Nhạc sĩ VŨ THÀNH AN

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

Nhạc sĩ VŨ THÀNH AN

– Quế Phượng

Nhạc sĩ Vũ Thành An sinh n ăm 1943 tại Hải Hậu, Nam Định. Năm 1954 ông theo gia đình di cư vào Nam. Năm 1954 học tại trường tiểu học Ðỗ Hữu Phương, Saigon. 1955 học lớp Ðệ Thất tại trường trung học Hồ Ngọc Cẩn. 1956 lên Ðệ Lục được di chuyển cả lớp về trường Chu Văn An. Năm 1958 một lần nữa cả lớp lại chuyển về trường Trần Lục học lớp Ðệ Tứ, sau khi đậu Trung Học Ðệ Nhất Cấp, học hết lớp Ðệ Tam và một lần nữa cả lớp lại chuyển về trường Nguyễn Trãi vào năm 1960 học lớp Ðệ Nhị.

Trong thời học sinh Vũ Thành An theo học nhạc lý với nhạc sĩ Chung Quân, lúc đó cùng Ngô Thụy Miên, Đức Huy. Năm 1961 ông thi hỏng Tú tài nên về trường Hưng Đạo học tiếp lớp Đệ nhị. Năm 1963, ông thi đậu Tú tài toàn phần. Trong suốt thời gian trung học, ông đều tham gia hoạt động văn nghệ trong lớp từ ca hát, đóng kịch, đến làm bích báo. Sáng tác ca khúc đầu tiên năm 1959 bị thầy là nhạc sĩ Chung Quân chê. Trong thời gian học tại trường Hưng Ðạo, Vũ Thành An bắt đầu sáng tác nhạc các ca khiúc mang tên Bài Không Tên Số 2, Bài Không Tên Số 6, Bài Không Tên Số 8.

Sau đó ông được linh mục Trần Đức Huynh, giám đốc trường Hưng Đạo cho dạy lớp Đệ thất để có tiền theo học Đại học. Cuối năm 1963, Vũ Thành An vào làm phóng viên ở Đài phát thanh Sài Gòn, ở đây ông gặp nhà thơ Nguyễn Đình Toàn. Năm 1965, ông viết Tình khúc thứ nhất, phổ thơ Nguyễn Đình Toàn, và nổi tiếng ngay từ ca khúc đó; rồi cùng làm chương trình Nhạc Chủ Ðề với Nguyễn Ðình Toàn.

Những năm tiếp theo, Vũ Thành An viết nhiều Bài không tên khác. Năm 1965 ông bị chấn động tinh thần vì cuộc tình bị gãy đổ, ông sáng tác bài Không Tên Cuối Cùng. Năm 1967 gặp gỡ một mối tình lần hai, bị động viên nhập ngũ khóa 25 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Năm 1968 một lần nữa cuộc tình ấy lại gãy đổ, ông sáng tác Bài Không Tên Số Hai. Năm 1969 ông lập gia đình.

Năm 1969, Vũ Thành An phát hành tập nhạc Những bài không tên. Các tác phẩm của ông được yêu thích khắp miền Nam thời bấy giờ sau khi được nữ ca sĩ Thanh Lan diễn đạt rất thành công trên làn sóng phát thanh, đại nhạc hội, đĩa nhạc và nhất là phong trào du ca tại Quán Văn (sân sau của Đại Học Văn Khoa Sài Gòn) cùng thời điểm với cặp song ca Trịnh Công Sơn và Khánh Ly. Người ta có thể nghe tại gần như hầu hết các quán cà phê nhạc ở Sài Gòn và những thành phố lớn khác, tại các quân trường và trên các làn sóng phát thanh. Tên tuổi của Vũ Thành An cùng với Tình khúc thứ nhất, Em đến thăm anh đêm ba mươi và các Bài không tên gắn liền với giới trẻ thời ấy. Vũ Thành An cùng với Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng tạo thành một lớp nhạc sĩ mới đầy tài năng.

Năm 1971, Vũ Thành An tốt nghiệp đại học Luật khoa Sài Gòn. Ông tiếp tục làm việc tại đài phát thanh Sài Gòn với cấp bậc sĩ quan, và trải qua nhiều chức vụ : Trưởng cơ sở dân vận Gia Định 1973, Trưởng phân khối văn hóa, Phụ tá trưởng khối chương trình, Trưởng khối chương trình và Trưởng phân khối kế hoạch hệ thống truyền thanh 1974.

Ngày 30 tháng 4 1975, Vũ Thành An là người cuối cùng rời Đài phát thanh Sài Gòn lúc 10 giờ 30 giờ sáng. Sau đó ông đi cải tạo suốt mười năm từ 1975 đến 1985. Theo lời Vũ Thành An, ông bắt đầu sáng tác Thánh ca, Những Bài Nhân Bản trong thời gian cải tạo từ năm 1981. Ngày 21 tháng 3 năm 1981, biến cố quan trọng nhất trong đời là rửa tội vào đạo Thiên Chúa. 1987 lập lại gia đình.

Trong thời gian đi cải tạo có nhiều lời đồn từ trong nước lẫn hải ngoại, Vũ Thành An quy thuận cán bộ trại nên được quản giáo trại cải tạo ưu đãi và cho về sớm trước các đồng đội, không rõ chuyện này có thật hay không. Như một chuyện kể điển hình sau đây :

– “Đêm 30-12-1980 trong không khí lạnh lẽo âm u của núi rừng tỉnh Bắc Thái, trại cải tạo Phú Sơn tổ chức đón Giao Thừa. Sân khấu được dựng trong sân, phía dưới sân khấu khoảng trên 2,000 người gồm thành phần quân, cán, chính đang chịu cải tạo ngồi lặng lẽ trên sàn đất. Phía sau, xa hơn một chút có 22 vị linh mục ngồi co ro vì lạnh. Khi tiếng đàn nổi lên cùng với giọng sáo của Tô Kiều Ngân thì Vũ Thành An xuất hiện, quỳ gối, đôi tay giang rộng, thành kính kêu lên vui mừng : “Ôi ! Tôi không hiểu hạnh phúc này hôm nay vì sao mà tôi có. Đó là nhờ công ơn trời biển của cách mạng mà tôi mới được thành người”.

“Đến khi qua Mỹ, Vũ Thành An đã có lời xin lỗi tất cả bạn tù… vì “trong lúc yếu lòng”. Nhưng thực ra, đó chỉ là bề ngoài, tỏ ra ăn năn sám hối bằng cách theo các vị linh mục học đạo tới bậc Thầy Sáu”….

Năm 1991, Vũ Thành An rời Việt Nam và định cư tại Hoa Kỳ. Năm 1996, ông ghi danh học chương trình Cao học Thần học của Tổng giáo phận Portland, Oregon. 1996 theo học Thần Học.1999 được phong chức Ðọc Sách (Reader) và Acolyte (thừa tác viên bàn thờ). Năm 2000, Vũ Thành An được đào tạo làm chức Phó Tế và phụ trách Đài phát thanh Việt Nam Hải Ngoại ở Portland, Oregon. Vũ Thành An ngừng sáng tác tình khúc và chỉ tiếp tục soạn các bản thánh ca, và tham gia các công việc từ thiện.

