ĐI TÌM MỘ CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

MỘ CỤ NGUYỄN HIẾN LÊ

NẰM LẶNG LẼ TẠI LẤP VÒ

Tôi chạy hơn 150 km bằng xe Honda đến Ðồng Tháp để tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê. Tôi đi chỉ để thắp một nén nhang trước linh cữu con người đáng kính ấy. Ðọc sách, tôi biết mộ cụ nằm ở Lai Vung. Với một người có nhiều đóng góp cho nền văn hóa như cụ, tôi tin người dân ở đó sẽ chỉ cho tôi mộ cụ dễ dàng như trở bàn tay.

 “Mộ Nguyễn Hiến Lê hả ? Chị không biết. Chị chưa nghe cái tên này bao giờ” – chị D. lắc đầu. Nhìn sâu vào mắt chị, tôi biết chị nói thật. Tôi cứ nghĩ một học giả tài đức vẹn toàn như cụ thì ai từng cắp sách đến trường đều biết. Huống hồ chị – người công tác trong lĩnh vực văn hóa.

Câu nói chân thật của chị D. không khiến tôi suy suyển. Tôi cẩn thận ghi tên cụ vào giấy rồi đưa chị đọc. Cuối cùng, chị trả lại mảnh giấy với nụ cười e lệ : “Chị không biết thật rồi. Ðể chị giới thiệu cho em một người khác nhé !”.

Sau khi nghe nguyện vọng của tôi, người này nhún vai nói chắc nịch : “Anh chưa nghe tên ông ấy bao giờ. Em có lầm với ai không ?”. Tôi cố nở nụ cười méo xệch : “Anh không biết ông ấy thật à ?”. “Thật mà. Ông ấy là ai vậy em ?”. Anh hỏi lại tôi hết sức bình tĩnh như đang chờ được cung cấp thông tin về một con người xa lạ.

Nhìn chiếc máy tính nối mạng của anh, tôi dè dặt hỏi nhờ tra cứu thông tin về cụ. Google sổ ra cả một núi thông tin về cụ, nhưng chi tiết về mộ cụ hiện ở đâu thì không hề thấy. Anh đứng cạnh tôi nheo mắt đọc chăm chú. Cuối cùng anh a lên một tiếng : “Ông này cũng nổi tiếng dữ !”.

Câu nói của anh khiến tôi đau nhói. Ngồi xuống chiếc ghế đá lạnh lẽo chiều mưa, tôi tự hỏi mình còn cách nào để tìm ra mộ cụ. Tôi cảm tưởng mình đang phiêu lưu trong khu rừng rậm rạp để truy tìm kho báu.

Chợt nhớ cô giáo dạy văn cấp ba quê ở Lai Vung, tôi liền bấm số điện thoại của cô, hy vọng tìm được đôi chút thông tin. Nhưng cô giáo tôi không biết. Cô hứa sẽ gọi điện hỏi thăm bà con ở Lai Vung xem thử có ai biết mộ cụ ở đâu không.

Tôi lại không ngần ngại bấm số điện thoại của một nhà văn. Anh là người miền Tây, chắc sẽ có những thông tin hay. Kết quả là anh biết rất rõ về cụ, nhưng cái vụ mồ mả của cụ thì anh bí. Tôi lại lục trí nhớ để để tìm số điện thoại của một nhà báo. Sau khi nghe tôi hỏi, anh cười sặc sụa và mạch lạc trả lời là anh… không biết.

Không bó tay, tôi bèn bấm số 1080 và nghe giọng nhẹ nhàng của một nữ điện thoại viên. Tôi dám chắc là cô đã phải nhịn cười. Mất năm phút tra cứu thông tin, cô nói tổng đài chưa cập nhật thông tin này và mong khách hàng thông cảm.

Tôi thông cảm. Cụ Nguyễn Hiến Lê mất đến nay đã tròn 25 năm, không ai nghĩ đến chuyện nghiên cứu về cụ, một vị học giả dành cả đời đóng góp vào tàng thư dân tộc những tác phẩm giá trị nhất.

Mở đầu cuốn Ðông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Hiến Lê viết : “Mà có bao giờ người ta nghĩ đến việc thu thập tài liệu trong dân gian không ? Chẳng hạn khi một danh nhân trong nước qua đời, phái một người tìm thân nhân hoặc bạn bè của người đã mất, để gom góp hoặc ghi chép những bút tích về vị ấy, rồi đem về giữ trong các thư khố làm tài liệu cho đời sau. Công việc có khó khăn tốn kém gì đâu, mà lại có lợi cho văn hóa biết bao”. Thật không ngờ, điều cụ luôn canh cánh trong lòng, đến khi mất lại vận vào chính đời cụ.

Vỡ òa niềm vui

Tôi đứng ở Lai Vung và biết mộ cụ cũng chỉ nằm đâu đó quanh đây. Chợt nhớ đến người thầy đã dạy cho tôi biết về Nguyễn Hiến Lê, lòng tôi vỡ òa như đứa trẻ. Tôi cuống quýt gọi điện cho thầy. Thầy cười rồi gửi tin nhắn. Tin nhắn không dấu. Một người dân đoán nơi tôi cần đến là chùa Phước Ân, gần ngã tư Cai Bường, Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Vò.

Người địa phương nhìn tôi dặn dò : “Từ Lai Vung, con đi thêm khoảng 10 km nữa dọc theo quốc lộ 80 là sẽ tới ngã tư Cai Bường. Tới đó con hỏi chùa Phước Ân ai cũng biết hết”.

Mưa bắt đầu nặng hạt quất vào mặt, vào mũi, vào áo mưa ràn rạt nhưng tôi không cảm thấy rét buốt. Có điều gì đó cựa quậy trong lòng, vừa đê mê vừa phấn khởi. Con đường trắng xóa trong màn mưa như những bông tuyết bay lững lờ trong không trung. Giọt mưa nào ngọt ngào rớt lên môi mắt tôi. Giọt mưa nào tắm mát tâm hồn tôi. Tôi phóng xe trên con đường thênh thang, lòng rộn ràng như đã đặt được bước chân vào chốn cần tìm.

Nơi an nghỉ của người nổi tiếng

Vĩnh Thạnh nghèo nàn và ướt át. Tôi phải hỏi tới người thứ tư mới biết chính xác đường vào chùa Phước Ân. Từ ngã tư Cai Bường rẽ tay trái vào hơn 1 km đường đất nữa mới tới. Con đường len lỏi qua những vườn cây ăn trái xanh mướt và một cây cầu gỗ bắc ngang con kênh. Nhà dân nằm im lìm dưới tán lá như trái chín giấu mình sau vòm lá. Không khí thuần khiết hòa vào hương xoài dịu êm khiến tôi ngẩn ngơ. Gia quyến cụ Nguyễn Hiến Lê phải cực kỳ tinh tế và hiểu ý cụ mới đem cụ về an nghỉ chốn bình yên này.

Chùa Phước Ân hiện ra trước mắt tôi vừa trang nghiêm vừa thân thiện. Ngôi chùa đơn sơ ẩn hiện sau lớp lá bồ đề lóng lánh nước mưa. Không một bóng người. Không gian im ắng. Tôi dắt xe chầm chậm qua sân chùa. Một bà cụ mặc áo nâu sòng, mái tóc hoa râm xuất hiện. Biết tôi muốn tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê, bà chậm rãi trả lời. “Trong chùa này chỉ có thầy trụ trì với bà biết ông ấy thôi”.

Bà dẫn tôi vào chánh điện. Sau lớp kính mờ ảo của khung ảnh, nụ cười cụ Nguyễn Hiến Lê vẫn tươi rói và đôi mắt dường như vẫn dõi theo trần gian, đôi mắt như thăm thẳm một niềm an lạc. Di ảnh cụ được treo bên cạnh người vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị Liệp. Sau khi cụ mất, bà xuất gia đi tu và mong muốn được an nghỉ tại chùa Phước Ân cùng chồng.

Mộ cụ Nguyễn Hiến Lê nằm lọt thỏm trong khoảng 20 ngôi mộ khác. Ngôi mộ của một con người lỗi lạc nhỏ nhắn và giản dị đến nỗi bát nhang không một nén. Nhưng tôi biết, cụ rất ấm cúng khi nằm chung với toàn thể gia quyến trong một khu mộ.

Không hoành tráng lộng lẫy. Không bia đá trường cửu. Không khoa trương diễm lệ. Cụ nằm đó bên ngôi chùa trầm mặc nghe kinh kệ là một diễm phúc hiếm ai nghĩ tới. Có lẽ đây là lối đi mãn nguyện nhất đối với một tâm hồn vốn giản dị và thanh sạch.

Trong gian phòng ấm cúng bên ly trà nóng, bà cụ hỏi tôi có thân thích gì với cụ Lê không mà lại đi thăm mộ lúc trời mưa gió. Tôi thưa thật, tôi chỉ là người đọc sách của cụ. Tôi tìm mộ cụ chỉ để thắp một nén nhang trước hương hồn cụ để tỏ lòng cảm phục.

Bà chưa đọc sách cụ nên hỏi tôi rằng cụ viết sách hay lắm sao mà mất lâu thế vẫn có người nhắc đến. Bà nói nhỏ : “Con đã tìm được đến đây thì làm cách nào đó cho mọi người cùng biết nhé”.

Tôi cắm vào lư hương trên mộ cụ một nén nhang thành kính. Hương trầm tỏa bay làm cay cay khóe mắt.

(Trung Thu báo Pháp Luật)

Ðôi nét về cụ Nguyễn Hiến Lê

Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) quê ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội. Ông được biết đến như một nhà văn, học giả, dịch giả, nhà giáo dục.

Xuất thân từ một gia đình nhà Nho, ông học tại Hà Nội. Năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội, sau đó làm việc tại Nam Bộ. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952, ông chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.

