CA NHẠC SÀI GÒN TRƯỚC 1975

NHỮNG NGÀY THÁNG 4

NHỚ SÀI GÒN XƯA

CA NHẠC SÀI GÒN

TRƯỚC 30/4/1975

Bài viết này trước đây tôi đã post trên trang web “Take2Tango” (trang web do Thế Phương chủ trương, đã đột tử ở California vào cuối năm 2010, nên nay trang web này đã ngưng hoạt động trên diễn đàn) và trang Blog “Văn Nghệ người Sài Gòn” vào tháng 5 và 6 năm 2009, sau đó nhiều trang web, blog ở hải ngoại lấy trích đăng (nhưng không ghi lại tên tác giả). Nhân đây tôi xin post lại nguyên văn bài viết :

Lời người viết :

Lâu rồi các bạn bè thân hữu mỗi khi gặp tôi cứ hỏi “Liệu ông có viết lại các mẫu chuyện về Ca Sĩ Sài Gòn trước năm 75 được không ?”. Bởi dù gì ngày trước ở Sài Gòn tôi viết chuyên mục về điện ảnh tân nhạc cho nhiều báo và tạp chí, mà nhật báo Trắng Đen với số bán chạy nhất thời đó là chủ chốt; đồng thời cũng là một trong các sáng lập viên “Nhóm thân hữu ký giả Điện ảnh Tân nhạc Việt Nam” (như Huy Vân TTK báo Tiền Tuyến, tức Binh Cà Gật trong tạp chí Chiến Sĩ Cộng Hòa, Nguyễn Toàn, Tương Giang, Phạm Hồng Vân, Phi Sơn….) thuộc “thiên lý nhãn”…. trăm tai ngàn mắt thời đó.

Viết về giới ca nhạc sĩ Sài Gòn thời trước 1975, là viết những chuyện đằng sau hậu trường, những chuyện dính dáng vào đời tư nhưng không đến nỗi phải bồi thường “một đồng danh dự”; có thể có những vụ việc đã từng được đăng hoặc chưa được đăng trên báo, viết về người còn ở lại và người đã xa quê hương, quả thật hết sức phức tạp !

Lý do “sự thật hay mích lòng”, nhưng đã hơn 30 năm xin cứ coi đây là kỷ niệm, thật hư thế nào chính người trong cuộc sẽ hiểu !…. Nhưng vì một lẽ giản đơn “không muốn vạch áo cho gười xem lưng” đó thôi !?

Cuối cùng, những phần hồi ký này chỉ trích đăng từng phần, nếu có dịp xin sẽ viết tiếp… và viết ra để những người về sau tham khảo và biết về các Nhạc Sĩ & Ca Sĩ trước 1975, đang ở VN, Hải ngoại đã thành danh như thế nào. (NV)

CA SĨ SAIGON – XUẤT HIỆN TỪ ĐÂU ?

Nói đến ca sĩ từ đâu đến hay nôm na từ đâu mà thành danh. Tôi chợt nhớ đến Chế Linh đầu tiên, nhớ ngay cái ngày một thanh niên gốc Chàm khúm núm đến gặp Tùng Lâm ở hậu trường rạp Olympic, một sân khấu đại nhạc hội do quái kiệt Tùng Lâm tổ chức song song với Duy Ngọc ở bên rạp Hưng Đạo vào mỗi sáng chủ nhật.

Tôi nhớ buổi sáng chủ nhật hôm đó khi anh chàng da ngâm đen tóc quăn, ăn mặc nguyên bộ đồ jean. Đến Tùng Lâm cũng không hiểu tại sao anh ta, một người lạ mặt vào được tận bên trong hậu trường. Còn đang ngạc nhiên thì anh chàng người Chàm đã tới gặp ngay Tùng Lâm xin cho được hát vào những lúc ca sĩ còn chạy show chưa kịp đến.

Tùng Lâm quyết liệt từ chối, dù lúc đó phải đóng màn chờ ca sĩ cũng không dám cho anh chàng người Chàm này lên hát, một phần do anh ta là người dân tộc thiểu số và cũng chưa từng nghe anh ta hát bao giờ.

Nhưng kế tiếp những tuần sau, anh chàng người Chàm lì lợm vẫn đều đặn xuất hiện xin Tùng Lâm cho được hát, và rồi Tùng Lâm cũng đành chào thua sự lì lợm quá mức này, đành chấp nhận cho anh ta hát một bài để thử, với lời dặn chỉ hát một bài và không có tiền “cát sê”

Tôi chứng kiến các buổi anh chàng người Chàm đến và cả buổi đầu tiên được Tùng Lâm cho lên hát một nhạc phẩm của Duy Khánh, với tên được giới thiệu là Chế Linh. (nghệ danh này sau mới rõ nó có hai nghĩa, nghĩa thứ thứ nhất là họ Chế để khẳng định là”con cháu” của Chế Mân, Chế Bồng Nga. Nghĩa thứ hai có nghĩa là “lính chê” bởi người thiểu số được miễn hoãn quân dịch).

Không rõ Chế Linh có được học hát hay có thiên bẫm hát theo đĩa hay băng nhạc mà nhiều nam nữ mầm non ca sĩ thường hát nhái đến thuộc lòng, đến khi bài hát chấm dứt thì hàng loạt tiếng vỗ tay nổi lên tán thưởng kèm theo những tiếng gào “bis, bis” nổi lên ầm ỉ nơi hàng ghế khán giả.

Nhưng nhìn những người ái mộ vỗ tay gào thét kia lại chính là đồng hương của Chế Linh, do chính Chế Linh bỏ tiền ra mua vé cho họ vào xem và chờ đợi cái ngày hôm đó, để chỉ làm một động tác vỗ tay hoan hô và gào lên những tiếng bis, bis.

Do không được ai lăng xê, không được ai kèm cặp, Chế Linh thường hát nhái theo giọng ca Duy Khánh và cả những bài hát tủ của Duy Khánh từng thành đạt. Và nhờ những đồng hương hàng tuần đến vỗ tay, sau này Chế Linh được Tùng Lâm nhận làm “đệ tử” trong lò đào tạo ca sĩ của mình (?).

Từ lúc đó Chế Linh mới được uốn nắn rèn giũa lại chính giọng ca của mình.

Khi nói đến những lò “đào tạo ca sĩ” thường là những nơi có môi trường “lăng xê”, như nhạc sĩ Nguyễn Đức có hai chương trình trên Đài truyền hình số 9 là Ban Thiếu nhi Sao Băng và chương trình Nguyễn Đức, cùng hai chương trình trên Đài phát thanh là Ban Việt Nhi, ban ABC. Còn quái kiệt Tùng Lâm có Đại nhạc Hội, và chương trình Tạp Lục trên truyền hình. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông với đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương của TC/CTCT mà Song Ngọc đứng đầu tàu.

Đây là những lò nhạc giới thiệu nhiều ca sĩ nhất trong thời gian đó. Như lò Nguyễn Đức có một lô ca sĩ họ Phương gồm Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc (Cẩm Hồng) hay trước đó là Hoàng Oanh có cả nghệ sĩ hài như Thanh Hoài, Trần Tỷ.

Lò Tùng Tâm giới thiệu Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến rồi Chế Linh, Giang Tử. Lớp nhạc Bảo Thu có Thanh Mai, Thanh Tâm sau này Kim Loan; Hoàng Thi Thơ có Sơn Ca, Bùi Thiện, Họa Mi v.v…

Trở lại với Chế Linh, tuy quái kiệt Tùng Lâm có môi trường “lăng xê” nhưng về chuyên môn dạy thanh âm cho ca sĩ lại “mù tịt”; qua đó đã liên kết với nhạc sĩ Bảo Thu và Duy Khánh đào tạo hay lăng xê Chế Linh trở thành một danh ca như từng đào tạo lăng xê ra những Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Trang Kim Yến… Vì từ lò Bảo Thu (còn là ảo thuật gia Nguyễn Khuyến) cùng Duy Khánh (khi đó ở chung cư Trần Hưng Đạo) đã cho “ra lò” nhiều ca nhạc sĩ như Quốc Dũng, Thanh Mai, Thanh Tâm, Kim Loan…

Việc liên kết giữa Tùng Lâm – Bảo Thu – Duy Khánh làm cho nhiều lò đào tạo ca sĩ bấy giờ lên cơn sốt, bởi ở đây có đủ môi trường để các tài năng trẻ thi thố tài năng, Tùng Lâm có sân khấu đại nhạc hội, Bảo Thu có chương trình truyền hình; dạy thanh âm và cung cách biểu diễn. Chế Linh nhờ vào “lò” Tùng Lâm mà thành danh cho đến ngày nay.

Tuy nhiên ngoài những lò “đào tạo ca sĩ” nói trên cũng có những ca sĩ thành danh từ những phòng trà khiêu vũ trường, trong phong trào văn nghệ học đường, đại hội nhạc trẻ, những đoàn văn nghệ do chính quyền thành lập. Như Vi Vân, Julie Quang, Carol Kim, Đức Huy, Ngọc Bích, Thúy Hà Tú (Khánh Hà – Anh Tú), Thanh Tuyền, hài có Khả Năng, Thanh Việt, Phi Thoàn, Xuân Phát…

Elvis Phương nổi danh từ l1972 thời gian vào lúc do Thanh Thúy đang khai thác phòng trà Queen Bee cùng với ông Tuất (sau thời kỳ Khánh Ly), nhưng Elvis Phương đã tạo cho mình một chỗ đứng lúc còn là học sinh cùng với ban nhạc trẻ học đường. Sau đó Elvis Phương đi hát cho nhiều phòng trà nhưng do không ai dìu dắt lăng xê đến nơi đến chốn nên vẫn chỉ là cái bóng của những đàn anh àn chị.

Khi Thanh Thúy khai thác Queen Bee, có nhạc sĩ Ngọc Chánh làm trưởng ban nhạc Shotguns cùng Cao Phi Long, Hoàng Liêm, Đan Hà; và hội nhập vào làng sản xuât băng nhạc 1972. Elvis Phương mới được biết đến từ đó (1969). Tuy vậy Ngọc Chánh không cho mình đã tạo ra tên tuổi Elvis Phương, anh chỉ có công “lăng xê” còn giọng hát của Elvis Phương là do thiên phú hay từ môi trường văn nghệ học đường mà thành công.

Các lò đào tạo ca sĩ ngoài những môi trường để dễ dàng “lăng xê” gà nhà, nhưng muốn lăng xê một ca sĩ còn phải qua nhiều cửa ải khác, như tìm một nhạc phẩm thích hợp với giọng ca để ca sĩ chọn làm bài hát tủ như người ta thường ví đo ni đóng giày.

Bài hát tủ như khi nghe Phương Dung hát chỉ có bài Nổi Buồn Gác Trọ là nổi bật, nghe Túy Hồng biết đang hát nhạc của Lam Phương (cũng là chồng của Túy Hồng), nghe Thanh Thúy lúc nào cũng có bản Ngăn Cách của Y Vân, Thanh Lan với các ca khúc Bài không tên cuối cùng của Vũ Thành An hay Tình khúc… của Từ Công Phụng, Lệ Thu với Nữa hồn thương đau của Phạm Đình Chương, Thái Thanh thì chỉ có Dòng Sông Xanh nhạc Việt hóa của Phạm Duy, Khánh Ly ngoài những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, thường tìm cho mình con đường mới là hát nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Văn Cao. Phương Hồng Quế với Phố Đêm, Những chuyện tình không suy tư của Tâm Anh v.v…

Sau khi ca sĩ có những bài hát tủ, các lò còn phải nhờ báo chí viết bài ca tụng tán dương, bỏ tiền cho các tạp chí lên ảnh bìa hay nhờ báo chí cho đứng tên một mục thường xuyên nào đó như phụ trách trang nhi đồng, giải đáp tâm tình, trả lời thư tín, nhưng các ông bầu đào tạo thường trao đổi ca sĩ cho nhau giữa các show truyền hình truyền thanh, vì ít tốn kém và hiệu quả, tạo đến tai nghe mắt nhìn cho khán thính giả một cách thực tế, được chú ý hơn.

Một Phương Hồng Quế có thời gian chiếm lĩnh trọn vẹn trên truyền hình, từ show này đến show khác, được phong tặng ”Tivi Chi Bảo“, giữ trang Vườn Hồng, Họa Mi trên báo Tin Điển, Chuông Mai, Trắng Đen, Đồng Nai, Hòa Bình cùng Phương Hồng Hạnh.

