THỜI GIANG HỒ NGANG DỌC

GIANG HỒ NAM BẮC

PHÂN TRANH !!!

“Đại hội giang hồ Trà Bắc tại Sài Gòn lần thứ I” có hai kẻ ngoại đạo được xem là “mối”, được xếp ngồi chiếu trên. Người thứ nhất là C. “cận”, một tay đang tập tễnh văn chương từng can tội cướp có vũ trang và vài ba… trọng tội khác cho nên phải ăn cơm tù 17 năm. Từng ngồi mòn vẹt cả nền xi măng của Trại giam Nam Hà, C. “cận” được nhiều dân chơi phía Bắc nhẵn mặt. Qua gã, tác giả bài viết này đã tò mò ghé đến Trà Bắc và vô tình được mời làm “mối” thứ hai.

Ba đêm sau, nhà thơ Đặng Vương Hưng, biên tập viên NXB.CAND cũng “can đảm” ngồi sau xe đạp để chúng tôi chở đến ngồi bệt giữa lề đường Phạm Hồng Thái, quận I uống chè chén, ăn kẹo lạc, hóng chuyện giang hồ. Nếu tôi nhớ không lầm thì đêm đó, nhà thơ đã ngồi cùng chiếu với Thắng Tài Dậu và T. “cá”, nhưng đôi bên đều hoàn toàn không biết nhau. Bảo là “cũng khá thú vị”, nhưng riêng khoản thuốc lào, ông nhà thơ trắng trẻo thư sinh cứ chối đây đẩy.

Ba tuần sau, C. “cận” đem chuyện giang hồ Trà Bắc huỵch toẹt thành một bài báo khá sinh động in trên tờ Tiền Phong, ký một cái tên lạ hoắc. Bị nhắn hỏi, dù nhuận bút đã nhận đủ, C. “cận” vẫn chối phắt quyền tác giả. Lò Trà Bắc sôi sùng sục. Vì chỉ duy nhất chúng tôi là người lạ tham gia đêm “đại hội ngồi bệt” cho nên những thằng mặt rô xứ đó cứ gọi là sôi máu lên, quyết tìm cho ra “gã mối cà chớn” là tôi để “dạy cho một bài học lễ độ” hay nói chính xác là để “bằm cho vịt ăn”.

Vụ việc chỉ được xếp êm, khi có sự dàn hoà của Lâm chín ngón, lúc này đã là  một ông chủ quán thịt chó trên đường 3/2, Q.10 và là một người chúng tôi quen biết.

Lê Ngọc Lâm sinh năm 1945, Công giáo toàn tòng, 9 tuổi theo Chúa vào Nam, lớn lên từ cô nhi viện và các trại dành cho trẻ bụi đời. Ngoài chuyện đâm chết 2 “cao thủ” khác trong tù mà chúng tôi đã đề cập, Lâm chín ngón còn nổi tiếng vì đã từng cùng với Đại Cathay, Của “Gia Định” và Ngọc “heo”, đầu têu vụ bạo loạn của 800 tù thường phạm, đốt cháy Trại giam Chí Hoà vào đêm 25/8/1966. Tiếng tăm đủ để đám Trà Bắc nghiễm nhiên xem gã như một “tiền bối” giang hồ.

Bốn năm sau nữa, đến lượt Lâm… thọ nạn. Khoảng 8h tối 14/7/1999, Lâm chở vợ và con trai 6 tuổi đi ăn tối tại quán Lồi trên đường Cư xá Bắc Hải, Q.10. Một thanh niên không rõ mặt đã bất ngờ lao tới hắt nguyên một ca acid sunfuric và tót lên yên sau một xe máy đang chờ sẵn phóng vút đi. Lâm chín ngón hét lên một tiếng và lăn ra lề đường quằn quại. Qua nhiều lần phẫu thuật, khuôn mặt Lâm vẫn bị biến dạng khủng khiếp: hai tai rụng, mũi rụng, cằm dính vào ngực, hai mí mắt chảy ra và dính vào nhau, bịt kín hai hốc mắt, ấn ngón tay vào là có hai dòng nước đục như nước gạo rỉ ra.

Lê Ngọc Lâm và gia đình đã tuyệt đối không tố cáo với Công an, không nghĩ tới chuyện trả thù, chỉ nhất mực xem đó là nghiệp chướng, tìm nơi khuất nẻo để thuê nhà cho Lâm lánh mặt. Lâm sợ phát hiện ra chỗ ở của anh ta, đám sát thủ lại mò đến. Phải nhiều lần thuyết phục, chi L., vợ Lâm mới đồng ý và dẫn đường chúng tôi đến thăm Lâm.

Nhờ sự quen biết và gửi gắm của nhà báo Vũ Cao, đồng nghiệp của chúng tôi ở tờ ANTG, nguyên là một bác sĩ, Lê Ngọc Lâm đã được bác sĩ Nguyễn Văn Tráng, Trưởng khoa Mắt bệnh viện Chợ Rẫy giúp mổ tái tạo lại hai hốc mắt. Ca mổ miễn phí. Bác sĩ Tráng đã bảo : “Cứ xem như chúng tôi tặng anh một cơ hội, để may ra còn có thể nhìn lại được cuộc đời”. Tất nhiên, vết thương quá nặng nên “cơ hội” của Lâm rất thấp, thị lực mỗi bên mắt chỉ còn lại 2/10.

Giữa tháng 12/2001, khi vụ Năm Cam nổ ra, vụ việc mới có cơ hội được làm sáng tỏ. Năm 1988, sau hơn 22 năm tù tội, Lâm chín ngón được tự do. Năm Cam đến tận nhà hỏi thăm, cho tiền, cư xử với Lâm khá biết điều. Năm Cam còn yêu cầu Mười đen, chủ một cửa hàng bán đồ điện – điện tử ở khu Huỳnh Thúc Kháng, quận 1 phải nhường cho Lâm một phần hùn trị giá 2 lượng vàng. Gọi là hùn nhưng Lâm không phải góp vốn, chỉ đều đặn nhận tiền lãi. Sau vài tháng, Lâm đòi Mười đen nâng… tỷ lệ lãi và đập phá tanh bành cửa tiệm khi bị từ chối. Điên tiết, Nghĩa, con trai Mười đen (sau này bị tử hình vì tội giết người) đã vác dao ra quyết trừng trị “thằng giang hồ già bố láo”. Nếu Năm Cam không xuất hiện, can ngăn đúng lúc, giữa Lâm chín ngón và Nghĩa đã xảy ra một cuộc song đấu kẻ mất người còn. Bí quá, Năm Cam đành “khuyên bảo” Mười đen (thực ra là buộc phải làm theo): “Thôi, anh Lâm đã không đồng ý hùn nữa thì đem trả 2 cây vàng vốn lại cho ảnh” !

Có vốn, Lâm tham gia buôn bán ở chợ tân dược quận 10. Được ít lâu, thấy Mười đen mở tiệm mới, làm ăn khá, Lâm lại mò đến đòi “góp vốn”. Lại suýt chém nhau, Năm Cam lại đứng ra dàn xếp. Không chút biết điều, Lâm vẫn chửi Năm Cam sa sả, cố tình gây sự.

Cuối năm 1998, Lâm tổ chức tiệc ở một nhà hàng trên đường Trần Hưng Đạo, quận 5 mời một loạt giang hồ có máu mặt. Năm Cam đến dự. Giang hồ các bàn đều đứng dậy cầm ly đến ra mắt, chúc tụng, một điều anh Năm, hai điều anh Năm, quên béng mất “chủ nhân ông” bữa tiệc là Lâm chín ngón. Ngứa mắt, Lâm xô tới, chỉ mặt Năm Cam gầm lên : “Thằng Năm Cam này chỉ là đồ gá bạc nhãi nhép. Tao coi nó không là cái đinh gì. Đứa nào bợ đỡ với thằng già chó này, đừng coi tao là đàn anh nữa”.

Mặt tái như đít nhái, giận run người, nhưng chưa phải lúc, Năm Cam vẫn ngọt nhạt: “Anh Lâm say quá rồi, mấy em đưa ảnh về nghỉ. Anh Năm cũng say rồi, anh Năm đi trước”.

Hai tuần sau, theo sự chỉ đạo của Năm Cam, một sòng bạc “quen biết” ở Q.10 đã quên mất “nghĩa vụ nhường nhịn”, lột sạch của Lâm 1 cây vàng, 17 triệu đồng và 1 chiếc xe máy. Tưởng hổ dữ còn uy, Lâm đã đến tận nhà Năm Cam đòi lại. Câu trả lời là lời tuyên chiến : “Cờ gian bạc lận, dám chơi dám chịu, tiền đâu tôi “đền” cho anh Lâm mãi được !”. Hung hăng, Lâm chín ngón định “dạy cho thằng Năm một bài học” ngay tại chỗ. Nhưng mấy tên đàn em đi theo, vừa nhác thấy Năm Cam, Châu Phát Lai Em, Thọ “đại uý” bước ra, đã co cẳng chạy mất. Quay qua quay lại thấy chỉ có một mình. Lâm chín ngón đành đứng chửi một hồi rồi bỏ đi.

Tối 11/7/1999, Dung “Hà” và Quân “béo” (Nguyễn Duy Quân) được Năm Cam triệu đến nhà riêng ở số 107/38 Trương Định, quận 3, yêu cầu “giải quyết” Lâm chín ngón. Ý kiến “tạt acid có tác dụng dằn mặt khủng khiếp hơn” do Dung “Hà” đưa ra được Năm Cam “duyệt”. Cháu gọi Năm Cam bằng cậu là Thọ “đại uý” (Nguyễn Văn Thọ) đã hai lần phải xách bình đi mua acid, vì lần đầu Dung “Hà” chê “loãng, không đạt yêu cầu”. Sau đó, chính Thọ lại phải đưa đường cho hai sát thủ lên quận 10 để nhận mặt Lâm Chín Ngón.

Ba ngày sau, tay anh chị Ba-ke lừng lẫy một thời đã vĩnh viễn thành người tàn phế. Sau phiên toà xử vụ Năm Cam, Lâm chín ngón phát lộ dấu hiệu tâm thần, kết thúc bằng cái chết bi thảm, chúng tôi không tiện đề cập.

Cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, giang hồ Trà Bắc bắt đầu rùng rùng kéo nhau vào Nam, hoà nhập rất nhanh nhưng dứt khoát không… hoà tan. Mốt thời thượng của đám “cu lịch và quý – sờ – tộc”  (dân chơi, con nhà giàu mới lớn) ở Sài Gòn lúc đó là “đầu Ta-bu, xế Su – rít, đít jean – tua”, nghĩa là tóc cắt kiểu Ta-bu, không có tóc mai, giống như cái mũ nồi chụp lên cái đầu cạo trắng, đi xe Suzuki Crystal loại 2 thì, ống “pô” vểnh ngược, có tốc độ đề – pa từ 0 -100km/h, tôi không nhớ mất mấy giây nhưng cực nhanh, lại nhẹ, dễ luồn lách, dễ đánh võng trên đường phố để trốn chạy nếu bị truy đuổi và mặc quần jean xé ống lua tua như tấm giẻ chùi nhà…

Đám Nhikolai (còn trẻ) từ ngoài Bắc “hành phương Nam” cười ruồi, chê là nửa mùa. Chúng tụ lại với nhau khoe áo Nato, áo bay bằng da láng, giày Côsưghin cao cổ và cắt tóc kiểu ca-rê 3 phân. Tuy bảo là “ăn Bắc mặc Nam” nhưng dường như đã có giai đoạn, phục trang của giang hồ Trà Bắc đã khiến giang hồ Sài Gòn phải thầm ghen tỵ và… bắt chước.

Được những cuộc đối đầu ngang nhiên của Lâm chín ngón với Năm Cam cổ xuý, không ít tay Trà Bắc “mới lớn” tỏ ra coi thường cả hệ thống giang hồ Sài Gòn lẫn ông trùm của chúng. “Thằng nhãi ranh” đầu tiên dám giỡn mặt chính là Cường “híp”, tên thật là Trần Ngọc Cường, sinh năm 1968 tại Hải Dương, nhưng hộ khẩu thường trú lại nằm trên đường Lương Khánh Thiện, Hải Phòng.

Theo gia đình chuyển vào sinh sống ở đường Nguyễn Đình Chiểu, Q.3, Cường “híp” nhanh chóng liên kết với Ngọc “đói”, một giang hồ quận 3 dữ dằn, ngoi lên xây dựng cho mình một lãnh địa ở khu vực Chợ Đũi, tổ chức cờ bạc, bán lẻ ma tuý và giành quyền bảo kê  một số quán bar, vũ trường khu vực quận 3 và quận 1. Năm 1995, Năm Cam phải đi cải tạo, Cường “híp” lại bắt tay với Bình “kiểm” hình thành nên một băng nhóm giang hồ Trà Bắc cực mạnh.

Để dạy dỗ, Năm Cam đã ra lệnh cho đàn em quậy nát trường gà và sòng bạc của Cường “híp” ở khu vực Cống Bà Xếp (đường Trần Văn Đang, sau ga Hoà Hưng), sau đó báo cho Công an truy quét. Đám hảo thủ Ba-ke trẻ tuổi đàn em của Cường đang bảo kê ở quận 3, quận 1 đã liên tục bị những Châu “râu”, Bình “đen” (em trai võ sư Nguyễn Văn Vạn đã bị án tử hình), Luông “điếc”, Dũng “lỳ” (con trai cặp quái kiệt Luông “điếc”, Hà “trề”), Nghĩa con trai Mười đen bất ngờ tập kích, đánh chém tơi bời.

