TỬ VI TÂY PHƯƠNG THÁNG 12/2015

Logo Tvi TPhuong

GIEO QUẺ THÁNG 12/2015 CỦA BẠN

DL & AL Wordpr T12-15

H1 Bao binh1/- BẢO BÌNH (20/1 – 18/2)

Bão Bình có khả năng thiết kế cuộc sống theo những gì bạn mong muốn. Khi hành động Bão Bình rất cách quyết đoán, chủ động, bạn sẽ tạo được những bước tiến cũng như thành quả rất lớn. Đây cũng là thời điểm tốt để dành trọng tâm vào những mục tiêu sự nghiệp, giao tiếp xã hội và các dự định khác.

Trong các mối quan hệ tình cảm và hôn nhân, Bão Bình phải hết sức cẩn thận, tránh né các vấn đề xung đột. Tâm trạng Bão Bình có thể thay đổi nhanh chóng và cực đoan. Ngày mùng 7 sẽ đem đến những thương vụ liên doanh, hợp tác, trong vấn đề tài chính, các mối quan hệ xã hội là vô cùng quan trọng. Vào ngày 24, hãy thực hiện tất cả các giao dịch mua bán, đầu tư hay ký kết hợp đồng dài hạn vào những ngày trước đó.

Điều đáng mừng là sức khỏe của Bão Bình rất tốt và bạn nên cố gắng duy trì bằng cách rèn luyện và giữ gìn để luôn có một thể trạng khoẻ mạnh.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 29, 31

Ngày kém may mắn: 8, 9, 10, 16, 17, 22, 23, 28, 30

Ngày của tình yêu: 6, 7, 13, 14, 16, 17, 18, 22, 23, 24, 25, 27, 31

Ngày tốt cho tài chính: 1, 2, 3, 11, 12, 13, 14, 16, 20, 21, 22, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 8, 10m 11, 16, 18, 22, 23, 27, 29, 30, 31

H2 Song ngu2/- SONG NGƯ (19/2 – 20/3)

Song Ngư sẽ bắt đầu tháng cuối năm với những cơ hội hiếm có. Bạn trở nên tràn trề năng lượng cá nhân và sự tự do. Song Ngư có sức mạnh để tạo ra những điều kiện tốt cho bản thân và thực hiện nó. Thêm vào đó, sức khỏe của bạn rất tốt. Năng lượng và sức sống thì đang ở mức độ cao, đặc biệt là sau ngày 20, vì thế, sự sáng tạo và tiến bộ cực kỳ ấn tượng.

Tháng này nhu cầu của Song Ngư về công việc có vẻ bị áp lực nặng nề. Nhưng bạn cũng cần tập trung cho gia đình, nhà cửa và những cảm xúc riêng. Tình yêu sẽ thật sự tuyệt vời vào cuối tháng này. Đến ngày 20, những Song Ngư còn độc thân sẽ tìm thấy tình yêu theo một cách liên quan đến tâm linh. Tình yêu sẽ lý tưởng và thăng hoa.

Vấn đề tài chính tháng này đối với Song Ngư rất tốt. Ngày 14 sẽ mang đến sự may mắn về tiền bạc. Gia đình của Song Ngư cũng sẽ có những cơ hội bất ngờ về tài chính đấy nhé.

Ngày may mắn : 4, 5, 13, 14, 15, 22, 23, 27, 28, 29

Ngày kém may mắn: 11, 12, 18, 19, 24, 25, 26, 30, 31

Ngày của tình yêu:: 13, 14, 16, 17, 18, 19, 22, 23, 24, 25, 30, 31

Ngày tốt cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 16, 17, 20, 21, 29, 31

Ngày cho công việc: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 24, 25, 28, 30

H3 Bach duong3/- BẠCH DƯƠNG (21/3 – 19/4)

Công việc là điều quan trọng nhất trong tháng cuối năm. Từ ngày 20 trở đi, sự nghiệp của Bạch Dương chính thức vươn tới đỉnh cao. Tin tốt lành là gia đình sẽ hỗ trợ, ủng hộ lớn cho bạn. Mọi người đều tham vọng hơn vì thế Bạch Dương cũng như các thành viên trong gia đình đều đạt được nhiều bước tiến trong sự nghiệp. Từ ngày 23 sẽ làm cho công việc của bạn trở nên sáng sủa hơn.

Bạch Dương đang dành nhiều thời gian để chú ý đến sức khỏe bản thân vì bạn nhận ra rằng không có một sức khỏe tốt thì sự nghiệp của bạn không chỉ trở nên khó khăn hơn mà còn vô nghĩa nếu không có đủ sức hưởng thụ những thành công trong công việc.

Tình hình tài chính của Bạch Dương khá tốt vào tháng này thậm chí còn có dấu hiệu tích cực đến tận tháng đầu năm mới. Tình yêu là thứ luôn được thử thách trong năm nay. Tuy nhiên mọi thứ sẽ dễ dàng hơn từ ngày 24 tháng này trở đi.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25, 29, 30, 31

Ngày kém may mắn: 13, 14, 15, 18, 19, 20, 21, 23, 27, 28

Ngày của tình yêu: 2, 3, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 25, 31

Ngày tốt cho tài chính: 8, 9, 10, 11,12, 15, 16, 20, 21, 22, 23, 25, 31

Ngày cho công việc: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 30

H4 Kim nguu4/- KIM NGƯU (20/4 – 20/5)

Tháng 12 là thời điểm tuyệt vời để Kim Ngưu tiến hành những dự án và chuẩn bị khai trương các sản phẩm mới vàp năm sau. Bạn sẽ độc lập hơn rất nhiều. Đây là lúc Kim Ngưu tạo ra cuộc sống cho riêng mình, chứ không phải cố sức thích ứng với mọi thứ. Hạnh phúc của Kim Ngưu tùy thuộc vào chính bạn.

Sức khỏe cũng cần được quan tâm hơn trong tháng này, nhất là khi ngày lễ sắp đến. Kim Ngưu hãy nghỉ ngơi và thư giãn nhiều hơn. Thay vì cứ cắm đầu làm việc thì hãy lo nghỉ ngơi nhé.

Tình hình tài chính tháng này của Kim Ngưu sẽ rất tốt. Và trực giác có thể là người dẫn đường tuyệt nhất của bạn trong thời gian này. Kim Ngưu cũng nên cống hiến cho các hoạt động từ thiện qua những hội thiện nguyện kêu gọi. Điều này rất tốt vì sự tham gia các tổ chức phi lợi nhuận và sự vị tha có thể mang lại cả tình yêu và cơ hội tài chính cho Kim Ngưu

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28, 30, 31

Ngày kém may mắn: 1, 2, 16, 17, 22, 23, 25, 26, 29

Ngày của tình yêu: 2, 3, 8, 13, 14, 18, 22, 23, 27, 30

Ngày tốt cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 16, 17, 20, 21, 24, 25, 30, 31

Ngày cho công việc: 1, 2, 6, 14, 15,16, 24. 27, 28, 30, 31

H5 Song nam5/- SONG NAM (21/5 – 21/6)

Song Nam trở thành trung tâm của các buổi tụ họp và chuyện tình cảm cũng thăng hoa trong tháng 12 này. Có nhiều thay đổi trong công việc, có thể Song Nam sẽ trải nghiệm với công việc mới hoặc là một phần việc khác. Kể từ 24, Song Nam hãy cẩn trọng trước khi bạn thực hiện một sự thay đổi lớn. Nếu bạn muốn thay đổi, hãy làm trước ngày này.

Những kỹ năng xã hội rất quan trọng trong hầu hết lĩnh vực cuộc sống, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính. Song Nam cần đánh giá tốt từ những người khác. Một quan hệ đối tác hoặc liên doanh sẽ đến, hoặc có cơ hội đến

Giúp đỡ về tài chính cho những người khác, và sự thịnh vượng đến với Song Nam một cách tự nhiên. Sau ngày 20, tốt nhất là cắt giảm những gì không cần thiết và lãng phí. Sức khỏe của Song Nam cần phải được chú ý, đặc biệt là cho đến ngày 20 vì sau đó có những buổi gặp gỡ khó chối từ. Quan trọng là thư giãn và nghỉ ngơi để giữ mức năng lượng cao.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 29, 31

Ngày kém may mắn: 4, 5, 16, 18, 19, 24, 25. 26, 28, 30

Ngày của tình yêu: 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 30, 31

Ngày tốt cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 15, 17, 18, 20, 21, 27, 30

Ngày cho công việc: 3, 4, 5, 13, 14, 15, 22, 25, 26, 28, 29. 30

H6 Bac giai6/- BẮC GIẢI (22/6 – 22/7)

Bắc Giải sẽ bắt đầu năm mới với những dấu hiệu tốt trong tháng cuối năm này. Có thể nói, đây là một tháng nhiều niềm vui và thành công. Bắc Giải đang ở trong một giai đoạn tiến triển trong sự nghiệp. Hãy tập trung vào những mục tiêu của bạn. Những điều kiện không phù hợp có thể khó thay đổi ngay lúc này, vì vậy Bắc Giải nên cố gắng hết sức thích nghi với chúng.

Sức khỏe và năng lượng tháng này của Bắc Giải ở tình trạng tốt, thậm chí nó còn tốt hơn kể từ sau ngày 20. Các thành viên trong gia đình có thể thay đổi chút ít về tính cách. Vì vậy Bắc Giải nên tinh tế, tế nhị và khôn ngoan hơn khi cư xử và tiếp xúc với mọi người.

Chuyện tình cảm có thể gặp đôi chút trắc trở, nhưng điều này chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Nhìn chung, chuyện tình cảm của Bắc Giải tháng này rất khả quan. Từ ngày 12 đến 15, Bắc Giải sẽ nhận được những tin nhắn cổ vũ tinh thần, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Sự lãng mạn của Bắc Giải cũng sẽ tăng lên tháng này.

Ngày may mắn: 4, 5, 13, 14, 15, 22, 23, 25, 29, 30,

Ngày kém may mắn: 6, 7, 16. 17. 20, 21, 27, 28, 31

Ngày của tình yêu: 1, 2, 3, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 27, 29, 30

Ngày tốt cho tài chính: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 18, 20, 21, 27, 29, 31

Ngày cho công việc: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 20, 21, 25, 30, 31

H7 Hai su7/- HẢI SƯ (23/7 – 22/8)

Công việc của Hải Sư có thể giảm tốc đôi chút; vì vậy bạn nên tập trung vào những vấn đề liên quan đến gia đình và tình cảm. Đây là thời điểm dành phát triển tinh thần hơn là vẻ bên ngoài. Bạn luôn là một người của xã hội, và điều này sẽ giúp Hải Sư nhiều trong thời điểm hiện tại. Rèn luyện năng lực bản thân nhiều hơn để đạt được nhiều thành công. Đây cũng là lúc Hải Sư sẽ nhận thấy con người thực sự của mình thông qua cách cư xử với người khác.

Hải Sư cần quan tâm đến sức khỏe trong tháng này và bạn có thể làm bất cứ điều gì mình muốn nhưng cũng nên dành thời gian để nghỉ ngơi, thư giãn. Sức khỏe sẽ được cải thiện. Những Hải Sư đang tìm kiếm công việc thì đây là thời điểm rất thích hợp cho các bạn khi một năm mới sắp bắt đầu

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25, 28. 29

Ngày kém may mắn: 1, 2, 8, 9, 10, 22, 23, 27, 30, 31

Ngày của tình yêu: 1, 2, 3, 6, 13, 14, 16, 22, 23, 24, 30

Ngày tốt cho tài chính: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 24, 25, 31

Ngày cho công việc: 2, 3, 8, 9, 10, 13, 14, 22, 23, 25, 26. 27

H8 Xu nu8/- XỬ NỮ (23/8 – 22/9)

Các bạn Xử Nữ đang trong một giai đoạn phát triển đời sống xã hội rất mạnh mẽ. Điều đó cho thấy không chỉ có bạn, mà còn có những người xung quanh – mối quan tâm cá nhân của bạn là quan trọng, nhưng Xử Nữ hãy nghĩ về lợi ích chung và đưa năng lượng cuộc sống của bạn về phía những người khác nữa. Xử Nữ sẽ thu được kết quả khả quan khi nghĩ đến nhu cầu của người khác trước tiên.

Từ ngày 10 trở đi, Xử Nữ theo đuổi các mục tiêu với sự đam mê rõ rệt. Bạn sẽ tập trung vào sự nghiệp và các mục tiêu cùng ước mơ. Các vấn đề gia đình cũng nên được Xử Nữ giải quyết sớm để dồn toàn bộ năng lượng cho sự nghiệp.

Sức khoẻ cần được chú ý nhiều hơn khi dịp lễ Tết sắp đến. Cơ bản thì vẫn là tốt, nhưng đây không phải là một trong những giai đoạn khoẻ mạnh nhất của bạn. Xử Nữ nên nghỉ ngơi và thư giãn hơn. Giác quan thứ 6 của Xử Nữ trở nên mạnh mẽ, đặc biệt là vào những ngày cuối của tháng.

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28, 30,

Ngày kém may mắn: 4, 5, 11, 12, 24, 25, 26, 29, 31

Ngày của tình yêu: 2, 3, 4, 5, 13, 14, 22, 24, 25. 27, 29, 31

Ngày tốt cho tài chính: 1, 2, 3, 11, 12, 15, 16, 20, 21, 22, 23, 28, 31

Ngày cho công việc: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 24, 25, 28, 29

H9 Thien xung9/- THIÊN XỨNG (23/9 – 22/1)

Sự thành công trong công việc sẽ đến với Thiên Xứng, nhưng tháng 12 chỉ là giai đoạn khởi điểm cho những thành công lớn hơn sắp tới vào năm mới. Thiên Xứng nên thiết lập những điều kiện thuận lợi cho công việc đồng thời sắp xếp lại chuyện gia đình, bạn bè cũng như tình cảm một cách trật tự. Năng lực bản thân cùng sự độc lập của Thiên Xứng sẽ ở mức cao nhất. Hãy tận dụng thời điểm này để tạo cho mình một cuộc sống mà bạn hàng mong muốn.

Ngày 15 đến 18 sẽ mang đến cho Thiên Xứng sự dồi dào về tài chính. Bạn sẽ có những nguồn thu nhập kha khá đáp ứng nhiều sở thích cá nhân. Vào ngày mùng 8, nếu đang tìm kiếm công việc hay dự tính mới thì đây chính là lúc các cơ hội gõ cửa với Thiên Xứng.

