MỘT CHUYỆN TÌNH KỲ LẠ NHẤT

“Chuyện tình nghệ sĩ” :

BÙI GIÁNG & KIM CƯƠNG

Cõi đời một kiếp yêu em

Dẫu là bỏ cuộc, mộng tìm dáng xưa

Bùi Giáng (1926-1998) : là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Các bút danh khác của ông là : Trung niên thi sĩ, Thi sĩ đười ươi, Brigitte Giáng, Giáng Moroe, Bùi Bán Dùi, Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ…

Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ Mưa Nguồn.

Kỳ nữ Kim Cương : chiếm một vị trí đặc biệt trong cuộc đời, trong tâm hồn và trong sáng tác của Bùi Giáng. Trong tâm hồn ông, Kim Cương là “đệ nhất mỹ nhân” trong thiên hạ. Ông yêu Kim Cương bằng một tình yêu lạ lùng nhất thế gian. Chỉ có thể nói đó là một tình yêu bất tử. Đã có rất nhiều giai thoại xung quanh mối tình kỳ bí này.

Đối với Kim Cương, tuy là mối tình đơn phương từ phía Bùi Giáng, nhưng nữ nghệ sĩ này đã rất trân trọng tình yêu của ông, một sự trân trọng vô cùng cảm động và hiếm thấy.

Nhiều năm qua, nghệ sĩ Kim Cương có những lý do riêng nên đã không lên tiếng một cách chính thức. Lần đầu tiên, bà tiết lộ với báo Thanh Niên một số sự thật về thiên tình sử này, vì đã đến lúc bà không còn lý do để tiếp tục im lặng…

Chúng tôi mạn phép báo Thanh Niên để giới thiệu riêng cùng bạn đọc những tiết lộ của Kim Cương. Chúng tôi xin tỏ lòng biết ơn nghệ sĩ Kim Cương. Những tiết lộ này sẽ giúp cho công chúng hiểu rõ hơn con người và sự nghiệp của một thi sĩ độc đáo vào bậc nhất của đất nước.

Có lẽ trong cuộc đời của thi sĩ Bùi Giáng, ngoài chuyện văn chương ra thì chuyện tình đơn phương của ông với Nữ NS Kim Cương là nổi bật nhất, kỳ lạ nhất, và cũng cảm động nhất.

Kim Cương còn giữ rất nhiều bài thơ của ông viết tặng riêng bà, cả hình ảnh nữa, nhưng từ lâu bà từ chối mọi lời yêu cầu của các tờ báo, nhà xuất bản xin được phát hành, đặc biệt sau khi Bùi Giáng qua đời nhiều đơn vị còn đặt vấn đề “mua” những tấm ảnh, tập thơ đó. Bà nói : “Tôi không muốn đem tình cảm của Bùi Giáng ra đánh bóng tên tuổi của mình hoặc làm gì đó có dấu ấn kinh doanh. Dù tôi không yêu ông, nhưng tôi trân trọng tình yêu của ông.

Tuy nhiên, bây giờ sau loạt bài của báo Thanh Niên, tôi thấy đây không còn là chuyện riêng tư nữa, mà Bùi Giáng là một sự kiện văn học chung của đất nước, cần có thêm nhiều thông tin về ông. Và vì không lên tiếng nên có những thêu dệt không đẹp cho Bùi Giáng, vì vậy tôi chỉ muốn nói rõ một vài sự thật để người ta hiểu ông đúng hơn”.

Kim Cương biết Bùi Giáng lúc bà khoảng 19 tuổi, còn theo đoàn cải lương của má Bảy Nam nhưng Kim Cương đã được mệnh danh là “kỳ nữ”. Thật ra, ông chú ý đến bà trong một đám cưới của đôi bạn Hạnh – Thùy. Sau đám cưới, một hôm Thùy bảo Kim Cương : “Có một ông giáo sư Đại học Văn khoa, đi học ở Đức về, ái mộ chị lắm, muốn đến nhà thăm chị”. Kim Cương trả lời : “Ừ, thì mời ổng tới”.

Hóa ra là Bùi Giáng, lúc ấy đang dạy học, cũng áo quần tươm tất chứ chưa có “điên điên” như sau này. Bùi Giáng lui tới, mời Kim Cương lên xe đạp ông chở đi chơi, rồi cả cầu hôn, nhưng bà đều né tránh. Bởi sau vài lần tiếp xúc, bà thấy ở ông toát lên cái gì đó “kỳ kỳ”, bất bình thường, nên bà sợ. Đeo đuổi mãi không được, Bùi Giáng thở dài nói : “Thôi, chắc cô không ưng tôi vì tôi lớn tuổi hơn cô (Bùi Giáng lớn hơn Kim Cương mười mấy tuổi), vậy cô hứa với tôi là sẽ ưng thằng cháu của tôi nhé. Nó trẻ, lại đẹp trai, học giỏi”. Kim Cương ngần ngừ : “Thưa anh, chuyện tình cảm đâu có nói trước được. Tôi không dám hứa hẹn gì đâu, để chừng nào gặp nhau hẵng tính…”. Ý bà muốn hoãn binh. Nhưng Bùi Giáng đã đùng đùng dắt cháu tới.

Trời ơi, hóa ra đó là thằng nhỏ mới… 8 tuổi. Kim Cương hết hồn. Thôi rồi ! Ổng đúng là không bình thường !

Từ đó, mỗi năm Bùi Giáng mỗi bệnh nặng hơn. Ông không có vợ con, suốt ngày đi lang thang ngoài đường, hò hét, rồi cứ địa chỉ nhà Kim Cương mà tới. Thằng bé Toro con của Kim Cương lúc ấy khoảng 5 tuổi, thường trố mắt ra nhìn ông, và hỏi : “Mẹ ơi, sao bác này giống cái xe hoa quá ?”. Tư duy trẻ con thật ngộ nghĩnh, nhưng lại rất chính xác. Thì trên người Bùi Giáng có đủ thứ : nào hộp lon treo lủng lẳng, nào lá cờ giắt sau lưng, nào nhánh cây, vòng hoa trên đầu… cả một nải chuối đeo thường xuyên trên cổ. Không mở cửa cho ông vào là ông la hét, đập cửa, chửi um sùm, ném đá nữa, khiến hàng xóm náo động. Nhưng riết rồi quen, mỗi lần ông tới nhà Kim Cương ai nấy đều cười. Má Bảy Nam ở trên lầu chỉ cần nghe la rùm beng, đập cửa ầm ầm, là hỏi : “Bùi Giáng phải không ?”.

Nhiều lần ông say khướt, nằm ịch xuống gốc cây trước nhà Kim Cương, mọi người phải khiêng vào. Bà lắc đầu : “Sợ ổng chết. Tướng tá vầy có thể chết bất cứ lúc nào. Nhưng khiêng vô rồi cũng sợ rủi ổng chết trong nhà mình. Mà điều, không nỡ bỏ ổng lăn lóc ngoài đường, thấy tội quá”.

Nhưng điều hay nhất là mỗi khi vô nhà Kim Cương ông lại sáng tác thơ để tặng bà. Tiện tay xé bất cứ tờ giấy, tờ lịch nào là ông viết ào vô đó. Nguồn thơ yêu cứ tuôn trào như suối, không vơi cạn theo năm tháng. Về sau, khi ông “quậy” quá thì Kim Cương nghĩ ra cách, không mở cửa, mà lòn một cuốn sổ ra khe cửa cho ông viết thơ. Ông hí hoáy một hồi, rồi vui vẻ bước đi.

Suốt 40 năm, cả chục cuốn sổ tay đã đầy ắp chữ của ông, chỉ riêng tặng “nương tử Kim Cương”. Bà trân trọng gìn giữ trong ngăn tủ. Những vần thơ yêu với nét chữ ngả nghiêng chệnh choạng nhưng hồn nhiên say đắm lạ kỳ.

 Kính thưa nương tử Kim Cương

Tấm lòng rộng mở phi thường bấy nay

Ngàn năm điêu đứng đọa đày

Thiên thu sử lịch cau mày về sau

Thưa em đời mộng dạt dào

Tình yêu vô tận yêu đào vô biên

Kể từ tao ngộ đầu tiên

Kim Cương vô tận, thuyền quyên vô cùng

Bốn mươi năm đã lẫy lừng

Âm thầm tưởng niệm lạ lùng giai nhân

Trái tim thiết thạch vô ngần

Từ tam thu tới tử phần hôm nay

Kể từ sử lịch xa xuôi

Bất ngờ một bận bùi ngùi yêu em

Lang thang vạn dặm độc hành

Cẫm nang bỏ cuôc đời minh trao em

Quyền lực” của Kim Cương

Phải nói là Kim Cương có “quyền lực” rất lớn đối với Bùi Giáng. Cứ nghe tên bà là ông trở lại ngoan ngoãn như một đứa trẻ con. Một lần, ông làm “chim bay cò bay” giữa phố, gây ách tắc giao thông, công an tới lôi ông vào cũng không được. Tình cờ có ông bạn Đoàn Thạch Hãn trông thấy, thế là anh ta rỉ tai ông : “Kim Cương nhắn ông tới nhà kìa !”. Lập tức ông riu ríu đi theo Đoàn Thạch Hãn.

Ông còn “ái mộ” bà theo kiểu “kinh khủng” của ông. Người ta ái mộ thì xin chữ ký, xin hình, còn ông thì xin… quần. Ông tới nhà nằng nặc đòi bà cho ông cái quần. Bà lấy quần của cậu Toro nay đã lớn cỡ ông mặc vừa. Ông giãy nảy không chịu, đòi cái quần của Kim Cương mới được. Bà bực quá, đưa thiệt. Lập tức ông mặc vô và rồi không chịu thay ra. Tắm xong, mặc lại. Tỉnh bơ.

Và sau này khi ông ở nhờ nhà anh Hoài – cháu gọi ông bằng bác họ – tại Gò Vấp, thì cũng chỉ Kim Cương là người phụ nữ duy nhất được ông cho phép bước vào nhà. Nhiều lần, các bạn thơ nữ có ghé thăm ông, nhưng vừa mới nghe cháu vô báo tin là ông đã la hét om sòm, đuổi họ như đuổi tà : “Chỉ có tiên nữ Kim Cương mới được bước tới đây. Đi ra ! Đi ra hết !”.

Nghệ sĩ Kim Cương nói : “Tôi rất trân trọng tài năng của ông, nhưng phải nói thật là ông điên nặng, nhưng là cái điên trí tuệ, nói ra nhiều câu cực kỳ sâu sắc”. Thỉnh thoảng, khi ông hơi tỉnh thì Kim Cương cũng ngồi bàn chuyện thơ văn với ông cho ông vui. Những lúc ấy, ông gọi bà bằng “cô” đàng hoàng chứ không “nương tử”, không “Hằng Nga” gì hết. Nhưng có một lần, ông làm bà hết hồn. Hai người bàn luận đến Kiều, bà đọc mấy câu lỡ có sai một chút, ông liền đập bàn, la hét, nhảy dựng lên : “Tại sao Kiều mà cô nói sai như vậy ? Câu vậy mà cô nói là của Kiều hả ?”. Thấy ông trợn mắt giận dữ, bà cứ ngỡ ông sắp bóp cổ mình tới nơi. Bà quên mất rằng ông cũng yêu Kiều say đắm như yêu bà

Có một chuyện nhỏ, nhưng cảm động. Kim Cương nói rằng Bùi Giáng có đóng phim gì nữa đó, chắc đóng vai phụ nho nhỏ thôi. Kim Cương nhớ khi ông lãnh tiền thù lao, liền mua hai trái xoài đem tới cho bà. Rất dễ thương.