CHUYỂN HƯỚNG SÁNG TÁC

Nhạc tình Vũ Thành An là một kết   hợp của âm điệu nhẹ nhàng, lã lướt với lời hát như quyện vào tâm  hồn người nghe. Thế nên từ cuối thập niên 60, tới đầu thập niên 70, một chuỗi sáng tác của Vũ Thành An qua các nhạc phẩm “Tình Khúc Thứ Nhất”, “Em Đến Thăm Anh Đêm Ba Mươi”, các bài “Không Tên” được giới yêu âm nhạc đón nhận nồng nhiệt và nghiễm nhiên trở thành những bản “Nhạc Tình Vũ Thành An”, một dấu ấn lãng mạn của thời Nhạc Vàng !

Khi qua được Mỹ, thì Vũ Thành An sáng tác nhiều nhạc phẩm mang phong cách và ca khúc khác hơn xưa, như loạt nhạc “Nhân Bản Ca”. Rồi thất bại, ông viết tiếp “Bài  không tên cuối cùng tiếp nối” như một chấp nhận sự trở về. Sau đó có “Đời Đá Vàng” được Khánh Hà trình bày làm xao xuyến tâm hồn người nghe nhạc, là một cái nhìn triết lý mới của Vũ Thành An. Bài “Tình Xưa Gái Huế” nghe nhẹ nhàng không phải là những ray rứt, trách cứ như ngày nào . Giới thưởng ngoạn đang trong thời kỳ hấp thụ dòng nhạc mới này của ông, thì bỗng dưng ông tuyên bố ông không sáng tác Nhạc Tình nữa, mà chuyển hướng qua con đường sáng tác Nhạc Thánh Ca.

Thật là một bất ngờ, đối với giới ái mộ ông, có thể là nỗi thất vọng xen lẫn với những bàng hoàng tiếc nuối. Phải chăng sự đổi thay này xuất phát từ mười năm trong trại cải tạo chăng ? Chắc hẳn mười năm là một thời gian dài, với rất nhiều thời gian để ông suy tư chuyển hướng !?

Tác phẩm “Những bài không tên

Sáng tác của Vũ Thành An có khoảng 40 bài, được đánh số không theo thứ tự thời gian, trong đó một số bài mang tên khác. Một vài Bài không tên khác không đánh số như Bài không tên cuối cùngBài không tên cuối cùng tiếp nối

Xin được giới thiệu các sáng tác của ông qua những câu đầu trong ca khúc :

– Bài không tên số 1 : Xin đời sống cho tôi mượn tiếng / Xin cho cơn mê thêm dài một chuyến…

– Bài không tên số 2 ; Lòng người như lá úa, trong cơn mưa chiều, nhiều cơn gió xoay / xoay trong hồn, và cơn đau này vẫn còn đâỵ…

– Bài không tên số 3 : Yêu nhau cho nhau nụ cười, thương nhau cho nhau cuộc đời / Mà đời đâu biết đợi, để tình nhân kết đôi…

– Bài không tên số 4 : Khóc cho vơi đi những nhục hình, nói cho quên đi những tội tình / Đời con gái cũng cần dĩ vãng, mà em tôi chỉ còn tương lai…

– Bài không tên số 5 : Quấn quít vân vê tà áo, run run đôi môi mở chào / Tiếng nói thơ dại ngày đó, bây giờ mộng đời bay cao…

– Bài không tên số 6 : Đêm nay gió xôn xao, ngoài kia đã vang lời mưa chào / Chờ mộng ấp hơi nồng, tình lấp cho đầy hư không… (có lời 2).

– Bài không tên số 7 : Một làn khói trắng, ru đời vào quên lãng, nâng sầu thành hơi ấm, / hơ dịu tình đau… (lời 2 là Bài không tên trở lại số 7)

– Bài không tên số 8 : Chiều thơm, du hồn người bềnh bồng / Chiều không, im gọi người đợi mong…

– Bài không tên số 9 : Ngày đến mang tin buồn. Thời gian theo về nguồn / Giọt nắng loe trong đầu. Bàn tay trơ đốt khâu…

Những Bài không tên lên đến số 37 rồi các số 40, 41, 42 và 50.

Những bài có tên :

Anh biến mất thôi – Biển vang lời mẹ nhắn – Cám ơn – Cánh chim xa vời – Cháy bỏng tình cố hương – Chị ơi – Đêm say – Đêm vàng trăng úa – Đừng yêu tôi – Em đến thăm anh đêm 30 – Hai mươi năm làm tuổi trẻ – Hạt sầu – Hồn lạnh nắng phai – Lời tình buồn – Một lần nào cho tôi gặp lại em – Nếu tôi còn được yêu – Ngày mưa – Nhân bản 6 – Sầu khúc – Thân cỏ hoa – Tình đã xa – Tình khúc thứ nhất – Tuổi đá vàng – Trong tay nhau – Xa lạ – Xin cám ơn chàng những đêm không ngủ v.v…

Một sáng tác nổi tiếng của Vũ Thành An :

Mục lục : MỘT THỜI SÀI GÒN

https://cafevannghe.wordpress.com

1-    NGUYỄN VIỆT : nhà văn, nhà báo – Bài viết : Quế Phượng

2-    NHỮNG NGƯỜI VIỆT TRUYỆN MA – Bài viết : Quế Phượng

3-    Nhà văn TRƯƠNG ĐẠM THỦY – Bài viết : Lê Hoàng Nguyễn

4-    TÂM ĐẠM – Dương Trữ La – Bài viết : Trương Đạm Thủy – Hà Cẩm Tâm

5-   Họa sĩ HOÀI NAM – Bài viết : nhiều người

6-    Đạo diễn BÙI SƠN DUÂN – Bài viết : Tổng hợp

7-    Nhà thơ THIÊN HÀ – Bài viết : Quế Phượng

8-    Nhà văn HOÀI ĐIỆP TỬ – Bài viết : Nguyễn Việt

9-    Họa sĩ LƯƠNG TRƯỜNG THỌ – Bài viết : Nguyễn Việt

10-    Nhạc sĩ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG – Bài viết : Nguyễn Việt

11-  Ca nhạc sĩ MIÊN ĐỨC THẮNG – Bài viết : Nguyễn Việt

12-  Nhà văn THANH NAM – Bài viết : Nguyễn Thiếu Nhẫn

13- Nhạc sĩ Y VÂN – Bài viết : Nguyễn Việt

14-  Thi sĩ ĐINH HÙNG – Bài viết : Nguyễn Việt

15-  Nhạc sĩ ANH VIỆT THU – Bài viết : Quế Phượng

16-  Nhà thơ KIM TUẤN – Bài viết : Trần Yên Hòa

17-  Nhạc sĩ NGÔ THỤY MIÊN – Bài viết : Nguyễn Lê Quan

18-  Đạo diễn HOÀNG ANH TUẤN – Bài viết : Nguyễn Việt

19-  Nhạc sĩ VŨ THÀNH AN – Bài viết : Quế Phượng

Đạo diễn HOÀNG ANH TUẤN

HOÀNG ANH TUẤN

NHÀ THƠ HAY ĐẠO DIỄN ?

“Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội”

bài thơ của người xa xứ

– Bài : Nguyễn Việt

Nhà thơ kiêm đạo diễn điện ảnh Hoàng Anh Tuấn sinh ngày 7/5/1932 tại Hà Nội. Ông làm thơ từ rất sớm, năm 14 tuổi đã có bài thơ đầu tiên đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy của Nhà xuất bản Tân Dân, Hà Nội. Năm 16 tuổi, được gia đình cho đi du học tại Pháp. Học được một năm tại Nice, nhà thơ Hoàng Anh Tuấn gặp được nhà thơ Nguyên Sa tức Trần Bích Lan, rủ ông cùng đi Paris. Và tại đây ông học ở IDHEC, một trường điện ảnh khá nổi tiếng của “kinh đô ánh sáng” thời đó.

