nhị Cộng Hòa đứng ra tài trợ.

Một danh sách xếp theo thứ tự alphabet dưới đây sẽ nói lên sự phong phú của của các rạp xi-nê Sài Gòn.

Khu vực Sài Gòn:

A 1/- Alhambra (đường Nguyễn Cư Trinh); 2/- Alliance Française (đường Đồn Đất, nay là Trung tâm Chiếu phim Fafilm); 3/- Aristo (đường Lê Lai, Đoàn Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô, Kim Chung); 4/- Asam (đường Đinh Tiên Hoàng, đã bị xóa sổ)

C 5/- Casino Đa Kao (đường Đinh Tiên Hoàng); 6/- Casino Sài Gòn (đường Pasteur, tên mới là Vinh Quang nhưng nay vừa bị đập bỏ); 7/- Ca Thay (đường Nguyễn Công Trứ, đã bị xóa sổ); 8/- Catinat (đường Nguyễn Huệ, sau này là vũ trường Đêm Màu Hồng); 9/- Cầu Muối (khu Cầu Ông Lãnh – Cầu Kho, chuyên hát bội, Hồ Quảng của đoàn Minh Tơ với gia đình Bạch Lê)

Rap Thang Long

D & Đ 10/- Diên Hồng (rạp Long Xương cũ, đường Calmette); 11/- Đại Đồng (đường Cao Thắng); 12/- Đại Nam (đường Trần Hưng Đạo, nay là khách sạn Đại Nam),

E 13/- Eden (Trung tâm Thương mại Eden, đã bị xóa sổ);

H 14/- Hùng Vương (đường Lê Hồng Phong, quận 10 ngày nay), 15/- Hưng Đạo (đường Nguyễn Cư Trinh, góc Trần Hưng Đạo);

Vinh LoiK 16/- Khải Hoàn (đường Cống Quỳnh-Nguyễn Trãi); 17/- Kinh Đô (đường Lê Văn Duyệt, nay là đường Cách mạng tháng 8, đã bị xóa sổ) 18/- Kinh Thành  (đường Hai Bà Trưng, đã bị xóa sổ); 19/- Kim Châu (đường Nguyễn Thái Bình)

L 20/- Lê Lợi  (đường Lê Thánh Tôn, đã bị xóa sổ); 21/- Long Phụng (đường Gia Long, ngày nay là Lý Tự Trọng); 22/- Long Vân (nay là Nhà Văn hóa Sinh viên, đường Điện Biên Phủ), 23/- Long Thuận (góc Trưong Định – Nguyễn An Ninh); 24/- Lê Ngọc (đường Nguyễn Cư Trinh, góc Trần Hưng Đạo)

M 25/- Mini Rex (2 rạp A & B, đường Nguyễn Huệ, đã bị xóa sổ); 26/- Moderne (Tân Định, đã bị xóa sổ); 27/- Majectic (bến Bạch Đằng – Tự do)

N 28/- Nam Quang (góc Cách Mạng Tháng Tám và Võ Văn Tần ngày nay), 29/- Nguyễn Văn Hảo (đường Trần Hưng Đạo, chuyên diễn cải lương, nay là rạp Công Nhân – Nhà hát Kịch Thành phố); 30/- Norodom (đường Thống Nhất, sau đổi tên là Lê Duẩn, hiện là Trung tâm Sổ số Kiến thiết)

O 31/- Olympic (đường Hồng Thập Tự, nay là Trung tâm Văn hóa, đường Nguyễn Thị Minh Khai);

Q 32/- Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi, nay là Trung tâm Tiệc cưới Quốc Thanh);

R 33/- Rạng Đông (trước là rạp Hồng Bàng đường Pasteur, đã bị xóa sổ); 34/- Rex (đường Nguyễn Huệ, nay là khách sạn Rex);

T 35/- Thanh Bình (đường Phạm Ngũ Lão, sau đổi là Quốc Tế, ngày nay là chung cư); 36/- Thanh Vân (đường Lê Văn Duyệt, ngày nay là Cách Mạng Tháng Tám);

V 37/- Văn Hoa (đường Trần Quang Khải, còn có tên Văn Hoa Dakao, tên cũ: Thành Xương); 38/- Việt Long (đường Cao Thắng, sau đổi tên thành Văn Hoa Sài Gòn, nay là rạp chiếu phim Thăng Long); 39/- Vĩnh Lợi (đường Lê Lợi, nay là trung tâm thương mại)

Phim

Trong danh sách này còn thiếu rạp chiếu bóng trong khu Dân sinh (đường Ký con) và một rạp cạnh Diên Hồng nguyên là một đình thần (đình Cầu Quan) do đoàn Đồng Ấu Khánh Hồng đóng đô (với cặp Bửu Truyện – Kim Mai), biểu diễn hàng đêm như rạp bên đình Cầu Muối cũng chuyên về tuồng cổ và Hồ Quảng.

Khu vực Gia Định: 

A 1/- Cẩm Vân (quận Phú Nhuận);

C2/- Cao Đồng Hưng (Bạch Đằng, ngày nay là nhà sách thiếu nhi FAHASA);

Đ 3/- Đại Đồng  (đường Nguyễn Văn Học, nay là Nơ Trang Long, Bình Thạnh); 4/- Đồng Nhi (đường Lê Quang Định, đã bị xóa sổ); 5/- Đại Lợi (Chợ Ông Tạ, nay là Phạm Văn Hai)

Rap cine 1

H 6/- Huỳnh Long (nay Vũ Tùng, bên hông chợ Bà Chiểu, đã xóa sổ)

L 7/- Lạc Xuân (quận Gò Vấp);

V 9/- Văn Cầm (quận Phú Nhuận), 10/- Văn Lang (sau đổi Minh Châu đường Trương Minh Giảng, nay là đường Lê Văn Sỹ);

Khu vực Chợ Lớn:

C 1/- Cây Gõ (Bình Tiên cũ, đường Minh Phụng);

Đ 2/- Đại Quang (đường Châu Văn Liêm); 3/- Đô Thành (sau này là Hướng Dương, bên hông chợ Kim Biên gần cầu Ba Cẳng)

H 4/- Hào Huê (nay là Nhân Dân); 5/- Hoàng Cung; 6/- Hồng Liên;

K 7/- Khá Lạc (đường Nguyễn Tri Phương);

L 8/- Lệ Thanh (2 rạp A & B) 9/- Lido (đường Đồng Khánh);

Quoc ThaiM 10/- Minh Phụng; 11/- Mỹ Đô (tên cũ Thành Chung, Vườn Lài);

O 12/- Oscar (đường Trần Hưng Đạo B);

P 13/- Palace (nay là Đống Đa); 14/- Phi Long (đổi tên Xóm Củi)

Q 15/- Quốc Thái (đường 3/2)

S 16/- Sao Mai (đường Triệu Quang Phục)

T 17/- Thủ Đô (Châu Văn Liêm)

V 18/- Victory Lê Ngọc (nay là Toàn Thắng trên đường Châu Văn Liêm)

Lê Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

Ghi chú : có sửa lại cho đúng

LỌ LEM SÀI GÒN

Logo nhan vat

Thai Thanh 2NỮ CA SĨ THÁI THANH

TIẾNG HÁT VƯỢT THỜI GIAN

Thái Thanh (sinh năm 1934) là một nữ ca sĩ nổi tiếng, được mệnh danh “tiếng hát vượt thời gian”. Thành danh ở Sài Gòn  từ cuối  thập niên 50 thế kỷ trước, tiếng hát Thái Thanh gắn liền với nhạc của Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Cao và nhiều ca khúc tiền chiến khác. Bà đã tạo ra một “trường phái” riêng, ảnh hưởng tới nhiều giọng ca thế hệ sau như Mai Hương, Ánh Tuyết. Bà được xem như một trong những giọng ca tiêu biểu nhất của nền tân nhạc VN.

Nữ ca sĩ Thái Thanh, tên thật Phạm Thị Băng Thanh. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, thân phụ là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm.

Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ  Mai Hương, còn Phạm Đình Viêm tức nam ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long. Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con : trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ Phạm Duy; con trai thứ, nhạc sĩ Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc; và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh.

