Nhạc sĩ LÊ DINH

2 CUỘC PHỎNG VẤN

NHẠC SĨ LÊ DINH

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Mời nghe Clip nhạc :

Noi Buon Chau Pha -Le Dinh -Nhu Quynh -NNS (HD)

Phỏng vấn qua bà Trần Thị Kim Quyên

(vợ NS Lê Dinh) :

Sóng Văn (SV) : Trong cơ duyên nào bà đã đến với người bạn đời của mình ? Và trong chiều dài thăng trầm của cuộc sống, bà có thể giới thiệu một kỷ niệm buồn, vui ?

Trần Thị Kim Quyên (TTKQ) : năm 1955, tôi bắt đầu dạy học ở Gò Công. Năm 1956 chồng tôi (Nhạc sĩ Lê Dinh) cũng về dạy học cùng trường với tôi và chúng tôi biết nhau từ đó. Đến năm 1957, chúng tôi làm đám cưới. Trong cuộc sống vợ chồng, nhớ lại thời còn son trẻ của chồng tôi, khoảng những năm 1960-1965, cũng có những chuyện buồn về tình cảm, nhưng tôi nghĩ, làm vợ một nghệ sĩ là phải chịu đựng, đợi khi trời quang mây tạnh gia đình sẽ yên vui.

SV: Nhiều người thường quan niệm rằng : các ông bà tác giả, dù sinh hoạt ở bộ môn nghệ thuật nào, cũng thường có tính lơ là đối với những công việc gia đình. Theo bà, nhận xét này đúng được bao nhiêu phần trăm ? Và riêng ông nhà thì sao ?

TTKQ: Điều này không đúng lắm, vì không phải nghệ sĩ thì hay lơ là công việc gia đình. Theo tôi, việc này tùy thuộc  cá tánh của mỗi người. Có những đức phu quân không phải là nghệ sĩ nhưng cũng không phụ giúp được gì cho vợ. Trái lại có những người chồng là nghệ sĩ nổi tiếng mà phụ lo công việc gia đình một cách đắc lực. Nhận xét này chỉ đúng 50% thôi.

SV: Ngoài những môn sở trường, xin cho biết ông nhà còn thích hoạt động giải trí thêm với những bộ môn nào khác ?

TTKQ: Ngoài việc sáng tác nhạc, chồng tôi cũng làm thơ và giải trí bằng cách xem xi nê, video.

SV: Xin cho biết một ít thói quen của ông nhà trong lúc sáng tác ?

TTKQ: Chồng tôi có thói quen sáng tác lúc đêm khuya, khi mọi người trong nhà đều yên giấc ngủ, và lúc sáng sớm vừa thức dậy. Khi sáng tác, bên mình thường hay có tách cà phê sữa nóng.

SV: Bà đã từng có những đóng góp vào công việc sáng tác của ông nhà ?

TTKQ: Khi hoàn thành xong một nhạc phẩm, chồng tôi thường hỏi tôi cái tựa như vậy có được không ? hoặc hát cho tôi nghe thử và tôi luôn luôn là vị thính giả đầu tiên của những nhạc phẩm nhà tôi viết. Tôi thường hay góp ý về cái tựa bài hát và chỉ cái tựa mà thôi. Lâu lâu cũng có gặp vài bài mà tôi không thích. Tôi nêu lên ý kiến khách quan của tôi và chồng tôi khai tử bài đó luôn, không sửa chữa gì cả. Vì theo chồng tôi nói, sửa một bài hát khó hơn sáng tác một bài hát.

SV: Bà có những nhận xét tổng quát nào về toàn bộ tác phẩm của ông nhà đã được giới thiệu rộng rãi trong quần chúng ?

TTKQ: Về toàn bộ tác phẩm của chồng tôi cho đến ngày hôm nay tôi rất thích vì nó hợp với sở thích của tôi, và theo tôi, chúng cũng thích hợp với sở thích của đa số quần chúng. Nhưng tôi không biết quần chúng cho điểm thế nào, chớ riêng tôi thì tôi phê 18/20 tất cả những nhạc phẩm mà chồng tôi sáng tác, khoảng hai trăm (200) bài. Không biết có phải mèo khen mèo dài đuôi không ?

SV: Xuyên qua việc phát hành, phổ biến các tác phẩm nghệ thuật của ông nhà, bà có những nhận định gì về tình hình sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam hiện nay tại hải ngoại ?

TTKQ: Sau 1975, việc phổ biến ấn hành và phát hành những tác phẩm nghệ thuật không còn giống như lúc còn ở trong nước nữa. Việc phổ biến cũng khó khăn không thua gì việc phát hành vì đa số người Việt lưu vong không có tập trung ở một chỗ. Ngày trước, phương tiện phổ biến trong nước là đài phát thanh và đài truyền hình. Ngày nay,  phương tiện phổ biến là băng nhạc và video – nhất là video, một phương tiện phổ biến hữu hiệu nhất – thì quá ít cho nên sự phổ biến một sáng tác mới thật là hạn hẹp. Sau đó, sự sinh hoạt văn nghệ kém phần hứng thú vì thiếu phương tiện phổ biến. (Ít có sáng tác mới).

SV: Cá nhân bà  đã và đang sinh hoạt trong lãnh vực nào ? Những sinh hoạt đó có gây trở ngại hoặc hổ tương trong việc sáng tác của ông nhà ?

TTKQ: Tôi chỉ la một nội trợ sau 1975 cho nên không có gì trở ngại cho chồng tôi trong việc sáng tác, vì tôi đảm đang một phần lớn những công việc trong gia đình để chồng rảnh rang mà đi làm việc (tay phải) để nuôi gia đình, và sáng tác (tay trái) theo sở thích của chồng tôi.

SV: Nếu có thể được, xin bà vắn tắt cho đôi dòng tiểu sử của ông, những tác phẩm của ông ấy, và đôi dòng về cá nhân bà, đại khái quê quán, hoài bảo…

TTKQ: Sơ lược tiểu sử chồng tôi :

– Nhạc sĩ Lê Dinh, tên thật Lê Văn Dinh, sinh ngày 08-9-1934, tại Vĩnh Hựu, Gò Công. Tác phẩm đầu tay : Làng Anh Làng Em (1956). Tác phẩm quen thuộc : Tấm Ảnh Ngày Xưa, Thương Đời Hoa, Xác Pháo Nhà Ai, Cánh Thiệp Hồng, Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao, Bài Hát Của Người Điên, Biển Dâu, Nếu Mai Này, Ga Chiều, Thương Về Xứ Thượng, Hà Tiên, Dòng Kỷ Niệm, Thương Về Gò Công vv…

(Tạp chí Sóng Văn, số 6 tháng 1&2- 1997)

NHẠC SĨ LÊ DINH

NGƯỜI TÔI GẶP

TRÊN SÂN KHẤU PARIS

Buổi sáng êm dịu của tháng tư, còn dính lại chút sương mù trên ngọn Eiffel, tôi đã ngắm ngọn tháp bằng cái nhìn của người ngoại quốc du ngoạn, côïng với cái nhìn tươi xanh chênh vênh hiện ra nhiều vẻ đẹp của buổi sớm mai. Cảm giác buổi sớm mai, đầu óc trống trơn tôi như con bướm chập chờn lởn vởn, từ đoá hoa này sang đoá hoa khác, chẳng có một giới hạn nào để dừng lại nơi đâu. Các nét đều linh động trong khoảng mù mờ, như bức tranh tràn ra khỏi khung, làm cho đôi mắt ướt át tôi rất gợi cảm lẳng lơ.

Ðắm đuối lắm ! Ðắm đuối trong ảo tưởng, để liếc mắt đưa tình với chính mình, lúc nào trong lòng cũng gìn giữ sự réo rắt trong sáng của thiên nhiên, đang hiện lên tất cả những nét đẹp trước mắt.

Buổi sáng qua đi, buổi chiều hiện đến, quầng lượn trước mắt ánh đèn đêm, với bầu không khí ồn ào. Bên bờ sông Seine vẫn gió, tất cả thành nhạt nhòa sau lưng. Trên những bức tượng đồng, đầy đủ những dáng vẻ độc đáo, nó tự nhiên như ngang tàng, phóng túng trong cái duyên của Tây phương, qua nét điêu khắc độc đáo, với những vẻ đẹp hiện đại, do bàn tay người nghệ sĩ điêu khắc nào đó, đã đóng góp nơi đây, một chất lượng văn học nghệ thuật vô giá. Nghệ thuật là do tài năng sáng tạo của các cá nhân, cũng như thơ, nhạc là muôn đời, nó sống bằng giá trị của nó mà chẳng cần nương tựa vào cái gì cả. Cảnh vật nơi này bao nhiêu năm vẫn thế, làm choáng ngợp nhiều người. Bờ sông Seine vẫn lộng gió, phát ra những âm thanh như kim ngân, khẽ gõ vào những lâu đài lam sậm, của niềm tự hào cả dân tộc ở thế kỷ này.

Cư ngụ tại Paris, thỉnh thoảng tôi có người quen đến từ phương xa, là y như khuấy lên trong tâm hồn tôi, cái vùng tĩnh lặng hiu hiu ấy, thành một sân khấu sôi động, bừng lên những màu sắc rực rỡ. Và, người mà tôi gặp hôm nay là nhạc sĩ Lê Dinh, trên một sân khấu đại nhạc hội ca vũ nhạc tại Paris, trong một ngày cuối tuần năm 2003 vừa qua, (do Trung tâm Thúy Nga thực hiện trực tiếp thu hình). Ðây là lần thứ hai tôi vào lại sân khấu này, với ý định gặp người nhạc sĩ mà tôi có nhiều cảm mến, về dòng nhạc mộc mạc, đơn sơ, dễ dàng hòa tâm hồn mình vào những âm điệu chứa chan tình cảm, rất gần gũi với tôi, một thời dĩ vãng xa xưa…

Dĩ vãng xưa ấy đó mà… nó là nguồn gốc của sự biết của con người, rất quan trọng trong đời sống ta, vì không có nó, ta không thể biết được những điều gì đã qua, và cái ngày tôi còn là một cô gái đầu óc non nớt, với tuổi mười ba chỉ biết quanh quẩn ở trong xó làng. Thường sinh hoạt dưới mái chùa vào ngày chủ nhật. Từ một con bé bận đầm xanh, áo lam, ngắn tay. Ðến khi thành cô thiếu nữ, miệng biết tủm tỉm cười với trai làng, vẫn còn múa đi múa lại, những vũ khúc êm ả rừng núi cao nguyên, âm thầm tịch mịch xứ Thượng của Lê Dinh. Bây giờ nhớ lại, tôi vẫn lưu luyến xúc cảm mãnh liệt, hai má cứ giật giật bừng bừng, khi tôi đang nằm trên bãi cỏ, chìm trong cây lá.

Mắt nhìn bầu trời bao la, với hàng triệu ức ngôi sao lấp lánh, vô biên vô tận của trời đất, khi hình ảnh : “Chiều lên bản Thượng” sâm sẩm vừa tắt nắng của Lê Dinh, Minh Kỳ làm thành một tiếng gọi xa xăm rõ rệt theo ” hát Mường Luông” ở trong “Nỗi buồn Châu Pha” chính là bức màn âm u sâu sắc của mình, một cách đơn giản chân thành.

Dòng nhạc đi chung với những cái uốn éo thân hình, tay chân của bọn con gái chúng tôi gồm 11 đứa, trong cái xà rông dài được quấn từ rốn xuống chân, áo sát nách hở bụng. Ðầu quấn miếng vải có màu đỏ tím. Phía bên con trai cũng 10 đứa, mặc quần xà lỏn, được quấn ngang bụng bằng lá dừa, đầu cũng quấn lá dừa. Hoá trang đám thanh niên lấy son nồi, quệt đầy lọ nghẹ trên mặt. Khi tiếng trống bắt đầu, ban vũ con gái uyển chuyển thân hình mềm mại qua lại. Hai bàn tay đưa cao ẻo lả trong cơn mộng mê ly, theo khúc nhạc thâm trầm vào cõi lòng thầm kín. Ban vũ bên con trai cũng nhôn nhao. Tay cầm cây gậy xập xình, luồn dưới chân giật tới giật lui. Ðầu ngoảnh đi ngoảnh lại, rồi rúc xuống nhẹ nhàng dưới hai cánh tay con gái rúch rích cười, theo tiếng nhạc tính tình tang: Rừng ơi vang lên muôn lời ca, xa xa trong màn sương âm u khi chiều xuống…

Tôi sinh hoạt văn nghệ ở chùa, do các chị tập múa để trình diễn trong những ngày Ðại lễ Phật Ðản, có khi múa trong những buổi cắm trại, quanh bên đống lửa lộ thiên. Lúc đó đứng chung với các bạn tôi cao hơn một cái đầu, vì vậy mà khi múa, tôi được chọn làm ” nữ chúa rừng xanh ” được quấn cái xà rông đỏ, đeo bông tai màu đỏ, khăn quấn đầu cũng màu đỏ. Một màu đỏ từ đầu đến chân, biểu tượng sự oai nghi của quyền lực. Hai cổ chân tôi đeo hai cái kiềng toòng teng, bước đi nghe rổn rẻng rất lạ tai. Rồi mỗi ngày lớn thêm lên tí nữa, tôi thường nghe trên các đài phát thanh với dòng nhạc Lê Dinh, qua giọng của ca sĩ Hoàng Oanh :

Anh nói rằng trọn đời yêu em

Sao nỡ đành lòng nào lại quên

Câu tình yêu giữ không nhạt màu

Câu mình thương đến khi bạc đầu

Bây giờ trả lại trăng sao..

