TỬ VI TÂY PHƯƠNG THÁNG 5/2018

GIEO QUẺ THÁNG 5/2018 CỦA BẠN

1/- BẢO BÌNH (20/1 – 18/2)

Những hy vọng và ước mơ của Bão Bình sẽ trở thành hiện thực vào ba tuần đầu tiên của tháng 5 này. Thậm chí, dù đó chỉ là những điều mới lướt qua trí óc, Bão Bình cũng có cơ hội thành công. Trong tình yêu, những quyết định quan trọng và các mối quan hệ nên được trì hoãn đến hạ tuần tháng 5. Bão Bình cần phải suy nghĩ mọi chuyện rất cẩn thận và rõ ràng trước khi đưa ra quyết định.

Từ trung tuần của tháng, Bão Bình có thể mong đợi những cuộc gặp tuyệt vời, những lời mời quan trọng để thăng tiến tốt hơn. Giai đoạn này, Bão Bình cũng sẽ gặp những người giúp ích cho công việc kinh doanh trong tương lai.

Sau ngày 21, Bão Bình sẽ trở về với thế giới nội tâm của mình. Bạn nên dành thời gian ở một mình và tìm nơi yên tĩnh để thư giãn. Hãy suy nghĩ về những tháng vừa qua cũng như lập kế hoạch, mục tiêu cho tháng tới vào thời điểm này. Hãy chờ đợi điều thú vị vào một ngày thứ 6 nhé.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 8, 9, 10, 16, 17, 22, 23

Ngày của tình yêu: 2, 3, 6, 7, 13, 14, 16, 17, 18, 22, 23, 27, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 3, 4, 5, 11, 12, 13, 20, 21, 22, 29, 30, 31

Ngày của sự nghiệp: 8, 18, 22, 23, 27

2/- SONG NGƯ (19/2 – 20/3)

Tháng 5 này, lịch cho các hoạt động xã hội của Song Ngư đầy ắp cho tháng mới bắt đầu, và Song Ngư dễ cảm thấy bị áp lực khi phải đảm bảo những lịch trình đó. Trong chuyện tình cảm, Song Ngư luôn mong đợi quá nhiều vì bạn thích mọi thứ diễn ra như bạn muốn. Hãy thận trọng việc bạn cư xử như thế nào trong giai đoạn này. Nó cũng có thể khiến Song Ngư gặp rắc rối đấy.

Tài chính không đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của Song Ngư vào tháng này. Đối tác và bố mẹ sẽ giúp đỡ bạn. Tháng này cũng thay đổi sự chú ý của Song Ngư vào mục tiêu công việc. Sức khỏe của Song Ngư khá tốt. Tuy nhiên, nếu bị đau chỗ nào, hãy nghỉ ngơi và khám bác sĩ. Nhiều hoạt động xã hội và gặp gỡ với những người mới đang chờ Song Ngư vào giữa tháng. Ngày may mắn nhất của Song Ngư là thứ 7.

Ngày may mắn : 4, 5, 13, 14, 15, 22, 23, 31

Ngày không may mắn : 11, 12, 18, 19, 24, 25

Ngày của tình yêu: 2, 3, 6, 7, 13, 14, 16, 17, 18, 19, 22, 23, 24, 25, 31

Ngày cho tài chính : 1, 2, 6, 7, 11, 12, 20, 21, 29, 30, 31

Ngày cho sự nghiệp : 1, 2, 11, 12, 20, 21, 24, 25, 29, 30

3/- BẠCH DƯƠNG (21/3 – 19/4)

Cuối tháng 5 này đảm bảo rằng một số những chuyến hành trình thú vị đến với Bạch Dương đến những nơi độc đáo sẽ diễn ra. Có rất nhiều chuyến đi trong 30 ngày tới. Nó có thể cho Bạch Dương thấy những yếu tố cần thiết phải chuẩn bị trong những giai đoạn khác nhau.

Vào những ngày này, Bạch Dương không những có hứng thú với sự hấp dẫn định mệnh mà còn cả sự hòa hợp về tâm hồn. Sự hấp dẫn về hình thức sẽ không đủ đối với Bạch Dương. Những Bạch Dương còn độc thân sẽ tìm thấy tình yêu định mệnh ở nước ngoài hay với một người ngoại quốc hoặc ở một hội nghị chuyên đề. Cuộc sống tình cảm của Bạch Dương sẽ rất vui vẻ và mãn nguyện trong tháng này.

Hãy cẩn thận với vấn đề sức khỏe. Cải thiện hệ miễn dịch của Bạch Dương bằng việc bổ sung vitamin hay uống trà thảo mộc. Sau trung tuần, sức khỏe và phong độ của Bạch Dương sẽ được cải thiện hơn. Bạch Dương sẽ trở nên năng nổ hơn trong các hoạt động. Và Bạch Dương sẽ có một ngày thứ 4 trong tháng thật vui vẻ.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25

Ngày không may mắn: 13, 14, 15, 20, 21, 27, 28

Ngày của tình yêu: 2, 3, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 3, 8, 9, 10, 11,12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 29, 30, 31

Ngày của sự nghiệp: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 30

4/- KIM NGƯU (20/4 – 20/5)

Tháng 5 làm cho tình yêu và mối quan hệ của Kim Ngưu trở nên sâu sắc hơn. Tiếp tục giữ các mối quan hệ giao tiếp, Các Kim Ngưu sẽ có nhiều tiến triển hơn ở khía cạnh tình cảm. Nếu đã kết hôn, Kim Ngưu nên luyện tập hơn nữa đức tính kiên trì và thấu hiểu người khác, đặc biệt là vào khoảng những ngày hạ tuần trong tháng 5 này.

Nhiều buổi họp và tiệc tùng trong gia đình sẽ diễn ra tháng này. Nếu còn độc thân, Kim Ngưu có thể sum họp với gia đình hoặc tụ tập với bạn bè. Sức khỏe, sinh lực và năng lực của Kim Ngưu trong tháng này tốt hơn hẳn. Thất bại không làm bạn sợ hãi mà tự mình nỗ lực và vươn lên. Với những người sinh ra dưới cung Kim Ngưu, việc bị thương hay gặp tai nạn có thể xảy ra vào trung tuần của tháng. Nên đề phòng trộm “ghé thăm” nhà bạn, hãy kiểm tra hệ thống báo cháy, khi lưu thông trên đường Kim Ngưu cũng hãy thận trọng… Ngày hạnh phúc nhất của Kim Ngưu sẽ rơi vào thứ 7.

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28

Ngày không may mắn: 1, 2, 16, 17, 22, 23, 29, 31

Ngày của tình yêu: 2, 3, 8, 13, 14, 18, 22, 23, 27, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 16, 17, 20, 21, 24, 25, 29, 30

Ngày của sự nghiệp: 1, 2, 6, 16, 24, 29, 30

5/- SONG NAM (21/5 – 21/6)

Các cuộc hành trình đang chờ Song Nam thực hiện nếu bạn đã lên kế hoạch trước. Tình hình tài chính cần được Song Nam lưu tâm, có nguy cơ bạn phải đánh đổi mối quan tâm của mình với trách nhiệm và giao kèo được thỏa thuận trước. Đồng thời Song Nam có thể sẽ căng thẳng khi phải làm tròn nghĩa vụ tài chính với gia đình. Nhưng một khi Song Nam hoàn thành thì mọi việc sẽ trở nên dễ thở hơn rất nhiều.

Tin tốt là sự nghiệp tháng này không có gì khiến Song Nam phải lo lắng, buồn phiền. Mặt trời sẽ lướt qua cung hoàng đạo của Song Nam và đem lại thành công cho công việc. Có thể Song Nam sẽ đi công tác. Sức khỏe tốt nhưng Song Nam vẫn nên nghỉ ngơi và thư giãn vào nửa cuối tháng này. Tháng 5 này cũng là thời điểm tốt để Song Nam điều chỉnh chế độ dinh dưỡng và thay đổi thói quen di chuyển. Nếu có bất kỳ vấn đề nào xảy ra với gia đình, hãy cố gắng giải quyết thật nhanh gọn nhé. Hãy đợi Chủ Nhật để cảm thấy thật thư thái.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 4, 5, 18, 19, 24, 25, 31

Ngày của tình yêu: 1, 2, 3, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 15, 17, 18, 20, 21, 27, 29, 30

Ngày cho sự nghiệp: 3, 4, 5, 13, 22, 31

6/- BẮC GIẢI (22/6 – 22/7)

Trong lĩnh vực tình yêu, các Bắc Giải tháng này có một sức quyến rũ tuyệt vời. Bạn chẳng khác gì một thỏi nam châm đối với các bạn khác giới. Cuối tháng, chuyện tình cảm của Bắc Giải khá ổn, thậm chí, nhiều Bắc Giải sẽ có một mối quan hệ vững chắc hay tìm thấy một nửa của mình

Tháng 5 Bắc Giải nên dành nhiều thời gian cho gia đình. Một mối quan hệ tình cảm đang chờ đợi bạn nhưng đừng chìm đắm vào nó mà không suy nghĩ gì. Hãy để mọi thứ tự tiến triển. Ngoài ra, sao Kim có thể sẽ báo trước những dấu hiệu tích cực về mặt tài chính và Bắc Giải sẽ có thêm một khoản thu nhập cho mình vào những ngày cuối tháng. Một điều bất ngờ sẽ xuất hiện vào thứ 7

Ngày may mắn: 4, 5, 13, 14, 15, 22, 23, 31

Ngày không may mắn:: 6, 7, 20, 21, 27, 28

Ngày của tình yêu: 1, 2, 3, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 27, 28, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 16, 17, 18, 20, 21, 27, 29, 30

Ngày của sự nghiệp: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 20, 21, 31

7/- HẢI SƯ (23/7 – 22/8)

Đây là một tháng tuyệt vời dành cho các Hải Sư. Bạn sẽ dành toàn bộ thời gian để tập trung vào những thứ mình đang làm. Có thể nói tháng này mang lại cho Hải Sư rất nhiều may mắn, vì vậy, bạn hãy nắm bắt ngay những cơ hội đó. Nhưng Hải Sư cần chú ý hơn đến sức khỏe. Không có vấn đề gì nghiêm trọng xảy ra trong tháng tới cả, tuy nhiên, cũng đừng vì thế mà bỏ rơi sức khỏe của mình.

Nếu Hải Sư đang yêu, một vài vấn để có thể sẽ xảy ra trong khoảng những ngày trung tuần của tháng 5 này. Nhưng đừng lo lắng, chúng sẽ biến mất ngay thôi. Còn đối với những bạn Hải Sư vẫn đang cô đơn thì tháng này hãy hy vọng vào một tình yêu rất có thể nảy nở từ chính nơi làm việc của bạn.

Sau trung tuần tức tuần thứ tư trong tháng, tình hình tài chính của Hải Sư gặp nhiều thuận lợi và điều ấy còn có thể kéo dài trong suốt tháng này. Những kế hoạch bị trì hoãn sang tháng mới nên thực hiện.  Trong tháng này, thứ 4 sẽ mang lại nụ cười cho các Hải Sư.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25

Ngày không may mắn: 1, 2, 8, 9, 10, 22, 23, 29, 31

Ngày của tình yêu: 1, 2, 3, 6, 13, 14, 16, 22, 23, 24, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 24, 25, 29, 30:

Ngày cho sự nghiệp: 2, 3, 8, 9, 10, 13, 14, 22, 23, 31

8/- XỬ NỬ (23/8 – 22/9)

Xử Nữ tháng 5 này nên dành thời gian để xử lý công việc hơn là đi chơi. Sự tự tin của bạn giảm sút rất nhiều trong thời gian này. Về bản chất, đó là một điều tích cực vì từ bây giờ, Xử Nữ sẽ tập trung hơn vào những người khác, thay vì vào chính bản thân mình.

Tình yêu của Xử Nữ rất lãng mạn. Không nên vội vàng mà cần bình tĩnh trong mọi hành động, nhất là khi các bạn muốn thể hiện tình cảm của mình. Người yêu hoặc bố mẹ sẽ hỗ trợ Xử Nữ trong vấn đề tài chính. Xử Nữ cũng có khá nhiều ý tưởng tuyệt vời, thậm chí là sinh lời cho bạn nữa. Tuy nhiên, hãy suy nghĩ và tìm hiểu mọi thứ cẩn thận. Đừng để mình bị phản bội !

Đến giữa tháng 5, Xử Nữ cần cẩn trọng hơn trong việc lái xe. Nếu bạn sắp đi du lịch xa bằng tàu hỏa, ô tô hay máy bay thì hãy chuẩn bị tinh thần bởi những chậm trễ có thể xảy ra.

Xử Nữ hãy dành thời gian thăm hỏi lại bạn bè và họ hàng mà lâu ngày chưa gặp. Thứ 6 sẽ mang lại điều bất ngờ cho bạn.

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28

Ngày không may mắn: 4, 5, 11, 12, 24, 25, 31

Ngày của tình yêu: 2, 3, 4, 5, 13, 14, 22, 23, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 3, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 29, 30, 31

Ngày cho sự nghiệp: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 24, 25

9/- THIÊN XỨNG (23/9 – 22/1)

Đừng ngại ngần khi muốn thảo mãn nhu cầu bản thân. Thiên Xứng cần tập trung vào công việc hơn là chuyện tình cảm. Chủ Nhật là ngày may mắn với Thiên Xứng đấy. Nên hãy ném những vấn đề lo âu của bạn vào cơn gió, ít nhất là vào đầu tháng này khi có những hoạt động vui chơi sôi động. Vì Thiên Xứng cần nghỉ ngơi.

Trong vấn đề tình cảm, Thiên Xứng sẽ có nhiều sự hài hòa hơn là mâu thuẫn. Bạn có thể tìm thấy tình yêu ở nơi làm việc, nơi khám bệnh hay ở phòng tập. Sức khỏe tốt tác động đến đời sống tình cảm và ngược lại. Vào tháng 5 này, Thiên Xứng sẽ nhận ra rằng nếu bạn thật sự yêu một ai đó, hãy dành nhiều thời gian cho người đó.

Giữa tháng, Thiên Xứng nên cẩn thận khi lái xe. Có mối nguy hiểm đang đe dọa bạn. Hãy kiểm tra xe nếu dự định đi xa. Sau trung tuần, khả năng thăng tiến công việc trong tháng tới có thể đến với bạn. Thiên Xứng sẽ có những cơ hội để kiếm nhiều tiền hơn. Những cơ hội tài chính sẽ xuất hiện, Thiên Xứng có thể sẽ có một khoản thu nhập không mong đợi qua bảo hiểm hoặc hoạnh tài.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 6, 7, 13, 14, 15, 27, 28

Ngày của tình yêu: 1, 2, 3, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 8, 11, 12, 18, 20, 21, 22, 23, 27, 29, 30

Ngày của sự nghiệp: 6, 7, 13, 14, 15, 17, 18, 278.

10/- HỔ CÁP (23/10 – 21/11)

Tháng này Hổ Cáp tràn đầy các hoạt động vui vẻ, sôi động và thú vị cho bạn đấy. Gia đình là nơi Hổ Cáp dành phần lớn thời gian, hãy mời bạn bè tới chơi và tân trang lại tổ ấm để đón khách.

Về tình yêu, sau giữa tháng, khả năng tập trung sẽ giúp Hổ Cáp trở nên lôi cuốn hơn. Đây là một thời điểm tuyệt vời cho chuyện yêu đương của bạn bởi khả năng tìm được nửa kia là rất cao. Hổ Cáp nên cẩn thận với sức khỏe, đặc biệt, đừng thay đổi thói quen di chuyển quá đột ngột. Hổ Cáp cũng nên thận trọng hơn khi mua đồ điện tử và đồ dùng đắt tiền.

Sự lạc quan sẽ xâm chiếm Hổ Cáp trong suốt tháng. Cơ hội việc làm mới sẽ đến với bạn và rất có khả năng, bạn sẽ muốn thay đổi công việc. Tuy thu nhập có thể thấp hơn công việc hiện tại nhưng hẳn Hổ Cáp sẽ thích thú với công việc mới nhiều hơn.

Khi cuối tháng gần kề, Hổ Cáp cần hoàn thành nốt những việc dở dang trước mắt, để lấy tinh thần bắt tay và các hợp đồng tốt hơn. Điều may mắn nhất sẽ đến với Hổ Cáp vào một ngày thứ 5.

Ngày may mắn: 1, 2, 8, 9, 10, 16, 17, 29, 31

Ngày không may mắn: 13, 14, 20, 21, 22, 23, 31

Ngày của tình yêu: 2, 3, 8, 9, 10, 13, 14, 22, 23, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 24, 25, 29, 30

Ngày cho sự nghiệp: 6, 7, 16, 17, 18, 27

11/- NHÂN MÃ (22/11 – 21/12)

Tháng này Nhân Mã cần cẩn trọng hơn trong lời ăn tiếng nói với những người xung quanh. Hãy đảm bảo rằng mọi người hiểu đúng ý bạn và chủ động hỏi khi gặp phải vấn đề nào đó chưa chắc chắn. Tháng 5 này cũng báo trước về những vấn đề có thể xảy ra trong nội bộ gia đình. Nếu buộc phải quyết định một điều gì đó quan trọng, Nhân Mã hãy cân nhắc kỹ càng cả mặt tích cực lẫn hạn chế.

Về tình hình tài chính, những khoản tiền sẽ đến cùng sự thành công của Nhân Mã vào đầu tháng, nhưng không nên tiêu xài quá hoang phí. 30 ngày của tháng nên tập trung chủ yếu vào tình hình tài chính và thu nhập cho bản thân. Điều tốt đẹp nhất là dường như Nhân Mã chắc chắn sẽ nhận được một khoản thu nhập phụ trội.

Về tình yêu, Nhân Mã có thể kỳ vọng về những chuyển biến tốt đẹp trong chuyện tình cảm. Sức khỏe của bạn tháng này khá ổn nhưng Nhân Mã sẽ cảm thấy đôi chút mệt mỏi sau trung tuần tháng 5. Hãy cố gắng dành thời gian để thư giãn và nghỉ ngơi nhé ! Nhưng đừng bỏ qua cơ hội kiếm tiền nhé. Thứ 2 là ngày rất vui với Nhân Mã.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25

Ngày không may mắn: 4, 5, 11, 12, 18, 19, 31

Ngày của tình yêu: 2,3, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 16, 17, 22, 23, 24, 25, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 30

Ngày cho sự nghiệp: 6, 7, 16, 17, 18, 19, 24, 25

12/- NAM DƯƠNG (22/12 – 19/1)

Trong tháng 5 này, Nam Dương sẽ muốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó mới mẻ. Còn những việc liên quan tới hành chính sẽ “ngốn” khá nhiều thời gian và tiền bạc của Nam Dương

Thángnày là khoảng thời gian Nam Dương dành cho công việc sau đó sẽ được thư giãn, nghỉ ngơi và tận hưởng niềm vui này bằng cả tâm hồn. Nam Dương hãy ành nhiều tâm trí cho những vấn đề trong gia đình. Hãy nhìn những điều vẫn còn dở dang quanh bạn để tạo ra các thay đổi trong 30 ngày tốt đẹp hơn.