Cường “híp” ra lệnh cho đàn em lót ổ, chém Mười đen, đập nát bảng hiệu một số cơ sở kinh doanh của tay này để trả đũa. Điên ruột, Năm Cam hạ  lệnh quy tụ khoảng 60 sát thủ định tổ chức đập phá, sau đó đốt nhà hàng karaoke G.Đ. nổi tiếng ở quận 3 nhằm triệt phá nơi Cường chọn làm đất cung cấp ma tuý cho dân chơi Sài Gòn. Chưa kịp ra tay, một sự cố khác lại xảy ra.

Cận Noel 1998, có 4 tay chơi Ba-ke trẻ tuổi tham gia đánh bạc tại sòng của Năm Cam trên đường Tôn Đản, quận 4. Sau chỉ hơn 1 giờ, mỗi tay chơi đều thua khoảng vài chục triệu đồng, nhẵn túi. Tiễn khách, nhà cái nhã nhặn đưa 200.000 đồng để “các đàn anh đi ăn cháo vịt”.

Một trong 4 con bạc hất hàm: “Lấy ra đây mỗi người 1 triệu, không bố mày đốt mẹ cái sòng bây giờ”. Lập tức, một dàn mã tấu xuất hiện, gí ngang cổ cả 4 tay chơi. Có vẻ cũng khá “biết nhau”, các tay mã tấu chỉ vung lên thị oai đủ đe dọa để vứt 4 thằng ngang ngược ra đường nhưng không chém. Lời cảnh cáo là : “Cầm lấy tiền rồi biến. Ăn khuya mà đòi mỗi thằng 1 triệu, tụi bay định cướp à ? Lầm chỗ rồi !”. Vứt tung 4 tờ 50.000 đồng màu xanh, một thằng khách thủng thẳng : “Định cướp, chỗ này ra bã lâu rồi. Bố mày không lầm đâu. Về bảo thằng trùm già của chúng mày cứ chờ đấy”.

Một tuần sau, một xe cá mập (Toyota Hiace loại 16 chỗ) lại đỗ xịch đúng giờ tại sòng bạc cũ. Những tay mã tấu lại chạy rùng rùng, vây lấy đám khách vừa xuất hiện. Chưa kịp vung mã tấu, đám cô hồn sòng bạc đã líu ríu úp mặt vào tường. Có tới 4 khẩu súng, 2 quả lựu đạn bất ngờ xuất hiện để thiết lập trật tự. Gom tất cả tiền bạc trong sới vun thành một đống, tên Trà Bắc bị xô ra hôm nào ung dung móc bật lửa đốt thuốc và… đốt luôn đống tiền. Chờ cháy sạch, gã mới thủng thẳng: “Nhớ nhé, chúng ông không cần cướp. Chỉ “vui” thì “chơi”, thế thôi”.

Cùng thời điểm, ở một sòng bạc khác của Năm Cam tại cầu Hang (Biên Hoà), kịch bản tương tự cũng diễn ra. Một trong số những khách không mời, trước khi rút lui trong yên lặng còn dặn lại: “Anh Cường “híp” có lời chia buồn với anh Năm, nhờ… các em chuyển giúp!”.

Lời cảnh cáo quả nhiên có tác dụng. Năm Cam thừa biết bọn nhóc rắn mặt sẽ không ngần ngại chơi hàng nóng. Và chơi bạo. Thắng thua với chúng chắc chắn không lợi lộc gì. Ngay lập tức, lệnh đốt quán, chém giang hồ Trà Bắc đi lẻ được thu hồi và bãi bỏ. Chiến lược của Năm Cam chuyển hướng từ đối đầu, trừng trị sang bắt tay giảng hoà và hợp tác với Trà Bắc, thế lực giang hồ mới đang ngóc lên và khẳng định vị trí ở Sài Gòn. (theo Hồng Lam/CAND)

VÌ SAO LÂM CHÍN NGÓN

MẤT MỘT NGÓN TAY ?

Ỷ vào binh hùng tướng mạnh, vả lại quyền lợi quá lớn, Tín Mã Nàm gạt phăng đề nghị “hợp tác làm ăn” của Đại Cathay. Và thế là trận chiến giữa hai băng nhóm giang hồ lớn nhất miền Nam bắt đầu…

Tính dằn mặt đối thủ, ai dè gặp thứ thiệt, đám thực khách không còn cách nào khác hơn là chấp nhận xuống nước. Trời không chịu đất, đất đành chịu trời chớ sao. Tên hớt tóc ngắn, hình như cầm đầu bọn, lên tiếng :

– Thấy anh nãy giờ tôi nghĩ không phải thứ mới vào nghề chưa có số má gì. Anh nói thật cho tụi tôi biết anh là ai ?

Lâm thở dài :

– Từ lâu lắm tôi đã cố quên tên của mình. Nay các bạn hỏi tôi cũng xin nói thiệt. Cách nay hơn mười năm tôi cũng tạm gọi là có chút danh vọng. Anh em trong giới giang hồ khi ấy quen gọi tôi là Lâm Chín ngón.

Đại ca thứ thiệt

Cả bốn tên đều bất giác đứng bật dậy, gã tóc ngắn hỏi :

– Anh là Lâm Chín ngón ? Đâu, anh cho xem bàn tay trái thử coi.

Nãy giờ, khi thử sức Lâm đều dùng tay phải nên chưa ai thấy bàn tay trái của anh ta. Khi Lâm vừa xoè bàn tay trái với bốn ngón ra thì cả bốn đứa đưa cả hai tay ôm vai anh ta, đứa cầm tay lắc lấy lắc để, đứa chắp hai tay xá :

– Xin lỗi đại ca, xin lỗi. Nãy giờ tụi em không biết lỡ xúc phạm đến đại ca. Anh em trong nhà cả, đại ca không nói sớm. Đâu, chủ quán đâu ?

Thì nãy giờ chủ quán nấp ngay sau cánh cửa chớ đâu. Vừa nghe gọi chủ quán bước vô phòng… Tên hớt tóc ngắn bảo :

– Đưa hóa đơn tính tiền coi !

Chủ quán đã lấy lại bình tĩnh :

– Dạ khi nãy đưa rồi mà.

Tên râu quai nón cúi xuống gầm bàn lượm tờ giấy lên, đọc :

– Một triệu bốn trăm năm mươi ngàn. Tưởng nhiều, nhiêu đó nhằm gì !

Gã móc túi lấy ra chiếc khăn, mở ra, bỗng gói vội lại, kêu “Lộn rồi !”. Nhưng Lâm đã kịp nhìn thấy một đống nhẫn, dây chuyền, đồng hồ… trong khăn, đoán chừng bọn này vừa “ăn hàng” về, vô quán ăn mừng. Gã móc túi bên kia, phen này thì đúng là một bọc tiền. Tên hớt tóc ngắn giọng xởi lởi :

– Trả luôn 1.500.000 ngàn cho chẵn. Ủa, còn mấy em gái khi nãy đâu ?

Thấy tình hình đã lắng dịu, “phe mình” thắng thế, mấy em gái bia ôm thập thò ngoài cửa phòng, chỉ chờ cơ hội là ăn theo, nhanh nhẹn bước vô. Một tên khác bảo :

– “Bo” mỗi em một trăm ngàn chịu không ?

Thì mấy em chịu quá đi chớ ! Tiền bạc xong xuôi, tên hớt tóc ngắn thân mật bắt tay Lâm Chín ngón :

– Tụi em khi nãy không biết, lỡ đắc tội, đại ca bỏ qua cho. Khi nào có dịp ra Hải Phòng, đến bến Sáu Kho, đại ca cứ hỏi Thành bớp là ai cũng biết, tụi em xin tiếp đón trọng thể.

Kể xong câu chuyện, Lâm Chín ngón thở dài tâm sự : “Anh ạ, từ sau tối hôm ấy, em nghĩ cái mạng mình sống chết bất cứ lúc nào nếu còn theo cái nghề bảo kê ấy, mà chết lãng xẹt. Nên em quyết bỏ bằng được”.

Tại sao Lâm mất một ngón tay ?

Trước khi kể tiếp, xin vắn tắt nói về biệt danh Lâm Chín ngón.

Hầu như ai cũng biết bốn tay “đại cao thủ võ lâm” đã thành danh trên chốn giang hồ Sài Gòn khoảng 50 năm về trước : Đại, Tỳ, Cái, Thế.

Đại Cathay đã đi vào “lịch sử dân chơi” với nhiều huyền thoại pha lẫn thực tế, kể cả cái chết bí ẩn của anh ta.

Tỳ vốn là võ sư, tên thật Huỳnh Tỳ, trước hùng cứ tại Olympic đường Hồng Thập Tự. Sau 1975, Tỳ vào chùa thắp nhang thề từ bỏ chốn giang hồ, về nhà làm nghề mua bán.

Cái họ Wòng vốn gốc là dân Nùng. Thế tên thật Lâm Thế, thường gọi Ba Thế. Khi ấy Cái và Thế cùng nhau coi khu vực từ Lê Lai dọc qua ngã tư Quốc tế đến khu Dân Sinh (Wòng Cái chết trong thùng xe bánh mì sau bệnh viện Sài Gòn vì bị ma túy hành hạ trong đêm Noel 1978. Còn Ba Thế tập hợp số đàn em còn rơi rớt lại tính “cướp cú chót” vào thời gian gần Tết trung thu năm 1976, nhưng vụ cướp không thành và Ba Thế bị bắt, số phận sau ra sao không rõ).

Vào thời điểm 1964, Đại Cathay tính “bành trướng lãnh thổ” sang khu Đại Thế Giới ở Chợ Lớn; cả Tỳ, Cái, Thế đều đã quy phục Đại Cathay.

Đại Thế Giới nằm ngay tại ngã ba Trần Hưng Đạo – Nguyễn Hoàng (nay là Trần Phú) khi ấy nằm dưới quyền Tín Mã Nàm, vốn đã nổi tiếng từ thời Pháp thuộc, qua giữa thập niên 1960 lại càng mở mang phát triển hơn.

Tiền bạc vô như nước, đương nhiên bọn đứng “mặt rô” phải đông. Dưới trướng Tín Mã Nàm là một dọc các “cao thủ”, với cánh tay phải là Xú Bá Xứng chuyên coi về tài chánh, cờ bạc; về đâm thuê chém mướn phải kể đến Bắc Kỳ chảy và Cọp chảy đứng đầu băng bảo kê. Nhất là Bắc Kỳ chảy vốn là dân gốc người Nùng từ Móng Cái di cư vào đầu quân cho Tín Mã Nàm.

Ỷ vào binh hùng tướng mạnh, vả lại quyền lợi quá lớn, Tín Mã Nàm gạt phăng đề nghị “hợp tác làm ăn” của Đại Cathay. Và thế là trận chiến giữa 2 băng nhóm giang hồ lớn nhất miền Nam bắt đầu…

Đại Cathay lập tức triệu tập binh tướng, lên kế hoạch tập kích. Ba Thế mới về đầu quân cho Đại Cathay chưa bao lâu, chưa lập được chiến công hiển hách nào, hăng hái :

– Để thằng Bắc Kỳ chảy cho tôi !

Tuy là một trong “tứ đại cao thủ” nhưng Ba Thế trắng trẻo, đẹp trai, từng được hề Ba Hội đoàn Kim Chung đặt biệt danh “bạch diện thư sinh”, nên Đại Cathay ngần ngại :

– Thằng Nùng đó ghê lắm. Bọn Nùng di cư toàn đi lính nhảy dù và thiết giáp… Thôi được, thằng Lâm phải theo sát hỗ trợ cho Thế !

Thế là một sáng kia, hai xe hơi du lịch và mấy chục xe gắn máy hiệu Goebel, Push, Brumi, Ishia (hồi ấy chưa có xe gắn máy Nhật, mà chỉ toàn xe hiệu Sach của Đức) chở đôi phóng như bay, bất ngờ đồng loạt thắng lại trước khu Đại Thế Giới. Các thanh niên trên xe nhào xuống, kẻ rút đao, kiếm, người móc côn, lưỡi lê, ào vô các tiệm quán bên đường, cứ nhè các thanh niên đang ngồi uống cà-phê hay ăn hủ tíu mà đâm, chém tới tấp, bất kể đó có phải đám lâu la của Tín Mã Nàm hay không. Sau một lúc ngỡ ngàng, nhóm thanh niên này lập tức trấn tĩnh lại, hò hét lấy khí thế, chạy vô phía trong quán, cũng lấy dao, kiếm, côn nhị khúc…. cất giấu sẵn, múa may đánh trả không chút sợ hãi.

Trong lúc hai bên giáp chiến, Ba Thế đảo mắt tìm Bắc Kỳ chảy. Vừa nhận ra đối thủ, Ba Thế cầm đao xộc thẳng tới trước mặt Bắc Kỳ chảy, quát lớn :

– Mày ngon đấu tay đôi với tao !

Bắc Kỳ chảy hừ một tiếng, vung thanh mã tấu bén ngót xông lại đón đường đao của Ba Thế. Qua lại được vài hiệp, đám giang hồ Sài Gòn do Lâm dẫn đầu ùa tới khiến Bắc Kỳ chảy không dám tham chiến, vội bỏ chạy.

Đang hăng, Ba Thế rượt đối thủ bén gót. Hình như đã có chủ ý, Bắc Kỳ chảy chạy tọt vào rạp hát Hào Huê (nằm trên đường Trần Phú, gần góc đường Trần Hưng Đạo). Đời nào để con mồi thoát thân, Ba Thế lao theo. Ai ngờ hắn vừa lọt vô rạp hát thì nghe đánh rầm ở phía sau : Hai tên đàn em Bắc Kỳ chảy phục sẵn ngay tại phía trong cửa rạp hát đã kéo cửa sắt, khiến cả bọn lâu la của Ba Thế rớt lại phía ngoài cửa ! Thấy đối thủ đã sa bẫy, Bắc Kỳ chảy vung thanh mã, cười gằn :

– Phen này nị chết nhen con !