Tháng này tình hình sức khỏe của Thiên Xứng rất tốt, tạo điều kiện cho bạn thực hiện được nhiều công việc hơn. Chuyện tình cảm trong tháng này của Thiên Xứng ở mức bình thường, do vậy bạn có nhiều năng lượng và nhiệt tình cho những vấn đề xã hội.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 26, 29, 30

Ngày kém may mắn: 6, 7, 13, 14, 15, 27, 28, 31

Ngày của tình yêu: 3, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 25, 31

Ngày tốt cho tài chính: 1, 2, 8, 11, 12, 18, 20, 21, 22, 23, 27, 30, 31

Ngày cho công việc: 6, 7, 13, 14, 15, 17, 18, 27, 28

H10 Ho cap10/- HỔ CÁP (23/10 – 21/11)

Công việc của Hổ Cáp trong tháng 12 này có vẻ bận rộn, Hổ Cáp hãy làm bất cứ điều gì cần làm, nhưng vẫn nên quan tâm đến gia đình. Tháng này, tình hình tài chính, thu nhập của Hổ Cáp ở giai đoạn “đỉnh cao”. Bạn sẽ gặt hái nhiều lợi nhuận, có nhiều cơ hội cho quan hệ đối tác kinh doanh hoặc liên doanh sau ngày mùng 8. Tháng này cũng đem lại cho Hổ Cáp nhiều lựa chọn, đặc biệt là sau ngày 25.

Trong tháng 12, Hổ Cáp cũng rất quan tâm tới sức khỏe vì bạn biết sức khỏe tốt sẽ giúp ích cho cuộc sống rất nhiều. Năm nay là một năm tuyệt vời cho tình yêu và Hổ Cáp đang chuẩn bị cẩn thận để đón đợi nó. Tình yêu có thể gõ cửa từ ngày mùng 10 sau khi Hổ Cáp đã theo đuổi được mục tiêu tài chính của mình. Chúc mừng nhé, Hổ Cáp sẽ trở nên giàu có cả về vật chất và tinh thần để đón năm mới trong niềm vui trọn vẹn

Ngày may mắn: 1, 2, 8, 9, 10, 16, 17, 24. 27, 28, 29, 31

Ngày kém may mắn: 4, 5, 11, 12, 23, 25, 26, 30

Ngày của tình yêu: 2, 3, 8, 9, 10, 13, 14, 22, 23, 29, 30, 31

Ngày tốt cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 24, 25, 28, 30, 31

Ngày cho công việc: 6, 7, 16, 17, 18, 27, 30

H11 Nhan ma11/- NHÂN MÃ (22/11 – 21/12)

Nhân Mã bắt đầu tháng 12 với nguồn cổ vũ rất lớn đến từ gia đình. Sức mạnh cá nhân và khả năng độc lập của Nhân Mã sẽ trở nên yếu ớt vào thời điểm này. Đây là thời kỳ để bạn gặt hái những kỹ năng về giao tiếp trong các hoạt động xã hội.

Từ ngày 20 đến 24 là thời điểm tốt để Nhân Mã lên kế hoạch marketing hay một dự định nâng cao kiến thức mà bạn thích thú. Hãy lên kế hoạch định hướng cho nghề nghiệp, Nhân Mã sẽ có được sức mạnh để đạt đến nó một cách tự nhiên nhất. Đây cũng là khoảng thời gian Nhân Mã chăm sóc đời sống tinh thần cho chính mình.

Nhân Mã đang ở trong một năm tràn ngập hạnh phúc của tình yêu và sự lãng mạn. Cho đến ngày 14 tình yêu của bạn bắt đầu xuất hiện. Từ ngày 12 đến 15 sẽ mang lại sụ lãng mạn cho tình yêu của Nhân Mã. Nhưng đừng nôn nóng, hãy để mọi thứ tự nhiên !

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25, 28, 29, 31

Ngày kém may mắn: 4, 5, 11, 12, 18, 19, 22, 23, 30

Ngày của tình yêu: 11, 12, 13, 14, 16, 17, 22, 23, 24, 25, 30

Ngày tốt cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 6, 7, 16, 17, 18, 19, 24, 25, 27, 28

H12 Nam duong12/- NAM DƯƠNG (22/12 – 19/1)

Tháng này tạo nên một Nam Dương phóng khoáng nhưng vẫn cầu toàn. Bạn muốn tự do nhưng cũng vẫn gắn kết với người khác. Nam Dương hãy cố gắng kiềm chế khao khát để tránh mâu thuẫn với mọi người. Vận dụng quan hệ và tài ngoại giao để giải quyết mọi việc bằng thỏa thuận và hợp tác. Gia đình có lẽ nên được ưu tiên hơn trong giai đoạn này.

Phương diện sức khỏe tháng này sẽ cực kỳ tốt với Nam Dương. Sức khỏe của bạn tràn trề trong tháng đặc biệt sau ngày 15. Đây cũng là 1 tháng may mắn cho những ai đang tìm việc. Và tình yêu thì sẽ thăng hoa với bất cứ Nam Dương nào, các bạn đang yêu, đã kết hôn hay đang độc thân. Những Nam Dương còn độc thân sẽ có một cuộc gặp gỡ lãng mạn, có lẽ bạn cảm thấy nó thật lý tưởng nhưng nhớ suy xét kỹ nhé. Hãy cho trái tim thời gian suy nghĩ nhé.

Ngày may mắn: 1, 10, 11, 19, 20, 21, 25, 27, 30. 31

Ngày kém may mắn: 1, 3, 4, 17, 18, 23, 24, 26, 28, 29

Ngày của tình yêu:: 8, 9, 17, 18, 24, 25, 27, 28, 29, 30

Ngày tốt cho tài chính: 1, 2, 8, 10, 11, 12, 13, 17, 19, 20, 27

Ngày cho công việc: 3, 4, 8, 9, 18, 22, 25, 26, 27, 29

Quế Phượng (theo Horoscope)

Logo Xem tu vi

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

Advertisements

MỘT THỜI VÀNG SON CHỮ NGHĨA

logo-chia-buon

TIN BUỒN

Nhận được tin buồn :

Nhà thơ TRANG THANH LIÊM

Trang Thanh Liem

Sau 13 năm chống chọi với thần chết từ tai biến đột quỵ năm 2002, Vừa qua đời vào lúc 5 giờ chiều ngày 22/11/2015 tại tư gia số 139 trên đường Đỗ Xuân Hợp, P. Phước Long B, Q9, Hưởng thọ 74 tuổi.

Lễ viếng từ:8 giờ ngày 23/11/2015

Lễ động quan vào lúc 8 giờ sáng 25/11/2015, an táng tại nghĩa trang Hoá An – Biên Hoà.

Xin được chia buồn cùng tang quyến và cầu chúc hương linh anh Trang Thanh Liêm sớm về cõi Niết Bàn

Nguyễn Việt

Logo Van nghe

9 Nhat Tien 1MỘT THỜI VÀNG SON

CHỮ NGHĨA

– Nhật Tiến

Để tưởng nhớ nhà thơ Song Hồ – Nhật Tiến

Cái thời ấy, chẳng phải giầu sang phú quý hay đời sống thanh bình yên ấm gì, nhưng tôi vẫn nghĩ đó là một thời vàng son của một đám bè bạn hãy còn cắp sách đến trường. Họ là những học trò chẳng ngoan gì mấy của Chu Văn An, Nguyễn Trãi, của Khai Minh, Minh Tân, Văn Hóa ..v… v… những trường trung học công, tư nổi tiếng của Hà Nội vào giữa thế kỷ trước. Cái đám bạn bè ấy, ngoài những hương vị sảng khoái đầu đời của lứa tuổi đang sắp sửa bước vào ngưỡng cửa của sự thành niên, lại còn đam mê chuyện cầm bút mà trong đầu đứa nào cũng đều ôm mộng trở thành một văn sĩ, hoặc thi sĩ và ngay cả một kịch tác gia. Vì thế mới gọi là một thời vàng son chữ nghĩa. Thời của Hà Nội những năm 1950- 1954…. mà nhạc sĩ Hoàng Dương đã diễn tả trong bài Hướng Về Hà Nội:

Chua 1 cot 1… Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi, 

Nắng hè tô thắm lên môi, 

Thanh bình tiếng guốc reo vui…

Hà Nội ơi, những ngày thơ ấu trôi qua, 

Mái trường phượng vĩ dâng hoa

Dáng chiều rủ bóng tiên nga.

Hà Nội ơi, mắt huyền ngây ngất đê mê, 

Tóc thề thả gió lê thê, 

Cứ tin ngày ấy anh về …..

Vào cái “thời điểm Hà Nội” ấy, lũ chúng tôi còn đang là độc giả trung thành của những cây bút nổi danh đương thời như Ngọc Giao với Quán Gió, Xã Bèo, Nhị Lang với Bèo Giạt, Hà Bỉnh Trung với Răng Đen Ai Nhuộm Cho Mình, Nguyễn Minh Lang với Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu, Hoàng Công Khanh với Trại Tân Bồi và nhất là Hồ Hữu Tường với Phi Lạc Sang Tầu, Phi Lạc Náo Hoa Kỳ, Phi Lạc Bỡn Nga..v.v…Đọc để rồi khen tấm tắc hay bình phẩm này nọ ….

Vậy mà trong đám độc giả học trò ấy cũng đã nhiều đứa có tác phẩm được đăng báo đấy. Hai nhân sự được liệt vào hàng lỗi lạc nhất của đám chúng tôi, phải kể đến Vũ Khắc Mai Anh, bút hiệu Vũ Mai Anh và Nguyễn Đức Cầu bút hiệu Hùng Phong.

Vũ Mai Anh hồi đó ở phố hàng Đồng, đang học lớp Đệ Ngũ trường Chu văn An, tức lớp 8 bây giờ. Vậy mà trong cặp-táp của hắn chứa đầy nhóc bản thảo. Số trang bản thảo có lẽ phải dầy hơn gấp bội những trang vở ghi chép bài học. Một cuốn đã viết xong và đang được nhà xuất bản Chính Ký ở đường Sinh Từ chuẩn bị cho ra mắt độc giả là cuốn tiểu thuyết dài mang tên Phũ Phàng, còn một cuốn nữa có tên Duyên Kiếp thì đang được Vũ Mai Anh viết dở dang trên những trang lớn (loại khổ giấy hồi đó bán theo tệp), chữ nhỏ li ti và đang được đăng từng kỳ trên tuần báo Hồ Gươm do bác sĩ Bùi Cẩm Chương làm chủ nhiệm.

Còn anh chàng Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu thì ở phố hàng Than, lúc đó cũng đang là một học sinh lớp Đệ Lục. Vậy mà hắn đã có cả một thiên phóng sự dài đăng từng kỳ trên nhật báo Liên Hiệp do ông Soubrier Văn Tuyên làm chủ nhiệm thì mới “thánh” chứ ! Thiên phóng sự mang tên “Con Cò Mày Đi Ăn Đêm” mô tả những hoạt động phiêu lưu và sôi nổi 9 Nhat Tien 2của những con người hoạt động trong những đường dây buôn lậu từ nội thành ra vùng Việt Minh kiểm soát hồI đó gọi là hậu phương hay vùng kháng chiến.

Thực tình cho đến nay tôi cũng vẫn chưa hiểu tại sao và bằng cách nào mà cậu nhỏ Hùng Phong lại có nhiều tài liệu lạ lùng và hay ho đến thế. Còn kỹ thuật viết thì khỏi nói, chính tôi đã trông thấy những trang bản thảo của hắn với thứ chữ viết loằng ngoằng phóng túng, khi in ra rất được độc giả say mê theo dõi từng kỳ báo.

Nhờ thiên phóng sự này mà Hùng Phong đã lẫm liệt bước vào hàng ngũ những ký giả phóng sự điều tra thứ thiệt. Khi hắn xòe ra cho tụi tôi coi cái cạc vi-dít in hàng chữ “Hùng Phong- Journalist” thì chúng tôi không có ai dám thắc mắc gì. Tất cả chỉ tròn xoe mắt ra nhìn một cách thán phục. Nếu cần phải nói thêm vài kỷ niệm về cái anh chàng người nhỏ thó nhưng dáng dấp nhanh nhẹn, vầng trán rất cao nom như sắp hói này thì tôi phải nói rằng Hùng Phong Nguyễn Đức Cầu chơi đàn Banjo Alto rất giỏi.

Hồi còn học chung với nhau ở lớp Nhất trường Hàng Vôi (sau đổi là Nguyễn Du do thầy giáo Quỳnh giảng dạy), cái tên Hùng Phong chưa xuất hiện. Cầu hay lui tới nhà tôi ở phố hàng Kèn bằng một cái xe đạp đầm hiệu Pegeot rất cũ kỹ mà tay lái (guidon) đã cụt mất hẳn một bên. Tôi chẳng hiểu Cầu xoay sở lái cái xe ấy cách nào nhưng hắn đã xài nó liên tiếp hết năm này qua năm khác để đi học, đi rong chơi tung tẩy khắp phố phường và thường mang theo cây đàn Banjo tới ngồi ở cửa sổ nhà tôi để gẩy lên nhiều bản nhạc nghe giòn giã mê người.

Ngoài hai nhân sự rất nổi kể trên, đám học trò sính văn nghệ chúng tôi còn nhiều tên tuổi khác, có thể kể Hiệp Nhân học sinh lớp đệ Tam (tức lớp 10 bây giờ) tự xoay tiền in lấy truyện dài Linh Hồn Ngọc được giáo sư quốc văn Nguyễn Uyển Diễm đem đi giới thiệu ở tất cả các trường, lớp nơi ông giảng dạy; rồi Lê Ninh đang mài đũng quần nơi nhà trường cũng hợp tác với bạn bè ra giai phẩm Lửa Lựu gây sôi nổi trong giới học sinh trung học Hà Nội thời bấy giờ. 9 Song Ho

Qua lớp tuổi già dặn hơn một chút, tức khoảng trên dưới 20, thời đó cũng có nhiều cây bút góp phần làm cho sinh hoạt văn chương thêm rầm rộ, như Mọc Đình Nhân in Hương Mùa Loạn; Nguyễn Quốc Trinh, Hoàng Phụng Tỵ ra chung tập thơ Ươm Đẹp; đặc biệt Nguyễn Nam Tê, một nhà thơ độc đáo vừa làm nghề đạp xích lô, vừa sáng tác thơ để in tập Tin Về Đất Bắc.