Về tình yêu, mối quan hệ mà Nam Dương có sẽ gặp vài thử thách trong khoảng thời gian thượng tuần, sẽ có nhiều điều đặc biệt. Nam Dương hãy hạn chế có những quyết định về tài chính. Từ khóa cho tháng này là bình tĩnh và kiên nhẫn. Nam Dương sẽ gặp “vận đỏ” vào một ngày thứ 7.

Ngày may mắn: 1, 2, 10, 11, 19, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 3, 4, 17, 18, 24, 25, 31

Ngày của tình yêu: 8, 9, 17, 18, 24, 25, 29, 30

Ngày cho tài chính: 1, 2, 8, 10, 11, 12, 13, 17, 19, 20, 27, 29, 30

Ngày của sự nghiệp: 3, 4, 8, 9, 18, 29, 31.

Quế Phượng (theo Horoscope)

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

Advertisements

BÍ ẨN TRONG CÁC BỨC DANH HỌA

NHỮNG BÍ ẨN ĐƯỢC GIẤU

TRONG CÁC BỨC TRANH NỔI TIẾNG

Đằng sau những lớp sơn, lớp màu tạo nên các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng toàn thế giới là những hình họa mà họa sĩ đang muốn tìm cách giấu đi.

1/. Mona Lisa của Leonardo da Vinci : Mona Lisa có lẽ là bức tranh nổi tiếng nhất trên giới. Nụ cười bí ẩn quyến rũ đã nắm bắt bao con tim trong giới nghệ thuật vậy mà danh tính của người mẫu giúp làm nên bức tranh nổi tiếng đó vẫn mãi là một vấn đề đầy tranh cãi.

Nhiều người cho rằng cô gái đó là Lisa del Giocondo (hay Lisa Gherardini), vợ của một thương nhân ở Florentine. Thế nhưng một khám phá gần đây đã làm vỡ mộng không ít người.

Có đến hai bức tranh khác nhau được tìm thấy dưới bức Mona Lisa. Một trong những bức hoạ được cho rằng đã vẽ lại chân dung thực của Lisa. Khoa học gia người Pháp Pascal Cotte cho rằng kết quả tìm thấy dưới bức Mona Lisa có thể hoá giải mọi bí ẩn và thay đổi lại cái nhìn của mọi người về kiệt tác này.

Thế nhưng những nhà sử gia khác lại không đồng ý và cho rằng những bức tranh được tìm thấy bên dưới chỉ có thể chứng tỏ quá trình sáng tạo của da Vinci, cách mà tranh của ông biến đổi và phát triển. Cho đến nay, đại diện của bảo tàng Louvre ở Paris vẫn chưa đưa ra bình luận gì về vấn đề này.

2/. Bức Woman at a Window của Palma Vecchio : Một lần phục hồi tranh đã để lộ ra phiên bản đầu tiên được giấu bên dưới bức tranh. Giống như trường hợp của bức Madame X, bức tranh Woman at a Window cũng đã bị chỉnh sửa nặng nề để bớt khiêu gợi và trở nên đứng đắn hơn cho phù hợp với xã hội thời bấy giờ.

Một lần phục hồi tranh đã để lộ ra phiên bản đầu tiên được giấu bên dưới bức tranh. Trong bức tranh gốc cô gái có mái tóc vàng, đôi mắt xa xăm và bộ ngực nở làm người ta liên tưởng đến một kỹ nữ. Vecchio đã sửa lại màu tóc, đôi mắt, khuôn mặt và che lại bộ ngực, khiến hai bức tranh trông như hai người hoàn toàn khác hẳn nhau.

3/. Bức Madame X của John Singer Sargent : Khi vừa ra mắt, bức tranh này nhanh chóng trở thành tiêu điểm của nhiều tranh cãi. Khi bức Madame X được triển lãm lần đầu tiên vào năm 1884, nó đã nhanh chóng trở thành tiêu điểm của nhiều tranh cãi. Nhiều nhà bình luận và người xem đã tỏ vẻ không thích bức tranh vì mô tả một người phụ nữ mặc một chiếc váy đen có quai đeo tuột xuống một bên vai là không đứng đắn.

Người mẫu cho bức tranh chính là Madame Pierre Gautreau, một expat đến từ New Orleans. Nhờ nhan sắc bản thân, cô đã tạo nên tên tuổi cho mình trong cộng đồng ở Paris. Cuối cùng, gia đình của Pierre Gautreau thấy quá xấu hổ và yêu cầu gỡ bức tranh khỏi cuộc triển lãm.

Sợ rằng gia đình Gautreau sẽ huỷ bức tranh đi, Sargent quyết định sửa lại để quai váy “đứng đắn” nằm trên vai của người mẫu. Đầu năm 2016, phiên bản đầu tiên được phát hiện và trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Metropolita.

4/. Bức Still Life with Meadow Flowers and Roses của Vincent van Gogh : Mất 10 năm, các nhà nghiên cứu mới đưa ra được kết luận: đây chính là một bức tranh Van Gogh chính hiệu.

Thật ra kể từ năm 1974, đã có nhiều nghi vấn đặt ra về việc liệu van Gogh có phải là tác giả thật sự của bức tranh này hay không. Các chuyên gia nghiên cứu bố cục, chất liệu thậm chí là cả chỗ ký tên trên tranh để tìm lời giải và kết luận rằng có quá nhiều điểm không giống với các tác phẩm khác của van Gogh. Kể từ đó bức tranh bị gỡ khỏi bộ sưu tập tranh van Gogh.

Mãi cho đến khi người ta phát hiện ra một bức hình khác bên dưới. Đó là một bức tranh mô tả hình hai người đàn ông đang vật lộn với nhau được nhiều chuyên gia nhận định rất có thể là một bức tranh mà van Gogh đã vẽ đè lên để tiết kiệm tiền mua nguyên vật liệu.

Mất đến 10 năm nghiên cứu, cả việc kiểm tra chất màu trong tranh, các chuyên gia mới đi đến kết luận rằng đó là một bức tranh Van Gogh chính hiệu. Van Gogh đã từng nhắc đến bức tranh hai người đàn ông vật nhau trong một bức thư viết năm 1886: “Tuần này, tôi vừa vẽ hai bộ ngực trần ở khổ lớn–hai đô vật”. Ông cũng viết thêm rằng ông rất hài lòng với kết quả đạt được.

5/. Bức Isabella de’ Cosimo I de Medici : Các chuyên gia cho rằng bức tranh đã được chỉnh sửa để trở nên dễ nhìn và dễ bán hơn. Sau khi nhiều chuyên gia tỏ ý nghi ngờ về tính xác thực của bức chân dung con gái của công tước xứ Tuscany, một cán bộ bảo quản ở Bảo tàng Carnegie, Pittsburg, đã lôi bức tranh ra kiểm tra kỹ càng bức tranh từ thế kỷ 16 này.

Kết quả là bức tranh là chuẩn thật thế nhưng lại giấu một bí mật kinh người có lẽ là một trong những nỗ lực đầu tiên của con người nhằm “photoshop” chỉnh sửa ảnh tự sướng. Giấu dưới gương mặt trẻ trung, xinh đẹp là một gương mặt thật của con gái ngài công tước: già hơn, nhiều nếp nhăn hơn và tất nhiên là xấu hơn gương mặt đã được chỉnh sửa.

Những chỉnh sửa này được thực hiện từ thế kỷ 19 khiến trong suốt nhiều năm, người ta đã ngộ nhận về sắc đẹp trong tranh. Các chuyên gia cho rằng bức tranh đã được chỉnh sửa để trở nên dễ nhìn và dễ bán hơn.

6/. Bức Portrait of Don Ramon Satue của Francisco de Goya : Có lẽ Goya đã vẽ đè lên bức tranh cũ vì vẽ một vị tướng của thời vua cũ là quá nguy hiểm khi vua mới đã lên ngôi. Chân dung một người đàn ông mặc quân phục được phát hiện bên dưới bức chân dung đã hoàn thành. Bởi vì gương mặt của người đàn ông chưa hoàn thành nên danh tính của người đàn ông này vẫn là một ẩn số.

Bộ quân phục trong tranh cho thấy người này có phẩm cấp rất cao trong dòng hiệp sĩ thành lập bởi Joseph Bonaparte, anh trai của Napoleon Bonaparte và vua của xứ Tây Ban Nha. Tính ra trong lịch sử chỉ có khoảng 15 vị tướng là đủ phẩm cách mặc bộ quân phục này thế nhưng các chuyên gia vẫn không thể giới hạn danh sách lại ngắn hơn.

Joseph Bonaparte có thời gian trị vì từ năm 1808 đến 1813. Sau đời vua Bonaparte, Goya tiếp tục làm hoạ sĩ trong hoàng cung cho vị vua sau. Có lẽ Goya đã vẽ đè lên bức tranh cũ vì vẽ một vị tướng của thời vua cũ là quá nguy hiểm khi vua mới đã lên ngôi.

7/. Bức Young Woman Powdering Herself của George Seurat : Người mẫu cho bức tranh Young Woman Powdering Herself của George Seurat không ai khác chính là người tình của ông. Trong bức tranh, một người phụ nữ đang ngồi trang điểm. Trên bức tường là một chiếc gương nhỏ phản chiếu lại hình ảnh một lọ hoa đặt trên bàn. Seurat đã vẽ lọ hoa đó để che đi hình phản chiếu của gương mặt ông.

Trước khi đem tranh đi trưng bày, Seurat có nhờ bạn đánh giá bức tranh và bạn ông, không biết chuyện Seurat ngoại tình, thẳng thắn nhận xét rằng gương mặt trong gương trông quá khôi hài. Vậy nên Seurat quyết định sẽ tiếp tục giữ kín chuyện ngoại tình.

8/. Bức Patch of Grass của Vincent van Gogh : Vincent van Gogh, họa sĩ có cuộc đời đầy bi kịch, vẽ kiệt tác Patch of Grass ở Paris vào năm 1887. Thế nhưng các nhà khoa học từ Hà Lan và Bỉ đã thành công bật mí ra một bức chân dung bị che giấu đằng sau kiệt tác này năm 2008 với sự giúp sức của tia X.

Bức Patch of Grass có màu chủ đạo là xanh lá và xanh da trời còn bức chân dung bí ẩn lại có màu đỏ và nâu tả lên chi tiết khuôn mặt của một người phụ nữ nông dân. Các chuyên gia nghệ thuật nhất trí rằng van Gogh thường vẽ đè lên tranh để tiết kiệm tiền.

9/. Bức View of Scheveningen Sands của Hendrick van Anthonissen : Bức tranh View of Scheveningen Sands của họa sĩ Hendrick van Anthonissen được hoàn thành vào năm 1641 và được tặng lại cho Bảo tàng Fitzwilliam năm 1873. Bức tranh mô tả một bãi biển yên bình với vài người lang thang trên cát trong một ngày mùa đông. Bức tranh trông khá bình thường.

Thế nhưng khi một thực tập sinh được giao nhiệm vụ tẩy một vết sơn vàng trên tranh, cô đã tình cờ phát hiện ra một bí mật thú vị. Sát với chiếc thuyền buồm lờ mờ phía đường chân trời là hình một con cá voi nằm trên cát. Còn chiếc thuyền buồm lại chính là đuôi của con cá. Các chuyên gia sau đó cho rằng con cá heo này đã bị che lại vào thế kỷ 18 hoặc 19 vì hình mô tả các con vật chết được cho là phản cảm.

10/. Bức tranh The Wood Sawyers của Jean-Francois Millet : Khi sử dụng tia hồng ngoại để chụp bức tranh The Wood Sawyers của Jean-Francois Millet, một chiếc đầu người lờ mờ hiện lên ngay bên trên vai của một trong những người đàn ông đang cưa gỗ trong tranh. Sau khi bức tranh được quét toàn diện và đánh giá một cách kỹ càng, người ta phát hiện ra bên dưới bức tranh hoàn chỉnh là hình vẽ bức tượng La Republique nổi tiếng ở Pháp.

Alfred Sensier, người viết tiểu sử của Millet, khẳng định rằng hình bức tượng vốn được dùng để dự thi nhưng không giành được giải thưởng nào. Vậy nên Millet đã vẽ bức tranh mới đè lên để có thể tiết kiệm tiền. Ngoài ra người ta cũng tìm thấy vài vết rách, lỗ vá có lẽ là kết quả khi Millet điều chỉnh khung tranh để vẽ bức tranh mới.

11/. Sự trả thù của họa sỹ Salvador Dali : Bức họa Figure at a Window (tạm dịch Bóng hình bên cửa sổ) được họa sỹ Dali vẽ vào năm 1925, lúc ông mới chỉ 21 tuổi. Và lúc đó, Dali chưa hề gặp vợ mình, Gala, vì thế mà nguồn cảm hứng của bức tranh đến từ cô chị của họa sỹ, Ana Maria. Thời gian trôi qua, mối quan hệ giữa ông và cô chị trở nên xấu đi và họa sỹ Dali thậm chí đã từng nói: “Đôi khi nhìn vào nó, tôi lại nhổ một bãi nước bọt vào bức họa mới cảm thấy dễ chịu”. Điều này khiến Ana Maria rất tức giận.

Năm 1949, Ana Maria đã viết một cuốn sách về Dali với tựa đề: “Salvador Dali, qua con mắt của người chị (Salvador Dali, Seen Through the Eyes of His Sister). Việc này một lần nữa lại làm quan hệ của họ càng thậm tệ hơn.

Cuối cùng, năm 1954, họa sỹ Dali vẽ bức tranh “Young Virgin Autosodomized by her Own Chastity'” với vị trí các phần, mái tóc, khung cảnh và màu sắc của bức họa đều gợi về bức họa “Bóng hình bên cửa sổ” ngày xưa như một phiên bản lỗi đầy sự căm ghét và phỉ báng. Người ta cho rằng, bức tranh thứ hai của Dali chính là sự trả thù đối với những gì cô chị đã viết về ông trong cuốn sách đó.

12/. Khuôn mặt biến hóa khôn lường trong bức tranh The Old Fisherman : Năm 1902, họa sỹ người Hungary, Csontváry Kosztka Tivadar vẽ bức tranh “Ông lão đánh cá” (The Old Fisherman). Khi nhìn vào bức tranh có vẻ không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, nếu ai đó đặt một tấm gương vào giữa bức tranh thì bạn sẽ nhận ra hai khuôn mặt với hai vẻ mặt trái ngược.

Đặt gương phản chiếu vẻ mặt bên phải, bản sẽ thấy khuôn mặt của ông lão bỗng biến sắc trở thành một người hung dữ, nhưng khi phản chiếc vẻ mặt bên trái, ông lão bỗng trở nên hiền dịu với đôi tay chắp lại, phía sau là vùng biển hoàn toàn tĩnh lặng. (theo Dân Trí)

LỊCH SỬ CỦA NHỮNG

CHÚ HỀ QUÁI ĐẢN TRÊN MÀN ẢNH

Trên màn ảnh, nỗi sợ về những chú hề kinh dị đã nhen nhóm từ đầu thế kỉ 20 và được thổi bùng lên trong khoảng thời gian gần đây.

Trong hàng trăm năm, chúng ta sống trong thế giới mà những chú hề được sinh ra với mục đích mua vui cho khán giả. Với áo quần sặc sỡ và trang điểm lòe loẹt, nhân vật hề đã trở nên quá quen thuộc trong văn hóa Tây phương. Các ngôi sao nhạc pop thì hát Everybody Loves a Clown và Send in the Clowns. Các bậc phụ huynh thì thuê những người đóng hề về làm trò ảo thuật cho bữa tiệc sinh nhật của trẻ nhỏ.

Gã hề Ronald McDonald thì bán hamburger. Emmett Kelly và Red Skelton dường như đã quá quen mặt trên truyền hình. Văn hóa đại chúng cho phép nhân vật hề điềm nhiên bước vào thế giới của những người dân bình thường, để đem lại tiếng cười và đôi khi cả những nỗi sợ hãi khủng khiếp nhất cho họ.

Một vài người sẽ nói: “Ôi đối với tôi những thằng hề trông cứ ghê ghê thế nào ấy”. Họ không quá quắt, khi chứng bệnh Coulrophobia – nỗi ám ảnh với gương mặt hề đang dần trở nên phổ biến trong cộng đồng với con số 12% dân số Mỹ mắc phải. Tỉ lệ này rất có thể sẽ còn tăng lên khi mới đây, những vụ tấn công, dọa dẫm liên quan đến những kẻ quá khích hóa trang thành ma hề, hề giết người… ngày càng trở nên đáng báo động. Năm 2016 đánh dấu đỉnh điểm của nỗi sợ hãi về những chú hề, khắp mọi nơi người ta truyền tai nhau những câu chuyện kinh dị.

Làm sao từ một nhân vật với nhiệm vụ đem lại tiếng cười cho tất cả lại có số phận như vậy ? Truyền thông, mà cụ thể là điện ảnh đóng một vai trò quan trọng. Sự xuất hiện ngày càng nhiều của những nhân vật hề đáng sợ thời gian gần đây là cảm hứng vô tận cho trang phục hóa trang, cũng đồng thời thổi bùng lên nỗi sợ khuôn mặt trắng những phấn và chiếc mũi đỏ. Dưới đây là lược sử của nhân vật hề kinh dị trên màn ảnh.

1/- He Who Gets Slapped (1924)  Từ nửa đầu thế kỉ 20, điện ảnh đã khai thác thế giới kì quặc trong các gánh xiếc và lễ hội hóa trang. Tuy nhiên, các nhà làm phim và cả khán giả thời ấy thường cho rằng những người lùn, người có thân hình dị dạng (bị gọi chung với cái tên ghẻ lạnh là “freaks” hay “lũ dị hợm” ) và những bà đồng cốt lại là những nhân vật đáng sợ hơn là lũ hề.

Trừ một ngoại lệ trong đó Lon Chaney vào vai nhân vật chính. Một tác phẩm vừa kinh dị vừa đắng cay, trong đó gã hề của Lon Chaney cố gắng giải cứu người phụ nữ trẻ mà gã yêu thương người từng phản bội gã. Tác phẩm là lá cờ đầu của hình tượng hề kinh dị và là cơn ác mộng đối với tất cả những nạn nhân của hội chứng Coulrophobia.