Kim Cương bùi ngùi nhớ lại : “Suốt 40 năm, ông đối với tôi như một người yêu đơn phương, thì ngược lại, tôi đối với ông như chỗ dựa tinh thần, bất cứ lúc nào nghe ông đau ốm hay bị công an bắt, bị người ta đánh là tôi có mặt”. Bởi đơn giản, trong đầu Bùi Giáng chỉ có một số điện thoại duy nhất, một địa chỉ duy nhất, đó là địa chỉ và số điện thoại của Kim Cương. Nhiều lần ông đứng giữa đường dang tay la hét, làm kẹt xe, công an tới bắt, hỏi cách gì ông cũng chỉ nói một câu : “Người thân cuả tôi là Kim Cương, ở số… Hoàng Diệu, điện thoại 844…”. Thế là công an réo gọi Kim Cương. Bà đi lãnh ông ra. Chuyện đó xảy ra không biết bao nhiêu lần. Có khi ông bị té, bị thương, người ta chở vô bệnh viện, ông cũng chỉ “khai báo” y như vậy.

Bệnh viện lại réo bà. Bà lại đến. Hoặc những lúc ông lên cơn, có khi vô quậy cả đám cưới nhà người ta, bị người ta đánh, bà lại đến đưa ông về. Có lần, ông xuất hiện trước nhà bà với tóc tai mặt mũi đầy máu vì mới bị ai đó đánh, bà hoảng hốt gọi xích lô cho ông đi cấp cứu. Ông không chịu : “Chừng nào cô đi với tôi thì tôi mới đi”. Ừ, thì đi. Kim Cương gọi chiếc xích lô chở ông, vừa ngồi xe ông vừa nói vung vít, mặc cho Kim Cương chịu trận.

Và như thường lệ, trong cơn điên điên tỉnh tỉnh, ông lại tiếp tục làm thơ yêu qua cuốn sổ nhỏ nhét vào khe cửa nhà bà :

– Yêu nhau từ bấy tới nay

Xiết bao tâm sự từ ngày qua đêm

Thưa em nương tử dịu mềm

Bốn mươi năm lẻ êm đềm vô biên

Đầu tiên tiên nữ Kim Cương

Cuối cùng muôn một phi thường Cương Kim

Cúi đầu bái tạ tình em

Về sau vĩnh viễn êm đềm thương nhau

Làm thơ tiếp tục yêu em

Ồ Kim Cương ạ êm đềm vô song

Kể từ lịch kiếp long đong

Anh điêu tàn tới thong dong bây giờ

– Hư vô và vĩnh viễn

Cũng vô lý như lần kia dưới lá

Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành

Đời đã mất tự bao giờ giữa dạ

Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh

Buổi trưa đi vào giữa lòng lá nhỏ

Tiếng kêu kia còn một chút mong manh

Dòng nức nở như tia hồng đốm đỏ

Lạc trời cao kết tụ bóng không thành

Lá cũng mất như một lần đã lỡ

Trời đã xanh như tuổi ngọc đã xanh

Trời còn đó giữa tháng ngày lỡ dở

Hồn nguyên tiêu ai kiếm lại cho mình

Đường vất vả vó ngựa chồn lảo đảo

Cồn sương đi vào sương lạnh miên man

Bờ bến cũ ngậm ngùi sông nước dạo

Đêm tàn canh khắc ngợi nguyệt gương ngàn

Một lần đứng lên mấy lần ngồi xuống

Ngón trên tay và tóc xõa trên đầu

Tình đếm lại muôn vàn thôi đã uổng

Để bây giờ em có biết nơi đâu

Bờ trùng ngộ một phen này phen nữa

Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng

Hồn hoa cỏ Phượng Thành Hy Lạp úa

Nghe một lần vĩnh viễn gặp hư không

Khi Phạm Tuân được Liên Xô cho đi quá giang trên con tàu vũ trụ với một mớ “bèo hoa dâu” (không ai biết để làm cái gì !!!?), nhà nước ta làm rùm beng cứ y như là chính mình đã thành công trong việc vào không gian. Trong khi mọi người dân chỉ coi sự kiện này là một sự “Đi Ké”. Thế mà ông “điên điên” Bùi Giáng lại ca ngợi bằng cách viết hai câu thơ chúc mừng lên tấm bảng treo toòng teng trước ngực: “Hoan hô đồng chí Phạm Tuân – Khi không ông lại nhẩy tưng lên trời”. Rõ ràng là 2 câu thơ chế nhạo. Ai dám nói ông điên lúc này ?

Ba lời cảm tạ của Kim Cương

Bùi Giáng về ở nhà của anh Hoài vào khoảng năm 1978, thì đến khoảng 1992 đã hơi tỉnh tỉnh. Nhà thơ Trụ Vũ thường ghé chơi với ông. Một lần Trụ Vũ bảo : “Kim Cương hẹn ngày mai lên thăm anh”. Thế là suốt đêm ông không ngủ. Sáng dậy, ông đi tới đi lui, đứng ngồi không yên, và càu nhàu : “Cái thằng Trụ Vũ, chừng nào lên thì lên, nhắn nhe làm chi cho người ta sốt ruột”.

Anh Hoài còn tiết lộ ông phải giả vờ uống một tí rượu để đóng vai “say”, như thế khi Kim Cương lên thăm ông mới có cớ đi ngả nghiêng cho Kim Cương dìu đỡ. Nhưng có lần uống mãi, uống mãi, rồi say thật lúc nào chả biết, khi Kim Cương đến nơi thì ông đã… ngủ khò. Một bữa, Kim Cương đến nhà, tặng ông đóa hoa hồng. Ông sung sướng quá. Kim Cương về rồi, ông hỏi anh Hoài : “Làm sao giữ được hoa tươi mãi hè ?”. “Ba ngày là nó héo thôi bác ơi!”. “Trời ơi, của Kim Cương tặng tao, phải giữ hoài chớ bây !”. “Con có cách. Đem hoa trút ngược xuống thì sẽ giữ giùm bác được vài tháng”. Đúng là giữ được vài tháng, đến khi hoa đã khô nát ông mới đành lòng chia tay.

Gần 60 tuổi, ông tới nhà bà với đôi mắt nheo nheo không nhìn thấy rõ. Bà dắt ông đi mua cặp kính lão. Nhưng chỉ một tháng sau, ông xuất hiện với một bên tròng kính bị bể vì người ta đánh. Bà dỗ ngọt : “Tôi mua cho anh kính mới nghen”. Ông lắc đầu : “Thôi cô, nhìn đời bằng một con mắt đủ rồi.

Kể ra, đâu chỉ có Bùi Giáng kiên nhẫn và thủy chung với kỳ nữ Kim Cương, mà chính Kim Cương cũng đã đáp lại mối tình đơn phương của Bùi Giáng một cách chân thành và kiên nhẫn, thủy chung suốt 40 năm, gần giống một người chị, một người mẹ. Cho nên, có người nói với bà : “Chắc kiếp trước Bùi Giáng mắc nợ bà !”. Bà đáp vui trở lại: “Hổng biết ổng mắc nợ tui hay tui mắc nợ ổng!”. Những lúc tỉnh táo, ông nói: “Cô nhơn hậu lắm cô mới chịu nói chuyện với tôi tới giờ này !”. Nhân đó bạn bè hỏi : “Kim Cương có cái gì mà anh thương dữ vậy ?”. Ông đáp : “Lúc tôi gặp cô trong đám cưới của Hạnh – Thùy, cô mặc cái áo dài lụa trắng, tôi thấy hào quang tỏa tỏa ra, tới bây giờ vẫn còn tỏa”.

15 ngày trước khi chết, Bùi Giáng đến nhà Kim Cương để lại mấy câu thơ như báo trước điềm chia ly :

– Thương yêu có lẽ như là

Nghi ngờ nhau mãi vẫn là Kim Cương

– Ông đi đau xiết vui buồn

Một mình ở lại muôn trùng em yêu

Rồi ông té, chấn thương sọ não, chở vào Bệnh viện Chợ Rẫy. Người đầu tiên gia đình gọi đến là Kim Cương. Kim Cương nói : “Lần đầu tiên tôi thấy Bùi Giáng sạch sẽ. Đầu cạo sạch, không còn mớ tóc bù xù nữa. Và quần áo bệnh viện thì trắng bong. Cho nên tôi nhìn ổng không ra, cứ chạy đôn chạy đáo khắp các phòng tìm ổng”. Những đứa cháu xin bà cho ý kiến. Bà đồng ý để bác sĩ phẫu thuật cho ông dù chỉ còn 1% hy vọng.
Nhưng rồi Bùi Giáng đã ra đi.

Trước mộ ông trước giờ hạ huyệt, Kim Cương nhẹ nhàng thủ thỉ : “Thưa Bùi Giáng ! Đời ông là một đời giang hồ, nhưng mọi người vẫn mến thương ông, chắc ông cũng mãn nguyện rồi. Riêng tôi có 3 điều cảm ơn ông. Thứ nhất, ông đã để lại một sự nghiệp thơ cho đời. Thứ hai, cảm ơn mối tình 40 năm ông dành tặng tôi, tới giờ tôi có thể nói đó là mối tình lớn, ông là người yêu tôi chung thủy nhất, lâu dài nhất.Thứ ba, cảm ơn vì ông đã cho tôi một bài học, rằng dù điên hay tỉnh, giàu hay nghèo, già hay trẻ, trong lòng mỗi người cũng phải có một mối tình để sống”.

Nhưng chắc gì Bùi Giáng đã chịu xa lìa Kim Cương. Ông còn một lời nhắn nhủ viết trong cuốn sổ tay tại nhà Kim Cương :

“Kiếp sau gặp lại nhau, anh Bùi Giáng chỉ mong được Kim Cương chấp thuận cho phép anh Bùi được làm đầy tớ trung thành tuyệt đối của Kim Cương”. Và :

Vô ngần tao ngộ đầu tiên

Em bao giờ biết anh phiền ưu sao

Yêu em từ những kiếp nào

Về sau cũng niệm nguyên màu ban sơ.

Huỳnh Văn Yên post (Tổng hợp theo báo và Internet)

Advertisements

SÀI GÒN HÔM NAY

TIN BUỒN

GIÁO SƯ

NGUYỄN CAO HÁCH

QUA ĐỜI

Giáo Sư Nguyễn Cao Hách  đã qua đời sáng ngay 21/9/2011 tại San Diego, California. Hội Ái Hữu Luật Khoa (AHLK) sẽ thông báo chi tiết về tang lễ sau.

Giáo sư Vũ Quốc Thúc chia buồn :

Vô cùng xúc động hay tin GS. Nguyễn Cao Hách từ trần.

Xin Quý Anh Chị chuyển lời phân ưu của Tôi tới Bà Nguyễ Cao Hách và toàn thê Tang Quyến. Kinh viếng anh linh Giao Sư, môt cựu đồng sự và bạn thân của tôi. Tiếc rằng tôi ở xa, lại cao tuổi, sức khoe yêu kém, không đích thân tiễn đưa Giao Sư tới nơi an nghỉ cuối cùng.

Xin cầu nguyện Anh Linh Giáo Sư sớm tiêu dao trong cõi Vĩnh Hằng.

GS.Vũ Quốc Thúc   

Nhiều người hòi tôi có nhớ tên những người trong các Ban Chấp Hành cũủ của Hội Ái Hữu Luật Khoa không ? Ai là Chủ tịch của Hội vào năm đó, năm đó.v…v…

Thật tình tôi không nhớ được mặc dù đầu óc tôi vẫn  còn minh mẫn và trí nhớ của tôi vẫn còn tốt. Đó là vì trong lòng tôi, từ đầu đến cuối chỉ có một Chủ Tịch mà thôi, từ khi còn Trường Đại Học Luật Khoa Saigon, đến khi qua đến bên Mỹ : Đó là Giáo Sư NGUYỄN CAO HÁCH, vị thầy đáng yêu và đáng kính phục cũa chúng ta, một người một lòng một dạ yêu nước, yêu quê hương xứ sở, yêu học trò của mình và lúc nào cũng đứng bên cạnh các học trò của mình mà không bao giờ phiền lòng bởi những sự sai trái của “lủ quỹ”. Thầy có mặt trong mọi buổi sinh hoát của anh em luật khoa trừ khi sức khỏe không cho phép, thầy luôn luôn nhắc nhở, dạy dổ. Thầy xót xa đau buồn mỗi khi phải đọc điếu văn tiễn  một đứa học trò vĩnh viễn ra đi như thầy mất một đứa con ruột thịt của mình. Thầy vui mừng khi nghe tin có đứa học trò nào ăn nên làm ra. Thầy càng vui mừng và hảnh diện hơn khi con cái của học trò mình đổ đạt thành công vẽ vang nơi xứ người như chính là cháu nội hay ngoại của thầy thành công vậy.