Thái Thanh bắt đầu sự nghiệp ca hát khi mới 13, 14 tuổi trong những năm kháng chiến chống Pháp, lúc nhỏ bà tự luyện tập giọng hát theo lối chầu văn, hát chèo. Thai Thanh 3 Năm 1951, Thái Thanh cùng gia đình chuyển vào Sài Gòn.

Tên tuổi Thái Thanh trở nên lẫy lừng từ đó cho đến những ngày cuối của miền Nam vào năm 1975. Tiếng hát của bà ngự trị trên khắp các chương trình ca nhạc truyền thanh cũng như truyền hình. Cùng với Thái Hằng, Hoài Bắc, Hoài Trung, Phạm Duy, Khánh Ngọc (vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương) lập nên ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng. Giọng ca Thái Thanh cũng từng gắn bó với vũ trường Đêm Mầu Hồng vào những năm đầu 1970.

Thái Thanh lập gia đình với nam tài tử Lê Quỳnh vào khoảng giữa thập niên 1950, nhưng hai người đã chính thức ly dị khi người con gái đầu lòng là ca sĩ Ý Lan mới được 8 tuổi.

Năm 1985  Thái Thanh rời Việt Nam và định cư tại Mỹ. Tại hải ngoại bà tiếp tục trình diễn (bắt đầu từ đêm diễn Thái Thanh – Đêm Tái Ngộ vào năm 1986) và ghi âm một số CD. Hai con gái của bà là Ý Lan và Quỳnh Hương cũng là những ca sĩ nổi tiếng. Thái Thanh giải nghệ vào năm 2002, nhưng đến năm 2006, bà lại xuất hiện trên sân khấu chương trình “Thái Thanh và ba thế hệ”. Bà có tất cả 5 con – 3 gái, 2 trai – và 12 cháu nội ngoại, bà cho biết sẽ không về Việt Nam an hưởng tuổi già.

Ca khúc thành công của bà như Tình ca, Hòn vọng phu, Hội trùng dương, Con đường cái quan, trường ca Mẹ Việt Nam và nhất là bản Dòng Sông Xanh nhạc Việt Hóa của nhạc sĩ Phạm Duy.

Trước 1975 : Từ khoảng cuối thập niên 1950 đến 1975, Thái Thanh thâu âm rất nhiều trên đĩa than 78 vòng, Thai Thanh 4đĩa nhựa 45 vòng, băng Akai của các hãng đĩa Việt Nam, Tân Thanh, Sơn Ca, Shotguns, Thanh Thúy, Phạm Mạnh Cương, Trường Sơn, Continental, Diễm Ca, Song Ngọc, Nhật Trường, Trường Hải, Nghệ Thuật – Tâm Anh…

Mời các bạn đọc thêm về Thái Thanh trên trang “Một thời Sài Gòn” ngày 19/3/2011, xin bấm vào đường dẫn sau đây :  Nữ ca sĩ Thái Thanh  Và những nhạc phẩm do Thái Thanh và Ý Lan trình bày :

– Trả lại em yêu :   http://youtu.be/K3AfO5_9n50

– Nụ tầm xuân :   http://youtu.be/N27s9lfynDI

Những phản hồi sau khi nghe Thái Thanh trình bày nhạc phẩm “Kỷ vật cho em”, trong cuốn Băng Vàng Shotguns 1971. Mời đọc :

Thai Thanh 2– Cũng bản nhạc này, lần đầu tiên Thái Thanh hát mở đầu trong cuốn (cassette tape) SHOTGUN 71 ra năm 1971. Với lời giới thiệu mà tôi còn nhớ được là : “Chúng tôi, xin kính gởi đến Quý Vị những bản nhạc Vàng, những giọng ca Vàng để làm thành cuốn Băng Vàng Shotgun 71 “

Bây giờ Thái Thanh ngày cũ đang ở trong nhà-già, và cũng đang bước dần đến sự chết trong Quên Lãng của chính mình và cũng của giới mộ điệu ngày xưa !

– Tuyệt quá, nghe Thái Thanh diễn tả bài này chắc không ai chịu nổi ! Giọng Hà Nội của ngày xưa thanh lịch nghe xong có thể làm mình khóc được, lời thơ LP lại rờn rợn, xót xa ! Một lần nữa, chúng tôi phải nói lên lời tri ân với các anh chiến sĩ đã một thời cho chúng tôi những ngày bình an với sách vở. Riêng với danh ca tài đức Thái Thanh, lòng ngưỡng mộ lớn lao nhất luôn dành cho cô.

Mời nghe nhạc phẩm : – Kỷ vật cho em

http://www.youtube.com/watch?v=pZhCGfXORl4

LỜI BÀN CỦA CAO BỒI GIÀ : nghe lời phản hồi qua nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” của người đọc, khiến Cao Bồi Già nhớ lại :

1/- Từ trước năm 1971, khi ban nhạc Shotguns còn cộng tác với nữ ca sĩ Khánh Ly tại phòng trà Queen Bee trên đường Nguyễn Huệ. Trưởng ban nhạc là nhạc sĩ Ngọc Chánh đã có phát hành vài cuốn băng cũng mang thương hiệu Shotguns, nhưng không thành công. Khi đó có 2 nhà văn nhà báo là Nguyễn Đình Toàn, Quỳnh Như viết lời giới thiệu chủ đề.

Cũng trong năm 1971, sau khi Khánh Ly ra mở phòng trà ca nhạc trên đường Tự Do, thì nơi đây do Thanh Thúy cùng Ngọc Chánh đứng ra khai thác, Tr cao boi gia 1rồi chuyển về phòng trà khiêu vũ trường International Quốc Tế ở mũi tàu Công Lý, Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực. Thời gian này Cao Bồi Già được mời làm cố vấn cho chủ đề các băng nhạc của cơ sở sản xuất băng nhạc Nguồn Sống do nhạc sĩ Ngọc Chánh khai thác, gồm các thương hiệu Shotguns, Thanh Thúy, Chế Linh, Hồn Nước.

Mở đầu cho sự hợp tác “chất xám” này, Cao Bồi Già hãnh diện nói rằng cuốn băng đầu tiên là “Băng Vàng Shotguns” đã được các thính giả ủng hộ nồng nhiệt, có số bán đợt phát hành về tape recorder đã trên 2000 cuốn, còn băng cassette cũng không kém : gần 2000 tape. Là một con số mà các nhà làm băng nhạc thời đó chỉ thấy trong mơ.

Mời đọc thêm bài về NS Ngọc Chánh trên trang “Một thời Sài Gòn” vào ngày 12/1/2010 : Nhạc sĩ Ngọc Chánh

2/- Nói về lời thơ “Kỷ vật cho em” Cao Bồi Già có viết một bài mang tựa “Nghi án Kỷ Vật Cho Em” vào ngày 8/10/2011 trên trang “Một thời Sài Gòn” và nhiều trang blog khác đã lấy tải đăng; và… Linh Phương… vẫn im hơi lặng tiếng “no comment”. Mời đọc bài này theo đường dẫn : Nghi án “Kỷ Vật Cho Em”

Cao Bồi Già (tổng hợp từ  Quế Phượng, Yên Huỳnh)

Ng Viet 12 CÔ BÉ LỌ LEM SÀI GÒN

Chuyện về hai cô gái Sài Gòn trở thành công chúa nước Trung Phi

Đây là một bài mới đây (3/5/2013) được đăng nhiều kỳ trên báo Lao Động, người viết lấy từ tư liệu của báo Trắng Đen xuất bản vào năm 1972 tại Sài Gòn, do chính Cao Bồi Già là người trực tiếp tiếp xúc đầu tiên với gia đình bà Nguyễn Thị Huệ mẹ của Martine Bokassa.

Mời các bạn đọc bài đăng 2 kỳ vào ngày 11/1/2013 trên trang nhà (trước đó được post trên Văn Nghệ người Sài Gòn vào tháng 6/2009 và trên Một thời Sài Gòn tháng 8/2010), xin bấm vào đường dẫn :

ĐI TÌM CON GÁI TT BOKASSA (1/2)

ĐI TÌM CON GÁI TT BOKASSA (2/2)

Nguyễn Việt

Vào năm 1972, Tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi (sau là Vương quốc Trung Phi) thông báo tìm đứa con rơi thời ông đi lính lê dương ở Sài Gòn. Một cô gái lai ở Sài Gòn tên là Baxi được đưa sang Trung Phi.

