PHÚT CUỐI CỦA DUY QUANG

9 Duy Quang 1GIẢ TỪ MỘT TIẾNG HÁT

CỦA GIẤC MƠ

PHÚT CUỐI CỦA DUY QUANG

Cách đây hai tháng, sáng ngủ dậy có đứa bạn gọi nói : “Mới nghe đồn Duy Quang mất rồi, nhưng gọi qua nhà thì biết là đang cấp cứu, xem chừng nguy kịch. Cũng vì vậy mà biết được tin Phạm Duy cũng ngã bệnh, nặng”.

Rồi Duy Quang được đưa về Mỹ chữa trị. Mấy bạn ở Mỹ tin về : anh hiện đang bị ung thư gan giai đoạn cuối. Bác sĩ điều trị trực tiếp cho biết là tình trạng bệnh tình coi như hết phương chữa trị, đang ở Orange Coast Hospital, đã không ăn uống gì được cả, chỉ chuyền sirum thôi. Mắt Duy Quang khi đó đã chuyển màu vàng và da sạm đen, nhìn sắc diện khó còn nhận ra anh.

Thông tin lan nhanh, bạn bè bàng hoàng. Nhiều người họp lại bàn chuyện tổ chức đêm nhạc quyên tiền giúp anh chữa trị. Từ khi phát hiện bị bệnh nan y, Duy Quang tỏ ra rất cứng cỏi để chiến đấu chống lại bệnh tật và còn động viên gia đình, bạn bè không quá lo lắng cho anh.

Tuy nhiên, sau gần hai tháng trở về Mỹ, Duy Quang đã không thể chống chọi lại bệnh ung thư. Anh vừa qua đời tại bệnh viện Orange Coast (California) vào lúc 3g30 sáng 20/12/2012. Trước khi mất, Duy Quang chỉ còn hơn 20kg. Vì biết bệnh tình anh quá nặng, nên tất cả con cái và người thân đều ở bên cạnh tới phút cuối.

oOo

Ngày xưa, những năm đại học ở KTX, 6 đứa con gái sống một phòng mà hết 5 đứa mê Duy Quang. Hồi đó, chỉ có catssette. “Thà như giọt mưa” (Duy Quang 3) được nhiều sinh viên tua đi tua lại tới nhão băng. Thích anh hát Hẹn hò, Hai năm tình lận đận, Chuyện tình buồn, Cô Bắc Kỳ nho nhỏ, Em hiền như Ma Soeur, Thà như giọt mưa… 9 Duy Quang 2Tới giờ, nhiều năm trôi qua mà tôi vẫn nhớ như in hình ảnh nhỏ bạn tên Thu Duyên, buồn chuyện tình yêu hay ngồi cửa sổ phòng thòng chân xuống lầu gảy đàn hát đi hát lại : “Khiến người trăm năm đau khổ ăn năn. Khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên…”. Đó cũng là thời đỉnh cao của Duy Quang; giọng hát tôi hâm mộ nhất trong suốt thời sinh viên của mình.

Thời gian đầu khi Duy Quang về nước, anh hùn hạp mở quán phở 40 Trần Cao Vân với anh Văn Công Mỹ – chủ phòng trà Tiếng tơ đồng. Rồi dẹp tiệm, qua làm ăn chung với vợ chồng nhạc sĩ Xuân Hùng, mở phòng trà Văn Nghệ (14 Lam Sơn – Bình Thạnh). Rồi cơm không lành, anh lại bỏ ra mở tiếp phòng trà ở đầu đường Phổ Quang (Tân Bình). Đam mê là vậy, nhưng anh thường bảo mình không mát tay kinh doanh. Lại đóng cửa. Bỗng Duy Quang bất ngờ cưới vợ, ca sĩ Yến Xuân. Hai người mua căn hộ sống trong khu Screc (Q.3), nhưng không bao lâu thì li dị.

Anh kín tiếng, thêm những đổ vỡ càng kín tiếng hơn. Duy Quang chỉ thật sự trở lại vào cuối năm 2010 khi trở thành cổ đông và phụ trách chuyên môn cho phòng trà Duy Tân (6B Phạm Ngọc Thạch, Q.1), có sự cộng tác của Elvis Phương, Ý Lan, Khánh Hà, Tô Chấn Phong, ban nhạc Duy Cường… 9 Duy Quang 3Hàng tuần ở đây có những chương trình đặc biệt “Duy Quang và những tình khúc”. Giọng anh về sau này cũng đã xuống nhiều, như quy luật của tuổi chiều.

oOo

Ca sĩ Duy Quang sinh năm 1950 tại Bạch Mai, Hà Nội, trong gia đình họ Phạm thuộc loại danh gia, ông nội là nhà văn Phạm Duy Tốn, hai bác là học giả Phạm Duy Khiêm (1908 – 1974), nhạc sĩ Phạm Duy Nhượng, cha là Phạm Duy Cẩn (tức nhạc sĩ Phạm Duy). Mẹ của Duy Quang là danh ca Thái Hằng, dì là danh ca Thái Thanh, cậu là nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Giữa thập niên 1960, Duy Quang cùng với Duy Hùng, Duy Minh, Duy Cường và Thái Hiền lập ban nhạc The Dreamers (Những kẻ mơ mộng), nổi tiếng trước 1975. Duy Quang đã hát gần 600 ca khúc, thu âm khoảng 400 bài tại tại hải ngoại và Việt Nam.

Xin chia tay anh…!!!

(theo Hương Trà – Cô gái Đồ Long)

Logo vannghe A

9 Tuy Hong 5NHNG SI SẮC KHÔNG

Túy Hồng

Hai tiết trôi qua, giờ ra chơi, tôi vào phòng giáo sư ngồi nghỉ. Các nam đồng nghiệp làm như không nhìn thấy tôi, vẫn nói chuyện với nhau.

 Hôm nay sắc trời đổi khác, nhưng tác phong của mấy ông thầy giáo trẻ ấy vẫn như mọi ngày, họ không bao giờ nhìn tôi nửa con mắt, hoặc tán tỉnh tôi một đôi lời mà lòng tôi thì rất sẵn.

Trường trung học Hàm Nghi tọa lạc sau cửa Thượng Tứ, một ngôi trường khiêm tốn, không nổi tiếng như trường Quốc Học và trường Đồng Khánh. Học trò con trai xứ Huế, sau cuộc cách mạng quân đội lật đổ chế độ gia đình trị họ Ngô, đã đứng vùng lên biểu tình bạo động, đấu tố giáo sư.

Ai ai cũng biết chắc rằng thế nào Bắc – Quân cũng tổng tấn công và đánh chiếm Huế bất cứ giờ phút nào, cha mẹ và các em tôi di cư vào Sàigòn. Tôi là công-chức mới vừa được bổ dụng, bị kẹt lại ở phố cổ, vùng địa đầu.

Tôi xin thuyên chuyển về dạy trường Gia-Hội. Trường này nằm sau đầm sen trước tư dinh ông Hoàng Mười, sáng chiều có con đò nhỏ một mái chèo ngỏ ngẩn trầm tư giữa hai bè bèo tím biếc và vạt rau muống tươi xanh non dại như lòng con gái nhẹ mềm..

9 Tuy Hong 1Những đêm rằm, tôi chèo thuyền về xóm Đập Đá đất khô cứng, ngó xuống thôn Vĩ-dạ xanh um hàng cau lả mình trong gió đa tình, trong ánh trăng Hàn Mạc Tử, lòng thấy nhớ những cuốn sách dày,  những tập thơ mỏng, những tên tuổi người viết lách.

Những ngày thứ bảy, tôi phóng xe đạp lên đồi Vọng-Cảnh, hướng về điện Hòn-Chén, thả tầm mắt ngắm núi Ngự Bình trọc đầu,  nhìn xa xa về cửa Thuận An, rồi đăm chiêu ngắm Thành Nội êm đềm tĩnh lặng.

Cất dấu hình bóng sông Hương núi Ngự trong tâm, ấp ôm khung trời xứ Huế đa tình đa tật trong lòng và không mấy nặng tình với luân lý Khổng Mạnh, tôi nảy sinh tham vọng viết văn. Nhiều đêm tôi thức trắng viết truyện ngắn đầu tay gửi đăng báo Sàigòn. Một tuần lễ trôi qua, tòa soạn báo Văn Hữu phúc đáp. Trong bao thư trả lời có một nghìn đồng tiền nhuận bút và những dòng chữ hồi âm của nhà văn Võ Phiến : “ Sao tôi khờ dại và ngu như bò! Sao tôi thật thà chất phác như trâu. Suốt thời gian làm việc ở sở thông tin Huế, tôi dốt nát và u mê như heo ! Tôi không dám tìm gặp cô một lần, và không đủ can đảm làm quen với cô hồi đó! Xứ Huế đang yêu ai và có bao giờ sông Hương ngủ đò.. Chào cô !..”

Hai ngày sau, Võ Phiến thân ái tặng sách : “Tôi gửi cô cuốn Hồng Lâu mộng.”

Tôi phóng xe đạp ra bến sông ngồi suốt buổi chiều. Chớp leo lét trên đồi, sấm rung rền từ đàng xa, mây nằm chồng lên nhau như mây đang làm tình. Cơn giông và làn gió cuốn laị, đàn quạ bay lượn tròn, kêu man dại rồi vòng lại bay lui. Tôi tự hỏi nếu ai đó có một chút buồn, một chút chán đời trong buổi chiều rực rỡ này, kẻ đó chắc không phải là tôi.

Sau đó, tôi dắt xe đạp đi bộ vào làng Quáng, dừng lại bên một cái hói, con lạch này là một nhánh cuả sông Hương.

Nguyệt Biều làng Quáng bao xa

Cách nhau cái hói trổ ra hai làng.

Trước khi rẽ vào Bến Ngự, tôi ghé chợ mua một mớ khoai lang dương ngọc, một chút ít bột hàn-the để làm một gói mứt Huế gửi tặng Võ Phiến.

Những lát mứt khoai lang nặng nghiệp văn nghệ, những trang tiểu thuyết Hồng-lâu mộng nặng tình văn hữu, thư từ giao thiệp đều đều mỗi ngày, nhưng Sàigòn và Huế giới nghiêm chúng tôi: tôi không xê dịch khỏi Huế và Võ Phiến cố định ở Sàigòn. Rồi một buổi sáng nắng Huế hung hăng bốc nóng, ông cai trường dúi vào tay tôi một bức thư, Võ Phiến với nét chữ nghiêng nghiêng đã viết: Anh xin thú thật với em một tội lỗi, vì một ngày kia em sẽ hỏi. Xin em tha thứ cho anh: anh đã lập gia đình từ lâu, và vợ chồng anh có bốn đứa con.

Đó là cái nghiệp của ít nhiều nhà văn và nhà thơ nữ miền Hương-Ngự, những kẻ tháo gỡ vòng dây trói Khổng Mạnh Huế để vào nam hòa nhập với  tự do Sàigòn. Những người viết nữ thường sa vào tay những kẻ đã có vợ và nhiều con. Nếu tôi là một ông thầy tướng số mù, (thầy bói thì phải mù, chứ thầy bói mà hai mắt mở thao laó thì nói ai nghe), tôi sẽ tiên đoán vận mệnh của các nhà văn nữ: văn chương thì rạng rỡ, nhưng tình duyên thì trắc trở. 9 Vo Phien 2Những nhà văn nữ thường thích sinh sống ở Sàigòn hơn ở Huế, Vĩnh Long, Phan Rang. Sàigòn thông cảm tâm sự của họ hơn Huế, và những nơi khác. Sài gòn có đủ đàn ông để họ lãng mạn và làm bạn.