Hai tay đàn em của gã người Nùng rút côn nhị khúc, đứa cầm kiếm lăm lăm, sấn tới. Ba Thế hốt hoảng lượng định tình thế, áp sát lưng vô tường làm điểm tựa, xuống tấn, cầm ngang đao thủ thế, chân không ngừng di chuyển dần lại phía cửa sắt…

Phía ngoài, Lâm đuổi tới rạp Hào Huê, nhưng cánh cửa sắt đã khép lại, chỉ thấy phía trong Ba Thế một chống ba, tính mạng mong manh như ngàn cân treo sợi tóc. Lâm nhanh trí, lấy đầu nhọn con dao phở mà hắn dùng làm vũ khí lách vô dưới khe hở chốt cửa, khẽ nâng lên.

“Tách” một tiếng, chốt đã nâng lên, Lâm vừa đưa tay trái kéo cửa sắt mở ra thì nghe sau gáy lạnh buốt : Một nhát kiếm đã chém trúng sau đầu. Lại nghe tiếng quát phía sau, mũi con dao phở trong tay phải Lâm lúc này vẫn còn dính trong kẹt cửa sắt không thể nào rút ra kịp để quài lại đón đòn tấn công, Lâm đành liều mình, vung tay trái lên che ót. Lưỡi kiếm bén ngót lần này tiện đứt lìa ngón tay cái của Lâm.

Lâm mang biệt danh Lâm Chín ngón kể từ đó.

Bên trong rạp Hào Huê, Ba Thế không bỏ lỡ cơ hội, nhanh chóng thoát ra ngoài, vừa kịp lúc đám giang hồ Sài Gòn hàng chục người xông tới tiếp cứu khiến nhóm Chợ Lớn phải tháo lui, tẩu tán vào các hang cùng ngõ hẻm và các nhà, quán quen thuộc, trong phút chốc biến mất sạch !

Hoàng Nguyễn post (tổng hợp)

Advertisements

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHỢ BÌNH TÂY

QUÁCH ĐÀM  

HAY THÔNG HIỆP ?

Được dựng tượng và trở thành Thần Tài cho người buôn bán ở Chợ Lớn… Đó là trường hợp ông Quách Đàm.

Vào đầu thế kỷ trước (thế kỷ XX), khi chợ Bình Tây (quận 6, trước còn có tên là chợ Chợ Lớn Mới) khánh thành năm 1930 thì người đứng cất chợ là ông Quách Đàm (1863 – 1927) đã qua đời. Vốn gốc người Hoa nghèo khổ, trôi dạt sang đất Việt, chịu cực chịu khó với đủ thứ nghề lao động chân tay và buôn bán cò con, họ Quách – còn được gọi là ông Thông Hiệp – đã tích góp của cải để cất ngôi chợ Bình Tây trên một bãi sình lầy mênh mông (nay bên cạnh chợ có một con đường tên là Bãi Sậy) và đặc biệt trong chợ có một hoa viên nhỏ. Cảm mến tấm gương phấn đấu lập nghiệp của ông chủ chợ, từ xưa người ta đã lập tượng ông (bằng đồng, kích thước 235cm x 80cm) thờ giữa hoa viên, mà ngày ngày dân buôn bán trong chợ, người Hoa cũng như người Việt, cùng đến thắp nhang cúng ông, xem ông như Thần Tài địa phương.

Sau ngày 30/4, tượng Quách Đàm bị hạ xuống, trôi nổi mãi mới được đưa về bày trong sân Nhà triển lãm số 6 Phó Đức Chính Quận 1. Còn trong hoa viên giữa chợ Bình Tây, chỉ còn một cái lư cắm nhang và một cái hộp nhựa, bên trong đựng một tấm ảnh vàng ố, cong veo của họ Quách. Gần đây, do đề nghị của bà con tiểu thương trong chợ, tấm ảnh được thay thế bằng một pho tượng bán thân (kích thước khoảng 100cm x80cm). Dù không được là pho tượng cũ của ông Quách Đàm, nhưng bên cạnh những khách nước ngoài tò mò đứng theo dõi, người buôn bán, kiếm sống trong chợ cứ lũ lượt đến thắp nhang cúng vị Thần Tài của mình.

Lịch sử hình thành

Trong những năm 1776, vùng đất Sài Gòn (tức vùng Chợ Lớn ngày nay, còn Sài Gòn ngày nay trước kia được gọi là Bến Nghé) là nơi định cư của người Hoa ở Cù Lao Phố (tức Biên Hoà ngày nay) sau khi chạy lánh nạn do chiến tranh giữa Nguyễn Anh và quân Tây Sơn. So với Cù Lao Phố, Sài Gòn có nhiều lợi thế hơn hẳn do có giao thông thuỷ, bộ rất thuận lợi.

Theo phong tục tập quán, người Hoa thường lập chợ khi đến nơi định cư mới nhằm có chỗ để trao đổi hàng hoá. So với chợ Tân Kiểng của người Việt thì chợ Sài Gòn (khu vực Bưu điện Chợ Lớn ngày nay) có lớn hơn nên được người dân nơi đây gọi là Chợ Lớn.

Chợ Lớn ngày càng phát triển sung túc, nhiều người dân từ nơi khác tập trung đến làm ăn mua bán. Chợ trở nên chật hẹp không thể phát triển thêm. Chính quyền tỉnh Chợ Lớn thời đó cũng dự định xây dựng chợ mới nhưng chưa tìm được đất. Hay tin, Quách Đàm bỏ tiền ra mua mảnh đất sình lầy rộng trên 25.000m2 ở thôn Bình Tây và cho san lấp bằng phẳng, xây dựng chợ mới bằng bê tông cốt thép tặng nhà nước. Riêng Ông chỉ xin xây dựng mấy dãy phố lầu xung quanh chợ và dựng tượng Ông chính giữa chợ sau khi Ông qua đời.

Quách Đàm, thương hiệu Thông Hiệp (1863 – 1927, theo ghi khắc tại bệ đá thờ Ông trong hoa viên của chợ), người được xem như thần tài của chợ Bình Tây, người làng Triều An, Long Khanh, Triều Châu, Trung Quốc rời quê hương với hai bàn tay trắng. Thuở ban đầu Ông đi thu mua ve chai, lông vịt và các loại nguyên liệu phế thải để kiếm sống qua ngày. Nhờ đức tính cần cù chịu khó, lại giỏi tính toán, bán buôn Ông dần trở thành người giàu có. Khi được chính quyền tỉnh Chợ Lớn đồng ý, Ong tổ chức xây chợ mới theo lối kiến trúc Trung Quốc và áp dụng kỹ thuật xây dựng hiện đại của Pháp thời bấy giờ. Riêng tượng Ông Quách Đàm bằng đồng được thuê đúc tận bên Pháp. Sau khi mất tượng Ông Quách Đàm được gia đình ông dựng lên vào năm 1930 trên bệ cao, dưới chân tượng có kỳ lân chầu và rồng phun nước. Hiện nay, tượng của Ông được lưu giữ và bảo quản tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố.

Chợ mới sau khi xây xong rất khang trang, sạch sẽ trên khuôn viên đất khá rộng nên được người dân gọi là Chợ Lớn Mới. Ngay sau khi được đưa vào hoạt động, với lợi thế về giao thông thuỷ bộ cũng như tay nghề kinh doanh của bà con tiểu thương người Việt và người Hoa, Chợ Lớn Mới nhanh chóng trở thành khu kinh doanh sầm uất, giữ tính chất đầu mối bán buôn khắp Nam kỳ lục tỉnh, trong nước và các nước láng giềng cho đến ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Ngay sau ngày giải phóng, chính quyền tiếp nhận quản lý, sắp xếp cho dân tiếp tục mua bán phục vụ hàng hoá cho cả nước và các nước bạn Lào, Campuchia, Trung Quốc và đổi tên chợ là chợ Bình Tây cho đến ngày nay. Năm 1992, tiếp tục phát huy thế mạnh của chợ, Quận 6 tổ chức sửa chữa nâng cấp nhà lồng chợ thêm một tầng lầu. Năm 2006 tiếp tục đầu tư cải tạo sửa chữa khu vực Trần Bình – Lê Tấn Kế khang trang sạch đẹp, chợ Bình Tây vì thế trở thành một trong những ngôi chợ lớn của thành phố với 2.358 quầy sạp. Khu vực nhà lồng chợ có 1446 sạp, trong đó tầng trệt là 698 sạp, tầng lầu có 748 sạp. Khu vực ngoài nhà lồng có 912 sạp, trong đó Trần Bình có 408 sạp, Lê Tấn Kế có 328 sạp, Phan Văn Khoẻ là 176 sạp. Các ngành hàng được bố trí, sắp xếp hợp lý, tập trung theo từng khu vực kinh doanh nhằm phát huy thế mạnh của từng ngành hàng. Bà con người Hoa vẫn tập trung về chợ làm ăn mua bán mà đa số là người Hoa sinh sống tại các quận 5, quận 6 và quận 11. Tiểu thương người Hoa hiện chiếm tỷ lệ 25% số lượng hộ kinh doanh tại chợ Bình Tây.

Trải qua hơn 80 năm hình thành và phát triển, chợ Bình Tây ngày nay vẫn giữ được vị thế của một chợ đầu mối bán buôn lớn của thành phố và của quận 6 mặc dù có sự cạnh tranh khá quyết liệt của các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại hiện đại trong những năm gần đây. Tuy nhiên, với lối kiến trúc cổ xưa của Trung Quốc và bề dày lịch sử lâu năm nên chợ đang mở ra một hướng phát triển mới đó là điểm du lịch tham quan mua sắm nhiều tiềm năng cho khách du lịch trong và ngoài nước.

Hàng năm có trên 120.000 lượt khách du lịch người nước ngoài đến tham quan và mua sắm tại chợ do các Công ty du lịch của cả nước đưa tới, trong đó nhiều nhất là Công ty du lịch Sài Gòn. Đến với chợ Bình Tây, du khách vừa được ngắm nhìn kiến trúc cổ, tìm hiểu lịch sử của chợ và mua sắm với giá cả phù hợp.

Quách Đàm, người xây dựng chợ Bình Tây

Xuất thân mua bán ve chai. Sau kèm thêm mua da trâu, vi cá, và bong bóng cá. Ngày ngày thả rong làng xóm, hai giỏ tre trên vai, quản bao mưa gió. Buổi trưa Đàm thường nằm nghỉ lưng hàng ba phố trống, ghe phen bị một phu vác lúa làm khổ, móc túi Đàm lấy giấu giấy thuế thân để chẹt Đàm chuộc năm xu, một hào, mỗi bữa có đủ tiền uống trà giấc trưa. Như vậy mà Đàm không thù hiềm, khi đắc thời Đàm tìm cho được anh phu, ân cần mời về cho làm cặp rằng xếp bọn vác lúa, không khác chuyện Hàn Tín đối đãi với tên ác thủ đời Tây Hán. Đàm nhờ lanh trí, nhập giới thương mãi thấy việc mau lẹ hơn ai, nên làm giàu cấp tốc. Đàm hút nha phiến đêm ngày, đèn không tắt, giao thiệp lựa toàn quan to, thậm chí Thống Đốc Nam Kỳ Cognacq, làm cao không ai có, thế mà cũng hạ mình cầu thân với Đàm.

Đàm mua đất vùng Bình Tây nguyên là đất ruộng, mua xong Đàm nghĩ ra một kế để biến đất ruộng trở nên đất thổ trạch châu thành. Đàm hy sinh một số vốn to tát, tự mình xuất tiền đúc một chợ ciment cốt sắt vĩ đại, nay vẫn còn đồ sộ và khéo léo, quen gọi Chợ Quách Đàm (Chợ Bình Tây) (1&2).

Đổi lại ơn kia, Đàm xin chánh phủ đặt tượng đồng của Đàm nơi cửa chánh môn. Tượng do Đàm xuất tiền đúc nắn, ăn vận triều phục Mãn Thanh, nón nhỏ, áo ngắn phủ trên một chiếc áo thụng, đầu để bín, tay cầm một bản đồ (3), dưới bệ đá trắng có mấy con giao long bằng đồng phun vòi nước bạc. Chợ xây rồi, chung quanh đó, Đàm dựng nhà lầu kiểu phố buôn bán và toa rập với chánh phủ Pháp định dời Chợ Lớn về đây, trước dẹp chợ cũ xấu xí, sau mở mang thành phố cho thêm tráng lệ. Không ngờ địa lợi chưa thuận, thêm dân cư thưở ấy không được đông đúc như bây giờ, vả lại các thương gia Huê Kiều đã yên nơi yên chỗ cũng không muốn dời phố mới xa xuôi thêm hao tốn: Đàm thất bại một phần nhưng không lấy đó làm mối lo.

Để thấy mánh lới, gan dạ của Đàm, kể ra đây một tỷ dụ:

Một năm nọ, Đàm sai mua lúa khắp Lục Tỉnh trở về trữ ngập kho ngập chành trong Chợ Lớn, chờ ngày chuyển sang thị trường Tân Gia Ba. Xảy đâu tin dữ bên Singapore gởi qua cho hay lúa ối và sụt giá ! Cứ đà này, lúa của Đàm dự trữ đã mất lời mà còn phải chịu lỗ lã, số tiền hao hụt không thể tưởng tượng. Đàm vẫn bình tĩnh như thường, lại ra mật lịnh cho bọn tay sai Lục Tỉnh cứ tiếp tục mua lúa thêm mãi, giá y cựu lệ, như không có việc gì xảy đến.

Chẳng những vậy, Đàm còn hô hào dạy cứ mua giá có thể cao hơn trước mỗi tạ một vài đồng xu để người bán ham lời không bán cho người khác. Một mặt, Đàm gởi mật thơ cho đại diện bên Tân Gia Ba căn dặn tống sang đây một điện tín khẩn cấp đồn đãi rằng lúa sắp vọt giá lên cao hơn nữa…

Quả nhiên, các nhà buôn lúa cạnh tranh với Đàm, tuy kinh nghiệm có thừa, nhưng không thóat được quỷ kế của Đàm. Các chành ùn ùn xúm nhau kiếm mua lúa với giá cao để có đủ số ăn thua cùng Đàm. Đàng này, tuy nằm hút á phiện, nhưng Đàm vẫn lén sai bộ hạ bán đổ bán tháo lúa dự trữ bấy lâu ra gần sạch kho. Lúa Đàm bán xong, các nhà buôn kia cũng vừa ngưng mua, thầm biết mắc mưu độc. Các nhà buôn đã chia nhau mua lúa của Đàm, chia nhau gánh lấy sự lỗ lã của Đàm, và phen này hú hồn. Đàm nằm hút cười thầm “kế mượn tên” của Gia Cát Khổng Minh lẩm rẩm mà thâm thúy vô cùng, và ngày nay vẫn còn hiệu nghiệm.

Kể ra Đàm rất nhiều cơ mưu, và trong thương giới quả Đàm là một tay lợi hại. Đàm tuy là một khách trú không mấy ai biết nhiều, nhưng ai biết được Đàm cũng đều cầu thân để cậy nhờ nhiều việc. Một hội viên hội đồng quản hạt chở mía cây đến bán cho Đàm, ngồi chờ Đàm hút, dạ thưa kính nể còn hơn vào chầu Thống Đốc, để chi? Để Đàm vui dạ, khứng mua cao lên vài xu và mua gấp để mía khỏi “rượu” và “mất cân” được đồng nào hay đồng nấy.

Về sau, Đàm giàu quá, xoay qua đứng bảo lãnh (avaliser) cho con nợ nhà băng “Đông Dương Ngân Hàng”. Mỗi lần xin chữ ký bảo chứng, phải chịu cho Đàm một huê hồng đã quy định trước. Dè đâu gặp năm kinh tế khủng hoảng, các nhà buôn vỡ nợ không đủ sức trả bạc vay, nhà băng phát mãi sự sản, lôi kép nhà họ Quách sụp đổ theo luôn.

Nhà buôn Quách Đàm lấy hiệu “Thông Hiệp”, trụ sở ở Quai de Gaudot, nay là đại lộ Khổng Tử, nhưng thời ấy còn là một con kinh chưa lấp.

Tương truyền khi sắp phát tích, Đàm đến nhờ một thầy Tàu cho chữ hiệu. Ông thầy Tàu ngồi thềm đường viết liễn Tết thung dung hỏi Đàm làm nghề gì ? Đàm thưa : “mua bán da trâu và vi cá chở đi xứ ngoài.” Thầy Tàu suy nghĩ giây phút rồi viết cho hai chữ: “THÔNG HIỆP” vừa mạnh vừa tốt, lại kiêm theo hai câu liễn : “THÔNG THƯƠNG SƠN HẢI (trâu: sơn, cá: hải) “HIỆP CÁN QUÀN KHÔN” . Thiệt là tuyệt diệu ! Đàm mừng khấp khởi, khắc bảng phết son thếp vàng.

Quả thật từ đấy việc làm ăn của Đàm ngày một phấn chấn, thịnh vượng, bành trướng khắp biển Đông núi Việt. Số tiền lời không xiết kể. Khỏi nói, từ đó năm nào Đàm cũng không quên công ông thầy Tàu cho chữ.

Đến chừng bị nạn kinh tế, gia tài sụp đổ, Đàm không trách nhà buôn do mình bảo lãnh sai lời, để mình “chết theo một bè”. Đàm chỉ căm thù ai kia đã lấp con kinh trước nhà, làm “hư phong thủy”. Đàm đinh ninh tin tưởng vào lời thầy địa lý năm xưa, dạy rằng chỗ Đàm đóng đô là “đầu một con rồng”, khúc đuôi nằm tại biển cả! Dặn coi chừng đừng cho lấp kinh, tức lấp “mạch rồng”, và nếu một mai mạch rồng khô cạn, nguy cho cơ nghiệp họ Quách.

Phố lầu chỗ Quách Đàm buôn bán thưở ấy, Đàm mướn mỗi tháng đến ba trăm đồng bạc. Đàm nài mua lên nhưng chủ không ưng bán. Đàm dư tiền nếu muốn xây cất bao nhiêu nhà to đẹp lại không được, nhưng Đàm vẫn tin “cuộc đất làm ăn khá”, mắc bao nhiêu cũng không nệ, và chẳng khứng bỏ cuộc thế ấy để đi chỗ khác: lấp con kinh “sinh mạng”, Đàm giận cũng phải !

Quách Đàm chết, đám ma lớn không đám nào bằng. Bàn đưa không thể đếm. Đủ thứ nhạc Tây, Tàu, Ta, Miên… Khách đi đường có việc, miễn nối gót theo đám ma vài bước là có người lễ phép đến dâng một ly nước dừa hay la ve và riêng tặng một quạt giấy có kèm một tấm giấy “ngẫu” (năm đồng bạc) đền ơn có lòng đưa đón.

Một phú gia giàu sang bực ấy, mà nay còn gì ? Gần chùa Giác Lâm trong Chợ Lớn thuộc ranh tỉnh Gia Định, một ngày mới đây, tôi thấy một bầy bò sữa đứng ăn cỏ trên một ngôi mộ có vẻ hùng tráng nhưng trơ trọi điêu tàn. Cạnh bên là một đám ruộng khô chứa một đống rác to bằng đống lúa chưa vô bồ, ruồi muỗi lằn xanh bay vù vù như một đám nhạc hỗn độn.

Địa thế “hữu bạch hổ” không còn; “tả thanh long” và ruộng nọ đang lấp, còn chăng là bầy bò nhơi cỏ gần đống rác và mớ ruồi lằn, ấy là hiện trạng ngày nay của mộ phần “phong thủy” ông THÔNG HIỆP.

Chú thích

1/- Về chuyện Chợ Quách Đàm (theo lời kể Vương Hồng Sển ) ngày 12/4/1961, ông Bác sĩ Diên Hương, về ẩn trên Đà Lạt (nay đã từ trần), có viết cho tác giả một bức thơ, nay xin đăng nguyên văn để công lãm: ” … Lúc đó Chánh Tham Biện Chợ Lớn thấy Chợ Cũ (ở chỗ nền nhà Bưu Điện Chợ Lớn hiện thời) nhỏ hẹp, không đủ cho bạn hàng nhóm chợ, và cũng muốn mở mang châu thành, mới kiếm đất xa Chợ Cũ cất một cái chợ mới cho rộng cho lớn. Ông biết có một ông điền chủ ở châu thành, người Việt Nam dân Pháp, có đất rộng lớn, mới mời đến hỏi mua. Ông điền chủ nầy không thấy rộng nghe xa, tưởng là gặp cơ hội, liền ưng thuận mà với một giá mắc quá tưởng tượng.

Ông Quách Đàm nghe chuyện đó, liền cho người đến dâng một miếng đất rộng hơn (chỗ chợ ngày nay) không đòi tiền, chỉ đòi được phép cất phố và sập chung quanh chợ, để sau này cho mướn… ông Chánh lẽ tất nhiên chịu liền…” (Diên Hương).

2/- Chợ Bình Tây : Nằm ở mặt tiền đường Tháp Mười thuộc địa bàn P2Q6, chợ Bình Tây (hay còn gọi là chợ Lớn mới) là ngôi chợ lớn nhất ở Chợ Lớn và là ngôi chợ duy nhất có… một vườn hoa giữa chợ.Với những mặt hàng chủ yếu là hàng bách hóa như vải sợi, nhôm nhựa, giỏ xách, đồ lưu niệm, thực phẩm khô…, chợ Bình Tây đã cung cấp theo dạng bán sỉ cho hầu hết các tỉnh thành phía Nam và cả một số nước trong khu vực như Campuchia, Lào và cả Thái Lan…

Chợ Bình Tây được khởi công từ năm 1928 và hoàn thành năm 1930, do ông Quách Đàm – quê quán ở Triều Châu, Trung Quốc – bỏ tiền xây dựng. Chợ được xây cất bằng xi-măng cốt thép theo kỹ thuật phương Tây nhưng lại mang đậm nét kiến trúc Trung Quốc. Tháp giữa vươn cao có 4 mặt đồng hồ, có “lưỡng long chầu châu”, 4 góc có 4 chòi nhỏ, toàn bộ mái chợ lợp bằng ngói âm dương theo kiểu chồng lớp để tạo sự thông thoáng. Riêng mái ở các góc có nét uốn lượn theo kiểu chùa chiền phương Đông. Chính giữa chợ có khoảng sân trời rộng rãi, thoáng mát. Tại đây ông Quách Đàm cho đặt một bệ đá ghi ngày xây chợ cùng bức tượng đồng đen của mình. Bốn xung quanh bệ đá có 4 con sư tử ngậm châu và 4 con rồng (đều bằng đồng) đang phun nước, hai phía có hồ nước nuôi cá, thả sen… Lúc sinh thời ông là một doanh nhân làm ăn phát đạt. Ông đã từng được chính phủ Pháp tặng Bắc đẩu bội tinh vì đã mua đứt một nhà máy đường của Pháp đang làm ăn thua lỗ.

Chợ hoạt động suốt từ 2 – 3 giờ sáng đến 9-10 giờ đêm… Du khách nước ngoài rất thích đến chợ Bình Tây để tham quan, mua sắm. Nhiều công ty du lịch đã đưa chợ vào danh mục tham quan trong tour của mình.

3/- Tượng Quách Đàm : Đó là bức tượng toàn thân của một người đàn ông trung niên với tư thế đứng hơi rướn người về phía trước, tay trái ôm những cuộn giấy (có lẽ là những sắc phong), tay phải cầm cuộn giấy đã mở hé một phần, trang phục theo kiểu truyền thống người Hoa được chạm khắc tỉ mỉ đến từng chi tiết: những nếp gấp ở tay áo, gấu áo thật mềm mại, sinh động – đẹp nhất là những hoa văn li ti phủ khắp mặt áo và cả những tấm huy chương Long bội tinh, Bắc đẩu bội tinh chạm khắc trên ngực áo… Một bức tượng thật đẹp, khiến du khách ai cũng phải dừng chân tò mò: tượng ai đây? Cúi sát mặt xuống bệ tượng mới thấy một mảnh giấy nhỏ hình chữ nhật ghi vỏn vẹn 3 chữ : Tượng Quách Đàm !

Tượng Quách Đàm đã định vị tại đây cho đến năm 1975 thì được đưa vào… cất trong Phòng Văn hóa – Thông tin quận 6 và đến năm 2003 thì được dời về trong khuôn viên Bảo tàng Mỹ thuật TP. Tại chiếc bệ đá nơi từng đặt tượng ở chợ Bình Tây, nay đặt một lư hương để bà con tiểu thương ngày 2 lần đến thắp nhang khấn vái ông Quách Đàm, xem như một vị “thần tài” của họ.

Huỳnh Văn Yên (trích theo Bùi Thụy Đào Nguyên, tổng hợp tư liệu)

GIỚI THIỆU SÁCH

LỊCH TỬ VI HUỲNH LIÊN

NĂM NHÂM THÌN 2012

Chúng tôi vừa nhận được cuốn sách “Lịch Tử Vi Huỳnh Liên năm Nhâm Thìn 2012” do Thiên Việt – Võ Lương biên soạn, phát hành tại Hoa Kỳ và các nước châu Âu, Úc châu.

Sách rất nhiều bài vở như : 1/- Bảng sao hạn năm Nhâm Thìn, 2/- Cúng sao giải hạn, 3/- Tuổi Thìn chọn người hạp tuổi làm ăn, 4/- Năm Thìn nói chuyện Rồng, 5/- Hồi ức làm báo : các bậc tiền bối tôi đã biết.

Và nhất là 2 mục chính :

– Tử vi trọn năm Nhâm Thìn đủ 12 con giáp. Mỗi con giáp gồm 5 tuổi, luận đoán nam nữ riêng. (Trên 120 dự đoán các tuổi).

– Lịch ngày trọn năm Nhâm Thìn (tính Dương lịch từ 1/1/2012 đến 31/2/2013 tức ngày Âm lịch từ 8 tháng Chạp năm Tân Mão đến cuối tháng Chạp năm Nhâm Thìn).

Lịch sách dày 528 trang cùng 4 trang bìa in offset màu trên giấy trắng tuyệt đẹp. Mọi liên lạc mua sách xin liên hệ ông Võ Lương : PO Box 2295 Montclair, CA 91763 USA, tel & fax : (909) 626.7999 hoặc (626) 806.2433

Chúng tôi xin giới thiệu sách đến các bạn đang sống ở hải ngoại (sách này không nhập vào Việt Nam).

Mời các bạn vào xem…

http://hncgroup2012.wordpress.com/

Như một tạp chí Văn Nghệ được post hàng ngày gồm những mục như THẾ GIỚI ĐÓ ĐÂY – CHUYỆN PHIẾM – THƯ GIÃN – THẾ GIỚI TÂM LINH – TÌM HIỂU – KHOA HỌC THƯỜNG THỨC v.v…

3 NHÂN VẬT NHẠC SĨ SÀI GÒN

NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN TÝ (1925- )

Mời nghe nhạc phẩm “Dư âm” của NS Nguyễn Văn Tý qua tiếng hát Mỹ Linh :

http://youtu.be/gE2L0Igpmrw

Một trong những nhạc sĩ được phỏng vấn ở chương trình Asia 55 đã để lại thật nhiều ấn tượng và nỗi bàng hoàng xúc động cho khán giả là nhạc sĩ lão thành Nguyễn Văn Tý. Cuộc đời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý khá thăng trầm và nhiều lận đận từ những ngày còn trẻ cho đến lúc tuổi già xế bóng như hiện giờ.

Trong đoạn video clip phỏng vấn ông vào năm 1995, chúng ta thấy nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý thật khoẻ mạnh, yêu đời và rất vui vẻ tâm sự về bài hát Dư Âm của ông sáng tác cách đây gần 60 năm với những kỷ niệm và những cảm xúc như mới vừa xãy ra và nhắc lại những lời ca êm ái mượt mà trong bài hát. Nhưng trong đoạn phim sau đó, khi gặp lại ông vào năm 2007, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã tỏ ra thất vọng chán chường, và phát biểu những lời không ai có thể ngờ được như :

“Tôi bây giờ phải nói thật với các bạn là tôi sống khổ, sống rất khổ, thiếu thốn mọi thứ … mà tôi trách cái xã hội… Tôi chỉ sống bằng tình thương cảm của anh em bạn bè… Bạn bè đến thăm tôi, thấy tôi khổ… thì có bao nhiêu tiền móc ra cho tôi… Tôi quý những đồng tiền đó lắm…

Tại sao vậy ? Tại vì nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý là một nhạc sĩ đã có nhiều bài hát được trình diễn trong vài chục năm dài, kể từ tiền chiến và sau này như Tiễn Anh Lên Đường, Người Đi Xây Hồ Kẻ Gỗ… và trong quá khứ ông cũng đã được chính quyền hiện nay ở Hà Nội ưu đãi so với nhiều văn nghệ sĩ khác. Năm 2000 ông được trao tặng giải thưởng về Văn Học cho các tác phẩm : “Mẹ Yêu Con, Bài Ca 5 Tấn, Tấm Áo Chiến Sỹ Mẹ Vá Năm Xưa, Một Khúc Tâm Tình Của Người Hà Tĩnh, Dáng Đứng Bến Tre …”. Năm 2005 và 2006 ông đã được tôn vinh trong những “Đêm Vinh Danh Tác Phẩm Nguyễn Văn Tý”. Nhưng bây giờ ông lại trở nên bất mãn với cuộc sống thực tế của mình.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sinh ngày 5 tháng 3 năm 1925 tại thành phố Vinh, Nghệ An. Thuở bé ông học ở trường Quốc Học Vinh và được một giáo viên người Pháp dạy cho những bài hát của Tino Rossi đang thịnh hành. Sau đó ông học nhạc lý với một linh mục người Tây Ban Nha và học đàn với một nhạc sĩ người Trung Hoa . Năm 1944 ông đi hát cho một phòng trà ở Vinh để kiếm sống. Năm sau, ông tham gia kháng chiến và hoạt động văn nghệ cho tỉnh Nghệ An trong lãnh vực nhạc và kịch. Năm 1948 ông công tác ở đoàn văn hoá tiền tuyến thuộc Quân Huấn Cục. Từ năm 1950, ông nhận nhiệm vụ đi xây dựng đoàn văn công của Sư đoàn 304 và làm trưởng đoàn.

Cuối năm 1950, khi về chơi ngang nhà người bạn ở huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, ông đã viết bài Dư Âm để nói về cô em gái của người bạn này. Như chính lời kể của ông về lai lịch bài hát “Dư Âm”:

“- Đây là một hình ảnh hoàn toàn có thực. Người con gái mà tôi yêu đó, ít hơn tôi gần 10 tuổi. Cho nên lúc đó gia đình cô không cho phép tiến tới hôn nhân. Người con gái đó đã phản ứng khi lần cuối cùng gặp nhau là nàng đợi đêm đến lúc trăng lên, mới ra sau nhà gội đầu, rồi ôm đàn ra hát. Đó là một cơn điên trong người nàng, như một phản ứng quyết liệt chống lại gia đình phong kiến. Và gửi cho tôi một lời thông điệp. Cho nên tôi ghi nhận hình ảnh đó một cách trọn vẹn. Đó cũng là hình ảnh tôi đã ấp ủ bấy nhiêu năm, và tôi vẫn coi đó như một nguồn cảm hứng để viết lên những lời ca trong bài Dư Âm.”

Chính bài hát “Dư Âm” này đã khiến cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý bị đơn vị đưa ra kiểm điểm vì đã sáng tác một bài hát quá ủy mị, không hợp với thời toàn quốc đang kháng chiến lúc đó. Hầu như bài hát Dư Âm này bị cấm trình diễn ở miền Bắc trong nhiều năm dài và chỉ được phổ biến rộng rãi ở miền Nam tự do sau này.

Năm 1951, ông giải ngũ và xin về làm việc ở Chi hội Văn nghệ Liên khu IV. Năm 1952, ông quen biết và sau đó lập gia đình với cô Bạch Lệ (là em gái của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, tác giả bài “Đêm Đông”). Cuối năm 1957, ông cùng với Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao được chỉ định thành lập Hội Nhạc Sĩ Việt Nam. Sau đó khi đang là ủy viên chấp hành khóa đầu tiên của hội thì xãy ra vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm khiến cho những người bạn của ông như Văn Cao, Hoàng Cầm, Trần Dần phải bị kỹ luật, bị tù … Nên theo lời khuyên của Lưu Hữu Phước, ông tránh xa khỏi Hội Nhạc Sĩ này và xin đi nghiên cứu dân ca ở miền quê. Đầu năm 1961, ông được biệt phái về Hưng Yên, thời gian này nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã viết một số ca khúc như Chim Hót Trên Đồng Đay, Dòng Nước Quê Hương (1963), Tiễn Anh Lên Đường (1964).

Năm 1975, ông chuyển về Viện Nghiên Cứu Âm Nhạc, thuộc Bộ Văn Hóa, cơ sở II tại Sài Gòn. Trong khoảng thập niên 1990 ông vẫn sáng tác nhiều, khoảng hơn 20 bài, nhưng không có bài nào nổi tiếng. Vào năm 2004, lúc được 79 tuổi, ông bị tắc ngẽn mạch máu não 2 lần và bị liệt hai lần, nhưng dần dần hồi phục. Vì vậy, chúng ta mới nghe được những lời phát biểu và nhận xét thật xác đáng của ông về cuộc sống hiện nay ở trong nước. Với số tuổi đời hơn 82 nhưng thần trí của ông vẫn còn rất sáng suốt, dù nhạc sĩ lão thành phải than là “giờ đang sống rất khổ” như mọi người đã thấy trong Asia 55. (Chắc chắn là đoạn phim phỏng vấn này ít ai ở trong nước có thể xem được ?)

Trên đây là sơ lược về những mảnh đời có thể nói là khá bất hạnh của vài nhạc sĩ đã được phỏng vấn trong chương trình Asia 55. Bất hạnh vì họ đã sớm lìa trần hay vẫn còn đang sống cuộc đời cơ cực nơi quê nhà trong quên lãng của biết bao nhiêu người đã và đang thưởng thức những bài ca của họ. Có lẽ nhiều người trong chúng ta đang ngậm ngùi chua xót cho những nhạc sĩ kém may mắn này và băn khoăn tự hỏi mình phải làm gì để tỏ lòng tri ân cho những cống hiến tuyệt vời của họ?

Đã có nhiều ý kiến nêu ra trên các diễn đàn sau khi xem được những video clips phỏng vấn các nhạc sĩ ở chương trình Asia 55. Đó là những suy tư, ray rức của nhiều khán giả và đã có những lời đề nghị cho một dự án gây quỹ để cứu giúp cho những nhạc sĩ và thân nhân của họ đang sống nốt những ngày vất vả nơi quê nhà. Một việc làm rất cần thiết trong lúc này !

Quế Phượng post

NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN ĐÔNG

Mời các bác thưởng thức nhạc Nguyễn văn Đông, nghe những ca sĩ ngày xưa hát những bài hát của nhạc sĩ này, xem lại những bản nhạc ngày xưa được in ra bán cho công chúng.

– Nhạc & lời: Nguyễn Văn Đông mời nghe :

Sắc Hoa Màu Nhớ – Trình bày : Như Quỳnh & Thái Sơn

Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp – Trình bày : Hà Thanh & Hùng Cường

Một số bài viết về Nguyễn Văn Đông :

Bài viết về Nguyễn Văn Đông”  (pdf) – Du Tử Lê

Tình Ca Nguyễn Văn Đông (pdf) – Thy Nga

Bài viết về Nguyễn Văn Đông(pdf)  – Trường Kỳ

Người Lính Trong Nhạc Nguyễn Văn Đông(pdf) – Lê Hữu

Nhạc Hòa Tấu :

Mời xem Saigon Chamber Ensemble (San Jose, CA – USA) hòa tấu :

Hải Ngoại Thương Ca” (video)

Tiếng đàn Vô Thường :

Chiều Mưa Biên Giới    Phiên Gác Đêm Xuân    Sắc Hoa Màu Nhớ

Nhạc Sĩ Thanh Trang hòa tấu:

Nhớ Một Chiều Xuân    Hải Ngoại Thương Ca

Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp  Nhớ Người Viễn Xứ

Chương Trình Phát Thanh về Nguyễn Văn Đông :

Người Lính Trong Nhạc Và Thơ – Bích Huyền – VOA 10/2008

Dòng Nhạc Nguyễn Văn Đông – Hoài Nam, SBS Radio, Úc Châu

Tình Ca Nguyễn Văn Đông : phần 1 phần 2 Thy Nga – Radio Free Asia

Một số bản nhạc của Nguyễn Văn Đông :

(bấm vào tên bản nhạc để nghe)

Anh – Khánh Ly Về Mái Nhà Xưa – Hà Thanh Dáng Xuân Xưa – Anh Khoa  Lời Giã Biệt – Hà Thanh  Sắc Hoa Màu Nhớ – Duy Trác   Mấy Dặm Sơn Khê – Thái Thanh  Nhớ Một Chiều Xuân  / Hải Ngoại Thương Ca – Tâm Hảo  Phiên Gác Đêm Xuân – Thế Sơn  Phiên Gác Đêm Xuân – Thanh Tuyền  Hải Ngoại Thương Ca – Hà Thanh  Về Mái Nhà Xưa – Thái Thanh Ave Maria – Thái Thanh  Mùa Sao Sáng – Khánh Ly   Đêm Thánh Huy Hoàng – Việt Thảo Núi và Gió – Elvis Phương   Vô Thường – Giao Linh & Đức Minh   Khi Đã Yêu – Thanh Tuyền Chiếc Bóng Công Viên – Hà Thanh  Thương Về Mùa Đông Biên Giới – Hoàng Oanh Lá Thư Người Lính Chiến – Khánh Ly  Niềm Đau Dĩ Vãng – Lệ Thu  Hải Ngoại Thương Ca – Minh Châu, Ngọc Diệp, Tường Vân Liên Khúc Chiều Mưa Biên Giới & Mấy Dăm Sơn Khê – Mai Thiên Vân & Thanh Tuyền  Nguyện Cầu Trên Bến Ngàn Năm – Thanh Tuyền & ACM  Trái Tim Việt Nam – Tuấn Ngọc  Thác Đa – Tình Yêu của Tôi – Giao Linh Bóng Nhỏ Giáo Đường – Ngọc Lan  Dạ Sầu – Giao Linh Thương Muộn – Thanh Tuyền Đom Đóm – Giao Linh Tình Mùa Hoa Phượng – Thanh Tuyền

Mời nghe toàn bộ:  CD “Thác Đa – Tình Yêu của Tôi  theo danh mục bài hát:

1/. Thác Đa – Tình Yêu Của Tôi – Giao Linh 2/. Chiếc Bóng Công Viên – Nancy Tâm Huy 3/. Trái Tim Việt Nam – Đức Minh 4/. Bài Ca Hạnh Phúc – Nguyễn Phi Hùng & Nancy Tâm Huy 5/. Dòng Sông Hò Hẹn – Giao Linh 6/. Người Tình Yêu Dâu – Hồng Ngọc 7/. Khi Đã Yêu – Nancy Tâm Huy 8/. Núi Và Gió – Elvis Phương 9/. Thầm Kín – Nancy Tâm Huy 10/. Nếu Có Em Bên Anh – Lam Trường 11/. Bông Hồng Cài Áo Trắng – Nancy Tâm Huy 12. Vô Thường – Giao Linh & Đức Minh

Yên Huỳnh Post

NHẠC SĨ LÊ TRỌNG NGUYỄN

Mời nghe nhạc phẩm “Nắng Chiều” của NS Lê Trọng Nguyễn qua :

Nhạc Việt :   http://youtu.be/ew7wyUwuavU

Nhạc Hoa :   http://youtu.be/bBPmaoid4FQ

Nhạc Nhật :    http://youtu.be/QslBoN_gLZk

Tôi được dịp gặp Chị Nguyễn Thị Nga, hiền thê của Cố Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn, tác giả của nhạc phẩm bất hủ “Nắng Chiều”  vào cuối Tháng Tám, 2006 ở Nam Cali. Chị cho biết một vài chi tiết về nguồn cảm hứng của tác giả Lê Trọng Nguyễn khi sáng tác nhạc phẩm “Nắng Chiều” cùng  cuộc đời sự nghiệp âm nhạc của Cố Nhạc Sĩ  Lê Trọng Nguyễn.

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sinh năm 1926 tại Điện Bàn, Quảng Nam rất hiếu học về văn hóa và rất thích âm nhạc, nên ông đã tự học âm nhạc. Ông lớn lên trong một gia đình với mẹ, cha mất sớm. Ông có hai người em và một người em đã mất sớm. Chị Nga làm việc cho hãng Hàng Không VN và Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn vì công vụ thường vào Nam bằng hãng Hàng Không này, nên hai người gặp nhau. Cả hai vợ chồng có được  bốn cháu, ba gái một trai, các cháu rất yêu thích  âm nhạc.

Về âm nhạc thì đa số các nhạc sĩ  hồi trước đều khởi đầu bằng cách tự học, Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn tự học âm nhạc qua sách vở của Pháp và ông học hàm thụ và tốt nghiệp ở  Ecole Universelle  trường âm nhạc Pháp.

Ông thường liên lạc với nhà trường, đây  là cơ hội  học hỏi, phát triển âm nhạc Pháp và Việt. Ông thường gởi tác phẩm  sang Pháp để lấy ý kiến  và trau dồi thêm  về kỹ thuật viết nhạc.

Đến khoảng năm 1952 thì Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã có  nhạc phẩm  như “Sóng Đà Giang”, tác phẩm này đưa ông đến sự thành công là một nhạc sĩ Pháp đã chấp nhận ông vào Hội Nhạc Sĩ Pháp S.A.C.E.M.. Đây là bước đầu tiên và ông tiếp tục trau dồi âm nhạc.

Khoảng năm 1946 ông gia nhập vào kháng chiến chống Pháp  yêu nước,  tác phẩm đầu tiên là “Ngày Mai Trời Lại Sáng” sáng tác năm  1946. Bản này  là kỷ niệm của thời thanh niên yêu nước và lúc đó  ông là Liên Đoàn Trưởng Liên Khu 5. Từ  năm 1953 đến năm 1959 có nhiều tác phẩm được ra đời như  là nhạc phẩm “Nắng Chiều”, “Bến Giang Đầu”…

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn có lần đến Cung Nội Huế do sự hướng dẫn của Nhạc sĩ  Vũ Đức Duy, nơi đó Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn gặp một người bạn đã thân quen từ trước, trong giây  phút đầy xúc cảm  đó, trong sân  nắng của Cung Nội Huế,  nhạc phẩm  “Nắng Chiều” được sáng tác.

Trong dòng nhạc của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn trước năm 1975, tác phẩm  nổi tiếng  nhất là  “Nắng Chiều”, nhưng theo tác giả thì bản được  yêu thích  nhất là “Sao Đêm” và “Lá Rơi Bên Thềm”. Bản “Sao Đêm” có nét nhạc cổ điển Tây Phương. Nội dung bản  này cho thâý một sự đam mê, lãng mạn. Về nguồn cảm hứng sáng tác nhạc phẩm “Nắng Chiều”, Chị Nga cho biết tác giả đã nói với các bạn thân rất nhiều về “Nắng Chiều”. Một trong những người bạn là nhà thơ Trúc Chi. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn  nói với Trúc Chi là nhiều người tuởng ông viết bài này ở Hội An, nhưng theo sự ghi lại của nhà thơ Trúc Chi trên Diễn Đàn  Âm Nhạc thì Nhạc sĩ  Lê Trọng Nguyễn đã ghi lại nhiều cảnh đẹp ở Hội An, những cảm xúc, mơ ước, tình yêu tuổi trẻ  trong âm nhạc của ông, nhưng  bản “Nắng Chiều” được  nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn sáng tác tại Cung Nội Huế.Nguồn cảm hứng để viết nên bản “Lá Rơi Bên Thềm” là  cuộc sống đầu đời của ông, trong đó có Nhạc sĩ Nguyễn Hiền và một số người thân như Cô Minh Trang, Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Tác giả kể lại, theo ông nhà thờ Huyện Sĩ rất nhỏ nhưng là nơi  đẹp nhất.   Khi qua nhà thờ Huyện Sĩ  ông đã viết  bài “Chiều Bên Giáo Đường” vì ông đã có một kỷ niệm đẹp ở nơi này.

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cũng đã cùng nhạc sĩ Nguyễn Hiền ghi lại những cảnh đẹp thiên nhiên Huế qua bản “Lá Rơi Bên Thềm”.

Biến cố năm  1975 đưa chúng ta đến một khúc quanh lịch sử không may nhưng đó cũng là nguồn cảm hứng để các nhạc sĩ  sáng tác nhiều  nhạc phẩm có giá trị. Sau năm 1975, tình cảm văn nghệ giữa những người nghệ sĩ còn ở lại như Mai Thảo, Phạm Đình Chương và Lê Trọng Nguyễn đã bộc phát, thương nhau như anh em. Sau đó  Mai Thảo và Phạm Đình Chương ra đi (hải ngoại), Lê Trọng Nguyễn rất thương nhớ bạn, từ nguồn cảm hứng đó Ông đã viết bản “Sóng Nước Viễn Phương”, bản  nhạc này phổ từ một bài thơ của Thẩm Oánh  viết  cho các bạn đã ra đi .

Về bản nhạc “Bến Giang Đầu” thì một  nhà xuất bản đề nghị đổi tên  là “Nắng Chiều  2” , nhưng Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn  không  muốn đổi, vì nó là một kỷ niệm dễ thương khác của ông.  Ở một thôn xóm  đẹp,  nên thơ, bên dòng sông và giàn hoa tím,  một người bạn gái đã lên xe hoa.

Khoảng năm 1958 có một  đoàn nhạc Nhật Bổn Toho Geino sang VN, đoàn nhạc Nhật Bổn muốn ca sĩ của đoàn hát một số nhạc của VN. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền đưa ra mười hai bản nhạc và bản nhạc “Nắng Chiều” được đoàn nhạc Nhật Bổn chọn. Ca sĩ Midori Satsuki là một ca sĩ Nhật rất nổi tiếng, đã trình bày nhạc phẩm “Nắng Chiều” bằng tiếng Nhật lần đầu tiên tại Hội Chợ Thị Nghè, và sau đó một tuần lễ  bản “Nắng Chiều” được phát trên các Đài phát thanh Việt Nam và cả Đài Đông Kinh.

Đến năm 1960 thì Đoàn nhạc Trung Hoa Dân Quốc đến Việt Nam với mục đích  trao đổi văn hóa Á Châu. Trong đoàn nhạc Trung Hoa Dân Quốc hồi đó có Nữ Ca sĩ Ki Lo Ha, không hề quen biết với Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, nhưng đã biết nhạc phầm “Nắng Chiều”, sau đó  muốn gặp Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và trên đường trở về Đài Loan bà viết lại bản “Nắng Chiều” bằng lời Hoa. Bản nhạc này Bà đã trình bày tại Đài Loan và sau đó trong một thập niên bản nhạc được giải thưởng và mệnh danh  là “Bản  Tình Ca Đẹp Nhất”  trong thập niên 1970 ở Đài Loan.

Trong thời gian gần đây, nhà thơ  Du Tử Lê và Nhạc Sĩ Nguyễn Hiền đã khuyến khích gia đình chị Nga thực hiện một CD và ra mắt CD này vào  buổi  tưởng niệm Nhạc Sĩ Lê Trọng Nguyễn, năm 2005. Sự khuyến  khích của Nhạc sĩ Nguyễn Hiền và Nhà Thơ Du Tử Lê là động cơ thúc đẩy mạnh cùng với sự giúp đỡ tận tình của một nhóm anh em, Tuyển tập Nhạc của Lê Trọng Nguyễn được ra đời cùng hai CD “Lê Trọng Nguyễn Collection” và “Lá Rơi Bên Thềm”.

Về hoài bão của Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, thì ông muốn để lại cho đời  những gì ông hiểu biết, những gì ông cảm nghĩ và ghi lại trong ba bốn chục tác phẩm. Rõ ràng nhất là ông muốn để lại cho thế hệ sau những hiểu biết, làm thế nào để có thể viết nhạc, sáng tác nhạc. Hoài bảo này đã được thể hiện rất kiên nhẫn từ năm 2000 đến 2003.  Nhạc sĩ đã tâm nguyện và ghi lại những hiểu biết  về sáng tác nhạc để lại  cho thế hệ mai sau qua một cuốn sách, tựa đề là “Nghệ Thuật Viết Nhạc”.

Quyễn sách được chuẩn bị xong, ông đưa cho cô con gái là Lê Minh Thư đem đi đánh máy, có nhiều chỗ cần sửa lại cho đúng thì ông bị trở bệnh nặng và ra đi. Có thể quyển sách sẽ được xuất bản trong một thời gian gần đây.

Qua những bản “Nắng Chiều”, “Bến Giang Đầu”… chúng ta cảm thấy ở tác giả một tình yêu nhẹ nhàng trên  quê hương xinh đẹp. Qua ca khúc “Lá Rơi Bên Thềm” và  “Chiều Bên Giáo Đường”, chúng ta cảm thông được những thao thức của tuổi trẻ.  Với “Tìm Nơi Em”, “ Sao Đêm” và “Cung Điện Buồn”  tác giả trải bày tâm sự với nỗi u hoài,  nhung nhớ, những  hoài niệm không nguôi.

Cố Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đã ra đi và đã để lại cho vườn hoa âm nhạc VN nhiều bông hoa hương sắc thắm tươi, đóng góp một phần không nhỏ cho nền văn học nghệ thuật dân tộc.

Lan caysu post (theo Tuyết Mai)

BẠN BIẾT GÌ VỀ NGƯỜI HOA ? (2)

LỊCH SỬ NGƯỜI HOA

Ở SÀI GÒN

(BÀI 2 – HẾT)

Khác với đoàn thuyền của cựu tổng binh Zhèng Chénggong (hay Yang Andi  hay Dương Ngạn Địch) đi tới một nơi không có đồn lũy của nhà Nguyễn được ghi rõ lại trong sử (dù rằng người Việt đã tới sinh sống tại đây từ trước, do đó triều đình Huế mới chỉ định chỗ đến). Đoàn thuyền của cựu tổng binh Chen Shang Chuan (Trần Thượng Xuyên) đi qua cửa Cần Giờ, vào đến Bến Nghé, không thể nào không tiếp xúc với người Việt đang sinh sống ở đó, nơi có hai cơ sở hành chánh là hai trạm thu thuế đã được Chúa Sải lập từ năm 1623, một ở  Bến Nghé (Quận I, hồi đó có tên là Kas Krabei, sau là Bến Nghé), và một ở Phiên Trấn (Quận 5, hồi đó có tên là Prei Nokor, sau là Sài Gòn rồi Chợ Lớn). Người Việt sống tại đây được một đồn dinh bảo vệ, được lập cùng năm, tên là đồn binh Tân Mỹ, gần chợ Thái Bình ngày nay. (Có thể ví bậy như trại lính Mỹ tại Okinawa chăng ?). Khu vực giữa Kas Krobei và Prei Nokor là nơi các thương nhân Việt Nam sinh sống, khi họ đi làm ăn với các nước Xiêm, Chân Lạp…

Mười chín năm sau đó, tức vào năm 1698, ngay tại vùng Phiên Trấn này, đã thấy hình thành làng Minh Hương đầu tiên tại Việt Nam.

oOo

Đến đây, ta có thể đặt ra câu hỏi : “Tại sao làng Minh Hương đầu tiên không được thành lập tại Cù Lao Phố (Biên Hòa), một nơi cưc kỳ phồn hoa đô hội, hay vùng Mỹ Tho là nơi dân Minh Hương đang canh tác, và phát triển nông công ngư nghiệp ?”.

Câu trả lời có thể,  đây là đầu cầu liên lạc chính thức giữa những người Minh Hương và người Việt. Đó là nơi mà người Minh Hương đã gặp quan Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700) vào Nam lập phủ Gia Định (1698), xác nhận quyền sở hữu chính trị của người Việt, để xin thành lập làng Minh Hương ngay trên vùng lãnh thổ mới khai sinh.

Những nhân vật đại diện người Minh Hương tại đây phải là những người cự phách, được sự tin cẩn của mọi bang hội người Minh Hương, không những từ trong hai nhóm của hai cựu tổng binh, mà còn từ nhóm ông Mạc Cửu (鄚玖,hay Mạc Kính Cửu (鄚敬玖): 1655 – 1735), đã đến Hà Tiên từ năm 1671 nữa.  Những người dân tại đây khá giả, phong lưu, như câu ca dao nói về phong hóa làng Minh Hương :

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng

Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương.

oOo

Theo thiển ý, khu vực chung quanh Làng Minh Hương (vùng Sài Gòn, tức Prei Nokor) đó đã là cột mốc, cái nền đầu tiên để tạo dựng ra Chợ Lớn sau này. Lý do chính trị, hành chánh đã được đưa ra. Nhưng lý do kinh tế coi mòi cũng quan trọng không kém.

oOo

Đó là đất Phiên Trấn (tạm gọi khu đất nằm trong vùng đất tên Prei Nokor, dân Việt gọi là Sài Gòn, rồi đổi tên thành Chợ Lớn) nằm gần ngay một con rạch rất thuận tiện (không rõ tên gọi lúc đó, nhưng vào thời vua Gia Long trị vì, đã có tên là rạch An Thông, sau đó được vét lại rồi mang tên Kinh Tàu Hũ, Pháp gọi là Arroyo Chinois). Diện tích vùng đất, vào lúc phát triển sau này, để trở thành khu phố chợ cho người Hoa vào khoảng hơn 1 cây số vuông.

Mới đầu, người ta đặt tên hành chánh vùng đất đó là Phiên Trấn, sau người Tầu gọi là, Tài Ngọn (Đề Ngạn), Thầy Ngọn, Xi Coón, Sài Côn, Tây Cống (nhưng người Việt luôn gọi là Sài Gòn), để phân biệt với khu người Việt sinh sống là Bến Nghé.

oOo

Có rất nhiều xác suất, chính nhóm của ông Trần Thượng Xuyên đã nhìn ra địa lợi đầu tiên của vùng đất mang tên Chợ Lớn sau này (sau khi tên Sài-Gòn được đem đặt  cho Bến Nghé), tương tự như lý do tại Biên Hòa, nhóm này đã chuyển từ Bàn Lân lên Cù Lao Phố, để lập nghiệp.

Lý do chính là Bàn Lân là nơi rừng rú, lúc đó còn nhiều hươu nai ở, người Việt sống tại đây săn bắn với làm nông, rẫy là chính (Lộc Dã chính là chữ Hán để dịch nghĩa cánh đồng có nhiều nai,  Đồng Nai tiếng Việt, người Tầu đọc ngọng thành Nông Nại). Ở chung với người Việt một thời gian, những người Tầu gốc Đông Nam Trung Quốc, thạo nghề công nghiệp, và nhất là mua bán, phát hiện ra một nơi mà người Việt gọi là phố cù lao, sau này họ gọi là Cù Lao Phố.

Đó là một bãi cát do sông Hương Phước (một đoạn sông Đồng Nai) bồi lên. Chiều dài khoảng 3 cây số, chiều ngang khoảng 2 cây số.

Tuy Cù Lao Phố khá xa biển, nhưng nhờ đường sông sâu, rộng, nước chẩy hiền hòa có thể đi ra biển qua nẻo Cần Giờ, hoặc bắt đường bộ sang Miên, hay lên miền Bắc khai thác lâm sản. Không mấy lâu sau, đại đa số người Hoa dời ra sống trên Cù Lao Phố, làm ăn buôn bán phát đạt. Khu này mau chóng biến thành một trung tâm kinh tế đầu não cho cả vùng Đông Nam Bộ, lên đến Miên.

Nhưng Cù Lao Phố không thể thành một trung tâm hành chánh, hay kinh tế cho cả Miền Nam. Vị trí của nơi này phải là nơi giao điểm của những giao thương quốc nội, và quốc tế. Bến Nghé đã là nơi của Chúa Nguyễn giành cho người Việt, nhưng Phiên Trấn lại nhờ con rạch nhỏ (có thể sau này có tên là An Thông, rồi đào lớn thành Kinh Tàu Hủ, có người  gọi là Kênh Cổ Hủ, và cho là vì hình dạng như cổ cái hũ, to rồi thắt lại), mà có thể là nơi giao lưu đi khắp nơi, tầu từ Trung Hoa, Mã Lai, Ấn Độ, Hòa Lan … ghé cảng Bến Nghé, xuống hàng hay nhận hàng tại đó. Rồi theo những đường sông rạch mà qua các tỉnh miền đông và miền tây.

Lý luận trên chỉ có lý khi lúc đó có một con rạch nối từ sông Sài Gòn (tức khu Bến Nghé) đến Prei Neikor, mà sau này được đào rộng ra thành con Kinh Tàu Hủ. Theo như tác giả Vương Hồng Sển, thì trong địa đồ của ông Trần Văn Học vẽ về tỉnh Gia Định (trước năm 1815) thì không thấy con rạch đó. Theo thiển ý, tác giả Lê Ngọc Trụ đã không sai khi cho rằng có một con lạch nhỏ, đúng như Trịnh Hoài Đức đã ghi lại trong bộ Gia Định Thông Chí. Nhưng có lẽ đến lúc ông Trần Văn Học vẽ địa đồ, nó đã gần như bị lấp, nên sau  đó vua Gia Long cho lệnh phải đào rộng ra thành con Kênh Tàu Hủ.

Đừng quên rằng hệ thống kinh rạch đã biến đổi rất nhiều với thời gian. Nhiều con rạch đã bị lấp như con rạch Chợ Lớn, ngày xưa từng là đường giao thông thịnh vượng.

Những thức ăn, mỹ phẩm, đồ cúng kiếng, vật liệu xây cất … từ bên Tầu có thể dễ dàng theo đường biển vào tới sông Sài Gòn, mượn cảng Bến Nghé xuống con lạch nào đó, chẳng hạn rạch Bến Nghé, rồi  được chuyển tới những kho chứa hàng để sau đó tản đi mọi nơi.

oOo

Tuy nhiên, để cho khu Phiên Trấn (Sài Gòn) trở thành một khu chợ khổng lồ của người Minh Hương và Hoa Kiều, còn cần phải thêm nhiều máu và nước mắt.

Vào năm 1747, tức 68 năm sau khi hai ông cựu tổng binh họ Dương và họ Trần cùng 3000 di thần, di dân nhà Minh, quyết để tóc dài, không chịu thắt bím, thà làm người dân thường đất Nam (An Nam Dzành), chứ không hàng nhà Thanh. Có một nhóm khách thương người Phúc Kiến, đã muốn “tạo riêng một góc triều đình Trung Quốc” tại Cù Lao Phố.  Họ thường đi đi về về qua khu phố sầm uất này buôn bán, bàn luận với nhau, bỗng nổi lòng tham, một phần thấy tài sản đâm mù lý trí, một phần coi thường triều đình Huế ở quá xa. Lý Văn Quang họp trên dưới cả trăm người gốc Hoa, đánh úp dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa sau này), giết chết Cẩn Thành Hầu (Nguyễn Cư Cẩn), là viên quan người Việt cai quản dinh. Sau đó Lý Văn Quang tự xưng vua, lấy tên là Giản Phố Đại Vương. Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát nghe tin báo, ra lệnh cho Cai Cơ Tống Phước Đại (tước Đại Thắng Hầu) đem quân đi dẹp. Từ Mô Xoài, quân nhà Nguyễn kéo vào Trấn Biên, phá tan và bắt giam Lý Văn Quang, cùng đồng bọn 57 người.

Cù Lao Phố chịu nhiều thiệt hại, nhưng tai hại nhất là lộ ra tính bất an ninh của vị trí. Dân chúng tại đây, có thể tin vào phong thủy không tốt của vùng đất bồi, thu góp tài sản đi tìm một nơi an ninh, văn minh hơn để sống. Họ thấy, không đâu bằng khu Phiên Trấn gần Bến Nghé, nơi có đồn binh Chúa Nguyễn đóng kề. Hơn nữa, rất có thể, bây giờ đã có tiền, có của, họ chọn nếp sống thị thành, chuyên thương mãi, làm tiểu công nghiệp, dễ sống, đỡ mệt thân hơn.

oOo

Vào thời Cù Lao Phố bị loạn, chính sự của triều đình Huế cũng đã không còn tốt đẹp như trước. Vũ Vương tham lam, đánh thuế dân với một hệ thống nhiêu khê, phức tạp. Thuế thổ sản đánh trên hàng ngàn thứ, chi li bần tiện. Quan lại cấp dưới, nhân vào đó, mà tham nhũng, ức hiếp dân nhiều hơn. Thượng Bất Chính Hạ Tắc Loạn là câu người Tầu thường dùng để nói về việc “dột từ nóc dột xuống” của một cơ cấu chính trị, hành chánh, rất ứng vào giai đoạn này.

Cho đến khi Vũ Vương chết (1765), tức thì xẩy ra vụ Trương Phúc Loan chuyên quyền, giết cha của Nguyễn Ánh, triều chính rối ren, quân Trịnh từ Bắc đánh vào, lại đến chiến tranh giữa Tây Sơn  và  nhà  Nguyễn (bắt đầu vào năm 1771), làm đời sống người dân Miền Nam rối bù.

Lúc đầu, đa số người Hoa Kiều hầu như đứng ngoài mọi biến cố chiến tranh và chính trị của người Việt. Cho đến lúc có lực lượng người gốc Hoa như đạo quân của Lý Tài, Tập Đình tham gia lực lượng Tây Sơn.  Đặc biệt là đội  Hòa Nghĩa Quân (Harmony Army) do Lý Tài chiêu mộ, trong những người Hoa miền Nam Trung Bộ, được thành lập từ năm 1773, từ đó mới bắt đầu  lộ sự khác biệt giữa những người Việt “thuần”, với người gốc Hoa.

Trong khi đó, tướng Đông Sơn Đỗ Thanh Nhân, gốc Minh Hương (Hương Trà, Thừa Thiên), lại phò quân nhà Nguyễn.

Tập Đình bỏ cuộc rất mau, chỉ thất bại có một trận dưới tay quân Trịnh, đã tìm đường chạy về Tàu. Lý Tài cũng bị đánh bại liên tiếp, cho đến khi chịu làm phó tướng, nhường chức đại tướng chỉ huy cho Nguyễn Huệ, mới thắng được trận Phú Yên.

Tuy nhiên, Lý Tài đâm ra bất mãn, thù hận và nghe theo lời chiêu dụ, về đầu hàng tướng nhà Nguyễn là Tống Phước Hiệp. Vì cùng ham mê quyền hành tối cao, hai ông tướng gốc Hoa là Đỗ Thanh Nhân và Lý Tài tranh chấp, đem quân tàn sát nhau ngay sau khi Tống Phước Hiệp chết. Mới đầu Đỗ Thanh Nhân yếu thế hơn, phải về trấn giữ Bến Nghé, Lý Tài đóng ở núi Châu Thới. Nhưng sau đó, Lý Tài, đánh thua quân Nguyễn Huệ, chạy về ngang Ba Giồng, bị quân của Đỗ Thanh Nhân đón đường giết chết (1777). Tuy vậy, một số tàn quân Nghĩa Hòa của Lý Tài vẫn tiếp tục ủng hộ ngầm Nguyễn Ánh.

oOo

Năm 1778, sau khi bị Tây Sơn phá hủy Cù Lao Phố (Biên Hòa), người Hoa đành chạy về vùng Phiên Trấn (tức Prei Nokor hay Sài Gòn), tức khu đã có làng Minh Hương, để sống gần đồng hương.

Ngờ đâu, vụ Lý Tài phản Tây Sơn và các tướng Minh Hương như Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đều là tướng nhà Nguyễn, lại trở thành tai họa cho người Việt gốc Hoa, thật ra, vào lúc đầu, đa số muốn đứng ngoài cuộc chiến tranh.

Trong khoảng những năm 1776-1779, trong mấy lượt quân Tây Sơn vào đánh Miền Nam, Cù Lao Phố nhiều lần bị tàn phá trong các cuộc giao tranh. Một số tác giả sau này, dựa vào sách của Trịnh Hoài Đức, cùng lời kể từ ông cha họ, cho biết nhà cửa dân chúng, tiệm buôn, phố xá, kho chứa hàng bị thiêu đốt nhiều không thể kể. Các cơ sở thủ công bị gỡ phá, vật liệu quí báu cũng bị cướp. Dân chúng bị ức hiếp, thậm chí tàn sát.

Trịnh Hoài Đức mô tả : “Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước” (Gia Định thành thông chí).

Những người Minh Hương còn sống sót bồng bế nhau lánh nạn về Bến Nghé, và Phiên Trấn. Họ hợp với nhóm người Hoa Kiều tỵ nạn họa Tây Sơn từ Mỹ Tho, và những vùng khác, thành đợt di cư lớn, vào năm 1788, tới vùng mà sau này gọi là Chợ Lớn (trước là quận 5 quận 6). Họ lập chợ, biến vùng này thành trung tâm thương mại lớn nhất Miền Nam sau này, khi Cù Lao Phố tàn tạ, còn Mỹ Tho dần bị Việt hóa, dù nền sản xuất nông – ngư sản và kinh doanh hàng hóa địa phương ở thời điểm đó đã có những bước phát triển ngoạn mục, đặc biệt là ngành buôn bán, giao thông đường thủy.

oOo

Khi về đến Bến Nghé – Phiên Trấn, những người Hoa Kiều bao gồm Minh Hương còn phải chịu một trận “tai trời ách nước” chia chung số phận với người Việt khắp Đàng Trong.

Cuộc tranh chấp  bằng võ lực giữa ba anh em nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh càng kéo dài, số người Minh Hương ngả hẳn theo phe Nguyễn Ánh càng nhiều. Lý do, không những vì họ là con cháu của 3000 người đã được Chúa Hiền thu nạp, và bảo vệ. Mà vì quân Tây Sơn đánh xuống Miền Nam, không với mục đích thâu phục nhân tâm dân xứ này, nói chung, vì biết là không được. (Tháng 2 năm 1776, Nguyễn Lữ kéo vào đánh Gia Định, chỉ giữ được 3 tháng, phải kéo về lại Qui Nhơn với 200 con thuyền chở lúa cướp từ kho Gia Định). Họ chỉ muốn lùng giết mọi tàn tích của triều đình Nguyễn tộc, và đánh cướp kho tàng, lương thực, vật liệu…, để chở về Qui Nhơn mà thôi.

Nhưng oái oăm thay, cũng qua các cuộc tấn công của Tây Sơn, mà thương cảng Bến Nghé trở thành quan trọng, trù phú hẳn lên. Để phòng thủ, quan quân hội cả ở trấn Phiên An, thuyền buôn cũng dời về đậu ở sông Tân Bình (sông Sài Gòn).

Người Việt đánh nhau là một chuyện, việc mua bán với nước ngoài, và bên trong nước vẫn tiếp diễn. Người Hoa Kiều đương nhiên vẫn cần thiết để lo phần vụ không thể thiếu của họ, trong những hoạt động kinh doanh và kinh tế cho xã hội, càng lúc càng trở nên phức tạp.

oOo

Vào khoảng tháng Ba năm 1781, Nguyễn Nhạc  nghe tin Nguyễn Ánh giả bệnh sai mời Đỗ Thanh Nhân đến, rồi phục võ sỹ, đâm chết. (Vì quần thần đàm tấu cho rằng Đỗ Thanh Nhân quá hống hách, lạm quyền).

Nghe tin này Nguyễn Nhạc họp bàn tướng sỹ nói : “Thanh Nhơn chết rồi, các tướng khác không đáng sợ nữa”, rồi cùng Nguyễn Huệ dẫn đại binh đánh thẳng vào cửa Cần Giờ. Nguyễn Ánh đại bại trận thủy chiến trên sông Ngã Bảy, phải bỏ thành Gia Định (Sài Gòn sau này) chạy về Ba Giồng, rồi lánh sang rừng Romdoul, Chân Lạp (tháng 2 qua tháng 3, năm 1782).

Quân Tây Sơn truy đuổi quân Nguyễn Ánh đến 18 thôn Vườn Trầu, bị phục kích thua thảm bại. Một viên tướng lớn, được Nguyễn Nhạc thương yêu, là hộ giá Phạm Ngạn bị tử trận. Lính của Nguyễn Nhạc thoát về, khai nhận ra nhóm phục kích, gồm nhiều người gốc Hoa, trong đạo quân Hòa Nghĩa của Lý Tài, đã phản Tây Sơn và ẩn trốn Đỗ Thanh Nhân, nay nghe tin Đỗ Thanh Nhân bị giết, họ lại quay về ủng hộ Nguyễn Ánh. Vì đoàn quân này hiểu rõ cách hành quân của Tây Sơn, nên đã có thể phục kích hữu hiệu như vậy.

Nguyễn Nhạc, nổi giận đã ra một lệnh tàn ác, thất đức : “phàm người Tầu, không kể mới, cũ đều cho phép giết cả, trả thù cho hộ giá Ngạn”. Quân Tây Sơn được lệnh thi nhau chém. giết những người Hoa, dù thắt bím hay không, miễn mặc quần áo Tầu, nói tiếng Tầu là “phập”.  Theo như nhiều nguồn (trong đó có Trịnh Hoài Đức) kể lại, có khoảng 10,000 người Hoa bị giết từ Bến Nghé đến sông Sài Gòn. Tử thi quăng xuống rạch làm nước không chảy nổi. Nước bị ô nhiễm đến độ, cách 2-3 tháng sau, người dân không dám ăn cá tôm bắt từ sông Tân Bình lên. Sự “bài Hoa” của quân Tây Sơn ghê đến mức, các dụng phẩm như vải sô, lụa Hàng-Tô Châu, trà Tầu, thuốc Bắc, nhang đèn, hàng mã, giấy bổn, giấy viết, nhất thiết mọi thứ hàng Tầu … đều được người dân, vì sợ hãi, quăng xuống sông, liệng ra đường. Người đi đường thấy nhều món còn tốt cũng không dám lụm mót đem về.

oOo

Sau này, có sử gia cho rằng, có thể một trong những lý do mà Nguyễn Nhạc ra lệnh tàn sát đó, là để tàn phá bộ máy kinh tế của Miền Nam, đa số nằm trong tay người Minh Hương, luôn phục vụ cho Nguyễn Ánh.

Sự thật là, những vụ cướp bóc, giết người, ít nhiều mang tính “kỳ thị chủng tộc” của quân Tây Sơn đó, đã khiến một số nhỏ người Minh Hương bực tức và có những thái độ trả đũa. Ở một vài nơi, nghe nói đã có những vụ người Hoa tỵ nạn trong rừng gặp người Việt là đánh giết trả thù (nguồn tin này do các cha đạo người Tây Phương, thuở đó ghi chép lại, người viết đọc được ở đâu đó, nhưng nay đã mất bản gốc, chỉ xin đăng lại đây để dành kiểm chứng lại). Tuy nhiên chắc chắn đã không có vụ chem. giết vì lý do chủng tộc, giữa người Việt và người Hoa nào được ghi lại. Ngược lại sử kiện này cho thấy người dân Việt không chấp nhận “sự kỳ thị chủng tộc”, dù mang mặt nạ gì chăng nữa).

Trường hợp Võ Trường Toản cho thấy sự hội nhập hoàn toàn của người Minh Hương vào xã hội người Việt. Ông chọn nơi cư trú tại khu người Việt sinh sống là khu Hòa Hưng. Học trò ông gồm cả Việt lẫn người gốc Minh Hương. Học trò của ông khá đông và nhiều người nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Phạm Đăng Hưng, Lê Bá Phẩm, Phạm Ngọc Uẩn…  Ngay cả sau vụ quân Tây Sơn tàn sát người gốc Hoa, Võ Trường Toản đã không vì thế tham gia chính sự, mặc dầu Nguyễn Ánh rất mến mộ ông, mỗi khi ghé Gia Định thường triệu ông đến để đàm đạo, nhờ giảng sách. Nhiều người trong đám học trò ông trở thành đại công thần cho triều Nguyễn. Riêng ông, ông khéo từ chối mọi lời mời của Nguyễn Ánh, chỉ tiến chúa Nguyễn 10 điều về phương lực cứu quốc và kiến quốc.

Trong lúc Nguyễn Nhạc tàn ác với người Hoa vì một vài viên tướng phản mình, Nguyễn Ánh vẫn tin tưởng lưu dụng những viên tướng của cánh quân Đông Sơn, ngay cả sau khi đã giết Đỗ Thanh Nhơn, và nhiều tướng thuộc hạ cũ của Đỗ Thanh Nhơn trở thành kẻ thù của Nguyễn Ánh. Điển hình là Nguyễn Huỳnh Đức (tên thật là Huỳnh Tường Đức), đã từng là thuộc hạ của Đỗ Thanh Nhân. Ngay cả sau khi Nguyễn Huỳnh Đức đã bị Nguyễn Huệ bắt vào năm 1783, thu dùng mang ra Bắc đánh, rồi trốn về. Nguyễn Huỳnh Đức, sau làm đến chức Tổng Trấn Bắc Thành (1810), rồi Tổng Trấn Gia Định (1816), cùng với Trịnh Hoài Đức, cai quản cả Miền Nam.

oOo

Trở lại đề tài chính của bài viết là sự hình thành của Chợ Lớn. Từ sau biến cố 1782, không thấy sử ghi chép nhiều về khu Phiên Trấn. Ngoại trừ Trịnh Hoài Đức có kể lại rằng : “Qua năm sau, thứ trà xấu một cân giá bán lên đến 8 quan, 1 cây kim bán 1 quan tiền, còn các loại vật khác cũng đều cao giá, nhân dân cực kỳ khổ sở”. Điều này cho thấy, vào năm 1783, tại khu Bến Nghé và Phiên Trấn, người dân đã bắt đầu tìm cách sinh sống lại bình thường, dù đời sống cơ cực.

Cho đến thời kỳ mà Trịnh Hoài Đức gọi là trung hưng, tức vào năm 1788, sau khi người duy nhất còn lại trong “Gia Định Tam Hùng” là Võ Tánh (cả ba tướng Châu Văn Tiếp, Đỗ Thanh Nhân, và Võ Tánh đều gốc Minh Hương), đem 1 vạn quân, từ Gò Công, về hợp tác với Nguyễn Ánh, được chúa phong cho chức Tiên phong dinh Khâm sai chưởng cơ, và được chúa gả cho em gái là Ngọc Du, thì thế lực của Chúa Nguyễn mạnh hẳn lên. Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định. Cùng năm 1788, Nguyễn Ánh cho lập kho Bốn Trấn làm kho chung cho các trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, và Định Tường để thu thuế và làm ngân quỹ cấp lương bổng cho quan lại. Ít nhất đã có Trịnh Hoài Đức, Ngô Tòng Châu là hai người gốc Minh Hương đã được Nguyễn Ánh sung vào vị trí quan trọng, cùng với 10 người nữa, để thành 12 ông quan điền toán, đi khắp 4 trấn lo việc đôn đốc việc sản xuất nông nghiệp.

Đương nhiên là khu Phiên Trấn (làng Minh Hương) lại có dịp phát triển trở lại, nhờ ba yếu tố chính là vị trí thuận lợi,  các kho hàng chứa gạo đã có sẵn, và các thương gia gốc Minh Hương đã nắm vững mối riềng kinh doanh, gom thu sản phẩm nông-ngư,  từ thời Dương Ngạn Địch còn sống.

oOo

Có rất nhiều xác suất, hay nói một cách khác, người ta có thể đặt giả thuyết là, có một con kinh hay con rạch lúc đó, đột nhiên trở nên một sinh mạch quan trọng, và cần chỉnh trang lại hai bên bờ đê của nó. Cùng với việc hai sỹ quan Pháp Theodore Lebrun, và de Puymanel thiết kế thành Gia Định theo kiểu Vauban, với tổng số nhân công là 30,000 người, với vật liệu xây cất là đá granite. Có thể vào khoảng thời gian này  người ta đã cho đắp đê cao lên hai bờ con kênh, và cẩn  đá hai bờ rạch một vài đoạn chính, vì ảnh hưởng bởi công trình xây thành Gia Định. Vì người Việt quen gọi vùng này là Sài Gòn, họ nhân đó đặt luôn tên theo âm Hán Việt là “Đề Ngạn” (堤岸), đọc theo giọng Quảng Đông là “Thầy Ngồn” (Tài Ngọn) để phiên âm hai chữ Sài Gòn, tức ngược với thuyết của Aubaret và Francis Garnier mà đã được hai ông Vương Hồng Sển và Thái Văn Kiểm đồng ý. Chúng ta đã biết cách người Hoa Kiều đặt tên, họ thường lấy những tên đã có tại cố hương bên Tầu mà đặt. Tên “Đề Ngạn” mới quá, thông tục quá, mà nghĩa thì không nói lên được gì, vì “đề” là “Bờ đê, đắp đê phòng nước tràn vào. Tục viết là ”, “ngạn” là “Bờ. Như Đê Ngạn 堤 岸 Bờ Đê”; quá chung chung, khác hẳn những tên thường thấy bên Trung Hoa, như “Tiểu Hà”, “Đại Hà”…, ví con kênh như sông lớn, sông bé.

Còn lý do tại sao lại có tên Sài Gòn thì giả thuyết đưa ra bởi Trương Vĩnh Ký được nhiều người cho là hợp lý nhất, vì theo ngôn ngữ học, Prei Nokor (hay Brai Nagara theo tiếng Phạn mà người Miên mượn), có nghĩa là “Thị trấn ở trong rừng”, “Prei” hay “Brai” là “rừng”, “Nokor” hay “Nagara” là “thị trấn”. Theo tiến trình của ngôn ngữ, Prei hay Brai biến thành Rai, thành “Sài”, Nokor bị bỏ “no” thành “kor”, và từ “kor” thành “gòn”. (có nghĩa là người Miên  bình dân đọc tắt Prei Nokor là Rai kor, người Việt nghe thành nghe Sài Gòn)

oOo

Riêng với con kênh Tàu Hũ, thì sau khi được đào xong vào năm 1819, nó mau chóng trở thành con đường huyết mạch giúp cho Chợ Lớn (lúc đó còn mang tên Sài Gòn) sau này giầu thêm nhiều. Con kênh này nối sông Sài Gòn với sông Tiền qua Kênh Ruột Ngựa, sông Rạch Cát hay sông Chợ Đệm, sông Vàm Cỏ, kênh Bà Bèo (kênh Tháp Mười sau này). Sông Tiền hay Tiền Giang  là một trong hai nhánh sông Cửu Long trước khi đổ ra Thái Bình Dương.

Trong “Ký ức lịch sử về Sài Gòn và các vùng phụ cận (năm 1885)”, Trương Vĩnh Ký viết : “Hai bên bờ rạch Chợ Lớn là hai dãy nhà phố lớn bằng gạch gọi là Tàu Khậu để cho người Hoa từ Trung Quốc hàng năm đi ghe biển tới thuê. Họ đem hàng hoá chứa trong các phố đó, hoặc để bán sỉ hoặc để bán lẻ khi lưu trú tại Sài Gòn”. Theo Huỳnh Tịnh Của thì Tàu Khậu là giọng người Triều Châu phát âm từ Thổ khố, tức là khu nhà lớn bằng gạch để chứa hàng hoá, sau đọc trại ra thành Tàu Hũ.

oOo

Đến đây, có lẽ chúng ta đã phân biệt được hai chữ gốc Minh Hương và gốc Hoa Kiều. Tuy đều từ Tầu qua, nhưng người Minh Hương qua vì tỵ nạn chính trị, đa số nhận nước Việt làm quê hương, mau chóng hội nhập và thành người Việt 100%.  Đợt di dân qua Việt Nam lớn nhất do hai tổng binh Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên vào năm 1679. Theo như đã chứng minh, họ chính là những người đã đặt nền móng xây nên Chợ Lớn mà ngày đó mang tên Sài Gòn. Đó là lý do  giải thích việc Đình Minh Hương tại Chợ Lớn ngày nay lại thờ thống suất Nguyễn Hữu Cảnh, đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên, và  hai ông quan thượng thư gốc Minh Hương Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh.

Hoa Kiều là những người Trung Hoa qua Việt Nam sinh sống, họ có thể qua vì nhiều lý do như thương nghiệp, hàng hải, nghề nghiệp, gia đình… Nhưng họ không qua vì lý do “kháng Thanh, phục Minh”.  Họ lưu dân ở khắp nơi trên thế giới và thường là thương nhân, luôn hướng về đất tổ như Đài Loan (phe chống Cộng), Hồng Kông (do Anh quốc cai trị) Ma Cao (do Bồ Đào Nha cai trị) và Trung Hoa lục địa. Khi đó cả bôn nơi này còn là một quốc gia thống nhất, bị chia cắt sau thế chiến thứ I và thứ II.

Huỳnh Thị Mỹ Nhàn post (tài liệu trên Net)