4 Bokassa 1Một thời gian sau, một người con gái lai khác tên là Nguyễn Thị Martine được xác định mới đúng là “cô công chúa” mà ngài Tổng thống Trung Phi cần tìm. Và, cả 2 cô gái Sài Gòn đều được nhận làm công chúa.

Tổng thống tìm con

Vào năm 1972, Tổng thống nước Cộng hòa Trung Phi Jean Bedel Bokassa nhờ Bộ Ngoại giao Pháp tìm kiếm giùm ông đứa con rơi đang thất lạc tại Sài Gòn, kết quả của mối tình giữa ông thời đi lính lê dương với một cô gái Sài Gòn. Những người có trách nhiệm của chính quyền Sài Gòn thời ấy đã cất công đi tìm, cuối cùng đưa được một cô gái lai tên Baxi, con của bà Ba Thân ở Xóm Gà, Cây Quéo – Gia Định, giao cho Bộ Ngoại giao Pháp đem về Trung Phi. Tổng thống Bokassa đã tổ chức tiệc ăn mừng rất lớn để đón đứa con lưu lạc gần 20 năm.

Thông tin về việc Tổng thống Bokassa tìm được đứa con rơi ở Sài Gòn đã được báo chí ở đây đưa tin trang trọng. Ngay tức thì, có một người khách tới tòa soạn báo Trắng Đen xin gặp ông chủ nhiệm Việt Định Phương. 9 Bokassa 2Người khách tự xưng là cậu ruột của cô gái lai tên Nguyễn Thị Martine – đứa con đích thực của ngài Tổng thống Trung Phi. Bằng sự nhạy bén nghề nghiệp, chủ nhiệm tờ báo đã phân công một dàn phóng viên hùng hậu vào cuộc. Câu chuyện tình yêu của anh lính lê dương Bokassa và cô thôn nữ Nguyễn Thị Huệ đã được các phóng viên thể hiện thành bài điều tra nhiều kỳ trên báo. Số lượng phát hành của báo Trắng Đen tăng vùn vụt sau từng số báo, trở thành tờ báo có số lượng phát hành cao nhất Sài Gòn.

Chuyện tình anh lính lê dương

Jean Bokassa đi lính cho Pháp từ năm 18 tuổi, lúc nước Trung Phi còn là thuộc địa của Pháp. Bokassa theo đội quân lê dương có mặt tại nhiều nước trước khi đến Việt Nam vào năm 1953. Bokassa mang lon trung sĩ nhất đóng tại Chánh Hưng, Sài Gòn (quận 8 bây giờ). Có thời gian Bokassa được tăng cường về Biên Hòa làm nhiệm vụ gác cầu ở Cù Lao Phố (cầu Gành). Hồi đó, những làng mạc xa xôi hẻo lánh, người dân rất sợ đoàn quân “Tây đen mặt gạch”, phụ nữ không may gặp họ trên đường hành quân thì coi như hết đời.  Nhưng ngay giữa thành phố hay những nơi thị tứ đông người thì người dân không sợ đám lính đánh thuê này. Mấy người lính Tây đen có nhiệm vụ canh giữ cầu Gành trên mảnh đất Cù Lao Phố không dám giở thói côn đồ, họ có vẻ hiền từ. Bokassa là người hiền nhất trong đám lính gác cầu Gành. Hồi đó, ở gần cầu Gành có một cái phôngtên nước công cộng để người dân trong vùng đến hứng gánh về dùng.

9 Bokassa 7Trong xóm đầu cầu ngày đó có người con gái tên là Nguyễn Thị Huệ chuyên gánh nước mướn. Sau giờ “gác cầu”, Bokassa lê la đến bên vòi nước phôngtên công cộng để “tán gái” theo bản năng. Phụ nữ Việt Nam thời ấy rất sợ lính “Tây đen”, nên khi thấy Bokassa lởn vởn ngoài phôngtên là các cô trốn biệt, không dám gánh nước. Ban đầu cô Huệ cũng trốn biệt khi thấy “Tây đen” ngoài chỗ lấy nước, nhưng rồi vì chén cơm manh áo, người mướn cứ thúc giục, nên cô Huệ “đâm liều” đến chân cầu Gành lấy nước. Bokassa tập tành nói tiếng Việt với cách phát âm lơ lớ, làm cô Huệ phải phì cười. Chàng lính lê dương cười theo, nhe hàm răng trắng phau.  Dần dà, những cử chỉ ngô nghê, vụng về của anh lính da đen làm cho cô Huệ thấy có cảm tình hơn là sợ sệt. Rồi cô dạy cho Bokassa nói tiếng Việt. Cô không còn cảm thấy ngượng ngùng mỗi khi đối diện với anh lính da đen này nữa mà trái lại – mỗi khi quảy đôi thùng ra phôngtên gánh nước, cô có ý trông chờ gặp mặt anh lính Châu  Phi.

Bokassa cũng biết cách “galăng”,  khi thì mua tặng cho cô Huệ cái khăn, khi thì chai dầu thơm, lúc thì khúc vải để may quần áo… Cũng có khi anh tặng cho cô tiền mà cô phải gánh nước hàng tuần mới có được. Việc gì đến phải đến, một ngày cuối tuần Bokassa đón cô Huệ về Sài Gòn… Kết quả của cuộc tình Phi -Việt này làm cho cô Huệ mang thai. Cha cô Huệ không chịu nổi chuyện ấy, bỏ nhà ra đi. Chỉ tội nghiệp mẹ cô Huệ, nước mắt rơi từng hạt, bà chết lặng không nói được câu nào.

Cô Huệ không có một lời nào để thanh minh, cô bật khóc và ôm chầm lấy người yêu, Bokassa lặng lẽ lấy khăn tay lau nước mắt cho người tình.  Họ rời khỏi nhà cha mẹ cô Huệ như một cuộc trốn chạy… tủi hổ, vội vàng. Sau đó hai người về xã Tân Thuận Đông, quận Nhà Bè, một xã vùng ven Sài Gòn thời đó, nơi đơn vị của Bokassa đóng quân. Họ mướn nhà ở đây và sống với nhau như hai vợ chồng. 9 Bokassa 9Tình nghĩa vợ chồng đang hương lửa mặn nồng bỗng chốc biệt ly, mỗi người một ngả – Bokassa chia tay với người vợ trẻ đang mang thai để trở về cố quốc bởi quân đội Pháp đã hoàn toàn thảm bại tại chiến trường Việt Nam.

Công chúa bốc vác

Sau cuộc chia tay đẫm nước mắt với chồng, cô Huệ một mình lủi thủi trong căn nhà vắng lặng ở Tân Thuận Đông mặc cho xung quanh bao lời gièm pha, chê trách. Gần tới ngày sinh nở, tinh thần cô Huệ càng suy sụp hơn, cô quyết định quay về với mẹ. Đó là một ngày tháng 10/1954, cô Huệ trở về nhà cha mẹ với một hình hài ốm xanh, bụng căng to, sắp đến ngày sinh nở. Mới có mấy tháng mà cha cô vì nhớ thương cô nên già khọm đi trông thấy, ông ôm đứa con gái vào lòng, nước mắt của người cha già chảy dài xuống mái tóc của cô. Mẹ cô thì vui mừng khôn xiết, đã bao ngày bà tưởng cô không bao giờ trở về căn nhà này nữa, bởi bà nghe nói: Pháp thua trận, Tây trắng, Tây đen đem vợ con xuống tàu chạy trốn hết rồi. Rồi đứa bé gái chào đời, mình mẩy đen nhẻm, mái tóc xoăn tít, đôi môi dày… giống hệt Bokassa.