Cha tôi và ông em rể của tôi tìm đủ mọi cách vận động cho tôi được thuyển chuyển vào Sàigòn. Hồi đó, một công chức xứ Huế xin đổi vô Sàigòn là một việc không phải dễ, nhưng một công chức Sàigòn xin đổi ra xứ Huế, vùng điạ đầu gai lửa thì.. muốn là được .

Tư dinh ông Hoàng Mười rộng rãi trang nghiêm, Bộ Quốc Gia Giáo Dục thu mua và trùng tu thành trường trung học Gia-Hội, tôi làm đơn xin được ở trong khuôn viên nhà trường. Cấp trên cấp cho một phòng cạnh nhà ông Cai. Bà Cai gánh cho tôi hai thùng nước giếng mỗi ngày.

Mẹ tôi ra Huế một lần và yên tâm khi thấy chỗ ở của tôi an toàn.

Tôi tham vọng viết truyện dài, nhưng không có thực tài, khả năng chỉ đủ để sáng tác truyện ngắn. Trong một truyện vừa không ngắn không dài, tôi miêu tả hình ảnh một tên đàn ông đểu giả gian dối, một kẻ ngọai tình với tôi và phụ tình với vợ. Nhiều đêm dài mất ngủ, cùng với hoa quỳnh ngày tàn đêm nở, tôi trút giận hờn vào những câu văn ác ôn. Tình yêu là một giọt máu mang số 35.

Võ Phiến khuyên :

– “Em hãy liên lạc với tòa báo, nói với ông chủ bút gửi trả lại cái truyện ngắn đó..không đăng báo. Em mà để cái truyện ngắn đó đăng lên báo.. thì  thì em lỗ, anh thì chẳng mất mát gì.”

– “?.”

– “Em hãy thay đổi bút pháp, thay đổi giọng văn, đừng trút giận hờn vào bài viết. Đừng đùa với dư luận, đừng khai sự thật với độc giả.. Phải dấu kín, phải niêm phong bí mật lại. Dư-luận độc địa lắm. Chúng ta không lấy được nhau thì chúng ta sẽ làm sui gia với nhau. Con anh sẽ lấy con em.”

– “ Con anh đã lớn sầm sầm cái đầu, còn tôi thì chới với chưa chồng, làm sao đẻ con kịp để mà.. sui gia.”

Năm đó, học sinh Huế bãi khóa biểu tình, tuyệt thực dấn thân, đấu tố thầy giáo, trường học đóng cửa suốt nửa niên khóa.

Các tướng lãnh miền Nam âm mưu lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm trong lúc Bắc quân tấn công dồn dập, dân chúng hoang mang, mất niềm tin. Giang sơn miền Nam sắp tiêu tan, những tướng lãnh cầm nắm vận mạng quốc gia cứ phóng tay phát động những cuộc cách mạng. Cách mạng xía vô đời sống hằng ngày của người dân, cách mạng kéo theo chỉnh lý, phản cách mạng nối tiếp đảo chánh, miền Nam nhất định sẽ chết yểu. Ông tướng này đá ông tướng kia lăn xuống để mình trèo lên ghế cao.

9 Tuy Hong 2Học sinh chờ đợi chừng đó để bỏ học. Trời làm thiên tai, Huế giông tố mưa gió bão lụt, trường học vừa mới mở cửa đã đóng lại. Suốt hai mùa thi đầu hè và cuối hè, tổng số thí sinh trúng tuyển ít quá, chính quyền lo sợ học sinh bất mãn sẽ bạo động bãi khoá tuyệt thực. Để o- bế lòng dân, bộ giáo dục cho mở thêm một kỳ thi trung học đệ nhất cấp thứ ba trong năm gọi là ân khoa, một khoa thi đặc ân dành cho học trò thi hỏng được thi lại, và giáo chức được đặc ân đi chấm thi tại nơi nào tuỳ thích trên lãnh thổ miền Nam: Đà Lạt, Nha Trang, Lâm Đồng, Buôn Mươi thuộc.

Tôi đi Dalat chấm thi và tạm trú tại cư xá Bùi Thị Xuân. Võ Phiến từ Sàigòn đến Dalat trước tôi vài tiếng đồng hồ.

Trời mau tối, lâu sáng. Dalat chưa vào đêm, gió xé rách những cánh hoa và xoay tít chúng trên vai người đi đường. Các nữ giáo chức ăn cơm tối xong họp mặt chuyện trò trong phòng khách. Cô Hồng Vân nói sẽ làm đơn xin thuyên chuyển lên Lâm Đồng dạy học. Chị Lai Hường thì hy vọng được đổi đến cao nguyên Dalat hành nghề mô phạm vì chị đắm đuối say mê một sĩ quan võ bị Thủ Đức. Bà Minh Khuê giám học trường Đồng Khánh Huế, cũng hứng lên muốn xin thuyên chuyển đến trường Bùi Thị Xuân Đàlat sương mờ..

Đêm tối, Võ Phiến đến cư xá Bùi Thị Xuân tìm gặp tôi, nhìn tôi qua cửa kính một lát rồi gõ cửa.

Chúng tôi đi đêm dưới trăng mờ Dalat. Vườn nhà ai, những búp hoa Quỳnh màu bạch ngọc đã uốn cong cánh từ chiều muộn để sẽ nở bung cánh ra khi màn đêm dần xuống. Mỗi bước đi của chúng tôi là mỗi nhịp đời nhẹ êm, mỗi hé nở âm thầm của quỳnh hoa, mỗi hơi thở dài sâu của câm lặng tình cảm. Bóng tối chụp lên cảnh vật, nhưng ánh trăng cũng sáng soi chiếu xuống vòm cây cành lá. Đêm nhẹ êm, thế giới về khuya tĩnh lặng, hương quỳnh-tương thơm dịu trời mây. Trong thời gian và không gian này, quỳnh hoa sẽ bung nở với trăng, với khoảng không bao la và với bóng tối lan tràn  để khi đêm hết, quỳnh hoa sẽ tàn vì mặt trời chói sáng, quỳnh hoa sẽ chết đúng vào ngày mai với ańh thái dương nóng cay. Cuộc đời của hoa quỳnh chỉ trường thọ được một đêm thôi.

Bàn tay nhà văn xoắn chặt vai tôi :

– “Bây giờ anh đưa em về, ngày mai anh sẽ đến đón em sớm.”

Ánh trăng trên đường về sờ mó vuốt ve thịt da tôi, tôi nếm tình yêu trên chót lưỡi, nhắm mắt nhìn hình bóng mình in trên đường đời sỏi đá, trên lối đi lót gạch và đầu óc tôi tự hỏi làm sao một ai đó có thể vướng mắc chút sầu riêng trong một đêm trăng toàn bích và an lành như thế này. Tôi tự hỏi thêm một câu nữa: sao anh không cùng em đi hết đêm dài ? Tình yêu cay như phở tái chín, tình yêu chua như hàn the, hay tình yêu làm xác thân ta rạo rực sướng khoái..làm sao giảng nghĩa    được? Anh và em như hai hạt muối mặn hòa tan trong đêm ngọt. Những cảm giác em đang có, thúc đẩy em muốn đi cùng anh khắp tổ quốc và đến một nơi chỗ không có tiếng reo hò chiến thắng, không có tiếng khóc than thất thủ kinh thành, không có nội chiến Nam-Bắc quốc-cộng . Em đang hứng, em đang đầy và em đang căng, em có thể hứng và đầy và căng và yêu anh từ chỗ anh đang đi bên em đến bất cứ chỗ nào anh nằm xuống ôm em.

Sáng hôm sau, nhà văn bốc tôi ra khỏi cư xá giáo chức để đến một ngôi nhà cho thuê.

Đàlat hôm ấy thật đẹp. Sau mấy ngày âm u, hôm nay nắng hồi sinh. Trời bao la nắng hanh vàng, tôi hôn nắng, tôi hôn ánh sáng .

Tôi giữ bàn tay Võ Phiến khi đi giữa rừng thông. Dưới chân đồi, xe lam ba bánh đưa rước khách và xe ngựa thồ qua lại ngược chiều. Hai bàn tay tôi thật khô, thật ấm, và thật mềm, nhưng đa tình lắm lắm.

9 Vo Phien 1Lên tới đỉnh cao trên lủng đồi thông, chúng tôi yên lặng ngồi xuống.

Chiều tắt nắng. Thời tiết lười biếng. Gió thở từng hỏi dài mát dịu. Trời đất hòa đồng với ngàn hoa muôn lá. Trời trên cao và đồi thông Dalat dưới thấp hiểu lòng nhau, xích lại gần nhau hơn. Hoa lilac màu tím biếc bông cà. Hoa đừng-quên-em màu hồng sẫm. Tình yêu đột xuất trong xác thịt tôi. Tình yêu là cặp bài trùng ăn ở với nhau mãn đời, là đôi bạn không bao giờ đoạn tuyệt, là chuyện vui để cười chút thôi, là tâm địa không sâu độc đa mang thù oán, là quần áo lót yêu thương vợ anh mặc vào người, là viên thuốc bổ, là sự thúc đẩy anh phải kiếm việc làm, và là con chó tốt bụng chỉ sủa gâu gâu chứ không bao giờ cắn..vân vân ..Chỉ gồm hai chữ mà thôi, nhưng sao mà rắc rối không định nghĩa được cái gọi là tình yêu.

Võ Phiến xích lại gần :

– “Anh không ham muốn em từ phút ban đầu, cũng không ham muốn em sau cái phút anh nhìn em qua cửa kính cư xá Bùi Thị Xuân, mà anh chỉ yêu em bởi vì những câu văn đầu tay em viết trong truyện ngắn gửi đăng báo.. Yêu đời sống, chúng ta hãy đầu-cơ khả năng, thì giờ và lòng thành vào văn chương. Anh cho nghệ thuật tất cả tài sản tinh thần của anh. Con đường anh đi là con đường văn nghệ, chấp nhận sống và chết, trừu tượng và cụ thể. Anh không phải là họa sĩ, nhưng anh có màu sắc nét vẽ; anh không phải là nhạc sĩ nhưng anh có âm thanh tiếng động.”

Nhìn thông reo, anh nói tiếp lời tình vào tai tôi :

– “Em hãy nhìn lên : Trời gió, thông reo, em hãy ngắm kỹ những đọt thông trên cao tít. Gió như vậy, nhưng những đọt thông vẫn không lay động, chỉ những cành lá dưới thấp xoay mình mà thôi.”

Tôi gật đầu:

– “Dalat tuyệt vời ! Đất Dalat nhiều phân bón nên cây cối tốt tươi..Mỹ viện trợ cho miền Nam gạo cơm tiền bạc, và cả phân bón  cây cối”.

Võ Phiến không cử động bàn tay nữa  :

– “Huế đất rộng, người ít. Nhà cửa ở Huế, nhà nào cũng có một miếng vườn. Sàigòn thì quá đông người chật chội, nạn nhân mãn và nạn kẹt xe là hai mối đe dọa sẽ làm Việt Nam khó mà trở thành một cường quốc Đông nam Á.”

Tôi nhìn quanh:

– “Nhiều người ở Huế đang chuẩn bị di tản vô Saìgòn..Tôi cũng sắp theo gia đình vô Nam lánh nạn.”

– “Đừng vô Saìgòn nắng nóng ! Huế có mùa thu gió mát. Còn Sàigòn muốn hưởng gió mát mùa thu thì phải có quạt máy.”

– “Anh cứ khuyên tôi đừng xa Huế, bộ anh muốn mượn tay Vi Xi giết tôi chắc ? Theo ý anh thì miền Nam còn cầm cự được bao lâu nữa mới mất vào tay của họ ?. ”

9 Vo Phien 4– “Mối lo âu hàng đầu của chúng ta là chúng ta không tập đứng với hai bàn chân của chính mình, mà phải dựa vào một thế lực từ bên ngoài.”