(Tình yêu trả lại trăng sao – 1964)

Rồi đến : Ga chiều, Xác pháo nhà ai v.v…

Nói đến Lê Dinh ai mê nhạc cũng không quên bài : Hà Tiên, Ga chiều, Tình yêu trả lại trăng sao… Lời nhạc Lê Dinh đơn sơ dễ hiểu, mộc mạc đi thẳng vào tâm hồn người nghe một cách thích thú, nói vậy không phải tôi nói bạn cũng thích như tôi, hễ có người sản xuất những văn nghệ phẩm, là tôi thích học hỏi của kẻ khác. Mình đi tìm cái hạnh phúc mà không cần nhọc công dụng sức chi cả. Tôi nghe vọng cổ, nghe hát bội, hát chèo tôi biết mê say. Anh chị nghe nhạc cổ điển Tây phương, nhạc Âu Mỹ biết hay, cũng đam mê…Vậy chưa chắc cái sướng và cái đam mê ai hơn ai ?

Tôi đã gặp nhạc sĩ Lê Dinh một lần tại Montreal trong một buổi văn nghệ, và người nghệ sĩ này đã để lại tôi ấn tượng khó quên. Tôi kính mến thái độ vui vẻ, nhiệt thành, đơn giản mộc mạc thẳng thắn, ẩn trong cái nghiêm túc của một nhạc sĩ, có đức tin về phương pháp làm việc, với sự cần cù nhẫn nại, đã đem lại lòng qúi mến và tin tưởng trong giới nghệ sĩ. Tôi biết nhạc sĩ Lê Dinh có đời sống tinh thần trong âm thầm, nhưng đầy hăng hái kiên nhẫn, đó là nền tảng cho một đời sống về tinh thần. Tâm hồn của một người nghệ sĩ dồi dào, thì sự sung sướng cũng rộng rãi hơn.

Sau khi định cư tại thành phố Montreal (Canada) đã ổn định được đời sống gia đình, và để gây cho mình sự hứng thú bền bĩ, nhạc sĩ Lê Dinh chủ trương thực hiện tờ Nguyệt san Nghệ Thuật là để duy trì sự cố gắng, và có đường lối rõ ràng. Văn nghệ làm nẩy sinh vào tâm hồn nghệ sĩ, luôn luôn nhìn đời với những khía cạnh màu sắc mới lạ. Lê Dinh sáng tác những bài nhạc mới sau này như : Bài hát của người điên, Cho người tình cũ, Nắng bên này sông, 10 bài hận ca, Thương về Gò Công… đều mang khắc khoải của người sống xa quê hương. Sau nhảy ra làm đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam với Lê Thái. Tất cả môn sinh hoạt văn nghệ, liên quan đến trong tâm hồn người nghệ sĩ, nó phản ảnh đời sống, tình cảm, tư tưởng của một nhạc sĩ. Nhưng cũng rất không đơn giản khi làm về báo chí văn nghệ.

Trước năm 1975 Lê Dinh cùng với nhạc sĩ Minh Kỳ và Anh Bằng thành lập nhóm Lê Minh Bằng. “Ba cây chụm lại thành hòn núi cao” có khác, nên rất nhiều nhạc phẩm nổi tiếng như : Gõ cửa, Chuyện tình Lan và Ðiệp, Căn nhà ngoại ô, Linh hồn tượng đá, Ðêm nguyện cầu… Nhóm Lê Minh Bằng cũng đã đào tạo nên những ca sĩ nổi tiếng như : Giáng Thu, Trang Mỹ Dung, Hải Lý, Mạnh Quỳnh, Ngọc Tuyết…

Sau biến cố 1975 nhóm Lê Minh Bằng mỗi người một nơi. Nhạc sĩ Anh Bằng sinh sống ở California (nhà xuất bản băng nhạc Asia, Dạ Lan). Lê Dinh cùng với gia đình sống ở Montreal (Canada). Minh Kỳ thì đã mất vào đầu tháng 9 năm 1975 trong vụ nổ ở trại cải tạo Long Khánh.

Cuộc đối thoại giữa người giới thiệu chương trình nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, và nhạc sĩ Lê Dinh dưới ánh đèn sân khấu Thúy Nga tại Paris 2003, làm bừng dậy ý nghĩa đời nghệ sĩ không bị nhoè đi, giữa thương trường ồn ào, và bụi bặm, khơi lại trong đời sống tinh thần, đã một thời từng gởi gấm, nhiều tình cảm sâu xa của nỗi nhớ mình, trong các nhạc phẩm nổi tiếng bắt đầu từ năm 1956 cho đến nay, với tất cả hơn 200 nhạc phẩm trước năm 1975, đã được thu dĩa bởi các hang : Tân Thanh, Continental, Asia Sóng nhạc, Việt Nam…

Sau năm 1975 các nhạc phẩm lại được thu vào dĩa Thúy Nga Paris, Asia USA… với các giọng ca Như Quỳnh, Phương Dung, Thanh Thúy, Mỹ Huyền, Hoàng Lan, Kim Ngọc Khánh, Dalena, Nhật Trường, Giao Linh, Thanh Tuyền, Lưu Hồng, Trần Thị Thu, Nguyệt Lan…

Nghe những lời nhạc của Lê Dinh tôi có cảm nhận : Người nghe không có sự suy nghĩ với cái nghĩa rộng của nó, mà dòng nhạc đi thẳng một cách mạch lạc vào đời sống tình cảm người ta mà thôi. Nhạc là âm thanh để cảm nhận, tất cả chung quanh chỉ là cái khung để chúng ta sinh hoạt, nếu ta quá quan trọng sẽ làm giảm mất đi cái chân giá trị của sự sáng tạo, một sự sáng tạo trong bóng tối, trong im lặng cũng là một vết sáng của đêm đông, và người sáng tạo là người biết định đoạt hành động mình, biết trù liệu đến sự tín ngưỡng và số phận của mình.

Ðể thả hồn bâng khuâng rung động về kỷ niệm, những màn vũ hoang dã trong nhạc điệu trữ tình, tôi đến gặp nhạc sĩ Lê Dinh gốc người miền Nam, tại khách sạn Kyriad trong quận 19 Paris để nhớ lại một kỷ niệm, cách đây hai năm, tôi đã hân hạnh gặp nhạc sĩ rất còn nồng nhiệt, trong một trái tim nghệ sĩ, để cho tôi thẹn thùng, e ấp thật thà trong Tiếng Hát Mường Luông, Chiều Lên Bản Thượng v.v… bên núi rừng xinh xinh, xanh ngát mênh mông.

Xin mời bạn đọc nghe tâm tình của nhạc sĩ Lê Dinh, qua mẩu chuyện ngắn sau đây :

Bích Xuân: Xin vui lòng sơ lược tiểu sử của nhạc sĩ ?

LÊ DINH: Sinh năm 1934 (tuổi Giáp Tuất) tại làng Vinh Hựu, tỉnh Gò Công.

1948-1953: Học Trung học ở Collège Le Myre de Vilers (MỹTho).

1953-1955: Học trường Cao đẳng Vô Tuyến Ðiện Saigon (Ecole Supérieure de Radióelectricité de Saigon).

1955-1957: Dạy học (Pháp văn và âm nhạc) ở Gò Công và ở Chợ Lớn.

1957-1975: Làm việc tại Ðài Phát thanh Saigon. Chức vụ: Chủ sự Phòng Sản Xuất rồi Chủ sự Phòng Ðiều Hợp.

1975-1978: Không làm gì được cả.

Tháng 8/1978: Vượt biên đến đảo Ðài Loan.

Tháng 10/1978: Ðịnh cư ở Canada, thành phố Montréal, cho đến nay.

1979-1999: Làm việc cho hãng tàu chở hàng hóa đi khắp thế giới có tên là Federal Navigation (viết tắt là FEDNAV) của Canada ở thành phố Montréal (Ðiểm đặc biệt là hãng tàu này là hãng tàu đã cứu vớt 40 người trên chiếc ghe tỵ nạn – trong đó có gia đình Lê Dinh – trên biển Nam Hải năm 1978).

Lúc còn học ở Trung học Le Myre de Vilers (MỹTho) có theo học hàm thụ lớp hòa âm và sáng tác của Ecole Universelle de Paris.

Sáng tác đầu tiên : Bài Làng Anh Làng Em, viết năm 1956, nhà xuất bản Tinh Hoa miền Nam ấn hành năm 1956.

Gia cảnh : Vợ, 3 con.

Sáng tác: Cuộc đời sáng tác của Lê Dinh trong 47 năm gắn bó với âm nhạc được chia ra làm 3 giai đoạn :

Giai đoạn 1: 1956-1966: Trong thời gian này, Lê Dinh có những sáng tác như :

– Ngày ấy quen nhau (1959) – Thương đời hoa (1960) – Hôm nào anh đi (1960) – Có nhớ không anh (1960) – Tấm ảnh ngày xưa (1961) – Cánh thiệp hồng (1961) – Ga chiều (1962) – Xác pháo nhà ai (1964) – Chiều lên bản Thượng (1964) – Tình yêu trả lại trăng sao (1964) – Thương về xứ Thượng (1965) – Ngang trái (1965)…

Trong giai đoạn này, có những sáng tác chung với Minh Kỳ : Ðường chiều sơn cước – Tiếng hát Mường Luông – Người em xứ Thượng – Ðường về khuya – Tôi đã gặp – Hạnh phúc đầu Xuân – Cánh thiệp đầu Xuân – Một chuyến xe hoa – Mưa trên phố Huế…

Giai đoạn 2: 1966-1975: Thành lập nhóm Lê Minh Bằng (Lê Dinh – Minh Kỳ – Anh Bằng).
-1966: Ðêm nguyện cầu (sáng tác đầu tiên của nhóm).

Nhóm Lê Minh Bằng còn có những tên nữa như : Mạc Phong Linh, Mai Thiết Linh (Truyện tình Lan và Ðiệp 1, 2 & 3), Mai Bích Dung (Linh hồn tượng đá, Cho người tình nhỏ), Dạ Ly Vũ (Hồi tưởng), Dạ Cầm (Tình đời, Trở về cát bụi, Ðêm vũ trường, Kiếp cầm ca) và rất nhiều tên khác nữa như : Vũ Chương, Phương Trà, Tây Phố, Tôn Nữ Thụy Khương, Trúc ly, Huy Cường, Mặc Vũ v.v…) (Ngưng sáng tác 1975-1978).

Giai đoạn 3: Từ năm 1979: Có những bài Bài hát của người điên – Nắng bên này sông – Thương về Gò Công – Sao anh không nhớ Gò Công – Dòng kỷ niệm – Chữ tình – Huế buồn – Chỉ là phù du (2003).

BX: Khán giả đã biết nhạc sĩ Lê Dinh bắt đầu từ năm 1956 nhưng cho đến nay vẫn không quên công việc của một người làm về thông tin trên đài phát thanh trước năm 1975, hiện thời còn là chủ bút tờ báo nữa, mà cốt yếu của người cầm bút có kiến thức, có chiều sâu tư tưởng, tờ báo mới hay, phải hấp dẫn để đến được với độc giả. Công việc của nhạc sĩ nằm trong tư tưởng Văn hóa. Xin nhạc sĩ cho biết cảm tưởng về những điều này ?

Nhạc sĩ LD: Khán thính giả biết Lê Dinh từ năm 1956 (qua bài Làng anh làng em) cho đến nay nhưng từ năm 1994, khi nguyệt san Nghệ Thuật ấn hành số 1, độc giả biết Lê Dinh qua người chủ trương tờ báo và đồng thời cũng qua Lê Dinh, người viết nhạc. Chủ trương tờ báo, LD không có tham vọng to lớn, chỉ muốn dùng tờ báo, ngoài việc loan tin tức về âm nhạc, thời sự, kiến thức phổ thông… chính yếu là muốn nhắc lại cho các thế hệ sau biết những người đi trước trong lãnh vực văn học, âm nhạc, nghệ thuật… và giới thiệu, nâng đỡ những mầm non văn nghệ trên con đường mà những mầm non này đã chọn.

BX: Nhạc sĩ đã được khán giả trước năm 1975 yêu thích và ngay như hôm nay tại Hải ngoại, được các Trung tâm băng nhạc thâu lại các nhạc bản như – Xác pháo nhà ai (1964) – Chiều lên bản Thượng (1964) – Tình yêu trả lại trăng sao (1964) – Thương về xứ Thượng (1965) – Ngang trái (1965)…v.v… Tại sao nhạc sĩ không tiếp tục đi sâu vào các ca khúc khác ?

Nhạc sĩ LD: Vẫn sáng tác (mặc dù tờ báo chiếm rất nhiều thì giờ) nhưng so với trrước 1975 thì rất ít vì ở hải ngoại còn nhiều thứ cần nhiều thì giờ để giải quyết và cơm áo buộc ràng không cho mình còn nhiều thì giờ để sáng tác.

BX: Công việc làm báo, làm đài phát thanh tại Montreal, có hỗ trợ gì trong cuộc sống của nhạc sĩ không ?

Nhạc sĩ LD: Công việc làm báo, làm đài phát thanh ở đâu thì không biết, chứ ở thành phố Montréal này, không giúp đỡ gì về mặt tài chính cho người chủ trương. Ðó chỉ là sở thích thôi, ai không thích, không thể nào làm nổi, với trăm ngàn chuyện bực mình vụn vặt, không thể nói ra hết ở đây.

BX:  Nhạc sĩ có những bản nhạc viết về quê hương rất tha thiết. Xin nhạc sĩ cho biết cảm tưởng về những bài nhạc ấy ?

Nhạc sĩ LD: Về những bản nhạc quê hương, không hiểu tại sao, khi còn ở trong nước thì không viết, nhưng giờ đây, ở hải ngoại mới thấy thấm thía 2 chữ “quê hương” và viết rất dễ, rất suôn sẻ, chẳng hạn như bài “Thương về Gò Công (Nắng trưa lên rất cao, Ngoài xóm đi vào, đi ngang bờ ao, gặp em đang hái cau để má ăn trầu. Ai qua Gò Công mà không ghé thăm chợ Dinh, Ðể nghe tiếng hò cô gái ngoài kinh, Hò ơi: Em là cô gái xứ Gò, quanh năm sông vắng đưa đò nuôi me, Nhà em ở xóm Giồng Tre, Anh về nhớ ghé thăm mẹ thăm em).

