TỬ VI TÂY PHƯƠNG THÁNG 5/2017

GIEO QUẺ THÁNG 5/2017 CỦA BẠN

1/- BẢO BÌNH (20/1 – 18/2)

Trong tuần đầu của tháng 5, tâm trí của Bảo Bình làm việc khá vất vả khi cùng lúc phải giải quyết công việc với cường độ cao, bên cạnh đó vài vấn đề rắc rối trong  gia đình và với thân hữu cũng nảy sinh. Bảo Bình luôn sáng suốt khi lập kế hoạch cho những tháng sằp đến, và hãy tận dụng điều này để tạo ra một thế đứng trong công việc, sau đó sẽ có những buổi nhàn rỗi để đi chơi hay bữa ăn nhỏ với người thân, còn nếu độc thân Bảo Bình sẽ tìm thấy một tình cảm mới xuất hiện, nhằm giải quyết những khúc mắc trong mối quan hệ của bạn trước đây.

Tuần thứ ba của tháng, Bảo Bình hãy giữ một “cái đầu lạnh” nếu không muốn có những suy nghĩ lệch hướng. Bạn cũng không nên tiết lộ bí mật với bất kỳ ai. Nó sẽ làm bạn gặp phải rắc rối vì một ai đó. Thời điểm cuối tháng, Bảo Bình sẽ nghe theo trái tim hơn là lý trí. Điều này giúp bạn tìm được sự bình yên trong tâm hồn. Hãy chú ý tới thể chất bởi nếu không, bạn đang vô tình làm cho các bậc phụ huynh lo lắng khi công việc bề bộn chiếm trọn lấy bạn.  Đừng vì thế mà nản lòng bởi Bảo Bình sẽ có sự giúp đỡ từ những người ngoài cuộc, họ sẽ là người thông thái khi bạn đang bù đầu với từng ấy vấn đề.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 21, 22, 23

Ngày không may mắn: 4, 5, 18, 19, 24, 25, 31

Ngày cho tình yêu: 1, 2, 3, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 15, 17, 18, 20, 21, 27, 29, 30

Ngày cho công việc: 3, 4, 5, 13, 22, 31

2/- SONG NGƯ (19/2 – 20/3)

Chiêm tinh tháng 5 này cho thấy, áp lực trong công việc sẽ là thử thách lớn khi Song Ngư đảm nhận một vài việc nằm ngoài khả năng của mình. Từ tuần thứ 3 của tháng, tình hình tài chánh của Song Ngư sẽ được cải thiện và bạn có thêm ý tưởng cho những dự án từ lâu không động tới vì thiếu khả năng cho các chi phí. Các mối quan hệ sẽ trong tầm kiểm soát khi Song Ngư chú ý tới lời nói, đặc biệt Song Ngư có khả năng giao tiếp với người có tính cách khó gần.

Tháng 5 này Song Ngư cũng đừng tự cho mình quyền chỉ đạo người khác bởi nếu không có sự đồng thuận, bạn sẽ thất bại từ công việc cho đến tình cảm cá nhân. Song Ngư hãy dành thời gian lắng nghe những người thân trong gia đình hay người khác giới, bạn sẽ thấy tâm tình cởi mở và gắn bó hơn với họ. Qua tháng sau bạn sẽ có dự tính đi du ngoạn cho khuây khỏa những ngày bị áp lực công việc. Việc này bạn hảy mạnh dạn thực hiện vì nó sẽ làm tinh thần bạn thêm phấn chấn.

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28

Ngày không may mắn: 4, 5, 11, 12, 24, 25, 31

Ngày cho tình yêu: 2, 3, 4, 5, 13, 14, 22, 23, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 3, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 24, 25

3/- BẠCH DƯƠNG (21/3 – 19/4)

Tuần đầu tiên của tháng 5 này,Bạch Dương sẽ tìm được các giải pháp và nhận được sự giúp đỡ, động viên từ bạn bè, đồng nghiệp cho các vấn đề của mình. Bạch Dương không nên tham gia tranh chấp hay tranh luận gì trong tuần đầu tiên này, sẽ dẫn tới những hậu quả không hay, làm giảm danh tiếng của bạn. Những Bạch Dương thông minh sẽ nhận được nhiều cơ hội trong tuần này.

Nếu Bạch Dương muốn đầu tư tiền vào dự án nào đó, hiệu quả sẽ được thể hiện ngay trong tuần thứ hai của tháng. Và Bạch Dương sẽ cực kỳ bận rộn, đặc biệt là khi khối lượng công việc hàng ngày tăng lên và đòi hỏi sự kiên nhẫn và chăm chỉ. Hãy tin vào khả năng của mình..

Những ngày giữa tháng đòi hỏi Bạch Dương phải cẩn trọng cao độ. Bạn cần chú ý lời ăn tiếng nói cho tới việc đi lại. Công việc sẽ khởi sắc trong tuần này. Bạch Dương phải thêm thời gian cho khối lượng công việc đang tăng lên nhiều. Tuần lễ cuối tháng sẽ đem đến cho Bạch Dương nhiều lo lắng và bất an về sức khỏe. Cố gắng giữ sự bình thản, điều này rất có ích cho bạn. Bạch Dương sẽ nhận được sự giúp đỡ của nhiều người, cả tinh thần và tài chính. Hãy lạc quan khi xây dựng một số mối quan hệ mới. Điều này sẽ giúp sự nghiệp của Bạch Dương có những tiền đề thuận lợi hơn.

Ngày may mắn: 5, 6, 14, 15, 23, 24, 31

Ngày không may mắn: 2, 3, 10, 11, 16, 17, 29, 30

Ngày cho tình yêu: 5, 6, 14, 15, 21, 22, 25, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 2, 7, 8, 12, 16, 17, 20, 21, 25, 26, 29

Ngày cho công việc: 1, 12, 16, 17, 21, 22, 29

4/- KIM NGƯU (20/4 – 20/5)

Tháng này Kim Ngưu sẽ thỏa mãn với những mong muốn từ đầu tháng khi có nhiều cơ hội xuất hiện. Tuy nhiên, Kim Ngưu cần kiểm soát tính khí cũng như sự tự tin của mình. Thời điểm này Kim Ngưu sẽ rất bận rộn trong tuần thứ hai của tháng này. Sẽ có lúc tâm trí Kim Ngưu không còn trong tầm kiểm soát. Đó chính là lúc bạn cần quan tâm tới sức khỏe.

Trong mối quan hệ với người khác giới, Kim Ngưu nên thận trọng. Có thể bạn sẽ gặp một vài người có ý định lừa đảo, thậm chí bạn còn hỗ trợ họ, bạn sẵn sàng làm vài việc ảnh hưởng tới danh dự bản thân. Vào hạ tuần tháng 5, Kim Ngưu sẽ có một tin vui, đó là bạn sẽ có cơ hội về công việc để thăng tiến. Còn với các Kim Ngưu trung niên sẽ khiến bạn bù đầu. Trong các mối quan hệ, Kim Ngưu không nên dành quá nhiều tin tưởng cho ai đó khi định nói ra bí mật lớn nhất của mình. Sẽ có ai đó lợi dụng sự tin tưởng của bạn để đi ngược lại những gì bạn nghĩ về họ.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 6, 7, 13, 14, 15, 27, 28

Ngày cho tình yêu: 1, 2, 3, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 8, 11, 12, 18, 20, 21, 22, 23, 27, 29, 30

Ngày cho công việc: 6, 7, 13, 14, 15, 17, 18, 27.

5/- SONG NAM (21/5 – 21/6)

Trong công việc, những cơ hội đang đến. Song Nam có thể thay đổi hoàn toàn công việc hay được bổ nhiệm một vị trí mới để tiến thân. Những thay đổi này đều mang tính tích cực. Vào giữa tháng sẽ mang đến những cơ hội tài chính thú vị cho Song Nam. Xét theo khía cạnh nào đó nó có liên quan đến những nhà đầu tư có vị thế trong xã hội. Cơ hội đi công tác xa cũng sẽ đến. Sự nghiệp của Song Nam liên quan đến những cá nhân xung quanh bạn trong những ngày tới. Đây là một khía cạnh tích cực.

Song Nam cần chú ý đến sức khỏe cho đến ngày cuối tháng, vì công việc cần phải dứt điểm nhưng tránh làm quá sức mà hao tổn bản thân. Thời điểm này Song Nam sẽ ở đỉnh cao trong công việc và cũng sẽ thành công trong lĩnh vực tình cảm. Tuy nhiên bạn cần cẩn thận với các vấn đề về tình yêu. Song Nam có thể giải thích những điều bạn nghĩ và những điều bạn cần nói với những người gần gũi quanh bạn. Song Nam muốn người khác chú ý đến những ý tưởng hay thỉnh cầu của bạn. Đây là lý do cho những giải thích trong các cuộc tranh luận.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 8, 9, 10, 16, 17, 22, 23

Ngày cho tình yêu: 2, 3, 6, 7, 13, 14, 16, 17, 18, 22, 23, 27, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 3, 4, 5, 11, 12, 13, 20, 21, 22, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 8, 18, 22, 23, 27

6/- BẮC GIẢI (22/6 – 22/7)

Bắc Giải sẽ bùng nổ trong khả năng sáng tạo, sự khao khát và cả tính cách bướng bỉnh của bản thân. Nếu Bắc Giải đang nghĩ tới việc bắt đầu một dự án mới, đặc biệt là dự án có tính nghệ thuật, thì đây chính là thời điểm để thực hiện.

Còn với những mối quan hệ cá nhân, có thể Bắc Giải sẽ mạnh mẽ hơn bình thường một chút, đặc biệt là trong các vấn đề liên quan đến công việc và điều này sẽ có lợi cho bạn. Bắc Giải hãy đón chờ tin vui vào hạ tuần tháng 5 này, từ tinh thần đến vật chất.

Nửa đầu tháng, Bắc Giải nên cố gắng hài hòa trong cuộc sống, đặc biệt là gia đình. Bắc Giải còn đang độc thân sẽ tìm thấy niềm tin đang mở ngỏ, và có lẽ bạn sẽ quen thêm nhiều bạn mới và thậm chí có thể có những mối quan hệ ngọt ngào mà bản thân không hề kỳ vọng. Sự lãng mạn lên ngôi trong hạ tuần tháng 5, khi mà tình yêu đích thực gõ cửa và cuối cùng Bắc Giải cũng sẵn sàng để đáp lại tiếng gọi của nó.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25

Ngày không may mắn: 13, 14, 15, 20, 21, 27, 28

Ngày cho tình yêu: 2, 3, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 31

Ngày cho tài chính: 10, 11,12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 30

7/- HẢI SƯ (23/7 – 22/8)

Tháng 5 là thời gian để Hải Sư nhìn lại sự thay đổi bên trong của mình. Sự ảnh hưởng của các chòm sao khiến các hoạt động thể dục của bạn hơi khựng lại trong thời gian qua. Đây là lúc khôi phục, có thể đến trung tâm sức khỏe hoặc thử một vài hoạt động thể thao mới.

Đời sống tình cảm của Hải Sư trong tháng 5 này rất tuyệt vời. Những Hải Sư nào còn đang ca bài ca độc thân thì sẽ được lọt vào mắt xanh của ai đó vào tháng này. Nên bạn đừng tự ti mà sắn tay áo xấn tới nhé.

Sức khỏe của Hải Sư sẽ tốt hơn sau ngày 20. Sự đồng chuyển động của Mặt trời và sao Mộc đem đến những dấu hiệu hứa hẹn về tài chính và cơ hội công việc. Đừng ngạc nhiên nếu Hải Sư có sự thăng tiến trong công việc hoặc được của hoạnh tài.

Hãy nói thẳng với những ai đang khiến cho Hải Sư bực dọc, bận tâm. Điều này sẽ khiến cho những tâm hồn bất hòa gặp nhau tại điểm nào đó, và tình bạn tốt sẽ xuất hiện. Dù thjáng này không còn nghỉ dài ngày như vừa qua, nhưng bạn cố sắp xếp một chuyến dã ngoại để lấy lại sự hưng phấn cho tinh thần.

Ngày may mắn: 1, 2, 10, 11, 19, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 3, 4, 17, 18, 24, 25, 31

Ngày cho tình yêu: 8, 9, 17, 18, 24, 25, 29, 30

Ngày cho tài chính: 1, 2, 8, 10, 11, 12, 13, 17, 19, 20, 27, 29, 30

Ngày cho công việc: 3, 4, 8, 9, 18, 29, 31.

8/- XỬ NỮ (23/8 – 22/9)

Mối quan hệ trong gia đình sẽ vẫn bền vững nếu các Xử Nữ không tự ý đi du lịch mà không hỏi ý kiến người thân. Sự giao tiếp khôn khéo sẽ là chìa khóa cho mọi vấn đề trong cuộc sống của Xử Nữ. Tháng này, bạn hãy học cách lắng nghe và đừng vô cớ xen vào vào các cuộc đối thoại hay tranh luận. Tuyệt đối không nên nói to và đừng cố gắng chứng minh quan điểm của mình.

Xử Nữ sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng nhờ đó mà vấn đề tài chính của mình được cải thiện. Công việc sẽ lấy đi nhiều sức lực của Xử Nữ từ đầu tháng, những người trong công việc của bạn họ sẽ dễ nhận ra điều này, và có những đề bạt có lợi cho bạn.

Tuy nhiên vào tuần lễ đầu tháng, Xử Nữ đừng để lỗi lầm trong công việc mà làm bạn mất uy tín về khả năng, khi phát hiện ra bạn hãy tự giác sửa lỗi. Vượt qua tuần lễ này sẽ vào gữa tháng, Xử Nữ sẽ có tin vui về tình cảm hay tin trong gia đình. Vào cuối tháng là thời gian bận rộn cho Xử Nữ phải hoàn thành kế họach được giao. Tránh ăn chơi nhóm họp để dành thời gian cho công việc.

Ngày may mắn: 1, 2, 8, 9, 10, 16, 17, 29, 31

Ngày không may mắn: 6, 7, 13, 14, 15, 27, 28

Ngày cho tình yêu: 2, 3, 8, 9, 10, 13, 14, 22, 23, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 24, 25, 29, 30

Ngày cho công việc: 6, 7, 16, 17, 18, 27

9/- THIÊN XỨNG (23/9 – 22/10)

Cả tháng 5 là khoảng thời gian dài nên được hiểu như là quá trình chuẩn bị cho tài chính phát triển mạnh mẽ về sau. Thiên Xứng thường thành công trong đầu tư ít bị rủi ro, nhưng hiện tại nên tránh xu hướng đầu tư ấy. Nó có thể không sinh lợi nhuận cho Thiên Xứng vì ngôi sao của bạn đang đi đến điểm cuối. Cho nên đến cuối tháng, Thiên Xứng sẽ còn xung đột với các đối tác về vấn đề tiền bạc.

Tháng 5 cho thấy Thiên Xứng tổn tài đừng nghĩ chuyện đi du lịch để xã stress hoặc ít nhất là cho việc đi khỏi thành phố. Tuần lễ cuối tháng này sẽ mang đến khoảng thời gian cho Thiên Xứng yên tĩnh và dự tính cho sự phát triển nghề nghiệp vào năm sau. Thiên Xứng có thể sửa đổi ý tưởng của mình sau khi lắng nghe góp ý từ người khác.

Cố gắng tránh đừng để bản thân quá mệt mỏi này trong tháng này, điều này làm giảm năng lượng của Thiên Xứng và khiến bạn bị tật bệnh kéo đến. Tháng này có người thân quen giới thiệu bạn với một người khác giới, và Thiên Xứng có thể sẽ ngã lòng vì người này đấy, nhưng nên suy xét cho cẩn thận.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25

Ngày không may mắn: 4, 5, 11, 12, 18, 19, 31

Ngày cho tình yêu: 2,3, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 16, 17, 22, 23, 24, 25, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 30

Ngày cho công việc: 6, 7, 16, 17, 18, 19, 24, 25

10/- HỔ CÁP (23/10 – 21/11)

Tình hình gia đình của Hổ Cáp tháng này sẽ không ổn định và có nhiều thay đổi. Điều quan trọng với bạn là phải mang lại sự an toàn cho gia đình của mình. Ngày 23 tháng này, các Hổ Cáp sẽ rất thành công trong vấn đề tài chính. Tiền “chảy” vào túi bạn chủ yếu vào những ngày trong tháng. Gia đình và các cuộc gặp gỡ gia đình cũng sẽ góp phần vào sự phát đạt của bạn nên đừng từ chối họ.

Vào những ngày tuần đầu tháng 5, các nam Hổ Cáp sẽ trở nên thu hút hơn. Và các bạn nữ cũng sẽ có vẻ đẹp lộng lẫy khiến cho phái mạnh dính chặt như nam châm. Vào dịp cuối tháng Hổ Cáp hãy chú ý những lúc trên đường phố, khi đang lái xe hoặc là trong các tình huống nguy hiểm. bạn hãy tránh xa các cuộc tranh cãi xảy đến mình. Hoàn thành mọi nhiệm vụ và nâng cao ý chí mạnh mẽ mà bạn có.

Trong tháng này và các tháng sau, Hổ Cáp sẽ có khả năng mê hoặc nhiều người. Thời gian không phải lúc nào cũng ủng hộ bạn. Hổ Cáp cần suy nghĩ sáng suốt và đưa ra các quyết định hợp lý. Và cuối cùng các bạn hãy tham gia nhiệt tình vào những gì mình yêu thích.

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28

Ngày không may mắn: 1, 2, 16, 17, 22, 23, 29, 31

Ngày cho tình yêu: 2, 3, 8, 13, 14, 18, 22, 23, 27, 31

Ngày cho tài chính: 16, 17, 20, 21, 24, 25, 29, 30

Ngày cho công việc: 1, 2, 6, 16, 24, 29, 30

11/- NHÂN MÃ (22/11 – 21/12)

Nhân Mã đừng lãng phí năng lượng cho những vấn đề mà không phải là của bạn nhé. Nguồn năng lượng tuyệt vời của Nhân Mã rất thích hợp cho những dự án lớn mà bạn đã lập ra từ trước.

Trong những ngày tuần lễ đầu, Nhân Mã cần phải chắc chắn rằng từng chi tiết bạn đưa ra cho các dự án đó là đúng, nếu không bạn sẽ tự gây ra vấn đề cho mình đó. Đến giữa tháng, Nhân Mã sẽ không gặp bất kì một cản trở hay rắc rối nào trong công việc. Mọi chuyện diễn ra đều rất thuận lợi cho bạn. Tuy nhiên thời gian này sẽ xảy ra sự bất đồng về quan điểm sẽ làm cho bạn bối rối, không biết xử lý như thế nào. Bạn hãy bình tĩnh và từ từ tìm hiểu căn nguyên của sự việc này nhé !

Hạ tuần tháng 5 sẽ là những ngày tuyệt vời cho Nhân Mã để thử nghiệm, mạo hiểm một điều gì đó mới mẻ. Những ngày cuối tháng sẽ là thời điểm lí tưởng cho bạn để ở bên cạnh người thân và xả stress. Hãy mời các bạn đi ăn và tám với nhau nhé. Điều này sẽ xoa dịu đi những vụ xích mích trước đó, giúp cho Nhân Mã và mọi người có cơ hội để hiểu nhau hơn nữa.

Ngày may mắn : 4, 5, 13, 14, 15, 22, 23, 31

Ngày không may mắn : 11, 12, 18, 19, 24, 25

Ngày cho tình yêu : 2, 3, 6, 7, 13, 14, 16, 17, 18, 19, 22, 23, 24, 25, 31

Ngày cho tài chính : 1, 2, 6, 7, 11, 12, 20, 21, 29, 30, 31

Ngày cho công việc : 1, 2, 11, 12, 20, 21, 24, 25, 29, 30

12/-  NAM DƯƠNG (22/12 – 19/1)

Các mối quan hệ của Nam Dương ủng hộ bạn trong mọi hành động trong tháng 5 này. Nam Dương chỉ cần học cách làm thế nào để giữ gìn hình ảnh đẹp mình xây dựng bấy lâu nay. Sức khỏe của Nam Dương cũng như người thân là điều bạn nên thường xuyên chú ý.

Tuần đầu tiên của tháng 5 khá suôn sẻ với những bạn đang ngồi trên ghế nhà trường và những bạn đã đi làm. Trong các mối quan hệ, Nam Dương nên tránh tham gia các cuộc tranh luận. Bạn cũng cần chú ý tới sức khỏe đặc biệt là những lúc giao mùa thế này.
Tuần tiếp theo, công việc vẫn rất thuận lợi. Sự sẵn lòng giúp đỡ bạn bè của Nam Dương sẽ có lợi cho sự thăng tiến của bạn sau này. Tình hình tài chính theo đó được cải thiện rõ rệt. Tuần thứ ba là thời gian đáng nhớ của Nam Dương khi bạn có sự giúp đỡ từ người có thể là bạn đời sau này. Điều kiện kinh tế được cải thiện, thậm chí còn đạt được danh tiếng cho bản thân. Với những Nam Dương đã lập gia đình, hãy lắng nghe những chỉ dẫn của bác sĩ để cải thiện sức khỏe của người bạn đời của bạn.

