“Ti Vi Chi Bảo” PHƯƠNG HỒNG QUẾ

Phương Hồng Quế

Ngày xưa từng là “Ti Vi Chi Bảo”

– Nguyễn Việt – Phương Tùng

Viết về Phương Hồng Quế thì có lẽ tôi có nhiều điều để viết. Ngày trước năm 1975, Phương Hồng Quế từng được báo chí Sài Gòn mệnh danh là “Ti Vi Chi Bảo”, bởi hàng đêm trong các show truyền hình ca nhạc nào trên Dài truyền hình số 9 cũng có Phương Hồng Quế xuất hiện. Thật ra trước đó danh hiệu “Ti Vi Chi Bảo” được dành cho Thanh Lan, nhưng vì qua tiếng hát của Phương Hồng Quế rất truyền cảm qua những nhạc phẩm… mà những người nghe nhạc khó tính cho là… nhạc sến.

Tuy được gọi là nhạc sến nhưng lại được đa số khán thính giả ưa chuộng. Và ai hát nhạc sến hay tức nhiên sẽ được các bầu show truyền hình, đại nhạc hội mời mọc trình diễn không ngớt. Trường hợp Phương Hồng Quế là một điển hình như những Thanh Tuyền, Chế Linh cùng thời lúc đó.

Ngày xưa tôi còn cộng tác với nhạc sĩ Nguyễn Đức, thầy đào tạo những ca sĩ họ Phương như Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Quế, Phương Hồng Ngọc (Cẩm Hồng), trước đó còn có Hoàng Oanh, Kim Loan v.v… tôi thường giữ mục thiếu nhi trên các nhật báo như Hòa Bình, Chuông Mai, Tin Điện rồi Trắng Đen, đều để tên các cô ca sĩ họ Phương phụ trách, trong đó không thể không có tên của Phương Hồng Quế.

Một kỷ niệm khác, vì sao Phương Hồng Quế mau nổi danh trong làng tân nhạc lúc bấy giờ. Theo tôi nhớ, lúc còn là ca sĩ trong ban Việt Nhi, Sao Băng của nhạc sĩ Nguyễn Đức, lúc đó Phương Hồng Quế chưa qua tuổi 20, và nhạc sĩ Nguyễn Đức quyết lăng-xê cô học trò đã đủ lông đủ cánh để tung vào đời. Dịp may đã đến khi nhạc sĩ Tâm Anh vừa có nhạc phẩm Phố Đêm đang muốn các cô ca sĩ họ Phương trình bày trên sóng phát thanh và truyền hình ở Sài Gòn. Nhạc sĩ Nguyễn Đức đã chọn Phương Hồng Quế trình diễn; và nhạc phẩm Phố Đêm đã thành công, nhạc phẩm bán chạy nhất, cùng với tên tuổi của Phương Hồng Quế càng thêm nổi tiếng. Sau đó Phương Hồng Quế còn trình bày thành công với nhạc phẩm Những Chuyện Tình Không Suy Tư cũng do nhạc sĩ Tâm Anh sáng tác.

Sau đây để khách quan, tôi xin giới thiệu bài viết của tác giả Phương Tùng đăng trên tờ tuần báo “Phụ Nữ Cali” về Phương Hồng Quế.

Nguyễn Việt

– Trước đây vì ít có dịp giao du cùng mọi người nên tôi rất buồn khi xung quanh mình chẳng có ai được gọi là bạn “tri kỷ”, đền bù lại tôi rất được sự thương yêu của Bà, các cậu, các dì, hầu hết là trong giới nghệ sĩ, sang Hoa Kỳ sinh sống tôi rất được daddy & mom (Tô Quang & ca sĩ Sơn Tuyền) thương yêu, dạy dỗ nhưng rất nghiêm khắc đối với đời sống của tôi.

Khó khăn nhất khi được yêu cầu viết bài về các ca (nghệ) sĩ được gọi là bậc “trưởng bối” trong làng âm nhạc như Thái Thanh, Thanh Thuý, Phương Dung, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh, Thanh Tuyền… Vì khi họ thành danh (thập niên 50, 60 đến năm 1975), cũng chính là lúc tôi chưa được chào đời, sau khi phỏng vấn ca sĩ Ý Lan, tôi được cô giới thiệu để viết bài về danh ca Thái Thanh. Hôm nay qua tuần báo Phụ Nữ Cali tôi xin phép giới thiệu về ca sĩ Phương Hồng Quế (theo gia đình bên nội – cố nghệ sĩ cải lương tuồng cổ Minh Tơ), tôi phải gọi cô vai “bà”, sợ “bà” buồn nên Phương Tùng (con trai nghệ sĩ Tuấn Minh) xin phép gọi “bà” là cô thôi nha.

Trong vài lần nghe cô Phương Hồng Quế trò chuyện với bạn bè trong quán café, tôi thật sự bị cô thu hút qua bản tánh và cung cách nói chuyện của cô (thẳng tính, ngang tàng và không màu mè), cho dù hôm ấy có Nam Lộc, Hương Lan, Giang Tử, Quang Lê….. Hỏi đùa “cô nói chuyện linh động như vầy, ngoài đời chắc cô năng động lắm”. Cô chỉ cười cho biết cô rất đam mê ánh đèn sân khấu nhưng cô vẫn thích được bước chân ra xã hội, hầu như tại quận Cam (Cali) trong các show văn nghệ (từ thiện, cộng đồng, ra mắt CD…), không show nào vắng mặt cô. Tuy bận rộn trong các đêm trình diễn và đi show xa cũng như thâu CD & DVD cho trung tâm Asia & Rainbow, hiện cô đang điều hành một văn phòng địa ốc, (trước kia cô đứng ra điều hành một văn phòng du lịch và tiệm bán hoa mang tên Melody Flower tại thành phố Westminster).

Theo nhiều information của khán giả ái mộ cô và chính cô đã cho PT biết để hoàn tất bài viết về cô (thuở bé bên Việt Nam làm công việc gì cô cũng thích ngâm nga cho vui, đến năm cô lên 10 thân phụ cô thấy con quá đam mê ca hát nên có một lần anh họ cô ghé nhà chơi, thân phụ cô cười và nói “cháu coi con nhỏ rất mê hát, rửa chén, giặt đồ cũng hát, nếu được cháu dẫn nó đi học hát cho rồi”, đến năm cô được 12, 13 tuổi cô đã được thầy Nguyễn Đức đào tạo cùng thời với Phương Hoài Tâm & Phương Hồng Hạnh.

Sang định cư tại Hoa Kỳ tháng 03/1991, cô cư ngụ tại thành phố Santa Ana bên cạnh 2 con (một trai & một gái), ngoài ca hát và làm việc ra cô rất đảm đang với vai trò nguời mẹ hiền, chăm sóc nhà cửa cũng như giáo dục các con. Điều cô hằng mơ ước mong sao các con ngoan, học thành tài có ích cho xã hội. Cô tâm sự thêm “rút tỉa từ bản thân chính mình, khi còn bé cô rất ngang bướng, cứng đầu và hung dữ, ‘ai nói gì cô trả lời tay đôi liền”. Dần theo thời gian giờ lớn tuổi cô hay làm thinh cho dù có lời “xầm xì” sau lưng, cô cũng rất nghiêm khắc trong vấn đề giáo dục con cái nên các con cô rất ngoan

Tiểu sử và con đường sự nghiệp :

– Họ tên và sinh nhật : Nguyễn Thị Quế sinh ngày ngày 19 tháng 06 tại Sài Gòn

– Gia cảnh hiện tại : Vẫn còn độc thân ‘vui tính’, sống cùng con tại Foutain Valley.

