Tiếng sáo NGUYỄN ĐÌNH NGHĨA

NGUYỄN ĐÌNH NGHĨA

MỘT ĐỜI VỚI CÂY SÁO

(1940 – 2005)

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa  sinh năm 5/10/1940. Thuở nhỏ học trường Lycée Yersin Dalat, và là môn đồ Thiếu Lâm, lò ông Tư Cụng, lực sĩ điền kinh Á Châu thập niên 60 về môn nhảy cao, nhảy sào và đánh võ đài. Mặc dù được học trường Tây, ông yêu nhạc Việt Nam từ nhỏ, biết đến sáo từ một nghệ nhân người Tàu. Năm 1958-1960 đã nổi tiếng và mệnh danh là Tiếng Sáo Thần. Ông chuyên sử dụng động tiêu, sáo trúc, đàn bầu, đàn tranh, đàn T’rưng.

– Dạy trường Quốc Gia Âm Nhạc và môn Quốc Nhạc trường Đại Học Vạn Hạnh

– Hoạt động trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và phụ trách nhiều chương trình thơ nhạc của các đài phát thanh Saigon

– Đại diện phái đoàn âm nhạc Việt Nam trình diễn tại các nước Á Châu và Âu Châu : Singapore năm 1964, Thailand năm 1966, và trình diễn tại Kulalam (Malaysia), 1969 trình diễn vòng quanh Pháp : Toulouse, Nice, Marseille, Bordeau, Pesencon, Lille, và Sweaden (Suisse). 1972 tại Phillipines, tại Cambodia, 1973 được Quốc Vương Lào mời trình diễn tại That Luong

– Sản xuất sáo trúc và sáo gỗ

– Sản xuất băng nhạc, băng sáo, cải lương

– Viết sách Tự Học Thổi Sáo, tái bản nhiều lần, dịch sách Tự Học Harmonica

Sau năm 1975 vì là thành phần miền Nam, Ông không được trình diễn, nên chuyển sang nghiên cứu, ông lên vùng Cao nguyên tìm tòi các nhạc cụ dân tộc. Cải tiến đàn T’rưng một cột hơi ra hai cột hơi, mở rộng từ 1 bát độ nguyên thủy thành 4 bát độ, đàn T’rưng bass, mở 3 âm vực, 3 bát độ. Cải tiến sáo trúc từ 6 lỗ bấm ra 11 lỗ, 16 lỗ, có thể trình tấu nhạc cổ điển, note thăng giáng, đồng thời vẫn thổi được nhạc ngũ cung mà không mất âm sắc của cây sáo nguyên thủy.

Sang Mỹ tháng 7 năm 1984, giới truyền thông đã giới thiệu trên NBC News, CBS News. Cùng gia đình biểu diễn và giảng dạy nhiều niên khoá học của Visual Arts Program thuộc Arlington County và Fairfax County, Virginia. Trình diễn nhiều show trên đài số 26, 33, 50, 54. Nhận 4 giải thưởng của Maryland State Council dành riêng cho Nghệ Sĩ Cá Nhân Xuất Sắc năm 1994, 1998, 2000, 2002

Lập gia đình với nhà văn Trịnh Thị Diệu Tân, có 5 người con :

– Nguyễn Diệu Đoan Trang, sử dụng sáo, đàn T’rưng, đàn Tam Thập Lục, trống

– Nguyễn Diệu Nam Phương: sử dụng đàn bầu, đàn tranh

– Nguyễn Đình Nghị: sáo, guitar, bass

– Cặp sinh đôi Nguyễn Đình Chiến: trống, guitar & Nguyễn Đình Hoà: bass, guitar, đàn T’rưng, Cello

Cùng gia đình trình diễn tại hàng trăm hý viện trên nhiều tiểu bang tại Mỹ, Canada.

Về sau Ông chuyển qua sáng tác nhạc Thiền : Cầu Vồng Ngũ Sắc, Hành Vân, Lời Của Một Giòng Sông (bài thiền của vua Lý Thái Tôn), Tiếng Kệ Bên Trời, Lời Hát Kệ.

Nghiên cứu để làm lại đàn đá, đàn lửa đã thất truyền của người Vân Kiều.

Chuyển hướng nhạc Thiền, dự định làm CD Thiền và những bài nhạc Tiền Chiến, “Mozzart on Bamboo”, “Christmas on Bamboo”, Thánh Ca qua nhạc cụ Dân Tộc.

Rất tiếc Ông bị đột quỵ ngay trên sân khấu American History of Nature Museum tại New York ngày 11/5/2003. Nằm bệnh viện cho đến khi  ra đi ngày 22/12/2005, hưởng thọ 65 tuổi.

Mời nghe tiếng sáo Nguyễn Đình Nghĩa (Click chuôt vào đường dẫn) :

Hoa_Thuy_Tien_tieng_sao_Nguyen_Dinh_Nghia

NHỮNG KÝ ỨC TRƯỚC NGÀY

TIẾNG SÁO QUA ĐỜI

… “Tôi sinh hoạt âm nhạc ở Việt Nam chưa từng nghe ai thổi sáo hay như Nguyễn Đình Nghĩa. Anh là người thổi sáo hay nhất, kể cả đến bây giờ. Nghe Nghĩa thổi Phượng Vũ, hệt như xem một con chim bay múa trên trời,” nhạc sĩ Phạm Duy, 83 tuổi, người kỳ cựu trong làng nhạc Việt Nam phát biểu khi hay tin Nguyễn Đình Nghĩa bị tai biến mạch máu não.

Tiếng sáo đã hôn mê.

Biến cố xẩy ra hôm 11 tháng Năm, 2003, trong lúc gia đình Nguyễn Đình Nghĩa trình diễn trên sân khấu của American History of Nature Museum, New York. Chương trình khai mạc lúc 11 giờ trưa với bài sáo “Lý Qua Đèo” của Nguyễn Đình Nghĩa. Con gái lớn, Đoan Trang đệm tam thập lục. Con gái thứ, Nam Phương đệm đàn tranh. Các con trai Nguyễn Đình Nghị đệm ghi ta, Nguyễn Đình Hòa đệm bass. Trong mục mở màn này, Đoan Trang, 40 tuổi, nhớ lại tiếng sáo của bố, 61 tuổi, dường như “có vẻ mệt, không tròn đầy như bình thường.” Sau khi Nam Phương độc tấu “Hành Vân” bằng đàn bầu, Đoan Trang độc tấu bài “Trở Về Cao Nguyên” bằng đàn T’rưng, “thì nghe có tiếng xôn xao ở cánh gà.” Đoan Trang nói lúc ấy nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa đã “trợn mắt té xỉu trong phòng nghỉ của đàn ông.” Buổi trình diễn huỷ bỏ. Cây sáo đột quị vì stroke. Đoan Trang cho biết nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa “bị tiểu đường cả chục năm nay, trước khi trình diễn cũng đã chích insulin.”

Tiếng sáo thần

Ở miền Nam Việt Nam, báo chí thời thập niên 1960 thường mệnh danh Nguyễn Đình Nghĩa là “Tiếng Sáo Thần.” Nhạc sĩ Phạm Duy cũng ân cần nhắc nhở đến danh hiệu ấy khi nhớ lại những ngày “58-60, lúc tôi giới thiệu Nghĩa ra thổi ở quán Anh Vũ của kiến trúc sư Võ Đức Diên, đường Bùi Viện. Sau đó Nghĩa đã có mặt ở tất cả các ban ngâm thơ trên các đài phát thanh … Người ta gọi Nghĩa là Tiếng Sáo Thần.”

Tại Mỹ, ký giả Stella Dawson cuả tờ Northern Virginia Sun so ông với Jean-Pierre Rampal – người Pháp, một trong vài người thổi sáo cổ điển hay nhất thế giới đương đại : “Nguyễn Đình Nghĩa là Jean-Pierre Rampal của âm nhạc truyền thống Việt Nam.” Gia đình Nguyễn Đình Nghĩa đến Mỹ trong tháng 7, 1984. Sau những buổi trình diễn đầu tiên, rất mau chóng, giới truyền thông đã giới thiệu ông trên các đài truyền hình NBC News, CBS News… với phần phỏng vấn của các ký giả Connie Chung, Jack Reynolds.

Miền Đông nước Mỹ nhìn nhận tài năng Nguyễn Đình Nghĩa qua bốn giải thưởng của Maryland State Council, dành riêng cho các nghệ sĩ cá nhân xuất sắc, vào những năm 1994, 1998, 2000 và 2002. Nguyễn Đình Nghĩa chuyên về sáo ngang, nhưng cũng sử dụng động tiêu (sáo dọc, ống lớn, nốt trầm), đàn bầu, đàn tranh và đàn T’rưng (một loại xylophone của vùng cao nguyên Việt Nam). Với cây sáo trúc nguyên thủy 6 lỗ, ông sáng tạo ra cây sáo 11 lỗ, rồi 16 lỗ, để có thể tấu được nhạc cổ điển, thổi được những nốt thăng giáng, đồng thời vẫn thổi ngũ cung mà không mất đi âm sắc của cây sáo trúc nguyên thủy. Ông cũng sáng tạo nên toàn bộ cây đàn T’rưng cải tiến: từ một cột hơi ra hai cột hơi, mở rộng từ một bát độ nguyên thuỷ của đàn T’rưng thành bốn bát độ, để trình tấu được các tấu khúc cổ điển tây phương và hiện đại.

Những công trình ấy, Nguyễn Đình Nghĩa thực hiện trong thời gian kẹt lại Việt Nam sau biến cố 1975, với chín năm lặn lội đi lại trình diễn và nghiên cứu nhạc trên vùng cao nguyên. Về việc này, nhà văn Phan Nhật Nam, người bạn từ thơ ấu của Nguyễn Đình Nghĩa, ghi nhận rằng “anh đã gọt không phá hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn, mà hàng chục ngàn ống tre… Chọn lọc, nấu luộc, phơi nắng, cất giữ để có những ống tre tối ưu… Căn nhà anh trở nên một rừng tre nhân tạo tua tủa những ống tre. Từng ngày, từng ống tre được gọt theo từng 1/5, 1/10 milimetre một… Vào năm 1981, Nghĩa hoàn tất chiếc đàn T’rưng đồ sộ gồm 26 ống có khả năng tiết tấu bốn bát độ. Ngoài ra Nghĩa cũng cậy đến một sáng kiến khác của người Nhật Watanabé, nhạc sĩ này đã tìm ra một ‘gam vô tình’ cũng có thể gọi là ‘gam mềm’ sau khi gắn vào thêm hai ống, và chiếc đàn 29 ống đã hoàn chỉnh.”

Trong những cuộc trình diễn tại Mỹ, bộ đàn T’rưng này thường có lúc xếp đến 52 ống.

Gia đình nghệ sĩ

Trước 1975, Nguyễn Đình Nghĩa thường trình diễn một mình một sáo. Nhưng sang đến Mỹ năm 1984, hình ảnh trình diễn của ông, là hình ảnh ấm cúng của một gia đình. Trên sân khấu, tiếng sáo của ông quyện vào giọng ngâm thơ cuả vợ, bà Trịnh Thị Diệu Tân, (yêu nhau từ thuở còn thơ dại, ăn ở với nhau hơn bốn thập niên qua) và các con gái : Nguyễn Diệu Đoan Trang (sinh năm 1963, sử dụng đàn T’rưng, đàn tam thập lục, trống đông phương, sáo), Nguyễn Diệu Nam Phương (sinh năm 1964, đàn bầu, đàn tranh), con trai Nguyễn Đình Nghị (sinh năm 1967, guitar), hai con trai song sinh : Chiến và Hòa, sinh ngày 1 tháng 10, 1975, năm tháng sau khi chiến tranh kết thúc.

Nguyễn Đình Chiến chơi trống tây phương và guitar. Nguyễn Đình Hòa chơi bass. Gia đình nghệ sĩ này đã trình diễn tại hàng trăm hí viện nhiều tiểu bang Mỹ và Gia Nã Đại, trong đó có những hí viện mà các nghệ sĩ cảm thấy vinh dự khi xuất hiện, như Carnegie Hall (New York,) Kennedy Center, Constitution Hall, Smithsonian Institution, Library of Congress (Washington D.C.) Về những buổi trình diễn ấy, nhạc sĩ Phạm Duy nói Nguyễn Đình Nghĩa và gia đình ông “là những người có công đem được nhạc thật thuần túy của Việt Nam ra giới thiệu với đất nước Hoa Kỳ và rất được tán thưởng. Họ cũng dự phần vào việc phát huy nhạc dân tộc Việt Nam, nhất là nhạc cao nguyên” mà ông giải thích là một loại nhạc phong phú nhất trong các loại nhạc miền núi Việt Nam.

Ngày xưa, ngày nay

Là cựu học sinh Lyceé Yersin, cựu giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh, ông Nguyễn Đình Nghĩa từng hoạt động trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, và phụ trách nhiều chương trình thơ nhạc trên các đài phát thanh Sài Gòn. Nhớ lại những ngày xưa ấy, Phan Nhật Nam viết trong cuốn “Mùa Đông Giữ Lửa” (xuất bản tại Mỹ, 1997), kể lại Nguyễn Đình Nghĩa trong những năm ấu thơ ở Đà Nẵng, thời thập niên 50 “vốn là môn đồ Thiếu Lâm, vô địch điền kinh học sinh, nét mặt tươi vui đều đặn. Bạn có thể trở nên một tay hào hoa ăn chơi không âu lo với cung cách quen thuộc của dân học trường Tây, gia đình tài sản lớn. Nhưng đời bạn đã không theo con đường dễ dàng thuận lợi đó. Bạn chọn ngã chông chênh, nguy biến hơn… đó là Nghệ Thuật. Và bạn đã chọn hướng Nghệ Thuật hàng đầu là Âm Nhạc.”

Nguyễn Bá Trạc ghi

Nguyễn Đình Nghĩa:

Tiếng Sáo Lên Trời

Gục ngã trên sân khấu trình diễn !

Những ngày trong bệnh viện…

Tiếng sáo mê đắm lòng người !

Hỏi đời còn nhớ ta chăng ?

Đối với giới văn nghệ sĩ, tôi là người ít có cơ hội gặp gỡ tiếp xúc nên ít được ai biết đến. Lại nữa, tôi chẳng có cái tài cán gì để thi thố cùng bàn dân thiên hạ thì làm sao có ai nhớ mặt nhớ tên ?

Tôi rất mê các danh ca nghệ sĩ nên biết khá nhiều đến những tên tuổi lẫy lừng trong giới văn học nghệ thuật. Tất nhiên là tôi rất ái mộ các nhân tài!
Một trong những nhân tài, phải kể đến tiếng sáo Nguyễn đình Nghĩa.

Tôi phục sát đất về tài nghệ của chàng cũng như những đóng góp của cả một gia đình. Tôi cũng chưa bao giờ được dịp gặp mặt trò chuyện làm quen hay có được chút thân tình bằng hữu để làm vui đẹp cuộc đời. Mới đây thôi, tôi được tin anh Nguyễn đình Nghĩa đang lâm trọng bệnh, hiện nằm trong bệnh viện, khu cấp cứu.