Nguyễn Hiến Lê đã dành trọn phần đời còn lại của mình để miệt mài viết sách. Ông có khoảng 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn, dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế…

Ông làm việc đều đặn 13 tiếng đồng hồ mỗi ngày, gồm sáu tiếng đọc tài liệu và hơn sáu tiếng để viết. Nhờ áp dụng nghiêm ngặt thời gian biểu này, ông đã hoàn thành một khối lượng tác phẩm đồ sộ. Nhiều tác phẩm của ông trở thành cuốn sách gối đầu giường của thanh niên trẻ.

(TH.C sưu tầm theo Wikipedia)

Nguyễn Văn Danh post

NHẠC SĨ ĐỖ LỄ

(1941-1997)

Trường hợp mất đi của nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng khá thương tâm. Ông đã cống hiến hầu hết cuộc đời tài hoa của mình cho âm nhạc, cho tình yêu và đã để lại cho đời những bài hát thật tuyệt vời về những cuộc tình trái ngang, phụ phàng, cay đắng. Nhưng cuối cùng ông lại tự kết liễu đời mình bằng một liều thuốc độc trong một căn phòng khách sạn khi từ Mỹ trở về thăm quê hương (tháng 3 năm 1997)

Tên thật của ông là Đỗ Hữu Lễ, sinh ngày 12/10/1941 tại Hà Nội. Học tiểu học trường Hàng Vôi, trung học Chu Văn An (1952), Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn (1953), Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định (1954), Đại Học Khoa Học Sài Gòn (1959), Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1963).

Tự học nhạc năm 1951 và bắt đầu sáng tác từ năm 1956 khi vừa tròn 15 tuổi. Tuyệt vọng vì yêu một ca sĩ (Lệ Thanh) nhưng không được đáp lại và khi nàng lên xe hoa thì ông sáng tác bài Sang Ngang rất nổi tiếng sau này và đã làm cho biết bao nữ sinh rơi nưóc mắt.

“Thôi nín đi em / Lệ đẫm vai rồi / Buồn thương nhớ ai…

Mai bước sang ngang / Lòng thêm nát tan / Tình đã dở dang…

Thôi khóc làm gì / Đã lỡ duyên thề / Thương nhau làm chi…

Nỗi buồn ai hay / Khi mình chia tay / Xa cách nhau rồi …”

Lúc đó có nữ ca sĩ (Y. X ) đã trình bày lần đầu tiên bài hát này ở các phòng trà và sau đó đã trở thành bà Đỗ Lễ. Tuy nhiên cuộc tình của họ chỉ kéo dài được 6 năm và tan vỡ sau khi họ có với nhau ba mặt con (Sau này người vợ của nhạc sĩ đã ôm cầm sang thuyền khác và đã định cư ở Mỹ).

Trước đó nhạc sĩ Đỗ Lễ có phụ trách một chương trình ca nhạc trên đài Truyền Hình ở Sài Gòn hàng tuần mang tên là “Thời Trang Nhạc Tuyển”. Chương trình này quy tụ các ca sĩ như Hoàng Oanh, Khánh Ly, Thanh Lan, Phương Hồng Hạnh, Ngọc Minh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan, Caroll Kim, Hoài Xuân, Xuân Đào, tam ca Sao Băng, 3 Con Mèo, 3 Trái Táo… Đặc biệt là chính Đỗ Lễ lại là người hoạ sĩ vẽ trang trí cho sân khấu những show truyền hình của ông, nên ông được nhiều người gọi là họa sĩ “Sang Ngang” như tên một bài hát của ông.

Sau khi chia tay với người vợ đầu, thời gian cô đơn này nhạc sĩ Đỗ Lễ quá đau thương, nên ông đã sáng tác nhiều bản nhạc nghe rất não lòng như Tình Phụ. Chính bản nhạc này đã được hãng phim của Thẩm Thúy Hằng chọn làm nhạc chủ đề cho phim “Nàng” với tiếng hát của Carol Kim. Trong chương trình Asia 55, bài hát này đã được Nguyên Khang và Y Phương trình bày rất điêu luyện qua từng lời ca than oán và nét mặt ưu sầu của họ đã đã diễn tả rất chính xác tâm trạng đau buồn của nhạc sĩ và hàng triệu người khác có cùng chung một tâm sự suốt mấy chục năm qua.

Sau năm 1975, nhạc sĩ Đỗ Lễ sinh sống bằng cách mở lớp dạy nhạc tại Sài Gòn. Đến năm 1994 nhạc sĩ Đỗ Lễ được thân nhân bão lãnh qua Mỹ định cư tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania. Nhưng đời sống nơi xứ lạ này không làm ông yên tâm hay thoải mái như bao nhiêu người khác, mà ông lại một mình quay về chốn cũ, với nhiều kỷ niệm xưa để tự kết liễu đời mình ở đó trong cô đơn, thất vọng não nề như những lời tiên tri trong các bài hát của ông ?

Mời nghe các nhạc phẩm của Đỗ Lễ : Sang ngang, Tuyệt tình, Tình phụ. Xin bấm vào đường dẫn dưới đây :

http://youtu.be/xMeIvdzFxdk

http://youtu.be/A9nXLicOy0g

http://youtu.be/F5V5mH4I2-4

NHẠC SĨ THĂNG LONG

(1937- 2008)

http://youtu.be/B4kkKHciMLA

Nếu không có những người phóng viên của Trung Tâm Asia và đài truyền hình SBTN về tận Việt Nam tìm kiếm và quay phim, phỏng vấn nhạc sĩ Thăng Long thì ít ai còn biết đến tung tích của ông. Mới biết ông qua đời vào ngày 30/3/2008.

Tuy là một nhạc sĩ nổi tiếng cùng thời và cùng lứa tuổi với những nhạc sĩ khác như Duy Khánh, Lam Phương, Thanh Sơn, Trúc Phương… nhưng hầu như sau này ít ai còn nhớ đến tên của nhạc sĩ Thăng Long. Có lẽ vì đời sống của ông khá bình dị và ông thích kiếp sống giang hồ như những bài hát của ông sáng tác cách đây hơn 40 năm như Kiếp Giang Hồ, Giã Từ Gác Trọ, Trở Về Gác Trọ …

Cuộc đời của ông thật quá phong trần. Vì ngay sau khi chào đời vào năm 1936 ở tỉnh Hải Dương, miền Bắc thì ông đã mồ côi mẹ . Năm 15 tuổi thì chàng thanh niên tên Nguyễn Văn Thành lại mồ côi cha. Một mình lưu lạc vào Nam, ông phải lang thang kiếm sống bằng cây đàn với một nhạc sĩ mù hát dạo khắp đô thành. Vậy mà năm 1963 ông đã thành trưởng ban của một ban nhạc mang tên Hồ Gươm, chuyên trình diễn trên đài phát thanh Tiếng Nói Quân Đội ở Sài Gòn với nhiều ca sĩ tên tuổi đương thời. …

Nhìn tấm hình chụp của nhạc sĩ Thăng Long vào năm 1965 qua dáng dấp trẻ trung, nhưng đượm nét phong trần với túi hành lý quảy một bên vai và bên vai kia là cây đàn guitar rất nghệ sĩ. Nhưng không ngờ, cho đến bây giờ trong đoạn phim video clip, ông vẫn còn giữ lại cây đàn yêu quý như một tài sản độc nhất theo ông suốt hơn 40 năm nay. Không được may mắn như những nhạc sĩ khác cùng thời với ông (như Thanh Sơn, Nguyễn Ánh 9) có được một việc làm nơi chốn đô thành, nhạc sĩ Thăng Long phải về ẩn cư nơi vùng quê nghèo nàn của miền Tây là một làng nhỏ (Phú Lộc) của tỉnh Sóc Trăng.

Thấy ông phải vất vả với số tuổi 70 để dạy từng bài học âm nhạc cho những thanh niên trong xóm, mà cảm xúc dâng trào, thương nhạc sĩ lão thành này quá đổi. Tuy vậy, khi được hỏi về bài hát “Quen Nhau Trên Đường Về” thì cặp mắt của nhạc sĩ Thăng Long sáng hẳn lên. Ông say mê nói về những cảm xúc của hơn 40 năm trước nơi bùng binh chợ Sài Gòn, với những âm thanh và hình ảnh của thời quá khứ xa xăm đã tạo nên nguồn cảm hứng để cho ông viết ra bài hát rất nổi tiếng này .

Thật ngạc nhiên khi thấy tài năng độc đáo và cảm xúc đầy nghệ sĩ tính của người nhạc sĩ này, vì khi ngồi nghỉ chân nơi công viên, ông chỉ thoáng nghe một điệu kèn đám ma ò e như “ tàng tang tang táng tạng táng tang tàng tang …” mà cái làn hơi (air) đó, cộng với cảnh hẹn hò tâm sự bên nhau của đôi trai gái xa lạ, đã khiến ông tạo nên giai điệu mượt mà quyến rũ, giàu tình cảm quê hương với những lời ca như:

“Chiều này có phải anh ra miền Trung .. / Về thăm quê mẹ cho em về cùng

Rồi ta sẽ đi chung chuyến tàu / Về đến sông Hương núi Ngự / Để nhìn trăng soi cuối thôn …”

Ngoài ra khi thấy chàng quân nhân trẻ tuổi đang bịn rịn giã từ cô gái để đi về hướng nhà ga xe lửa chạy ra Trung phần, ông đã gởi gấm những lý tưởng và chí hướng thật cao đẹp cho chàng thanh niên trẻ ra đi phục vụ quê hương, giữ yên bờ cõi (đặt nợ nước trước tình nhà), với những lời ca như:

Thương anh không phải vì “tình yêu” ..

không phải vì “sang giàu”

Mà vì “cùng chung chí hướng” …

Thương anh, thân dãi dầu nắng mưa

Băng rừng sâu núi đồi, mang về khúc hát “khải hoàn” …”

Ôi những lời hát ngày xưa, sao nghe thật đậm đà và có quá nhiều ý nghĩa chân thành, tha thiết với giai điệu nhẹ nhàng êm ái mà cũng rất trữ tình, lãng mạn. Tất cả như quyện vào nhau giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu mến quê hương đất nước.