Bên cạnh đó là một loạt những ngòi bút trẻ chưa tới tuổi 20 như Song Hồ, Huy Sơn, Dương Vy Long, Kiều Liên Sơn, Giang Quân, Hồ My, Tạ Vũ ..v.v… Họ đều rải rác có văn, thơ in trên các báo như Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, Hồ Gươm, Thời Tập, Cải Tạo, Tia Sáng, Giang Sơn, Liên Hiệp, Chánh Đạo…. ở Hà Nội hay Thẩm Mỹ, Mùa Lúa Mới, Nhân Loại ở Sài Gòn.

Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm hồi cư về sinh sống ở Hà Nội vào khoảng 1952. Hình như trước đó, năm 1949, tuy mới 16, 17 chưa tới tuổi thành niên nhưng anh đã là một chiến sĩ tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Lăn lộn qua nhiều chiến trường, lòng “anh chiến sĩ” không nguôi nhớ về Hà Nội. Chẳng hiểu chàng nhớ tới ai mà ngay giữa rừng thông Thái Nguyên, vùng núi rừng Việt Bắc, Song Hồ đã viết bài thơ đầu tiên mang tên “Thư Gửi người Em Hà Nội” trong có những câu :

Chua 1 cot 3Anh viết lá thư về Hà Nội

Giữa lúc bóng chiều

Ngả mầu sắc tối

Lòng người chiến sĩ căm căm

Đã bao tháng năm ?

Chưa bức thư nào

Về thăm người em gái nhỏ

Không biết anh đi từ độ nọ

Người em còn nhớ tới không?

Hay ở nơi đây

Tranh Ho GuomÁnh sáng Kinh Thành

Em cười trên tay kẻ khác

Nhưng anh vẫn tin

Tình em còn mộc mạc

Như tình anh

Mối tình giữa buổi chiến tranh…..

Song Hồ (1949)

Sau này, khi trở về Hà Nội, Song Hồ tiếp tục đi học lại (trường Văn Hóa của Giáo sư Nguyễn Khắc Kham) và tiếp tục làm thơ. Thơ của anh khi đó không còn vấn vương tình ái nữa mà mang nặng tính cảm hoài về thời cuộc, thế sự :

9 Ha noi 9Đây Hà Nội trời mưa tuôn rả rích

Bê bết bùn lầy nước đọng nhớp nhơ

Đèn nê-ông tỏa ánh điện xanh lơ

Nhạc cuồng loạn, gót giầy lay lắc ván

Một rồi hai, trăm ngàn rồi đến vạn

Đèn nhạt đèn xanh đèn tím đèn vàng 

9 Ha noi 4Nhạc điên cuồng vẫn réo rắt reo vang

Mầu biến đổi là lòng người biến đổI

Hiện dần trong bóng tối

Có người con gái miền quê

Khăn yếm bỏ đi rồi

Làn tóc loăn xoăn

Đỏ mọng đôi môi

Chiều thứ bẩy

Giầy đinh vang hè phố…..

Song Hồ (1953)

Nói đúng ra, lứa tuổi thanh thiếu niên thuộc thế hệ chúng tôi không chỉ có toàn những thứ tình cảm lãng mạn. Đất nước vào thời kỳ đó vẫn còn đang chìm đắm trong chiến tranh, tuy sự tàn phá của nó so ra không bằng một góc của cuộc chiến Quốc Cộng Nam Bắc vừa qua. Súng nổ ở đâu không thấy chứ ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội thì đời sống vẫn mang vẻ thanh bình, nhộn nhịp. Chẳng thế mà nhạc sĩ Hoàng Dương đã ca ngợi Hà Nội với những lời như đã dẫn:

Hà Nội ơi, nước hồ là ánh gương soi, 

Nắng hè tô thắm lên môi, 

Thanh bình tiếng guốc reo vui

Nhưng huy chương nào thì cũng có bề trái của nó. Hà Nội mộng mơ, Hà Nội, thanh bình, Hà Nội đẹp xinh … thường chỉ qua nhãn quan của tầng lớp trung lưu. Nếu nhìn sâu xuống đáy xã hội thì vẫn có những hoàn cảnh sống lầm than, những cuộc đời bị đối xử bất công, bị chìm đắm trong sự cùng quẫn nghèo khó. Là những con người yêu văn thơ, khuynh hướng sáng tác của những người làm văn nghệ trẻ ở thời kỳ đó không hề có tính vô cảm. Cho nên ngoài sự ca ngợi tình yêu, quê hương, đất nước, sáng tác của họ cũng đã mang nhiều dấu tích xã hội. Nhẹ nhàng mang tính chất học trò nghèo khó thì có những câu thơ của Tạ Vũ viết năm 1952:

Tr thieu nu 6Bạn ơi

Trên trang giấy trắng,

Dòng mực chảy đều

Tai nóng bừng vì bài toán không ra

Có nhớ đến tôi

Bỏ trường – không học phí

Duyên thế hệ thôi từ nay cách biệt !

Tạ Vũ mồ côi cả cha lẫn mẹ, sống nhờ bà dì, có lúc lại vào ngụ cư ở khu nuôi trẻ không nhà trong ngôi chùa Tầu gần phố Sinh Từ Hà Nội. Anh đã chen chúc với đám mồ côi cùng lứa tuổi để viết những dòng thơ như sau :

9 Ta Vu 2Ánh đèn không soi mái phố

Linh hồn dắt díu về đây

Chăn đâu cho đầy giấc ngủ !

Nôn nao cơm lưng dạ dầy !

-Thao thức nằm nhìn bóng tối

Nghẹn ngào khóc dưới cửa ô

đêm mơ thấy đời đổi mới

Sáng ra buồn hơn bao giờ ….

Năm 1954, Tạ Vũ không di cư vào Nam. Hơn năm mươi năm trời không gặp lại, nhưng tôi được biết sau này Tạ Vũ vẫn tiếp tục làm thơ, và anh đã có thời nổi tiếng ở miền Bắc là một thi sĩ của những công nhân trong ngành khuân vác.

Tưởng cũng nên nhắc thêm vài bài thơ của những ngòi bút, tuổi trên dưới 20 của Hà Nội hồi đầu thập niên 50 thế kỷ trước. Già dặn, sâu sắc thì có Song Nhất Nữ, bút hiệu của Đặng Bá Ngư, một chàng trai chính hiệu, người làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định lên Hà Nội học, với bài Cửa Ô đã được chúng tôi truyền tụng trong thời kỳ ấy :

9 Ha noi 5CỬA Ô

(Gửi năm Cửa Ô Hà Nội)

Mầu sắc u huyền,

Đất trời nghiêng ngửa,

Đô thành bừng lửa.

Ngoại ô này lành lạnh sống trong đêm…

Ánh đèn le lói

Chìm đắm triền miên

Nơi đây son phấn,

Nơi đây kim tiền,

Nơi đây trụy lạc,

Nơi đây nghèo hèn

7 Ha Noi pho 1Đêm về những giấc mơ điên

Đêm về ngùn ngụt túi phiền lầm than

Đêm về vàng bệch đèn tàn

Đêm về điên loạn cung đàn xót xa

Cửa Ô xa…

Có nhiều bóng ma…

Đi trong bê tha…

Đi trong xênh phách

Đi trong đói ráchĐi trong lệ nhòa

Thất thểu… la cà…

Bóng ma… bóng ma…

Đâu đây vàng ngọc lụa là,

9 Ha noi 1Cửa ô… ngõ hẻm… a ha ! Cuộc đời !

Song Nhất Nữ (Thi tập Ươm Đẹp – 1953)

Nhà thơ trẻ Nguyễn Quốc Trinh, đồng tác giả tập thơ Ươm Đẹp ngoài những vần thơ trữ tình:

Hoa bừng dưới gót em qua

Tôi cười dưới gót em xaBát ngát Thơ ngân tiếng guốc

Đường hương mở đón chân ngà…

chàng trai ấy cũng có khuynh hướng xã hội như bài thơ Dễ Hiểu sau đây dù sáng tác ở Hà Nội vào năm 1953 nhưng lạ thay, đã như những lời thơ tiên tri vẽ cảnh tầng đáy của Hà Nội ở thời điểm hơn 50 năm sau, bây giờ :

Tr mua thuDỄ HIỂU

Vì mãi gò lưng kéo

Cày cho kẻ khác no

Chiều về nhai cỏ héo

Chuồng hẹp nằm co ro

Vì sống như trâu bò

Kiếp này sang kiếp khác

Cha già cha phát ho

Mẹ già xương xộc xạc

Vì đời buồn xơ xác

U ám như đêm nghèo

Mồ hôi chua áo rách

Muối mặn quả cà meo

Tr mua Thu 3Hoa đẹp nở vườn nào

Thơ bầy trong tủ kính

Con choắt vợ xanh xao

Ngựa xe người đủng đỉnh

Vì tôi muốn anh muốn

Vì chúng ta cùng muốn

Đêm già: xô ngã xiên !

Ngày non: cười thẳng dướn !

Nguyễn Quốc Trinh (Thi tập Ươm Đẹp-1953)

Rồi hiệp định Genève năm 1954 đã khiến đám cầm bút trẻ Hà Nội chúng tôi trở thành tan tác vì nhiều người ở lại mà cũng lắm kẻ vô Nam. Sau này chúng tôi không được tin tức gì của những Hồ My, Giang Quân, Yên Tri, Kiều Liên Sơn… ngoại trừ Tạ Vũ tiếp tục làm thơ, khá nổi tiếng dưới chế độ mới và làm nghề khuân vác gạch vữa trong nghề xây cất.

Đám di cư vào Sài Gòn thường hay tụ tập ở những túp lều cất trên nền cũ9 Nhat Tien 3 của khám lớn Sài Gòn thời Pháp thuộc, sau trở thành khuôn viên của Đại Học Văn Khoa rồi thành Thư Viện trung ương của thủ đô Sài Gòn do công trình của cụ Mai Thọ Truyền, người nắm chức vụ cao trong ngành Văn Hóa.

Nguyễn Đình Toàn khi mới bước chân vào Nam đã soạn bản nhạc đầu tiên cũng như Mai Thảo viết Đêm Giã Từ Hà nội. Bản nhạc này không có tên và tuy không xuất bản, nhưng cả bọn chúng tôi đều hay nghêu ngao hát những khi rảnh rỗi. Tôi còn nhớ những lời nghe như thơ như sau :

Mây trắng bay về từ miền xa xôi

Lòng dâng thương nhớ biết giờ nào nguôi

Ai về Bến Hải dòng máu ngăn đôi 

Hận thù chìm dưới oán hờn người ơi….

Tuy nhiên sở trường của Nguyễn Đình Toàn là làm thơ và viết tiểu thuyết. Tác phẩm thơ của anh là cuốn Mật Đắng do nhà Huyền Trân in năm 1962, còn tiểu thuyết đầu tay là cuốn Chị Em Hải do cơ sở báo chí và xuất bản Tự Do của giáo sư Phạm Việt Tuyền, Tổng thư ký Trung tâm Văn Bút hồi đó, ấn hành. Sau này, Toàn in thêm những cuốn như Giờ Ra chơi, Áo Mơ Phai. Cuốn Áo Mơ Phai đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1974 ở Sài Gòn. Rồi anh trở thành người sáng lập chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Quốc Gia tức Đài Tiếng Nói Nước VN, do chính anh viết và đọc lời dẫn giải. Mục Nhạc Chủ Đề này đã làm say mê thính giả trong suốt một thời gian dài.

Đã có một thời, Song Hồ, Nguyễn Đình Toàn và chúng tôi (Nhật Tiến, Đỗ Phương Khanh) ở chung với nhau trong một căn nhà lụp xụp ở Xóm Gà gần ngã ba Bình Hòa bên Gia Định. Ng Dinh ToanRồi bỗng nhiên Song Hồ biến mất. Hóa ra anh được đại tá Hồ Hán Sơn đón lên Tây Ninh gặp trung tướng Nguyễn Thành Phương và yết kiến Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc. Ở đây, anh nhận chức cố vấn văn nghệ, báo chí và đảm trách tờ tuần báo Quyết Thắng cùng đài phát thanh Long Hoa của đạo Cao Đài.

Khi thủ tướng Ngô Đình Diệm tiến hành chủ trương thống nhất quyền lực, Song Hồ bỏ Tây Ninh về Sài Gòn rồi làm việc tại Văn Hóa Vụ do Kiến trúc sư Võ Đức Diên sáng lập. Cuối năm 1958, Song Hồ cùng Dương Vy Long được cử qua Cao Miên làm công tác văn hóa cho tòa đại sứ VNCH, tại đây hai người lo chấn chỉnh lại tờ Hồn Việt vốn là một nhật báo dành cho Việt kiều ở Nam Vang, trong đó Song Hồ giữ vai trò chủ bút. Tuy nhiên, công việc này không lâu bền. Một năm sau, cả hai trở lại Sài Gòn. Song Hồ đi dạy học và tiếp tục làm thơ. Dương Vy Long nhập ngũ rồi sau trở thành Dân Biểu Quốc Hội Đệ Nhị Cộng Hòa.

Tác phẩm đầu tay của Song Hồ là cuốn Hai Cánh Hoa Tim do nhà Huyền Trân xuất bản năm 1960 và sau đó là cuốn Thơ Song Hồ do nhà Khai Trí ấn hành năm 1964. Anh còn 2 tác phẩm khác đã soạn xong trước năm 1975, một cuốn tên là Việt Nam Mãi Mãi, một tuyển tập Ca Dao, Thơ và Hình ảnh của 3 miền đất nước do anh sưu khảo, tuyển lựa có sự đóng góp của Nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm về phần hình ảnh. Sách dầy 1,400 trang đã được nhà Khai Trí chuẩn bị cho in thì biến cố 1975 làm việc in không thành và bản thảo bị thất lạc.

Cuốn thứ hai là một tập thơ mang tên Đám Cháy Trên Địa Cầu bao gồm 1,600 câu thơ nói về cuộc chiến ở Việt Nam. Tác phẩm này không được phép in năm 1973 và khi CS tiến chiếm Sài Gòn, bản thảo cũng bị thiêu hủy chung với số phận của nhiều tác phẩm khác của miền Nam. Trong thời gian kẹt lại ở Sài Gòn, sống dưới chế độ mới, Song Hồ vẫn âm thầm tiếp tục làm thơ. Như bài “Hỡi Em Nhỏ Cô Đơn” sau đây, do anh sáng tác năm 1981, in trong tác phẩm Đá và Hoa, ấn hành năm 1992.