2/- Terror on Tour (1980)  Nội dung của phim tập trung vào ban nhạc rock mang tên The Clowns rơi vào rắc rối khi đột nhiên nhiều cô gái mại dâm bị giết chết từng người một bởi sát nhân trông giống các thành viên của ban nhạc. Mặc dù không phải là “sát thủ hề” theo đúng nghĩa truyền thống, tuy nhiên Terror on Tour chính xác là một trong những tác phẩm đầu tiên vẽ nên hình ảnh nụ cười gần với con dao đầy máu mà sau này đã trở nên quen thuộc trên màn ảnh.

3/- Poltergeist (1982)  Hãy hỏi một người lớn tuổi về khoảnh khắc nào trên màn ảnh đã chính thức tàn phá tuổi thơ của họ về hình ảnh chú hề, nhiều người sẽ không ngần ngại chỉ ngay vào cảnh phim kinh điển trong Poltergeist, khi cậu bé Robin bị những chú hề tấn công. Hiệp hội các nhà phê bình phim Chicago từng bầu chọn Poltergeist vào danh sách “Bộ phim đáng sợ nhất từng thực hiện trong thế kỷ 20”. Phim cũng nằm top 100 bộ phim “sởn da gà” nhất của Mỹ.

4/- Funland (1987) / Blood Harvest (1987) / Out of the Dark (1989)  Đây là thời điểm mà ý tưởng về những chú hề giết người được hoàn thiện. Nửa cuối thập niên 80 thế kỉ trước, bộ ba tác phẩm này đã hoàn toàn xây dựng được hình ảnh những “killer clowns” như chúng ta thấy nhan nhản ngày nay. Được thúc đẩy bởi sự sụp đổ từ niềm tin chính trị cuối thời Reagan, người Mỹ muốn truyền tải sự đe dọa đằng sau lớp hóa trang dày cộm và nụ cười thường trực của những chú hề mà câu chuyện bề nổi luôn hàm ý một nhân vật đáng sợ.

5/- Killer Klowns from Outer Space (1988) / Clownhouse (1989) / Carnival Of Souls (1998)  Đợt phim này đại diện cho sự phát triển tiếp theo của trào lưu ghét hề – khi quan niệm ghê sợ hề đang dần phổ biến. Nỗi sợ vốn mơ hồ nay đã trở nên ăn sâu bám rễ tới mức các nhà làm phim đối xử với những quái vật khuôn mặt méo mó trong Killer Klowns from Outer Space (1988) cứ như chúng có thể gây ra tận thế vậy.

Trong khi đó, Clownhouse học tập phong cách hề sát thủ của Halloween nhưng lại thêm yếu tố bí hiểm và bất ngờ. Carnival of Souls thì lấy cảm hứng từ một bộ phim cùng tên năm 1962 nói về tên hề biến thái rình rập một phụ nữ trẻ. Cho tới năm 1998, “lễ hội” thì có nghĩa là “hề”, mà “hề” thì suy ngay ra là “giết người”.

6/- Joker trong loạt phim về Batman : Đây là ví dụ gần nhất cho những con quỷ với nụ cười thường trực. Hình ảnh Joker gắn với hình tượng một gã hề đã trở nên quá quen thuộc trong văn hóa đại chúng trên thế giới. Với khuôn mặt trắng bệch và nụ cười nham nhở rạch tới tận mang tai, Joker là cơn ác mộng kinh hoàng với tất cả những người sợ hề, là sự kết hợp ám ảnh giữa sự đùa cợt và một trí tuệ biến thái độc ác.

7/- House of 1000 Corpses (2003) / The Devil’s Rejects (2005) / 31 (2016)  Rob Zombie nổi đình nổi đám qua 2 tác phẩm đầu tay House of 1000 Corpses (2003) và 2 năm sau là The Devil’s Rejects. Cả hai đều có chứa những cảnh kinh dị “nặng đô” có thể khiến người xem chóng mặt buồn nôn. Tất nhiên trong đó đều không thể thiếu hình ảnh những chú hề. Thật không gì kinh khủng bằng đã zombie lại còn hề kinh dị xuất hiện chung trong một bộ phim. Năm 2016, Rob cho ra mắt tác phẩm mới nhất của mình với cái tên 31 và nội dung tương tự.

8/- Fear of Clowns (2004) / Drive-Thru (2007) / 100 Tears (2007) / The Last Circus (2010) / Stitches (2012) / All Hallows’ Eve (2013)  6 tác phẩm được ra mắt trong những năm gần đây đại diện cho sự quá tải của hình ảnh hề sát thủ trên màn ảnh. Vô danh, máu lạnh, thậm chí máu lạnh một cách bản năng và ngu ngốc, biểu tượng của chuỗi thức ăn nhanh ngày nào đã trở thành chủ đề quen thuộc của các phim kinh dị đầu thế kỉ 21, thậm chí còn được phát triển thành phiên bản truyền hình dài tập.

9/- Clown (2014) / ClownTown (2016) Cả hai tác phẩm đều là những cái tên khá mới, và cùng đi theo một hướng khai thác mới mẻ khi nhân vật chính không phải là những gã hề ngay từ đầu. Tập trung phân tích sự giằng xé và quá trình biến đổi từ người thành quỷ, đây có lẽ sẽ là một hướng đi mới trong bối cảnh đã có quá nhiều phim về hề được ra mắt và sẽ còn nhiều nữa trong thời gian tới.

Xuân Mai tổng hợp chuyển tiếp

SƠN CA TÓC TRẮNG

SƠN CA TÓC TRẮNG

– Nguyễn Minh Nữu

Nguyễn Ngọc Linh dáng người cao, gầy, đen  và rất đa tài. Mới đầu quen thì Linh là người chuyên trách về kỹ thuật, chỉnh sửa máy móc một cách chuyên nghiệp, sau đó thấy anh vẽ trang trí sân khấu cho các buổi trình diễn, thế rồi có dịp lại nghe Linh lên sân khấu hát, có những ca khúc mà chỉ có Linh mới truyền được cái hồn bài hát như bài Lớn Mãi Không Ngừng của Miên Đức Thắng. Thật vậy, khi Linh nói chuyện, thường là nói nhỏ, đôi khi phải lắng tai, hay phải yêu cầu Linh nói lại, nhưng khi ôm đàn lên sân khấu và cất tiếng hát … Ôi có giống dân nào lớn mãi mãi không thôi… thì tiếng hát lồng lộng cả hội trường.

Gặp nhau nhiều lần vào thời điểm đầu năm 1973 tại số 19 Kỳ Đồng : một tòa biệt thự được sử dụng làm chỗ sinh hoạt thanh niên tên là Văn phòng Liên lạc Sinh viên Quốc Nội và Hải Ngoại. Chỗ này là nơi sinh hoạt thường kỳ của Ca Đoàn Trung Ương của Phong trào Du Ca, là nơi gặp gỡ của nhiều hội đoàn thanh niên sinh viên, và là nơi tổ chức sinh hoạt văn nghệ cuối tuần.

Ở đó có một số sinh viên làm việc bán thời gian phục vụ cho các sinh hoạt, trong đó tôi còn nhớ tên vài người như Đinh Việt Hùng, Nguyễn Ngọc Linh, Lương Văn Tự, Nguyễn văn Thanh…. quen với nhau tại đó, có những lần chúng tôi ngồi với nhau uống cà phê ở hội trường trên lầu, nghe Linh hát và quý mến nhau, hời hợt vậy thôi.

Khi biến cố 30 tháng 4 làm văn phòng đóng cửa, lúc đó  thì Ngoc Di là một thành viên sinh hoạt thường xuyên trong văn phòng làm cầu nối kéo  Nguyễn Ngọc Linh, Đinh Việt Hùng, Bùi Công Bằng với tôi tham dự một sinh hoạt ca hát khác , thời gian không dài, sau vài ba tháng thì tan hàng, mỗi đứa đều nháo nhào tìm một hướng sống riêng , và chẳng ai liên lạc với nhau.

Dường như khoảng hai ba năm sau, đầu năm 1978 thì phải, tháng chạp ta, vợ chồng tôi đi thăm mộ bà chị ở Bà Quẹo. Năm 1978 phương tiện đi lại hết sức khó khăn, từ quận 5 đón xe lam ra chợ Bến Thành, rồi đổi xe đi ngã tư Bẩy Hiền, rồi đổi xe đi Bà Quẹo, xuống khỏi  ba chuyến xe lam là đón xe thổ mộ đi vào khu vực nghĩa trang, đang chờ xe ngưa thì gặp lại Nguyễn Ngọc Linh, lần này, khuôn mặt tươi rói, người nữ bên cạnh ông có nước da trắng, tươi trẻ và xinh đẹp, Linh giới thiệu bà xã mình. Sau này, có lần Linh tâm sự về cuộc tình tuyệt đẹp này.

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi, 

Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn

(Nguyễn Bính).

Nhà Linh và nhà chị Hoa ở cạnh nhau, nhà Linh là một căn nhà bình thường trong khu xóm nhỏ ở đường Hoàng Đạo, nằm sát bên ga xe lửa Saigon, Cạnh bên là một khu vườn rộng, chính giữa có căn nhà ngói xưa, trong đó gia đình chị Hoa sống kín cổng cao tường với các người con du học bên Pháp, chỉ còn ông bà già và một cô con gái tiểu thư. Linh nhiều lần đã nhìn thấy cô gái đó đi học thướt tha, hoặc đôi khi thấp thoáng giữa những luống hoa trong khu vườn đầy hoa trái. Nhưng mà…

hai người sống giữa cô đơn

dường như nàng có nỗi buồn giống tôi … 

(Nguyễn Bính).

Cơ hôi đến khi ông cụ bị bệnh nan y ,cần người chăm sóc đặc biệt, Linh tình nguyện làm điều đó, tân tâm khuya sớm từng bữa ăn giấc ngủ cho cụ ông, làm xúc động cụ bà, và mềm lòng cô tiểu thư gần nhà. Cụ ông mất và cụ bà chủ động gọi Linh cho cưới, rôi cho về ở chung, cắt hẳn một khúc vườn quay ra mặt hẻm cho hai vợ chồng xây dựng cơ ngơi là một quán cà phê.

Gặp lại Nguyễn ngọc Linh, nối lại mối giây liên lạc với Bùi Công Bằng và Đinh Việt Hùng, chúng tôi có nhiều hơn những gặp gỡ và hiểu nhau nhiều hơn. Cho đến một buổi, khi Linh ôm đàn hát một ca khúc lạ, lại là một ca khúc hay. Lúc đó mới biết Linh viết nhạc đã lâu.

Là một mẫu người năng động, thich hoạt động, ngoài sinh hoạt với phong trào sinh viên, Linh là một Du Ca Viên và là một Hướng Đạo Sinh. Sinh hoạt Hướng đạo là sinh hoạt Linh tâm huyết nhất. Ngay từ lúc mới quen hồi năm 1972 cho đến bây giờ (2018)  dù là Linh vẽ tranh, viết nhạc, trình bày ca khúc, trang trí nội thất, trồng lan, làm thợ mộc… dường như lúc nào cũng là một con người Hướng Đạo với tất cả sự tận tâm, cần mẫn và  tinh thần trách nhiệm cao. Tên rừng của Linh là Sơn Ca Cẩn Thận.

Tên Rừng là một truyền thống đặc biệt và hấp dẫn của Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam. theo lời giới thiệu của Huynh Trưởng Sáo Lý Luận Diệp Hoàng Mai, thì nguồn gốc và mục đích của tên rừng là :  “Huân tước Robert Baden-Powell, người sáng lập ra phong trào Hướng Đạo thế giới, đã nhận thấy được những điều hay qua các tập tục của dân bản xứ châu Mỹ trong các nghi lễ đặt tên rừng. Ông liền áp dụng vào trong phong trào Hướng Đạo của mình, bằng một trò chơi sáng tạo chứ không sao chép hoàn toàn tập tục đó. 

Trò chơi được lên kế hoạch tỉ mỉ, nhiệm vụ được phân chia rõ ràng. Trò chơi được qui định nhiều thử thách, thường thì rất táo bạo và đầy lý thú. Hội đồng Rừng giữ bí mật địa điểm, nội dung lẫn chi tiết trò chơi, cốt để người tham gia trò chơi bị bất ngờ mà bộc lộ hết tính cách của họ.”

Tên Rừng thường có hai phần, phần một là một con thú có hình dáng bề ngoài , hoặc khả năng đặc sắc của người được đặt  và phần hai là tính tình tổng quát.  Tên Rừng là niềm tự hào của một Hướng Đạo Sinh. Sơn Ca Cẩn Thận tỏ rõ ham thích hay ca hát  và làm việc cẩn thận của Nguyễn Ngọc Linh.

Từ khi Linh hát cho bạn bè nghe những sáng tác của mình, thì cũng là lúc Linh bắt đầu tìm thơ bạn bè phổ nhạc, Linh phổ nhạc 7 bài thơ của Đoàn Văn Khánh và 9 bài thơ của Nguyễn Minh Nữu.

Bài thơ đầu tiên Linh phổ từ thơ tôi là một kỷ niệm đẹp. Thực ra đó không phải là bài thơ tình. Chữ Người tôi dùng trong thơ là bóng bẩy nói về đấng tối cao, và lời thơ là bày giải một tỉnh ngộ sau biết bao chao đảo, tuyệt vọng giữa đời thường, sau biết bao tìm kiếm sự bằng an cho tâm hồn, để rồi một lúc nào đó, ngồi lại một mình và thấm thía lẽ vô thường.

Khi Linh bắt gặp bài này và phổ nhạc, thì Linh lại có một đồng cảm kỳ dị khi cũng nghĩ đến một tình yêu bao la hơn tình yêu con người, trong đó tình yêu là cứu chuộc, và bao dung, thánh tẩy con người  để trở về hoàn thiện. Khi Linh hát cho tôi nghe lần đầu, và nói cái cảm giác đó, chúng tôi như hòa nhập vào nhau niềm cảm xúc.

CUỐI CÙNG NGƯỜI CŨNG YÊU TÔI

Rất có thể tôi vẫn chờ vẫn đợi 

Hạnh phúc nào vời vợi cuối chân mây 

Ước mơ nào vẫn lọt giữa khe tay 

và khao khát một điều không có thật. 

Lòng mê vọng muộn phiền đan lớp lớp

Rất có thể những trở trăn thao thức 

Những ngại ngùng day dứt nối dài đêm 

Những nỗi buồn theo tuổi  sẽ dầy thêm

Và oan khuất vòng đời không thoát được

Rất có thể giữa đời người mê ngất 

giữa giòng chen, chật vật một đường tơ 

Nợ cơm áo một giòng thơ bất chợt

Trong trăng rằm như thoáng chút tình mơ

Rồi Người đến bàng hoàng như ánh chớp 

Bóng hình Người choáng ngợp cả hồn tôi 

Tôi hiểu ra tôi, tôi cảm ơn Người 

Cảm ơn cả từng giọt đời mặn đắng.

Đêm có bóng đen, ngày còn sợi nắng 

Không bao giờ tôi xa vắng người đâu. 

Nghiêm tĩnh muôn đời có tự bao lâu? 

và Vĩnh viễn  một màu hoa Vô Thường

Cuối cùng người cũng yêu tôi

Thơ Nguyễn Minh Nữu – Nguyễn Ngọc Linh phổ nhạc – Tiếng hát Vân Khánh – Thực hiện clip: Trung Nguyên

Bấm vào dưới đây để nghe/xem :  https://youtu.be/hzV0pduke9U

Tháng 3/2018, Khi nhìn thấy tấm hình Linh chụp với Bằng và Hùng. Tôi tưởng hình mới chụp vì biết tin Linh bệnh lâu rồi, nay thấy tấm hình khí thế khi cùng bạn bè đứng trước chợ Đà Lạt, nên vội gửi lời thăm và chúc mừng. Ngờ đâu, bạn trả lời đó là hình hồi 4 năm về trước còn bây giờ thì : Bệnh hoạn đã tàn phá sức khỏe tôi,đến giờ còn da bọc xương đi lại không nổi, bệnh zona hơn một năm mà di chứng của nó vẫn còn hành hạ tôi như sống trong địa ngục.

Đã vậy còn phải thở Oxi tại nhà. Nhưng cuộc đời đã cho tôi gặp được những người bạn thân chân tình đã mấy chục năm nay.Xin cám ơn đời,cám on những người bạn thân của tôi.  Người thân, bạn bè rồi cũng vơi đi. Nên hãy trân trọng những lúc còn gặp được nhau biết đâu đó là lần sau cùng. (Ngọc Linh Sơn Ca trả lời trên facebook)

Tôi không đồng ý với chữ Sau Cùng của Nguyễn Ngọc Linh nên nhắn tin với Đoàn Văn Khánh, Bùi Công Bằng, Đinh Việt Hùng và rủ  “Hay tụi mình làm một cái gì đó Ngọc Linh Sơn Ca đi”.  Khi gửi ra lời rủ rê đó, một người bạn Du Ca khác ở New York là Hoàng văn Phượng nhắn tin “cho em tham gia với“, thế là một dự án được thành hình, chưa có tên chính thức, sẽ là một CD nhạc, gồm 12 ca khúc nhạc của Nguyễn Ngọc Linh trong đó có một số phổ từ thơ bạn bè, với tiếng hát của những bạn bè thân thích với Linh từ đó đến giờ. Bùi Công Bằng biên tập, Đoàn Văn Khánh giới thiệu, các tiếng hát mãi xanh Đinh Việt Hùng, Hương Giang, Minh Hương, Carol Kim Phước…

Sẽ mãi mãi bên nhau Sơn Ca Tóc Bạc Nguyễn Ngọc Linh nhé.

Nguyễn Minh Nữu  – Virginia, April 7, 2018

TỪ BUỔI KHAI SINH…

TIẾNG HÁT LỆ THU

Năm 1954, tôi 10 tuổi, mẹ con tôi di cư vào Sài Gòn sinh sống, Nhà tôi hồi đó ở khu Vườn Chuối nằm trên đường Phan Đình Phùng, cạnh nhà có một ông thầy dạy nhạc. Tôi thường nghe tiếng nhạc phát ra từ nhà ông rồi cứ thế véo von hát theo. Bạn bè, bà con lối xóm hay kéo sang nghe đứng chật trước cửa nhà, trầm trồ : “Ôi, con bé này hát hay quá !”.

Tôi nghe thì biết vậy chứ có hiểu thế nào là hát hay hoặc chưa hay đâu. Có người kêu tôi, đi thi hát đi. Tôi tò mò hỏi thế thi hát là thi như thế nào ? Họ bảo lên đài phát thanh ghi tên, rồi đứng trong phòng kính có đặt một tấm gương cho mình nhìn vào và hát. Trí óc non nớt của một đứa con gái 13, 14 tuổi ăn chưa no, lo chưa tới, chưa từng đến phòng thu, làm sao có thể hát trước một tấm gương phản chiếu hình ảnh của mình trong một căn phòng kín như thế ?