Tôi bỗng thấy thương anh, muốn cùng bạn bè đi thăm nên rủ hai nhà thơ Vương Đức Lệ và Hoàng Song Liêm đi cùng. Chúng tôi nói chuyện với nhau xong, buông điện thoại là đón bạn lên xe đi Maryland vào một buổi trưa Thứ Bẩy cuối tháng Hai.

Địa điểm chúng tôi tìm đến chẳng lấy gì làm vui: Nơi ấy là một bệnh viện !

Anh Nguyễn đình Nghĩa đang nằm đó.

Chúng tôi được cháu gái lớn Đoan Trang chờ sẵn tại cửa chính, dẫn lên thang máy. Chị Diệu Tân – vợ anh Nghĩa – đứng trước phòng. Anh Nghĩa nằm chìm trong chăn nệm trắng của nhà thương, gối đầu hơi cao, tóc muối tiêu, da dẻ vẫn còn hồng hào, không nói được lời nào. Mắt anh mở, như nhìn vào cõi hư không. Một ống truyền dưỡng khí gắn vào cổ họng để thở. Tay chân anh mềm yếu, rũ liệt.

Theo chị Diệu Tần cho biết, anh nằm trong một Nursing home nhưng khi lâm trọng bệnh thì được gửi vào bệnh viện cứu cấp. Thoát khỏi tình trạng nguy nan, họ lại chở anh về Nursing home.

Theo nhân viên bệnh viện cho biết thì vài ngày nữa, anh sẽ rời bệnh viện… Sức khỏe của anh không ổn định, nóng sốt bất thường, những móng tay khô lại như có máu bầm đen. Đôi chân nhỏ hẳn lại. Toàn thân bất động. Có lẽ vì máu bầm trong óc lan rộng đè lên mạch máu, không tan đi nên xẩy ra tình trạng này…

Chúng tôi không biết nói gì hơn là an ủi chị hãy bình tâm, lo ăn uống đầy đủ để có sức săn sóc người bệnh, cầu nguyện hàng ngày, đọc kinh Phật giảng. Và cầu mong một ngày nào đó anh hồi phục. Sự tận tâm lo lắng, chăm nom cho người chồng cũng là niềm an ủi vô cùng cho anh Nguyễn đình Nghĩa. Biết đâu nhờ tình thương yêu vô cùng ấy sẽ như một phép lạ để giúp anh mau lành bệnh!
Sau gần một tiếng đồng hồ trò chuyện thăm hỏi anh Nghĩa, chị Diệu Tân và vợ chồng cháu Đoan Trang, chúng tôi ra về, lòng đầy u buồn, thương sót một tài danh…

GỤC NGÃ TRONG KHI TRÌNH DIỄN

Ngày 11-05-2003, gia đình anh trình diễn tại Nữu Ước, trên sân khấu của American History of Nature Museum.

Chương trình khai mạc lúc 11 giờ trưa với bài Lý qua đèo qua tiếng sáo Nguyễn đình Nghĩa. Con gái lớn Đoan Trang đệm tam thập lục, con gái thứ Nam Phương đệm đàn tranh. Các con trai Nguyễn đình Nghị đệm ttay ban cầm, Nguyễn đình Hòa đệm bass. Đoan Trang thấy tiếng sáo của bố dường như có vẻ mệt mỏi, không tròn, không được bình thường.

Sau khi Nam Phương độc tấu Hành vân bằng đàn bầu, Đoan trang độc tấu Trở về cao nguyên bằng đàn T’rưng thì nghe có tiếng xôn xao ở bên cánh gà. Lúc ấy, nhạc sĩ Nguyễn đình Nghĩa đã té xỉu trong phòng nghỉ của nghệ sĩ.
Buổi trình diễn phải hủy bỏ.

Anh được đưa vào bệnh viện cấp cứu Lenoxill ở Nữu Ước và nằm đó suốt 9 tuần lễ, một nơi xô bồ, xa lạ, không thân nhân, không bằng hữu, lúc tỉnh lúc mê. Chị Nghĩa chầu trực bên anh suốt thời gian này, cũng như nửa mê nửa tỉnh. Mỗi lúc nắm bàn tay anh, thấy còn ấm, chị mới biết chính mình cũng còn đang sống !

Khi xe cứu thương chở anh về Nursing home ở Maryland, chị mới biết rằng anh đã trải qua những phút giây hãi hùng, nguy hiểm nhất.
Giữa đám khăn trắng xoá, anh mở mắt nhìn chị, chị mới chợt hiểu là phải đứng vững trong hoàn cảnh ngặt nghèo này để nâng đỡ, khuyến khích anh hồi phục…
Vài lần, nursing home đã chở anh vào bệnh viện vì căn bệnh tiểu đường lâu năm sinh biến chứng đã làm anh suy nhược nhiều, kháng thể yếu kém đi nên phải vào khu cấp cứu.

Anh vẫn còn hiểu biết nhưng phải nói bằng dấu. Mỗi khi hỏi, anh muốn trả lời Có thì làm dấu bằng cách chớp chớp đôi mắt. Trả lời Không thì anh ngọ nguậy ngón chân hay ngón tay.

Phương cách truyền thông cổ điển ấy, chưa có máy móc truyền thông hiện đại nào thay thế được ! Khi có bạn đến thăm, anh nhận biết được người đó.
Rồi anh khóc. Những giọt nước mắt chẩy dài trên gò má… Một con người năng động, say mê nghệ thuật như thế, bây giờ nằm đó bất động.
Và trong anh bây giờ còn lại là nửa hồn thương đau, nửa đời đứt gánh !

ĐỜI NGHỆ SĨ

Nguyễn đình Nghĩa sinh năm 1940 tại Saigon. Thời trẻ, anh là một thể tháo gia, từng là lực sĩ điền kinh các môn nhẩy cao, nhẩy sào. Cựu học sinh trường trung học Yersin.

Anh là môn đồ của võ phái Thiếu Lâm, xuất thân từ lò Tư Cung.
Năm 20 tuổi, anh lập gia đình với chị Trịnh Diệu Tân. Một mối tình đầy thơ và mộng. Chị học luật khoa, cao học Vạn Hạnh, còn anh dấn thân vào bước đường âm nhạc. Được Phạm Duy nâng đỡ và giới thiệu, anh làm ở phòng trà Anh Vũ, sau đó qua đài phát thanh cộng tác trong các chương trình thi ca như Tao Đàn của Đinh Hùng, Mây Tần của Kiên Giang, thi nhạc giao duyên của Duy Khánh, Vĩnh Phan, Hồ Điệp, Bửu Lộc, Ngô nhật Thanh v.v…

Rồi anh sang Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, trình diễn trên khắp bốn vùng chiến thuật. Anh cũng được đi trình diễn ở ngoại quốc trong các nhóm nghệ sĩ đại diện quốc gia, như tại Thái Lan, Mã Lai, Phi luật Tân, Pháp… Anh nghiên cứu một loại đàn của miền Thượng, tấu lên những khúc nhạc Tây phương. Chính vì lối trình diễn độc đáo này mà các nghệ sĩ ở hải ngoại để ý đến anh và thường xuyên mời anh cùng gia đình tham gia trong các buổi văn nghệ đặc biệt trên đất Mỹ.

Anh rất thành công với hai bài sáo tự sáng tác là Phượng vũ và Thần triều. Và bài nhạc do anh viết, bản Đoạn trường khúc là một tâm khúc làm xúc động lòng người.

Anh chuyên về sáo ngang nhưng cũng xử dụng cả ống tiêu (sáo dọc, ống lớn, nốt trầm), đàn bầu, đàn tranh và đàn T’rưng. Với cây sáo nguyên thủy 6 lỗ, anh sáng tạo ra cây sáo 11 lỗ rồi 16 lỗ, hoàn chỉnh để loại nhạc cụ này có khả năng trình tấu các ca khúc ngoại quốc.

Anh còn viết nhiều nhạc phẩm khác, cũng như xuất bản cuốn dậy thổi sáo, tái bản cả chục lần. Anh dịch 2 tập Tự học khẩu cầm của Pháp. Và khi anh đóng phim Đời võ sĩ và Đời phóng viên thì tên tuổi của anh được báo chí nhắc đến nhiều.

Anh sản xuất băng nhạc, nhất là những băng có tiếng sáo trúc hoà điệu cùng các nhạc cụ khác. Đầu thập niên 1970, anh dậy Quốc Nhạc tại Viện Đại Học Vạn Hạnh.

Sau biến cố năm 1975, anh ít có cơ hội đi trình diễn nên dành thời giờ để nghiên cứu về nhạc cụ. Như Phan Nhật nam là bạn từ thời thơ ấu với anh kể lại, cả khu nhà nhỏ bé của vợ chồng Nguyễn đình Nghĩa biến thành một rừng tre trúc. Anh đã gọt hàng chục, hàng trăm, hàng ngàn ống tre. Anh chọn lọc, nấu luộc, phơi nắng, cất giữ những ống tre đắc ý nhất. Anh Nghĩa bỏ ra 10 năm để tạo những nhạc cụ cải tiến. Đó là sáo trúc 11 lỗ, tấu được tất cả nhạc thế giới. Năm 1981, anh hoàn tất chiếc đàn T’rưng đồ sộ gồm 27 ống, có khả năng tiết tấu 4 bát độ.

Với những nhạc cụ bằng trúc, bằng tre, gia đình anh đã trình tấu những nhạc khúc cổ điển tây phương và tấu khúc Trận mưa trong rừng nhiệt đới với âm thanh trầm bổng mới lạ đã khiến cho người ngoại quốc từø ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và họ hết sức thán phục.

Gia đình Nguyễn đình Nghĩa đến Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 1984 và định cư tại tiểu bang Virginia.

Hồi còn ở trong nước, qua làn sóng điện và các buổi trình diễn, chúng ta đã được nghe tiếng sáo tuyệt vời của Nguyễn đình Nghĩa qua những chương trình văn nghệ.

Tại hải ngoại, sống xa quê hương, khi nghe tiếng sáo Nguyễn đình Nghĩa, chúng ta lại càng nhớ thương về nơi quê hương yêu dấu, hồi tưởng cả đến những khung cảnh cao nguyên núi rừng âm u bát ngát, có tiếng khèn vang trong đêm vắng, có tiếng đàn tiếng trống vang trong xứ Thượng miền Banmethuot, Pleiku, Kontum của các sắc dân Rhadé, Jarai, Sedang, Bahnar…

MỘT GIA ĐÌNH NGHỆ SĨ !

Để đào tạo được 5 người con trở thành 5 nghệ sĩ tài hoa như thế, Nguyễn đình Nghĩa phải là người cha làm việc hăng say, một ông thầy chăm chỉ kiên nhẫn, một người cha có kỷ luật nghiêm túc. Và trên hết, Nguyễn đình Nghĩa phải là người say mê nghệ thuật.

Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến vai trò của người vợ, người mẹ cũng có tấm lòng yêu thích âm nhạc, nghệ thuật thì mới có được một gia đình dành cả cuộc đời cho lý tưởng như thế.

Được biết chị Trịnh Diệu Tân, vợ anh Nguyễn đình Nghĩa cũng là người làm thơ, viết văn với những truyện ngắn trong Mảnh Vụn và Một Đời Lang Thang.

Trong các buổi trình diễn tải hải ngoại, gia đình Nguyễn đình Nghĩa đã khiến cho quan khách ngoại quốc phải sửng sốt, gây được sự ngạc nhiên thích thú khi nghe gia đình này xử dụng những thanh tre, ống trúc, và trống thay giây đàn và phím đàn để trình tấu những bản nhạc Tây phương như Serenade của Schubert và nhiều bản khác.

Gia đình Nguyễn đình Nghĩa đã có mặt trong nhiều đại nhạc hội ở các viện âm nhạc cổ điển, âm nhạc đồng quê, các đại hí viện lớn, các trung tâm giáo dục, cộng đồng, các viện đại học… Tới đâu, gia đình Nguyễn đình Nghĩa cũng gây được sự chú ý đặc biệt và được mọi giới tán thưởng nhiệt liệt cũng như ca ngợi về thành tích và tài năng của mọi người trong gia đình họ Nguyễn.
Lần trình diễn gần nhất là gia đình anh được mời tới Nữu Ước tại thính đường Carnegie Hall nhân ngày lễ ra trường của các sinh viên đại học kỹ thuật. Đây là thính đường nổi tếng và sang trọng hàng đầu ở Nữu Ước. Những nghệ sĩ trình diễn ở đây đều được chọn lựa kỹ lưỡng.

Điều đáng khích lệ với gia đình anh là khán giả hôm đó lên tới 2,000 người , hội trường không còn một chỗ trống ! Nguyễn đình Nghĩa đã nhận được những giải thưởng cao quý của Hội Đồng Các Nghệ Sĩ Trình Diễn Aâm Nhạc thuộc tiểu bang Maryland trong các năm 1994, 1998, 2000 và 2002 !

GÓP MỘT BÀN TAY !

Khi anh lâm trọng bệnh, chị Diệu Tân đã phải xin nghỉ nơi chị làm việc 18 năm để dành trọn thời giờ săn sóc anh trong bệnh viện. Có nhiều khi nhìn anh, chị chỉ mơ ước có được nhữõng ngày tháng cũ gia đình đầm ấm quây quần bên nhau trong bữa cơm chiều. Chị thèm được nghe tiếng sáo mượt mà trầm bổng như ru hồn trong cõi mộng mơ. Tiếng sáo âm vang thanh thoát ấy, đang dần dần trút bỏ cung bậc chốn nhân gian để trong một giây phút phù du nào đó lặng lẽ ra đi, bay vút về trời !

Trước hoàn cảnh khó khăn và đầy nghiệt ngã ấy, một số anh chị em hằng yêu mến gia đình Nguyễn đình Nghĩa đã bàn thảo với nhau để tổ chức một buổi văn nghệ vinh danh Nguyễn đình Nghĩa. Địa điểm tổ chức là nhà hàng Saigon House vào ngày 20/3/2004. Rất đông thân hữu, những người từng ái mộ danh tài của gia đình Nguyễn đình Nghĩa đã hoan nghênh ý kiến trên và hứa tham dự cũng như cổ động để mời đồng hương góp mặt.

Từ bên Cali., Ý Lan đã tự nguyện lên DC để hát trong buổi trình diễn trên. Ý Lan còn hứa bán CD, dành một khoản tiền nữa để trợ giúp gia đình anh Nguyễn đình Nghĩa. Đó là Đêm Ý Lan với chủ đề Tình nghệ sĩ. Cùng với Ý Lan, các con của gia đình Nguyễn đình Nghĩa và các nghệ sĩ tại địa phương đóng góp trong chương trình đặc biệt này.

Lê văn Phúc (Virginia 02-2004)

LỊCH SỬ ÁO DÀI VIỆT

ÁO DÀI XƯA VÀ NAY

Áo dài là loại trang phục truyền thống của Việt Nam, che thân người từ cổ đến hoặc quá đầu gối, dành cho cả nam lẫn nữ. Áo dài thường được mặc vào các dịp lễ hội trang trọng, hoặc nữ sinh mặc khi đi học.