Trong lòng của tôi và tôi nghĩ trong lòng của nhiều người trong giới luật khoa, thầy là BỐ GIÀ của anh em LK, là  vị Chủ Tịch Duy Nhất Và Vĩnh Viễn của Luật Khoa.

“NỔ HƠN KHO ĐẠN” !

Thằng Cao Bồi Già này đã có lần tự thán rằng, đời ta sợ nhất 4 thành phần như  : Một là Luật Sư, Hai là Bác Sĩ, Ba là Ký Giả và Bốn là Cảnh Sát Công An. Bởi rằng thì là, khi đụng vào 1 trong 4 “trự” này, thì hầu bao luôn vơi đi rất nhiều… tiền, do mấy trự  này là những thợ “hù”, thợ “nổ” và thợ “vẽ” chuyên nghiệp.

Cho nên khi nói đến 2 chữ Bác Sĩ ta liên tưởng ngay đến các vị Tây Y, nhưng nay chắc phải dùng chung một danh từ… LƯƠNG Y, để nói cả Tây lẫn Đông Y (tức mấy thầy hốt thuốc Bắc, thuốc Nam), mà theo dòng thời sự, Đông Y hiện nay là đang nói đến chính là các chú Chệt thím Xẩm mang mác “Đông Y Sĩ” gốc Ba Tàu, tức từ bên Tàu qua Nam Việt làm giàu, bằng cách mở “PHÒNG KHÁM ĐA KHOA TRUNG QUỐC” khắp từ Bắc vào Nam.

Hiện nay thiên hạ đang kêu trời với mấy phòng khám đa khoa kiểu Chệt này. Xin mời các bạn đọc phớt qua ít trích đoạn sau đây trên TTO (có tiêu đề “NỔ HƠN KHO ĐẠN”) :

– Có mặt gần chục năm qua ở Việt Nam, nhiều phòng khám, cơ sở chẩn trị có người Trung Quốc tham gia khám bệnh liên tục gây tai tiếng. Có người tốn gần chục triệu đồng không hết bệnh mà còn bị biến chứng phải vào bệnh viện điều trị.

Ngày 15/9 cơ quan chức năng đã có cuộc làm việc với 13 phòng khám Trung Quốc tại Hà Nội. Trong khi đó, tại Sài Gòn không ít bạn đọc gửi thư, gọi điện thoại đến báo Tuổi Trẻ phản ảnh những bất bình về một số phòng khám Trung Quốc “nói như thánh, chữa chẳng ra gì” !

Quảng cáo ra rả trên đài truyền hình, đầy rẫy trên các báo. Tự in đủ loại tờ rơi, tạp chí đem ra đường, ra chợ phát… Đó là những kiểu quảng cáo của không ít phòng khám có người Trung Quốc hành nghề (gọi tắt là phòng khám Trung Quốc) nhằm lôi kéo người bệnh.

Nhiều nạn nhân của một số phòng khám Trung Quốc cho biết khi xem truyền hình, đọc báo thấy quảng cáo quá hay, quá tốt về các phòng khám Trung Quốc nên tìm đến khám bệnh. Ngoài những màn quảng cáo đầy “ma lực” trên các kênh truyền hình, trên báo, các phòng khám Trung Quốc còn ra sức thổi phồng về khả năng chữa trị bá bệnh của mình bằng những ấn phẩm tự in với hình thức hoành tráng, hệt như các tạp chí chuyên đề sức khỏe.

Đề phòng các phòng khám “nổ”

1/- Một trong những phòng khám Trung Quốc “nổ” dữ nhất là phòng khám Trung Nam (Ba Tháng Hai, Q.11). Tuy chỉ là phòng khám nhưng phòng khám này tự “nâng cấp” lên là “Bệnh viện đa khoa” : Tổ chức y tế chính quy – chuyên môn”, hoặc “Bệnh viện Trung Nam – nhãn hiệu Trung y hàng đầu”. Không chỉ nâng cấp cho oai, phòng khám này “với hàng loạt chuyên gia thao tác phá thai, phẫu thuật chỉ mất ba phút…” đã thực hiện “phá thai bằng phương pháp siêu dẫn có thể nhìn thấy được khi lỡ mang thai ngoài ý muốn, không bị bất cứ tổn thương nào…”?! Về nam khoa, phòng khám còn giới thiệu “công nghệ chỉnh hình bộ phận sinh dục với phương thức quốc tế”! Ngoài ra, phòng khám còn có “13 bí phương trị liệu bệnh ung thư của nhà họ Lý”…

2/- Phòng khám đông y Hiện Đại (Cộng Hòa, Q.Tân Bình) cũng cho in “sổ tay y học” và đem phát quảng cáo. Theo tài liệu quảng cáo, phòng khám đông y Hiện Đại chuyên khám chữa bệnh đông y, xem mạch, kê đơn, bốc thuốc điều trị các bệnh trĩ nội, trĩ ngoại, sinh lý nam, phong thấp, tai mũi họng, hen suyễn, ngoài da, phụ khoa bằng các “phương thức bí truyền”. Với bệnh tiểu đường, phòng khám có thể điều trị khỏi tận gốc sau khi uống thuốc từ 2-4 liệu trình. Ngay cả với đàn ông bị thận hư, liệt dương, xuất tinh sớm chỉ cần điều trị 1-2 liệu trình là “đạt kết quả như mong muốn”.

3/- Cùng một “bài”, phòng khám đông y Trường An (Hồng Bàng, Q.11) cũng in tạp chí “Đông y ứng dụng” phát cho nhiều người. Trong tài liệu này, phòng khám Trường An quảng cáo có “bài thuốc bí truyền” nhanh chóng chữa khỏi các chứng bệnh liệt dương, thận hư, thận suy, vô sinh, các bệnh viêm gan B, xơ gan, xơ gan cổ trướng, trị tận gốc tiểu đường, sỏi thận… Thậm chí phòng khám còn quảng cáo có “liệu pháp đông y giúp cải thiện kích cỡ cơ quan sinh dục bị ngắn, nhỏ đạt được kích thước như mong muốn”. Bệnh nhân đến khám còn được phát tờ rơi quảng cáo, trong đó có rất nhiều bệnh “lạ” như tinh trùng không hoạt động hóa, cảm nhiễm bộ phận sinh dục…

Vân vân và vân vân… còn chữa trị có hiệu quả hay không, thì khi bị phản ảnh tức là việc chữa trị không có hiệu quả rồi, tiền mất nhiều mà bệnh càng thêm nặng !

Chung “lò” đào tạo… thuốc “nổ”

Theo thống kê của phòng quản lý dịch vụ y tế tư nhân, Sở Y tế ở Sài Gòn cho biết, tại Sài Gòn hiện có 13 cơ sở chẩn trị, phòng khám có bác sĩ là người gốc Ba Tàu chính cống bà Lang Trọc, được Bộ Y tế cấp phép cho hành nghề khám chữa bệnh tại Việt Nam. Đa số bác sĩ này có giấy chứng nhận…. trình độ chuyên môn từ một “lò” là Học viện Trung y Quảng Tây !

PHÒNG KHÁM BA TÀU AI ĐỂ HỌ “NỔ” ?

Có lẽ ngoài các cơ quan chức năng của chánh quyền như Bộ Y Tế và Sở Y Tế địa phương ra, còn có nhiều nghệ sĩ tên tuổi tiếp tay cho bọn Chệt Xẩm Ba Tàu qua Việt Nam lừa đảo người bệnh.

Những nghệ sĩ tên tuổi này là ai ? Họ vì tiền hay vì muốn có mặt trên Tivi để nhằm đánh bóng tên tuổi ? mà trao tên cho những kẻ cướp này lộng hành khắp từ Bắc vào Nam một thời gian dài. Mời các bạn đọcnhững trích đoạn từ TTO trao đổi với các nghệ sĩ có tham gia quảng cáo cho các phòng khám của Ba Tàu quanh vấn đề này.

Diễn viên kịch hài Thanh Thủy : Tôi chỉ là người được mời tham gia quảng cáo cho phòng khám Trung Quốc. Tất cả những thông tin quảng cáo cũng như chất lượng khám chữa bệnh thế nào, các vấn đề về nghề nghiệp, y học, y khoa thuộc về trách nhiệm của Sở Y tế và nội dung quảng cáo đã được Sở Y tế TP duyệt.

Diễn viên Tấn Thi : Diễn viên làm quảng cáo để có thêm thu nhập. Nghề diễn viên là nghề làm như thế, có ai mời, ai thuê mình mà thấy đồng thuận được hai bên thì mình làm. Nếu nói tại vì diễn viên quảng cáo cho phòng khám Trung Quốc mà đến điều trị rồi bị lừa, bị cái này cái kia thì tội nghiệp cho chúng tôi. Còn phòng khám Trung Quốc hoạt động được, quảng cáo được thì phải có Bộ Y tế, Sở Y tế TP cấp phép và việc quảng cáo thế nào là trách nhiệm của cơ quan quản lý y tế và cơ quan chức năng mới được phát sóng trên đài truyền hình. Cái chính là cơ quan y tế cho phép họ hoạt động thì chúng tôi mới dám quảng cáo. Tôi cũng khổ lắm, nhiều người cũng hỏi tôi có biết chắc phòng khám này trị giỏi không mà đi quảng cáo cho họ. Tôi nói đó là bên y tế duyệt quảng cáo, còn tôi có biết gì đâu, có bệnh đó đâu mà hỏi tôi có đảm bảo. Nếu bên y tế không cho phép họ hoạt động thì có trả nhiều tiền tôi cũng không dám quảng cáo cho họ.

MC Hữu Luân : Tôi tham gia quảng cáo này vì có một sinh viên học đạo diễn của Trường đại học Sân khấu và điện ảnh ở Sài Gòn thực hiện phim quảng cáo, nhờ tôi tham gia để có hình ảnh quảng cáo cho phòng khám một năm. Đến năm 2010 là hết thời hạn hợp đồng nhưng không hiểu tại sao đến nay họ vẫn sử dụng hình ảnh của tôi quảng cáo rất nhiều trên các đài truyền hình, khiến tôi rất bức xúc. (?!)

Xin miễn bình luận.

CAO BỒI GIÀ

THÁI THANH,

TIẾNG HÁT LÊN TRỜI

Thụy Khuê

Trong những phút giây thiếu vắng trống trải nhất hay những nhớ nhung tha thiết nhất của cuộc đời, mọi hiện diện hữu hình đều vô nghĩa; ta chờ đợi một đổi trao, khát khao một giao cảm thì bỗng đâu, một hiện diện vô hình lóe lên tựa nguồn sáng, tựa tri âm : sự hiện diện của một  tiếng hát vượt thời gian.

Nếu thơ là một ngôn ngữ riêng trong ngôn ngữ chung, theo Valéry, hay thi ca là tiếng nói của nội tâm không giống một thứ tiếng nói nào của con người, theo Croce, thì âm nhạc hẳn là tiếng nói của những trạng thái tâm hồn và nhạc công hay ca sĩ là nguồn chuyển tiếp, truyền đạt những rung động từ hồn nhạc sĩ đến tâm người nghe.

Thị giác giúp chúng ta đọc một bài văn, nghiền ngẫm một bài thơ, nhưng chẳng mấy ai có thể thưởng thức một bản nhạc bằng thị quan của riêng mình mà phải nhờ đến người trình diễn, đến ca công, ca kỹ. Ngàn xưa nếu người kỹ nữ bến Tầm Dương chẳng gieo “tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây” chắc gì ngàn sau còn lưu dấu vết Tỳ Bà Hành ?