Võ Phiến là một văn tài lớn, ngòi bút của ông như quả banh lăn quá lằn vôi biên, ông viết đủ mọi thể loại: văn xuôi văn vần thơ bút ký. Ông cộng tác với nhiều báo chí nhưng tuyệt đối không viết tiểu thuyết ba xu đăng báo hằng ngày.

Khi chúng tôi ngang qua quân trường võ bị, bỗng có một người đàn bà đi ngược chiều, tay dắt một đứa con gái mặc áo đầm. Võ Phiến mặt mày tái xanh, sợ hãi, vụng về hoảng hốt qúynh lên:

– “Vợ anh, em tìm xe về đi.

oOo

Võ Phiến đi Huế công tác một lần nữa. Nhà văn Đỗ Tấn dẫn ông ta đến thăm tôi lần đó. Lần đó Võ Phiến nói :

– “Em không bằng Nguyễn Thị Hoàng, em thua kém Nguyễn Thị Thụy Vũ. Họ kính nể người yêu, họ không oán trách người tình, không căm giận những người đàn ông mà họ đã thương. Còn em, em không tốt, em nói xấu anh dữ dội trong truyện ngắn em viết..”

Qua hết muà xuân đau thương, tôi giã từ thành phố tình ca, thành phố cổ thơm hương đức hạnh của các bà công chúa, ngát hương thiền của các bậc chân tu, tỏa hương trầm của cố đô những muà lễ hội và nhẹ thoảng hương sen tinh khiết từ các ao hồ.

Em là gái trời cho không đẹp, và trời không cho một đàn ông. Một cô gái đã già, một nữ giáo chức cô đơn dạy học ở một tỉnh lỵ chậm tiến, nhưng tôi không Huế một chút nào cả, tôi nhanh chóng hội nhập đời sống Sàigòn. Hồi đó, tôi nói tiếng Bắc, phát âm rõ từng chữ và đúng giọng, nhưng không bắt chước được giọng Nam.

Giờ phút đầu tiên tiếp xúc với học sinh trong Nam, tôi ngạc nhiên nhận thấy học trò trường Mạc Đĩnh Chi Sàigòn ngoan hiền, kỹ luật và kính trọng thầy cô.

9 Tuy Hong 4Tôi đến Sở Thông Tin tìm gặp Võ Phiến lần cuối rồi dứt khoát chấm hết mối tình phiền não này. Không thường xuyên lui tới toà soạn Bách-khoa nữa, không luôn luôn gặp gỡ nhóm văn sĩ Bách-khoa nữa, tôi xoay qua giao lưu với các nhà văn tàn dư của nhóm Sáng Tạo, Hiện Đại.

Quen biết qua một hai cái thư trao đổi kiến thức từ lúc còn ở Huế, bấy giờ tôi mới gặp mặt văn thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, tức đại úy Dư Văn Tâm trong Nha Chiến Tranh Tâm Lý.

Người ta bảo Mai Thảo mục hạ vô nhân; Võ Phiến tỉ mỉ chẻ sợi tóc ra làm tủ; Thanh Tâm Tuyền khó khăn kiêu ngạo không bao giờ khen ai một câu. Thanh Tâm Tuyền phê bình Võ Phiến và các văn hữu khác : “ Những nhà văn viết truyện dài 5 trang ! Những nhà văn không có sách xuất bản !.. Những người con nít viết văn, viết cái kiểu gì mà đọc lên hiểu liền, hiểu ngay, không cần phải suy đoán. Một tác phẩm có giá trị là một tác phẩm đọc xong, người đọc không hiểu tác giả muốn nói gì, muốn trình bày một quan điểm gì. Đó mới đúng là một cuốn sách hay. Muốn viết được truyện dài thì phải kéo dài tài năng ra.”

Vài tháng sau, tôi gửi bản thảo truyện dài đầu tay Những sợi Sắc Không dự thi giải Văn học nghệ thuật toàn quốc. Các  giám khảo chấm giải là Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn vv.. Các thí sinh gồm có Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ vv..

Truớc hội đồng giám khảo, Võ Phiến lên tiếng :

– “Xin đề nghị toàn ban giám khảo loại bỏ tác phẩm Những sợi Sắc Không, không cho phép tác phẩm này dự thi vì tác giả đã đánh máy bản thảo gửi đi dự thi chứ không gửi một cuốn sách. Yêu cầu ban giám khảo không nên chấm chọn tác giả này trúng giải. Muốn trúng giải Văn học nghệ thuật toàn quốc, thí sinh  phải gửi sách đi dự thi, chứ không được gửi bản thảo..”

Trong buổi họp tuyên bố kết quả, Võ Phiến nhấn mạnh :

– “Giải Văn học nghệ thuật là một giải thưởng lớn. Truyện dài Những sỏị Sắc Không chỉ là một tập giấy đánh máy, một tập bản thảo chưa in thành sách, chưa phải phải là một cuốn sách. Tôi xin lập lại : đó chỉ là một tập bản thảo được đánh máy.. Hãy loại bỏ.”

Phiên họp tiếp tục vào ngày hôm sau; Võ Phiến lên tiếng :

– “Nhã Ca là một dáng lớn, một tài hoa chói ngời trong văn học, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn thị Thụy Vũ là những người viết đang rực sáng, đang lên hương…”

Những gì xẩy ra trong mỗi buổi họp mặt của ban giám khảo, Mai Thảo đều kể hết với Thanh Nam :

– “Một tác phẩm đoạt giải nhất phải được ba giám khảo đồng ý. Trong lần họp cuối cùng, Võ Phiến gân quá, gạt hết mọi ý kiến xây dựng của các giám khảo khác. Tác phẩm Những sợi Sắc không chỉ được hai ông thầy đồng ý, nhưng quy luật bắt buộc phải đủ ba ông. Cuối cùng, ông trưởng ban tuyên bố : Truyện dài Những sợi Sắc không chỉ được hai vị giám khảo chấp thuận, hãy còn thiếu một. Vậy, tôi sẽ tường trình laị với văn phòng phủ tổng thống rằng: Giải Văn học nghệ thuật năm nay không có tác phẩm trúng giải nhất, mà chỉ có hai tác phẩm đoạt giải nhì đồng hạng.”

Mai Thảo kể tiếp :

– “Bỗng từ cuối phòng họp,Võ Phiến ho lên một tiếng,uống một ly chanh đường cho dịu cổ rồi nói một hơi:  Năm 1963 là một năm ghi dấu những bước tiến, những thành công của văn chương nữ giới. Những nhà văn nữ của chúng ta giờ này đang làm chấn động tình cảm, đang xuôi ngược tìm kiếm chất liệu, đang lao đao vấp ngã vì những vấn đề triết học quá cao siêu, vì những hoang mang ngờ vực trước tình thế sa đọa của đất nước.”

9 Vo Phien 3Vị chủ tọa hội nghị tuyên bố bế mạc buổi họp :

– “Thưa quý vị, tác phẩm Những sợi Sắc Không của Túy Hồng chỉ đoạt giải nhì đồng hạng”…

Bỗng Võ Phiến dong tay lên phát ngôn một lần nữa, ngón tay trỏ cong cong như cái lưỡi câu:

– “Khoan khoan.. tôi đồng ý với giám khảo Nguyễn Mạnh Côn và giám khảo Mai Thảo: Tác phẩm Những sợi Sắc không đoạt giải nhất văn học nghệ thuật miền Nam năm 1970.”

Mai Thảo tiếp theo :

– “Võ Phiến chẻ sợi tóc ra làm tư. Những gì hắn đã trải qua, hắn nhớ dai và thù dai.. Hắn là nhà văn lớn, một cây bút kẻ cả, nên cũng có lắm người đàn bà đi qua đời hắn. Tất cả những người đàn bà bước vào đờihắn, đều được hắn tạp ghi, tạp luận và tạp bút. Nhưng cái tác phẩm Những sợi Sắc Không đó, hắn loại bỏ, bởi vì có điểm thiếu sót là tác phẩm chưa in thành sách. Và tác giả Những Sợi Sắc Không, cũng không hề được hắn nhắc tới tên, như hắn đã âu yếm nhắc tên Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, ThuỵVũ trong buổi họp.Võ Phiến là một cây bút phê bình khách quan và công bằng, không thiên vị. Điều gì hắn cho là đúng với lẽ phải thì hắn làm.”

Võ Phiến viết nhiều sách, sở trường của ông là Truyện Vừa, không dài không ngắn.

Gật đầu, rung đùi, nâng ly bia 33 lên miệng, dụi mẫu thuốc lá vào cái gạt tàn, Thanh Nam nói:

– “Giải nhất, giải nhì, với giải đồng hạng..  Suýt chút nữa thì không ăn được cái giải gì và làm trò cười cho thiên hạ.”

Sau khi Mai Thảo từ giã để đến phòng trà với người ca sĩ hát bài có phải em là mùa thu Hà Nội, Thanh Nam nhìn tôi :

– “Có những kẻ nhớ lâu và giận lâu..  Anh, một người con gái anh đã quen và đã yêu thì không bao giờ anh ghét.  Anh công bằng nói rằng Võ Phiến thù em.”

Tôi trợn mắt :

– “Văn không phải là người. Những gì tôi viết ra.. đều là đùa nghịch giỡn chơi thôi. Tôi chỉ biết một điều về Võ Phiến là ông ta rất thương yêu vợ.”

Thanh Nam bảo tôi bỏ nghề dạy học để xoay qua viết bài cho đài phát thanh.

Chiến tranh tiếp diễn, miền Nam là món nợ, là một cục nợ khổng lồ người Mỹ mắc từ tiền kiếp nên kiếp này phải nhúng tay vào chiến cuộc miền Nam, một quốc gia nhược tiểu đang giãy chết với bốn đạo quân : Mỹ, Bắc Việt, giải phóng, Nam quân.

Thanh Nam, là một văn sĩ nhỏ nhưng chơi toàn với những tay lớn, đã nhờ một ông thiếu tá giới thiệu tôi với một bác sĩ quân y để xin một giấy chứng nhận tôi bị đau bệnh thần kinh điên loạn, được nghỉ phép ăn lương, gọi là nghỉ phép giả hạn. Tôi ở nhà nghỉ giả hạn ăn lương của đài phát thanh Mỹ bốn năm và vẫn lãnh lương giáo chức của chính phủ miền Nam Việt Nam. Sau đó Thanh Nam nhờ nhà báo  Lê Phương Chi giới thiệu tôi với ông giám đốc Khai Trí để bán tất cả những tác phẩm tôi đã viết, đang viết, và sẽ viết với một số tiền trả trước. Thanh Nam nói : “ Em cứ làm theo lời anh.Trời phạt anh chịu.”

Nhờ viết bài cho nữ danh ca Thái Thanh đọc hằng đêm trên làn sóng điện chiến tranh tâm lý, ba mươi tháng tư ngày quốc hận, tôi đem được gia đình sang Mỹ. Trạm nghỉ chân đầu tiên trên bước đường di tản là đảo Phú-Quốc. Công chức đài phát thanh được lãnh mỗi người ba mươi sáu đô la tại biển đảo này. Sau một tuần lễ, người tị nạn leo lên hạm đội số 7 của hải quân Hoa Kỳ để sang Mỹ đổi đời.

Lênh đênh trên đường biển sóng reo sóng cười, biết mặt trùng dương biết trời mênh mông, nhưng dân tị nạn cứ quen miệng kêu khổ ơi là khổ. Hầm tàu chật chội nóng hực hỏi người. Trẻ con ói mửa, iả đái và kêu khóc vì đói bụng, đau đít, rôm sảy. Ngày đêm mọi người nằm lăn ra trên sàn tàu. Không có chiếu trải dưới lưng, không có chăn đắp trên mình, mỗi ngày mỗi tị nạn chỉ được cấp phát một hộp lương khô C-ration, nhưng mỗi ngày, hy vọng mỗi vươn lên. Hoa Kỳ, Mỹ, Núi vàng.. đời sống mới đang mở cửa trước mắt chào đón mọi người. Một bà nằm cạnh tôi nói nhỏ :

– “Hạm đội số bảy của đại cường quốc cái kiểu gì mà nghèo khổ thế này.”