Không biết nơi quê nhà nhạc sĩ Thăng Long có dịp xem được chương trình Asia 55 trong DVD hay không ? Nhưng ở khắp mọi nơi, có lẽ đã có nhiều khán thính giả rưng rưng nước mắt cảm động khi lần đầu tiên được thấy và nghe tâm sự của ông và nhất là được thưởng thức giọng hát “vang tiếng một thời” của danh ca Minh Hiếu.

Đây là một tiết mục rất đặc sắc của chương trình Asia 55, được nhiều người chú ý và khen ngợi. Nhứt là việc kết hợp bài hát đã một thời gắn liền với người “Hạ Sĩ Nhất Danh Dự” trong quân lực VNCH ngày nào với dàn nhạc đặc sắc của Trung Tâm Asia bên cạnh chiếc xe xích lô quen thuộc của đô thành Sài Gòn xa xưa.

Giờ đây nơi quê nhà hẻo lánh, sống chuỗi ngày còn lại bên cây đàn mang theo bên mình suốt hơn 40 năm qua, không biết người “nhạc sĩ giang hồ” Thăng Long có biết được những bài hát của mình vẫn được trân trọng đón nhận và ghi khắc trong tâm tư của nhiều thế hệ người Việt lưu vong khắp nơi.

Mời nghe các nhạc phẩm của Thăng Long : Nỗi buồn gác trọ (Phương Dung) – Quen nhau trên đường về (Minh Hiếu) xin bấm vào đường dẫn dưới đây :

http://youtu.be/xDt_hBJerP0

http://youtu.be/-PuPKCqmDn0

Quế Phượng (tổng hợp)

Nhà thơ HÀ THƯỢNG NHÂN

NHÀ THƠ

HÀ THƯỢNG NHÂN

TỪ TRẦN

Chúng tôi xin báo tin buồn đến toàn thể quý vị, là Nhà Thơ Hà Thượng Nhân Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn của Văn Thơ Lạc Việt và Thi Văn Đoàn Bốn Phương đã từ trần lúc 7 giờ 45 phút tối ngày Thứ Ba 11/10/2011 nhằm ngày Rằm tháng 9 năm Tân Mão tại San Jose.

Trong giờ phút lâm chung bên cạnh gia đình con cháu, các nhà thơ Trường Giang, Mạc Phương Đình và Ngọc Bích hiện diện cầm tay tiễn biệt tại bệnh viện Regional Medical Center San Jose.

Sáng sớm vì nhà thơ bất tỉnh nên phải gọi 911 đưa vào nhà thương cấp cứu. Buổi chiều mạch và hơi thở đều hơn nên bệnh viện đưa ra phòng bệnh nhân thường và cho thăm viếng. Chiều có Cha Cường đến làm lễ và cho chịu phép thánh thể, xức dầu thánh.

Cáo phó và chương trình tang lễ sẽ được gia đình thông báo sau. Khi nhận được, chúng tôi sẽ chuyển đến quý vị để tùy nghi.

Trên trang Web của Văn Thơ Lạc Việt sẽ mở trang đặc biệt về Hà Thượng Nhân để gom tất cả bài vở, điện văn chia buồn của Thi Văn Hữu khắp nơi, sau đó sẽ được chuyển đến tang gia để tường hoặc đọc lên trong tang lễ. Xin quý vị gửi về E-Mail sau : cosovantholacviet@yahoo.com RE : Tưởng Nhớ TS Hà Thượng Nhân. Xin viết ngắn gọn và dễ đọc, hoặc quý vị chuyển thẳng vể trang web VTLV http://www.vantholacviet.org/
Trong giờ phút bối rối này, chúng tôi chỉ thông báo sơ khởi đến quý vị. Sau này có gì thêm chúng tôi xin bổ túc. Trân trọng kính chào và chúc quý vị Vạn Sự Bình An

Cơ sở VTLV/Đông Anh

Về nhà thơ Hà Thượng Nhân

Nhà thơ Hà Thượng Nhân (1920- 11/10/2011) là bút hiệu của nhà thơ Phạm Xuân Ninh, nguyên danh Hoàng Sĩ Trinh. Ông quê ở Hà Thượng, huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa.

Khi còn trong quân đội Ông từng dạy học ở trường Dũng Lạc Hà Nội và trường Thiếu Sinh Quân Liên khu IV, rồi theo Kháng chiến nhưng đến năm 1952 thì ông về thành rồi di cư vài Nam. Ông gia nhập Quân đội VNCH lúc đó thăng đến cấp trung tá.

Đóng góp văn học

Nhà thơ Hà Thượng Nhân làm giám đốc Đài Phát thanh Quốc gia, chủ bút rồi chủ nhiệm nhật báo Tiền tuyến lúc đầu do Cục Tâm lý chiến đảm nhiệm, sau tập thể của Quân đội. Với nhật báo Tự do ông thường góp bài dưới bút hiệu Tiểu Nhã và phụ trách mục thơ châm biếm “Đàn ngang cung”. Bút hiệu khác của ông là Nam Phương Sóc trên báo Ngôn luận. Ông là thành viên của Trung tâm Văn Bút VN.

Về tài văn thơ, ông có biệt tài làm thơ trào phúng nhưng khi còn trẻ tuổi ông cũng sính thơ Đường. Khi vào Huế trong một cuộc chơi thơ, ông có ứng khẩu một bài thơ vịnh “Trăng Thu” được chấm là hay nhất và khen :

“Trăm mặt thẹn thua chàng tuổi trẻ

“Một bài cũng đủ gọi Thi-ông.”

Nhà thơ Hà Thượng Nhân từng được Phủ Quốc vụ khanh Văn hóa của VNCH đề cử làm giám khảo Giải Văn Học Nghệ Thuật về bộ môn Thơ.

Sau năm 1975 ông đi học cải tạo cho đến năm 1983 mới được về và sang định cư ở Hoa Kỳ vào năm 1990 dưới diện HO. Ông vừa mất vào ngày 11/10/2011 tại San Jose California, thọ 91 tuổi.

Tác phẩm : Bên Trời Lận Đận – Thơ Hà Thượng Nhân

thụyvi (chuyển tiếp)

HÀ THƯỢNG NHÂN

Nhà Thơ Không Có Tác Phẩm

Có một chàng thi sĩ miền quê…

(Phạm Duy)

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. (HTN)

Quả thực bác này đúng là chàng thi sĩ miền quê. Nếu gần 20 năm trước, khi bác mới được HO qua Mỹ, làng văn thơ hải ngoại mời bác làm chủ tịch Văn bút Việt Nam Tự do thì chắc hẳn ai cũng cho là rất xứng đáng. Ấy vậy mà, bác lại không đủ điều kiện để nộp đơn xin vào làm hội viên bình thường của văn bút Việt Nam hải ngoại. Bởi vì dù là tác giả của hàng ngàn bài thơ nhưng chưa bao giờ ông có được một tác phẩm thi ca.

Chàng thi sĩ ở San Jose của chúng tôi là người Thanh Hóa, quê làng Hà Thượng, sinh năm 1919. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt (39- 45) ông bắt đầu làm báo và theo kháng chiến suốt 7 năm. Ðó là thời kỳ bài ca Tuổi Xanh của Phạm Duy gọi lên hồn nước làm rung động toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam.

“Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra…

Thời kỳ đó có lần làng Bình Hải, huyện Yên Mô tổ chức đón các đại biểu liên khu về hội họp. Những cậu bé trong đoàn thiếu niên Kim Ðồng của Hà Nam Ninh chúng tôi hết lòng sùng kính các anh từ liên khu Thanh Nghệ Tĩnh về nói chuyện. Gia đình tôi từ Nam Ðịnh tản cư về Yên Mô, Ninh Bình. Từ miền Hoa Lư, đường vào xứ Nghệ phải qua Thanh Hóa với cây cầu Hàm Rồng đầy huyền thoại.

Các anh từ khu Tư nổi tiếng về nói chuyện tại đình làng Bình Hải. Năm đó, tuổi 15 tôi đứng dựa cột đình. Dường như chàng thi sĩ làng Hà Thượng cũng có mặt trong vai trò cán bộ văn hóa quan trọng của kháng chiến. Phần văn nghệ có cả cô bé Thái Thanh tham dự hát bài chữ I chữ Tờ.

Hơn 60 năm sau, bây giờ 2010, tại San Jose tôi xin gửi đến các bạn bài viết về Trung Tá Phạm Xuân Ninh, tức là nhà thơ Hà Thượng Nhân, người Thanh Hóa.

Một đời văn nghệ

Có thể nói suốt đời bác Ninh là một đời văn nghệ. Ði lính từ đại úy đến trung tá nhưng ông không hề liên quan gì đến quân trường và súng đạn. Làm chủ nhiệm báo Tiền Tuyến nhưng chàng luôn luôn ở hậu phương. Cuộc đời của ông tất cả là bằng hữu và thơ phú.

Năm 1935, cậu Ninh 16 tuổi đã có dịp dự cuộc thi thơ với các bậc tiền bối và đoạt giải với bài Trăng Thu.

“Sương mỏng manh, canh vắng lặng tờ

Buồn xưa náo động mấy vần thơ…….

Quả thực bài thơ trúng giải của cậu thư sinh đã làm náo động cả hội thơ Vỹ Dạ thủa xưa. Trải qua 7 năm theo kháng chiến, năm 1952 ông về thành và 1954 ông di cư vào Nam.