Cô Huệ cho con mang họ mẹ, nhưng nhớ lời người chồng dặn dò trước lúc chia ly, cô đặt tên cho con là Nguyễn Thị Martine. Sau khi sinh nở, hoàn cảnh của hai mẹ con cô Huệ càng lúc càng túng quẫn hơn. Số tiền của Bokassa để lại cho cô theo ngày tháng cứ cạn dần rồi hết hẳn. Cha mẹ của cô rất thương cháu ngoại, nhưng sức già lực yếu, hai ông bà chỉ có tình thương và… nước mắt.  Thời gian này hoàn cảnh hai mẹ con cô Huệ thật bi đát, cô phải  thức khuya dậy sớm, làm đủ mọi công việc để có tiền nuôi con. Nơi ăn chốn ở cho bé Martine hoàn toàn không ổn định, cô đi làm ở đâu thì tha con bé đi theo đó – khi thì về Gia Định, lúc xuống Thủ Đức, có lần cô bồng Martine về nhà bà con ở tận Sa Đéc để làm ruộng.

9 Bokassa 15Mặc cảm vì màu da và những đường nét trên gương mặt càng làm cho Martine ít nói. Vì sinh kế gia đình, Martine theo mẹ đến sinh sống tại chợ Nhỏ, Thủ Đức.  Cô làm đủ thứ nghề để phụ giúp mẹ – từ bán báo, đậu phộng, bánh mì, trà đá…, dù vất vả khổ cực đến đâu Martine cũng cố gắng vượt qua. Cô từng nghe mẹ nói: “Ngày lên tàu để rời khỏi Việt Nam, ba và má khóc hết nước mắt, ba của con vét hết túi tiền đưa cho má để dành chờ ngày sinh con. Ba con hứa sẽ trở lại Việt Nam để đón mẹ con mình”.

Đầu năm 1972, Martine 18 tuổi, cô làm bốc vác cùng đám đàn ông ở nhà máy ximăng Hà Tiên, một công việc mà đàn ông sức vóc đôi khi còn ngán ngẩm. Một ngày cuối năm 1972, khi đang bốc vác, Martine nghe người cậu kêu : “Đi về thay đồ, chuẩn bị đi gặp ba mày là tổng thống…”.

TT Bokassa

Năm 1966, Bokassa mang quân hàm trung tá, cầm đầu một binh đoàn lật đổ Tổng thống D.Dacô. Ông tự phong cho mình làm Chủ tịch Hội đồng Cách mạng, Tổng Tư lệnh Quân đội, xóa bỏ hiến pháp để quân đội hoàn toàn nắm quyền hành cai trị đất nước. 9 Bokassa 12Năm 1968, dưới áp lực quốc tế, Bokassa tổ chức bầu cử tổng thống, ông trở thành vị tổng thống thứ hai của nước Cộng hòa Trung Phi. Cuối năm 1976, Bokassa tuyên bố giải tán chế độ cộng hòa để lập nên Vương quốc Trung Phi, tự xưng mình là Hoàng đế Bokassa đệ nhất. Năm 1979, Hoàng đế Bokassa bị chính con rể (phò mã, đại úy Fidel Obrou – chồng của Baxi) hạ bệ, ông ta phải ra nước ngoài lánh nạn. Ông mất năm 1996, để lại 13 người vợ và 54 người con.

Năm 1966, Bokassa mang quân hàm trung tá, cầm đầu một binh đoàn lật đổ Tổng thống D.Dacô. Ông tự phong cho mình làm Chủ tịch Hội đồng Cách mạng, Tổng Tư lệnh Quân đội, xóa bỏ hiến pháp để quân đội hoàn toàn nắm quyền hành cai trị đất nước. Năm 1968, dưới áp lực quốc tế, Bokassa tổ chức bầu cử tổng thống, ông trở thành vị tổng thống thứ hai của nước Cộng hòa Trung Phi. Cuối năm 1976, Bokassa tuyên bố giải tán chế độ cộng hòa để lập nên Vương quốc Trung Phi, tự xưng mình là Hoàng đế Bokassa đệ nhất. Năm 1979, Hoàng đế Bokassa bị chính con rể (phò mã, đại úy Fidel Obrou – chồng của Baxi) hạ bệ, ông ta phải ra nước ngoài lánh nạn. Ông mất năm 1996, để lại 13 người vợ và 54 người con.

Yên Huỳnh post (theo Hoàng Tưbáo Lao Động)

5 Nguoi dep 1GWYNETH PALTROW

NGƯỜI PHỤ NỮ ĐƯỢC YÊU & GHÉT

Vượt qua cả Jennifer Lopez, Gwyneth Paltrow trở thành người phụ nữ đẹp nhất thế giới 2013 do tạp chí People bình chọn.

Từng giành giải Oscar ở hạng mục “Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất” năm 1998 với vai diễn chính trong bộ phim “Shakespeare in Love” của đạo diễn John Madden, hình ảnh của Gwyneth Paltrow đã được đưa đến gần hơn với công chúng. Không dừng lại ở đó, cũng với vai diễn đó, Gwyneth Paltrow đã giành được giải Qủa cầu vàng với hạng mục tương tự ở thể loại phim nhạc kịch.

Mới đây nhất, Gwyneth Paltrow đã “đánh bật” được các tên tuổi khác như Jennifer Lopez, Kerry Washington,…để trở thành người phụ nữ đẹp nhất thế giới năm 2013 do tạp chí People bình chọn. Chia sẻ cảm xúc của mình, nữ diễn viên “Người thép” cho biết : “Tôi cảm thấy khá bất ngờ khi nhận được danh hiệu này. Tôi thấy mình đẹp nhất mỗi khi ở nhà. Những lúc đó, tôi thường mặc quần jeans, áo thun và tất nhiên là… không trang điểm”.

Được biết, Gwyneth Paltrow khá nghiêm khắc với bản thân mình trong chế độ ăn uống và tập luyện thể thao mỗi ngày : “Tôi đã không ăn thịt đỏ trong vòng 20 năm nay và chỉ ăn những đồ ăn có nguồn gốc từ các cửa hàng cao cấp để đảm bảo sức khỏe và trẻ lâu”.

5 Nguoi dep 2Mặc dù được đánh giá cao ở khả năng diễn xuất cũng như ngoại hình xinh đẹp, gương mặt ưa nhìn nhưng dường như Gwyneth Paltrow vẫn không được khán giả yêu mến. Bởi lẽ, lối sống thực dụng của ngôi sao phim “Người sắt” đã khiến nhiều người cảm thấy e ngại khi tiếp xúc với cô. Gwyneth Paltrow hiện đang sống hạnh phúc bên người chồng là Chris Martin cùng hai con là Apple, 8 tuổi và Moses, 7 tuổi./.

Danh sách những người phụ nữ đẹp nhất thế giới 2013

1/- Gwyneth Paltrow – 2/. Kerry Washington – 3/. Amanda Seyfried – 4/. Zooey Deschanel – 5/. Jane Fonda – 6/. Jennifer Lawrence – 7/. Kelly Rowland – 8/. Halle Berry – 9/. Drew Barrymore – 10/. Pink

Và cũng bị ghét nhất ở Hollywood

Gwyneth Paltrow cũng đã dẫn đầu danh sách ngôi sao bị ghét nhất ở Hollywood do tạp chí Star bình chọn, trong danh sách top 20 nghệ sỹ bị ghét nhất :

20/. Chris Brown – 19/. Jesse James – 18/. Taylor Swift – 17/. Shia LaBeouf  – 16/. Lindsay Lohan – 15/. Angelina Jolie – 14/. Jay Leno – 13/. Ashton Kutcher – 12/. LeAnn Rimes –5 Nguoi dep 3 10 và 11/. Kris Jenner và Kim Kardashian – 9/. Anne Hathaway – 8/. Justin Bieber – 7/. Madonna – 6/. Matt Lauer – 5/. Katherine Heigl – 4/. John Mayer – 3/. Jennifer Lopez – 2/. Kristen Stewart – 1/. Gwyneth Paltrow

Gwyneth Paltrow mua biệt thự 10,45 triệu USD

Gwyneth Paltrow và chồng là Chris Martin vừa dành 10 triệu USD để nắm quyền sở hữu căn biệt thự hoành tráng ở Los Angeles, Mỹ. Mặc dù chủ cũ đã đòi 11,96 triệu USD cho căn nhà này nhưng giá chốt, cặp vợ chồng nữ minh tinh này phải trả chỉ là 10,45 triệu USD. Với khối tài sản “khủng” 114 triệu USD như hiện nay, việc mua ngôi nhà này không có gì quá khó khăn đối với họ.