Tôi đáp :

– “Chắc đây không phải là hạm đội số bảy, mà chỉ là hạm đội số sáu rưởi..”

Chiến hạm lướt sóng, vượt Thái bình dương rồi đến Mỹ. Mệt mỏi vì say sóng, Thanh Nam bia rượu uống nhiều từ thuở bụi đời nên giờ phút này xỉu. Tàu cập bến, dân tị nạn phải trèo thang dây để lên bờ. Một người đàn ông đồng hương chỉ tay vào bốn đứa con tôi và nói :

– “Ông Bà một nách bốn đứa con dại, để tôi giúp, tôi đỡ hai đứa bé này trèo lên bờ.”

Rồi ông ta kéo hai đứa nhỏ đi. Lên đến đảo Guam, Thanh Nam bảo :

– “Em phải ở trong trại lính không được đi đâu hết, thằng Ốc Sên sẽ phải đi xin sữa cho thằng Cu Tí uống. Anh mỗi ngày phải ra khỏi trại lính để hỏi tin tức bạn bè ai đi đủọ̣̉c, ai kẹt lại.”

Theo lời đồn thì những ai làm đài phát thanh ăn lương Mỹ đều được Mỹ bốc đi hết. Tôi được biết Viên Linh và Lê Tất Điều hiện đang có mặt trên đảo tị nạn. Cuối cùng, dân tị nạn được tàu bay bưng đến thành phố Pennsylvania  miền Bắc Mỹ.

9 Tuy Hong 3Từ đảo Guam đến Hiệp Chủng Quốc, con chim sắt thẳng cánh bay bốn ngày đêm. Chúng tôi sinh dưỡng bốn đứa con, gia đình sáu người, nhưng Thanh Nam không lanh trong những lúc người đàn ông cần phải lanh, chỉ tìm được năm chỗ ngồi. Bốn ngày đêm giam hãm trong bụng tàu bay chật hẹp, thằng con út nằm trên đùi tôi lên cơn sốt nóng lạnh, tôi mệt mỏi ngồi ôm con niệm Phật từ bi gia hộ cứu độ cho nó đừng làm kinh run giựt tay chân. Trẻ con dưới ba tuổi làm kinh, lớn lên sẽ không cao.

Mất ngủ đêm ngày, đầu óc tôi thao thức nghĩ rằng mình đã sống hư hỏng hơn một nửa cuộc đời ở quê hương rồi, bây giờ phải lo làm ăn, dại gì mà chơi, ngu gì mà lười. Ước ao gì có được một cuốn từ điển Việt Anh lúc này để học Anh văn ngay tức khắc. Nước Mỹ đây rồi, đất lành ta đã thiền hành và đã đến, Việt kiều sẽ học English để đi làm, sẽ dồn tiền mua nhà, mua xe, mua bảo hiểm. Việt kiều sẽ có một sớm mai hồng, một bình minh xanh để ngắm, để nghe tiếng chim nói vào tai rằng đêm đã tàn, ngày đã nở, phải vùng dậy để lắc lủ con tàu  đời. Quá khứ đã chết, cuộc đời mới đã nhô ra ở phương đông..

Bỗng tôi sực nhớ mấy lời trao đổi giữa nhà văn Lê Tất Điều và nhà báo Lê Phương Chi ngày nào còn ở Sàigòn :

– “Tình yêu của Võ Phiến dành cho cô bạn xứ Huế đã chết nghẻo cổ rồi, gái Huế ngủ đò và hò Huế chấm hết từ canh ba rồi. Bây giờ Võ Phiến chỉ mơ ước ngủ với Trùng Dương biển cả.”

– “Bạn nói đúng quá và thật quá ! Trùng Dương Nguyễn Thị Thái trẻ hơn nhiều và đẹp. À, mà có phải Trùng Dương đó không ? Sức mấy ! Võ Phiến mơ cao quá !”

Tôi ngủ thiếp đi một chặp cho đến khi chiêu đãi viên hàng không loan báo phi cơ sắp đáp xuống phi trường Pennsyilvania. Hành khách phải nịt dây an toàn thật chắc và cài khóa an toàn thật kỹ, không được rời chỗ ngồi, không được vào phòng vệ sinh từ giờ phút này.

Khi phi cơ ngừng cánh, tiếp viên hàng không lại bảo hành khách hãy ngồi yên..rồi lại bảo đứng dậy chuẩn bị hành lý và bước xuống  máy bay trong trật tự.

Chân tôi chạm đất hứa, đầu tôi đội trời tự do. Đại bản doanh quân lực Hoa Kỳ hùng anh nhất thế giới đặt tại đây. Tôi đi và thở không khí trong sạch của một siêu cường quốc sản xuất nhiều thuốc xịt trùng và diệt sâu bọ hữu hiệu nhất thế giới, nhiều xe hỏi tối tân nhất thế giới.

Thanh Nam gặp bạn quen dừng lại nói chuyện, tôi kéo bốn đứa con bước nhanh về lều trại số tám, dân tị nạn kêu là barrack số tám.

Truớc cửa barrack có một người đàn ông đang đứng đợi ai đó. Tôi tiến lại gần chút nữa. Hóa ra là cố nhân Võ Phiến. Ối giời ôi.. Võ Phiến cũng đi được sao ? Ôi thôi rồi tôi quên lú đi mất. Võ Phiến cũng cộng tác với đài phát thanh Mỹ. Vậy mà tôi cứ tưởng chỉ có Lê Tất Điều với Viên Linh trong chuyến hành trình qua Mỹ quy mã này mà thôi !

Thằng Cu Tý bỗng kêu lên:

– “Mẹ..Tý muốn ỉ quá.”

Con chị nó quát lên :

 – “Câm cái đít lại ! Không được ỉa trong quần.”

Võ Phiến chạy chậm đến bên tôi, mặt mày tái nhạt và ẩm mồ hôi, hơi thở tưởng như sắp đứt, nói :

– “Em đem con em đến barrack số mười đi, gia đình anh đã ở trong barrack số tám này rồi, vợ anh đang nghỉ ngơi trong đó, vợ anh hơi mệt, vợ anh cần dưỡng sức, vợ anh đang nằm trong đó. Vợ anh..vợ anh..”

Tôi chưa thấy một người đàn ông nào thương vợ nhiều như thế, yêu vợ kỹ như thế. Vợ anh, vợ anh.. cái miệng cứ tía lia vợ anh vợ anh, làm như người ta sắp giựt mất.

Bà Võ Phiến tên cúng cơm là Viễn Phố.

Túy Hồng (Ngày 23/9/2012)

Túy Hồng là nhà văn nữ nổi tiếng vào các thập niên 1960, 1970 của thế hệ các nhà văn Miền Nam Việt Nam.  Túy Hồng  có một giọng văn thông minh, giỏi chữ, phong phú tỉ dụ, hoang phóng tính dâm nữ rất sáng tạo rất cá tính. Nhà văn Túy Hồng cùng chồng là nhà văn Thanh Nam và bốn con tỵ nạn sang Hoa Kỳ năm 1975.  Túy Hồng đến với gio-o.com từ những trang thuở ban sơ đến nay

http://www.gio-o.com/TuyHong.html

Nguyễn Văn Danh post

CUỘC TÌNH CỦA BẢO ĐẠI

Logo tai lieu

9 Bao Dai 1RỄ GÒ CÔNG

Người Gò Công tôn sùng Trương Công Định. Nhưng Trương Công Định không phải là người Gò Công, mà là «Rễ Gò Công». Hoàng Đế Bảo Đại cũng là Rễ Gò Công. Rễ Gò Công thì nhiều lắm. Trong bài nầy chỉ đề cập vài điểm đặc biệt lý thú về Hoàng Đế Bảo Đại mà thôi.

Chuyện tình nào cũng ít được suông sẻ, kể cả nhà vua cũng vậy. Muốn làm rễ Gò Công không phải là dễ.

Gái Gò Công không tự cho mình là đẹp, nhưng tự hào có được Hoàng Hậu Nam Phương. Hoàng Hậu duy nhứt của triều Nguyễn, qua 12 – 13 đời vua, trị vì 153 năm, đó là bà Nguyễn Hữu Thị Lan – (Mariette Jeanne Nguyễn Hữu Thị Lan con của Ông Nguyễn Hữu Hào). Người đẹp nhứt thời bấy giờ, bà đã ba năm liền trúng giải hoa hậu Đông Dương. Người đã chiếm trọn trái tim Hoàng Đế Bảo Đại khi mới gặp mặt lần đầu tiên trên chiếc tàu D’Artagnan. Hoàng Đế si tình đến nỗi thà bỏ ngôi vua chớ không chịu bỏ làm rễ xứ Gò.

9 Bao Dai 2Thật vậy, khi bị bà Từ Cung từ chối, Bảo Đại nói nếu không lấy được Thị Lan thì sẽ “ở vậy” suốt đời. Nếu chọn một trong hai, tôi sẽ chọn Thị Lan chớ không chọn ngai vàng. Đó là lời thuật của viên bí thư của Bảo Đại.

Ai ở Gò Công mà không biết Nguyễn Hữu Hào rễ của ông Huyện Sỹ tức Lê Phát Đạt đã xây ba nhà thờ : Chợ Đũi, Hạnh Thông Tây và Thủ Đức để dâng cúng cho dân địa phương. Dân địa phương thường gọi là nhà thờ Huyện Sỹ (tức nhà thờ Chợ Đũi). Cái trở ngại lớn nhứt của Bảo Đại đó là triều đình nhà Nguyễn thì chủ trương chống lại công giáo, chống lại dân Tây mà Tây thì bị xem là kẻ xâm lược nước mình, còn gia tộc của Nguyễn Hữu Thị Lan thì quốc tịch Pháp và nặng nhứt là sùng đạo.

Người Nam Kỳ từ đầu thế kỷ 20 đã truyền miệng nhau câu “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường tứ Định”. Nghĩa là người giàu nhứt Nam Kỳ thời đó là gia đình Huyện Sỹ (Tỷ phú), tức ông ngoại của Nguyễn Hữu Thị Lan.

9 Bao Dai 3Nếu so với Hoàng Đế cuối cùng của Trung Hoa – vua Phổ Nghi sau khi bị hạ bệ thì bị đày đi nông trường cải tạo nhiều năm mới được cho về làm công dân Trung Quốc, thì Bảo Đại – người Rễ Gò Công nầy may mắn hơn nhiều, diễm phúc hơn nhiều cũng là nhờ bà Hoàng Hậu Nam Phương – Người con gái Gò Công làm nên lịch sử.

Muốn làm rễ Gò Công không phải là dễ. Đầu tiên là việc chống đối của triều đình. Các quan đại thần, ông nào cũng có con gái lớn chạc bằng hoặc nhỏ tuổi hơn cũng đều muốn gả cho Bảo Đại. Đó là truyền thống, đó là danh dự suốt cuộc đời làm quan cho triều đình. Làm Quốc trượng ai ai mà không ham. Trong đoạn hồi ký “Con Rồng An Nam” ông tâm sự : “M.J Lan có một vẽ đẹp thùy mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê. Vì vậy tôi ngỏ ý xin cưới cô và cô đã đồng ý nhưng với điều kiện :

– Gia đình cô đồng ý trước đã.

Về phía gia đình cô Mariette Jeanne Lan cũng đồng ý nhưng phải thêm các điều kiện sau :

– Nguyễn Hữu Thị Lan phải được tấn phong Hoàng Hậu Chánh Cung ngay ngày cưới. – Được giữ nguyên đạo Công Giáo, và các con khi sinh ra phải được rửa tội theo luật công giáo và giữ đạo. – Riêng Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo. – Phải được Tòa Thánh La Mã cho phép hai người làm phép cưới (phép chuẩn).

Tu cung 3Tiếp đó cụ Tôn Thất Hân nêu lý do : Thị Lan chỉ đậu tú tài toàn phần Pháp không thể so ra với Trạng Nguyên xứ ta, lại đòi làm Hoàng Hậu nữa thì không thể chấp nhận được. Trước Hoàng Tộc, Bảo Đại thẳng thắn trả lời Tôn Nhân Phủ như sau : “Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân và Triều đình đâu.” Câu nói lịch sử mà tất cả triều thần đều trố mắt nhìn nhau chịu thua. Tình yêu là sức mạnh. Tình yêu là trên tất cả.

Cuối cùng thì tình yêu đã thắng. Ngày cưới được ấn định vào ngày 20 tháng 3 năm 1934. Bảo Đại đúng 21 tuổi, và Nguyễn Hữu Thị Lan 19 tuổi. Bảo Đại chính thức là Rễ Gò Công.

Ngày mùng 10 tháng 2 (tức tháng 3 năm 1934) lễ tấn phong Hoàng Hậu được diễn ra rất trọng thể ở điện Dưỡng Tâm. Nhà vua phong Hoàng Hậu tước vị Nam Phương Hoàng Hậu. Bảo Đại giải thích thêm về hai chữ Nam Phương như sau : “Tôi đã chọn tên trị vì cho bà Hoàng Hậu mới là Nam Phương. Nam Phương có nghĩa là hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) và tôi cũng ra một chỉ dụ đặc biệt cho phép bà được phục sức màu vàng – màu dành riêng cho Hoàng Đế.” Người đàn bà duy nhứt trong lịch sử Việt Nam được chỉ dụ đặc biệt nầy.

Trong hồi ký… đã viết về Hoàng Hậu như sau : “Chân dung Nam Phương Hoàng Hậu mặc quốc phục thật xứng đáng là “Đệ Nhất Phu Nhân”. Trông gương mặt bà sang trọng mà không kiêu, hiền mà không tầm thường, dễ dãi. Nụ cười kín đáo nhưng không quá e lệ. Đôi mắt nhỏ mà tinh anh. Chiếc cổ tròn, thon và cao hợp với khuôn mặt. Dáng bà lại cao nên xứng đôi khi đi bên cạnh Bảo Đại. Nếu chỉ so sánh về sắc đẹp với những vị đệ nhất phu nhân khác trên thế giới như Hoàng Hậu xứ Monaco, Phi Luật Tân thì chắc chắn bà Nam Phương Hoàng Hậu phải được chấm giải nhứt. Nhất không phải chỉ riêng vì sắc đẹp, mà nhất về tư cách và đạo đức và cách sống của bà từ ngày trở thành Hoàng Hậu cho tới ngày tạ thế với tước vị Long Mỹ Hầu rồi tăng thêm là Long Mỹ Quận Công và Kim Khánh Bội Tinh đệ nhứt hạng cho mẹ vợ là bà Lê Thị Bình (Con ông tỷ phú Huyện Sỹ) với tước vị Mệnh Phụ Cung Đình đệ nhất hạng.

Sau đây là vài chi tiết về người con rễ Gò Công nầy :

“Theo Đế Hệ Nguyễn tộc : Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh, Bảo, Quý, Định, Long, Trường, thì Bảo Đại thuộc về hệ thứ 5 tức là Vĩnh – Vĩnh Thụy.

9 Bao Dai 4“Được phong làm Đông Cung Thái Tử năm vừa được 7 tuổi (năm Khải Định thứ 5) Chiếu chỉ ban ngày 20 tháng 2 năm 1920. Lên ngôi Hoàng Đế năm 12 tuổi (13 tuổi ta) ngày 8 tháng 1 năm 1925 lấy hiệu là Bảo Đại. Sang Pháp du học ngày 24 tháng 2 năm 1922 ở biệt thự sang trọng đường Bourdonnais.

Ông vừa học chữ Hán, chữ Quốc Ngữ và cả chữ Pháp. Ông được nhập học trường Lycée Condorcet Puis Sciences Politique.

Ngoài giờ học ở trường, ông còn học thêm về âm nhạc, đàn dương cầm, chơi quần vợt, tập lái xe hơi, bơi lội, và tập khiêu vũ với những cô đầm non cùng lứa tuổi với ông.

Bảo Đại hồi loan : Tàu D’Artagnan cập bến cảng Saint – Jacques (Vũng Tàu) đầu tháng 9 năm 1932. Ông ngỏ lời trước quốc dân là ông sẽ lãnh trách nhiệm làm cho toàn thể quốc dân được tiến hành trong công cuộc văn minh tiến bộ. Sau đó ông cải cách guồng máy chính trị cho phù hợp với thời gian lúc bấy giờ. Như lập thêm Bộ Xã Hội Kinh Tế, Bộ Tài Chánh…

Thân thế : Nói đến chàng rễ Gò Công Bảo Đại, chúng ta chưa có một manh mối nào về cha ruột của người Hoàng Đế cuối cùng của Việt Nam nầy. Chỉ biết mẹ ruột là bà Hoàng Thị Cúc tức là bà Từ Cung sau nầy. Còn cha ruột ? Trong sách sử cũng như các tư liệu đều nói rằng Ông Bửu Đảo tước hiệu là Phụng Hóa Công là vua Khải Định là cha trên giấy tờ là người bất lực, vô hậu. Chỉ biết Bảo Đại tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy sinh ngày 22 tháng 10 năm Quý Sửu (1913) tại Huế. Theo nhà nghiên cứu Phan Thứ Lang thì sau khi lược qua những tập di cảo đồ xộ, lọc ra nhiều chi tiết có liên quan đến việc Vĩnh Thụy chính là con cụ Hường Đ.

9 Bao Dai 5Hành động đầu tiên : Là một việc nhỏ nhưng lúc bấy giờ là một việc trọng đại, một cách mạng trong nghi lễ triều đình : Bỏ năm lạy, chỉ có xá ba xá là “Tam khấu lể”. Lý do là Ông muốn tôn trọng người lớn tuổi, đáng bậc chú, bậc cha, nếu các vị quan trong triều mà phủ phục quỳ lạy một người tuổi chỉ đáng hàng con cháu thì khó coi quá.

Còn người ngoại quốc thì chỉ bắt tay theo phép xã giao Tây phương cho được thoải mái.

Đồng bạc Bảo Đại : Đựơc đúc bằng đồng mỏng. Có giá trị bằng ½ tiền Khải Định. Trong dân gian lúc bấy giờ có câu :

“Hai con đổi lấy một cha

Làm cho thiên hạ xót xa vì tiền”.

Sở thích : Gần như cái gì Bảo Đại cũng thích. Đánh bài, khiêu vũ, săn bắn, cởi voi, lái xe, đàn dương cầm. . .

Trong tài liệu nói rằng ông ném vô sòng bài chiếc du thuyền 250.000 đô lúc đó, đến nỗi cái lâu đài ở Cannes gần thành phố Nice – miền Nam nước Pháp – cũng đem nướng luôn. 9 Bao Dai 6Nhưng cũng có lần được thắng thì cho bà Nam Phương đi mua sắm hả hê. Có lần đánh ở sòng bài quốc tế Monaco với các tiểu vương và các nhà tư bản giàu sụ ông thắng đậm và mua ngay cho bà Mộng Điệp chiếc nhẫn kim cương trị giá mấy triệu đô – là chiếc nhẫn kim cương lớn nhất vùng Đông Dương lúc bấy giờ.

Hạ sanh Hoàng Tử : Đêm ngày 4 tháng 1 năm 1936, người dân đất thần kinh nghe những tiếng súng bắn mừng báo tin Nam Phương đã hạ sanh, và lờ mờ sáng lại một lần nữa 7 tiếng súng thần công làm lay động cả Hoàng Thành. Dân chúng biết đó là Hoàng Nam vì là 7 tiếng súng còn nếu là công chúa thì sẽ là 9 tiếng súng. Đó là Thái Tử Bảo Long. Bảo Đại chính thức đã có với Nam Phương Hoàng Hậu năm người con: hai trai và ba gái :

2/- Công chúa Phương Mai, ngày 1 – 4 năm 1937. 3/- Công chúa Phương Liên, ngày 3 – 11 năm 1938. 4/- Công chúa Phương Dung, ngày 5 – 2 năm 1942. 5/- Hoàng tử Bảo Thắng năm 1948.

Những tình nhân của Bảo Đại :

9 Bao Dai 7Mộng Điệp : Được Bảo Đại cưng chiều chỉ sau Hoàng Hậu Nam Phương. Được Bảo Đại tín dụng truyền chỉ mang Ấn Kiếm (Nguyễn Triều Chi Bảo) sang Pháp cho bà Nam Phương cất giữ. Bảo Đại và Mộng Điệp có 3 người con :

Phương Thảo sanh năm 1946 – Bảo Hồng sanh năm 1954 – Bảo Sơn sanh năm 1957.

Lý Lệ Hà (Hoàng Tiểu Lan) : là người đẹp đã theo sát Bảo Đại từ  Việt Nam sang Trung Quốc lưu vong. Có người tả hai hàm răng của Lý Lệ Hà là hai hàng bạch ngọc và quý hơn ngọc đã làm cho Bảo Đại say mê và bà Nam Phương phải buồn lòng và lo lắng vì mối tình nầy.

Bà Đầm Monique Baudot : Người tình cuối cùng: Khi bà Nam Phương tạ thế thì cựu Hoàng mới có 65 tuổi còn bà đầm Monique Baudot 35 (chỉ nhỏ hơn cựu Hoàng 30 tuổi thôi mà). Bà đầm nầy với Bảo Long là nước với lửa. Đã choảng nhau, kiện tụng vì cái ấn kiếm.

Bao Dai 3

Ai là chủ quyền của Ấn Kiếm nầy? Và hiện nay đang ở đâu ?

Cặp Ấn Kiếm – Mệnh danh là Nguyễn Triều Chi Bảo – nầy do vua Bảo Đại truyền chỉ cho thứ phi Mộng Điệp đã đem từ Việt Nam cùng hơn 600 món bảo vật đến tận tay bà Nam Phương Hoàng Hậu bảo quản.9 Kiem vang Trong lúc tiếp nhận có bốn ông giúp bà đưa vào tủ kiếng (các ông Nguyễn Đệ, Nguyễn Duy Quang, Nguyễn Tiến Lãng và Phạm Bích – con của Phạm Quỳnh). Khi bà còn sanh tiền đã nhắc nhở Thái Tử Bảo Long rằng : Đừng bao giờ mở tủ kiếng mà tách hai bảo vật nầy ra hai nơi.

Đến khi Bảo Đại viết xong cuốn sách “Con Rồng An Nam” muốn mượn con dấu để đóng lên quyển sách cho thêm phần giá trị thì Bảo Long nhất quyết không cho, viện dẫn lý do là Mẫu Hậu đã có dặn. Vì thế mà có cuộc tranh chấp kiện tụng ra tòa. Tòa xử: “Bảo Đại giữ Quốc Ấn, còn Bảo Long được giữ Quốc Kiếm.” Đến nay không biết hai báu vật – hai linh vật nầy đang ở đâu ?

Một người Pháp nói rằng : “Chiếc ấn là vật có hồn.” Suy nghiệm thì ấn kiếm – Nguyễn Triều Chi Bảo là có hồn thật. Cây Quốc Kiếm vì lý do nào đó mà bị gãy đôi là điềm chia đôi đất nước 1954. Khi Quốc Ấn và Quốc Kiếm tách rời nhau thì dân Việt Nam cũng bị chia lìa, chồng xa vợ, vợ xa chồng vì tù đày, vì vượt biên, và mỗi người mỗi nẻo. Những người suy tư đến vận mạng dân tộc, đất nước muốn hai linh vật nầy được châu về hợp phố vì hai báu vật nầy vốn là vật bất khả phân.

9 An ngoc

Phần Chót : Rễ Gò Công – Cựu Hoàng Bảo Đại – Vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn cũng là vị vua cuối cùng của Việt Nam đã qua đời lúc 5 giờ sáng ngày thứ năm ngày 31 tháng 7 năm 1997, thọ 83 tuổi.

Đám tang của cựu Hoàng Bảo Đại đã được chính quyền nước Pháp, điện Elysée đứng ra lo liệu.

Ngày chúa nhật 5 tháng 10 năm 1997, tại chùa Viện Phật Giáo Pháp ở ngoại ô Paris, có tổ chức một lễ cầu siêu 49 ngày cho cựu Hoàng Bảo Đại rất trọng thể gồm 1000 người Việt Nam tham dự, có cả bà chị ruột của Nam Phương là bà Bá Tước Didelot (92 tuổi), Hoàng Tử Vĩnh San, con vua Duy Tân, giáo sư Vũ Quốc Thúc cùng nhiều Ông Bà cùng thời với ông tham dự. (Bà Thứ Phi Monique không có mặt vì không được mời).

Điều làm nhiều người Việt Nam tham dự ngạc nhiên và cảm động đến ứa lệ là Thái Tử Bảo Long – Mà người ta đồn rằng đã quên tiếng Việt – cảm tạ quan khách bằng tiếng Việt chững chạc, rõ ràng trên máy vi âm. Điểm đáng nói là các Hoàng Tử và Công Chúa mặc đại tang màu trắng tiến vào đại sảnh quỳ lạy trước bàn thờ rất thuần thục và đã lạy trả những người đến niệm hương. Sau buổi lễ các hoàng tử và công chúa trong tang phục đứng chờ ở cửa để ân cần cảm tạ quan khách từng người đúng cổ tục. Theo các báo chí, bưổi cầu siêu nầy đã quy tụ đầy đủ các tôn giáo như Công Giáo, Phật Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài. Các người tham dự đều có một nhận xét chung là dù các con cái phải sống lưu vong nới đất khách từ lâu vẫn còn giữ truyền thống Việt Nam, thật xứng đáng là con của Cựu Hoàng.

Ngoài ra, buổi lễ có treo cờ, có cử quốc thiều, có cử bài “Đăng Đàn Cung” và giữ phút mặc niệm rất trang nghiêm. Điều nầy cũng ghi cảm xúc đầy ý nghĩa cho những người tham dự về tinh thần Quốc Gia Dân Tộc. (theo Trần Văn Nhựt)

LĂNG HOÀNG GIA – GÒ CÔNG

Lăng Hoàng Gia (ấp Lăng Hoàng Gia, xã Long Hưng, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang) được xây dựng vào năm 1826. Đây là khu lăng mộ và đền thờ của ông Phạm Đăng Hưng –9 Lang Ph Dang Hung 1 ông ngoại vua Tự Đức và là thân phụ của Từ Dũ Thái hậu – vợ vua Thiệu Trị.

Lăng không thật đồ sộ và cũng không quá uy nghiêm như các lăng mộ của các quan đại thần khác. Đến thăm lăng nhiều người không khỏi ngạc nhiên khi thấy kiến trúc của lăng phần nào giống kiến trúc của nhà ở. Chính điều này đã tạo cảm giác gần gũi và ấm cúng.

Một số hình ảnh Lăng Hoàng Gia.

1/- Cổng Lăng Hoàng Gia. 2/- Đức Quốc Công Tử – gian chính trong Lăng Hoàng Gia

9 Lang Ph Dang Hung 2

3/- Cổng gian Đức Quốc Công Tử – gian chính trong Lăng Hoàng Gia. 4/- Một ngôi mộ trong khuôn viên Lăng Hoàng Gia. 5/- Đức Quốc Công Tử – gian chính trong Lăng Hoàng Gia

Quế Phượng post (theo Tùng Lâm)

Logo thu gian

CÔ GÁI BÁN

ĐÈN HOA GIẤY

Tiếp theo bài vọng cổ tình cảm đặc sắc hay nổi tiếng của soạn giả Viễn Châu và đệ nhất danh ca Út Trà Ôn “Tình anh bán chiếu”. Ngày đó cũng có một bài vọng cổ tình cảm khác cũng rất hay là bài “Cô bán đèn hoa giấy” ca nghe theo dĩa tua 45 tại nhà cùng những bài vọng cổ hay của Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Lệ Thủy, Thanh Sang, Thanh Nga, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Thanh Hương, Thành Được, Tấn Tài, Minh Vương, Minh Cảnh, Văn Hường (Tư Ếch đại chiến Văn Hường), bài “Cô bán đèn hoa giấy” ngày  xưa rất hay không còn, Le Thuygiờ còn có Lệ Thủy và Thanh kim Huệ trong bài này, cũng hay nhưng nhớ không hay bằng bài nghe ngày trước, cũng rất ngọt tình cảm, cũng hay như Lệ Thủy, chắc do Thanh Hương ca . Sau đây xin ghi lại vài bài :

– Cô bán đèn hoa giấy – Lệ Thủy

http://www.youtube.com/watch?v=nOVH389H4mI

– Tư Ếch đại chiến Văn Hường

http://www.youtube.com/watch?v=21PR6z0D0qg

– Tuyệt Tình Ca – Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Phượng Liên & Thanh Sang

http://www.youtube.com/watch?v=YkpBnj11U58

Việt B

BÀI VỌNG CỔ VUA

9 SG Vien Chau 3BÀI VỌNG CỔ VUA CỦA SG VIỄN CHÂU

TÌNH ANH BÁN CHIẾU

CÙNG GIỌNG CA XUẤT SẮC

ÚT TRÀ ÔN 

Dù ghiền hay không ghiền vọng cổ, ở miền Nam hễ nhắc đến vọng cổ thì người ta nghĩ ngay đến Tình Anh Bán Chiếu, tới Út Trà Ôn và tới Viễn Châu. Đây là một bài ca ngoại hạng của làng vọng cổ, ngoại hạng vì nó được xem như bài phổ biến nhất trong tất cả các bài vọng cổ, và đặc biệt là vì bài ca này đã đưa hai người lên ngôi báu: “Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn” và “Vua viết lời vọng cổ Viễn Châu”.

Soạn giả Viễn Châu tên thật là Huỳnh Trí Bá, sinh năm 1924 tại xã Đôn Châu, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Ông thành thạo từ nhỏ đàn tranh và đàn guitar phím lõm, đặc biệt tuyệt kỷ đàn tranh của ông đã được xem là độc nhất vô nhị, và đến hiện tại chưa có người thế nổi. Nếu với nghệ danh Bảy Bá ông được xem là nhạc sĩ bậc thầy, thì với nghệ danh Viễn Châu ông đã leo lên ngôi báu với vương hiệu là “Vua viết lời vọng cổ”.

Vua viết lời vọng cổ Viễn Châu

Tài năng đo ni đóng giày của ông cũng xếp hàng thượng thừa, vì nhờ những bài vọng cổ của ông mà rất nhiều nghệ sĩ thời vàng son của cải lương đã thành danh như : Út Bạch Lan, Thanh Hương, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Bạch Tuyết, Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Minh Cảnh, Thanh Sang, 9 SG Vien Chau 1Phương Quang, Minh Vương…

Viễn Châu là một soạn giả cổ nhạc hi hữu. Hi hữu vì đến hiện tại ông đã là tác giả của gần 70 vở cải lương lớn nhỏ và trên dưới 2 000 bài vọng cổ, lập kỷ lục chưa ai phá nổi trong làng sân khấu cải lương ! Hi hữu là vì khán giả cải lương xưa nay có thói quen là chỉ quan tâm đến nghệ sĩ, tên tuồng hay tên bài ca mà ít quan tâm đến tên soạn giả, thậm chí nghệ sĩ biểu diễn có khi còn không biết mình đang ca bài của soạn giả nào, ấy vậy mà người mộ điệu cải lương Miền Nam từ già đến trẻ ai mà không biết soạn giả Viễn Châu !

Nếu soạn giả Viễn Châu là hi hữu thì bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu của ông lại càng hi hữu. Hi hữu vì Viễn Châu có đến 2000 bài vọng cổ, ấy thế mà khi nhắc đến Viễn Châu là người ta nghĩ ngay đến Tình Anh Bán chiếu. Hi hữu là vì bài ca này không chỉ làm bất tử tên tuổi của ông, mà còn đưa vào huyền thoại người được mệnh danh là “Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn”.

Lãng du cùng Tình Anh Bán Chiếu

Bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu có nội dung đơn giản. Bài ca là tâm sự của một thanh niên đến từ Cà Mau làm nghề bán chiếu, khi ghe chiếu anh cặp bến ở Ngã Bảy Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang, anh được một cô gái đặt làm đôi chiếu, được cô dẫn vào tận phòng riêng để đo ni chiếc giường. Thời gian trôi qua, khi anh trở lại giao chiếu như giao hẹn thì cô gái đã sang ngang. Cô sang ngang mà có biết đâu anh bán chiếu đã thầm thương trộm nhớ, và anh cảm thấy tủi cho thân phận bán chiếu của mình.

Có nhiều câu chuyện được thêu dệt xung quanh chuyện tình anh bán chiếu. Có người còn mạnh dạng cho rằng, soạn giả Viễn Châu một lần nọ khi ghé qua Ngã Bảy Phụng Hiệp đã gặp anh bán chiếu thất tình, ông đến trò chuyện và biết được câu chuyện tình dở dang của anh nên đã viết nên bài ca Tình Anh Bán Chiếu. Thế nhưng, theo soạn giả Viễn Châu, thì vào năm 1959, nghệ sĩ Út Trà Ôn về ký hợp đồng với hãng dĩa Hồng Hoa. Bà chủ hãng đĩa mới đề nghị Viễn Châu viết gấp một bài đặc biệt cho Út Trà Ôn ca với mục đích là “làm náo động thị trường”.

Viễn Châu tìm trong trí nhớ và nhớ ra có một lần ông đi từ Bạc Liêu về Sài Gòn, tới khu chợ nổi Phụng Hiệp thì xe hơi bị chết máy, phải đậu lại sửa, khi ngồi nghỉ, Viễn Châu chợt thấy một anh chàng tay ôm đôi chiếu bông đứng mệt nhọc giữa trưa nắng như chờ ai trước một căn nhà đóng kín, xa xa lại có một đám cưới. 9 SG Vien Chau 2Hình ảnh đó đã gây ấn tượng mạnh trong lòng một nghệ sĩ đầy cảm xúc như Viễn Châu và ông đã hóa thân thành anh bán chiếu nọ để được yêu, được tâm sự. Thế là bài ca Tình Anh Bán Chiếu đã ra đời.

Nội dung bài ca khá đơn giản. Có người còn cho rằng, khi nghe kỹ rõ ràng thấy tình tiết câu chuyện phi lý, vì anh bán chiếu có cớ gì để thất tình, anh và cô gái nọ chưa từng hò hẹn với nhau mà chỉ là quan hệ người bán chiếu và người đặt mua chiếu mà thôi. Thế thì tại sao bài ca lại đi sâu vào lòng người đến thế ? Lại được người mộ điệu say mê đến thế ? Đến mức trở thành bài vọng cổ được phổ biến nhất đến thế ? Đến mức làm bất tử tên tuổi hai ông vua của làng cổ nhạc Miền Nam đến thế?