Do nhu cầu của tâm lý chiến miền Nam và do thân hữu đề cử, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ký lệnh cho me xừ Phạm Xuân Ninh đặc cách mang cấp đại úy trừ bị. Ðây là cấp bậc theo quy chế đồng hóa thuộc bộ quốc phòng. Sau đó ông được đề nghị thăng cấp thiếu tá và trung tá. Suốt 21 năm ông làm việc tại tổng cục chiến tranh chính trị. Sau 75 ông đi tù tập trung cải tạo từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Sau cùng HO qua định cư tại San Jose.

Anh em văn nghệ cao niên chúng tôi tại San Jose thường ghi nhận rằng cuộc đời từ hoa niên, binh nghiệp, tù đầy, tỵ nạn và định cư trải qua các giai đoạn chính như sau. Lẽ dĩ nhiên cũng có người đi theo thứ tự, có người đặc cách khác anh em. Sau đây là các dấu mốc :

1) Sinh quán, sinh nhật 2) Trường học và quân trường 3) Trại binh, trại gia binh, trại tù, trại tỵ nạn 4) Nhà tạm trú, nhà housing, nhà trả góp, nhà mobil, và nhà dưỡng lão.

Anh bạn cùng khóa Cương quyết II Thủ Ðức của tôi là trung tá lực lượng đặc biệt Ðỗ Hữu Nhơn đã có lần còn nhắc đến chuyện nhà quàn từ Down Hill cho đến Oak Hill. Riêng phần các bác, xin cứ ghi nhận và xem lại để thấy rằng mình đang ở giai đoạn nào và đã đặc cách vượt cấp ra sao.

Sau đây là bài thơ cuộc đời bằng Anh Ngữ.

DOP, POB / School, Military School / Military Camp, Concentrate Camp, Refugee Camp / Half way House, Housing, Single House, Mobil Home, Nursing Home.

Và cuộc đời bác Ninh của chúng tôi hiện ở giai đoạn hết sức hoàng hôn. Ông đang được điều trị tại khu dưỡng lão Wilow Glen, San Jose. Chàng vốn không có tên trong các hội ái hữu quân trường dù là Ðồng Ðế, Thủ Ðức hay Ðà Lạt. Cũng chẳng phải là thành viên của các quân binh chủng bay bướm oai hùng. Ở đây hội ái hữu đồng hương chẳng thiếu địa danh nào nhưng lại chẳng hề có hội đồng hương Thanh Hóa. Nhưng bằng hữu thơ văn thì ai mà chẳng biết Hà Thượng Nhân. Ðặc biệt ông bạn tù là nhà thơ Nguyễn Ðình Tạo, quê làng Ðông Anh sớm tối vào thăm bác Ninh. Bác Ðông Anh hiện nay là người điều hợp thi đàn Lạc Việt, có bạn Chinh Nguyên làm tổng thư ký. Hội ta vẫn thường trực chuyên chở bác hội viên cố vấn Hà Thượng Nhân. Vì vậy chàng thi sĩ của chúng ta đã từng viết câu thơ mãi mãi tràn đầy tình nghĩa…

“Ta từ có bạn đến giờ, lời thơ lại bỗng bất ngờ thành vui…..”

Những bài thơ…

Nếu đem in những bài thơ của thi sĩ người làng Hà Thượng thì xoàng ra cũng có được năm bẩy tác phẩm. Thực ra với nhiều bút hiệu khác nhau, bác Phạm Xuân Ninh đã từng soạn nhiều tài liệu nghiên cứu do Nha chiến tranh Tâm lý xuất bản.

Tuy nhiên, đây chỉ là sáng tác thuộc về lãnh vực nghiên cứu của một công chức quốc gia. Còn những vần thơ gan ruột của thi nhân, những bài thơ về tình yêu của nhà thơ thì chưa bao giờ in thành sách.

Ông đã từng viết :

“Ta có một tình yêu, bao la như trời đất.

Ta viết vào trang Thơ, Tình yêu ta không mất.”

Và mục đích của cuộc đời được ghi lại.

“Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng.

Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu dao.”

Trong số hàng ngàn bài thơ của thi nhân tôi thích nhất những bài thơ ông làm trong thời gian ở tù. Trong hằng trăm bài thơ tù, tôi ghi nhận có 3 bài hết sức rung động. Xin giới thiệu bài Thắp Sáng. Xin các bác lưu ý. Mỗi câu thơ đều là một lời kinh đấu tranh. Mỗi câu thơ đều có thể đặt tựa cho cả bài thơ. Bài thơ ngũ ngôn, một sở trường của tác giả như sau :

Thắp sáng muôn vì sao

Nếu như không đau khổ.

Làm sao biết căm hờn.

Càng muôn trùng sóng gió.

Tay chèo càng vững hơn.

Chúng ta cùng có nhau.

Nhìn nhau vui hớn hở.

Trên luống cày khổ đau.

Hoa Tự do vẫn nở

Những mái đầu cất cao.

Không một lời than thở.

Tác giả chỉ giải thích lòng căm hờn bắt nguồn từ thân tù đầy oan trái, tuy nhiên, như lời thơ đã viết, tác giả không nuôi dưỡng căm hờn. Chỉ là :

“Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

Nhưng có 2 bài thơ trong tù tràn ngập yêu thương xin gửi đến các bác đọc lại thật rõ từng lời để cùng rung động với tác giả.

Năm 1975 mới vào tù, ông làm bài Mưa Buồn trong trại Long Giao trong lòng đất quê hương miền Nam. Năm 1978 sau khi bị đưa ra đất Bắc ông làm bài Cỏ Biếc, vào lúc tác giả chuyển trại từ Thác Bà, Yên Bái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Ðây là lời thơ của bài Mưa Buồn Long Giao. Xin hãy nhớ cho, tác giả làm bài thơ này vào thời gian sau tháng 4/75. Người tù già ngồi nghe mưa miền Nam tại Long Giao.

Ngũ ngôn tứ tuyệt đoạn cuối, tác giả dùng chữ nẻo cụt chỉ bước đường cùng, tưởng là giấc mơ, tưởng chỉ là cơn ác mộng, hút điếu thuốc lào, hỏi lòng mình đã say chưa.

Mưa Buồn Long Giao

Trời có điều chi buồn ?

Mà trời mưa mãi thế !

Cây cỏ có chi buồn ?

Mà cỏ cây ứa lệ !

Anh nhớ em từng phút,

Anh thương con từng giây.

Chim nào không có cánh,

Cánh nào không thèm bay.

Người nào không có lòng,

Lòng nào không ngất ngây.

Gửi làm sao nỗi nhớ, 

Trao làm sao niềm thương.

Nhớ thương như trời đất,

Trời đất vốn vô thường.

Ngày xưa chim Hồng hộc,

Vượt chín tầng mây cao,

Ngày xưa khắp năm Châu,

Bước chân coi nhỏ hẹp,

Bây giờ giữa Long Giao,

Ngồi nghe mưa sùi sụt,

Cuộc đời như chiêm bao.

Có hay không nẻo cụt,

Anh châm điếu thuốc lào,

Mình say, mình say sao !!

Trại tù cải tạo Long giao 1975 (HTN)

Và sau cùng là bài Cỏ Biếc làm trong trại tù nơi quê hương của tác giả, miền khu 4, Thanh Nghệ Tĩnh ngày xưa :

Xin làm cỏ biếc

Anh cầm tay em,

Bàn tay khô héo.

Anh nhìn mắt em,

Gió lùa lạnh lẽo.

Anh nhìn lòng mình,

Mùa Đông mông mênh.

Cỏ non mùa Xuân,

Còn vương dấu chân.

Trăng non mùa Hạ,

Ướt đôi vai trần.

Có xa không nhỉ ?

Ngày xưa thật gần.

Thời gian ! Thời gian!

Em vẫn là em…

Nụ cười rạng rỡ,

Ngày nào vừa quen,

Mai đưa em về,

Xin làm cỏ biếc,

Vương chân em đi.

Xin làm giọt mưa,

Mưa giầm rưng rức.

Trên vai người yêu,

Sàigòn Sài Gòn,

Không là quê hương,

Mà sao mình nhớ,

Mà sao mình thương

Ngày từ trại Thác Bà, Yên Bái

về trại 6 Thanh Chương NGHỆ TĨNH 1978

Ngày nay, tại hải ngoại có biết bao nhiêu Little Saigon. Có bao nhiêu người đã tranh đấu cho tên gọi thành phố Hà Thượng Nhân – Nhà Thơ Không Có Tác Phẩm Saigon. Nhưng có ai yêu Saigon hơn được người thi sĩ Thanh Hóa.

Saigon Saigon, / không là quê hương.

Mà sao mình nhớ, / mà sao mình thương.

Gửi ông bạn già,

Bác Hà Thượng Nhân, tôi chưa biết ông 60 năm về trước. Hồi 70 Saigon tôi cũng không quen bác. Bác HO về San Jose, mới biết bác qua bạn Ðông Anh. Năm xưa, chúng tôi mời bác lên sân khấu nhận giải sự nghiệp một đời của tiểu bang California. Bác chiều lòng anh em mà lên nhận bản tuyên dương, tôi biết bác đâu có quan tâm gì những vinh quang phù phiếm đó. Tấm lòng bác đôn hậu, tinh thần bác an nhiên.

“Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,

Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.”

Năm nay bác đã ngoài 90. Tuy không còn hút thuốc lào nhưng đang trải qua giai đoạn khi tỉnh khi mê. Lúc quên lúc nhớ. Khi tỉnh bác làm thơ hay. Khi say thơ vẫn còn hồn. Lúc trẻ lời thơ đã uyên bác. Khi về già thơ vẫn còn tình tứ.

Bác phê bình Giao Chỉ viết văn như bổ củi. Hết bó này đến bó khác. Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm. Hôm nay gặp bó củi cao niên, tôi xin tiếp tục làm công tác bổ củi. Chẻ thật nhỏ ra làm đóm để bác châm lửa hút lại điếu thuốc lào.

Tôi có lần hỏi tuổi bác, bác trả lời 9 chục. Rồi nói tiếp : “Mình cũng không biết tại sao lại sống lâu như vậy”. Tôi nói rằng : “Tại bác sống đời thi sĩ. Sống bên cạnh cuộc đời. Tại bác không sống tỉnh.