Tôi sợ nên không dám đi thi.. Lần sắp thi tú tài, nhân dịp sinh nhật một nhỏ bạn tổ chức trên sân thượng phòng trà Bồng Lai, mấy cô bạn trong nhóm của tôi thúc: “Ê Oanh, mày lên hát tặng con Liên một bài sinh nhật đi !”. Toàn bạn bè chơi với nhau, có gì đâu mà ngại. Tôi liền đứng lên hát bài Tà áo xanh (Dang dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Trong vô thức tự nhiên tôi hát bài đó thôi chớ không nghĩ chuyện kiêng kỵ gì hết. Tự dưng đâu, giọng hát tôi “lọt tai” ông chủ phòng trà. Ổng bèn ngỏ lời mời tôi đi hát.

Gia đình tôi gia giáo, biết chắc là mẹ không thể nào chấp nhận chuyện này nên tôi thẳng thừng từ chối. Ông thuyết phục tôi rằng : “Em có giọng hát rất hay và lạ. Không cần thức khuya đâu. Em cứ đến đây lúc 8 giờ, hát vài bài rồi 9 giờ về. Cứ nói với mẹ là đến nhà bạn thảo luận bài”. Kèm theo đó, ông trả cho tôi một số tiền khá lớn so với hình dung của tôi thời ấy.

Thế là tối tối, tôi giấu mẹ đi hát. Nhiều khi tôi mặc cả đồng phục ở trường đi hát luôn. Khi ông chủ phòng trà hỏi, tôi muốn được gọi như thế nào thì cái tên Lệ Thu lập tức bật ra như được định sẵn trong đầu mình. Kỳ thực, tôi cũng biết, chữ “lệ” mang nghĩa buồn lắm, là nước mắt và mùa thu cũng sầu không kém. Thế nhưng “lệ” ở đây còn có nghĩa là mỹ lệ, là một mùa thu rất đẹp. Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao cái tên này lại được bật lên một cách tự nhiên như thế.

Cạnh nhà tôi có anh hàng xóm thích tôi lắm. Mỗi lần ăn cơm xong, có tráng miệng lúc trái na, lúc trái cam, anh không ăn mà để dành cho tôi. Thấy tôi đi qua, ảnh không dám đưa tận tay, chỉ quẳng cho tôi và tôi cũng hồn nhiên nhận. Ảnh và tôi học khác trường. Bốn năm trời ảnh cứ đạp xe đứng ngóng tôi trong những giờ ra chơi vậy đó. Tối nào tôi cũng đi hát khiến ảnh tò mò. vài tháng sau, anh biết được và đem mách mẹ tôi.

Cụ nghe chuyện, nổi trận lôi đình. Cụ sợ tôi khổ do vướng phận “xướng ca vô loài”, rồi vướng chuyện trai gái này nọ. Tôi đứng im re nghe cụ rầy, không dám giải thích tiếng nào hết.

Bẵng đi ba bốn hôm, không thấy tôi đến, nghĩ là có chuyện, ông chủ phòng trà tìm đến tận nhà. Mẹ tôi cấm ngặt. Ông thuyết phục mẹ tôi rằng, tôi có giọng hát rất hay và lạ, mong mẹ đừng để lỡ cơ hội và tài năng của tôi. Thấy mẹ còn lo lắng, ông mời mẹ lên phòng trà mục sở thị. Mẹ tôi mất ăn mất ngủ mấy ngày liền mới quyết định đi thử. Bữa đó, gia đình tôi đông người đi xem lắm.

Bác tôi cứ liên tục đay nghiến mẹ : “Tại sao cô lại để cho nó đi hát chứ ?”. Coi tôi bước lên bục hát vài bài rồi xuống, mẹ tôi còn tưởng là lừa cụ do đâu nghĩ mọi chuyện dễ dàng vậy mà được trả thù lao cao thế. Đi vài đêm, nghe thính giả vỗ tay rần rần, cụ bắt đầu lay chuyển và đồng ý, với điều kiện phải cho cụ theo. Suốt hai năm như vậy, cụ mới cảm thấy yên tâm để tôi đi một mình…..”

10 năm sau Báo chí Saigon nhắc đến tên Lệ Thu như “một trong những giọng hát tình khúc hay nhất của nền tân nhạc VN”. Vâng, hầu như người ta chỉ biết tên tuổi của cô gắn liền với những tình khúc “thời chiến” (Nước Mắt Mùa Thu, Mùa Thu Chết, Nửa Hồn Thương Đau, Hạ Trắng, Như Cánh Vạc Bay, Hoài Cảm, Tình Khúc Thứ Nhất, Xin Còn Gọi Tên Nhau, Chiều Tím, Dáng Ngọc, Chiếc Lá Cuối Cùng, Anh Cho Em Mùa Xuân, …) hay “tiền chiến” (Dang Dở Tà Áo Xanh, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Lá Đổ Muôn Chiều, Bến Xuân, … bởi những tác phẩm ấy quá phổ biến; tuy vậy, cũng ở “mảng” tình khúc này, tôi dám chắc còn không ít tuyệt phẩm do ca sĩ này hát mà bạn chưa từng biết, chẳng hạn : Về Trên Lá Cỏ Ngậm Ngùi, Mái Tóc Dạ Hương, Mắt Biếc, Yêu, Hoa Soan Bên Thềm Cũ, …?

Mà không chỉ thế, có thể bạn cũng chưa biết: Gia tài của Lệ Thu không chỉ gồm các tình khúc “hiện đại” và “sang trọng”: Cô còn “lấn sân” qua mảng “sầu tình”, nhưng điều rất ư thú vị (và kỳ diệu nữa) là qua “bộ lọc Lệ Thu” nó bỗng dưng, chỉ trong “đường tơ kẽ tóc”, thoát khỏi thân phận “sên… sắc” để trở nên “quí phái” vô song. (Vâng, nhưng bạn đừng chỉ nghe Sang Ngang, Một Lần Cuối, Tình Buồn, mà hãy nghe cả Nửa Cuộc Tình Buồn, Tuyệt Vời Bóng Tối, Bài Tình Buồn,… nữa.)

Và cuối cùng (tạm cho là vậy), một “mảng” khác của Lệ Thu – mảng đề tài “quê hương”, “thế sự”, mà bản Không Ai Ngăn Nổi Lời Ca tôi vừa “hỏi đố” bạn trên kia là một thí dụ – vẫn còn đang chờ được khám phá: Vang Bóng, Tình Quê Hương, Thương Quá Là Thương, Lời Yêu Dấu Cho VN, Xin Mặt Trời Sáng Trở Lại, Xin Cho Tôi, … Ở đó, người ta phát hiện một Lệ Thu khác – “về nguồn” – “nồng nàn” và “tha thiết” khác thường.

Ngày ấy, mỗi lần rất hiếm hoi, chủ yếu chỉ trong các show của Jo Marcel và Phạm Mạnh Cương danh ca này xuất hiện trên TV, nhiều người phải tạm bỏ dở công việc để “nghe/ngắm” cô – không là “tuyệt sắc”, nhưng “kiêu sa mê hồn”! Ở vũ trường, mỗi khi Lệ Thu bước ra chỗ dành cho cô, cầm lấy micro, đứng im, chuẩn bị hát, thì “mọi người dừng khiêu vũ để nghe”.

Sức hút của giọng hát này ở đâu ? Ở cách nhả chữ “điêu luyện”, “chắc nịch mà êm như nhung” ? Ở kiểu “ngân rung” cuối mỗi câu nghe như sóng gợn, “hút hồn” ? Hay ở chất giọng “trầm ấm” mà “trang trọng”, rất “gợi cảm”? (Lệ Thu chọn hát bằng giọng “thật”, không bằng “giả thanh” – ngoại trừ ở một đôi chỗ trong các bài Bến Xuân, Đêm Đông Lạnh Lẽo, Ly Rượu Mừng, và Vọng Ngày Xanh. Phải chăng chỉ bằng giọng “thật”, ca sĩ mới có thể “hát như rót từng dòng tâm sự đến người nghe” ?)

Có lẽ tất cả các nhận xét trên đều xác đáng. Quả khó tìm được ai khác hát tiếng Việt phát âm từng chữ vừa đĩnh đạc chuẩn xác vừa biểu cảm tinh tế, vừa “hiện đại” vừa “kinh điển”, như ca sĩ này. Giọng đã sẵn khỏe, mỗi lúc lên “cao trào” nghe “mãnh liệt dữ dội” (chẳng hạn ở các bài Mùa Thu Chết, Chiếc Lá Cuối Cùng, Bài Tình Buồn,… nói trên), nhưng một trong những đặc điểm quyến rũ nhất của Lệ Thu là cô không phô trương “nội lực” (điều hiển nhiên thừa mứa trong làn hơi của cô), mà bao giờ cũng mở đầu “êm khẽ dịu dàng” (nhưng dầu là “êm”, “dịu” đến đâu cũng vẫn cho thấy người hát đang “nén” làn hơi sung mãn của mình), rồi “mạnh”, “lớn” dần, để đạt đến “đỉnh”, “bùng vỡ” ở chính xác những “chỗ” cần phải ….”bùng vỡ”……. (Thành Ý viết theo lời kể của LT)

CHÁO HUYẾT

MÓN NGON THỜI ĐI HỌC

Nửa đêm tà tà đạp xe về nhà, đói bụng, tôi tắp dzô xe cháo huyết gần trường Lê Bảo Tịnh, đường Trương Minh Giảng. Chủ xe cháo là một ông già Tàu, nói tiếng Việt lơ lớ. Không biết ổng nấu cháo kiểu gì mà ngon kinh khủng… ngon từ cháo .. tới huyết., với vài khoanh “giò cháo quẩy” béo ngậy điểm lá hành ngò, vài cọng gừng và ớt bằm thiệt cay… ..

Hình như nồi cháo huyết này được Ông già hầm với da heo, tôm khô và mực khô, riêng miếng huyết, ổng khéo “xử lý” nên vừa dai vừa mềm ! Hồi đó chẳng ai nghi ngại gì về tính an toàn của thực phẩm nên Sinh viên học sinh coi cháo huyết là món “ăn chơi cao cấp” mà người Việt nấu không thể ngon hơn !…

Ông già Tàu tính toán hơi kỹ, tô đựng cháo thì nhỏ xíu, Ổng múc chỉ tới nửa tô muốn no phải ăn 4, 5 tô mới tạm ổn… Bữa nào hẻo “đạn”, tôi kêu một tô, cho ớt thiệt cay, xin thêm da heo…. uống nhiều trà đá dzô, thì “cõi lòng” tôi cũng đỡ vật vã…..Sau năm 1975, ông già Tàu không bán nữa, nhường xe cháo lại cho vợ chồng người con trai. Thằng con vẫn nhận ra… t

ui là khách quen, bàn tay múc cháo của nó cũng nhuần nhuyễn như Ông già, vẫn “cháo nửa tô”, đúng chuẩn ! Bây giờ sau 40 năm vật đổi sao dời… nhà cửa xây cất lên nhiều, cảnh vật cũng đổi thay, chẳng biết xe cháo huyết kỷ niệm của tôi trôi dạt về đâu…

Tết năm nay, Saigon trời se lạnh, lạnh bất thường. tôi đi bộ qua con đường cũ, nhớ ông già Tàu, nhớ “cháo nửa tô” cay cay bốc khói… từng giải quyết ” nỗi lòng” tôi đêm khuya ngày xưa ấy… Nói thiệt tình không lưỡng lự, với tôi, tô cháo huyết của Ông già Tàu hồi đó ngon tuyệt…. ngon nhất đời tui lun á ! …. Hồi nhỏ, Bạn thích ăn cháo huyết hong ?  (theo Vũ Thế Thành)

Quế Phượng tổng hợp chuyển tiếp

ĐẶNG THẾ PHONG – TÀI HOA BẠC MỆNH

ĐẶNG THẾ PHONG

TÀI HOA BẠC MỆNH

– Giọt Mưa Thu…

https://m.youtube.com/watch?v=0sEgKMFfOXk

https://m.youtube.com/watch?v=Zv4z3iMKDlo

– Đêm Thu… Tiếng hát Thái Thanh

https://m.youtube.com/watch?v=nUNyx27scXU

– Con Thuyền Không Bến…

https://m.youtube.com/watch?v=Utjq9y6nVlo

Hoàn cảnh ra đời Giọt mưa thu là nhạc phẩm cuối cùng của cố nhạc sĩ Đặng Thế Phong được ông viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh năm 1942. Ban đầu bản nhạc mang tên Vạn cổ sầu, nhưng theo ý một vài người bạn, ông đặt lại là Giọt mưa thu cho bớt sầu thảm hơn. Ca khúc này có sự tham gia viết lời của cố nhạc sĩ Bùi Công Kỳ.

Giọt mưa thu được xếp vào những ca khúc hay nhất của tân nhạc Việt Nam. Phạm Duy cho rằng Giọt mưa thu cùng hai nhạc phẩm khác của Đặng Thế Phong khởi đầu cho dòng “nhạc thu” Việt Nam sẽ được Văn Cao và Đoàn Chuẩn tiếp nối. Nhạc phẩm này cũng là cảm hứng để Hoàng Dương sáng tác bài Tiếc thu nổi tiếng. Nhiều ý kiến cho rằng Trịnh Công Sơn đã ảnh hưởng bởi Giọt mưa thu khi viết bản nhạc đầu tay Uớt Mi.

Về hoàn cảnh ra đời của Giọt mưa thu, theo một bài viết của nhạc sĩ Lê Hoàng Long :

Thế rồi, một hôm mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường, Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn cổ sầu. Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát cho mọi người nghe.

Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn khóc. Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong, đổi tên là Giọt mưa thu. Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là giòng nước mắt tuôn chảy lênh láng của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong – Tuyết cũng phải cùng chung số phận phũ phàng giống vậy chăng ?

Đến một ngày cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về.

Vài nét về Đặng Thế Phong 

Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Cha ông là Đặng Hiển Thế, thông phán Sở Trước bạ Nam Định.

Vì cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure) tại trường trung học Saint Thomas d’Aquin. Ông lên Hà Nội vẽ cho một số tờ báo và học với tư cách dự thính tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Ecole supérieure de Beaux Arts) tới năm 1939. Thời gian ông học ở đây đã để lại một giai thoại. Trong một kỳ thi, Đặng Thế Phong vẽ bức tranh cảnh một thân cây cụt. Giáo sư, họa sĩ người Pháp Tardieu chấm bài, khen ngợi nhưng nói rằng: E Đặng Thế Phong sẽ không sống lâu được! 

Cuộc đời Đặng Thế Phong rất long đong, lận đận. Ông phải sống lang bạt và trải qua nhiều nghề. Tháng 2 năm 1941, Đặng Thế Phong lang thang vào Sài Gòn rồi sang Campuchia. Tại Nam Vang, ông có mở một lớp dạy nhạc và đến tháng 8 năm 1941 ông trở lại Hà Nội.

Sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong chỉ có ba nhạc phẩm và đều rất nổi tiếng là: Đêm thu ca khúc viết cho lửa trại của học sinh Hà Nội 1940, Con thuyền không bến hoàn chỉnh tại Nam Vang, trình diễn lần đầu tại rạp Olympia, Hà Nội năm 1941 và Giọt mưa thu 1942. Nhạc phẩm cuối cùng Giọt mưa thu được ông viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh. Ban đầu bản nhạc mang tên Vạn cổ sầu, nhưng theo ý một vài người bạn, ông đặt lại là Giọt mưa thu cho bớt sầu thảm hơn.

Cả ba ca khúc của ông đều viết về mùa thu và hai trong số đó Con thuyền không bến và Giọt mưa thu được xếp vào những tác phẩm bất hủ của tân nhạc Việt Nam. Theo Doãn Mẫn, Đặng Thế Phong và Lê Thương là hai nhạc sĩ tiền chiến có sáng tác sâu đậm hồn dân tộc nhất : “Đặng Thế Phong là người hết sức tài hoa. Anh chơi được rất nhiều nhạc cụ. Anh sáng tác Giọt mưa thu, Con thuyền không bến từ khi còn rất trẻ. Đáng tiếc, anh mất quá sớm. Có thể nói sự ra đi của anh là một tổn thất lớn đối với bạn bè và cho cả những người yêu mến âm nhạc Việt Nam“.

Đặng Thế Phong – Tài hoa bạc mệnh 

Trăm năm trong cõi người ta 

Chữ Tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau 

(Nguyễn Du) 

Suy từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người tài hoa là người bạc mệnh, kẻ hồng nhan thường đa truân. Nhìn vào làng nhạc, nhạc sĩ Đặng Thế Phong là điển hình rõ nét nhất.

Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định. Ông là con trai Đặng Hiển Thế, thông phán Sở trước bạ Nam Định. Thân phụ ông chẳng may mất sớm, gia đình túng thiểu, ông phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc thành chung (deuxième année primaire supérieure, nay là lớp bảy cấp hai phổ thông). Vướng vào cái nghiệp văn nghệ từ thủa còn nhỏ nên ông đã lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Ecole supérieure de Beanx Arts) với tư cách bàng thính viên (auditeur libre).

Đặng Thế Phong đã thực sự lấy nghề nuôi nghiệp: thời gian theo học này, ông đã phải vẽ tranh cho báo Học Sinh (chủ báo là nhà văn Phạm Cao Củng) để có tiền ăn học. Trong một kỳ thi, ông đã vẽ một bức tranh cây cụt, không có một cành nào. Lúc nạp bài, giáo sư Tardieu, thầy dạy ông đã nói rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!

Ông đã phiêu du vào Sài Gòn rồi sang Nam Vang vào đầu năm 1941 và mở một lớp dạy nhạc tại kinh đô xứ Chùa Tháp cho đến mùa thu 1941 ông lại trở về Hà Nội.

Cũng giống như Mozart lúc sinh thời, Đặng Thế Phong là một nhạc sĩ rất nghèo, nên cuộc sống của ông chật vật. Ngoài tài làm nhạc, vẽ tranh, ông còn có giọng hát khá hay, tuy chưa được là Ténor nhưng cũng được khán giả hâm mộ. Lần đầu tiên ông lên sân khấu, hát bài Con Thuyền Không Bến tại rạp chiếu bóng Olympia (phố Hàng Da Hà Nội) vào năm 1940, được hoan nghênh nhiệt liệt. Đặng Thế Phong là một thiên tài, nhưng vẫn không có được cuộc sống sung túc giữa cố đô Thăng Long lúc bấy giờ vì nhạc và tranh dù có hay, có đẹp đến mấy chăng nữa cũng chẳng có mấy ai mua.