Những thành công mà Nam Dương đạt được trong công việc sẽ mang về cho bạn không những tiền bạc mà còn cả niềm vui trong mọi lĩnh vực của cuộc sống trong những ngày cuối của tháng này. Công việc sẽ khiến bạn bận rộn suốt tuần, tuy nhiên, điều đáng mừng là bạn sẽ nhận được sự giúp đỡ về chuyên môn của các đồng nghiệp.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25

Ngày không may mắn: 1, 2, 8, 9, 10, 22, 23, 29, 31

Ngày cho tình yêu: 1, 2, 3, 6, 13, 14, 16, 22, 23, 24, 29, 30, 31

Ngày cho tài chánh: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 24, 25, 29, 30

Ngày cho công việc: 2, 3, 8, 9, 10, 13, 14, 22, 23, 31

Quế Phượng (theo Horoscope)

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

SÀI GÒN : ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ

LANG THANG

ĐƯỜNG TÔN ĐẢN

Ai chưa sống ở đường Tôn Đản, mỗi khi nghe nói tới hai chữ Tôn Đản liền nghĩ ngay tới “du đảng” hoặc đại ca Năm Cam, hoặc một vùng đất dữ dằn của các tay anh chị giang hồ bến tàu. Nói vậy không phải vậy, dù hơn nửa thế kỷ trước Năm Cam thành danh ngay đầu hẻm 148 đường Tôn Đản khi đâm chết tay du đảng cùng xóm tên Lót. Đường Tôn Đản còn có những cái đáng nhớ khác.

Sau đây là chuyện kể về một con đường của một Quận nghèo nhất đất “Sài Thành hoa lệ”. Thời gian trước và sau 1955, cách đây hơn nửa trăm năm, tức một phần hai thế kỷ, nên chuyện rất xa xưa, xưa như chuyện tình Mộng Cầm—Hàn MặcTử.

Đường Tôn Đản là con đường chạy xuyên qua một vùng dân cư lao động của vùng Khánh Hội, Quận Tư, Sài Gòn. Đầu đường, nối với đường Trình Minh Thế tạo thành một ngả ba xe cộ lúc nào cũng đông đúc. Cuối đường, gặp đường Tôn Thất Thuyết chạy dọc theo Kinh Tẻ. Bên kia Kinh Tẻ là vùng Tân Qui Đông, thuộc quận Nhà Bè.

Người bạn sinh đẻ tại đây, năm nay tuổi tám bó thiếu bốn que, cho biết đường nầy thời Pháp thuộc có tên “Route de Cần Giuộc”, là một con đường đất ngoại ô Sài Gòn. Về sau được mở rộng, trải đá tráng nhựa phẳng phiu, Tây đặt lại tên đường Matelot Manuel, ban đêm hai hàng cột đèn khí cháy sáng choang, tỏ rõ cái văn minh của kẻ đi cướp nước.

Lai lịch của ông tây Manuel nầy cũng khó tìm hiểu. Tại sao một anh lính thủy người Pháp có công trận gì mà được đặt tên đường ? Ví như ông Lê-Nin, được dựng tượng trong một vườn hoa ở Hà Nội thì còn có thể hiểu được, tuy vẫn có người thắc mắc : tại sao ông đứng vườn hoa nước mình ?

Sử gia Trần Trọng Kim, trong Việt Nam Sử Lược, có chép : “Tháng ba năm Nhâm Dần (1782) vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem hơn 100 chiếc thuyền vào cửa Cần Giờ đánh nhau với quân Nguyễn Vương ở Thất Kỳ Giang (tức Ngã Bảy). Trận ấy quân Nguyễn Vương thua to, có người nước Pháp tên là Mạn Hoè (Manuel) làm chủ một chiếc tàu phải đốt tàu mà chết. Nguyễn Vương phải bỏ thành Sài Gòn chạy về đất Tam Phụ (Ba Giồng), rồi ra lánh ở đảo Phú Quốc”.

Phải chăng Matelot Manuel là ông Mạn Hoè nầy, người đã chỉ huy một tàu chiến trong lực lượng của Nguyễn Vương ? Nhưng dù ông Manuel có công với Nguyễn Vương đi chăng nữa, ông cũng không xứng đáng nằm trên con đường của nước Việt Nam.

Khoảng năm 1956, 1957 không nhớ đích xác, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà sau khi đã thu hồi chủ quyền quốc gia từ tay người Pháp, đặt lại tất cả tên đường trong đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn. Matelot Manuel đổi thành đường Tôn Đản từ đó. Bên các quận khác, mấy ông Tây Thực dân như De Lattre De Tassigny, Bonard, Colonel Grimaud, Jauréguiberry, Kitchener, Chanson và nhiều nữa, được mời “xuống tàu về nước”.

Tôn Đản là ai ? – Đó là vị phó tướng của tướng quân Lý Thường Kiệt, đời vua Lý Nhân Tông (1072-1127). Tôn Đản tên thật Nùng Tông Đản, gọi tắt Tông Đản, người dân tộc Nùng. Vì kỵ húy tên vua Thiệu Trị là Miên Tông, nên sử triều Nguyễn viết thành Tôn Đản thay vì Tông Đản.

“Năm Ất mão (1075) Lý Thường Kiệt đem quân sang vây đánh Khâm Châu và Liêm Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông). Đạo quân của Tôn Đản đánh Ung Châu (tức là thành Nam Ninh, thuộc tỉnh Quảng Tây), quan Đô Giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết đem binh lại cứu Ung Châu, bị Lý Thường Kiệt đón đánh ở Côn Lôn Quan (gần Nam Ninh) chém chết Trương Thủ Tiết ở trận tiền. Tôn Đản vây thành Ung Châu hơn 40 ngày, quan tri châu là Tô Đạm kiên cố giữ mãi. Đến khi quân nhà Lý hạ được thành, thì Tô Đạm bắt người nhà tất cả 36 người chết trước, rồi tự đốt mà chết.” – (Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim)

Con cháu đời sau đọc lại lịch sử nước nhà, mới thấy tổ tiên ta thật anh hùng, xứng đáng với bốn chữ “Phá Tống Bình Chiêm”. Đây cũng là lần đầu tiên tổ tiên ta đánh thắng giặc Tàu ngay trên đất Tàu, lập nên một chiến công hiển hách muôn đời còn ghi nhớ! Chẳng bì với thời nay, thời của “độc lập, tự do, hạnh phúc” có đảng lãnh đạo, đất liền và biển đảo cứ mất dần!

Từ đầu ngả ba Tôn Đản – Trình Minh Thế (tức đường Jean Eudel cũ), dân nghèo Quận Tư đều biết đến hai tiệm cầm đồ bình dân, khách ra vô nườm nượp. Đầu đường bên tay phải là tiệm mang tên Huỳnh Thị Dậu, nghe tên cũng đoán biết đó là tên chủ nhân. Đầu đường bên tay trái có tiệm Hòa Thành, chiếm hai mặt tiền, một mặt tiền ngó ra đường Trình Minh Thế đón khách từ kho 5, kho 11 lên; một mặt ngó ra đường Tôn Đản. Ai đã từng là dân phu khuân vác bến tàu, chạy xích lô máy, xích lô đạp, xe ba bánh, đánh xe ngựa, học trò nghèo hay làm tư chức miệt Khánh Hội và bên kia cầu Tân Thuận, cầu Hàn mà không là thân chủ của Hòa Thành và Huỳnh Thị Dậu ?

Tiệm cầm đồ bình dân, ăn lời 3%, còn gọi 3 phân, thuở ấy cái gì cũng cầm được; từ món nữ trang, chiếc đồng hồ đeo tay cho đến bộ đổ “tây”, cái quần mỹ-a, bộ áo dài, chiếc xe đạp đều có thể biến thành món tiền trang trải trong lúc ngặt nghèo !

Qua khỏi tiệm Huỳnh Thị Dậu, là cơ sở sửa tủ lạnh của ông Hai Dung, có đứa con trai tên Bòn, sau nầy nối nghiệp cha, tiệm làm ăn rất phát đạt. Kế đó, có kho hàng hãng Poinsard Veret của người Pháp – chữ nầy lâu quá không bảo đảm viết trúng – sau 1975 thành xí nghiệp bóng đèn Điện Quang.

Dân Tôn Đản cựu trào chắc không ai quên nhà bảo sanh Lao Động, của bác sĩ Nguyễn Bính Phương. Bác sĩ Phương là anh của nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh. Tháng 6/1954, thiếu tá Nguyễn Bính Thinh bị thương nặng trong trận phục kích Binh Đoàn 100 của Pháp tại cây số 15, đèo Mang Yang nên viết văn lấy bút hiệu An Khê.

Dù nhà bảo sanh có tên Lao Động, mọi người đều gọi là “Nhà thương Con Cò”, vì lẽ đơn giản phía trước nhà bảo sanh này có gắn hình một con cò đang chắp cánh bay. Tháng 4 năm 1955, Bình Xuyên gây hấn ở Đô Thành, không biết vì lý do gì mà Bác sĩ Nguyễn Bính Phương bị mấy ông kẹ “công an xung phong” của Bình Xuyên bắt thủ tiêu !

Đi xuống chưa tới 100 mét, gặp ngã ba Tôn Đản – Đỗ Thanh Nhơn, còn gọi ngã ba Cầu Cống. Có sử gia viết tên ông Đỗ Thanh Nhơn thành Đỗ Thanh Nhân, đó là quyền của nhà chép sử. Chớ thật ra, tên thật của người ta thì nên viết cho đúng, hà cớ gì phải đổi ? Trong Gia Định Tam Hùng theo phò vua Gia Long, ngoài Đỗ Thanh Nhơn và Châu Văn Tiếp còn ông Võ Tánh, sau nầy có người dám viết Vũ Tính, đọc thấy không giống con giáp nào !

Đường Đỗ Thanh Nhơn nầy, sau 1975 đổi tên thành đường Đoàn Văn Bơ. Ngay đầu ngả ba Tôn Đản – Đỗ Thành Nhơn phía bên trái, có một ngôi chợ nhỏ mang cái tên thật bình dân: chợ Cầu Cống. Chợ nầy càng về sau càng sung, vì dân số Quận Tư càng ngày càng tăng. Có lẽ Quận Tư bao giờ cũng là đất dung thân cho dân nghèo bốn phương tám hướng. Khói lửa chiến tranh khiến biết bao mảnh đời thôn dã phải bỏ ruộng, bỏ vườn trôi giạt về đây tìm một chỗ nương náu.

Chợ Cầu Cống đặc biệt hơn các chợ khác vùng Khánh Hội, Vĩnh Hội vì người ta gọi nó tới ba tên mà ai cũng hiểu. Chợ Cầu Cống, chợ Cây Bàng hay chợ Cây Keo đều chỉ ngôi chợ nhỏ đó. Từ cuối đường Tôn Đản, vùng Tôn Thất Thuyết muốn đi chợ Cầu Cống mua đồ ăn (viết thức ăn nghe văn chương hơn, còn viết “đồ ăn” e có người “nhạy cảm”, tưởng đồ nọ thành đồ kia thì tai hại bạc triệu) chỉ cần leo lên xe ngựa, tới chợ trả một đồng bạc.

Vô chợ mua một xâu lòng bò cột sẵn giá ba đồng gồm lá sách, tim, gan, phổi và một bó cải ngọt một đồng, chị bán hàng cho thêm hai tép hành không tính tiền. Thế là buổi chiều, cả nhà có bữa cơm ngon miệng, “lòng bò xào cải ngọt” thua gì đi ăn cao lầu Đồng Khánh trong Quận Năm ? Đừng chê nha, sau năm 1975 có lúc chỉ có “canh thầy hù” và “cải ngọt xào tóp mỡ” có đâu lòng bò mí lại lòng heo !

Tưởng cũng cần giải thích, tại sao gọi chợ Cầu Cống ? Nguyên do là sát bên đó, rạch Cầu Chông từ sông Bến Nghé đâm ngang đường Bến Vân Đồn, sau khi quanh co trong những xóm nghèo, ra tới đường Tôn Đản, băng ngang một cái cống lớn xây bằng xi măng rồi tiếp tục chảy về vùng kho 11.

Bên cạnh cống, có cây keo thân lớn xù xì, không biết trồng từ đời nào. Loại keo nầy cho trái màu xanh, lúc chín màu đỏ, ăn có vị ngọt, trẻ em rất thích. Thập niên 50, những chiếc ghe mía từ Cầu Ông Lãnh qua, hoặc ghe chở nước uống, neo đậu tại miệng cống, bán hết mía, đổi hết nước mới về.

Ông bà ngày xưa, cứ “thấy mặt đặt tên”, nào là Xóm Gà, chợ Cây Thị, chợ Cây Da Sà, Xóm Lu rồi Cầu Ba Cẳng, chợ Cầu Cống thật dễ hiểu, dễ nhớ cũng rất thân thương !

Thời gian về sau, dân cư càng ngày càng phát triển đông đúc, nhà sàn lấn dần dòng chảy, rạch Cầu Chông chịu chung số phận với những con kinh nước đen của Sài Gòn và Gia Định. Nhất là sau ngày “phỏng dái” cho tới bây giờ, gần 100% kinh rạch nhỏ biến mất trên thực địa, hay chỉ còn trong ký ức của mấy ông già.

Người ta thi nhau san lấp kinh rạch, ao hồ biến nó thành “mặt bằng” tính bằng vàng “cây” và đô-la. Sự biến mất nầy cắt nghĩa tại sao thành phố mang tên “bác” năm sau ngập cao hơn năm trước !

Bài nầy chỉ là những hoài niệm lang thang về một con đường, của cư dân một quận nghèo nhất Sài Gòn, gởi tới các bạn đã từng sống tại Quận Tư, Khánh Hội. Đường Tôn Đản còn lang thang dài dài, xin hẹn hồi sau sẽ rõ. (theo Tư Thắng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG NGƯỜI TỪNG

TRÚNG SỐ ĐỘC ĐẮC

BÂY GIỜ RA SAO ?

Theo thống kê của tác giả Edward Ugel, cha đẻ của cuốn “Tiền không là gì: Số phận đen tối của người đàn ông sau khi trúng số”, trong hàng nghìn người thắng giải, số người sống hạnh phúc với số tiền ấy chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Người xưa thường nói : “Trong phúc có họa, trong họa có phúc”  – câu nói này thật vô cùng đúng đắn bởi trong thực tế, 9/10 người từng trúng số độc đắc, chẳng có mấy ai có thể giữ nguyên cho mình cuộc sống ‘sang chảnh’ mà thường rơi vào cảnh nghèo lại hoàn nghèo sau đó, thậm chí còn phải đi ăn mày.

1/- Tý phú xổ số đi ăn mày : Ổng Bùi Hiền Hòa năm nay 47 tuổi cư trú phường Hưng Lợi, Ninh Kiều, Cần Thơ xuất thân trong gia đình nghèo khó nên luôn nuôi hy vọng được đổi đời bằng cách chơi lô đề, trúng xổ số.

Với việc thường xuyên mua vé số, năm 2010 ông Hòa bỗng chốc trở thành tỉ phú sau khi trúng 3 giải độc đắc 4,5 tỷ đồng. Có tiền ông Hòa tậu ngay căn biệt thự bạc tỷ ở trung tâm thành phố Cần Thơ và bỗng trở nên mê hàng hiệu, lao đầu vào đỏ đen sát phạt, v.v… mặc dù trước đó ông là người hiền lành, chịu khó làm ăn.

Nhưng rồi cuộc sống ăn chơi trác táng chỉ kéo dài được hơn 1 năm đã chấm dứt. Căn biệt thự cũng phải gán nợ cờ bạc. Cả nhà lại kéo đàn kéo đống tìm phòng trọ ở tạm. Đang nghèo khó rồi đổi đời giàu sang giờ lại tay trắng, ông Hòa hóa điên lúc tỉnh tối ngày ôm chai rượu lê lết khắp các phố để xin ăn.

2/- Anh em trong gia đình bất hòa : Gia đình bà Trần Thị Mai ở Long An vốn nghèo đói, quanh năm quần quật chẳng đủ ăn. Để lo cho tương lai của đàn con, bà và chồng đưa cả gia đình lên Bình Dương mưu sinh. Sau đó, bà tính toán dùng số tiền ít ỏi làm vốn buôn bán vặt ngoài chợ.

May mắn là các con bà Mai đều học hành thành tài. Rồi lần lượt, người con trai đầu và đứa thứa ba, tư lập gia đình. Chỉ riêng Lâm, cậu con trai thứ vẫn độc thân, sống cùng cha mẹ.

Một ngày nọ, bà Mai ngồi bán buôn trong chợ thì có bà lão đi qua, khuôn mặt thiểu não, trên tay xấp vé số gần như vẫn còn nguyên. Thấy bà lão tội nghiệp, bà Mai bèn rút tiền mua giúp một tờ rồi đưa cho Lâm giữ, ai dè đến chiều bã lão vé số tìm đến vẻ mặt tươi vui báo tin tấm vé lúc chiều đã trúng giải độc đắc với trị giá lên đến 100 triệu đồng.

Thời điểm năm 2003, số tiền ấy rất lớn, đặc biệt với một gia đình nghèo như bà Mai. Nghe mẹ báo tin, Lâm phóng xe đi lãnh thưởng nhưng lại trở về với vẻ mặt ủ rũ rồi nói rằng tấm vé trật lất, chắc bà bán vé số nhầm lẫn. Tưởng thật, đôi vợ chồng già buôn xo vì mừng hụt. Chỉ đến khi bà lão bán vé số đưa ra cuốn sổ ghi đúng dãy số trúng độc đắc trên tờ số đã bán cho bà Mai thì bà mới linh cảm con trai “có vấn đề”.

Không chịu nổi sức ép từ người nhà và sự đàm tếu của người dân trong xóm, cuối cùng Lâm cũng đành móc tờ vé số trong ví đưa lại cho mẹ, miệng líu riú thú nhận ý định chiếm đoạt số tiền thưởng.

Lấy được tờ vé, vợ chồng bà Mai động viên con sẽ bỏ qua mọi chuyện. Cùng dắt nhau đi lĩnh thưởng, bà đã bàn với chồng sẽ chia đều tiền cho các con lấy vốn làm ăn. Thế nhưng, tiền vừa về còn chưa kịp chia thì những đứa con còn lại đã nổi lòng tham, dựng chuyện nói xấu nhau, nịnh cha mẹ hòng kiếm phần nhiều. Gia đình đổi đời nhờ vé số nhưng tình cảm anh em cũng rạn nứt từ đó. Riêng Lâm, vì xấu hổ với việc làm sai trái của mình đã âm thầm bỏ đi biệt tích, không một lần liên lạc với gia đình.

“Bao nhiêu năm nhịn ăn nhịn mặc để lo cho chúng nó bằng bạn bằng bè, những tưởng bốn đứa ăn học thành người sẽ có hiếu với cha mẹ. Nào ngờ, đồng tiền lại làm lu mờ hết tình mẫu tử”, bà Mai buồn bã nói.

Được biết, tính đến nay đã 10 năm gia đình đổi vận nhờ trúng số thì cũng chừng ấy năm ròng Lâm chưa một lần quay lại nhà hay điện hỏi thăm vợ chồng bà một tiếng. Đã có lúc bà từng nói, giá như “lộc trời” đừng đến thì chắc chắn Lâm giờ này vẫn còn ở với vợ chồng bà.

3/- Chồng ôm 1,5 tỷ đồng tiền trúng xổ số đi kiếm quý tử : Cách đây hơn 10 năm, vợ chồng bà Lê Thị Lũy (47 tuổi, trú tại khu phố 6, phường Trưng Mỹ Tây, Q.12) mưu sinh bằng nghề bán vé số. Cuộc sống nghèo khó, chồng bà là ông Nguyễn Văn Nam (49 tuổi) thường ao ước, nếu một ngày trời cho trúng số thì sẽ dùng tất cả số tiền xây dựng kinh tế gia đình cho vợ con bớt khổ.

Tháng 8/2009, thời vận cũng mỉm cười với họ thật, khi mấy tờ vé số ế chưa kịp trả cho đại lý trúng giải độc đắc trị giá 1,5 tỷ đồng.

Tay trong tay đi lĩnh thưởng, hai người đã dự tính sau khi cầm tiền trong tay sẽ sớm rời Sài Gòn, về quê làm ăn. Thế nhưng, đến buổi sáng hôm sau, ông Nam lại bảo bà đi mua lễ vật về mang lên chùa cúng dường tạ ơn. Răm rắp nghe theo lời chồng, bà Lũy không ngờ khi trở về thì đã thấy trong ngoài trống vắng, ông Nam đã đi đâu không rõ.

Thấy lạ, bà Lũy đi vào trong gian buồng thì bắt gặp tờ giấy nhỏ bọc lại một cọc gì đó vuông vức. Bà vội mở ra xem thì thấy cọc tiền 10 triệu đồng, trên tờ giấy ghi nguệch ngoạc mấy dòng chữ : “Xin lỗi em, nhưng anh phải có đứa con trai để sau này còn có người bưng bát nhang, em hiểu cho anh”.

Đến lúc này, bà Lũy mới ngỡ ngàng. Hóa ra lâu nay ông Nam mong chờ một đứa con trai nối dõi tông đường nhưng bà lại gặp trục trặc về đường sinh nở. Giờ có bạc tỷ trong tay, ông mới trở mặt, bỏ vợ đi kiếm người đàn bà khác mong sinh quý tử để có người “chống gậy”.