Bác sống say say.

Bác tự hỏi long : “Mình say sao ? Bác say thật rồi.

Một đời sung sướng. Một cuộc sống tuyệt vời.

Bác thuộc về một số rất ít.

Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

Ngoc Lan post (theo Giao Chỉ)

ANH NHẠC SĨ MÙ EM CA SĨ

HỌA MI – LÊ TẤN QUỐC

GẶP NHAU TRONG

ÂM NHẠC VÀ TÂM HỒN

Đối với sinh hoạt về đêm ở Sài Gòn trước cũng như sau năm 75 và cho đến hiện nay, Lê Tấn Quốc là một nhạc sĩ sử dụng kèn được nhiều người biết tới. Một phần vì khả năng nhuần nhuyễn của anh qua các loại kèn saxo, nổi bật hơn cả là Tenor sax. Phần khác, anh là một nhạc sĩ khiếm thị, nhưng tài nghệ đã khiến nhiều người trong nghề cảm phục.

Lê Tấn Quốc sinh tại Sài Gòn năm 1953. Song thân anh có 7 người con, không kể một số con riêng của cha anh với 2 đời vợ trước. Lê Tấn Quốc còn có hai người anh cũng là những nhạc sĩ quen thuộc của các vũ trường Sài Gòn từ rất lâu, biệt danh là Paul và Jacques.

Lê Tấn Quốc lập gia đình

với ca sĩ Họa Mi 1976.

Đến tháng giêng năm 88, Họa Mi sang Pháp trình diễn. Sau đó, Họa Mi đã quyết định ở lại và không hề báo cho Quốc biết trước quyết định này. Lê Tấn Quốc tâm sự thêm là sau khi Họa Mi ra đi, anh biết là cuộc sống hôn nhân của anh đã chấm dứt :

– “Khi Họa Mi đi coi như xong rồi, coi như tan vỡ rồi. Đó là định mệnh”. Và khi biết Họa Mi không trở lại Việt Nam : “Lúc đó mình thấy cũng hụt hẫng lắm. Đi làm về thấy 3 đứa con nằm ngủ lăn lóc rất tội nghiệp.” Lê Tấn Quốc cho rằng Họa Mi đi Pháp ở là do tình trạng kinh tế khó khăn của gia đình chứ không có lý do gì khác. Vì sau đó vợ anh cũng đã hoàn tất thủ tục cho chồng con cùng sang đoàn tụ tại Pháp.

Năm 1990, Lê Tấn Quốc cùng 3 con sang Pháp với Họa Mi. Vấn đề đầu tiên là hai người tìm cách chữa trị bệnh mắt của anh. Tuy nhiên, các bác sĩ điều trị cho biết họ cũng bó tay.

Sau vài tháng ở Pháp, Họa Mi đề nghị làm thủ tục để Quốc được hưởng qui chế tỵ nạn, nhưng Quốc nhất định từ chối, anh quyết định quay trở lại Việt Nam. Anh cũng không giấu diếm những mặc cảm của mình. Anh cho biết sẽ chỉ ở lại nếu mắt của mình có thể chữa được. Anh nói :

– “Tới bây giờ em chưa bao giờ ân hận vì đã trở về. Em để các con ở lại với mẹ chúng, cho chúng nó ăn học”.

Lê Tấn Quốc quay trở lại Sài Gòn vào cuối năm 1990, để lại 3 con sống với Họa Mi. Con trai lớn của 2 người năm nay 31 tuổi và đã có gia đình, người con trai kế 27 tuổi và cô con gái út năm nay 24.

Lê Tấn Quốc cũng cho biết Họa Mi đã không giấu diếm khi tâm sự với anh là có cảm tình với một người Việt lớn hơn chị 12 tuổi trong thời gian sống ở Pháp. Người này là giám đốc một công ty sản xuất kem và bánh ngọt. Anh mừng cho Họa Mi đã gặp được một người tốt. Nguyên nhân khiến họ chia tay không phải đến từ sự đổ vỡ hạnh phúc. Và cũng chẳng phải do lỗi lầm của một ai hoặc do một sự xung đột nào đó. Mà chỉ do đầu óc thực tế của cả đôi bên. Vì thật sự cho đến lúc quyết định như vậy, cả hai đều vẫn dành cho nhau những tình cảm rất tốt đẹp sau khi đã có với nhau 3 người con.

Chuyện tình giữa ca sĩ Họa Mi

và nhạc sĩ Lê Tấn Quốc

Cuộc tình này có tất cả tính chất bi tráng, oan khiên và hệ lụy của những cặp tình nhân, đã gặp nhau, yêu nhau, cưới nhau và xa nhau trong hoàn cảnh nghiệt ngã của một giai đoạn lịch sử đầy thảm khốc. Chàng nhạc sĩ khiếm thị ngày nay có thể không còn nhìn rõ mặt người yêu như những ngày đầu còn mặn nồng 1976 và cô ca sĩ ngày nay trên chiếc thuyền mới của cuộc đời với tất cả trách nhiệm gia đình trên đôi vai bé nhỏ.Thế nhưng trong tâm hồn họ vẫn còn một góc dành cho nhau, và góc riêng tư đó không cần nhìn bằng đôi mắt, góc riêng tư đó không có thời gian và không có không gian, góc riêng tư đó chỉ có tiếng chim Họa Mi hót bên dòng suối Saxo ngọt ngào mãi mãi.

Họa Mi yêu ca hát từ nhỏ và rất được sự khuyến khích của mẹ : “Nếu sợ ba con rầy thì con cứ hát nhỏ nhỏ cho má nghe cũng được”, đó là lời Họa Mi tâm tình trên video Paris By Night Thúy Nga.

Sinh ngày 1 tháng 5 năm 1955, Họa Mi tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn và được sự hướng dẫn về nghệ thuật của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Bấy giờ nữ ca sĩ Sơn Ca là giọng ca nữ chính bên cạnh nam ca sĩ Bùi Thiện, nên Họa Mi chưa thật sự nổi bật trên sân khấu Maxim’s của Đoàn Văn Nghệ Hoàng Thi Thơ, cũng như những sân khấu phòng trà hay khiêu vũ trường khác. Đến khi Họa Mi được Ngọc Chánh và Thanh Thúy ký hợp đồng thu âm cho băng nhạc của cơ sở Nguồn Sống (các nhãn băng như Shotguns, Thanh Thúy v.v…) và một lý do khách quan khác, báo chí bấy giờ (khoảng năm 1972) đã “dập” cô  ca sĩ Sơn Ca khiến phải thân bại danh liệt, để từ đó tiếng hát của Họa Mi cất cánh lên cao trên bầu trời ca nhạc Sài Gòn và miền Nam lúc đó.

Rời Việt Nam năm 1988, Hoạ Mi được nhiều cơ hội tham gia tích cực vào những sinh hoạt văn nghệ hải ngoại và đã từng trình diễn ở rất nhiều quốc gia : Pháp, Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hòa Lan, Na Uy, Úc, Nhật Bản, Anh, Hoa Kỳ và ngay cả Liên Sô (trước 1988).

Trong phong thái trình diễn rất nhẹ nhàng thoải mái, với tiếng hát ấm và trong, Họa Mi đã từng làm say mê khán thính giả trong những ca khúc trữ tình lãng mạn. Nhạc phẩm “Đưa Em Xuống Thuyền” của Nhạc Sĩ Hoàng Thi Thơ đã được Họa Mi lựa chọn để trình diễn trong lần đầu tiên ra mắt khán thính giả tại nhà hàng Maxim’s Sài Gòn. Những ai đã từng ái mộ tiếng hát Họa Mi chắc không thể quên được nhạc phẩm “Em Đi Rồi” của nhạc sĩ Lam Phương đã được Họa Mi trình bày một cách xuất sắc, chừng như tiéng nức nở nghẹn ngào của từng âm thanh rung động trên vành môi, người ca sĩ đáng yêu kia đã gởi gấm đâu đây một phần đời của chính mình ? Họa Mi yêu màu trắng và thích nhấn con số 8 (đây là con số “Phát tài” theo sự tin tưởng của người Trung Hoa). Cho đến nay, Họa Mi đã xuất hiện rất nhiều trên băng Paris By Night cũng như đã thâu băng và CD. Ngoài ra, cô còn cộng tác với 1 số vũ trường tại Paris. Đối với Họa Mi, trong tình yêu, sự thành thật là yếu tố quan trọng hàng đầụ Họa Mi cho rằng được có một mái ấm gia đình là cả một hạnh phúc lớn, còn về cuộc đời, Họa Mi thấy rất ngắn ngủi và mong manh.

Nhiều người có nhận xét rằng Họa Mi rất đẹp không những trên sân khấu mà kể cả ở ngoài đời và cô có một giọng hát trong, thánh thót ở những nốt nhạc cao và ấm áp, tình cảm ỡ những nốt nhạc thấp hơn.

Yêu nhau một thời, xa nhau một đời

Hơn hai mươi năm rời sân khấu, rời Sài Gòn, Họa Mi đã có một cuộc đời khác. Hai mươi năm nhiều biến động, có thể nói là những biến động nghiệt ngã nhất của đời người, đã làm Họa Mi bình tĩnh hơn, nhẹ nhàng hơn vào những tháng năm này Nữ danh ca thập niên 70 của Sài Gòn, giọng ca quen thuộc của đoàn Kim Cương những năm đầu giải phóng, phát hành album đầu tay “Một thời yêu nhau” khi bước vào tuổi 54. Khi số phận bắt chị phải lựa chọn, chị đã lựa chọn gia đình và những đứa con. Phía sau cuộc ra đi nhiều sóng gió của Họa Mi năm 1988 tới Pháp, ít ai biết, đó là cả một sự hy sinh thầm lặng đến quên mình…

Sài Gòn là một ký ức đẹp, mà ở đó chị đã có tất cả. 18 tuổi, khi đang học Trường Quốc gia âm nhạc, Họa Mi được nhạc sỹ Hoàng Thi Thơ mời đến hát tại nhà hàng Maxim’s, một trong những nhà hàng nổi tiếng nhất Sài Gòn khi ấy. Và ngay từ những bài hát đầu tiên “Đưa em xuống thuyền”, “Đưa em qua cánh đồng vàng”, Họa Mi đã là một hiện tượng không trộn lẫn.