Ông học về điện ảnhPháp và trở về Việt Nam, tham gia vào giới làm phim ở miền Nam Việt Nam trước 1975 với các bộ phim “Hai chuyến xe hoa”, “Xa Lộ Không Đèn” và “Ngàn Năm Mây Bay”. Hoàng Anh Tuấn cũng là một nhà thơ và tác giả của nhiều vở kịch được trình diễn tại sân khấu miền Nam, trong đó hai vở kịch nổi tiếng nhất của ông là “Hà Nội 48” và “Ly Nước Lọc”.

Vào năm 1958, nhà thơ Hoàng Anh Tuấn đã về Sài Gòn sinh sống, làm đạo diễn cho hãng Alphafilm của Thái Thúc Nha nằm trên đường Hiền Vương. Nhưng chỉ ít lâu, ông chuyển sang nghề làm báo. Cộng tác với báo Hiện Đại, Đồng Nai và Tiền Tuyến. Chính chủ báo Đồng Nai Huỳnh Thành Vị và ký giả Huy Vân tổng thư ký báo Tiền Tuyến (một báo của quân đội) đã truyền cho nhà thơ Hoàng Anh Tuấn có tay nghề làm và viết báo chuyên nghiệp.

Khi vào quân đội, từ năm 1965 đến năm 1974, nhà thơ kiêm đạo diễn Hoàng Anh Tuấn được phân bổ về làm quản đốc Đài Phát Thanh Đà Lạt. Cũng trong thời gian này ông còn làm đạo diễn các phim như “Xa Lộ Không Đèn”, “Nghìn Năm Mây Bay”.

Sau ngày 30/4/1975, vào năm 1979 nhà thơ đạo diễn Hoàng Anh Tuấn được chính phủ Pháp bảo lãnh trong diện gia đình có hai quốc tịch, để ông và gia đình tái ngộ thủ đô Paris sau hai mươi năm. Ở tại Pháp trong một thời gian, rồi qua sự bảo lãnh của con là Hoàng Hôn Thắm, ông và gia đình sang Mỹ vào năm 1981, định cư tại tiểu bang Ohio, sau đó về Tiểu Sài Gòn thuộc quận Cam tham gia sinh hoạt báo chí rồi lại đến Washington DC làm thư ký tòa soạn cho tờ “Văn Nghệ Tiền Phong” với Nguyễn Thanh Hoàng. Cuối cùng, Hoàng Anh Tuấn “tự hưu trí” tại San Jose.

Tập thơ “Yêu Em, Hà Nội và Những Bài Thơ Khác” được xuất bản phát hành vào năm 2004, là công trình sưu tập của Thu Thuyền, thứ nữ (sau Hoàng Hôn Thắm) của nhà thơ Hoàng Anh Tuấn. Cùng bạn bè bè bỏ nhiều công sưu tập lại những bài thơ của ông đã thất lạc. Trước khi chết trong nhà dưỡng lão tại San Jose, ngoài nguyện vọng sẽ sưu tập lại đầy đủ những bài thơ thất lạc, nhà thơ Hoàng Anh Tuấn còn mong các con ông sẽ in được một tập kịch với tài liệu hiện nằm rải rác trong các thư viện tại Mỹ qua những chồng báo Việt cũ. Ngày 1/9/2006, nhà thơ đạo diễn Hoàng Anh Tuấn qua đời lúc 7 giờ 35, hưởng thọ 75 tuổi.

Trong các bài thơ tình lãng mạn của nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, đa số bài ông làm về Hà Nội và nổi bật nhất là bài “Mưa Sài Gòn mưa Hà Nội” được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc, được giới SVHS và người thưởng ngoạn âm nhạc hâm mộ từ đó đến nay vẫn chưa hề phai nhạt.

Một nghệ sĩ đích thực từ tác phẩm đến cuộc đời

Văn Quang một nhà văn nổi tiếng, một thời từng là Quản đốc Đài Phát Thanh Quân Đội trước năm 1975, một người rất thân quen với nhà thơ kiêm đạo diễn Hoàng Anh Tuấn. Sau khi nghe ông qua đời tại San Jose đã viết một bài “Vĩnh biệt nhà thơ Hoàng Anh Tuấn” như sau :

Đã có một thời Hoàng Anh Tuấn là hàng xóm của tôi ở cư xá Chu Mạnh Trinh, bên ngã tư Phú Nhuận của Sài Gòn. Khu cư xá từng có khá nhiều văn nghệ sĩ thời đó “xây tổ ấm”. Gia đình anh chị Dương Thiệu Tước – Minh Trang- Quỳnh Giao, gia đình ông chú Nguyễn Mạnh Côn của tôi, gia đình chị Thái Hằng – Phạm Duy, danh ca Anh Ngọc, nhà văn Duyên Anh, nhà báo Linh Lan, ông chủ báo Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong Hồ Anh… Lâu quá rồi, tôi không thể nhớ hết. Nhưng điểm lại số người đó, nay không còn được một nửa. Lại thêm một người nữa vừa ra đi: Hoàng Anh Tuấn ở San Jose.

Không ngạc nhiên nhưng…

Cái tin anh mất, thật sự không làm tôi ngạc nhiên. Bởi đã từ lâu, khi Phạm Huấn còn nằm tại “viện dưỡng lão”, bên cạnh đó có Hoàng Anh Tuấn. Tôi vẫn thường được bạn bè ở San Jose cho biết tin tức về hai ông bạn này. Có ông tường thuật từng chi tiết.

Nào là hồi này Tuấn khỏe lắm, bụng to như cái thùng, vẫn cười như trẻ thơ. Tôi cũng nhận được vài tấm ảnh của Tuấn, khuôn mặt thì vẫn vậy, nhưng thân hình thì đẫy đà, khác nhiều so với ngày nào. Khi Phạm Huấn mất, tôi chắc Tuấn buồn lắm, không còn bạn bên mình. Trong thâm tâm tôi, vẫn cứ nghĩ, một ngày nào đó Tuấn cũng sẽ bỏ anh em, chưa biết là một ngày nào gần đây thôi.

Vì thế tôi không ngạc nhiên khi nhận được cùng một lúc gần 10 cái e mail của các bạn ở Mỹ báo tin Tuấn đã ra đi vào 7:30 sáng (giờ Cali) ngày thứ  Sáu, 01 tháng 9 năm 2006. Không ngạc nhiên, nhưng nỗi ngẩn ngơ thì vẫn cứ tràn đầy. Hình ảnh Hoàng Anh Tuấn hiện lên quanh đây, hơn 30 năm qua rồi, xa nhau biền biệt, mà Tuấn cứ như ở trước mặt. Cái dáng vẻ hồn nhiên, vô tư của anh rõ mồn một. Con người lúc nào cũng như “cuộc đời chẳng có gì phải lo nghĩ, chẳng có gì phải tính toán”. Anh phơi phới trong bất kỳ trường hợp nào. Suốt những năm tháng ở gần anh, dường như chẳng bao giờ thấy anh buồn. Thế mà thơ của anh lại hay, lại thấm, chữ nghĩa mới và sâu sắc mới lạ. Đó là một người bạn đối với tôi rất đặc biệt.