BX:  Theo nhạc sĩ những dòng nhạc trước năm 1975 có những đặc điểm gì giống và khác với thời bây giờ ?

Nhạc sĩ LD: Nhạc trước 1975, kỹ thuật không rắc rối, lời ca ít cầu kỳ và bình dị hơn nhạc sau 1975, kỹ thuật vững chải hơn, hơi khó khăn hơn (có lẽ do sống gần với nền âm nhạc của ngoại quốc) và lời ca cùng đề tài cũng thay đổi nhiều, do hoàn cảnh đang ở tạm nơi xứ người, thân phận ly hương v.v…

BX:  Xin nhạc sĩ vài kinh nghiệm khi làm nhạc ?

Nhạc sĩ LD: Nói về kinh nghiệm trong việc viết nhạc thì nếu viết nhạc nhiều, thì lần lần kỹ thuật sẽ vững chắc hơn, không còn để những lỗi lầm ấu trĩ những khiếm khuyết buồn cười. Những người viết nhạc từ 10 năm trở lên sẽ không còn vấp phải những lỗi lầm này. Còn về phần hồn nhạc, thì không ai giống ai, cũng không phải do kinh nghiệm mà có, bởi đó là thiên phú.

BX:  Về các ca sĩ hiện nay ở hải ngọai ?

Nhạc sĩ LD: Các ca sĩ hiện nay ở hải ngoại : Lớp lớn tuổi (đã nổi tiếng ở Việt Nam) một số, phong độ vẫn còn và họ hát bằng tâm hồn, còn một số trẻ mới lớn lên và nổi tiếng ở hải ngoại, có một số hát bằng hình dáng hơn là hát bằng xúc cảm. Số này cần phải có những người múa may xung quanh mới được. Và khán giả thì “coi” họ hát hơn là “nghe” họ hát.

BX:  Với nghề báo xin nhạc sĩ có nhận xét ?

Nhạc sĩ LD: Về làm báo, thì tuy mới làm 9 năm thôi, nhưng đã nhận thấy rất là nhiêu khê bởi vì trong giới văn chương quá bao la hơn là trong giới âm nhạc. Những nhiêu khê này, không thể nói ra trong khi còn làm báo, chỉ có thể nói khi nào hết làm báo, bằng cách viết hồi ký chẳng hạn. Phục thay những người cả đời làm báo.

BX:  Xin nhạc sĩ kiêm Chủ bút cho biết thế nào là mẩu truyện ngắn hay ? Cây bút nào anh cảm mến ?

Nhạc sĩ LD: Cảm nghĩ của một chủ bút không khác gì cảm nghĩ của một độc giả. Một truyện ngắn (hay dài) mà hay là có đề tài mới lạ, không giống những truyện đã có từ trước, có thắt gút (cho độc giả hồi họp, chờ đợi) rồi từ từ mở khi kết thúc, vui hay buồn, để trả độc giả về với thực tại. Về phần văn chương, không cần phải cầu kỳ hoa lá cành, chỉ cần cho trọn vẹn, câu cú có đầy đủ chủ từ, động từ, túc từ là được. (Chúa ghét những truyện kể lể dài dòng rồi hết, không đem lại một cảm xúc gì cho người đọc).

BX:  Xin nhạc sĩ cho biết tại sao bây giờ các nhạc sĩ thường hay sáng tác những ca khúc gào thét như thế ?

Nhạc sĩ LD: Âm nhạc những năm sau này (nhất là âm nhạc trong nước) không phải là âm nhạc nữa mà không biết nên gọi đó là gì. Nghe loại nhạc chói tai này, đang vui mình bỗng thấy bực tức ngang xương. Ca sĩ thì không gào thét không phải là ca sĩ, có thể gọi là ” hét sĩ ” thì đúng hơn. (Người Pháp có câu : Chanter n’est pas crier). Người VN mình bắt chước rất hay, nhưng bắt chước cái không nên bắt chước. Tuy nhiên, ở trong nước, cũng có một số ít bài rất dễ thương như Song quê, Về quê ngoại, Tiếng hát chim đa đa v.v…

BX:  Nhạc sĩ ấp ủ đề tài nào trong tương lai ?

Nhạc sĩ LD: Hình thức thu video của những trung tâm video lớn bây giờ, nếu cứ cái đà này mà kéo dài mãi, sợ không còn có người thích nữa. Phải thay đổi món ăn cho con người thưởng thức, ăn một món dù ngon, nhưng ăn hoài cũng phải chán (A force de manger la même soupe, on finit par se lasser). Do đó, một màn kịch nhạc, có thể nói như một vở tuồng cải lương mà thay vì cổ nhạc mình viết bằng tân nhạc, có đối thoại, có ca, có vũ, một câu chuyện có đầu có đuôi, viết bằng tân nhạc. Việc này đòi hỏi ca sĩ phải là diễn viên và có như thế mới hấp dẫn về lâu về dài số khán thính giả ít oi ở hải ngoại này. Ðó là ước muốn của LD nhưng mình không có trong tay phương tiện thì làm sao thể hiện được, cho nên ước muốn chỉ là ước muốn suông mà thôi.

BX:  Xin cảm ơn nhạc sĩ Lê Dinh

Trần Năng Phụng post

Advertisements

70 NĂM TÌNH CA VIỆT NAM

70 NĂM TÌNH CA VN

Nghe đã luôn…

Xin mời thưởng thức một phần kho tàng âm nhạc Việt Nam. Nếu quý độc giả chưa có thời gian download trọn bộ “70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam “, xin quý vị chọn lọc và thưởng thức các buổi phát thanh mà quý vị đặc biệt yêu thích.

Trong trường hợp các links (Phần 01, phần 2,…) dưới đây không hoạt động, xin quý vị vui lòng bấm vào link :

http://blog.yume.vn/xem-blog/70-nam-tinh-ca-trong-tan-nhac-viet-nam.sontran155.35CBD8F5.html
hoặc:
http://ngaydochungminh.com/70NamTinhCa/70NamTinhCa.html

70 Năm Tình Ca  Trong Tân Nhạc Việt Nam (1930 – 2000)

Trích từ SBS radio (Úc Châu) do Hoài Nam biên soạn

Phần 01: 1930 Nguyễn Văn Tuyên, Đặng Thế Phong

Phần 02 1940 Lê Thương

Phần 03: Văn Cao phần 1

Phần 04: Văn Cao phần 2

Phần 05: Dương Thiệu Tước

Phần 06: 1945-1946

Phần 07: Thẩm Oánh , Canh Thân, Tô Vũ, Nguyễn Thiện Tơ

Phần 08: Thế nào là nhạc tiền chiến

Phần 09: Pham Duy Nhượng, Lê Hoàng Long, Tu Mi, Võ Đức Phấn

Phần 10: Lưu Hữu Phước, Trần Hoàn, Tô Hoài, Tô Vũ

Phần 11: Hoàng Giác, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Tí

Phần 12: Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Văn Quỳ, Hoàng Dương

Phần 13: Đoàn Chuẩn – Từ Linh

Phần 14: Phạm Duy, Hoàng Trọng, Ngọc Bích

Phần 15: Văn Giảng, Châu Kỳ

Phần 16: Anh Việt, Lâm Tuyền

Phần 17: Tổng kết giai đoạn 1938-1954

Phần 18: Hoàng Trọng

Phần 19: Ngọc Bích, Xuân Tiên

Phần 20: Vũ Thành, Đan Thọ

Phần 21: Phạm Duy

Phần 22: Lê Trọng Nguyễn

Phần 23: Hoàng Nguyên

Phần 24: Lê Mộng Nguyên, Nguyễn Hiền, Nhật Bằng

Phần 25: Phạm Đình Chương 1

Phần 26: Phạm Đình Chương 2

Phần 27: Văn Phụng

Phần 28: Hoàng Thi Thơ

Phần 29: Nguyễn Văn Đông

Phần 30: Tuấn Khanh

Phần 31: Y Vân

Phần 32: Anh Bằng

Phần 33: Minh Kỳ

Phần 34: Lê Dinh

Phần 35: Phạm Mạnh Cương, Phạm Trọng Cầu

Phần 36: Lam Phương

Phần 37: Trúc Phương

Phần 38: Huỳnh Anh

Phần 39: Khánh Băng

Phần 40: Duy Khánh

Phần 41: Mạnh Phát

Phần 42: Nhật Trường

Phần 43: Hoài Linh

Phần 44: Song Ngọc

Phần 45: Nhật Ngân, Thanh Sơn

Phần 46: Nguyễn Ánh 9

Phần 47: Đỗ Lễ, Bảo Thu

Phần 48: Hoài An, Nguyễn Vũ

Phần 49: Trường Hải, Dzũng Chinh, Hàn Châu

Phần 50: Cung Tiến phần 1

Phần 51: Cung Tiến phần 2

Phần 52: Thanh Trang, Anh Việt Thu

Phần 53: Phạm Thế Mỹ

Phần 54: Trầm Tử Thiêng Phần 1

Phần 55: Trầm Tử Thiêng Phần 2

Phần 56: Trường Sa

Phần 57: Từ Công Phụng

Phần 58: Trịnh Công Sơn Phần 1

Phần 59: Trịnh Công Sơn Phần 2

Phần 60: Lê Uyên Phương Phần 1

Phần 61: Lê Uyên Phương Phần 2

Phần 62: Vũ Thành An

Phần 63: Ngô Thụy Miên Phần 1

Phần 64: Ngô Thụy Miên Phần 2

Phần 65: Ban Nhạc Trẻ Phượng Hoàng_Phần 1

Xuân Kỷ Sửu: Xuân Trong Tân Nhạc Viêt Nam

Phần 66: Ban Nhạc Trẻ Phượng Hoàng_Phần 2

Phần 67: Đức Huy, Nam Lộc, Quốc Dũng, Tùng Giang

Phần 68: Phạm Duy Phần 1

Phần 69: Phạm Duy Phần 2

Phần 70: Phạm Duy Phần 3

Phần 71: Phạm Duy Phần 4

Phần 72: Tổng Kết Thời Kỳ Thứ 2 Trong 70 Năm Tình Ca

Phần 73: Thời Kỳ Sau 1975 Phần 1

Phần 74: Thời Kỳ Sau 1975 Phần 2

Phần 75: Trầm Tử Thiêng

Phần 76: Hoàng Thi Thơ, Phạm Duy, Song Ngọc, Anh Bằng, Đăng Khánh

Phần 77: Tùng Giang, Duy Quang

Phần 78: Đức Huy

Phần 79: Trần Quảng Nam , Vũ Tuấn Đức, Hoàng Quốc Bảo, Margurerite Phạm

Phần 80: Nguyệt Ánh, Việt Dũng, Duy Trác, Trần Ngọc Sơn

Phần 81: Đăng Khánh

Phần 82: Trúc Hồ

Phần 83: Lê Tín Hương, Trịnh Nam Sơn, Hoàng Thanh Tâm, Đỗ Cung La, Anh Tài, Đặng Hiền

Phần 84: Ngô Thụy Miên

Phần 85: Lam Phương

Phần 86: Anh Bằng, Từ Công Phụng

Phần 87: Nguyễn Đình Toàn

Phần 88: Nguyễn Ánh 9

Phần 89: Trần Quang Lộc

Phần 90: Nguyễn Trung Cang – Lê Hựu Hà – Quốc Dũng

Phần 91: Bảo Chấn – Bảo Phúc

Phần 92: Thanh Tùng – Phú Quang – Quốc Bảo

Phần 93: Ngọc Lễ – Trần Tiến

Phần 94: Sơ lược về âm nhạc VN trong 34 năm 1975-2009

PS : Đây là tập hợp các bài viết về các tác giả nổi tiếng trong nền Tân Nhạc Việt Nam. Hy vọng các bạn sẽ cảm nhận được những khúc tình ca và phổ biến các tình ca của Tân Nhạc Việt Nam. Một nền Tân Nhạc đang bị giới trẻ lãng quên và chìm đắm trong các ca khúc quá dễ giải và vô vị. Nguồn : Ngaydochungminh

Trịnh Công Sơn với những tình khúc như lời tỏ tình với cuộc sống.

Phạm Duy với dòng âm nhạc đậm nét dân tộc với đủ các thể loại Tình Ca, Du Ca, Trường Ca,…

Đoàn Chuẩn với các ca khúc bất hủ về mùa thu.

Lê Uyên với các ca khúc về tình yêu lứa đôi trần trụi và đời thường.

Vũ Thành An với các bài Không tên bất tử.

Từ Công Phụng với những ca khúc tình tự với cuộc sống và giọng ca trầm.

Lam Phương, nhạc sĩ bất hạnh trong tình yêu, với những thăng trầm trong cuộc sống được biểu hiện qua các sáng tác của ông.

Lê Thương, nghệ sĩ đa tài với sáng tác nổi tiếng trường ca Hội Trùng Dương.

Đặng Thế Phong, người nhạc sĩ thiên tài nhưng  mệnh yểu với một số ca khúc được biết đến như: Giọt mưa thu, Con thuyền không bến…buồn thê lương…….

Dương Thiệu Tước, người nghệ sĩ đa tài và thâm thúy

NẾU KHÔNG NGHE ĐƯỢC :

– Nó lên real player có sẵn trong máy và báo không chạy được. Bạn nghe bằng softwear nào vậy ? Cho tớ biết với. Cám ơn bạn trước.

– Các bạn có thể lấy VLC về tại đây : http://www.videolan.org/vlc/

– Hoặc bạn vào website dưới đây download VLC Media Player rồi install. Dùng nó nghe nhạc và vido rất ok.

http://download.cnet.com/VLC-Media-Player/3000-13632_4-10267151.html

NGHE “70 NĂM TÌNH CA

TRONG TÂN NHẠC VIỆT NAM

1/- Cách đây vài năm, một người bạn ở bên Úc gởi cho tôi CD thâu lại chương trình “70 năm Tình Ca trong tân nhạc Việt Nam “ do Hoài Nam phụ trách trên đài phát thanh SBS ở Úc. Do bận rộn nhiều công việc, tôi bỏ quên CD ấy trong ngăn kéo. Mãi đến vài tháng sau, tình cờ thấy lại, tôi lấy ra đem theo trong xe để nghe trong lúc trên đường đến sở làm.