– Màu sắc yêu thích : (thuở bé) Màu vàng & màu trắng, (truởng thành) Màu tím, màu nâu & màu kem, (hiện tại) Màu kem & màu đen

– Món ăn yêu thích : Tất cả các món ăn Việt Nam (đặc biệt các món ăn miền Bắc, vì cha mẹ cô gốc Bắc và cô đuợc sinh trưởng trong Nam), PHQ có thể nấu các món bún rất đặc sắc và ngon miệng như Bún riêu, Bún thang & Bún mộc (cô khoe : nếu bạn nào có duyên dùng thử đồ ăn do cô nấu sẽ biết ‘tuyệt cú mèo’, bạn có tin không ?)

– Điều ghét nhất : Hình như không có, bởi cô sống rất hoà đồng nhưng cô rất ghét sự giả dối

– Thần tượng yêu thích : Thái Thanh, Hoàng Oanh, Tuấn Ngọc & tài tử ca sĩ Ngoại Quốc Jennifer Lopez.

Phương Tùng xin mời đọc giả tuần báo Phụ Nữ Cali, quý khán giả yêu mến tiếng hát Phương Hồng Quế theo dõi cuộc trò chuyện giữa hai “bà” cháu tại nhà hàng Đệ Nhất Bún Bò Bolsa (Ngọc Huệ & Quán Hỷ trước kia),

– Phương Tùng (PT) : Chào cô Phương Hồng Quế, qua tuần báo Phụ Nữ Cali cô có thể cho đọc giả biết thêm về cô, cô học nhạc cùng ai ?, năm nào ?, nhạc phẩm đầu tiên trình bày mang tên gì ?, cô trình diễn tại đâu ?, năm nào ?.

– Phương Hồng Quế (PHQ) : Chào con, cô theo học nhạc cùng thầy Nguyễn Đức năm 1963, nhạc phẩm đầu tiên PHQ trình bày mang tên Một Nguời Đi (sáng tác của Mai Châu), được phát thanh trên băng tần truyền hình số 9 vào năm 1968.

– PT : Theo quý khán giả yêu mến tiếng hát cô cho cháu biết, trước năm 1975 tại Việt Nam cô được mệnh danh là “Ti Vi Chi Bảo”, và nhạc phẩm Phố Đêm được gắn liền cùng tên tuổi của cô từ dạo ấy, riêng cá nhân cô cảm nghĩ gì về biệt danh ấy ?. Cô sang định cư tại Hoa Kỳ năm nào ?, lúc ấy cô sinh sống ra sao ?, hiện cô định cư tại đâu ?, (vì có một thời gian cô vắng mặt trên các CD & DVD), giờ cô trở lại cùng trung tâm Asia & Rainbow…

– PHQ : Qua trang báo Phụ Nữ Cali, Phương Hồng Quế xin được cám ơn quý khán giả xa gần trước và sau 1975 đã thương mến PHQ nên quý vị đã đặt cho PHQ biệt danh “Ti Vi Chi Bảo”, cám ơn đến quý vị đã nhắc về nhạc phẩm Phố Đêm (sáng tác của Tâm Anh) mà PHQ đã trình bày vào năm 1970 đã được quý vị đón nhận. Sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình tháng 03 năm 1991, lúc đầu vì muốn bảo đảm cho cuộc sống gia đình nên PHQ đã mở một tiệm bán hoa trang trí, đám cưới.., mang tên Melody tại thành phố Westminster, sau đó PHQ được vài trung tâm mời cộng tác như Thuý Nga, Giáng Ngọc, Asia…, từ 1991 đến nay PHQ vẫn định cư tại California, hiện vẫn đi show và thâu DVD cho các trung tâm đều đặn nếu có lời mời.

– PT : Ngoài ca hát ra cô còn làm thương mại, cô có thể kể sơ qua các ngành nghề mà cô đã & đang làm, khi đi show xa cô thường được quý khán giả yêu cầu cô trình bày nhạc phẩm nào nhiều nhất?, riêng cá nhân cô nhạc phẩm nào cô ưng ý nhất ?, trong các giòng nhạc cô đã trình bày qua, giòng nhạc nào cô thích nhất ?

– PHQ : Khi sang định cư tại Hoa Kỳ năm 1991, PHQ có mở một tiệm bán hoa kế đó PHQ điều hành một văn phòng du lịch, hiện Quế đang điều hành một văn phòng về loan & địa ốc. Dù khá bận rộn nhưng PHQ vẫn hoạt động văn nghệ đều đặn. Khi đi show khán giả thường yêu cầu Quế trình bày các nhạc phẩm : Phố đêm, Tàu đêm năm củ, Chuyến đi về sáng…, trong các nhạc phẩm PHQ đã trình bày nhạc phẩm nào Quế cũng thích, vì có thích mình mới để tâm hồn vào lời ca (cười), PHQ trình bày đủ thể loại nhạc như : Rhumba, nhạc quê hương và nhạc tình, riêng cá nhân Quế thích nhất thể loại nhạc Rhumba

– PT : Cám ơn cô đã dành cho Phương Tùng buổi trò chuyện hôm nay, qua tuần báo Phụ Nữ Cali cô có lời gì cần tâm sự cùng quý khán giả yêu mến tiếng hát cô nói riêng,cũng như quý đọc giả khắp nơi không ?

– PHQ : Rất cám ơn con (Phương Tùng) đã dành cho cô buổi trò chuyện này, PHQ cũng xin cám ơn đến ban biên tập tuần báo: Phụ Nữ Cali đã cho PHQ được tâm sự cùng quý đọc giả báo & quý khán giả xa gần luôn thương yêu, ủng hộ PHQ trên ba mươi năm trong cuộc đời ca hát, xin được cám ơn đến quý vị và mong là mình sẽ được phục vụ mãi mãi để không phụ lòng thương yêu của quý vị đã dành cho PHQ. Và Phương Tùng con biết sao không làm gì thì làm “bà” (cười) í..lộn…(cười) cô vẫn đam mê ánh đèn nghệ thuật và sân khấu

Và Phương Tùng cũng xin được cám ơn cô Phương Hồng Quế đã dành cho con buổi trò chuyện này, qua trang báo con cũng xin được chúc cô khoẻ và luôn thành công trên bước đường nghệ thuật cũng như thương mại, và Phương Tùng cũng xin được cám ơn đến quý vị đọc giả tuần báo Phụ Nữ Cali đang theo dõi mục mỗi tuần một gương mặt.

Phương Tùng


Nhạc sĩ DZŨNG CHINH

NỔI TIẾNG VỚI 2 NHẠC PHẨM BUỒN

Những đồi hoa sim & Tha la xóm đạo

– Lê Hoàng Nguyễn

Khi nói về Dzũng Chinh, một nhạc sĩ không sáng tác nhiều ca khúc lắm, nhưng lại rất nổi tiếng qua 2 nhạc phẩm “Những đồi hoa sim” phỏng tác theo thơ Hữu Loan (Màu Tím hoa sim) và “Tha la xóm đạo” phổ thơ của Vũ Anh Khanh.