Lịch sử : Tiền thân của áo dài

Không ai biết rõ chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao vì không có tài liệu ghi nhận và chưa có nhiều người nghiên cứu. Y phục xa xưa nhất của người Việt, theo những hình khắc trên mặt chiếc trống đồng Ngọc Lũ cách nay khoảng vài nghìn năm cho thấy hình phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ.

Sử gia Đào Duy Anh viết : “Theo sách Sử ký chép thì người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo dài về bên tả (hình thức tả nhiệm). Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu Chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu. Theo những lời sách đó chép thì ta có thể suy luận rằng trước hồi Bắc thuộc thì người Việt gài áo về tay trái, mà sau bắt chước người Trung Quốc mới mặc áo gài về tay phải”.

Kiểu sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng mầu buông thả. Xưa các bà các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài; về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thúng. Cổ nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày. Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thu gọn lại thành kiểu áo tứ thân (gồm bốn vạt nửa: vạt nửa trước phải, vạt nửa trước trái, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái). Áo tứ thân được mặc ra ngoài váy xắn quai cồng để tiện cho việc gồng gánh nhưng vẫn không làm mất đi vẻ đẹp của người phụ nữ.

Áo tứ thân thích hợp cho người phụ nữ miền quê quanh năm cần cù bươn chải, gánh gồng tháo vát. Với những phụ nữ tỉnh thành nhàn hạ hơn, muốn có một kiểu áo dài được cách tân thế nào đó để giảm chế nét dân dã lao động và gia tăng dáng dấp trang trọng khuê các. Thế là ra đời áo ngũ thân với biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay được thu bé lại trở thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước. Áo ngũ thân che kín thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi thành bốn) tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm về ngũ thường theo quan điểm Nho giáongũ hành theo triết học Đông phương.

Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát

Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát được xem là người có công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam.

Chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Trung Hoa, cho đến thế kỷ 18 lối ăn mặc của người Việt Nam vẫn thường hay bắt chước lối của người phương Bắc, đặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn xứ Đàng Trong do nhu cầu khai phá khẩn hoang, đón nhận hàng vạn người Minh Hương (còn gọi là người Khách Trú hay đọc trại thành “cắc chú”) bất mãn với nhà Thanh sang định cư lập nghiệp, mặc dù người Việt cũng có lối ăn mặc riêng.

Trước làn sóng xâm nhập mới này, để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo đó thi hành. Trong sắc dụ đó, người ta thấy lần đầu tiên sự định hình cơ bản của chiếc áo dài Việt Nam, như sau :

“Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép …” (sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên). Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn viết “Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu cho chiếc áo dài như vậy”.

Căn cứ theo những chứng liệu này, có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cố định đã ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương (17391765). Vào thời này, các văn bản tại Việt Nam dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm, áo dài viết bằng chữ Nôm là

Áo dài màu đỏ (thường là áo dài dùng trong lễ cưới, lễ ăn hỏi của người Việt)

Một vài tài liệu quy kết việc ra đời của chiếc áo dài quốc phục là do những tham vọng riêng tư của chúa Nguyễn Phúc Khoát. Do muốn xưng vương và tách rời Đàng Trong thành quốc gia riêng, nên ban sắc dụ về ăn mặc như trên cho khác đi, không phải với người khách trú mà với Bắc triều (trong quy định này đã có cả chỉ thị phụ nữ phải mặc quần hai ống). Sau thấy quần hai ống khêu gợi quá, Vương mới giao cho triều thần pha phối từ mẫu áo dài của người Chăm (giống như áo dài phụ nữ Việt Nam ngày nay, nhưng không xẻ nách) và áo dài của phụ nữ Thượng Hải (chiếc sườn xám) để “chế” ra cái áo dài của phụ nữ Việt Nam. Chiếc áo dài đầu tiên giống như áo dài người Chàm và có xẻ nách. Thật ra chiếc sườn xám cũng chỉ ra đời quãng thập niên 1930, và quan điểm trên quá thiên nặng về tính chống phong kiến nên vô hình chung đề cao vai trò của Vũ Vương như là “nhà thiết kế áo dài hiện đại đầu tiên”.

Thời vua Minh Mạng

Cho đến thế kỷ 17 truyền thống mặc váy vẫn tồn tại ở Việt Nam như đã ghi trong sách Lê Triều Thiên Chính đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3 năm 1665 với sắc lệnh nhắc nhở : “… áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưa đến nay vốn đã có cổ tục như thế…”. Vậy có thể nói rằng bộ áo ngũ thân xuất hiện vào khoảng đời vua Gia Long (1802-1819). Sở dĩ có sự ước đoán này, vì mặc áo ngũ thân thì phải mặc quần chớ không thể mặc váy. Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế ra chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy và bắt phải mặc quần hai ống, nên hồi ấy mới xuất hiện câu ca dao than vãn :

Tháng Tám có chiếu vua ra

Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng !

“Đời sống mới”

Năm 1947, trong bối cảnh Việt Nam mới tuyên bố độc lập và các phong trào “diệt giặc đói, giặc dốt” đang được phát động, nhằm phát động phong trào tiết kiệm, ngày 20/3/1947, với bút hiệu Tân Sinh chủ tịch nước VNDCCH, đã viết một cách vắn tắt rõ ràng và dễ hiểu bài “Đời sống mới” trong đó vận động người dân bỏ thói quen mặc áo dài để thay bằng áo ngắn vì : mặc áo dài đi đứng, làm việc bất tiện, lượt thượt, luộm thuộm. Áo dài tốn vải, khoảng hai cái áo dài may được ba cái áo ngắn, nếu chỉ mặc áo ngắn có thể sẻn được 200 triệu đồng/năm. dài không hợp với phụ nữ Việt Nam đời sống mới. Cuộc vận động này dần đã được người dân hưởng ứng và áo dài không còn là trang phục thông dụng của phụ nữ Việt Nam trong một thới gian dài.

Áo dài Le Mur

“Le Mur” chính là cách dịch sang tiếng Pháp của tên Cát Tường, một họa sĩ vào thập niên 1930 đã thực hiện một cải cách quan trọng trên chiếc áo tứ thân để biến nó chỉ còn lại hai vạt trước và sau mà thôi. Vạt trước được họa sĩ nối dài chấm đất để tăng thêm dáng vẻ uyển chuyển trong bước đi, đồng thời thân trên được may ôm sát theo những đường cong cơ thể người mặc tạo nên vẻ yêu kiều và gợi cảm rất độc đáo.

Để tăng thêm vẻ nữ tính, hàng nút phía trước được dịch chuyển sang một chỗ mở áo dọc theo vai rồi chạy dọc theo một bên sườn. Tuy nhiên, áo dài Le Mur có nhiều biến cải mà nhiều người thời đó cho là “lai căng” thái quá, như áo may ráp vai, ráp tay phồng, cổ bồng hoặc cổ hở. Thêm nữa áo Le Mur mặc cho đúng mốt phải với quần xa tanh trắng, đi giày cao, một tay cắp ô và quàng vai thêm chiếc bóp đầm. Lối tân thời này đã bị một số dư luận khi đó tẩy chay và cho là “đĩ thõa” (như được phản ảnh không hề thiện cảm trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng).

Áo dài Lê Phổ

Năm 1934, một họa sĩ khác là Lê Phổ bỏ bớt những nét lai căng, cứng cỏi của áo Le Mur, đồng thời đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn. Sự dung hợp này quá hài hòa, vẹn vẻ giữa cái mới và cái cũ, được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt. Từ đây áo dài Việt Nam đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó, và từ bấy đến nay dù trải bao thăng trầm, bao lần cách tân cách điệu, hình dạng chiếc áo dài về cơ bản vẫn giữ nguyên.

Áo dài với tay giác lăng

Thập niên 1960 có nhà may Dung ở Dakao, Sài Gòn đưa ra kiểu may áo dài với cách ráp tay raglan (giác lăng). Cách ráp này đã giải quyết được vấn đề khó khăn nhất khi may áo dài : những nếp nhăn thường xuất hiện hai bên nách. Cách ráp này cải biến ở chỗ hàng nút cài được bố trí chạy từ dưới cổ xéo xuống nách, rồi kế đó chạy dọc một bên hông. Với cách ráp tay raglan làn vải được bo sít sao theo thân hình người mặc từ dưới nách đến lườn eo, khiến chiếc áo dài ôm khít từng đường cong của thân hình người phụ nữ, tạo thêm tính thẩm mỹ theo đánh giá của một số nhà thiết kế.

Áo dài miniraglan

Phiên bản này được áp dụng rộng rãi cho nữ sinh. Theo phiên bản này, áo dài tay raglan có tà chỉ dài tới gối, nhưng hai ống quần rộng lòa xòa phủ kín đôi chân. Hai đặc điểm này làm cho tà áo nữ sinh đậm chất hồn nhiên, dễ thương.

Một biểu trưng của Việt Nam

Khác với kimono của Nhật Bản hay hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại cũng vừa hiện đại. Trang phục dành cho nữ này không bị giới hạn chỉ mặc tại một số nơi hay dịp mà có thể mặc mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà. Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kỳ, những thứ mặc kèm đơn giản : mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo choàng và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hoặc một chiếc miện Tây phương tùy thích. Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này.

Áo dài có thể có nhiều màu nhưng đẹp nhất là áo dài trắng; áo dài mặc kèm với áo lá, mang giày cao gót trắng, đội nón lá màu trắng.

Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn đẹp mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật mềm mại trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ chí trên vòng eo khiến cho cử chỉ người mặc thật thoải mái, lại tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bởi lụa mềm, lại cũng vừa khiêu gợi vì chiếc áo làm lộ ra sống eo.

Chiếc áo dài vì vậy mang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người, dành cho riêng người đó; không thể có một công nghệ “sản xuất đại trà” cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy số đo thật kỹ. Khi may xong phải qua một lần mặc thử để sửa nhỏ nữa mới hoàn thiện.

Trong thơ ca hôi họa

Hình ảnh phụ nữ/con gái Việt Nam với chiếc áo dài truyền thống đã được nhiều nhà nghệ sĩ ghi lại, nổi bật nhất là trong thơ và nhạc. Bài thơ nổi tiếng về chiếc áo dài có thể kể là “Áo lụa Hà Đông” của Nguyên Sa, bài này được phổ nhạc thành một bài hát nổi tiếng và là cảm hứng cho một bộ phim điện ảnh cùng tên, với những câu:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông…

“Ngày xưa Hoàng Thị” của Phạm Thiên Thư kể về chuyện tình thuở học sinh với cô gái họ Hoàng, cô xuất hiện trong bài với những nét phác họa :

Áo tà nguyệt bạch

Ôm nghiêng cặp sách

Vai nhỏ tóc dài“.

Phạm Duy phổ nhạc bài này cũng không quên làm nổi bật hình ảnh áo dài khi sửa thành :

Ôm nghiêng tập vở, tóc dài, tà áo vờn bay…

Áo dài cũng in đậm nét trong những vần thơ nghịch ngợm của Nguyễn Tất Nhiên :

Tháng giêng em bikili

Tỉnh lỵ còn nguyên nét Việt Nam

Đài các chân ngà ai bước khẽ

Nguyện theo tà lụa cả phương Đông

(Tháng giêng, chim)

đưa em về dưới mưa / áo dài sầu hai vạt / khi chấm bùn lưa thưa…

(Em hiền như Ma-soeur)

Trong thơ Bùi Giáng, màu áo dài của ký ức được nâng lên thành huyền thoại :

Biển dâu sực tỉnh giang hà

Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh

Và có lẽ trong những vần thơ rất dung dị sau đây của Huy Cận cũng có hình bóng của chiếc áo dài trắng nữ sinh :

Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong

Hôm xưa em đến mắt như lòng

Nở bừng ánh sáng em đi đến

Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng

(Áo trắng).

Chiếc áo dài cũng phảng phất hay xuất hiện nhiều trong các ca khúc Việt Nam. Trong nhạc Trịnh Công Sơn có thể nhìn thấy khá nhiều. Theo hồi ký, chính những bước chân hoàng cung của những nữ sinh áo tím Huế đã làm cho nhạc sĩ họ Trịnh viết nên bài “Diễm xưa” nổi tiếng. Hay trong bài “Hạ trắng”, hình ảnh áo dài cũng chập chờn :

Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay… (Hạ trắng)

“Bé ca” của Phạm Duy viết cho con gái mới lớn, có bài “Tuổi ngọc” tả về niềm hân hoan của cô bé khi bước chân vào trung học, lần đầu khoác lên mình “một chiếc áo như mây hồng” :

Xin cho em một chiếc áo dài, cho em đi mua xuân tới rồi

Mặc vào đời rồi ra, mừng lạy chào mẹ cha

Hàng lụa là thơm dáng tuổi thơ

Phạm Duy cũng không quên nhắc về chiếc áo này trong một giấc mơ hòa bình từ thập niên 1940 :

Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong nắng cười… (Quê nghèo)

Bài “Một thoáng quê hương” của Từ Huy nổi tiếng một thời với câu :

Tà áo em… bay, bay, bay, bay… trong gió nhẹ nhàng…

Dù ở đâu, Paris, Luân Đôn hay ở những miền xa. Thoáng thấy áo dài bay trên đường phố, sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó… em ơi…

Các nhạc sĩ tiền chiến cũng hay ca ngợi áo dài như bài “Tà áo xanh” của Đoàn ChuẩnTừ Linh. Và cảm xúc về chiếc áo dài cũng làm nên những câu hát nổi tiếng của Hoàng Trọng :

Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím

Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím

Nhuộm tím những chuỗi ngày ấy nhau

Tháng năm càng lướt mau

Biết bao giờ ấy nhau

(Ngàn thu áo tím)

Bức tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ” của họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943, là một trong những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam đầu tiên và nổi tiếng bậc nhất, miêu tả một cô gái mặc áo dài trắng ngồi bên một bình hoa huệ.

Áo dài nam

Theo nhà biên khảo Trần Thị Lai Hồng thì áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống và khăn đội đầu cũng là quốc phục của phái nam. Các bà các cô dùng mầu sắc óng ả dịu mát trong khi đàn ông con trai chỉ dùng màu đen, trắng, hoặc lam thẫm. Suy cứ này có cơ sở vì từ chiếc áo dài ngũ thân trang trọng cho phụ nữ tỉnh thành chắc chắn phải tồn tại bên cạnh đó một thứ áo trang trọng cho giới nam để cân xứng.

Tuy nhiên theo sắc dụ ban hành từ thời Chúa Nguyễn Vũ Vương thỉ sự quy định trang phục cho nam giới ít gò bó và thoáng hơn, “Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xẻ mớ. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được” (trích sắc dụ này). Từ thập niên 1930 trở đi mới xuất hiện áo dài nữ phục hai vạt, vậy về lý, áo dài nam phục hai vạt cũng phải xuất hiện khoảng thời gian đó.