Nhưng ai có biết Nguyễn Đức đã bỏ ra bao nhiêu tiền để Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh dược như thế ? Chị em Thanh Thúy, Thanh Mỹ giữ mục Trả lời thư tín trên báo Tiếng Dân, sau này cô em út là Thanh Châu trên báo Trắng Đen v.v..

Tất cả chỉ là cái tên trên báo, vì đã có người làm giúp viết giúp và lãnh tiền giúp, đó là những ngón nghề lăng xê ca sĩ từ các lò ”đào tạo ca sĩ“.

Đa số các lò nhạc chỉ thích lăng xê ”nữ ca sĩ ” hơn nam vì có nhiều lý do, nhưng lý do dễ hiểu nhất đa số… các ông thầy đều có máu dê.

Có một giai thoại, người ta đồn một nhạc sĩ gốc mật vụ đệ tử Trần Kim Tuyến thời Ngô Đình Diệm, rất thích các nữ nghệ sĩ, muốn cô nào từ ca sĩ đến kịch sĩ là nhờ bọn đàn em mời về cơ quan hứa hẹn dành cho họ nhiều ưu đãi trong nghề nghiệp với điều kiện cho ông ta được ”thưởng thức“, sau đó giữ bí mật chuyện giữa ông ta với nàng.

Chuyện bí mật đó là gì ? Trước đó tức trước khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, có lần ông nhạc sĩ mật vụ còn cao hứng đòi lấy một nữ kịch sĩ làm vợ, khiến cô nàng sợ quá vọt trốn ra nước ngoài sống mấy năm mới dám về Sài Gòn hoạt động kịch nghệ trở lại (cũng nhờ ra nước ngoài mà sau này được trọng vọng thành người thân cộng ).

Không phải người nữ nghệ sĩ này không khoái ông sĩ quan mật vụ, mà không khoái khi nghe ông bầu show là quái kiệt Trần Văn Trạch của “Đại nhạc hội một cây” nói đến tính bất lực của ông ta. Vậy mà sau này có những con thiêu thân “ca sĩ mầm non” đang bán phở hủ tíu, chấp nhận cho ông ta được “thưởng thức” để có môi trường trở thành nữ danh ca ..

TOÀN CẢNH TÂN NHẠC MIỀN NAM

Bước vào những năm 63 – 70 của thập kỷ trước, phong trào Kich Động Nhac và Nhạc trẻ bắt đầu xâm nhập mạnh, các ca khúc lãng mạn hay lá cải gần như chìm lắng nhường cho nhạc ngoại quốc được Việt hóa, lý do bộ thông tin & tâm lý chiến bấy giờ ra lệnh các nhạc phẩm VN phải có lời mang tính ca tụng người lính hay tính chiến đấu.

Những nhạc phẩm sặc mùi chiến tranh tâm lý chiến như Lính dù lên điểm, Người ở lại Charlie, Đám cưới nhà binh, Hoa biển, Anh không chết đâu em, Câu chuyện chiếc cầu đã gãy, Kỷ vật cho em, Mùa thu chết v.v.. ra đời.

Loại kích động nhạc, nhạc VN tâm lý chiến có Trần Trịnh viết cho Mai Lệ Huyền lúc đó đang còn sống chung (sau Mai Lệ Huyền lấy một đạo diễn trên Đài truyền hình số 9 rồi mới vượt biên), hát cặp với Hùng Cường thuộc loại ăn khách.

Nhật Trường – Trần Thiện Thanh viết cho chính anh cùng với Thanh Lan. Còn Khánh Ly, Lệ Thu chỉ nỉ non hát những bài của Phạm Duy như Mùa Thu Chết, Kỷ vật cho Em, Giọt mưa trên lá… Các nhạc sĩ khác không có nhạc phẩm mới chỉ cho ca sĩ nhai đi nhai lại các bài hát cũ.

Vì vậy nhạc Pop Rock – Việt hóa ăn khách do không nằm trong lệnh của bộ thông tin & tâm lý chiến. Những ca khúc trữ tình như Hởi người tình La-ra nhạc phim Dr.Zivago, Roméo Juliette, Giàn thiên lý đã xa, Khi xưa ta bé, Lịch sử một chuyện tình… được ra đời. Trước đó xuất hiện cùng những ca sĩ ban nhạc Black Caps, Les Vampires, Rockin Stars, The 46, Fanatiques, Spotlights, và phong trào Viet Hóa như Phượng Hoàng, Mây Trắng (Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Trung Hành, Elvis Phương), CBC (Bích Liên), Crazy Dog (Những đứa con của cặp nghệ sĩ Việt Hùng – Ngọc Nuôi với Ngọc Bích đầu đàn)

Ba Con Mèo (có Vi Vân, Julie và Mỹ Hòa), Tú Hà Thúy ( Anh Tú, Khánh Hà, Thuy’ Anh) và những ”thủ lãnh” phong trào lúc đó là Nhac Trẻ: Trường Kỳ, Tùng Giang, Đức Huy, Kỳ Phát, Nam Lộc.

Nên phải nói rằng nền ca nhạc ở Sài Gòn từ những năm 60 đến 75 mới thực sự có nhiều điều để nói, vì trước đó thời TT Ngô Đình Diệm cấm mở khiêu vũ trường, nên sinh hoạt tân nhạc còn trong phạm vi thu hẹp chỉ có Đài phát thanh, Phòng trà và Đại Nhạc Hội. Trong thời gian này có Ban Thăng Long với Hoài Trung, Hoài Bắc, Thái Thanh, Thái Hằng, nhạc hài hước có Trần Văn Trạch, song ca Ngọc Cẩm – Nguyễn Hữu Thiết hay Thúy Nga với tiếng đàn phong cầm (sau thành vợ Hoàng Thi Thơ ), Duy Trác, Bạch Yến, Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Ánh Tuyết, Cao Thái…

Do thiếu hụt ca sĩ, các tay tổ chức Đai Nhạc Hội thường đưa vào các tiết mục múa của Lưu Bình, Lưu Hồng, Trịnh Toàn, kịch nói chưa phát hiện ra Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, La Thoại Tân, Vân Hùng… chỉ có những nghệ sĩ gần đứng tuổi như Phùng Há, Bảy Nam, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nhiêu, Hoàng Mai, Anh Lân, Kim Lan, Kim Cúc, Túy Hoa, Xuân Dung hay cua-rơ Phượng Hoàng Lê Thành Cát (một kịch sĩ nghiệp dư) chiếm lĩnh sân khấu cùng kịch sĩ đất Bắc như Lê Văn, Vũ Huân, Vũ Huyến…

Thời gian 1965 – 1975 giới thưởng thức tân nhạc bắt đầu chia khán giả cho từng loại ca sĩ :

– SVHS thì thích những giọng hát của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Paolo Tuan, Elvis Phương bởi khi hát có chọn lọc nhạc phẩm mang tính nghệ thuật cao cấp.

– Đại đa số quần chúng lại thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu hát những nhạc phẩm bậc trung nẳm giữa nghệ thuật và thị hiếu.

Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Thanh Hùng, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang hát các bài được soạn theo kiểu tiểu thuyết lá cải như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương … được giới bình dân ưa thích. (gọi là “nhạc sến”)

Cho nên giới sản xuất băng nhạc bấy giờ rất kén ca sĩ hát cho nhãn băng nhạc, nếu nhãn băng nhạc nào có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan v.v… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Giang Tử, Duy Khánh v.v…

Khán thính giả đã phân chia hạng bậc ca sĩ nhạc phẩm để thưởng thức. Ông bầu Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng mong chiếm trọn thị trường, vì làm băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn do đã phân chia ra từng lớp :

– Shotguns dành cho lớp người có trình độ thưởng thức cao.

– Nhãn băng Thanh Thúy dành cho mọi tầng lớp khán thính giả.

– Nhãn băng Hồn Nước có Chế Linh, Duy Khánh, Trang Mỹ Dung, Phương Hồng Quế v.v…
– Phục vụ thành phần cao niên hoài cổ có băng nhạc Tơ Vàng của Văn Phụng Châu Hà, quy tụ những ca sĩ di cư từ đất Bắc như Duy Trác, Châu Hà, Kim Tước, Thái Thanh, Sĩ Phú qua những nhạc phẩm tiền chiến của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Nghiêm Phú Phi, Phạm Duy, Phạm Đình Chương… vừa có nhạc tiền chiến vừa có nhạc hiện đại của những nhạc sĩ tên tuổi.

– Tầng lớp SVHS có nhãn bang hiệu Shotguns, Khánh Ly, Jo Marcel để nghe nhạc phẩm Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Y Vân, Phạm Thế Mỹ, Nguyễn Ánh 9.

– Giới bình dân có rất nhiều nhãn hiệu băng như Hoàng Thi Thơ, Họa Mi, Hồn Nước, Chế Linh, Âm Thanh, Trường Sơn, Nguồn Sống qua nhạc phẩm Châu Kỳ, Mạnh Phát, Anh Việt Thu, Đỗ Lễ, Trầm Tử Thiêng, Vinh Sử, Tú Nhi, Hàn Châu, Song Ngọc, Duy Khánh, Thanh Sơn, Y Vũ, Trần Trịnh, Tâm Anh, Đynh Trầm Ca…

– Nhạc trẻ có nhóm Trường Kỳ, Tùng Giang, Kỳ Phát đều có nhãn băng nhạc riêng, riêng kiosque của chị em Thúy Nga (không phải vợ Hoàng Thi Thơ) lúc đó chỉ chuyên sang nhạc đĩa nhac Ngoai Quốc nước ngoài mang nhãn Selection hay Anna / Hon Hoang .

Thế giới ca nhạc Saigon đã phân chia thứ bậc theo sự thưởng ngoạn, ca sĩ cũng được phân chia ngôi thứ rõ ràng, đó là đặc tính của tân nhạc miền Nam ngày trước… tháng 04 /1975.

CẶP TRỊNH CÔNG SƠN

& KHÁNH LY

Từ ngày tôi viết báo và làm báo đến ngày Sài Gòn “đứt phim” nhiều lần tôi viết về Trịnh Công Sơn, dù đến bây giờ giữa tôi và họ Trịnh chưa một lần tiếp xúc, có lẽ vì Trịnh Công Sơn quá cao ngạo thường nghĩ mình là cái “rún” của nền âm nhạc Việt Nam từ trước và sau 1975, đồng thời họ Trịnh còn phân biệt địa phương chỉ thích giao tiếp với người gốc Huế hay gốc Bắc di cư 1954 sau này 1975, còn người làm báo miền Nam (ngày xưa có hai phe báo Nam báo Bắc, có cả 2 nghiệp đoàn ký giả Nam Bắc khác nhau), họ Trịnh tỏ ra không mặn mà để giao tế hay tiếp xúc.

Tôi nhớ vào khoảng năm 1964-65 phong trào Sinh Viên Học Sinh xuống đường đang bộc phát mạnh từng ngày. Ngày nào SVHS cũng xuống đường đòi xé Hiến chương Vũng Tàu của tướng Nguyễn Khánh, rồi một Quách Thị Trang nữ sinh trường Bồ Đề (Cầu Muối) ngã xuống do lạc đạn tại bồn binh chợ Bến Thành trong một đêm đầy biến động với lựu đạn cay và cả tiếng súng thị oai của cảnh sát bót Lê Văn Ken, và từ đó nổi lên phong trào hát du ca, toàn ca khúc phản chiến.

Cũng từ đó quán cà phê Văn được hình thành trên một bãi đất gò rộng lớn, bãi đất này từ thời Pháp từng được dùng làm khám lớn còn gọi bót Catinar bên hông pháp đình Sài Gòn. Bãi đất được chính quyền Nguyễn Khánh mà mị ve vuốt cấp cho SVHS làm trụ sở Tổng Hội Sinh Viên do Lê Hữu Bôi, Nguyễn Trọng Nho đang lãnh đạo phong trào SVHS xuống đường, để đổi lấy sự yên tĩnh cho thủ đô.

Quán cà phê Văn nằm sau trường Đại Học Văn Khoa, lúc đó do nhóm sinh viên đang theo học tại đây dựng lên và đặt thành tên gọi, được đông đảo anh chị em SVHS ủng hộ hàng đêm cả ngàn người đứng ngồi trên bãi cỏ, mở đầu nghe phong trào hát du ca của cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly qua những Ca khúc Da Vàng.