Thời ấy, chính quyền bảo hộ Pháp có mở một phòng triến lãm tranh tại hội Khai Trí Tiến Đức, khu Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Sau lễ khai mạc được ông Đốc Lý thành phố Hà Nội đến cắt băng, người ta thấy những người đến xem tranh phần rất lớn toàn là ông Tây, bà đầm, còn người Việt thì đúng là lơ thơ tơ liễu buông mành, nhìn kỹ thấy toàn là các quan ta, những công chức cao cấp, giới trí thức, thượng lưu chứ chẳng thấy một dân thường nào !

Ngoài ra, thời bấy giờ chính quyền Pháp có tổ chức mở phòng triển lãm là bảo trợ cho các hoạ sĩ Pháp trưng bày tranh của mình còn hoạ sĩ Việt Nam thì số người lọt được vào, ta có thể đếm trên đầu ngón tay. Đến nhạc thì nếu có in, mỗi lần xuất bản cũng chỉ in nhiều nhất là 500 bản, dân chúng chưa yêu chuộng nhạc cải cách (tân nhạc) nên dù có thực tài thì cũng không thể có được một cuộc sống sung túc nếu nhờ vào sức lao động nghệ thuật!

Đặng Thế Phong phải chịu một cuộc sống khó khăn, chật vật trong “kiếp con tằm đến thác vẫn còn vương tơ” cho đến đầu năm 1942, ông từ giã cõi đời tại căn gác hẹp ở  phố Hàng Đồng Nam Định vì bệnh lao màng (tuberculose péritonique),  hưởng dương 24 tuổi, tuổi son trẻ, đầy thơ mộng, sắp bước vào thời xây dựng sự nghiệp (tam thập nhi lập).

Cuộc đời của Đặng Thế Phong thật quá ngắn ngủi nhưng đời sống tinh thần của ông rất phong phú và thi vị. Nhờ thế mà tuy sáng tác chỉ có ba bài: Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu.

Nhưng bài nào cũng trở thành vĩnh cửu, qua hơn nửa thế kỷ vẫn là những bài hay nhất của làng nhạc Việt Nam. Nhạc hứng chân thành đều phát xuất từ con tim, vì thế mà sáng tác của ông có hồn, đi vào lòng người và sống mãi ! Qua Đặng Thế Phong, ta chứng minh được văn nghệ tính phẩm chứ không tính lượng (quý hồ tinh bất quý hồ đa). Con người làm văn nghệ viết được một câu để đời đã là khó, được một tác phẩm để đời là đáng mãn nguyện lắm rồi. Với âm nhạc, người chuyên sư ? dụng một nhạc cụ cho thật điêu luyện được tôn kính hơn là người biết sử dụng nhiều thứ đàn, chẳng thế nào có được một thứ thật tuyệt hảo. Về sáng tác cũng vậy, làm cho nhiều, cố nặn cho lắm, thê? điệu nào cũng có bài thì dù viết cả ngàn bài chưa chắc đă có lấy một bài có giá trị nghệ thuật và vĩnh cửu! Chỉ sáng tác có ba bài thôi, Đặng Thế Phong đã sống mãi trong lòng mọi người, chắc chắn là hơn người có cả ba trăm bài mà chẳng có một bài nào để người ta nhớ !

Với nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, muốn thành công là phải có tài năng thiên phú chứ không thể nhờ vào thời gian, kiên nhẫn, sách vở, trường lớp hay bằng cấp mà đạt được! Vì thế chúng tôi dám tôn vinh Đặng Thế Phong là một thiên tài của làng nhạc Việt, thật không ngoa.

Cuộc đời Đặng Thế Phong đã có được một mối tình thật chung thủy tuyệt đẹp : Khi còn ở Nam Định, Đặng Thế Phong đã đem lòng yêu một thiếu nữ buôn bán ở Chợ Sắt, chợ duy nhất và lớn nhất của thành phố.. Cô này không đẹp nhưng lại rất có duyên.

Sau nhiều ngày đi chơi chợ, Đặng Thế Phong đã lọt vào mắt mỹ nhân. Cặp tình nhân trai tài, gái đảm đã dìu nhau vào cuộc tình thật trong sáng và cao thượng! Điều đáng ca ngợi là chàng nhạc sĩ tài hoa họ Đặng không bao giờ đụng chạm đến đồng tiền của người yêu, dù cho người đẹp, tên Tuyết, nhiều lần khôn khéo bày tỏ lòng mình muốn giúp chàng.

Những buổi chiều trời quang, mây tạnh hay gió mát, trăng thanh, hai người đều dìu nhau trên những con đường ngoại ô để tâm tình. Thời bấy giờ, nhiều thanh niên rất ngưỡng mộ Đặng Thế Phong, khi biết mối tình của cặp Phong – Tuyết, đều mến trọng và tôn kính là một cuộc tình lý tưởng!

 Đặc biệt nhất là mấy cô gái  phố Hàng Đồng, gia đình rất khá giả tỏ lòng yêu mến Đặng Thế Phong, nhưng ông vẫn một lòng yêu cô Tuyết, dù cô không đẹp bằng mấy cô kia. Có một hôm, mấy cô kia đang đứng nói chuyện với nhau thấy Đặng Thế Phong đi qua, với lối đi có vẻ vội vã. Thấy bóng ông, mấy cô ngưng bặt, rồi chẳng cô ai bảo cô nào, tất cả ánh mắt đều hướng về ông như dán chặt vào người ông vậy. Khi Đặng Thế Phong vừa bước tới ngang chỗ các cô thì một giọng nói đầy hờn dỗi pha thêm mai mỉa, được nói lớn lên, cố ý cho Đặng Thế Phong nghe thấy :

– Mấy chị đứng dịch ra, người ta đi vội kẻo trễ hẹn ! 

Đặng Thế Phong nghe rõ nhưng coi như điếc, cứ rảo bước như không có gì xảy ra. Đến nơi hẹn, gặp cô Tuyết đã đứng chờ, Đặng Thế Phong kể cho cô nghe vụ vừa bị chọc ghẹo. Cô Tuyết không nói gì mà chỉ tủm tỉm cười với ánh mắt nhìn người yêu thật là trìu mến. Về nhà, Đặng Thế Phong không nói ra với anh chị em mà thầm thì kể cho ông chú họ, cùng lứa tuổi, là ông Nguyễn Trường Thọ biết thôi.

Ngoài ra, ông còn kể cho ông Thọ nghe chuyện cô Tuyết có một chàng thông phán trẻ, đẹp trai, có tiền, có địa vị, làm ở Tòa Đốc Lý thành phố theo đuổi, còn nhờ cả hai người mai mối nhưng cô nhất quyết khước từ, bất chấp cả lời dị nghị của mọi người, nhất là gia đình cố ý gán ghép.

Năm 1940, Đặng Thế Phong phải tạm xa cô Tuyết để lên Bắc Giang ít ngày. Ai đã đến Bắc Giang là biết thị xã này có con sông Thương, một con sông có hai dòng nước, bên đục, bên trong. Kẻ viết bài này, lúc bé học ở Bắc Giang, vào những ngày hè nóng bức, cùng bạn bè ra sông bơi. Đứng từ trên cầu ra tháp nước khá cao, nhìn thấy rõ hai dòng nước đục trong rõ rệt ! Ở Bắc Giang, một buổi tối trăng sao vằng vặc, Đặng Thế Phong đã cùng bạn bè thuê thuyền cấm sào rồi cùng nhau chén chú, chén anh hàn huyên mọi chuyện.

Đang lúc đang vui thì có người ra dưa cho Đặng Thế Phong một bao thư. Ông ngưng ngay chuyện trò và vào trong khoang, lấy bao diêm ra đốt lửa để coi thư và đây đúng là thư của cô Tuyết, từ thành Nam gửi lên cho ông. Đọc xong thư, ông có vẻ buồn và suy nghĩ. Bạn bè thắc mắc nên hỏi, được ông cho biết thư báo tin cô Tuyết nhuốm bệnh cả tuần rồi và nhớ ông lung lắm nên có lẽ ông phải về Nam Định gấp ! Chính đêm này, lúc đêm sắp tàn, Đặng Thế Phong thao thức không sao chợp mắt được, đã ngồi dậy sáng tác được tác phẩm Con Thuyền Không Bến buồn não ruột :

Đêm nay thu sang cùng heo may 

Đêm nay sương lam mờ chân mây 

Thuyền ai lờ lững trôi xuôi giòng 

Như nhớ thương ai trùng tơ lòng… 

… Lướt theo chiều gió 

Một con thuyền theo trăng trong 

Trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng 

Biết đâu bờ bến? 

Thuyền ơi thuyền trôi nơi nao 

Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu?…

Hai hôm sau Đặng Thế Phong từ giã bạn bè, rút ngắn thời gian để về Nam Định. Được tin Đặng Thế Phong đã về, cô Tuyết thấy bệnh thuyên giảm rất nhanh. Và tối hôm sau hai người hẹn gặp lại nhau. Lúc ấy miền Bắc đang vào Thu, gió heo may kéo về mang cái lạnh. Tối hôm ấy trăng lên muộn, trời tối gió nhẹ làm cho hai người thấy thích thú đi bên nhau để sưởi ấm lòng nhau sau bao ngày xa cách.

Dìu nhau đến nơi cũ, Đặng Thế Phong ghé sát tai cô Tuyết, hát nhẹ nhàng, giọng rạt rào tình cảm như rót vào tai cô bài Con Thuyền Không Bến mà ông vừa sáng tác trong một đêm trắng trên sông Thương vì thương nhớ cô. Khi hát xong, Đặng Thế Phong phải lấy khăn tay ra nhẹ nhàng lau hai giòng lệ đang từ từ chảy xuống má cô với lòng xúc động không kém! Lúc ra về, Đặng Thế Phong nói: – Làm được một bài nhạc nhờ em, nay về được hát cho em là người đầu tiên nghe, thế là anh sung sướng lắm rồi!

Cô Tuyết cũng đáp lại lòng tri kỷ: – Là một người đàn bà tầm thường như em mà đã làm cho anh có được một bài hát thì với em đó là một vinh dự, một hạnh phúc thật cao sang, không phải ai ở trên đời cũng có được! Tình anh trao cho em thật trọn vẹn, thật bất diệt, chắc chắn không bao giờ hình ảnh anh bị phai mờ trong tim trong óc em được, bây giờ và mãi mãi. Đến lúc ấy chi. Hằng mới ló mặt ra dịu dàng nhìn xuống trần thế và chứng giám hai người yêu nhau đang đứng sát bên nhau sau khi đã uống cạn lời nói của nhau. Sau hôm ấy, Đặng Thế Phong mới cho phổ biến rất hạn chế trong đám thanh niên tỉnh nhà bài Con Thuyền Không Bến, được mọi người yêu chuộng nên rất nhiều người biết đến.

Chính vì thế mà có một người ở Hà Nội mới mời Đặng Thế Phong lên Hà Nội để hát tại rạp chiếu bóng Olympia bài hát của mình. Trong buổi ấy, Đặng Thế Phong ra sân khấu hát Con Thuyền Không Bến đầy xúc động vì ngay ở hàng ghế đầu, cô Tuyết đã bỏ hẳn một ngày chợ để lên Hà Nội nghe người yêu hát bài làm vì mình và cho mình ! Riêng với Đặng Thế Phong, ông xúc động là phải vì với số khán giả đông đảo không đáng ngại mà là trong lòng ông thầm nghĩ hát hôm nay rất cần và chỉ cần để một người nghe là đủ nên phải mang hết tài trí ra biểu diễn sao cho thành công ! Hát xong, khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt.

Sau một thời gian ở Bắc Giang, ông nhuốm bệnh. Vì lúc đó bệnh lao là nan y nên ông dấu mọi người, ai biết đều sợ bị lây nhiễm không hiểu sao cô Tuyết biết được. Cô Tuyết rất tế nhị và khôn khéo hỏi Đặng Thế Phong :

– Sao dạo này em thấy anh gầy và xanh lắm, Anh có bệnh gì không mà em thấy sút lắm! Anh đi nhà thương khám và thuốc men, cho khoẻ để mình còn tính đến tương lai! 

Ông ậm ừ cho qua. Từ đó cô Tuyết âm thầm tìm mọi cách để giúp người yêu trong lúc nhà nghèo bệnh trọng. Đặng Thế Phong cũng đến nhà thương để khám bệnh. Sau khi dò hỏi, biết bệnh của ông, cô Tuyết nhân quen với một số y sĩ (médecin indochinois) làm ở nhà thương, mua thuốc rồi nhờ ông ta nhận là thuốc của nhà thương, ông lấy cho Đặng Thế Phong.

Thuốc bệnh lao lúc ấy vừa hiếm lại vừa đắt, cô Tuyết không những không ngại tốn kém, mà còn thường xuyên gặp Phong để săn sóc một cách kín đáo, kể cả không sợ bị lây. Về phần Đặng Thế Phong thì ông không hề biết thuốc là của cô Tuyết mua cho mình.

Trong các cuộc tình cao đẹp của văn nghệ sĩ, có hai nữ lưu đáng để người đời ca tụng: cô Tuyết biết người yêu bị bệnh nan y, rất dễ lây, Mộng Cầm biết Hàn Mặc Tử bị bệnh phong cùi, vừa ghê sợ vừa dễ lây thế mà hai ngườí đã có tình yêu chân thật, chung thủy, không những không sợ mà còn hết lòng chăm sóc, thuốc men cho đến ngày tử biệt! Thật hiếm hoi và cao quý vô cùng!

 Mùa xuân năm 1941, cô Tuyết cùng Phong từ Nam Định lên Hà Nội dể tiễn chân và tạm biệt Đặng Thế Phong vào Sài Gòn (rồi đi Nam Vang). Ở kinh đô xứ Chùa Tháp, ở Hòn Ngọc Viễn Đông một thời gian thấy cuộc sống cũng không được thoải mái như ý mong muốn, Đặng Thế Phong trở về Hà Nội. Về lần này, Đặng Thế Phong không về Nam Định mà thuê một căn gác hẹp tường cây, mái lá ở làng trồng hoa Ngọc Hà, vùng ngoại ô thành phố Hà Nội.

Đặng Thế Phong ở chung với chú là ông Nguyễn Trường Thọ. Bệnh tình Đặng Thế Phong tái phát ngày một nặng vì người bị bệnh này phải mua thuốc men đầy đủ, phải nghỉ ngơi và ăn uống tẩm bổ tối đa mà những điều phải ắt có và đầy đủ này, với Đặng Thế Phong không thể có được. Chính vì thế mà không tuần nào là cô Tuyết không lên thăm và lo chữa bệnh cho Đặng Thế Phong.

Tháng Bảy mưa ngâu tầm tã, rả rích suốt ngày này sang ngày nọ, tháng này qua tháng khác, gió lạnh kéo về, nhà thì tường cây, mái lá, lạnh buốt lọt xương, cuộc sống kham khổ khiến bệnh tình Đặng Thế Phong ngày càng trầm trọng. Từng cơn ho làm rũ người, tiếp đến những cơn thổ huyết làm cho Đặng Thế Phong ngày một sút hẳn đi . Một mình trên giường bệnh, Đặng Thế Phong nhớ gia đình thì ít mà nhớ người yêu thì nhiều. Thân xác thì bệnh tật khó qua, tâm trí thì luôn luôn phải vật lộn với trăm ngàn ý nghĩ và hình ảnh cuộc tình tươi đẹp nên bệnh mỗi lúc một tăng.

Còn đâu những cuộc hẹn hò thơ mộng, quên làm sao được những lời thủ thỉ ân tình và hy vọng gì ở những ước vọng được thành đôi chim nhạn tung trời mà bay, tất cả đã được Đặng Thế Phong ngày đêm day dứt , tiếc thương, muốn níu kéo lại thì cũng chẳng còn gì dể bám víu!

Đặng Thế Phong đã mang lấy nghiệp vào thân thì đời con tằm đến thác cũng còn vương tơ, tránh sao thoát khỏi cái lưới trời thưa mà khó lọt ấy? Chính vì lẽ ấy mà Đặng Thế Phong đã thực sự thể hiện được câu các cụ đã dạy cọp chết để da, người ta chết để tiếng, dù cuộc đời ông ngắn ngủi với 24 mùa lá rụng, một cuộc đời ngắn đến nổi đo chửa đầy gang !

Thế rồi, một hôm mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường, Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn Cổ Sầu. Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát cho mọi người nghe. Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn khóc.

Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong, đổi tên là Giọt Mưa Thu. Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là giòng nước mắt tuôn chảy lênh láng của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong – Tuyết cũng phải cùng chung số phận phũ phàng giống vậy chăng?

Đến một ngày cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về. Về nhà, lần này cô Tuyết đích thân đến hàng ngày để chăm sóc, thuốc men cho Đặng Thế Phong, không ngại mệt mỏi và không sợ nguy hiểm đến bản thân mình. Những người quen biết đến thăm, thấy cảnh ấy đều mũi lòng và khâm phục lẫn mến thương cuộc tình cao quý, chung thủy của cặp Phong – Tuyết.

Không biết có phải là tại thần giao cách cảm hay không mà một hôm, nhạc sĩ Bùi Công Kỳ đột nhiên từ Hà Nội về Nam Định thăm Đặng Thế Phong lại vừa đúng lúc Đặng Thế Phong sắp lìa đời. Trên giường bệnh, phút lâm chung, không nói gì được với nhau, Bùi Công Kỳ ôm đàn hát cho Đặng Thế Phong nghe một lần chót bài Giọt Mưa Thu, Giọng hát Bùi Công Kỳ vừa dứt thì mọi người nhìn thấy Đặng Thế Phong mở cặp mắt nhìn như ngỏ lời chào vĩnh biệt rồi nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng.

Một vì sao Bắc Đẩu của làng nhạc Việt Nam, vừa ló dạng trên bầu trời đã vụt tắt gây niềm xúc động mãnh liệt và niềm thương tiếc vô bờ trong lòng mọi người! Trong tang lễ, nam nữ thanh niên của thành Nam đã lũ lượt kéo nhau đi, chật cả phố phường để tiễn đưa Đặng nhạc sĩ đến nơi an nghỉ cuối cùng với rất nhiều cặp mắt rưng rưng lệ! Cô Tuyết xin phép và được cả hai gia đình, mặc đại tang, đúng như một người vợ trong tang lễ chồng, thật là cảm động.