Sự biểu đạt tác phẩm nghệ thuật hay sự truyền thông cảm xúc từ nhạc bản đến thính giả, nơi một vài nghệ sĩ kỳ tài, không chỉ ngưng ở mực độ trình diễn mà còn đi xa hơn nữa, cao hơn nữa, tới một tầm mức nào đó, ca nhân đã sáng tạo, đã đi vào lãnh vực nghệ thuật: nghệ thuật vô hình của sự truyền cảm, nghệ thuật huyền diệu sai khiến con người tìm nhau trong bom lửa, tìm nhau trong mưa bão, nghệ thuật dị kỳ tái tạo bối cảnh quê hương đã nghìn trùng xa cách, nghệ thuật mời gọi những tâm hồn đơn lạc xích lại gần nhau dìu nhau đưa nhau vào ngàn thu, nghệ thuật không tưởng đừng cho không gian đụng thời gian khi ca nương cất tiếng hát, tiếng hát của bầu trời, giao hưởng niềm đau và hạnh phúc :

THÁI THANH : Tiếng hát vượt thời gian 

Người ta nói nhiều đến sự nhạy cảm của phụ nữ, đến một thứ giác quan nào đó ngoại tầm nam giới. Những người đàn bà phi thường như Callas, Piaf, Thái Thanh,… đã tận dụng đến cùng cảm quan bén nhạy của mình để sai khiến, xao động, chuyển hóa ngôn ngữ, âm thanh của bài hát thành nội cảm cầm ca, cấu tạo nên một vũ trụ thứ hai, đắm đuối, cuồng say, trong lòng người :

Trời trong em, đồi choáng váng

Rồi run lên cùng gió bốn miền

Tiếng hát Thái Thanh đến với chúng ta bằng rung động trực giác rồi tan loãng trong suy tư, xoáy vào những hố sâu, những đỉnh cao, vào tiềm lực của sự sống. Trong nghệ thuật hội họa, Van Gogh dùng sắc độ chói rạng để diễn tả những cuồng nhiệt, những trận bão trong tâm hồn. Trong nghệ thuật trình diễn, Thái Thanh vận dụng tiết tấu âm thanh, tạo nên sức cuốn hút mãnh liệt giữa con người, tình yêu và vũ trụ :

Ngày đó có bơ vơ lạc về trời

Tìm trên mây xa khơi có áo dài khăn cưới

Ngày đó có kêu lên gọi hồn người

Trùng Dương ơi ! Có xót xa cũng hoài mà thôi !

Vẽ lên hình ảnh người nữ ca sĩ dưới ánh đèn sân khấu, Hoàng Trúc Ly đã có câu thơ thật hay :

Vì  em tiếng hát lên trời

Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh

Câu này, trái với vài truyền thuyết, không nhắm vào một danh ca nào nhất định, chỉ gợi lên không khí các phòng trà ca nhạc Sàigòn khoảng 1960. Nhưng tiếng hát lên trời là một hình ảnh có lẽ hợp với giọng ca Thái Thanh nhất, giữa những tiếng hát thời qua và thời nay. Thái Thanh là một danh hiệu, nhưng như có ý nghĩa tiền định : bầu-trời-xanh-tiếng-hát. Hay tiếng hát xanh thắm màu trời. Tiếng hát long lanh đáy nước trong thơ Nguyễn Du, lơ lửng trời xanh ngắt trong vòm thu Yên Ðổ, tiếng hát sâu chót vót dưới đáy Tràng Giang Huy Cận, hay đẫm sương trăng, ngừng lưng trời trong không gian Xuân Diệu, tiếng hát cao như thông vút, buồn như liễu đến từ cõi thiên thai nào đó trong mộng tưởng Thế Lữ.

oOo

Ngày nay, những khi tìm lại giọng ca huyền ảo của Thái Thanh trong tiện nghi, ấm cúng, ít ai còn nhớ đến định mệnh gian truân của một tiếng hát, những bước gập ghềnh khúc khuỷu, chênh vênh, trôi nổi, theo vận nước lênh đênh. Tiếng nhạc Phạm Duy gắn bó với tiếng hát Thái Thanh thành tiếng của định mệnh, chứng nhân của nửa thế kỷ tang thương, chia lìa trên đất nước. Tiếng Thái Thanh là tiếng nước tôi, là tiếng nước ta, là tiếng chúng ta, là tiếng tình yêu, là tiếng hy vọng, là tiếng chia ly, oan khổ…

Tiếng hát Thái Thanh vang vọng những đớn đau riêng của phận đàn bà, mà người xưa đã nhiều lần nhắc đến bằng những công thức: hồng nhan đa truân, tài mệnh tương đố, tạo vật đố hồng nhan. Giọng hát Thái Thanh dịu dàng đằm thắm nhưng vẫn có chất gì đắm đuối và khốc liệt. Thái Thanh tình tự những khát vọng và những đau thương của hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, những thế hệ đàn bà bị dập vùi trong cuộc chiến kéo dài hằng nửa thế kỷ, kèm theo những giằng co tranh chấp, những băng hoại của một xã hội bất an. Nạn nhân âm thầm, vô danh là những người tình, những người vợ, những người mẹ đã có dịp nức nở với tiếng hát Thái Thanh : từ o nghèo thở dài một đêm thanh vắng đến nàng gánh lúa cho anh đi diệt thù, đến lúc anh trở về bại tướng cụt chân, đến nhiều, rất nhiều bà mẹ Việt Nam, từ Cai Kinh ngang tàng đến Gio Linh Ðồng Tháp suốt đời cuốc đất trồng khoai… Tiếng hát Thái Thanh là tiếng vọng khuya khoắt của những cơn bão lịch sử.

Và Thái Thanh đã sống lăn lóc giữa cơn lốc đó. Từ tuổi mười lăm, mười bảy, cô Băng Thanh – tên thật Thái Thanh- đã mang ba-lô theo kháng chiến chống Pháp : Hà Nội, khu III, khu IV, chợ Sim, chợ Ðại, chợ Neo, Trung Ðoàn 9. Về thành, cô đã góp công, tích cực và hiệu lực vào việc củng cố, phát triển nền tân nhạc phôi thai với ban hợp ca Thăng Long, sau đó là kiếp ca nhi phòng trà những nơi gọi là “Sài Thành hoa lệ”, những đêm màu hồng, chiều màu tím.

Trong mười năm sa mạc, Bầu trời xanh không hát, chim gìn giữ tiếng, tiếng chim Thanh như lời Phạm Duy trong một tổ khúc. Sang Hoa Kỳ, Thái Thanh hát lại, vẫn đắm say, vừa kiêu sa vừa gần gũi, đam mê và điêu luyện.

Thái Thanh tạo cho mỗi tác phẩm một sinh mệnh mới: Bài hát được “Thái Thanh hóa”, như đã đạt được “đỉnh cao” của cuộc đời, từ đó khó tìm thấy ai đưa nó vượt lên cao hơn nữa. Bởi Thái Thanh, ngoài giọng hát điêu luyện phong phú mở rộng trên nhiều cung bậc, còn có nghệ thuật làm nổi bật lời ca trong nhạc khúc và tạo ra một khí hậu, một tâm cảnh chung quanh bài hát. Nghe Thái Thanh hát là thưởng thức một khúc nhạc, một bài thơ, trong một thế giới nghệ thuật trọn vẹn. Giọng hát xoắn sâu, xoáy mạnh vào tâm tư người nghe, khi lâng lâng, khi tẻ buốt, sai khiến tâm tư vươn lên, hay lắng xuống. Giọng hát Thái Thanh tha thướt và tha thiết buộc người nghe phải sống cao hơn, sâu hơn, sống nhiều hơn. Tiếng hát Thái Thanh có lúc gợi cảm, khơi tình, hổn hển như lời của nước mây như lời thơ Hàn Mặc Tử.

Khi tiếng hát cất lên, dường như mọi hữu thể làm bằng sỏi đá, sắt thép, thân xác và nước mắt phút chốc tan biến, trở nên vô hình, vô thể, hóa thân trong tiếng hát, khi trầm mặc, khi vút cao; Thái Thanh, phù thủy của âm thanh là một thứ Ðào Nương trong truyền thuyết có ma lực hú về những âm tình u khuất.

oOo

Trong những cassette giới thiệu nhạc của mình, Phạm Duy một đôi lần có lưu ý Thái Thanh thỉnh thoảng hát sai. Dĩ nhiên một tác giả có quyền đòi hỏi người khác phải trung thành với văn bản của mình; riêng trong nghề ca xướng, nghệ nhân vẫn có thông lệ đổi vài chữ cho hợp với hoàn cảnh, nhất là ở Việt Nam, nền văn nghệ trình diễn vốn dựa trên truyền thống truyền khẩu lâu đời.

Ví dụ như bài Cho Nhau, Phạm Duy viết :

Cho nhau ngòi bút cùn trơ  / Cho nhau, cho những câu thơ tàn mùa / Cho nốt đêm mơ về già

Thái Thanh hát :

Cho nhau ngòi bút còn lưa  / Cho nối đêm mơ về già

Lưa là một chữ cổ, có nghĩa là còn sót lại, nhưng mang một âm thanh u hoài, luyến lưu, tiếc nuối. Ca dao Bình Trị Thiên có câu :

Trăm năm dù lỗi hẹn hò / Cây đa bến Cộ con đò vắng đưa / Cây đa bến Cộ còn lưa / Con đò đã thác năm xưa tê rồi.

Chính Phạm Duy cũng có lần sử dụng chữ lưa trong bài Mộng Du : Ta theo đường mộng còn lưa… Dĩ nhiên ngòi bút cùn trơ chính xác hơn, nhưng không thi vị bằng ngòi bút còn lưa.

Cho nốt đêm mơ về già, như Phạm Duy đã viết, là cho phứt đi, cho đi cho xong. Thái Thanh thay chữ nốt bằng chữ nối, tình tứ và thủy chung hơn: những giấc mơ về già chỉ là tiếp nối những giấc mơ tuổi xuân mà anh không tặng được em vì gặp em quá muộn; cho nhau chỉ còn trái đắng cuối mùa, nhựa sống trong thân cây chỉ còn dâng được cho em dư vị chua chát và cay đắng.

Phạm Duy viết :

Cho nhau thù oán hờn ghen…  / Cho nhau cho cõi âm ty một miền

Thái Thanh hát :

Cho nhau cho nỗi âm ty một miền

Chữ nỗi vô tình buông ra mà hay hơn chữ cõi, vì cõi chỉ là một miền, một không gian, một ý niệm hiện hữu, có vẻ bao la nhưng thực ra hữu hạn. Chữ nỗi vô hình, nhỏ bé nhưng vô hạn, đi sâu vào tâm linh con người: với tuổi già nỗi chết nằm trong cuộc sống. Cho em nỗi chết là cho tất cả những niềm hoang mang, khắc khoải, đau thương còn lại, nghĩa là chút tình yêu còn lưa trong từng nhịp đập yếu ớt của trái tim đã cạn dần cạn mòn hết những mùa xuân.

oOo

Nói như thế, không có nghĩa là khuyến khích ca nhân đổi lời tác giả. Chính Thái Thanh nhiều khi hát sai, ví dụ như trong Về Miền Trung : Tan thân thiếu phụ, nát đầu hài nhi mà đổi ra thành Thương thân thiếu phụ, khóc đầu hài nhi là hỏng, nhưng người nghe dễ nhận ra và điều chỉnh. Nhiều chỗ sai, người nghe không để ý.

Ví dụ câu này có thể xem như là một trong những câu hay nhất của Phạm Duy và tân nhạc Việt Nam :

Về miền Trung còn chờ mong núi về đồng xanh

Một chiều nao đốt lửa rực đô thành

Thái Thanh hát một chiều mai đốt lửa... là đánh vỡ một viên ngọc quý. Chữ nao mơ hồ, phiếm định, chỉ là giấc mơ ánh sáng, màu sắc của nghệ sĩ -mà Nguyễn Tuân gọi là cơn hỏa mộng- nó chỉ là hình ảnh nghệ thuật, chứ Phạm Duy mong chi ngày đốt kinh thành Huế? Có lẽ ông còn giữ trong ký ức câu thơ của Chính Hữu (1) trong Ngày Về mà ông rất thích :

Bỏ kinh thành rừng rực cháy sau lưng

Chúng ta có nhiều nghệ sĩ sáng tác những nhạc khúc tuyệt vời với ngôn ngữ thi ca, nhưng chúng ta có ít ca sĩ thấm được hồn thơ trong nhạc bản. Ðạt tới tuyệt đỉnh trong ngành trình diễn, Thái Thanh nắm vững cả bốn vùng nghệ thuật : nghệ thuật truyền cảm, nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật thi ca và nghệ thuật phát âm tiếng Việt, giữ địa vị độc tôn trong tân nhạc Việt Nam gần nửa thế kỷ: Thái Thanh chẳng cần làm thơ cũng đã là thi sĩ.

Giữa những phôi pha của cuộc đời, tàn phai của năm tháng, giọng hát Thái Thanh vang vọng trong bầu trời thơ diễm tuyệt, ở đó đau thương và hạnh phúc quyện lẫn với nhau, người ta cho nhau cả bốn trùng dương và mặc tàn phai, mặc tháng năm, tiếng hát vẫn bay bổng ở chốn trần gian hoặc ở vô hình.

Thụy Khuê – Paris

NHỮNG TÊN GỌI ĐẤT GIA ĐỊNH XƯA

SÔNG NÚI MIỀN NAM :

GIA ĐỊNH THÀNH XƯA

Đất Nam Việt mà trước đây người ta còn gọi là Nam Kỳ, người Tây Phương khi đặt chân lên xứ mình hồi thế kỷ 16, 17 đã gọi bằng tên Cochinchine hay Đằng Trong. Còn nhỏ hơn có đất Gia Định, và ở đất này khi xưa có rất nhiều địa danh.

Người ta cũng gọi xứ này là Đồng Nai (đồng có nhiều nai), Lộc Dã, Lộc Đồng (cùng một nghĩa) hoặc Nông Nại, là nơi mà người Việt mình đặt chân lần đầu tiên năm 1623. Sử chép rằng Chúa Sãi Vương Nguyễn phúc Nguyên (1613-1635), đã gả Công chúa Ngọc Vạn, lệnh ái thứ 2, cho vua Cao Miên Chei Chetta II (1618-1626) từ Xiêm trở về lên ngôi báu và đóng đô tại Oulong.

Nhờ sự giao hiếu ấy vua Cao Miên mới cho phép người Việt di dân vào Nam Bộ. Chúng ta đã đặt đầu cầu tại Mô Xoài(gò trồng xoài), gần Bà Rịa đúng vào năm 1623 (Theo Claude Madrolle -Indochine du Sud,Paris 1926).

Cũng trong năm này một phái đoàn ngoại giao đã được cử sang Oulong để thương thuyết sự nhượng lại Sở Thuế quan Saigon.Về sau đến đời vua Réam Thip Dei Chan(1642-1659),em vua trước,vị hoàng hậu Việt Nam nói trên đã xin vua Cao Miên cho phép người Việt được quyền khai thác xứ Biên Hòa năm 1638.

Sở dĩ vua Cao Miên đã giao hảo với nước ta và tự ý nhân nhượng một phần nào,là vì muốn cậy thế lực của triều đình Huế để chế ngự ảnh hưởng của người Xiêm.Như vậy chúng ta đã đến sinh cơ, lập nghiệp,khai khẩn đất đai Nam Bộ là do sự thỏa thuận hoàn toàn của đôi bên,chứ tuyệt nhiên không phải là một sự xâm nhập. Lại nữa nhờ uy thế của chúng ta mà Cao Miên đã đối phó hiệu quả với những tham vọng của nước Xiêm và bảo toàn được nền độc lập của mình.

Nói tóm lại sự hiện diện của chúng ta từ hơn 800 năm nay tại Nam bộ rất là hợp tình,hợp lý và hợp pháp. Nói một cách khác công cuộc Nam tiến của tổ tiên ta là một sự kiện lịch sử bất di bất dịch,nó hiển nhiên cũng như cuộc Tây tiến của người Âu Châu tại Mỹ Quốc và cuộc Đông tiến của người Anh tai Úc Châu.

Con sông Đồng Nai đã đưa ta đến tỉnh Biên hòa (hòa bình ở biên cương), một trấn đã được sáp nhập vào nước ta năm 1653. Khoảng đất này xưa được gọi là Đông phố đúng ra là Giãn phố vì hai chữ Đông và Giãn viết theo chữ Hán hơi giống nhau.Về sau nơi này đã được triều đình Huế giao cho bọn người Trung Hoa gốc Quảng Tây di cư theo hai tướng Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình đến khai khẩn và lập nghiệp năm 1679 tại Cù lao Phố,sau khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ.

Miền trên Biên hòa thì có Hố Nai (hố sập nai), Trảng Bom (trảng là một đồi bằng phẳng và rộng rải có trồng nhiều cây chum-bao hom đọc trạnh thành bom, sinh ra một thứ dầu gọi là chaulmougra, dùng để trị phong hủi. Phía dưới là nhà thương điên Nguyễn Văn Hoài, một nhà bác học đã quả quyết với chúng tôi rằng trong một đời người,số giờ mà chúng ta điên cuồng cộng lại ít nhất cũng được vài năm !

Biên Hòa là quê hương của Đỗ Thành Nhân, một trong Gia định Tam hùng. Hai người kia là Võ Tánh quê ở Gò Công và Nguyễn Huỳnh Đức quê ở Tân An. Biên hòa là xứ bưởi bòng ngon ngọt có tiếng nên mới có câu ca dao :

Thủy để ngư, thiên biên nhạn

Cao khả xạ hề,  đê khả điếu,

Chỉ kích nhơn tâm bất khả phòng

E sau lòng lại đổi lòng,

Nhiều tay tham bưởi chê bòng lắm anh

Chúng ta đi ngang qua trước ngọn núi Châu Thới, cao 65m trên có ngôi chùa Hội sơn, được trùng tu vào đầu thế kỷ thứ 19,  nhờ công đức sư Khải Long :

Bao giờ cạn lạch Đồng Nai,

Nghiêng chùa Châu Thới mới sai lời nguyền !

Rồi đến Thủ Đức với những hồ bơi nước suối,và những gói nem ngon lành.Thủ nhắc lại ngày xưa có những chức quan văn như thủ bạ,thủ hô lo về việc thuế má và nhơn thế bộ. Do đó mà có những địa danh như Thủ Thiêm, Thủ Thừa, Thủ Ngữ v.v.. để nhắc lại tên mấy ông thủ bạ và thủ hộ ngày trước. Miền Thủ Đức lại nhắc cho ta hai câu đối “tréo dò” :

Xứ Thủ Đức năm canh thức đủ

Kẻ cơ thần trở lại Cần Thơ

Có lẽ vì năm canh thức đủ mà có kẻ than thân trách phận tự mình sánh với cái nem Thủ Đức lột trần :

Người ta năm chị bảy em

Tôi đây như thể chiếc nem lột trần

Phía tay mặt là Gò Vấp, xưa kia là một ngọn đồi trồng cây vấp. Thứ cây này xưa kia được coi như thần mộc, yểm hộ cho dân tộc Chàm. Dã sử thuật lại rằng vào đời vua Chiêm cuối cùng là Pô Romé (1627-1651),vua này muốn vừa ý một ái phi người Việt đã ra lệnh đốn cây Kraik (vấp) cổ thụ rợp bóng nơi vườn ngự uyển. Hơn một trăm thị vệ lực lưỡng không sao hạ nổi vì vết rìu mỗi lần bổ xong thì khép lại ngay. Nhà vua tức giận cầm lấy rìu hạ xuống một nhát,tức thời một tiếng rên rỉ vang lên và cây gục xuống giữa một vũng máu. Và cũng từ đó vận khí nước Chiêm suy dần cho đến ngày tàn tạ.

Bây giờ ta vào thành phố Saigon, nơi mà hơn 300 năm về trước (1674) tiền đạo quân ta lần đầu tiên đã đặt chân tới,mang theo khẩu hiệu : “Tĩnh vi nông, động vi binh”. Quân ta không phải tư động mà đến, chính là do lời yêu cầu khẩn thiết của nhà đương cuộc hồi bấy giờ.

Họ khai khẩn đất đai với sức dẻo dai sẵn có, đào sông ngòi trong vùng đất thấp và đây đó khắp nơi,xây dựng thành trì kiên cố. Một trong những công tác quân sự ấy do tướng Nguyễn Đức Đàm xây năm 1772, rồi đến thành trì Phan An xây năm 1790, kế đến là thành Gia Định xây năm 1836. Những thành ấy xây đắp với mấy vạn nhân công và bao nhiêu tài trí như đã ghi trong câu ngạn ngữ :

Dân đất Bắc / Đắp thành Nam :

Đông đã là đông ! / Sầu Tây vòi vọi !

Chúng ta đang ở trung tâm thành phố Saigon (Sài là củi, gòn là bông gòn) chuyển sang chữ nho thành Sài-côn là củi gòn, vì chữ nôm gòn viết là Côn, như Ông Trịnh Hoài Đức (1765-1825) đã ghi trong tác phẩn Gia Định Thống Chí mà hiện nay chúng còn một bản dịch ra pháp văn của ông Gabriel Aubaret.

Theo một số người khác thì Saigon có lẽ do chữ Đê Ngạn đọc thành Tai Ngon hay Thay gon theo giọng Quảng Đông hay Tingan theo giọng Triều Châu,dùng để chỉ thành phố do người Tàu lập nên năm 1778 sau khi họ phải rời bỏ Biên hòa vì chiến sự giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn,để nhờ sự bảo hộ của quân đội chúa Nguyễn đóng tại Bến Nghé.

Nguyên ủy xa hơn cả có lẽ là sự chuyển âm của một danh xưng tối cổ Preikor,có nghĩa là rừng gòn,một loại cây hiện nay còn trồng ở Thủ Đô.

Theo Ông Verdeille thì Saigon có thể là hai chữ nho : Tây Cống đọc chạnh ra,tên này ám chỉ rằng thành phố là phần đất xưa kia đã được các vị vua phía Tây cống hiến cho ta. Ta nên lưu ý rằng tên Saigon chỉ được dùng trong các văn kiện của Pháp kể từ 1784 trở đi mà thôi.

Còn danh xưng của Chợ-lớn mà người Tây đọc liền lại là Cholon, nó chỉ ngôi chợ xưa kia nằm trên địa điểm hiện tại của Sở Bưu điện Chợ-lớn kéo dài tới tận Đại Thế Giới cũ. Chợ này lập song song với chợ nhỏ hiện nay còn tồn tại với tên chợ Thiếc ở phía trường đua Phú Thọ. Về sau Chợ-lớn được dời tới Chợ-lớn mới do nhà đại phú Quách Đàm xây tặng, tượng họ Quách vẫn còn ở giữa đỉnh chợ Bình Tây

Sự biến đổi địa âm dạng của địa danh Saigon đã tùy sự hiện diện liên tiếp của những người quốc tịch khác nhau như Preikor (rừng gòn),Tai- Ngon hay Thầy gòn của người Trung Hoa mà ta đọc là Đê-ngan,người phương tây dùng chữ la mã ghi là Saigon từ năm 1784.

Hồi xưa tên Saigon chỉ áp dụng cho khu vực Chợ lớn hiện thời, còn chính Saigon bây giờ thì khi ấy là Bến Nghé (theo Trịnh Hoài Đức, theo các nhà hàng hải Âu Mỹ, theo bản đồ do ông Trần Văn Học vẽ ngày mùng 4 tháng chạp năm Gia-long thứ 14 (1815) ghi trên vùng Chợ-lớn hiện tại chỗ nhà thương Chợ-Rẫy ba chữ Saigon xứ, khoảng gần Cây Mai và Phước Lâm) Khu Saigon cao, nằm phía Đồn Đất tức là cái đồn thâu hẹp năm 1836 sau khi Lê Văn Khôi nổi loạn, chắc đã có người ở từ thời thượng cổ, chứng cớ là những khí giới và đồ dùng bằng đá mài tìm thấy khi đào móng nhà thờ Đức Bà. Khu thấp thường gọi là Bến Nghé hay bến Thành.