4/- Làm đại gia vẻn vẹn 21 ngày : Chuyện đã qua gần 30 năm, nhưng ông Vương Sỹ Cầm (65 tuổi, ngụ đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, TP.Hà Nội) vẫn nhớ như in quãng thời gian ngắn ngủi được làm “đại gia” nhờ trúng 3 tờ vé số độc đắc.

Đó là vào chiều ngày 20/9/1991 trên đường đi bó thuốc cho bệnh nhân từ huyện Quốc Oai (thuộc tỉnh Hà Tây cũ nay là Hà Nội) trở về ông có dừng lại ở quán nước gần nhà uống cốc trà đá. Khi ông Cầm đang ngồi uống nước thì một ông lão đến quán mời mua vé số.

“Trên tay ông ta còn lại đúng 3 tấm vé số 4, ông liên tục mời hết người này đến người khác mua giúp để ông sớm được về với gia đình. Tuy nhiên, không ai thèm để ý đến, thấy thương ông nên tôi đã ra mua”, ông nói tiếp.

Ông Cầm tâm sự, lúc mua 3 tấm vé, bản thân chỉ muốn giúp cụ bán vé số chứ không thể ngờ lại may mắn trúng giải độc đắc. Ông cười tươi nhớ lại : “7h tối hôm ấy, chương trình quay số trên Đài truyền hình Hà Nội diễn ra nhưng tôi cũng không để ý. Đang lúi húi nấu cơm dưới bếp thì tôi nghe thấy trên tivi nhà tôi nói vọng xuống loáng thoáng tới mấy con số.

Nhẩm theo lời của tivi, tôi giật mình khi thấy nó trùng với những số trên tờ vé mà mình mua lúc chiều nay. Bỏ dở việc đang làm, tôi chạy lên nhà ngó xem thế nào thì chương trình quay số kết thúc. Tôi thấp thỏm đợi 15 phút sau trên truyền hình trung ương phát lại kết quả xổ số và sung sướng khi cả 3 tờ đều giải độc đắc”.

Có tiền trong tay ông mua cho con trai vừa đậu đại học cái xe máy, số tiền còn lại chia thành các bọc giấu vào các góc nhà.

Bỗng dưng được một số tiền lớn, ông Cầm bàn với vợ : “Có lẽ nhờ các cụ phù hộ mình mới trúng giải”. Sau đó hai vợ chồng ông bà đã cầm một ít tiền về quê xây lại mộ cho bố mẹ, ông bà. Trớ trêu thay, cũng đúng ngày ông về quê xây mộ thì nhà ông bị cháy. Từ đại gia xổ số ông lại bỗng chốc tay trắng.

Hiện tại, vợ chồng ông Cầm vẫn sống trong căn tập thể cũ kỹ tại quận Thanh Xuân với nghề chế thuốc chữa bệnh cứu người. Được biết, đến giờ, bà con nơi ông Cầm sinh sống vẫn truyền tai nhau chuyện ông được lộc trời, trúng liền 3 tờ độc đắc. Nhưng khi kể về người đàn ông này, bà con thường nói bằng một sự kính trọng đặc biệt với hai từ lương y.

5/- Có được vợ đẹp, con ngoan, gia đình hạnh phúc nhờ tấm vé số may mắn : Năm 2011 do hoàn cảnh gia đình khó khăn, chàng trai nghèo Quách Như Tuấn (24 tuổi, xã Ngọc Trạo, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa) vào Sài Gòn tìm kế mưu sinh. Tại đây, anh tình cờ gặp bà Lê Thị Vụ (chị gái mẹ Tuấn) đang bán vé số dạo. Thấy bác còn lại ba tờ vé trùng dãy số, Tuấn mua một vé. Cuối giờ chiều, đang làm việc Tuấn được bà Vụ gọi điện báo tin trúng giải đặc biệt 1,5 tỷ đồng.

Gia đình Tuấn sau đó trích gần trăm triệu đồng cung tiến chùa ở địa phương. Chàng trai còn dành khoản tiền lớn ủng hộ chính quyền xã xây dựng công trình công cộng. Sau khi xây ngôi nhà hơn 100 triệu đồng, số tiền còn lại gia đình đã gửi ngân hàng.

Trở thành “đại gia”, Tuấn được cánh thanh niên trong làng ngưỡng mộ. Trong lần sang thôn bên chơi, chàng trai tình cờ quen cô gái xinh xắn Cao Thị Nhuần (22 tuổi). Bốn năm sau lần được nhận số tiền thưởng lớn đó, Tuấn đã cưới vợ và có con trai 2,5 tuổi. Dù tiền cũng đã cạn bớt, mỗi lần nhắc lại vận may đó, Tuấn vẫn khẳng định anh có được vợ đẹp, con ngoan và gia đình hạnh phúc là nhờ tấm vé số may mắn.

“Việc lần đầu tiên trúng xổ số không chỉ khiến giúp con trai tôi đổi đời. Nó còn tìm được cô vợ xinh đẹp, hiền lành. Cuộc sống diễn ra rất đỗi hạnh phúc”, bà Lê Thị Thành, mẹ Tuấn cho biết.

6/- Và câu chuyện ông Hết mất tiền : Chiều 28 Tết Canh Dần (2010), ông Hết, ở đường Lạc Long Quân, thuôc quận 11 vùng Chợ Lớn, thuộc diện xóa đói giảm nghèo được một nhà hảo tâm tặng cho chút tiền lì xì. Dùng số tiền này, ông mua 6 tờ vé số. Chiều hôm ấy, trong số 6 tờ vé số ông mua thì có 5 tờ trúng giải đặc biệt, 1 tờ trúng giải an ủi, tổng cộng 7,6 tỷ đồng. Nghe tin ông Hết trúng số, bà con lối xóm kéo đến chúc mừng.

Có lẽ do trí tuệ không còn minh mẫn nên gặp ai ông cũng móc tiền ra cho, chưa kể ông còn làm từ thiện và đền ơn những người đã từng giúp đỡ ông. Chỉ một ngày sau khi trúng số, gần 1 tỷ đồng đã bay hết.

Số tiền còn lại, chính quyền địa phương hướng dẫn ông làm thủ tục, gửi ngân hàng, mỗi tháng lĩnh lãi để ổn định cuộc sống. Ai dè đến cận Tết Tân Mão (2011), bà con trong xóm té ngửa khi biết “tỷ phú” Hết chỉ còn vài trăm triệu đồng mà nguyên do là từ ngày trúng số, bỗng có nhiều người tự xưng là “cháu” tấp nập đến thăm ông mặc dù ông Hết không con cái.

Hàng xóm kể, có người lúc gặp ông đã ôm lấy ông khóc nức nở, miệng gọi “ông“, gọi “bác” xưng “cháu” nghe ngọt sớt. Hầu hết những người đến thăm ông đều được ông cho tiền, ít thì vài triệu, nhiều thì cả trăm.

Đến tháng 7/2010, vợ ông Hết qua đời, một số người “cháu” của ông đứng ra lo đám tang, chi phí ước tính khoảng 500 triệu nhưng thực tế số tiền này vẫn là tiền của ông Hết. Một cán bộ ở phường 5 cho biết, số tiền còn lại trong ngân hàng của ông Hết là 850 triệu đồng. Và vì chuyện cho ai, tặng ai là quyền tự do cá nhân của ông nên chính quyền không thể can thiệp.

Hiện tại, ông Hết được một người thân ở Gò Vấp đưa về nuôi. Hàng xóm cho biết đôi lần ông Hết về thăm xóm cũ và lần nào cũng vậy, ông vẫn giữ thói quen mua vé số với lời khẳng định “từ đây tới chết, tui sẽ còn trúng độc đắc một lần nữa!”. (theo Đại Kỷ Nguyên)

Xuân Mai chuyển tiếp

NGHỆ SĨ THANH SANG QUA ĐỜI

NGHỆ SĨ THANH SANG

QUA ĐỜI

Được tin nghệ sĩ Thanh Sang đã trút hơi thở cuối cùng lúc 0 giờ 25 phút ngày 21/4 nhằm ngày 25 tháng 3 năm Đinh Dậu. tại nhà riêng. Hưởng thọ 75 tuổi.

NS Thanh Sang tên thật là Nguyễn Văn Thu, sinh năm 1943 tại Hòa Hiệp, Phước Hải, Bà Rịa- Vũng Tàu. Ngày 4/4/2017, ông được gia đình đưa đi cấp cứu vì có triệu chứng khó thở. Khi nhập viện ông rất tỉnh táo, trao đổi với bác sĩ về căn bệnh của mình.

Sau nhiều ngày điều trị tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định dù được các thầy thuốc hết lòng cứu chữa nhưng do bệnh suy thận, xuất huyết não, suy tim, ông đã hôn mê sâu rồi ra đi trong niềm thương xót của gia đình, nghệ sĩ đồng nghiệp và đông đảo khán giả mộ điệu sân khấu cải lương.

Cha ông từng tham gia Kháng chiến chống Pháp, hy sinh năm 1949. Mẹ ông phải làm lụng vô cùng cực nhọc để nuôi 4 con nhỏ, trong đó chỉ có ông là trai. Vì vậy, từ năm 8 tuổi, ông bắt đầu sống bằng nghề đi vá lưới và đi biển đánh cá, vừa nuôi gia đình vừa kiếm tiền học văn hóa.

Do gia đình sống gần rạp cải lương Hải Lạc, ông bị cuốn hút theo nghề hát xướng. Ban đầu, ông thường nhại lại các giọng của đệ nhất danh ca Út Trà Ôn, ông Chín Sớm, Thành Công rất được bà con tán tưởng. Năm 1960, đoàn cải lương Ngọc Kiều của bầu Hoàng Kinh, Ngọc Đán đến Hải Lạc biểu diễn. Khi diễn vở “Chiều đông gió lạnh về”, ông được đưa vào thay thế do một nghệ sĩ bị bệnh đột xuất không thể diễn được. Bầu Hoàng Kinh thấy ông thông minh đã đặt cho nghệ danh là Thanh Sang.

Năm 1962, ông được bầu Hoàng Kinh cho thế vai của NS Hùng Cường, vai Đông Nhật trong vở “Tuyết phủ chiều đông”. Ông diễn thành công vai này nên từ đó thành kép chánh trong đoàn cải lương Ngọc Kiều. Năm 1964, ông chuyển về hát cho đoàn “Hoa mùa xuân”, sau đổi thành “Dạ lý hương”. Cũng trong năm này ông đoạt HCV giải Thanh Tâm với vai Tạ Tốn trong vở “Cô gái Đồ Long”.

Vai diễn Tạ Tốn trong vở này bị mù, rất khó diễn song ông lại diễn rất độc đáo, đến mức nhiều người nhắc đến ông với nghệ danh đính kèm “Thanh Sang – Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn”. Vai diễn đã đưa ông từ một anh chàng chài lưới, chưa qua trường lớp, trở thành ngôi sao sáng trong làng sân khấu thời đó.

Năm 1975, ông đã tạc thêm thành công trong sự nghiệp với nhiều nhân vật khác như: Trần Minh trong vở “Bên cầu dệt lụa”, vai Thi Sách trong vở “Tiếng trống Mê Linh”, vai Lê Hoàn trong vở “Thái hậu Dương Vân Nga”… Năm 1985, ông thôi hát ở các đoàn văn nghệ, chỉ thu băng đĩa và hát phục vụ khi có yêu cầu. Ba năm sau, ông mới cùng đoàn nghệ sĩ Việt Nam sang Paris biểu diễn.

Năm 2001, ông bị bệnh nặng, phải rời xa sân khấu một thời gian dài. Ngày 4 tháng 3 năm 2007, chương trình Làn điệu phương Nam đã tổ chức tại Nhà hát Thành phố vinh danh ông với chủ đề “50 năm một tình yêu nghệ thuật”, do NS Bạch Tuyết làm tổng đạo diễn, để kỷ niệm 50 năm nghiệp ca diễn của ông.

Tang lễ của NSƯT Thanh Sang được tiến hành tại nhà riêng, đường số 17 P, Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức. Lễ viếng bắt đầu từ 10 giờ ngày 21/4. Lễ truy điệu 7 giờ 15 phút ngày 25/4. An táng tại Nghĩa trang Bình Dương. (theo Thanh Hiệp)

Nghe – xem lại những bản vọng cổ, vai diễn để đời của cố NS Thanh Sang

– Tân cổ Thanh Sang (1:17’)

Những bài tân cổ còn xót lại : https://youtu.be/gZrduqaITBU

List bài : 1/. Chiều – 2/. Chiến tàu hoàng hôn – 3/. gánh lúa đêm trăng – 4/. vó ngựa trên đồi cỏ non – 5/. lối về xóm nhỏ – 6/. mộ em phượng – 7/. ngày em về thăm quê tôi – 8/. người đánh đàn trên sông mỹ thuận – 9/. nhớ mẹ – 10/. Tâm sự với quê hương

Tiếng Trống Mê Linh

Thanh Sang & Thanh Nga :https://youtu.be/vHmhi-NXS6E

trong Bên cầu dệt lụa : https://youtu.be/ZGlwxnlg4Uc

PHÂN ƯU

Nhận được tin buồn: Nghệ sĩ Thanh Sang vừa qua đời tại nhà riêng, “nhóm Thân hữu ký giả Điện Ảnh – Tân Nhạc Việt Nam” xin thành thật chia buồn cùng tang quyến và cầu chúc hương linh nghệ sĩ Thanh Sang sớm siêu thoát về miền lạc cảnh.

ĐD Nguyễn Việt

VĂN CHƯƠNG TỎ TÌNH MỘC MẠC

CỦA NGƯỜI NAM BỘ

Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề trau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành ‘liều mạng’:

Dao phay kề cổ,

Máu đổ không màng

Chết thì chịu chết 

Buông nàng anh không buông

Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình ‘hú vía’ vì kịp thời nhận ra ‘chân tướng’ đối tượng:

May không chút nữa em lầm

Khoai lang khô xắt lát em tưởng sâm bên Tàu

Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình :

Tôi xa mình hổng chết cũng đau

Thuốc bạc trăm không mạnh,

mặt nhìn nhau mạnh liền

Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc. Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

Thương em nên mới đi đêm

Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau

May đất mềm nên mới hổng đau

Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái ‘thật thà tội nghiệp’.

Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:

Vắng cơm ba bữa còn no

Vắng em một bữa giở giò không lên

Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:

Phòng loan trải chiếu rộng thình

Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi !

Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:

Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa

Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều

Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng ‘xạo’ cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.

Lại có một chàng trai đang thời kỳ o bế đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:

Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh

Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương

Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen ‘mình dễ thương’ mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên – trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời – tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ – rồi mới bước qua thế giới của loài người – trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính – ‘mình’. Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết ‘chuyện gì đây’, cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ… Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh! Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

Con ếch ngồi dựa gốc bưng

Nó kêu cái ‘quệt’, biểu ưng cho rồi

Những người nghe câu ‘xúi bẩy’ này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.

Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi ‘rầu thúi ruột’ mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:

Thác ba năm thịt đã thành bùn

Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em

Quả là ‘khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan’, nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!

Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:

Quất ông tơ cái trót

Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần

Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng se

Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy mãnh liệt. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!

Chẳng thà lăn xuống giếng cái ‘chũm’

Chết ngủm rồi đời

Sống chi đây chịu chữ mồ côi

Loan xa phượng cách, biết đứng ngồi với ai?

Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:

Nếu mà không lấy đặng em 

Anh về đóng cửa cài rèm đi tu

Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:

Tu đâu cho em tu cùng

May ra thành Phật thờ chung một chùa

Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng – ‘Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường’ – đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu – ‘Mà có chắc là tu được không đấy?’. Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.

Phải chi cắt ruột đừng đau

Để em cắt ruột trao nhau mang về

Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ… sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại ‘nhát gan’ đến bật cười:

Gá duyên chẳng đặng hội này

Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy… tôi chèo vô

Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ – Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người:

Ra đi gặp vịt cũng lùa;

Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu…

NHẠC SĨ DZŨNG CHINH

CHẾT TRÊN ĐỒI HOA SIM

tác giả “Những Đồi Hoa Sim”

– Bài Phạm Tín An Ninh

(Đã có một vài bài viết nói về cái chết của Nhạc sĩ Dzũng Chinh, nhưng tiếc là  không chính xác. Bài viết này nhằm mục đích làm rõ cái chết của ông, một nhạc sĩ trẻ được nhiều người biết đến qua nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim”. Người viết bài này đã ở cùng một đơn vị với ông khi ông tử trận)

oOo

Nhạc sĩ Dzũng Chinh không có nhiều sáng tác, nhưng nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim” đã làm nên tên tuổi ông. Bài hát được phổ biến trong những năm đầu thập niên 1960,  thời điểm chiến tranh Việt Nam bắt đầu khốc liệt, hàng hàng lớp lớp thanh niên miền Nam, hầu hết là những học sinh, sinh viên tạm gác bút nghiên, lên đường tòng quân bảo vệ giang sơn. Bài hát Những Đồi Hoa Sim (viết theo ý bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, một nhà thơ sống ở miền Bắc) phổ biến rất rộng rãi và nhanh chóng được quần chúng đón nhận khá nồng nhiệt, đặc biệt trong hàng ngũ lính chiến miền Nam Việt Nam.

Nhạc sĩ Dzũng Chinh cũng là một người lính chiến thực thụ. Tên thật là Nguyễn Bá Chính, quê quán ở Phan Thiết. Trước khi theo học khóa sĩ quan đặc biệt ở Đồng Đế Nha Trang, anh là hạ sĩ quan phục vụ tại một Sư Đoàn Bộ Binh thuộc Vùng IV.  Cuối năm 1968, sau khi tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy, anh chọn đơn vị Sư Đoàn 23 BB và xin được phuc vụ tại Trung Đoàn 44 (trú đóng tại Sông Mao, Phan Thiết).

Thời điểm này, Sư Đoàn 23 BB đặt bản doanh tại Ban Mê Thuột, đặc trách hành quân trong lãnh thổ Khu 23 ChiếnThuật. Sư Đoàn có 3 trung đoàn cơ hữu. Trung Đoàn 45 BB trú đóng tại Ban Mê Thuột, nơi có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, phụ tránh hành quân an ninh tại các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn. Trung Đoàn 53 BB đồn trú tại Di Linh (Lâm Đồng), trách nhiệm các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Quảng Đức. Riêng Trung Đoàn 44 BB trú đóng tại Sông Mao, Bình Thuận, đảm trách các tỉnh miền duyên hải: gồm Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa.

Trung Đoàn 44 BB đồn trú tại trại Lý Thường Kiệt, Sông Mao, một doanh trại rộng lớn của Sư Đoàn 5 BB, thời Đại tá Voòng A Sáng, bàn giao lại để di chuyển vào Vùng 3 CT. Sông Mao là một thị trấn nhỏ thuộc quận Hải Ninh, nằm phía Bắc Phan Thiết khoảng 60 cây số, cách Quốc Lộ 1 gần 2 cây số. Hầu hết dân chúng ở đây là người Nùng, đã theo chân Đại tá Voòng A Sáng và Sư Đoàn 3 Dã Chiến (tiền thân của Sư Đoàn 5 BB) từ vùng Mống Cái,Việt Bắc di cư vào đây tháng 8 năm 1954. Phía dưới là quận Phan Lý Chàm (Chợ Lầu). Dân chúng đa số là người Chàm. Có cả dinh cơ của bà công chúa cuối cùng của Vương quốc Chiêm Thành, với đền thờ vua, cờ xí, long bào và ấn tín. Cách đó không xa là mật khu Lê Hồng Phong nổi danh của du kích giải phóng.

Nhắc đến địa danh Sông Mao và mật khu Lê Hồng Phong, người ta nhớ tới mấy câu thơ nổi tiếng hào sảng của nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn :

Mai ta đụng trận ta còn sống

Về ghé Sông Mao phá phách chơi

Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm

Đốt tiền mua vội một ngày vui

…..

Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát

Nghe súng rừng xa nổ cắc cù

Chợt thấy trong lòng mình bát ngát

Nỗi buồn sương khói của mùa thu

Chuẩn Úy Nguyễn Bá Chính xin về Trung Đoàn 44 BB nhằm được gần quê quán. Anh được bổ sung về Đại Đội 1 thuộc Tiểu Đoàn 2/44. Đại Đội Trưởng là Trung Úy Nguyễn Văn Chánh và Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Ngô Văn Xuân (đến tháng 5 năm 1972 ông là Trung tá Trung Đoàn Trưởng). Một tháng sau khi về đơn vị, anh được vị sĩ quan trưởng khối CTCT Trung Đoàn biết anh là nhạc sĩ Dzũng Chinh nên xin biệt phái anh về Khối CTCT, tạm thời đảm trách Ban Văn Nghệ, mới được thành lập.

Vốn mang tính nghệ sĩ và sống phóng khoáng, nên anh thường (dù) về Phan Thiết chơi với bạn bè, nhiều lần vắng mặt tại đơn vị, nên bị trả lại Tiểu Đoàn, tiếp tục giữ chức vụ trung  đội trưởng tác chiến.