Và tất nhiên nói về thân thế của nhạc sĩ Dzũng Chinh hầu như gần bằng con số không, bởi anh đã chết rất trẻ trong một trận chiến trước 1975.

Trước khi nói về sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Dzũng Chinh, chúng ta nên tìm hiểu qua chất liệu mà người nhạc sĩ đã lấy cảm hứng sáng tác ra 2 nhạc phẩm nói trên, và nổi tiếng trong giới yêu chuộng tân nhạc từ xưa đến nay.

Tâm sự tác giả  bài thơ “Màu tím hoa sim”

… Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ duyên được cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người, nhờ ông mà năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – tôi chơi ngông vác lều chõng ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo tự học cũng có thể đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi chẳng có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài Pháp thời đó (còn gọi lấy bằng Thành chung) rất khó khăn. Số người đỗ trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 50, 60 năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những cậu khóa ấy, trong số có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh Văn Xuân, Đỗ Thiện và tôi… (theo Lê Thọ Bình, báo Pháp Luật số Xuân Giáp Thân)

Với mảnh bằng tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà Tham Kỳ chú ý, vời về nhà dạy kèm cho hai đứa con nhỏ. Tên thật của bà Tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, bà Tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt đến (theo Lê Thọ Bình, báo đã dẫn).

Bà Tham Kỳ là một người hiền lành tốt bụng, đối xử với tôi rất đàng hoàng tử tế, coi tôi chẳng khác người nhà. Nhớ lại ngày đầu tiên khoác áo gia sư, bà gọi mãi, đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!”. Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh ở trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đó nhưng ít nói và mỗi lần mở miệng là cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hàng ngày một cách kín đáo : em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng ướt em vừa hái ở vườn; những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà đem ra giếng giặt…

Có lần tôi kể chuyện “bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em dỗi ! Suốt một tuần liền, em nằm lì ở buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà Tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện cho em nghe; rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy, ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý :

– “Mới ốm dậy, còn yếu lắm, không đi được đâu !”

Em không chịu, nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà Tham Kỳ đưa em lên núi chơi…

Xe kéo chạy chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc con, tôi đuổi theo muốn đứt hơi! Lên tới đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời. Không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi :

– Thầy có thích ăn sim không ?

Tôi nhìn xuống sườn đồi : tím ngắt một màu sim. Em đứng lên, đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ… Khi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen nhánh, chín mọng.

– Thầy ăn đi !

Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng và trầm trồ :

– Ngọt quá !

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật chưa bao giờ tôi được ăn những quả sim ngọt đến thế !

Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo !

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà Tham Kỳ, tôi lên đường đi theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi…  lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó, nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… Em vẫn đứng yên đó…Tôi lại đi và nhìn lại cho tới khi không còn nhìn thấy em nữa…

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi có nhận được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 đã có nhiều chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ…

Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp…

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không “môn đăng hộ đối” một chút nào. Mãi sau mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm “soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, “không đòi may áo mới trong ngày hợp hôn”, bảo rằng là: “Yêu nhau, thương nhau cốt cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay lại… đẹp giai nên em thường gọi đùa là ông chồng độc đáo.

Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết !

Hai tuần phép của tôi trôi đi thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ đây em không còn là cô bé Ninh nữa mà đã là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, tôi lại quay đầu nhìn lại… Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ cảm thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ : vợ tôi qua đời ! Em chết thật thảm thương : hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lấy tấm áo bị nước cuốn đi nên trượt chân té xuống sông chết đuối ! Con nước lớn đã cuốn em đi vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại cho tôi nỗi đau không gì có thể bù đắp nổi! Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Nỗi đau ấy tôi phải giấu kín trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn… Dường như càng kìm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm tư gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong tôi được dịp bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng. Hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi, chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra :

Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng có em chưa biết nói

Khi tóc nàng đang xanh…

…Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại nhà một người bạn ở Thanh Hóa. Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”.

Đến đây, chắc bạn đọc đã biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2/4/1916, ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc Xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi mới viết nổi :

Những câu chiều hành quân

qua những đồi hoa sim

những đồi hoa sim

những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt và chiều hoang tím có chiều hoang biết

chiều hoang tím tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội; từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi “hay cãi, thích chống đối, không thể làm những gì trái với suy nghĩ của tôi”. “…. Tôi chẳng cần, mặc kệ ! Tôi thương, tôi nhớ Hoa Sim của tôi quá rồi! …

Sau bao nhiêu năm trời ngậm cay nuốt đắng, tôi đã được dịp phơi bày tâm sự trong hai kỳ phỏng vấn của phóng viên đài BBC tiếng Việt phát thanh trong hai ngày 5 và 12/10/2002…. tôi nói về nguồn gốc của “Màu Tím Hoa Sim” và những hệ lụy của bài thơ đối với tôi và gia đình tôi :

….Tôi khóc người vợ tử tế với mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó khóc như vậy… Y như trong thơ nói đấy : tôi lấy vợ rồi đi Bộ đội, mới lấy nhau được có hơn tháng, ở nhà Bà ấy đi giặt rồi chết đuối ở sông… Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc. Bài thơ ấy lúc bấy giờ được cho là ủy mị, vì làm thơ là phải không được khóc cho cái đau riêng của mình… Nhưng cái đau khổ riêng của con người tại sao lại không được khóc !?

Làm thơ phải có cái tâm mà phải là cái tâm linh thật thiêng liêng thì mới có thơ hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì !

…Cuộc đời đẩy đưa, định mệnh dắt tôi đến với một người phụ nữ khác, sống cùng tôi đến ngày hôm nay. Bà tên Phạm Thị Nhu, cũng là một người phụ nữ có tâm hồn sâu sắc.

Lúc bấy giờ tôi đi tìm người ở một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa tôi ở độ mười lăm cây số, trước đó có một gia đình rất giầu, nắm trong tay gần năm trăm mẫu tư điền. Gia đình này lại giầu lòng nhân đạo, rất yêu nước thương người. Ông thấy bộ đội của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo tới chỗ đóng quân để ủng hộ. Bây giờ chỉ nghe nói gia đình ông bà đã tan nát bởi chiến tranh, chỉ còn có một cô con gái 17 tuổi đang sống lây lất ở đâu đó. Biết chuyện thảm thương giáng xuống gia đình ông bà giầu lòng nhân ái kia mà tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về đó xem cô con gái của họ sinh sống ra sao, vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. …