Ngay từ những giây phút đầu tiên của phần thứ nhất trong chương trình, giọng nói ấm áp của người phụ trách đã khiến tôi phải chú ý. Sau đó, nếu có bất cứ một thời gian rảnh rỗi nào, tôi đều dùng để nghe cái CD chứa những chương trình phát thanh thật là hấp dẫn ấy. CD có 50 chương trình đã phát thanh được thâu lại và vẫn chưa hòan tất. Tôi tìm địa chỉ đài phát thanh SBS trên mạng để nghe tiếp chương trình của ông Hoài Nam. Và tất nhiên, thâu lại. Vì ông Hoài Nam có thông báo rằng ông không có ý định thực hiện những CD cho chương trình của mình, thính gỉa nếu thích, có thể thâu lại trước khi đài SBS xóa bỏ vì sức chứa những bài lưu trữ của đài có giới hạn. Cuối cùng, tính đến chương trình phát thanh cuối cùng kết thúc 70 năm Tình ca Việt Nam vào đầu năm 2010, tôi có trong tay tổng cộng 94 phần (episodes ), mỗi phần chiếm thời lượng khỏang từ 20 phút cho đến 30 phút. Lấy trung bình 25 phút một phần thì 94 phần của chương trình này dài khoảng 2400 phút hay khoảng 40 tiếng hồ liên tục.

Công trình đồ sộ dài 40 tiếng đồng hồ thu thanh nói về Tình ca trong nền tân nhạc Việt Nam kể từ giai đọan phôi thai năm 1930 cho đến năm 2009, tức khỏang 70 năm, công trình mà ông Hoài Nam khiêm tốn gọi là “chương trình tân nhạc dẫn giải“ quả thật đã gây ở tôi một ấn tượng thật mạnh mẽ, đến độ tôi phải tìm hiểu xem tác giả là người thế nào mà đầy khả năng, tâm huyết thực hiện một chương trình khiến rất nhiều bạn bè người quen kẻ biết của tôi, khi được giới thiệu, đã ngay lập tức bày tỏ sự yêu thích và thán phục.

Với từ khóa “70 năm tình ca Việt Nam“ gõ vào ổ tìm kiếm Google, kết quả cho thấy chương trình này được nối kết (link) hoặc đem về ở hầu hết những diễn đàn, trang mạng điện tử về âm nhạc, về văn chương. Nhiều trang còn có phần minh họa thêm về hình ảnh các nhạc sĩ, các ca sĩ rất chuyên nghiệp, kèm thêm phần bình luận của người xem (nghe). Tất cả đều không tiếc lời khen ngợi chương trình. Nhưng, về tác giả, tôi đã không biết được gì thêm, ngoài cái tên Hoài Nam xa lạ. Ông không có một chức vị gì đứng trước cái tên, chẳng hạn nhạc sĩ, nhà biên khảo, hoặc nhà thơ, nhà văn, những tước hiệu mà tôi cứ đinh ninh sẽ bắt gặp đâu đó trên mạng với cái tên Hoài Nam đi kèm theo. Tước hiệu duy nhất cho tên ông là “phát thanh viên Hoài Nam của đài phát thanh SBS“ tôi tìm thấy trên trang diễn đàn âm nhạc Việt Nam thư quán. Càng ngạc nhiên hơn nữa, tuy chương trình 70 năm tình ca của ông đã hoàn tất hơn một năm nay, đã được giới thưởng ngọan ưa thích và khen ngợi, nhưng tôi không tìm thấy một bài viết nào về công trình của ông, một công trình mà theo tôi rất xứng đáng được quảng bá, giới thiệu đến mọi thành phần người yêu thích âm nhạc, già cũng như trẻ, ngòai nước cũng như trong nước.

2/- Một người bạn nhạc sĩ của tôi bảo, tất cả những người yêu thích chương trình 70 năm Tình ca Việt Nam đều nợ ông Hoài Nam một lời cám ơn viết bằng chữ hoa. Có lẽ vì lời nhắc nhở ấy, tôi đã không thể chỉ biết ngồi đó gậm nhấm những âm thanh hạnh phúc khi nghe giọng nói trầm ấm ngọt ngào của ông Hòai Nam rót vào hồn bao kỷ niệm của một thời, qua lời giới thiệu lai lịch một bài hát quen thuộc, hòan cảnh bài hát ấy ra đời và số phận người nhạc sĩ sáng tác bản nhạc ấy bây giờ ra sao.

Hãy thử tưởng tượng công trình 70 năm tình ca Việt nam được biên sọan theo hình thức thông thường như trước đây dưới hình thức một quyển sách, cũng những phân chia thời kỳ, những dẫn giải, những trích dẫn bài nhạc đầy đủ cả lời (có thể cả nhạc kẻ) và so sánh quyển sách ấy với hình thức mà ông Hoài Nam, tác giả công trình đã thực hiện. Tất nhiên, người yêu nhạc hẳn sẽ chọn công trình của ông Hoài Nam, vì nó sống động, hấp dẫn hơn rất nhiều. Người ta nghe nhạc, chứ ít ai đọc nhạc. Thực hiện bằng hình thức Audio, người biên sọan phải rất là cẩn trọng, vì mọi sơ suất sẽ dễ dàng bị người nghe nhận diện. Đọc tên một bài nhạc, người yêu nhạc có thể chưa nhận ra ngay được đó là bài nào, của ai. Nhưng khi giai điệu bài hát cất lên, người mộ điệu nhận ra ngay bài hát , dù đôi khi không nhớ hay không biết tên bài hát. Trong suốt 94 buổi phát thanh, đã hơn một lần ông Hoài Nam mắc sai sót. Những sai sót đó , hoặc do chính ông phát hiện ra, hoặc do thính giả liên lạc báo cho ông biết. Nhắc đến chi tiết này ở đây để thấy người thực hiện đã chọn một công việc thập phần khó khăn.

Mặt khác, do nguyên gốc là một chương trình phát thanh, có một thời biểu phát nhất định vào một giờ nào đó trong ngày, hay một ngày nào đó trong tuần, đôi khi không hẳn đã thuận tiện cho nhiều người đón nghe. May thay, với kỹ thuật hiện nay, việc thu lại để nghe, hay tìm nghe trên mạng điện tử vào những ngày giờ thích hợp nhất cho mình thưởng thức đã khiến một công trình biên sọan như của ông Hoài Nam đã trở nên phổ biến đến nhiều giới, nhiều nơi khác nhau và nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Cách đây 40 năm, nếu chúng ta có được phương tiện kỹ thuật trong tầm tay như hiện nay, thì hẳn tòan bộ chương trình “Nhạc Chủ Đề“ mỗi tối thứ Năm trên đài phát thanh Sài Gòn dạo ấy do nhà thơ Nguyễn Đình Toàn phụ trách ắt sẽ được ghi lại và ngày nay chúng ta sẽ có một gia tài âm nhạc đồ sộ chứ không phải chỉ một chương trình hiếm hoi được lưu giữ trong băng nhạc chủ đề Tình Ca Việt Nam phát hành năm 1970 mà thời gian gần đây chúng ta thấy lưu truyền trên mạng. Hoặc chương trình “Tiếng Nhạc Tâm Tình” do ca sĩ Anh Ngọc phụ trách, nhà văn Mai Thảo viết và đọc lời dẫn nhập, sẽ được biết đến bởi nhiều thế hệ chứ không chỉ những người cùng thời với ông Hoài Nam như ông đã giới thiệu trong phần nói về nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn. Nhắc lại sự tiếc nuối này để chúng ta trân trọng hơn nữa chương trình 70 năm Tình ca trong tân nhạc Việt nam gồm 94 episodes mà nhiều người yêu nhạc đang sở hữu trong tay.

3/- 70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam được Hoài Nam chia ra làm 3 giai đọan với 5 thế hệ nhạc sĩ.

Giai đọan thứ nhất là từ năm 1930 cho đến năm 1946 với những bản nhạc tình bất hủ của những tên tuổi lẫy lừng thuộc thế hệ nhạc sĩ tiên phong Văn Phụng, Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Thẩm Óanh, Đòan Chuẩn, Đặng thế Phong, Nguyễn Thiện Tơ, Phạm Duy, Hòang Trọng, Ngọc Bích, Anh Việt, Lâm Tuyền , Lê Thương . . . Đây cũng là thời kỳ của những bài hát mà các nhạc sĩ Lê Thương, Hòang Nguyên gọi là tiếng hát những ngày chưa chiến tranh hay nhạc tiền chiến mà chúng ta thường gọi, dù tên gọi này không được chính xác lắm.

Giai đọan thứ hai là từ năm 1954 cho đến 1975, lấy dấu mốc Hiệp Định Geneve 1954 cho đến biến cố lịch sử 30/4/1975. Trong giai đọan này, Hoài Nam còn chia ra làm 2 thời kỳ : thời kỳ 1 là từ những ngày tháng miền Nam tương đối còn thanh bình với những nhạc sĩ thế hệ thứ hai như Hòang Nguyên, Hòang Trọng, Ngọc Bích, Xuân Tiên, Lê Trọng Nguyễn, Hòang Thi Thơ v…v cho đến giữa những năm 60s. Thời kỳ 2 là khi cuộc chiến tranh trở nên khốc liệt với sự ra đời của thế hệ nhạc sĩ thứ ba như Trịnh Công Sơn, Minh Kỳ, Hòai linh, Trúc Phương, Khánh Băng, Y Vân v..v.. Đây cũng là giai đọan Hoài Nam đầu tư công sức vào nhiều nhất với số lượng 55 episodes so sánh với 17 episodes của giai đọan 1 và 21 episodes cho giai đọan 3.

Giai đọan thứ ba là từ sau 1975 cho đến 2009 với các nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ tư như : Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà, Nam Lộc, Nguyễn Ánh 9, Lê Tín Hương v..v.. và thứ năm như Trúc Hồ, Vũ Tuấn Đức, Ngọc Lễ v…v.. cùng với những nhạc sĩ thế hệ thứ hai, thứ ba ở hải ngọai hay còn sinh sống trong nước.

Việc phân chia từng giai đọan cho nền tân nhạc Việt Nam dựa vào những biến cố lịch sử chứ không dựa vào những thay đổi về khuynh hướng sáng tác , theo tôi, tác giả đã có được sự lựa chọn phù hợp và đúng đắn. Bởi vì chính những biến cố lịch sử đã tạo nên một dòng nhạc phản chiến hay dòng nhạc xiển dương những tình cảm trong thời chiến trước 1975, đã tạo nên một dòng nhạc hướng vọng quê nhà ở hải ngọai những năm từ 1975 đến 80. Lịch sử Việt Nam từ khi hình thành nền tân nhạc tới nay đầy dẫy những biến cố có khả năng làm thay đổi cách sống, cách nghĩ của nhiều người, nhiều thế hệ, và các sáng tác văn học nghệ thuật, trong đó có âm nhạc – nhất là nhạc tình – một sản phẩm của con người trong giai đọan nhất định nào đó.

Theo dõi 94 chương trình phát thanh của ông Hoài Nam, người nghe chóang ngợp vì mức độ phong phú của những thông tin. Một bài nhạc mà người nghe có thể đã nghe đi nghe lại hàng chục lần nhưng chưa bao giờ được biết tên tác giả là ai, nói gì đến hòan cảnh bài nhạc ấy ra đời và vị trí của nó trong một giai đọan lịch sử. Với 70 năm tình ca trong âm nhạc Việt Nam, người mộ điệu có cơ hội biết được những thông tin quý báu đó. Thí dụ như người nhạc sĩ hòan tòan xa lạ với giới thưởng ngọan trước 75 cũng như sau 75 Marguerite Phạm, theo tiết lộ của Hoài Nam, chính là tác giả một bài hát rất được ưa chuộng là “ Sao đành xa em “ (Đêm nay, một mình em. Cô đơn dưới ánh đèn vàng…) và Marguerite Phạm không ai khác hơn chính là nữ ca sĩ Nguyệt Ánh nổi tiếng với những bài nhạc tranh đấu một thời.

Còn nhiều những chi tiết khác, những nhạc sĩ “xa lạ“ khác, mà chính tôi, một người mê nhạc từ nhỏ, cũng chỉ biết được nhờ theo dõi chương trình 70 năm Tình ca Việt Nam của Hoài Nam. Đó là một trong những đặc tính của chương trình khiến người nghe thích thú và kiên trì theo dõi với cả một sự háo hức. Đối với những nhạc sĩ đã thành danh và tác phẩm của họ được hầu hết mọi người biết đến, thì sự trình bày của Hoài Nam lại khiến người nghe khoan khóai biểu lộ sự đồng tình. Niềm vui lúc này là ở chỗ đồng điệu, đồng cảm. Thí dụ như hai phần phát thanh đặc biệt dành cho nhạc sĩ quá cố Trầm Tử Thiêng. Sự trân trọng của người thực hiện chương trình 70 năm tình ca dành cho người nhạc sĩ suốt một đời vì nghệ thuật này nói lên tấm lòng biết ơn chân thành của ông , cũng là tấm lòng biết ơn của biết bao con người từng rung động vì những bài nhạc tình , từng yêu mến nhân cách cao quý của người nhạc sĩ.

Tất cả những bài nhạc được dùng để minh họa trong những phần dẫn giải, giới thiệu đều là những bài nhạc quen thuộc với nhiều người. Nhưng điểm thú vị nhất trong lúc nghe lại những bài nhạc ấy trong chương trình 70 năm tình ca là người nghe được nghe từ tiếng hát của người ca sĩ tiêu biểu nhất cho bài nhạc, cũng là tiêu biểu nhất cho thời điểm bài nhạc ra đời, hoặc người ca sĩ đã giới thiệu bài nhạc ấy với công chúng lần đầu tiên . Sự lựa chọn tinh tế đó chứng tỏ người thực hiện phải có một kiến thức phong phú, đã từng sống qua và ghi nhớ được những sinh họat văn nghệ một thời và khả năng bắt đúng mạch hơi thở của giới thưởng ngọan của từng thời kỳ mà ông đang giới thiệu.