Đầu tháng 3 năm 1969, Tiểu Đoàn 2/44 di chuyển ra hành quân tại khu vực quận Ninh Phước thuộc Tiểu Khu Ninh Thuận. Đại Đội 1/2 đảm trách an ninh tại Văn Lâm, một làng của người Chàm, nằm phía Đông Nam tỉnh lỵ Phan  Rang khoảng 25 cấy số. Nhận tin tức của Phòng Nhì Tiểu Khu, cho biết có một mũi công tác của du kích quân từ mật khu núi Chà Bang (tiếng Chàm : Chơk Chabbang) sẽ về Văn Lâm thu thuế và thực phẩm, Tiểu Đoàn ra lệnh Đại Đội 1 cho một trung đội đến án ngữ dưới chân núi Chà Bang để phục kích toán du kích khi chúng trên đường ra Văn Lâm.

Trung Đội của Dzũng Chinh nhận lãnh trách nhiệm đặc biệt này. Đến địa điểm phục kích khoảng 7 giờ tối, Chuẩn úy Chính cho tiểu đội của Trung sĩ Luận ra nằm tiền đồn phía trước, bên con đường mòn dưới chân núi, cách trung đội chừng 500 mét, vừa theo dõi báo cáo bằng tín hiệu riêng khi địch quân xuất hiện, vừa làm nút chặn, khi đám địch bị trung đội tấn công, chạy ngược lại phía sau.

Khoảng 11 giờ tối, một toán người xuất hiện và lên tiếng: “Luận về đây”. Chuẩn úy Chính tưởng là Trung sĩ Luận đã dắt trung đội về, nên hỏi lại: “Sao Luận về sớm vậy ?” Một tràng súng nổ tức thì. Chinh ngã xuống.

Thì ra có một trùng hợp kỳ lạ, quái ác, đã đưa đến cái chết tức tưởi của Dzũng Chinh. “Luận về đây” lại là mật khẩu của quân du kích, trong đó cũng có tên Luận trùng với tên Trung sĩ Luận, người tiểu đội trưởng của Chính có nhiệm vụ tiền đồn. Du kích quân sợ bị phục kích nên đã chia làm hai toán, sử dụng lộ trình khác, không đi theo con đường mòn, nên tiểu đội tiền đồn của Trung sĩ Luận không phát hiện được. Chính vì sự ngộ nhận đáng tiếc này làm Dzũng Chinh đã hứng trọn một tràng đạn AK của quân. Đại Đội cho bắn trái sáng, kịp thời bao vây và truy kích tiêu diệt đám địch quân du kích.

Chính bị thương khá nặng. Được trực thăng của Mỹ tản thương kịp thời về Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch Phan Thiết. Nhưng vì vết thương quá nặng ở vùng bụng và ngực, nên sáng hôm sau Dzũng Chinh qua đời.

Cái chết oan uổng của Dzũng Chinh đã được bạn bè cùng đơn vị bàn tán khá nhiều với vài sự kiện mà mọi người cho là những điềm gỡ báo trước :

Ngày xưa lương lính thường không đủ xài, nhất là những khi được về thành phố, nên trước cuộc hành quân, Dzũng Chinh đến Ban Tài Chánh Trung Đoàn xin mượn lương trước. Vị sĩ quan tài chánh ngần ngừ, bảo sao mượn lương sớm thế. mới đầu tháng đã mượn, hơi khó xử cho ông. Dzũng Chinh gãi đầu năn nỉ:

– Thì Đại úy cứ xem như ứng trước tiền tử tuất cho tôi thôi mà.

Vị Đại úy cho mượn, nhưng rầy anh:

– Cậu chớ nói điều gỡ, không nên !

Sau đó, anh rủ hai người lính về thành phố Phan Thiết chơi. Không hiểu đụng chạm thế nào, nhóm anh đánh nhau với một nhóm lính hải thuyền. Trước ngày đi hành quân, anh nhận giấy báo của Quân Cảnh Tư Pháp Phan Thiết, gọi trình diện. Anh khoe với đám bạn bè trong một buổi nhậu rồi nói:

– Kỳ này tao đi luôn, xem thử lấy ai mà trình diện !

Không ngờ anh đã đi luôn thật.

Dưới chân núi Chà Bang, nơi Dzũng Chinh ngã xuống là một vùng đầy hoa sim. Tác giả nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim” cuối cùng cũng đã nằm xuống trên ngọn đồi bạt ngàn hoa sim tím. Cái chết của Chuẩn úy Nguyễn Bá Chính, một trung đội trưởng bộ binh, cũng lặng lẽ như hàng vạn chiến sĩ vô danh khác đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến khốc liệt để bảo vệ quê hương, nhưng tên tuổi Dzũng Chinh được nhiều người tiếc thương, nhắc nhở, bởi vì anh là một nhạc sĩ trẻ tuổi, đã tạo nên một tác phẩm đi vào lòng người, và mãi ở lại với thiên thu. (theo Phạm Tín An Ninh)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Nghe nhạc : Những Đồi Hoa Sim – Phương Dung

https://youtu.be/k4b2UglfrWw

Liên khúc chuyên tình đồi hoa sim tím 1.2.3.4 (0:45’)

https://youtu.be/P_kLYUezLx

Lan Hương chuyển tiếp

THÚ VUI TAO NHÃ CỦA NGƯỜI SÀI GÒN..

THÚ VUI TAO NHÃ

CỦA NGƯỜI SÀI GÒN…

Hồi xửa hồi xưa … có một Sài gòn người ta gọi cà phê là “cà phe”, đi uống cà phê là đi uống “cà phe” với giọng điệu rất là ngộ nghĩnh. Tiếng Tây gọi cà phê là Café, tiếng Anh là Coffee nhưng mấy xì thẩu Chợ Lớn thì gọi là “cá phé”.

Vậy thì café, coffee, cà phê, cà phe hay là cá phé muốn gọi sao gọi nhưng ai cũng hiểu đó là món thức uống màu đen có hương vị thơm ngon, uống vào có thể tỉnh người nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt…

Trở về thập kỷ 50 : cà phê vớ

Năm một ngàn chín trăm… hồi đó người Sài gòn chưa ai biết kinh doanh với nghề bán cà phê cả. “Xếp sòng” của ngành kinh doanh… có khói nầy là do các xếnh xáng A Hoành, A Coón, chú Xường, chú Cảo… chủ các tiệm hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại. Vô bất cứ tiệm hủ tíu nào vào buổi sáng cũng có bán món cá phé, cà phê, cà phe đi kèm để khách có thể ngồi đó hàng giờ nhăm nhi bàn chuyện trên trời dưới đất.

Hồi đó chẳng ai biết món cà phê phin là gì đâu ? Các chú Xường, chú Cảo, A Xứng, A Hía chỉ pha độc một loại cà phê vớ. Một chiếc túi vải hình phểu được may cặp với một cọng kẻm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc vợt cà phê nầy hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày nên “dân chơi” gọi đại là cà phê vớ cho vui.

Chiếc vớ chứa cà phê nầy sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại rồi… “kho” độ năm mười phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách. Chính cái “quy trình” pha chế thủ công đầy phong cách Tàu nầy mà dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc.

Có mấy khu vực có những con đường qui tụ rất nhiều tiệm cà phê hủ tíu. Ở Chợ Cũ có đường Mac Mahon (đọc là đường Mạc Má Hồng, nay là đường Nguyễn Công Trứ) có rất nhiều tiệm cà phê kho từ sáng đến khuya. Khu Verdun – Chợ Đuỗi (nay là Cách Mạng Tháng Tám) cũng đáng nể bởi cà phê cà pháo huyên náo suốt ngày.

Ở bùng binh Ngã Bảy (góc Điện Biên Phủ và Lê Hồng Phong bây giờ) có một tiệm cà phê hủ tíu đỏ lửa từ 4 giờ sáng cho đến tận 12 giờ đêm. Còn nếu ai đi lạc vào khu Chợlớn còn “đã” hơn nhiều bởi giữa khuya vẫn còn có thể ngồi nhăm nhi cà phê, bánh bao, bánh tiêu, dà – chả – quải đến tận sáng hôm sau.

Cà phê hủ tíu Tàu

Sách phong thủy Tàu thường khuyên không nên cất nhà ở ngã ba, ngã tư đường vì dễ bị nạn xui xẻo nhưng các chú Xường, chú Hía, A Hoành, A Koón… thì đều chọn các nơi nầy làm chổ kinh doanh. Tuy Sài gòn, Chợ lớn, Gia Định, Phú Nhuận, Đa Kao có hàng trăm tiệm cà phê, hủ tíu Tàu nhưng nhìn chung chúng đều có một “mô – típ – made in China” khá giống nhau, tức là quán nào ở phía trước cửa cũng có một xe nấu hủ tíu được làm bằng gỗ thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên của xe được trang trí bằng những tấm kính tráng thủy vẽ những nhân vật Quan Công, Lưu Bị, Triệu Tử Long, Trương Phi trong truyện Tam Quốc Chí khá vui mắt.

Bên trong quán hoặc xếp bàn tròn hoặc vuông. Khách vừa vào trong gọi “cá phé”, song mấy tay phổ ky vẫn bưng ra một mâm nào bánh bao, xíu mại, há cảo, dà chá quải đặt trên bàn. Khách dùng hay không cũng chẳng sao “pà con mà !!

Uống cà phê

phải biết cách

Như đã nói ở trên, hồi đó không có cà phê ta mà chỉ có cà phê Tàu. Vì thế uống cà phê Tàu phải có một phong cách riêng. Cà phê được mang ra dân ‘sành điệu” hồi đó ngồi chân dưới chân trên, sau khi khuấy nhẹ cho tan đường bèn đổ ly cà phê ra cái đĩa đặt phía dưới. Chưa uống vội, khách chậm rãi mồi điếu thuốc rít vài hơi để chờ cà phê nguội.

Ông Sáu “trường đua” nay đã 80 kể rằng hồi ông còn là một chú nhóc nài ngựa ở trường đua Phú Thọ ông cũng uống cà phê theo phong cách nầy, tức uống bằng đĩa chớ không uống bằng ly. Bàn tay phải nhón lấy cái đĩa đưa lên miệng và húp sì sụp:

“Uống vậy mới khoái, mới đúng kiểu của dân từng trải”, ông Sáu “trường đua” nói với vẻ tự hào. Ông còn kể cho tôi nghe chuyện ông từng ăn mảnh ở mấy tiệm hủ tíu bánh bao hồi năm sáu chục năm về trước với giọng khoái trá:

“Hồi đó tao làm nài ngựa. Hôm nào ngựa thắng độ thì nài được chủ ngựa thưởng cho bộn tiền. Hôm nào ngựa thua thì coi như đói. Không sao, 73 gần trường đua có một tiệm hủ tíu cà phê. Vào búng tay chóc chóc gọi cà phê. Cứ cho mấy thằng phổ ky mang bánh bao xíu mại ra bày trên bàn. Đợi đến khi nó mang cà phê ra rồi bỏ chạy sang bàn khác thì nhanh tay gở miến giấy phía dưới cái bánh bao ra và khoắng ngay cái nhân phía trong tọng vào miệng rồi đậy bánh lại như cũ. Thế là chỉ tốn ly cà phê vài xu mà đã có cái nhân bánh bao to đùng ngon lành trong bụng rồi”.

Theo ông Sáu “trường đua” thì các chủ tiệm cà phê hủ tíu hồi đó rất chiều khách. Sì sụp húp cà phê bằng đĩa xong muốn ngồi bao lâu cứ ngồi, hết trà cứ hô lên “xà dẵm” là có người mang ra bình trà mới, uống chừng nào chán thì đi. Khi được hỏi tại sao dân “sành điệu” lại không uống bằng ly mà lại… húp cà phê bằng đĩa, ông Sáu “trường đua” lắc đầu nói không biết chỉ biết dân “sành điệu” chơi vậy mình cũng bắt chước chơi vậy thôi, vậy mới là… sành điệu !

Cà phê phin hay cà phê “nồi trên cốc”

Dòng cà phê… vớ cà phê kho lững lờ trôi như thế hằng thế kỷ của thiên kỷ trước là như thế, cứ vào tiệm hủ tíu mà uống cà phê đổ ra đĩa rồi sì sụp húp thì được xem như đó là phong cách của dân chơi sành điệu.

Một người tên ông Chín “cù lủ”, một tay bạc bịp nay đã hoàn lương cho rằng dân cờ bạc, dân giang hồ hồi đó chẳng đời nào bưng ly mà uống như ngày nay. Kẻ ngồi nghiêm túc, nâng ly lên uống như uống rượu bị các đàn anh “húp” đĩa xem khinh bằng nửa con mắt, coi như hạng… “bột” lục hục thường tình không đáng kết giao.

Nhưng rồi cái quan điểm húp cà phê trên đĩa mới… “sang” cũng đến lúc phải lụi tàn, vì bị chê là kiểu uống bẩn, uống thô vụng khi trào lưu cái phin “filtre” bắt đầu xuất hiện và đã làm biến dạng cái kiểu uống cà phê trong tiệm hủ tíu.

Vào thập niên 60 Nhà hàng Kim Sơn (nằm trên góc Lê Lợi – nguyễn Trung Trực) mở cú đột phá ngoạn mục bằng cách bày bàn ghế ra hàng hiên dành cho các văn nghệ sĩ trẻ chiều chiều ra đó bàn chuyện văn chương và… rửa con mắt. Hồi đó cà phê Kim Sơn chỉ có một đồng một cốc bằng giá vé xe buýt dành cho học sinh. Mặc dù chủ quán Kim Sơn lúc đó vẫn là người Hoa nhưng đã tiếp thu phong cách cà phê hè phố của dân Pari (Pháp).

Theo lý thuyết, những giờ uống cà phê là những giờ thư giản hoàn toàn, vừa nhăm nhi từng ngụm nhỏ cà phê dặc sánh vừa ngắm quang cảnh sôi động đông vui của đường phố. Thuở ấy con đường Lê Lợi vẫn còn những hàng me. Vào những ngày me thay lá, dưới ánh nắng chiều phớt nhẹ, lá me vàng khô rơi tản mản như hoa “com – phét – ti” lấp lánh làm cho đường phố trở nên… “mộng mị” và thơ…

Kim Sơn biết tận dụng ưu thế chiếm lĩnh một góc ngã tư, tầm nhìn rộng bao quát để khai thác dịch vụ cà phê hè phố. Cái phin đã trở nên quen thuộc, cao cấp hơn cái vợt cái vớ của cà phê kho trên cái siêu đất “phản cảm” xưa.

Thời điểm nầy những nhà văn, nhà báo, các nhà doanh nghiệp tên tuổi cũng có những quán cà phê sang trọng xứng tầm với địa vị của họ. Những La Pagode, Brodard, Givral, Continental là nơi gặp gỡ, giao lưu của giới thượng lưu Sàigòn.

Cà phê Tây

Cà phê La Pagode khách không ngồi ghế sắt ghế gỗ mà ngồi trên những salon bọc da để phóng tầm mắt nhìn ra con đường Catinat (nay là Đồng Khởi) con đường đẹp và sang nhất của Sàigòn. Cách La Pagode độ trăm mét Nhà hàng Continental cũng mở một không gian cà phê sang trọng đúng phong cách “Phăng – se”. Đối diện Continental là tiệm cà phê Givral nơi nổi tiếng với những món bánh ngọt tuyệt hảo. Tiệm tràn ngập ánh sáng bởi những khung cửa kính nhìn ra Nhà Hát Lớn (nay là Nhà Hát TP) với một bầu trời khoáng đãng. Những nhà báo, văn nghệ sĩ thường ghé đây uống cà phê trước khi tỏa đi khắp nơi cho công việc riêng của họ.

Còn một quán cà phê với một phong cách phương Tây như bàn ghế, trang trí nội thất sang trọng cũng nằm trên con đường nầy là quán cà phê Brodard. Với một phong cách cũng gần giống với La Pagode, không gian Brodard yên tĩnh, ánh sáng thật nhạt để khách có thể thả hồn êm ả bên tách cà phê nóng hổi quyện hương thơm.

Có thể nói từ giai đoạn nầy người Việt Nam ở Sàigòn “thức tỉnh” trước thị trường buôn bán cà phê mà từ lâu họ đã bỏ quên và đã để cho các chú Hoành, chú Koón, chú Xường… tự do khai thác.

Khi qua tay người Việt quán cà phê không còn luộm thuộm những cái ‘đuôi” mì, hủ tíu, hoành thánh, xíu mại, há cảo, bánh bao… nữa mà nó thuần túy chỉ có cà phê nhưng được chăm chút một cách tỉ mỉ hơn, biết tạo ra một không gian tao nhã hơn, thu hút hơn…

Cafétéria ca nhạc

Để gần gủi hơn, thu hút khách hơn và cũng mang tính giải trí hơn, một số nơi đã ổ chức hình thức phòng trà ca nhạc theo dạng Cafétéria. Cafétéria rộng thoáng hơn những “Tháp ngà” La Pagode, Brodard, Givral, Continental… nơi đây không phải chổ để trầm tư, bàn luận chuyện đời mà hoàn toàn là chổ vui chơi giải trí.

Trên đường Bùi Viện đầu những năm 60 mọc ra một cái quán với tên là Phòng trà Anh Vũ. Tuy là phòng trà nhưng có thiết kế một sân khấu nhỏ vừa cho một ban nhạc bỏ túi đệm đàn cho những ca sĩ tăm tiếng được mời đến trình diễn như Bạch Yến, Mai Hương, Duy Trác, Cao Thái… Lúc đó phòng trà Anh Vũ là điểm hẹn của nhiều người dân Sàigòn cũng như những văn nghệ sĩ sinh sống tại đây. Con đường chật hẹp Bùi Viện bổng đêm đêm sáng lên rực rở ánh đèn Anh Vũ, người xe tấp nập đông vui.
Một Cafétéria khác theo cách của Anh Vũ cũng đã mọc lên bên cạnh rạp Ciné Việt Long (trên đường Cao Thắng) với tên Phòng trà Đức Quỳnh. Ca sĩ kiêm nhạc sĩ tóc dài Đức Quỳnh là chủ nhân của cái Cafétéria nầy. Đức Quỳnh với cây Piano và giọng ca trầm ấm của ông và những ca sĩ Minh Hiếu – Thanh Thúy, Phương Dung đã thu hút một số đông người yêu nhạc đêm đêm đến đây vừa giải khát vừa giải trí một cách tao nhã.

Rồi tiếp theo là cà phê Cafétéria Jo Marcel, trên đường Hai Bà Trưng, Đêm Màu Hồng trên đường Tự Do (nay là đường Đồng Khởi) thi nhau mọc lên đẩy “Nền văn hóa ẩm thực” cà phê lên một tầm cao hơn, tức vừa uống cà phê vừa được thưởng thức những ca khúc do các ca sĩ, nhạc sĩ có tiếng trình bày.

Một Phòng trà ca nhạc khác cũng khó quên chính là phòng trà Bồng Lai nằm trên sân thượng của Nhà hàng Kim Sơn mở cửa hàng đêm từ 9 giờ tối. Ở đây khách thường xuyên được nghe giọng ca vàng đương thời, ấy là ca sĩ Anh Tuyết với bài hát “Anh đèn Màu”.

Cũng như ca sĩ Cao Thái nổi tiếng với bài “Mexico”, ca sĩ Anh Tuyết mỗi lần trình diển “Anh đèn Màu” là bà hát với những dòng nước mắt. Nội dung ca khúc là nói về tâm trạng của người nghệ sĩ là ca hát để người mua vui để rồi khi ánh đèn màu tắt người nghệ sĩ lại một mình giữa cô đơn… Có lẽ do cái nội dung u buồn ấy đụng chạm vào nỗi lòng của bà nên bà rất ít khi chịu hát nhạc phẩm ấy. Nhưng hầu như đêm nào cũng có người yêu cầu, trừ những người thân quen bắt buộc phải đáp ứng, còn thì Anh Tuyết xin lỗi từ chối khéo.

Lại quay về cà phê vớ đông vui

Những ngày đầu sau khi thanh bình, Sàigòn lại rộ lên phong trào cà phê hè phố. Những quán cốc che tạm tấm bạt bên lề đường với những chiếc ghế gỗ lùn làm chổ tụ họp của các thanh niên vui đón những ngày hạnh phúc mới.

Vòng quanh Hồ con Rùa, xuống đến Phạm Ngọc Thạch, quẹo qua Nguyễn Đình Chiểu có hàng mấy chục “túp lều” cà phê như thế mọc lên san sát bên nhau. Trên đường Trần Quốc Thảo gần Hội Văn Nghệ TP, một số anh em văn nghệ cũng mở quán cà phê cóc bên vệ đường để anh em hội tụ, gặp gở sau khi chiến tranh đã kết thúc.
Chỉ là cà phê hè phố nhưng đông vui, uống một cốc cà phê siêu, cà phê vớ nhưng thoải mài ngồi cả ngày cũng chẳng ai rầy rà. Sau khi hết tiếng súng nổ, hết hỏa châu đầy trời, hết bắt lính, thanh niên, sinh viên Sài gòn vui vẻ chào đón ! những ngày cách mạng đông vui ngoài phố. Và các ‘quán cốc liêu xiêu một câu thơ” bên các vĩa hè là chổ dừng chân để… “tám” đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.