Một giả thuyết khác cho rằng từ khi Chúa Nguyễn Phúc Khoát ban hành sắc dụ về quốc phục đã xuất hiện lối ăn mặc theo cách Việt Nam ở phái nam cho khác biệt với lối ăn mặc của người khách trú. Cơ sở chính của cách tạo ra khác biệt là lối cài nút về bên trái thay vì bên phải giống như người Hoa kiều (theo sách Việt Nam Văn Hóa Sử, tác giả Đào Duy Anh). Sự khác biệt thứ hai là trên chất liệu vải (thường bằng the mỏng, và mặc ra ngoài áo bà ba trắng, với phụ tùng lệ bộ kèm theo là khăn đóng (tức khăn vành cho nam).

Có thể ngay từ đầu, “quốc phục sơ khai” của nam giới đã chỉ có hai vạt và được biến cách trên chiếc áo Tàu “nhà Thanh” : dài gần tới gối và có đường xẻ hai bên từ hông trở xuống. Đến thập kỷ 1930 khi xuất hiện áo nữ với hai tà dài thì được thay đổi chút ít cho gần gũi chiếc áo dài nữ phục.

Vậy nếu nói đến quốc phục truyền thống thì chính chiếc áo dài nữ phục mới đậm nét hơn, được quy định bởi những văn bản pháp quy (sắc dụ chúa Nguyễn Vũ Vương) và chuẩn mực ăn mặc rõ ràng hơn (chiếu chỉ quy định của vua Minh Mạng về trang phục hoàn chỉnh cho áo dài nữ phục). Do đó khi nói đến áo dài Việt Nam, người trong lẫn ngoài nước thường nghĩ đến chiếc áo dài nữ phục.

Áo dài nam phục Việt Nam lại không có số phận may mắn như áo dài nữ phục. Ngày nay ta ít có dịp bắt gặp hình ảnh một thanh niên, thậm chí một ông cụ già Việt Nam, vận chiếc áo dài nam phục truyền thống. Áo dài nam phục chỉ còn xuất hiện tại những lễ hội mang đậm nét truyền thống Việt Nam.

Lê Hoàng Nguyễn post (theo Wikipedia)

HẬU TRƯỜNG NHÀ NGÔ (3/3)

NGÔ ĐÌNH CẨN

TRƯỚC GIỜ XỬ BẮN

Admin : Tài liệu này do bạn Nguyễn Văn danh post. Tuy bài viết chưa phải thật sự đúng hoàn toàn, nhưng cũng cho chúng ta hiểu biết về cuộc chính biến vào ngày 1/1/1963 khi lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền Nam và anh em TT Ngô Đình Diệm – cố vấn Ngô Đình Nhu bị hạ sát, sau khi từ Dinh Gia Long (Dinh Độc Lập bấy giờ đang  được xây dựng lại) chạy về nhà thờ Cha Tam trong Chợ Lớn.

Nguyễn Việt

Trong lịch sử Khám Chí Hòa từ khi xây dựng cho tới năm 1975 đã có hai vụ xử bắn được thực hiện ngay trong khuôn viên khám. Vụ thứ nhất là xử bắn Ngô Đình Cẩn, em ruột Ngô Đình Diệm và vụ thứ hai là xử bắn Nguyễn Văn Trỗi.

Từ trước đến nay cũng đã có nhiều người kể về hai vụ xử bắn này. Tuy nhiên, việc “tam sao thất bản” là điều thường xảy ra bởi có những người không hề có mặt trong hai buổi thi hành đó mà chỉ được nghe kể nên đã tường thuật lại theo lời người khác, cộng với những suy diễn chủ quan của mình.

Chúng tôi đã gặp may khi tìm được một người đã có mặt trong hai vụ hành quyết đó. Ông chẳng phải là ai xa lạ, mà là một cộng tác viên tích cực của Chuyên đề ANTG từ 13 năm nay với bút danh Lý Nhân. Ông tên thật là Phan Kim Thịnh và là một ký giả không nổi tiếng ở Sài Gòn vào những năm 60 của thế kỷ trước, về những bài báo nhưng lại nổi tiếng là một ông chủ nhiệm tới 5 tờ báo.

Nói về nghề báo của mình, ông Lý Nhân cười hà hà (mà sao ông có nụ cười sảng khoái trẻ trung đến thế, mặc dù năm nay ông đã 73 tuổi): “Ngày đấy chúng tôi làm báo láu cá lắm. Tôi tiếng là chủ bút 5 tờ báo : Tạp chí Văn học; Tạp chí Nhân văn, Báo Mới, Bưu Hoa; và còn là Giám đốc Nhà xuất bản Văn học nhưng những tờ báo mới như tờ Bưu Hoa, Tạp chí Nhân văn mỗi số in không quá 1.000 tờ, nhưng lại móc với công nhân nhà in, khai khống số lượng để rồi mang hóa đơn đó đi mua giấy từ Bộ Thông tin rồi đem bán giấy… Có vậy mới đủ tiền nuôi Nhà xuất bản Văn học và Tạp chí Văn học”.

Khi tôi hỏi ông Nhân về hai vụ tử hình Ngô Đình Cẩn và Nguyễn Văn Trỗi thì ông nói với vẻ ngậm ngùi : “Đúng là tôi được dự hai buổi ấy từ đầu tới cuối và đồng thời cũng có rất nhiều tư liệu, tôi còn lưu giữ được khá nhiều ảnh… Thật ra, loại phóng viên như tôi không bao giờ được Bộ Thông tin Sài Gòn thời ấy cho phép dự những sự kiện quan trọng, nhưng tôi có người anh rể phụ trách lễ tân ở Phủ tổng thống cho nên tôi thường có giấy tới những nơi xảy ra việc lớn. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in buổi xử bắn anh Nguyễn Văn Trỗi và trong thâm tâm tôi luôn kính trọng, khâm phục người anh hùng ấy.

Rồi ông kể cho chúng tôi nghe về vụ xử bắn Ngô Đình Cẩn.

Nhưng trước hết để bạn đọc hiểu rõ thêm những sự việc diễn ra trước đó chúng tôi sẽ cung cấp những tư liệu liên quan đến việc vì sao Ngô Đình Cẩn phải bị tử hình.

Ngày 1/11/1963, một nhóm tướng tá quân đội của chế độ Ngô Đình Diệm được sự xúi giục, giật dây của Mỹ đã làm đảo chính và hạ sát Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Còn Ngô Đình Cẩn lúc đó đang ở Huế, nghe tin hai anh đã bị đảo chính và bị bắt nên chạy trốn vào nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế.

Trưa ngày 2/11, tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Quân đoàn 1, Vùng 1 chiến thuật từ Đà Nẵng bay ra Huế gặp Ngô Đình Cẩn và thề sống thề chết sẽ đảm bảo tính mạng cho Cẩn. Vì tin lời Đỗ Cao Trí, Ngô Đình Cẩn đã bảo đại úy cận vệ Nguyễn Văn Minh về nhà lấy một túi lớn đựng 24 kg vàng và một valy trong đó có nhiều đôla và đồ trang sức giao cho tướng Trí. Đỗ Cao Trí nhận hai túi trên rồi bay về Đà Nẵng để chờ lệnh từ Sài Gòn.

Trưa ngày 3/11, Lãnh sự Mỹ tại Huế R.Helble và Phó lãnh sự Mullen tới nhà Cẩn gặp đại úy Minh và nhờ Minh thông báo rằng, họ mời Ngô Đình Cẩn tới lánh nạn để bảo toàn tính mạng. Được thông báo lại, Cẩn suy nghĩ lắm bởi vì Cẩn không nỡ bỏ mẹ già ở lại một mình. Cũng phải nói thêm rằng, Ngô Đình Cẩn tuy là người cực kỳ tàn ác, thâm hiểm đối với những người theo cộng sản, nhưng lại là người chí hiếu đối với mẹ, chính vì thế mà việc trông nom mẹ ở Huế được Diệm – Nhu giao cho Cẩn. Hai viên lãnh sự Mỹ cũng thề thốt là sẽ đảm bảo an toàn cho Cẩn, nghe bùi tai Ngô Đình Cẩn đã đến Tòa Tổng lãnh sự Mỹ lánh nạn.

Nhưng ngày hôm sau, Lãnh sự Mỹ trở mặt và giao Cẩn cho Đỗ Cao Trí áp giải vào Sài Gòn. Người ra đón Cẩn tại sân bay chính là viên sĩ quan CIA nổi tiếng Lui Conein. Và Conein giao Cẩn cho đám an ninh quân đội của Dương Văn Minh. Ngô Đình Cẩn bị đưa ngay vào Khám Chí Hòa.

Tại Khám Chí Hòa, Cẩn bị đưa vào chế độ biệt giam. Tuy không bị tra tấn, đánh đập nhưng ăn uống tồi tệ, nên bệnh tiểu đường và bệnh viêm khớp xương tái phát. Thêm vào đó cộng với việc Cẩn thương nhớ mẹ già không người chăm sóc, thương hai anh đã bị hạ sát nên bệnh đã nặng lại càng nặng thêm. Hầu như Ngô Đình Cẩn không thể đi lại được, những thứ tiếp tế ở ngoài vào cho Cẩn thường chỉ có trầu cau là được nhận, còn đồ ăn, thức uống mười phần bị vứt đi chín, nhiều lúc Ngô Đình Cẩn bị ngất lịm tưởng chết luôn trong Khám Chí Hòa.

Ngày 30/1/1964, tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm lại làm một cuộc đảo chính và bắt giam các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân. Cuộc đảo chính không hề có một tiếng súng nhưng lại có một người chết đó là đại úy Nguyễn Văn Nhung, người đã dùng dao đâm chết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu trong xe bọc thép. Nhung bị chuẩn tướng Nguyễn Chánh Thi treo cổ ngay trong trại lính dù Hoàng Hoa Thám. Và tất nhiên cái chết của Nhung được thông báo rằng “do lo sợ bị trừng phạt nên đã treo cổ tự tử”

Ngày hôm sau, đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn đã được chuyển đến tướng Dương Văn Minh là Quốc trưởng. Rồi Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình cũng gửi một lá thư tới Dương Văn Minh xin ân xá cho tử tội Ngô Đình Cẩn với lý do là Cẩn đang bị bệnh rất nặng, ngày sống chỉ đếm được trên đầu ngón tay cho nên không cần thiết phải hành quyết Cẩn. Nhưng tất cả đều bị Dương Văn Minh bác thẳng thừng.

Tòa án báo cho thân nhân của gia đình Ngô Đình Cẩn là bà Ngô Đình Thị Hiệp, bà Ngô Đình Thị Hoàng (thường gọi là bà cả Lễ…) là đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn đã bị Quốc trưởng bác bỏ. Ngô Đình Cẩn sẽ bị hành quyết vào lúc 17h ngày 9/5/1964 tại Khám Chí Hòa. Tại Sài Gòn, ngày giờ xử bắn Ngô Đình Cẩn được giữ rất kín. Có hai người được biết trước là luật sư Võ Văn Quan và  linh mục Jean Baptiste Lê Văn Thí.

Ngày 8/5, linh mục Thí được vào gặp Ngô Đình Cẩn để làm lễ rước mình Thánh Chúa an ủi người sắp chết. Khi ông Thí vừa vào, chào hỏi xong thì Ngô Đình Cẩn đã hỏi ngay : “Ngày mai, họ đem con đi bắn phải không cha ?”. Linh mục Thí im lặng và khẽ gật đầu rồi hỏi lại : “Cậu có sợ không ?”. Ngô Đình Cẩn gượng cười, trả lời khá bình thản : “Con không sợ chút mô hết cha à !”.

Linh mục Thí hỏi tiếp : “Cậu có tha thứ cho những người đã làm khổ cậu và gia đình cậu không ?”. Ngô Đình Cẩn nói lớn, và rành rẽ : “Con tha thứ”. Rồi Cẩn nói tiếp : “Con cũng mang tên Thánh là Jean Baptiste và cha cũng mang tên Thánh Jean Baptiste. Xin cha nhớ cầu nguyện cho con sớm lên Thiên đàng chầu Chúa và xin mọi người có đạo chứng kiến con chịu chết, xin đọc cho con một kinh lạy cha “Xin cho chúng tôi hàng ngày đủ dùng và tha tội cho chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi”.

(Ngô Đình Cẩn là con út trong nhà nên hay được gọi là cậu Cẩn. Sau này khi Ngô Đình Diệm giành được quyền lực thì Ngô Đình Cẩn cũng được coi là nhân vật cực kỳ thế lực ở khu vực miền Trung, cho nên ai đến với Cẩn cũng không dám gọi tên mà chỉ gọi là ông Cậu).

Hôm sau, 10h trưa ngày 9/5, luật sư Võ Văn Quan vào thăm Ngô Đình Cẩn lần cuối cùng. Sau này, ông Quan kể lại cho nhà báo Phan Kim Thịnh : “Sáng sớm ngày 9/5, cháu Ngô Đình Cẩn là Trần Trung Dung vào thăm. Ông Cẩn nói chuyện một cách thản nhiên, không hề biểu lộ thái độ lo lắng, sợ sệt. Người cháu gái thì ngồi cạnh giường, khóc và nguyền rủa những kẻ phản phúc nhà họ Ngô. Nhưng ông Cẩn điềm tĩnh nói : “Không có gì đáng buồn mà phải khóc lóc. Làm chính trị là phải như thế. Cậu không có gì oán thán hết”.

Khi gặp luật sư Quan, ông Cẩn cũng vẫn tỏ thái độ bình thản. Ông Quan cũng không hề biết là chính Ngô Đình Cẩn cũng đã biết rõ ngày giờ thi hành án. Lúc đầu, hai bên chỉ nói chuyện có tính chất xã giao nhưng rồi đột nhiên ông Cẩn tâm sự về thân thế của ông và tiết lộ một số câu chuyện bí mật.

Lời nói của ông như là một sự trăng trối khiến luật sư Quan giật mình và thầm nghĩ : “Có lẽ ông Cẩn biết rồi”. Rồi Ngô Đình Cẩn chuyển sang giãi bày những thủ đoạn chính trị của mình với giọng hùng hồn, hoạt bát, mạch lạc. Ngô Đình Cẩn cũng nhắc lại những cuộc tàn sát đẫm máu đối với những người Cộng sản khi Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, và khẳng định làm chính trị thì phải chấp nhận thế thôi.

Khi nói đến việc đàn áp những người Cộng sản, Ngô Đình Cẩn ngẩng cao đầu, mắt sáng long lanh, mặt đỏ bừng và nói như đếm từng tiếng. Nhìn đồng hồ đã thấy gần 12h trưa, Ngô Đình Cẩn bảo : “Luật sư đưa cho tôi cái danh thiếp của ông”. Ông Quan ngạc nhiên không hiểu lúc này Ngô Đình Cẩn còn muốn có danh thiếp của mình để làm gì. Nhưng chiều ý, ông vẫn lấy danh thiếp đưa cho Ngô Đình Cẩn. Ông Cẩn lấy bút viết vào phía sau danh thiếp : “Xin hết lòng đa tạ” và viết tên Ngô Đình Cẩn. Đưa lại danh thiếp cho luật sư, Ngô Đình Cẩn dịu giọng nói : “Tôi xin gửi lại chút này để cám ơn luật sư đã hết lòng biện hộ cho tôi”.