Chính ở điểm này mà tôi cảm thấy mình phải ít nhất một lần nói lên lời cám ơn với ông Hoài Nam. Trải suốt 70 năm, khối lượng sáng tác về âm nhạc – dù chỉ là giới hạn ở những bài tình ca – đồ sộ biết chừng nào, không ai có thể có thì giờ thưởng thức được hết kho tàng quý giá ấy. Nhưng , may mắn thay, chúng ta đã có ông Hòai Nam bỏ công chắt lọc lại, chỉ chọn ra những bài nhạc tiêu biểu nhất của một nhạc sĩ, tiêu biểu nhất cho một giai đọan lịch sử, tiêu biểu nhất với một ca sĩ nào đó và những lời dẫn giải ngắn gọn, nhưng đầy đủ và trân trọng.

Một công trình như thế, tưởng phải là công sức của nhiều người, nhiều giới, với sự đầu tư đầy đủ cả về thời gian lẫn tiền bạc. Nhưng hình như – theo tôi biết – ông Hoài Nam đảm trách công việc ấy chỉ với những phương tiện mà ông có được với tư cách một cộng tác viên chương trình tiếng Việt của đài phát thanh SBS. Và hẳn nhiên, với tấm lòng yêu nghệ thuật vô bờ. Nếu không có tình cảm ấy thúc đẩy, chưa chắc gì một nhóm người nào đó với sự tài trợ đầy đủ về phương tiện có thể thực hiện được một công trình đầy giá trị như ông Hòai Nam đã làm.

4/- Một điểm khác của chương trình 70 năm tình ca khiến tôi rất tâm đắc với người thực hiện. Đó là thái độ khiêm tốn, cầu thị, trân trọng và hiểu biết của ông Hoài Nam trong lúc làm công việc giới thiệu các nhạc sĩ. Những nhận xét của ông chừng mực, chính xác và khách quan. Ngay từ đầu, ông Hoài Nam xác nhận ông không có khả năng làm công việc phê bình âm nhạc và không có ý định làm công việc này. Ông chỉ có những nhận xét, mà ông giới hạn chúng từ quan điểm riêng và sự hiểu biết của người thực hiện. Xét cho cùng, khi thực hiện một chương trình đồ sộ phong phú, đa dạng như chương trình 70 năm tình ca  người thực hiện khó tránh khỏi những nhận xét mang tính cách phê bình trong lúc dẫn giải. Nhưng tính cầu thị rất khả ái của ông Hoài Nam đã giúp ông dừng lại trong những giới hạn cần thiết.

Chẳng hạn, khi nói về dòng nhạc mà ông gọi là “thời trang“ của tình ca Việt Nam giữa những năm 60, 70 (lọai nhạc mà có người gọi là nhạc sến, hay nhẹ nhàng hơn là “nhạc quê hương“),Hoài Nam đã rất cẩn trọng trong những dẫn giải của mình. Theo tôi, ở điểm này, Hoài Nam thật nghiêm túc. Ông chỉ nêu chúng ra để phân biệt với những khuynh hướng sáng tác khác cùng thời, đôi khi ở cùng một tác giả nhưng có những khuynh hướng sáng tác khác nhau. Hiện nay, cuộc tranh luận về nhạc sến (tức lọai nhạc thời trang theo Hoài Nam) vẫn còn diễn ra ở trong nước. Số người bênh, số người chê vẫn có những lý lẽ riêng của họ, nên sự cẩn trọng của ông Hòai Nam là cần thiết.

Hoặc, khi nói về những nhạc sĩ “gây tranh cãi  như Trịnh Công Sơn chẳng hạn, ông minh định rất rõ hướng đi và mục đích của mình trong lúc giới thiệu. Sự thẳng thắn và dứt khóat ấy đã ngăn lại được nhiều đầu óc quá khích, cực đoan hay đem quan điểm, lập trường làm thước đo nghệ thuật. Khi giới thiệu những nhạc sĩ trong nước ở thời kỳ sau 75, ông thật khiêm tốn khi tự đánh giá sự giới hạn trong việc theo dõi cũng như nguồn tài liệu của mình khi làm công việc này. Dù vậy, theo tôi, sự thẩm định của ông thật xuất sắc khi giới thiệu những khuôn mặt tiêu biểu ở trong nước. Mặt khác, với tư cách người tị nạn sinh sống ở Hải ngọai, ông đã mạnh dạn vượt lên trên mọi thái độ hẹp hòi, thái độ “lên gân lập trường“ để công khai công nhận thành quả nghệ thuật của người trong nước, nhất là những nghệ sĩ xuất thân từ miền Bắc như Trần Tiến, Phú Quang, hay là người miền Nam tập kết ra Bắc như Thanh Tùng v..v.. Cái cung cách trang trọng ông giới thiệu nhạc sĩ gốc bộ đội Trần Tiến đã khiến tôi vô cùng xúc động. Qua sự giới thiệu của ông, người nghe ở bên này chiến tuyến hẳn phải đồng ý với ông rằng người nhạc sĩ ở bên kia chiến tuyến ấy xứng đáng nhận một sự chào đón nồng ấm, dù cái oan nghiệt của cuộc chiến vừa qua đã xui khiến có lúc chúng ta là những kẻ thù không đội trời chung của nhau.

Có thể những ghi nhận của ông về nhạc tình trong nước sau 75 còn nhiều thiếu sót, nhưng đó là sự thiếu sót tha thứ được. Vả chăng, chính ông cũng xác nhận rằng những tác giả không được ông nhắc đến trong chương trình của mình không phải vì ông Chúng ta đang sống giữa một thế giới thừa mứa nhiều thứ, nhưng lại thiếu lòng khoan dung và sự khiêm tốn , thì thái độ ấy của tác giả 70 năm tình ca là một tấm gương để cho mọi người cùng soi. Trong bối cảnh bát nháo của các diễn đàn hiện nay, lợi dụng những phương tiện khoa học kỹ thuật trong tầm tay, nhiều người đã không kềm chế được con thú trong bản năng của mình, có những lời lẽ lăng mạ người không cùng quan điểm hoặc mượn diễn đàn ảo ( hay còn gọi là diễn đàn giấu mặt, giấu tên ) để trút hết những bực bội riêng tư vào việc phê bình người khác một cách vô trách nhiệm , càng khiến sự nghiêm túc trong khen , chê của Hòai Nam thêm phần giá trị. Người nghe có thể không đồng ý với ông về một vấn đề nào đó, nhưng chắc chắn vẫn phải kính trọng cung cách ông trình bày quan điểm của mình.

5/- Tôi vẫn không thể giải tỏa được nỗi ấm ức của mình khi dùng danh xưng khách sáo “ông Hoài Nam“ để viết về một người tôi ngưỡng mộ, dù chỉ biết ông qua 2400 phút của chương trình 70 năm Tình ca trong tân nhạc Việt Nam. Tôi đã nhiều lần đắm mình trong giọng nói ấm áp ngọt ngào và những bài nhạc tình đầy ắp kỷ niệm của hai ngàn bốn trăm phút quý báu ấy, cũng như tôi đã lưu trữ chúng để làm của truyền lại cho con cháu mai sau. Nhiều bạn bè tôi cũng đã làm như vậy. Một anh bạn nhà văn, khi nhận được “quà biếu“ của tôi là tòan bộ 94 episodes của 70 năm Tình ca, đã viết thật giản dị, mộc mạc mà chí tình “Hoài Nam làm một công trình xịn hết biết “. Một người bạn khác, trong đêm Giáng sinh lạnh buốt của mùa Đông Wichita, đã viết cho tôi “Anh T. Vấn ơi ! Tôi đang ngồi cạnh lò sưởi, ly rượu vang trên tay và cùng với người mẹ già 80 tuổi, chúng tôi nghe 70 năm Tình ca mà anh gởi tặng. Quả là những khỏanh khắc tuyệt vời mà tôi được hưởng ! “. Một đứa cháu của tôi thuộc thế hệ 8x sinh sống ở trong nước, nghe xong chương trình, đã bộc lộ ngắn ngủi “Quá đã ! bác Ba ơi !“.

Như một cách làm giảm nhẹ sự ấm ức còn chất chứa trong lòng, tôi bắt chước chính ông Hoài Nam khi nói về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Tòan và tác phẩm “Bông Hồng tạ ơn“ mà Nguyễn Đình Tòan sọan với mục đích tạ ơn những văn thi nghệ sĩ đã cống hiến cho đời những tác phẩm nghệ thuật sống mãi với thời gian. Ông Hoài Nam ghi nhận rằng, trong tác phẩm đó, Nguyễn Đình Tòan , lẽ dĩ nhiên, không thể tạ ơn chính mình, nên Hòai Nam mượn chương trình phát thanh nói về Nguyễn Đình Tòan để gởi đến người nhạc sĩ đa tài một bông hồng mà ông rất xứng đáng được nhận. Bài viết này có thể chưa nói hết được giá trị công trình có một không hai của ông Hoài Nam, nhưng tác giả của nó cũng mạo muội thay mặt những thính giả yêu thích chương trình 70 năm tình ca gởi đến người thực hiện chương trình là ông Hoài Nam như một bông hồng tươi thắm nhất của lòng biết ơn.

Xin ông hãy nhận cho chúng tôi được nhẹ lòng và thỏai mái đắm mình trong từng giây phút của hai ngàn bốn trăm phút 70 năm tình ca Việt Nam mỗi khi có dịp.

Tôi kèm theo ở đây 2 cái links dành cho những vị nào muốn đem về cất giữ trong máy của mình tòan bộ chương trình 70 năm tình ca trong tân nhạc Việt Nam của Hoài Nam gồm 94 episodes không trân trọng sự nghiệp của họ, mà chỉ là vì sự cách trở về địa lý khiến ông không có được sự hiểu biết cần thiết cũng như nguồn tài liệu đầy đủ để giới thiệu.

Link thứ nhất gồm episodes 1 cho đến 38.

http://www.megaupload.com/?d=B4IN5CED

Link thứ hai gồm episodes 39 đến 94.

http://www.megaupload.com/?d=LE2TJV54

Hoặc nếu không muốn đem về máy, quý vị có thể vào nghe trực tiếp theo link dưới đây :

70 năm tình ca Việt nam

Nghiêm Vĩnh Phong post

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (2)

HOÀI NIỆM VỀ

GIA ĐÌNH HỌ NGÔ

Đường từ Sài Gòn về Lái Thiêu giữa trưa cuối thu của Miền Nam thì cũng không khác gì mùa hè. Nắng và nóng.

Từ sớm, những người chuyên sống nhờ người chết đã đến nhổ cỏ, quét dọn quanh các ngôi mộ, mà theo kinh nghiệm của họ, ngày hôm nay, 1 tháng 11, thế nào cũng có người đến viếng mộ.

Nghĩa trang Lái Thiêu và nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi đối diện nhau. Thật ra gọi tên là nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi là gọi theo cách của những người đến viếng mộ, vì hầu hết các ngôi mộ ở đây đã được cải táng và di dời từ nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, là tiền thân của công viên Lê Văn Tám hiện nay, trước kia ra để cải tạo môi trường.

Chúng tôi đến viếng mộ cụ Gioan Baotixita Ngô Đình Cẩn được cải táng từ nghĩa trang chùa Phổ Quang ra. Và điểm dừng chính là mộ cố tổng thống Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm, và mộ ông cố vấn Giacôbê Ngô Đình Nhu, giữa là phần mộ của thân mẫu hai ông, cụ cố Luxia.

Nhìn tấm bia không hình, không ghi rõ tên, mà chỉ ghi Huynh và Đệ, để ai biết chuyện có thể đoán ai là ngài tổng thống, đâu là ông cố vấn. Cả hai mộ ghi ngày 2 tháng 11 năm 1963. Cả hai người đã bị sát hại vào đúng lễ các linh hồn cách nay đúng 48 năm.

Bà Thịnh đã có 20 năm sống bằng nghề nhổ cỏ nghĩa trang ở đây kể : “Cách đây vài năm có mấy người đến viêng mộ cụ Huynh, cụ Đệ. Những người này đưa tiền cho chồng tôi bảo làm bia mới, ghi rõ ‘Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu’, chồng tôi không dám, nên bảo chỉ có thể ghi tên và họ thôi. Những người khách đồng ý, chồng tôi đã làm và gắn lên. Thời gian sau, chính quyền địa phương đi kiểm tra bắt tháo ra, ném xuống đất rồi họ lấy chân đạp lên !” Người chết vẫn bị khinh miệt !

Điều này đau, nhưng không đau bằng 48 năm rồi, mà vẫn có những người chấp nhận mình “mù”, không tự tìm sự thật để rồi hành xử không hơn gì loài vật.

Việc tỏ bày sự kính trọng đối với cố tổng thống Ngô Đình Diệm vẫn là một việc mà nhiều người cho rằng cấm kỵ. Như thế mới biết thời nay còn phong kiến hơn cả các triều phong kiến Việt Nam. Cô Thuỳ lần đầu tiên đến nghĩa trang này để thắp hương cho cố tổng thống Ngô Đình Diệm, cô rất sợ, nhìn ai cũng nghĩ là cảnh sát công an và lo họ sẽ bắt. Riêng với người viết bài này, trước lúc đi được một người thân lưu ý “take care !”

Chúng tôi những người sinh sau đẻ muộn, chỉ được học sử Việt Nam theo cái nhìn hiện tại, nhưng những người trẻ ngày nay bắt đầu biết được nhiều điều thật hơn về lịch sử, rồi lại có cơ hội bàn hỏi với nhiều người am hiểu lịch sự cách đa chiều. Chúng tôi nay phải tự hào về ngài tổng thống của nền Đệ Nhất Cộng Hoà, thổng thống Ngô Đình Diệm. Một người lãnh đạo toàn tâm, toàn ý với dân nước, dứt khoát không cuối đầu lệ thuộc ngoại bang. Cái chết của anh em cụ là kết quả của sự dứt khoát không theo Mỹ, không để người nước ngoài can thiệp quá sâu vào chuyện quốc gia Việt Tổ.