Chỉ có ai ở tuổi thanh niên vào thời điểm lịch sử có một không hai đó mới thấy được cái thú ngồi quán cà phê bụi lụp xụp mà hầu như đường nào cũng có. Có người còn có thuốc Ruby, Con Mèo để phì phà bên ly cà phê vớ nhưng để… phiêu bồng hơn một số lớn thanh niên chơi… “bốc – lăn – se” tức thuốc vấn. Anh nào cũng thủ sẵn một bọc trong túi xách để sẳn sàng bày ra cho bạn bè tha hồ vừa bốc vừa lăn vừa se vừa liếm vừa dán rồi phì phèo nhả khói

Cà phê quán cóc (nhảy nay chổ nầy mai chổ khác như cóc nhảy ấy mà) thời ấy được coi như thời huy hoàng lãng mạn nhất của nền… văn hóa ẩm thực cà phê cóc Sàigòn. Ban ngày đã rộn ràng như thế đến đêm bên những ngọn đèn dầu lù mù loanh quanh những con đường trong thành phố cũng có những quán cóc để dân mê cà phê, mê hòa bình được tận hưởng những giờ phút, sảng khoái, thanh bình, yên ả nhất của đời mình.

Sàigòn dĩ vãng và Sàigòn Bolsa

Sàigòn một thuở là Hòn ngọc Viễn Đông, một Paris lấp lánh khắp cõi Châu Á, tới hôm nay, đã mang tên khác, nhưng người ta vẫn quen gọi tên cũ chính danh là Sàigòn. Một thành phố mãi mãi vẫn mang tên là Sàigòn. Sàigòn của muôn đời. Sàigòn trong trái tim người đang sống ở thành phố đó hay lưu lạc khắp năm châu thế giới..
Người Sàigòn không nhất thiết phải sinh ra tại đó, có bao nhiêu đời Ông Bà Cha Mẹ từng lập nghiệp lâu năm bền vững. Một người, bất cứ ai, cũng có thể nhận chính mình là dân Sàigòn, dù chỉ ở đây một ngày, một tuần hay một tháng, một năm. Chỉ sống một ngày ở Sàigòn, nhưng yêu Sàigòn mãi mãi, và mang Sàigòn ở trong tim, như một phần của thân xác, linh hồn mình. Chỉ như vậy thôi, người ta có thể ngẩng cao đầu, tự hào vỗ ngực tuyên xưng, tôi chính là dân Sài gòn.

Tóm lại, Sàigòn là của tất cả mọi người suốt giải giang sơn, từ Bắc qua Trung tới Nam. Sàigòn như một hiền mẫu, dang vòng tay ôm thương yêu quảng đại tới con người tứ xứ, không phân biệt Bắc, Trung, Nam và ngay cả người ngoại quốc nữa.

Một người Pháp sinh ra ở Paris, bỗng dưng một hôm tuyên bố, từ nay tôi không còn là một Parisien, cư dân ở Paris nữa. Tôi là người Sàigòn và sẽ ở lại đây cho tới cuối đời. Thế là dân Sàigòn bèn gọi chàng Tây là anh Hai, hoặc anh Tư gì đó. Tinh thần người Sàigòn là như vậy đó, thiệt là cởi mở và phóng khoáng.

Một nhạc sỹ sáng tác nhạc gửi : “Sàigòn ơi ! Ta hứa rằng ta sẽ trở về” . Rồi chàng cũng đã trở về thật, sau hơn chục năm xa cách. Nhưng chàng khám phá ra mình thực sự mất Sàigòn trong thực tại. Thế nên, nếu có sự trở lại, thì chỉ còn một hành hương về Sàigòn trong quá khứ với ngọc ngà dĩ vãng..

Hãy cùng trở về Sàigòn từ một ký ức xa tắp mù khơi. Sàigòn của những thập niên 1950 từ hơn nửa thế kỷ trước. Sàigòn với các hộp đêm, sòng bài Đại Thế Giới, Chợ Lớn, một Las Vegas thu nhỏ. Tại đây có đủ loại sòng bài và cách chơi khác nhau, lại có chỗ giải trí như xe nhỏ chạy bằng điện húc nhau đùa rỡn, hiện nay Las Vegas vẫn còn trò chơi này. Khu văn nghệ khác như phòng trà vũ trường. Con đường Trần Hưng Đạo Galliéni, Đồng Khánh chạy dài từ Sàigòn tới Chợ Lớn dài vun vút dẫn khách tới sòng bài, lưu thông hàng ngàn chiếc xe hơi nối đuôi nhau, đèn pha sáng chói, chẳng khác gì đại lộ Champs Elyseé tại Paris.

Đường Richaud Phan Đình Phùng quả thật văn nghệ với quán cà phê Gió Nam nỗi tiếng vì cô hàng café tuyệt sắc giai nhân. Nàng có nước da trắng xanh liêu trai với mái tóc thề ngây thơ nữ sinh. Nhân vật đã đi vào truyện Duyên Anh, qua bao chàng trai say đắm, tranh đua nàng, từ trí thức đến du đãng yên hùng. Cũng tại đường Phan Đình Phùng với quán phở Con Gà sống thiến cùng hai kiều nữ con chủ quán, nổi danh tài sắc. Yến Vỹ cùng chị, cả hai để mái tóc bồng rối như minh tinh Brigitte Bardot. Bao thực khách đến chẳng phải phở ngon, nhưng vì Yến Vỹ đẹp lại hát hay. Thì ra ngoài quán café, nhà hàng phở giai nhân cũng khiến một chàng Cử Văn Khoa phải vào nhà thương điên vì tình si. Phan Đình Phùng còn thêm café quán Luật Khoa và cơm gà Xing Xing, với những giai nhân lai Pháp, càng làm thêm Sàigòn có một chút Paris.

Sàigòn by night đã là những phòng trà ca nhạc và vũ trường khiến màn đêm Thành Đô trở nên lung linh ảo huyền, như một ngàn lẻ đêm huyền thoại. Nổi bật nhất từ cuối thập niên 50 là phòng trà ca nhạc Anh Vũ. Nơi đây khởi đi cho nhiều danh ca sau này. Thanh Thúy ở tuổi mượt mà thanh xuân đôi tám đã hát từ Anh Vũ, làm mê say bao tao nhân mặc khách. Người ta mê Thanh Thúy vì có lối trình diễn độc đáo bên giọng ca trầm buồn. Thanh Thúy vừa hát vừa đưa tay vuốt làn tóc buông rơi, sau đó gây chú ý là tự vuốt đôi chân ngọc tuổi dậy thì, có lúc nàng lại vưốt cây micro nữa, khiến các chàng trai sởn da gà vì sốt nóng lạnh.

Ban CBC thuở Anh Vũ đã là ban nhạc kích động nhỏ nhất thế giới, với tuổi khoảng sáu, bảy mà thôi. Thảm kịch cũng xảy ra cho phòng trà Kim Điệp Sàigòn, khi một chàng Tây lai bị giết. vì dám cặp kè với người đẹp Tuyết Không Quân. Tuyết là một giai nhân nổi tiếng sát phu qua hai đời chồng bị tử nạn trong chiến tranh. Phòng trà Kim Điệp sau vụ ấu đả vì ghen tuông. bị đóng cửa để trở thành Nhà sách.

Quán café trà thất đẹp nhất Sàigòn phải kể là Quán Gió, sau thành “Hầm Gió”, thiết trí sâu dưới đất, như một hầm rượu bên Âu châu. Người đẹp ngồi cash, bên một thùng rượu làm thành cái bàn khá ngoạn mục. Ca sỹ Thanh Lan thường có buổi trình diễn tại đây

Chính những phòng trà đêm Sàigòn đã đưa nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn lên đỉnh cao. Nhiều ca khúc phản chiến cấm hát ở Đài phát thanh nhưng tại phòng trà thì vẫn được trình diễn tự do.

Vũ trường, phòng trà Sàigòn còn ghi lại một thiên tình sử đẫm lệ, khi nữ ca sỹ Diệu Anh kiều diễm hát hay, đã tự tử vì . . . bị một nam ca sỹ bỏ rơi. Chàng trai bạc tình sau đó vì buồn và hối hận đã bỏ hát vài năm. Đêm Sàigòn trà thất vũ trường còn ghi đậm cây si thường xuyên Mai Thảo và Hồng Dương, để viết thêm những tình sử lâm ly với hai nữ danh ca khác.

Đêm Sàigòn bạc vàng, bạc triệu với Lệ Thu và Khánh Ly, những tiếng hát vàng ròng cả nghĩa trắng lẫn nghĩa đen, vì lương tháng hai nữ danh ca này lên tới một triệu. Trong khi đó, lương một Đốc sự, Phó Quận trưởng tới năm 1975 chỉ có 33 ngàn đồng một tháng.

Vũ trường thơ mộng nhất Sàigòn là Mỹ Phụng ngay tại bến Bạch Đằng. Thuở đó cuối thập niên 50 đầu 60, người ta thích đi Mỹ Phụng vì ban đêm có gió sông Sàigòn mát dịu lại thêm nữ danh ca Lệ Thanh. Nàng chuyên hát những tinh khúc ướt át, trong điệu slow tắt đèn, mờ ảo như “Dang dở ” “Nỗi Lòng”. Tiếng hát mê đắm Lệ Thanh đã thu hồn một Bác Sỹ trở thành phu quân của nàng.

Đêm Sàigòn ngọc ngà dĩ vãng khiến người ta khó quên được vì những dạ vũ Bal Famille có khi kéo dài từ đêm suốt sáng. Ai có ngờ cô bé Mai đen 16 tuổi, thường đi với bé Phú, sau này lại trở thành ca sỹ Khánh Ly nổi danh cho tới nay. Phú mệnh danh là Phú chuột, trắng trẻo, mũm mĩm xinh như thỏ con, thường nhảy cùng Mai với đám bạn trai. Mai nhảy có khi bỏ cả giày cao gót giữa đêm vui đã gần rạng sáng.

Thuở ấy, người đi dạ vũ phải trầm trồ khen ngợi tài nhảy của Tony Khánh, thường nhảy cặp với vợ. Mỗi lần Khánh cùng phu nhân ra sàn nhảy, mọi người đều ngừng khiêu vũ để thưởng thức tài nghệ bậc sư biểu diễn. Sau đó là pháo tay nổ ròn như ngày Tết.

Hòn ngọc Viễn Đông Sàigòn từ thập niên 50 nay đã trên nửa thế kỷ, Sàigòn đã đổi tên. Người Sài Gòn đã bay xa, lập thành bao nhiêu Little Sàigòn rải rác khắp hải ngoại . Và dân Sàigòn năm xưa, những chàng trai hào hoa phong nhã, bao giai nhân ca sỹ lừng danh, nay đã thất thập cổ lai hy, hay gần mấp mé tuổi hạc. Thế nhưng trái tim chằng bao giờ già.

Bởi vậy nói như thi sỹ Thanh Tâm Tuyền ta gọi tên ta, Sàigòn cho đỡ nhớ. Hỡi những Đêm Mầu Hồng, Queen Bee, Arc En Ciel, Mỹ Phụng, Tự Do . . . Những đêm vui thắp sáng kỷ niệm, những ngày xuân mãi mãi xanh tươi, để làm thành một Thủ Đô Sàigòn bất tử, ta yêu lắm và yêu mãi mãi. Sàigòn trong lời nhạc của Ngô Thụy Miên, thì dù Em của ta có đi khắp thế giới Paris, Vienne, cũng chẳng thể tìm đâu đẹp hơn Sàigòn của ta ngày hôm qua dĩ vãng cũng như Sàigòn mai sau. (khuyết danh – sưu tầm tổng hợp)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHÀ VĂN TRƯƠNG ĐẠM THỦY

Giới thiệu

nhà văn nhà thơ, nhà báo

TRƯƠNG ĐẠM THỦY

& truyện “MA XEM HÁT”

– Bài Nguyễn Việt

Nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy, tên thật Trương Minh Hiếu. Sinh năm 1940 tại Bến Tre. Anh từng đoạt giải truyện ngắn trên nhật báo Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai vào đầu thập niên 1960 và sống chết với ngòi bút tại Sài Gòn cũng từ năm 1960 cho đến nay.

Tôi biết nhà văn Trương Đạm Thủy từ giữa thập niên 1960 từ tờ tuần báo Ngày Mới của ông Hoàng Phố lúc đó nằm ở số 54 Võ Tánh (nay là một siêu thị trên tên đường mới là Nguyễn Trãi) gần ngã sáu Phù Đổng; còn tôi chỉ là một “văn nghệ trẻ” đang tập tễnh vào đời. Lúc đó anh còn rất trẻ, viết truyện ngắn và làm thơ rất hay, cùng với Bình Nguyên Lộc, Phan Trần Duyên (Phan Yến Linh), Phương Triều, Ngô Tỵ thay nhau mỗi người mỗi tập truyện ngắn mỗi tuần.

Lúc đó tôi mê một truyện ngắn của Trương Đạm Thủy, một truyện có tên “Tháng giêng cỏ non” nói về một cô gái gánh nước mướn bị người cha dượng hãm hiếp không còn đời con gái, khi có một chàng trai ngỏ ý lấy cô làm vợ, cô gái khóc nói sợi dây thừng đã đứt, nếu cột thì vẫn còn tỳ vết” – loại dây câu móc thùng lấy từ giếng nước lên – để thấy một cô gái dù thất học nhưng luân lý đạo đức Á Đông vẫn luôn tồn tại trong đầu óc mọi người, luôn lấy tiết trinh đánh giá nhân phẩm của người phụ nữ.

Cô gái mang mặc cảm vì không còn tiết trinh để trao lại cho người yêu. Còn chàng trai trẻ không vì tính phong kiến của người đời, vẫn giang tay đón nhận thực tế dù cho có phũ phàng, để cùng người yêu đến một chân trời mới nơi đó chỉ có tháng Giêng mùa Xuân và cỏ non. Hay một bài thơ mang tựa “Thì thầm trong tối” mà tôi mê nhất một đoạn : “nếu biết tôi nghèo, em yêu tôi không / sự nghiệp trắng tay tóc xanh phiêu bồng / con tim nhỏ, mang nhiều thương tích lớn / Ước vọng chưa thành đời đã long đong…” diễn tả nội tâm của một anh nghèo đang yêu và mặc cảm trong tình yêu.

Và vì truyện và thơ Trương Đạm Thủy làm tôi say mê, thích lối văn phong bình dị mà sâu sắc, lãng mạn và trữ tình, và ai đọc cũng hiểu bởi văn chương thơ phú của anh không “xa hoa” với những ngôn từ “vĩ mô” theo mốt thời thượng bây giờ. Tôi xin làm em anh từ dạo đó.

Nhà văn Trương Đạm Thủy rất ít người thân, anh nói mồ côi cha mẹ từ dưới quê Bến Tre lên Sài Gòn kiếm sống, rồi anh dẫn tôi về trên một gác trọ nhỏ đang thuê trong hẽm đường Phan Thanh Giản khi xưa, để tiện dịp anh em gặp gỡ nhau hơn. Cũng từ đó tôi biết nhà văn Trương Đạm anh còn cộng tác với nhiều báo – từ giữa thập niên 1960 – như Lẽ Sống, Chuông Mai, Tia Sáng… và các tuần san tuần báo khác, đa phần do người miền Nam biên tập.

Sau này khi tôi về cộng tác với nhật báo Trắng Đen, anh đã có mặt ngay từ số báo đầu tiên phụ trách trang trong, giữ mục tuyển thơ cùng Cẩm Thi – Lý Dũng Tâm, Phan Trần Duyên, trang văn nghệ trẻ và một fueilleton. Khi anh bận bịu và không thích gò bó bị “đóng khung” của những người làm báo chuyên nghiệp, anh đã giao lại những khoản mục này cho tôi phụ trách để được tự do bay nhảy khắp các nơi.

Vì thế tôi biết cuộc đời nhà văn Trương Đạm Thủy rất “ba chìm bảy nổi”, lúc ngày xưa người ta đi xe gắn máy nhiều hơn đi xe hơi, thì anh đã có một chiếc xe “Đơ-chơ-vô con cóc” cầm lái chạy giật le với đời, tuy chiếc xe không mới tinh hoành tráng nhưng cũng đủ làm mọi người phải nhìn anh bằng đôi mắt thán phục.

Với nghề cầm bút, ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy ngoài tài viết truyện ngắn, làm thơ anh còn viết fueilleton, giữ mục tuyển thơ cho nhiều tờ nhật báo và tuần báo vào thời trước 1975, nổi tiếng trong nhóm “Sông Hậu” cùng với các nhà văn nhà thơ khác như Hoài Điệp Tử, Tâm Đạm – Dương Trữ La, Ngô Tỵ, Phương Triều; nhóm này giờ đây chỉ còn có anh là đang sống để tiếp tục “dzung dzăng dzung dẻ” với văn nghệ và với cõi dương trần đang trong độ tuổi gần Bát Tuần này.

Và cũng ít ai biết nhà văn Trương Đạm Thủy còn là một võ sư hoặc từng kinh qua nhiều môn võ thuật khác như Vovinam, Thái Cực Quyền, Aikido… nhờ vậy sau những năm 1975 nhiều gia đình phải ăn cơm độn với bobo, còn gia đình anh vẫn có gạo trắng nước trong của miền đồng bằng sông Cửu Long để nấu nhờ vào tiền “bồi dưỡng” vào mỗi sáng anh dạy võ dưỡng sinh cho người cao tuổi nơi những công viên cây xanh.

Bây giờ cuộc sống mọi người đã khá hơn, còn anh thì lại “long đong” với phận già, viết chuyện phiếm, làm thơ, viết văn cho các báo để nhận nhuận bút từng bài rồi cùng các anh em tri kỷ của “một thời Sài Gòn” như nhà thơ Thiên Hà, như tôi – bởi người của một thời giờ xưa giờ đây không còn nhiều, có người đã khuất núi, có người đã đi xa – cùng vô CLB Văn Nghệ uống lai rai vài chai bia để nói chuyện “văn nghệ văn gừng” quá khứ hiện tại tương lai, rồi về ngủ một giấc, cho đến hôm sau tiếp tục kéo cày để tiếp tục hùn tiền uống bia cùng với mọi người, cho cuộc sống tồn tại của ngày hôm ấy luôn thấy vui vẻ, yêu đời.

Vào đầu thiên niên kỷ thứ III mọi người còn thấy nhà văn Trương Đạm Thủy một mình một ngựa sắt (chiếc “xế điếc” đòn dông) rong ruổi trên các đường phố đi tìm bạn bè thân hữu mới cũ cho qua ngày tháng. Cái năm mọi người đã bắt đầu đi xe gắn máy hàng hiệu, hàng thùng, thì anh chỉ có một cái xe cánh én loại “sơ-công-hen” dùng lã lướt cho khỏi mỏi gối chùng chân, đi từ ngã tư Xóm Gà – Gia Định (nơi anh đang sống) đến quán Văn Nghệ ngồi nhâm nhi bên ly bia và đấu láo mọi sự trên đời cùng mọi người – trừ chuyện “chính trị chính em”, anh không bao giờ hưởng ứng. Thấy vậy vào giữa năm 2009 vừa qua, đứa con trai lớn mới hay ra, anh thường vất vả khi cái “xế nổ” cũ xì này hay giỡ chứng giữa đường, đã sắm cho anh một chiếc xe gắn máy mới khui thùng. Bây giờ anh “yêu xe như con, yêu xăng như máu” chăm chút cho xe mỗi ngày.

Cuộc đời nhà văn, nhà thơ Trương Đạm Thủy là như thế, rất văn nghệ và sống bằng văn nghệ. Anh không luồn cúi, bi lụy ai để có một cuộc sống xuyênh xoang như mọi đồng nghiệp khác; mà sống tự tại bằng thế “đứng tấn” bởi hai chân cũng như bằng đôi tay còn cầm bút được. Nên không ai biết anh là nhà văn hội viên trong Hội Nhà Văn thành phố, vì anh cũng khá trầm tính và rất khiêm tốn không khoe khoang với những chức danh in trong danh thiếp, hay trong những tập truyện, thơ từng xuất bản cũng không có đôi dòng nói về tiểu sử hay cuộc đời của anh…

Còn nói về tình ái, nhà văn nhà thơ nào mà không lãng mạn, ngày anh còn trẻ đã yêu đơn phương một chị làm “thầy cò” trên báo Ngày Mới, đến giờ anh vẫn còn nhắc đến tên Họa Mi của chị, rồi hỏi tôi có còn gặp không. Nói như thế không phải nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy không chung tình, chung thủy; trước 1975 anh cưới vợ, vợ anh làm ở một hãng dược phẩm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đến nay vẫn “đầu gối tay ấp” mặn nồng bên nhau cùng với hai con. Con trai anh hiện giờ đang thành đạt trên trường đời, con gái đã lấy chồng đi theo chồng xa xứ. Nên ngày ngày anh vui với những đứa cháu nội sau những giờ không đi tìm bạn bè thân hữu…uống bia.

Có lẽ tôi chỉ biết về nhà văn, nhà thơ, nhà báo Trương Đạm Thủy chỉ có bấy nhiêu, và nhưng có lẽ cũng đã gói ghém hết cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của anh trong bài viết này, không còn thiếu xót bao nhiêu, nếu có, xin mọi người cho thêm những đóng góp phản hồi.