Năm 1960, tại Phú Nhuận, tôi được tiếp một thiếu phụ chưa hề quen biết. Sau lời chào hỏi, bà tự giới thiệu tên là Tuyết, người Nam Định, di cư vào Nam hiện ở Ban Mê Thuộc. Nhân lần vô tình đọc trên báo Tự Do, thấy quảng cáo trước cuốn Nhạc sĩ danh tiếng hiện đại (tập II) của tôi sắp xuất bản, viết về năm nhạc sĩ trong đó có Đặng Thế Phong, nên bà về gặp tôi để xin tôi cho bà mượn hình của cố nhạc sĩ, chụp lại để về thờ.

Trước kia, bà đã có nhưng lúc sắp di cư tấm ảnh đó bị thất lạc, kiếm mãi không sao thấy. Tôi vội lấy ảnh đưa ngay. Cậu cháu đi theo bà mang ngay ra tiệm hình ở đầu hẻm chụp gấp lấy ngay, xong trở vào gửi trả lại tôi. Trong lúc cậu cháu đi chụp hình, tôi có hỏi bà về chuyện tình tươi đẹp như bài thơ trong sáng như trăng mười sáu thì bà Tuyết xác nhận những điều tôi biết là đúng và còn bổ sung cho tôi thêm ít nhiều chi tiết.

Bà cũng không quên nói lên điều thắc mắc là tại sao tôi biết rõ thế? Tôi nói thật ngay là được ông chú Nguyễn Trường Thọ cho tôi mượn ảnh, kể rành rẽ cuộc đời ái tình của Đặng Thế Phong cho tôi nghe. Bà cười và nói:

– Chú Thọ tuy là chú nhưng cùng tuổi với anh Phong, nên hai người vừa là chú cháu vừa có tình bạn bè nên trong gia đình chỉ có chú Thọ là được anh Phong tâm sự mà thôi. Thảo nào ông biết quá rõ, quá đúng và quá đủ ! Sau lời cám ơn và trước khi ra về, bà Tuyết còn nói với tôi câu cuối cùng, đến nay đã 35 năm rồi, tôi vẫn còn nhớ :

– Cho đến ngày hôm nay, và mãi mãi về sau, tôi tôn thờ anh Phong và đời tôi luôn luôn thương nhớ anh ấy với tất cả cái gì trân trọng nhất. 

Viết ra những giòng trên đây, tôi xin được phép coi là nén hương lòng, suy tôn một bậc đàn anh khả kính và khả ái. Tuy anh đã ra người thiên cổ hơn nửa thế kỷ rồi nhưng những Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, Giọt Mưa Thu vẫn là những vì sao tinh tú sáng rực trên bầu trời ca nhạc. Thể xác anh có thể trở về hư không nhưng tinh anh vẫn còn lại muôn đời với giang sơn gấm vóc này.

Cuộc đời con người ta, sinh ký, tử quy đó là luật muôn đời của tạo hoá nhưng khi sống cho ra sống, lúc về được qua Khải Hoàn Môn, khi cất ba tiếng khóc chào đời, mọi người hân hoan cười mừng đón ta, khi nhoẻn miệng cười để lìa đời, mọi người thương tiếc khóc ta, thế mới thật là sống, mới đáng sống !

Anh đã vĩnh viễn ra đi nhưng tất cả những thế hệ hậu sinh, dù chưa được biết anh, khi hát những bài hát bất hủ của anh để lại, đều tưởng nhớ đến anh, một thiên tài mà ta có thể nói anh là một MOZART của Việt Nam, với tất cả tấm lòng kính mến trang trọng nhất!

Tôi cả tin rằng, dưới suối vàng. anh cũng có thể mỉm cười mãn nguyện. Hiển linh, anh về chứng giám và nhận cho nén tâm nhang này  (theo tác giả: Lê Hoàng Long)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SÀI GÒN TRĂM NHỚ NGHÌN THƯƠNG

SÀI GÒN

TRĂM NHỚ NGHÌN THƯƠNG

– Hồng Thủy

Tôi là con gái Bắc kỳ chính cống, nhưng lại lớn lên ở Sàigòn, nên Sàigòn đối với tôi là một ‘quê nhà’ thắm thiết vô cùng. Tôi đến với Sàigòn, thuở Sàigòn còn là một thành phố với những hình ảnh mộc mạc thanh khiết. Gái Sàigòn đơn giản hiền hòa với áo bà ba trắng, với quần đen ống thật rộng, với đôi guốc mộc nhẹ tênh hình cái thuyền, với mái tóc dài ôm trọn khuôn mặt không chút phấn son.

Hồi mới tới Sàigòn, gia đình tôi tạm trú tại nhà bà dì ở đường Quai de Belgique, sau này đổi thành bến Chương Dương. Ðứng ở trên lầu, tôi có thể nhìn thấy quang cảnh thuyền bè đi lại tấp nập. Những chiếc thuyền chở đầy những buồng chuối vàng au, những lồng gà, lồng vịt, những chùm dừa xiêm còn nguyên cả cành nằm chen chúc nhau, khoe cái vỏ xanh láng mướt.  Tất cả tượng trưng cho sự trù phú của miền Nam.

Nhà dì tôi ở gần chợ Cầu Kho nên ngày đầu tiên chúng tôi đã được một ông chú họ dẫn đi chợ. Tôi mê nhất là gian hàng trái cây bởi vì có nhiều thứ ngoài Bắc không có.  Tôi còn đang trố mắt ngó những trái to tròn như trái banh có hai mầu khác nhau, trái xanh mướt như ngọc, trái tím thẫm như mầu trái bồ quân thì cô bán hàng đã đon đả nhìn ông chú tôi:

– Mua ‘dú sữa’ đi thầy hai.  ‘Dú sữa’ của em đặc biệt ‘giường nhà’ ngọt lắm đó.

Thì ra mấy trái mà tôi đang ngó là mấy trái vú sữa ở vườn nhà cô ta.  Hồi đó tôi mới có 12 tuổi, còn ngây ngô chưa biết nói tiếu lâm nên hơi ngạc nhiên khi thấy ông chú tôi nhìn cô ta cười tủm tỉm với đôi mắt tinh nghịch :

– Vú sữa của cô ngon thiệt hả ?

Cô ta gật đầu lia lịa :

– Ngon thiệt mà thầy hai.

Chú tôi chọn mua một chục trái, cô ta đưa thêm 4 trái và nói :

– Thường một chục có 12 trái thôi nhưng là của ‘giường nhà’ nên một chục em tính 14 trái lận.

Chú tôi đưa tiền trả, thay vì phải thối lại 50 xu, cô ta cầm tờ 1$ xé toạc ra làm đôi, đưa chú tôi một nửa. Chúng tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác.  Ngày đầu tiên đã học được hai cái đặc biệt của Sàigòn. Một chục là 12 hoặc 14, nửa tờ giấy 1$ là 50 xu.

Phải công nhận người miền Nam rộng rãi và đơn giản. Một chục mà cho thêm thành 12 tới 14 và thay vì mất công đi tìm tiền xu thì cứ việc cầm tờ giấy 1$ xé béng ra làm 2 là xong ngay.  Giản dị và tiện lợi biết bao.

Sàigòn đã thu phục tình cảm của tôi một cách nhanh chóng. Hai mươi mốt năm sau, khi rời bỏ Sàigòn tôi đã khóc như phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn. Sàigòn đã trở thành một nơi chốn thân thiết vô cùng. Không yêu Sàigòn sao được khi Sàigòn là nơi chứng kiến tất cả kỷ niệm vàng son của thời con gái. Sàigòn với ngôi trường Trưng Vương yêu dấu, nơi đã cho tôi biết bao nhiêu người thầy đáng kính, bao nhiêu người bạn dễ thương, bao nhiêu tình cảm quí mến chân thành.

Làm sao quên được con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm rợp lá me bay, những chiều tan học, tràn ngập những tà áo trắng quấn quít gót chân son.  Thảo cầm viên đã được nghe không biết bao nhiêu lời thì thầm tâm sự của các nàng Trưng Vương, những giờ nghỉ học, vừa chuyện trò, vừa lang thang hái trộm những cánh hoa mầu tím, ép vào những trang sách học trò.

Con đường Thống Nhất rộng thênh thang đưa tới rạp Norodom tưng bừng rộn rã của những ngày Đại hội Văn nghệ học sinh. Tôi như vẫn còn mường tượng thấy khung cảnh rộn ràng trong hậu trường sân khấu. Tuy bận rộn sửa soạn cho những màn trình diễn, nhưng các chàng Chu Văn An vẫn không bao giờ quên gửi đến các nàng Trưng Vương những ánh nhìn say đắm.  Chỉ một cái nhìn thật nhanh, thật nhẹ mà sao cũng đủ làm cho ai kia má phải ửng hồng.

Vòng ra bờ sông là bến tàu lộng gió của những sáng đón đưa, những chiều hò hẹn.  Con đường Lê Lợi với những chiều thứ bẩy đẹp trời cùng bạn bè dạo phố.  Mỗi lần đi qua tiệm Kim Sơn ở góc đường, chúng tôi luôn luôn phải vờ chăm chú ngó mấy món hàng linh tinh bầy bán lề đường, để tránh những cặp mắt nhìn hau háu của mấy ‘ông nội’ ngồi ‘pẹc mơ năng’ ở ngoài hiên giống như mấy ‘Side-walk café’. Tiệm sách Khai Trí là nơi hấp dẫn nhất.  Luôn luôn làm chúng tôi mê mẩn trước những cuốn tiểu thuyết còn thơm mùi mực mới.

Màn cuối cùng của buổi dạo phố thường thường là góp tiền lại, rủ nhau vào một tiệm kem. Vừa nhấm nháp những thìa kem dâu, kem dừa mát rượi, vừa nghe những bản nhạc ngoại quốc nổi tiếng thịnh hành mà chúng tôi thay phiên nhau yêu cầu nhà hàng để dĩa hát, như A Certain Smile, You’re My Destiny, I Went to Your Wedding, Diana v.v…

Hôm nào có phim hay cả bọn lại rủ nhau chui vào một trong hai rạp ciné permanent Lê Lợi hay Vĩnh Lợi. Mỗi lần vào đây là chúng tôi phải đề cao cảnh giác. Vì luôn luôn có một số các chàng thanh niên hay lợi dụng sự đông đúc chen lấn để dở trò ba mươi lăm. Một hôm có một chàng làm bộ đứng sát sau lưng, tôi bèn làm như vô tình quay ngang người lại hích cho chàng một cái cùi chỏ nên thân.

Tan ciné, tôi kể chuyện cho lũ bạn nghe, chúng cười hi hí có vẻ khoái chí lắm.  Từ đó các bạn tôi học được màn hích cùi chỏ để trừng trị các chàng gian manh.  Sau khi xem ciné, nếu còn đủ tiền rủng rỉnh trong túi, chúng tôi rủ nhau vào hẻm Casino làm một chầu bánh tôm, bún chả. Nếu chỉ còn ít tiền, thì ra góc Viễn Ðông. Ðứng ở lề đường ăn phá lấu với thịt bò khô. Ăn xong, ớt còn cay xè trong miệng mà vẫn đủ tiền uống một ly nước mía cốt vắt thêm miếng chanh nhỏ xíu, hoặc sang hơn, vắt nguyên nửa quả quít thì còn gì sướng hơn nữa.

Có hôm thay vì ăn ở góc Viễn Ðông, chúng tôi lại đi ngược chiều ra góc chợ Bến Thành. Nơi có hàng bò viên nóng hổi, thơm phức mùi tiêu với hành ngò.  Sau đó, tráng miệng bằng một ly đậu đỏ bánh lọt. Hoặc rủ nhau vào quán Bà Ba Bủng ở đường Thủ Khoa Huân, sau chợ Bến Thành, ăn bún riêu, bánh cuốn. Sàigòn có không biết bao nhiêu món ngon, hấp dẫn những cái miệng thích ăn quà vặt của các nàng Trưng Vương thuở đó.

Mùa Giáng Sinh tới. Sàigòn tưng bừng như mở hội. Người ta không phải bận tâm lo mua quà tặng nhau như ở xứ Mỹ. Ðêm Noel, có đạo hay không, mọi người cũng thích rủ nhau đi dạo trên đường Tự Do. Trai thanh, gái lịch, quần áo lượt là, chen vai, thích cánh, suốt dọc hè phố từ nhà Quốc Hội đến nhà thờ Ðức Bà.

Người trẻ đi để ngắm nhau. Người lớn tuổi đi tìm không khí Noel, cái không khí mà suốt 26 năm sống trên đất Mỹ tôi không làm sao tìm lại được. Hầu như tất cả dân ‘chịu ăn chịu chơi’ của Sàigòn đều có mặt trên đường Tự Do.  Ði dạo mỏi chân, mọi người lại rủ nhau vào ngồi trong Givral, La Pagode, Continental hay ngồi ở công viên rộng lớn trước nhà Quốc Hội hoặc trước tòa Ðô chánh để chờ nghe tiếng chuông đổ hồi rền rã của nhà thờ Ðức Bà báo hiệu lễ nửa đêm mừng Chúa ra đời.

Sau lễ, mọi người về nhà ăn Réveillon. Nồi cháo gà nóng hổi, khói lên nghi ngút, là món không thể thiếu trong bữa tiệc mừng Giáng Sinh đặc biệt này.  Noel của Sàigòn thật vui, thật đầm ấm, thật nhẹ nhàng, thoải mái.  Không có quá nhiều lo nghĩ về vấn đề tài chánh phải chi tiêu cho quà cáp.  Không khí Noel ở đất Mỹ mang tính cách thương mại nhiều hơn là không khí thiêng liêng đặt biệt của ngày lễ mừng Chúa Giáng Sinh.

Trước Noel cả mấy tháng người ta đã trưng bầy cây Noel để bán. Bắt mọi người phải nhìn ngắm mãi đâm nhàm chán. Gần sát ngày lễ Noel ai cũng tất bật lo chuyện mua quà, gói ghém cho kịp giờ mở quà đêm mừng Chúa ra đời.  Tất cả chỉ có vậy. Ðêm Noel người ta chỉ thấy quá mệt mỏi.  Rộn ràng được một chút lúc mở quà. Sau đó là hết. Trống vắng buồn tênh. Thời tiết lạnh lẽo.

Nhà thờ Việt Nam thì ở xa. Kiếm được chỗ đậu xe không phải là dễ. Mùa đông buốt giá, chưa kể nếu có tuyết, đường trơn trượt nguy hiểm. Do đó ít ai nghĩ đến chuyện đi lễ nửa đêm. Bởi vậy cứ mỗi lần mùa Giáng Sinh tới là tôi lại nhớ Sàigòn da diết. Nhớ thánh lễ nửa đêm thật tưng bừng ở nhà thờ Ðức Bà. Nhớ con đường Tự Do tràn ngập người đi của những đêm Noel đầm ấm năm xưa.
Tết đến còn vui hơn nữa.

Xung quanh chợ Bến Thành những gian hàng bán bánh mứt được dựng lên san sát với nhau.  Tiếng rao hàng của những lao phóng thanh vang lên rộn rã.  Người đi mua sắm tấp nập.  Ai cũng tay sách nách mang. Ngày Tết không nhà nào là không có đủ thứ mứt, hạt dưa, bánh chưng, dò chả.

Nhắc đến Tết ở Sàigòn là ai cũng phải nhớ ngay đến chợ hoa ở đường Nguyễn Huệ với những cành đào, cành mai tươi thắm. Những chậu cúc, chậu thược dược đủ màu đua nhau khoe sắc.  Những chậu quất trĩu quả vàng tươi.  Những bát thủy tiên toả hương thơm thật dịu dàng, thanh khiết.  Nhưng có một thứ hoa đẹp nhất làm chợ rực rỡ hẳn lên đó là hoa biết nói.  Các nàng thiếu nữ yểu điệu trong những tà áo dài đủ mầu tha thướt đi dạo trong chợ hoa là hình ảnh đẹp nhất của ngày Tết ở Sàigòn.

Tôi còn nhớ thời con gái, cứ 23, 24 Tết là chúng tôi đã nôn nao sửa soạn quần áo để rủ nhau đi chợ hoa.  Dạo chợ hoa là một náo nức không thể thiếu của các nàng thiếu nữ mỗi lần Tết đến.  Cũng như đi chợ hoa để ngắm người đẹp là một điều bắt buộc, không thể nào quên của các chàng trai.

Chợ hoa ở đây sao tẻ nhạt quá. Có lẽ vì hoa không đủ thắm, lại chỉ có lưa thưa, bầy bán rải rác nên không hấp dẫn được người đi.  Vả lại các chàng nếu có muốn đi chợ hoa để ngắm người đẹp, thì cũng chỉ tìm thấy những áo ‘cốt’ dầy cồm cộm, to xù xù di động. Chứ làm sao có thể tìm lại được những bóng dáng yêu kiều trong tà áo dài lả lướt của chợ hoa Nguyễn Huệ năm xưa.

Thời tiết lạnh lẽo quá, ít ai ở đây còn nghĩ đến chuyện mặc áo dài đi chợ Tết, nên hình ảnh chiếc áo dài trở nên hiếm quí vô cùng. Thật tội nghiệp cho những người Việt Nam xa xứ. Phải cố gắng tưởng tượng mùa xuân trong cái giá buốt của mùa đông. Hoa tuyết rơi mà phải tưởng tượng là hoa đào nở, gió đông lạnh lẽo mà cứ cố nhắm mắt lại để mơ tưởng đến ánh xuân nồng. Tết năm nào tôi cũng cố gắng tìm cho được một cành hoa forsythia để trang hoàng nhà cửa.  Ðể tự đánh lừa mình là nhà ta cũng có mai vàng.

Tết nhất đến nơi mà sao giọng Don Hồ cứ buồn não nuột, anh chàng đang hát một bài mà tôi rất thích của nhạc sĩ Ðức Huy:…’ Tôi hay nhớ về quê nhà vào buổi chiều. Nhất là những buổi chiều hay mưa.  Cũng may Cali trời mưa ít không như Sàigòn.  Nếu không, tôi đã khóc một giòng sông…’

Ngoài cửa sổ, chiều nay trời thật đẹp.  Những giải nắng vàng còn vương vấn trên mấy ngọn cây cao.  Mấy hôm nay trời tạnh ráo, không có lấy một giọt mưa nhỏ.  Vậy mà không hiểu sao bỗng nhiên lòng tôi chùng hẳn xuống và hình như hồn tôi đang ‘Khóc một giòng sông..’ (theo Hồng Thủy, WDC)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

BÍ ẨN XUNG QUANH MỘT TUYỆT TÁC

SUÝT LÀ BIỂU TƯỢNG CỦA SÀI GÒN

Lăng Ông – lăng mộ đức Tả quân tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt nằm ở vị trí ‘long mạch’, vùng ‘sơn thủy chi giao’ chứa nhiều điều bí ẩn, ít ai biết từng có thời được định chọn làm biểu tượng cho Sài Gòn.