Chúng tôi muốn cầu lễ cho cụ cố tổng thống Gioan Baotixita ngay tại phần mộ của cụ, như lời thì thầm xin lỗi với cụ suốt 48 năm qua, chúng tôi đã không hiểu đúng về cụ, về công lao cụ đã dành cho quê Việt mình, và nhất là cũng vì nỗi sợ hãi bị chụp mũ, bị mắc vạ.

Thánh lễ hôm nay bắt đầu lúc 12:00, ngày 01/11/2011, mộ cụ tổng thống là bàn thờ. Thánh lễ do cha An Thanh chủ tế cùng với cha Hữu Thoại đồng tế. Cha chủ tế nói lý do của buổi lễ : “chúng ta cầu nguyện cho các lãnh tụ Việt Nam ở mọi phía và các tử sĩ thuộc về các bên. Cầu nguyện cho tổng thống Ngô Đình Diệm và cả chủ tịch Hồ Chí Minh. Cầu nguyện cho những chiến binh và thường dân chết vào tết Mậu Thân, những người chết vì bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa, những người chết trong cuộc chiến Tây Nam và biên giới phía Bắc năm 1979 và các năm tiếp theo tại Kampuchia, và tất cả những người đã tử trận mà chưa có ai nhớ đến để cầu nguyện. Người chết không còn giới tuyến, nên chúng ta không gây chia rẽ họ nữa”.

30 người chúng tôi không muốn dứt lìa với quá khứ mà nối tiếp với tình yêu thương. Chúng tôi không muốn người một nhà, dân một nước lại đối xử với nhau tồi tệ như những kẻ thù địch với nhau. Hết rồi thời nhân danh ý thức hệ để đổ máu nhau, làm cho huynh đệ tương tàn. Chấm dứt đi sự hận thù giữa người với nhau và với cả người chết nữa.

thụyvi post (Bài NT. Ảnh  Fx75 và H.Hoà – 2/11/2011)

NHỮNG CUỘC TẤN CÔNG

DINH ĐỘC LẬP (2)

(Nối tiếp bài 1)

Dinh Độc Lập là nơi xảy ra những cuộc binh biến, đảo chánh, cách mạng, cho nên đã từng bị ném bom, bắn phá. Cuộc đảo chánh năm 1960 là cuộc đảo chánh đầu tiên của nước VNCH thời Đệ Nhất, xảy ra tại Dinh Độc Lập cũ, có tên là Dinh Norodom thời Pháp thuộc.

Lúc 5 giờ sáng ngày 11/11/1960, lực lượng đảo chánh gồm có các đơn vị Nhảy Dù bao vây Dinh Độc Lập, sau khi khống chế và uy hiếp các cơ quan quân sự trọng yếu như căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, đài phát thanh Sài Gòn, Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát, doanh trại của Đội Phòng Vệ phủ Tổng Thống (trên đuờng Thống Nhất). Đồng thời họ đặt hầu hết những tướng lãnh trong tình trạng quản thúc tại gia.

Nhiều loạt súng máy bắn vào dinh làm bể cửa kiếng. Tổng thống Diệm suýt chết vì loạt súng máy bắn qua cửa sổ, vào phòng ngủ, đạn ghim vào giường, nhưng thật may mắn, ông đã rời giường ngủ vài phút trước đó.

Đội Phòng Vệ Phủ Tổng thống có từ 30 đến 60 người, kháng cự mãnh liệt, đã bắn hạ 7 người vượt rào băng qua sân cỏ. Quân đảo chánh ngừng bắn và siết chặt vòng vây. Lúc 7 giờ 30 sáng, quân tăng cường đã tới, lực lượng đảo chánh mở cuộc tấn công nữa, nhưng đội Phòng Vệ bắn trả quyết liệt.

Lúc 8 giờ, 5 chiếc thiết giáp đi vòng ra phía sau dinh, bắn vào những trạm gác và pháo kích vào sân dinh. Đến 10 giờ 30 thì tiếng súng ngừng hẳn. Tổng thống Diệm và ông bà Nhu đã xuống hầm. Thiếu tướng Nguyễn Khánh, Tham Mưu Trưởng, nghe tiếng súng nổ, ông tìm cách ra khỏi nhà, đến DĐL bằng xe hơi dân sự, vượt qua rào ở ngỏ sau, vào gặp Tổng thống Diệm. Quân đảo chánh canh gác trước nhà, không biết ông đã bí mật ra đi.

Ở dưới hầm, Tướng Khánh điều động quân đội về giải vây DĐL. Đến trưa, nhiều nhóm dân chúng tụ tập bên ngoài DĐL, reo hò cổ võ quân đảo chánh và vẫy những biểu ngữ yêu cầu thay đổi chế độ. Đài phát thanh Sài Gòn công bố là Hội Đồng Cách Mạng đã đảm trách vai trò chính phủ của miền Nam. Quân đảo chánh do dự về bước kế tiếp, vì có sự tranh luận bất đồng ý kiến về vai trò tương lai của Tổng thống Diệm.

Vương Văn Đông chủ trương thừa thắng xông lên tiến vào bắt sống Ngô Đình Diệm. Nguyễn Chánh Thi thì trái lại, ông sợ Tổng thống Diệm có thể bị thiệt mạng trong cuộc tấn công. Mặc dù ông Diệm có khuyết điểm, nhưng miền Nam không có lãnh tụ nào vượt trội hơn ông cả.

Quân đảo chánh chỉ muốn ông bà Nhu phải rời khỏi chính quyền, nhưng lại không đồng ý với nhau là nên giết họ hay trục xuất ra nước ngoài. Để đối phó, ông Diệm dùng kế hoãn binh, câu giờ bằng cách đề nghị phe đảo chánh đàm phán để thành lập chánh phủ mới. Quân đảo chánh muốn cử Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm, chỉ huy trưởng trường Võ Bị làm thủ tướng, vì tướng Nghiêm không phải là người của đảng Cần Lao.

Đài phát thanh Sài Gòn cho phát đi lời tuyên bố của Đại tá Nguyễn Chánh Thi, cho rằng Ông Diệm đã bị truất phế vì độc tài. Tổng thống Diệm lo ngại toàn dân sẽ nổi dậy, bèn cử bí thư là ông Võ Văn Hải sang thương thuyết với quân đảo chánh. Đến xế chiều ngày 11/11/1960, Tướng Nguyễn Khánh rời DĐL đến gặp cấp chỉ huy đảo chánh để bàn về những yêu sách của họ.

Trung tá Vương Văn Đông, Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi muốn rằng, những sĩ quan và những chính khách đối lập phải được bổ nhiệm vào nội các chính phủ. Đồng thời, yêu cầu Đại tướng Lê Văn Tỵ phải được bổ nhiệm vào chức Bộ trưởng Quốc phòng.

Tổng thống Diệm điện hỏi Tướng Tỵ, đang bị quản thúc tại gia, ông Tỵ không chấp nhận chức Bộ trưởng QP. Bác sĩ Phan Quang Đán, phát ngôn nhân của đảo chánh, người chống ông Diệm quyết liệt, vì ông Diệm đã xoá tên ông ra khỏi danh sách đắc cử dân biểu QH và chận đường, không cho ông đến nhậm chức trong ngày lễ khai mạc. Bác sĩ Đán lên tiếng trên đài phát thanh và tổ chức họp báo, trong khi quân đảo chánh hạ những tấm hình của TT Diệm treo trên tường xuống và giẫm chân, chà đạp lên nó.

Tướng Khánh trở lại DĐL, tường trình những yêu cầu của quân đảo chánh và đề nghị TT Diệm nên chia sẻ quyền hành. Bà Ngô Đình Nhu lớn tiếng phản đối việc đó, khiến cho Tướng Khánh đe dọa rút lui, và ông Diệm buộc bà Nhu phải im tiếng.

Trong khi hai bên ngưng chiến để thương lượng thì các đơn vị trung thành với Tổng thống Diệm có đủ thì giờ điều động quân về tiếp cứu. Đại tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lịnh SĐ 5 BB, mang pháo binh từ Biên Hoà về Sài Gòn.

– Ngày 12-11-1960 : Đại tá Huỳnh Văn Cao, TL/SĐ 7 BB ở Mỹ Tho, Đại tá Trần Thiện Khiêm, TL/SĐ 21 mang 7 tiểu đoàn BB cùng với pháo binh của Trung tá Bùi Dzinh vể giải vây DĐL.

Tướng Khánh cũng thuyết phục tướng Lê Nguyên Khang, TL/TQLC gởi tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 TQLC. Biệt Động Quân ở Tây Ninh cũng về chống đảo chánh. Tổng thống Diệm yêu cầu Tướng Khánh tiếp tục thương lượng và tiếp tục ngưng bắn.

Sáng ngày 12/11/1960, đài phát thanh Sài Gòn phát đi bản tuyên bố của TT Diệm, hứa hẹn sẽ có bầu cử tự do, công bằng và các biện pháp tự do khác, như chấm dứt kiểm soát báo chí…sẽ hợp tác với Hội Đồng Cách Mạng để thành lập chánh phủ liên hiệp.

Cuộc tấn công trì hoãn 36 tiếng đồng hồ.

Tại Phú Lâm ngày 12-11-1960. Phú Lâm là cửa ngỏ ra từ miền Tây vào thủ đô, cuộc giao tranh chớp nhoáng xảy ra nhưng rất khốc liệt với khoản 400 người chết, phần đông là dân chúng tò mò ra đường xem đánh nhau. Quân đảo chánh bị đánh tan ở Phú Lâm và lực lượng cứu viện tiến về DĐL.

Một số đơn vị đã vượt qua khỏi vòng vây của quân đảo chánh, bằng cách nói dối rằng họ là quân chống TT Diệm. Các đơn vị đó bố trí chung quanh dinh xong, thì quay súng lại tấn công bất ngờ quân đảo chánh. Hai bên “trao đổi hoả lực” cho nhau khoảng vài tiếng đồng hồ, quân đảo chánh yếu thế, rút lui. Cuộc đảo chánh bị dẹp tan.

Đại tá Nguyễn Chánh Thi, Tr/t Vương Văn Đông, Phạm Văn Liễu cùng một số sĩ quan chạy vào phi trường Tân Sơn Nhất nhờ Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ giúp đở.

Ông Thi nói “Kỳ, chúng tôi đã thất bại, chúng tôi muốn thoát khỏi nơi nầy, bằng không, sẽ bị xử tử.” Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ cho một chiếc C-47, thế là 15 người lên phi cơ do phi công Phan Phụng Tiên lái. Phe đảo chánh bắt Tư Lịnh Biệt Khu Thủ Đô là Trung tướng Thái Quang Hoàng đi theo làm con tin.

DĐL cử 2 chiếc khu trục cơ đuổi theo chiếc C-47. Đến gần biên giới Campuchia thì bắt kịp. Hai phi công gọi về xin chỉ thị. Lúc đó Tướng Khánh nghe bà Nhu đứng bên cạnh lớn tiếng “Bắn rơi nó đi ! Giết hết lũ Nhảy dù phản nghịch”. Nguyễn Khánh không đồng ý với bà Nhu, ra lịnh cho 2 khu trục cơ trở về.

Đại úy Phan Lạc Tuyên cũng chạy đến Campuchia bằng đường bộ.

Thái tử Norodom Sihanouk mừng rỡ đón chào tất cả, bởi vì Campuchia và VNCH thù nghịch nhau. Vì Sihanouk làm ngơ để cho Bắc Việt sử dụng lãnh thổ tấn công VNCH. Hơn nữa, VNCH đã có ít nhất là 2 lần ám sát Sihanouk. Lần thứ nhất, Ngô Đình Nhu gởi bom thư, lần thứ hai, Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu mua chuộc viên tướng Campuchia làm đảo chánh lật đổ Sihanouk.

Tổ chức đảo chánh năm 1960

Kế hoạch do Trung tá Vương Văn Đông chủ trương và tổ chức, với sự tham gia của Trung tá Nguyễn Triệu Hồng (anh vợ của Tr/t Đông), Thiếu tá Nguyễn Huy Lợi, Th/t Phạm Văn Liễu, Th/t Nguyễn Kiến Hùng, Đại úy Phan Lạc Tuyên, Đ/u Nguyễn Tiến Lộc, Đ/u Nguyễn Thành Chuẩn và những sĩ quan chỉ huy các đơn vị tham gia đảo chánh. Đại tá Nguyễn Chánh Thi được mởi tham gia sau cùng.

Kế hoạch chuẩn bị một năm. Tr/t Đông đã móc nối được một trung đoàn Thiết giáp, một đơn vị Hải quân, 3 tiểu đoàn Dù, một số đơn vị TQLC và Pháo binh. Phía chính trị gồm có Bác sĩ Phan Quang Đán, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Trương Bảo Sơn, Phan Bá Cầm (nhân sĩ Hoà Hảo), Phan Đình Nghị và Nguyễn Đình Lý…

Lý do thất bại

Theo lời tường thuật của nhà báo Stanley Karnow, người được giải Pulitzer Prize, tác giả cuốn “Vietnam : A History”, thì nguyên nhân thất bại là không cắt được đường dây liên lạc từ DĐL đến các bộ chỉ huy quân sự trong nước, cho nên Tổng thống Diệm đã gọi các đơn vị về giải cứu. Vì thế, không giữ được đài phát thanh và không giữ được các nút chận vào Sài Gòn.

Qua thất bại, chúng ta thấy quân đảo chánh mắc kế hoãn binh của TT Diệm. Trình độ chính trị kém là vội đàm phán trên mặt trận mà việc thắng bại chưa ngã ngũ, thương lượng ở thế yếu, khi trong tay không có gì, tức là ở thế hạ phong. Không có mục đích chủ yếu của cuộc đảo chánh cho nên có bất đồng ý kiến, gây tranh cãi tại  mặt trận đang sôi động quyết định sống chết. Không có thống nhất chỉ huy, có lẻ vì lý do bảo mật.