5 Nguoi dep 4Hiện Gwyneth Paltrow và Chris Martin vẫn đang sống ở Anh nhưng có thể thời gian tới họ sẽ chuyển sang Mỹ để sinh sống.

Căn biệt thự mới của Gwyneth Paltrow và Chris Martin có 6 phòng ngủ và 8 phòng tắm, chủ yếu được sử dụng gam màu sáng gồm có sân nhỏ, khu vườn rộng xanh mát và đầy đủ tiện nghi.

Mai Trung Tín post (theo Kim Dung/ Dailymail)

NGHỆ SĨ DIỆU HIỀN

Tr cai luongNỮ NGHỆ SĨ DIỆU HIỀN  

Đệ nhất đào võ sân khấu cải lương   

Trên sân khấu cải lương miền Nam, tài năng ca diễn của một số nghệ sĩ đã mang đến cho họ những mỹ danh bất tử, mà mỗi khi nhắc đến mỹ danh này, thì người ta không thể nghĩ đến một nghệ sĩ nào khác. Như danh hiệu “vua ca vọng cổ” thì dành cho Út Trà Ôn, “Nữ vương Sầu Nữ” dành cho Út Bạch Lan, “Nữ hoàng sân khấu” dành cho Thanh Nga …

Trong những thập niên 1960, đã xuất hiện một phong cách ca diễn cũng tạo được “thương hiệu” riêng cho mình, đó là nữ nghệ sĩ Diệu Hiền. Với lối ca diễn mạnh mẽ rất « võ tướng », Diệu Hiền có thể được xem là “Đệ nhất đào võ của sân khấu cải lương”.

Từ tuổi thơ gian khó …

Tuổi thơ của Diệu Hiền cũng giống như đa số nghệ sĩ cải lương thế hệ vàng, là “ba chìm bảy nổi”. Tuy nhiên, trường hợp của Diệu Hiền có thể được xem là đứng đầu trong cái gọi là “ba chìm bảy nổi” đó. Diệu Hiền tên thật là Lâm Thị Hiền, sinh năm 1945 tại Bạc Liêu, trong một gia đình có 7 người con. Diệu Hiền là con thứ 5 trong gia đình theo cách gọi của người miền Nam. Người ta nói giọng ca của Diệu Hiền “lạ”, nhưng khi tìm hiểu về cuộc đời cô, ta thấy rằng cái “lạ” đã xuất hiện khi bé Hiền mới chào đời, đó là : bé Hiền đặc biệt khóc nhiều.

9 Dieu Hien AChưa đầy 5 tuổi, Hiền đã mất cha. Mẹ Hiền muốn lên Sài Gòn kiếm sống, nên đã định gửi các con lại cho hai bên nội ngoại nhờ nuôi dưỡng. Nhưng vì bé Hiền khóc nhiều quá nên không ai dám nhận, và thế là nhờ khóc nhiều mà Hiền được theo mẹ lên Sài Gòn.

Nhưng lên Sài Gòn nào có sung sướng gì với cái cảnh mẹ góa con côi tha phương cầu thực. Mẹ con Hiền phải lang thang làm mướn làm thuê kiếm sống. Nhưng, mỗi khi xin vào giúp việc cho một gia đình nào đó, thì mấy bữa mẹ con Hiền lại bị đuổi vì Hiền khóc dữ quá chủ nhà không chịu được. Thế là hai mẹ con dắt dìu nhau ngày đi làm thuê làm mướn, tối ngủ dạ cầu. Mà ngủ dạ cầu cũng nào có yên đâu, bởi phần thì bị chính quyền nhắc nhở, phần thì bị những người lang thang khác giành chỗ ngủ. Diệu Hiền kể có khi mẹ cô còn bị nắm đầu đánh bởi những người cùng cảnh ngộ mà không biết đùm bọc lẫn nhau.

Thế rồi, số phận đẩy đưa, mẹ Hiền chấp nối với một người đàn ông nghèo góa vợ. May mắn cho bà, người này thương bà thật lòng, nên đã không ngại nuôi dưỡng các con bà. Mẹ Hiền rất mê cải lương, mỗi tối bà ngồi nghe ké đài phát thanh phát ra từ hàng xóm. Ba dượng của Hiền thương vợ, mới dành dụm tiền mua cho bà một chiếc vé hạn chót (mà hồi trước gọi là hạng cá kèo) để đi coi cải lương. Năm đó được 9 tuổi, Hiền theo mẹ đi coi hát. Lần đó hai mẹ con xem tuồng “Lòng mẹ Việt Nam”, sau này gọi là “Tình Mẫu Tử”, với hai giọng ca trứ danh của thập niên 1950 là Út Trà Ôn và Cô Ba Kim Anh. Và như vậy, Hiền bắt đầu thấy thích cải lương, và bắt đầu nuôi mộng đi hát cải lương.

…. Đến nghệ danh Diệu Hiền

Từ năm 9 tuổi, Hiền bắt đầu ngày nào cũng xin mẹ đi theo đoàn hát, nhưng người mẹ vốn không muốn xa con nên không đồng ý. Hiền kiên trì xin mẹ đến năm 14 tuổi. 9 Dieu Hien 1Một hôm, mẹ Hiền giận quá mới lấy quần áo đuổi Hiền theo gánh hát. Sau này, Diệu Hiền tâm sự, khi ấy, cô biết do mẹ giận lẫy mới làm vậy, nhưng cô đã tranh thủ cơ hội đó lấy quần áo vội vàng chạy đi vì sợ chậm tay mẹ sẽ đổi ý. Thế là cô bé Lâm Thị Hiền bắt đầu cắn răng xa mẹ để theo đuổi niềm đam mê cải lương, cũng là hy vọng kiếm tiền giúp mẹ đỡ bề cực khổ.

Hồi trước, các đoàn hát thường đi lưu diễn ở khắp nơi. Khi ấy người ta gọi là “Gánh hát” hay “Ghe hát”, bởi đoàn hát nào cũng di chuyển bằng ghe trên sông, nơi nào có chợ là dừng bến dựng rạp, có hát thì mới có tiền mua gạo cho anh em nghệ sĩ và công nhân hậu đài ăn, sau khi hát xong thì các vị ‘‘vua chúa công hầu’’ trên sân khấu cởi bỏ trang phục treo võng tòng teng dưới sân khấu mà ngủ. Thế là, cô bé Lâm Thị Hiền đã bắt đầu sống cái cảnh gạo chợ nước sông như vậy từ năm 14 tuổi.

Nghệ danh Diệu Hiền không phải do cô tự chọn mà là do khán giả tặng cho, nó đánh dấu tên tuổi của nghệ sĩ Diệu Hiền được khẳng định trong lòng người mộ điệu. Số là, khi mới đi hát, vì mê giọng ca của Vua Xàng Xê Minh Chí, nên Lâm Thị Hiền xin được đặt nghệ danh là Minh Hiền. Vào khoảng năm 1960, tại đoàn hát Hoa Sen của ông bầu Cao, trong một lần diễn ở Đà Lạt với vở Hoa Tàn Trong Am Vắng, anh kép Mộng Vân (con trai của soạn giả Mộng Vân Tử) đến giờ diễn mà chưa có mặt, nên soạn giả Hoàng Khâm mới đề nghị cho Minh Hiền thế vai. Và soạn giả Hoàng Khâm đã sửa vai chú tiểu của Mộng Vân thành ni cô Diệu Hiền để cho Minh Hiền thủ diễn. Không ngờ, sau xuất diễn đó, khán giả không còn nhớ đến cái tên Minh Hiền mà bắt đầu gọi cô là Diệu Hiền. Thế là ông bầu Cao mới treo băng rôn quảng cáo tên cô với nghệ danh Diệu Hiền, và nghệ danh đó gắn với cô cho đến bây giờ.

Triệu Thị Trinh, Bùi Thị Xuân : Hai vai đào võ để đời

Diệu Hiền đã từng đứng chung sân khấu với hầu hết các kép chánh tên tuổi như Út Trà Ôn, Thanh Hải, Minh Cảnh, Tấn Tài, Út Hiền, Minh Phụng, Minh Vương, Hoài Thanh…qua các nhiều đoàn hát như : Hoa Lan – Xuân Liễu, Thống Nhất, Kim Chung, Hương Tràm, Tháp Mười, Sài Gòn 2, Phước Chung… Trên bước đường ca hát, Diệu Hiền may mắn được thụ giáo với những bậc tông sư của cải lương như : Bảy Nhiêu, Năm Châu, Ba Vân, Phùng Há, Tám Vân, Hoàng Nô, Út Trà Ôn, Hoàng Giang … Tuy nhiên, Diệu Hiền đã biết học mỗi “Thầy” một chút, và biến thành cái riêng của mình.