Luật sư Quan bối rối : “Thật sự tôi có giúp được gì cho ông đâu, họ vẫn xử tối đa”. Ông Cẩn khẽ lắc đầu, gượng cười : “Vấn đề không phải ở đó. Viết mấy chữ này, tôi muốn tỏ lòng tri ân đối với người luật sư không từng quen biết, nhưng đã tận tình và can đảm nói lên giữa phiên tòa những gì tôi muốn nói”.

Rồi Ngô Đình Cẩn lại bình tĩnh trò chuyện, lấy giấy cuốn thuốc lá theo kiểu sâu kèn, phì phèo hút, rồi lại têm trầu nhàn nhã nhai bỏm bẻm. Ông Quan đứng dậy cáo từ cố giữ nét mặt bình thường. Ngô Đình Cẩn bắt tay luật sư Quan rất chặt và rất lâu, đồng thời luồn bàn tay trái xuống gầm bàn, nhìn xuống đó ra hiệu.

Ông Quan thấy bàn tay trái của Ngô Đình Cẩn xòe ra 5 ngón như thể báo hiệu rằng chiều nay vào lúc 5h ông sẽ bị hành quyết. Sau này, mỗi khi nhớ lại vụ hành quyết Ngô Đình Cẩn, luật sư Quan vẫn tỏ thái độ kính trọng, khâm phục một con người biết cái chết đang đến với mình từng giờ, từng phút mà vẫn ngồi nói chuyện bình tĩnh hàng tiếng đồng hồ.

Cũng phải nói thêm rằng, sau ngày Ngô Đình Cẩn bị hành quyết đã có nhiều tin đồn rằng Ngô Đình Cẩn khi chết đi để lại rất nhiều của cải cho nhiều người thừa hưởng. Ngay chuyện Ngô Đình Cẩn bảo đại úy Nguyễn Văn Minh giao số vàng, đôla, kim loại quý cho tướng Đỗ Cao Trí giữ là “2 bao”… nhưng thực chất đó cũng chỉ là những lời đồn thổi vì chính đại úy Minh cũng không biết có bao nhiêu vàng và tướng Trí khi nhận túi vàng, valy tiền cũng không kiểm đếm. Tuy nhiên, theo điều tra của các nhà báo về sau thì số bất động sản do Ngô Đình Cẩn giao cho người khác đứng tên không phải là ít.

Năm 1989, tướng Trần Văn Đôn có viết cuốn hồi ký “Việt Nam nhân chứng”, và khi nói về cái chết của Ngô Đình Cẩn, ông ta viết như sau : “Vài tháng sau ngày chỉnh lý, tướng Nguyễn Khánh có phái đại tá Lâm Văn Phát thông qua bà Trần Trung Dung và nhờ chuyển lời nói với ông Cẩn rằng, hãy chuyển số tiền 6 triệu USD mà ông Cẩn có trong một ngân hàng Thụy Sĩ cho tướng Nguyễn Khánh. Đổi lại tướng Khánh sẽ cho một chiếc phi cơ đưa ông Cẩn đi Singapore.

Bà Trần Trung Dung yêu cầu đừng ghi âm khi bà ấy vào khám hỏi ông Cẩn. Sau khi nghe bà Dung trình bày, Ngô Đình Cẩn không chịu giao số tiền đó cho ông Khánh, rồi hỏi bà Dung có cần lấy thì ông giao cho. Lúc đó bà Dung sợ liên lụy nên không dám nhận. Mấy ngày sau, nhân dịp một vị linh mục vào làm lễ cho ông Cẩn, ông đã ký giấy ủy quyền cho nhà dòng Cứu Thế số tiền đó. Giấy ủy quyền được để trong một cuốn kinh Thánh…”.

Nguyễn Văn Danh post (theo bài Nguyễn Như phong)


HẬU TRƯỜNG NHÀ NGÔ (2/3)

HỒI KÝ

QUÁCH TÒNG ĐỨC

Chín năm bên cạnh

TT Ngô Đình Diệm (Kỳ 2 – Hết)

Admin : Tài liệu này do bạn Nguyễn Văn danh post. Tuy bài viết chưa phải thật sự đúng hoàn toàn, nhưng cũng cho chúng ta hiểu biết về cuộc chính biến vào ngày 1/1/1963 khi lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền Nam và anh em TT Ngô Đình Diệm – cố vấn Ngô Đình Nhu bị hạ sát, sau khi từ Dinh Gia Long (Dinh Độc Lập bấy giờ đang  được xây dựng lại) chạy về nhà thờ Cha Tam trong Chợ Lớn.

Nguyễn Việt

TT Diệm sống rất nặng về lý tưởng. Con người Khổng giáo nghiêm khắc và Công giáo khổ hạnh nơi ông có những nhận xét lắm khi không sát thực tế. Ông thường nhắc rằng người cán bộ trung thành luôn luôn hy sinh vì đại cuộc mà không cần đến cơm áo, danh vọng và chức tước, một lời khen của lãnh tụ đủ gây mãn nguyện. Khổ nổi, không phải cán bộ nào cũng thánh thiện như thế.

Thú tiêu khiển của TT Diệm không nhiều vì thiếu giờ rảnh. Ông thích cởi ngựa trong vòng rào của Dinh Độc Lập trong những năm yên ổn. Ông sưu tập máy ảnh, thích chụp hình và rất vui khi nhận được một máy loại mới. Chủ tiệm chụp hình Hà Di thường được gọi vào Dinh về vấn đề chuyên môn. Tổng Thống ăn uống thanh đạm, thường bữa dùng tại ngay phòng ngủ, do ông già An và đại uý Nguyễn Bằng phục dịch, thực đơn ít khi thay đổi gồm có cơm vắt, muối mè, cá kho và rau. Tổng thống ít khi đau, lâu lâu cảm cúm, có bác sĩ Bùi Kiện Tín chăm sóc. Phòng nội dịch không đông nhân viên, do ông Tôn Thất Thiết phụ trách. Vấn đề tiền bạc riêng của Tổng thống thì giao trọn cho Chánh văn phòng đặc biệt Võ Văn Hải, ông Diệm không có nhu cầu lớn. Ông Hải, học trò cũ của Giám mục Ngô Đình Thục, tốt nghiệp Trường Khoa Học Chính trị Paris, cử nhân Hán Học, rể của cựu Thượng thơ Nguyễn Khoa Toàn, theo sát Tổng thống Diệm từ lúc còn bôn ba ở hải ngoại và được ông Diệm thương như con. Ông Hải chính là người được TT Diệm chỉ định ngày 11/11/1960 ra trước cổng Dinh Độc Lập tiếp xúc với các sĩ quan chỉ huy cuộc binh biến Nguyễn Chánh Thi – Vương Văn Đông để tìm hiểu yêu sách của họ. Tuy nhiên, ông Võ Văn Hải chống ông bà Nhu và bác sĩ Tuyến, giám đốc Sở Mật vụ và cũng không thích ông Cẩn.

Khi phe quân nhân lên cầm quyền, Võ Văn Hải tổ chức nhóm “Tinh thần Ngô Đình Diệm” và ra ứng cử dân biểu tại Sàigòn nhưng thất cử. Năm 1974, không hiểu vì sao Hải lại xoay qua, cùng với Tôn Thất Thiện, ủng hộ nhiệt tình tướng Dương Văn Minh là người bị cho là có trách nhiệm vì cái chết của hai anh em ông Diệm-Nhu.

Về câu hỏi TT Diệm liên hệ ra sao với đảng Cần Lao, ông Quách Tòng Ðức cho biết ông Diệm chỉ để ý theo dõi hoạt động của Phong Trào Cách Mạng Quốc gia (tổ chức nòng cốt của chế độ từ lúc đầu) và Liên đoàn Công chức Cách mạng, một tổ chức ngoại vi của Chánh phủ. Về chuyện thành lập và sinh hoạt của đảng Cần Lao, TT Diệm giao hết cho hai ông Nhu và Cẩn. Trong các năm chót của chế độ, kế hoạch Ấp chiến lược cũng do ông Nhu hoàn toàn phụ trách, Tổng thống không lưu ý đến như đã từng lưu ý đến kế hoạch Dinh điền hay Khu Trù mật. Các gương mặt nổi trong hoạt động Cần Lao gồm có các ông Huỳnh Văn Lang, Trần Kim Tuyến, Lê Văn Ðồng, Huỳnh Hữu Nghĩa, Lê Quang Tung, Ðỗ Mậu, Nguyễn Văn Châu, Ðổ Kế Mai, Nguyễn Trân v.v… BS Tuyến làm việc với ông Nhu, ít khi gặp Tổng thống, trừ trường hợp đặc biệt. Quyết định đưa Cần Lao vào Quân đội – tức là chính trị hóa Quân đội – làm yếu Quân đội vì phá vỡ hệ thống quân giai và làm nản lòng các sĩ quan chuyên nghiệp. Quân đội chỉ biết có Tổ Quốc. Và phục vụ tổ quốc mà thôi.

Vụ công điện số 9159

cấm treo cờ Phật giáo.

Trong quyển hồi ký “Dòng họ Ngô Ðình”, xuất bản năm 2003 tại Californie, tác giả Nguyễn Văn Minh, nguyên bí thơ (1956-1963) của Ngô Ðình Cẩn, ghi nơi trang 164-165 : Lối 10 hôm sau vụ nổ lựu đạn giết 7 em bé và một số Phật tử tại đài phát thanh Huế nhân ngày lễ Phật Ðản 1963, Dương Văn Hiếu, trưởng đoàn công tác đặc biệt Miền Trung, vào Dinh để phúc trình với TT Diệm, ông Diệm nói với Hiếu như sau về vụ treo cờ Phật giáo : “Sau đó tôi mới bảo Quách Tòng Ðức gởi công văn nhắc các Tỉnh, chứ tôi có cấm chi mô ! Không hiểu tại răng hắn để tới ngày chót mới gởi công điện. Khi xảy chuyện, tôi kêu vô hỏi, hắn xin thôi. Công chuyện đổ bể như ri rồi, xin thôi thì ích chi ?” Nguyễn Văn Minh còn viết thêm ý kiến của Tôn Thất Ðính : “Ông Ðức đã gởi đi một công điện mà không tham khảo ý kiến ông Cố vấn Ngô Ðình Nhu… Lẽ nào lại tự tiện đánh đi một công điện như vậy nếu không được tình báo Mỹ tổ chức ?”

Ðược hỏi nghĩ sao về những đoạn trích dẫn trên đây, ông Quách Tòng Ðức ngạc nhiên. Ông xác quyết không bao giờ có nhận được lệnh của ông Diệm thảo và gởi cho các Tỉnh trưởng công điện số 9159 đề ngày 6.5.1963 do ông Nguyễn Văn Minh nêu ra, với nội dung “chỉ thị cho các cơ quan phụng tự (nhà thờ, chùa chiền…) chỉ treo cờ Quốc gia mà thôi” (nguyên văn). Trước đó, việc treo cờ được giải quyết bởi hai nghị định số 78 và 189 của Bộ Nội vụ (năm 1957 và 1958) và một sắc lệnh đầu năm 1962 của Phủ Tổng thống nhắc nhở quần chúng tôn trọng Quốc kỳ.

Ông Ðức kể lại : Tháng tư 1963, sau một cuộc thị sát vào mùa lễ Phục Sinh, TT Diệm có chỉ thị cho ông Ðức gởi thông tư lưu ý các giới chức Tỉnh về thể thức treo quốc kỳ VN trong các ngày lễ đạo, không phân biệt tôn giáo nào : treo trước cổng giáo đường, ở chính giữa và phía trên, đúng kích thước, còn các cờ đạo và cờ đoàn thể thì ở vị trí thấp hơn. Thông tư nhấn mạnh : phía trong các giáo đường, chùa chiền và những nơi thờ phượng, giáo kỳ được treo tự do, không giới hạn. Lệnh của Tổng thống được phổ biến ngay ngày hôm sau.

Theo ông Quách Tòng Ðức, đầu tháng 5/1963, tại Huế, xảy ra một điều đáng tiếc : Ðể lấy điểm trong lễ Ngân khánh 25 năm thụ phong giám mục của Ðức cha Ngô Ðình Thục, nhà chức trách hành chánh địa phương đã cho treo cờ Vatican “loạn xạ”, bất chấp thông tư nói trên. Một tuần sau – ngày 8/5/1983 – vào lễ Phật Ðản, các Phật tử cũng tự tiện treo cờ Phật giáo như thế. Hôm sau, Tỉnh trưởng Thừa Thiên trở lại thi hành thể thức treo cờ trong thông tư của Phủ Tổng thống, nên gây sự phẫn nộ của Phật tử vì họ cho rằng đây là một biện pháp bất công, kỳ thị. Tại miền Nam, theo ông Ðức, với 4.800 chùa Phật, không có xảy ra vấn đề như ở Huế.

Ông Ðức còn nhớ rất rành mạch rằng, sau thảm kịch tại Ðài Phát thanh Huế chiều ngày 8/5/1963, Tổng thống có đòi ông vào Văn phòng để đưa cho ông xem, với một gương mặt “mệt nhọc, buồn rầu và chán nản”, công điện ngày 6/5/1963 nói trên và hỏi “một cách sơ sài” ai đã gởi đi chỉ thị ấy. Ông Ðức trả lời không biết vì trong sổ công văn gởi đi không có dấu vết của tài liệu vừa kể. Theo ông Quách Tòng Ðức, trong hoàn cảnh chánh trị dồn dập sôi động lúc đó (Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu, Quách Thị Trang bị bắn chết tại chợ Bến Thành, lựu đạn nổ ở Huế, tướng lãnh lập kiến nghị đòi cải tổ, việc kiểm soát chùa v.v…), TT Diệm rối trí, không còn màng đến việc ra lệnh điều tra.

Ðể tỏ dàn xếp, Chánh phủ đồng ý cho hai Ủy ban Liên bộ và Liên phái công bố một thông cáo chung ngày 16/6/1963 xác định những điểm đã thỏa hiệp về việc treo cờ Phật giáo và Quốc kỳ, hứa xét lại Dụ số 10 trước Quốc hội vào cuối 1963, tạm ngưng áp dụng Nghị định của Phủ Tổng thống số 116/TTP/TTK ngày 23/.9/1960 ấn định thể thức mua bán bất động sản và đất đai của Phật giáo, hứa sẽ trừng trị nhân viên có lỗi và bồi thường các gia đình nạn nhân. Tuy nhiên, mọi việc đã quá trễ.