Câu trả lời có lẽ trước tiên nằm ở cái gọi là “tâm hồn nghệ sĩ”. Tình yêu vốn không có qui luật nên yêu đơn phương cũng không có qui luật, mà tình yêu của nghệ sĩ lại càng không có qui luật. Tâm hồn nghệ sĩ vốn dễ xao động và dễ đồng cảm với những cung bậc hỉ nộ ái ố của cuộc đời, huống chi đối với một nghệ sĩ lớn như Viễn Châu, với 2000 bài ca và được người mộ điệu yêu thích, thì thử hỏi cái tâm hồn nghệ sĩ đó ở Viễn Châu nó mới “mong manh” đến dường nào.

Còn nói về nội dung thì chính cái nội dung đơn giản của bài Tình Anh Bán Chiếu đã khiến nó dễ dàng đi vào lòng người, nhất là người miền sông nước Nam Bộ vốn mộc mạc và giàu tình cảm. Có một điều ta có thể khẳng định chắc chắn rằng, một bài ca muốn được người mộ điệu yêu thương và ghi nhớ đòi hỏi trước hết phải “chạm” được cảm xúc của người mộ điệu, tức phải tìm được sự đồng cảm của người mộ điệu, nói cách khác là người nghe tìm được chính mình trong bài vọng cổ. Sự phổ biến “kỳ lạ” của Tình Anh Bán Chiếu suốt hơn nửa thế kỉ nay là một minh chứng hùng hồn rằng Viễn Châu đã “chạm” được cảm xúc của người Nam Bộ, tức đến cái tính mộc mạc trong cuộc sống đời thường nhưng không kém “sự dạt dào cảm xúc” trong tình yêu đôi lứa.

9 Ut Tra On 1Vua ca vọng cổ – Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn

Út Trà Ôn sinh năm 1919 tại làng Đông Hậu, huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long. Ông là con thứ mười trong gia đình và cũng là cuối cùng, tức thứ Út theo cách gọi của người Nam Bộ. Năm 1937, ông được giới thiệu với đài phát thanh Sài Gòn và từ đó chính thức có nghệ danh là Út Trà Ôn, một kiểu lấy tên vừa để nhớ gia đình vừa để nhớ quê hương Trà Ôn của ông.

Xuất thân nhà nghèo nông thôn, Út Trà Ôn bắt đầu một sự nghiệp lẫy lừng trên sân khấu cải lương từ năm 18 tuổi. Cách diễn xuất của ông mộc mạc, chân phương, lại là người rất khó tính trong nghề, luôn có chí cầu tiến học hỏi, bởi vậy ông là một bậc thầy trong diễn xuất. Vỡ tuồng ghi đậm dấu ấn nhất trong lòng người mộ điệu là vỡ “Tuyệt Tình Ca” ông đóng cặp với Sầu nữ Út Bạch Lan, Bạch Tuyết và Thanh Sang thì đóng vai hai đứa con là Trường An và Long Hồ.

Lớp ca diễn để đời là lớp ông tái ngộ vợ hiền sau nhiều năm xa cách, Út Trà Ôn ca với Út Bạch Lan ba câu vọng cổ, đây là ba câu vọng cổ để đời của hai nghệ sĩ bậc thầy này. Út Trà Ôn mở đầu bằng 4 câu nói lối như sau: “Tôi đứng đây tưởng chừng như đứng trên bờ sông Mỹ Thuận, lúc mình quay xuồng trở lại với hai con. Bờ cây xa mờ nhuộm khói hoàng hôn, con nước lớn lục bình trôi rời rạc”, Cải lương chi bảo Bạch Tuyết nhận xét: khi nghe ông ngâm đoạn này, cô cảm thấy được ngay trước mắt cảnh rời rạc của lục bình trôi trên sông Mỹ Thuận. Quả thật như vậy, đúng là ông đã đưa trọn tình cảm và nghệ thuật ca cổ thượng thừa vào lời ca để nó trở nên truyền cảm một cách thần sầu đến như vậy.

Ấy thế nhưng khi nhắc đến Út Trà Ôn người mộ điệu nghĩ ngay đến cái tài ca vọng cổ của ông, một giọng ca và một cách ca mà đến hiện tại vẫn chưa có người kế tục xứng đáng.

Năm 1960, ký giả Trần Tấn Quốc, người lập giải Thanh Tâm danh giá cho sân khấu cải lương, đã mở cuộc thăm dò ý kiến độc giả, và Út Trà Ôn đã được chọn là “Đệ nhất danh ca”. Báo chí, đồng nghiệp và người mộ điệu phong cho ông là “Vua ca vọng cổ”.9 Ut Tra On 2 Danh hiệu “đệ nhất danh ca” thì dù đã có đôi lần báo chí sau này tổ chức bầu chọn cho những nghệ sĩ thế hệ sau ông, nhưng đến hiện tại hễ nhắc đến “Đệ nhất danh ca” thì không hiểu sao người ta lại nghĩ ngay đến Út Trà Ôn.

Còn cương vị “Vua ca vọng cổ” thì hầu như vẫn nghiễm nhiên được người mộ điệu dành cho Út Trà Ôn. Đi vào kỹ thuật ca, ta thấy Út Trà Ôn có giọng đồng, trầm. Kiểu ca và giọng ca của ông đã được xếp thành một trường phái ca vọng cổ riêng và luôn được xếp hàng đầu khi có người tìm hiểu về các trường phái ca vọng cổ. Ông được xếp đầu cũng đúng thôi vì trước Út Trà Ôn rõ ràng chưa có giọng ca nào được nổi danh như ông. Út Trà Ôn cũng chính là nghệ sĩ tiên phong trong việc phổ biến vọng cổ nhịp 32, một bài bản phổ biến nhất hiện nay.

Út Trà Ôn ca chân phương, mùi mẫn, hùng tráng, âm vực rộng, không ngân mà thường “hơ” đúng chất tài tử, phân nhịp độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn. Đây là trường phái ca mẫu mực, không lạng bẻ, kiểu cọ. Giọng ca này hoàn toàn tương thích với bản chất của bài vọng cổ là “tự sự”, là “chân phương hoa lá”. Nghe Út Trà Ôn ca ta không cần nhìn ông diễn cũng có thể cảm nhận được rõ ràng sắc thái tình cảm mà người viết gửi gắm, người nghe không còn chú ý đến nhịp nhàng tới câu mấy nữa, mà bị ru hồn bởi nội dung bài hát mà ông “tự sự” và bởi kỹ thuật ca điêu luyện, cách xấp chữ và ca chẻ nhịp độc nhất vô nhị.

Thế hệ sau cũng có nhiều người theo trường phái ca này, nhưng để gọi là kế thừa xứng đáng thì quả thật chưa có ai. Soạn giả Viễn Châu nhận xét về giọng ca Út Trà Ôn như sau: “Cách rèn giọng của anh được người trong nghề kính phục vì biết tạo âm vực đủ để khi phát âm được tròn vành rõ chữ. Anh còn có khiếu sắp văn chẻ nhịp….Nếu lắng nghe Út Trà Ôn ca và có óc phân tích, bạn sẽ nhận biết ngay thế mạnh của anh trong câu vọng cổ là chữ “hơ” điêu luyện và dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã chất chứa sự giàu có của làn hơi”.

Út Trà Ôn bất tử cùng Tình Anh Bán Chiếu

Nếu nhắc đến Vọng Cổ lập tức người yêu thích hay không yêu thích cổ nhạc đều nghĩ ngay đến bài Tình Anh Bán Chiếu, mà hễ nhắc đến Tình Anh Bán Chiếu thì lập tức nghĩ đến Út Trà Ôn và Viễn Châu. T9 Ut Tra On 6ên tuổi Út Trà Ôn trước khi đến với bài Tình Anh Bán Chiếu cũng đã có tiếng rồi, thế nhưng với bài Tình Anh Bán Chiếu thâu ở hãng dĩa Hồng Hoa, giọng ca Út Trà Ôn đã thật sự làm chấn động làng cổ nhạc, và bài ca này đã làm bất tử tên tuổi của ông.

Sau Út Trà Ôn đã có nhiều nam nghệ sĩ thuộc hàng “đại gia” trong sân khấu cải lương ca lại bài Tình Anh Bán Chiếu, dù rằng mỗi người mỗi vẻ, mỗi người có cái hay riêng, thế nhưng không hiểu sao hễ nghe Út Trà Ôn ca Tình Anh Bán Chiếu thì người nghe mới thấy “đã cái lỗ tay”. Vì sao thế, có lẽ bởi vì giọng ca Út Trà Ôn là chân phương, buồn bả nên hoàn toàn thích hợp để thể hiện một bài vọng cổ chân phương buồn bả như Tình Anh Bán Chiếu, còn những kiểu ca lạng bẻ, kiểu cọ rõ ràng là không thích hợp với bài hát này. Nói cách khác, ta có thể tìm thấy tất cả những đặc trưng của giọng ca Út Trà Ôn qua Tình Anh Bán Chiếu.

Chiếu Cà Mau, Ngã Bảy Phụng Hiệp và Tình Anh Bán Chiếu

Chỉ một bài vọng cổ chưa đầy mười phút nhưng đã đưa hai người lên “ngôi báu”, đồng thời còn làm bất tử một “người” khác đó là “chiếu Cà Mau”. Mới mở đầu bài ca Viễn Châu đã viết : “Chiếu Cà Màu nhuộm màu tươi thắm, công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu, chiếu này tôi chẳng bán đâu, tìm cô không gặp tôi gối đầu mỗi đêm”. Ta bàn thêm một chút về “Chiếu Cà Mau” để hiểu rõ thêm bài Tình Anh Bán Chiếu.

Xưa kia, tại làng Tân Thành (nay là xã Tân Thành, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau) đã hình thành làng chiếu Tân Thành, trải dài gần chục cây số dọc bờ sông Cái Nhúc bởi một số quân binh của vua Gia Long trên đường đi cầu Xiêm đã chán ghét chiến tranh, tìm đến lập nghiệp. Thời kỳ cực thịnh, chiếu Tân Thành đã vang danh khắp Nam kỳ lục tỉnh, ghe xuồng xuôi ngược trên dòng sông Cái Nhúc, lớp mang hàng ra chợ Cà Mau bỏ cho vựa, lớp xuôi về Ngã Bảy ra Phụng Hiệp, Phong Điền bán. Bởi vậy chiếu Tân Thành cũng là đại diện cho chiếu Cà Mau.

Nhờ Tình Anh Bán Chiếu mà vùng Ngã Bảy Phụng Hiệp cũng trở nên nổi tiếng ngoài sức tưởng tượng, đến mức mà một lãnh đạo của Huyện Phụng Hiệp thốt lên: “Nhờ bài vọng cổ Tình Anh Bán Chiếu mà Ngã Bảy Phụng Hiệp được nổi danh khắn vùng Nam Bộ”. Ngã Bảy Phụng Hiệp là môt vùng kinh sáng thuộc huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang. Tại đây có Chợ Nổi Phụng Hiệp nổi tiếng được đề cập trong bài Tình Anh Bán Chiếu. Chợ Nổi Phụng Hiệp từng một thời là đầu mối giao thương lớn của miền cực nam, và hiện tại là một địa điểm du lịch nổi tiếng của vùng đất này. 9 Ut Tra On 4Đây là một nơi giữa đồng quê sông nước đầy ấp phù sa dễ gây xúc cảm tâm hồn nghệ sĩ :

”Bảy sông dồn nước, cuồn cuộn nước

Phù sa lớp lớp, quyện phù sa”

(Ca dao)

Và nhờ có Viễn Châu và Út Trà Ôn mà miền đất này bên cạnh phù sa triễu nặng còn chất chứa thêm nỗi lòng của Tình Anh Bán Chiếu :

«Sông sâu bên lỡ bên bồi,

tình anh bán chiếu trọn đời không phai»

(Hai câu kết bài Tình Anh Bán Chiếu)

Như vậy, ở Tình Anh Bán Chiếu, ta có thể tìm thấy trọn vẹn những tinh hoa trong làng hơi điêu luyện, cách ca chân phương với lối nhấn nhá chẻ nhịp thần sầu của Vua ca vọng cổ Út Trà Ôn, tìm thấy trọn vẹn lối viết vọng cổ đảm bảo được cái hồn « tự sự » của bản vọng cổ với bố cục rõ ràng khúc chiết, lời văn rất nên thơ và rất « vô khuôn » của Vua viết lời vọng cổ Viễn Châu.