Toàn những nghề tay trái

Hoàng Anh Tuấn có rất nhiều “nghề”. Làm đạo diễn, là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, là quản đốc đài phát thanh Đà Lạt. Nhưng trong con người anh không có một tí công chức nào. Thông thường, bạn bè nhìn anh như một nhà đạo diễn. Không có tính “chuyên nghiệp” như Hoàng Vĩnh Lộc, Lê Hoàng Hoa… Anh là một đạo diễn rất “tài tử”, tuy đã từng tốt nghiệp tại một trường Điện Ảnh ở Pháp ngay trong thời kỳ còn là sinh viên ở Paris. Nhưng ai mời mà thấy “hợp gu” thì đạo diễn… chơi cho vui. Tôi thấy hình như cái gì anh cũng làm chơi cho vui. Thích thì làm, không thích thì bỏ đi, giản dị có thế.

Cả cuộc sống cũng vậy. Ở anh, con người nghệ sĩ chân thật, hồn nhiên bao trùm lên mọi thứ. Anh chơi tất với mọi người, ngồi quán cóc, uống ly cà phê hay ăn bữa cơm Bà Cả Đọi cũng giống y chang như ngồi ở Caravel phỏng vấn những danh ca nổi danh thế giới như Dalida hoặc ngồi dancing ăn cánh gà chiên bơ, đấu láo với mấy em “ca-nhe”, bất kể hạng nhất hay về già. Ngay cả trong cách ăn mặc, Tuấn cũng chẳng cần chú ý, cứ “đại khái chủ nghĩa”, không “lên khuôn đóng thùng” ngay cả ở những nơi cần long trọng. Tiếng cười của anh nhiều hơn lời nói. Vẻ “tỉnh tỉnh” của anh làm nên một phong cách riêng. Nhìn thấy anh là nhìn thấy ngay “cuộc đời có cái quái gì quan trọng đâu”. Tôi chắc bạn bè rất thích Hoàng Anh Tuấn vì lẽ đó.

Nhà đạo diễn hiền lành nhất thế giới

Tôi nhớ khi anh đạo diễn cuốn phim “Ngàn Năm Mây Bay” phóng tác theo tiểu thuyết của tôi, do hãng phim Thái Lai mời. Anh gặp tôi ở đầu ngõ, hỏi :

– Lê Quỳnh đóng với Bích Sơn, được không mày ?

Hai tài tử này vào khoảng thời gian đó là nổi nhất rồi. Tôi nói tùy mày và anh Thái (nhà sản xuất phim, cũng là một nhà sản xuất tài tử nốt, khác với Mỹ Vân, Alpha). Hai ông “nghề nghiệp tài tử” này thích thì làm, chưa biết cuốn phim đi đến đâu. Nhưng quả thật là tôi cũng thấy khoái cái kiểu “vui chơi theo mùa”  của mấy ông bạn. Ông Thái trả bản quyền bao nhiêu tôi không còn nhớ, nhưng chắc chắn không phải là “có một món tiến kha khá” như ông Quốc Phong khi làm phim “Chân Trời Tím” cũng phóng tác từ tiểu thuyết của tôi.

Một lần Tuấn kéo tôi lên xem đóng phim. Phim trường là căn nhà của ông giám đốc sản xuất Thái Lai phim, nằm cuối đường Hồng Thập Tự. Căn nhà mặt tiền đường, không rộng hơn những căn nhà buôn bán tạp hóa ở dẫy phố này. Kê cái comptoir ở phía trong, đèn đuốc, máy quay lỉnh kỉnh xung quanh, cứ như cửa hàng bán phụ tùng máy móc. Bữa đó không có Lê Quỳnh, chỉ có hai chị em Bích Sơn và Bích Thủy. Nhà đạo diễn Hoàng Anh Tuấn râu ria xồm xoàm, nhưng dáng điệu lại rất nhàn nhã, chứ không quát tháo, chỉ chỏ tơi bời hoa lá như những đạo diễn mà tôi đã từng nhìn thấy. Lâu lâu lại thấy nhà đạo diễn cho máy travelling bằng cách kéo cái camera di chuyển trên mặt sành gạch, chẳng cần đường ray. Lúc nào cũng thấy Tuấn nhỏ nhẹ :

– Ấy ấy, làm thế này em ơi. Em làm ơn  đứng sát vào một tí. Đừng cười nhiều, cái miệng rộng quá, mím chi thôi. Làm xem nào. Máy ! Cắt !…

Họ làm việc với nhau như “anh em trong nhà”. Ấy thế mà cuốn phim cũng hoàn thành, tôi chẳng biết nó được hoàn thành trong bao lâu. Nhưng chắc chắn không quá 2 tháng vì nhà sản xuất tài tử này làm quá 2 tháng thì không còn tiền trả nhân công. Rồi cũng đem ra rạp chiếu đàng hoàng, lời lỗ bao nhiêu chẳng biết. Nếu tôi nhớ không lầm thì ông Thái Lai chỉ sản xuất có một cuốn phim rồi thôi luôn. Sau này ông  tái bản lại cuốn tiểu thuyết “Chân Trời Tím” mà tôi cũng chẳng hề hay biết. Đến khi sách in xong ông mới mang đến cho tôi một cuốn, bản quyền được trả bằng một chầu ăn uống là xong.

Còn một kỷ niệm đáng nhớ là Bà cụ Hoài Bắc (chúng tôi vẫn thường gọi bà mẹ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và nữ ca sĩ Thái Thanh bằng cái tên thân mật ấy) thỉnh thoảng lại nhắc về cuốn phim, nhưng cụ gọi là phim “Ngàn năm máy bay” vì trong phim có cảnh máy bay trực thăng đổ quân xuống một vùng  quê.

Sau đó, có một lần khác, tôi được xem Hoàng Anh Tuấn đạo diễn phim “Hai chuyến xe hoa”. Lần này phim trường ngay tại nhà đạo diễn ở cư xá Chu Mạnh Trinh. Tôi chỉ xem được một đoạn có nghệ sĩ cải lương Thành Được (cùng với nữ nghệ sĩ Thanh Nga) mở cánh cửa buồng nhà ông bà Hoàng Anh Tuấn, đi ra đi vô đến năm bảy lần. Nhưng cuốn phim được nhiều người nhắc đến nhất có lẽ là “Xa Lộ Không Đèn”. Tuấn không long trọng mời bạn bè mà chỉ hỏi giản dị :

– Mày có đi xem không, tao đưa vé. – Tính cách anh là như thế.

Bài thơ bất hủ

Lâu lâu lại thấy xuất hiện một bài thơ của Hoàng Anh Tuấn đăng trên báo khiến anh em sững sờ. Vì thơ Tuấn hay quá. Có thể nói bài nào cũng hay. Đã có người so sánh anh với Nguyên Sa, Đinh Hùng, nhưng với tôi, thơ Tuấn có cả tính chất Nguyên Sa, Đinh Hùng và rất Hoàng Anh Tuấn. Chữ nghĩa mới, không trau chuốt cầu kỳ, nhưng lại rất rung động, đi thẳng vào cội nguồn trái tim người thưởng ngoạn. Cái cung bậc sâu thẳm trong tình yêu được đánh thức dậy đến bàng hoàng.