Họa Mi được đánh giá là một trong những ca sỹ hiếm hoi được học thanh nhạc bài bản, có nền tảng tốt. Chị nhớ lại, tên chị là Trịnh Thị Mỹ, khi bắt đầu được đi hát, chị lấy tên là Trường My, nhưng ngay buổi đầu tiên đi hát, chị được ông bầu Hoàng Thi Thơ giới thiệu là Họa Mi, và đó chính là cái tên theo chị suốt cuộc đời ca hát.

Sau khi 1975, Họa Mi nghĩ mình sẽ không còn cơ hội để ca hát nữa. Khi ấy chị hai mươi tuổi và bắt đầu theo học ngành Luật. Cho đến một ngày, nhạc sỹ Ngọc Chánh đến tìm chị. Anh nói, thành phố thành lập một đoàn ca nhạc hát chung với đoàn Kim Cương. Và anh muốn chị đi hát lại. Khi ấy, đoàn ca nhạc gồm hầu hết những gương mặt quen thuộc trong giới ca nhạc sau này, như Thanh Phong, Phương Đại, Thái Châu, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Sơn Ca… Và chị đã tiếp tục con đường ca hát, với một phong cách mới. Bài hát đầu tiên trên sân khấu là “Bóng cây Kơ nia”, Họa Mi đã hát với tình yêu say đắm của tuổi hai mươi khi ấy.

Năm 1976, Họa Mi lập gia đình với nghệ sỹ saxophone Lê Tấn Quốc. Họa Mi nói, khi ấy cả anh và chị đều có hoàn cảnh giống nhau, nên rất dễ thương nhau. Họa Mi mất ba từ năm 11 tuổi và năm 18 tuổi mẹ chị cũng rời trần thế, bỏ lại chị một mình trong thành phố những ngày nhiều biến động. Hai người yêu nhau 6 tháng thì cưới. Anh vẫn thổi kèn cho chị hát. Và họ đã là một biểu tượng của hạnh phúc.

Hình ảnh vợ chồng Họa Mi – Lê Tấn Quốc thể hiện được rất rõ khí chất và tình nghệ sỹ lâu bền… Họ đã sống với nhau hơn 10 năm và có với nhau 3 đứa con.

Lê Tấn Quốc với chứng bệnh mắt bẩm sinh, mắt ngày càng kém hơn. Cuộc sống thành phố những năm 80 của thế kỷ trước bộn bề gian khó. Cặp vợ chồng nghệ sỹ vật lộn tìm đường sống để nuôi ba con nhỏ. Hạnh phúc tưởng như trọn vẹn, nhưng lại không dễ dàng. Và năm 1988, Họa Mi có chuyến đi biểu diễn tại Pháp. Chuyến đi ấy chị đã không trở về. Sự không trở về của Họa Mi gây ra những sóng gió lớn. Những chuyện sau này, có rất nhiều sự thêu dệt về sự ra đi của chị. Và người ta từng nghĩ, chị sẽ bị… cấm vận vĩnh viễn. Và việc chị ra đi, bỏ lại người chồng mắt bị lòa là một việc làm nhẫn tâm, vô tình vô nghĩa.

Nhà văn Nguyễn Đông Thức, một trong những người bạn của Họa Mi nhớ lại, khi ấy Họa Mi rất yêu chồng. Và việc chị tìm cách ở lại Pháp, không phải để mưu cầu hạnh phúc riêng tư, cũng không phải vì mục đích chính trị hay bất cứ ham muốn nào khác, mà chỉ vì mục đích là tìm đường chữa đôi mắt cho chồng. Khi ấy, VN chấp nhận cho chị đưa nhạc sỹ Lê Tấn Quốc và ba con sang Pháp để anh có điều kiện chữa mắt. Nhưng, đôi mắt ấy không bao giờ có thể chữa lành. Ngay cả những bác sỹ giỏi nhất tại Pháp cũng đành ngậm ngùi lắc đầu.

Và, người nghệ sỹ từ nhỏ đã sống với cây kèn, quen với những đêm diễn, bỗng chốc phải thay đổi đột ngột, không còn không gian cho âm nhạc nữa, khiến Lê Tấn Quốc trở nên tuyệt vọng. Và anh trở về Việt Nam… Cuộc chia tay ấy mang nhiều nước mắt. Bởi, họ vẫn còn rất yêu nhau. Nhưng cá tính nghệ sỹ mạnh mẽ hơn rất nhiều. Câu chuyện tình yêu của Họa Mi – Lê Tấn Quốc đã thành giai thoại trong giới âm nhạc Sài Gòn. Bao nhiêu năm qua đi, câu chuyện ấy vẫn là một minh chứng sống của tình nghệ sỹ.

Chia tay nhau, xa cách đầy giông bão. Số phận đã buộc họ phải lựa chọn. Nhưng Họa Mi không còn cách nào khác, không thể quay về, buộc phải tiếp tục hành trình sống nơi xứ người, tìm cách mưu sinh và nuôi con. Họ vẫn quan tâm đến nhau, như những người bạn tri kỷ. Mỗi khi chị về nước, đều tìm đến thăm anh. Và khi Họa Mi làm đám cưới với người chồng mới tại nhà hàng Maxim’s, cả gia đình và người vợ mới của Lê Tấn Quốc cũng đến dự.

Phía sau sự xa cách định mệnh lại là những tháng ngày thái bình. Bởi hơn ai hết, cả hai người từng yêu nhau đắm say, hiểu được cái giá của mất mát. Và, đến lúc này, họ vẫn thường xuyên quan tâm tới nhau. Trong đĩa nhạc mới sắp phát hành của Họa Mi,

Lê Tấn Quốc vẫn thổi kèn đệm cho chị hát. Trong âm nhạc, họ chưa bao giờ xa nhau.

Họa Mi nhớ lại, khi qua Pháp chị phải tìm mọi cách để được sống tốt và nuôi các con. Khi ấy, chị đi hát vì mưu sinh trong một nhà hàng của người Hoa. Thực khách của nhà hàng rất đa dạng, nhưng những người nghe chị hát không nhiều. Đó là những ngày rất buồn. Khi phải gắn đời nghệ sỹ vào với cơm áo, là khi người nghệ sỹ phải thỏa hiệp và chấp nhận nhiều thua thiệt. Khi ấy, cũng có những lời mời từ các trung tâm biểu diễn tại hải ngoại, nhưng Họa Mi không thể để bỏ các con lại, với những chuyến lưu diễn dài ngày. Thật lâu, chị tham gia vài chương trình ghi hình rồi vội vã trở về Pháp.

Năm 1995, Họa Mi lập gia đình với một kỹ sư gốc Sa Đéc. Anh đã sống nhiều năm ở Pháp và hoàn toàn không biết chị… hát gì. Nhưng họ đã yêu nhau thành thật. Cô con gái của họ đã bước vào tuổi 14 và anh cũng không còn làm kỹ sư nữa. Hai vợ chồng chị mở một xưởng sản xuất bánh ngọt giao cho những nhà hàng tại Paris.

Họa Mi nói, thực ra suốt nhiều năm tôi không đi hát chỉ vì nghĩ mình buộc phải lựa chọn gia đình. Tôi hiểu rất rõ cuộc sống của những đứa trẻ trong những gia đình thiếu hụt. Tôi đã không giữ được cho con tôi một mái ấm khi qua Pháp, thì phải ráng giữ sao cho con khỏi thiệt thòi. Khi tôi lập gia đình với người chồng mới cũng vì một điều, anh thực sự biết chia sẻ và nâng đỡ các con tôi.

Họa Mi, ở tuổi 54, đã tìm đường trở về Việt Nam, bắt đầu cho những dự định ca hát dang dở. Kể như là một kế hoạch đã muộn. Nhưng chị vẫn làm. Làm cho mình và tri ân những người vẫn còn lưu nhớ giọng hát chị. Một đĩa nhạc tình quen thuộc, nhưng lần đầu tiên chị hát.

Trong lời đề từ đĩa nhạc “Một thời yêu nhau”, Họa Mi viết : “Ngày thàng đã qua đi trong chớp mắt, tóc đã điểm bạc. Có chăng là kỷ niệm, là hạnh phúc, là khổ đau. Tôi muốn giữ mãi những phút giây quý giá của hạnh phúc. Tôi muốn tôi quên đi những chuỗi ngày của buồn đau, của những vết thương lòng đã chôn chặt từ lâu”…

Chị đã không lựa chọn cộng đồng người Việt tại Mỹ để xuất hiện, dù biết những khán giả đó mới là khán giả chính yêu thích những bản nhạc tình xa xưa. Chị nói, chị đã có những ngày tháng đẹp ở thành phố này. Chị ra đi và chị trở về, như một sự trở lại, tìm đến những ân tình cũ. Chị không có ý định gì to lớn, ngoài việc lưu giữ lại những kỷ niệm đẹp đẽ của đời mình. Họa Mi cười, chị đang tìm cách thuyết phục chồng chị về định cư tại Việt Nam. Vì năm tháng xa xôi đã đủ để chị biết, nơi này vẫn là nơi chị đáng sống nhất, trong những ngày còn lại của đời mình…

Quế Phượng – Mỹ Nhàn (tổng hợp)

NGHI ÁN “KỶ VẬT CHO EM”

KỶ VẬT CHO EM…

THƠ CỦA AI ?