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly mới từ Đà Lạt vào Sài Gòn. Phong cách biểu diễn của Khánh Ly lúc đó rất bụi, chân đất, miệng phì phà điếu thuốc Salem và hát những bài do Trịnh Công Sơn sáng tác và đệm đàn. Bấy giờ người ta đã đặt cho Khánh Ly cái tên “ca sĩ cần sa”, “tiếng hát ma túy” v.v… vì giới SVHS thời đó, nhất là giới nữ chưa thấy một ai dám cầm điếu thuốc hút phì phèo nơi công cộng như thế, xem như một cuộc cách mạng trong giới trẻ.

Trước thời gian này họ Trịnh tuy đã có nhiều sáng tác nhưng chưa được ai biết đến như bài Ướt mi, Lời Buồn Thánh, Xin mặt trời ngủ yên (liên hoàn khúc) chưa hội nhập được vào giới ca sĩ phòng trà. Nên biết rằng, ca sĩ thời đó thường hát các nhạc phẩm của những nhạc sĩ đã thành danh như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Dương Thiệu Tước, Hoàng Thi Thơ, Lam Phương, Mạnh Phát, Châu Kỳ, Văn Phụng, Lê Dinh, Anh Bằng, Y Vân, Lan Đài…  những nhạc phẩm mang tính đại chúng, còn nhạc và tên tuổi của họ Trịnh hãy còn quá xa lạ với mọi người; các ca sĩ không dám hát sợ rằng khán thính giả sẽ tẩy chay khi hát những nhạc phẩm của người không tên tuổi.

Lúc đó Khánh Ly cũng như Trịnh Công Sơn đều chưa có chỗ đứng trong sinh hoạt tân nhạc, khán thính giả chỉ biết đến những ca sĩ như Thái Thanh, Hà Thanh, Mai Hương, Châu Hà, Duy Trác, Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết, Hoài Trung, Hoài Bắc hoặc trẻ trung như Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung v.v…

Khi được giới SVHS chào đón trên bãi đất Văn, bấy giờ Trịnh Công Sơn – Khánh Ly mới được mọi người để ý, bởi lời nhạc và cung cách biểu diễn của cả hai đang cách tân truyền thống cũ; nhưng tiếp đó cặp Vũ Thành An – Thanh Lan rồi Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên tuy đi sau nhưng lại nổi đình nổi đám cũng từ phong trào hát du ca này. Các nhạc sĩ sau soạn nhạc cũng dành cho giới trẻ cho tầng lớp người mới có kiến thức. Lời nhạc không rên siết bởi tiếng bom đạn mà rất du dương tình tứ đến lãng mạn gieo đến tâm hồn người nghe ngọn gió mới.

Sau đó quán cà phê Văn đâm ra “hắt hủi” cặp Trịnh Công Sơn – Khánh Ly, vì tính theo tần suất ái mộ, giới SVHS bắt đầu thích nghe “Những bài không tên”, “Bây giờ tháng mấy”, “Áo lụa Hà Đông” hơn “Gia tài của mẹ”, “Ca khúc da vàng” v.v…

Các nhạc sĩ trẻ Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên đã khai phá nguồn gió mới cho quán Văn, ngược với dòng nhạc và phong cách sáng tác nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn chống chiến tranh. Lúc này giới trẻ SVHS cảm thấy dòng nhạc của các nhạc sĩ trên có lời ca rất lãng mạn trữ tình luôn qua tiếng hát của Thanh Lan. Chính vì vậy Thanh Lan có nhiều lợi thế hơn Khánh Ly vì được giới SVHS ủng hộ đông đảo hơn, một phần do Thanh Lan là sinh viên Văn Khoa và cà phê Văn như sân nhà. Sau đó còn có cặp ca nhạc sĩ Lê Uyên và Phương v…v…

Trịnh Công Sơn – Khánh Ly bắt buộc phải chuyển thể theo trào lưu, không hát nhạc phản chiến, cả hai muốn lấy lại tư thế “người của mọi người” nên chuyển đề tài qua tình ca như dòng nhạc của Vũ Thành An, Từ Công Phụng hay Ngô Thụy Miên; và Diễm Xưa lại được Khánh Ly thể hiện xem như ca khúc lãng mạn của Trịnh Công Sơn nhằm đối kháng với “Những bài không tên”, “Bây giờ tháng mấy”, “Áo lụa Hà Đông”, sau Diễm Xưa tiếp tục với Lời Buồn Thánh, Mưa hồng, Biển nhớ, Tình xa, Một ngày như mọi ngày…

Nói như vậy cho thấy Trịnh Công Sơn đi trước về sau qua những bản nhạc tình.

Cuối cùng tôi gặp Trịnh Công Sơn vào trưa ngày 30/4/75 tại Đài phát thanh Sài Gòn. Trưa hôm ấy có lẽ Trịnh Công Sơn muốn đến kêu gọi giới văn nghệ sĩ (vì vẫn coi mình là cái “rún” của nền âm nhạc miền Nam ?) bình tĩnh và ủng hộ chính quyền quân quản, còn tôi đến để lấy tin làm báo, vì tờ báo tôi được uỷ quyền còn ra đến số báo đề ngày 2/5/75. Và đúng như bài của Trịnh Cung viết về Trịnh Công Sơn, trưa đó họ Trịnh chẳng nói được lời nào sau micro, còn Tôn Thất Lập có nói gì với họ Trịnh không thì tôi “bó tay” do lúc này ở phòng thu người chật như nêm, ai cũng muốn chen vào muốn “có tiếng nói” làm “ông kẹ ba mươi tháng tư” kể cả tên mặt rô ở chợ Cầu Muối cũng có mặt muốn kêu gọi bạn hàng chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối hợp tác với ban quân quản.

Sau ngày 30/4 ai cũng thấy rõ chiến tuyến của họ Trịnh và Khánh Ly. Quả thật Trịnh Công Sơn phản chiến vì thân cộng, còn Khánh Ly lại thuộc thành phần chống cộng. Có người hỏi tại sao Khánh Ly lại ra đi không cùng họ Trịnh ở lại để hưởng phước lộc trong xã hội chủ nghĩa, khi cả hai từng có công trạng gián tiếp xúi giục mọi người phản chiến, thanh niên trốn quân dịch; vì cả hai như cặp bài trùng ?

Khi hỏi cũng đã có câu trả lời, vì khi phong trào du ca không còn tồn tại, chỉ còn nhóm “Hát cho đồng bào tôi nghe” của Nguyễn Đức Quang, Miên Đức Thắng, Tôn Thất Lập “hát chui” ở đâu đó. Còn Trịnh Công Sơn và Khánh Ly đã tách ra thành hai, bởi cả hai đâu phải đôi “thanh mai trúc mã”, một người bị chứng bất lực còn một người đang tràn trề sinh lực của lứa tuổi thèm yêu.

Trước đó Khánh Ly đã ấy một đại úy biệt kích to con lực lưỡng làm chồng, còn là một bảo kê cho phòng trà khiêu vũ trường của vợ trên đường Nguyễn Huệ (Queen Bee) sau chuyển qua đường Tự Do (Khánh Ly). Do vậy Khánh Ly phải xa họ Trịnh để đến đất nước của Nữ thần tự do, còn nếu ở lại với lý lịch lấy chồng sĩ quan ngụy quân sẽ bị trù dập “ngóc đầu lên không nổi”.

Tuy vậy khi qua Mỹ, Khánh Ly không còn nhớ đến người chồng biệt kích còn đang học tập cải tạo ở quê hương, liền lấy ngay một ký giả từ Sài Gòn cũng vừa di tản để cả hai tiếp tục hô hào chống cộng.

Còn Trịnh Công Sơn, khoảng thời gian mười năm sau ngày Sài Gòn “đứt phim”, họ Trịnh lại bắt đầu nổi tiếng (?), còn tại sao nổi tiếng khi Trịnh Công Sơn chỉ có những bản nhạc “nhạt như nước ốc” sáng tác cổ động cho phong trào thanh niên xung phong hay học đường theo huấn thị của ông Sáu Dân, việc này mọi người đã biết tôi không nói thêm nữa.

Sự trở lại với nền âm nhạc sau nhiều năm vắng bóng để Xuân Hồng, Trần Long Ẩn… làm mưa làm gió, nên mọi người còn nhớ Trịnh Công Sơn và báo chí lại đưa tên tuổi họ Trịnh lên chín tầng mây. Và mặc dù bị chứng bất lực nhưng cũng có vài con thiêu thân chịu sa ngã để được “dựa hơi”, mong “hơi hám” của họ Trịnh sẽ cho mình chút hư danh, như cô ca sĩ HN vừa loé lên đã tắt lịm, bởi nhạc cũ họ Trịnh thì chưa được hát còn nhạc mới lại nhạt nhẻo chỉ dành cho thiếu nhi hay hát vào mỗi lúc hô “khẩu hiệu”mà thôi.

Biết rằng nhạc không còn hồn, không còn sôi nổi cuốn hút người nghe như thời trước 1975, Trịnh Công Sơn mở quán cà phê trên đường Phạm Ngọc Thạch tức đường Duy Tân cũ, rồi bắt đầu vẽ hươu vẽ nai rồi nhờ mấy tên ký giả cà phê “lăng-xê” nét vẽ không thua gì những Phạm Cung, Trịnh Cung… có người đòi mua cả vài ngàn đô ?!. Vậy là hết cuộc đời âm nhạc để rồi chết vì nghiện rượu, mà tác phẩm để lại được mọi người còn nhớ đến toàn nhạc phẩm của những ngày trước 30/4.

Nguyễn Việt

VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG SÀI GÒN

LỊCH SỬ NHÀ THỜ

ĐỨC BÀ SÀIGÒN

Tên chính Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội.

– Tôn giáo Công giáo Rôma

– Chức năng Nhà thờ chính tòa Saigon

– Địa chỉ Công trường Công xã Paris

– Thiết kế J. Bourad, phong cách Kiến trúc Roman

– Cao 57 mét (đỉnh thánh giá)

Nhà thờ Đức Bà Saigon, tên chính thức là Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội (Immaculate Conception Cathedral Basilica), là nhà thờ lớn nhất và đặc sắc nhất tại Saigon với 2 tháp chuông cao 60 mét, tọa lạc tại trung tâm thành phố (Số 1 Công trường Công xã Paris, Quận 1). Đây là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc thu hút nhiều khách tham quan nhất tại thành phố. được Bộ Văn hóa nước Công Hòa Xã hội Việt Nam công nhận là di tích lịch sử-văn hóa cấp Quốc gia.

Lịch sử

Ngay sau khi chiếm Saigon, Pháp đã cho lập nhà thờ để làm nơi hành lễ cho tín đồ Công giáo trong đoàn quân viễn chinh. Ngôi nhà thờ đầu tiên được lập ở đường số 5 (nay là đường Ngô Đức Kế).

Nhà thờ đầu tiên đó quá nhỏ nên vào năm 1863, Đô đốc Bonard đã quyết định cho khởi công xây dựng ở nơi khác một thánh đường bằng gỗ bên bờ “Kinh Lớn” (còn gọi là kinh Charner, thời Việt Nam Cộng hòa là trụ sở Tòa Tạp tụng). Cố đạo Lefebvre tổ chức “Lễ đặt viên đá đầu tiên” xây dựng nhà thờ vào ngày 28 tháng 3 năm 1863. Nhà thờ xây cất bằng gỗ, hoàn thành năm 1865, ban đầu gọi là Nhà thờ Saigon. Về sau, do nhà thờ gỗ này bị hư hại nhiều vì mối mọt, các buổi lễ được tổ chức trong phòng khánh tiết của “dinh Thống Đốc” cũ, về sau cải thành chủng viện Taberd, cho đến khi nhà thờ lớn xây xong.

Tháng 8 năm 1876, Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án kiến trúc nhà thờ mới. Ngoài mục tiêu có chỗ thờ phụng, hành lễ cho tín đồ, việc xây dựng nhà thờ lớn cũng nằm trong mục đích phô trương đạo Công giáo và sự vĩ đại của nền văn minh Pháp trước người dân thuộc địa. Vượt qua 17 đồ án thiết kế khác, đồ án của kiến trúc sư J. Bourad với kiến trúc theo kiểu Roma cải biên pha trộn nét Gotich đã được chọn.

Ban đầu, địa điểm xây cất được đề nghị ở 3 nơi :

– Trên nền Trường thi cũ (nay là góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng, tức vị trí tòa Lãnh sự Pháp).

– Ở khu Kinh Lớn (tại vị trí nhà thờ cũ, nay thuộc đường Nguyễn Huệ).

– Vị trí hiện nay.

Ngay tại vị trí hiện nay, vẫn từng có dư luận về sự tranh chấp của ba phía :

– Nhà cầm quyền Pháp muốn xây cất một nhà hát lớn ở đây,

– Phía Tin Lành muốn cất nhà thờ Tin Lành

– Phía Công giáo muốn xây nhà thờ Công giáo.

Sau một thời gian tranh chấp, ba bên đành phải bắt thăm. Riêng phía Công giáo, giám mục Colombert yêu cầu giáo dân toàn giáo phận ăn chay cầu nguyện và xin dâng cho Đức Trinh Nữ Maria lo liệu.

Đến ngày bắt thăm, phía Công giáo bắt thăm trước và trúng thăm, hai phía kia bất bình và yêu cầu bắt thăm lại. Lần này, nhà cầm quyền Pháp dành bắt thăm trước, kế đến phía Tin Lành, nhưng phía Công giáo lại trúng thăm.

Sau khi đề án thiết kế được chọn, Đô đốc Duperré cho đấu thầu việc xây dựng thánh đường và cũng chính kiến trúc sư J. Bourad là người trúng thầu và trực tiếp giám sát công trình này. Mọi vật liệu từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang.

Đặc biệt mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Marseille (Pháp) để trần, không tô trát, đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi, không bám bụi rêu.

Ngày 7/10/1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên trước mặt Phó soái Nam Kỳ và đông đủ nhân vật tai mắt thời ấy. Thánh đường được xây dựng trong 3 năm.

Lễ Phục sinh, ngày 11/4/1880, lễ cung hiến và khánh thành được cố đạo Colombert tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers.

Hiện nay, trên bệ phía trên, bên trong cửa ra vào nhà thờ, có chiếc bảng cẩm thạch gắn trong hành lang (transept) ghi ngày khởi công, ngày khánh thành và tên vị công trình sư. Tất cả mọi chi phí xây dựng, trang trí nội thất đều do Soái phủ Nam Kỳ đài thọ, với số tiền 2.500.000 franc Pháp theo tỷ giá thời bấy giờ.

Ban đầu, thánh đường có tên gọi là Nhà thờ Nhà nước vì thánh đường do nhà nước Pháp bỏ tiền xây dựng và quản lý.

Năm 1895, nhà thờ xây thêm hai tháp chuông, mỗi tháp cao 57,6 m và hai tháp có 6 chuông đồng lớn nặng 28,85 tấn. Trên đỉnh tháp có đính một cây thánh giá cao 3,50 m, ngang 2 m, nặng 600 kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60,50 m.

Trên vườn hoa trước nhà thờ, năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Adran vì vị này làm Giám mục hiệu tòa Adran) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam. Tượng đài này bao gồm một bệ bằng đá hoa cương đỏ hình trụ tròn và bên trên là bức tượng tạc hình đức cha Adran với phẩm phục giám mục, tay trái dẫn hoàng tử Cảnh. Tượng làm bằng đồng, được đúc tại Pháp, giới bình dân thời đó thường gọi là tượng “Hai hình” để phân biệt với tượng “Một hình”, là bức tượng của Đô đốc Hải quân Pháp Genouilly ở phía công trường Mê Linh (cuối đường Hai Bà Trưng, gần bờ sông Saigon). Năm 1945, tượng này bị phá bỏ, nhưng cái bệ đài bằng đá hoa cương đỏ thì vẫn còn tồn tại ở đó mà không có bất cứ một bức tượng nào ở trên.

Năm 1959, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên (sau làm Giám mục giáo phận Phú Cường, nay đã qua đời), cai quản Giáo xứ Saigon bấy giờ, đi dự đại hội Thánh Mẫu ở Vatican, đã đặt tạc một  tượng Đức Mẹ Hòa Bình bằng loại đá cẩm thạch quý hiếm.

Khi tượng từ Roma gửi sang Saigon bằng đường thủy, Linh mục Giuse Phạm Văn Thiên đã làm lễ dựng tượng trên cái bệ đài vẫn còn để trống kể từ năm 1945 vào ngày 16/2/1959 và dâng tước hiệu Nữ Vương Hòa Bình. Tự tay linh mục viết câu kinh cầu nguyện “Xin Đức Mẹ cho Việt Nam được hòa bình” rồi đọc trước đông đảo quan khách có mặt hôm ấy.

Ngày hôm sau, Hồng y Aganianian từ Roma qua Saigon để chủ toạ lễ bế mạc Đại hội Thánh Mẫu, đã làm phép bức tượng này vào buổi chiều ngày 17/2/1959. Do bức tượng này mà từ đó Nhà thờ có tên gọi là Nhà thờ Đức Bà.

Ngày 05/12/1959, Tòa Thánh đã cho phép làm lễ “xức dầu”, tôn phong Nhà thờ Chánh tòa Saigon lên hàng Vương Cung Thánh Đường (basilique). Từ đó, tên gọi chính thức của thánh đường là Vương cung thánh đường Đức Bà Saigon.

Năm 1960, Tòa Thánh thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam với ba tòa Tổng Giám mục tại Hà Nội, Huế và Saigon. Nhà thờ trở thành nhà thờ chinh tòa của vị Tổng giám mục Saigon cho đến ngày nay.

Những nét đặc sắc

Trong quá trình xây dựng, toàn bộ vật liệu xây dựng từ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang.

Mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch đặt làm tại Marseille để trần, không tô trát, (đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi), không bám bụi rêu.

Một số ngói vỡ trong nhà thờ có in hàng chữ Guichard Carvin, Marseille St André France, có lẽ là nơi sản xuất loại ngói này, mảnh ngói khác lại có hàng chữ Wang Tai Saigon. Có thể đây là mảnh ngói được sản xuất sau tại Saigon dùng để thay thế những mảnh ngói vỡ trong thời gian Thế chiến thứ hai do những cuộc không kích của quân Đồng Minh.

Toàn bộ thánh đường có 56 ô cửa kính màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres (Pháp) sản xuất.

Móng của thánh đường được thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 l ần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Saigon – Gia Định lúc ấy và bây giờ.

Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Toàn bộ chiều dài thánh đường là 133 m , tính từ cửa ngăn đến mút chót của phòng đọc kinh. Chiều ngang của hành lang là 35 m . Chiều cao của thánh đường là 21 m . Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người.

Nội thất thánh đường có hai hàng cột chính hình chữ nhật, mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ.

Ngay sau hàng cột chính là một hành lang với khá nhiều khoang có những bàn thờ nhỏ (hơn 20 bàn thờ) cùng các bệ thờ và tượng thánh nhỏ làm bằng đá trắng khá tinh xảo. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình sáu vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ, bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích.

Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Tất cả các đường nét, gờ chỉ, hoa văn đều tuân thủ theo thức Roman và Gôtich, tôn nghiêm và trang nhã. Tuy nhiên, trong số 56 cửa kính này hiện chỉ còn hai cửa là nguyên vẹn như xưa.

Nội thất thánh đường ban đêm được chiếu sáng bằng điện, không dùng đèn cầy ngay từ khi khánh thành. Vào ban ngày, với thiết kế phối sáng tuyệt hảo, hài hòa với nội thất tạo nên trong nội thất thánh đường một ánh sáng êm dịu, tạo ra một cảm giác an lành và thánh thiện.

Ngay phía trên cao phía cửa chính là “gác đàn” với cây đàn organ ống, một trong hai cây đàn cổ nhất Việt Nam hiện nay. Đàn này được các chuyên gia nước ngoài làm bằng tay, thiết kế riêng, để khi đàn âm thanh đủ cho cả nhà thờ nghe, không nhỏ mà cũng không ồn. Phần thân đàn cao khoảng 3 m, ngang 4 m, dài khoảng 2 m, chứa những ống hơi bằng nhôm đường kính khoảng một inch. Phần điều khiển đàn nằm riêng nối với thân đàn bằng những trục, có những phím đàn như đàn organ bình thường và những phím to đặt dưới sàn nhà (dài chừng 3 m, ngang khoảng 1m) để người điều khiển đàn đạp lên khi dùng nốt trầm. Đàn còn có những thanh gõ lớn để đập vào phần dưới các ống hơi phát ra âm thanh.

Hiện nay, cây đàn này đã hoàn toàn hỏng do bị mối ăn phần gỗ bàn phím điều khiển bằng tay.

Ban đầu, hai tháp chuông cao 36,6 m, không có mái và chỉ có độc một chiếc cầu thang hẹp chừng 40 cm bề ngang. Nội thất gác chuông rất tối và sàn được lót sơ sài bằng những miếng gỗ nhỏ cách khoảng, nhìn xuống thấy sâu hút. Vào năm 1895, thánh đường xây thêm hai mái chóp để che gác chuông cao 21 m, theo thiết kế của kiến trúc sư Gardes, tổng cộng tháp chuông cao 57 m. Có tất cả 6 chuông lớn (sol, la, si, đô, rê, mi), gồm sáu âm, nặng tổng cộng 28,85 tấn, đặt dưới hai lầu chuông. Bộ chuông này được chế tạo tại Pháp và mang qua Saigon năm 1879. Trên tháp bên phải treo 4 quả chuông (sol, si, rê, mi); tháp bên trái treo 2 chuông (la, đô). Trên mặt mỗi quả chuông đều có các họa tiết rất tinh xảo.

Ba quả chuông to nhất là chuông si nặng 3.150 kg, chuông re nặng 2.194 kg và đặc biệt là chuông sol là một trong những quả chuông lớn nhất thế giới: nặng 8.785 kg, đường kính miệng chuông 2,25 m, cao 3,5 m (tính đến núm treo). Chuông này chỉ ngân lên mỗi năm một lần vào đêm Giáng Sinh.

Các chuông đều được điều khiển bằng điện từ bên dưới. Riêng ba chiếc chuông lớn trước khi đánh đều được khởi động bằng cách đạp (vì quá nặng) cho lắc trước khi bật công tắc điện.

Vào ngày thường, thánh đường chỉ cho đổ một chuông mi hoặc rê vào lúc 5 giờ và 17g30. Vào ngày lễ và Chủ nhật, nhà thờ thường cho đổ ba chuông.

Vào đêm Giáng Sinh thì mới đổ cả 6 chuông. Tiếng chuông ngân xa tới 10 km theo đường chim bay.

Bộ máy đồng hồ trước vòm mái cách mặt đất chừng 15 m, giữa hai tháp chuông được chế tạo tại Thụy Sĩ năm 1887, hiệu R.A, cao khoảng 2,5 m, dài khoảng 3 m và ngang độ hơn 1 m, nặng hơn 1 tấn, đặt nằm trên bệ gạch. Dù thô sơ, cũ kỹ nhưng hoạt động khá chính xác. Để điều chỉnh đồng hồ, phía sau máy có một chiếc đồng hồ to cỡ đồng hồ reo trong gia đình. Chỉ cần theo dõi chiếc đồng hồ con này, có thể biết đồng hồ lớn chạy chậm, nhanh, đúng hay sai giờ. Mỗi tuần phải lên giây đồng hồ một lần và chiếc cần để lên giây đồng hồ giống như tay quay máy xe.

Đồng hồ còn có hệ thống chuông riêng, tuy nhiên đã không còn hoạt động do dây cót quá cũ.

Mặt trước thánh đường là một công viên với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Tượng do nhà điêu khắc G. Ciocchetti thực hiện năm 1959. Tên của tác giả được khắc ở trên tà áo dưới chân, phía bên trái của bức tượng.

Bức tượng cao 4,6 m, nặng 5,8 tấn, bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn (mà hiện nay, đầu con rắn đã bị bể mất cái hàm trên).

Trên bệ đá, phía trước bức tượng, người ta có gắn một tấm bảng đồng với hàng chữ Latinh :

REGINA PACIS – OPRA PRONOBIS – XVII. II. MCMLIX

Nghĩa là: NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH – CẦU CHO CHÚNG TÔI – 17.02.1959

Phía dưới bệ đá, người ta đã khoét một cái hốc chỗ giáp với chân tượng Đức Mẹ, trong đó có một chiếc hộp bằng bạc, chứa những lời kinh cầu nguyện cho hoà bình của Việt Nam và thế giới. Những lời cầu nguyện đó được viết lên trên những lá mỏng bằng những chất liệu khác nhau như bằng vàng, bạc, thiếc, nhôm, giấy, da và đồng, được gởi tới từ nhiều miền của Việt Nam, kể cả từ một số vùng ngoài miền Bắc.

Huỳnh Văn Yên post

NS THANH SƠN QUA ĐỜI

VĨNH BIỆT TÁC GIẢ

”NỖI BUỒN HOA PHƯỢNG”

Nhạc sĩ Thanh Sơn, tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng: “Nỗi buồn hoa phượng”, “Ba tháng tạ từ”, “Lưu bút ngày xanh”, “Hạ buồn”, “Nhật ký đời tôi”, “Hành trình trên đất phù sa”… vì tuổi già, sức yếu đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 14 giờ 30 ngày 4/4, thọ 74 tuổi.

Nhạc sĩ Thanh Sơn tên thật Lê Văn Thiện, sinh ngày 1/5/1938 tại Sóc Trăng. Ông là con thứ mười trong một gia đình có 12 anh chị em. Đam mê ca hát, thơ, văn, ông học nhạc từ hồi tiểu học với thầy Võ Đức Phấn (em ruột nhạc sĩ Võ Đức Thu). Năm 1955, thầy Phấn qua đời, cậu bé Thiện lúc này đã lớn, lên Sài Gòn học nhạc với nhạc sĩ Lê Thương (tác giả của ca khúc Hòn Vọng Phu). Từ lớp học nhạc này, Thiện đã nuôi ước mơ trở thành ca sĩ. Đến năm 1959, qua sự hướng dẫn của thầy, Thiện đăng ký tham dự cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của Đài Phát thanh Sài Gòn và đoạt giải nhất.

Sau đó, nhạc sĩ Thanh Sơn được mời hát trong ban Tiếng tơ đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng, ông có dịp gặp gỡ rất nhiều nhạc sĩ đàn anh. Một lần gặp nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, Thanh Sơn được người nhạc sĩ đàn anh này tặng quyển sách “Để sáng tác một ca khúc” do chính Hoàng Thi Thơ biên soạn. Từ đó, ông càng nung nấu quyết tâm sáng tác và “con đẻ” đầu tiên của ông là Tình học sinh, ra đời năm 1962, tuy nhiên không được phổ biến. Đến năm sau, Thanh Sơn viết bài Nỗi buồn hoa phượng, lần này với tiếng hát của ca sĩ Thanh Tuyền, ca khúc trở thành một trong những bài nổi tiếng nhất viết về mùa hè thời đó.

Tiếp theo ông đã viết những ca khúc : Ba tháng tạ từ, Màu áo hoa phượng, Lưu bút ngày xanh, Hạ buồn, Ve sầu mùa phượng…, sau đó là Nhật ký đời tôi, Trả lại thời gian, Mùa hoa anh đào…, được nhiều khán giả đón nhận.

Điều mà hiếm thấy ở các nhạc sĩ đương thời với ông, đó là những ca khúc ông viết dường như không dành riêng cho một ai mà người ta gọi đó là “đo ni đóng giày”, vì vậy thế hệ nghệ sĩ nào cũng chọn để hát. Từ những ca sĩ thập niên 60 của thế kỷ trước: Phương Dung, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hoàng Oanh, Phương Hồng Quế, Trang Mỹ Dung, Chế Linh, Duy Khanh, Thái Châu, Giang Tử… cho đến sau này những : Bảo Yến, Thanh Lan, Nhã Phương, Thy Nga, Giáng Thu, Yến Thu, Lê Tuấn, Cẩm Ly, Quốc Đại, Chế Thanh, Phương Thanh… đều hát nhạc của ông và trong số đó có nhiều người được công chúng nhắc tên nhờ ca khúc của nhạc sĩ Thanh Sơn.

Năm 1963, nhạc sĩ Thanh Sơn bỏ hẳn nghề ca sĩ để chuyên tâm sáng tác. Từ 1973, nhạc của ông bắt đầu chuyển hướng sang đề tài quê hương. Nhiều bài hát trong giai đoạn này trở nên rất nổi tiếng : Hình bóng quê nhà, Hành trình trên đất phù sa, Bạc Liêu hoài cổ, Sóc Sờ Bay Sóc Trăng… Ông từng thú nhận nhờ sự yêu thích giai điệu ngũ cung của đờn ca tài tử và sân khấu cải lương mà ông đã có được những chất liệu quý để viết.

Ngoài ra, sự đam mê văn, thơ, hình ảnh quê nhà với lũy tre, bờ đê, dòng sông, con đò, bến nước… cũng góp phần giúp nhạc sĩ tài hoa này tạo ra những “đứa con tinh thần” mang đầy dáng dấp quê hương. Cho đến nay, qua nhiều giai đoạn sáng tác, nhạc sĩ Thanh Sơn đã viết trên 500 bài hát với nhiều ca khúc đã trở nên rất quen thuộc trong khán giả.

Vĩnh biệt nhạc sĩ Thanh Sơn, đâu đây trong dòng đời vẫn hiện hữu nụ cười chân thành và tấm lòng cởi mở của ông. Người nhạc sĩ đã cống hiến cả đời cho âm nhạc và cho những sáng tác ngợi ca quê hương, dân tộc.

Linh cửu của nhạc sĩ Thanh Sơn được quàng tại nhà riêng : 100/40/14 đường Đinh Tiên Hoàng, phường 1, quận Bình Thạnh, qua Cầu Bông đi xuống. Động quan lúc 6 giờ 30 ngày 9/4, sau đó đưa đi an táng tại Công viên Nghĩa Trang Bình Dương.

Nỗi buồn “hoa phượng”

 “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn. Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương. Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi, phút gần gũi nhau mất rồi, tạ từ là hết người ơi…”, những ca từ này đã trở nên quen thuộc với rất nhiều người.

Vâng, quen lắm ! Bởi tiếng hát Thanh Tuyền đã song hành cùng với ca khúc Nỗi buồn hoa phượng suốt gần nửa thế kỷ. Đây là một trong rất nhiều ca khúc của nhạc sĩ Thanh Sơn viết về đề tài tuổi học trò. Nhạc sĩ đã từng tâm sự với người viết : “Thời niên thiếu, nhà tôi nghèo lại đông con nên tôi phải bỏ học giữa chừng để mưu sinh. Phải bỏ học, tôi tiếc lắm, cho nên quãng đời rất đẹp của tuổi học trò cứ lưu trong ký ức của tôi với những kỷ niệm xao xuyến. Tôi trang trải những kỷ niệm ấy vào ca khúc…”. Thế nên, ai cũng ngỡ rằng Nỗi buồn hoa phượng cũng chỉ là một ca khúc nằm trong mảng đề tài này và chẳng có gì đặc biệt…

Nhạc sĩ nhớ lại : Năm 1951, cậu học trò Lê Văn Thiện (tên thật của nhạc sĩ Thanh Sơn) học trường Trung học Hoàng Diệu (Sóc Trăng) đã “hết sức quan tâm” đến cô bạn cùng lớp. Cô ấy khá nhí nhảnh, dễ thương, có cái tên ngồ ngộ : Nguyễn Thị Hoa Phượng. Vì thế các thầy cô và bạn bè trong trường không bao giờ gọi tên cô “gọn lỏn” bằng một chữ “Phượng”, mà lúc nào cũng là “Hoa Phượng” một cách vừa thân thương vừa trân trọng.

Hoa Phượng là con của một gia đình công chức từ Sài Gòn về làm việc tại Sóc Trăng. Nhạc sĩ Thanh Sơn hồi tưởng: “Hai đứa học chung được hơn một năm (hai niên khóa), tình cảm đang dần trở nên thắm thiết thì bất ngờ mùa hè năm sau Hoa Phượng cho biết gia đình cô đã được điều chuyển về lại Sài Gòn. Trước ngày chia tay, Hoa Phượng có tìm gặp tôi nơi sân trường để nói lời từ biệt. Hai đứa buồn xo, chẳng nói gì nhiều, chỉ lặng nhìn nhau… Khi tôi hỏi xin địa chỉ để sau này liên lạc thì nàng cúi xuống nhặt một cánh phượng trao cho tôi, nói : “Em tên là Hoa Phượng, mỗi năm đến hè nhìn hoa phượng nở thì hãy nhớ đến em…”. Từ đó chúng tôi bặt tin nhau !

Ba năm sau (1955), Lê Văn Thiện phải bỏ học giữa chừng để chen chân vào cuộc mưu sinh. Anh quyết định lên Sài Gòn, trước là tìm kiếm việc làm, sau nữa nhen nhóm cơ hội tìm lại “người xưa”. Phiêu dạt giữa chốn phồn hoa đô hội, với không ít bầm dập, tủi hờn nhưng rồi nhờ tính tình hiền lành, siêng năng, anh thanh niên tên Thiện cũng may mắn lọt vô cánh cổng của một nhà trọc phú, dù chỉ làm gia nhân với mức lương khá hậu hĩnh so với thời giá lúc đó: 150 đồng/tháng. Mê nhạc, lại được lòng ông chủ cho nên anh được phép tranh thủ những giờ rảnh để theo học lớp nhạc của nhạc sĩ Lê Thương.

Dạo ấy, mỗi năm Đài phát thanh Sài Gòn đều có tổ chức cuộc thi “Tuyển lựa ca sĩ”, điều đó đã nhen nhóm vào lòng chàng trai “ở đợ” một khát vọng đổi đời. Năm 1959, Lê Văn Thiện “liều mạng” đăng ký dự thi tuyển lựa ca sĩ với nghệ danh Thanh Sơn qua bài hát Chiều tàn của Lam Phương. Đến bây giờ anh vẫn còn nhớ từng thành viên giám khảo, đó là những nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Võ Đức Thu, Nghiêm Phú Phi. Ngồi ghế chánh chủ khảo là nhạc sĩ Thẩm Oánh. Cái sự “liều mạng” đã được sao hộ mệnh chiếu mạng: thí sinh Thanh Sơn đoạt giải nhất ! Phần thưởng là chiếc máy radio và cây đàn guitar. So với phần thưởng của các giải âm nhạc bây giờ thì quá “hẻo”, nhưng chừng đó cũng đủ đưa Thanh Sơn lên tận… núi xanh ! Quan trọng hơn, giải thưởng này chính là đòn bẩy đưa anh vào thế giới ca nhạc. Anh từ giã “nghề” gia nhân để đến với “Ông hoàng Tango” (tức nhạc sĩ Hoàng Trọng). Chính xác là giờ đây ca sĩ Thanh Sơn đã được ban nhạc Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng mời về cộng tác. Không chỉ có thế, giọng hát của anh còn được nhiều nơi chào mời (bây giờ gọi là “chạy sô”)…

Thời gian này Thanh Sơn bắt đầu tập tành sáng tác. Ca khúc đầu tay của anh là bài Tình học sinh (1962), nhưng bài hát này chẳng tạo được chút dư âm. Thế rồi một buổi trưa đi ngang qua một ngôi trường đang mùa phượng nở, những kỷ niệm của thuở học trò có thấp thoáng bóng dáng của Nguyễn Thị Hoa Phượng ùa về… và ca khúc Nỗi buồn hoa phượng ra đời năm 1963.

Nhạc sĩ tâm sự : “Tôi tìm thấy cảm xúc bởi sắc màu đỏ thắm của hoa phượng mỗi khi hè về. Bài hát này tôi viết về một cuộc tình học trò rất đẹp. Lời chia tay của cô bạn gái cùng trường đã khiến tôi xao xuyến, bâng khuâng. Màu hoa phượng như những giọt máu đỏ tươi minh chứng một cuộc tình chung thủy… Bài hát lập tức được chấp nhận và mọi người yêu thích, làm động lực cho tôi chuyên tâm vào sáng tác. Có thể nói đó là “thời hoàng kim” của tôi, bởi tiền tác quyền lúc đó tôi nhận khoảng 6.000 đồng mỗi tháng. Nó không chỉ giúp gia đình tôi vượt qua nghèo khó mà sau đó tôi còn mua được nhà, xe, cưới vợ… Nói một cách nào đó, “hoa phượng” là ân nhân của gia đình tôi”.

Nguyễn Toàn post

MỜI CÁC BẠN NGHE MỘT SỐ CA KHÚC CỦA NHẠC SĨ THANH SƠN :

1/- Nỗi buồn hoa phượng : Karaoke – Tiếng hát Thanh Tuyền

http://youtu.be/M_2gUQtBftw

2/- Nhật ký đời tôi  – Song ca Mạnh Quỳnh – Hạ Vy

http://youtu.be/NB0hZyX-HhI

3/- Lưu bút ngày xanh – Tiếng hát Tuấn Vũ

http://youtu.be/sv08e7se8rA

4/- Lưu bút ngày xanh – Hòa tấu ghi ta có phụ đề, Lê Vinh Quang biểu diễn

http://youtu.be/pQwNWONsc6k

5/- Hương tóc mạ non – Karaoke – Tiếng hát Phi Nhung

http://youtu.be/fqaUMI2nGR4

6/- Hành trình trên đất phù sa – Karaoke

http://youtu.be/YrEU1fqQ9wo

7/- Hành trình trên đất phù sa – Song ca Tâm Đoan – Hương Thúy

http://youtu.be/p6hwetNqNKk

8/- Hình bóng quê nhà

http://youtu.be/g2Ot8hSTdIo

9/- Thương về cố đô – Bảo Yến

http://youtu.be/sqRkLR65gJA

Hoàng Nguyễn post

KHÁNH LY CÔNG BỐ SỰ THẬT

VỀ MỐI TÌNH VỚI TRỊNH CÔNG SƠN

Có một thời, Trịnh sáng tác chỉ để Khánh Ly ca. Mười năm gắn bó duyên tình âm nhạc để làm nên một ‘nữ hoàng chân đất’, một Khánh Ly hát nhạc Trịnh mãi về sau khó có giọng ca nào vượt qua.

Giọng ca Đà Lạt thành… “nữ hoàng chân đất”

Nhớ về Trịnh, Khánh Ly tiết lộ, Trịnh Công Sơn gặp chị trong hộp đêm Tulipe Rouge tại Đà Lạt. Thời gian ấy, nhiều người nói, Trịnh Công Sơn đang đắm say với giọng hát Thanh Thuý “liêu trai”, nhưng khi nghe giọng hát Khánh Ly, ông đã bị hút hồn và tìm cách gặp chị.

Những bạn bè của Trịnh cũng từng xác nhận chuyện này, vào năm 1965 tại Đà Lạt mộng mơ, Trịnh Công Sơn tình cờ nghe được giọng hát Khánh Ly. Ông biết ngay giọng hát của cô ca sỹ này hợp với những bản nhạc của mình nên mời chị tham gia. Thời gian sau, Khánh Ly rời Đà Lạt xuống Sài Gòn và trở thành giọng ca chuyên hát nhạc Trịnh Công Sơn.

Khi Trịnh Công Sơn gặp Khánh Ly, chị chưa nổi tiếng, đến cuối năm 1965, họ có buổi ra mắt đầu tiên tại trường Đại học Văn khoa với hàng ngàn sinh viên và trí thức. Bằng chiếc đàn thùng đơn giản, Khánh Ly hát say xưa những bài tự tình quê hương và thân phận con người đã làm đắm say hàng ngàn khán giả cuồng nhiệt đêm đó.

Cứ thế, những buổi biểu diễn liên tiếp tại các trường đại học, các tụ điểm ca nhạc công cộng khiến Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trở thành hiện tượng âm nhạc, và trở thành thần tượng của giới trẻ khi ấy.

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly thường đi hát không công, không thù lao chủ yếu cho khán giả trẻ nơi giảng đường của các trường đại học. Trịnh Công Sơn dáng người mảnh khảnh, cặp kính trắng, giọng nói nhỏ nhẹ xứ Huế với cuộc sống của một lãng tử. Khánh Ly khi hát đi chân đất, khiến khán giả quen, yêu quý mà gọi chị là “nữ hoàng chân đất”.

Chị hát bằng cả tấm lòng người nghệ sỹ yêu hết mình những giai điệu của nhạc Trịnh. Nhiều văn nghệ sỹ khi ấy, coi họ là một hình ảnh lý tưởng cho nghệ thuật, nhất là nghệ thuật ca hát – mang lý tưởng nhân đạo và tình yêu thể hiện sự dấn thân.

Kể lại thời kỳ những năm 60 cơ cực, đói khổ nhưng đầy hạnh phúc ấy, Khánh Ly nói: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào. Thời ấy, tôi phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết đến ai cả, mà vẫn cảm thấy mình cực kỳ hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn”.

Hai người đi với nhau tạo thành hình ảnh “lứa đôi”, một đôi trai gái trong tình bạn trong sáng, hồn nhiên. Khánh Ly – Trịnh Công Sơn tạo thành một đôi bạn trẻ muốn phá vỡ quan niệm xưa cũ. Trong dư luận khi ấy, không ít người tò mò, định kiến, nhưng Trịnh là người tiếng tăm mà không tai tiếng, ngay từ thời đó, Trịnh khẳng định : “Tôi và Khánh Ly chỉ là hai người bạn. Thương nhau vô cùng, trên tình bạn”.

Bóng dáng ngập tràn nhưng không có… cuộc tình

Trong những tuyệt phẩm của Trịnh luôn có những bóng hồng, khi sâu sắc, lúc thoáng qua như hư ảo. Nhưng những bóng hồng ấy vẫn gọi được thành tên, gọi chung cho những cuộc tình đôi khi chỉ là chút tình nghệ sỹ đơn phương hay nhè nhẹ như chút nắng cuối thu. Riêng Khánh Ly không có cuộc tình với Trịnh Công Sơn, song định mệnh đã gắn kết hai người bằng tình yêu ca hát. Khánh Ly giã từ Đà Lạt theo Trịnh Công Sơn về Sài Gòn khi mới hơn 20 tuổi.

Nhiều người đã cho rằng trời sinh ra Khánh Ly để hát nhạc Trịnh Công Sơn. Chị yêu thương Trịnh như một người bạn, một người anh, một người thầy…. Đôi khi trước mặt những người khác, Trịnh vẫn la rầy Khánh Ly như một cô học trò nhỏ. Khánh Ly cũng chỉ biết cười buồn.

Không duyên tình lứa đôi, nhưng Khánh Ly và Trịnh Công Sơn gắn bó với nhau bằng định mệnh. Hơn 17 năm, sau ngày Khánh Ly rời Việt Nam, họ gặp lại nhau tại Canada. Đối diện với Trịnh, chị vẫn nhỏ bé như ngày xưa, luôn yêu thương và kính trọng…

Khánh Ly nhớ lại : “Chúng tôi ôm choàng lấy nhau, lúc này tôi mới cảm nhận chúng tôi thật sự có nhau, không phải trong một giấc mơ kéo dài 17 năm. Hình như chúng tôi có cách nói mà chỉ hai chúng tôi mới hiểu được. Một cách nói ở bốn con mắt im lặng… Tất cả những điều cần nói, chính là những điều không bao giờ nói bằng lời”.

Họ đi dạo, im lặng bên trời Tây xa lạ mà cảm thấy gần gũi nhau như thuở người từ Sài Gòn ra Huế thăm nhau. Khánh Ly đã chia sẻ về buổi gặp nhau ấy: “Bao nhiêu ngày tháng đi qua giữa chúng tôi. Anh vẫn không bao giờ thay đổi, tôi cũng thế. Cả hai không thắc mắc về đời sống của nhau bởi 30 năm trước không hỏi thì 30 năm sau cũng không hỏi… Tôi quý những giây phút ở bên anh và tôi nghĩ, anh sẽ nói với tôi điều cần nói, nếu có”.

Với Trịnh Công Sơn, một điều chắc chắn bất cứ một người con gái nào đến với ông, đem đến cho ông dù một chút tình vẫn được ông nâng niu đón nhận. Còn riêng với Khánh Ly, ông coi đó là cuộc gặp gỡ của định mệnh vĩnh viễn yêu thương nhau. Một người hát cho một thời vừa lãng mạn vừa đau thương trong chiến tranh – hay nhất. Cảm nhận điều ấy, Khánh Ly luôn khẳng định ở họ là “mối liên hệ cao hơn, đẹp đẽ hơn, thánh thiện hơn là những tình cảm đời thường”.

Mười năm bên cạnh Trịnh Công Sơn, Khánh Ly đã gắn với tên tuổi của Trịnh đến nỗi không thể tách rời. Khánh Ly vẫn nói : “Tuy không có một ca khúc nào của Trịnh Công Sơn viết riêng cho tôi, nhưng tôi vẫn có cảm tưởng hầu hết những ca khúc của Trịnh Công Sơn đều được viết cho Khánh Ly”. Cũng có lẽ vì thế, Khánh Ly là một trong số những người hiểu rất rõ ca từ, cũng như tâm ý phần lớn ca khúc của Trịnh.

Sau năm 1975, Khánh Ly ra hải ngoại, đi khắp thế giới với nghiệp cầm ca nhưng không bao giờ chị rời bỏ tên Trịnh Công Sơn bên cạnh cuộc đời của mình. Ngày 1/4/2001, khi Trịnh Công Sơn nằm xuống, Khánh Ly từng nói : “Tôi đã chết nửa cuộc đời theo Trịnh Công Sơn !”.

Nghe Khánh Ly mở lòng :

Khánh Ly tên thật là Nguyễn Thị Lệ Mai sinh năm 1945 tại Hà Nội. Từ nhỏ chị theo gia đình vào sinh sống tại Đà Lạt và hiện đang sống tại Mỹ. Cách nhau nửa vòng trái đất, tôi gọi điện cho Khánh Ly khi ấy ở Việt Nam đã gần trưa cũng là lúc gần khuya của giờ Mỹ ngày hôm trước. Giọng nói truyền cảm của Khánh Ly, qua điện thoại rõ ràng, không khác là bao khi chị cất giọng hát trên sân khấu

Mong ngày trở về

Mấy năm gần đây, danh ca hải ngoại về nước biểu diễn ngày càng nhiều, khán giả trong nước đã chờ sự trở về của Khánh LyTôi hỏi thăm sức khoẻ, Khánh Ly cho biết, chị vẫn tham gia những chương trình ca nhạc ở hải ngoại. “Dù đã có tuổi, nhưng khán giả vẫn thương, mỗi tuần Khánh Ly vẫn nhận show và đi diễn khắp nơi như ở Mỹ, châu úc, châu Âu. Chương trình gần nhất, Khánh Ly sẽ đi hát cho kiều bào ở Thái Lan”, Khánh Ly cho biết. Khánh Ly cũng chia sẻ, trong những chương trình chị biểu diễn khán giả vẫn muốn được nghe những nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn. Mỗi lần cất lên lời ca của nhạc Trịnh, cho dù ông đã đi xa, Khánh Ly thể hiện như một tấm lòng tri ân với người mà “từ ông tôi thành danh và quan trọng hơn cả là tôi được thành nhân”, chị nói.

Khi tôi có cuộc trò chuyện với danh ca Thanh Tuyền và hỏi về đời sống của các ca sĩ hải ngoại trước năm 1975, (nhất là Khánh Ly sao chưa về nước) chị nói : “Khánh Ly đã 67 tuổi rồi, cũng mong được về nước để hát trên mảnh đất quê hương. Chị ấy muốn về trước khi quá muộn”.

Trong cuộc trò chuyện với tôi qua điện thoại, Khánh Ly cũng cho biết cuộc sống gia đình giờ đã quá ổn định, các con đã trưởng thành và cũng mong ngày trở về.

Lan Hương post (Theo yahoo)

NÓI THÊM :

Sau những cuộc chỉnh lý để chuyển tiếp sang nền Đệ nhị Cộng Hòa do Tướng Nguyễn Văn Thiệu liên danh cùng tướng Nguyễn Cao Kỳ trở thành Tổng thống và Phó Tổng Thống dân sự, thì cặp Trịnh Công Sơn và Khánh Ly cũng rả gánh.

Khánh Ly cùng ông Tuất khai thác nhà hàng khiêu vũ trường Queen Bee, sau chuyển đến đường Tự Do mở phòng trà Khánh Ly mang tính độc lập. Tại đây Khánh Ly lấy đại úy biệt kích Mai bá Trác, đến trước 30/4/75 vài ngày, Khánh Ly di tản sang Mỹ một mình khi ông Trác còn kẹt trên chiến trường.

Khi đặt chân lên đất Mỹ, Khánh Ly không chờ Đại úy Trác từ trại cải tạo ra và sang Mỹ, Khánh Ly đã mà lấy ngay ký giả Nguyễn Hoàng Đoan (lúc đó là chồng nữ ký giả Lam Thiên Hương – hiện LTH vẫn đang sinh sống tại Sài Gòn).

Trước năm 2000. Khánh Ly có về Việt Nam nhưng không được quá cảnh, trong khi chờ tái xuất Khánh Ly bị quản chế tại môt khách sạn trên đường Nguyễn Huệ. Và theo một nữ ký giả cũ thân quen với Khánh Ly cho biết, nhà chức trách Sài Gòn bấy giờ có cho phép Trịnh Công Sơn đến gặp Khánh Ly tại đây.

Hoàng Nguyễn

VĂN HÓA “SEX” & PR

VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

SÀI GÒN HÔM NAY

Kỳ này tôi bàn đến đời sống văn hóa nghệ thuật qua những hình ảnh dung tục trên báo chí, truyền hình, các shows ca nhạc đủ loại, sân khấu ngày càng thừa da thiếu vải của các “sao” khiến khán giả bất bình, lo ngại cho đời sống tinh thần, tình cảm của con cái mình chịu ảnh hưởng trực tiếp.

Từ các cuộc thi “tài năng trẻ” đến thi hát, thi nhảy rồi đến các “hoa hôi hoa hậu” khoe thân thể, các bức ảnh “nghệ thuật nửa mùa”, các kiểu tự tạo scandal tình dục dùng làm chiêu đánh bóng tên tuổi mình… ngày càng có chiều hướng gia tăng. Thứ chuyện kể hoài không hết, cấm mãi không xuể này góp phần làm cho những ước mơ của các cô gái mới lớn từ thành thị tới thôn quê nhuốm đầy hoài bão đen tối. Trước hết xin điểm qua hai chuyện đã từng làm dư luận ngỡ ngàng.

Sinh viên Sân Khấu Điện Ảnh làm phim gợi dục

Clip có tên “Hai phòng ngủ – Two bedrooms”, theo phần giới thiệu thì đoạn phim này do các “đạo diễn tương lai” thực hiện và đây là bài thi môn Đạo diễn của một sinh viên Đại học Sân khấu điện ảnh TP.Sài Gòn, có sự hướng dẫn của giáo viên được ghi đầy đủ tên tuổi. Clip dài hơn 9 phút, không lời thoại, mới xuất hiện nhưng đã gây sốt vì sự gợi dục táo bạo của nó.

Nhân vật chính của đoạn phim này là một đôi nam nữ, có 2 phòng ngủ cạnh nhau. Ban ngày đi làm nhưng khi đêm về, mỗi người lại quằn quại ở phòng mình vì nhu cầu sinh lý, cuối cùng họ đã dùng phương pháp “tự xử” và bộ phim kết thúc.

Sau khi được đăng tải trên mạng, phim đã nhận được những lời chỉ trích rằng “chẳng khác phim sex”. Thậm chí có người bình luận mỉa mai: “Bộ phim mở đầu lãng mạn bao nhiêu, thì kết thúc lãng nhách bấy nhiêu. Đây chắc sẽ là phim Việt Nam đầu tiên đoạt giải Oscar cho thể loại phim hại não của thế giới”.

ĐH Sân khấu điện ảnh TP Sài Gòn thừa nhận đây là sản phẩm của sinh viên Ph. X.Tr, trong trường. Hiện nhà trường yêu cầu sinh viên này tường trình cụ thể, và sẽ có “biện pháp xử lý”. Một lời hứa như ngàn lời hứa chúng ta đã “biết rồi khổ lắm, hứa mãi”.

Mời xem toàn clip :

http://youtu.be/yzstTk-Lydo

Truyền hình “giờ vàng” cũng có cảnh sex

Xin mô tả rất vắn tắt về đoạn phim của đài Truyền Hình VTV3 bị khán giả phê phán gay gắt. Đó là bộ phim “Hoa nắng” khởi chiếu vào giờ vàng (21g) trên VTV3 từ ngày 5/3 cho cả nước cùng xem. Khi nhân vật nam tên Phúc cùng bạn gái tên Linh bước vào một quán ăn thì đã có hai đôi trai gái khác đang thoải mái âu yếm nhau như chỗ không người. Linh mặc đầm, khoe phần lớn vòng một. Khi cô vô ý làm đổ rượu lên ngực thì nhân vật Phúc thay vì lấy khăn giấy giúp cô lại nhìn chằm chằm vào ngực cô rồi nháy mắt ra hiệu sẽ có cách lau ngực mà không cần giấy. Và cách của anh ta là dùng lưỡi liếm từ ngực lên cổ bạn gái.

Bạn bè reo hò cổ vũ “sáng kiến” ấy của Phúc. Rồi một người đề nghị : “Vậy làm lại đi ! Cảnh này mà đưa lên mạng là hot nhất trong tuần luôn đó, được không, thử nha ?”. Nhân vật Linh hào hứng : “Em cũng thấy là lạ đó, làm lại một cái nữa nha !”.
Và cô tự lấy rượu đổ lên ngực, ưỡn ngực cho bạn trai… liếm lần nữa và lần này thì cả hai còn… hào hứng dữ dội hơn lần đầu, trong khi một cô gái ngồi cùng bạn cũng biểu hiện sự phấn khích… Đúng là thứ văn hóa dị hợm đến nổi da gà !

Xin ghi lại bình luận của khán giả Ph Tr Huy từ một vùng quê xa : “VTV3 là kênh truyền hình Trung ương, người dân khắp mọi miền đất nước đều được xem, nhất là dân các tỉnh vì không có truyền hình cáp mà chỉ xem VTV1, VTV3 và kênh truyền hình địa phương. Phim truyền hình giờ vàng được phát sóng thì tất cả mọi người trong gia đình đều xem từ già trẻ, gái trai… Do đó, khi xem bộ phim Hoa nắng đến cảnh sex tất cả mọi thành viên trong gia đình đều tá hỏa và tôi không kịp tắt máy khi sự khủng khiếp của cảnh nóng trong phim. Đây không đổ lỗi thiếu sót vì : phim chiếu trên các kênh phải qua kiểm duyệt… Đề nghị ngưng chiếu bộ phim này trênh VTV3 và cấm phát hành ra ngoài thị trường”.

Những chuyện lộn xộn trong làng Showbic Việt

Hãy tạm coi như đó là “sai sót” của các vị giáo sư đào tạo ra các nhà đạo diễn và “lỗi kỹ thuật” của Đài Truyền Hình, cũng như bao nhiêu những cái “sự cố kỹ thuật” khác. Nhưng cũng chứng tỏ được rằng chính cái thị hiếu của khán giả trẻ đã khiến cho những “tác giả” của những sai sót ấy luôn nuôi trong tư tưởng phải có một cảnh “da thịt hấp dẫn” trong một “tác phẩm” điện ảnh và kịch bản truyền hình mới làm nên “tên tuổi” mình.

Với đề tài những shows ca nhạc, truyền hình, những cuộc thi gây nhiều tai tiếng, những cuộc “đánh nhau bằng mồm”, những tai nạn bị tung clip sex lên mạng hoặc tự mình tung clip tung hình “truổng cời” lên mạng để làm nóng tên tuổi mình đầy rẫy trong hàng ngũ những người được gọi là “showbiz Việt” (hay nói cho rõ hơn là nghề kinh doanh những trò giải trí). Trong đó có đủ mọi nhân vật được gọi là nghệ sĩ, từ tài tử, minh tinh, người mẫu, ca nhạc sĩ đến đủ mọi loại hình sân khấu, đủ mọi cuộc thi, từ thi nhảy nhót đến thi hát, thi diễn và đủ mọi kiểu quảng cáo cho album sắp “ra lò”. Hầu hết những trò chơi này đều rập khuôn từ các chương trình nước ngoài.

Cuộc thi nào cũng có từ 3 đến 4-5 vị giám khảo, gồm những nghệ sĩ đã có ít nhiều tên tuổi ngồi chễm chệ trên mấy chiếc ghế làm trọng tài. Từ đó tha hồ “phán”, tha hồ dạy dỗ cho các em phải thế này, nên thế kia mà… chưa chắc giám khảm đã làm được hoặc chưa đủ trình độ về chuyên môn. Bởi cô ca sĩ XX, nghệ sĩ AA dù có tí tên tuổi nhưng chưa học diễn xuất bao giờ, chưa học qua lớp nhạc nào, chỉ là biết truyền khẩu, học võ vẽ vài miếng sở trường nên khó mà tìm được một lời phê đúng nghĩa. Chính vì ban giám khảo không đủ tài năng chinh phục khán giả và làm cho thí sinh tin tưởng nên đã xảy ra rất nhiều cuộc đấu khẩu kịch liệt, không mang lại điều gì mới mẻ cho nghệ thuật mà còn là những tác hại đáng kể cho tương lai lớp trẻ yêu thích văn hóa nghệ thuật hiện nay. Họ trở nên lạc lõng, chẳng biết tin vào ai, chẳng biết tin vào cái gì, lại “theo bước chân anh” nhắm mắt làm bừa trong cái xã hội “mạnh được yếu thua”, may ra thì sống huy hoàng, không may thì về đi làm “nghề tự do”. Bằng chứng trước mắt là có chị xấu như ma, hát hò chẳng ra gì, vậy mà cũng thành sao! Mấy chị chân dài, cố tạo được chút tên tuổi, chỉ một sớm một chiều là có đại gia công khai hay bí mật bao trọn gói, chơi toàn hàng hiệu, nhảy xe bạc tỉ khiến các cô gái trẻ lác mắt, đốt cháy thêm ước mơ, càng lăn xả vào các cuộc thi như chơi xổ số này. Sau một thời gian hoặc làm bà giám đốc hoặc thân tàn ma dại.

Một ông ký giả chuyên viết chuyện “hậu trường” đã than thở : “Ấy, cái thời buổi cuộc sống lập lờ, bằng giả nhiều hơn bằng thật, hàng nhái nhiều hơn hàng chính hãng, người có tài làm mọi cho thằng ngu, người không có đức nói chuyện đạo đức nhiều hơn người có đức thì nghệ thuật cũng theo đó mà song hành là chuyện tự nhiên thôi”.

Khỏa thân vì xã hội hay vì nghiện khoe da thịt ?

Ảnh khỏa thân (hay còn gọi là nude) là một nghệ thuật có giá trị cao, nhưng khoảng cách giữa nghệ thuật và dung tục chỉ cách nhau một làn sương mỏng hoặc tùy theo cảm nhận của mỗi người. Có người phóng khoáng, có người khó tính, có 2 cách đánh giá khác nhau hoàn toàn. Tuy vậy, không có nghĩa là tất cả những tấm ảnh ấy đều khó nhận diện như nhau. Vẫn có nhũng bức ảnh khỏa thân, người dù khó tính đến đâu cũng không thể phủ nhận giá trị đích thực của nghệ thuật. Ngược lại cũng có những tấm ảnh nhìn mãi cũng chỉ thấy sự dung tục của nó, chẳng thấy giá trị nghệ thuật nằm ở chỗ nào.

Thời đại nhiễu nhương của showbiz Việt với đủ chiêu PR (public relations – quảng cáo và tiếp thị) của các sao chẳng ngại ngần khoe thân để được chú ý hơn. Để che mắt quần chúng, họ nhân danh đủ thứ để tha hồ “cởi”.

Trào lưu khỏa thân vì môi trường, vì bài trừ dịch bệnh, vì các vấn đề mang tính xã hội ở nước ngoài khá nhiều và sao Việt cũng đã nhanh chóng “sao chép nguyên si” đem về vận dụng. Họ cho đó là những thông điệp và ý nghĩa đầy “cao cả” của các bộ ảnh lột tả giá trị nghệ thuật, phơi bày cơ thể của sao Việt lần lượt ra đời.