Trong hồi ký “Ngô Ðình Diệm, Nỗ lực hòa bình dang dở”, (nxb Xuân Thu Californie 1989), nơi trang 189-190, Nguyễn Văn Châu, nguyên giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý Quân đội VNCH, trở thành đối lập với Chánh phủ trước cuộc binh biến 1/11/1963, có ghi lại : Sau 1975, một cựu đại úy Hoa kỳ tên James Scott, liên hệ với CIA và từng làm cố vấn cho Tiểu đoàn 1/3 thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, thú nhận trong một lá thơ đăng trên một tuần báo Mỹ rằng, chính ông đã gài một trái bom nổ chậm chiều 8/5/1963 tại Huế. Sự kiện này cũng được Lương Khải Minh, ghi lại trong hồi ký “Làm thế nào giết một Tổng thống ?” (tập 2, trang 366-370). Theo trung tướng Trần Thiện Khiêm xác nhận với Marguerite Higgins, tác giả quyển sách Vietnam, Our nightmare, chương VI, Nguyễn Khánh (nắm quyền sau cuộc chỉnh lý 30/1/1964) đã hy sinh thiếu tá Ðặng Sỹ, phó Tỉnh trưởng Nội an Thừa Thiên, để Thich Trí Quang trì hoãn chống đối. Tòa án Mặt trận xử Thiếu Tá Ðặng Sỹ khổ sai chung thân.

Ðược hỏi : trong các tướng thường vô ra Dinh Ðộc lập, ai là người được sủng ái nhứt, ông Quách Tòng Ðức đáp không do dự : “Tôn Thất Ðính và Trần Thiện Khiêm, mà Tổng thống xem như người nhà !” Ðiều này không ngăn Ðính và Khiêm đóng vai trò chính yếu trong cuộc đảo chánh 1/11/1963.

“TT Diệm có thích được nịnh hót hay không ?” Ý kiến của Ông Ðức : “Tại Bắc Việt, đã thần tượng hóa ông Hồ Chí Minh. Trong Nam, cũng có khuynh hướng ấy đối với ông Diệm, dưới nhiều hình thức, đặc biệt trong Phong trào Cách mạng Quốc gia với số đoàn viên tăng từ 10.000 năm 1955 lên đến 2 triệu năm 1963, tổ chức đến tận xã, phường. Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành bỏ hàng ngũ kháng chiến về cọng tác với ông Diệm từ lúc đầu như Trần Hữu Phương, Trần Lê Quang… Ông có công xây dựng Phong trào Cách Mạng Quốc Gia, tổ chức Chiến dịch tố cộng và đề xướng “Suy tôn Ngô Tổng thống”.

Bất thuận với Trần Kim Tuyến, Thành rời Nội các cuối năm 1959. Ba bộ trưởng khác ra đi cùng một lúc vì, với ông Thành, lập hồ sơ truy tố một số cán bộ Cần lao dân sự và quân sự lộng quyền : Trần Trung Dung (Quốc phòng), Nguyễn Văn Sĩ (Tư pháp) và người viết (Nội vụ). Bộ Thông tin bị đổi thành Nha Tổng Giám đốc Thông tin do bác sĩ (Cần lao) Trần Văn Thọ phụ trách. Ngày 30/4/1975, ông Thành (Nghị sĩ và Ngoại trưởng thời Nguyễn Văn Thiệu) tự tử bằng thuốc độc tại nhà; còn bác sĩ Tuyến thì được điệp viên nằm vùng Phạm Xuân Ẩn lấy xe chở đến một địa điểm dùng trực thăng Mỹ thoát khỏi Việt Nam. Tuyến định cư tại Anh quốc nhờ bà Tuyến làm việc cho Tòa Ðại sứ Anh ở Sài Gòn. Tại Anh, Bác sĩ Tuyến làm chủ một nhà trọ bed and breakfast gần Cambridge và qua đời cách đây vài năm, sau khi phát hành cùng với Cao Vĩ Hoàng quyển hồi ký “Làm thế nào giết một Tổng thống ?”

Theo ông QTD, TT Diệm cởi mở, bình dân trong những năm đầu chấp chánh nhưng về sau, trở nên khó tánh và khép kín hơn. Ảnh hưởng của quyền lực ? hoàn cảnh ? giới cận thần a dua ? Qua ba giai đoạn Quốc Hội Lập Hiến, Quốc Hội Lập Pháp kỳ 1 và Quốc Hội Lập Pháp kỳ 2, nền Ðệ nhứt Cộng hòa đi lần vào bế tắc. Trong gia đình, ông bà Trần Văn Chương, nhạc gia của ông Nhu, – đại sứ VNCH tại Hoa Thịnh Ðốn và vợ, quan sát viên tại Liên Hiệp Quốc – lợi dụng chức vụ để phản tuyên truyền và đả kích Chánh phủ Sài Gòn. Ngay cả Bác sĩ Trần Văn Ðỗ, chú vợ của cố vấn Ngô Ðình Nhu, và luật sư Nguyễn Hữu Châu, nguyên bộ trưởng Phủ Tổng thống kiêm Bộ trưởng Nội vụ, anh em bạn cột chèo với ông Nhu, cũng không còn ủng hộ ông Diệm. LS Châu đào thoát qua Paris ngang con đường Nam Vang nhờ sự giúp đỡ của bạn học cũ là Quốc vương Sihanouk. Ông đã trình luận án Thạc sĩ luật chỉ trích chương trình viện trợ Hoa kỳ ở VN và sau đó, dạy luật tại Ðại học Paris. Luật sư Châu cũng như khoa học gia Bửu Hội, năm 1972, cũng ngã theo ủng hộ Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Trần Văn Ðôn – người chủ trương đảo chánh – nhìn nhận một cách thương hại : Tội nghiệp, mọi người đều bỏ TT Diệm !

Ông Quách Tòng Ðức tỏ ra dè dặt với dư luận cho rằng TT Diệm kỳ thị Phật Giáo. Theo ông, TT Diệm thường tiếp xúc với các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, đặc biệt Phật giáo; không bỏ qua dịp viếng thăm một số chùa như chùa Sư Nữ của Sư bà Diệu Huệ (mẹ giáo sư Bửu Hội) ở Phú Lâm, chùa Diệu Ðế ở Huế.. v.. v.. Chính ông Ðức đã nhiều lần chuyển đến tay ông Mai Thọ Truyền, chủ chùa Xá lợi và Hội trưởng Hội Phật giáo Nam Việt những số tiền giúp đỡ. Một chuyện mà ít người biết là TT Diệm đã hiến cho Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trọn số tiền 15.000 mỹ kim, giải thưởng Leadership Magsaysay tặng cho Tổng thống. Vì lý do chánh trị, quyết định này không được công bố.

Ủy ban tôn giáo Liên Hiệp Quốc được Chánh phủ Sài Gòn mời đến điều tra năm 1963 cũng đã phúc trình – sau ngày hai ông Diệm, Nhu bị giết – rằng Ðệ nhứt Cộng hòa không kỳ thị tôn giáo. Mặt khác, TT Diệm đã từng thẳng thắn bác bỏ những yêu sách quá đáng của một vài hàng giáo phẩm Công giáo di cư, bởi thế nên có sự bất mãn ngấm ngầm. Theo ông Ðức, 2 Giám mục Phát Diệm, Bùi Chu Lê Hữu Từ và Phạm Ngọc Chi chống đối ông Diệm ra mặt.

Cho đến ngày TT Diệm qua đời, phần đông các người phục vụ sát cạnh bên Tổng thống hàng ngày đều thuộc thành phần Phật giáo : Ðổng lý (Quách Tòng Ðức), Tổng thơ ký Nguyễn Thành Cung, Chánh văn phòng Võ Văn Hải, bí thơ Trần Sử, nội dịch Tôn Thất Thiết, cận vệ Nguyễn Bằng…

Vấn đề thủ tiêu các người đối lập

Sau chánh biến 1/11/1963, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng tố cáo chánh quyền Diệm đã thủ tiêu một số người đối lập như Nguyễn Bảo Toàn, Tạ Chí Diệp, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn v.v… QTÐ tuyên bố không biết gì về những chuyện này thuộc thẩm quyền các cơ quan công an, tình báo. Tuy nhiên, ông tin chắc rằng ông Diệm không bao giờ đích thân chủ trương như vậy vì Tổng thống là một tín đồ Công giáo thuần thành, phân biệt tội phước. Có thể một số nhân viên an ninh cuồng tín đã hành động để lấy điểm (excès de zèle) hay giải thích sai lầm chỉ thị cấp trên. Một bằng chứng cụ thể là TT Diệm chỉ ra lệnh giam chớ không cho xử tử Hà Minh Trí, một cán bộ Cao Ðài, mưu sát hụt ông tại Ban Mê Thuột và gây thương tích cho Bộ trưởng Ðỗ Văn Công. Hà Minh Trí được Hội đồng Cách Mạng trả tự do khi họ đã giết TT Diệm. Câu hỏi nêu ra là cuối cùng, TT Diệm có hay biết các vụ thanh toán toán đối lập hay không và phản ứng thế nào ? Dù sao, lịch sử vẫn đặt vấn đề trách nhiệm tinh thần đối với ông.

Trong giai đoạn chót của chế độ, có tin đồn trong quần chúng và báo giới Mỹ rằng cố vấn Ngô Ðình Nhu đi đêm với MTGPMN để tìm ra giải pháp giữa Nam, Bắc. Chính ông Nhu có đề cập đến chuyện này trong vài phiên nhóm với tướng lãnh tại Bộ Quốc phòng và ngày 23/7/1963 tại suối Lồ Ồ khi nóí chuyện với các cán bộ xây dựng Ấp Chiến lược khóa 13. Một nguồn tin khác cho biết ông Nhu sử dụng trung gian của bốn đại sứ Roger Lalouette (Pháp), d’Orlandi (Ý), Goburdhun (Ấn độ) và Manelli (Ba Lan), (hai ông sau là thành viên của Ủy ban Quốc tế kiểm soát đình chiến) cũng như Tổng lãnh sự Pháp ở Bắc Việt Jacques de Buzon để liên lạc với Hà Nội.

Ông QTÐ nói có nghe dư luận này nhưng không biết rỏ chi tiết. Ông cũng có nghe sầm sì rằng ông Nhu đã gặp một đại diện Văn phòng Chính trị Bắc Việt (Phạm Hùng ?) trong lần đi săn tại Quận Tánh Linh, Bình Tuy. Ông Ðức nghĩ đây chỉ là một đòn chiến thuật của ông Nhu để dằn mặt Hoa Kỳ, Tổng thống Diệm không bao giờ chấp nhận giải pháp điều đình với Hà Nội. Ông Ðức còn xác nhận : một Tết Nguyên Ðán trước 1963, một cành đào đỏ lộng lẫy được trưng bày nơi phòng khánh tiết Dinh Ðộc lập với tấm thiệp in tặng của “Chủ tich Nhà nước Cộng hòa Xã hội Miền Bắc”.

Những ngày chót của Tổng Thống Diệm

và các thân cận cuối cùng

Tướng Trần Văn Ðôn, đầu não trong chánh biến 1/11/1963 và tác giả của quyển hồi ký “VN Nhân Chứng” (nxb Xuân Thu, Californie, 1989) về vai trò Hoa kỳ chỉ huy vụ lật đổ và sát hại một lãnh tụ đồng minh đã viết như sau : “Ðúng 1 giờ 30 trưa, (trùm Xịa) Conein vào bộ Tổng Tham mưu, (nơi đặt văn phòng của Ðôn) mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc với Tòa Ðại sứ Mỹ và một bao tiền là ba triệu bạc VN” (trang 211). Ðôn còn tuyên bố khi y thậm thọt gặp riêng Thái thú Cabot Lodge để thỉnh thị : “Chúng tôi (nhóm đảo chính) không bao giờ có tham vọng cá nhân, chỉ muốn cứu nước !” (trang 210).

Trong hồi ký VN Nhân Chứng, đoạn chót, “Trần Văn Ðôn cho biết ba triệu bạc – cái giá rẻ mạt để thay đổi một thế cờ ! – đã chia cho Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Ðính, Nguyễn Hữu Có, Ðổ Cao Trí, Nguyễn Khánh, Trần Ngọc Tám và Lê Nguyên Khang”.

Ông Ðức tỏ ra ngán ngẩm khi được hỏi nghĩ gì về sự tự thú trên đây. Theo ông, trong những ngày chót của một cuộc đời đấu tranh gian khổ, TT Diệm là con người cô đơn nhứt trên thế gian : dân tộc bỏ rơi, đồng minh phản bội, gia đình chia cách, kẻ thù Hà Nội reo hò chiến thắng, sự nghiệp chính trị ra tro, uất hận ngất trời vì tương lai mù mịt của Ðất nước, một quốc gia bị sức mạnh chèn ép. Với ông Nhu quỳ bên cạnh cầu nguyện trong nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn sáng ngày 1/11/1963, nhưng không chắc TT Diệm đồng một tâm tư với người em.

Ông Ðức bùi ngùi nhắc lại : “Tối 1/11/1963, khi tiếng súng nổ rền khắp nơi, ông và gia đình rời khỏi nhà riêng ở số 8 đường Lê Văn Thạnh, Sài Gòn, tại Chợ Lớn, không xa căn phố lầu của Mã Tuyên, nơi Tổng thống và ông Nhu tạm ngụ. Sáng hôm sau 2 tháng 11, trở lại nhà thì được biết Tổng thống có điện thoại tới hôm trước nhưng người giữ nhà trả lời không biết ông Ðức ở đâu. Vài giờ sau, ra-dô báo tin hai ông Diệm, Nhu “tự tử”, điều mà ông Ðức không tin chút nào. Ðến nay, ông Ðức vẫn ân hận vì không được tiếp xúc lần chót với Tổng thống.

Hỏi : Trong Nội các, ai được Tổng thống Diệm tin cậy nhứt những ngày, tháng cuối cùng ? QTÐ đáp : các ông Nguyễn Ðình Thuần và Trương Công Cừu. Ông Thuần kiêm ba trọng trách : Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống, Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng, và Bộ trưởng Ðặc nhiệm Phối hợp An ninh. Ông Cừu là Bộ trưởng Ðặc nhiệm Phối hợp Văn hóa Xã hội. Ngoài ra, còn có ông Ngô Trọng Hiếu, Bộ trưởng Công dân vụ, từng là đại sứ VNCH ở Nam Vang, bị Chánh phủ Cam bốt trục xuất vì giúp cho tướng Nap Chuon đảo chánh (hụt) Quốc vương Sihanouk. Tên ông Hiếu nằm trong bản danh sách của Cabot Lodge ghi các nhân vật cần thanh toán, theo hồi ký nêu trên của trung tá Nguyễn Văn Châu.

Ông Ðức không ngạc nhiên cho lắm khi được người viết cho biết một số tài liệu giải mật tại Hoa kỳ tiết lộ ông Nguyễn Ðình Thuần là tay trong thân tín của CIA, theo dõi để phúc trình từng phản ứng của hai anh em Diệm-Nhu. Nguyễn Ðình Thuần từng được Mỹ chấm như một “Thủ tướng có triển vọng” nếu TT Diệm chịu sửa Hiến pháp để đặt thêm chức vụ này (đọc The Storm has many eyes, A personal narrative của Henri Cabot Lodge, NY 1973, trang 62 và Lodge in Vietnam, A Patriot abroad của Ann Blair, nxb Yale University Press, New Haven 1995, trang 92).