Đã lâu lắm tôi không được đọc thơ Hoàng Anh Tuấn, mới đây, tôi nhận được tập thơ của anh gồm :18 bài thơ Hà Nội và 47 bài Ngoại tập (Yêu em, Hà Nội và những bài thơ khác). Đọc thích thú, say sưa. Vẫn như những ngày nào khi bất ngờ thơ anh xuất hiện trên báo hoặc trong số bạn bè. Lần nào cũng là một  cú “chơi ngang” của Hoàng Anh Tuấn. Tôi không yêu bài nào hơn bài nào. Nhưng trong những cái thư điện tử của các bạn tôi khi báo tin anh đã ra đi, có nhiều người đã nhắc lại những bài thơ mình yêu thích. …

Đến đây tôi đã có phần đồng ý với nhận định của anh Nguyễn Xuân Thiệp :
“lục bát của Hoàng Anh Tuấn mới thể hiện hết những vẻ đẹp cấu trúc ngôn từ và cảm xúc”. Nhưng xem lại những bài khác của Tuấn, tôi lại phân vân, vì ở thể loại nào nhà thơ cũng mang đến cho tôi những cảm xúc mạnh mẽ vì chính trong tâm hồn tác giả cũng đã dông bão…

Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội”

thơ Hoàng Anh Tuấn

Mưa hoàng hôn

Trên thành phố buồn gió heo may vào hồn

Thoảng hương tóc em ngày qua

Ôi người em Hồ Gươm về

nương chiều tà

Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hoà

Thương màu áo ngà

Thương mắt kiêu sa

Hiền ngoan thiết tha

Thơ ngây đôi má nhung hường

Hà thành trước kia thường thường

Về cùng lối đường

Khi mưa buốt, lạnh mình ướt

Chung nón dìu bước

Thơm phố phường

Mưa ngày nay

Như lệ khóc phần đất quê hương tù đày

Em ngoài ấy còn nhớ hẹn xưa miệt mài

Giăng mắc heo may

Sầu rơi ướt vai

Hồn quê tê tái

Mưa mùa Thu

Năm cửa ô sầu hắt hiu trong ngục tù

Tủi thân nhớ bao ngày qua

Mưa ngùi thương nhòa trên giòng sông Hồng hà

Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hòa

Đau lòng Tháp Rùa

Thê Húc bơ vơ

Thành đô xác xơ

Cô liêu trong nỗi u hoài

Lòng người sống lạc loài

Thê lương mềm vai gầy

Bao oan trái

Dâng tê tái

Cho kiếp người héo mòn tháng ngày

Mưa còn rơi,

Ta còn ước rồi nắng yêu thương về đời

Vang trời tiếng cười

ấm niềm tin hồn người

Mây trắng vui tươi

Tình quê ngút khơi

Tự do phơi phới

Nhạc sĩ NGÔ THỤY MIÊN

NGƯỜI NHẠC SĨ TÀI HOA

Quế Phượng

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên tên thật là Ngô Quang Bình, sinh 26/9/1948 tại Hải Phòng, là con thứ hai trong một gia đình có bảy người con. Ông lớn lên với sách vở, thơ văn, vì gia đình có mở một nhà sách tên Thanh Bình ngay thành phố Cảng, và sau này mở trên đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) Sài Gòn, trước trường tiểu học Pháp Aurore.

Sau khi gia đình vào Sài Gòn, Ngô Thụy Miên theo học và tốt nghiệp về hai bộ môn vĩ cầm và nhạc pháp do các nhạc sĩ Hùng Lân và Đỗ Thế Phiệt giảng dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc vào năm 1965, tuy nhiên ông bắt đầu viết nhạc từ năm 1963.

Tình khúc đầu tiên mà nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sáng tác là bài “Chiều nay không có em” (1965), được giới SVHS thời đó hưởng ứng rất nồng nhiệt. Vài năm sau, ông cho xuất bản một tập nhạc đầu tay lấy tựa “Tình Khúc Đông Quân” in ronéo phát hành tại Sài Gòn (1969). Đông Quân chính là bút hiệu đầu đời của ông trước khi đổi tên Ngô Thụy Miên như bây giờ.

Trong tuyển tập “Tình Khúc Đông Quân”, Ngô Thụy Miên đã ghi lời tâm bút thay cho lời ngỏ trên trang đầu, là những tình khúc viết cho bạn bè và tình yêu, trong đó gồm 12 bài tình ca gồm : Giáng ngọc, Mùa thu này cho em (sau đổi Mùa thu cho em), Gọi nắng (tức Giọt nắng hồng), Dấu vết tình yêu (là Dấu tình sầu), Cho những mùa thu (là Thu trong mắt em), Tình khúc tháng 6, Nhạt Tình (là Dấu vết tình yêu), Mây hồng (là Tuổi mây hồng), Gọi tên em, Ái xuân, Mùa thu về trong mắt em (là Mắt thu) và Ngày mai em đi. Ca khúc mới nhất của Ngô Thụy Miên có tên “Một lần là mãi mãi”.

Sau những sáng tác từ năm 1963, các nhạc phẩm của Ngô Thụy Miên đến với công chúng vào năm 1965, sau đó ông có những nhạc phẩm phổ thơ của thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan, qua các bài Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tuổi 13…

Còn trong thời gian theo học đại học, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã nhiều lần trình diễn và phổ biến những sáng tác của ông tại các hội quán văn nghệ, các trung tâm văn hóa và giảng đường đại học. Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện cuốn băng nhạc đầu tay “Tình Ca Ngô Thụy Miên” gồm 17 tình khúc được viết trong khoảng thời gian 1965 – 1972. .

Sau ngày 30/4/75 đến tháng 10/78, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đến đảo Pulau Bidong, Mã Lai, và ra mắt một sáng tác viết từ năm 1975, là bài “Em còn nhớ mùa xuân” gởi tặng riêng người yêu là Đoàn Thanh Vân, là con gái của nam tài tử Đoàn Châu Mậu (trong một gia đình gồm những người hoạt động về điện ảnh và âm nhạc như Đoàn Châu Mậu bố của Đoàn Châu Nhi, Đoàn Châu Bào, Đoàn Thanh Sâm, Đoàn Thanh Tuyền một thời cùng với nhạc sĩ Đức Huy. Có sự kết hợp thành cặp song ca Đức Huy – Đoàn Thanh Tuyền nổi tiếng trong những sinh hoạt nhạc trẻ vào đầu thập niên 70).

Tình yêu giữa Ngô Thụy Miên và Đoàn Thanh Vân bắt đầu khi cả hai gặp gỡ nhau tại trường Quốc Gia Âm Nhạc, bị ngắt quãng một thời gian để sau đó lại tái hợp vào năm 1973 rồi đi đến quyết định thành hôn. Nhưng ngày 30/4/75 đến như một sự chia cách, khiến dự định thành hôn của hai người đã không thành, vì Đoàn Thanh Vân theo gia đình ra đi trong những ngày đầu tiên, trong khi Ngô Thụy Miên ở lại Sài Gòn. Chính niềm thương nhớ đó đã tạo thành cảm xúc cho ông sáng tác ra ca khúc “Em còn nhớ mùa xuân”.

Sau đó nhạc sĩ Ngô Thụy Miên được bảo lãnh sang Montréal, Canada, vào tháng Tư năm 1979. Đoàn Thanh Vân từ San Diego, được tin người yêu đã đến Canada, đã bay sang nối kết lại cuộc tình. Cùng năm 1979, cả hai qua sống tại San Diego rồi dời lên Orange County. Năm 1980, Ngô Thụy Miên bắt đầu đi làm về ngành điện toán cho trường UCLA, tại thành phố Olympia thuộc tiểu bang Washington.

Trong thập niên 1990, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên tiếp tục sáng tác với những ca khúc mới như Cần thiết, Em về mùa thu, Trong nỗi nhớ muộn màng… và nhất là Riêng một góc trời (1997). Năm 2000, là bài “Mưa trên cuộc tình tôi” được khán thính giả đón nhận một cách đặc biệt. Tổng cộng đến nay, Ngô Thụy Miên sáng tác được trên 70 ca khúc, với khoảng 20 bài từ trong nước.