Bến Thành là cái tên ở gần hào thành Gia-Định, nguyên trước có cái rạch nối liền hào thành với sông Bến-Nghé và có cái chợ gọi là chợ Bền Thành. Cái rạch ấy về sau lấp đi thành Đại lộ Nguyễn Huệ và đến bây giờ có câu ca dao như sau :

Chợ Bến Thành đèn xanh đèn đỏ,

Anh nhìn cho tỏ thấy rõ đèn màu;

Lấy em anh đâu kể sang giàu,

Rau dưa mắm muối có nơi nào hơn em !

Bến Nghé theo Trịnh Hoài Đức là cái bến uống nước của trâu con, do một tên rất cũ là Kompong Krabey (bến trâu) đã được Việt hóa. Nhưng ông Đốc phủ Trần Quang Tuất (1765-1825) cho rằng nơi đây có lắm con cá sấu chúng thườn kêu nghé nên gọi là Bến Nghé – Trịnh hoài Đức dịch là” Ngưu-tân” Bến Nghé là cái bến sông Saigon có tên là sông Bến Nghé,cũng có tên là Tân Bình Giang hay là Đức Giang lấy nguồn ở Ban Bót(theo gia-định thống chí) .Còn cái rạch Bến nghé nối dài bởi kinh Tàu -hủ (Arroyo chinois) ngày xưa có tên là Bình Dương và chỗ nó chảy ra giáp sông Bến Nghé gọi là Vàm Bến Nghé.Bến Nghé tức là Saigon và khi ta nói Đồng Nai-Bến Nghé tức là nói đến Nam Bộ vậy.

Phía đông Saigon có một cái kênh gọi là rạch Thị Nghè hay là rạch Bà Nghè. Bà tên là Nguyễn Thị Canh, con gái thống suất Nguyễn Cửu Văn tức Văn Trường Hầu, đẹp duyên với một ông nghè. Để cho chồng bà tiện đường qua rạch hàng ngày vào làm trong thành, bà cho dựng một chiếc cầu mà dân sự có thể dùng được. Để tỏ lòng nhớ ơn một bậc nữ lưu, họ đã gọi cầu ấy là cầu Bà Nghè. Đến khi Tây đến đánh thành Saigon,pháo hạm Avalanche tiến vào rạch này đầu tiên nên họ mới gọi là Arroyo de l’Avalanche.
Trên rạch Bến Nghé hồi xưa có nhiều chiếc cầu ván dựng tạm cho người qua lại. Chiếc cầu nổi tiếng hơn cả là cầu Ông Lãnh, được xây nhờ công ông Lãnh binh, thời tả quân Lê Văn Duyệt. Còn những chiếc cầu khác là Cầu Muối, Cầu Khóm (thơm), Cầu Kho và Cầu học (giếng học). Về các công sự thì có :

Chợ Bến Thành (mới) xây năm 1914 trùng tu năm 1950

Nhà thờ Đức Bà khởi công năm 1877, hoàn thành năm 1883

Sở Bưu Điện và Tòa án cất năm 1883

Dinh Norodom khởi công ngày chủ nhật 23-2-1868 với sự tham dự dông đảo của dân chúng. Thủy sư Đô Đốc De La Grandìère với sự hiện diện của kiến trúc sư Hermitte từ HongKong tới,đã đặt viên đá đầu tiên vuông vức mỗi bề nửa mét, trong đó đựng một hộp chì chứa nhũng đồng tiền vàng và bạc dập hình vua Napoléon III. Đức Giám mục Miche, cai quản địa phận,với một số đông con chiên,đã ban phép lành và đọc một diễn văn lời lẽ cao quý đã làm cử tọa đặc biệt chú ý. Công cuộc xây cất trên một khoảng đất rộng 14 mẫu tây đã phải dùng tới hai triệu viên gạch, và cái móng dày tới 3,5m tốn mất 2.436 thước khối đá xanh Biên Hòa.Công tác đã hoàn thành năm 1875 và người đầu tiên đến ở trong dinh đó là Thủy sư Đô Đốc Roze.Sau 84 năm Pháp thuộc,ngày 7-9-1954 Đại tướng Ely, Cao ủy Pháp đã trả dinh thự này cho Chính phủ Việt Nam thời bấy giờ.
Tòa Đô Sảnh (1901-1908) trên có một gác chuông do họa sĩ Ruffier trang trí mặt tiền
Viện Bảo Tàng Quốc Gia xây năm 1927, khánh thành ngày 1-1-1929 ,bị vụ nổ nhà thuốc súng làm hư hại ngày 8-3-1946 và được hoàn lại chính phủ Việt Nam ngày 19-9-1951 thu thập tới 4.000 cổ vật đã kê thành mục lục và trình bày trong 14 gian phòng.

Vườn Cầm Thảo (Sở Thú) tương tự với rừng Vincennes ở Pháp,được lập năm 1864.Sau khi đã san bằng,việc đứa thú tới nhốt nơi đó hoàn tất năm 1865.Ngày 28-3-1865 nhà thực vật học Pierre đảm nhiệm việc điều khiển vườn Cầm Thảo Saigon và ngày nay nhiều giống cây ở xứ ta còn mang tên nhà bác học ấy.

Đây đó ta còn gặp một số địa danh nguồn gốc Tây Phương như : Ba-Son (Arsenal) trong có một bến sửa tàu (bassin de radoub) xây bằng ximăng cốt sắt từ năm 1858,và bến tàu nổi được hạ thủy tháng giêng năm 1866. Chữ Ba-Son do chữ Bassin mà ra.
Vườn Bờ Rô (do chữ Jardin des Beaux Jeux) hay là vườn Ông Thượng, xưa kia là hoa viên của Tổng Trấn Lê Văn Duyệt, nay là vườn Tao Đàn.

Dakao là biến danh của Đất Mộ (đất của lăng) Lăng-tô là biến danh của Tân thuận, tên một làng mà dân Saigon thường đến hóng mát (pointe des flaneurs).

Bây giờ chúng ta rời Saigon xuống đò Thủ-Thiêm qua bên kia sông xem địa phận đang trù định một chương trình kiến thiết rộng lớn,để biến nơi này thành một khu vực nguy nga tráng lệ.

Con đò Thủ-Thiêm ngày xưa đã hấp dẫn một số đông những chàng trai trẻ :

Bắp non mà nướng lửa lò,

Đố ai ve được con đò Thủ-Thiêm.

nhưng một ngày kia chàng trai phải ra đi trong khói lửa chiến tranh,đến khi trở về thì than ôi :

Ngày đi trăm hoa hẹn hò,

Ngày về vắng bóng con đò Thủ-Thiêm

Từ Thủ-Thiêm chúng ta thẳng tiến đến một nơi gọi là Nhà Bè hay là Ngã Ba Sông Nhà Bè, nơi mà con sông Đồng Nai gặp con sông Saigon cũng gọi là sông Bến Nghé. Ngày xưa ở chỗ ấy ông Thủ khoa Hườn có lập nhà bè để bố thí lúa gạo cho những kẻ lỡ đường và ngày nay còn vọng lại mấy câu hò tình tứ của cô lái miền quê :

Nhà Bè nước chảy chia hai:

Ai về Gia định Đồng Nai thì về !

Rời Nhà Bè, chúng ta trở lại Saigon để đi về miền Bà Chiểu, một vùng ngoại ô trù mật ở phía đông, chúng ta phải đi qua một cái cầu gọi là Cầu Bông, vì xưa kia ở gần đó Tả Quân Lê Văn Duyệt có lập vườn hoa rất ngoạn mục.

Bà Chiểu tỉnh lỵ Gia định,nổi tiếng về lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt (1764-1832),một vĩ nhân được người Việt và người Tàu tôn thờ như một vị thần thánh.

Theo Trương Vĩnh Ký thì Bà Chiểu là một trong 5 bà vợ của ông Lãnh Binh đã xây cái cầu ông Lãnh. Theo phương pháp kinh tế tự túc mà các cụ ngày xưa thường áp dụng, ông đã lập ra 5 cái chợ, giao cho mỗi bà cai quản một cái : Bà Rịa (Phước Lễ), Bà Chỉểu (Gia-Định), Bà Hom (Phước Lâm), Bà Quẹo (phía Quán Tre) và Bà Điểm (phía Thụân Kiều). Riêng chợ Bà Điểm gần làng Tân thới quê hương của Cụ Đồ Chiểu tác giả Lục Vân Tiên, thi phẩm đầu giường của đồng bào Nam bộ là nơi bán trầu ngon có tiếng ở Miền Nam. Món trầu là đầu câu chuyện,cho nên bao nhiêu chuyện,hay dở gì cũng do miếng trầu trao cho nhau mà sinh ra cả :

Trồng trầu trồng lộn dây tiêu

Con theo hát bội mẹ liều con hư !

Từ Bà Chiểu chúng ta trở lại Saigon để rẽ về Phú Nhuận, qua Cầu Kiệu hay là Cầu Xóm Kiệu là nơi xưa kia trồng rất nhiều hành kiệu. Phú-Nhuận (giàu sang và thuần nhã) là nơi còn nhiều cổ tích như : Lăng Đô-đốc Võ Di Nguy, mất tại cửa bể Thị Nại năm 1801. Lăng Trương Tấn Bửu và lăng Võ quốc Công tức là hậu quân Vũ Tính, nơi đây vua Gia-Long có cho trồng 4 cây thông đưa từ Huế vào để tỏ lòng mến tiếc.Võ Tánh là một trong Gia-Định tam hùng mà dân chúng nhắc tới trong những điệu hò giao duyên. Theo thường lệ : Người con gái lên tiếng trước :

Nghe anh làu thông lịch sử,

Em xin hỏi thử đất Nam-Trung :

Hỏi ai Gia-Định tam hùng,

Mà ai trọn nghĩa thủy chung một lòng ?

Người con trai liền đáp lại :

Ông Tánh, Ông Nhân cùng Ông Huỳnh Đức,

Ba Ông hết sức phò nước một long

Nổi danh Gia-Định tam hùng:

Trọn nghĩa thủy chung có Ông Võ Tánh,

Tài cao sức mạnh,trọn nghĩa quyên sinh,

Bước lên lầu bát giác thiêu mình như không !

Về phía Tân Sơn Hòa có Lăng Cha Cả là một cổ tích kiến trúc Việt Nam xưa nhất ở vùng Saigon. Nơi đây mai táng Đức Giám Mục Bá-Đa-Lộc, mất tại cửa Thị Nại năm 1799.

Rời khỏi ngoại ô Saigon chúng ta thuê một chiếc thuyền con về vùng Lái-Thiêu (tức là ông Lái gốm họ Huỳnh đã thiêu nhà vì say rượu) để thăm vườn trái :

Ghe anh Nhỏ mũi tráng lường

Ở trên Gia-Định xuống vườn thăm em.

Nơi đây quy tụ rất nhiều trái ngon đặc biệt như : dâu da,thơm,bòn bon,mít tố nữ,măng cụt và nhất là sầu riêng (Durion) là giống cây từ Mã-Lai đưa vào Cây Sầu riêng thân cao lá ít,trái có gai bén nhọn kinh khủng,cho nên trời chỉ cho phép nó rụng khi đêm khuya thanh vắng mà thôi!Đồng bào Nam-bộ liệt nó vào hàng đầu trong các loài trái,vì nó có đủ năm mùi hương vị đặc biệt như quả lê Trung hoa.Những người xa lạ phải chịu nhẫn nại một thời gian mới thông cảm và khi đã thông cảm rồi thì thèm muốn như mê say,chỉ trừ anh học trò thi rớt :

Có anh thi rớt trở về

Bà con đón hỏi nhiều bề khó khăn

Sầu riêng anh chẳng buồn ăn,

Bòn bon, tố nữ anh quăng cùng đường !

Tại vùng Lái Thiêu,có một ngôi nhà thờ cổ kính xây từ thế kỷ XVIII trên ngọn đồi xinh tươi,chung quanh có nhiều lò gốm,lò sành và một trường dạy học cho trẻ em câm điếc với một phương pháp riêng biệt.

Đến Búng chúng ta không quên đi thăm chùa Phước Long ở vùng An-Sơn, có ông huề thượng thâm nho,thường ra nhiều câu đối bí hiểm cho những khách nhàn du :

Rượu áp sanh(absinthe) say chí tử

Có người đã đối lại như sau :

Bóng măng cụt mát nằm dài

Trong chùa ông huề thượng có ghi hai câu :

Cúng bình hoa, tụng pháp hoa,hoa khai kiến Phật.