Ông Ðức cho biết thêm : Linh mục Cao Văn Luận cũng là một cố vấn thân tín của Tổng thống được giao phó ra nước ngoài xin tài trợ về giáo dục, tìm kiếm trí thức Việt đưa về nước và tổ chức Viện Ðại học Huế mà ông là Viện trưởng đầu tiên. Trong giai đoạn khủng hoảng Phật giáo, dư luận cho rằng cha Luận đã trở mặt, ngã theo phe chống chánh quyền. Ông Quách Tòng Ðức quả quyết không bao giờ gặp Vũ Ngọc Nhạ. Trả lời về các cán bộ gốc Cộng sản cọng tác với chế độ, ông Ðức cho biết Kiều Công Cung – nguyên tư lệnh một sư đoàn Bộ đội Bắc Việt – đã tỏ ra xứng đáng đến cùng trong chức vụ Ðặc ủy chiêu hồi. Phạm Ngọc Thảo – mà Tổng Nha Cảnh Sát có hồ sơ – được bổ nhiệm đại úy Bảo An, sau đó Tỉnh trưởng Kiến Hòa và thanh tra dinh điền. Hai chuyên viên Mỹ về Giáo dục và Dinh điền thường lui tới Dinh và ăn sáng với Tổng thống là giáo sư Wesley Fishel thuộc Ðại học Michigan và Ladejinsky mà Tổng thống quen từ lúc bôn ba ở Hoa kỳ. Về sau, được biết hai chuyên viên này làm việc cho CIA. Ðặc biệt, Fishel đã ra mặt chống phá ông Diệm tại Hoa Thịnh Ðốn trước ngày đảo chánh.

Ông bạn Quách Tòng Ðức chấm dứt buổi nói chuyện thân tình bằng một lời than chua xót : Dĩ vãng buồn nhiều hơn vui, phá hoại nhiều hơn xây dựng, hận thù thay vì đoàn kết. Ðến nay, đất nước chưa thấy lối thoát, những bài toán của xứ sở chưa tìm ra đáp số.

Lưu đày, dù trên mảnh đất dân chủ, chưa phải là Tự do. Người Việt tha hương, vào tuổi gần đất xa trời, vừa đau buồn hướng về Ðất Mẹ, vừa thao thức tự vấn như Thôi Hiệu trong bài thơ Ðường Hoàng Hạc Lâu:

Chiều xuống, Quê nhà đâu đó tá ?

Bên sông khói tỏa, não lòng ai.

Nguyễn Văn Danh post (theo bài Chi Ðiền dịch)

Còn kỳ 3 :

NGÔ ĐÌNH CẨN TRƯỚC GIỜ XỬ BẮN

HẬU TRƯỜNG NHÀ NGÔ (1/3)

HỒI KÝ QUÁCH TÒNG ĐỨC

Chín năm bên cạnh

TT Ngô Đình Diệm

Admin : Tài liệu này do bạn Nguyễn Văn danh post. Tuy bài viết chưa phải thật sự đúng hoàn toàn, nhưng cũng cho chúng ta hiểu biết về cuộc chính biến vào ngày 1/1/1963 khi lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa tại miền Nam và anh em TT Ngô Đình Diệm – cố vấn Ngô Đình Nhu bị hạ sát, sau khi từ Dinh Gia Long (bấy giờ Dinh Độc Lập đang  được xây dựng lại) chạy về nhà thờ Cha Tam trong Chợ Lớn.

Loạt bài nhà Ngô được tải đăng 3 kỳ. Mời các bạn đọc qua.

Nguyễn Việt

Tuy là bạn tâm giao với người viết từ lâu, ông Quách Tòng Đức luôn luôn tỏ ra dè dặt và thận trọng khi nhắc đến những năm dài làm Đổng lý Văn phòng cho Phủ Tổng thống của Ngô Đình Diệm, người khai sáng nền Đệ nhứt Cộng hoà Việt Nam.

Sau chính biến 1/11/1963, ông Đức trở lại ngành tư pháp và được cử nhiệm Chủ tịch Tham Chính Viện năm 1969. Sau tháng 4/1975, ông và gia đình xin tị nạn tại Paris. Chánh phủ Pháp tuyển dụng ông vào Phòng Tố tụng Tổng quát của thị xã Paris, thời Thị trưởng Jacques Chirac. Và về hưu đầu năm 1984.

Hiện ông Quách Tòng Đức đã tuổi Cửu Tuần, trí tuệ còn minh mẫn tuy sức khoẻ không tốt như trước. Gần đây, trong những lần gặp nhau lại ở Pháp cũng như qua nhiều cuộc điện đàm có ghi âm, ông Đức đã chịu thố lộ với người viết nhiều điều liên hệ đến giai đoạn chín năm phục vụ vị nguyên thủ quốc gia bị sát hại vào năm 1963.

Lần đầu gặp ông Ngô Đình Diệm

Ông Quách Tòng Đức (QTĐ) sanh tại An xuyên năm 1917, thuộc một gia đình trung lưu, đậu cử nhân và Cao học Luật Đông Dương năm 1941, Đại học Hà Nội, sau khi lấy bằng tú tài tại trường Pétrus Ký, Sàigòn. Ông thuộc toán cử nhân đầu tiên gồm có Nguyễn Thành Cung và Lê Văn Mỹ thi đậu năm 1942 vào ngạch huyện, phủ tại Miền Nam VN, mà cấp bậc cao nhứt là Đốc phủ sứ thượng hạng ngoại hạng tương đương với chức Tổng Đốc đứng đầu tỉnh ở ngoài Trung và Bắc. Khi vua Bảo Đại chỉ định Trần Văn Hữu lập Chánh phủ, Thủ hiến Nam Việt, Thái Lập Thành (xuất thân là một Đốc phủ sứ như các ông Nguyễn Ngọc Thơ, Lê Tấn Nẩm, Dương Tấn Tài, Lê Quang Hộ …) bổ nhiệm ông QTĐ năm 1951 làm Chánh Văn phòng và thiếu tá Dương Văn Minh, Chánh Võ phòng. Năm 1953, thủ hiến Thành và Thiếu tướng Chanson bị nhóm Cao Đài kháng chiến của Trình Minh Thế ám sát tại Sa đéc trong một cuộc kinh lý.

Bốn muơi chín (49) ngày sau Điện Biên Phủ thất thủ, tức là 26/6/1954, vua Bảo Đại giao cho cựu Thượng thơ Ngô Đình Diệm lập chánh phủ, thay thế hoàng thân Bửu Lộc. Trước đây, ông Diệm đã ba lần từ chối lời mời của Bảo Đại : năm 1937, 1945 và 1948. Ông giao thiệp thân tình với nhà cách mạng Phan Bội Châu lúc sanh tiền, có ghé Nhựt năm 1950 để hội kiến với Kỳ Ngọai Hầu Cường Để.

Hiệp định Genève, ký ngày 20/7/1954, chia đôi đất nước nơi vĩ tuyến 17. Trong đám dân chúng đón tiếp nồng nhiệt Thủ tướng Diệm tại phi trường Tân Sơn Nhứt có ông Nguyễn Ngọc Thơ, nguyên bí thơ của Toàn quyền Decoux, cùng đi với ông QTĐ. Thủ tướng Diệm – kiêm luôn Bộ Quốc phòng và Nội Vụ – mời ông Thơ tham gia Nội các với tư cách Bộ trưởng Nội Vụ. Ông Thơ chọn ông Đức làm Đổng lý Văn phòng năm 1954.

Ngày 23/10/1955, một cuộc trưng cầu dân ý truất phế Bảo Đại. Ngày 26/10/1956, từ Thủ tướng trở thành Tổng thống, ông Diệm thiết lập nền Đệ nhứt Cộng hoà ở miền Nam. Quân đội tổ chức một cuộc diễn binh huy hoàng tại đại lộ Trần Hưng Đạo – Sàigòn dưới quyền điều khiển của Tướng Dương Văn Minh, vừa vinh thăng Thiếu tướng sau khi tảo thanh xong Bình Xuyên tại Rừng Sát. Ông QTĐ thay thế Đổng lý Tôn Thất Trạch cuối năm 1954, và giữ chức vụ này cho đến ngày Quân đội đảo chánh năm 1963.

Nhận xét về mối liên hệ

của TT Diệm với gia đình

Theo ông QTĐ, năm 1954 chánh phủ Pháp trả dinh Gia Long ở đường Gia Long (nay Lý Tự Trọng), và sau khi quân đội Pháp rút khỏi Việt Nam, nhà cầm quyền Đệ nhứt cộng hoà mới thu hồi Dinh Toàn quyền Norodom, đổi tên thành Dinh Độc lập, trên đại lộ Thống nhứt. Dinh này được kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, khôi nguyên La Mã, xây cất lại hoàn toàn sau ngày 27/2/1962 vì Dinh bị hai phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom hư hại khá nặng.

Dinh Độc lập chia làm hai tầng : tầng dưới có hai phòng khánh tiết tráng lệ và các Văn phòng của Cố vấn Ngô Đình Nhu, Bộ trưởng Phủ Tổng thống, Đổng lý Văn phòng, Tổng thơ ký Phủ Tổng thống và nhân viên. Tầng trên chia làm ba phần : phía trái dành làm Văn phòng và phòng ngủ của Tổng thống, phòng sĩ quan tuỳ viên; ở giữa có hai phòng tiếp tân khang trang; phía phải là nơi cư ngụ của gia đình ông bà Nhu với hai con trai, hai gái. Tổng thống Diệm thích làm việc trong phòng ngủ, trang trí sơ sài với một cái giường nhỏ bằng gổ, một bàn tròn và ba ghế da. Nơi đây, Tổng thống thường dùng cơm và tiếp các Bộ trưởng và tướng lãnh.

Gia đình Tổng thống rất trọng Nho giáo. Hằng năm vào Tết Nguyên đán, luôn luôn tụ họp đông đủ ở Phủ Cam, Huế, để chúc thọ cụ bà Ngô Đình Khả giao cho người con áp út Ngô Đình Cẩn săn sóc ngày đêm. Ông bà Ngô Đình Khả có chín người con : 6 trai, 3 gái.

Trưởng nam, Tổng đốc Ngô Đình Khôi và con trai là Ngô Đình Huân bị giết hại năm 1945. Ba người con gái là bà Ngô Đình Thị Giao tức bà Thừa Tùng, bà Ngô Đình Thị Hiệp tức bà Cả Ấm, thân mẫu của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận và bà Ngô Đình Thị Hoàng tức bà Cả Lễ, mẹ vợ của Nghị sĩ Trần Trung Dung. TT Diệm là người con trai thứ ba trong gia đình nhà Ngô, sanh năm 1901 taị Huế, được vua Bảo Đại bổ nhiệm năm 1933 Thượng thơ đầu Triều lúc 33 tuổi nhưng ông Diệm sớm rủ áo từ quan vì thực dân Pháp không chấp nhận chương trình cải tổ rộng lớn của ông. Sau ngày ông Khôi qua đời, Tổng giám mục Ngô Đình Thục, trở nên người anh cả “quyền huynh thế phụ”. Đức cha được kính nể và có nhiều ảnh hưởng đối với TT Diệm.

Ông Quách Tòng Đức cho biết, lúc còn ở Vĩnh Long, Giám mục Ngô Đình Thục vài tuần về Saigon ngụ trong Dinh. Ông Ngô Đình Luyện, con út trong gia đình, đại sứ ở Luân Đôn, năm khi mười họa mới về nước nghỉ phép hay để dự các phiên họp của Hội Đồng Tối Cao Tiền Tệ mà ông là một thành viên. Ông Đức không nhớ có lần nào gặp ông Cẩn trong Dinh Độc Lập hay không.

Văn phòng Đổng lý không làm việc thẳng với Cố vấn Nhu. Ông Nhu có nhân viên riêng trong Sở Nghiên cứu Chánh trị Phủ Tổng thống mà người giám đốc đầu tiên là đốc phủ sứ Vũ Tiến Huân, Tham lý Nội An Bộ Nội vụ, về sau thay thế bởi bác sĩ Trần Kim Tuyến. Văn phòng của Sở Nghiên cứu sử dụng một ngôi nhà riêng trong hàng rào Dinh Độc lập. Vài tháng trước vụ binh biến 1/11/1963, Bác sĩ Trần Kim Tuyến bị thất sủng, trung tá Phạm Thư Đường thay thế. Bác sĩ Trần Kim Tuyến được bổ nhiệm làm Tổng lãnh sự (hụt) tại Le Caire, trở lại Việt Nam và liên hệ đến một nhóm âm mưu đảo chánh. Đảo chánh thành công, bác sĩ Tuyến bị Hội đồng Cách mạng đày ra Côn Đảo trên một năm cùng với khỏang 200 nhân vật chế độ cũ như Ngô Trọng Hiếu, Cao Xuân Vỹ, đại tá Nguyễn Văn Y, Hà Như Chi, Dương Văn Hiếu…

Ông Quách Tòng Đức không thể xác nhận tin nói rằng trước ngày 1/11/1963, ông Nhu đã giao cho người em vợ là Trần Văn Khiêm điều khiển cơ quan mật vụ. Khiêm bị nhiều tai tiếng, từng cộng tác với Văn phòng của luật sư Trương Đình Dzu, ứng cử viên Tổng thống thời Thiệu-Kỳ. Vụ Khiêm giết cha mẹ là ông bà cựu đại sứ Trần Văn Chương tại Hoa kỳ sau 1975 làm dư luận xôn xao. Toà án Mỹ tha Khiêm với lý do Khiêm bị bịnh tâm thần và trục xuất Khiêm khỏi Hoa kỳ. Khiêm hiện sống bình thường ở Pháp. Có sự điều đình chánh trị gì bên trong vụ án này ?

Khi được hỏi cách cư xử của TT Diệm với bà Nhu (nhủ danh Trần Lệ Xuân), ông Đức cho biết “ông cụ có vẻ nể và ủng hộ bà Nhu” trong vụ tổ chức Phong trào Phụ nữ Liên đới và vận động Quốc hội ban hành Bộ Luật Gia đình cấm ly dị. Tổng thống cho rằng bà Nhu hành động như vậy là giúp cải tổ xã hội. Tuy nhiên, có người lại cho rằng Bộ Luật Gia đình nhằm mục tiêu riêng : ngăn luật sư Nguyễn Hữu Châu ly dị với bà Trần Lệ Chi, chị ruột bà Nhu. Ngoài chức vụ dân biểu Quốc hội, bà Nhu còn là Chủ tịch Phong trào Phụ nữ Liên đới. Khi tiếp quốc khách, bà Nhu đóng vai trò Đệ nhứt Phu nhân vì Tổng thống độc thân.