Toà án xét xử

Mãi đến 2 năm sau, ngày 8/7/1963, Toà án Quân sự Đặc Biệt xét xử những người dính líu đến cuộc đảo chánh ngày 11/11/1960 giữa lúc có vụ khủng hoảng Phật Giáo. Có lẽ TT Diệm muốn cảnh cáo dằn mặt những người có ý định đảo chánh.

19 sĩ quan và 34 thường dân bị kết án. 7 sĩ quan và 2 dân sự đào thoát sang Campuchia bị kết án tử hình khiếm diện. 5 sĩ quan được tha bổng. Những người còn lại bị kết án từ 5 năm đến 10 năm tù, đày đi Côn Đảo.

Cách đó không lâu, sau cuộc Cách Mạng ngày 1/11/1963, Đệ Nhất Cộng Hoà bị sụp đổ, những người bị tù được thả ra, và những người ở Campuchia trở về nước phục vụ lại trong quân đội VNCH.

Lần đầu tiên, DĐL “chứng kiến” cuộc binh biến, đánh dấu sự xáo trộn, mở màn cho những cuộc đảo chánh làm suy yếu VNCH trên mặt trận chống Cộng về sau.

Vụ ném bom Dinh Độc Lập năm 1962

Lúc 7 giờ sáng ngày 27/2/1962, bầu trời Sài Gòn bị khuấy động bởi tiếng bom và tiếng súng máy. Dinh Độc Lập chìm trong biển khói của cuộc tấn công từ hai chiếc phi cơ ném bom A-1 Skyraider. Bom nổ, bom xăng đặc (Napalm), rocket và đại lien trút vào dinh tổng thống. (dinh cũ)

Trong 30 phút, 4 trái bom, 8 rocket và đạn đại liên đánh vào mục tiêu, phá sập bên cánh trái của DĐL. Hai phi công là Thiếu úy Nguyễn Văn Cử và Trung úy Phạm Phú Quốc, thuộc Phi đoàn 514  thuộc căn cứ Không Quân Biên Hoà.

Phi cơ của Phạm Phú Quốc bị trúng 72 viên đạn 12 ly 7, trong đó, một viên trúng bình xăng nên phi cơ phát cháy và rơi xuống sông Sài Gòn. Phạm Phú Quốc bị toán Người Nhái Hải quân đến bắt. Nguyễn Văn Cử bay sang Campuchia.

Nguyễn Văn Cử là người chủ mưu vì cha của Cử là ông Nguyễn Văn Lực, một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng bị bắt giam vì hành động chống chính quyền của TT Diệm. Phạm Phú Quốc, người Điện Bàn, Quảng Nam, là người bị Cử lôi cuốn.

Sau khi Đệ Nhất Cộng Hoà sụp đổ, Cử về nước, tiếp tục phục vụ trong Không quân.

Năm 1965, Trung tá Phạm Phú Quốc bị tử trận khi bay từ Đà Nẳng, vượt vĩ tuyến 17 ra đánh phá đường giao thông Hà Tĩnh. Năm 1977, hài cốt của ông được người chị là Phạm Thị Xuân Cơ cải táng ở chùa Phước Lâm, Hội An, Quảng Nam.

Dinh Độc Lập bị đánh phá lần thứ hai, thiệt hại nặng, nên phải đập phá và xây lại dinh mới theo đồ án thiết kế của KTS Ngô Viết Thụ.

Nguyễn Thành Trung ném bom Dinh Độc Lập

Lúc 8 giờ 30 sáng ngày 8/4/1975, Trung úy phi công Nguyễn Thành Trung, từ Không đoàn 540 ở Biên Hoà, bay về Sài Gòn ném bom Dinh Độc Lập. Phi cơ F-5E mang 4 trái bom 500 cân Anh và trang bị đại liên 20 ly. Lần đầu ném 2 quả nhưng không trúng đích, quay lại, ném lần thứ hai, 2 quả trúng đích nhưng chỉ có một quả nổ. Thiệt hại không đáng kể.

Nguyễn Thành Trung sau khi ném bom, bay ra đáp xuống phi trường Phước Long đang do quân chính quy Bắc Việt chiếm giữ.

Cửa Dinh Độc Lập bị húc sập

Lúc 11 giờ 30 ngày 30/4-/1975, xe tăng Bắc Việt đã húc sập cánh cửa của dinh, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hoà.

Vì sự tranh giành công trận, cho nên có nhiều tranh cãi xảy ra không dứt sau đó.

Chiếc xe tăng nào vào Dinh Độc Lập trước nhất ? Ai là người treo cờ của Mặt Trận Giải phóng ở DĐL ? Ai tiếp nhận sự đầu hàng của TT Dương Văn Minh ?

Báo chí trong nước ghi nhận chiếc xe tăng số 843 với thủ trưởng Bùi Quang Thận vào sân dinh đầu tiên. Còn theo David Butler, tác giả cuốn The Fall of Saigon viết năm 1984, ghi lại lời tường thuật của Neil Davis, một người Úc biết tiếng Việt,làm việc cho đài truyền hình NBC, đã có mặt tại DĐL trong lúc đó, thì chiếc xe tăng vào DĐL đầu tiên mang số 844. Và với Oliver Todd thì ghi là chiếc xe tăng số 879 do Bùi Đức Mai lái đã ủi sập cánh cửa và vào trong sân trước nhất.

Ai nói ?

Bùi Văn Tùng nói với Ông Dương Văn Minh “Các ông không còn gì để bàn giao. Ông chỉ có thể đầu hàng vô điều kiện…”

Trong cuốn Tears Before the Rain, xuất bản năm 1990, tác giả Larry Engelman đã phỏng vấn Đại tá Bùi Tín, ông Tín nói ông là người gặp TT Dương Văn Minh và nói “Không có vấn đề bàn giao quyền hành. Quyền hành của ông đã sụp đổ. Ông không còn gì trong tay để bàn giao. Ông không thể chuyển giao cái mà ông không có” (Larry Engelman)

Kết

Ngày 30/4/1975, Dinh Độc Lập mất. Nước Việt Nam Cộng Hoà mất, và người dân miền Nam không còn cuộc sống như trước. Đổi tiền, Kinh tế mới, Hồi Hương, Trại cải tạo, đã có cuộc đổi đời thực sự bắt đầu.

(tổng hợp theo tài liệu trên Internet)

Huỳnh Văn Yên post

Xem thêm bài trong blog “Một thời Sài gòn” :

– Hậu trường nhà Ngô (3 bài post ngày 2/12/2010)

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ (1)

BÍ ẨN CHUNG QUANH

2 CÁI CHẾT CỦA DIỆM – NHU

(Sau nhiều thập niên im lặng. Phụ tá ðặc biệt Nguyễn Văn Ngân đã nói gì về những bí ẩn quanh cựu TT Nguyễn Văn Thiệu ?). Bài phỏng vấn do Trần Phong Vũ thực hiện :

TPV: Ông Thiệu nói với ông:…bọn “xịa” (CIA – admin) ngồi trong Hội đồng An-ninh Quốc-gia; ông Thiệu muốn ám chỉ ai ?

NVN: Ông Thiệu đâu cần phải ám chỉ. Trong số nầy, một nhân vật then chốt và thường trực của hội đồng an-ninh quốc-gia là ông Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ, kiêm Tổng trưởng Quốc phòng mà cả nước đều biết là một công cụ trung thành của Mỹ, là nhân vật chủ chốt trong cuộc đảo chánh 1/11/63.

Trước đây, các ông Diệm, Nhu cũng biết ông Khiêm là người của CIA nhưng đã lầm lẫn về con người của ông Khiêm nên đã giao chức vụ Tham mưu trưởng liên quân với mục đích “neutralizer” các âm mưu đảo chánh của người Mỹ, cuối cùng cả hai anh em đều bị thảm sát dưới tay binh quyền của ông Khiêm.

Các ông Diệm, Nhu là những người được giáo dục và lớn lên trong môi trường có tính cách khuôn mẫu, kinh điển, vẫn tưởng rằng những ân sủng của chế độ, những tình cảm xử sự như con cháu trong gia đình, cùng sự biến cải từ một sĩ quan cấp thấp trong quân đội đánh thuê của Pháp thành một tướng lãnh đứng đầu trong quân đội quốc gia có lý tưởng, có nhân cách, nhân phẩm…, sẽ hết lòng bảo vệ chế độ.

TPV: Thế còn những người đứng đầu các cơ quan an ninh, tình báo Việt Nam ? Họ có phải là người của CIA hay không ?

NVN: Họ đều là những cộng sự viên của CIA, hoặc tự nguyện hoặc tự tề. Danh từ “tự tề” là danh từ của ông Thiệu dùng khi nói chuyện với tôi. Các công tác tình báo do người Mỹ trực tiếp chi tiền; người nào chi tiền thì người đó làm chủ và kiểm soát.

Sau nầy ở hải ngoại có một lần tôi hỏi ý kiến của ông Thiệu về cái chết của Tổng Thống Park Chung Hee, ông trả lời : “bọn Mỹ chứ còn ai vào đó, có bao giờ giám đốc tình báo quốc gia là người tin cẩn do Tổng Thống bổ nhiệm lại bắn Tổng Thống !”

Tôi nhắc lại chuyện nầy để cho thấy tinh thần cảnh giác của ông Thiệu và hoàn cảnh bị “trói tay trói chân” của ông Thiệu ngày đó.

TPV: Có bao giờ ông và ông Thiệu nói chuyện với nhau về vụ đảo chánh 1/11/63, cụ thể là những người liên hệ đến quyết định hạ sát Tổng Thống Diệm ? Một nhân chứng có thẩm quyền là trung tướng Trần văn Đôn trong hồi ký tiếng Anh vào năm 1976 chỉ đích danh tướng Dương Văn Minh là người ra lệnh, nhưng trong hồi ký tiếng Việt sau nầy ông hoàn toàn im lặng với một thái độ mơ hồ và quanh co. Theo báo chí ngoại quốc thì có lần ông Thiệu đã minh thị ông Minh là người đã ra lệnh ?

NVN: Trong thời gian làm việc nhiều khi chúng tôi có đề cập đến cuộc đảo chánh 1/11/63 ở những khía cạnh khác nhau và trong những dịp khác nhau.

Tôi nhớ lần đầu tiên vào đầu năm 1965 lúc ông Thiệu là Phó Thủ tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc phòng và tôi là sĩ quan thuộc Phòng Nghiên Cứu/Bộ Quốc phòng, nhận một phiếu trình về bình định lãnh thổ, ông Thiệu nói với tôi : “ông Minh (Dương văn Minh) đã phạm sai lầm lớn sau 1/11/63 là đã phá bỏ ấp chiến lược và giải tán Thanh niên Cộng hòa…”. Trong cảnh “dậu đổ bìm leo” và sự hồ hởi của những người vừa lật đổ chế độ cũ lúc đó, nhận xét và lượng giá khách quan của ông Thiệu đã tạo cho tôi một ấn tượng đặc biệt về ông.

Về cái chết của Tổng Thống Diệm và ông Nhu, trong phạm vi trách nhiệm của người chỉ huy tấn công dinh Gia Long, ông Thiệu nói : “nếu ông cụ và ông Nhu còn trong dinh thì tôi sẽ bảo vệ an ninh bằng cách đưa các ông về Tổng Tham mưu trên một xe jeep lật mui và sẽ không ai dám làm gì hết…”. Tôi biết điều ông nói là thực, ít nữa là với cương vị bấy giờ là một sĩ quan thừa hành cấp đại tá, ông đủ thận trọng và khôn ngoan – ông không thuộc loại người “múc nước ch. uống”. Đây là thành ngữ đôi khi ông dùng trong khi nói chuyện riêng với tôi nhân vài vụ trao đổi chính trị.

Chỉ một lần duy nhất vào dịp tranh cử Tổng Thống 1971 tôi và ông Thiệu đã đề cập một cách cụ thể vấn đề có tánh cách “cấm kỵ“ nầy, vì những nhân vật liên hệ còn nắm giữ những vai tuồng chính trị quan trọng. Lúc bấy giờ ông Dương Văn Minh muốn tranh phiếu của khối Công-giáo đã lên tiếng quy trách cái chết của Tổng Thống Diệm cho ông Thiệu do việc thi hành chậm trễ lệnh bao vây dinh Gia Long, đưa đến sự đào thoát và cái chết sau đó. Ông Thiệu đã trả lời trong cuộc họp báo tại Tổng Tham Mưu : “…việc một trung tướng ‘đổ thừa’ cho một đại tá là một hành động hèn, khiếp nhược, không xứng đáng tư cách một quân nhân và một cấp chỉ huy…”

Trong cuộc thảo luận này chúng tôi đã đề cập và phân tách đến các danh từ : thủ phạm, chính phạm, tòng phạm, người trách nhiệm v.v… Tôi nói với ông Thiệu : trung tướng Dương Văn Minh là chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về cái chết của Tổng Thống Diệm, hơn nữa chính sĩ quan cận vệ của ông Minh đã trực tiếp hạ sát Tổng Thống Diệm và ông Nhu; tuy nhiên, thủ phạm chính và giấu mặt là người chủ chốt thực hiện vụ 1/11/63 tức ông Khiêm – là người đã triệu tập Hội đồng tướng lãnh, điều động lực lượng an ninh của Tổng Tham Mưu và nắm giữ lực lượng chủ lực của cuộc đảo chánh tức sư đoàn 5.

Vào lúc ông Diệm quyết định ra trình diện đã chỉ thị cho sĩ quan tùy viên phải cố liên lạc trực tiếp với ông Khiêm như một bảo đảm cho sinh mạng, và chính ông Khiêm đã nhận điện thoại của đại úy Đỗ Thọ nhưng đã cố tình bất động, mượn tay ông Minh và nhóm tướng lãnh bất mãn để thi hành chỉ thị của người Mỹ.