Những tác phẩm của nhà văn nhà thơ Trương Đạm Thủy đã xuất bản vào thập niên 1960 – 1975 : Miền đất hồi sinh (tập truyện), Cành cây nước lũ (tiểu thuyết), Chuyện những dòng sông (tập truyện).

Từ thập niên 1990 : Không có tình yêu (tiểu thuyết), Bên kia bờ cỏ xanh (tiểu thuyết), Như lá vàng bay (tiểu thuyết).Vào thập niên thế kỷ 21 : Thơ tình Trương Đạm Thủy, Hát xẩm giữa đêm (thơ) – Hợp tuyển thơ Bến Tâm Hồn 1, 2 (Một thời Sài Gòn), 3 (Tôi còn kỷ niệm). Đang thai nghén tập truyện ngắn : Vượt vũ môn

Nguyễn Việt

Sau đây xin giới thiệu đến các bạn một truyện ngắn của nhà văn Trương Đạm Thủy :

MA XEM HÁT

Mới đó mà gần hết mùa đông, chỉ còn hơn mươi ngày nữa đã đến xuân rồi. Đêm càng thêm lạnh. Mấy đứa trẻ ngồi làm một vòng tròn cạnh ngoại Bảy dưới mái hiên nhà ngoại. Ngọn đèn bão treo trên cây xà đỡ mái hiên lắc lư trong ngọn gió bấc hắt hiu. Ngoại Bảy têm miếng trầu nhai tóp tép như để nhớ lại chuyện đời xửa đời xưa…

Gánh hát nghèo

– Hồi đó ngoại còn nhỏ lắm, như tụi bây thời bây giờ. Mẹ ngoại, tức bà cố cũng làm bà đỡ như ngoại. Chuyện bà cố đi đỡ đẻ về khuya gặp ma quỉ yêu tinh coi như chuyện cơm bữa bởi hồi đó làng mình còn hoang vu lắm. Nhà cửa thưa thớt, cách nhau năm sáu tiếng hú mới có người nghe. Hồi đó có một gánh hát nghèo, cố nói gánh đó thường di chuyển trên ghe, nay làng nầy mai làng khác hát để kiếm cơm nuôi đoàn nghệ sĩ cũng nghèo như gánh. À, đó là gánh hát của ông bầu Hớn.

Hôm đó mới hơn ba giờ chiều từ xa trên con sông chảy qua làng mình đã nghe thấy tiếng trống hiệu vang lên. Người lớn, trẻ em đều náo nức reo lên: “Gánh hát về ! Có gánh hát về !”. Nửa giờ sau có hai chiếc ghe lớn cặp bến chợ. Bầu Hớn nhảy lên bờ chạy lên Nhà Việc, tức là nơi các ông hương chức hội tề làm việc, xin phép tắc. Dễ thôi, chỉ cần dành nguyên hàng ghế mời danh dự cho hương cả, hương chủ, hương thân, hương hào, hương quản… là xong thôi.

Gánh hát Bầu Hớn nhìn qua đã thấy nghèo rồi, từ bầu gánh đến đào kép đều quần áo lôi thôi. Phông màn của gánh hát thì cũ kỷ có cái rách dọc ngang phải đắp vá nhiều chổ.

Ngoại Bảy nhả miếng trầu châm một điếu thuốc. Ngưng nghỉ giây lâu ngoại tiếp:

– Được làng xã chấp thuận cho hát xong bầu Hớn vội vả cho dựng sân khấu ngay trong lòng chợ. Bảng quảng cáo tuồng “Phạm Công – Cúc Hoa” được dựng ngay trước cửa chợ. Trống và phèn la cũng được các “cậu chài” nổi lên inh ỏi.

Năm đó các làng xã bị hạn hán thất mùa nên gánh bầu Hớn đã đi hát một tháng ròng mà đào kép đói vẫn đói bởi chẳng có ai có tiền để đi coi hát. Đến làng nầy bầu Hớn hy vọng khán giả khá hơn để toàn thể nhân viên còn có cơ may chịu đựng. Trời sụp tối trống phèn la càng thúc giục nhưng chỉ ngoài đám trẻ con quần áo lôi thôi lếch thếch ra chẳng thấy có một người lớn nào đến xem.

Mặt mày bầu Hớn nhăn nhó thảm hại. Nếu như đêm nay ế khách thì ngày mai đào kép lấy gì ăn? Ông Hớn cứ đi ra đi vào cửa chợ ngóng khách, cũng chẳng thấy ai ngoài một ít người kẻ chợ lác đác trước sân chợ.

Đám trẻ chắc lưỡi :

– Tội nghiệp ông bầu quá hả ngoại ?

Ngoại buồn buồn :

– Ờ, tội nghiệp đời xướng ca ba chìm bảy nổi quá. Đêm ấy ngoài các ông hương của làng xã và năm ba khán giả khá giả ra cả rạp hát trong lòng chợ vắng hoe vắng hoắc. Bầu Hớn đành cho diễn mà trong bụng khóc ròng. May sao tuồng diễn hay quá nên các ông hội tề thương tình hùn nhau cho mấy bao gạo và chục con gà con vịt cho đào kép có gì lót dạ qua đêm.

Đêm hát vãng, bầu Hớn rầu rỉ đi ra ngoài sân chợ rồi thẫn thờ đi xuống bến sông. Chợ làng khuya càng thêm vắng vẻ, con trăng khuyết đầu tháng trôi bềnh bồng trên nền trời như con thuyền vô chủ đứt dây neo. Bỗng từ đâu đó dưới bến sông đi lên một người dàn bà mặt hoa da phấn. Vừa đến gần bầu Hớn người dàn bà đã lên tiếng :

– Có phải ông đây là bầu Hớn ?

Bầu Hớn mau mắn :

– Ừ, tôi là bầu Hớn đây.

Người dàn bà mỉm cười :

– Tôi biết gánh hát của ông đang ế nên đến giúp ông. Mai ông lui ghe đi đến hát chỗ làng tôi đi, bảo đảm có hơn trăm khách. Mà không lo, tui bao dàn.

– Làng của cô đây là làng nào, ở đâu ?

– Tui chỉ cho. Mai lúc nước lớn ông cho ghe đi ngược về phía dòng nước, đi đến lúc trời sụp tối sẽ thấy có người cầm đuốc ra bờ sông đón. Đừng lo, sân khấu đã có người dựng sẵn, đến là hát ngay lại có gà qué, heo cúi để các người ăn khuya. Đây, tui đặt trước cho lượng vàng, ngày mai nhớ làm đúng lời tui dặn.

Bầu Hớn mừng rỡ :

– Dạ dạ, ngày mai đúng giờ nước lớn chúng tôi sẽ lui ghe.

Hôm sau mới sáng bầu Hớn đả cho nhân viên chuẩn bị hòm trấp đưa lần xuống ghe. Đến trưa chợ vắng người thì đưa tiếp phông màn xuống. Đào kép thì di chuyển từ người một. Họ lui ghe mà như đi ăn trộm vì sợ các ông hội tề cản trở bởi xin phép hát mười ngày cớ sao mới một đêm mà lặn mất ?

Đến giờ nước lớn nhớ theo lời dặn bầu Hớn cho lịnh lui ghe. Chẳng biết có ma quỉ nào che chở không mà bầu đoàn đào kép của gánh bầu Hớn có cả ba bốn mươi người ra đi lúc mới xế chiều mà cả chợ, cả ban hội tề cũng chẳng ai thấy chẳng ai hay.

Mặt trời xế dần, xế dần… Hai chiếc ghe của gánh bầu Hớn bắt đầu đi vào một đoạn sông cây dừa nước, cây bần, cây tạp mọc um tùm. Chiều dần xuống đoạn sông càng hoang vắng. Lũ chim nghe mái chèo khua động cất cánh bay tán loạn. Cảnh vật hoang vu quá làm ai nấy trên thuyền đều lo sợ. Riêng bầu Hớn nhờ có cây vàng lận lưng nên vẫn hớn hở chỉ tay cho thuyền đi tới.

Rồi mặt trời cũng thấp dần, thấp dần. Phía trước mũi thuyền đỏ như máu màu nắng quái hoàng hôn. Hai bên bờ sông cây cối đã chìm lẫn vào bóng tối mờ ảo. Bản thân bầu Hớn cũng bắt đầu lo lắng tự hỏi : “Hay là bọn cướp dụ mình đến đây để cướp của giết người ? Nhưng bây giờ cũng chẳng làm sao quay ghe lại được. Vàng của người ta mình đã nhận, dành một liều một ăn một thua”.

Đang nghĩ vẫn vơ như vậy đột nhiên phía bên phải thuyền trên bờ sông đã thấy có người mặc toàn đồ trắng tay quơ quơ ánh đuốc. Bầu Hớn mừng rỡ ra lệnh cho thuyền cặp vào. Lại xuất hiện thêm hàng chục người cùng xuống thuyền khuân vác hộ rương trấp phông màn.

Theo chân đoàn người tiếp đón, đoàn bầu Hớn đi dưới ánh đuốc qua một đoạn rừng cây thưa thì bỗng trước mắt đoàn hiện ra một thôn xóm sầm uất, nhà ngói tường vôi san sát, đèn sáng như sao sa. Đi thêm một khắc đã thấy một rạp hát bề thế, đèn “măng sông” treo hàng chục chiếc. Chung quanh rạp lại treo đầy đèn lồng ánh sáng tỏa ra thật đẹp. Người thiếu phụ hôm qua xuất hiện chào đón nồng nhiệt bầu Hớn. Thiếu phụ tươi cười :

– Rạp, sân khấu, phông màn đã chuẩn bị đâu đó xong xuôi. Đêm nay ông cho diễn luôn hai tuồng “Phạm Công – Cúc Hoa” và “Phụng Nghi Đình” cho làng xem cho thỏa mãn.

Bầu Hớn cười khổ :

– Làm sao một đêm mà diễn được hai tuồng ?

Nữ nhân khoát tay :

– Không lo, đêm nay sẽ dài lắm. Cứ diễn, diễn hết một tuồng sẽ có cháo gà, cháo vịt chiêu đãi để lấy sức. Rồi còn heo qué muốn ăn thứ gì có người lo thứ đó.

Đoàn bầu Hớn vào rạp đã thấy choáng váng bởi cảnh trí rực rỡ ở đây. Sân khấu với phông màn cực kỳ lạ mắt. Đèn màu giăng mắc khắp nơi, lại nghe một mùi hương gì đó như hương nhang cúng. Được một lát thì đàn sáo nổi lên rôm rả như nhạc đám ma. Rồi từng đoàn, từng đoàn khán giả đủ cả già trẻ lớn bé có cả trăm người lần lượt vào rạp.

Nhìn khán giả đông đảo chất kín rạp làm bầu Hớn vô cùng hoan hỉ. Vị nữ nhân xuất hiện căn dặn :

– Bây giờ ông cho diễn đi, đừng lo gì cả. Hôm nay tui bao dàn. Ngoài tiền mua dàn, diễn hay còn có thưởng hậu.

Quá sướng bầu Hớn cho lệnh diễn. Được tin sẽ có nhiều tiền ban thưởng nên ai nấy đều ra sức ca diễn sao cho thật hay. Cứ mỗi lớp tuồng hay đều được khán giả phía dưới ném tiền lên ào ào như bươm bướm, bầu Hớn cho người ra sân khấu lượm ôm cả ôm không hết.

Xong vở Phạm Công – Cúc Hoa ra sau rạp hát đã thấy bày dãy tiệc đầy thịt thà gà cháo cho các nghệ sĩ giải lao. Ai nấy no nê lại thấy tiền thưởng quá nhiều nên mọi người lại nức lòng diễn tiếp tuồng hai, rồi đền tuồng thứ ba. Mà lạ quá, sao đoàn hát cứ diễn hoài mà đêm vẫn chưa hết, hình như đêm vẫn còn dài lắm. Song cứ diễn, cứ ăn uống, cứ có tiền thưởng nên ai nấy đều hưng phấn phô diễn hết tài năng.

Hết Phạm Công – Cúc Hoa đến Lưu Kinh Đính Giải Giá Thọ Châu lại đến Lữ Bố Hí Điêu Thuyền rồi Tôn Tẩn Giả Điên mà trời vẫn chưa sáng. Dù được cho ăn uống thỏa thuê nhưng các diễn viên tài tử, nghệ sĩ của gánh hát bầu Hớn đều quá mệt mỏi. May sao khi họ sắp hết hơi thì tiếng gà ran trong thôn xóm mé Đông đã chợt gáy.

Đám khán giả nháo nhác đứng dậy. Nữ nhân bao dàn nhét vội vào tay bầu Hớn mấy thỏi vàng lớn rồi biến mất. Cả đoàn hát sau đó tự nhiên rơi vào giấc ngủ say sưa chưa từng có. Từ bầu gánh cho đến đào kép, nhân viên đều lăn ra sân khấu ngủ say như chết, tiếng mớ, tiếng ngáy vang lên khắp nơi.

Mãi cho đến tận trưa mới có người đến lay bầu Hớn :

– Chú Hớn, chú Hớn dậy đi, sao cái gì lạ quá !

Bầu Hớn dụi mắt nạt :

– Lạ lạ cái gì, tao đang ngủ mà.

– Dậy, lạ lắm chú ơi !

Bầu Hớn mở mắt ra nhìn quanh rồi kêu “Trời” một tiếng đoạn ngất xỉu. Bởi lạ thật ! Chung quanh xóm làng nhà ngói tường sơn, rạp hát lộng lẫy đâu biến mất hết rồi. Cả đoàn hát, từ đào kép đến mấy cậu chài đều đang nằm ngủ say như chết giữa một bãi tha ma mồ cao mả thấp, bia mộ cái đứng cái xiêu. Chung quanh những người nằm ngủ thì la liệt những tờ giấy tiền âm phủ.

Khi bầu Hớn tỉnh dậy ông sờ túi thấy còn mấy thỏi vàng liền mở ra, ai ngờ chỉ là vàng mả. Sợ hết cả hồn ông gào lên :

– Lui ghe mau lên, đêm rồi chúng ta hát cho những con ma ở nghĩa địa nầy. Lui ghe lẹ lên.

Cả đoàn chạy ra hai chiếc ghe thì thấy cả hai chiếc ghe đang nằm chơ vơ trên một bãi sông cùn chung quanh đầy lau sậy không một bóng người… Ngoại kể một hơi rồi kết :

– Nhưng nghe nói sau đêm diễn tuồng cho ma coi thì gánh hát của bầu Hớn bắt đầu phất lên, diễn ở đâu là có đông khán giả đến đó. Có khán giả không muốn đi xem hát rồi cũng như bị ai ám vẫn phải kiếm tiền mua vé đi xem cho bằng được. Có người trong đoàn hát nói là những con ma mê tuồng hát đã trả ơn cho gánh hát của bầu Hớn. Có người còn luận : Ma coi vậy chớ cũng có tình nghĩa, làm ơn cho nó, nó chẳng quên ơn…

Trương Đạm Thủy

CÂU CHUYỆN “CHÙA HƯƠNG”

CÂU CHUYỆN “CHÙA HƯƠNG”

Qua thi phẩm của :

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

– Bài Nguyễn Việt

Nói đến nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp phải nhớ đến bài thơ nổi tiếng “Chùa Hương” của ông và nhạc phẩm “Đi chùa Hương” của nhạc sĩ Trung Đức.

Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914, ở xã Phượng Dực, huyện Phú Xuân, Hà Nội. Là con trai của nhà văn, nhà báo, dịch giả, học giả Nguyễn Văn Vĩnh còn là một ông chủ nhà in mang tên Trung Bắc Tân Văn ở xứ Bắc thời kỳ bấy giờ; còn mẹ ông là bà vợ hai của cụ Vĩnh tên Hai Lựu. Đến giờ không ai rõ tên bà Hai Lựu, chỉ biết bà người cao ráo, trắng trẻo, giao du rộng, nói thạo tiếng Pháp và sử dụng súng ngắn rất thành thạo.

Trong gia đình, Nguyễn Nhược Pháp có các người anh cùng cha khác mẹ, thuộc dòng bà cả, gồm nhà thơ Nguyễn Giang (về sau ông này là bạn thân của họa sĩ Picasso) sinh ở Bắc Giang; người anh thứ tên Nguyễn Dực sinh ở Phượng Dực, Nguyễn Phổ sinh vào thời điểm chiến tranh Pháp – Phổ và Nguyễn Hồ anh út.

Khi đi học Nguyễn Nhược Pháp học tại trường Albert Sarraut và sau khi thi đậu tú tài, ông vào học tại trường Cao đẳng Luật Đông Dương. Nhưng sau đó như để nối nghiệp cha, lúc thành tài ông không vào làm bất kỳ ngạch quan lại hoặc công chức nào trong chính quyền, mà làm thơ viết văn làm báo.

Nguyễn Nhược Pháp làm thơ rất sớm ngay thuở còn mài đủng quần nơi ghế nhà trường; vì theo nghề cha nên ông từng viết cho các báo Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh hoa, Đông Dương Tạp chí. Truyện ngắn và kịch của ông có lẽ không phổ biến nhiều và không nổi tiếng bằng thơ. Ngoài thi phẩm “Chùa Hương”, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp còn có những bài thơ khá nổi tiếng khác như “Tay Ngà” và “Sơn Tinh Thủy Tinh” (bài thơ này ông viết tặng Nguyễn Giang con bà cả).

Năm 1936 lúc nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã hơn hai mươi hai tuổi, ông đang nổi tiếng với tập thơ “Ngày xưa”, gặp phải cái chết bất đắc kỳ tử của thân sinh là cụ Nguyễn Văn Vĩnh, từ đó gia cảnh đang thuộc hàng giàu có ở Hà Thành bỗng dưng sa sút, có thể từ hoàn cảnh đó đã khiến cuộc đời người thi sĩ tài hoa này đã bước sang hướng khác.

Nên từ thời điểm đó cho đến khi Nguyễn Nhược Pháp qua đời chỉ vài năm sau, ông không có thêm tập thơ nào cũng như một bài thơ nào nổi bật, kể cả người gần gủi với ông về mặt tinh thần tức nhà thơ, nhà văn, nhà báo Nguyễn Vỹ cũng không đề cập đến thân thế của ông nhiều trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến”.

Người tài thường đoản mệnh, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời lúc ông mới 24 tuổi vào ngày 19/11/1938, do bệnh thương hàn.

Tác phẩm Nguyễn Nhược Pháp đã in có Ngày xưa (Nguyễn Dương xuất bản, Hà Nội 1935), Người học vẽ (kịch bản, xuất bản 1936 Hà Nội).

Trong thi phẩm “Ngày xưa”, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã sắp xếp thứ tự như sau : Sơn Tinh Thủy Tinh (Avril 1933), thất ngôn; Mỵ Châu (Janvier 1933), thất ngôn; Giếng Trọng Thủy (Janvier 1933), thất ngôn; Tay ngà (2 Mai 1934), ngũ ngôn; Mỵ Nương (Mai 1933), thất ngôn bát cú; Một buổi chiều xuân (6 Mai 1933), ngũ ngôn; Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống (30 Décembre 1932), thất ngôn bát cú; Đi cống (10 Mai 1933), thất ngôn; Mây (25 Janvier 1934), ngũ ngôn và Chùa Hương (Aout 1934), ngũ ngôn.

Hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh và Hoàn Chân đã viết trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” về ông :

– Nguyễn Nhược Pháp in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp…. Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú Xuất, Tú Xương đến Tý Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý : với Nguyễn Nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng. Bài thơ “Chùa Hương” nổi tiếng của ông đã được ca sĩ kiêm nhạc sĩ Trung Đức và giáo sư  Trần Văn Khê phổ nhạc.

…Tôi đọc thơ ông để cảm, để vui giây bâng khuâng của một lứa tuổi thanh xuân nào đó. Nguyễn Nhược Pháp hay kể chuyện bằng thơ, chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, chuyện đi Chùa Hương, chuyện Đi Cống sứ vân vân… nhưng kể mà gợi lại được những huyền thoại xưa, kể mà làm lưu luyến người đọc, nghệ thuật kể chuyện bằng thơ… có lẽ chỉ có một Nguyễn Nhược Pháp mà thôi vậy.

Bài thơ “Cô gái chùa Hương” khi in vào tập “Ngày Xưa” thì hai chữ Cô gái bị bỏ đi, chỉ còn Chùa Hương. Bài thơ trước đây đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không được phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác đã phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát “Em đi chùa Hương”. Ngay từ lần phát sóng đầu tiên, nhạc phẩm này đã được đông đảo thính giả ưa thích và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi…

Đến nay, bài thơ Chùa Hương” đã gần 80 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 80 năm, song “Chùa Hương” cùng tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp vẫn sống mãi với Chùa Hương cùng với thời gian…

Xuất xứ bài thơ “Chùa Hương”

Trong cuốn “Văn sĩ thi sĩ tiền chiến” của nhà thơ Nguyễn Vỹ, (chủ nhiệm bán nguyệt san Phổ Thông; từng là bạn chơi thân với Nguyễn Nhược Pháp, vì Nguyễn Vỹ chỉ hơn Nguyễn Nhược Pháp 4 tuổi. Nhà thơ Nguyễn Vỹ sinh ở đất Quy Nhơn nhưng thành danh ở đất Hà thành, và sau khi vào sống ở Sài Gòn, nhà thơ này càng nổi tiếng với bài Gửi Trương Tửu); trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến” chúng ta có thể xác định được thời điểm ra đời của thi phẩm “Chùa Hương” vào khoảng năm 1935.