Mãi cuối năm 1987, Song Hồ mới đi định cư ở Texas. Nơi cư ngụ chính thức của anh là ở dẫy số 9000 Virgil Circle thành phố Austin, Texas. Đời sống của anh ở đây rất trầm lặng, ít giao dịch với bên ngoài, thân thể bệnh hoạn được sự chăm sóc tận tình của vợ anh, chị Nguyễn Thanh Đạm. Anh cũng ít làm thơ đăng báo, thật khác biệt rất xa với cuộc đời trôi nổi của anh kể từ buổi đầu đời. Tr Blogger 2Nhưng anh cũng có 2 tác phẩm ấn hành ở hải ngoại. Cuốn Đá và Hoa do nhà Hướng Dương xuất bản năm 1992 và cuốn Rock and Flower do chính anh tuyển lựa thơ của mình và tự dịch ra Anh ngữ, xuất bản năm 2000.

oOo

Bài này được viết sau khi tôi được tin Song Hồ Nguyễn Thanh Đạm vừa qua đời vào ngày 20/5/2009 tại một bệnh viện ở Houston, Texas. Nghi lễ hỏa táng cũng được tiến hành ở thành phố này vài ngày sau đó. Thân nhân còn lại của anh, ngoài chị Nguyễn Thanh Đạm và một cháu trai tên Nguyễn Bảo Hoàng (vượt biển, định cư ở Canada) còn có vợ chồng người chị ruột của anh, tức nhiếp ảnh gia Văn Vũ và phu nhân.

Lúc sinh thời, bạn bè văn nghệ xếp loại Song Hồ vào hàng ngũ những thi sĩ. Bản thân anh cũng tự coi mình như thế. Anh tha thiết với Thơ, cuối đời sống chìm đắm trong không khí Thơ, nghĩ về Thơ, luôn luôn đề cao vai trò của Thơ và trao cho Thơ những khả năng nhiệm mầu, những sứ mạng vô cùng cao cả.

Vĩnh biệt Song Hồ, một nhà Thơ Việt Nam đích thực của những năm dài khổ đau vì chiến tranh, vì chia rẽ hận thù, vì đè nén, áp bức và cả vì những ngày dài lưu lạc trên xứ người.

Với tâm hồn thấm đẫm chất Thơ của anh, bạn bè đều tin tưởng anh sẽ tìm thấy được sự bình an nơi cõi vĩnh hằng. (theo Nhật Tiến)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

Ng Viet 1– Với tôi, kỷ niệm nhiều với nhà thơ Song Hồ, vì thời gian 1965-1966, lúc ấy đang vừa học vừa làm, tờ bán tuần báo Thời Gian do ông Song Hồ là chủ nhiệm, còn chủ bút là ông Nguyễn Văn An tức Bạch Vân, còn tôi được ông Bạch Vân, đưa vào vị trí Thư ký tòa soạn, trông coi bài vỡ và kỹ thuật in ấn.

Nên phải nói tờ Thời Gian của thi sĩ Song Hồ là môi trường đầu đời khi tôi bước chân vào trường đời và vào làng văn làng báo, để sau đó tiếp tục với các tuần san tuần báo khác như tờ Tinh Hoa của ký giả nhà văn Nguyễn Thạch Kiên, Sân Khấu của nghệ sĩ Lê Văn Vũ Bắc Tiến rồi các nhật báo như Đồng Nai, Hòa Bình rồi cuối cùng là tờ Trắng Đen…

Nguyễn Việt

LỊCH SỬ CHỬ VẠN SWASTIKA

Logo bay gio ke

Pham Viet HungLỊCH SỬ ÍT ĐƯỢC BIẾT ĐẾN

VỀ BIỂU TƯỢNG SWASTIKA

– Phạm Việt Hưng

Rất nhiều người thắc mắc không hiểu tại sao chữ Vạn của Phật giáo lại có hình thức trùng lặp với “chữ thập ngoặc” của Đức quốc xã. Gọi là “chữ”, nhưng thực ra cả hai đều là những biểu tượng. Người Việt gọi hai biểu tượng này bằng hai tên gọi khác nhau, nhưng người Tây phương đều gọi là Swastika, vì cả hai có hình thức bề ngoài hoàn toàn giống nhau.

Một số tài liệu Phật giáo, thậm chí cả một số Bách khoa toàn thư, đã cố gắng chứng minh rằng hai biểu tượng này có hình dạng khác nhau – khác nhau về chiều quay và khác nhau về tư thế thẳng đứng hoặc nghiêng : Chữ Vạn quay thuận chiều, “chữ thập ngoặc” quay ngược chiều; Chữ Vạn thẳng đứng, “chữ thập ngoặc” đổ nghiêng. Nhưng thực tế không đúng như thế : Chữ “Vạn” của Phật giáo sử dụng cả hai chiều quay trái ngược nhau, “chữ thập ngoặc” của Đức quốc xã sử dụng cả hình đứng lẫn hình nghiêng. Tóm lại về hình thức bề ngoài, hai biểu tượng này hoàn toàn giống nhau. 9 Chu Van 1Vì thế, cần tìm hiểu vì sao có sự “trùng lặp” khó hiểu như vậy. Tuy nhiên, tìm hiểu lịch sử của Swastika chúng ta sẽ thấy rằng:

– Swastika đã xuất hiện từ thời cổ đại, ngay từ đầu nó không chỉ là biểu tượng của riêng Phật giáo, mà là biểu tượng của rất nhiều nền văn hoá và tôn giáo khác nhau.

– Swastika của Đức quốc xã hoàn toàn không liên quan gì đến chữ Vạn của Phật giáo, mà chỉ liên quan đến Swastika của người Aryan.

Vậy để tránh nhầm lẫn, bài viết này sẽ sử dụng tên gọi chung của biểu tượng này là Swastika. Chữ Vạn sẽ chỉ được dùng khi đề cập đến Swastika của Phật giáo.

Vậy Swastika có xuất xứ từ đâu ? Ý nghĩa nguyên thuỷ của nó là gì ? Người Aryan là ai ? Tại sao Hitler lại sử dụng Swastika của người Aryan ? Đó là những câu hỏi cần được trả lời.

PHẦN I : Từ Swastika đến Aryan

1/- Hành trình và ý nghĩa nguyên thuỷ của Swastika : Swastika là một trong những biểu tượng cổ xưa nhất mà loài người đã sử dụng. Nó đã được phát hiện trên những di chỉ khảo cổ có độ tuổi ít nhất hơn 3000 năm tại khu vực thung lũng nằm giữa hai con sông Euphrates và Tigris và một số vùng trong thung lũng Indus. Swastika cũng xuất hiện trên các bình gốm và những đồng xu cổ trên đống đổ nát của thành T’roa (Troy), chứng tỏ nó đã được sử dụng ít nhất từ 1000 năm trước C.N.

Mặc dù chưa ai vẽ ra được một “lộ trình di cư” chính xác của Swastika qua các thời đại, nhưng có thể biết chắc chắn rằng trải qua hàng ngàn năm, Swastika đã có mặt ở hầu khắp các lục địa Á, Âu, Mỹ. Vì thế, Swastika có rất nhiều tên gọi khác nhau. Tiếng Hán gọi là “wan” (Vạn), tiếng HyLạp – tetraskelion, tiếng Pháp – 9 Chu Van 2croix gammé, tiếng Anh – fylfot, tiếng Đức – hakenkreuz, tiếng Ý – croce uncinata, v.v… Nhưng tên gọi phổ biến nhất vẫn là swastika, bắt nguồn từ chữ svastika (đọc là suastika) trong tiếng Sanscrit – ngôn ngữ cổ Ấn Độ.

Trong tiếng Sanscrit: Sv, đọc là su, có nghĩa là tốt lành (good, well); asti có nghĩa là tồn tại (to be); ka là một tiếp vĩ ngữ thể hiện một sự vật hay sự việc nào đó. Vậy swastika là một sự vật hay một sự việc tồn tại tốt lành, hoặc có trạng thái tốt lành  (well-being).

Charles Messenger trong cuốn “Lịch sử Thế Chiến II bằng hình” (The Pictorial History of World War II) nói rằng Swastika thể hiện sự phồn thịnh (prosperity) và sáng tạo (creativity).

Swastika trong nghệ thuật của người Hindu có các dấu chấm trong các cung phần tư, nhưng Swastika của Hindu giáo (Ấn Độ giáo) không có những dấu chấm này.

Phật giáo là nơi khởi nguồn của biểu tượng Swastika tại Châu Á. Trong các kinh Phật, Swastika thường xuất hiện ngay ở phần mở đầu. Trong tiếng Hán, chữ Vạn (wan) biểu thị cái bao trùm tất cả (all) và sự vĩnh hằng (eternity).

Cuốn “Phật Học Quần Nghi” xuất bản tại Đài Loan viết:

Theo truyền thuyết cổ Ấn Độ, phàm là thánh vương chuyển luân cai trị thế giới đều có 32 tướng tốt. Phật là một thánh vương trong Pháp nên cũng có 32 tướng tốt. Điều này được ghi trong kinh Kim Cương Bát Nhã. Chữ Vạn là một trong 32 tướng tốt của Phật. 9 Chu Van 3Theo kinh Trưòng A Hàm thì đó là tướng tốt thứ 16 nằm trước ngực của Phật.

– Tại Nhật Bản, chữ Vạn của Phật giáo được gọi là manji, thể hiện Dharma – sự hài hoà và cân bằng âm dương trong vũ trụ (giống tư tưởng của Dịch và Lão học) – trong đó manji quay trái được gọi là một omote manji, thể hiện tình yêu và lòng nhân từ, khoan dung; manji quay phải được gọi là ura manji, thể hiện sức mạnh và trí thông minh.

– Tại Nam Âu, khu vực tiếp giáp với châu Á, dấu vết Swastika cũng đã được tìm thấy trong các công trình kiến trúc thuộc nền văn hoá Byzantine – nền văn hoá thuộc khu vực Biển Đen và Địa Trung Hải kéo dài từ thế kỷ thứ 7 trước CN đến tận thời trung cổ.

– Dấu vết Swastika cũng xuất hiện trong các đền đài thuộc nền văn hoá Celtic (đọc là Seltic hoặc Keltic) – nền văn hoá đậm nét Âu châu phi Địa Trung Hải, có xuất xứ từ Tây và Trung Âu từ khoảng 1000 năm trước CN kéo dài mãi đến nhiều thế kỷ sau CN, ảnh hưởng sâu rộng khắp Âu châu. Chủ nhân của nền văn hoá này là người Celt – người nói tiếng Celtic – những người nổi tiếng thông minh, yêu tự do, dũng cảm trong chiến đấu.

Cần đặc biệt chú ý rằng ngôn ngữ Celtic là một bộ phận của một nhóm ngôn ngữ rộng lớn hơn được gọi là ngôn ngữ Aryan hoặc ngôn ngữ Ấn-Âu. Vậy ngôn ngữ Aryan và ngôn ngữ Ấn-Âu là gì?

2/- Ngôn ngữ Aryan và người Aryan : Những người ít quan tâm đến ngôn ngữ học có thể sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng hầu hết các thứ tiếng Âu châu ngày nay hoá ra lại có chung một thuỷ tổ với tiếng Hindi (tiếng Ấn Độ).

Thuỷ tổ ấy là ngôn ngữ Aryan, hoặc ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European languages) – ngôn ngữ của những cư dân sinh sống từ xa xưa 9 Chu Van 4trên vùng cao nguyên Iran ở Nam Á, giữa vùng biển Caspian và vùng núi Hindu Kush ngày nay. Những cư dân này tự gọi mình là người Aryan.

Vào khoảng 1500 năm trước CN, người Aryan đã xâm chiếm vùng tây bắc Ấn Độ. Họ mang theo một nhánh ngôn ngữ của họ đến đó, và trong suốt 1000 năm đầu tiên tại Ấn, họ đã hoàn thiện ngôn ngữ này đến mức đã tìm ra cách để biểu thị bằng chữ viết. Đó chính là ngôn ngữ Sanskrit mà ngày nay ta gọi là tiếng Ấn Độ cổ. Tiếng Hindi, ngôn ngữ chính của Ấn Độ ngày nay, cũng bắt nguồn từ ngôn ngữ Sanskrit. Chính nhờ các văn bản cổ viết bằng tiếng Sanskrit vẫn còn được lưu giữ trong các di tích tôn giáo và văn hoá của người Hindu nên ngày nay chúng ta mới biết được lịch sử của người Aryan. Những văn bản này mô tả người Aryan có nước da sáng mầu (fair-skinned), có máu mê chiến tranh (warlike), và bản thân chữ Aryan trong tiếng Sanskrit có nghĩa là người phú quý (nobleman) hoặc chúa tể đất đai (lords of  land)!

Một nhánh khác của người Aryan đã di cư sang xâm chiếm Âu châu và truyền bá ngôn ngữ của họ ở đó. Vì thế ngôn ngữ của phần lớn người Âu châu ngày nay rất giống nhau – thực ra hầu hết người Âu đều nói một thứ ngôn ngữ có nguồn gốc Aryan (trừ tiếng Thổ, Hung, xứ Basques, Phần Lan, LátVia, Estonia, và một vài nhóm nhỏ ở Nga).

Vì thế ngôn ngữ Aryan được gọi là ngôn ngữ Ấn-Âu, người Aryan được gọi là người Ấn-Âu tiền sử (proto-Indo-European). Người Ấn ở miền bắc Ấn Độ còn được gọi là người Ấn-Âu. Họ cao lớn, nước da sáng mầu, trong khi người Ấn ở miền nam có nguồn gốc Dravidian, với vóc dáng nhỏ bé hơn, và nước da tối mầu hơn.

Việc khám phá ra ngôn ngữ Aryan vào những năm 1790 được coi là một trong những khám phá vĩ đại nhất của ngôn ngữ học. 9 Chu Van 5Người Âu châu thời đó đã sửng sốt khi biết rằng không chỉ các dân tộc ở Âu châu, mà ngay cả một xứ “xa tít mù tắp” vào thời đó như Bắc Ấn, hoá ra cũng có chung một nguồn gốc ngôn ngữ với họ, thậm chí chung một tổ tiên với họ. Từ đó, các nhà khảo cổ học lao vào nghiên cứu mối liên hệ giữa người Âu châu tiền sử với người Aryan cổ đại.