Có những nhận xét từ mọi người khi nói rằng nhạc Ngô Thụy Miên chứa đựng đầy chất lãng mạn, chịu ảnh hưởng từ thơ Nguyên Sa. Có người biện giải, những suy nghĩ đó chỉ đúng phần nào khi ông phổ thơ Nguyên Sa. Còn những nhạc phẩm khác, nhạc Ngô Thụy Miên vẫn mang đậm chất tình ca riêng biệt như những nhạc phẩm đầu tay trong tập nhạc “Tình Khúc Đông Quân”. Vì nhạc của Ngô Thụy Miên nếu đứng riêng biệt cũng không kém chất lãng mạn, trữ tình, vẫn có sắc thái độc đáo, như nhạc phẩm “Mùa thu cho em” sau này lên hàng top hit.

Tuy nhiên không ai có thể phủ nhận, khi Ngô Thụy Miên phổ thơ Nguyên Sa thì sự giao duyên này là một cuộc giao hưởng trường cửu, như các ca khúc “Paris có gì lạ không em”, “Tuổi 13”, “Áo lụa Hà Đông”, “Nắng Paris nắng Sài Gòn”, “Tình khúc tháng 6”, “Tháng 6 trời mưa”… Sự giao hưởng này làm thăng hoa sự tuyệt tác từ thơ qua nhạc và ngược lại. Để mọi người lúc đó mới chợt nhận ra, hiện hữu có một nhà thơ tên Nguyên Sa hay một nhạc sĩ tên Ngô Thụy Miên đang thăng hoa trong đời sống văn hóa nghệ thuật.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên thường tâm sự : “Tôi không viết nhạc để sống, nhưng sống để viết nhạc”, cho thấy ông là người sống vì nghệ thuật hơn là nô lệ cho đồng tiền bằng những sáng tác tác phẩm của mình, vì ông còn có một nghề khác là chuyên viên của ngành điện toán. Cho đến nay Ngô Thụy Miên chỉ đến với âm nhạc bằng những cảm xúc riêng tư, không hề có mục đích thương mại, do đó những tình khúc của ông đã thoát ra sự gò bó khi dùng âm nhạc và lời ca làm sinh kế như nhiều nhạc sĩ cùng thời.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên muốn viết cho chính ông, bằng những cảm xúc thật của mình, “tôi không viết cho mọi người”. Tuy chủ trương không viết cho mọi người, nhưng dòng nhạc của ông đã nói lên được tâm sự của những ai từng có những rung động trong tình yêu.

Và nhạc sĩ Ngô Thụy Miên còn cho biết, sáng tác của ông không hề nhắm vào một giọng ca nào theo kiểu “đo ni đóng giày” như một số nhạc sĩ đã thể hiện, như một Mạnh Phát viết cho Thanh Tuyền, Phương Dung, một Phạm Đình Chương viết cho Thái Thanh, một Tâm Anh viết cho Phương Hồng Quế v.v… vì vậy Ngô Thụy Miên cũng từng nói : “Như bài “Riêng một góc trời”, tôi đâu có nghĩ là Tuấn Ngọc hát hay như vậy đâu, thế mà ông ấy hát ra nó lại thành công ! Tuấn Ngọc hát bài đó tới lắm.”

Những nhạc phẩm Ngô Thụy Miên

phổ từ thơ Nguyên Sa :

Áo lụa Hà Đông

http://www.youtube.com/watch?v=RtwFHe4boVI

Niệm khúc cuối

http://www.youtube.com/watch?v=vnqHdZxJC8Q

LỜI : ÁO LỤA HÀ ĐÔNG

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn / Mà mùa Thu dài lắm ở chung quanh

Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung / Bay vội vã vào trong hồn mở cửa / Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết / Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng gì đâu / Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau? / Để anh gọi tiếng thở buồn vọng laị ….

Em ở đâu, hỡi mùa Thu tóc ngắn? / Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông / Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

LỜI : THÁNG SÁU TRỜI MƯA

Tháng sáu trời mưa trời mưa không ngớt / Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa / Anh lạy trời mưa phong tỏa đường về / Và đêm ơi xin cứ dài vô tận / Đôi mắt em anh xin đừng lo ngại / Mười ngón tay đừng tà áo mân mê

Đừng hỏi anh rằng có phải đêm đã khuya / Đừng hỏi anh rằng có phải đêm đã khuya / Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng / Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa Xuân / Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân / Vì anh gọi tên em là nhan sắc / Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc / Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi / Anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai / Anh sẽ nhớ suốt đời mưa tháng sáu em ơi

Tháng sáu trời mưa em có nghe mưa xuống / Trời không mưa em có lạy trời mưa / Anh vẫn xin mưa phong tỏa đường về / Anh vẫn xin mưa phong tỏa đường em .

Nhà thơ KIM TUẤN (1940 – 2003)

Từ “Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân”

đến nhạc phẩm

“Anh Cho Em Mùa Xuân”

Trần Yên Hòa

Hằng năm, nhân dịp Tết đến, Xuân về, ta lại nghe những bản nhạc Xuân rộn ràng trên các đài phát thanh, trên các hệ thống truyền hình, trên DVD, CD bày bán khắp mọi nơi. Trong đó, có thể ta được nghe nhiều nhất là bản nhạc Anh Cho Em Mùa Xuân, nhạc Nguyễn Hiền, phổ từ bài thơ Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân của Kim Tuấn.

Chúng ta là những người nghe nhạc, rất buồn lòng khi những người giới thiệu chương trình lại hay quên tên tác giả bài thơ, chỉ nghe được tên người nhạc sĩ phổ bài thơ đó là Nguyễn Hiền, cho nên có nhiều độc giả vô tình, chỉ biết đó là bản nhạc của Nguyễn Hiền, mà quên đi, hay không được nghe giới thiệu, đến nhà thơ Kim Tuấn, một nhà thơ miền Nam trước 1975, có thơ đăng rất nhiều trên các tạp chí văn học, và đã nổi tiếng với hai bài thơ được 2 nhạc sĩ lúc đó phổ nhạc và cả hai đều nổi tiếng theo bản nhạc phổ thơ của mình, đó là Nguyễn Hiền với Anh Cho Em Mùa Xuân và Y Vân với Những Bước Chân Âm Thầm đều phổ từ thơ Kim Tuấn.

Tôi xin giới thiệu vài nét về nhà thơ Kim Tuấn theo một bài viết của Hà Đình Nguyên (báo Thanh niên đang xuất bản tại Sài Gòn) :

“Kim Tuấn tên thật là Vĩnh Khuê, sinh năm 1940 tại Huế – hậu duệ đời thứ 5 của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm.

Trải qua thời thơ ấu ở Phan Thiết rồi vào Sài Gòn vừa đi làm vừa đi học, làm thơ từ đầu thập niên 1960 và là thi sĩ có thơ được phổ nhạc nhiều nhất trước 1975 với 17 bài.