Bài thơ liên-quan bản nhạc Kỷ-Vật Cho Em của Phạm-Duy

Hơn 40 năm dài, từ năm 1969. Tình cờ qua trang của lính, tôi đọc được một bài viết của anh Tr/Tá Bùi Đức-Lạc PB ND liên-quan đến người bạn ND quá-cố của tôi xin chia-xẻ cùng anh em.

Bài nhạc nổi danh của nhạc-sỹ Phạm-Duy đã được nhiều ca-sỹ hát đi hát lại, nói lên nổi lòng của anh em trẻ đi vào cuộc chiến thuở bấy giờ thật xúc-động và ngậm-ngùi !

Sự thật tác-giả không phải của Phương-Linh mà của Chuẩn-Nghị !

Chuẩn-Nghị tên thật là Nguyễn  Đức-Nghị người Phan-Rang. Đi khóa 26 Thủ-Đức, anh ta viết nhiều thơ đăng trên báo Văn-Nghệ Tiền-Phong trong trang thơ của Lý Thụy-Ý phụ trách.

Năm 1969, tôi  bị thương mới hồi-phục, Nghị đóng quân ở Bình-Điền khi  lại thăm Nghị và các anh em trong đơn-vị cũ trong đó có Nguyễn-Trọng-Nhi, Trần Chí Mỹ, và các anh em khác.

Khi tâm-sự riêng với nhau, Nghị rất bực-tức về bài thơ mà anh làm gởi đăng báo Tiền-Phong lại được Phạm-Duy phổ-nhạc với tên tác-giả khác ! Người sĩ-quan trẻ trong đơn-vị Nghị nhờ đưa bài thơ này cho Lý Thụy-Ý lại giao cho nhạc-sỹ Phạm-Duy, thấy hay nên ông này làm bài nhạc luôn !

Trong bài thơ của Nghị là lời nhắn lại cho Nga người tình mà khi hữu-sự Nghị biên thư cho tôi trao cho cô ấy. Hoàn-cảnh đang bị bế-tắc vì mẹ cô Nga không thích Nghị người miền Bắc ! Sau đó khi đi hành-quân ở Tây-Ninh Nghị tử trận.

Chuyện khiếu-nại với Phạm-Duy kể như im luôn và bài nhạc được phổ – biến với lời thơ của Phương Linh mãi cho đến nay chỉ có một bài viết của anh cựu Tr/Tá Nhảy Dù Bùi Đức-Lạc đưa ra trở lại.

Bài thơ này Nghị viết bằng mực đỏ, cho tôi xem, nhưng vì lời thơ quá chán đời, tôi không chịu lấy, chỉ đọc qua thôi ! Trước khi tôi bị thương ở Vên Vên Đá Hàn, Nghị có tặng cho tôi bốn câu thơ cũng giọng thơ chán đời chết chóc, Nghị viết trong một miếng giấy khổ lớn cũng bằng mực đỏ và trao cho tôi trong phòng ngủ của đơn-vị, tôi cho là điềm xấu xé đi sau khi đọc nó.

Nghị nói : “Tao cho mày bốn câu thơ này làm kỷ-niệm ! Nếu tao có chết mày lấy ra đọc để nhớ tao ! “

Tôi còn nhớ nó như sau :

“Ngày mai gục chết đau thương,

Thây ma vất-vưõng nơi phương trời nào .

Người yêu ai có nguyện cầu ?

Cỏ hoang xanh mọc lên màu lãng-quên ! “

(Chuẩn-Nghị)

Khi Nghi mất, đem xác về nghĩa-trang Quân-Đội Biên-Hoà, tôi và Nga có lên tiễn linh-cửu lần cuối-cùng để đưa về chôn ở PhanRang. Sau đây là bài thơ chánh mà Chuẩn Nghị viết lúc ấy gởi  báo Tiền-Phong nhưng không đến. Xin gởi các bạn xem :

KỶ VẬT

Em hỏi anh bao giờ trở lại ?

Xin trả lời mai mốt anh về.

Anh trở về không bằng Mũ Đỏ Áo Hoa,

Anh trở về không bằng huy- chương chiến-thắng.

Anh trở về trong chiều hoang chiếu nắng,

Trong hòm gỗ hoặc trên chiếc băng -ca.

Anh trở về nằm giữa vòng hoa,

Những vòng hoa tang chan-hòa nước mắt. 

Anh gởi về cho em vài kỷ-vật,

Đây chiếc nón sắt xuyên mấy lỗ đạn thù.

Nó đã từng che nắng che mưa,

Đã từng hứng cho anh giọt nước.

Chiều dừng quân nơi địa-đầu lạnh buốt,

Nấu vội-vàng trong đó nắm cơm khô.

Anh gởi cho em một tấm poncho,

Đã rách nát theo hình-hài năm tháng.

Lều dã-chiến trên đồi hoang cháy nắng,

Che cơn mưa gió lạnh buổi giao mùa.

Làm chiếc võng nằm nhìn đời lính đong-đưa,

Và….khi anh chết cũng poncho tẫn-liệm.

Nay anh gửi cho em làm kỷ-niệm,

Nhận không em chút tình lính này đây ?

Tình lính đơn-sơ vì chinh-chiến kéo dài,

Nhưng tình lính chỉ lạt phai

Khi hình-hài và con tim biến-thể.

Chuẩn-Nghị 1969.

Gởi các bạn một chút gì để nhớ lại thời son trẻ, mong những lời mọn này giải-tõa được u-uẫn của linh-hồn bạn tôi… Thân,

TT Phong

LỜI BÀN CỦA “CAO BỒI GIÀ” : theo lời bạn TT Phong xác nhận, nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” do NS Phạm Duy phổ nhạc là từ bài thơ “Kỷ vật” của Chuẩn-Nghị. Nhưng từ nhiều năm nay trên diễn đàn văn nghệ, mọi người đều cho rằng Phạm Duy phổ từ bài thơ “Để trả lời một câu hỏi” của Linh Phương.

Cao Bồi Già xin trích dẫn bài viết từ Wikipedia (Bách khoa toàn thư) một bài khác “Kỷ vật cho em” thơ Linh Phương do Nguyễn Việt viết và đã post trên “Văn nghệ người Sài Gòn vào ngày 6/11/2009. Cuối cùng là lá thư của chính NS Phạm Duy viết cho “tác giả chính thức” bài “Kỷ vật cho em”, để rộng đường dư luận :

Bài trên Wikipedia :

Người phổ nhạc bài này là nhạc sĩ Phạm Duy, tuy nhiên về nguồn gốc bài thơ được phổ, suốt một thời gian dài từ khi ra đời nó đã là 1 nghi vấn.

Đầu tiên là vấn đề bản quyền. Trong các bản in ban đầu, Phạm Duy chỉ ghi tên tác giả bài thơ là “Vô danh”, khiến cho dư luận thắc mắc, báo chí đặt câu hỏi, có báo còn đưa tin Linh Phương sẽ kiện Phạm Duy ra tòa. Sau một thời gian ông Phạm Duy mới gặp Linh Phương để trả tiền tác quyền. Từ đó những bản in của Phạm Duy mới ghi tên tác giả phần lời là Linh Phương.

Nhưng Linh Phương là ai thì người ta chỉ đoán là 1 anh lính nào đó, còn sống hoặc đã mất, không những thế còn có nhiều người tự nhận là Linh Phương. Còn có ý kiến cho rằng bài thơ gốc là bài “Kỷ vật” của chuẩn úy Nguyễn Đức Nghị, bút danh Chuẩn Nghị xuất thân từ khóa 26 sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, người này đã hy sinh vào năm 1969.

Không chỉ là nghi vấn về tác giả, người ta còn đưa ra 2 văn bản được cho là “bài thơ gốc”, hai văn bản này khác nhau nhiều nhưng đều có phần mở đầu là :

Em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời mai mốt anh về

Tuy nhiên, về văn bản, bài “Kỷ vật” của Chuẩn Nghị thì làm bằng thể thơ tự do còn “Để trả lời một câu hỏi” của Linh Phương làm bằng thể thơ thất ngôn. Nội dung cả hai bài cùng nói về sự mất mát của chiến tranh và nhiều hình tượng như trong bài “Kỷ Vật Cho em” đã được phổ nhạc, nên người ta đã sinh lưỡng lự trong việc xác định danh tính tác giả. Đến năm 2006, mọi việc dần sáng sủa khi tạp chí mạng Văn nghệ Sông Cửu Long cho đăng loạt bài khẳng định rằng bài này là của Linh Phương, và trong thời gian này chính nhà văn Linh Phương cũng đã viết hồi ký của mình và về bài thơ, nhận làm tác giả của bài.

Và bài trên Văn Nghệ người Sài Gòn http://my.opera.com/khaisang2002

CHUYỆN BÀI THƠ

ĐEM PHỔ NHẠC

– Bài Nguyễn Việt

Vào năm 1971 khi nhạc phẩm “Kỷ vật Cho em” được các ca sĩ Lệ Thu rồi Elvis Phương diễn tả trong những chủ đề băng nhạc mang tên Shotguns, đã làm rung động tâm hồn mọi người vì một lý do, tác phẩm nói đến một tâm tình một anh lính đã trở thành phế binh sau một trận chiến, qua những lời ca khúc :

Em hỏi anh bao giờ trở lại/ Xin trả lời mai mốt anh về/ Không bằng chiến thắng trận Pleime/ Hay Đức Cơ- Đồng Xoài- Bình Giả…/Mai anh về trên đôi nạng gỗ/ Bại tướng về làm gã cụt chân…

Lúc đó ai cũng nghĩ nhạc và lời của Phạm Duy, vì trên poster được in ấn để bán ra cho người hâm mộ chỉ có mỗi mình tên của Phạm Duy.