Trong bài “Lịch sử lần theo chữ Vạn” (đã dẫn), tôi đã đặt dấu hỏi: “Dân tộc Iran ngày nay và người Aryan xưa kia có liên hệ gì với nhau không? Về mặt âm ngữ, hai từ Iran và Aryan rất giống nhau. Về mặt lịch sử, chẳng lẽ người Aryan đi chinh phục Ấn Độ và Âu châu hết mà không để lại một chi nhánh nào của dòng họ ở nơi xuất xứ là cao nguyên Iran hay sao?”.

Và tôi đã tìm thấy câu trả lời. Bách khoa toàn thư Wikipedia viết: “Vào khoảng nửa đầu của thiên niên kỷ thứ nhất trước CN, người Aryan đã có mặt trên cao nguyên Iran và tiểu lục địa Ấn Độ. Thực ra, thuật ngữ Iran là kết quả của thuật ngữ Ariana (Airyana) có nghĩa là xứ sở của người Aryan. Nhóm ngôn ngữ Aryan có hai nhánh chủ yếu: Ngôn ngữ Sanskrit và ngôn ngữ cổ-Iran… trong tiếng Ba-Tư thời trung cổ, chúng ta thấy chữ Ariana được gọi là Eran, và cuối cùng trong tiếng Ba-Tư hiện đại, được gọi là Iran”.

Nhà triết học nổi tiếng Hegel từng viết trong cuốn Triết học Lịch sử (The Philosophy of history) rằng: “Lịch sử của loài người bắt đầu từ lịch sử của Iran”. Các di chỉ khảo cổ tại Tây Nam Á cho thấy nền văn minh Iran có trước nền văn minh Ai Cập quãng 3000 năm, khởi đầu ít nhất từ 12.000 năm trước đây.

Tóm lại, người Aryan một phần đã chinh phục Bắc Ấn, một phần ở lại Iran, và một phần đã di cư sang Âu châu và chinh phục hầu khắp Âu châu, lai tạp với cư dân bản địa Âu châu cổ đại để dần dà trở thành người Âu Mỹ như ngày nay.

Tuy nhiên, khái niệm “người Aryan” dần dần đã bị những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc biến tướng thành khái niệm “chủng tộc Aryan”, từ đó dẫn tới những hậu quả chính trị xã hội vô cùng tệ hại.

3/- Về cái gọi là “chủng tộc Aryan” : Như độc giả đã thấy, các văn bản đã cổ gắng mô tả người Aryan là những người có những “ưu điểm vượt trội”: 9 Chu Van 7những người “phú quý” hoặc “chúa tể đất đai”! Trong thực tế, người Aryan đã chinh phục một dải đất vô cùng rộng lớn từ Á sang Âu!

“Thành tích vượt trội” của người Aryan đã làm nức lòng những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc ở châu Âu cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Trong con mắt của họ, “người Aryan” đồng nghĩa với “chủng tộc Aryan” (Aryan race) – một “chủng tộc ưu tú hơn” (superior race) so với bất kỳ chủng tộc nào khác. Ngay từ thời đó, tư tưởng này đã bị phê phán. Nhà Sanskrit học lỗi lạc Max Muller từng nhấn mạnh: “Khi tôi nói đến chữ Aryan, tôi không hề có ý định đề cập đến những khái niệm liên quan đến hộp sọ”. Nói cách khác, theo những tiêu chuẩn của chủng tộc học, không hề có cái gọi là “chủng tộc Aryan”, mà chỉ có người Aryan mà thôi. Nhưng bất chấp mọi giải thích, những kẻ có đầu óc dân tộc tiếp tục truyền bá khái niệm “chủng tộc Aryan” như một sự thật lịch sử và khoa học.

Đến những năm 1920, chủ nghĩa quốc xã Đức đã nâng lý thuyết “chủng tộc Aryan lên đến mức cực kỳ phản động: “Chủng tộc Aryan là chủng tộc thượng đẳng (master race) có quyền thống trị thế giới”. Lý thuyết này dựa trên nền tảng của một học thuyết được coi là “khoa học” vào thời đó: Học thuyết Đác-uyn-xã-hội (Social-Darwinist Ideology) – một học thuyết chủ trương áp dụng nguyên lý đấu tranh sinh tồn của Darwin vào trong xã hội loài người.

Nhưng tại sao Đức quốc xã lại chọn Swastika làm biểu tượng của chúng ?

Trước khi biết rõ bối cảnh nào đã dẫn Hitler tới chỗ đích thân hắn chọn Swastika làm biểu tượng cho đảng quốc xã, đọc giả cần biết rõ sự kiện sau đây:

Cuối thế kỷ 19, nhà khảo cổ học nổi tiếng Heinrich Schliemann, người đã khám phá ra Swastika trên đống đổ nát của thành T’roa, trong một công trình nghiên cứu công phu kết hợp khảo cổ học với Sanscrit học, Adolf Hitler 2đã đi đến một kết luận vô cùng quan trọng rằng Swastika là một biểu tượng đặc trưng Ấn-Âu. Nói cách khác:

Swastika là biểu tượng đặc trưng của người Aryan!

PHẦN II – Từ học thuyết bệnh hoạn đến Swastika của quỷ dữ

Lý thuyết “chủng tộc thượng đẳng” (master race) của chủ nghĩa quốc xã (nazism) là một quái thai trong lịch sử loài người, nhưng quái thai ấy không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Nó là con đẻ của một “bà mẹ bệnh hoạn” – Học thuyết Đác-uyn-xã-hội (Social-Darwinist Ideology) – và một “ông bố điên rồ” – Tư tưởng phục thù (Feeling of Revenge) trong xã hội Đức sau Thế Chiến I.

Khi đã có Học thuyết Đác-uyn-xã-hội làm cơ sở “khoa học” để suy tôn “chủng tộc Đức” thành “chủng tộc thượng đẳng có quyền thống trị thế giới”, chủ nghĩa quốc xã chỉ còn thiếu một lá cờ với biểu tượng thích hợp. Nhưng đích thân Hitler đã tìm thấy biểu tượng đó: Swastika của người Aryan!

Vậy trước hết hãy tìm hiểu xem Học thuyết Đác-uyn-xã-hội là gì?

1/- Học thuyết Đác-uyn-xã-hội : Học thuyết Đác-uyn-xã-hội là lý thuyết cho rằng xã hội loài người tiến hoá thông qua quá trình đấu tranh sinh tồn, trong đó chủng tộc nào thông minh hơn, khoẻ mạnh hơn, thích nghi với môi trường tốt hơn sẽ là chủng tộc có quyền tồn tại; chủng tộc nào dốt nát, ốm yếu, kém thích nghi với môi trường sẽ bị đào thải. Đây là kết quả của việc áp dụng một cách máy móc Thuyết tiến hoá của Darwin vào trong xã hội loài người.

Không phải ngẫu nhiên mà có sự áp dụng máy móc đó. 9 Chu Van 8Đây là hệ quả của việc áp dụng tràn lan chủ nghĩa thực chứng (positivism) vào trong xã hội học.

Chủ nghĩa thực chứng do Auguste Comte (1798-1887) nêu lên từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 19, trong đó cho rằng một hệ thống lý thuyết chỉ trở thành khoa học thực sự khi nó có thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm trong thực tế.

Với thắng lợi trong khoa học tự nhiên, chủ nghĩa thực chứng đã tạo ra tinh thần lạc quan mạnh mẽ trong thế kỷ 19, thúc đẩy các nhà xã hội học tìm cách giải thích hành vi của số đông (en masse behaviour) bằng những quy luật của tự nhiên.

Đúng lúc đó, Thuyết tiến hoá của Darwin ra đời. Những kẻ có đầu óc chủng tộc lập tức áp dụng Thuyết tiến hoá của Darwin để giải thích sự tiến hoá của xã hội loài người, khẳng định rằng về cơ bản xã hội loại người cũng phải tiến hoá theo quy luật của sinh giới nói chung. Đó chính là Học thuyết Đác-uyn-xã-hội.

Học thuyết Đác-uyn-xã-hội có liên quan gì đến cá nhân Darwin không?

Trước đây tôi luôn luôn nghĩ rằng Darwin chỉ nêu lên quy luật tiến hoá trong xã hội loài vật mà thôi. Việc đem lý thuyết của ông áp dụng một cách máy móc vào xã hội loài người là việc làm của những kẻ có đầu óc kỳ thị chủng tộc. Nhưng gần đây, tôi phải suy nghĩ rất nhiều khi đọc bài báo “What Darwin taught Hitler?” (Darwin đã dạy Hitler cái gì?) của Grenville Kent, trên tạp chí SIGNS of the Times ở Úc, số tháng 10 năm 1996, trong đó tác giả đã trích nguyên văn một phát biểu của Darwin như sau:

“Trong một tương lai không xa lắm, có thể đo bằng số thế kỷ, các chủng tộc văn minh của loài người hầu như sẽ tiêu diệt và thay thế các chủng tộc man rợ trên thế giới”.

Có thật Darwin đã nói như thế hay không? Trong bài báo nói trên, Kent nói rõ rằng câu nói này nằm trong cuốn On the Origin of Species (Về nguồn gốc các loài), tác phẩm nổi tiếng nhất của Darwin. Nếu đúng như thế thì không thể trách tại sao ở Phương Tây hiện nay, một nửa giới khoa học chống lại Darwin. Liệu một lý thuyết thực sự khoa học có thể bị một nửa thế giới chống lại nó hay không? Điều này chúng ta không hề thấy ở các học thuyết khác, như Cơ học Newton, Thuyết tương đối của Einstein, Cơ học lượng tử của Bohr-Heisenberg, v.v.

Ngay từ năm 1934, Lý Tôn Ngô đã viết trong cuốn “Hậu Hắc Học” rằng “Đác-Uyn phát minh Charles Darwin(ra học thuyết) sinh vật tiến hoá cũng như Niu-tơn phát minh ra “Sức hút của quả đất”, là những công thần lớn của giới học thuật, điều ông nói “Muốn sinh tồn phải cạnh tranh mạnh được yếu thua” là một điều không khỏi lệch lạc, và cần uốn nắn lại”.

Than ôi, nhân loại chưa kịp uốn nắn thì đã xảy ra cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai thảm khốc chưa từng có – một cuộc chiến tranh bắt nguồn trực tiếp từ một đầu óc bệnh hoạn về đấu tranh sinh tồn dựa trên học thuyết Darwin!

Những người quen sùng bái Darwin như ông thánh sẽ giẫy nẩy lên khi thấy ông thánh của mình bị kết tội, nhưng chắc chắn họ không thể tranh cãi với Kent khi ông đặt dấu hỏi chua chát “Nếu Darwin đúng thì tại sao Hitler lại không được bào chữa về mặt khoa học?”. Theo Kent, chủ nghĩa quốc xã Đức đã từng lý luận rằng “Nếu chúng ta xuất thân từ động vật thì tại sao chúng ta không hành động theo quy luật (đấu tranh sinh tồn) đó?”. Thế đấy, dưới con mắt của chủ nghĩa quốc xã, con người trước hết là một động vật, do đó mọi hành vi trước hết phải tuân theo quy luật đấu tranh sinh tồn – một quy luật bất khả kháng của tự nhiên (!!!). Nếu Darwin đúng và nếu con người là một bộ phận của thế giới động vật thì cớ gì con người không tuân thủ những “định luật tiến hoá” của Darwin? Đó là một câu hỏi quá khó đối với tư duy khoa học logic máy móc – kiểu tư duy chủ yếu đến nay vẫn thống trị trong thế giới khoa học!

Ngày nay, khi Học thuyết Đác-uyn-xã-hội đã lộ nguyên hình là một học thuyết bệnh hoạn, không ai có thể chấp nhận sự vay mượn tư tưởng từ một học thuyết thuần tuý sinh học để đem áp dụng vào xã hội loài người một cách thô thiển và đơn giản đến như thế. Nhưng than ôi, đó lại là một sự thật đã diễn ra vào những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, chúng ta không thể được phép quên!

Thật vậy, vào đầu thế kỷ 20, trường Đại học tổng hợp Berlin chật cứng sinh viên ngồi nghe các giáo sư trình bầy Học thuyết Đác-uyn-xã-hội. Trong đám thính giả có rất nhiều nhà ngoại giao, nhà quân sự, thương gia và các lãnh tụ của nhà nước Đức. Một trong số đó là Heinrich Himmler, kẻ sau này trở thành cánh tay phải của Hitler, đứng đầu bộ máy SS – bộ máy tàn sát chủng tộc khét tiếng của Nazi.

Bối cảnh ấy thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phục thù ở Đức phát triển mạnh mẽ, tạo nên một cơ sở xã hội để đảng quốc xã thắng thế vào cuối những năm 1920, đầu 1930, dẫn tới sự ra đời của Đế chế Thứ III (The Third Reich) với việc Adolf Hitler9 Chu Van 6 lên cầm quyền ở Đức năm 1933, thực hành một chính sách chủng tộc thảm khốc chưa từng có trong lịch sử.

2/- Chủ nghĩa chủng tộc và phục thù : Bước vào thế kỷ 19, trong khi các nước như Anh, Pháp đã trở thành những đế quốc lớn, hùng mạnh, thì Đức lúc đó vẫn bao gồm các tiểu vương quốc rời rạc. Mãi đến năm 1871 mới thống nhất thành một quốc gia. Sự tụt hậu này tạo cho giới trẻ Đức thời đó một cảm giác tủi hổ, bất mãn. Từ đó nước Đức có xu thế muốn vươn lên, chứng tỏ cho thế giới thấy mình không những không thua kém ai, mà còn vượt trội so với kẻ khác. Xu thế ấy là một trong những nguyên nhân dẫn tới cuộc Thế Chiến I. Nhưng thất bại thảm hại của Đức trong cuộc thế chiến này lại càng đẩy thanh niên Đức lún sâu vào tâm trạng tủi hổ và bất mãn sâu sắc hơn nữa.

Để chống lại căn bệnh tủi hổ này, những nhà lý luận có đầu óc chủng tộc đã cố gắng xới lên những học thuyết đề cao chủng tộc Đức, trong khi các nhà chính trị theo chủ nghĩa dân tộc lại tuyên truyền cho chủ nghĩa phục thù, hứa hẹn sẽ lấy lại sức mạnh cho nước Đức, đưa nước Đức lên vị trí lãnh đạo thế giới.