Ông Thiệu im lặng một lúc, hoàn toàn không phản bác mà chỉ hỏi lại một cách thụ động : anh nghĩ như vậy sao ? Tôi đáp : không phải tôi nghĩ như vậy mà sự thực là như vậy. Nếu Tổng Thống ở vào địa vị ông Khiêm, Tổng Thống sẽ xử sự như thế nào ? Chức vụ Tham mưu trưởng liên quân là chức vụ được Tổng Thống tín nhiệm và trực tiếp bổ nhiệm để cầm đầu quân đội, bảo vệ chế độ, thế mà lại làm tay sai cho ngoại bang, lợi dụng chức vụ lật đổ chế độ – ông Khiêm thừa hiểu đó là một hành động phản quốc nếu ông Diệm sống sót; hơn nữa với những ân sủng của ông Diệm cho ông Khiêm cùng sự xử sự như con cháu trong gia đình thì sự phản trắc cũng đủ để ông Khiêm phải thủ tiêu ông Diệm hầu khỏi thấy mặt.

Ông Thiệu im lặng khá lâu, cuối cùng ông nói : nếu ông cụ nán lại đến trưa không ra mặt thì bọn họ lên máy bay chạy hết, có ai tin ai đâu.

Trong những trường hợp tế nhị, ông Thiệu thường có thái độ lấp lửng hoặc những câu nói nửa vời thay cho sự xác nhận. Và do cuộc thảo luận nói trên nên tại cuộc họp báo ở Tổng Tham Mưu ông Thiệu nói : … “trung tướng Dương văn Minh, nguyên Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng, là người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong cuộc chính biến ngày 1/11/63…”

Việc giết Tổng Thống Diệm là một tội phạm lịch sử. Những người nhúng tay vào máu của ông Diệm không bao giờ dám ngẩng mặt lên nhận trách nhiệm : những người bị lộ diện đã sống một cách lén lút cho đến cuối đời như Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân, những kẻ ném đá giấu tay thì vẫn tiếp tục ẩn mặt và trút trách nhiệm lên đầu những người đã chết. Sau 30/4/1975, ông Dương văn Minh được nhà nước cho xuất ngoại. Có một thời gian ở Pháp ông Minh đã từ chối không tiếp ông Đôn vì lý do trong cuốn Our Endless War xuất bản 1976 ông Đôn minh thị ông Minh như là một chính phạm.

Ông Minh cho rằng đây là một sự quy trách bất công có tính cách gian trá vì ngày đó ông ta thực ra chỉ là một thứ “bung xung” không quân, không tướng được đưa ra làm chủ tịch HĐQNCM một tư thế cưỡi cọp vì những kẻ chủ động không tin sẽ thành công rồi mượn bàn tay ông ta để dứt hậu hoạn.

Đây là lý do trong bản Việt ngữ sau nầy, cuốn Việt Nam Nhân Chứng, ông Đôn đã không đề cập đến tên ông Minh hay bất cứ người Việt Nam nào mà chỉ nhắc đến câu nói của Lou Conein là phải tìm bắt hai ông Diệm, Nhu với chỉ thị “on ne fait pas d’omelette sans casser les oeufs” và chỉ nói một cách tổng quát là người nào đã quyết định việc hạ sát là người thấy xa. “Người thấy xa” mà ông Đôn muốn ám chỉ là người Mỹ. Khi gởi cuốn “Việt Nam Nhân Chứng” cho tôi, ông Đôn nói : “người ta trách móc tôi nhiều quá nên không muốn đụng chạm nữa”.

Ông Khiêm là con người của những âm mưu trong bóng tối, lén lút, không bao giờ dám đối đầu công khai trừ phi có người Mỹ sau lưng và chắc ăn, vì vậy ông đã mất nhiều cơ hội để nắm vai trò lãnh đạo sau đảo chánh 1/11/63, sau chỉnh lý 30/1/64 là những biến cố ông có vai trò chủ động, và vì “mất ăn” nên các cuộc binh biến dưới thời Nguyễn Khánh đều có ông Khiêm đứng sau lưng giật dây.

Để rõ thêm con người của ông Khiêm, đây là câu chuyện ông Thiệu đã kể lại cho tôi lúc gặp tại Londres năm 1983. Tôi hỏi ông Thiệu : Tổng Thống vẫn liên lạc với ông Khiêm ?

– Không.

– Lý do ?

– Anh nghĩ xem tôi và ông ta cùng đi qua Đài Loan một lúc; ở Đài Loan, tôi qua Anh thăm thằng Lộc (con trai ông Thiệu) để giải thích và an ủi nó về vụ 30/4, người lớn còn “xấc bấc, xang bang”, huống gì nó là một đứa nhỏ. Trong khi tôi vắng mặt, ông Khiêm đến chào bác Sáu để đi Mỹ (ông Kiểu, đại sứ tại Đài Loan – anh ông Thiệu). Ông Khiêm nói với bác Sáu : trong hai anh em phải có một người qua bên đó để nói lên tiếng nói của mình… Bác Sáu cười mỉa mai : “… thế thì tôi chúc chú lên đường bình an…”. Trong thời gian tôi ở Đài Loan, ông Khiêm không hề nói với tôi về việc ông làm thủ tục đi Mỹ…”

Cũng cần biết là sau 30/4/75, bà Anna Chennault có qua Đài Loan cho ông Thiệu biết là chánh phủ Mỹ không hoan nghênh việc ông Thiệu vào Mỹ; chín năm sau ông Thiệu mới vào Mỹ và định cư tại Boston.

Đến nay đã hơn 30 năm, ông Khiêm vẫn “thủ khẩu như bình”, như ngày nào ông là một thủ tướng “ngậm miệng ăn tiền”, một thủ tướng lâu nhất trong các thủ tướng kể từ thời Bảo Đại.

Câu chuyện ông Thiệu nói với tôi về ông Khiêm ở trên làm tôi liên tưởng đến một câu nói từ rất lâu của một nhân vật trong nhóm đảo chánh 1/11/63 đã phản ảnh với tôi về cái tình huynh đệ chi binh của họ bằng câu “bạn nhà binh, tình nhà thổ”. Một nhân vật then chốt khác cũng trong vụ 1/11/63 vào những ngày cuối đời cũng đã than với tôi: “… ông Ngân ạ, trên đời này làm gì có tình nghĩa !” Có lần ông Thiệu phàn nàn với tôi về tướng Nguyễn Khánh : “Anh nghĩ xem… ‘thằng’ Khánh tệ đến mức đã đuổi ông Khiêm đi (1964) thế mà khi gặp lại ông Khiêm ở Hoa Thịnh Đốn (đại sứ) còn ngửa tay xin tiền ‘mày có tiền đưa tao một ít’… Tôi nghĩ bụng có gì tệ đâu, họ cùng một phường với nhau … ‘tao không còn cơ hội ăn cắp, mày còn cơ hội thì chia cho tao với’…”

Ngày đó tôi vẫn tự hỏi : tại sao sáng 2/11/63 ông Thiệu lại không dùng binh lực có sẵn trong tay để thanh toán nhóm tướng lãnh phản loạn tại Bộ Tổng Tham Mưu hầu thực hiện một cuộc cách mạng triệt để mà quốc gia đang cấp thiết đòi hỏi cho cuộc đấu tranh sinh tử với Vi Xi. Đám họ chỉ là sản phẩm của thực dân để lại, hèn nhát, bất tài và bất xứng. Ông Thiệu vẫn là người khá hơn hết và ông đã bỏ lỡ mất “cơ hội ngàn năm một thuở” vì sau 1965 khi quân đội Mỹ đã trực chiến thì chúng ta chỉ còn chờ chết !

TPV: Trong thời gian làm việc có bao giờ ông đặt câu hỏi trên với ông Thiệu không ?

NVN: Không. Vì việc đã qua rồi. Tình hình chính trị ngày đó luôn luôn bất ổn. Có những việc chỉ nên làm mà không nên nói, có những cơ hội bị bỏ lỡ cũng không nên nhắc lại khi thời gian và điều kiện không còn nữa, nói ra chẳng những vô ích mà nếu bị tiết lộ còn gây ra những trở ngại, khó khăn cho những dự tính và công việc sắp tới.

TPV: Về vai trò của trung tướng Trần Văn Đôn trong vụ 1/11/63 ?

NVN: Người Mỹ không tin ông Đôn nhưng bắt buộc phải sử dụng ông Đôn trong vụ 1/11/63 vì lúc bấy giờ ông Đôn giữ chức vụ quyền Tổng Tham mưu trưởng thay đại tướng Lê Văn Tỵ đi Mỹ trị ung thư. Ông Đôn đã được người Mỹ sử dụng “công tác món” và sau đó đã bị loại trong vụ chỉnh lý 30/1/64.

Ông Đôn và Lou Conein đã biết nhau từ 1946 tại Hà Nội : Conein là sỹ quan của OSS, cơ quan tiền thân của CIA, trong phái bộ của Archimedes Patti, còn ông Đôn là sĩ quan của phòng nhì Pháp làm việc dưới quyền đại úy Duprat trưởng ban phản gián thuộc Bộ Tham mưu của tướng Leclerc.

Hoàng Nguyễn post (tổng hợp)

DINH ĐỘC LẬP

1/- Tổng quát : Dinh Độc Lập là “chứng nhân” đã chứng kiến những biến cố lịch sử của Việt Nam Cộng Hoà, từ những cuộc đảo chánh, cách mạng của chính trị miền Nam. Còn gọi là Dinh Tổng Thống hay Phủ Đầu Rồng.

Dinh Độc Lập (DĐL) là nơi cư ngụ và làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. DĐL có hai kiến trúc, kiến trúc cũ được xây dựng ngày 23-2-1868, có tên là Dinh Norodom, sau đổi thành Dinh Độc Lập. Kiến trúc mới do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế và thực hiện xây dựng dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Cánh cửa của DĐL bị xe tăng của Bắc Việt húc sập vào buổi sáng ngày 30/4/1975 đánh dấu ngày nước Việt Nam Cộng Hoà lọt vào tay chế độ Bắc Việt. Từ đó, DĐL được đổi tên thành Dinh Thống Nhất.

2/- Vài nét lịch sử của Dinh Độc Lập

– Thời Pháp thuộc : Ngày 23/2/1868, Thống đốc Nam Kỳ Lagrandière làm lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng Dinh Thống Đốc Nam Kỳ. Viên đá lịch sử lấy từ núi Châu Thới Biên Hòa, hình vuông, mỗi góc rộng 50cm, có lổ, bên trong chứa những đồng tiền bằng vàng, bạc, đồng có in hình Napoléon Đệ Tam.

Diện tích công trình rộng 12 mẫu tây. Mặt tiền rộng 80m. Bên trong có phòng khách chứa đến 800 người. Do nước Pháp có chiến tranh, công trình kéo dài đến năm 1873 mới xong. (1868-1873=5 năm)

Dinh được đặt tên là Dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng mang tên Norodom, là tên của dòng họ cai trị vương quốc Campuchia. Dinh Norodom là nơi ở và làm việc của Thống đốc Nam Kỳ, người Pháp. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chánh Pháp, dinh Norodom là nơi làm việc của chính quyền Nhật Bản ở VN.

Thời Việt Nam Cộng Hoà : Ngày 7/9/1954, Dinh Norodom được Đại tướng Paul Ely bàn giao lại cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Năm 1955, Ngô Đình Diệm đổi tên thành Dinh Độc Lập. Từ đó, DĐL là nơi ở và làm việc của Tổng thống Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà.

Phủ Đầu Rồng : Báo chí gọi DĐL là Phủ Đầu Rồng, vì Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lấy quốc huy là hai con rồng trong bức hình lưỡng long tranh châu. Các nhà tướng số, phong thủy lại tán ra rằng, DĐL là cái đầu của con rồng, mà cái đuôi của nó dài ra tới Công trường Chiến sĩ ở ngã tư Duy Tân – Trần Quý Cáp. Họ cho rằng, muốn được yên vị ở cái đầu con rồng là DĐL, thì phải trấn ếm cái đuôi của nó, để cho nó không còn khả năng vùng vẫy quậy phá gây bất ổn.

Sau đó, tượng đài chiến sĩ vô danh của Pháp để lại bị đập phá và xây lại một cái tháp cao, đặt giữa cái hồ nước tròn, có một con rùa bằng đồng nằm dưới chân tháp, cho nên gọi là Hồ con rùa.

Ngày 27/2/1962, hai phi công VNCH là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc lái hai chiếc phi cơ A-1 Skyraider ném bom làm sập bộ phận chính bên trái của dinh. Do không có thể hồi phục lại được, nên Tổng Thống Diệm cho đập phá toàn bộ để xây lại dinh thự mới trên nền đất cũ, theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

Dinh Độc Lập mới : Ngày 1/7/1962, Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng. Thời gian nầy, Tổng thống Ngô Đình Diệm chuyển sang cư ngụ và làm việc ở Dinh Gia Long.

Công trình xây dựng đang tiến hành thì Tổng thống Diệm bị đảo chánh và bị giết vào ngày 2/11/1963. Như vậy, Tổng thống Diệm chưa được vào ở và làm việc ở DĐL do ông cho xây cất.

Ngày 31/10/1966, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, chủ tọa lễ khánh thành DĐL. Tổng thống Thiệu ở và làm việc tại đó từ tháng 10 năm 1967 cho đến ngày 21/4/1975.

Ngày 8/4/1975, Trung úy phi công Nguyễn Thành Trung lái phi cơ F-5E ném bom DĐL, thiệt hại không đáng kể.

Tổng thống Trần Văn Hương cũng vào làm việc tại văn phòng Tổng thống trong dinh, trước khi trao quyền lại cho Tổng thống Dương Văn Minh.

Dinh Độc Lập sau ngày 30/4/1975 : Ngày 30/4/1975, xe tăng của bộ đội chánh quy Bắc Việt húc sập cánh cửa DĐL đánh dấu sự sụp đổ của chế độ Việt Nam Công Hoà.

(Còn nữa)

Huỳnh Văn Yên post

Xem thêm bài trong blog “Một thời Sài gòn” :

– Hậu trường nhà Ngô (3 bài post ngày 2/12/2010)