Về bài thơ Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân, Kim Tuấn cho biết :

– “Tôi làm bài thơ này để nhớ về quê mẹ : Hà Tĩnh – vùng đất sỏi đá nhiều hơn cơm gạo với mơ ước “Đất mẹ gầy có lúa” – có lúa chứ không phải cỏ lúa như nhiều người vẫn hát nhầm (cỏ lúa thì phải nhổ đi chứ ai lại mơ ước có thêm!). Bài thơ này tôi sáng tác vào đầu thập niên 1960, sau đó in trong tập Ngàn Thương (chung với Định Giang) và được nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ thành ca khúc. Đã có nhiều ca sĩ thể hiện bài hát này nhưng tôi thích giọng ca của Hà Thanh hơn cả và điều làm tôi ray rứt là cho tới nay vẫn chưa nói được với nữ ca sĩ này một lời cám ơn…”

Kim Tuấn đã thổ lộ bài này như vậy trong một cuộc phỏng vấn vào trung tuần tháng 11/2002 tại văn phòng Trường dạy tiếng Anh và dạy nghề Thăng Long. Kim Tuấn đột ngột qua đời vào lúc 1 giờ ngày 11/9/2003 bởi căn bệnh nhồi máu cơ tim.

Sau đây là một đoạn của bài thơ :

…Anh cho em mùa xuân.

Mùa xuân này tất cả.

Lộc non vừa trẩy lá.

Thơ còn thương cõi đời.

Con chim mừng ríu rít.

Vui khói chiều chơi vơi.

Đất mẹ gầy có lúa.

Đồng ta xanh mấy mùa.

Con trâu từ đồng cỏ.

Khua mõ về rộn khua.

Ngoài đê diều thẳng cánh.

Trong xóm vang chuông chùa.

Chiều in vào bóng núi.

Câu hát hò vẳng đưa.

Tóc mẹ già mây bạc.

Trăng chờ trong liếp dừa.

Con sông dài mấy nhánh.

Cát trắng bờ quê xưa…”.

Trường hợp

nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ thơ Kim Tuấn

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã kể lại trường hợp ông đã phổ bài thơ Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân của Kim Tuấn như sau :

– “Đó là ngày mùng 5 Tết 1962, tôi đi làm trong một không gian vẫn còn hơi hướm tết. Đến sở, trên bàn làm việc của tôi có một tập thơ còn thơm mùi giấy mới. Đó là tập 40 bài thơ của các nhà thơ Vương Đức Lệ, Định Giang, Kim Tuấn và một người nữa tôi không nhớ tên. Tôi lần giở đọc qua từng bài và bắt gặp bài thơ Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân.

“Đó là một bài thơ ngũ ngôn đầy ắp hình tượng và rất giàu cảm xúc. Vậy là chỉ trong buổi sáng hôm đó tôi phổ nhạc xong bài thơ. Điều buồn cười là tôi lấy luôn 3 câu thơ đầu tiên phổ thành 1 câu nhạc (Anh cho em mùa xuân, nụ hoa vàng mới nở, chiều đông nào nhung nhớ…) thấy rất “ngọt” nên cứ thế mà phát triển bài thơ thành ca khúc. Tôi lấy câu thơ đầu tiên để đặt tên cho ca khúc này. Sáng hôm sau có một nhà thơ còn rất trẻ xưng tên là Kim Tuấn đến gặp tôi, hỏi : “Có gửi cho nhạc sĩ một tập thơ, không biết đã nhận chưa ?”. Tôi trả lời : “Nhận được rồi và riêng bài thơ Nụ Hoa Vàng Ngày Xuân của Kim Tuấn thì tôi đã phổ thành ca khúc”.

“Kim Tuấn rất ngạc nhiên và sau khi nghe tôi hát thì anh rất vui. Tình cờ ông Giám đốc Hãng đĩa Asia cũng có mặt. Ông ấy lấy bài hát giao cho ca sĩ Lệ Thanh thâu đĩa và sau đó hát trên đài phát thanh. Từ đó, tôi và Kim Tuấn đã có một mối quan hệ – mối duyên văn nghệ rất tốt đẹp… 3 ngày trước khi tôi lên máy bay sang định cư ở Mỹ (1988), Kim Tuấn rủ tôi đi uống cà phê, chúng tôi đã chia tay nhau thật vui vẻ. Ai ngờ, đó là lần cuối cùng của chúng tôi…”.

oOo

Nhạc sĩ Nguyễn Hiền

Sinh năm 1927, ông là một trong những nhạc sĩ sinh trưởng và thành danh ở Hà Nội cùng một thời với Hoàng Trọng, Hoàng Dương, Văn Phụng, Nguyễn Văn Khánh…

Ca khúc đầu tay của ông là Người Em Nhỏ (phổ thơ Nguyễn Thiệu Giang) để dành tặng cho người yêu – người vợ cho đến hết đời của ông là Nguyễn Thị An (cháu gọi nhà thơ Tú Mỡ là chú). Hai ông bà chỉ biết mặt nhau trước ngày cưới 2 tuần bởi mối lương duyên của họ là do cha mẹ đôi bên (vốn là bạn bè) đính ước. Đến cuối đời, bà An vẫn còn nhớ cái thuở ban đầu lưu luyến ấy và ngày cưới của họ: 22/2/1953.

Những nhạc phẩm tiêu biểu của Nguyễn Hiền : Hai mươi câu của tuổi trẻ (thơ Song Hồ), Huyền Trân công chúa, Giã từ thơ ngây, Tìm đâu, Về bến xưa (lời Thiện Huấn), Buồn ga nhỏ (viết chung với Minh Kỳ), Hoa bướm ngày xưa (lời Thanh Nam), Lá thư gởi mẹ, Mái tóc dạ hương, Gởi một cánh chim, Tiếng hát học trò, Lá rơi bên thềm, Hồ Than Thở, Hương thề, Ngàn năm mây bay…

Dòng nhạc của Nguyễn Hiền nhẹ nhàng, êm đềm thật gần với lòng người… Ông từ trần ngày 23.12.2005, thọ 79 tuổi.

Trong những bản nhạc của Nguyễn Hiền, có thể nói là bài Anh Cho Em Mùa Xuân được nhiều người biết đến nhất.

Sau đây là lời bản nhạc Anh Cho Em Mùa Xuân, Nguyễn Hiền có sửa lại một số câu :

Anh cho em mùa xuân, nụ hoa vàng mới nở, / chiều đông nào nhung nhớ / Đường lao xao lá đầy, chân bước mòn vĩa phố, / mắt buồn vin ngọn cây

Anh cho em mùa xuân, mùa xuân này tất cả, / lộc non vừa trẩy lá/ Lời thơ thương cõi đời, bầy chim lùa vạt nắng / trong khói chiều chơi vơi,

Đất mẹ đầy cỏ lúa, đồng xanh xa mấy mùa / Ngoài đê diều căng gió, thoảng câu hò đôi lứa…/ Trong xóm vang chuông chùa, trăng sáng soi liếp dừa / Con sông dài mấy nhánh, cát trắng bờ quê xưa

Anh cho em mùa xuân, trẻ nô đùa khắp trời / Niềm yêu đời phơi phới / Bàn tay thơm sữa ngọt, giải đất hiền chim hót, / mái nhà xinh kề nhau…

Anh cho em mùa xuân, đường hoa vào phố nhỏ, / nhạc chan hòa đây đó / Tình yêu non nước này, bài thơ còn xao xuyến / rung nắng vàng ban mai/ Anh cho em mùa xuân / Nhạc thơ tràn muôn lối

Bản nhạc này đã tồn tại từ năm 1962 đến bây giờ, khi mùa xuân đến, mọi nơi, mọi nhà, ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và ở Việt Nam sau năm 1975, đâu đâu cũng vang lên bài hát Anh Cho Em Mùa Xuân, mà theo một số nhà phê bình âm nhạc thì :

– “Ca khúc Anh Cho Em Mùa Xuân (thơ Kim Tuấn, nhạc Nguyễn Hiền) là bản nhạc không thể thiếu. Điệu tango vui tươi, rộn rã. Dù đã ra đời cách đây hơn 50 năm nhưng Anh Cho Em Mùa Xuân vẫn được rất nhiều người ưa thích – kể cả giới trẻ hiện đại.”