Trong bối cảnh ấy, lịch sử người Aryan và Swastika cùng với Học thuyết Đác-uyn-xã-hội đã trở thành “những nguyên liệu quý giá” để những nhà lý thuyết và chính trị theo chủ nghĩa chủng tộc ở Đức chế biến nên một chủ thuyết chủng tộc trong đó khẳng định rằng người Aryan chính là thuỷ tổ của người Đức, người Đức chính là hậu duệ thuần chủng nhất và tinh tuý nhất của người Aryan, và do đó xứng đáng để lãnh đạo thế giới.

Một trong những kẻ đi tiên phong trong học thuyết này là Alfred Rosenberg. Rosenberg coi “chủng tộc Aryan là chủng tộc nằm ở bậc thang cao nhất trong “hệ thống các bậc thang chủng tộc” (racial hierarchy), trong khi “chung tộc Do Thái” nằm ở tầng dưới cùng và là một mối đe doạ đến “nền văn minh thuần nhất Aryan của Đức”, do đó cần phải bị đào thải. Hơn thế nữa, “chủng tộc Aryan” là chủng tộc duy nhất có khả năng sáng tạo nên những nền văn hoá và văn minh đích thực, trong khi các chủng tộc khác chỉ có khả năng giữ gìn hoặc phá hoại những nền văn hoá đó mà thôi. Rosenberg sau này đã trở thành cánh tay phải của Hitler về tuyền truyền và giáo dục tư tưởng quốc xã, đồng thời làm bộ trưởng quốc xã phụ trách khu vực chiếm đóng ở Liên Xô, 9 Chu Van 9cuối cùng bị đồng minh bắt năm 1945, bị xử tử hình tại toà án tội phạm chiến tranh Nuremberg ngày 16-10-1946.

Từ điển Lịch sử thế giới (Dictionary of World History) do Chambers của Anh xuất bản năm 1994 viết: “Nước Đức đã ôm lấy cái khái niệm phi khoa học về chủng tộc Đức như là bộ phận tinh tuý nhất trong chủng tộc Aryan, trong số những người cùng nói thứ ngôn ngữ Ấn-Âu, và rằng họ có trách nhiệm với tiến bộ của nhân loại (trang 60)… Chủ nghĩa quốc xã khẳng định rằng thế giới được chia thành một hệ thống nhiều thang bậc chủng tộc: Người Aryan, trong đó người Đức là đại diện thuần chủng nhất, là chủng tộc thượng đẳng về văn hoá, trong khi người Do Thái là thấp kém nhất. Điều đó cũng có nghĩa là người Do Thái sẽ bị người Aryan tiêu diệt loại bỏ khỏi thế giới… (trang 661)”.

Một khi đã tự nhận mình là hậu dệ tinh tuý nhất của người Aryan thì đương nhiên, những kẻ theo chủ thuyết chủng tộc Đức cũng sẽ tự nhận Swastika là biểu tượng của họ, bởi như chúng ta đã biết: Nhà khảo cổ học Heinrich Schliemann đã khám phá ra rằng Swastika là một biểu tượng đặc trưng Ấn-Âu, tức đặc trưng của người Aryan. Đó là lý do để chủ nghĩa quốc xã đã chộp lấy Swastika để biến thành biểu tượng của chúng.

Tr bang hoang3 – Swastika rơi vào tay quỷ dữ : Bách khoa toàn thư Wikipedia cho biết : Cuối thế kỷ 19, Swastika của người Aryan đã xuất hiện trong tạp chí về chủng tộc xuất bản định kỳ của những người Đức theo chủ nghĩa quốc gia và là biểu tượng chính thức của những vận động viên thể thao Đức.

Đầu thế kỷ 20, Swastika của người Aryan đã trở thành một biểu tượng chung của chủ nghĩa dân tộc Đức (German nationalism) và có thể tìm thấy ở nhiều nơi như biểu tượng của Wandervogelb – một phong trào tuổi trẻ Đức; trên tạp chí Ostarra, một tạp chí định kỳ bài Do Thái của Joerg Lanz von Liebenfels; trên nhiều đơn vị Freikorps khác nhau; và như một biểu tượng của Hội Thule.

Nhưng Swastika chỉ chính thức trở thành biểu tượng của quỷ dữ kể từ khi Hitler chính thức sử dụng biểu tượng đó.

Sau hai lần thi trượt vào Đại học Mỹ thuật vì bị phê là “thiếu tài năng”, Hitler rất hậm hực bất mãn. Năm 1909, Hitler rơi vào cảnh nghèo túng, nhưng được một người Do Thái là Hanisch giúp kiếm sống bằng cách vẽ bưu ảnh để bán cho du khách (tổng cộng trước Thế Chiến I, hắn đã bán được 2000 bưu thiếp). Trớ trêu thay, chẳng bao lâu sau Hitler đã phản bội lại người giúp đỡ mình khi hắn say mê với những lý thuyết về chủng tộc Aryan, coi người Do Thái là kẻ thù của người Aryan và phải chịu trách nhiệm về những khủng hoảng trong nền kinh tế Đức.

Đến những năm 1920, khi Hitler trở thành lãnh tụ đảng quốc xã, hắn thấy đảng này cần phải có một lá cờ và biểu tượng riêng của nó.

Năm 1923, Hitler bị phạt tù 5 năm vì một hành động chống chính phủ. Trong tù, hắn viết tác phẩm “Mein Kampf” (Cuộc đấu tranh của tôi), 9 Chu Van 9trong đó viết: “Lá cờ mới phải là một biểu tượng của cuộc đấu tranh riêng của chúng ta, đồng thời có hiệu quả cao như một áp-phích tuyên truyền”. Không những thế, vốn xuất thân là một thợ vẽ, Hitler còn thiết kế ra hình ảnh cụ thể của lá cờ đó, trong đó Swastika của người Aryan được đặt chính giữa trên một hình tròn mầu trắng. Hắn viết trong Mein Kampf:  “Mầu trắng thể hiện tư tưởng dân tộc, biểu tượng Sawstika thể hiện sứ mạng đấu tranh vì thắng lợi của người Aryan, đồng thời nói lên sự chiến thắng của tinh thần sáng tạo, một tinh thần đã và sẽ mãi mãi chống lại bọn Do Thái”.

Chẳng bao lâu sau, Mein Kampf đã nhanh chóng trở thành cuốn “kinh thánh” của đảng quốc xã, chứa đựng tất cả các giáo điều của chủ nghĩa quốc xã, bao gồm cả những kỹ thuật tuyên truyền và kế hoạch làm thế nào để trước tiên chiếm lĩnh nước Đức, sau đó là chiếm lĩnh châu Âu.

III/- Kết :

Đến đây độc giả thấy rõ chính đích thân Hitler đã chọn Swastika của người Aryan làm biểu tượng cho đảng quốc xã. Từ năm 1933, khi đảng quốc xã thắng cử ở Đức, Hitler trở thành quốc trưởng của Đế Chế Thứ III, thì Swastika trở thành biểu tượng của cả nhà nước quốc xã và quân đội quốc xã. Kể từ đó, Swastika bị coi là biểu tượng của quỷ dữ. Sau Thế Chiến II, Swastika bị cấm phô bầy tại rất nhiều nước Âu châu.

Trong thời đại hiện nay, khi sự giao lưu trao đổi văn hoá giữa các quốc gia, các sắc tộc, các vùng địa lý, các truyền thống văn hoá khác nhau ngày một phát triển, thì hai nhận thức khác nhau về Swastika đã gây nên những hiểu lầm và va chạm rất đáng tiếc, thậm chí có nơi đã xẩy ra xung đột. Chỉ có một cách duy nhất thanh toán sự hiểu lầm và xung đột này là mọi người phải biết rõ lịch sử của Swastika, để có thể phân biệt được đâu là Swastika của cái Thiện, đâu là Swastika của quỷ dữ. Vì thế, lịch sử là một khoa học rất cần thiết đối với nhận thức nói chung (theo Phạm Việt Hưng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

ĐI TÌM MỘ CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

Logo nhan vat 1

Ng Hien Le 2MỘ CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

NẰM LẶNG LẼ TẠI LẤP VÒ

– Trần Thị Trung Thu

–  Mộ Nguyễn Hiến Lê hả ? Chị không biết. Chị chưa nghe cái tên này bao giờ.

Chị Dương vừa nói vừa lắc cái đầu nhỏ nhắn làm đuôi tóc vẫy vùng sau lưng. Giọng nói nhẹ nhàng của cô gái miền Tây không chút giấu giếm và đùa giỡn. Nhìn sâu vào mắt chị, tôi biết chị nói thật.

Có lẽ nào, tôi tự nhủ trong lòng. Ông Nguyễn Hiến Lê mà chị ấy không biết sao. Tôi cứ nghĩ một vị học giả lẫy lừng như ông chí ít ai từng cắp sách đến trường đều biết. Huống hồ, chị là một nhân viên kế toán kiêm luôn chân giữ thư viện huyện mà lại lạ lẫm với cái tên quen thuộc ấy sao. Kỳ lạ! Ngửa mặt nhìn tấm bảng hình chữ nhật treo vững vàng trên bậu cửa, tôi nhẩm lại dòng chữ “Phòng Văn hóa Thông tin huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp”. Không lẽ nào.

Khi đọc xong cuốn “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười”, tôi nổi hứng muốn đi tìm mộ tác giả để thắp một nén nhang biết ơn. Nhớ có lần đọc trong một cuốn sách nói rằng mộ ông nằm ở Lai Vung, tôi phóng xe Honda đến đó. Tôi nghĩ, với một người có nhiều đóng góp cho nền văn hóa như ông, chắc sẽ có một khu mộ đàng hoàng mà chỉ cần hỏi nhỏ người dân ở đó là biết. Cho nên, ngay cả khi chị Dương nói một câu rất chân thật nhưng phũ phàng, tôi cũng không suy suyển lòng tin.

Ng Hien Le 1Tôi tự an ủi, chắc chị nghe không rõ tiếng tôi, cũng có thể là chị chưa kịp nhớ ra. Tôi cẩn thận ghi tên ông ngay ngắn vào một tờ giấy rồi đưa chị đọc. Chị đọc đi đọc lại một cách chậm rãi như thể đầu óc đang làm việc hết công suất để sàng lọc từng milimet trí nhớ hòng tìm ra cái tên Nguyễn Hiến Lê. Cuối cùng, chị trả lại tôi mảnh giấy với nụ cười e lệ :

–  Chị không biết thật rồi. Chắc anh Tú, trưởng phòng Văn hóa Thông tin biết. Để chị dẫn em vô gặp anh ấy nhé.

Tôi lẽo đẽo theo chị trong lòng khấp khởi mừng. Nếu quả thật người tôi đang đi tìm có ở Lai Vung và nổi tiếng như thế thì trưởng phòng Văn hóa Thông tin huyện biết là cái chắc. Anh Tú có phòng làm việc riêng, trên bàn chiếc máy tính nối mạng. Sau khi nghe nguyện vọng của tôi, anh nhún vai nói giọng rề rà nhưng chắc nịch.

–  Anh chưa nghe tên ông ấy bao giờ. Chắc em lầm với ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc rồi.

Tôi nhủ thầm, người miền Tây thích đùa và biết cách đùa khéo quá. Chắc anh ấy thử mình thôi chứ với chức vụ anh ấy mà không biết ông Nguyễn Hiến Lê thì còn ra thể thống gì nữa. Tôi cố nở một nụ cười hỏi lại anh bằng giọng nhẹ tênh:

–  Anh không biết ông ấy thật à ?

–  Thật mà. Ông ấy là ai vậy em ? Anh hỏi lại tôi hết sức bình tĩnh như đang chờ được cung cấp thông tin về một con người xa lạ. Nhìn chiếc máy tính, tôi đề nghị:

–  Anh cho em mượn máy tính chút nhé ? Anh đồng ý.

Tôi gõ tên ông vào Google, cả một núi thông tin về ông xổ ra nhưng không có một chi tiết nào đả động đến chuyện mộ ông hiện ở đâu. Anh trưởng phòng đứng cạnh tôi nheo mắt chăm chú đọc. Cuối cùng anh à lên một tiếng:

Ng Hien Le 4–  Ông này cũng nổi tiếng dữ hen.

Thấy anh có vẻ say sưa, tôi bỏ ra ngoài hiên ngồi mong nguôi ngoai cơn thất vọng đang dâng lên trong lòng. Có vẻ như ông trời cũng biết tôi buồn, nên đang nắng ngon lành, tự dưng đổ mưa xối xả. Cơn mưa giữa trưa đuổi bắt nhau trên những tấm tôn lúp xúp, xám màu. Mưa níu chân tôi lại nơi góc hiên thư viện. Ngồi xuống chiếc ghế đá lạnh lẽo, tôi tự hỏi mình còn cách nào không, còn mối quan hệ nào tôi chưa chạm tới để tìm ra mộ ông không. Tôi có cảm tưởng mình đang phiêu lưu trong khu rừng rậm rạp để tìm kiếm một linh hồn bí ẩn trên sách vở. Giây phút linh hồn mỏng manh kia vút lên trời cao khiến tôi thấy lòng hồi hộp một cách lạ kỳ. Tôi chỉ mới hỏi han hai người, quá ít để đi tới một kết luận. Hẳn phải còn một khe hở nào đó mà tôi chưa tìm ra.

Chợt nhớ bà cô dạy văn hồi cấp 3. Quê của cô ở Lai Vung thế nào cô cũng có chút thông tin về mộ ông Nguyễn Hiến Lê nếu nó thật sự ngự trị tại đây. Cô là người học cao hiểu rộng chắc sẽ giải đáp được thắc mắc cho tôi. Không chần chừ đến một giây, tôi hăng hái bấm số điện thoại của cô. Tiếng bên kia đầu dây đánh thức những dây thần kinh trong người tôi đến mức phấn khích như người chết đuối vớ được chiếc phao. Nhưng đôi khi, phao không đưa ta đến bờ được. Cô biết ông nhưng không biết mộ ông nằm ở đâu. Cô hứa sẽ gọi điện hỏi thăm bà con ở Lai Vung xem thử có ai biết không, và dặn tôi chờ.