Một bài ca vọng cổ chỉ có 6 câu với chưa đầy 10 phút nhưng đã đưa người ca là nghệ sĩ Út Trà Ôn và người viết là soạn giả Viễn Châu lên « ngôi báu » và đã làm bất tử tên tuổi của hai ông cùng với nghề chiếu Cà Mau và Ngã Bảy Phụng Hiệp.

Cái «liên danh» Tình Anh Bán Chiếu-Út Trà Ôn-Viễn Châu-Chiếu Cà Mau-Ngã Bảy Phụng Hiệp đã trở nên bất tử trong lòng người mộ điệu cải lương nói chung và vọng cổ nói riêng. Bấy nhiêu thôi cũng đủ khằng định rằng, bài Tình Anh Bán Chiếu Xứng đáng là “Bài vọng cổ vua” của làng cổ nhạc Miền Nam.

Ngày nay, số lượng bài ca vọng cổ ra đời nhiều vô kể, thế mà đa phần đều làm thất vọng người nghe. Trong khi đó, đến hiện tại, người yêu cổ nhạc ai mà không mê Tình Anh Bán Chiếu và giọng ca Út Trà Ôn. Điều đó khẳng định rằng, nếu biết khai thác cái chất tự sự, mộc mạc và chân phương của bản vọng cổ thì bản vọng cổ vẫn luôn có sức hút phi thường.

Yên Huỳnh post (theo Lê Phước)

9 Ut Tra On 5TẢN MẠN VỀ BẢN VỌNG CỔ

“TÌNH ANH BÁN CHIẾU”

Từ lâu, tôi đã vốn muốn tìm gặp bác Viễn Châu, soạn giả của hơn 2.000 bài vọng cổ và 60 vở cải lương… để xin nguyên bản bài vọng cổ bất hủ “Tình anh bán chiếu” – bài ca cổ đã làm say lòng bao thế hệ người Nam bộ.

Lần đầu tiên tôi được nghe bản “Tình anh bán chiếu” trong một hoàn cảnh khá đặc biệt. Năm đó (tôi không nhớ rõ năm nào vì đã lâu ngày), Bộ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Tấn Trinh rủ tôi xuống Kiên Giang thăm xí nghiệp đánh cá tiên tiến Chiến Thắng. Trong bữa liên hoan thân mật vào một buổi tối mừng Bộ trưởng từ Hà Nội vô, có nhiều thủy thủ tham dự, nhiều người trổ tài văn nghệ. Bỗng Giám đốc Ba Tân (nay là Phó Chủ tịch tỉnh Kiên Giang) đứng lên tự giới thiệu sẽ ca bài “Tình anh bán chiếu”… Tất cả vỗ tay rần rần… Lúc đó tôi đoán, có lẽ đây là bài “tủ” của Giám đốc và cánh thủy thủ đã được nghe nhiều lần nên mới hưởng ứng nồng nhiệt như thế ! Quả tôi không lầm !

Ba Tân có giọng ca thật mùi mẫn và chuyện tình của “anh bán chiếu” thật lâm ly:

“Hò ơ…

Chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm

Công tôi cực lắm mưa nắng dãi dầu

Chiếu này tôi chẳng bán đâu

Tìm cô không gặp tôi gối đầu mỗi đêm…

Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy, sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra… chào”

Người dân Nam bộ ai mà chẳng biết Ngã Bảy, nên càng thương cảm anh bán chiếu si tình : “Hỡi ôi ! con sông Phụng Hiệp chảy ra bảy ngả thì lệ tôi cũng lai láng muôn dòng…”; “Đôi chiếu bông này tôi tự tay dệt lấy, tôi đã lựa từng cọng lác sợi gai, nhưng khi tôi đến nơi thì cô đã bỏ nhà qua xứ khác”; “Tôi vác đôi chiếu bông mà cõi lòng tan nát, bước chân đi như thể xác không hồn”; “Còn chi buồn hơn nghề bán chiếu để tô điểm loan phòng cho những gái còn xuân, đến khi họ cất bước sang ngang lại không một lời hỏi han từ giã, cho đến đôi chiếu bông tôi bỏ công ngồi dệt mấy ngày đêm ròng rã nay còn nằm trơ ở dưới khoang thuyền.

9 SG Vien Chau 4Ngọn gió đêm đông đừng thổi nữa

Lòng tôi lạnh lắm gió đông ơi…

… Sông sâu bên lở bên bồi

Tình anh bán chiếu trọn đời không phai”

Cả căn phòng lớn lặng đi khi Ba Tân vừa dứt bản tình ca !

Cái hay của bài vọng cổ này là ở chất tình si của anh bán chiếu. Không một lời hẹn ước. Cô gái chỉ đặt mua chiếu mà thôi ! “Nhớ năm ngoái khi ghe vừa tới vàm sông Ngã Bảy, cô đã tươi cười dẫn tôi đến tận nhà cô, cô đưa tôi vào chốn phòng riêng để đo ni chiếc giường gõ đỏ và đặt tôi làm đôi chiếu. Cô hỏi qua giá cả tôi trả lời lấy giá rẻ làm quen. Năm hôm sau, khi tôi sắp sửa lui ghe cô còn đứng trên bến dặn dò kỹ lưỡng. Sau khi cô đà quay gót chiếc áo bông hường cũng khuất dạng sau mấy lùm tre. Cô biết đâu tôi đã lấy nón lá che ngang để giấu đôi hàng nước mắt, vì không muốn bàn quan thiên hạ họ cười tôi là kẻ si tình ?”.

Si đến thế là… tới bến, tới bờ ! Bởi vậy, lần sau trở lại, khi biết cô đã quên anh “để cất bước theo chồng” nên mới có những lời ca “tan nát” cả “cõi lòng”… người nghe vọng cổ !

Tôi còn được nghe “Tình anh bán chiếu” nhiều lần sau đó, khi thì ở một nông trường khai hoang trong vùng Đồng Tháp Mười, khi thì ở một bến phà qua sông, khi ở một nhà hàng khách sạn… đều do “nghệ sĩ” dân gian biểu diễn. Bây giờ thì chúng tôi đã tìm được nhà của bác Viễn Châu trong một con hẻm ở đường Trần Hưng Đạo (Sài Gòn). Nhạc sĩ Trương Tuyết Mai mặc dù đã đến nhiều lần nhưng vẫn quên lối vì hẻm sâu và nhiều ngách. Nhưng chỉ nói đến tên Châu thì một bác xe ôm đã xướng lên : “Soạn giả Viễn Châu chớ gì ?”. Và anh ta xăng xái dẫn đường…

Soạn giả Viễn Châu ở một ngôi nhà hẹp chiều ngang, phòng riêng của ông ở phía sau cùng lầu 2 – miền Bắc kêu bằng lầu 3 – nhưng có cửa sổ hậu thoáng mát. Trước mắt tôi là một ông già Nam bộ dáng phong lưu, trán cao, tóc bạc, cả hai hàng lông mày cũng đã bạc nhưng còn rất tinh tường và cởi mở. 9 Ut Tra On 3Xung quanh ông là sách vở, đĩa nhạc, trên tường treo một cây đàn tranh, bên cạnh ghế ngồi trong tầm tay với là một chiếc đàn ghi-ta “mini”, đằng sau treo lẫn với áo quần là một chiếc đàn ghi-ta lớn… Ông đang làm việc. (Viết và đàn). Tôi có cảm giác như lạc vào căn gác xép của Vũ Hoàng Chương ở phố cổ Hà Nội trước năm 45 hơn là đang ở giữa Sài Gòn nhộn nhịp.

Nhạc sĩ Trương Tuyết Mai tặng soạn giả Viễn Châu cà phê… còn tôi thì không giấu giếm muốn tìm hiểu về xuất xứ của bản “Tình anh bán chiếu”!.

Nhả một làn khói “ba số năm” đậm đặc… soạn giả Viễn Châu kể :… Năm 1961, Giám đốc hãng đĩa nhạc Hồng Hoa bảo tôi, đệ nhất danh ca Út Trà Ôn đã ký với hãng của ông một hợp đồng làm việc, vì vậy tôi phải sáng tác ngay một bản vọng cổ để Út Trà Ôn ca bản đầu tiên thâu đĩa hát ! Ngay sau đó tôi có công chuyện đi Bạc Liêu, về ngang Ngã Bảy Phụng Hiệp tôi vô quán cà phê nghỉ chân, thấy một anh bán chiếu trẻ dáng quê mùa hiền lành đang ngồi dưới một mái hiên nhà nghỉ chân, tay cầm nón lá quạt quạt… Dưới sông ghe thuyền tấp nập, phía trong đồng lại có một đám cưới đang rước dâu trên đường… Thế là tôi nảy sanh một chủ đề…  Anh bán chiếu có một mối tình thầm kín với cô gái đặt mua chiếu, năm sau đem chiếu lên bán thì cô đã đi lấy chồng… Anh ta vô cùng thất vọng, và nỗi buồn của anh dâng trào như con sông “lai láng muôn dòng”… Trên đường từ Ngã Bảy về tới Sài Gòn đêm đó, tôi đã soạn xong “Tình
anh bán chiếu” trên xe !

9 SG Vien Chau 7Nhạc sĩ Trương Tuyết Mai reo lên : “Anh Bảy (tên thân mật gọi soạn giả Viễn Châu) hư cấu giỏi quá” (!). Tôi phụ họa với Tuyết Mai : “Lời của bài ca là điều đáng nói hơn cả”… Soạn giả Viễn Châu cắt lời tôi : “Một bài vọng cổ phải có cốt truyện, phải có một vai chính như trong một truyện ngắn. Hay là ở cốt truyện”…

Bỗng ông già 82 tuổi Viễn Châu với cây đàn ghi-ta mini bên cạnh vừa đờn vừa ca tặng chúng tôi một bản vọng cổ ông mới sáng tác. Giọng Viễn Châu ấm quá.

Cách đây vài năm, một lần về thăm quê Trà Cú (Trà Vinh), soạn giả Viễn Châu lại qua Phụng Hiệp. Trong một cuộc giao lưu tại Trung tâm văn hóa huyện, một vị lãnh đạo Huyện ủy Phụng Hiệp đã tặng Viễn Châu một bó hoa và một bao thơ 2 triệu đồng. Ông này nói : Nhờ bài vọng cổ “Tình anh bán chiếu” mà Ngã Bảy Phụng Hiệp được nổi danh khắp vùng Nam bộ nên địa phương rất biết ơn soạn giả Viễn Châu ! Còn soạn giả Viễn Châu thì “đáp từ” rằng, ông rất biết ơn Ngã Bảy Phụng Hiệp vì nhờ nó mà giúp ông làm nên khúc ca để đời… Vì thế, ông chỉ nhận hoa, còn tiền thì xin gửi lại tặng anh em văn nghệ của huyện nhà còn nghèo lắm…

Lê Phú Khải