Tuy bất bình về những lời tuyên bố châm dầu vào lửa của người em dâu trong vụ Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11/6/1963 (đặc biệt với câu “monks’ barbecue”), ông Diệm không công khai phủ nhận vì ngại đụng chạm đến ông Nhu vào một giai đoạn rối như tơ vò. Chính ông Nhu, với tánh hay nhường nhịn cho yên nhà yên cửa, cũng không kiểm soát nổi lối phát ngôn của vợ. Bà Nhu hiện có một cuộc sống kín đáo, đơn sơ, nặng về tôn giáo, qua lại giữa Paris và Rome, tất cả con cái đều thành tài. Trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy chết trong một tai nạn lưu thông sau 1975. Sự bất hạnh không ngớt đeo đuổi gia đình nhà Ngô. Thời gian gần đây, bà Nhu thay bà Luyện để tổ chức hằng năm tại Paris một lễ cầu hồn cho TT Diệm và ông Nhu. Trong số ít người còn lui tới với bà Nhu, có vợ chồng cựu bộ trưởng Lao động Hùynh Hữu Nghĩa. Ông Nghĩa vừa qua đời năm rồi.

Về tin đồn Đức cha Thục làm kinh tài (khai thác lâm sản, mua thương xá Tax, làm chủ nhà sách Albert Portail..v..v..), ông Đức cho rằng TT Diệm tin TGM Thục không làm điều gì quấy, ngài phải kiếm tiền nuôi sống trường Đại học Đà Lạt do Ngài thành lập. Trải qua một cuộc đời sóng gió và gặp nhiều hiểu lầm với Toà thánh Vatican sau 1975, TGM Ngô Đình Thục được Giáo hoàng phục hồi chức tước, về hưu ở Hoa kỳ và đã ra đi bình yên tại một Viện dưỡng lão công giáo thuộc tiểu bang Missouri.

Bà Nhu năm 32 tuổi,

ông Nhu 46 tuổi (1956)

Ông QTĐ xác nhận ông Ngô Đình Nhu chẳng những là lý thuyết gia mà còn là bộ óc của nền Đệ nhứt Cộng hoà, “l’homme indispensable, nhân vật cần thiết”. Ông xuất thân từ Ecole des Chartes Paris, trầm tỉnh, ít nóí, lạnh nhạt bên ngoài, thích nghiên cứu lịch sử, có nhiều sách hơn là đồng sự của ông. Trong lối ba năm chót của chế độ, dù giữ quyền quyết định cuối cùng trong mọi việc, TT Diệm thường phê chuyển các hồ sơ chánh trị quan trọng qua cho ông Nhu để lấy ý kiến, không kể những cuộc gặp mặt thảo luận riêng hằng ngày. Ông Nhu làm việc âm thầm, cần mẫn, hút thuốc liên hồi (mỗi lần nửa điếu, do sự can ngăn của bà Nhu) trong một văn phòng không rộng, đầy ngập sách vở, ánh sáng mờ mờ, ở tầng dưới Dinh Độc lập, có gắn máy lạnh và interphone với bên ngoài. Ông thường phê vào các công văn với một cây bút chì mỡ màu xanh lá cây. Ông là cha đẻ của Đảng Cần Lao, và thuyết Nhân Vị, Personnalisme, nối kết hai xu hướng của triết gia công giáo Emmanuel Mounier (1905-1950) và Jacques Maritain (1882-1973).

Ông Nhu phát động phong trào ấp chiến lược từng gây thiệt hại cho bộ đội Bắc Việt. Quốc sách Ấp Chiến Lược là do nghị định số 11-TTP và ông Nhu giữ vai trò Chủ tịch Ủy Ban Liên Bộ Ấp Chiến Lược. Ông Nhu cũng cho thành lập Phong trào Thanh niên và Thanh nữ Cộng hoà giao cho Cao Xuân Vỹ phụ trách. Ông đẩy mạnh tổ chức lao động ở Việt Nam và nâng đỡ Trần Quốc Bửu. Đại tá CIA Lansdale (người đã ủng hộ Magsaysay trở thành Tổng thống Phi Luật Tân năm 1952) giúp ông móc nối với Lực lương Cao Đài để đưa tướng Trình Minh Thế về với Quốc gia. Ngoài chức Tổng Bí thơ Đảng Cần Lao (tổ chức theo mô hình đảng Cộng Sản, với một Quân ủy trong Quân đội), có một lúc ông Nhu là dân biểu Quốc hội. Ông không bao giờ tháp tùng Tổng thống trong các cuộc kinh lý. Săn bắn là thú tiêu khiển yêu chuộng của ông và đồng thời là cơ hội tìm nơi yên tịnh để suy nghĩ.

Ông đại sứ Luyện, gốc kỹ sư, tánh tình cởi mở, thích giao du với bạn bè mỗi khi về Việt Nam, nhưng không có nhiều ảnh hưởng vì không xen vào vấn đề nội trị. Ông là bạn học của cựu hoàng Bảo Đại, sống tại Luân đôn và đại diện VNCH ở nhiều xứ Âu châu và Phi châu. Sau khi vợ trước qua đời, ông Luyện tục huyền với em vợ và có rất đông con. Bà Luyện sống ở ngoại quốc nhiều hơn và ít khi xuất hiện. Sau 1963, ông Luyện làm đại sứ ở Paris, sau đó sang Phi châu làm việc một thời gian, tình trạng khá chật vật khi về hưu. Ông có qua Hoa kỳ vài lần để thăm Đức TGM Thục, không còn liên với bà Nhu. Ông Luyện đã qua đời tại Pháp.

Cho đến cuối năm 1961, vai trò của ông Ngô Đình Cẩn, Cố vấn lãnh đạo Miền Trung, trái lại, rất hệ trọng về mặt an ninh và đoàn thể. Ông Cẩn không ăn học cao nhưng nắm vững tình hình địa phương, có óc tổ chức, luôn luôn trang phục theo lối Việt, áo dài, khăn đống, ăn trầu, (từ đó có biệt danh “Ông Cố Trầu”), độc thân, thích hút thuốc Cẩm Lệ, đan rổ, làm vườn, nuôi thú, nuôi chim. Ảnh hưởng của ông lan vào Miền Nam với những điệp vụ mang danh nghĩa chiêu hồi của Đoàn Công tác Đặc biệt do Dương Văn Hiếu quán xuyến, sự hiện diện của Nguyễn Văn Hay trong cương vị phó Tổng Giám Đốc tại Tổng nha Cảnh sát Công An Sàigòn và các hoạt động của cánh Cần Lao do nha sĩ thân tín Phan Ngọc Các điều khiển.

Được hỏi về tin đồn có sự cạnh tranh ảnh hưởng chánh trị giữa ông Nhu và ông Cẩn, ông Quách Tòng Đức nói chỉ nghe nói phong phanh. Vào tháng 10/1963, ông Cẩn nhận được lệnh của TT Diệm ngưng mọi hoạt động về đoàn thể và đóng cửa Văn phòng Cố vấn chỉ đạo ở ngoài Trung gồm có Hồ Đắc Trọng và đại úy Nguyễn Văn Minh. Hình như sự hiện diện của TGM Ngô Đình Thục tại Huế đã bó tay ông Cẩn phần nào. Ông Cẩn không dám phê bình chị dâu tuy không ưa bà Nhu. Trong phạm vi cá nhân, ông Cẩn giữ liên lạc tốt với Thượng tọa Thích Trí Quang nhưng điều này không giúp giải quyết cuộc khủng hoảng Phật giáo.

Người viết có yêu cầu ông Quách Tòng Đức cho biết trong gia đình họ Ngô, ai là người gây tiếng tăm bất lợi cho chế độ, suy nghĩ một phút, ông Đức đáp : “TGM Thục và bà Nhu. Đặc biệt trong giai đoạn Phật giáo. Đức cha ảnh hưởng quá nặng ngoài lãnh vực tôn giáo. Bà Nhu xen quá sâu vào chính trị, điều ít thấy trong giới phụ nữ VN. Ngó từ bên ngoài, năm anh em Ngô Đình rất khắn khít, mỗi người giúp tay tích cực xây dựng chế độ trong một lãnh vực. Sự đoàn kết ấy được diễn tả trong huy hiệu Đệ nhứt cộng hoà : năm cành trúc kết thành một bó, dưới khẩu hiệu “Tiết trực Tâm Hư.” Tuy nhiên, mỗi nhân vật có cá tánh riêng, nhận định không luôn luôn nhất thống, đôi khi còn mâu thuẫn. Đó là hậu quả khó thể tránh trong một chế độ dựa vào gia tộc để lãnh đạo. Phe chống đối cũng như Hoa kỳ và Hà Nội đều khai thác triệt để và dễ dàng nhược điểm này”.

Dư luận cho rằng trong năm chót của chế độ, trước cuộc binh biến 1/11/.1963, ông Nhu – trên thực tế – là một “Tổng thống không ngôi” vì có nhiều quyền lực, làm lu mờ vai trò của ông Diệm nhưng quyền bính hiến định vẫn ở trong tay ông Diệm bị tấn công tứ phiá, bên trong lẫn ngoài nước. Không có một văn kiện chánh thức nào bổ nhiệm ông Nhu lẫn ông Cẩn làm Cố vấn Chánh phủ. Chính các đoàn thể chánh trị ở Miền Trung mời ông Cẩn làm “Cố vấn Chỉ đạo” và dành cho ông danh xưng nay. Có lúc dư luận cảm thấy ông Diệm cần ông Nhu hơn là ông Nhu cần ông Diệm. TT Diệm không thể tách rời khỏi ông Nhu đóng vai trò “l’âme damneùe, linh hồn đày đọa”. Đó là đầu mối thảm trạng xảy ra cho hai người vào giờ phút chót.

TT Diệm tưởng lầm có thể dùng uy tín cá nhân để bảo vệ sanh mạng của bào đệ. TT Diệm cũng tưởng lầm khối tướng lãnh chấp nhận điều đình với ông. Phần đông tướng lãnh kính nể TT Diệm nhưng tất cả ngán sợ ông Nhu vì ông Nhu lắm mưu mô, nhiều bản lãnh. Sự ngán sợ đã trấn áp lòng nể trọng và dẫn đến quyết định hy sinh vị nguyên thủ quốc gia.

3 giờ trưa ngày 1 tháng 11, lúc tiếng súng đang nổ lớn, TT Diệm điện thoại cho đại sứ Lodge : Một cuộc điện đàm ngắn ngủi, đầy phẫn nộ trong khuôn khổ ngoại giao. Conein thúc đảo chánh phải bắt sống cho kỳ được hai ông Diệm, Nhu. Conein nói suồng sã : “On ne fait pas l’omelette sans casser les oeufs, Không thể rán trứng mà không đập bể trứng”, theo Trần Văn Đôn kể lại trong Hồi ký.

Lúc 4 giờ sáng ngày 2/11/1963, hai tư lệnh Quân khu thân tín ở Vùng I và II là tướng Đỗ Cao Trí và Nguyễn Khánh tuyên bố ủng hộ Hội đồng Cách Mạng. Hy vọng cuối (của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu) cùng tan biến. Hai giờ sau, Tổng thống cho phép đại úy Đỗ Thọ, sĩ quan tùy viên, điện thoại cho chú của ông là đại tá Đỗ Mậu yêu cầu cho xe đến đón tại Nhà thờ Cha Tam Chợ lớn. Lúc 6 giờ và 6 giờ 45 sáng ngày 2/11/63, TT Diệm đích thân điện thoại cho các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn và và Trần Thiện Khiêm để tìm giải pháp cho các cuộc khủng hoảng. Ông Minh chỉ định Mai Hữu Xuân, Nguyễn Văn Quang, Dương Ngọc Lắm, Dương Hiếu Nghĩa và Nguyễn Văn Nhung đi đón, với chỉ thị riêng thanh toán hai ông Diệm, Nhu, trước khi về tới Bộ Tổng tham mưu.

Con người Ngô Đình Diệm

Một số sách vở và tài liệu đã nóí về cuộc đời chánh trị và riêng tư của TT Ngô Đình Diệm như một lãnh tụ chính trị cương trực, khí khái, chống cộng cố hữu (anti-communiste invétéré) cũng như bướng bỉnh với đế quốc, bất luận Pháp, Tàu hay Mỹ.(?) Theo ông Qúach Tòng Đức, TT Diệm có cái uy nghiêm riêng phát xuất từ một gương mặt phúc hậu, một tác phong cương nghị, một giọng Huế ấm áp, một lối nhìn thẳng vào người đối thoại. Một nốt ruồi đen thấy rỏ trên gò má dưới mắt trái của Tổng thống được các nhà tử vi xem như báo hiệu một số mạng nhiều buồn phiền và tang tóc. Ông không nặng lời hay gắt gỏng với cấp thừa hành, khi không vừa ý.

Sau cái bề ngoài trầm tỉnh, TT Diệm là một con người cuồng nhiệt, một hỏa diệm sơn, kiên trì trong mục đích, không nhân nhượng trên những đức tin căn bản. Trong chín năm làm việc tại Dinh, ông Đức cũng có dịp chứng kiến một ít trường hợp – vì lý do đặc biệt – Tổng thống thịnh nộ, quát tháo, đập bàn .. Những “trận bão” này, tuy nhiên, qua mau, Tổng thống tự kềm chế cấp thời vì bản tánh của ông bộc trực, không cố chấp, không thâm độc. Ông có thể độc thoại hàng giờ khi nói đến những đề tài mà ông nghiền ngẫm như chủ thuyết cộng sản, ấp chiến lược, khu trù mật, dinh điền, cải tổ hành chánh, hay văn hoá Khổng Mạnh.

Mái tóc đen nhánh, dáng người thấp, chân đi hai hàng lạch bạch nhưng mau lẹ. Rất sùng đạo, xem lễ mỗi buổi sáng tại một phòng riêng trong Dinh, hoặc nhà nguyện Dòng Chúa Cứu thế. Trang phục màu trắng, cà vạt đen quanh năm, không thay đổi. Làm việc bất chấp giờ giấc, với nhịp độ làm các người thân cận mệt nhoài. Khi có vấn đề khẩn, ông cho mời nhân viên hữu trách vào Dinh để đàm đạo thâu đêm. Bằng không, ông đọc phúc trình, hồ sơ đến khuya, uống trà, hút thuốc nhưng không bao giờ hút hết phân nửa điếu thuốc.

TT Diệm kinh lý không biết mệt, có khi mỗi tuần đi suốt hai ba ngày, đến các tiền đồn hẻo lánh, làng Thượng xa xôi, xử dụng mọi phương tiện chuyên chở: máy bay, ghe, tàu, xe jeep, trực thăng…Ông không hùng hồn trước đám đông nhưng rất thoải mái và thân mật ở giữa những nhóm nhỏ, không quan cách.

Khi nhóm Hội đồng Nội các, TT Diệm thường ra ngoài chương trình ấn định, nếu tình cờ gặp một đề tài gây chú ý. Ông nói say mê, không đầu không đuôi, lắm khi không kết luận. Với tư cách thơ ký phiên họp, ông Quách Tòng Đức ghi mệt tay. Lúc bế mạc, các bộ trưởng thường phải nhờ ông Đức tóm tắt vì suốt chín năm trời làm việc bên cạnh Tổng thống, ông Đức đã quen và rút kinh nghiệm, tuy đôi lúc cũng đoán lầm.

(Còn 2 kỳ)

Nguyễn Văn Danh post (theo bài Chi Ðiền dịch)