Diệu Hiền cho biết là thường theo dõi, học hỏi cách ca diễn của các nam nghệ sĩ nhiều hơn các nữ nghệ sĩ đi trước. Xem kỹ lại cách ca diễn của Diệu Hiền, ta thấy cô có lối ca hơ hơ ngắt hơi ảnh hưởng của nghệ sĩ Bảy Cao, nhưng cô không ca hơ hơ nguyên xi như ông, mà chất nữ vốn có trong giọng ca của cô đã tạo thành lối vuốt nhẹ, êm, truyền cảm hơn, tạo được nét lạ không trùng lắp. Ta cũng thấy ở Diệu Hiền có lối ca diễn hùng tráng, uy nghi của Vua Xàng Xê Minh Chí, rồi cách vô vọng cổ chồng vút lên của Út Trà ôn, rồi bộ chân, bộ tay thì Diệu Hiền chịu ảnh hưởng nhiều của nghệ sĩ Hoàng Giang. 9 Dieu Hien 2Như vậy, Diệu Hiền đã biết “rút tỉa” tinh hoa của người đi trước, và đã trui luyện, sáng tạo, bổ sung theo cách riêng để biến thành cái riêng của mình, tức thành cái “rất Diệu Hiền”, và chỉ có thể tìm thấy ở Diệu Hiền.

Có lẽ vì cô bị ảnh hưởng nhiều bởi các nam nghệ sĩ, nên phong cách ca diễn của Diệu Hiền rất mạnh mẽ, oai phong, phù hợp với vai đào võ. Thêm vào đó, ta thấy có một điều mà có lẽ tổ nghiệp đã sắp đặt ban cho cô : Diệu Hiền có một bộ dạng mạnh mẽ và một chất giọng bi hùng rất phù hợp với vai đào võ, tức là chỉ mới nhìn bộ tướng, chỉ mới nghe tiếng ca là người ta đã thấy cái chất võ tướng trong đó rồi. Diệu Hiền đã không phụ lòng tổ nghiệp khi đã rất thành công các vai đào võ trong đó có hai vai để đời là vai Triệu Thị Trinh trong vở Nhụy Kiều Tướng Quân, và vai Bùi Thị Xuân trong vở Nữ Tướng Cờ Đào.

Vai nữ tướng Bùi Thị Xuân là một vai khó diễn, khó là bởi vì dù là vai nữ chính, nhưng xem kỹ lại thì rõ ràng là Bùi Thị Xuân hầu như thiếu đất diễn. Không hề có một cảnh tình bi lụy ướt át để khiến khán giả thương hại, hay một trường đoạn kết hợp nhiều bài ca diễn để diễn viên có dịp trổ tài. Hơn nữa, đây lại là một tuồng lịch sử, ca ngợi hai danh tướng Bùi Thị Xuân và chồng bà là tướng Trần Quang Diệu, hai vị đại tướng của Hoàng đế Quang Trung, đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng sau khi Quang Trung mất, và cả gia đình đã bị Nguyễn Ánh xử tử để báo thù. Thường thì các tuồng lịch sử thể loại như thế rất bị bó buộc về nội dung nên thiếu chất lãng mạn, lâu lâu mới có một tuồng lịch sử có đủ chất “mùi” của cải lương như Tiếng Trống Mê Linh hay Nhụy Kiều Tướng Quân. Còn Nữ Tướng Cờ Đào thì ngược lại, thiếu hẳn những tình tiết trữ tình, mà vận hành theo những tình tiết lịch sử có vẻ khô khan.

Bề ngoài là vậy, nhưng nếu người diễn biết đào sâu lịch sử, biết nghiên cứu kỹ tâm lý nhân vật, và đặc biệt là có năng lực ca diễn thật sự, thì những vai như Bùi Thị Xuân lại chính là những vai dễ lấy lòng công chúng bởi đó là vai của một nữ tướng được xem là anh hùng dân tộc. Và có lẽ là tổ nghiệp đã tạo ra một nữ nghệ sĩ Diệu Hiền để cho những loại vai khó diễn như Bùi Thị Xuân.

9 Dieu Hien 3Với phong cách diễn oai phong, bộ tịch uy nghi tự nhiên, Diệu Hiền đã không bỏ sót một chi tiết nào dù là nhỏ nhất để gửi hết tâm hồn vào đó và đã tạo ra một nhân vật Bùi Thị Xuân trên sân khấu oai phong lẫm liệt và hết sức tự nhiên, không hề thấy có sự gượng ép hay cố gắng tỏ ra oai phong nào trong cách diễn. Cái oai phong ở đây được tìm thấy từ những cái phất tay, từ ánh mắt nhìn, và đặc biệt từ giọng nói trời cho đầy sinh lực. Với giọng ca oai hùng nhưng man mác niềm tâm sự đã tạo ra nét bi hùng, và khi cần thiết, Diệu Hiền đã đẩy mạnh chất bi trong giọng ca để tạo ra một Bùi Thị Xuân đầy tình cảm làm rung động lòng người.

Như trong lớp diễn Bùi Thị Xuân một mình qua sông đến trung quân của tướng Vũ Văn Dũng khi tướng này mang quân bao vây kinh thành Phú Xuân và giết chết quan Thái Sư Bùi Đắc Tuyên. Đắc Tuyên vốn là cậu ruột của vua Cảnh Thịnh (Con trai vua Quang Trung), và là chú của Bùi Thị Xuân. Nên khi hay tin bà đến, võ tướng Vũ Văn Dũng không tin là bà đến để giảng hòa, vì ngại bà còn giữ trong lòng mối thù giết chú. Đây là lớp diễn thể hiện tài diễn xuất thượng thừa của Diệu Hiền.

Trong lớp diễn này, Diệu Hiền đã đẩy mạnh chất bi trong giọng ca để tạo ra một cách nói, cách ca đầy tâm sự, chan chứa tình cảm, với mục đích là để cho tướng Vũ Văn Dũng hiểu được tâm ý của bà là vì nghĩa lớn của Tây Sơn mà bỏ qua mọi hiềm khích, tránh chia rẽ để cùng nhau đánh dẹp Nguyễn Ánh.

Diệu Hiền có một giọng cười rất đặc biệt, và khi ca diễn ba điều trách cứ đối với Vũ Văn Dũng, ta thấy Diệu Hiền đã kết hợp nhuần nhuyễn chất oai hùng để thể hiện sự dứt khoát trong cách suy nghĩ, sự chan chứa thâm tình để thể hiện tình đồng đội dưới lá cờ Tây Sơn. Diệu Hiền đã làm cho vai diễn thêm phần sống động với những tiếng cười rất bi hùng và rất “Diệu Hiền”. Tất cả đã khiến cho tướng Vũ Văn Dũng không thể nào không bị thuyết phục cho được.

Qua phân tích bên trên, ta thấy rằng, Diệu Hiền đã thể hiện xuất sắc điều mà tác giả gửi gấm trong vai Bùi Thị Xuân, một cách diễn “rất Diệu Hiền”. Người dàn dựng tuồng này trong những năm 1980 là nghệ sĩ Thanh Tòng đã nhận định: “Bùi Thị Xuân là một vai bình thường, nhưng khi vào tay Diệu Hiền thì nó không còn bình thường nữa”.

9 Dieu Hien 4Đến với vai Triệu Thị Trinh trong vở Nhụy Kiều Tướng Quân, có thể nói rằng, đây là vai khẳng định vị trí số một của Diệu Hiền trong nghệ thuật ca diễn vai đào võ. Tất cả những cái gì đặc trưng của “phong cách ca diễn Diệu Hiền” đều được tìm thấy trong vai diễn này. Đoạn hay nhất trong vở tuồng này được người mộ điệu ngày nay yêu cầu Diệu Hiền diễn đi diễn lại là đoạn Triệu Thị Trinh khóc thương và tuyên thề tiếp tục chiến đấu bảo vệ quê hương trước thi thể của người bạn cũng là thuộc tướng tên là Lê Minh. Vai Lê Minh diễn ăn ý nhất với Diệu Hiền là nam diễn viên Hoài Thanh.

Trước thi thể của Lê Minh, Nhụy Kiều Tướng Quân – Diệu Hiền đã ca hai câu vọng cổ một cách đặc sắc. Trước tiên, Nhụy Kiều Tướng Quân-Diệu Hiền lạy ba lạy và sau đó là thề tiếp tục chiến đấu. Diệu Hiền diễn lúc này không bi lụy, mà trái lại từng ánh mắt, từng điệu bộ, từng cái vẫy tay, từng cái lạy … tất cả điều rất oai phong và uy nghi, nói chung là rất “đào võ”. Bên cạnh sự oai phong đó, Diệu Hiền đã thể hiện nỗi niềm tiếc thương vô hạn đối với tướng Lê Minh bằng một giọng ca được phát huy tối đa chất bi hùng, bằng một giọng cười đầy uất hận. Có thể nói, đây là cách cười độc nhất vô nhị của Diệu Hiền. Người xem cũng cảm thấy con tim quặn thắt cùng Nhụy Kiều Tướng Quân – Diệu Hiền trên sân khấu, nhưng người xem đồng thời cũng được Nhụy Kiều Tướng Quân – Diệu Hiền truyền sang một ngọn lửa sôi sụt câm thù chống ngoại xâm.

Ở đây ta thấy có một sự trùng hợp rất thú vị, đó là Triệu Thị Trinh và Bùi Thị Xuân cả hai đều là nhân vật nữ lịch sử nổi tiếng của Việt Nam, hai vai này lại “lọt vào tay” của cô đào diễn vai đào võ xuất sắc nhất của làng sân khấu cải lương là nghệ sĩ Diệu Hiền, bởi vậy mà hình ảnh đầy thiện cảm của hai vị nữ tướng đã giúp cho Diệu Hiền dễ dàng lấy cảm tình của khán giả, nhưng hai nhân vật quá được lòng dân này cũng gây khó khăn cho Diệu Hiền bởi ca diễn mà không cẩn thận chẳng những không tròn vai diễn, mà còn dễ gây phản cảm đối với khán giả. Thế nhưng, bằng tài năng ca diễn đặc biệt của mình, Diệu Hiền đã thật sự trở nên rất “Diệu Dữ” khi đã biến hai vai diễn nói trên thành vai diễn để đời. Có thể nói rằng, hai nhân vật lịch sử Triệu Thị Trinh và Bùi Thị Xuân đã làm bất tử Diệu Hiền trong lòng người mộ điệu, và chính Diệu Hiền đã làm bất tử hai vai diễn về hai vị nữ tướng này trên sân khấu cải lương.

Một giọng ca “lạ” và “Trường phái Diệu Hiền”

Bàn về giọng ca của Diệu Hiền, ta thấy rằng đây là một giọng ca “lạ”. Ông vua viết lời vọng cổ Viễn Châu cho rằng : “Khi khen một giọng ca, người ta thường khen là giọng ca mùi, ca hay, ca ngọt ngào, ca truyền cảm, nhưng đối với Diệu Hiền thì đây là một giọng ca lạ. Cô ca có vẻ ẩn ức, uất nghẹn, cô đóng rất đạt các vai võ tướng”. Soạn giả Viễn Châu đã rất chính xác khi dùng từ “lạ”, bởi không chỉ đến thời điểm 1960, mà ngay cả đến hiện tại, giọng ca của Diệu Hiền vẫn là độc nhất vô nhị.

9 Dieu Hien 5Đó là một giọng ca cao vút trong trẻo, ca như tiếng nấc, tiếng khóc bật ra từ đáy lòng, những dấu nhấn sắc, hỏi, ngã được Diệu Hiền ca vút lên thật ngọt, thật chín, đặc biệt là những đoạn ngân cuối câu Diệu Hiền hơ hơ một cách “đứt mà không đứt” nghe rất lạ, tạo thành sắc thái riêng của Diệu Hiền.

Trong giọng ca Diệu Hiền, có mấy điểm sau đây cần nhấn mạnh. Thứ nhất, ta thấy nét dễ nhận ra nhất trong lối ca của Diệu Hiền chính là cách ca ngắt chữ trong cách ngân, cách vuốt “đứt dây đờn” những chữ mang dấu sắc, hỏi, nặng, và chính cách ca đánh mạnh vào các dấu này đã tạo nên một cung bậc bổng trầm rõ rệt, nghe thật du dương và rất êm tai. Muốn ca như Diệu Hiền là rất khó, đòi hỏi phải có giọng cao, hơi khỏe và ca ngọt, mùi, đặc biệt là phải chắc nhịp. Về điểm này, ta thấy Diệu Hiền có cách sắp chữ rất đều và chắc nhịp.

Thứ hai, ta thấy rằng, Diệu Hiền vuốt chữ mang dấu nặng khi xuống vọng cổ rất tuyệt. Không phải chỉ có Diệu Hiền mới vuốt dấu nặng khi vô vọng cổ, mà vì cô có chất giọng mạnh mẽ, lạ, nên cô vuốt dấu nặng khi xuống giọng cổ nghe cũng rất lạ, rất hay, nghe rồi không mê là không được. Chẳng hạn như, trong bài vọng cổ Tần Quỳnh Khóc Bạn, khi vô vọng cổ câu 4, Diệu Hiền vuốt chữ “bạn” rất hay: “La Thành ơi, anh trách em ở ăn chi quá nghiệt, nỡ vun gươm giết thác bạn (vuốt)…anh hùng”.

Một điểm đáng chú ý nữa là lối vô vọng cổ rất “lạ” của Diệu Hiền. Như Diệu Hiền đã nói là học cách vô vọng cổ của nghệ sĩ Út Trà Ôn, thế nhưng ta thấy với giọng ca mạnh mẽ, và lối ca nhấn dấu, Diệu Hiền đã tạo được một trường phái riêng của mình, đó là vô vọng cổ tưởng không ngọt mà rất ngọt. Tức là, khi nghe Diệu Hiền vô vọng cổ, ta có cảm giác sợ cô bị nghẽn không xuống ngọt được câu vọng cổ, thế nhưng cô đã điều hơi một cách thần sầu và xuống vọng cổ một cách ngọt như mía lùi.

Trường phái ca nhấn nhá dấu đặc biệt này, lối xuống vọng cổ đặc biệt này ta thấy hậu duệ của Diệu Hiền đến hiện tại có hai người : Trước có Hà Mỹ Xuân, sau có Vũ Linh. Nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân trong những ngày chập chững vào nghề đã được sự chỉ dẫn của nghệ sĩ Diệu Hiền, và Hà Mỹ Xuân cũng có lối ca mạnh mẽ nhấn dấu rất lạ. Còn Vũ Linh cũng đã được Diệu Hiền dìu dắt vào nghề, và anh đã chịu ảnh hưởng nhiều của Diệu Hiền trong cách vuốt những dấu sắc, hỏi, nặng rất tuyệt. Càng về sau, ta thấy Vũ Linh càng áp dụng cách vuốt “đứt dây đờn” này khi ca diễn.

9 SG Vien Chau 3Chấn động làng cổ nhạc với Tần Quỳnh Khóc Bạn và Trụ Vương Thiêu Mình

Mấy năm nay, giọng ca Diệu Hiền lại gây chấn động trong làng cổ nhạc với hai bài vọng cổ Tần Quỳnh Khóc Bạn và Trụ Vương Thiêu Mình của soạn giả Viễn Châu. Bài Tần Quỳnh Khóc Bạn thì kể lại việc Đơn Hùng Tín đi hành thích vua nhà Đường là Lý Thế Dân, bị bắt và xử tử bởi chính những người anh em kết nghĩa mà ông đã từng một thuở cưu mang. Người trực tiếp chém đầu Đơn Hùng Tín lại là võ tướng La Thành, người mà trước đây họ Đơn phải vất vả cưu mang nhiều nhất. Lúc chém Đơn Hùng Tín, thì một trong số những người anh em kết nghĩa là Tần Quỳnh có việc công cán ở xa, nên khi trở về thì Đơn Hùng Tín đã bị giết rồi.