Lúc gần tới nơi, may sao tôi gặp cô ta áo quần rách mướp, mặt mày lem luốc, đang lom khom tìm lượm vài củ khoai mà dân bỏ sót nhét vào túi áo, rồi chùi vội một củ vào quần đưa lên miệng gặm. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi lại gần hỏi thăm và được cô ta kể lại rành rọt hôm cha mẹ cô chết ra sao. Tôi nghe mà lấy làm thương tâm quá, trong lòng vô cùng xúc động. Suy nghĩ rất nhiều, tôi quyết định đem cô ta về quê, tôi đã lấy cô ta làm vợ. Rất may là sự quyết định của tôi đã không nhầm. Khi xưa, quê tôi nghèo, nhà tôi cũng nghèo nên không có tiền. Nhưng hai vợ chồng cố gắng chịu đựng đùm bọc nhau bữa đói bữa no… Cho đến ngày nay, bà ấy đã cho tôi 10 người con ngoan, 6 trai, 4 gái và cháu nội cháu ngoại hơn 30 đứa ! …

Giới thiệu về nhà thơ Vũ Anh Khanh

Ông tên thật là Võ Văn Khanh sinh năm 1926 tại Mũi Né, Bình Thuận.
Sách của ông không nhiều vì cuộc sống của nhà văn ngắn ngủi, hơn nữa trong lúc văn thi tài đang lên như diều gặp gió, thì năm 1950 ông đột ngột từ bỏ thành đô hoa lệ, sau một chuyến viếng thăm Tha La xóm đạo, một làng quê êm đềm thơ mộng như chính quê hương Mũi Né, với những rặng dừa xanh ẻo lã, chạy song song với đồi cát trùng trùng, ngày tháng nép mình ôm ấp biển xanh.
Đó chính là lý do làm cho ông đã từ bỏ tất cả để dấn thân vào cuộc kháng chiến chống Pháp đang bùng nổ dữ dội khắp nước, dù lúc đó rất nổi tiếng, đang có nhiều sách bán chạy như chuyện dài BẠC XÍU LÌN, được Tiếng Chuông xuất bản năm 1949, chỉ trong 2 tháng đã bán hết 10.000 cuốn, sau đó phải tái bản nhiều lần vẫn không cung ứng nhu cầu của người ái mộ.

Nói chung theo giáo sư Nguyễn văn Sâm viết trong “Văn Chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950”, thì hầu hết tác phẩm của Vũ Anh Khanh rất có giá trị và tiêu biểu trong dòng văn chương đấu tranh thời đó, dù là thơ như CHIẾN SĨ HÀNH (Tân VN, Sài Gòn 1949), Truyện dài NỬA BỒ XƯƠNG KHÔ gồm 2 tập (Tân VN, Sài Gòn 1949), CÂY NÁ TRẮC (Tân Việt, Sài Gòn 1947), truyện ngắn NGŨ TỬ TƯ (Tân VN, Sài Gòn 1949), ĐẦM Ô RÔ (Tiếng Chuông, Sài Gòn 1949), SÔNG MÁU (Tiếng Chuông, Sài Gòn 1949) và BÊN KIA SÔNG (Tân VN, Sài Gòn 1949).

Riêng bài thơ “Tha La Xóm Đạo” của ông, sau này được nhạc sĩ Dũng Chinh, tên thật là Nguyễn văn Chính, cũng là người Phan Thiết, phổ nhạc và rất được mọi người ưa thích, giống như bài “Hoa trắng thôi cài trên áo trắng” của thi sĩ Kiên Giang. Ngoài ra soạn giả cải lương nổi tiếng Viễn Châu cũng đã mượn ý của Vũ Anh Khanh để viết tình khúc tân cổ giao duyên “Tha La xóm đạo”.

Vài nét về bài thơ Tha La xóm đạo:

Xã An Hòa, thuộc huyện Trãng Bàng Tha La là một địa danh thuộc Trảng Bàng, Tây Ninh, cách Trảng Bàng khoảng 3 cây số, có 8 ấp, dân số 12,000, nhìn trên bản đồ thấy hình dạng bầu dục, nằm dọc theo rạch Trãng Bàng mà đầu nhọn là ấp An Thới vươn ra tận Vàm Trãng bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Đây là vùng đất phì nhiêu, trù phú do phù sa sông bồi nên có lẽ từ lâu lắm rồi.. Ngoài đồng ruộng, nương rẩy ra, khung cảnh còn thấy có những lò gạch nung đất sét, rồi trại mộc trại cưa, hay những nhà máy xay lúa. Ngành thủ công thịnh hành nhất là nghề đan lát các sản phẩm gia dụng bằng tre, trúc hay nứa. Ấp An Phú được xem là giàu có là nơi có chợ chính của xã, quán xá sung túc, nơi tọa lạc trụ sở xã và có trường trung học địa phương công lập. Trong xã có 3 ngôi chùa, và ngôi chùa cổ hay lâu đời nhất là chùa tại ấp An Phú.

Phần lớn dân trong những xã này nói chung theo đạo Phật hay đạo gia tiên thờ cúng ông bà. Nhưng nổi tiếng và gây ảnh hưởng nhiều nhất vẫn là xóm đạo Tha La. Xóm đạo nằm trong địa phận hai ấp An Hội 1 và An Hội 2. Hơn ba ngàn giáo dân ở đây là người cố cựu đã định cư lâu đời, chỉ có 4 gia đình người thuộc gốc Bắc di cư 54. Sau năm 1863, khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Nam Nam kỳ thì hoàn cảnh thuận tiện hơn. Việc truyền đạo Chúa được nhà cầm quyền Pháp khuyến khích và giúp đỡ. Giáo dân gom tụ lại Tha La đông hơn và họ đạo Tha La được chính thức thành lập, trực thuộc Toà Thánh La Mã.

Nhà thờ có nơi cố định, đầu tiên được xây cất, với vật liệu đơn sơ. Từ điểm nầy, các vị cha tiếp nối đi đến các địa phương khác để truyền đạo và lập thêm xứ đạo mới. Ngày nay ở Tây Ninh, đạo Công Giáo vẫn phát triển song hành với các tôn giáo khác. Đi đâu cũng thấy nhà thờ, ngay cả vùng thánh địa Cao Đài cũng có.

Bài thơ “Tha La xóm đạo” của Vũ Anh Khanh đã đi vào lòng người bao nhiêu năm qua phải nói là có sự đóng góp của hai nhạc sĩ Dũng Chinh và Sơn Thảo đã phổ bài thơ thành hai ca khúc: “Tha La xóm đạo”và “Hận Tha La” khiến cho bài thơ càng bay bổng vang xa hơn.

Thơ Vũ Anh Khanh : Tha La Xóm Đạo

Đây Tha La xóm đạo,

Có trái ngọt, cây lành.

Tôi về thăm một dạo,

Giữa mùa nắng vàng hanh,

Ngậm ngùi, Tha La bảo:

– Đây rừng xanh, rừng xanh,

Bụi đùn quanh ngõ vắng,

Khói đùn quanh nóc tranh,

Gió đùn quanh mây trắng,

Và lửa loạn xây thành.

Viễn khách ơi ! Hãy dừng chân cho hỏi

Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng

oOo

Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng.

Có trái ngọt, cây lành im bóng lá,

Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ

Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ !

Về chi đây ! Khách hỡi! Có ai chờ ?

Ai đưa đón ?

– Xin thưa, tôi lạc bước !

Không là duyên, không là bèo kiếp trước,

Không có ai chờ, đưa đón tôi đâu !

Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,

Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ.

Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió

Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.

Nhìn hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng

Tha La hỏi : – Khách buồn nơi đây vắng ?

– Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng !

– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn ?

Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn.

Gió vun vút, gió rợn rùng, gió rít,

Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch :

– Thôi hết rồi ! Còn chi nữa Tha La !

Bao người đi thề chẳng trở lại nhà

Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn !

Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán

Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa

Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa

Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh

Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh

– Thôi hết rồi ! Còn chi nữa Tha La !

Đây mênh mông xóm đạo với rừng già

Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.

Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch.

Gặp cụ già đang ngắm gió bâng khuâng

Đang đón mây xa… Khách bỗng ngại ngần :

– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng ?

Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,

Nhẹ bảo chàng : “Em chẳng biết gì ư ?

Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù !

Người nước Việt ra đi vì nước Việt

Tha La vắng vì Tha La đã biết,

Thương giống nòi, đau đất nước lầm than”.

oOo

Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng

Ngày hiu quạnh. ờ…Ơ…Hơ… Tiếng hát,

Buồn như gió lượn, lạnh dài đôi khúc nhạc.

Tiếng hát rằng :

Tha La hận quốc thù,

Tha La buồn tiếng kiếm.

Não nùng chưa! Tha La nguyện hy sinh

ờ… Ơ… Hơ… Có một đám Chiên lành

Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy

Quỳ cạnh chúa, đám Chiên lành run rẩy:

– Lạy đức Thánh Cha !

Lạy đức Thánh Mẹ !

Lạy đức Thánh Thần

Chúng con xin về cõi tục để làm dân…

oOo

Rồi… cởi trả áo tu,

Rồi… xếp kinh cầu nguyện

Rồi… nhẹ bước trở về trần…

Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!

Người hãy ngừng chân,

Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé !

Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ

Trời Tha La vần vũ đám mây tang,

Vui gì đâu mà tâm sự?

Buồn làm chi cho bẽ bàng !

ờ… Ơ… Hơ…ờ… ơ Hơ… Tiếng hát;

Rung lành lạnh, ngân trầm đôi khúc nhạc,

Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!

Tha La thương người viễn khách quá đi thôi !

oOo

Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ

Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ.

Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay…

Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này :

– Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé !

Hãy về thăm xóm đạo

Có trái ngọt cây lành

Tha La dâng ngàn hoa gạo

Và suối mát rừng xanh

Xem đám Chiên hiền thương áo trắng

Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh…

Nhạc sĩ Dzũng Chinh

Nhạc sĩ Dzũng Chinh tác giả 2 nhạc phẩm bất hủ “Những đồi hoa sim” và “Tha la xóm đạo” được giới yêu âm nhạc yêu thích nhất.

Dzũng Chinh chỉ là bút danh còn tên thật là Nguyễn Bá Chính. Đi quân dịch vào năm 1965. Vài năm sau khi ra trường, có lẽ chán nản với cấp bực trung sĩ, anh xin học khóa sĩ quan nhưng rồi nghe tin Dzũng Chinh chết tại Qui Nhơn (Có tài liệu ghi, khi vào đời lính, anh được điều xuống miền Tây, và trong một chuyến công tác, xe anh bị trúng mìn trên QL 4, lúc đó Dzũng Chinh mang cấp bậc chuẩn úy, được đưa về nghĩa trang quân đội Gò Vấp với bia ký là “Cố Thiếu úy Nguyễn Bá Chinh”). Nên tài liệu về người nhạc sĩ vắn số này rất ít, anh chỉ để lại đời nhạc phẩm “Những đồi hoa sim” và “Tha La xóm đạo” cùng một số nhạc phẩm khác không được nổi cho lắm.

Lời ca : “…mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến không hẹn được ngày về, và đường về… thênh thang… màu hoa tím loang dài trong bóng tối…” đã giống như định mệnh của người nhạc sĩ tài hoa không may mắn với đời. Trên những đồi cát chập chùng nắng gió Qui Nhơn, màu hoa sim của Hữu Loan miền Bắc đã thấm vào hồn của Dzũng Chinh miền Nam để sống mãi trong lòng mọi người. Khi người ta yêu, cũng giống như khi người ta chết, có một thời họ ủ đau thương trên dòng mực của mình.

Ngày Dzũng Chinh phổ biến bản nhạc này, lúc đó anh đang còn là sinh viên ĐH Luật khoa Saigon, khoảng 1961-62 qua tiếng hát của “con nhạn trắng Gò Công” Phương Dung. Ngoài bản nhạc “Những đồi hoa sim”, anh còn phổ một số bài khác như “Tha La xóm đạo” (thơ Vũ Anh Khanh), “Các anh đi” (tác giả Hoàng Trung Thông), v..v…

Nhạc phẩm “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh

Những đồi hoa sim ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt / Vào chuyện ngày xưa nàng yêu hoa sim tím khi còn tóc búi vai ! / Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến / Ai hẹn được ngày về rồi một chiều mây bay / Từ nơi chiến trường đông bắc đó / lần ghé về thăm xóm hoàng hôn tắt sau đồi

Những chiều hành quân ôi những chiều hành quân / tím chiều hoang biền biệt / Một chiều rừng mưa được tin em gái mất / chiếc thuyền như vỡ đôi!
Phút cuối không nghe được em nói / không nhìn được một lần dù một lần đơn sơ / Để không chết người trai khói lửa / mà chết người em nhỏ hậu phương tuổi xuân thì

Ôi ngày trở lại nhìn đồi sim nay vắng người em thơ / ôi đồi sim tím chạy xa tít tan dần theo bóng tối / Xưa xưa nói gì bên em . . . / Một người đi chưa về mà đành lỡ ước tơ duyên / Nói nói gì cho mây gió / Một rừng đầy hoa sim nên để chiều đi không hết

Tím cả chiều hoang nay tím cả chiều hoang / đến ngồi bên mộ nàng / Từ dạo hợp hôn nàng không may áo cưới / thoáng buồn trên nét mi / Khói buốt bên hương tàn nghi ngút /Trên mộ đầy cỏ vàng / Mà đường về thênh thang / Đồi sim vẫn còn trong lối cũ / Giờ thiếu người xưa ấy đồi hoang mới tiêu điều !

Tha La Xóm Đạo – Sáng tác ca khúc của Dzũng Chinh

Đây suối rừng xanh đồn quanh  / Đây mây trắng nghìn hoa với cây lành  / Còn gì viễn khách về đây chi hỡi người / Đất Việt giặc tràn lan  / Biết Tha La hận căm  / Nhẹ bước gặp cụ già, / ngạo nghễ đang ngóng gió / Em chẳng biết gì ư / Cười run run dấu trắng

Đã từ bao năm qua khói loạn khu mịt mù  / Khách về chi đây, / nghe tiếng hát khách hận do đây buồn / Tiếng hờn ai oán, / cởi ra áo một chiều thu lửa dậy / Nghe não nùng chưa, / Tha La buồn tiên kiếp, / Tha La giận mùa thu / Ôi khi hết giặc xong / Hãy về thăm Tha La / có trái ngọt cây lành / Cây lá ngẩn ngơ / nằm trên nghìn hoa máu / làm hoen cả ven rừng / Lòng người viễn khách
bỗng dưng tê tái lạnh / với rừng già mong manh

Đám mây tan phủ quanh, / trời tối về bàng hoàng / Lạnh dài đôi khúc hát / Vang giữa chiến trường xa, / giặc đang gieo tan tóc / Từng đoàn trai ra đi / đã thề chẳng về nhà

Nhà thơ HÀ HUYỀN CHI

HÀ HUYỀN CHI

Tâm sự về nhạc phẩm “Lệ Đá”

sáng tác cùng TRẦN TRỊNH

Nhà thơ Hà Huyền Chi có tên thật Đặng Trí Hoàn, sinh ngày 21/12/1935 tại Hà Đông, Hà Nội. Năm 1954 một mình đi vào Nam. Năm 1957 nhập ngũ theo đời binh nghiệp (Võ bị QG Đà Lạt), năm 1975 qua Mỹ và hiện cư ngụ tại Washington State, vùng Tây Bắc Hoa Kỳ.