Theo Xuân Ba kể về xuất xứ của bài thơ “Cô gái Chùa Hương” như sau :

– Chuyến đi chùa Hương vào tháng Giêng âm lịch năm ấy, gồm có Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ cùng hai cô bạn (không rõ đây có phải là người yêu của hai chàng ?). Hai cô này thuộc dạng phụ nữ tân thời và có lẽ là con nhà khá giả, nên một trong hai cô có đem theo cả máy chụp hình. Mà máy chụp hình khi đó là của hiếm, nhà giàu có mới sắm nổi…

Qua đò suối Yến là cả nhóm bắt đầu đi xuyên qua rừng mơ. Trên lối mòn khúc khuỷu, cây đá gập ghềnh, cả bọn gặp một cô gái độ tuổi trăng tròn bận quần lĩnh áo the đang dắt tay một bà, không rõ là bà hay mẹ ? Khi hai người đi miệng luôn khe khẽ niệm Phật. Cả bọn liền vượt lên nhưng không hiểu sao Nguyễn Nhược Pháp đứng sững lại bên hai người, tức thì cô gái bặt luôn tiếng niệm Phật. Nguyễn Nhược Pháp mới khẽ hỏi tại sao cô không niệm tiếp, giọng niệm Phật nghe hay lắm… Cô gái nọ đỏ bừng mặt e thẹn cúi đầu không nói…

Vừa lúc ấy, một trong hai cô bạn của Nguyễn Vỹ và Nguyễn Nhược Pháp có máy chụp hình, quay ngược lại thấy cảnh ấy liền bấm máy chụp ngay một “pô” ! Từ lúc đó đến lúc qua chùa Tiên Sơn rồi tối ngủ lại trong chùa để sáng hôm sau ra về, cả bọn đều không gặp lại bà cụ với cô gái nọ. Dù là thế nhưng hai cô bạn gái lại có ý phiền trách, thậm chí lạnh nhạt với Nguyễn Nhược Pháp và cả Nguyễn Vỹ về động thái “người đâu gặp gỡ làm chi ấy…” Tuy có hờn giận nhưng khi về đến Hà Nội, cô gái vẫn đưa tấm ảnh chụp cảnh Nguyễn Nhược Pháp đang đứng bên cô gái quần lĩnh áo the đó ! (nay tấm ảnh này cũng đã thất lạc).

Nguyễn Nhược Pháp đâu có để tâm đến tấm hình chụp. Mà chàng đang bận tâm chuyện khác. Chàng đưa bài thơ “Cô gái Chùa Hương” viết chưa ráo mực cho Nguyễn Vỹ xem, nội dung tưởng tượng thêm nhiều sự kiện, từ cảnh gặp gỡ bất chợt đến khi rời chùa Hương Tích ra về… Bài thơ lúc đầu có tên là “Cô gái chùa Hương” sau đưa vào tập thơ “Ngày xưa”, Nguyễn Nhược Pháp bỏ hai chữ đầu còn lại là “Chùa Hương”.

Ngày hôm ấy Nguyễn Nhược Pháp ngỏ ý với Nguyễn Vỹ đưa bài thơ vào một cuốn thơ của mình mà lâu nay đang có ý xuất bản. Nhưng khi đó đang kẹt tiền. Nhà thơ Nguyễn Vỹ mới gợi ý là xin ông bố (tức cụ Nguyễn Văn Vĩnh). Nhưng Nguyễn Nhược Pháp e dè sợ ông cụ rầy trách rồi vứt vào sọt rác khi biết Nguyễn Nhược Pháp làm bài thơ ấy ! Nguyễn Vỹ lại mách nước thế thì xin cụ bà vậy ? (tức bà cả ngôi thứ trên mẹ ruột của ông, nhưng thương ông như con dứt ruột sinh ra) Nguyễn Nhược Pháp đồng ý. Và tập thơ “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp, trong đó có bài Chùa Hương ra đời năm 1935.

Một giai thoại khác cũng kể về xuất xứ bài thơ “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp :

– Trong bài thơ Chùa Hương, chàng thi sĩ 20 tuổi đã thể hiện tình cảm của mình với cô bé 15 tuổi thanh tao đến thánh thiện, đằm thắm mà không uỷ mị, nồng cháy mà vẫn thanh lịch, trữ tình mà tinh tế, cả tâm hồn và hiện thực hoà quyện vào nhau hài hoà khiến Chùa Hương có vị trí xứng đáng trên thi đàn.

Thi phẩm Chùa Hương ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, ông cùng nhà văn Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm phật “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”.

Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi :

– “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa ?”

Cô gái bối rối, thẹn thùng như muốn khóc. Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đã bị hớp hồn, tai đâu còn nghe thấy. Giận dỗi, họ bỏ đi. Lúc bừng tỉnh, hai văn nhân không thấy các cô đâu, vội len thốc len tháo, lách qua những dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu cho thấy. Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đã lẫn vào dòng người.

Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp không sao chợp mắt được. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến ông xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu tươi vui, hình ảnh ngộ nghĩnh, cả hồn người lẫn vẻ đẹp của ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ.

Thân thế nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp

Nói về thân thế của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, ở phần sơ lược tiểu sử trên chúng ta đã biết, mẹ ruột của ông tức bà Hai Lựu, vợ hai của cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Và trong những giai thoại có kể đến mối tình này :

Thời gian ấy cụ Nguyễn Văn Vĩnh rất giàu có, khai thác một khách sạn ở phố Hàng Trống, làm chủ nhà in Trung Bắc Tân Văn tại ngay trung tâm Hà Nội. Cả hai nơi là địa điểm gặp gỡ giao du của những tao nhân mặc khách và của những người có máu mặt của đất Hà thành. Người đẹp Hai Lựu cũng đã lọt vào mắt xanh ông chủ bút kiêm xuất bản hào phóng Nguyễn Văn Vĩnh khi đến nơi đây.

Đến bây giờ chưa ai biết rõ họ tên thật của bà Hai Lựu tức thân mẫu nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, cũng như xuất xứ quê quán ở đâu. Chỉ biết khi ấy bà là một người đẹp có danh phận, con gái yêu của một thổ ty giàu có ở mạn ngược vùng Lạng Sơn, và có họ gần với Tổng đốc người Tày Vi Văn Định (?). Sau này, do nhiều nguyên nhân, các con cháu của cụ Nguyễn Văn Vĩnh không có điều kiện để tìm hiểu gốc gác của bà Hai Lựu mẹ kế của họ như thế nào.

Đặc biệt là bà Hai Lựu biết sử dụng súng ngắn rất thành thạo, và luôn có súng trong người ! Khi bà đã thành thân với cụ Nguyễn VănVĩnh sinh được Nguyễn Nhược Pháp, bà từng có các mối giao du khá rộng nên khá thân với bà Suzanne, vì thế có lần bà Hai Lựu giới thiệu Suzanne với chồng người bạn thân của bà để tiện giao thiệp.

Với tính phong lưu đa tình như cụ Nguyễn Văn Vĩnh lúc ấy, cụ làm sao để tuột mất người đẹp Suzanne khả ái đó. Cho nên mọi người phát hiện ra, rồi báo chí Hà Nội bấy giờ đã đăng mập mờ chuyện lén lút vụng trộm giữa cụ với người đẹp Suzanne. Làm bà Hai Lựu nổi cơn ghen, trong mình mang súng ngắn đáp xe đến trang trại nổi tiếng của Suzanne bên Gia Lâm, định phải quấy một phen với chính người bạn thân của bà !

Khi bà Hai Lựu đến nơi, cơn ghen cũng đã hạ hỏa và có lẽ do giữ thanh danh cho chồng, phần chợt trỗi chút thiên lương nên bà hạ súng ! Trái lại bà đã chọn cho mình một cái chết tức tưởi, bỏ lại cậu con trai khi đó mới lên hai tuổi chính là thi sĩ đoản mệnh Nguyễn Nhược Pháp.

Người xưa có câu : Chết cha ăn cơm với cá / Chết mẹ liếm lá đầu đường…

Tuy mồ côi mẹ, nhưng cậu bé Nguyễn Nhược Pháp từ năm lên hai tuổi đó đã may mắn được lọt trong vòng tay thân ái của bà vợ cả của cụ Nguyễn Văn Vĩnh, cho đến ngày ông qua đời.

Lễ Hội Chùa Hương (trích Wikipedia)

Chùa Hương và động Hương Tích là danh lam nổi tiếng của Việt Nam thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 70km. Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về một miền đất Phật – nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành, để dâng lên Người một lời nguyện cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hòa quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu Phật.

Hội chùa Hương được tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng hàng năm và kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch. Tuy nhiên, không chỉ trong mùa lễ hội, hằng ngày vẫn có hàng ngàn lượt người đến vãn cảnh chùa. Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa phận huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Xã gần sáu thôn : Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục Khê, Yến Vĩ và Hạ Đoàn.

Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù. Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.

Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên. Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Nguyên tác bài thơ “Chùa Hương”: xin bấm vào đường dẫn sau đây :Bài thơ – Đi chùa Hương

Nhạc phẩm “Em Đi Chùa Hương” của NS Trung Đức

Hôm nay em đi chùa Hương / Hoa cỏ còn mờ hơi sương / Cùng thầy me em vấn đầu soi gương / Khăn nhỏ, đuôi gà cao / Em đeo giải yếm đào / Quần lãnh, áo the mới / Tay em cầm chiếc nón quai thao / Chân em di đôi guốc cao cao

Đường đi qua bến Dục / Mọi người ngắm nhìn em / Thẹn thùng em không nói / Em bây giờ mới tuổi mười lăm / Em hãy còn bé lắm (chứ) mấy anh ơi

Đường đi qua Đồng Vọng / Mọi người ngắm nhìn em / Thẹn thùng em không nói / Nam mô A Di Đà / Nam mô A Di Đà

http://youtu.be/hNjCiEO9CeA

http://youtu.be/YiIWMvxCsX0

Thi phẩm “Chùa Hương” của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ngoài nhạc sĩ Trung Đức phổ thành nhạc thành công nhất, còn trước đó giáo sư Trần Văn Khê cũng có phổ nhạc, sau này có nhạc sĩ Song Ngọc lấy ý thơ “Chùa Hương” mà soạn thành nhạc phẩm riêng… (Trích trong cuốn : “Tác phẩm – tác giả Thơ Văn Nhạc Họa trữ tình” của tác giả, sắp xuất bản)

Nguyễn Việt

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP :

THƯƠNG CHO MỘT KIẾP

TÀI HOA MỆNH BẠC

Em Đi Chùa Hương – Ái Vân ca MsThienduong 40,835 views

Số phận ưu ái cho chàng thi sĩ ấy một phần tài hoa, nhưng kéo theo đó là mấy phần truân chuyên. Phải chăng hồn thơ thấm đẫm ưu tư ấy được xây nên từ những đa đoan của kiếp người.

Khi nhắc đến cái tên Nguyễn Nhược Pháp với nhiều độc giả, đặc biệt là độc giả trẻ, có lẽ sẽ nhận lại những cái lắc đầu. Nhưng những lời ca quen thuộc của bài thơ mà sau này là bài hát Em đi chùa Hương, thì luôn ở trong lòng nhiều thế hệ người yêu nhạc Việt Nam. Ít ai biết rằng, đằng sau con người viết nên những vần thơ đầy chất nhạc và thấm đẫm hồn quê ấy lại là một  câu chuyện buồn.

Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914 tại Hà Nội. Ông là con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Sinh thời, cha ông vốn là một người hào hoa, phong nhã và đặc biệt rất đa tình. Những năm đầu thế kỉ XX, học giả Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ nổi tiếng tài cao học rộng mà còn là người giàu có, sở hữu nhiều đất đai và biệt thự trong nội thành Hà Nội.

Trong đó, có một căn biệt thự rộng ở gần bờ Hồ, đoạn giáp giữa phố Lý Quốc Sư và phố Hàng Trống được ông dùng làm khách sạn. Đây chính là nơi gặp gỡ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và giai nhân Phan Thị Lựu. Bà Lựu là con gái của một thổ ty giàu có ở Lạng Sơn, ngoài dáng vẻ thướt tha bà còn giỏi ăn nói và rất thạo tiếng Pháp.

Mỗi khi có dịp về Hà Nội, bà Lựu lại nghỉ ở khách sạn của ông Vĩnh để tiện thăm thú phố phường. Dù đã có vợ con đề huề nhưng nhìn thấy vẻ đẹp sắc sảo, kiêu sa của người con gái phố Đồng Đăng, trái tim đa tình của học giả Nguyễn Văn Vĩnh bị khuất phục ngay lập tức.

Hằng ngày, vào buổi trưa, học giả Nguyễn Văn Vĩnh sẽ tới khách sạn ăn cơm, trò chuyện và đưa bà Lựu đi dạo. Đến tối, ông Vĩnh lại về ngôi nhà trên phố Mã Mây với bà vợ cả là Đinh Thị Tính và các con. Cậu bé Nguyễn Nhược Pháp ra đời chính là trái ngọt cho mối tình đậm màu sắc tiểu thuyết của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và bà Phan Thị Lựu.

Nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, khi Nguyễn Nhược Pháp lên 2 tuổi thì bố ông say mê một cô đào lai Pháp vô cùng xinh đẹp. Vui bên tình mới, học giả Nguyễn Văn Vĩnh có phần lạnh nhạt với bà Phan Thị Lựu. Khi mọi chuyện vỡ lỡ, quá đau khổ, buồn bã và quẫn trí, bà Lựu đã tự tử. Sau cái chết của người vợ hai, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đem cậu con riêng còn chưa nói sõi về cho vợ cả là bà Đinh Thị Tính nuôi nấng.

Là người phụ nữ truyền thống, tính tình nhân hậu, lại cam chịu, bà Tính đồng ý nuôi con riêng của chồng, không buông một câu oán thán. Cùng là phận đàn bà, bà chỉ trách bà Lựu sao lại quẫn trí đi “ghen ngược” rồi làm điều dại dột, bỏ lại đứa con còn chưa nhớ được mặt mẹ. Bởi chính bà Tính mới là người phải đánh ghen.

Là phận con riêng, nhưng Nguyễn Nhược Pháp được mẹ cả yêu thương, đối xử công bằng như con ruột. Khi bà Đinh Thị Tính mất, bà yêu cầu con cháu an táng bà cạnh phần mộ của cậu con cưng Nguyễn Nhược Pháp. Tuy không cùng một mẹ sinh ra, nhưng cùng sống dưới một mái nhà từ thuở nhỏ, các con của học giả Nguyễn Văn Vĩnh sống với nhau rất tình cảm, không có sự phân biệt.

Là một người tiếp xúc với nền Tây học từ rất sớm, lại giỏi tiếng Pháp nhưng khác với tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ, nhờ sự ảnh hưởng của cha, Nguyễn Nhược Pháp có một lòng yêu thích đặc biệt với văn hóa và văn học dân gian. Các tác phẩm như : Chùa Hương, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Chuyện Mị Châu, Giếng Trọng Thủy… thể hiện rõ điều đó.

Trong thơ Nguyễn Nhược Pháp luôn thấp thoáng bóng một người con gái dịu dàng với làn da trắng và đôi môi đỏ. “Nàng thơ” ấy chính là “ánh chiếu” của tiểu thư Đỗ Thị Bính, con của thương gia Đỗ Bá Lợi. Bà là một trong “tứ đại mỹ nhân Hà Thành” thời bấy giờ. Bà cũng chính là người con gái mà sinh thời nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp thầm thương trộm nhớ. Mỗi lần đi qua hiệu buôn của thương gia Đỗ Bá Lợi, ở phố Hàng Đẫy, chàng công tử Nguyễn Nhược Pháp khi ấy, đã bị hút hồn bởi vẻ ngoài của giai nhân đài các.

Người ta kể rằng cô Bính có làn da trắng nõn, mịn màng, ý thức được thế mạnh của mình, cô tiểu thư xinh đẹp vẫn thường mặc đồ màu đen. Nguyễn Nhược Pháp vẫn gọi cô Bính là “người con gái áo đen”.

Tuy hào hoa, nhưng Nguyễn Nhược Pháp lại không thừa hưởng sự bạo dạn của người cha. Không chỉ viết thư, chàng thi sĩ còn làm thơ đề tặng tiểu thư Bính và nhờ người gửi tới phố Hàng Đẫy, chứ không dám hẹn gặp người đẹp. Lúc bấy giờ, quan niệm phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nặng nề nên cặp “trai tài gái sắc” lâm vào cảnh “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”.

Năm 1938, sau cái chết của hai chị gái và cha, Nguyễn Nhược Pháp đau lòng và lâm bệnh lao hạch. Chàng thi sĩ ấy ra đi ở tuổi 24, khi tài năng mới chỉ bắt đầu và vẫn chưa được gặp mặt để ngỏ lời với giai nhân. Biết tin Nguyễn Nhược Pháp mất, bà Đỗ Thị Bính rất đau lòng, mối tình tưởng như rất đẹp vì “sinh ly tử biệt” mà dang dở.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHUYỆN ÔNG GIÀ BA TRI & CẢ CẦN

Logo bay gio ke

9-ba-tri-5ĐI TÌM LỊCH SỬ

ÔNG GIÀ BA TRI”

*Miền Nam có thành ngữ “Ông Già Ba Tri” để chỉ mấy ông già gân, hổng ngán gì hết ! nhưng  không mấy người biết chuyện Ông Già Ba Tri

Ông Già Ba Tri tên thiệt là Thái Hữu Kiểm, sống ở Ba Tri, Bến Tre từ thế kỷ 18. Năm 1806, ông Kiểm dựng chợ Trong bên cạnh rạch Ba Tri, giúp cho dân cư ở khu này mần ăn. Dè đâu mấy cha ở chợ Ngoài đắp đập chặn không cho ghe thuyền từ sông Hàm Luông vô chợ Trong. Chợ ế, dân khóc ròng !

Ông Kiểm nổi quạu, kiện lên quan huyện. Hổng biết quan có ăn hối lộ không, mà phán : “Sông bên làng xã nó nó đắp đập thây kệ cha nó !”. Ông Kiểm thua kiện ! Già mà gân, ông Kiểm nói : “Kiện lên quan hổng được, lão kiện lên… vua !”.

Hèm, hồi đó làm gì có internet hay báo chí, nên ổng hổng có lên blog để kêu được, cũng không có báo chí, điện thoại, thư tín cũng không ! Con đường chắc chắn nhất để khiếu kiện là… đi bộ ra kinh đô gặp vua.

Các bạn biết từ Ba Tri ra Huế bao xa hông ? Theo bản đồ hiện nay với đường sá đàng hoàng là có…1.035 cây số hà ! Mà hồi đó hổng có xe khách chất lượng cao 9-ba-tri-1– giường nằm, càng hổng có máy bay. Đoạn đường miền Tây thì sông rạch chằng chịt mà đâu có đủ cầu như bây giờ. Ra tới Trung thì đèo núi cheo leo.

Hồi mấy năm trước, Hai Ẩu có dịp đi Ba Tri. Từ thành phố Bến Tre đến Ba Tri khoảng 35 km, Hai Ẩu đi bằng xe hơi mà nghe rêm cả mình mẩy vì ổ gà ổ voi quá chừng. Vậy đó, vậy mà ông già Kiểm lặn lội từ Ba Tri ra Bến Tre, ra Mỹ Tho, Sài Gòn… rồi ra tuốt tới đèo Hải Vân, qua đèo để tới Huế. Bái phục ổng thiệt !

Ra tới kinh thành ổng oánh trống thùng thùng đòi gặp vua để kiện. Vua Minh Mạng ra tiếp, hỏi ổng : Khanh ở mô mà ra đến tê ?”. Ổng nói : Lão ở Ba Tri !”.

Rồi kể lể nguồn cơn sự việc. Minh Mạng nói : Trẫm pó tay chấm com với khanh luôn. Thế rồi vua xử cho ổng thắng kiện. Từ đó, ông Kiểm được tặng cho biệt danh Ông Già Ba Tri. Và cũng từ đó thành ngữ Ông Già Ba Tri ra đời để chỉ mấy ông già gân, đã chơi là chơi tới bến !

oOo

Như có kể một phần ở trên, đường đến Ba Tri chả thuận tiện tí nào. Xứ ấy cũng chẳng phải là nơi có nhiều thú vui chơi cho những du khách ham dzui như rì-xọot, nhà hàng, khách sạn sang trọng… 9-ba-tri-2Thế nhưng Hai Ẩu vẫn muốn dụ các bạn đến đó chơi một lần cho biết. Trước là biết quê hương “Ông Già Ba Tri (tới đó, bạn sẽ gặp Ông Già Ba Tri, Bà Già Ba Tri, Chàng Trai Ba Tri, Cô Gái Ba Tri, Thằng Nhỏ Ba Tri... ). Sau là… sẽ là một điều bất ngờ đối với bạn.

Đó là thế này : Cái huyện Ba Tri nhỏ bé ở miền xa heo hút ấy có đến 3 ngôi mộ của 3 vị danh nhân văn hóa lớn trong lịch sử Việt Nam !