Nhưng đùng một cái bài “Kỷ vật cho em” trở thành scandal sau đó không lâu, không phải bị tịch thu, bị cấm hát vì mang tinh thần phản chiến trong thời gian đó. Nên nhớ người viết từng có bài viết “Ca nhạc sĩ Sàigòn trước năm 1975”, khi nói đến chính quyền thời bấy giờ luôn động viên các văn nghệ sĩ trong các sáng tác phẩm mang tính chiến đấu. Nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” không nằm trong diện này, mà vì có một người làm thơ mang tên Linh Phương lên tiếng cho rằng bài thơ “Kỷ vật cho em” đã được anh gửi đăng trên nhật báo Độc Lập, lúc còn bận hành quân trên lãnh thổ Campuchia, có lẽ tình cờ nhạc sĩ Phạm Duy được đọc bài thơ trên nên đã phổ thành nhạc. rồi Linh Phương phát biểu tiếp “Phạm Duy đã “cầm nhầm “ bài thơ “Kỷ vật cho em” của tôi để phổ nhạc mà không cần biết tới tôi là ai…”

Tuy phát biểu như thế nhưng Linh Phương vẫn hoàn toàn giữ thái độ im lặng, không tìm đến Phạm Duy để đòi tiền bản quyền khi chưa xin phép anh phổ nhạc bài thơ này. Nhưng sau khi báo chí đăng tải nguồn tin trên, trên thị trường đã có những poster “Kỷ vật cho em” được tái bản, và hình như nhạc sĩ Phạm Duy đã cẩn thận in rõ ràng trên đó là “thơ Linh Phương – nhạc Phạm Duy”. Điều này ít ra cũng đã xoa dịu phần nào tự ái của nhà thơ vốn mang tính… ngông trong đời lính.

Nhưng một thời gian sau, nhà thơ Linh Phương đã khám phá được trò “ma giáo” (theo trang web của Linh Phương) của Phạm Duy. “Đàn anh văn nghệ” vẫn cố tình không để tên đàn em trong tập nhạc mang chủ đề “ Kỷ vật cho chúng ta “, trong đó đăng bài nhạc “Kỷ vật cho em”. Làm nhà thơ Linh Phương nổi giận.

Ký giả Phan Linh lúc đó cộng tác trên tờ “Sân Khấu Truyền Hình số 1 – bộ mới năm 1971” viết :

– “Thú thật, chúng tôi rất lấy làm ngạc nhiên khi nghe anh Linh Phương phàn nàn, khi nghĩ về thái độ không được đẹp của nhạc sĩ tài danh Phạm Duy, người mà gần đây được giới trẻ gán cho danh từ “ Bố già Hippy “.

Anh Linh Phương khẳng định, sở dĩ anh chưa thực sự lên tiếng trên báo chí về trường hợp “Kỷ vật cho em” là vì anh muốn chờ ở Phạm Duy có một cư xử văn nghệ. Vả lại, anh không muốn hạ một kẻ đã ngã ngựa như Phạm Duy, một nhạc sĩ tài hoa với “ Bà mẹ Gio Linh “, với những bài dân ca ngày xưa, nay đã bán linh hồn cho quỷ dữ sa tăng, dâm ô đồi trụy …” (sic)

Bài báo tiếp tục viết :

Bởi thế nhà thơ Linh Phương dự định tổ chức một đêm thơ nhạc “ Kỷ Vật Cho Em – Từ Vùng Đất Chết “ tại một quán văn nghệ ở Sài Gòn, sẽ mời Phạm Duy cùng một số anh em ký giả, văn nghệ sĩ đến chứng kiến cuộc nói chuyện công khai cùng nhạc sĩ Phạm Duy về bài nhạc “Kỷ vật cho em”.

Sau khi bài báo trên ra mắt, nhạc sĩ Ngọc Chánh ông bầu băng nhạc Shotguns đã cùng Phạm Duy tức tốc đi tìm nhà thơ Linh Phương để giải quyết bản quyền bài thơ “Kỷ vật cho em” dứt điểm, bởi Ngọc Chánh đâu ngờ ông mua độc quyền nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy để khai thác trong các băng nhạc Nguồn Sống, lại đụng đến bản quyền của một người khác tức nhà thơ Linh Phương.

Mặc dù Phạm Duy phải chịu trách nhiệm, nhưng nhạc sĩ Ngọc Chánh là người làm ăn nếu để mang tai tiếng khi cơ sở của ông đang khai thác độc quyền bài “Kỷ vật cho em”, nên một lần nữa ông “bỏ tiền ra” trả bản quyền dùm cho Phạm Duy. Nghe đâu tiền tác quyền bài thơ khoảng 150.000đ tương đương giá trị của 5 lượng vàng lúc đó.
Sau đây nguyên tác bài thơ “Kỷ vật cho em” trước khi Phạm Duy phổ nhạc :

ĐỂ TRẢ LỜI MỘT CÂU HỎI

Nguyên tác bài thơ phổ nhạc “Kỷ Vật cho em”

Em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời mai mốt anh về

Không bằng chiến thắng trận Pleime

Hay Đức Cơ- Đồng Xoài- Bình Giả

oOo

Anh trở về hàng cây nghiêng ngã

Anh trở về hòm gỗ cài hoa

Anh trở về bằng chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng

oOo

Mai trở về chiều hoang trốn nắng

Poncho buồn liệm kín hồn anh

Mai trở về bờ tóc em xanh

Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt

oOo

Mai anh về em sầu thê thiết

Kỷ vật đây viên đạn màu đồng

Cho em làm kỷ niệm sang sông

Đời con gái một lần dang dở

oOo
Mai anh về trên đôi nạng gỗ

Bại tướng về làm gã cụt chân

Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân

Bên người yêu tật nguyền chai đá

oOo

Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ

Em nhìn anh – ánh mắt chưa quen

Anh nhìn em- anh cố sẽ quên

Tình nghĩa cũ một lần trăn trối

Và sau đó thì lá thơ của Phạm Duy được lên báo :

THƯ CỦA NS PHẠM DUY

Sài Gòn, ngày 11 Tháng Tám, 1971.

Kinh gởi anh Linh Phương.

Trước hết, tôi xin thành thật xin lỗi anh vì đã liên lạc với anh quá chậm trễ, nhưng cho mãi tới hôm nay tôi mới được biết anh ở đâu tên thực là gì, dù rằng đã từ lâu tôi đã nhờ thi sĩ Phổ Ðức, Du Tử Lê cũng như đã nhờ vài người bạn quân nhân cùng binh chủng với anh bằng cách đăng tin tìm anh trên nội san của binh chủng mà chưa có kết quả. Nay anh đã liên lạc được với tôi qua báo chí, thì tôi thấy đành phải nhờ báo chí để liên lạc với anh (trong khi tôi mong được gặp anh để đỡ phải làm phiền hà báo chí).

Là một người rất yêu quý tất cả những cái đẹp của quê hương xứ sở (trong đó có thi ca), tôi thường hay tìm cách để giới thiệu cái đẹp đó cho mọi người biết. Việc phổ nhạc bài thơ của anh cũng chỉ nằm trong mục đích đó. Tôi không nhớ đã đọc và thuộc lòng bài thơ của anh vào lúc nào và cũng quên hẳn không biết bài đó đăng ở đâu, nhưng chắc chắn phải là vào lúc mà người bạn thơ Trần Dạ Từ và tôi đồng ý với nhau rằng những kỷ vật mà chúng ta tặng nhau lúc đó chỉ có thể là những vỏ đạn, mảnh bom hay dây thép gai.

Tập thơ “Tỏ Tình Trong Ðêm” của Từ cũng mang rất nhiều ý tính đó. Cho nên bài thơ của anh được phổ thành ca khúc đã mang tên “Kỷ Vật Cho Em” trong khi, nếu tôi không lầm, nó được anh đặt tên là “Trả Lời Cho Một Câu Hỏi.”

Những điều anh trách tôi như : “Không đăng tên thi sĩ hoặc đăng sai năm ra đời” thì việc này xin được giải thích như sau :

1/- Tất cả những bài bản của tôi làm ra trong vòng 30 năm nay đều không do tôi ấn hành xuất bản. Thường thường, gần đây là những bạn thân bỏ tiền ra in, và thường tôi ít được duyệt lại lần chót trước khi hoàn thành tuyển tập. Do đó, ngoài lỗi lầm lớn lao đã không đăng tên anh, còn khoảng 12 lỗi khác cũng rất quan trong, và khi tuyển tập ra đời, tôi đã nói với anh bạn xuất bản nên in một “phụ bản đính chính” (erratum) tất cả những khiếm khuyết hay sai lầm. Dù sao tôi cũng nhận lỗi đã không cứng rắn đối với anh bạn xuất bản. Từ nay trở đi chắc tôi sẽ khó tính hơn.

2/. Việc đề niên hiệu của ca khúc rất có thể do trí nhớ kém cỏi của tôi hoặc do vội vàng đưa bài ca đó vào lúc chót : Xin thú thật với anh bài thơ bất hủ của anh được phổ thành ca khúc đã không được phép hát và ấn hành; nhà xuất bản cũng như những nơi phổ biến ca khúc đó không bị phiền hà cũng là một sự may rủi.

Tôi hiểu sự buồn giận của anh và mong anh sẽ hiểu cả sự vô tình mắc lỗi của tôi. Tôi tự nghĩ trong suốt cuộc đời sáng tác của tôi, ngoài sự gìn giữ sự tự do tuyệt đối của mình có thể làm cho nhiều người không ưa, tôi chưa hề bao giờ phải làm buồn lòng những người làm thơ mà tôi phổ nhạc. Tôi ước ao anh sẽ không phải chỉ làm một bài thơ đó để cho tôi phổ nhạc và mong anh sẽ còn cho cuộc đời nhiều thi phẩm bất hủ hơn.

Ngoài ra, tôi mong được gặp anh để người bạn xuất bản có thể thanh toán tiền tác giả.

Phạm Duy 215 B Chi Lăng Phú Nhuận Sài Gòn

Cao bồi già (tổng hợp)