Hà Huyền Chi tập làm thơ hồi còn rất trẻ, tác phẩm đầu tay của ông là “Saut” Đêm xuất hiện vào năm 1963. Đến nay ông đã in 22 tập thơ, 8 truyện dài. (Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật bộ môn Thơ, 1971). Đóng 8 phim và đạo diễn 2 phim (Giải Tượng vàng 1972, Đạo diễn xuất sắc nhất cho bộ môn phim tài liệu). Ông còn dùng nhiều bút hiệu khác như : Mậu Binh, Hồ An, Mã Tử, Hạc Bút Ông… Cũng tính đến nay, ông đã có 409 bản nhạc phổ thơ từ 48 nhạc sĩ. Nhưng nhạc phẩm được nhiều người ưa thích nhất là bài “Lệ Đá” do Trần Trịnh soạn nhạc và ông đặt lời, và bài “Goá Phụ Ngây Thơ” doTrần Thiện Thanh phổ nhạc sau này.

Tác phẩm Hà Huyền Chi đã xuất bản gồm Saut Ðêm (1963), Còn Gì Cho Anh, Khu Vườn Chim Sẻ, Những Nụ Gai Mòn, Rừng Ái Ân, Vũng Tối Ðầy (1970), Bước Ðam Mê, Mưa Ðêm Trong Chiến Hào (1971), Trên Cánh Ðồng Mây, Cho Mặt Trời (1975), Tên Nô Lệ Mới (1979), Như Ðá Ngàn Năm (1981), Cõi Buồn Trên Ta (1984), Ðời Bỗng Dưng Thừa (1987), Không Gian Vương Dấu Giày (1988), Hành Trình 30 Năm Thơ Hà Huyền Chi, Thơ Ðen (1991), Thơ Kẽm Gai, Tháng Một Buồn (1994), Thơ Trong Da Ngựa (1995), Một Túi Bình Sinh Một Túi Thơ, Ðồng Thiếp (1996), Bão Ðầy (1998), Bên Trời Mài Kiếm (thơ song ngữ-Anh,Việt 1999)

Theo nhà thơ Hà Huyền Chi cho biết, do tình cờ khi ông còn ở binh chủng Nhẩy Dù ông đã viết nhiều truyện ngắn và thơ. Có bài thường xuyên đăng trên báo quân đội, nên nhẩy vào nghề báo chí rồi nhẩy vào điện ảnh như một thử thách, vì có lúc ông làm phụ tá trưởng phòng Điện ảnh của cục Tâm Lý Chiến. Làm Đạo diễn trong Đạo diễn đoàn thuộc Nha Điện Ảnh của Bộ Thông Tin.

Nhà thơ Hà Huyền Chi vốn mê thơ, nên từ lúc ông còn đi học đã tập làm thơ, do nghĩ rằng làm thơ là lối đi dễ nhất để vào thế giới văn chương. Tuy nhiên theo ông tâm sự, để đi vào đường văn chương, bước đầu người ta nên tập viết truyện dài, sau đó tập viết truyện ngắn. Cuối cùng mới nên tập làm thơ, bởi thơ vốn là đỉnh cao nhất của văn chương. Còn ông đã đi ra khỏi cái quy luật thứ tự đó.

Có người thống kê, nhà thơ Hà Huyền Chi là thi sĩ có thơ được phổ nhạc nhiều nhất và người phổ thơ ông nhiều nhất là nhạc sĩ Mai Anh Việt, với 65 bài. Vì thế có người nhận xét “thơ Hà Huyền Chi mang nhiều chất nhạc”. Có lẽ khi ông làm thơ đã có ý niệm đem phổ nhạc, ý niệm này xuất phát từ khi nhạc phẩm “Lệ Đá” được ông đặt lời sau bản nhạc chưa lời của Trần Trịnh.

Luận về người làm văn chương – nghệ thuật

Khi nói về những người đang làm văn chương nghệ thuật hôm nay, theo nhà thơ Hà Huyền Chi cho biết :

– “Trước hết, chúng ta đang có tình trạng lạm phát số người muốn tự khoác cho mình chiếc áo thi sĩ, nhạc sĩ. Nhiều người đã tự bỏ tiền ra in thơ hay nhạc, mà trong lúc chưa nắm vững được kỹ thuật căn bản, nhập môn. Của niêm luật, vần điệu, thanh điệu, hợp âm và phối âm.

“Tình trạng trăm hoa đua nở này không có lợi cho sự tiến hóa chung của hai bộ môn nghệ thuật này. Nếu không muốn nói là có hại.

“Chúng ta hãy thử tưởng tượng, trên bất kỳ một sân khấu nào, ai cũng có quyền nhẩy lên ca, ngâm bạt mạng, thì sớm muộn gì cũng giết chết các sinh hoạt này”.

Rồi nhà thơ tâm sự tiếp : là một người thích sưu tập về thơ (collection, chưa là selection) mà ông không có cách gì mua được cho đầy đủ những thi tập được ấn hành ở hải ngoại. Có thể nói, mỗi tuần đều có “thi tập” mới ra lò. Về âm nhạc cũng vậy, các CD nhạc đang ở mức độ lạm phát, tràn ngập thị trường từ VN đem sang ở hải ngoại ấn hành. Nếu không nói các CD “thượng vàng hạ cám” đều xuất hiện hàng ngày. Chưa kể “trận giặc hạ giá” của các CD sản xuất từ VN gửi sang, đã tàn phá thị trường ca, ngâm. Có lẽ vẫn còn tình trạng lạm phát này dài dài.

CD hải ngoại bây giờ khó tiêu thụ, vì bây giờ gặp nạn các ca nghệ sĩ thường làm giá quá đáng, đòi “cát-sê” cao ngất từ 3 tới 5 ngàn đô cho một bài hát thâu âm, đang giết chết giới sản xuất. Giống như giới tài tử điện ảnh Mỹ đòi thù lao vài chục triệu đô cho mỗi phim, khiến hàng loạt các rạp chiếu phim phá sản vì giá vé cao. Cũng thế, ca sĩ hải ngoại đòi thù lao từ 3 tới 5 ngàn đô cho một bài hát thâu âm. Khiến giá bán một CD quá cao so với giá CD sản xuất từ VN, cho nên vẫn còn bế tắc, nan giải chưa thấy “ánh sáng cuối đường hầm”.

Nói về nhạc phẩm Lệ Đá trước đây, nhà thơ Hà Huyền Chi cho biết :

Ngó lui mấy chặng đường Lệ Đá

– Nhạc phẩm “Lệ Đá” trước hết không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của nhạc sĩ Trần Trịnh. Do một cơ duyên đặc biệt, do người bạn tên Đông chơi Clarinet, giới thiệu Trần Trịnh đến với tôi, khi đó Trần Trịnh (giữa thập niên 1960) chưa có nhiều tiếng tăm trong làng tân nhạc thời bấy giờ :

– Nhạc Trần Trịnh khá lắm, nhưng rất ít người biết đến. Xin anh giúp thằng bạn em một lần, đặt lời ca giùm cho nó.

Tôi liền lắc đầu : “Em biết là anh vốn mù nhạc mà !”

– Em biết chứ, nhưng em thành thực nghĩ rằng chỉ có anh mới giúp được nó.

Còn Trần Trịnh cười hiền lành nói thêm :

– Xin anh giúp cho. Tôi nghĩ là sẽ có cách…

Bấy giờ tôi thẳng thắn đặt điều kiện :

– Nể thằng em, coi như tôi chấp thuận trên nguyên tắc. Tuy nhiên, tôi cần nghe anh đàn bản nhạc này vài lần để có khái niệm về nhạc tính. Và tôi cũng cần ý kiến thẩm định về nhạc thuật của bài này với những Pianist như Dzương Ngọc Hoán (chồng Pianist, ca sĩ Quỳnh Giao)

Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội, Trần Trịnh ngồi vào piano. Và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ đó, rất Pianissimo ấy. Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Khi ấy Đông đã kéo Dzương Ngọc Hoán qua và Hoán khen bản nhạc này không tiếc lời, khiến tôi có ngay quyết định giúp Trần Trịnh. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hương của bản nhạc.

Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hòa được cái rung cảm đích thực của thơ tôi vào nhạc Trần Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn. Anh và Hoán cùng hân hoan hát Lệ Đá khiến tôi cũng choáng ngợp trong niềm vui.

Lập tức tôi viết lời 2. Buổi trưa nắng gắt, dưới mái tôn thấp lè tè của quán cơm lính trong trại. Trên chiếc bàn bọc nhôm nóng bỏng, cáu bẩn, tôi thả hồn bay với Lệ Đá. Tôi viết thật dễ dàng, và khóc cũng dễ dàng với lời 2 này.

Tôi cứ vừa viết vừa khóc thế đó, như khi ngồi chép lại những dòng nàỵ Tôi bỏ dở bữa ăn, đem lời 2 lên đài Quân Độị gặp Nhật Trường trước phòng vi âm. Tôi đưa Lệ Đá ra khoe, Nhật Trường hát ngay với nỗi hân hoan bốc lửa. Hắn túm ngay lấy Trần Trịnh đòi soạn cấp kỳ hoà âm cho ban nhạc và 2 bè khác cho Mai Hương, Như Thủy ca. Khoảng nửa giờ sau Lệ Đá được thâu cấp kỳ. Nhật Trường, Mai Hương, Như Thủy, mỗi nguời trên tay một bản Lệ Đá “mì ăn liền” say mê hoà ca với nỗi xúc động đồng thiếp. “Take one Good take !” Hát và thâu hoàn chỉnh ngay lần thứ nhất.
Nhật Trường như bay ra khỏi phòng vi âm ôm lấy tôi và Trần Trịnh :

– Ông đặt lời thần sầu. Bản này sẽ là Top Hit.

Tôi nhún nhường:

– Top Hit được là nhờ nhạc Trần Trịnh bay bổng như diều đấy chứ.

Nhật Trường cướp lời :

– Nhưng ông là gió lớn. Đại phong mà…

Lời bài hát Lệ Đá (1)  sáng tác cuối thập niên 60

Hỏi đá xanh rêu…bao nhiêu tuổi đời / Hỏi gió phiêu du…qua bao đỉnh trời / Hỏi những đêm sâu… đèn vàng héo hắt

Ái ân… bây giờ là nước mắt / Cuối hồn một… thoáng nhớ mong manh

Thuở ấy tôi như… con chim lạc đàn / Xoải cánh cô đơn…bay trong chiều vàng / Và ước mơ sao…trời đừng bão tố / Để yêu thương… càng nhiều gắn bó / Tháng ngày là… men say nguồn thơ

Điệp khúc

Tình yêu… đã vỗ… cánh rồi / Là hoa.. rót mật… cho đời / Chắt chiu… kỷ niệm… dĩ vãng / Em nhớ gì… không em ơi

Mầu áo thiên thanh… thơ ngây ngày nào / Chìm khuất trong mưa… mưa bay rạt rào / Đọc lá thư xưa…một trời luyến tiếc / Nhớ môi em…và mầu mắt biếc / Suối hẹn hò… trăng xanh đầu non

Lời bài hát Lệ Đá (2)  sáng tác cuối thập niên 60

Tượng đá kiên trinh… ru con đời đời / Là nét đan thanh… nêu cao tình người / Là ánh chiêu dương… đẩy lùi bóng tối / Tháng năm xa… trùng trùng sóng gối / Ngóng nhìn từ… bát ngát chân mây

Bài hát ca dao… theo tôi vào đời / Và giữ cho tim… tôi xanh nụ cười / Nào biết trong em… còn nhiều trống vắng / Trái yêu đương… chỉ là trái đắng / Gã tật nguyền… buông trôi niềm tin

Điệp khúc

Tình yêu… đã vỗ… cánh rồi / Là hoa… rót mật… cho đời / Chắt chiu… kỷ niệm… dĩ vãng / Em nhớ gì… không em ơi

Tương đá kiên trinh… ôm con đợi chồng / Nhạc lá thu mưa… hay chân ngựa hồng / Lệ đá tuôn rơi… dòng dòng nối tiếp / Ngóng chinh phu… đời đời kiếp kiếp / Suối vọng tìm… trăng xanh đầu non

Cái ma kiếp của một bài ca được yêu chuộng thường yểu tử, và xuống cấp. Nhưng Lệ Đá thì không. Nó may mắn thoát khỏi định số ước lệ ấý. Vào những năm 67, 68 nhạc phẩm “Lệ Đá” được cất tiếng thường xuyên hầu như ở khắp mọi sinh hoạt văn nghệ mà thời kỳ này nhạc Trịnh Công Sơn đang được mọi người hâm mộ. Lệ Đá góp mặt hàng đêm ở các phòng trà, tiệm nhảy. Lệ Đá vào khuê phòng, ra máy nước. Rồi quán cà phê cũng Lệ Đá, phim ảnh cũng Lệ Đá với tiếng hát Khánh Ly, phim do Thanh Nga, Đoàn Châu Mậu diễn xuất, và Bùi Sơn Duân đạo diễn.

May sao, Lệ Đá vẫn chưa trở thành nhạc sến, nhạc đứng đường. May sao, tôi vẫn được yên thân, bởi vẫn giữ kín cơ duyên “nhảy dù” vào nghề viết lời nhạc. Để mọi người đều hiểu lầm rằng Trần Trịnh phổ thơ tôi.

Khi ấy tôi viết thêm lời 3 cho Lệ Đá khi đi công tác ở Sóc Trăng, Cà Mau. Nơi Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc với muỗi mòng dễ nể. Nhà văn Bình Nguyên Lộc dọa, chỉ cần quơ tay một cái là đã túm được cả chục con muỗí. Bạn bè hăm, trâu bò còn phải ngủ trong mùng. Khách sạn tỉnh lẻ không khá gì hơn mấy quán trọ trong phim Anh Hùng Xạ Điêu, Cô Gái Đồ Long. Thực khách vừa nhâm nhi, vừa quơ chưởng, đuổi muỗí. Mới chập tối, tôi đã chui vô chiếc mùng thố. Và buồn tình tôi viết lời Lệ Đá 3:

Lệ Đá lời 3 (Tháng 9, 1968)

Từ những đam mê… xa trong cuộc đời / Từ những cơn vui… tan theo nụ cười / Từ phút trao đi… cuộc tình thứ nhất / Giá băng khi… tuổi hồng đã mất / Dấu bèo chìm… khuất sóng xa khơi

Dòng tóc mây thơ… trên vai rủ mềm / Mười ngón tay em… đan trong tủi phiền / Lời hứa cao bay… cuộc tình cút bắt / Giấc mơ hoa… đầu đời đã tắt / Có gì vừa… trôi qua tầm tay

Điệp khúc

Người đi… đi mãi… không về/ Thời gian… xoá vội… câu thề / Bóng anh… nhạt nhoà… bóng núi / Em với tình… yêu trăng soi

Lạy chúa ngôi… ba nghe con nguyện cầu / Và giúp cho con… quên đi tình sầu / Lời thánh ru êm… giọt đàn thống hối / Chúa trên cao… mỉm cười thứ lỗi / Những giọt đàn… vang trong trời tin

Sáng hôm sau, chỉ có Chúa ngôi ba mới biết được cơn sợ hãi của tôi đến cỡ nào khi thức giấc. Trong mùng tôi, cả trăm con muỗi đen đủi no căng đu mình say ngủ an bình !!!

Lệ Đá lời 4 (Riêng cho Khánh Liên, tháng 4, 1975)

Chiều 27/4/1975 tôi còn cái hẹn với người tình Khánh Liên ở Thị Nghè. Tình hình thời cuộc lúc đó biến chuyển cực nhanh, nên tôi không đến được với Khánh Liên, tôi đã không thể thu xếp để tới chỗ hẹn, nói lời từ giã cuối cùng với nàng. Nỗi buồn đeo cứng lấy tôi. Khi ngồi nín thở dưới hầm, khi ráng ngoi nhìn mặt sông Lòng Tảo lần cuốí. Nhìn mặt sông cuồn cuộn đau, khi thấp thoáng nghĩ ngàn dặm sẽ chia lìa cùng Sài Gòn, quê hương và người tình Khánh Liên…

Nên bài lời 4 này khởi viết từ tháng 4 và được hoàn chỉnh vào tháng 7/1975.

Lệ Đá lời 4

Từ nỗi xa đau… như đêm và ngày / Mỏi cánh thư bay… bay trong mùa đầy / Hòn đá đeo trên… cuộc đời héo hắt / Mãi bơi trong… vực sầu nước mắt / Chút tình buồn… lãng đãng men say

Người lỡ chia xa… đôi bên địa cầu / Tình lỡ chia xa… hai bên đỉnh sầu / Người đã xa khơi… cuộc tình tách bến / Chút hương xưa… làm thành vốn liếng / Cũng cùn mòn… theo chân thời gian

Điệp khúc

Muà xanh… đã khép… mắt đời / Hè khô… nức nở… ma cười / Gió thu… liệm vàng… nỗi nhớ / Đông xám… màu tang… nơi nơi

Một nét sao bay… trên khung trời buồn / Ngọn lá me khô… lăn trên mặt đường / Tưởng tiếng chân quen… tìm về lối ngõ / Tiếng chân xưa… chỉ là tiếng gió / Gió thở dài… lung lay hồn trăng

Không rõ điều gì đã khiến tôi không xa rời được cái giao hưởng của Lệ Đá 1, 2, khiến đôi khi, khúc này hầu như là một phó bản, mô phỏng của khúc trước. Nó dẫn tôi quanh quẩn trong trình tự ấy không rời.

Lệ Đá lời 5 (Riêng cho Nguyệt Lãng)

Có lẽ tôi là một kẻ chung tình mang trái tim phản trắc. Năm 1992, tôi đắm hồn vào một tình yêu mới. Nguyễn Tà Cúc – Nguyệt Lãng – Ác Bà Bà, là  Ba đại ác nhân và mỹ nhân, đã cho tôi hạnh phúc và hành tôi điêu đứng không cùng.

Nguyễn Tà Cúc thì không thể nào không… tà cho được. Nàng đến với tôi như một tiểu muội thứ thiệt. Rồi tôi đổ đốn đâm ra yêu tiểu muội, qua một phân thân của nàng là Nguyệt Lãng (sóng trăng).

“Tháng Một Buồn” in năm 1993, là thi tập ghi dấu tình tôi với nàng. Rồi Nguyệt Lãng lại phân thân, lần nữa. Từ cây bút hoa bướm hiệu đoàn, Ác Bà Bà soi kính chiếu yêu vào đời sống, văn chương. Và chứng tỏ năng khiếu trong lãnh vực phê bình văn học, và đàn hạch tư cách bất chính của nhà văn. Trong và ngoài văn chương.

Tôi xa nàng từ 1993. Dù cái tình của chúng tôi vẫn là ngàn đời chẳng thể chia xa. Và từ tháng Mười 1992 đến tháng Chạp 2002, đã là hơn 10 năm vèo qua trong thân tình, chúng tôi vẫn chưa hề giáp mặt nhau, dù chỉ một lần. Dù tôi đến Cali nhiều bận. Rất nhiều bận. Không gặp, phải chăng là cố gắng phi thường của chúng tôí. Để giữ cho tình mãi đẹp. Cho dù, những năm sau này, tiểu muội của tôi đã trong tình trạng không còn ràng buộc bởi hôn nhân.

Lệ Đá lời 5

Từ lúc yêu trăng… tiêu hoang cuộc đời / Từ phút say hoa… tương tư biển trời / Muội rót cho huynh… ngọt ngào suối biếc / Đắm say trên…từng hàng chữ viết / Cũng muộn phiền… suốt kiếp chưa vơi

Sợi tóc biên cương… xa hơn ngàn trùng / Nguyệt lãng sông chiạ.. tang thương chẳng cùng / Là nhánh phong lan… vì người vẫy gió / Lúc trăng vơi… người còn mãi nhớ / Vẫn nồng nàn… thơm hương tịnh yên

Điệp khúc

Tình đau… lấp lánh… cuối trời / Ngàn khuya… gió thở… vai người / Tóc đêm… mượt mà… suối nhớ / Trăng đắm… hồn sị.. trăng trôi

Tình lỡ đăng quang… sông vui, dặm phiền / Còn chút dư hương… vương trên cỏ hiền / Để mãi thương nhau… đời này kiếp khác / Những đêm sâu… thảng lời gió hát / Khúc tình hoài… trăm năm, ngàn năm

NGUYỄN LÊ QUAN