Viễn Châu viết bài Tần Quỳnh Khóc Bạn là để bày tỏ tâm tình của Tần Quỳnh trước cái chết của Đơn Hùng Tín. Đây là một bài ca hay, dù lấy đề tài cổ xưa nhưng rất được yêu thích bởi nó chạm đến một đề tài muôn thuở đó là tình bằng hữu, thêm vào đó là cách hành văn, sắp chữ rất dễ hiểu, dễ ca. Trong bài ca này có hai câu mà soạn giả Viễn Châu và người mộ điệu rất tâm đắc, đó là: “Dù không thương cũng đừng nên hạ thủ, giết kẻ thù chớ giết bạn đành sao?”.

Còn bài Trụ Vương Thiêu Mình thì đề cập đến việc Trụ Vương hoan dâm vô đạo mê đắm Đắc Kỷ dẫn đến họa diệt vong. Viễn Châu nói về tâm tình của vua Trụ khi bị quân khởi nghĩa tứ phía bao vây và phải tự thiêu ở Trích Tinh Lầu.

Cũng như Viễn Châu xác nhận, là hai bài ca này được ông viết để cho những giọng ca nam. Mà dù là giọng ca nam đi nữa, thì thật sự mà nói cần phải có một giọng có đủ chất bi hùng. Ở đây, ta nhấn mạnh từ “có đủ”, bởi dư một chút “bi” cũng không được, mà thừa một chút “hùng” cũng chẳng hay. Một cái khó khác là hai bài ca này bàn đến một câu chuyện quá xa xưa, mà thường thì những đề tài cổ hay được soạn giả chọn cho những từ ngữ và điển tích cổ, rất khó thu hút người nghe, nhất là giới trẻ.

9 Dieu Hien 6Đối với Diệu Hiền, khi thể hiện hai bài ca này, cô chẳng những gặp những cái khó nêu trên, mà cô còn chịu một thử thách khác cũng rất hóc búa, đó là bài Trụ Vương Thiêu Mình là bài ruột của Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, còn bài Tần Quỳnh Khóc Bạn là bài ruột của danh ca Thanh Hải. Hai cái bóng này quả thật quá lớn để khán giả có thể mở lòng chấp nhận một giọng ca khác.

Ấy thế mà Diệu Hiền đã làm được. Với bộ nhịp chắc chắn, với lối ca điêu luyện, với giọng ca và cách ca “lạ” oai hùng mà chứa chan tình cảm, Diệu Hiền đã thể hiện thành công hai bài ca nói trên, được người mộ điệu hoan nghênh nhiệt liệt. Như đã nói, trong bài Tần Quỳnh Khóc Bạn, chỉ nghe Diệu Hiền vuốt chữ “bạn” khi xuống vọng cổ câu 4 là người nghe đủ “lạnh xương sống”. Hay như khi xuống vọng cổ câu 1 của bài Trụ Vương Thiêu Mình, Diệu Hiền cũng vuốt “đứt dây đờn” chữ “vội”: “Trời ơi đám tôi trung đã phản trụ đầu Châu, kéo binh về đây vấn tội. Trong khi Hoàng hậu Tô Nương đã bỏ ta mà vội (vuốt) bôn….đào”. Đặc biệt, trong hai bài ca, Diệu Hiền đã sử dụng rất thành công giọng cười bi hùng rất riêng của cô. Có thể nói, trong làng sân khấu cải lương, chưa thấy có cô đào nào có một kiểu cười và giọng cười đầy chất bi hùng đến như vậy.

Đến hiện tại, sau Út Trà Ôn và Thanh Hải, Diệu Hiền không phải là nghệ sĩ duy nhất thể hiện hai bài ca này. Ấy thế nhưng, để đạt được độ bi hùng già dặn trong giọng ca và điệu bộ thể hiện oai phong như Diệu Hiền thì chưa thấy ai. Nhiều giọng ca khác cũng đã chọn ca bài này, nhưng không phải là họ ca không hay, mà là có người thì ca diễn buồn quá khiến cho người nghe có cảm giác bi lụy, có người thì oai hùng quá mức làm mất chất bi trong bài ca. Với Diệu Hiền thì khác, hai bài ca đã được thê hiện một cách bi mà không lụy, oai phong mà tình cảm.

Và hiện tại, đối với khán giả, mà đặc biệt là giới trẻ, hễ nhắc đến hai bài Tần Quỳnh Khóc Bạn và Trụ Vương Thiêu Mình là nghĩ ngay đến Diệu Hiền, mà hễ nhắc đến giọng ca Diệu Hiền thì nghĩ ngay đến Trụ Vương Thiêu Mình và Tần Quỳnh Khóc Bạn. Chia sẻ về thành công này của Diệu Hiền, soạn giả Viễn Châu cho biết: “Tôi phục tài nghệ của Diệu Hiền khi cô thể hiện 2 bài ca cổ Tần Quỳnh Khóc Bạn và Trụ Vương Thiêu Mình. Thật ra, 2 bài này tôi viết cho kép ca. Thanh Hải và anh Mười Út Trà Ôn là hai nghệ sĩ thể hiện xuất sắc tâm can bài này. Song một ngày, tôi nghe điện thoại của Diệu Hiền: “Thưa thầy, con xin được ca 2 bài đó”. Tôi hỏi: “Cô có kham nổi không?”. Diệu Hiền quả quyết: “Con sẽ ráng”. Quả nhiên, sự mạnh mẽ của Diệu Hiền đã làm tôi kinh ngạc khi nghe những trường độ, cao độ mà cô sắp xếp để nhả chữ, lấy hơi và đưa khí tiết dũng mãnh vào từng câu hò, câu xề của bài vọng cổ”.

Dieu Hien 2Trao gửi nghiệp cầm ca

Tóm lại, nói về Diệu Hiền, ta có thể khẳng định rằng, cô là “Đệ nhất đào võ” của sân khấu cải lương. Chữ “Đào võ” ở đây không hạn chế trong việc đóng vai nữ tướng trên sân khấu, mà ở Diệu Hiền còn được thể hiện qua bộ tướng và giọng ca. Có thể nói rằng, trong hình dáng của cô và giọng ca của cô đã có đầy đủ tố chất nữ võ tướng. Đặc biệt là giọng ca được cho là “lạ” của cô.

Hơn 50 “ăn cơm tổ”, và đến hiện tại Diệu Hiền cũng vẫn còn tiếp tục “ăn cơm tổ” khi thường xuyên tham gia ca hát ở nhiều địa điểm mà không ngại xa xôi. Trong hơn nửa thế kỷ đó, đóng góp của Diệu Hiền cho sân khấu cải lương là vô cùng to lớn, trong đó có hai điểm cần nhấn mạnh: Thứ nhất, Diệu Hiền đã tạo một trường phái riêng góp phần làm phong phú cho sân khấu cải lương, trường phái xin được gọi là “Trường phái Diệu Hiền”, một trường phái rất riêng về giọng ca và cách ca nhấn dấu bổng trầm độc đáo; Thứ hai, đó là Diệu Hiền đã thể hiện được tinh thần “Tre tàn măng mọc” khi luôn có ý thức đào tạo thế hệ kế thừa, mà trong đó hai “đệ tử” thành công nhất của Diệu Hiền, đó là nữ nghệ sĩ Hà Mỹ Xuân và nam nghệ sĩ Vũ Linh.

Tấm lòng này của Diệu Hiền rất đáng được trân trọng bởi nó cần thiết hiện diện ở tất cả nghệ sĩ xưa cũng như nay trong việc trao truyền nghiệp cầm ca. Tinh thần đó của Diệu Hiền có thể được tóm lược qua lời tâm sự của một nhân vật mà Diệu Hiền thủ diễn trong vở cải lương Người Đưa Đò của soạn giả Hoàng Song Việt: “Cha mẹ cho hình hài, những bậc thầy bậc anh bậc chị mỗi người cho một chút nghề là để phục vụ cho khán giả. Chứ đó không phải là tài sản của riêng người nghệ sĩ mà muốn hủy diệt khi nào thì hủy diệt”.

Yên Huỳnh post (theo Lê Phước)