Nằm trong khuôn viên rộng 18.500 m2, kế bên hông chợ Bà Chiểu (số 126 đường Đinh Tiên Hoàng, Q.Bình Thạnh), lăng Ông – còn có tên gọi phổ biến là lăng Ông Bà Chiểu, là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo của vùng đất Nam Bộ, có mặt chính hướng ra phía Cầu Bông. Ngày xưa nơi đây là vùng đất hoang rậm của thượng du Nghi Giang nên bây giờ vẫn còn tồn tại nhiều loại cây xanh, gỗ quý như: dầu, giá tỵ, bằng lăng, thốt nốt… rợp mát bước chân du khách.

Vì sao Lăng Ông mà lại có mộ… bà ?

Sử sách xưa ghi lại : “Tháng 7 năm 1832 (Nhâm Thìn), tả quân Lê Văn Duyệt mất được an táng tại làng Bình Hòa (bây giờ là Q.Bình Thạnh). Tuy nhiên, do mối tị hiềm với tả quân nên vua Minh Mạng đã ghép ông vào 11 trọng tội và “đến chỗ mả đắp, san làm đất bằng”, dựng bia khắc 8 chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xử (Chỗ tên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội).

Đến năm 1841, khi Thiệu Trị con trai trưởng vua Minh Mạng lên ngôi thì nỗi oan khiên trên mới được giải. Vua cho xuất tiền kho xây đắp lại mộ cho tả quân Lê Văn Duyệt khang trang”.

Mặc dù có tên gọi là lăng Ông nhưng bên trong khu lăng vẫn có… bà được chôn cất theo. Chánh thất tả quân phu nhân tên là Đỗ Thị Phận được song táng nằm song song với chồng. Hai ngôi mộ đều có hình thức, kích thước và chất liệu kỹ thuật giống hệt nhau. Thoạt nhìn như hai quả trứng ngỗng xẻ theo chiều dọc úp trên hình chữ nhật có tác dụng như đế mộ, theo kiểu phối hợp tấm liếp (kệ bên dưới) và trứng ngỗng (phần úp bên trên).

Điều khá bất ngờ là thực ra thời điểm đó bà Phấn cũng bị khép tội như chồng nhưng vì Lê Văn Duyệt có tật “ẩn thân” nên về lý không thể là vợ của ông, do đó triều đình mới tạm tha. Bà về ở với mẹ ruột trong một ngôi chùa ở Chợ Lớn, khi mất đi được người thân an táng tại khuôn viên trong vườn. Sau này, tả quân Lê Văn Duyệt mất các bộ hạ thân tín mới đem hài cốt của bà bí mật mang vào chôn bên cạnh ông để hai vợ chồng điền viên nơi chín suối.

Toàn bộ tường xây xung quanh hai ngôi mộ hiện nay sử dụng đá ong trát xi măng gọi là Uynh Thành. Mặt ngoài bình phong tiền có chạm hình con chim đậu trên cành cây trong tư thế xõa cánh, còn mặt trong đắp hình hai con hổ: một lớn, một nhỏ. Bình phong hậu đắp nổi một mặt rồng, chân có bốn móng trông rất uy nghi, trang nghiêm.

Huyền thoại xung quanh cuộc đời Tả Quân

Có nhiều huyền thoại và câu chuyện lưu truyền trong dân gian về cuộc đời của nhân vật đặc biệt xuất chúng của vùng đất Nam Bộ. Điều đó cũng hoàn toàn bình thưởng vì lúc còn sống, tả quân Lê Văn Duyệt là nhân vật rất có quyền uy, được người dân kính nể khi hai lần ông được vua triều Nguyễn cử giữ chức Tổng trấn Gia Định thành (1812 – 1815) và (1820 – 1832), cai quản cả một vùng rộng lớn của đất phương Nam.

Theo nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Ngọc Trang trong cuốn Nghệ thuật kiến trúc, trang trí, lễ hội lăng Tả quân Lê Văn Duyệt : “Tả quân Lê Văn Duyệt có “tướng tinh”, nghĩa là con cọp bạch. Vì vậy, lúc ông chưa phò chúa Nguyễn khi ngủ có người thấy thấp thoáng bóng con cọp bạch hiện ra. Lại có truyền tụng rằng những con hổ mà Lê Văn Duyệt nuôi để mang đi giao đấu rất sợ và tuân lời ông răm rắp. Nhiều khi chúng đang nổi giận gặp cái gì cũng giày xéo nhưng thấy thấp thoáng bóng tướng quân là ngoan ngoãn, điềm tĩnh ngay lại”.

Chuyện xưa còn kể rằng, khi đang giữ chức tổng trấn, một lần đi lên núi Bà Đen (Tây Ninh bây giờ) viễn cảnh, ông được báo ứng biết trước hậu vận là sẽ bị hành hạ, mả mồ bị xiềng xích, tên tuổi bị đục khoét rồi mới được minh oan mà sau này diễn tiến đúng y như thật.

Việc ông tạ thế cũng có thêm huyền thoại, như sách đã dẫn : “Lúc Lê Văn Duyệt ngã bệnh, cột cờ trong thành Gia Định không có gió mà tự nhiên gãy. Một tháng sau, lúc có việc đi kinh lý biên giới, vừa ra khỏi thành thì con voi ông cưỡi thình lình nằm bẹp dí xuống đất, cất tiếng rống thảm thiết dù bắt ép thế nào cũng không đứng dậy.

Cuối cùng ông phải dùng ngựa mà đi, Lê Văn Duyệt thấy có điềm lạ nên mới cho mọi người hay biết mình đang bị bệnh. Việc ông mất bị hàm oan, thể xác hành hạ và mồ mả bị xiềng xích cũng khiến cho khu lăng mộ này trở nên linh thiêng và huyền bí hơn”.

Được biết, trước đây có một thời và có người đã từng muốn lấy hình ảnh lăng tả quân Lê Văn Duyệt làm biểu tượng cho Sài Gòn nhưng rồi không thành. Tuy nhiên, hiện nay du khách mỗi khi đến Sài Gòn đều muốn đến viếng và tham quan lăng Ông Bà Chiểu, một công trình di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia độc đáo, có một không hai của Sài Gòn và rất nhiều lễ hội hàng năm cũng được tổ chức tại đây, thu hút rất đông khách thập phương. (theo Lê Công Sơn)

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

NGHỀ GÁNH NƯỚC MƯỚN

Ở SAIGON

Saigon thủy đài đầu tiên khánh thành năm 1886 nằm ở Công trường Quốc tế tức Hồ Con Rùa sau này. Nước được bơm thủ công lên bể chứa từ các giếng cạn gần đó để phục vụ cho các công sở, nhà các quan chức Pháp cùng một ít dân cư người Việt khá giả tại khu vực trung tâm. Dân Saigon phần lớn xài nước giếng, nước sông lóng phèn và nước mưa !

Mãi đến nửa thế kỷ sau, Chình quyền Pháp mới bắt đầu cho lắp đặt các phông-tên (Fontaine) công cộng dọc theo các con phố chính để người dân đến lấy nước sinh họat. Những phông-tên này chính là các giếng khoan trực tiếp do công ty Société Layne France et Cie khảo sát và khoan thẳng vào tầng nước ngầm sâu trên trăm mét.

Vào thời điểm ấy dân Saigon bắt đầu sử dụng nước ngầm rộng rãi hơn mặc dầu số giếng khoan đưa vào sử dụng chỉ có 30 cái trong khi dân số Sài Gòn đầu thập niên 1930 đã lên đến ba trăm ngàn người. Muốn lấy nước phải dùng tay kéo cần bơm lên xuống một hồi, nước mới trào lên vòi. Từ đó nghề gánh nước mướn ra đời. Nghề này kéo dài cho đến năm 1970, khi chính quyền thiết lập hoàn chỉnh hệ thống nước máy vào tận nhà để phục vụ dân sinh.

Dung Dung chuyển tiếp

NHỚ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

NHỚ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

– Phan Lạc Phúc

Nhạc sĩ Hoài Bắc – Phạm Đình Chương ra đời tại Hà Nội vào năm 1929, trong một gia đình nghệ sĩ, học Trường Bưởi Thanh Hóa sau Toàn Quốc Kháng Chiến chống Pháp 1945. Sáng tác nhạc trước tuổi 20, ông là tác giả những ca khúc dân tộc như Tiếng Dân Chài, Ly Rượu Mừng, Hội Trùng Dương, hay những sầu khúc nhạc phổ thơ như Nửa Hồn Thương Đau, Mắt Biếc, Mộng Dưới Hoa, Người Đi Qua Đời Tôi …

Tới Hoa Kỳ được ít năm, Phạm Đình Chương từ trần tại Quận Cam, California vào ngày 13 tháng 7 năm Tân Mùi, nhằm ngày 22/8/1991. Bài dưới đây của nhà bỉnh bút Phan Lạc Phúc, hay Ký giả Lô Răng, một bạn học của nhạc sĩ từ Trường Bưởi, được viết ngay sau khi có tin buồn.

oOo

Chuông điện thoại réo lên trong đêm khuya. Một cú phone từ bên kia Thái Bình Dương, từ Mỹ báo tin: “Phạm Đình Chương đã mất rồi, Hoài Bắc không còn nữa”. Tôi đặt phone xuống mà thấy đêm khuya thêm vắng lặng mênh mông. Ở cái tuổi mình, trên 60, cái ranh giới tử sinh thật là mờ ảo, ở đấy rồi đi đấy, còn đấy mà mất đấy. Thành ra ít lâu nay, tôi cứ phải làm một con tính trừ thê thảm.

Mấy năm trước mất Thanh Nam, rồi Vũ Khắc Khoan, bây giờ Phạm Đình Chương – Hoài Bắc. Già thì càng cần có bạn, mà bạn già thì càng ngày càng thưa thớt. Tôi đi cải tạo 10 năm, rồi sống nín thở trên 6 năm, vừa mới lặn ngòi ngoi nước sang được đến đây thì bạn đã đi vào tịch mịch. Bạn ta Phạm Đình Chương đã đi thật rồi, một người viết ca khúc tầm cỡ của Việt Nam đã mất, ngôi sao bản mệnh của Ban Hợp Ca Thăng Long đã tắt.

Tôi chơi với Phạm Đình Chương đã lâu, vào khoảng năm 1942 – 1943, hồi tụi tôi vừa mới lớn lên. “Khi mới lớn tuổi mười lăm, mười bảy. Làm học trò mắt sáng với môi tươi”. Tôi biết Chương trong ngày hội học sinh Trường Bưởi, trong những buổi cắm trại ở chùa Trầm, chùa Thày, Tây Phương Hoàng Xá.

Ngày ấy, chúng tôi say mê hát “Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm”, “Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi” và Chương đã là một tay đàn giọng hát khá nổi của học sinh Hà Nội. Nhưng mà Chương có hai người anh nổi tiếng: anh Phạm Đình Sĩ, một cây “kịch” và anh Phạm Đình Viêm, một cây “tenor”. Chương còn có một người chị trứ danh, chị Thái Hằng, hoa hậu “bất thành văn” của suốt một miền Bạch Mai – Phố Huế.

Còn người em út của Chương, Thái Thanh thì lúc ấy Thái Thanh còn nhỏ, đang còn học tiểu học, còn là một nụ hoa. Phải đợi đến thập niên ’50, bông hoa Thái Thanh mới bắt đầu rực rỡ và tiếng hát Thái Thanh mới được lên ngôi.

Hà Nội ngày ấy tuy được mệnh danh là Hà Thành hoa lệ hay là Hà Nội của ba mươi sáu phố phường nhưng thực chất nó là tỉnh nhỏ – người ta biết nhau cả, trực tiếp hay gián tiếp. Và tỉnh nhỏ nó còn có tục lệ riêng của nó. Thế hệ tiền bối ở Hà Nội có tiêu chuẩn “phi cao đẳng bất thành phu phụ”. Thời tụi tôi thì cái standard về một đấng trượng phu nó nôm na và thực tiễn hơn :

“Đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu”. Phạm Đình Chương xét ra hội đủ những điều kiện ấy: Học trò Trường Bưởi, người cao ráo sạch sẽ lại là cậu út trong một gia đình nổi tiếng. Lại còn đàn ngọt, hát hay, còn là ca trưởng của học sinh trong những dịp hội hè, cắm trại. Trong con mắt tôi, một anh học trò nhà quê ra tỉnh học, từ thời áo dài mũ trắng thì Phạm Đình Chương tư cách quá.

Thời ấy, Nhật đã vào Đông Dương. Thế Chiến thứ hai đang hồi quyết liệt, bom Mỹ dội xuống đùng đùng. Các thành phố phải “phòng thủ thụ động”, các trường học phải đi xa hoặc dời về miền quê. Đang học mà có còi báo động là nghỉ; học trò kéo nhau ra các khu cây cối um tùm, hoặc bờ đầm, bờ sông tạm lánh. Đây là dịp tốt cho một số công tử Hà Nội, trong đó có Chương, về thăm quê cho biết sự tình.

Về quê thì tiện cho tôi quá, tôi có nhiều trò: lội sông, câu cá, bắn chim. Hoặc là sẵn xe đạp, tụi tôi rủ nhau đi cắm trại ở những thắng cảnh gần Hà Nội như chùa Thày, chùa Tây Phương, động Hoàng Xá. Những thắng cảnh này đều nằm trong vùng quê tôi (phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây) nên tôi thuộc nằm lòng. Đến chùa Tây Phương thăm ông Phật nhịn ăn mà mặc, ông nhịn mặc mà ăn, ông Phật tai dài đến gối.

Đến động Hoàng Xá tôi biết nhũ đá nào kêu thanh, nhũ đán nào kêu đục, bắn một phát súng cao su lên vòm đá là dơi bay tán loạn một vùng. Đến chùa Thày (Sài Sơn) thăm chùa Cả dưới chân, chợ Trời trên đỉnh núi rồi thăm hang Cắc Cớ nơi có dấu chân ông Từ Đạo Hạnh còn in. “Hội chùa Thày vui thay Cắc Cớ, Trai không vợ nhớ hội chùa Thày – Gái không chồng nhớ ngày mà đi”. Chương ơi, Chương còn nhớ ngày hội về quê mình không ? Còn nhớ con đê Hạ Hiệp không ? Mới đó mà đã 50 năm rồi, đã nửa thế kỷ qua rồi. Chương có nhớ cũng không thể nào về thăm được nữa. Bạn ta đã thành người thiên cổ mất rồi.

Phạm Đình Chương rất yêu miền Quốc Oai – Sơn Tây vì không những nó là một miền thắng tích mà nơi đó còn là quê ngoại của Chương. Bà thân của Chương ở Hạ Hiệp, cách làng tôi chừng hai vạt cánh đồng. Chương tự nhận mình là người Sơn Tây và trong những năm đó Chương về thăm quê ngoại rất thường. Anh công tử Hà Nội và anh học trò nhà quê càng có dịp gần gũi nhau hơn Khi mùa Xuân đã cạn ngày, hội hè đã vãn, những cây gạo miền Bương Cấn đã tưng bừng nở đỏ thì cũng là lúc chim tu hú lảnh lót gọi hè về trong rặng vải bên sông. “Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc”, con sông này ngoài mùa ngâu nước lũ, còn quanh năm nước chảy lặng lờ. Học trò tụi tôi lại đạp xe qua sông về rặng vải, vừa tránh bom rơi đạn lạc ở thành phố, vừa cắm trại vừa ôn thi.

Nhưng đến năm 1945, thanh niên như Chương và tôi không còn đầu óc nào mà học hành thi cử nữa. Bao nhiêu vấn đề trọng đại vừa ập đến trong đời: hàng vạn, hàng triệu người chết đói. Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3. Chính phủ Việt Nam đầu tiên ra đời. Thế chiến II kết liễu Đức – Ý – Nhật đầu hàng. Quân Tàu Tưởng kéo sang Chiến Khu Việt Minh.

Đổi đời. Cách Mạng Tháng 8 Quân đội Pháp trở về, thanh niên đua nhau đi dạy bình dân học vụ, đi khất thực, đi biểu tình. Chúng tôi say mê hát “Lên Đường”, lao đầu vào một cuộc chơi mới không kém phần lãng mạn: đòi độc lập cho đất nước. Chúng tôi là Tự vệ Thành Hà Nội. Chúng tôi là Trung đoàn thủ đô. Như lớp lớp thanh niên cùng lứa, Phạm Đình Chương và tôi khoác ba lô lên đường kháng chiến.

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

(Quang Dũng)

Những năm đầu kháng chiến (1948, 1949, 1950) có những thị trấn mọc lên vội vã. Khu 10 Việt Bắc có thị trấn Cây Đa Nước Chảy; liên khu 3 có Đồng Quan, Cống Thần, Chợ Đại; vào khu 4 Thanh Hóa có chợ Rừng Thông. Đây là nơi dân tản cư tứ xứ kéo về sinh hoạt, đổi trao, mua bán tạo thành những Hà Nội nhỏ. Mấy anh lính cậu ngày nào bây giờ sốt rét, xanh rớt như tàu lá, mắt trợn trừng, tóc rụng nhưng đêm đêm vẫn cứ mơ về Hà Nội. Và được dịp là phải về thăm các thị trấn mới này cho đỡ nhớ …

Đầu mùa đông năm 1948, tôi khoác ba lô, đổ bộ lên Chợ Đại tìm ít thuốc nivaquine chống sốt rét. Trời mưa nhớp nháp, những căn nhà tranh lụp sụp kéo dài. Chợt ở đầu đường, hiện ra một quán nước thanh bai, lịch sự mang một cái tên khá là kiểu cách“Quán Thăng Long”. Ở trên vách quán, có treo song song mấy cây đàn nguyệt và một cây thập lục. Ở dưới, bên khay trà tỏa khói có hai vị trưởng thượng đang ngồi đối ẩm.

Hai vị này tôi biết : ông thân của Phạm Đình Chương và cụ N. T. Đức, một danh cầm của toàn miền Bắc. Loạn ly, binh lửa mà hai vị tri âm, tri kỷ vẫn nhàn nhã phong lưu. Chiến tranh ở chỗ nào khác chứ ở đây Thăng Long Đông Đô, Hà Nội là vẫn cứ phải đường hoàng, cốt cách. Cốt cách như chị Thái Hằng đang ngồi trước quầy hàng, đi tản cư mà vẫn mang nguyên chiếc kiềng chạm bằng bạc của một thời khuê các, như Thái Thanh cô em nhỏ mới bắt đầu thiếu nữ đang nghiêm chỉnh ngồi đan.

Người vui nhất khi tôi được gặp là bà thân của Chương. Bà hỏi thăm “quê mình bây giờ Tây nó đánh đến đâu rồi”. Bà cho biết anh Phạm Đình Sĩ có lẽ kẹt, chưa có tin tức gì. Anh Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) còn đang đi ban kịch Giải Phóng, chuyên hát bài“con vỏi con voi”“con mèo trèo cây cau” nhạc hài hước của Nguyễn Xuân Khoát. Còn Phạm Đình Chương thì công tác ở liên khu 3, chuyên về sáng tác ca khúc. Bà khoe là Chương vừa mới được giải thưởng về bài hát “gì mà có con cò bay lả bay la”.

À ra thế bạn ta anh công tử Hà Nội đang đưa ca dao vào nhạc mới. Chương, Chương, có phải cánh cò ấy là cánh cò bay qua rặng vải triền sông Đáy? Còn cánh đồng nào rào rạt lúa thơm mềm có phải là cánh đồng Bương Cấn khi chúng ta “Lên núi Sài Sơn ngóng lúa vàng”.

Tôi nhớ mãi lời bà thân của Chương khi đưa cho tôi gói thuốc đựng chừng 10 viên nivaquine: “Giữ lấy mà dùng. Dạng các cậu không được phát thuốc này đâu”. Đúng như thế, dạng “tạch, tạch, sè” (tiểu tư sản) như Chương và tôi thì dù sốt rét vàng người, rụng tóc cũng chỉ được phát thuốc ký ninh pha loãng là cùng. Nivaquine thuốc mới, công hiệu, đắt tiền chỉ đủ dùng cho “tổ chức” mà thôi.

Thực tế nó là như vậy nên ngoài một số anh em đã “áo bào thay chiếu …”  còn đa số dân tạch tạch sè là kẻ trước người sau “dinh tê” về Hà Nội. Những va chạm với thực tế làm cho giấc mơ tuổi trẻ lụi tàn, cuộc chơi lãng mạn đầu đời đã trở thành một nỗi đam mê vô ích. Tôi về cuối năm 49 còn Chương và gia đình hồi cư năm 51.

Gia đình Chương kỳ này có thêm một nhân vật lừng danh : Phạm Duy. Năm 1949, chiến tranh lan đến vùng chợ Đại và quán Thăng Long phải dời vào khu 4, vùng trấn nhậm của viên tướng Mạnh Thường Quân Nguyễn Sơn. Ở đây Thái Hằng đã trở thành bà Phạm Duy, Thái Thanh vừa lớn để bước chân vào làng ca nhạc. Cả gia đình Chương phục vụ trong phòng văn nghệ của một đại đoàn. Quán Thăng Long không còn nữa nhưng tiền thân của ban Hợp Ca Thăng Long đã được định hình. Tôi cũng không còn nhớ rõ gia đình Phạm Đình Chương về trước hay sau cái chết của viên tướng đầy huyền thoại Nguyễn Sơn. Chỉ biết là ban Thăng Long vào thành nhưng không ở lại Hà Nội mà vô thẳng miền Nam lập nghiệp.

Năm 1952 tôi cũng vào Nam, học nghề lính tại trường Thủ Đức. Những ngày cuối tuần ra Sài Gòn chơi, thấy đầu đường góc phố chỗ nào cũng có biểu ngữ, bích chương, quảng cáo ban Hợp ca Thăng Long. Báo hàng tuần, hằng ngày đều đăng hình ảnh, lịch trình diễn của Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc, Phạm Duy. Ban Hợp Ca Thăng Long đang rực sáng, những thành viên của nó đang được mến yêu.

Người Sài Gòn vốn bộc trực “yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét” mà đã yêu thì yêu hết mình; chương trình của Ban Thăng Long trên đài phát thanh rất được lắng nghe – trình diễn của Ban Thăng Long lại càng ăn khách. Ngưới ta mua “giấy” báo xem thật đông, vỗ tay thật nhiều nhưng còn chưa “đã”. Buổi trình diễn xong rồi, người ái mộ còn ở lại để tìm cách đến thật gần, nhìn thật kỹ hay nếu có thể bắt cái tay, đụng cái chân vào nghệ sĩ, tài tử thần tượng của mình. Người miền Nam ái mộ ồn ào như thế, dễ thương như thế.

Trước sự tán thưởng nồng nhiệt ấy tôi có lúc đã tự hỏi: “Vì sao mà trong một thời gian chưa đầy hai năm, Ban Hợp Ca Thăng Long lại lẫy lừng đến vậy?” Tôi vốn dốt về nhạc lý, thẩm âm cũng tầm thường thôi nên không dám đưa ra ý kiến có tính cách kỹ thuật nào. Bằng vào cái cảm quan dân dã của mình tôi nhận thấy thực chất của Ban Hợp Ca Thăng Long nằm trong một chữ vui.

Vui rộn ràng khi nghe tiếng hát chen tiếng ngựa hí (Ngựa Phi Đường Xa), vui lâng lâng khi nhìn cánh cò bay lả bay la trên đồng lúa chín vàng (Được Mùa), vui đầm ấm khi nghe tiếng hò dô vang trên sóng nước (Tiếng Dân Chài), vui thấm thía nghẹn ngào khi người mẹ già cầm ly rượu uống mừng người con cả vừa mới trở về (Ly Rượu Mừng). Cái vui của nhiều cung bậc, cái vui đã được cách điệu, nên nó dễ dàng thấm đượm lòng người.

Đồng bào miền Nam xưa nay thừa thãi điệu buồn nên trong cái vô thức tập thể nó thiếu một niềm vui khỏe mạnh. Ban Hợp Ca Thăng Long phần nào đã đáp ứng được niềm khao khát đó. Ấy là chưa kể đến một yếu tố đầy cảm tính rất phù hợp với miền Nam: tất cả thành viên ban hợp ca đều là anh em trong một nhà. Một gia đình tài hoa quá. Một sự kết hợp đẹp đẽ quá. Nhất là sau đó ít lâu, ban hợp ca Thăng Long lại có thêm một thành viên mới: Khánh Ngọc, một bông hoa hương sắc của miền Nam, Hoài Bắc – Khánh Ngọc một lứa đôi nghệ thuật. Ban Hợp Ca Thăng Long càng thêm sung sức.

Nhưng phải đợi đến đầu năm 1954, Ban Hợp Ca Thăng Long mới lên đỉnh cao thành tựu của mình. Năm ấy ban Hợp ca cùng với “quái kiệt” Trần Văn Trạch, thành lập ban Gió Nam ra công diễn ở Hà Nội. Lúc ấy tôi đang là thương binh nằm nhà thương Võ Tánh. Nghe báo chí Hà Nội tán thưởng Nam Phong chi huân hề – Ngọn gió Nam mát lành thay. Nghe dân chúng Hà Nội xôn xao hâm mộ quá, tôi sốt ruột phải trốn nhà thương một buổi ra xem Gió Nam trình diễn.

Nhưng mà ra chậm hết vé mất rồi. Nhà Hát Lớn Hà Nội không còn chỗ. Tôi lững thững đứng ngoài nghe tiếng vỗ tay dồn dập từng hồi như sấm mà ruột nóng như lửa đốt. May quá gặp Ngọc Chả Cá một cây công tử Càn Long Hà Nội tôi mới được vào (bây giờ bạn ở đâu hở Ngọc ?).

Người Hà Nội xưa nay khụng khiệng ít khi nào nồng nhiệt thế đâu. Nhưng mà lần này, người Hà Nội bị ban Hợp ca Thăng Long chinh phục hoàn toàn. Trước đó tân nhạc ở Hà Nội chỉ là một bà con nghèo trước cải lương, tuồng kịch … chỉ đảm nhiệm được vai trò phụ diễn trước khi mở màn hoặc giữa hai lớp kịch mà thôi.

Bây giờ Ban Hợp ca Thăng Long với một chuỗi ngôi sao nhạc mới đã chiếm lĩnh sân khấu suốt hai tiếng đồng hồ liên tục. Khán giả Hà Nội được thưởng thức một chương trình nhạc mới tân kỳ sinh động tràn đầy dân tộc tính. Đây là một bước trưởng thành của tân nhạc và trở nên khuôn mẫu cho những đại nhạc hội sau này.

Buổi trình diễn vừa kết thúc, toàn ban Gió Nam ra chào khán giả. Đèn rực sáng. Những bó hoa trao cho những nghệ sĩ tài năng. Hoài Bắc Phạm Đình Chương giơ cao bó hoa vẫy vẫy, nụ cười rộng mở. Chương không thể nào biết rằng trong số khán giả vô danh ấy, có một người bạn cũ của Chương đang vỗ tay kịch liệt.

Thập niên 50 là thời kỳ rực rỡ nhất của ban Hợp ca Thăng Long. Thời gian này cũng là lúc Phạm Đình Chương sáng tác đều đặn nhất. Những bài ca chủ lực của ban Hợp ca Thăng Long như Tiếng Dân Chài, Hội Trùng Dương, Ly Rượu Mừng … đều xuất hiện trong giai đoạn này.

Không biết tôi có chủ quan không khi nghĩ rằng Phạm Đình Chương trong giai đoạn này vẫn mang dáng vẻ một anh học trò mới lớn, tâm hồn trong sáng như gương, con người, thiên nhiên đều là bè bạn. Ngựa phi đường xa thế nào cũng tới, leo núi mệt nhọc rồi cũng đến nơi, đồng ruộng thì đầy lúa thơm mềm, con sông thì đầy trăng và đầy cá. Thế vẫn còn chưa hết, Chương còn rót một ly rượu mừng, mừng khắp nhân gian. Hãy lắng nghe đi, có một nụ cười đâu đó, khi nhẹ nhàng phảng phất, khi trào lên như tiếng reo vui. Cũng có lúc Phạm Đình Chương nhắc đến điệu buồn; giọt lệ rưng rưng chờ mong bóng con của người mẹ già hay nỗi khổ của đồng bào miền đất cày lên sỏi đá:

Quê hương tôi nghèo lắm ai ơiMùa đông thiếu áo

Nhưng liều lượng của điệu buồn trong nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ này rất ít so với niềm vui ào ạt, chỉ như một đối điểm (contrepoint), chỉ như màu đen làm nổi lên sắc trắng mà thôi. Mà điệu buồn cũng được nhắc đến bằng tấm lòng nhân ái, tâm hồn Chương là vậy, mở ra, hướng ngoại, trong sáng vui tươi. Chương không phải là người hướng nội, đi tìm thú đau thương trong những kiểm tra, tự vấn nơi mình. Đó là thực chất nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ đầu cũng là đặc điểm của Ban Hợp ca Thăng Long …

Giai đoạn sáng tác thứ hai của Phạm Đình Chương bắt đầu từ một kỷ niệm buồn: Ngày Khánh Ngọc rời xa vào khoảng cuối thập niên ’50. Sau đó Phạm Duy, Thái Hằng cũng tìm về hướng khác. Ngôi biệt thự ấm cúng đường Bà Huyện Thanh Quan không người ở. Hoài Bắc, Thái Thanh và gia đình dọn về một căn nhà nhỏ đường Võ Tánh (Frères Louis cũ). Chính tại ngôi nhà này tôi thường đến bầu bạn với Phạm Đình Chương cùng với Thanh Nam, Mai Thảo. Tụi tôi đến “hầu bài” bà thân của Chương để được ăn những bữa cơm nhớ mãi: canh cua rau đay, cà pháo, đậu rán …

Lúc này, hình như Chương muốn ra khỏi vùng hào quang sáng chói của một ca sĩ thời danh để được sống bình thường nếu không muốn nói là ẩn dật. Đang ăn diện kiểu cách, Chương ăn vận xuề xòa, đi dép không quai lẹt xẹt, chiếc xe hơi dài thòng Studebaker đã được bán đi. Nụ cười kiểu jeune premier đã tắt và đặc biệt Chương để một hàm râu mép chàm ràm, rậm rịt. Lúc này, tụi tôi có một tên mới để gọi Chương : Râu Kẽm. Râu Kẽm đang phóng túng hình hài, ít ăn ít nói hẳn đi, mà có nói cũng thường hừ một tiếng giọng mũi. Một nhát chém hư vô đã làm thay đổi Phạm Đình Chương.

Ban Hợp ca Thăng Long, với sự phân liệt như thế tưởng đã rã đám. Nhưng đầu những năm ’60, ban Thăng Long gượng dậy với Hoài Trung – Hoài Bắc – Thái Thanh. Ban Thăng Long sống lại kỳ này, tuy vẫn được tán thưởng nhưng đó chỉ là cái bóng của chính mình. Phạm Duy đã mang nguồn âm sắc lung linh và trầm lắng của dân tộc đi xa, còn tiếng reo vui chan hòa và nhân ái của Phạm Đình Chương cũng không còn xuất hiện.

Trong thời kỳ này ban Hợp ca Thăng Long có trình làng một tác phẩm rất được hoan nghênh : Bài Ô Mê Ly. Nhưng bài hát vui tươi này không phải của Chương mà của một tài danh khác: Văn Phụng.

Thời kỳ hướng ngoại, tâm hồn sáng tác rõ như gương, tha nhân và ngoại giới đều là bè bạn của Chương đã khép lại rồi. Tiếng cười đã tắt. Thời kỳ này là của đau thương và tiếng khóc. Nhưng khóc than rên rỉ không phải là nghề của chàng. Như đã nói, Chương không phải là người hướng nội, gặm nhấm đau thương làm thứ giải sầu. Nỗi đau thì có sẵn và Chương muốn giữ một mình nhưng lời oán hận thì không.

Cho nên những khúc bi ca sau này như Nửa Hồn Thương Đau, Người Đi Qua Đời Tôi, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội, Chương đều mượn lời của Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Hoàng Anh Tuấn … Chương làm công việc phổ thơ, qua lời của người để phần nào nói lên tâm sự của mình. Những ca khúc này có vị trí riêng của nó, rất được yêu thích qua giọng hát Thái Thanh, nhưng đối với Chương nó vẫn như một sự “Chẳng đặng đừng”. Về bề ngoài, hai giai đoạn sáng tác của Chương có vẻ đối nghịch nhau nhưng nhìn chung nó vẫn thống nhất trong tân hồn nhân ái của tác giả.

Nói cho ngay từ thập niên ’60 trở đi, việc ca hát đối với Chương cũng là một sự “chẳng đặng đừng”. Thì cũng phải có công ăn việc làm như người ta, ngay cả việc trông coi phòng trà ca nhạc “Đêm Màu Hồng” Chương cũng làm chơi chơi, cho có.

Nhưng chính cái vẻ chơi chơi, phóng khoáng ấy nó lại hợp với khung cảnh Đêm Màu Hồng. Đây là một phòng trà gợi nhớ. Nhớ về những bài hát xa xưa, về một thuở mộng mơ đã tắt, về một khung cảnh Việt Nam đã xa, về một ban Hợp ca Thăng Long đã tàn. Phạm Đình Chương đi từ bàn này sang bàn khác cụng ly cùng người mộ điệu hoặc lên sân khấu giới thiệu một bài hát vừa được yêu cầu. Cái giọng có mang hơi rượu cùng với nụ cười nhếch mép đã tạo nên không khí Đêm Màu Hồng vì phần lớn khách đến đây đều là thân hữu.

Chúng tôi, những buổi phùng trường tác hí là vào khoảng 9, 10 giờ đêm lại tà tà kéo đến Đêm Màu Hồng. Bạn bè có chỗ ngồi riêng, giá biểu riêng. Khẩu vị như thế nào thì chủ quán biết rồi. Vũ Khắc Khoan thì phải Con Thuyền Không Bến, lúc nào cao hứng lại còn phi lên sân khấu mà ngâm “Hồ Trường, Hồ trường ta biết rót về đâu”. Thanh Tâm Tuyền thì phải Mộng Dưới Hoa. Thanh Nam thì Cô Láng Giềng. Hôm nào có mặt tôi, Thái Thanh lại hỏi: Biệt Ly hay Buồn Tàn Thu đây ông ? Có bữa Râu Kẽm cảm khái quá liền ôm đàn guitare mà hát một mình (ít khi lắm). Hát tiếng Tây “Un jour si tu m’abandonnes” (Ngày nào, nếu em bỏ ta). Có khi vui anh vui em, Chương bỏ luôn phòng trà cùng Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo kéo lên “Quang Minh Đỉnh”.

Trong những năm “Đêm Màu Hồng” tôi thường cố giữ một nền nếp. Cứ đêm 30 Tết gần Giao Thừa là tôi kiếm một bó hoa thường là hoa hồng đến Đêm Màu Hồng tặng Thái Thanh. Cô em nhỏ ngày nào đi kháng chiến bây giờ trở thành tiếng hát vượt thời gian. Có lần tôi nhận được cặp bánh chưng của bà thân Chương và Thái Thanh gửi cho. Tôi cầm cặp bánh mà tưởng như vừa nhận món quà Tết từ quê hương phủ Quốc gửi vào.

Những lúc ấy, năm mới sắp sang, năm cũ sắp hết mà tôi vẫn thấy Hoài Bắc, Mai Thảo ngồi từ từ uống rượu,uống cho say, uống cho quên uống không không mệt mỏi. Tôi chợt nhớ một câu của Mai Thảo “Chúng tôi thân với nhau trong một tình thân thiết rất buồn rầu”.

Buổi cuối cùng tôi gặp Phạm Đình Chương đâu vào khoảng tháng 5 năm 1975 khi “đứt phim” được chừng hơn 1 tháng. Gặp nhau tại nhà Thanh Tâm Tuyền bên Gia Định có cả Mai Thảo nữa. Mai Thảo mang thêm một chai rượu vang còn sót lại. Các bạn có ý tiễn đưa tôi và Thanh Tâm Tuyền sắp sửa đi cải tạo. Bữa rượu im ắng thê lương.

Rồi Chương và tôi đạp xe ra về trước. Đạp toát mồ hôi đến quãng Trần Quốc Toản thì mỗi đứa mỗi đường. Chương ngừng lại và tôi cũng ngừng theo. Chương nắm lấy tay tôi vẻ bùi ngùi mà nói: “đi nhé”. Tụi tôi xưa nay ít có cái trò nắm tay, nắm chân như vậy, nhìn nhau một cái là đủ rồi. Chừng như Chương thương cảm cho số phận tôi trước việc đi cải tạo, một chuyến đi không biết bao giờ về. Nhưng bây giờ, 16 năm sau, tôi đã đi cải tạo về rồi, Chương lại làm một chuyến đi không bao giờ trở lại. Đi nhé ! Ngàn năm vĩnh biệt Phạm Đình Chương.  (theo Phan Lạc Phúc)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

– 30 ca khúc hay nhất của Phạm Đình Chương & Pham Duy (3:06’)

https://youtu.be/Th2WNuhxIvE