Một là lăng mộ và đền thờ cụ Đồ Chiểu. Cùng với mộ Nguyễn Đình Chiểu là mộ vợ và con gái ông (Nữ Sĩ Sương Nguyệt Anh). Hai là lăng mộ và đền thờ của nhà giáo Võ Trường Toản. Và ba là mộ của quan Đại Thần Phan Thanh Giản.

Nếu thăm các di tích và tỏ lòng kính ngưỡng với tiền nhân chưa đủ hấp dẫn với bạn, thì xin giới thiệu với bạn thêm một điểm du lịch sinh thái: Sân chim Vàm Hồ ở Ba Tri.

* Sự thật và huyền thoại về Ông Già Ba Tri

Từng được coi là một trong những huyền thoại về sự can đảm, đức độ, Ông Già Ba Tri gần như là một khuôn mẫu cho hình ảnh một cụ già miền Tây Nam bộ. Xung quanh nhân vật mang đậm màu sắc dân gian 9-ba-tri-3này còn nhiều chuyện lạ lùng được truyền tai nhau qua nhiều thế hệ.

Như chuyện ông đã đi bộ hơn ngàn cây số từ Bến Tre ra kinh thành Huế dâng đơn khiếu nại, thưa kiện với nhà vua đương triều về một việc đến nay vẫn còn tranh cãi, đó là chuyện lấp sông ngòi, kênh rạch phía thượng nguồn.

* Chuyện đời người đi mở cõi

Ông Già Ba Tri tên thật là Thái Hữu Kiểm (hay Cả Kiểm) sống vào thời đầu của triều vua Minh Mạng, tức là khoảng những năm 1820. Ông Kiểm là cháu nội của ông Thái Hữu Xưa, một người quê ở Quảng Ngãi nhưng đã xuôi thuyền vào vùng đất Ba Tri này dựng làng, lập nghiệp, xây chợ cho cư dân quanh vùng, được người dân vô cùng nể trọng và tôn kính.

Ngoài ra, lúc còn trẻ, ông Kiểm còn có công giúp Nguyễn Ánh trong những năm tháng loạn lạc chinh chiến với nhà Tây Sơn nên được sắc phong chức “trùm cả An Bình Đông” của phủ Ba Tri ngày đó. Có lẽ, chính nhờ tước hiệu của vua Gia Long ban cho mà sau này, dân quanh vùng thường gọi ông là Cả Kiểm. Minh MangTuy nhiên, những câu chuyện lưu truyền hậu thế về ông chỉ thực sự đến khi vua Gia Long mất, thời điểm mà bản thân ông Cả Kiểm cũng đã già.

Có thể nói, với cư dân ven sông Hàm Luông thuở ấy, gia tộc họ Thái Hữu là một gia tộc giàu có, uy tín trong vùng. Lúc đó, để mở rộng sinh hoạt cũng như việc làm ăn buôn bán, ông Cả Kiểm đã cho xây dựng chợ Trong (nay là chợ Ba Tri) để người dân thuận tiện trao đổi hàng hóa, thông thương với môi trường bên ngoài nhằm phát triển kinh tế.

Theo đó, do lưu thông đường thủy, đường bộ đều thuận tiện nên dân cư vùng lân cận như Phú Lễ, Bình Tây, Mỹ Chánh… kéo vào chợ Trong ngày một đông, không khí rất tấp nập, hàng hóa đa dạng vô cùng. Các thương lái buôn vải, thủy sản, nông sản, muối, rượu… ở tới tận Mỹ Tho, Trà Vinh, Tam Hiệp, Tân An… cũng men theo sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên, đi qua kênh Ba Tri, con rạch duy nhất vào chợ để tìm đến đây thông thương khiến nơi này bỗng chốc trở nên nhộn nhịp khác thường. Có thể nói, từ khi chợ Ba Tri này được xây dựng, cuộc sống của người dân có nhiều thay đổi, ai cũng thích thú và vui mừng.

Thế nhưng, có một người là ông Xã Hạc, chủ một khu chợ Ngoài đã xây dựng trước đó, nằm ở phía đầu con kênh Ba Tri ngày ấy đã tỏ ra không hài lòng bởi khu chợ của ông đã bị vắng khách từ đó. Thế là, ông Xã Hạc bèn cho người đắp kênh, ngăn đập chắn ngang dòng Ba Tri để ghe thuyền không thể đi từ sông Hàm Luông đi vào chợ Trong được nữa.

Biết chuyện, ông Cả Kiểm bèn đâm đơn kiện ông Xã Hạc lên quan tri huyện, rồi quan tri phủ. ong-giaNgày ấy, vùng Ba Tri này còn thuộc địa phận hành chánh của tỉnh Vĩnh Long nên quan tri phủ Vĩnh Long xử cho ông Xã Hạc thắng kiện với lý lẽ theo kiểu “lệ làng” là đất, sông, kênh, rạch ở làng nào thì làng đó được quyền đào, đắp. Nghĩa là, chuyện ông Xã Hạc đắp một phần rạch Ba Tri chảy qua địa phận của làng ông ở là đúng, không xâm phạm đến đất, kênh rạch của cư dân ở làng khác, dưới dòng Ba Tri.

Có thể nói, đây là cách mà hầu hết các quan lại thời phong kiến thời đó vẫn thường phán xử trong những vụ án tranh chấp. Nhiều người gọi đó là luật làng, là những điều mà dân gian đã từng cho là đúng. Thế nên, do bị bịt mất tuyến đường thủy quan trọng từ sông Hàm Luông dẫn vào, chợ Trong của ông Cả Kiểm lại trở nên vắng khách, tiêu điều. Tuy nhiên, không hài lòng với cách xử của quan tri phủ Vĩnh Long, ông Cả Kiểm đã quyết định lên tận kinh thành Huế xa xôi để dâng đơn kiện tới tận nhà vua, quyết chí kêu oan.

Trong thời gian tìm hiểu về những giai thoại hư và thực quanh nhân vật Ông Già Ba Tri, chúng tôi may mắn gặp ông Trần Văn Tư, 77 tuổi, một người sinh ra và lớn lên ở vùng đất Phú Lễ, Ba Tri. Ông Tư kể với chúng tôi, ở khắp vùng này, từ phía An Thủy, Bảo Thuận cho tới tận Tân Thị, Vàm Hồ… không ai là không biết đến ông già Ba Tri mặc dù những thông tin về đời tư của ông đều là truyền miệng, từ đời này qua đời khác chứ chưa có một tài liệu chính sử nào nhắc tới.

Theo đó, sau khi người dân vùng chợ Ba Tri đang buồn rầu vì con rạch Ba Tri bị lấp mất, chợ vắng vẻ nên ông Cả Kiểm quyết định khăn gói đi bộ cùng hai người bạn già của mình ra tận kinh thành để kêu kiện, dâng đơn lên nhà vua đương triều là Minh Mạng.

9-ba-tri-6

Về chuyện này, có nhiều giai thoại khác nhau. Trong đó, có người bảo bên bị đơn là ông Xã Hạc thực ra cũng là một người bạn của ông Cả Kiểm. Hai ông đều muốn mình thắng kiện để chứng minh mình đúng chứ không phải ăn thua hơn thiệt gì nên ông Xã Hạc cũng theo ông Cả Kiểm ra tận kinh thành Huế với mong muốn được gặp vua đương triều là vua Minh Mạng đòi phân xử. Tuy nhiên, theo một số người già khác ở vùng Ba Tri thì đi theo ông Cả Kiểm ra kinh thành dâng đơn khiếu nại chỉ có 2 người bạn già là ông Nguyễn Văn Tới và Lê Văn Lợi.

* Vụ kiện để đời

Kể tiếp về câu chuyện, vừa uống thêm ngụm nước, ông Tư vừa chậm rãi bảo, với những người dân miền Tây chúng tôi, vụ tranh chấp giữa ông Cả Kiểm và Xã Hạc không đơn giản chỉ là vụ kiện để tìm ra người thắng, kẻ thua mà còn là dấu mốc để xóa bỏ cách hành xử theo lệ làng, cũng được coi là dấu mốc của việc tranh chấp đất đai, dòng sông và nguồn nước đầu tiên ở mảnh đất này.

Riêng về chuyện lặn lội lên tận kinh thành Huế, ở những năm 1820, phương tiện đi lại hầu như chỉ có đi bộ nên phải mất gần nửa năm trời, đoàn cả “bị đơn – nguyên đơn” của ông Cả Kiểm mới tới nơi.9-ba-tri-7Tương truyền, khi ấy ở thành Đại nội có một cái trống kêu oan gọi là trống Đăng Văn, đặt giữa sân chầu, tiếng của nó vang xa mười dặm, ai có oan ức đều có thể vào đó đánh ba hồi trống để vua biết.

Sau khi nghe tiếng trống, vua sẽ lệnh cho quan Tam Pháp ty xử án. Nếu khiếu nại đúng, sẽ được minh oan, giải quyết thỏa đáng còn nếu sai, sẽ bị trị tội để tránh việc người gióng trống vu khống. Ngoài ra, một số vị vua nhà Nguyễn thời sau đó còn cấm người dân trong Đại nội đánh trống để vua phân biệt được với tiếng trống Đăng Văn, như một hình thức trân trọng những người đi kêu oan, khiếu kiện.

Còn về chuyện Ông Già Ba Tri, sau khi đơn khiếu nại được vua Minh Mạng xem xét, thấu đáo tình hình, nhà vua đã bác bỏ cách xử của quan phủ Vĩnh Long và phán rằng : “Lòng sông lòng rạch là của chung, không phải của làng này, làng kia nên quan huyện, phủ phải coi phá đập để dòng chảy thông thương”. Điều đó có nghĩa là ông Cả Kiệm đã thắng kiện và việc tự ý đắp đập khi dòng kênh Ba Tri chảy qua địa phận làng mình của ông Xã Hạc là sai trái.

Có thể nói, đây cũng chính là vụ án đầu tiên được đích thân vua Minh Mạng xử và phán quyết ngược với những “luật làng” truyền miệng từ trước đến nay. Bản án này, sau đó đã làm nức lòng không chỉ người dân trong vùng Ba Tri mà ngay cả những người dân miền Tây đi mở cõi khác, giúp cho hệ thông sông ngòi kênh rạch được thông thương.

Nhìn rộng ra, phán quyết của nhà vua cũng đồng ý với việc mở rộng buôn bán, phản bác tất cả các hình thức ngăn sông cấm chợ trước đây. Qua đó, họ coi ông Cả Kiểm chính là hình mẫu của những người già mà không chịu khuất phục, Tr bang hoangquyết tâm đi tìm công lý, lẽ phải và trên hết, luôn muốn có những điều tốt đẹp cho mọi người xunh quanh. Sau đó, chợ Trong đổi tên thành chợ Ba Tri (có người còn gọi là chợ Đập) để khắc ghi công lao của ông Cả Kiểm thời bấy giờ.

Sau hơn 200 năm trời, vùng đất ven biển Ba Tri ngày xưa đã trù phú hơn rất nhiều, con đường đất độc đạo ngày xưa giờ đã là bùng binh, nơi giao nhau của 5 tuyến đường tỉnh và huyện lộ khác nhau. Cư dân cũng tập trung đông đúc hơn và gia tộc họ Thái Hữu cũng đã chuyển đến vùng đất khác để định cư nhưng những câu chuyện gắn liền với huyền thoại Ông Già Ba Tri thì mãi mãi vẫn còn lưu truyền cho hậu thế như một câu chuyện đẹp đẽ về hình ảnh những người tuy tuổi cao nhưng vẫn tràn đầy nghị lực và sức sống trong cuộc đời.

Video : Ông Già Ba Tri và các di tích văn hóa địa phương.

https://youtu.be/3uI-ydEEKlc

9-banh-baoĐI TÌM LỊCH SỬ

BÁNH BAO ÔNG CẢ CẦN

“Bánh bao Cả Cần” là thứ bánh bao đặc chất của người miền Nam (sản xuất ở Sài Gòn), khác với bánh bao của người Hoa. “Bánh bao Cả Cần” không trắng như bánh bao gốc của người Hoa, mà hơi hẩm, vì không dùng bột tẩy. Vị bánh bao bùi hơn, ăn không dính răng, nhân bánh bao hoàn toàn là thịt băm, không pha lẫn cá và dầu mỡ như bánh bao của người Hoa.

“Bánh bao Cả Cần” nổi tiếng ở Sài Gòn từ đầu thập niên 70 thế kỷ trước xuất hiện ở vài quán nhỏ tại khu vực đường Nguyễn Tri Phương (quận 5 – Chợ Lớn cũ), sau đó, bánh bao mang tên Cả Cần trở thành một quán độc lập, nằm trọn trên khoảng khuôn viên sát cạnh ngã 4 Nguyễn Tri Phương – Hùng Vương, phía trước công viên Văn Lang.

Người đầu tiên sản xuất thứ bánh bao này là ông Trần Phấn Thắng (đã qua đời từ lâu). Từ nhiều năm nay, Sài Gòn có nhiều nơi sản xuất bánh bao (không kể bánh bao của người Hoa), với những thương hiệu không thể nhớ hết. Bên canh những xe bán bánh bao mang biển hiệu: bánh bao Singapore, bánh bao Đài Loan, 9-ca-can-2bánh bao Malaysia… nhưng bánh bao Cả Cần vẫn cứ đông khách như mọi khi. Và ngày nay, thương hiệu “Cả Cần” đã đi vào lịch sử ẩm thực của Sài Gòn.

1/. Về cái tên ông Cả Cần : Người ta chỉ suy đoán chữ CẢ CẦN dựa theo cái nghĩa đen của nó để thêu dệt rằng: Ông Thắng có cha làm ông Cả tên Cần, theo kiểu HAI LÚA thì chắc có em tên BA GẠO.

Thật ra thì Ông Thắng là người gốc Mỹ Tho là người thứ ba trong nhà, có ông anh tên Trần Phấn Phát, sỹ quan VNCH. Cha ông gốc Tàu Minh Hương, không có làm Hương Cả gì cả. Cả hai anh em rất thích văn chương văn nghệ và có một nhóm bạn rất là văn nghệ sỹ trong đó phải kể đến Nhạc Sỹ Lê Thương (tác giả Hòn Vọng Phu) cũng như nhà báo và dân biểu đối lập thời VNCH là Lý Quý Chung chẳng hạn.

Ông Thắng tâm sự : Cần là tên một người bạn thơ ấu của hai anh em chẳng may mất sớm. Chữ Cả ông ghép vào vì cá tính của ông thích những chữ cùng phụ âm như kiểu Tin – Tình – Tiền – Tù – Tội. Và ông tâm đắc câu quảng cáo của ông dùng bao năm nay toàn bằng chữ C : Có Cả Cần Cần Chi Có Cả

Cũng vì thích loại câu dùng cùng một phụ âm này mà tên con ông đặt toàn chữ T. Ông Bà Thắng có đông con (tôi nhớ không lầm thì cũng gần chục). Tôi nhớ được tên của bốn cô con gái của ông là : 9-ca-can-3Trần Mỹ Tiên – Trần Mỹ Trinh – Trần Mỹ Thanh và cô út là Trần Mỹ Tâm

2/. Về sự ra đơi của quán Ông CCần : Ông Bà Cả Cần xuất thân từ công chức VNCH. Bà người gốc Bến Tre, nấu ăn rất ngon. Ông có tài ăn nói duyên dáng và khả năng ngoại giao bạn bè rất rộng. Từ sự kết hợp đó, ông bà quyết định bỏ nghề công chức ra mở quán Hủ Tiếu và Bánh Bao Mỹ Tho. Tên Cả Cần được ông chọn đầu tiên cho Quán đầu tiên nằm ở ngã tư Công Lý – Trương Quốc Dung (tôi mang máng nhớ tên đường này là vậy). Trước năm 1975, nếu ai đi lại con đường ra sân bay Tân Sơn Nhất sẽ không thể không thấy cái Bánh Bao To Tướng trước khi băng qua cổng xe lửa.

Sau thời gian ngắn thì Quán Ông Cả Cần thành công rất nhanh nhờ tài nấu ăn của bà và tài ngoại giao của ông. Cũng vì quen biết giới văn nghệ sỹ thời đó nên ông Thắng mượn nghệ danh của cô Năm Sa Đéc (vợ của ông Vương Hồng Sễn) làm tên quán thứ hai ở Ngã Tư Nguyễn Tri Phương – Nguyễn Trãi (Chợ Lớn)  Đến đây thì nãy sinh một vài đồn đoán rằng :

– Ông Cả Cần gốc Sa Đéc không phải gốc Mỹ Tho

– Bà Năm Sa Đéc có quan hệ với ông Cả Cần

– Bà Năm Sa Đéc có phần hùn trong quán Cả Cần

Cả ba điều này đều là đồn đoán và không có thật. Ai có đến quán Bà Năm Sa Đéc (của ông Trần Phấn Thắng)9-ca-can-1 thì đều biết quán này nằm giữa đường gần như chắn ngang con đường Nguyễn Trãi chạy từ Sài Gòn ra. Vì thế khoảng thập niên 70, ông Thắng bị Đô Trưởng lúc đó là Đỗ Kiến Nhiễu (nghe đâu cũng gốc Mỹ Tho) bắt tháo dỡ. Ông theo vụ kiện đến cùng, kết cục thì ông Thắng thắng và quán vẫn còn tồn tại như ngày nay. Nhưng vì vụ kiện này mà Bà Năm Sa Đéc rút tên ra. Quán mang tên MỸ TIÊN. Mỹ Tiên là tên cô con gái lớn của ông Thắng. Sau 1975, quán vẫn mang tên Mỹ Tiên.

3/. Gia đình Cả Cần nay ở đâu ? Sau năm 1975, gia đình ông Thắng còn giữ được một số tài sản và quyết định ra đi. Vì gia đình có gốc Hoa nên đi cả nhà, thậm chí những người đầu bếp giỏi, phụ bếp và cả phụ vụ bàn. Giá vàng ông phải trả lúc đó khoảng 12 cây vàng cho một đầu người.

Gia đình ông ra đi suôn sẻ trong một đêm lặng gió. Cuối cùng thì định cư tại Montreal, Canada. Đến đất tạm dung Montreal chẳng bao lâu thì với số vốn mà nhân lực mang theo ông bà đã mở được hai quán để tên ONG CA CAN: một ở dưới phố trên đường St Catherine gần trường Đại Học McGill, một ở Côte des Neiges. Cũng vẫn với khiếu chữ nghĩa bẩm sinh của mình, ông Thắng đã dí dỏm gọi quán ở Côte des Neiges là Trên Dốc Tuyết, Montreal là Mộng Lệ An.

Hai ông bà thành công rất nhanh ở xứ Canada cho nên khi VN mở cửa năm 89 thì năm 90 cô con gái lớn ông đã thực hiện chuyến về VN đâu tiên 9-ca-can-4và ông bà cũng lần lượt về sau đó để tìm lại cơ hội làm ăn cũng như lấy lại nhà hàng cũ.

Sau khi ông bà ra đi thì nhà hàng cũ do một người bà con xa cai quản. Ông bà cũng thường gởi tiền về giúp đở. Nhưng về phẩm chất nấu ăn thì không giữ được như trước cho nên nhà hàng dần dần mất tiếng và suy sụp. Đây là điểm yếu của đa số nhà hàng Việt Nam nói chung và nhà hàng Ông Cả Cần nói riêng. Bà Cả Cần là người giỏi giang quán xuyến, nhưng nhà hàng là phương tiện sống của đại gia đình cho nên bà giữ bí quyết rất kỹ. Thậm chí ở Canada, chưa chắc con bà lúc ấy nấu được như bà.

Khi công cuộc điều đình mua lại đất đai nhà hàng cũ còn đang được tiến hành thì bà Cả Cần đột ngột bị tai biến mạch máo não và nằm bất động. Tội nghiệp cho bà. Bà nằm thế đến gần 2 năm trời và bà qua đời năm 1995.

Sau khi bà qua đời thì ông Thắng về Việt Nam thường hơn để làm ăn. Nhà hàng bên Canada thiếu bà không còn đông như trước. Các cô các cậu lập gia đình chỉ còn vài người theo nghề cha mẹ. Chỉ vài năm sau đó thì Ông Cả Cần Trần Phấn Thắng cũng qua đời tại Việt Nam. Nhà hàng Trên Dốc Tuyết đóng cửa. Giờ chỉ còn nhà hàng dưới phố St Catherine.

Có người nói bảng hiệu sau này của nhà hàng trên đường Nguyễn Tri Phương là Ông Cả Cần. 9-banh-baoCó thể nhà hàng đổi tên lại sau khi ông Cả Cần về nước. Bao năm trước đó nó vẫn mang tên Mỹ Tiên. Tên Mỹ Tiên là cái tên thứ hai sau cái tên Bà Năm Sa Đéc …

Nói thêm về hủ tiếu Mỹ Tho của quán Cả Cần : Có nhiều người cứ nhầm hủ tiếu Mỹ Tho với hủ tiếu Nam Vang. Khác hoàn toàn. Nước hủ tiếu được nấu bằng khô mực nhí (vụn), tôm khô và xương nên nước ngọt tự nhiên, thơm và trong. Bánh hủ tiếu, sợi nhỏ dai và là bánh khô. Hủ tiếu Mỹ Tho không có để trứng cút hay tôm tươi mà chỉ có xương, thịt heo hoặc thêm gan heo thôi….

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp