CUỘC TÌNH CỦA NS HỌ TRỊNH

NÀNG BÍCH DIỄM

CỦA TRỊNH CÔNG SƠN

XUẤT HIỆN Ở HUẾ

(vào tháng 3 2017)

“..ta mang cho em một chút tình…”

“Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn lần đầu tiên xuất hiện : Được cho là người tình đầu tiên của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, nhân vật “bí ẩn” đã đi vào huyền thoại trong sáng tác “Diễm xưa” của chàng họ Trịnh, lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng.

Xuất phát cho ý tưởng độc đáo này là giáo sư Thái Kim Lan, hiện đang công tác tại CHLB Đức. Qua lời mời của cô Lan, Ngô Thị Bích Diễm (Diễm) đã đồng ý về Huế gặp gỡ một buổi duy nhất với công chúng. Tuy nhiên khách được mời hạn chế qua điện thoại, chỉ những người thân quen, một thời gắn bó với Trịnh.

Cuộc gặp gỡ quá đặc biệt không được thông báo trước đã diễn ra tại trung tâm văn hóa Liễu Quán, TP Huế, tối 12/3/2017 vừa qua.

“Sau khi Trịnh Công Sơn mất, Diễm đã trở thành một huyền thoại. Từ đó đến giờ, rất ít ai biết hình bóng cô Diễm trong tuyệt phẩm Diễm xưa là ai. Hôm nay, sự im lặng đó được phá vỡ”, Thái Kim Lan tâm sự.

Bà Diễm tâm sự những điều chưa nói đã quá lâu. Kể từ khi Trịnh Công Sơn mất, bà hoàn toàn im lặng với quá khứ.

Nhà văn hóa Huế, giáo sư Bửu Ý, đã kể lại một câu chuyện tình về Sơn và Diễm. “Ngày xưa, cây cầu Phủ Cam tuy ngắn nhưng đầy duyên nợ. Trịnh Công Sơn ở căn gác tầng 2, số nhà 11/03 đường Nguyễn Trường Tộ. Hàng ngày, chàng cứ đứng lấp ló sau cây cột, lén nhìn một người đẹp. Nàng đi bộ từ bên kia sông, qua cầu Phủ Cam, dạo gót hồng dưới hàng long não, ngang qua chỗ Sơn ở là chàng cứ sướng ran cả người. Một tình yêu “hương hoa” kéo dài cho đến cuối đời chàng. Sau này, mỗi một mối tình tiếp theo của Sơn đều có hình ảnh cô gái đó. Tên cô là Diễm, người đã tạo cảm xúc cho Sơn sáng tác vô số bản tình ca bất hủ”, lời kể của giáo sư Bửu Ý.

Tao ngộ Huế sau bao nhiêu năm “ẩn giấu”, bà vẫn mặc một áo dài Huế xưa, chân đi hài. Nét mặt hiền, nhân ái và hay cười nhẹ. Độ tuổi 60 vẫn không làm mất đi nhan sắc thuở nào của “Diễm”. Sự có mặt của Diễm đã làm thỏa lòng toàn bộ mọi người có mặt trong khán phòng.

Một chất giọng Bắc xưa nhè nhẹ cất lên, Bích Diễm đã thổ lộ cùng khán giả “Huế đối với tôi thật bình yên. Trong Huế có một tình yêu. Từ lâu tôi đã giữ im lặng. Quá nhiều kỷ niệm từ thời thơ ấu tại Huế. Dù đi xa đã lâu nhưng tôi vẫn yêu nơi đây như ngày ban đầu. Trong con người quý nhất là tình cảm. Anh Sơn đã lồng hết những cung bậc đó vào nhạc. Xin cảm ơn anh Sơn, cảm ơn Huế vì sự đón tiếp nồng hậu”.

Những câu nói bị ngắt ý giữa chừng vì xúc động của bà đã làm không ít người đồng điệu rơi nước mắt. Trên nền guitar và piano sâu lắng, nhiều người bạn đã hát tặng “Diễm xưa” những ca khúc tên tuổi của cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, mà trong đó không thể thiếu ca khúc Diễm xưa.

Gặp “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn : Lần đầu tiên sau hơn 50 năm, người yêu, đồng thời là nhân vật trong bài hát “Diễm xưa” nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã “lộ diện” và công khai chuyện tình cảm của mình với cố nhạc sĩ tài hoa. 

Tối 12-3, tại Trung tâm Văn hoá Liễu Quán, thành phố Huế, TS Triết học Thái Kim Lan, Việt kiều Đức cùng một nhóm bạn “Huế xưa” đã bất ngờ tổ chức một đêm nhạc Trịnh Công Sơn theo kiểu ngẫu hứng. Điều bất ngờ gây háo hức và tò mò nhất của đêm nhạc này là sự xuất hiện của nhân vật “Diễm”, người yêu, đồng thời là nhân vật trong bài hát “Diễm xưa” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Không chỉ là những người trẻ yêu nhạc trịnh của thế hệ 7X, 8X, 9X…, mà ngay cả với rất nhiều người cùng thời, thậm chí là có quen biết, giao du qua lại với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người con gái trong “Diễm xưa” vẫn đã, đang là một huyền thoại sương khói.

Bởi vậy, sự xuất hiện và công khai chuyện tình cảm của mình với cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lần đầu tiên sau hơn 50 năm im lặng của một “Diễm xưa” bằng xương bằng thịt, đã mang đến những cảm xúc rất đặc biệt đối với gần 100 người, phần lớn là trí thức Huế có mặt trong đêm nhạc.

Sinh thời, hơn một lần cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tự bạch về “Diễm xưa” như thế này : “ Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế…. Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường. Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. … .

Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là ”Diễm của những ngày xưa”.

“Diễm xưa” tên thật là Ngô Thị Bích Diễm, con gái của ông Ngô Đốc Kh , người Hà Nội, dạy Pháp văn tại trường Đồng Khánh và trường Quốc Học Huế. “Tôi sinh ra ở Hà Nội, nhưng lớn lên ở Huế, trưởng thành ở Sài Gòn, sau đó đi du học nước ngoài và bây giờ cùng chồng và các con sống, định cư ở Mỹ”, bà Diễm cho biết.

Theo hồi ức của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân và nhiều người cùng thời với bà có mặt tại đêm nhạc thì bà Bích Diễm, thời là người yêu của Trịnh Công Sơn rất giống bố, người gầy và dong dỏ ng cao, nét mặt thanh tú, bước đi thong thả nhẹ nhàng…. Qua thời gian, “Diễm xưa” bây giờ đã là một mệnh phụ, tuy nhiên khuôn mặt, dáng người, phong thái…vẫn còn lưu dấu những nét đẹp kiêu sa, đài các một thời.

Tại buổi nhạc, vì là lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng, bà Diễm đã rất xúc động và lúng túng. Bà kể điều được điều mất đại ý: Bà quen biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua hoạ sĩ Đinh Cường, thời ấy (khoảng những năm 1960) là một học trò Pháp văn của cha bà. Nhà bà ở 46 đường Phan Chu Trinh, bên kia sông An Cựu, đối diện với nhà cũ của Trịnh Công Sơn ở đường Nguyễn Trường Tộ, thành phố Huế.

Trong thời gian hai người quen biết nhau, có lần bà tặng cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn một nhánh Hoàng lan đầy hoa rất lớn bẻ từ nhà bà, và điều này đã trở thành một “cú sốc” tình cảm lớn đối với nhạc sĩ, theo như lời kể lại của em gái nhạc sĩ với bà sau này….

Nhà văn, GS Bửu Ý, một người bạn thân của nhạc sĩ phát biểu tại đêm nhạc: “Sinh thời, Trịnh Công Sơn có đến hơn…23 người tình. Tuy nhiên, do mối tình đầu với bà Bích Diễm quá sâu nặng cho nên những mối tình sau này, thật ra Trịnh Công Sơn chỉ là đi tìm hình bóng của bà Diễm trước đó mà thôi”.

“Diễm xưa” hoài niệm : Trở về Huế để làm từ thiện, thăm lại bạn bè và được sống trong hoài niệm, cô nữ sinh Trường Đồng Khánh – người con gái tạo cảm hứng cho nhạc sĩ họ Trịnh sáng tác ca khúc Diễm xưa – Ngô Bích Diễm đã hồi tưởng về ngày xưa

Phóng viên : Chị và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn quen nhau trong hoàn cảnh nào ?

Bà Bích Diễm : Sơn quen tôi qua hoạ sĩ Đinh Cường. Hai người là bạn thân của nhau. Ngày đó, anh Cường thuê nhà trọ ngay trong con hẻm nhà tôi. Có vài lần qua nhà tôi chơi, anh Sơn rủ Đinh Cường đi cùng. Nhà anh Sơn ở không xa nhà tôi. Anh Sơn ở số 11/3, đường Nguyễn Trường Tộ, tôi ở nhà 46 (cũ) đường Phan Chu Trinh. Từ nhà anh Sơn đi qua cầu Phủ Cam, rẽ tay phải đi bộ vài phút là đến nhà tôi. Sơn hay đến nhà tôi chơi. Lúc ấy, nhà tôi có cây dạ lan hương, hoa nở rất thơm.

Anh Sơn rất thích mùi hoa này. Lúc nào đến chơi cũng nhận xét về mùi thơm của hoa. Có lần tôi đã tặng anh một nhành hoa. Sau đó, tôi nghe các em gái của anh nói lại là cành hoa tôi tặng đã làm chấn động tình cảm của anh.

Phóng viên : Vậy có phải Diễm xưa là tình yêu say mê của Trịnh Công Sơn dành cho chị ?

Bà Bích Diễm : Tình cảm của Sơn dành cho tôi quá đẹp nên lúc nào tôi cũng trong trạng thái mơ hồ. Tôi không dám nhận mình là người con gái trong nhạc phẩm Diễm xưa. Nhưng đó là một mối tình rất đẹp của chúng tôi ngày ấy.

Phóng viên : Chị nghĩ về Trịnh Công Sơn thế nào ?

Bà Bích Diễm :  Anh Sơn như một dòng sông…

Phóng viên : Nghe nói do gia đình chị, cụ thể là ông cụ thân sinh đang là giáo viên Trường Quốc học Huế, không muốn chị thành thân với một nghệ sĩ ?

Bà Bích Diễm : Tôi sinh ra ở Hà Nội. Năm 1952, gia đình tôi vào Huế nên tôi lớn lên ở Huế trưởng thành ở Sài Gòn. Nhưng đi bất cứ đâu, thậm chí sau này khi tôi đã định cư ở Mỹ, vẫn có nhiều người gặp tôi lần đầu đều hỏi tôi có phải là người Huế không ? Vì phong cách, dáng dấp của tôi rất giống người Huế. Có lẽ đó là một trong những điều làm Sơn quý mến tôi. Với tôi, Huế luôn khép kín, bí ẩn, dù đi bất cứ đâu, suốt cả cuộc đời, Huế vẫn luôn ở trong tim tôi.

Phóng viên : Một mối tình thật đẹp, nhưng vì sao hai người không cùng nhau đi hết cuộc đời?

Bà Bích Diễm : Năm 1963, lúc 20 tuổi, tôi vào Sài Gòn học đại học, còn Sơn sau đó cũng vào học Trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau đó tôi du học ở Mỹ nên không có điều kiện gặp lại anh.

Phóng viên : Dịch giả Bửu Ý, bạn thân của Trịnh Công Sơn nói rằng ông mới đếm sơ sơ thì Sơn đã có 23 người đẹp đi qua đời ông. Tất cả đều nói giọng Bắc như chị. Người nào Sơn cũng yêu say mê nhưng vẫn tìm hình bóng của Diễm qua từng người một, Diễm vẫn là niềm cảm hứng để Sơn dâng tặng cho đời những tình ca bất hủ. Chị nghĩ sao về điều này?

Bà Bích Diễm : (Nói trong cảm xúc dâng tràn, bà Diễm cười nhưng đôi hàng mi hoen ướt). Hình bóng anh Sơn đã bao trùm lên suốt cuộc đời tôi. Thế là quá đủ rồi !

Còn đó chất Huế : Đêm 12-3, trong khán phòng của Trung tâm Liễu quán, Huế, chật ních khán giả, những người bạn thân thiết của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đến để cùng hát nhạc Trịnh, nhớ về người nhạc sĩ tài hoa đã cống hiến hết mình cho âm nhạc Việt Nam.

Và có lẽ còn một nguyên nhân không kém phần quan trọng nữa là để gặp lại “Diễm xưa”, người phụ nữ đã tạo nên nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều tình ca bất tử của Trịnh Công Sơn, trong đó có bài Diễm xưa. Bà Diễm từ Mỹ trở lại Huế để làm từ thiện, thăm lại bạn bè và được sống trong hoài niệm.

Bước sang tuổi 67, Diễm vẫn mang vẻ đẹp dịu dàng, đài các của cô gái Huế gần 50 năm về trước. Bà ngồi đó, bên cạnh những người bạn thân của Trịnh Công Sơn như dịch giả Bửu Ý, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân… từng chứng kiến mối tình đẹp của chàng nghệ sĩ lãng tử họ Trịnh và người đẹp nữ sinh Đồng Khánh năm xưa. (theo Phan Nguyên Luân… thực hiện)

LỜI BÀN CỦA HIỆP SĨ MÙ : Nói về giai đoạn Trịnh Công Sơn gập được Bích Diễm. Thật ra TCS lúc này vẫn còn là con số không to tướng trong làng tân nhạc miền Nam bấy giờ. Mặc dù ca khúc “Diễm Xưa” được Trịnh Công Sơn sáng tác đã lâu từ Huế, nhưng đến năm 1960, người ta mới biết đến bài “Diễm Xưa” của nhạc sĩ họ Trịnh đang do Khánh Ly trình bày trên sân cỏ quán cà phê Văn, sau Đại học Văn Khoa Sài Gòn.

Nên bài viết trên chắc rằng cô Bích Diễm ngày xưa chỉ quen với Trịnh Công Sơn mà không có chút tơ tưởng chút tình nào (nếu có thì sau 1960, cô Diễm đã ra mắt mọi người). Chỉ sau khi cô Diễm đi du học, bấy giờ Trịnh Công Sơn mới bộc bạch trường hợp sang tác ca khúc “Diễm xưa” khi được báo chí phỏng vấn.

Nhưng không chỉ có Bích Diễm, còn Dao Ánh, Nga Mi – người đẹp trong gia đình bốn chị em tên Mi, Lưu Thị Kim Đính v.v… đều là “người tình trong mộng” của Trịnh Công Sơn. Nhưng Khánh Ly lại là người phụ nữ có một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn. Tuy nhiên… tất cả vỡ mộng chỉ vì chàng nhậc sĩ “hào hoa” ấy không thể lấy ai.

AI LÊN XỨ HOA ĐÀO…

– Nguyễn Ngọc Chinh

Khoảng thập niên 60, không ít người miền Nam trong một phút ngẫu hứng nào đó đã thả hồn theo lời ca tiếng nhạc của một bài hát rất thịnh hành :

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi.

Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

Ai lên xứ hoa đào đừng quên bước lần theo đường hoa

Hoa bay đến muôn người, ngại ngần rồi hoa theo chân ai…

Xứ hoa đào là một trong những tên gọi Đà Lạt mà nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã thi vị hóa Paris Nhỏ hay Thành phố Hoa… Tuy nhiên, hoa đào trên Đà Lạt không phải là loại anh đào trắng (sakura) của Nhật, cũng không phải là cây đào có quả mà ta gọi là đào lông. Người Đà Lạt gọi đó là cây mai nhưng lại không phải là mai vàng thường thấy ở miền Nam.

Mai Đà Lạt nở rộ vào dịp Giáng sinh và Tết. Mai Đà Lạt không rực ánh vàng như những cây mai mừng xuân thường thấy được trang trí ở Sài Gòn. Mai Đà Lạt có nhụy phơn phớt hồng pha lẫn cánh hoa màu hồng phấn, cũng chẳng giống hoa đào Nhật Tân Hà Nội vốn thuộc loại đào lông.

Đà Lạt ngày xưa, suốt con dốc từ cầu Ông Đạo lên khu Hòa Bình, cứ vào cuối tháng 12 cây mai nở rộ hai bên đường để báo hiệu mùa xuân đã về. Quanh hồ Xuân Hương những gốc mai già trụi lá cũng bắt đầu trổ bông khiến Đà Lạt nhuộm một mầu hồng nhạt hơn màu xác pháo như nhắc mọi người ngày Tết sắp đến.

Sau thời gian hoa mai nở rộ, cây bắt đầu đâm chồi xanh và trên cành xuất hiện những chùm trái tím đỏ. Trái mai rụng đầy dưới gốc và nằm yên ở đó cho đến khi hòa vào lòng đất. Trái mai đắng ngắt nên cả đến bọn trẻ cũng chê vì ăn chẳng được và thế là mai trở nên ‘bất khả xâm phạm’ cho đến khi hóa thân, hòa quyện với đất.

Điều đáng buồn là những cội mai già theo thời gian đã từ từ biến mất khỏi Đà Lạt khiến những người ‘yêu’ Đà Lạt cảm thấy như mất đi cái gì đó mỗi khi trở lại chốn xưa. Đà Lạt cũng kém vui khi thiếu những cánh mai hồng của ngày nào. Biết vậy… nhưng chẳng biết làm sao.

Đà Lạt không hổ danh với tên gọi Thành phố Hoa. Thôi thì đủ loại hoa với đủ các giống, trăm hồng nghìn tía. Có một loài hoa dại mà có lẽ chỉ người gốc Đà Lạt mới để ý: hoa Cúc quỳ, còn gọi là hoa hướng dương dại hay nên thơ hơn là hoa Dã quỳ.

Dã quỳ thường nở vàng bờ dậu hoặc ven đường. Thật ra loài hoa này chẳng ai trồng chứ nói chi đến việc bỏ công chăm sóc. Vò lá Dã quỳ trong tay và đưa lên mũi ngửi ta thấy mùi hăng hắc, khó chịu… nhưng ngắm hoa dại nở rộ một màu vàng tươi lại khiến lòng vui một niềm khó tả.

Cũng có màu vàng như Dã quỳ nhưng nhạt hơn và nhỏ hơn là những cành Mimosa mà có người bảo đây là loài hoa tượng trưng cho những mối tình chớm nở. Lại có ý kiến cho rằng Mimosa nói lên một tình yêu thầm kín hay tượng trưng cho một vẻ đẹp khiêm tốn.

Có thể ai đó nghĩ rằng những nụ hoa Minosa có hình cầu giống hoa trinh nữ nên mới thi vị hóa Mimosa là Trinh nữ Hoa vàng. Các cô gái Đà Lạt đang yêu thường ép Minosa vào trang sách cũng tựa như ép lá thuộc bài để mong mọi chuyện sẽ thuận lợi cả trong tình yêu lẫn chuyện học hành (?). Hoa Mimosa rất thơm nhưng lại có rất nhiều phấn nên những ai bị dị ứng với phấn hoa chắc chắn sẽ tránh xa loài hoa này.

Đà Lạt còn rất nhiều loài hoa với những cái tên thật đặc biệt. Forget-me-not, thuộc họ myosotis, còn được gọi là hoa lưu ly, với thông điệp đừng quên tôi nhé. Hoa tigôn qua bài thơ nổi tiếng của TTKH được thi vị hóa qua hình ảnh… hoa dáng như tim vỡ. Cái tên hoa hồng Brigitte Bardot lấy hình tượng của cô đào BB với cặp môi lúc nào cũng như mời gọi nụ hôn…

Lại có những loài hoa mang những cái tên thật dân giã. Đà Lạt có một loại dây leo người ta thường gọi là bìm bịp, đây là loại cây mọc hoang nhưng lại có hoa rất đẹp, màu tím nhạt tựa như loa kèn. Tôi còn nhớ ngày còn nhỏ thường cắt dây leo bìm bịp thành những đoạn ngắn để làm ‘đạn’ bắn ná thung. Đạn bằng dây bìm bịp bẻ cong hình chữ U khi bắn trúng người cũng đau thấm thía…

Có một loại giây leo mang tên mát mát hay mác mác cho hoa màu tím nhạt và trái non màu xanh, khi chín biến sang màu tím than. Bên trong ruột của trái mát mát là những hột nhỏ màu cam có vị chua chua. Trái mát mát ở Đà Lạt ngày nay được còn được gọi là chanh dây (passion fruit) hoặc chanh leo rất phổ biến trong công nghiệp nước giải khát.

Sẽ là một thiếu sót lớn khi nói đến hoa Đà Lạt mà không đả động gì đến hoa lan. Từ xưa đến nay, lan vẫn được biết đến như một loài hoa quý phái, hoa của các bậc vua chúa vương giả. Bố tôi thưở còn sinh thời cũng là một người mê lan đến độ mẹ tôi nhiều lúc phải… bực mình vì thú vui tao nhã của ông.

Vào thập niên 60 nhà tôi có hẳn một vườn lan ở Đà Lạt. Bố tôi dành hết thì giờ cho lan, chỉ để chiêm ngưỡng chứ không hề bán. Ngược lại, ông mua rất nhiều lan của người Thượng để bộ sưu tập của mỗi ngày một phong phú. Ông còn tổ chức các buổi vào rừng để tự săn tìm lan cùng với người Thượng.

Dụng cụ đi rừng của ông chỉ có búa để đóng những cái đinh dài từ 15 đến 20 phân lên thân cây làm bực thang trèo lên lấy lan. Sau đó dùng dây thòng cây lan xuống chứ không ném vì sợ cây và hoa bị dập! Đi săn thú trong rừng là chạy theo một mục tiêu di động trong khi đi lùng phong lan lại phải quan sát một mục tiêu cố định mằn ở trên cao.

Bố tôi bảo tìm được lan trong rừng là cái duyên may của từng người, có người đứng ngay dưới cây lan mà vẫn không ‘thấy’! Hôm nào kém ‘duyên’ ông tìm những khúc cây mục đem về để trồng lan!

Nhìn ông trau chuốt, lau từng chiếc lá của cây lan bằng bông gòn tẩm nước mới thấy một niềm đam mê đặc biệt. Chính sự đam mê này đã khiến những người thích phong lan gần gũi với nhau hơn, bất kể ranh giới xã hội, bất phân giàu nghèo.

Tướng ‘Big’ Minh cũng là người mê chơi lan, dinh của ông ở Sài Gòn còn được gọi là Dinh Hoa Lan. Mỗi khi lên Đà Lạt ông thường ở tại nhà số 7 Lê Thái Tổ (Câu lạc bộ của Ngự Lâm Quân), số 9 ở ngay bên cạnh là Trung tâm Thực nghiệm Lâm sản có một vườn lan và xuôi dốc khoảng 50m là vườn lan của bố tôi ở số 9/1 Lê Thái Tổ.

Hễ có mặt ở Đà Lạt, Tướng Minh thế nào cũng ghé vườn lan 9/1, chỉ để ngắm hoa. Tôi biết mặt Đại úy Nhung, sĩ quan tùy viên của Tướng Minh mỗi khi ông ghé thăm vườn từ những năm 60s… Sau này, ông Nhung là người được coi như có liên quan đến việc ám sát Tổng thống Ngô Đình Diệm trong thiết vận xa M113 năm 1963.

Hoa lan ở Đà Lạt có trên 200 loài, trong đó có 5 loài được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới được mang tên Đà Lạt hay Langbiang. Lan Đà Lạt được xếp thành 3 loại chính: thổ lan (lan mọc dưới đất), thạch lan (lan mọc trên đá) và phong lan (lan cộng sinh mọc trên thân của những cây khác).

Ở Việt Nam, theo các tài liệu lưu hành, hoa lan được biết đến và trồng dưới thời vua Trần Anh Tông (1258-1293). Hầu hết các đề tài nghiên cứu về hoa lan Việt Nam đều do các nhà khoa học người nước ngoài thực hiện. Mới đây, qua bộ sách Cây cỏ miền Nam Việt Nam của GS. Phạm Hoàng Hộ đã liệt kê và bổ sung thêm các loài phong lan nâng tổng số lan có ở Việt Nam lên 755 loài.

Lan được đặt tên theo hình dáng và màu sắc của hoa. Có những cái tên nghe rất văn vẻ như bạch hạc, nhất điểm hồng, thủy tiên, tiên hài, hàm lân, kim điệp, long tu, hoàng lan, hạc đính, giáng hương… cũng có những tên rất dân giã như bò cạp, gấm đất…

Có nhà nghiên cứu nào đó đã ghép tên 24 loại hoa lan thành một bài thơ mang âm hưởng thơ Đường luật, thất ngôn bát cú :

Ngọc điểm, Long tu, Nhất điểm hồng

Mặc lan, Ý thảo, Tục đoạn lông

Huyết nhung, Phượng vĩ, Hàm lân cứng

Hạc đính, Hoàng long, Thanh đạm trung

Trân châu, Gấm đất, Chu đinh tím

Bạch diệp, Luân trần, Mao Tuyết nhung

Dã hạc, Giáng hương, Hồng câu thảo

Thủy tiên, Hạc vĩ, Bạch huệ đồng”. (theo Nguyễn Ngọc Chính)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

TRẦN VĂN TRẠCH & NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

QUÁI KIỆT TRẦN VĂN TRẠCH

(1924-1994)

– MC Việt Thảo – Quái Kiệt Trần Văn Trạch- Vũ Trường Ritz- 1993

https://youtu.be/5uXar7gBJbQ

– Trần Văn Trạch & Việt Hùng : 

https://youtu.be/_ItPZdtsNbU

Trần Văn Trạch & những ca khúc trình bày :

– Tê Lê Phôn – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/kt-raWHjMU8

– Xe Lửa Mùng 5 – Trần Văn Trạch https://youtu.be/V4X6TH7Etr0

– Ba Giờ Khuya – Thu Âm Trước 1975 https://youtu.be/iR157-oVKmY

– Đồng Hồ Đeo Tay (Trần Văn Trạch) / (Dĩa hát Tân Thanh TT-67 Pre 1975) :

https://youtu.be/SsaR0YaNGIg

– Chiều Mưa Biên Giới – Nguyễn Văn Đông – Thu Âm Trước 1975 : https://youtu.be/WQGGGMEOcu8

–  Mùa Thu Chết (pre 75) https://youtu.be/iAop3usHNAk

– Không (Nguyễn Anh 9) https://youtu.be/QuoCSHFUr6w

– Con Thuyền không Bên (Đặng Thế Phong)

https://youtu.be/-oqlEXaD1h4

– Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên)

https://youtu.be/CYZqRCSfsNY

– Sầm Giang Tái Ngộ 03 – Hài hước

https://youtu.be/HD5zURWzb8s

Tân nhạc Việt Nam có nhiều những tình ca buồn, số lượng đến hàng ngàn bản nhạc. Khi nghe những bản nhạc buồn, con người cũng lắng hồn vào tiếng nhạc và có cảm giác buồn. Ngược lại khi nghe nhạc vui, tâm hồn người cũng mở rộng chào đón hân hoan. Những bản hùng ca lại làm khơi động những ý chí hào hùng, yêu nuớc. Nghe những bản du ca thấy muốn dấn thân làm việc xã hội. Những bản nhạc nhi đồng làm người nghe thấy tâm hồn trẻ lại.

Một loại nhạc có thể nói khó sáng tác nhất là nhạc hài hước, loại nhạc nghe có thể vui đến bật tiếng cười. Nhạc hài hước Việt Nam có lẽ chỉ có độ chừng vài chục bản, do những nhạc sĩ thật đặc biệt sáng tác. Một trong những người đó, một ngạc nhiên cho hầu như tất cả mọi người, là tác giả Trường Ca Hòn Vọng Phu. Chính Lê Thương là người đầu tiên viết nhạc hài hước Việt Nam với những bản nhạc Hòa Bình 48, Liên Hiệp Quốc, Làng Báo Sài Gòn…

Nhưng nói đến chuyện viết nhạc hài hước và rồi tự đơn ca trình diễn lấy, nổi tiếng cả nước, trong lịch sử âm nhạc Việt Nam chỉ có một người: Trần Văn Trạch.

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, tên thật là Trần Quang Trạch, sinh năm 1924 ở Mỹ Tho, sinh trưởng trong một gia đình toàn là những nhân vật có tiếng về Cổ Nhạc Việt Nam. Tuy trong gia đình có những nhân vật khoa bảng lỗi lạc về âm nhạc như anh ruột giáo sư tiến sĩ âm nhạc Trần Văn Khê, cháu ruột tiến sĩ âm nhạc Trần Quang Hải… Trần Văn Trạch phải nói được nhiều người Việt Nam biết đến hơn cả.

Ông Trần Văn Trạch có khiếu âm nhạc từ nhỏ, biết nhiều về Cổ Nhạc, thông thạo đàn kìm và tỳ bà, hát Vọng Cổ rất “mùi”, nhưng lại thích Tân Nhạc hơn. Sau khi học xong trường Trung Học Mỹ Tho, Trần Văn Trạch bắt đầu với nghề thương mại, lập lò làm chén bán ở Vĩnh Kim nhưng không đuợc khá lắm.

Năm 1945, ông Trần Văn Trạch bỏ nghề buôn bán, lên Sài Gòn “giang hồ” và tìm cách đi hát cho những phòng trà, vũ trường nhỏ. Đến khoảng năm 1947, nghệ sĩ Trần Văn Trạch bắt đầu trình diễn những bài hát hài hước. Những bản nhạc hài hước đầu tiên ông trình bầy là những bản sáng tác bởi nhạc sĩ Lê Thương đã kể ở trên.

Nhưng về sau, vì nhu cầu trình diễn, ông Trần Văn Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy. Bản nhạc Anh Phu Xích Lô là sáng tác đầu tiên của ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch :

Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn

Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới

Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới

Ê ! Tôi xin mời lại đây…

Những bài hát nổi tiếng ngày đó là Cái Đồng Hồ Tay, Cây Bút Máy, Anh Chàng Thất Nghiệp, Sở Vòi Rồng, Đừng Có Lo, Tôi Đóng Xi-Nê, Ba Chàng Đi Hỏi Vợ, Chiếc Ô-Tô Cũ… Bài nhạc nào của nhạc sĩ Trần Văn Trạch cũng làm người nghe cười… bể bụng. Thí dụ bài Tai Nạn Tê-lê-phôn :

Từ đâu nạn đưa tới

Gắn chi cái tê-lê-phôn

Bởi tôi muốn làm tài khôn

Khiến tôi muốn thành ra ma

Không vào Chợ Quán, cũng ra Biên Hòa…

Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước. Chuyến Xe Lửa Mùng 5, kể chuyện đi thăm mẹ của một anh chàng. Đây là một bản nhạc lúc đầu nghe thấy có vẻ là nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, xe lửa… Nhưng đoạn cuối là một khúc thương ca, khi người về đến nhà mới biết mẹ đã qua đời.

Một bản nhạc có cả hài hước pha lẫn chút triết lý là Khi Người Ta Yêu Nhau:

Khi người ta yêu nhau

Yêu trong lúc hai mươi tuổi đầu

Thì không phải vì tiền đâu

Nhưng mà chẳng được bao lâu…

Những đoạn giữa nói về các tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi, sáu mươi và:

Khi người ta yêu nhau

Yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu

Thì không phải vì tiền đâu

Nhưng mà chẳng còn bao lâu.

Hai câu Nhưng mà chẳng được bao lâu và Nhưng mà chẳng còn bao lâu nghe có vẻ giống nhau. Nhưng suy nghĩ cho kỹ thấy hai ý nghĩa khác hẳn nhau và cho thấy Trần Văn Trạch là người có đầu óc, biết dùng chữ khá thâm thúy. Cái triết lý giản dị, có thể học được từ bài hát là nếu vì vấn đề tiền mà yêu nhau, thì đó không phải là tình yêu chân thật.

Một bản nhạc phải nói hầu như ngày xưa người Việt Nam nào cũng phải biết đến, vì được ông hát đi hát lại mỗi tuần khi có xổ số tại rạp Thống Nhất, Sài Gòn và sau này trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh Sài Gòn. Tuần lễ nào người dân nước Việt ở khắp nơi đều nghe thấy tiếng người nghệ sĩ trình bầy bài này qua làn sóng điện. Đó là bài hát Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, do Trần Văn Trạch viết và hát :

Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Xây đắp muôn người

Được nên cửa nhà

Tô điểm giang san

Qua bao lầm than

Ta thề kiến thiết

Trong giấc mộng vàng

Triệu phú đến nơi

Năm muời đồng thôi

Mua lấy xe nhà

Giàu sang mấy hồi

Kiến thiết quốc gia

Giúp đồng bào ta

Ấy là thiên chức

Của người Việt Nam

Mua số mau lên

Xổ số gần đến

Mua số mau lên

Xổ số… gần… đến…

Một bản nhạc khác Trần Văn Trạch sáng tác không hài hước một chút nào cả là bản nhạc hùng mạnh Chiến Xa Việt Nam, bài được hát đi hát lại trong những dịp đài phát thanh cần chạy nhạc hùng như Ngày Quân Lực, Ngày Quốc Khánh… hay khi có… đảo chánh.

Ca sĩ Trần Văn Trạch cũng có hát những nhạc không hài hước và hát thật hay. Một thí dụ điển hình là bản Chiều Mưa Biên Giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã nổi tiếng sau khi chính do Trần Văn Trạch hát rất điêu luyện, với phần nhạc đệm từ một băng nhạc thu sẵn, của một ban nhạc bên Pháp. Lúc đó vào khoảng thập niên 1960, phương pháp trình diễn này coi như rất mới. Từ đây, đã phát sinh ra những loại hát có nhạc đệm sẵn (karaoké).

Ngoài sáng tác nhạc, hát ông còn là trưởng ban nhạc Sầm Giang của đài phát thanh Pháp Á, vào khoảng thập niên 1950. Ban này gồm những ca sĩ nổi tiếng đương thời như Linh Sơn, Tâm Vấn, Minh Diệu, Mạnh Phát, Tôn Thất Niệm…

Trần Văn Trạch không chỉ hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Cũng trong thập niên 1950, khi điện ảnh vẫn còn là một môn nghệ thuật phôi thai ở Việt Nam, Trần Văn Trạch đã đóng cùng với nữ nghệ sĩ Kim Cương trong những phim như Lòng Nhân Đạo, Giọt Máu Rơi… và về sau còn làm đạo diễn điện ảnh cho những phim như Thoại Khanh Châu Tuấn (do Kim Cương và Vân Hùng đóng), Trương Chi Mỵ Nương (do Trang Thiên Kim và La Thoại Tân đóng)…

Nhưng có lẽ công trình ông đóng góp nhiều nhất cho nghệ thuật là những buổi Đại Nhạc Hội, với chuyện sáng tác và sự trình diễn những bản nhạc hài hước đã kể trên của ông.

Danh từ Đại Nhạc Hội chỉ những buổi trình diễn ca nhạc xen kẽ với kịch, ảo thuật… tại các rạp hát do chính ông Trần Văn Trạch đặt ra và từ đó cũng do chính ông đã phát huy chủ trương, bắt đầu từ khoảng năm 1949. Dĩ nhiên một trong những tiết mục quan trọng nhất của những buổi Đại Nhạc Hội này là màn hát nhạc hài hước của chính Trần Văn Trạch.

Nghe Trần Văn Trạch hát thấy vui và lạ. Ông có biệt tài bắt chước được những âm thanh như tiếng còi tầu xe lửa, tiếng xe hơi chạy, tiếng những cầm thú… Nhưng nếu chỉ nghe không cũng chưa thấy hết cái hay của ông, mà phải nhìn ông trình diễn mới thấy hết được cái linh hoạt của bài hát do ông sáng tác. Giọng hát mộc mạc, đơn giản của người Nam và cách trình diễn hoạt náo những bản nhạc hài hước của chính mình, đã làm nên tên tuổi Trần Văn Trạch, người được dân chúng Việt Nam gọi là Quái Kiệt.

Với những chương trình Đại Nhạc Hội, Trần Văn Trạch đã trình diễn rất nhiều tại Sài Gòn. Danh tiếng của ông nổi như cồn. Ông đã đi khắp các tỉnh ở miền Nam và trước khi xẩy ra Hiệp Định Genève 1954 chia cắt đất nước, có lần ông ra cả miền Bắc trình diễn.

Về sau có những người khác theo quan niệm như vậy của ông tổ chức Đại Nhạc Hội cũng rất thành công như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, nữ nghệ sĩ Kim Cương…

Sau “Giải Phóng 1975”, Trần Văn Trạch bị kẹt lại Việt Nam và ông cũng vẫn đi lưu diễn thường xuyên cho đến khi qua Pháp năm 1977. Từ đó, ở Paris, ngoài việc mưu sinh hàng ngày, ông cũng vẫn có những hoạt động âm nhạc như băng nhạc và video Hài Hước Trần Văn Trạch, trình diễn nhạc ở Pháp hay ở Úc, Hoa Kỳ… và hoạt động xã hội nhất là trong những buổi hát giúp quyên tiền cho những con tầu về lại biển Đông vớt người Việt tỵ nạn vượt biển.

Năm 1994, nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua đời tại Paris, vì bệnh ung thư gan.

Nhớ lại hình ảnh ngày xưa của người nghệ sĩ quá cố, có dáng dấp giang hồ với mái tóc dài và phong trần, lái chiếc xe mui trần cũ kỹ và bụi bậm, đang thân thiện hiền hòa vẫy chào mọi người ở đường phố Sài Gòn, phải công nhận một điều:

Ca nhạc sĩ Trần Văn Trạch, người có một không hai trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, quả là một Quái Kiệt tài hoa trong tâm tưởng của mọi người dân Việt mãi mãi…

Xem thêm (bấm vào đường link) : Quái Kiệt Trần Văn Trạch trên “Một thời Sài Gòn” ngày 05/07/2010

MỐI TÌNH CỦA

TÁC GIẢ ‘CHÙA HƯƠNG’

Mối tình hoảng loạn với người ái nam ái nữ của tác giả ‘Chùa Hương”

– Ít ai biết nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp từng có mối tình với một người con gái bí ẩn. Câu chuyện tình này đã để lại cho chàng thi sĩ trẻ nỗi buồn sâu sắc và cả sự hoảng hốt…

Cuộc đời bi thương và 3 bức thư của nhà thơ

Ảnh hưởng từ cha, học giả Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Nhược Pháp dù học hành giỏi giang, đỗ đạt cao, nhưng không quan tâm đến quan trường, mà chỉ mê đọc, nghiên cứu văn thơ, viết sách, làm báo. Ngoài thơ, Nguyễn Nhược Pháp còn viết không ít truyện ngắn và kịch…

Tuy nhiên, khác nhiều bạn cùng làng văn thuở đó, Nguyễn Nhược Pháp sống hồn nhiên và trong sáng, không ham mê ả đào, thuốc phiện, những thứ hay cám dỗ tuổi trẻ tò mò.

Ông Nguyễn Lân Bình (cháu gọi Nguyễn Nhược Pháp là bác), từng kể : “Theo các bác trong gia đình nói chuyện, bác Pháp không chỉ được thừa hưởng sự tài hoa và thông minh của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ông còn được thừa hưởng luôn cả sự đào hoa và tâm hồn lãng mạn của cha mình. Bởi vậy trong thơ, văn và kịch ông viết, luôn phảng phất những “bóng hồng” đầy mộng mị”.

Mối tình câm với người đẹp nức tiếng Hà thành

Thông qua những thế hệ cùng trang lứa với Nguyễn Nhược Pháp, đặc biệt là các gương mặt từng là đồng môn với nhà thơ, chúng ta được đọc nhiều lần, qua nhiều thời kỳ những ghi chép và lời kể của những bậc tiền nhân, trong đó có câu chuyện nói về

Giai nhân Hà thành – Đỗ Thị Bính (1915). Bà Bính là con của thương gia Đỗ Bá Lợi – nhà tư sản lớn vào loại có hạng ở Hà thành lúc đó. Bà Bính được miêu tả là người thiếu nữ với làn da nõn nà, vóc dáng thanh tú với đôi mắt phượng hồng. Bà đã làm cho bao kẻ mê mẩn, thầm yêu, trộm nhớ….

Vậy nhưng, dù là tiểu thư khuê các, con nhà giàu có, lại đẹp nức tiếng, nhưng bà Bính được nhiều người chung quanh quý mến vì lối sống rất giản dị, nhân hậu, chan hòa với mọi người.

Ngày ấy, trước hiên nhà cô Bính ở phố Nguyễn Thái Học có trồng nhiều loại hoa thơm. Thường cứ đến chiều, nàng vừa ra ngắm hoa, vừa ngồi trên ghế đá đọc sách.

Chàng thư sinh nhỏ nhắn Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào cũng mang một hồn thơ lai láng, mộng mơ và đầy cảm xúc, đã đem lòng thương trộm cô tiểu thư Đỗ Thị Bính từ lúc nào không biết..

Bấy giờ Nguyễn Nhược Pháp đang làm việc tại tòa báo L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới, chàng thường tìm đủ lý do để được đi qua nhà nàng, chỉ những mong được thấy nàng, ngắm nàng, người yêu trong mộng, từ đó thêm cảm xúc làm thơ ngợi ca.

Tất nhiên, giai nhân cũng biết chàng thư sinh ấy “cảm mến” mình. Đã có đôi lần, hai người đã trò chuyện với nhau qua rào cây tầm xuân hữu tình và thật lãng mạn. Cái sự “đầu mày cuối mắt” của chàng thi sĩ với giai nhân đã để cả hai bên gia đình đều biết.

Nhưng một biến cố khủng khiếp của gia đình chàng thi sỹ đã khiến cho mối tình ấy không thể đơm hoa, kết trái, đó là sự kiện học giả Nguyễn Văn Vĩnh – cha của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, gặp đại nạn, ông mất một cách cô độc bên miền Nam nước Lào heo hút.

So với gia cảnh người đẹp Đỗ Thị Bính, chàng thi sĩ lúc này chỉ là kẻ tay trắng. Nhất là trong bối cảnh gia đình đang bị chính quyền đương thời o ép, chàng đã đành phải đào sâu chôn chặt mối tình ngắn ngủi qua hàng rào ấy. Nhà thơ đã gửi gắm nỗi lòng vào tập thi phẩm mang tên “Ngày xưa” với 10 bài thơ đầy tâm sự. Thi phẩm này đã đưa tên tuổi ông tìm được chỗ đứng trong phong trào Thơ mới ở thế kỷ 20.

Mặt khác, lòng tự trọng của Nguyễn Nhược Pháp cũng không nhỏ khi tự đặt mình trong hoàn cảnh một cuộc sống đổ vỡ, nên hãy đừng mơ ước cao xa, nhất là với một tiểu thư khuê các, cành vàng lá ngọc… Hình như, thi sỹ đã “tự ti” về cái thân phận của một người vốn đã mất mẹ đẻ từ nhỏ, giờ lại mất cả người cha uy danh…

Mối tình hoảng loạn với người con gái bí ẩn

Người đời, cứ nghĩ đến chàng thi sỹ đa cảm đó, họ lại nhắc đến mối tình trong mộng của chàng với mỹ nhân đất Hà Thành – Đỗ Thị Bính. Nhưng mấy ai biết rằng, tác giả của bài thơ “Chùa Hương” đã từng có tình ý với một người con gái bí ẩn cho đến khi kết thúc bằng sự bi đát.

Vẫn Ông Nguyễn Lân Bình lại kể : “Trước đây, tôi đã có được nghe các bác các chú trong gia đình đôi lần kể về giai thoại này. Tôi nghĩ với sự hào hoa, đa tài của Nguyễn Nhược Pháp, việc ông khiến bao bóng hồng thổn thức là điều làm sao tránh”.

Trong một vài bài viết, nhà thơ Nguyễn Vỹ (1912-1971) – bạn rất thân của Nguyễn Nhược Pháp, từng thuật lại mối tình của bạn mình với một cô gái… bí ẩn.

Câu chuyện diễn ra nhân chuyến đi chơi xa cùng Nguyễn Vỹ với ba cô gái bằng tàu hỏa từ Hà Nội lên Yên Bái. Tất cả ngồi cùng toa. Tàu lướt qua bao nhiêu vùng đất lạ, nhưng hôm ấy, chẳng thấy chàng thi sĩ quan tâm đến. Ngược lại, mắt Nguyễn Nhược Pháp đã phải sững sờ, dán chặt vào một cô gái mặc bộ áo dài đen. Khuôn mặt nàng thanh tú, làn da như trứng gà bóc trên một thân hình cân đối được nhấn mạnh bằng đôi môi chúm chím, đỏ mọng.

Lập tức, vẻ đẹp của nàng đã khiến Nguyễn Nhược Pháp liêu xiêu. Với tính cách rụt rè, hình như chưa bao giờ thấy ai nói chàng là người mạnh dạn, cho nên, suốt cuộc hành trình, Nguyễn Nhược Pháp chỉ dám nhìn trộm, ngắm nàng từ xa bằng ánh mắt như nhìn vào cõi xa xăm, chứ không dám dấn bước làm quen.

Chiều tối, khi tàu đến Yên Bái, cô gái đã ngồi xe kéo chạy nhanh xa khỏi tầm mắt, Nguyễn Nhược Pháp vẫn mơ màng dõi theo, lòng dạ ngổn ngang, xao xuyến.

Cả đêm hôm đó, chàng thao thức chẳng ngủ được, rầm rì nhỏ to với nhà thơ Nguyễn Vỹ. Được biết, chuyến đi chơi đó, là do cô Thanh Tú – là người thầm yêu Nguyễn Nhược Pháp đứng ra chủ trò, tổ chức.

Nguyễn Vỹ viết: “Tôi biết từ lâu rồi, rằng Nguyễn Nhược Pháp không yêu cô Thanh Tú, nhưng Thanh Tú thì yêu Nguyễn Nhược Pháp gần như mê mẩn. Thanh Tú chủ động tổ chức cuộc du hành này, để có cớ mời Nhược Pháp lên nhà. Chết nỗi, ông cụ của cô lại là bạn thân với ông Nguyễn Văn Vĩnh, và nghe đâu, ông cụ cũng muốn gả Thanh Tú cho người con trai giỏi giang mà hiền lành của ông Vĩnh”.

Hôm từ Yên Bái trở về, làm sao, vô tình Nguyễn Nhược Pháp lại đi cùng tàu hỏa với cô gái đó. Tàu vừa dừng, là chàng thi sĩ trẻ mất hút… lướt theo gót giai nhân.

Nguyễn Nhược Pháp đã đeo đuổi cô gái đó có đến cả năm trời. Chàng đã kiên nhẫn tìm được địa chỉ nhà “cô tiên giáng trần”, và đánh tiếng làm quen.

Nhưng thật lạ lùng và buồn bã thay, người con gái đó tỏ ra rất lạnh lùng, thậm chí, nàng đã cương quyết từ chối dứt khoát tình cảm nồng nàn của chàng thi sĩ, cho dù hình như, trong lòng nàng đã có những rung động.

Thấy bảo, chàng thi sĩ, tuy là người duy nhất được làm quen với nàng, nhưng tình cảm của chàng luôn nằm trong thế tuyệt vọng, chẳng khác gì ném một quả bóng xịt vào tường.

Và cũng có được một ngày, Nguyễn Nhược Pháp liều lĩnh viết lá thư mời cô gái đến để trò chuyện tại nơi ở riêng của Nguyễn Vỹ. Chàng thi sĩ đau khổ, quyết định một lần nữa, dồn tất cả sự liều lĩnh, sẽ nói thẳng lời cầu hôn với nàng. Chàng bấm bụng, đây là lần cuối cùng mình bày tỏ.

Khi gặp nhau, cô gái lặng lẽ nhìn chàng, rồi gục đầu xuống vai, vừa thổn thức, vừa nức nở khóc, và xin chàng tha lỗi… vì em không thể yêu anh được, dù anh là người duy nhất em yêu ! Nói xong, cô vụt chạy khi nước mắt vẫn dàn dụa, mà vẫn không quên chào vĩnh biệt Nguyễn Nhược Pháp.

Ngay ngày hôm sau, có tin báo : Một thiếu nữ đã tự tử trên hồ Trúc Bạch, thi thể được vớt đã chở vào nhà thương Phủ Doãn (bệnh viện Việt Đức ngày nay). Như có linh cảm, Nguyễn Nhược Pháp rủ Nguyễn Vỹ cùng đến bệnh viện.

Nguyễn Nhược Pháp được phép vào nhận mặt nạn nhân, khi chàng quay ra, khuôn mặt chàng thất thần, với sự hoang mang đến tột độ, vì không hiểu tại sao giai nhân lại từ chối lời tỏ tình của mình, và bỏ chạy bằng việc nhảy xuống hồ quyên sinh ?!

Người y tá thấy Nguyễn Vỹ là bạn với chàng trai thất thần kia, bèn kéo ra một góc khuất nói nhỏ : “Chúng tôi đã khám nghiệm tử thi. Nhưng có điều khác thường, là cô ấy không phải hoàn toàn là phụ nữ. Những trường hợp người con gái như thế, thường người ta gọi là ái nam ái nữ!”.

Chẳng bao lâu, Nguyễn Nhược Pháp cũng từ biệt cuộc đời tài hoa của mình khi tuổi đời đang ở ngưỡng thanh xuân phơi phới, mang theo bao nỗi day dứt về trần thế, trong đó có cả mối tình với cô gái bí ẩn ngày nào.

Xem thêm (bấm vào đường link) : Câu Chuyện “Chùa Hương” trên “Một thời Sài Gòn” ngày 11/04/2017

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

HUYỀN THOẠI GIANG HỒ SÀI GÒN

HUYỀN THOẠI

GIANG HỒ SÀI GÒN

– Nguyễn Chính

Hai chữ “Giang Hồ” gần đây được nhắc tới trên cộng đồng mạng, đó là đề tài thời sự nóng hổi… Bài viết dưới đây chỉ nói về giới giang hồ của “Sài Gòn xưa”, trong một cuốn sách đã được xuất bản tại Hoa Kỳ : “Hồi ức Sài Gòn”. Qua bài viết này, người đọc có thể nhìn “giang hồ” qua hai lăng kính Xưa và Nay.

oOo

Giang hồ, theo một số học giả, có chiết tự từ tên con sông Tam Giang và hồ nước Ngũ Hồ bên Tàu. Đây là những địa danh có nhiều người đến ngao du, ngoạn cảnh. Thế nhưng, khi nói đến dân giang hồ người ta liên tưởng ngay đến những tay anh chị ‘lục lâm thảo khấu’, ‘đầu trộm đuôi cướp’, ‘đâm thuê chém mướn’ hay nói theo từ vựng của thời nay là ‘xã hội đen’.

Thế giới ngầm thường chứa đựng nhiều huyền thoại vì người ta thường thêm thắt những chi tiết không có thực để tô điểm về cuộc đời của các ‘anh hùng hảo hán’. Trong bài viết này, tác giả giới thiệu 3 loại giang hồ điển hình của Sài Gòn xưa : giang hồ trí thức, giang hồ lục lâm và giang hồ anh chị.

Giang hồ trí thức : Sơn Vương Trương Văn Thoại

Nhân vật ‘giang hồ – trí thức’ nổi tiếng ở miền Nam, thập niên 30, là Sơn Vương Trương Văn Thoại với thành tích 34 năm ngồi tù, trong đó có 32 năm khổ sai ở Côn Đảo. Ngoài việc nổi tiếng là một tên cướp ‘trọng nghĩa’ và ‘hào hoa’, Sơn Vương còn là một nhà văn được nhiều người đọc hâm mộ.

Ở vào tuổi thanh niên, Trương Văn Thoại vùi đầu vào sách, từ loại kiếm hiệp Tàu và tiểu thuyết Tây viết về những tên cướp nghĩa hiệp, từ Robin Hood của A. Dumas đến Carmen của Merimée. Đặc biệt, Trương Văn Thoại cực kỳ say mê nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn Phú Đức: Bách-xi-ma lái … ‘khúc dồi’ phóng như bay đuổi theo Hoàng Ngọc Ẩn đang cưỡi trên… Điếu Xì Gà.

Cuối năm 1925, mới hơn 16 tuổi, Trương Văn Thoại đã quyết chí bỏ làng theo tiếng gọi… giang hồ. Anh thanh niên giàu nghĩa khí đã bỏ ra hơn 6 năm trời lăn lộn khắp vùng núi Thị Vải, núi ông Trịnh, núi Mây Tào ở Long Hải, Bà Rịa, để theo một đại lão sư, mai danh ẩn tích nhằm học võ và học đạo.

Năm 1931, Thoại hạ sơn về Sài Gòn, sống lăn lóc cùng giới thợ thuyền. Những năm đầu thập kỷ 30, lề đường De la Some (Hàm Nghi) được coi là nơi tập trung của đủ hạng người. Từ các thầy bói, kính đen che mắt, đến các văn nhân, chủ báo cũng có mặt tại đây. Trong số những người làm báo, Trương Văn Thoại làm quen với Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông Rè). Cảm phục ý chí và sự nghiệp của Nguyễn An Ninh, Trương Văn Thoại đã dần dần bước vào nghiệp cầm bút, trở thành một cộng sự đắc lực của tờ La Cloche Fêlée.

Theo Hán tự, chữ “Thoại” được ghép bởi 3 chữ Sơn, Vương và Nhi. Bút danh Sơn Vương được Thoại khai sinh từ đó. Chẳng bao lâu, tên tuổi Sơn Vương đã khá nổi danh trong nghề cầm bút. Những bài báo của ông thổi vào công luận một dư âm lạ, đầy màu sắc bình dân và nỗi cảm thông sâu sắc đối với tầng lớp bần cùng.

Có thể xem Sơn Vương như một người tiên phong có công trong việc cách tân nền tiểu thuyết Việt Nam thời đó. Ông chuyên viết ‘tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình’ nhưng tác phẩm của Sơn Vương đã có sự thay đổi lớn lao về mặt hình thức. Nhân vật ‘tướng cướp nghĩa hiệp’ cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo của Sơn Vương đã đoạn tuyệt hẳn với hình tượng ‘thanh gươm lưng ngựa’ thời trước. Thay vào đó là các trang công tử lái xe hơi như bay, bắn súng lục bằng cả hai tay và ném tạc đạn như đồ chơi. Đáng kể nhất là 3 tác phẩm của Sơn Vương : Luật rừng xanh, Chén cơm lạtTướng cướp hào hoa.

Trong hơn hai năm (1931-1933), Sơn Vương đã đơn thương độc mã, gây ra hàng chục vụ cướp kinh thiên động địa nhắm vào các phú hộ khắp các vùng từ Đồng Nai đến Sài Gòn, Long An nhưng tung tích vẫn không hề bị lộ. Người ta chỉ thầm ngưỡng mộ một Sơn Vương – nhà văn – cao gầy dong dỏng nói năng nhỏ nhẹ, thường ngồi trọn buổi sáng bên lề đường với một bộ xá xẩu bằng lụa Tân Châu để bán sách của chính mình.

Con mồi lớn nhất của Sơn Vương là René Gaillard, Giám đốc hãng cao su Mimot. Sau một thời gian theo dõi, Sơn Vương biết rõ hàng tháng Gaillard cùng một tài xế và một vệ sĩ trên chiếc Peugeot đến Ngân hàng Đông Dương để lĩnh tiền về phát lương cho công nhân. Số tiền mỗi kỳ lên đến 50.000 đồng. Sơn Vương quyết định sẽ chặn xe cướp vali tiền với một… khẩu súng giả !

Vụ cướp táo tợn được đồn khắp Sài Gòn chỉ một ngày sau. Dân nghèo được một phen hả dạ, bởi kẻ bị trừng trị là một ‘Tây thực dân’ khét tiếng tàn ác. Giới lục lâm Sài Gòn – Lục tỉnh cũng thầm khen tác giả của vụ cướp – dù chẳng biết là ai – bạo gan và chơi rất bảnh, khiến tên chủ Tây vừa mất tiền vừa mất mặt.

Giới giang hồ Nam kỳ nói chung có màu sắc nghĩa hiệp, là một đặc tính của người dân ‘đàng trong’, trọng danh dự và nhân nghĩa. Với Sơn Vương, chuyến ‘đi hát’ đó (một từ lóng chỉ chuyện cướp bóc của giới giang hồ) lại là tai hoạ và cũng là vụ cướp cuối cùng trong cuộc đời ngang dọc.

Kẻ bị cướp – René Gaillard – vốn cũng xuất thân từ một tên cướp khét tiếng của đảo Corse. Tuy đã giã từ nghề thảo khấu nhưng trong huyết quản Gaillard, dòng máu đảo Corse vẫn còn ngùn ngụt. Bị Sơn Vương cướp tiền, Gaillard tuyên bố: Thưởng 5.000 đồng bạc Đông Dương – một phần mười số tiền bị cướp – cho bất cứ ai tìm ra tung tích thủ phạm.

Bazin – tên mật thám khét tiếng tàn ác sau này – đang là một cò tập sự ở bót Catinat. Y xua hết mã tà, lính kín dưới quyền ra sức điều tra, lùng sục, quyết giật cho được món tiền 5.000 đồng mà Gaillard đã rêu rao. Vốn là cáo già, Bazin rất quan tâm đến những chi tiết vụ cướp. Y nhanh chóng nhận ra rằng, loại xe hơi Clément Bayard chặn đường cướp tiền của Gaillard cả Sài Gòn chỉ có không hơn 10 chiếc (xe hơi hiệu Clément Bayard được sản xuất từ Pháp từ năm 1903 đến 1922).

Bazin liên tục gọi tài xế và chủ nhân của những chiếc xe hơi loại này lên làm ‘ăng kết’. Bị tra hỏi quá nhiều lần, Năm Đường (chủ nhân chiếc xe đã cho Sơn Vương mượn để ‘đi hát’) biết chắc sẽ bị bại lộ nên vội ra đầu thú, nộp lại 10.000 đồng được chia sau vụ cướp đồng thời khai ra tên Sơn Vương. Một tháng sau, Sơn Vương bị toà tiểu hình kết án năm năm khổ sai và bị đày ra Côn Đảo.

Tháng 7/1936, một số tù nhân ở Côn Đảo được phóng thích. Sơn Vương cũng được xét trả về đất liền, tiếp tục thụ hình tại Hà Tiên. Trong tù, Sơn Vương đã hô hào tù nhân đập phá khám khiến chủ tỉnh Hà Tiên đã quyết định đày Sơn Vương ra đảo Phú Quốc.

Từ Phú Quốc trở về, chỉ một năm sau, Sơn Vương lại bị tống vào tù. Lần này ông bị bắt vì một lý do… lãng xẹc. Tại ghi-sê bán vé của một rạp chiếu bóng ở Chợ Lớn, Sơn Vương bị một gã hung hăng đạp giày đau điếng. Ông đẩy hắn ra, tên này lập tức nhảy vào đánh Sơn Vương. Cáu tiết, ông xô mạnh, tên gây sự bật ngửa ra sau, ngã chỏng gọng. Rất không may, kẻ gây sự lại là … sếp mật thám của bót Polo trong Chợ Lớn.

Ra toà, Sơn Vương bị kết tội du đãng, bị đưa đi giam giữ tại trại Pursat (Cao Miên). Sơn Vương trốn trại và tìm đường qua Thái Lan nhưng không lâu sau, ông lại bị bắt khi tìm cách về lại Sài Gòn. Lần này ông bị kết án 10 năm tù vì tội vượt ngục, bị tống vào phòng 17, bót Catinat. Đầu năm 1942, ông bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Trong thời gian ở Côn Đảo, Sơn Vương giết một ‘ăng ten’ trong số tù nhân. Với tội mới, Sơn Vương lại phải nhận thêm một án chung thân khổ sai nữa. Theo quy định, án chung thân hồi đó được tính là 32 năm. Tổng cộng, đời Sơn Vương đã 4 lần nhận án gồm 1 lần 5 năm, 1 lần 10 năm và 2 án chung thân khổ sai (32 năm). Tính ra ông phải nhận mức án những 79 năm tù …

Năm 1984, Sơn Vương trở lại quê nhà ở Gò Công và mất tại đó vào năm 1987, chấm dứt một cuộc đời ‘trí thức giang hồ’.

Giang hồ thảo khấu : Bình Xuyên

Đến thập niên 50, nổi bật trong giới giang hồ có lực lượng Bình Xuyên, nguyên thủy là tên của ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng, Nhà Bè. Sau năm 1945, danh xưng Bình Xuyên được dùng để chỉ Lực lượng Bình Xuyên với nòng cốt là dân giang hồ miền Nam, hoạt động ở vùng ven Sài Gòn trong suốt 10 năm, từ 1945 đến 1955.

Từ năm 1948, Bình Xuyên là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng công an xung phong, địa bàn hoạt động ở xung quanh Sài Gòn. Với sự đồng thuận của Pháp, Bình Xuyên kiểm soát nhiều sòng bài, nhà thổ, cùng những thương cuộc lớn nhỏ khắp vùng Sài Gòn – Chợ Lớn trong đó phải kể đến Casino Grande Monde (Đại Thế Giới), Casino Cloche d’Or (Kim Chung), Bách hóa Noveautes Catinat.

Lê Văn Viễn (tức Bảy Viễn) là người chỉ huy Bình Xuyên, hợp tác với Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam. Thành phần này là lực lượng Bình Xuyên được biết đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Sau Hiệp định Genève (1954), Bình Xuyên đúng ra phải nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam nhưng lại không tòng phục.

Lê Văn Viễn sinh năm 1904 tại xã Phong Đước, quận Cần Giuộc, Chợ Lớn, thuộc gia đình điền chủ. Bảy Viễn học hết trường làng đến lớp ba thì bỏ nhà đi lưu lạc giang hồ. Trong thời gian khoảng 10 năm, Bảy Viễn học võ ở nhiều nơi. Sau đó Bảy Viễn xưng anh chị tại trường đua Phú Thọ, tập hợp được một số du đãng em út. Vùng hoạt động của nhóm Bảy Viễn bấy giờ là Chợ Thiếc, An Bình, Cù lao Chánh Hưng và xóm Phạm Thế Hiển từ cầu Hiệp Ân đổ xuống cầu Chữ Y.

Với tiền đánh cướp ở các chợ vùng ngoại ô như Cần Giuộc, Nhà Bè, Giồng Ông Tố, Bảy Viễn sắm xe lô-ca-xông cho thuê, đôi khi còn dùng các xe này để đi ăn cướp. Bảy Viễn cũng chịu ảnh hưởng nặng loại tiểu thuyết ‘ăn cướp, bắn súng, lái xe đua’ như Bách-si-ma, Hoàng Ngọc Ẩn của nhà văn Phú Đức nổi tiếng thời bấy giờ. Ăn mặc đúng thời trang, Bảy Viễn lái xe tới những tiệm vàng ở các chợ quận, mua cả bụm vàng rồi để lại một băng đạn trước khi lên xe vọt mất.

Tháng 7/1954 Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính, thành lập chính phủ trung ương và nộp danh sách nội các. Lê Văn Viễn đòi được tham chính và đưa ra yêu sách lập chính phủ mới. Lực lượng Bình Xuyên cùng với quân đội Cao Đài và Hòa Hảo còn lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia và gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có danh sách mới trước ngày 26/3/1955.

Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên Bình Xuyên mở cuộc tấn công Bộ tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập. Sang tháng 4/1955, quân Bình Xuyên đánh thành Cộng Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y, lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn – Chợ Lớn và rút về Rừng Sát.

Bảy Viễn bị bắt với 17 tiền án ăn cướp có súng, bị kêu án 15 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo. Mười lăm ngày sau, Bảy Viễn vượt ngục bằng bè và được thuyền đánh cá vớt. Một năm sau hắn lại bị bắt đưa ra Côn Đảo. Hai tháng sau hắn lại trốn về đất liền. Nhà tù Côn Đảo mở cuộc điều tra tìm hiểu vì sao Bảy Viễn trốn quá dễ dàng như vậy. Nguyên do là Bảy Viễn có tay em ngoài đảo sẵn sàng giúp ‘đại ca’ đóng bè làm buồm, tiếp tế cơm khô, nước ngọt. Một số thầy chú cũng ngán Bảy Viễn nên cố tình nhắm mắt làm ngơ.

Tháng 9/1955 Ngô Đình Diệm phái đại tá Dương Văn Minh (Big Minh) mở Chiến dịch Hoàng Diệu truy nã Bình Xuyên ở Rừng Sát. Quân Bình Xuyên bị hoàn toàn tiêu diệt. Lê Văn Viễn đào tẩu sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt thực lực của Bình Xuyên.

Xem thêm trên “Một thời Sài Gòn” ngày 15/3/2012. Bấm vào đường dẫn sau :

Bảy Viễn : cuộc đời ngang dọc

Giang hồ anh chị : Đại Cathay

Đến thập niên 60, nổi bật nhất trong giới giang hồ có Đại Cathay. Người ta nói nhiều về một Đại Cathay, với mái tóc bồng bềnh, quần Jean, giày cao cổ ‘đờ-mi-bốt’, trên môi không rời điều thuốc và chiếc hộp quyẹt Zippo… Những gì mà Đại Cathay đã tạo dựng chỗ đứng của mình trong giới giang hồ thật khác biệt và đã trở thành… huyền thoại. Đối với Đại Cathay, sự liều lĩnh không được đánh giá cao bằng lối sống ‘giang hồ tình nghĩa’.

Đại sinh năm 1940, con của Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Khi còn nhỏ Đại sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay là đường Đoàn Văn Bơ, Quận 4). Cả cha lẫn mẹ đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh Chợ Cũ, Quận 1.

Đại thường xuyên trốn học và chơi với đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất ‘lì đòn’. Những đức tính được ‘thừa kế’ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, ‘thủ lĩnh’ Đại đã thường xuyên luồn lách vào các chợ ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn.

Đại bỏ học, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ gần rạp xi-nê Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại lăn xả vào đối thủ, liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn, to hơn.

Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy thương tích. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng vì thế, gã đã ráp thêm ‘tên địa bàn hoạt động’ vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, một đại ca hùng cứ trên đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954, lúc Đại mới 14 tuổi.

Trở thành ‘anh chị’, Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em ‘đi làm’ mang tiền về nộp. Được cái, hắn rất hào phóng. Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Vì vậy, đàn em rất khoái và chịu nghe lời “anh Đại”. Ở đây ta thấy giới giang hồ miền Nam rất trọng ‘đạo nghĩa’ và ‘công bằng’ dù trình độ văn hóa của họ rất thấp.

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị xách tai lôi về bót. Cuối cùng, cảnh sát tống Đại Cathay vào trại tế bần ở Thủ Đức. Sau nhiều lần vào trại rồi trốn ra khỏi tế bần, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, và càng lao đầu vào những trận thư hùng.

Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực hãng phân Khánh Hội, cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám giang hồ khu vực này ‘nghênh đón’ Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân giang hồ ở bến tàu, vựa cá, vựa rau cải đều quy phục dưới trướng của Đại Cathay.

Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập Sài Gòn. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí giả trong khoản ăn chơi. Đám nghệ sĩ, trí thức cũng nể Đại Cathay vì tính chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã.

Nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế ‘bảo kê’. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (vua kẽm gai), Xí Ngàn ‘mặt rỗ’ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các ‘vua’, Đại Cathay cũng làm quen và “chơi chịu” với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.

Sài Gòn thập niên 60 nổi tiếng có ‘tứ đại giang hồ’ gồm Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế. Cả miền Nam đều biết tiếng ‘tứ nhân bang’, nhất là sau khi cuốn tiểu thuyết Điệu ru nước mắt của nhà văn Duyên Anh ra đời. Sau một trận hỗn chiến giữa ‘tứ đại giang hồ’, Đại Cathay lên đứng đầu nhóm và một trận chiến kinh hồn với băng đảng người Hoa của Tín Mã Nàm đã đưa Đại Cathay lên ngôi ‘bang chủ’ trong một đế chế mà khắp Sài Gòn – Chợ Lớn chẳng có một băng nhóm nào dám đối đầu.

Cả một bộ máy quân sự khổng lồ của miền Nam dưới thời Nguyễn Cao Kỳ hình như cũng phải ‘xuống nước’. Tướng ‘Sáu Lèo’ Nguyễn Ngọc Loan (khi đó nắm quyền chỉ huy lực lượng cảnh sát) ngỏ ý mời Đại Cathay về làm đại úy cảnh sát để ‘dĩ độc trị độc’. Đại Cathay thẳng thừng từ chối:

Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt”.

Đại và cả đám đàn em bị tống ra Trung tâm hướng nghiệp tại đảo Phú Quốc, hay còn gọi là ‘Trại Cửu Sừng’. Đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay, là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại ‘tù không án’ như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.

Khi biết cô Nhân đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn riêng Đại Cathay được cố tình cho đào thoát vào núi Tượng.

Sau đó, tướng Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại. Trần Tử Thanh sau này đã từng khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay mình đã nổ súng hạ gục Đại Cathay.

Trên đây chỉ là lời đồn đại, ‘đoán non đoán già’ về ngày tàn của Đại Cathay. Huyền thoại về cuộc đời và cái chết của Đại Cathay vẫn có nhiều chi tiết chưa được làm rõ về một tên ‘giang hồ ngoại hạng’.

Xem thêm trên “Một thời Sài Gòn” ngày 23/12/2011. Bấm vào đường dẫn sau :

Cuộc đời của Đại Cathay

oOo

Chuyện của giới giang hồ miền Nam là một kho tàng vô tận, chuyện thật cũng có, người đời thêu dệt thành huyền thoại cũng không ít. Chẳng hạn như cuộc đời các tướng cướp Bạch Hải Đường, Điền Khắc Kim, những tay anh chị như Tín Mã Nàm và gần đây nhất là ông trùm Năm Cam…

Yên Huỳnh chuyển tiếp

GIẢI THANH TÂM VÀ KIM KHÁNH

GIẢI KIM KHÁNH NGHỆ THUẬT

– Bài Nguyễn Việt

Vào thời Đệ nhất Cộng Hòa ở miền Nam (khoảng đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước), ký giả Trần Tấn Quốc chủ nhiệm báo Tiếng Dội (sau tái bản có tên báo Đuốc Nhà Nam, thời kỳ này không còn Giải Thanh Tâm nữa) cho ra đời Giải Thanh Tâm, chỉ trao giải thưởng cho những nghệ sĩ bên sân khấu cải lương, do vào thời gian đó sân khấu cải lương đang hưng thịnh hơn cả ngành điện ảnh và sân khấu ca nhạc kịch. Giải Thanh Tâm là một giải thưởng nghệ thuật đánh giá đúng đắn về tài năng nghệ sĩ với mục đích phát huy nền văn hóa nghệ thuật nói chung sân khấu cải lương nói riêng.

Đến thời Đệ Nhị Công Hòa, từ cuối năm 1972 tờ nhật báo Trắng Đen đi theo con đường Đuốc Nhà Nam qua Giải Thanh Tâm, cho ra đời Giải Kim Khánh Nghệ Thuật, nhưng hình thức tổ chức lại khác biệt.

Tờ Trắng Đen có chủ trương, mời đọc giả tham dự cuộc thi bằng hình thức điền tên nghệ sĩ mà mình hâm mộ yêu thích vào phiếu tham dự để đề cử, rồi gửi về tòa báo chờ kiểm phiếu. Nghệ sĩ nào có số phiếu cao nhất sẽ được trao tặng từ Huy chương vàng đến huy chương bạc và đồng. Riêng đọc giả dự đoán trúng hoặc gần trúng với tổng số phiếu tham dự, được nhận giải thưởng bằng hiện kim.

Giải Kim Khánh có danh hiệu dành cho các nghệ sĩ đoạt giải mang những tên gọi như, về Điện ảnh là Ảnh Hậu, Ảnh Đế theo danh từ điện ảnh Hong Kong thường bầu chọn. Tân nhạc có Giọng ca vàng hay bên cải lương được mệnh danh là Cải lương chi bảo v.v… ngoài ra có những giải trao cho Quái kiệt sân khấu, nhạc phẩm đang thịnh hành, phim VN hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, và các tài năng mới được ưa chuộng nhất v.v…

Chính vì hình thức đọc giả tham gia bỏ phiếu, có một số tên tuổi đang lu mờ phải cần đến Giải Kim Khánh, họ cắt phiếu điền tên để được hàng ngày có tên trên mặt báo qua những bài tường thuật sau những buổi kiểm phiếu nhằm giúp đọc giả đánh giá và tham khảo.

Lúc đó người viết là thư ký thường trực của Giải Kim Khánh Nghệ Thuật, trong một Hội đồng Giám Sát nhưng không có chức năng Giám khảo, nói đúng hơn chỉ làm nhiệm vụ quan sát và tiện liên hệ với các nghệ sĩ theo ngành nghề của mình. Chủ khảo tức chủ nhiệm báo, còn các vị khác gồm các ký giả như Thiên Hà, Quỳnh Như, Ngọc Hoài Phương và các người viết phụ trách bộ môn Điện ảnh – Tân nhạc; ký giả Trọng Viễn, Huy Trường, soạn giả Trần Hà, thi sĩ Cẩm Thi Lý Dũng Tâm coi về bộ môn Cải lương; ký giả Phong Vân, Hoài Ngọc làm phụ tá cho chủ khảo, cùng với soạn giả Duy Lân và ông Tam Mộc nguyên chủ nhiệm báo Buổi Sáng làm cố vấn.

Người viết được ông chủ khảo phân công dự kiến các nghệ sĩ sẽ đoạt giải như vòng sơ tuyển, sau đó Ban Giám Sát sẽ bình chọn như vòng chung kết. Cuối cùng danh sách cũng đã có, nhìn chung có giá trị về chất lượng khi công bố giải thưởng cho các nghệ sĩ trúng giải.

Dự kiến sơ lược gồm :

Các giải về điện ảnh :

– Ảnh hậu : Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Thanh Nga

– Ảnh đế : Trần Quang, Huỳnh Thanh Trà, Hùng Cường, Thành Được (Thành Được đóng một hai phim như Chiếc Bóng Bên Đường của Kim Cương).

– Nữ tài tử nhiều triển vọng : Lệ Hoa, Như Loan

– Đạo diễn : Lê Dân, Bùi Sơn Duân, Lê Mộng Hoàng. Lê Hoàng Hoa

– Phim được yêu chuộng nhất : Như giọt sương khuya, Loan Mắt Nhung, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Anh Yêu em.

Các giải về tân nhạc :

– Nữ ca sĩ : Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Mai Lệ Huyền

– Nam ca sĩ : Elvis Phương, Nhật Trường, Thái Châu

– Nhạc phẩm được yêu thích nhất : Hàn Mặc Tử của Trần Thiện Thanh, Bao giờ biết tương tư của Ngọc Chánh, Mai của Quốc Dũng, Rước tình về với quê hương của Hoàng Thi Thơ.

– Ban nhạc được ưa thích nhất : Shotguns, Phạm Mạnh Cương, Phượng Hoàng, Mây Trắng.

Các giải về thoại kịch :

– Nam kịch sĩ : La Thoại Tân, Vân Hùng, Ngọc Phu

– Nữ kịch sĩ : Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Túy Hồng

Các giải sân khấu cải lương & hồ quảng :

– Nữ nghệ sĩ cải lương : Bạch Tuyết, Thanh Kim Huệ, Thanh Nga, Phượng Liên.

– Nam nghệ sĩ cải lương : Hùng Cường, Thành Được, Thanh Tú, Dũng Thanh Lâm

– Nữ nghệ sĩ Hồ Quảng : Bạch Lê, Thanh Thế, Bạch Mai

– Nam nghệ sĩ Hồ Quảng : Thanh Bạch, Bửu truyện, Đức Lợi

– Quái kiệt sân khấu : Thanh Việt, Phi thoàn, Tùng Lâm, Văn Chung, Bảo Quốc

– Nữ quái kiệt sân khấu : Kim Ngọc, Kiều Mai Lý, Mỹ Chi, Diễm Kiều

HĐGK Giải Kim Khánh Nghệ thuật sẽ qua danh sách dự kiến trên đều không muốn ai bị loại, bởi những nghệ sĩ đều “kẻ tám lạng người nửa cân”. Nhưng vì giải thưởng cho mỗi đề mục có giới hạn về huy chương vàng, bạc, đồng nên chỉ có từ một đến ba người đoạt giải cho mỗi bộ môn.

Kết thúc cuộc thi các giải thưởng được trao tặng :

Về Điện ảnh :

– Ảnh hậu : Thẩm Thúy Hằng, Ảnh đế :Trần Quang

– Tài tử nhiều triển vọng : Lệ Hoa

– Phim được ái mộ nhất : “Như giọt sương khuya” của hãng Việt Ảnh do Bùi Sơn Duân giám đốc sản xuất kiêm đạo diễn; với tài tử Bạch Tuyết, Trần Quang)

– Đạo diễn xuất sắc : Bùi Sơn Duân

Về Tân Nhạc :

– Nữ ca sĩ : Thanh Thúy – Nam ca sĩ : Elvis Phương

– Ban nhạc được mến chuộng : Ban Shotguns do Ngọc Chánh làm trưởng ban, cùng Cao Phi Long, Hoàng Liêm, Đan Thọ, Tuấn trống

– Nhạc phẩm được ưa thích nhất : Mai của Quốc Dũng

Về Thoại kịch :

– Nữ nghệ sĩ : Kim Cương – Nam nghệ sĩ : La Thoại Tân

Về Quái kiệt :

– Bên thoại kịch : Thanh Việt – Mỹ Chi

– Bên Cải lương : Văn Chung – Kim Ngọc

Về Cải Lương :

– Nam nữ “Cải lương chi bảo” : Hùng Cường – Bạch Tuyết

– Nam nữ nghệ sĩ Hồ Quảng : Thanh Bạch – Bạch Lê

Một danh sách phù hợp với sự bỏ phiếu, được trao cho những nghệ sĩ hiện đang thành đạt nhất lúc đó, chỉ có một vài giải có hơi chệch choạc, như nhạc phẩm Mai của Quốc Dũng so với những nhạc phẩm của Trần Thiện Thanh, Lam Phương, Mạnh Phát, Hoàng Thi Thơ lúc bấy giờ thật không thể sánh là được ưa thích nhất.

Hay phim Như giọt sương khuya của Bùi Sơn Duân đã chiếu cách đó vài năm so với phim Xóm Tôi của đạo diễn Lê Dân mới xứng đáng, do các phim của Lê Dân hiện đang ăn khách. Nhưng Ban Giám Sát phải tôn trọng ý kiến đọc giả đã bình chọn.

Giải Kim Khánh Nghệ Thuật tổ chức được hai lần. Năm 1973 là lần đầu tiên trao giải thưởng tại rạp Quốc Thanh trên sân khấu của đoàn cải lương Hùng Cường – Bạch Tuyết (năm đó Phượng Liên cũng ở trong đoàn, đoạt Huy Chương Bạc nhưng không ra nhận giải vì cho rằng mình nổi tiếng mà chỉ về nhì); năm thứ hai 1974 được tổ chức làm hai buổi, đêm đầu ở nhà hàng Champions góc đường Trần Hưng Đạo – Nguyễn Khắc Nhu bây giờ. Đêm sau trao giải Huy chương vàng tại nhà hàng Maxim’s nằm trên đường Tự Do.

Tượng vàng và các loại huy chương do họa sĩ Nguyễn Tăng của đoàn Dạ Lý Hương thiết kế tạo mẫu, được mạ vàng 24K rất giá trị. Nói chung Giải Kim Khánh Nghệ Thuật có tiếng vang từ các giới nghệ sĩ từ điện ảnh, tân nhạc, thoại kịch và cải lương cho đến người hâm mộ bộ môn nghệ thuật bấy giờ.

Những năm đó báo Trắng Đen còn tổ chức những giải thưởng khác như Giải Kim Khánh Khiêu Vũ, như tại các nhà hàng khiêu vũ trường Nam Đô của ông Võ Văn Ứng (một mạnh thường quân trong làng thể thao) đang do Phương Hồng Quế khai thác, đến Tự Do của ông Nguyễn Văn Cường, Maxim’s của ông Diệp Bảo Tân, International của Ngọc Chánh – Thanh Thúy, QueenBee của ông Tuất v.v…

Giải thưởng khiêu vũ này rất được mọi người đăng ký tham dự cũng như khán giả đến thưởng ngoạn đông đảo để nhìn từng cặp lã lướt trên sàn nhảy qua những điệu nhạc từ slow đến samba đầy sôi động, hoặc nhìn những cặp biểu diễn khiêu vũ tung ném (acrobatic) qua các điệu tango, chachacha, bebop… từ một đến hai ba đào. Hai đứa con của vũ sư Nguyễn Trọng là Nguyễn Hưng – Ánh Mai cũng biểu diễn không kém những đàn anh đàn chị, hay những “nam nữ đệ tử” trong lò dạy nhảy của bà Jackie khiến mọi người luôn phải khen ngợi…

Băng nhạc Phát Thưởng Giải Kim Khánh

Sau khi phát giải Kim Khánh năm 1974, ban tổ chức có cho sản xuất một musictape lấy tên “Đại hội Phát Thưởng Giải Kim Khánh” qua hai loại băng lớn và nhỏ.

Cuốn băng nhạc này do cơ sở Nguồn Sống của nhạc sĩ Ngọc Chánh ban Shotguns thực hiện, tại phòng thu âm của Pat Lâm trên đường Á Nam Trần Tuấn Khải Q5 gần chợ Hòa Bình. Sản xuất mỗi loại 1.000 băng, do kiosque Khai sáng nằm ở 91 ter Công Lý (dưới nhà hàng vũ trường International Quốc Tế) độc quyền phát hành, mà chủ nhân là bà Phúc vợ nhạc sĩ Ngọc Chánh phụ trách.

Trên những trang web chỉ đề cập khoảng 10 nhạc phẩm như

– Tôi Muốn của Nguyễn Trung Cang : Elvis Phương, – Tình Vỗ Cánh Bay của Anh Sơn : Thanh Thúy, – Mai do chính Quốc Dũng tác giả trình bày,

– Cucurrucucu :- Cao Thái, – Tiếc Thương (Donna, Donna lời Việt của Tuấn Dũng) : Thanh Châu (em Thanh Thúy);

Hay cặp Hùng Cường – Mai Lệ Huyền với một ca khúc kích động v.v… phần hòa âm của Lê văn Thiện, phần nhạc đệm do ban Shotguns đãm trách; cùng nhiều bài tân cổ giao duyên do Thanh Sang – Bạch Tuyết, Cải lương Hồ Quảng với cặp Thanh Bạch – Bạch Lê trình bày do dàn nhạc của Đức Phú, Văn Vĩ, Bảy Bá…

Theo dư luận bấy giờ cuốn băng được nhiệt liệt tán thưởng. Trước ngày 30/4/1975 đang được yêu cầu tái bản loại băng cassette thì miền Nam đã đổi chủ, mọi sinh hoạt đều ngưng hoạt động, vì thế không thể tái bản.

NHỮNG GIẢI THƯỞNG KHÁC

Năm 1974 nhóm Thân Hữu Ký Giả Điện Ảnh Tân Nhạc cũng tổ chức giải thưởng điện ảnh lấy tên cố tài tử lão thành Lý Quốc Mậu, hình thức tổ chức như Giải Thanh Tâm, tức thành lập một hội đồng duyệt xét các giải thưởng nhằm trao cho các nam nữ tài tử đang hoạt động, gồm các ký giả chuyên mục điện ảnh kịch trường trên các báo như Huy Vân, Văn Lương, Thiên Hà, Quỳnh Như, Đặng Tường Vi, Trần Quân, Phạm Hồng Vân, Nguyễn Toàn, Tương Giang, Huy Trường, Phi Sơn, Ngọc Hoài Phương, Trọng Minh… cho hai bộ môn điện ảnh và tân nhạc

Giải thưởng Lý Quốc Mậu đặt dưới sự bảo trợ của Nghiệp đoàn khai thác điện ảnh VN (lúc đó NĐ này có nhiệm vụ chia quota xuất nhập phim ảnh cho các hãng phim có môn bài 13 – thời chính quyền cũ ngành xuất nhập cảng được chia thành 18 ngành, nơi nào được cấp loại môn bài nào thì được chia quota theo tỉ lệ loại đó qua vốn đã đăng ký, để không dẫm chân hay tranh thương lẫn nhau). Ngoài ra còn có sự bảo trợ của hãng phim Mỹ Vân của ông Lưu Trạch Hưng, hãng phim Lido của Quách Thoại Huấn v.v.. việc bảo trợ của các nơi trên được thỏa thuận mang tính không vụ lợi.

Tiếc rằng giải thưởng đã hình thành được cái sườn, chỉ chờ dịp lễ lớn trong năm 1975 thì công bố, nhưng 30/4/75 miền Nam đã phải đình đốn lại tất cả.

Nguyễn Việt

ĐƯỜNG ĐẾN GIẢI THANH TÂM

NĂM ĐẦU TIÊN

THANH NGA NHẬN HUY CHƯƠNG

Dư luận xôn xao về việc Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm : Huy chương vàng diễn viên nhiều triển vọng 58, bằng danh dự diễn viên xuất sắc liên tục 2 năm 59 và 60. Giải Thanh Tâm do nhà báo kỳ cựu Trần Tấn Quốc thành lập năm 1958, giành cho diễn viên nhiều triển vọng trên sân khấu cải lương và Thanh Nga đoạt giải đầu tiên qua vai Sơn nữ Phà Ca trong tuồng Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang (Hà Huy Hà) năm mới 16 tuổi.

Có một điều trùng hợp khá lạ kỳ, năm đầu tiên của giải Thanh Tâm cũng là vai diễn đào chánh đầu tiên của Thanh Nga trên sân khấu và người nữ nghệ sĩ trẻ này đã nhanh chóng nhận được giải thưởng với danh dự lớn lao. Do đó có nhiều dư luận xôn xao từ bên ngoài, nào là giải Thanh Tâm chuẩn bị cùng lúc với đoàn Thanh Minh bắt đầu “lăng xê” tên tuổi cho Thanh Nga, nào là bà bầu Thơ ngấm ngầm vận động Ban giám khảo chấm điểm cho Thanh Nga đoạt giải.

Cả trong giới nghệ sĩ cũng có nhiều tiếng xì xầm không hay, cho rằng Thanh Nga là đệ tử của nữ nghệ Kim Cúc, mà Kim Cúc lại là vợ của Chủ tịch Hội đồng giám khảo, tức nghệ sĩ lão thành Năm Châu, do đó giải Thanh Tâm nhất định phải về tay của Thanh Nga.

Nghệ sĩ kiêm soạn giả Năm Châu là người có uy tín rất lớn và được giới nghệ sĩ vô cùng kính trọng, vậy mà chỉ vì giải Thanh Tâm đã làm tổn thương ít nhiều đến danh dự của ông. Tuy nhiên, ông rất điềm đạm bình tĩnh trong việc ứng xử, tuyên bố ngắn gọn với giới báo chí về mục tiêu cơ bản của giải Thanh Tâm nhắm vào những diễn viên trẻ, có đầy đủ điều kiện và triển vọng trong tương lai đối với sân khấu cải lương.

Nếu những ai đề cử một diễn viên trẻ nào khác ở bất cứ sân khấu nào, có đủ điều kiện và tài năng hơn Thanh Nga, ông sẵn sàng đề nghị Hội đổng giám khảo đến tận nơi xem hát để chấm điểm và tuyển chọn thay thế Thanh Nga nhận giải Thanh Tâm.

Nhưng rồi sau đó, không nghe ai đề cử một diễn viên trẻ nào khác và dư luận cũng lắng chìm theo thời gian. Công bằng mà nhận xét, trước mỗi lần tuyển chọn diễn viên để phát giải Thanh Tâm đều có sự vận động ngấm ngầm của một số bầu ở các đoàn hát. Vì khi đoàn hát nào có diễn viên đoạt giải thì số thu ở đoàn hát đó sẽ tăng lên gấp bội, khán giả tò mò muốn xem diễn viên vừa đoạt giải tài năng như thế nào ?

Riêng về giải Thanh Tâm đầu tiên, Thanh Nga được Hội đồng giám khảo tuyển chọn, dù dư luận thế nào đi nữa thật sự rất xứng đáng và công bằng. Vì trong thời kỳ ấy không thể tìm được một diễn viên trẻ nào có đủ điều kiện về tài năng cũng như sắc vóc hơn Thanh Nga được.

Sau khi Thanh Nga đoạt giải Thanh Tâm, đoàn Thanh Minh thu hút khán giả càng lúc càng đông, sự ca diễn của cô đào trẻ Thanh Nga tiến bộ vượt bậc nhờ sự hướng dẫn tận tình của hai vị nghệ sĩ tiền bối Phùng Há và Kim Cúc. Nhưng niềm vui của đoàn Thanh Minh chưa trọn vẹn thì ông bầu Năm Nghĩa lâm trọng bệnh và qua đời tại nhà thương Grall năm 1959. Bao nhiêu trách nhiệm nặng nề trong việc điều hành đoàn Thanh Minh từ nay đều do bà bầu Thơ đảm nhận, với sự hỗ trợ của Ban cố vấn gồm các soạn giả : Kiên Giang, Nguyễn Phương, Lê Khanh.

Năm 1960 đoàn Thanh Minh sửa bảng hiệu lại thành đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Cũng trong thời gian này giải Thanh Tâm mở rộng thêm, song song với huy chương vàng giải diễn viên trẻ nhiều triển vọng còn cấp thêm bằng danh dự cho diễn viên xuất sắc trong năm. Và Thanh Nga liên tục đoạt bằng danh dự diễn viên xuất sắc luôn 2 năm 59 và 60.

Nhìn ở một góc cạnh nào đó, một số người cho rằng Thanh Nga đoạt bằng diễn viên xuất sắc rất xứng đáng, nhưng cũng có một số người đánh giá là thiếu công bằng, quá thiên vị và bênh vực đoàn Thanh Minh, cũng như cá nhân Thanh Nga. Vì ở những đoàn hát khác, còn rất nhiều nghệ sĩ ca diễn xuất sắc, tên tuổi lẫy lừng nhưng không được quan tâm đúng mức.

Ai đúng ai sai, chỉ có nhận xét của khán giả là thật sự trong sáng và công bằng nhất.

Chuyện đời

Từ lúc 10 tuổi, Thanh Nga bắt đầu ca vọng cổ phụ họa và rất thành công trên sân khấu đoàn Thanh Minh, do nghệ sĩ Năm Nghĩa – dưỡng phụ của Thanh Nga làm bầu gánh (vì Thanh Nga là con riêng của bà bầu Thơ, là em cùng cha khác mẹ với bà Lợi chủ hãng phim Cosunam thời trước 1975).

Nhờ nhạc trưởng Út Trong của đoàn Thanh Minh rèn luyện cho nhiều bài bản cổ nhạc, Thanh Nga được khán giả hoan nghênh nhiệt liệt khi mới 8 tuổi, bắt đầu chính thức diễn trên sân khấu qua vai đào con trong các vở tuồng như Phạm Công – Cúc Hoa, Đồ Bàn di hận, Lửa hờn… Biệt hiệu “Thần đồng Thanh Nga” có từ giai đoạn này. Rèn luyện được chín muồi, cô đào “nhí” này bước vào vai chính đầu tiên lúc 16 tuổi là vai sơn nữ Phà Ca trong tuồng Người vợ không bao giờ cưới của soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà

Những nghệ sĩ bậc thầy như Năm Châu, Phùng Há, Kim Cúc, cô Ba Thanh Loan đã nỗ lực dìu dắt Thanh Nga. Với sắc đẹp dịu dàng, quyến rũ cùng lối ca diễn truyền cảm đặc biệt, người nữ nghệ sĩ này đã gây ấn tượng sâu đậm trong tâm hồn giới mộ điệu qua những vai kế tiếp như Xuân Tự trong tuồng Áo cưới trước cổng chùa, Giáng Hương trong Sân khấu về khuya, Diệp Thúy trong Đôi mắt người xưa, Uyên trong Ngã rẽ tâm tình, Trinh trong Con gái chị Hằng, Mía trong Bọt biển…

Từ vai diễn đầu tiên – Nghi Xuân trong vở Phạm Công Cúc Hoa, 8 năm sau  bắt đầu được biết tới với vai Phà Ca trong Người vợ không bao giờ cưới, Thanh Nga đã làm cho khán thính giả xúc động theo mối tình ngang trái của nàng Phà Ca và chàng Kiểu Mộng Long – con của sứ quân Kiểu Thuận ở đất Sơn Tây. Chính lối ca chân phương, cách diễn thật thà, chân chất đã đưa Thanh Nga bước thẳng đến đài vinh quang, trở thành nghệ sĩ đoạt huy chương Vàng đầu tiên của giải Thanh Tâm, khi tuổi mới 16 tuổi. Có lẽ khó ai ca diễn hay hơn nữ nghệ sĩ tài danh và hồng nhan nhưng bạc mệnh này khi vào những vai phụ nữ có cảnh đời ngang trái.

Rồi Thanh Nga trở thành một trong những diễn viên xuất sắc ở miền Nam và là “diễn viên xuất sắc nhất” tại Đại hội Điện ảnh Á châu tổ chức năm 1973 tại Đài Bắc, là đại diện gương mặt nữ duy nhất trong đoàn tham dự Đại hội Điện ảnh Ấn độ năm 1969, được cố Thủ tướng Gandhi đón tiếp.

Với tài nghệ, vẻ đẹp đài các và thanh tú, Thanh Nga in đậm trong trí nhớ khán giả qua phim Loan mắt nhung của đạo diễn Lê Dân, dựa theo tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Thụy Long.

Thanh Nga lúc nhỏ có tên là Juilette Nga. Nếu giải Thanh Tâm đưa Phà Ca sáng lên như ngôi sao mới mọc (1958), thì cũng đưa vào đời một Thanh Nga bắt đầu biết mộng mơ, biết làm thơ. Và những lời đồn đại, cả giấy mực viết ra là có thật về chuyện Thanh Nga có người yêu đi vào chiến khu, tâm đầu ý hợp với anh chàng bạn diễn Út Hậu, hay mối tình của Thanh Nga và soạn giả Hà Triều năm lên 18…, mối tình thầm kín của Hữu Phước dành cho Thanh Nga, đến ngày trở thành đôi tình nhân đẹp trên sân khấu với nghệ sĩ Thành Được, cuộc hôn nhân tan vỡ đầu tiên với người đàn ông tên Mẫn (một đại úy bên ngành Quân Cảnh Tư Pháp)…

Hồng nhan bạc phận,

Thanh Nga phải sống những ngày đoạn trường và đối mặt với dư luận cay nghiệt của một đời nghệ sĩ. Những rắc rối không đâu cứ ùa đến, có cả việc vu oan, tố cáo. Từ chỗ tưởng như ngã quỵ, Thanh Nga chỉ còn tình yêu sân khấu, thành công nối tiếp thành công đã giúp cô đứng lên với một người bạn bên cạnh, cả hai tay trong tay đến giờ phút cuối cùng trong cuộc đời, đó là Phạm Duy Lân (nguyên Đổng lý văn phòng Bộ Thông Tin trước 1975, nên có biệt hiệu Đổng Lân). Thanh Nga và chồng từng có những ngày rất hạnh phúc. Đổng Lân thương và rất thông cảm nghề nghiệp của vợ, ân cần động viên và góp ý cũng như hỗ trợ tinh thần cho Thanh Nga an tâm hoạt động nghề và thăng hoa với những vai diễn.

Đêm 26-11-1978, diễn xong vở cải lương “Thái hậu Dương Vân Nga” ở rạp hát Cao Đồng Hưng, nữ nghệ sĩ Thanh Nga bước lên chiếc xe hiệu Volkswagen sơn màu xám nhạt. Chiếc xe này đưa bà ra đi vĩnh viễn vào lúc 23 giờ khuya hôm ấy tại trước nhà trên đường Trần Hưng Đạo; sau phát súng quái ác của một kẻ lạ mặt nhắm vào bà. Viên đạn bắn trúng ngực trái, chưa xuyên ra sau lưng, nhưng đủ kết liễu sinh mệnh của bà năm 36 tuổi và Phạm Duy Lân chồng Thanh Nga cũng bị bắn chết trong xe ngay sau đó. Hàng vạn khán giả Sài Gòn, giới nghệ sĩ cải lương rơi nhiều nước mắt nhất, để khóc một tài hoa từng làm rạng rỡ vọng cổ nói chung.

Đồng nghiệp tiếc thương

Đưa tang Thanh Nga, nữ nghệ sĩ lão thành Phùng Há khóc : “Tôi khóc Thanh Nga còn vì một kỷ niệm sâu nặng. Một hôm, Thanh Nga tới nhà tôi, ôm lấy tôi mà nói : Má Bảy ơi, con đã xin phép má chồng con rồi, khi nào má Bảy qua đời con xin được để tang đủ lễ, theo nghĩa một đứa con ruột của má đẻ ra. Tôi không kìm được nước mắt trước tấm lòng Nga”.

Ngày Thanh Nga mất, rất nhiều người Sài Gòn đưa tang. Vậy mà người mẹ của Thanh Nga, bà bầu Thơ vẫn không để rơi một giọt nước mắt trước mặt mọi người. Bà bình tĩnh sắp xếp đám tang đâu vào đó, vẫn là trụ cột của căn nhà 4 tầng lầu nuôi cả đại gia đình ba thế hệ. Và xong đám, bà lãnh đạo đoàn lao vào tập tuồng ngay vì đoàn không thể đóng cửa, để ảnh hưởng đến đời sống anh em, và phụ lòng tin yêu của khán giả. Tập đúng tuồng Dương Vân Nga mà Thanh Nga đã thủ diễn, bấy giờ Kim Hương lên thay. Trái tim người mẹ ấy hẳn đã tan nát thế nào. Nhưng không ai thấy bà khóc, chỉ vài tháng sau, mái tóc từ màu đen bỗng chuyển sang bạc trắng.

Bạch Tuyết tâm sự : “Giấc mơ về chị vẫn luôn có trong tôi, từ ngày còn là một khán giả nhỏ. Năm 14 tuổi, tôi vẫn còn là cô học trò rất ngây thơ ở trường Đức Trí đã len lỏi trước bao khán giả để xin một tấm hình có chữ ký Thanh Nga. Đó là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với người nghệ sĩ mà mình yêu mến. Thật tuyệt vời, cả đêm tôi mất ngủ, cứ mơ màng nhìn thấy chị. Thời điểm đó, chị nổi tiếng lừng lẫy với các vở Người vợ không bao giờ cưới, Hoàng hậu mã nhi nương bửu…

Năm 1963, tôi đoạt HCV giải Thanh Tâm cùng nghệ sĩ Ngọc Giàu, Trương Ánh Loan, Diệp Lang, Thanh Tú, Tấn Tài. Thật bất ngờ, trên sân khấu Thanh Minh – Thanh Nga đã quyết định dàn dựng vở “Khói sóng Tiêu Tương” của tác giả Hà Triều Hoa Phượng, tập hợp toàn các nghệ sĩ vừa đoạt giải nhập vai.  Chị Thanh Nga vào vai tiểu thư Bàng Lộng Ngọc còn tôi đóng vai ca kỹ Thúy Mai.

Ngày tập tuồng, tôi chủ động gặp chị và nhắc lại lời khuyên của chị ngày nào, đồng thời đưa ra tấm hình mà tôi gìn giữ như một báu vật. Chị ngạc nhiên và cảm động lắm rồi vuốt tóc tôi bảo : “Phải ráng lên em, phải yêu nghề, sống chết với nghề thì mới thành công, phải luôn ơn nhớ tổ nghiệp”.

Còn nghệ sĩ Thanh Kim Huệ nói : “Ngày nhận được tin chị bị sát hại, tôi tức tốc chạy đến bệnh viện. Chị nằm đó như đang ngủ, tóc xoã dài, mặc nguyên bộ quần áo đỏ rất đẹp. Chị Nga mất, tôi hụt hẫng một thời gian dài, đêm nào cũng nằm mơ thấy chị. Sau năm 1975, tôi rời đoàn nên chị em ít có dịp gặp nhau, lúc đó tôi đã lập gia đình và tạo được tên tuổi cho mình. Có lần tôi diễn, chị còn mang một đống mũ đội đầu của nhân vật vào cho tôi chọn khiến tôi vô cùng cảm động.

Lần tôi sang Mỹ du lịch, gặp lại chồng cũ của Thanh Nga, tôi hỏi anh : “Đã sống đến 70 tuổi rồi, ngồi ngẫm nghĩ lại, anh thấy thương ai nhất ?”, anh đã trả lời : “Đến bây giờ, tôi thương Thanh Nga nhất, cô ấy là một nghệ sĩ có tâm tính hiền lành, trong sáng”.

Trời sinh Thanh Nga ra để làm nghệ sĩ, trong từng vai diễn của chị luôn toát ra sự đài các, sang trọng, rất tự nhiên chứ không cần phải diễn nhiều. Tôi học hỏi và ảnh hưởng ở chị trên sân khấu và ở ngoài đời là tấm gương về sự yêu thương và vị tha. Cho đến bây giờ, tôi vẫn luôn cố gắng không để lại tì vết nào như lời chị từng dạy: “Nghệ sĩ cần có một cái tâm trong sáng”.

Quế Phượng chuyển tiếp