Còn ai có thể trả lời câu hỏi của tôi đây ? Nhà giáo không biết liệu nhà văn có hơn không ? Nghĩ thế tôi không ngần ngại bấm số của một anh nhà văn. Tôi tin rằng giới văn nghệ sĩ rất rành mấy chuyện bên lề này. Anh bạn tôi là người hay giang hồ vặt, lại thêm dân miền Tây, chắc sẽ có những thông tin hay ho. Ng Hien Le 5Nhưng câu hỏi của tôi thuộc loại khó nuốt, anh biết rất rõ ông Nguyễn Hiến Lê nhưng cái vụ mồ mả thì anh bí. Anh nói sẽ gọi những bạn văn của anh để hỏi xem có ai biết không. Lại một lời hứa.

Đã hỏi hai “nhà” rồi, tôi hăng hái hỏi nốt nhà báo cho đủ bộ tam. Nhà báo đi còn ác liệt hơn nhà văn và giao thiệp rộng, sao lại không hỏi thử nhỉ ? Đã mất công đi xuống tận đây thì lẽ nào lại đi về tay không ? Tôi tìm số anh nhà báo quê miền Tây. Sau hồi chuông thứ nhất, anh bắt máy liền. Vừa nghe câu hỏi của tôi xong, anh đáp lại bằng một tràng cười sặc sụa. Có vẻ như chuyện tôi đang làm buồn cười lắm. Khi không lại đi tìm mộ một người không phải họ hàng thân thích, chưa một lần gặp mặt, chỉ biết qua những trang sách. Thật điên rồ ! Cuối cùng, anh cũng nín được cười để trả lời tôi một cách rõ ràng và mạch lạc rằng không biết.

Ngoài kia mưa vẫn rơi, gió vẫn thổi, và tôi ngồi đây, lục tìm trong danh bạ số điện thoại của một người quen ở Đồng Tháp, bất chợt bàn phím ngừng ở số tổng đài 19001080. Tại sao lại không gọi nhỉ ? Tổng đài là nơi giải đáp mọi thắc mắc từ quan trọng đến tầm phào mà. Hơn nữa, nơi ấy đâu chỉ có một cái đầu. Tôi bấm số tổng đài. Tiếng tút tút dài đằng đẵng kết thúc bằng giọng nhẹ nhàng của cô nhân viên. Nhưng nghe yêu cầu của tôi xong, giọng cô có vẻ khác. Tôi nghĩ rằng cô đã phải nhịn cười. Cô nói tôi chờ máy để cô tra cứu thông tin. Một phút. Ba phút. Năm phút trôi qua. Đến phút thứ sáu, cô nói rằng tổng đài của cô chưa cập nhật thông tin này và mong khách hàng thông cảm. Tôi có thể thông cảm và hiểu cho yêu cầu kỳ quặc này, nhưng sẽ thật là có lỗi với người đã khuất khi ông mất đến nay là tròn 25 năm. 25 năm mà chưa cập nhật thì bao giờ mới cập nhật đây?

ng-hien-le-8Chị Dương thấy tôi cầu cứu hết mọi nơi mà không kết quả gì cũng ái ngại giùm tôi.

– Em tính đi đâu bây giờ ?

– Em cũng không biết nữa. Tôi nghĩ đến đoạn đường về.

– Em có muốn về nhà chị ăn cơm không ?

Có người nhắc, tự dưng cái bụng tôi đâm ra dở chứng. Tôi biết người miền Tây rất hiếu khách nhưng không ngờ hôm nay lại được mục kích sự hào sảng ấy. Cớ gì lại từ chối lòng tốt của một người như chị nhỉ?

– Em không làm phiền chị chứ?

– Phiền gì đâu. Về cho biết nhà. Sau này có xuống Lai Vung thì ghé nhà chị chơi.

Trời đã tạnh. Cơn mưa ban trưa như gột rửa cái nóng mùa hè, để lại những vũng nước loang loáng trên đường. Chị chạy xe đi trước, tôi rà rà theo sau. Mái tóc chị bay bay trong gió làm tôi nhẹ lòng. Nếu chuyến đi này không tìm được mộ ông Lê thì ít nhất, tôi cũng có thêm được một người chị dễ thương. Tóm lại là không lỗ.

Từ phòng Văn hóa Thông tin đi chừng 2 km nữa là tới nhà chị. Ngôi nhà lá nằm im ắng bên đường quốc lộ. Cả nhà đang xem ti vi nên không ai chú ý đến tôi. Mọi người chỉ lao xao về tôi khi nghe tôi hỏi mộ ông ng-hien-le-7Nguyễn Hiến Lê. Ba má chị là người sống gần hết một đời ở đây cũng không biết mộ ông ở đâu. Thấy vậy, tôi không hỏi thêm ai nữa. Tôi còn nhớ lời tựa của ông Nguyễn Hiến Lê mở đầu cho cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục có đoạn như sau : “Mà có bao giờ người ta nghĩ đến việc thu thập tài liệu trong dân gian không ? Chẳng hạn khi một danh nhân trong nước qua đời, phái một người tìm thân nhân hoặc bạn bè của người đã mất, để gom góp hoặc ghi chép những bút tích cùng dật sự về vị ấy, rồi đem về giữ trong các thư khố làm tài liệu cho đời sau.

Công việc có khó khăn tốn kém gì đâu, mà lại có lợi cho văn hóa biết bao. Có như vậy các người cầm bút mới có tài liệu để soạn sách, còn như bây giờ thì một nhà văn Việt viết tiểu sử Tản Đà còn khó hơn viết tiểu sử của Molier, của Shakespeare, của Tolstoi. Thực là ngược đời nhưng rất dễ hiểu. Vì tra cứu ở đâu bây giờ để viết về đời sống của Tản Đà ?” Thật không ngờ, điều ông luôn canh cánh trong lòng đến khi mất lại vận vào chính đời ông.

Tôi đi tìm nơi an nghỉ của ông chỉ vì lòng kính trọng. Theo tôi, ông là một trí thức thứ thiệt lúc nào cũng trăn trở vun vén cho văn hóa nước nhà. Ông đã góp vào nền văn hóa Việt Nam một số lượng tác phẩm đồ sộ gấp bốn lần thời gian ông làm việc. Nhưng quan trọng hơn, đó là nhân cách sống của ông: giản dị và tự trọng. Một con người như thế rất đáng để tôi đi tìm và thắp một nén nhang chứ.

Có điều, tôi vô duyên, không tìm được mộ ông dù biết là ông chỉ nằm đâu đó quanh đây. Tôi biết ông qua một người thầy đáng kính. Đúng rồi, người thầy của tôi. Sao tôi không nghĩ ra nhỉ ? Tôi cuống quýt gọi điện, thầy cười nói đi mà không rủ, ra nông nỗi này ráng chịu. Thì thầy cũng chưa tới mà, xem như chuyến này em đi dò đường trước, lần sau dẫn thầy đi mới ngon lành chứ. Thầy cười ha hả bảo được, rồi nhắn cho tôi địa chỉ mộ ông.

Tôi hí hửng chạy lại khoe với chị Dương cái tin : “Mo Nguyen Hien Le o chua Phuoc An – gan nga tu Cai Buong, Vinh Thanh, Lai Vung”. Cả nhà chị xúm xít quanh tôi khi nghe nói tôi đã tìm ra nơi an nghỉ của ông. Tôi sung sướng đọc to rồi hồ hởi hỏi đường đi đến đó, nhưng lạ thay, tôi đọc xong mà chẳng ai hiểu đó là đâu. Cuối cùng, ba chị Dương đoán một hồi mới rõ đó là ngã tư Cai Bường, thuộc xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò chứ không phải Lai Vung. Té ra, cả cuốn sách tôi đọc lẫn tin nhắn của thầy đều sai tên huyện. Ba chị Dương dặn:

ng-hien-le-6–  Từ Lai Vung con đi thêm khoảng 10km nữa dọc theo quốc lộ 80 là sẽ tới ngã tư Cai Bường. Tới đó con hỏi chùa Phước Ân ai cũng biết hết.

Từ biệt ngôi nhà thân thiện, tôi tiếp tục cuộc khám phá. Mưa bắt đầu nặng hạt quất vào mặt, vào mũi, vào áo mưa ràn rạt nhưng tôi không cảm thấy rét buốt. Có điều gì đó cựa quậy trong lòng, vừa đê mê vừa khấp khởi. Tôi thấy con đường trắng xóa trong màn mưa như những bông tuyết bay lững lờ trong không trung. Giọt mưa nào ngọt ngào rớt lên môi mắt tôi. Giọt mưa nào tắm mát tâm hồn tôi. Đường mưa vắng tanh không một bóng người. Tịnh như chốn này chỉ có mình tôi và linh hồn ai đó đang luẩn khuất trong mưa, hí hửng và reo vui.

Vĩnh Thạnh nghèo nàn và ướt át chào đón tôi. Từ ngã tư Cai Bường rẽ tay trái vào hơn 1km đường đất nữa là tới chùa Phước Ân. Con đường len lỏi qua những vườn cây ăn trái xanh mướt và một cây cầu gỗ bắc ngang con kênh. Nhà dân nằm im lìm dưới tán lá như trái chín giấu mình sau vòm lá. Không khí thuần khiết hòa vào hương xoài dịu êm khiến tôi ngẩn ngơ. Người thiên cổ về chốn điền viên này nằm, sáng nghe tiếng chuông chùa, chiều nghe tiếng sóng vỗ, làm tôi cũng phát ham.

Chùa Phước Ân hiện ra trước mắt tôi vừa trang nghiêm lẫn thân thiện. Ngôi chùa đơn sơ ẩn hiện sau lớp lá bồ đề lóng lánh nước mưa. Tôi dắt xe chầm chậm qua sân chùa. Không một bóng người. Không gian im ắng. Đang khi tôi không biết hỏi ai thì có một bà cụ đi ra. Bà mặc áo nâu sòng, mái tóc đã hoa râm. Tay bà cầm cỗ tràng hạt đang lẩm bẩm tụng kinh. Nghe tôi hỏi mộ ông, bà nói:

Tr cau hoi 2– Ông Lê viết sách chứ gì?

– Vâng ạ.

Nhìn tay chân tôi tím tái, bà lặng lẽ mời vào phòng khách. Trong gian phòng ấm cúng bên ly trà nóng, bà cụ hỏi tôi có bà con thân thích gì với ông ấy không ? Sao lại đi thăm mộ lúc trời mưa gió như thế này ? Làm thế nào mà biết ông nằm ở đây ? Tôi ngồi hầu chuyện bà cụ một hồi đủ để giải thích cho bà hiểu tôi chẳng là gì của ông cả và đi tìm mộ ông chỉ để thắp một nén nhang vì lòng mộ mến thôi.

Nghe xong bà cười, rồi bà kể tôi nghe chuyện cách đây khoảng một tháng, cũng có cậu sinh viên đến viếng mộ ông ấy. Cậu ta còn mua trái cây, đèn nhang cho ông ấy nữa. Bà chưa đọc sách ông nên hỏi ông ấy viết sách hay lắm sao mà mất lâu thế vẫn còn có người nhớ đến.

Tôi trả lời ông ấy không những viết hay mà còn rất hữu ích nữa. Nghe thế, bà dẫn tôi vào chánh điện, nơi khung ảnh ông Nguyễn Hiến Lê được treo bên cạnh người vợ thứ hai của ông, bà Nguyễn Thị Liệp. Sau khi ông mất, bà Liệp xuất giá đi tu và trước khi bà mất, bà nói con cháu hãy đem ông bà về đây an nghỉ. Phía sau lớp kính mờ ảo, nụ cười ông vẫn tươi rói và đôi mắt dường như vẫn dõi theo trần đời.

–  Đi theo bà, bà dẫn cháu ra mộ ông ấy.

Bên trái chùa có một khoảng đất rộng dành cho những người đã qua đời an nghỉ. Ngôi mộ ông Nguyễn Hiến Lê nằm lọt thỏm trong số khoảng 20 ngôi mộ khác. Không có gì đặc biệt cho thấy đó là ngôi mộ của một con người lỗi lạc. Nó nhỏ nhắn và giản dị như chính cuộc đời ông. Cạnh mộ, hoa đổ nhang tàn.

Tôi cắm vào lư hương nén nhang thành kính. Hương trầm tỏa bay. Cay cay khóe mắt. (theo Trần Thị Trung Thu)

Ng Hien Le 3Những năm cuối đời

Năm 1980 ông Nguyễn Hiến Lê về lại Long Xuyên. Cùng năm ông bắt đầu viết Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, đến tháng 9 năm 1980 thì hoàn thành. Đồng thời ông tách những đoạn nói về văn nghiệp ra riêng, sửa chữa, bổ sung và biên tập lại thành cuốn sách Đời viết văn của tôi. Tác phẩm này được sửa chữa xong vào năm 1981, sau đó sửa chữa thêm và hoàn chỉnh vào năm 1983.

Ông lâm bệnh và mất lúc 8 giờ 50 phút ngày 22 tháng 12 năm 1984 tại Bệnh viện An Bình, Chợ Lớn, hưởng thọ 73 tuổi. Linh cữu của ông được hỏa thiêu vào ngày 24 tháng 12 năm 1984 tại đài thiêu Thủ Đức. Việc hỏa táng và làm tang lễ, ma chay đơn giản là ý nguyện của Nguyễn Hiến Lê lúc sinh thời.

Sau khi hỏa thiêu,di cốt của ông được đem về chôn cất trong khuôn viên nhà bà Nguyễn Thị Liệp (người vợ thứ hai của ông) ở thành phố Long Xuyên. Năm Kỷ Mão (1999), bà Liệp tạ thế và được an táng trong khuôn viên chùa Phước Ân ở Rạch Cai Bường (thuộc xã Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp), thì tro cốt của ông cũng được đặt bên trên phần mộ của bà.

Ðôi nét về cụ Nguyễn Hiến Lê

Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) quê ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Ông được biết đến như một nhà văn, học giả, dịch giả, nhà giáo dục.

Xuất thân từ một gia đình nhà Nho, ông học tại Hà Nội. Năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội, sau đó làm việc tại miền ​Nam. Sau thời điểm  tháng Tám năm 1945, ông đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952, ông chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.