Siêu mẫu Ngọc Quyên mạnh dạn đi đầu với bộ ảnh nude 100% mà cô bảo rằng: “vì môi trường !”. Bộ ảnh với thông điệp “to tát” ấy ngay khi ra mắt đã tạo nên những ý kiến trái chiều trước công chúng, họ cho rằng bộ ảnh không thể hiện được thông điệp và giá trị nghệ thuật… mà dường như để chân dài khoe thân nhiều hơn. Việc mạo hiểm chụp ảnh nude mà không có định hướng cũng như sự chuyên nghiệp và mang tính cá nhân rất dễ bị “hiểu lầm”. Khán giả đặt dấu hỏi lớn cho bộ ảnh của Ngọc Quyên có chăng vì môi trường hay chỉ là chụp theo sở thích, trong khi không hề có một thông điệp rõ ràng nào trong những tấm hình mà Ngọc Quyên đã thể hiện.

Có hai luồng ý kiến tranh luận sôi nổi trên khắp các diễn đàn về việc nên hay không nên trong việc thông qua ảnh nude mà giáo dục cộng đồng. Có những phát biểu như: người mẫu nên cầm xẻng đi dọn rác thì tốt hơn, sao lại đưa ảnh nude cho trẻ em coi, người lớn còn chết khiếp… và tên tuổi của Ngọc Quyên xuất hiện đầy rẫy trên báo khi ấy khiến cô càng “ăn khách” hơn.

Lợi dụng những ý nghĩa “to lớn”, một số sao Việt đã làm mất đi giá trị mang tính nhân văn của việc nude vì cộng đồng. Thích chạy theo trào lưu, muốn tạo riêng cho mình một bộ ảnh nude ấn tượng… rồi tung lên, tuyên bố rùm beng: “tôi nude vì lợi ích này nọ…”. Nhưng công chúng không dễ dàng bị xỏ mũi, công chúng là những người tinh tế, họ dễ dàng nhận biết họ có là người bị lừa hay không bởi những tác phẩm thiếu giá trị ấy, và họ không ngần ngại đả kích dữ dội chủ nhân của những tác phẩm “rởm”. Mặc dù dư luận hà khắc là thế, nhưng vẫn còn đó những người làm nghệ thuật với suy nghĩ tầm thường vẫn đua nhau cởi và tung hô khẩu hiểu “cao cả”.

Nude tìm đại gia hơn là nghệ thuật

Mai Hải Anh, hoa khôi tỉnh Khánh Hòa đã bị dư luận chỉ trích suốt thời gian vừa qua bởi bộ ảnh nude 100% vì biển tệ hại của mình. Với mong muốn thực hiện bộ ảnh trong năm rồng nên nàng đã nhanh chóng cùng ekip của mình tìm địa điểm thích hợp để  “cởi”. Nàng còn triết lý vụn : “vì con người thuộc về biển, sinh vật đầu tiên của trái đất cũng bắt đầu từ biển và khi một sinh mạng kết thúc cũng sẽ trở về với biển nên Hải Anh muốn truyền tải thông điệp: người miền biển dù có đi đâu, làm gì thì Hải Anh cũng vẫn là con gái vùng biển, sẽ quay về với biển”. Chất lượng hình ảnh, giá trị nghệ thuật, thông điệp vớ vẩn, người xem dễ dàng nhận ra được bản chất thật của bộ ảnh khỏa thân thô thiển ấy.

Từ đó hàng loạt các bài báo, các lời bình chỉ trích tràn ngập các trang báo mạng, có nhiều độc giả cho rằng đây là bộ ảnh lố bịch, nude để tìm đại gia… hơn là khen vẻ đẹp không mảnh đầy nghệ thuật trước biển của cô. Nhưng dù sao đi nữa thì bây giờ tên tuổi của Mai Hải Anh cũng đã được nhiều người biết đến.

Diễn viên Quỳnh Như có vẻ “khôn ngoan” hơn khi tung ra bộ ảnh bikini với thông điệp “chống biến đổi khí hậu toàn cầu”… thế nhưng, nhìn qua bộ ảnh với những kiểu dáng “gợi dục” người xem dễ nhận thấy sự “trá hình” của bộ ảnh này.

Làm mọi việc cho mình, nhưng cứ luôn miệng bảo rằng hy sinh vì nghệ thuật : Ngô Tiến Đoàn, Ngọc Tình, Ngọc Quyên, Mai Hải Anh, Quỳnh Như… những nghệ sỹ này đã tự làm méo mó hình ảnh của mình trong mắt công chúng.

Những cuộc “đấu võ mồm” đãng sau những cuộc thi

Sau những cuộc thi hát, thi nhảy, thi người mẫu áo ngủ, áo tắm… thường là để lại nhiều tai tiếng. Không thể kể hết những cuộc đấu khẩu như cái chợ này. Gần đây nhất cuộc thi có cái tên Vietnam’s Next Top Model, trong đó người mẫu – dĩ nhiên chân phải dài – rất nổi ở VN là Hà Anh, giữ một ghế trong ban giám khảo; nữ thí sinh là Tuyết Lan, Chẳng biết mâu thuẫn phát sinh từ đâu, sau cuộc thi, nữ thí sinh Tuyết Lan bèn viết trên facebook cá nhân của mình kể tội giám khảo Hà Anh. Xin tóm tắt cho gọn, nếu kể hết e rằng “tám” cả ngày không hết. Tuyết Lan viết :

“Chuyện Hà Anh không thích tôi, có lẽ tất cả các thí sinh tham gia cuộc thi Vietnam’s Next Top Model mùa trước đều biết” và “Chị ấy không thích tôi vì trong một lần đến studio của Henri chụp hình, tôi đã quên không chào chị ấy nên chị không thích”. Tuyết Lan cũng nói rằng : “Tôi chỉ thấy bị chèn ép và phải chấp nhận khi tham gia cuộc thi mà chị ấy làm giám khảo thôi. Còn khi tôi đã tự đi ra ngoài, tự học và tự khám phá bản thân, làm mọi thứ để mọi người có thể hiểu được và khẳng định tên tuổi thì chị Hà Anh không còn liên quan đến mình nữa. Tôi không có lý do gì phải sợ chị ấy chèn ép vì chị ấy có vị trí của mình, tôi có vị trí của tôi.”

Sau đó, giám khảo Hà Anh trả lời trước dư luận bằng một bài dài thoòng, nhưng đại ý là “dạy dỗ” thêm cho đàn em một bài học nữa là “đồ ăn cháo đá bát”.

Những chuyện như thế này, đôi khi còn “dao to búa lớn” hơn, còn âm ỷ rất nhiều sau các cuộc thi, còn được bàn ngang tán dọc từ lề đường, quán cóc, đến các sân trường, lớp học. Nó góp phần tạo nên sự hỗn loạn cho đời sống tinh thần của lớp trẻ.

Người đẹp yêu đương, tranh giành vị trí và chửi lộn

Chuyện này thường xảy ra với các đàn chị đã có lâu năm trong nghề. Nhiều sô diễn đành phải chịu cảnh “lừa” khán giả bởi dù đã quảng cáo tên tuổi người đẹp nhưng cuối cùng người đẹp vẫn không xuất hiện. Nguyên nhân không phải vì họ bận thi cử, việc gia đình (như lời xin lỗi) mà là vì bất ngờ đi chơi cùng “người ấy”, hay “người yêu nhất định không cho diễn sô này”… Có cô sau khi nhận sô được một đơn vị khác trả cát sê cao hơn đã viện ra đủ lý do để có thể từ chối mà quen thuộc nhất là cáo bệnh hay người thân trong gia đình lâm bệnh nặng.

Anh T. Ng. Phúc (Giám đốc điều hành Công ty P.L) nói thêm : “Ngày xưa dù kiếm tiền ít nhưng các cô đến với nghề vì đam mê. Bây giờ quá nhiều sự bon chen, đố kỵ nên mọi thứ phức tạp hơn. Chuyện yêu đương, tranh giành vị trí dẫn đến chửi nhau rồi không nhìn mặt nhau cứ diễn ra”.

Cô bé 15 tuổi bị sỉ nhục

Đó là chuyện các đàn chị “chảnh”. Chuyện các em “mới chập chững vào lò” còn bi đát hơn. Điển hình là scandal cháu Quỳnh Anh 15 tuổi cùng mẹ đi dự cuộc thi Tài Năng Trẻ (Vietnam’s got talent) làm dư luận om xòm. Giản dị lá cháu Quỳnh Anh hát được 6 thứ tiếng, trong đó có tiếng Anh, Ý, Hàn, Trung Hoa…Nhưng em đã bị Ban Giám Khảo loại. Bà mẹ đã cầm micro tỏ thái độ phản đối quyết định này. Thật ra câu chuyện chỉ có vậy, nhưng sau đó đã bị dư luận chế diễu, đả kích gây nên môt làn sóng “ném đá” dữ dội vào em Quỳnh Anh cùng gia đình em. Tôi đã xem show hài gọi là “Thư giãn cuối tuần” trên đài VTV3 (THVN) châm biếm gia đình cháu cùng cháu Quỳnh Anh. Tất cả gồm 5 diễn viên hài được coi là danh tiếng của sân khấu VN ra sức biểu diễn những cảnh hề với những lời lẽ khá cay độc để miệt thị gia đình và chính em bé Quỳnh Anh.

Đây có phải là bài học cho những ông bố bà mẹ nuôi mơ ước một thiên tài con ? Và đây có phải là một mối đe dọa cho những thí sinh hy vọng vào tương lai mình không ?

Nữ công nhân và sinh viên vừa đi học vùa bán dâm

Nghịch cảnh đau lòng hơn là cảnh một số công nhân từ quê ra tỉnh không thể vượt qua cuộc sống túng thiếu và họ đã dấn thân vào con đường làm gái bán dâm. Theo báo Đất Việt, câu chuyên về cô công nhân tên Ngọc tại Khu Công Nghiệp Hòa Khánh, Đà Nẵng bị bắt vì tội bán dâm. Ngọc còn cho biết nếu cần cô sẽ kéo thêm một người bạn nữ công nhân nữa đi “phục vụ” vì hiện giờ cô này đang về quê. Cả hai vừa đi làm vừa bán dâm “kiếm thêm thu nhập”. Tôi không muốn tường thuật chi tiết về những hoàn cảnh này, tất cả củng gần giống nhau, chỉ vì sinh kế mà thôi.

Nhưng lại có những cô gái trẻ đẹp bán dâm không phải vì có gia cảnh nghèo khó hay hoàn cảnh gì đặc biệt, chỉ vì thích được chiều chuộng, ăn chơi đua đòi trước những tiện nghi xa hoa quyến rũ trước mắt. Cũng theo báo này, tại một hội nghị về công tác tuyên truyền phòng, chống mại dâm, thông tin gây chú ý đưa ra là trong thời gian qua, ở một số địa phương đã xuất hiện gái bán dâm còn ngồi trên ghế nhà trường. Cụ thể như NTTL (20 tuổi, quê tỉnh B.T) là sinh viên năm thứ 2 của một trường Đại học dân lập. Kể về thời gian trở thành gái bán dâm chuyên nghiệp khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường. L. nói, sau khi tốt nghiệp cấp 3, L. may mắn vào học tại một trường ĐH dân lập. Chỉ sau vài lần theo bạn lên quán bar chơi, L. đã gặp vài đại gia và chẳng bao lâu sau cô trở thành “bồ” của đại gia rồi trở thành gái gọi chuyên nghiệp dưới sự môi giới của một ‘má mì”. Từ đây, sáng L. đến trường, tối lại theo các đại gia góp vui cho họ. Sợ bố mẹ biết chuyện nên L. vẫn cố đi học. Mãi đến khi L. bị bắt quả tang về tội bán dâm thì bố mẹ của L. mới vỡ lẽ… Tôi chưa nói đến cảnh một số sinh viên bảnh trai làm “trai bao” cho mấy bà sồn sồn thích của lạ.

Với tất cả những “hoạt cảnh” dị hợm, sa đọa như bạn đã thấy, tất nhiên phải tác động sâu sắc, mạnh mẽ đến lớp trẻ mới bước chân vào đời. Họ mâu thuẫn, thèm khát và chán chường cùng một lúc.

So sánh kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm 2003 và năm 2008 cho thấy, tỷ lệ thanh thiếu niên trải qua cảm giác buồn chán đã tăng lên. Đặc biệt, tỷ lệ nghĩ đến chuyện tự tử tăng lên gấp 7 lần.

Tự tử và khỏa thân sống chung không còn là một điều lạ, nó phù hợp và tượng trưng cho hoàn cảnh người ta phải sống bằng hai mặt. Nói điều phải nói chứ không phải những gì họ đang nghĩ.

Yên Nhàn post (trích trên Net ngày 29-3-2012)