Dâng nải quả,tu chánh quả,quả mãn thông Thần

(sưu tầm bài viết của ông Tân Việt Điêu trong Văn hóa nguyệt san số 33 năm 1958)

Phú Lê post (theo Hồ Đình Vũ)

CHUYỆN “THANH NGA – THÀNH ĐƯỢC”

NHỮNG NGƯỜI TÌNH CŨ

CỦA THANH NGA

Ông Các, vệ sĩ của Thanh Nga khai rằng, khi chiếc xe chở hai vợ chồng chạy đến ngã sáu Sài Gòn trong đêm xảy ra vụ án, bỗng thấy phía trước có một chiếc xe cùng hiệu Volkswagen với họ chạy chầm chậm, trước mặt, hai người ngồi trên đó nhìn lui nhìn tới, ý chừng muốn dò xét điều gì.

Khi ông Lân chở Thanh Nga và con trai vượt lên khỏi chiếc xe khoảng 20m để quẹo về nhà mình ở đường Ngô Tùng Châu (nay là đường Lê Thị Riêng, Q1) rồi nhìn lại, vẫn thấy chiếc Volkswagen nọ bám sau đuôi. Những tình tiết đáng ngờ như thế đã khiến lực lượng điều tra ráo riết tiến hành soát xét hàng nghìn chiếc Volkswagen đang lưu hành trên địa bàn lúc bấy giờ. Nhưng rốt cuộc, chiếc Volkswagen trên là xe của Đài Tiếng nói Việt Nam II chở phát thanh viên đi công tác về.

Ban chuyên án cũng phải sàng lọc hơn 3.000 người lai Tây có mặt ở thành phố chỉ vì một trong nghi phạm giết Thanh Nga là lai Pháp. Giai đoạn đầu của cuộc điều tra đã thu thập các chi tiết về đời sống tình cảm của Thanh Nga và không loại trừ khả năng cô bị bắn chết do ghen tuông, mâu thuẫn trong tình yêu, nên ban chuyên án đã hướng sự chú ý đặc biệt tới những người chồng và những người tình cũ của Thanh Nga.

Thanh Nga là vợ của nghệ sĩ Thành Được (ở Đoàn Cải lương Sài Gòn I) trước khi lấy ông Phạm Duy Lân. Theo tài liệu của Tổng cục Cảnh sát, Thành Được có một thời yêu say đắm Thanh Nga nhưng không được yêu lại. Ông vẫn đeo đuổi và dùng cả thế lực ngoài đời để lôi kéo người đẹp trên sân khấu về với mình, cho đến lúc Thanh Nga ưng chịu. Dẫu đã nên vợ nên chồng nhưng cá tính hai người vẫn xung khắc nặng nề và cuối cùng chia tay. Khi đã ly thân, Thành Được vẫn mời Thanh Nga đi biểu diễn nhưng bị từ chối. Mặc dù gặp phải thái độ lạnh nhạt của cô song Thành Được cũng khó mà nung nấu ghen tức năm này qua năm khác đến nỗi nhúng tay vào cái chết của người mình từng yêu được.

Sau này, nghệ sĩ Thanh Kim Huệ trong một chuyến du lịch sang Mỹ gặp Thành Được bên đó mới hỏi ông rằng : “Nay đã qua ngưỡng thất thập cổ lai hy rồi, ngẫm lại trên đường tình anh thấy thương ai nhất ?”. Thành Được đáp : “Đến bây giờ, tôi thương Thanh Nga nhất, cô ấy là một nghệ sĩ có tâm tính hiền lành, trong sáng”. Tên ông được loại ra khỏi các đối tượng bị nghi ngờ và ban chuyên án hướng “ống kính nghiệp vụ” đến một gương mặt khác từng là sĩ quan cấp tá chế độ cũ, ông Nguyễn Minh Mẫn, cũng là chồng cũ Thanh Nga.

Ông Mẫn thương Thanh Nga lúc bà đã sáng chói trên sân khấu cải lương. Ngoài đời, Thanh Nga duyên dáng và có sức thu hút. Tuy ông Mẫn không phải là nghệ sĩ, nhưng ông có tâm hồn tài tử. Theo hồ sơ vụ án, do vung tiền tiêu pha tới mức thâm lạm công quỹ nên phải ngồi tù. Cưới Thanh Nga rồi tan vỡ. Thanh Nga đi lấy chồng khác, ông không tránh khỏi buồn rầu, ghen tức và trả thù ? Khi được xét hỏi, ông khai báo khớp thời gian và nơi ở của mình trong đêm xảy ra cái chết của Thanh Nga, xác minh không phải là thủ phạm, ông bảo : “Đã lâu không còn lui tới và cũng chẳng tức tối, để tâm oán ghét gì Thanh Nga nữa”.

Và những người khác như thợ chụp ảnh Trần Triệu Bình (có mặt trong lễ khâm liệm và lễ tang vợ chồng Thanh Nga), Chánh Hồng Phước (tức Phước Tây lai – nhân viên hậu trường của Đoàn Cải lương Thanh Minh bị đuổi việc), Trần Phương Quốc (là người lai Pháp sống tại một ngôi chùa ở đường Nơ Trang Long, Bình Thạnh) và một nghệ sĩ nổi tiếng khác cũng thành đối tượng nghi vấn. Nhưng trước sau tất cả 7 người trong danh sách tình nghi đã giết Thanh Nga bị loại bỏ hết.

Thanh Nga tên thật là Nguyễn Thị Nga, theo đạo Phật, pháp danh Diệu Minh, sinh ngày 31/7/1942 tại Tây Ninh. Chồng bà, ông Phạm Duy Lân, tức Hà Duy, sinh năm 1923. Theo lời một nữ nghệ sĩ thân thiết với bà, Thanh Nga là người tin số mệnh và đa cảm. Bà và ông Lân không sinh cùng ngày, nhưng chết cùng giờ, thậm chí cách nhau chỉ vài phút, cùng một chỗ, một tình cảnh và một hung thủ lạ mặt, cứ y như ứng với câu thơ tiền định :

Anh và em sống giữa cõi mây này.

Chẳng có lúc nào chẳng nhớ nhau.

Như mây bay mãi, bay bay mãi.

Sinh chẳng cùng năm – nguyện chết cùng ngày

(Theo Thanh Niên)

THÀNH ĐƯỢC NÓI GÌ

VỀ THANH NGA

Tuy rằng có vai trò, nhưng vì là cháu của bầu gánh nên Thành Ðược không được lãnh lương như bao nhiêu đào kép khác, mà chỉ có tiền cà phê cà pháo và tiền của khán giả cho, nhờ vai trò “đi ăn xin” được khán giả thương tình cho tiền (có lẽ nhập vai giống ăn xin quá).

Thời đó gánh hát Thanh Cần di chuyển bằng ghe, có đò máy vòng và ông Hai Sang chủ đò máy cũng đồng thời là người bán vé hát, ông đã giúp Thành Ðược bằng cách chen lẫn trong hàng khán giả, tới màn Quách Hải Thọ đi xin ăn, đờn rao buồn, Thành Ðược ca bản Hoài Tình thì ông làm “cò mồi” quăng một cắc bạc lên sân khấu. Thấy vậy mấy bà già cũng bắt chước quăng lên và mỗi đêm ít nhứt cũng được 15 đồng. Thời còn xài tiền xu tiền cắc mà được 15 đồng thì thật là quý, hèn gì không được lãnh lương cũng đúng thôi ! Lúc đó Thành Ðược ca vọng cổ chẳng ai khen, mà được hoan nghinh nhờ bản Hoài Tình, bản này mà dùng cho đi ăn xin thì tuyệt, với câu mở đầu thường là : “Bà con cô bác làm ơn, bố thí cho tôi một chén cơm thừa…”

Ðến lúc đoàn Thanh Cần lưu diễn ở Nha Trang thì cuộc đời Thành Ðược rẽ sang một khúc quanh, mà không biết may hay rủi, bởi từ một nghề trôi nổi rày đây mai đó, gạo chợ nước sông, lại chưa chính thức được lãnh lương, anh trở thành con của một người khá giả. Tại đây có Bà Chín làm nghề thầu hoa chi các chợ, đã nhận Thành Ðược làm con nuôi, bà này có chồng Tây giàu có, và lúc đoàn hát rời khỏi Nha Trang thì anh ở lại làm sếp mấy người góp tiền chỗ ở chợ. Thay đổi nghề không biết lên hay xuống cấp, nhưng trước mắt là con đường nghệ thuật bị gián đoạn, không còn lên sân khấu mỗi đêm… làm ăn mày.

Khoảng đầu thập niên 1950 Thành Ðược đã trưởng thành, thì đất nước đang thời kỳ chiến tranh ác liệt giữa Pháp, Việt Minh và chính quyền Quốc Gia của Thủ Tướng Trần Văn Hữu ban hành luật động viên, thanh niên tuổi từ 18 đến 25 và từ 26 đến 33 lần lượt bị gọi đi lính. Thành Ðược nằm trong lớp tuổi 18-25 tức là lớp tuổi bị gọi trước, và không biết hoàn cảnh thế nào, có bị chi phối bởi sắc luật động viên mà Thành Ðược vào lính “gạc” ở địa phương, giống như lính Dân Vệ Ðoàn sau này.

Năm 1954 Hiệp Ðịnh Genève ra đời, hòa bình lập lại trên đất nước, lính viễn chinh Pháp xuống tàu về nước và dĩ nhiên các lính thuộc bán quân sự cũng giải tán, muốn tiếp tục đi lính thì tình nguyện vào Quân Ðội (nếu được tuyển). Thành Ðược còn vương sự nghiệp cầm ca, tổ nghiệp cải lương đã không bỏ quên Thành Ðược, và anh về Sài Gòn trở lại đoàn hát cũ. Chẳng bao lâu thì ông Hai Sang chủ đò máy, làm trung gian điều đình với gánh Vĩnh Viễn của bầu Ba Cầm để Thành Ðược cộng tác với hợp đồng đàng hoàng, chớ không phải hát khơi khơi như gánh Thanh Cần của người chú.

Trong thời gian hát cho gánh Vĩnh Viễn thì đoàn Thúy Nga mời về cộng tác, gánh Thúy Nga giao cho vai kiếm sĩ Tô Ðiền Sơn, tức vai chánh trong tuồng Khi Hoa Anh Ðào Nở của soạn giả Hà Triều Hoa Phượng. Nhờ vai trò này mà Thành Ðược nổi tiếng, đêm nào mở màn cũng chật rạp, bà bầu Thúy Nga tiền vô đầy hầu bao đã mua cho Thành Ðược chiếc xe Huê Kỳ hiệu Nash mang số NBV-575, chiếc xe hơi đầu tiên của chàng nghệ sĩ mà về sau ngoài việc nổi tiếng ca hay diễn giỏi trên sân khấu, lại còn nổi tiếng “chịu chơi” mà chơi xe là một vậy.

Trên đây là khái quát về tiểu sử của Thành Ðược, còn nói về chuyện chàng ta “có gì” với Thanh Nga không, thì vào khoảng 1966-1967 lúc Thanh Nga chưa có chồng, có lần Thành Ðược tâm tình với các ký giả kịch trường rằng : “Giữa tôi và Thanh Nga có nhiều điểm tương đắc, chúng tôi rất thân nhau, đó là tình thân của đào chánh kép chánh chung đoàn, nghệ sĩ cảm thông cùng nghệ sĩ. Trước kia Thanh Nga đóng chung với kép chánh không ở tuổi trang lứa với cô, ngoài sân khấu cô phải đóng vai người yêu, nhưng trong thâm tâm cô coi đối tượng kia có cái gì ngăn cách. Còn tôi không lớn tuổi hơn Thanh Nga quá nhiều, chúng tôi cùng đóng vai chánh trong tất cả vở tuồng, ai cũng cho rằng xứng đào xứng kép”.

Thành Ðược còn nói rằng làn hơi ca của anh thì trước thế nào, sau thế nấy, không nhái giọng ca của ai và Thanh Nga cũng vậy, vẫn giữ nét độc đáo, không chịu chạy theo ai, không bắt chước ai cả và càng ngày nghề cô càng già dặn thêm lên, chớ không có tình trạng cô Thanh Nga hôm nay cách xa cô Thanh Nga thuở trước.

Cũng có lần Thành Ðược kể lại cho các ký giả kịch trường nghe, anh đi nhiều gánh hát, ít thấy gánh nào tình cảm gia đình nhiều như nội bộ gánh Thanh Minh Thanh Nga, các nghệ sĩ gọi bà bầu Thơ bằng chị, họ coi Thanh Nga như đứa cháu ruột, và ngược lại cô cũng xem họ như các chủ nghệ thuật, cô quên mình là con của chủ gánh hát, hoặc là đào chánh và chỉ nhìn chung quanh cô toàn là tình cảm gia đình. Ngoài sân khấu Thanh Nga rất đoan trang, điềm đạm, nhưng trong hậu trường cô không nghiêm nghị với anh chị em đồng nghiệp. Cô vui tính, có khi rất dí dỏm và nói đùa nhiều câu thật có duyên.

NÓI VỀ KÉP CẢI LƯƠNG

THÀNH ĐƯỢC

Nghệ sĩ Thành Được tên thật là Châu Văn Được sanh năm 1938 tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, cha mẹ là phú nông, có ruộng vườn tại xã Nhơn Mỹ, Kế Sách.

Thành Được học xong Tiểu học tại huyện Kế Sách, anh theo cậu ruột của anh là bầu gánh hát cải lương Thanh Cần, để học hát. Gánh Thanh Cần là một gánh hát trung ban, chuyên diễn ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ; Thành Được nhờ có giọng ca tốt, sắc diện đẹp trai, lại được diễn trên sân khấu nhà nên nhanh chóng trở thành kép chánh, được khán giả Hậu Giang ái mộ.

Năm 1957, khi bộ tứ Bầu gánh Kim Thanh : Út Trà Ôn, Kim Chưởng, Thúy Nga, Thanh Tao rã phần hùn, giải tán đoàn cải lương Kim Thanh – Út Trà Ôn, nữ nghệ sĩ Thúy Nga quy tụ một số nghệ sĩ cũ của Kim Thanh, thành lập đoàn Thúy Nga – Phước Trọng, mời nghệ sĩ Thành Được làm kép chánh với contrat 150.000 đồng trong hai năm. Vở tuồng khai trương của đoàn cải lương Thúy Nga Phước Trọng là vở Ngưu Lang – Chức Nữ của soạn giả Kiên Giang, Thành Được thủ vai Ngưu Lang, nữ nghệ sĩ Bích Sơn vai Chức Nữ, vở tuồng chỉ đạt được sự thành công tương đối. Sau đó, đoàn Thúy Nga – Phước Trọng trình diễn vở cải lương hương xa (Nhựt Bổn) ”Khi Hoa Anh Đào Nở” của Hà Triều Hoa Phượng, với kép chánh Thành Được trong vai kiếm sĩ Tô Điền Sơn. Vở tuồng Khi Hoa Anh Đào Nở đã thành công lớn về mặt nghệ thuật lẫn tài chánh.

Lúc đó, các phim hát bóng Địa Ngục Môn, Người Phu Xe của Nhựt, đang rất được khán giả ưa thích, nên sân khấu cải lương diễn tuồng Nhựt : Khi Hoa Anh Đào Nở, Đợi Anh Mùa Lá Rụng, Cầu Sương Thiếp Phụ Chàng, cũng rất ăn khách vì đáp ứng được sở thích của khán giả.

Hồi đó, trong sinh hoạt cải lương, giới báo chí kịch trường mệnh danh sự thành công của đoàn cải lương Thúy Nga – Phước Trọng là một ” hiện tượng ” đặc biệt đáng ghi nhớ. Trước nhứt là hai soạn giả trẻ Hà Triều – Hoa Phượng, mới có đôi ba tác phẩm đầu tay, đã thành công rực rở với vở ” Khi Hoa Anh Đào Nở”. Hiện tượng thứ hai là sự xuất hiện của kép trẻ Thành Được, một giọng ca thiên phú, một lối diễn xuất chửng chạc, một nghệ sĩ kế thừa phong cách diễn xuất ” Đẹp và Thật” của nghệ sĩ tiền phong Năm Châu.

Hồi đó, trong sinh hoạt cải lương, giới báo chí kịch trường mệnh danh sự thành công của đoàn cải lương Thúy Nga – Phước Trọng là một ”hiện tượng” đặc biệt đáng ghi nhớ. Trước nhứt là hai soạn giả trẻ Hà Triều – Hoa Phượng, mới có đôi ba tác phẩm đầu tay, đã thành công rực rở với vở ”Khi Hoa Anh Đào Nở”. Hiện tượng thứ hai là sự xuất hiện của kép trẻ Thành Được, một giọng ca thiên phú, một lối diễn xuất chửng chạc, một nghệ sĩ kế thừa phong cách diễn xuất ”Đẹp và Thật” của nghệ sĩ tiền phong Năm Châu. Thêm nữa, những năm từ 1955 đến 1968, có nhiều soạn giả tài danh như Hà Triều Hoa Phương, Thiếu Linh, Kiên Giang, Nguyễn Phương, Qui Sắc, Hoàng Khâm, Thu An… Những soạn giả mới nầy khai thác khả năng ca của các nghệ sĩ trẻ mới nổi lên, tạo ra một lớp diễn viên mới với phong cách diễn xuất tươi mướt hơn, với lối ca vọng cổ quyến rũ hơn lớp nghệ sĩ đàn anh trước kia.

Những nghệ sĩ trẻ thành danh từ năm 1956 đến 1968 có Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường, Tấn Tài, Út Hiền, Thanh Hải, Út Nhị, Minh Tấn, Thanh Tú, Minh Vương, Minh Cảnh, Minh Phụng, Dũng Thanh Lâm.. Phía nữ nghệ sĩ tài danh trong giai đoạn nầy ta thấy có Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Thanh Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Hồng Nga, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Bích Sơn, Ngọc Bích, Bích Hạnh, Thanh Kim Huệ, Hà Mỹ Xuân, Trương Anh Loan, Kiều Phượng Loan… vân vân…

Ba diễn viên ăn khách nhất lúc bấy giờ là các nghệ sĩ Hữu Phước, Thành Được và Hùng Cường. Trong bộ ba Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường thì Thành Được có giọng ca truyền cảm tuy kém hơn Hữu Phước một chút nhưng hơn hẳn Hùng Cường; về sắc vóc thì Thành Được đẹp trai hơn Hữu Phước. Hai diễn viên có giọng ca vàng nầy đều có khả năng hơn Hùng Cường về ca, diễn và có nhiều thuận lợi hơn vì được nhiều soạn giả tài danh đương thời cung ứng tuồng tích, giúp cho Hữu Phước và Thành Được nhiều cơ hội biểu dương tài ca diễn của mình.

Ký giả Nguyễn Ang Ca, tức soạn giả Ngọc Huyền Lan tặng biệt danh “Giọng ca vàng” cho Hữu Phước và tặng biệt danh “kép hát thượng thặng” cho Thành Được. Sau khi rã phần hùn với gánh Kim Thanh – Út Trà Ôn, năm 1957, bà Kim Chưởng tách riêng ra lập gánh hát Hoa Anh Đào – Kim Chưởng, bà bầu Kim Chưởng ký hợp đồng với nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan và kép chánh Thành Được. Bà Bầu Kim Chưởng xuất thân từ gánh hát Bầu Bòn, học nghệ có căn bản, lại là nữ diễn viên tài danh qua nhiều đoàn hát lớn nên khi bà lập gánh hát thì bà đích thân tập luyện, chỉ dạy cho nghệ sĩ trong đoàn của bà theo phong cách ca, diễn mà bản thân của bà đã được học hỏi trước đó.

Thành Được, Út Bạch Lan được cái may mắn khi mới bước chân vào nghề hát, đã được danh sư Kim Chưởng chỉ dạy. Đoàn Kim Chưởng nổi danh là ”Anh Hùng Lưu Diễn” với các diễn viên giỏi tay nghề như Thành Được, Út Bạch Lan, Kim Nên, Mộng Thu, Trường Xuân, Nam Hùng, Thanh Sơn, Hề Minh. Khán giả khó quên cặp diễn viên ”thinh sắc lưởng toàn” Thành Được – Út Bạch Lan qua các vở tuồng : Chưa Tắt Lửa Lòng, Bên Đồi Trăng Cũ, Thuyền Ra Cửa Biển, Áo Trắng Nàng Mộng Trinh, Nữa Bản Tình Ca, Người Đẹp Thành Bát Đa. . .

Trên sân khấu Kim Chưởng, đôi diễn viên tài sắc Thành Được – Út Bạch Lan yêu nhau, đưa đến cuộc hôn nhơn có hôn thơ giá thú, cô Phùng Há, chủ hôn bên đàn trai, cô Kim Chưởng, chủ hôn đàn gái. Đám cưới được tổ chức long trọng, hầu hết các ký giả kịch trường đều được mời tham dự. Báo chí đăng bài phóng sự lễ cưới và các giai thoại về cuộc tình Út Bạch Lan – Thành Được vì đây là lần đầu tiên trong giới nghệ sĩ cải lương có một cuộc hôn nhơn có hôn thơ giá thú đàng hoàng. Đoàn hát Kim Chưởng nỗi danh Anh Hùng Lưu Diễn, thường đi hát ở các tỉnh Hậu Giang, ở miền Đông, miền Trung trong nhiều tháng liền, ít khi hát ở Saigon. Và đoàn Kim Chưởng lại chuyên hát những tuồng loại hương xa, kiếm hiệp, trong khi đó thì khuynh hướng của khán giả Saigon lại đang thích coi hát những vở tuồng xã hội.

Đoàn hát Thanh Minh chuyên hát những vở tuồng xã hội, lại là một đoàn hát thường hát quanh quẫn các rạp ở Saigon nên phù hợp với ý muốn tiến thân của Út Bạch Lan và Thành Được. Hai nghệ sĩ nầy cũng nói rõ nguyện vọng của mình nên bà Kim Chưởng bằng lòng cho cả hai trả lại tiền contrat đã ký với bà, để Thành Được và Út Bạch Lan về cộng tác với đoàn Thanh Minh của bà Bầu Thơ.

Thành Được, Út Bạch Lan sáng chói hơn hết trong hai nhân vật trung tâm của vở tuồng. Nửa Đời Hương Phấn là nữa đời ngang trái cho thân phận đàn bà, cho tình yêu, cho sự đi tìm bạn tri âm và cho cả sự hy sinh cam chịu sự tan nát của nổi lòng khi Hương biết người con gái mà Tùng kết duyên lại chính là Diệu, em ruột của Hương.

Đầu năm 1962, Út Bạch Lan và Thành Được rời gánh hát Kim Chưởng để gia nhập gánh Thanh Minh Thanh Nga với contrat một triệu năm trăm ngàn đồng, lương hát một suất 1200 đồng. Đoàn nầy lưu diễn miền Trung để tập vở tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” của Hà Triều Hoa Phượng.

Năm 1961, vở tuồng Nữa Đời Hương Phấn đã lập kỷ lục ”ăn khách” nhờ tuồng hay, nhờ Thành Được, Út Bạch Lan, Hữu Phước, Việt Hùng, Ngọc Nuôi diễn giỏi, ca hay. Ấn tượng ban đầu về những nam diễn viên có giọng ca vàng như Thành Được, Hữu Phước là ấn tượng sâu đậm, khó quên. Thành Được nhờ thành công buổi ban đầu đó, nên anh thành công dể dàng thêm qua các tuồng Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng Của Biển, Bọt Biển, Chuyện Tình 17, Tình Xuân Muôn Tuổi, Rồi Ba Mươi Năm Sau, Giấc Mộng Giữa Hoàng Lăng, Tiếng Hạc Trong Trăng. . .

Quế Phượng (tổng hợp)