Nhà thơ Kim Tuấn,

Tên thật: Vĩnh Khuê, sinh năm 1940. Nguyên quán: Thừa Thiên – Huế

Bắt đầu sáng tác từ năm 1954. Sống tại Sàigòn và mất ngày 11/9/2003 hưởng thọ 64 tuổi.

Thơ đã in: – Hoa mười phương (1959) – Ngàn thương (in chung với Định Giang 1969) – Dấu bụi hồng (1971) – Thơ Kim Tuấn (1975) – Thời của trái tim hồng (1990) – Tuổi phượng hồng (1991) – Tạ tình phương Nam (1994) – Thơ lí và thơ ngắn (2002)

Chuyện Thơ Phổ Nhạc

Có những nhà thơ chưa nỗi danh, mà có thơ được một nhạc sĩ nổi danh lấy thơ của họ phổ thành ca khúc, bản nhạc được phổ biến, được hát trên đài phát thanh, đài truyền hình, thu DVD, CD phổ biến rộng rải khắp nơi, tự nhiên người làm thơ cũng theo đó mà nổi tiếng. Đơn cử ở Việt Nam trước năm 1975, bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ của Vũ Hữu Định, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc, thì tự nhiên tiếng tăm, danh tính Vũ Hữu Định được nhiều người biết tới.

Trường hợp các nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Văn Bình, Linh Phương cũng trong hoàn cảnh tương tự. Một bài thơ hay (trên đời này có rất nhiều bài thơ hay) nhưng nếu không được các nhạc sĩ nỗi tiếng và có thực tài phổ thơ, (cở Pham Duy, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên…) thì bài thơ đó chỉ được đọc lên mà thôi và có những người cũng sẽ quên nó đi, nhưng khi được phổ nhạc, thì tự dưng bài thơ như có cánh bay vút lên cao, như những bài thơ của Phạm Thiên Thư “Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Ngày Xưa Hoàng Thị”, của Nguyễn Tất Nhiên Thà Như Giọt Mưa, 3 Năm Tình Lận Đận. Em Hiền Như Ma Sơ, của Phạm Văn Bình với Năm Năm Rồi Không Gặp, của Linh Phương với Kỷ Vật Cho Em…

Nhạc sĩ Anh Bằng phổ ca khúc Khúc Thụy Du, thơ của Du Tử Lê, rất hay, nhưng khi phổ bài Quê Hương của Đỗ Trung Quân thì lại dỡ, thua xa nhạc sĩ Giáp Văn Thập phổ bài thơ Quê Hương và không đi sát ý thơ của tác giả, điều nên nhớ những tác giả phổ nhạc nên tránh. Anh Bằng phổ bài Chuyện Giàn Thiên Lý (dựa theo bài thơ của Yên Thao), Chuyện Hoa Sim (dựa theo bài Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan) cũng dỡ.

oOo

Khoảng thời gian năm 2001, nhạc sĩ Nhật Ngân có nhã ý muốn tìm thơ của những anh em làm thơ Quảng Nam để phổ thành ca khúc. Nhật Ngân gom góp được thơ của 10 anh em làm thơ Quảng Nam như Luân Hoán, Thành Tôn, Hồ Thành Đức, Nguyễn Nam An, Hạ Quốc Huy, Phan Xuân Sinh, Trần Trung Đạo, Thái Tú Hạp, Trần Yên Hòa.

Sau một thời gian, Nhật Ngân phổ thơ xong, CD nhạc phổ thơ của 10 người làm thơ Quảng Nam ra đời. Tôi cũng được nhạc sĩ Nhật Ngân phổ một bài thơ trong tập thơ Khan Cổ Gọi Tình, Về thơ của tôi và Nhật Ngân cũng lấy một đoạn trong bài thơ cùng tên. Tôi rất thích bản nhạc được phổ, lời nhạc khi được ca sĩ Bảo Yến hát lên, tôi thấy lời thơ mình như bay bỗng. Tôi thật sự hạnh phúc khi nghe lời bản nhạc là bài thơ của mình, một số anh em đồng hương ở xa gọi điện thoại khen ngợi. Sau đó bản nhạc được hát ở nhiều nơi khi có những cuộc hội họp của anh em đồng hương Quảng Nam hay liên trường trung học Quảng Nam. Cái hạnh phúc của người làm thơ hay viết nhạc là ở chỗ đó, một hạnh phúc tinh thần lớn lao.

(Cũng trong thời điểm này, nhạc sĩ Nhật Ngân rất buồn lòng là trước đây anh có phổ một bài thơ của tác giả Nguyễn Đức An nào đó, bài thơ Chiều Trên Phố Bolsa, theo yêu cầu của tác giả. Bài thơ không có gì xuất sắc nên bản nhạc nghe chỉ tạm được thôi. Sau đó bản nhạc được thu vào CD phát hành và tác giả bài thơ đã viết trên tờ Viet Weekly là Nhật Ngân có ý làm thương mại với CD trên. Tôi thấy rất thương nhạc sĩ Nhật Ngân, người nhạc sĩ hiền lành, rất có tình với anh em văn nghệ mà bị tai tiếng không hay, đó cũng là một bất công cho nhạc sĩ phổ thơ).

Cho nên giữa một nhạc sĩ và một nhà thơ đều có quan hệ hữu cơ với nhau hai chiều. Phải nói một điều là, nếu một nhạc sĩ chưa được ai biết đến tên tuổi, rất cần những bài thơ của các nhà thơ nổi tiếng để phổ thành ca khúc, để đưa tên tuổi của mình lên. Trường hợp này ít thấy xảy ra, chắc tại vì các nhạc sĩ chưa tên tuổi (và không có tài) thì không đủ “nội lực” để chuyển tải một bài thơ hay thành một bản nhạc hay, nên nhạc của họ cũng chỉ “thường thường bậc trung”.

Còn những nhạc sĩ nổi tiếng, phổ những bài thơ hay của các thi sĩ đã thành danh, và hai người cùng bước đi song hành lên đài danh vọng, có thể kể như Từ Công Phụng phổ Trên Ngọn Tình Sầu, Tạ Ơn Em của Du Tử Lê, Ngô Thụy Miên phổ Tháng Sáu Trời Mưa, Tuổi Mười Ba của Nguyên Sa, Hoài Bắc Phạm Đình Chương phổ Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội của Hoàng Anh Tuấn, Phạm Duy với Tiễn Em của Cung Trầm Tưởng. Những bài thơ và tên tuổi người làm thơ cũng như các nhạc sĩ đã đi vào lòng người bất diệt.

Còn những người làm thơ có được những bài thơ hay và nhờ các nhạc sĩ phổ thành ca khúc, khiến bài thơ hay hơn, âm thanh bay lên cao mãi, thấm vào lòng người nghe, thì cũng nên có lòng biết ơn người nhạc sĩ đã đồng cảm với mình, mà đưa lời bài thơ lên một bậc cao hơn, trong ngôn ngữ âm nhạc.

Sự biết ơn, đó là lý lẽ của đời thường, của dân gian, của đạo đức Á Đông và nhất là của Việt Nam chúng ta.

Trần Yên Hòa