Tr Blogger 1Nguyễn Hiến Lê đã dành trọn phần đời còn lại của mình để miệt mài viết sách. Ông có khoảng 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn, dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế…

Ông làm việc đều đặn 13 tiếng đồng hồ mỗi ngày, gồm sáu tiếng đọc tài liệu và hơn sáu tiếng để viết. Nhờ áp dụng nghiêm ngặt thời gian biểu này, ông đã hoàn thành một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Nhiều tác phẩm của ông trở thành cuốn sách gối đầu giường của thanh niên trẻ. (TH.C sưu tầm theo Wikipedia)

Logo que huong 1

9 Gai dep 1NHỮNG VÙNG ĐẤT

CÓ NHIỀU CON GÁI ĐẸP

NHẤT VIỆT NAM

Cùng tìm hiểu nguyên nhân lịch sử vì sao nơi đây lại có nhiều phụ nữ đẹp như vậy.

1/. Gái đẹp Tuyên Quang – đằm thắm, thanh thoát : Câu thành ngữ “Chè Thái, gái Tuyên” không biết có từ bao giờ nhưng đến nay đã trở thành câu cửa miệng, ví hương vị tinh tế, thơm ngọt khó quên của chè ở vùng đất Thái Nguyên với nét đằm thắm, thanh thoát của những người con gái đẹp xứ Tuyên.

Nếu như chè Thái Nguyên đã trở thành đặc sản nức tiếng thì vẻ hút hồn của con gái đẹp Tuyên Quang cũng khiến lòng người thổn thức. “Gái đẹp xứ Tuyên” không chỉ cuốn hút ở hình thức bên ngoài mà còn làm say lòng người với vẻ đẹp tâm hồn. Đó là nét dịu dàng, đằm thắm, nết na, sự khéo léo trong cách ăn, ở, đi đứng, nói năng.

Chan trauTheo một số tài liệu ghi lại, nơi này xưa là thành trì của vua tôi nhà Mạc nên cũng lắm mỹ nhân tụ hội làm thê thiếp. Vương triều sụp đổ, nhiều cung tần ly tán và cưới dân thường, dần sinh sôi bao thế hệ người con gái đẹp.

Thêm nữa, đây là vùng đất trung du miền núi có sông Lô, hồ Na Hang, núi Bạch Mã, Cham Chu… hội đủ linh khí hiền hòa lẫn hoang dã dữ dội của trời đất khiến con người luôn khỏe đẹp, tươi vui.

2/. Gái Hà thành – vẻ dịu dàng, nền nã, thùy mị : Những người con gái đẹp đất kinh kỳ luôn toát lên vẻ đẹp của sự dịu dàng, nết na, thùy mị, đảm đang. Nét đẹp của thiếu nữ Hà thành xưa không chỉ thể hiện ở gương mặt, dáng người mà còn ở cách ăn mặc, đi đứng, nói năng.

Nét tề chỉnh là đặc trưng của gái đẹp Hà thành, sang mà không loè loẹt, đẹp mà nền nã; dù chỉ mặc áo vải thường cũng vẫn phẳng phiu, gọn ghẽ, kín đáo. 9 Gai dep 2Con gái Hà Nội ngày ấy biết cách trang điểm hơn ai hết. Chỉ phớt qua một chút phấn, phủ một lớp son nhẹ, kín đáo một giọt nước hoa nơi bàn tay, trong chiếc khăn tay, chỉ đủ thoảng nhẹ như một hương nhài thơm xa cũng đủ làm người người say đắm.

Vẻ cổ điển, dịu dàng nhưng không kém phần tinh tế của thiếu nữ Hà thành được kế thừa từ nét đẹp văn hóa của con người Thăng Long – Hà Nội ngàn năm tuổi.

3/. Người con gái đẹp Nha Mân – hậu duệ của cung tần mỹ nữ xưa : Có lẽ câu ca dao “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân” đã lột tả chính xác về miền đất nổi tiếng nhiều giai nhân, mỹ nữ này.

9 Gai dep 3Nha Mân là địa danh thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

Hàng trăm năm nay, Nha Mân nổi danh là vùng đất có nhiều người con gái đẹp. Theo một số tài liệu ghi lại, vào năm 1985, chúa Nguyễn Ánh sau khi thua quân Tây Sơn trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút đã cùng cả đoàn từ tướng đến quân, tùy tùng, hậu cung theo sông Tiền bỏ trốn. Đến vùng Nha Mân này, bị quân nhà Nguyễn truy đuổi gắt quá nên buộc phải bỏ lại hàng trăm thê thiếp ở đây để chạy.

Tương truyền, những mỹ nhân bị “bỏ rơi” sau đó lấy chồng là người địa phương, trở thành nông dân nhưng con cái do họ sinh ra đều đẹp như tiên đồng ngọc nữ. Chính nhờ dòng máu cung phi mỹ nữ mà xứ Nha Mân mới có nhiều người con gái đẹp như ngày nay.

4/. Miền gái đẹp Huế – đoan trang, dịu dàng, nhỏ nhẹ và có duyên : Nói năng từ tốn, điềm đạm nhưng lại quả quyết, dứt khoát là nét cuốn hút đặc trưng của người con gái đẹp sông Hương.

Giọng nói nhỏ nhẹ và rất duyên của những người con gái đẹp Huế được một nhà thơ mô tả một cách hình tượng : “Em ơi giọng Huế có chi. Mà trong hoa nắng thềm thì cơn mưa”.

9 Gai dep 4Trong lịch sử, Huế từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong rồi trở thành kinh đô của nước Đại Việt thời Quang Trung – Nguyễn Huệ nên ngoài cung cấm còn có nhiều phủ đệ, quan viên, con vua cháu chúa rất nhiều. Sinh hoạt của tầng lớp quý tộc, trong đó có cách ăn nói của họ đã ảnh hưởng đến lối sống của vùng đất này.

Vua chúa với quyền uy của mình không cần ăn to nói lớn, quan lại cũng không dám nói mạnh trước đức vua và triều thần. Ở kinh đô, tai vách mạch dừng, lời nói phải từ tốn nhỏ nhẹ, tránh lỡ lời mà mang vạ vào thân.

Chốn kinh đô cũng cần sự trang nghiêm, kính cẩn, yên tĩnh cho sinh hoạt của vương triều cũng như cộng đồng xã hội phong kiến nơi đây. Trong suốt gần 350 năm, phong thái ấy đủ để lại dấu ấn trong cách giao tiếp, ứng xử của con người Huế.

5/. Mường So – “Vùng đất mỹ nữ” ở Tây Bắc : Ở thung lũng Mường So (Phong Thổ, Lai Châu) có một truyền thuyết kể rằng Nàng Han, người con gái Thái đẹp nhất trời Tây Bắc, đã ban cho người dân nơi đây một dòng suối quý được “hóa thân” từ bộ váy áo của mình để hàng nghìn năm sau, bất cứ thiếu nữ nào tắm gội, vẫy vùng trên dòng suối ấy đều trở nên xinh đẹp lạ thường. Tương truyền, những cô gái tắm gội trên dòng suối Mường So đều có làn da căng mịn, tràn đầy nhựa sống.

Theo những bậc cao niên trong vùng, Nàng Han được sinh ra trên đất Mường So. Trong tâm linh của khắp xứ Thái, xứ Mường Tây Bắc, 9 Gai dep 5Nàng Han là biểu tượng của người con gái tài giỏi và có vẻ đẹp vẹn toàn như hoa ban buổi sớm.

Vẻ đẹp ấy đã được khắc họa trong câu hát :

“Người đẹp ra suối tắm, cá tìm về xem chân. 

Người đẹp đi lên nương, dâu, lúa tìm về xem tay. 

Người đẹp đi lên rừng, hoa tìm về xem mặt. 

Người đẹp hát trong rừng, chim ngập ngừng lắng nghe. 

Người đẹp bước chân xòe, trai Mường So ngây ngất…”

Không chỉ có nhan sắc rực rỡ, Nàng Han còn có đôi tay khéo léo, đặc biệt là trong việc kéo sợi, thêu thùa, dệt vải. Khi giặc ngoại xâm kéo đến xâm lược Mường So, Nàng Han đã anh dũng đứng lên kêu gọi trai tráng dựng cờ giết giặc. Thắng trận trở về, nàng được nhân dân trong vùng chào đón và suy tôn là “nữ tướng”.

Một đêm sáng trăng, Nàng Han trút bỏ bộ áo cóm, một trang phục của thiếu nữ Thái, để bay về trời. Bộ váy áo đó đã biến thành dòng suối Mường So mà bất cứ người con gái nào tắm ở đó thì đều có làn da đẹp tựa ban trắng trên rừng, môi đỏ như quả bồ quân. Nhờ dòng suối quý, Mường So trở thành “miền mỹ nữ” từ đó.

6/. Thiếu nữ Thái có vẻ đẹp vẹn toàn như hoa ban buổi sớm : Cũng từ ngày ấy, các vị vua, chúa đất ở khắp miền Tây Bắc đều cho người đi tìm những cô gái đẹp ở Mường So mang về dinh thự để đưa vào đội múa xòe.

9 Gai dep 6Các cô được chọn phải có làn da thật trắng, mái tóc đen nhánh, đôi chân cao thẳng, eo thắt, ngực nở và nhất là gương mặt phải đậm đà, xinh tươi như đóa hoa rừng mới nở.

Ngay cả đến những năm đầu thế kỷ 20, Mường So vẫn vang danh là vùng đất nhiều mỹ nữ. Không chỉ những chúa đất vùng sơn cước mà quan ta, quan Tây miền xuôi cũng luôn khao khát được một lần diện kiến nét đẹp đến mê hồn của những cô gái với điệu xòe Thái quay cuồng làm nghiêng ngả núi rừng.

7/. Miền gái đẹp xứ Thanh : Người dân tộc Thái ở Mường Lè (huyện vùng cao Quan Hóa, Thanh Hóa) khai thiên, lập địa ở mảnh đất mạch rồng cuộn, nước dồi dào, sản vật núi rừng nhiều vô kể, nên đời sống đồng bào nơi đây luôn ấm no, hạnh phúc.

Mảnh đất lành này là nơi sinh ra những cô gái Thái đẹp hút hồn, hấp dẫn lạ thường. Cái đẹp của cô gái Thái Mường Lè đến từ đôi mắt biết cười, nước da trắng như trứng gà bóc, giọng nói nhẹ nhàng như mật rót vào tai

Lý giải về vẻ mê hồn, đằm thắm rất đặc trưng của cô gái đẹp Thái xứ Thanh, nhiều già làng, trưởng bản kể rằng tổ tiên lập làng bản của họ từng là thổ ty, lang đạo nên lấy vợ đều lựa chọn những cô gái đẹp lộng lẫy ở khắp vùng.

Có tiếng là vùng đất sản sinh ra nhiều cô gái đẹp nên thời điểm vùng bị giặc ngoại xâm tạm chiếm, thỉnh thoảng bọn giặc lại vào vùng bắt những cô gái đẹp đi. Thế nên, cứ mỗi lần nghe tin giặc vào bản bắt người, 9 Gai dep 7-8dân trong bản lại dẫn con, em của mình chốn vào trong rừng cho đến khi chúng rời khỏi bản.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều ý kiến cho rằng con gái Thái nổi tiếng đẹp người, khéo và ngoan hiền, bởi ngay từ nhỏ đã được cha mẹ chỉ dạy rất cẩn thận từng việc làm, ăn uống, đi đứng, nói năng, đối nhân xử thế hiền dịu, không để mất lòng người.

Các cô gái đẹp người Thái ở Mường Lè sống gần gũi với thiên nhiên. Con gái Thái 15-17 tuổi phải thạo việc xe tơ, dệt thổ cẩm, biết làm cái chăn, cái gối, cái đệm, khăn piêu trước khi về nhà chồng.

Họ cũng giữ được vẻ đẹp mặn mà ngay cả khi về làm vợ, làm mẹ bởi những tập tục như hơ người vào lửa sau khi sinh, uống nước sôi đun trong ống nứa….

Lại có phân tích cho rằng vùng đất này có điều kiện tự nhiên tốt lành, độ dốc nhiều con suối và sông Mã cao; nước ở đây được hấp thụ bởi luồng khí trong lành từ những cánh rừng, ngọn núi; ăn uống và hít thở không khí trong lành đã tạo nên dáng vẻ cân đối và làn da sáng mịn, săn chắc của những cô gái đẹp dân tộc Thái ở Mường Lè

8/. “Thôn cung nữ” toàn gái đẹp ở Quảng Ninh : Nghĩ đến con gái Quảng Ninh, nhiều người nghĩ đến nước da đen đúa và bụi bặm, nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Nếu bạn đến với Quảng Ninh, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy con gái vùng than da lại trắng như tuyết.

Đặc biệt, ở vùng đất phật Yên Tử (Uông Bí, Quảng Ninh) có thôn Năm Mẫu được mệnh danh là “thôn cung nữ”, nổi tiếng nhiều người con gái đẹp.

Ao yemTruyền thuyết kể rằng, Thượng hoàng Trần Nhân Tông cách đây trên 700 năm, một ngày mùa đông đã từ bỏ kinh thành Thăng Long đi về hướng đông để tìm núi tu luyện, đến vùng đất Yên Tử thì dừng chân. Lúc đi có 300 cung tần mỹ nữ theo hầu.

Khi đến Yên Tử, do không được vua cho ở cùng nơi đất Phật, nên các cung tần mỹ nữ lâm vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Đường về kinh thành thì xa xôi vạn dặm, quân lính của tân vương phong tỏa khắp nơi, ở cũng khó mà đi cũng khó. Để giữ trọn đạo, 300 cung tần mỹ nữ đã trầm mình xuống con suối giữa đại ngàn Yên Tử.

Đúng thời điểm đó có 5 chàng trai người Dao bản địa đi kiếm củi về ngang qua đã nhảy xuống và cứu được 5 cô gái đẹp. Để tri ân, những cô gái này xin được làm vợ để “nâng khăn sửa túi” cho chàng trai đã cứu mình. Nhờ dòng máu của những giai nhân đến từ kinh thành, con gái của vùng đất này được thừa hưởng vẻ đẹp sắc nước hương trời cũng như phong cách lịch lãm.

Khi năm bà cung nữ qua đời, dân làng Thượng Yên Công đã lập đền thờ, gọi là đền Năm Mẫu. Ngôi đền này hiện vẫn nằm ở Thượng Yên Công và khu vực được tương truyền có 5 cung tần làm dâu không biết tự lúc nào có tên là thôn Năm Mẫu.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp