“BỎ QUA ĐI TÁM !”

CHUYỆN THÀNH NGỮ

“BỎ QUA ĐI TÁM !”

Người Sài Gòn xưa có cách xưng hô thứ bậc thú vị : công chức, người có học là thầy Hai, người Hoa buôn bán là chú Ba, đại ca giang hồ là anh Tư, lưu manh là anh Năm… người lao động nghèo xếp thứ Tám. Sao lại xưng hô vậy?

Chiều muộn hôm qua có cậu bạn đi công việc ghé ngang nhà rủ làm ly cà phê tán dóc. Nói chuyện lan man một hồi, tự nhiên anh chàng kể công ty em có ông già gác cửa rất hay nói câu “bỏ qua đi Tám”

“Em không hiểu, có lần hỏi thì ổng nói đại khái là dùng khi can ngăn ai bỏ qua chuyện gì đó, nhưng sao không phải là Sáu hay Chín mà lại là Tám thì ổng cũng không biết”, cậu bạn thắc mắc.

Dựa vào những câu chuyện xưa cũ, những giai thoại, nên kể ra đây chút nguyên cớ của câu thành ngữ có lẽ sắp “thất truyền” này…

Trước hết, phải biết là câu này phát sinh ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn từ thời Pháp thuộc, khoảng đầu thế kỷ 20. Thời đó, cách xưng hô thứ bậc trong xã hội rất phổ biến và phần nào phản ánh vị trí xã hội, giai cấp… một cách khá suồng sã và dễ chấp nhận.

Thứ Nhất : Đứng trên hết là các “Quan Lớn” người Pháp hoặc các quan triều nhà Nguyễn, thành phần này thì không “được” xếp thứ bậc vì giới bình dân hầu như không có cơ hội tiếp xúc đặng xưng hô hay bàn luận thường xuyên.

Thứ Hai : Kế đến là các công chức làm việc cho chính quyền, họ ít nhiều là dân có học và dân thường hay có dịp tiếp xúc ngoài đời, là cầu nối giữa họ với các thủ tục với chính quyền, hoặc đó là thành phần trí thức, đó là các “thầy Hai thông ngôn”, hay “thầy Hai thơ ký”…

Thứ Ba : Là các thương gia Hoa Kiều, với tiềm lực tài chính hùng hậu và truyền thống “bang hội” tương trợ, liên kết chặt chẽ trong kinh doanh, các “chú Ba Tàu” nghiễm nhiên là thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó.

Thứ Tư : Là các “đại ca” giang hồ, những tay chuyên sống bằng nghề đâm chém và hành xử theo luật riêng, tuy tàn khốc và “vô thiên vô pháp” nhưng khá “tôn ti trật tự (riêng)” và “có đạo nghĩa” chứ không tạp nhạp và thiếu nghĩa khí như các băng nhóm “trẻ trâu” hiện đại. Các “anh Tư dao búa” vừa là hung thần, vừa ít nhiều lấy được sự ngưỡng mộ của giới bình dân (và cũng không ít tiểu thư khuê các) thời đó.

Thứ Năm : Là vị trí của giới lưu manh hạ cấp hơn: các anh Năm đá cá lăn dưa, móc túi giật giỏ, hay làm cò mồi mại dâm…

Thứ Sáu : Bị giới bình dân ghét hơn đám lưu manh côn đồ là các “thầy Sáu phú-lít (police)”, “thầy Sáu mã tà”, “thầy Sáu lèo”. Chức trách là giữ an ninh trật tự, chuyên thổi còi đánh đuổi giới buôn gánh bán bưng bình dân, nhưng các “thầy Sáu” này cũng không từ cơ hội vơ vét ít tiền mọn “hối lộ” của họ để “nhẩm xà” (uống trà).

Thứ Bảy : Và trong giới buôn bán thì không thể thiếu chuyện vay vốn làm ăn, mặc dù Tàu hay Việt cũng đều có tổ chức cho vay. Nhưng phổ biến và “quy củ” nhất ở cấp độ trung – cao khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn thời đó là các “anh Bảy Chà và”, các anh này là các nhà tài phiệt người Ấn, vừa giàu vừa ít bị “ghét”, vừa ít nhiều có quan hệ qua lại với giới chức người Pháp, lại làm ăn đúng luật lệ, ít thừa cơ bắt chẹt lãi suất nên khá được giới kinh doanh tín nhiệm.

Thứ Tám : Xếp thứ Tám chính là lực lượng đông đảo nhất xã hội bình dân bấy giờ: họ là giới lao động nghèo chỉ có sức lực làm vốn nuôi miệng, từ bốc vác, gánh nước bồng em, đến “sang” hơn chút xíu là phu xe kéo…

Tuy đông nhưng lại yếu thế nhất vì thất học, không có tiền như thầy Hai, anh Ba, cũng hiền lành chứ không bặm trợn phản kháng bạt mạng như các anh Tư anh Năm nên họ thường xuyên chịu sự áp bức, bắt nạt từ mọi phía. Cách để yên thân khả dĩ nhất với họ là khuyên nhau cắn răng nhẫn nhịn, quên đi để sống: “Bỏ qua đi Tám”, bây giờ chắc là đã dễ hiểu rồi.

Thứ Chín : Không còn liên quan nữa, nhưng nhân tiện sẵn nói luôn về thứ bậc chót cùng trong xã hội thời đó : các cô, các chị Chín xóm Bình Khang chuyên “kinh doanh” bằng “vốn tự có”.

Dài dòng tí để trình bày chút kiến giải về một câu thành ngữ đang dần bị quên lãng dùng để bày tỏ thái độ khuyên người hoặc tự an ủi mình hãy đừng để ý những chuyện không vui, hay bị ai đó “chơi không đẹp”. Nếu lỡ đọc thấy không có gì thú vị thì thôi, “bỏ qua đi Tám”.

“Anh Hai Sài Gòn” thì là cách gọi vui, thân mật, nhưng cũng thể hiện tính cách phóng khoáng, dám làm dám chịu của dân Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung. Vì sao lại là “Anh Hai” chứ không là “Anh Cả” ?

Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, bắt đầu gây dựng chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đây là cái mốc quan trọng của quá trình “Nam tiến” trong lịch sử Việt Nam, cũng là quá trình hình thành văn hóa vùng đất phía Nam trong xu thế mang theo và gìn giữ văn hóa cội nguồn, đồng thời tiếp nhận những yếu tố văn hóa của cư dân vùng đất mới.

Đến năm 1698, Phủ Gia Định được thành lập, Sài Gòn – Gia Định hình thành từ đó. Chỉ hơn 300 năm nhưng người Sài Gòn đã kịp định hình một bản sắc riêng dễ nhận biết giữa những người của vùng miền khác. Điều này hình thành từ nguồn gốc lưu dân và hoàn cảnh lịch sử xã hội của miền Nam /Sài Gòn.

Lưu dân người Việt vào Nam trước hết và đông nhất là những người “Tha phương cầu thực” vì không có đất đai, không có phương kế sinh sống ở quê hương. Thành phần thứ hai là những người chống đối triều đình, quan lại địa phương bị truy bức nên phải tìm đường trốn tránh. Thứ ba là những tội đồ bị buộc phải ly hương (một hình phạt nặng của thời phong kiến). Ngoài ra, còn có số ít người tương đối giàu có, muốn mở rộng và phát triển việc làm ăn trên vùng đất mới nên nhập vào hàng ngũ lưu dân tới miền Nam…

Khi Sài Gòn được hình thành như một trung tâm của vùng đất phía Nam thời chúa Nguyễn, một đô thị lớn thời thuộc Pháp thì nơi đây cũng là nơi dân tứ xứ tiếp tục đổ về. Người nhập cư là thành phần hữu cơ của bất cứ đô thị nào, Sài Gòn vốn hình thành từ những lớp “người nhập cư” rồi trở thành “người Sài Gòn”, rồi lại tiếp tục thu nhận và chia sẻ cho những lớp người nhập cư mới.

Sống trong những điều kiện lịch sử luôn biến động, người dân miền Nam /Sài Gòn đã tạo dựng một nếp sống tinh thần ấm áp, bình đẳng, lấy tình nghĩa, nghĩa khí làm trọng…

Người Sài Gòn không phân biệt “quê”, “tỉnh”, “đồng hương” hay không…

Có thể nói, tính cách người Sài Gòn bắt nguồn từ yếu tố, điều kiện thực tế nhất ở Sài Gòn là “Làm” : “Làm ăn”, “Làm chơi ăn thiệt”, “Làm đại”, “Dám làm dám chịu”… được thể hiện một cách giản dị, thiết thực, “liều lĩnh” nhưng cũng đầy trách nhiệm

Ở Sài Gòn, “dư luận xã hội” không nặng nề khe khắt với những cái khác, cái mới. Người Nam khá dân chủ trong các mối quan hệ xã hội và cả trong gia đình, từ cách xưng hô (người Nam thường xưng “tui”) đến việc cá nhân ít lệ thuộc, phụ thuộc vào cộng đồng.

Chỉ vậy thôi, bất kể người tỉnh nào vùng miền nào, miễn là sống ở Sài Gòn, rồi có tính cách như vậy, thì đó là Người Sài Gòn… Có lẽ vì vậy mà người ta thường gọi người Sài Gòn một cách trìu mến là “Anh Hai Sài Gòn”.

Ở miền Bắc con trai trưởng trong nhà gọi là Anh Cả nhưng miền Nam lại gọi Anh Hai. Vì sao là Anh Hai mà không phải là Anh Cả ? Có thể từ vài giả thuyết sau : Chúa Nguyễn Hoàng là người con trai thứ hai của Nguyễn Kim, mở đường vào Nam khai phá nên để tôn trọng ông, người dân gọi người con lớn của mình, trai hay gái, cũng chỉ là (thứ) Hai.

Hoặc, có ý kiến cho rằng, khi có phong trào lưu dân vào Nam khai khẩn, trong gia đình thường để con trai thứ ra đi vì người con trai trưởng có vai trò ở lại quê nhà phụng dưỡng cha mẹ và thờ cúng tổ tiên. Cũng có người cho rằng, trong làng quê miền Nam xưa có ông Cả (Hương Cả) là người đứng đầu, vì vậy trong các gia đình chỉ có người thứ Hai…

Tuy khác nhau về nguồn gốc “thứ Hai” của “anh Hai Sài Gòn” hay “anh Hai Nam Kỳ” nhưng có thể nhận thấy có chung một điểm: Đó là người con thứ không bị ràng buộc trách nhiệm nặng nề “giữ hương hỏa, nền nếp” như người con trưởng nên có thể “rộng chân” ra đi, tự do hơn khi tiếp nhận cái mới, thay đổi cái cũ lạc hậu, dễ thích nghi, có khi thử, liều. Nhưng vì không có gia đình họ hàng bên cạnh để mà dựa dẫm “tại, vì, bởi…” nên phải có trách nhiệm “dám chịu” nếu lỡ sai lầm. (theo Nguyễn Thị Hậu)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NGHỆ THUẬT ĐỂ GIỮ NÀNG

Minh Đức Hoài Trinh

NẾU NÀNG THUỘC LOẠI ĐẠO ĐỨC HAY VÔ THẦN cũng phải chia ba bậc : sùng đạo hạng nhẹ, vừa vừa và “pha na” hay loại chỉ thích “sống hôm nay” mà đối phó

Vấn đề này ngày trước chẳng bao giờ được đặt ra vì người đàn bà nào mà chẳng có một chút đạo đức, không đạo Phật thì đạo Khổng, đạo thờ ông bà cha mẹ ? Từ khi người Pháp xâm nhập vào thì xứ ta còn có thêm Thiên Chúa giáo. Đạo nào cũng có một đấng tối cao đã từng hy sinh suốt đời để cứu muôn dân, dạy mọi người phải làm lành tránh dữ. Mấy năm về sau nầy mới có những nhân vật vô thần, học theo những quyển sách của Camus với Sartre.

Hiện ở xứ ta, tôn giáo đóng một vai trò quan trọng nên chúng ta không thể bỏ qua, vì thế phải dành một chương để trình bày cho đầy đủ. Đạo nào cũng được chia ra nhiều bậc, từ cao xuống thấp ta phải tùy đó mà liệu bề ăn ở. Nếu ta ở khéo thì tình càngthêm thắm thiết, nếu ta vụng về thì có ngày sẽ bị ra rìa, đừng có ngồi đó mà than thở.

Hiện tại đối với những thiếu nữ ngoan đạo sự ảnh hưởng của cha và thầy không phải ít ta “sức mấy” mà dám không nghiên cứu cho rõ ràng Nàng đạo gì ? Bậc thứ mấy.

Ở đây đạo gì cũng được chia ra ba bậc, bậc một tức là nhà có treo ảnh treo tượng vậy thôi, đại lễ mới thấy đi nhà thờ đi chùa một lần, ai hỏi đạo gì thì khai chứ không chuyên cần. Bậc hai biết lo sợ hơn, siêng năng hơn, lên đến bậc ba thì sẵn sàng tung hô khẩu hiệu “thà mất nước chớ không thà mất đạo”.

NẾU NÀNG ĐẠO PHẬT

Bậc một – Ta chỉ cần cũng là phật tử bậc một như nàng, tức là khỏi phải kiêng thịt. Ngày rằm mùng một có hứng thì mời nàng đi ăn chay cho vui không thì thôi. Không cần phải biết chuyện Phật đi bốn cửa thành vì chính nàng cũng chưa chắc đã biết.

Đạo nào cũng thế, ở bậc một là bậc dễ chịu nhất vì nàng không đòi hỏi, ta khỏi phải đóng kịch, phải cố gắng theo cho kịp, lắm khi rất bực mình.

Bậc hai – Chỉ cần nói chuyện nửa giờ đặt vài câu hỏi cho khéo là biết nàng ở bậc nào. Có người sẽ ngây thơ không biết hỏi câu gì ? Chẳng hạn nếu nàng thuộc loại trí thức thì ta sẽ hỏi:

Cô có đọc mấy bài phỏng vấn Thượng tọa Thích trí Quang của các báo Time, Newsweek, Express vừa rồi không ? Cô nghĩ sao ?

Nàng sẽ trả lời và ta dựa theo đó mà đoán biết. Nếu nàng cứ giả vờ trí thức hoặc không có gì thì ta sẽ đặt ngay vấn đề : Ngày mai Viện Hóa Đạo có cuộc thuyết pháp cô có đi không?

Nếu nàng trả lời : “Đi chớ sao không !” bằng một giọng nghiêm trang đứng đắn thì mình biết nàng ở bậc ba nếu nàng trả lời : “Để xem thử ai giảng và giảng về vấn đề gì, nếu có thì giờ thì sẽ đi” ấy là nàng ở bậc nhì, nếu ở bậc một thì nàng sẽ lắc đầu bảo : “Em ngại những đám đông lắm”, thế tức là không đi, ai diễn thuyết cũng chẳng đi và diễn về vấn đề gì Cô cũng chẳng đi.

Nếu nàng ở bậc hai, mà ta muốn nàng dành cho nhiều thiện cảm thì phải tự ra Viện xem ai giảng và giảng về vấn đề gì ? Ta sẽ đến xin ăn chay nhà nàng vào ngày rằm, mùng một hoặc những ngày vía lớn. Ta ra hiệu sách tìm những quyển về giáo lý mua tặng nếu có dịp đi Nhật đừng quên ghé Kyoto mua cho nàng một chuỗi tràng hạt hoặc một tượng Phật nhỏ, sang xứ Ấn Độ, Miến Điện cũng nên nhớ lấy món quà tinh thần cao cả ấy.

Nói chuyện với nàng phải tỏ ra mình có căn bản đạo đức, kể những kỷ niệm ngày bé theo mẹ đi chùa thế nào, lễ quy y ra sao v..v… Nàng sẽ cảm động lắm, nghĩ rằng anh chàng có căn bản đạo đức không phải phường lưu manh nếu ta mà được “sửa túi nâng khăn” cho anh chàng thì chắc sẽ không phải đau khổ vì người có đạo, vì ai nỡ để vợ con phải khổ.

Bậc ba – Gặp các cô ở bậc ba ta nên tâm niệm câu “mất nước hơn mất đạo”. Nghe có biểu tình, xuống đường, hội thảo, cũng phải phóng xe đi ngay đến cho kịp hoan hô đả đảo.

Phải biết vanh vách những tiểu sử của các thượng tọa và cái quá trình tranh đấu của mỗi ông. Phải hiểu rõ thế nào là Nam Tông, Bắc Tông, là Đại Thừa, Tiểu Thừa. Muốn cho nàng thương nhiều khi có biểu tình ta phải xin giữ một chân trật tự hoặc leo lên xe có ống loa mà ngồi hò hét, tệ lắm cũng phải cầm biểu ngữ căng thẳng chứ đi khơi khơi tay không chưa đủ cho nàng kính phục. Cố nhiên là rằm, mùng một phải lên chùa, lên viện xin ăn chay, làm công quả.

Nói tóm lại phải tỏ ra mình xứng đáng với nàng, nàng sao thì mình vậy, hai người mà cưới nhau thì ăn xong đóng cửa đi làm việc phước thiện mà thôi. Ngày sau con đẻ ra cho học vỡ lòng bằng tiếng Phạn, thuộc làu kinh vedas.

Về cách đối xử thường ngày với ta phải để cho nàng đi lên chùa luôn, nếu ta bận việc không đưa đi và ở lại được thì chiều đi làm về ta phải đến đón. Có như thế thì nàng mới yêu ta và không bị quáng mắt vì những Phật tử khác ngoan ngoãn hơn.

NÀNG ĐẠO THIÊN CHÚA

Vì tình trạng nước nhà, chứ ngày xưa vấn đề nầy không đặt ra bao giờ, dù nàng là đạo Phật hay đạo Chúa cũng chẳng có gì khác biệt ngoài sự ngủ sớm đêm thứ bảy, ăn cá ngày thứ sáu của các cô gái theo đạo Chúa và sự ăn chay ngày rằm, mùng một của đạo Phật.

Ngày nay không biết lý do vì đâu mà sự cách biệt càng ngày càng sâu xa, dân cùng một nước, ở cùng một nhà nhưng nếu khác đạo thì lắm khi như hai kẻ thù nghịch. Nếu ta không có cái ý định muốn dung hòa, muốn lấp hố để đưa nước nhà đến chỗ thoát khỏi sự chia rẽ thì ta đành cũng phải theo nàng vậy.

Cũng như với những người đẹp bên Phật Giáo, ở đây ta cũng phải chia ra ba bậc – Nàng ở bậc nào thì ta cũng phải theo cùng một đạo là việc trước nhất. Vì khác đạo khó mà đóng kịch.

Bậc một – Phận sự của ta sẽ dễ dàng hơn, ta chỉ có ăn cá ngày thứ sáu và đêm thứ bảy liệu đi chơi đâu cũng phải đưa nàng về ngủ sớm, mặc dù lễ nhất để cho bồi bếp, lễ nhì để cho ông già bà cả và lễ ba mới để dành cho trai thanh gái lịch đi để liếc nhau lúc vào và lúc ra, biết thế nhưng cũng phải nhắc nàng nên về sớm. Nàng sẽ cảm động nhận thấy ở ta một chàng trai có ý thức, có đạo đức và sau này nhất định phải là một người chồng lý tưởng, vì đồng thời với sự ý tứ ấy, ta lại còn đọc hai bài trước để áp dụng nếu nàng là con nhà giàu, nếu nàng là kẻ trí thức v.v..

Bậc hai – Bắt đầu khó khăn hơn, mất nhiều thì giờ hơn một tí, ngoài sự ăn chay ngày thứ sáu, ngủ sớm đêm thứ bảy ta còn phải đưa nàng đi viếng những nhà thờ lạ để đốt đèn cầu nguyện. Có dịp ra Trung phải nhớ mang theo cái be để xin nước ở nhà thờ Đức mẹ La Vang.

Nhớ trong câu chuyện thỉnh thoảng phải nhắc lại những lời của cha giảng ở nhà thờ (nếu nàng thuộc loại ít trí thức) hoặc đọc những đoạn thánh kinh của các thánh Mathieu, thánh Luc. (Nếu nàng học cao).

Phải biết rõ lúc nào nên ví mình với ông thánh Pierre hay thánh Augustin v…v… Ban đêm thỉnh thoảng có đến thăm nàng thì mở máy phát thanh, đừng có tìm nghe Minh Hiếu với Hà Thanh mà hãy nghe cha giảng. Nàng sẽ yêu ta hết mình, thấy ta ở một tâm hồn đức độ, đáng kính đáng phục.

Món quà tặng lúc nào cũng phải kèm tượng ảnh, tràng hạt, sách về đời của Chúa, của Đức Mẹ, của các Thánh. Hẹn với nàng sau nầy: “Nếu được ơn trên ban phước chúng ta có thể du lịch ở Pháp thì anh sẽ đưa em về Lourdes để chiêm ngưỡng cái hang đá nơi Đức Mẹ hiện ra”. Ta hẹn sẽ sang Ý cho nàng được viếng Tòa Thánh, Vatican.

Bậc ba – Ta phải ăn ở giống hệt như đối với những nàng bậc ba phật giáo. Bỏ hết, dẹp sang một bên, dẫu cho bát tiên có xuống tuýt ở rạp Hưng Đạo cũng không thèm khi đã có lệnh biểu tình của cha triệu tập.

Ta phải luôn luôn có mặt trong các buổi kiệu, buổi lễ. Trước khi ăn, khi ngủ phải nhớ lẩm bẩm đọc kinh. Có một chàng trai thú nhận rằng nhờ sự đọc kinh lầm thầm đó mà chàng ta cưới được vợ mặc dầu không thuộc câu kinh nào mà trước khi ăn chàng cũng chấp tay đọc thầm: “Nay ăn ở đây mai ăn ở đâu, nay ăn ở đây mai ăn ở đâu”. Đến lúc đi ngủ cũng thế: “Nay ngủ đây mai ngủ ở đâu”. Nhà cô gái thấy chàng ngoan đạo quá nên đã chấp thuận cho làm rể. Cố nhiên là sau đó anh chàng phải học gấp mấy bài kinh lạy cha, kính mừng.

Ta cứ làm y như thế nếu nàng ở những đạo khác, chia ra ba bậc mà điều khiển thì thế nào cũng ăn đứt những kẻ “to bằng cấp, dài xe hơi” hơn ta. Vì khi đã có đạo thì cô nào cũng “pha na” hơn tất cả.

NẾU NÀNG VÔ THẦN

Vô thần cũng phải chia ra hai loại. Vô thần mà lại vô tình cảm – Đối với những nàng này ta cũng phải tỏ ra sắt đá. Thấy ai khóc thì cho là nước mắt cá sấu, thấy ai buồn thì cho rằng mất thì giờ. Thầy xây chùa, đền thì phê bình là tốn tiền vô ích. Giỗ cha giỗ tổ gì cũng không nhớ chỉ nhớ chuyện ăn chơi, giảng cho nàng cái lợi của những người chỉ sống hôm nay.

Nếu nàng được tự do không bị gò bó gia đình thì ngày nào ta cũng đến đèo xe “vét-ba” nàng đi ăn, đi chơi, đi nhảy.

Những thiếu nữ nầy xứ ta mới bắt đầu xuất hiện chứ các nước Âu Châu đã có mặt khá nhiều. Có bao nhiêu tiền thì ăn chơi trong một lúc, mua thuốc lá thơm, hút vài hơi rồi vứt đi. Trong nhà có từng cái gạt tàn thuốc to lớn, khi hết tiền lại đi nhặt tàn ra mà hút nữa.

Dùng chữ vô thần cho có vẻ văn hoa chứ đúng nghĩa ra phải gọi là sa đọa, ở dưới hỏa ngục đã có một căn phòng đợi sẵn.

Các cô này chỉ thích tìm bạn với những kẻ nào có tâm hồn thích hợp với mình. Hiện giờ thế giới đang đi đến chỗ “kỳ quái”, càng kỳ quái chừng nào lại càng được hoan nghênh chừng ấy.

Muốn giữ các nàng này, ta cũng phải “hú với đầu sói” hệt như đàn sói. Tôi xin phép phỏng theo cái quan niệm kỳ quái để cống hiến cho các bạn trai. Chẳng hạn ta mời nàng về nhà, lấy một chiếc giày cũ banh ra đội lên đầu làm cái mũ, lấy cái áo len mặc ngược lại tay xỏ vào chân.

Mở máy ghi âm ra cho nàng nghe nhạc, một thứ nhạc do ta tạo ra nên. Lấy một bản jazz họa thêm tiếng son nồi đập xủng xoẻng vào, thỉnh thoảng ngừng nhạc, thì tiếng giảng kinh của một vị Cha ở nhà thờ hoặc một vị thượng tọa. Tiếp sau đó ta đóng một màn tra tấn, cho máy điện chạy rè rè và những tiếng thét rú lên đau đớn. Xong rồi lại nhạc, tiếng bom, tiếng súng, tiếng máy bay, giọng cười khàn khàn vật chất của cô thương nữ, giọng khóc oe oe của trẻ con v..v…

Ta sẽ làm bộ thành kính như nghe một bản nhạc lễ của Bach hay của Mozart.

Câu chuyện của nàng với ta, nếu nàng không có học thức thì chỉ có nằm gác chân lên tường hút thuốc, nếu nàng có học thức thì ta sẽ kể cho nàng nghe những câu chuyện sa đoạ ta đã đọc được ở thế giới chẳng hạn như tác phẩm “Justine” của Sade, rồi ta phân tích và hoan nghinh tác giả.

Ta sẽ giúp nàng cởi bỏ những thành kiến cổ hủ cho rằng xiềng xích cản lối tiến bộ của con người.

Vô thần mà có tình cảm – chút xíu – với những cô nàng này ta khỏi cần đóng vai kỳ quái chỉ cần tỏ vẻ khinh bạc, kể cho nàng nghe những sự ràng buộc về con cái, nếu ta có con thì sẽ theo lối giáo dục của mấy chú bé thời Hitler. Không bao giờ đưa nàng đi đền chùa, chỉ đưa đến mộ là quá lắm. Nàng thương cha mẹ hơn loại trên thì ta cũng phải giả vờ hỏi thăm chút đỉnh, trong câu chuyện không nói đến một sự tin tưởng gì, trong cuộc sống cũng vậy.

Lấy quyển Etranger của Camus làm đúng thánh kinh, đại loại như thế, nếu nàng thông minh, nếu nàng chỉ có cái vỏ bên ngoài mà đầu óc rỗng tuếch thì rất dễ, chỉ có mấy vấn đề ăn, ngủ, đi chơi, đi nhảy.

Câu chuyện dồn trong những vấn đề hiệu ăn nào ngon nhất, tiệm nhảy nào đèn mờ, du dương dễ nhất. Cô ca sĩ nào xinh, kiểu áo nào xét-xi.

Với loại nàng nầy cuộc sống rất dễ dãi, hợp với đa số người chỉ thích ăn chơi, không có ý định xây dựng thì gặp loại này là đúng nhất, hợp nhất.

Đối với đàn bà, nhất là đàn bà Việt Nam nổi tiếng là thông minh, các bậc nam giới hãy liệu bề mà ăn ở. Vì càng ngày cuộc sống càng được cởi mở, không phải như ngày xưa mà “chồng giận thì vợ làm lành” nữa đâu. Ngày nay “chồng giận thì vợ thây kệ”.

Các bạn trai có thấy đúng như thế không? Huống nữa là ở thời đại mà đàn bà dễ làm giàu hơn đàn ông. Chỉ cần đi một buổi dạ hội gặp một cấp chỉ huy chưa vợ mà cô đẹp nhất đám là vài tháng sau một bước cô lên đệ nhị, đệ tam, nếu không là đệ nhất phu nhân.

Các ông liệu đó mà ăn ở giữ gìn đừng có tưởng cưới rồi là thuộc quyền sở hữu hoàn toàn về mình, còn lâu ! (theo Thời Nay số 162/1966)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

Advertisements

NÓI CHUYỆN VỀ HÔN MÔI

Logo phiem

9 Hon moi 1NÓI CHUYỆN VỀ HÔN MÔI

– Nguyên Nguyễn 

Một trong những hiện tượng loài người đã dễ dãi chấp nhận không một chút thắc mắc là sự lấn lướt và đồng hoá của văn minh Âu Mỹ trên tất cả các giống dân khác nhau trên địa cầu về cách thức HÔN nhau giữa hai người. Hôn nhau bằng đôi môi.

Cách đây chừng vài tháng người viết chợt nghĩ đến đề tài này khi xem xi-nê trên TiVi ở đài sắc tộc Úc SBS, phim The Terra-cotta Warrior (Người chiến sĩ đất nung). Phim do nữ tài tử số 1 của Trung Quốc Gong Li đóng vai chính. Truyện phim kể lại chuyện một trong những cung tần của Tần Thuỷ Hoàng đem lòng yêu một viên tướng của hoàng đế. Hai người yêu nhau trong lúc viên tướng có nhiệm vụ lo đốc thúc việc bào chế thuốc trường sinh cho Tần Thuỷ Hoàng.

Thuốc vừa bào chế xong nhưng chưa được thử nghiệm thì lại lọt vào tay của người đẹp cung tần. Hoàng đế khám phá ra chuyện này và bắt người đẹp đó nhảy vào lửa chết còn viên tướng bị bức tử bằng cách trét đất sét vào khắp người để cho khô rồi biến thành một trong những tượng đất sét mà các nhà khảo cổ đã đào được ở Xian (Tây An) cách đây vài chục năm. Nhưng trước khi chết người đẹp đã nhét vào miệng viên tướng đó viên thuốc trường sinh vừa mới được bào chế.

Hai ngàn năm trôi qua, vào khoảng thời gian đầu thế chiến thứ hai, một nữ tài tử xinê đi đóng phim ở khu Xian. Nữ tài tử này có lẽ do người đẹp năm xưa đầu thai lên, có khuôn mặt và vóc dáng giống y như người cung tần của Tần Thuỷ Hoàng hồi ấy. Nữ tài tử có việc lộn xộn chi đó với đám ê-kíp quay phim nên chạy trốn và lạc vào9 Hon moi 3 hầm chôn những người chiến sĩ bằng đất sét của Tần Thủy Hoàng.

Vô tình nữ tài tử đụng vào tượng đất sét bao bọc viên tướng bên trong. Đất sét bọc vỡ ra và người tướng năm xưa sống lại. Nhờ ở viên thuốc trường sinh năm xưa nên viên tướng đó giống như đã ngủ qua một giấc ngủ dài hơn 2000 năm. Tỉnh dậy ông tướng vẫn tưởng rằng đây là người yêu của mình năm xưa nên dùng hết võ nghệ siêu quần của chàng để bảo vệ người đẹp.

Chuyện ngộ nghĩnh của phim là ở chỗ ông tướng trong bộ y phục của thời nhà Tần đi đấm đá với đám anh chị có súng sáu ở giữa thế kỷ 20. Xong rồi không may người đẹp trong mộng của viên tướng lại bị nạn chết một lần nữa để lại viên tướng sống mãi mãi trong cô độc. Rồi đến thời 1980 hay gì đó trong đoạn cuối của phim, một đoàn du khách Nhật sang viếng trung tâm Terra Cotta ở Xian. Trong đoàn có một nữ du khách lại có khuôn mặt và thân hình y hệt như người cung tần năm xưa.

Phim quay cảnh người đẹp du khách đi tham quan khu Terra Cotta ngang qua khu có toán thợ đang sơn sửa các tượng đá đó thì có một anh thợ quay mặt lại nhìn người đẹp để thử nhận diện có phải người đẹp năm xưa đã đầu thai trở lại tìm mình như đã thệ ước hay chăng. Bởi anh thợ đó chính là viên tướng phản loạn với Tần Thuỷ Hoàng năm xưa.

Điểm không thật của phim là ở đoạn đầu khi viên tướng và người cung tần yêu nhau. Họ làm tình (hùng hục) và ôm nhau, hôn nhau … bằng môi như các tài tử ở Hollywood! Chuyện đó chắc chắn không bao giờ có trong thời đại Trung Quốc cổ !

Một thí dụ khác : Trong phim ‘Anna and the King’ mới quay lại gần đây do Châu Nhuận Phát và Jodie Foster đóng – 9 Hon moi 1Atương đương với phim ngày xưa The King and I, ‘Vua Xiêm và thiếp’  do Yul Brynner và Deborah Kerr đóng – có cảnh giữa buổi tiệc tiếp đãi ngoại giao đoàn, vua Xiêm tự nhiên đứng lên xin lỗi quan khách vài phút để bồng bế đứa con gái cở chín mười tuổi gì đó và hôn con chúc con ngủ ngon kiss goodnight với con gái… cũng hôn bằng môi !

Thật lạ lùng ! Á Châu ngày xưa hay ngay cả ngày nay làm gì có chúc ngủ ngon trước khi đi ngủ, và lại còn hôn nhau bằng môi để chúc ngủ ngon nữa ! Khi cần phải quay đến Hôn  người ta để ý Hollywood có vẻ rất ngang ngược, trịch thượng và láo khoét, không coi khán giả ra gì, không cần điều nghiên gì hết về cách hôn của người Thái, người Tàu khi xưa ra sao mà cứ bắt người ta phải ôm nhau hôn bằng… môi.

Điểm lạ lùng nữa, đối với người xem, như người Việt, người Tàu, người Nhật, v.v. đa số họ cũng dửng dưng hình như không để ý đến điểm thiếu chính xác – nếu không nói hoàn toàn sai trật – của cái hôn trong cội nguồn lịch sử dân tộc của họ. Không phải chỉ riêng Hollywood, tất cả các phim ảnh của mọi sắc tộc trên thế giới, ngay cả Trung Quốc (như phim Terra Cotta Warrior ở trên), Nhật Bổn, Ấn Độ, và Việt Nam (như phim the Long Tri Festival có cảnh chúa Trịnh ôm hôn môi nàng Đặng Thị Huệ !!) cũng đều tự động bóp méo chi tiết cổ truyền của họ trong các phim lịch sử bằng cách a-lê-hấp cho các tài tử ôm nhau hôn môi ra rít cho nó mùi và lẹ, khỏi mất công điều nghiên lâu lắc.

Thật sự, người Á Châu và rất nhiều giống người khác trên thế giới trong suốt mấy ngàn năm sinh tồn và mãi cho đến khoảng giữa thế kỷ 20 vừa qua không hề có cái vụ hôn nhau bằng môi như người Âu Mỹ ! Tức là trước khi đầu óc con người bị tiêm nhiễm bởi xinê, bởi phim ảnh của Hollywood, hình như mỗi chủng tộc có một lối hôn nhau, một cách thức hôn riêng biệt, thường khác nhau – chứ không phải chỉ có hôn môi. Lối hôn nhau bằng môi có lẽ là thành công vĩ đại nhất của sự lấn lướt và đồng hoá về văn minh, văn hoá, diễn đạt, cảm thông, 9 Hon moi 2luyến ái, sex, thương yêu, vân vân và vân vân của Tây Phương đối với mọi dân tộc khác trên thế giới.

Phương tiện chuyên chở và phát huy điểm sáng đó của Tây Phương chính là phim ảnh và TiVi. Thật ra nếu lối sống tự do dân chủ của Tây Phương cũng được truyền bá và tiếp thu nhanh chóng –  chỉ trong vòng chừng 20 năm: từ khoảng 1945 đến 1965 – và thành công 100% như cái hôn thì chắc thế giới cũng bớt đi chiến tranh, nhất là nội chiến, xuống đường, tranh đấu, điều tra tham nhũng, điều tra về vi phạm quyền con người,… rất nhiều.

Người viết nhớ những năm đầu mới định cư tại Úc vào cuối thập kỷ 70 thế kỷ trước. Thời đó ưa ở trọ những nhà trọ gần khu đại học New South Wales tại Sydney. Mỗi người khách trọ có phòng ngủ riêng biệt nhưng dùng chung các phòng khách, nhà bếp, phòng tắm v.v. Trong nhà trọ có một anh bạn gốc người Phi Châu sang Úc đi làm hay đi học chi đó. Tên anh bạn đó người viết nhớ hình như là Omhone.

Có một buồi tối thứ Bảy trong phòng xem Tivi đen trắng của nhà trọ tình cờ chỉ có anh ấy và người viết. (Xin nhắc lại cho mãi đến 1974 Tân Tây Lan mới có Tivi màu, và Úc đến 1976 mới có, và chỉ  những tư gia trung lưu trở lên mới tậu và dùng TV màu). Hai đưá đang ngồi xem một phim nào đó có hai tài tử da đen đang âu yếm ôm nhau hôn . . bằng môi. Anh bạn Phi Châu xem đến xen du dương đó chợt la to lên ‘Bull Shit’ (Xạo quá !). Người viết rất ngạc nhiên quay qua hỏi anh ấy tại sao vậy mới nghe anh ấy nói ở Phi Châu người ta không có hôn nhau kiểu đó. Người viết rất tiếc hôm đó  không hỏi luôn anh ấy xem người Phi Châu họ thường hôn nhau ra sao.

Cũng thời đó mỗi năm vào đêm giao thừa tết tây New Year’s Eve rất  nhiều người bạn quen ưa đi xuống khu Kings Cross của Sydney để được hôn free, hôn tự do thả cửa. Chỉ việc thấy cô đầm trẻ nào đó, nhào tới nói Mừng Năm Mới Happy New Year xong rồi cứ nhón chân lên hôn cô ấy một cái. Hôn môi. Ôi cuộc đời.

9 Hon moi 4Trở lại chuyện hôn môi, xin đặt một vài câu hỏi sau đây và thử đưa ra một số câu trả lời để tạm giải đáp vấn đề.

Hôn môi bắt đầu được ‘truyền nhiễm’ từ hồi nào?

Có lẽ vào khoảng đầu thế kỷ 20 – nhưng mạnh mẽ nhất là khoảng thế chiến thứ hai khi phim ảnh xinê trở thành phương tiện giải trí phổ thông nhất toàn cầu – song song với thế hệ sinh sung tức babyboom (thế hệ sinh ra đời trong khoảng từ 1945-1960). Thế hệ sinh sung có lẽ là thế hệ đầu tiên tiêm nhiễm lối hôn môi, trước hết được ‘nhập khẩu’ bằng lối trình diễn hôn nhau công khai giưã đám đông của những ông tây bà đầm ‘thực dân’ – ở bên Tàu cũng như ở Vietnam, ở Nhật, ở Ấn-Đô, ở Miến Điện, ở Phi Luật Tân, v.v.. Ở Vietnam trong thập kỷ 50 người ta còn dè bĩu lối hôn môi của người Pháp là hôn kiểu ‘nút lưỡi’ và thường được xem là thiếu.. . vệ sinh.

Trước khi hôn môi được tiếp nhận gần như toàn cầu các dân tộc trên thế giới hôn nhau ra sao ?

Nhắc lại trong phim ‘Mutiny on the Bounty’ (Cuộc nổI loạn trên tàu Bounty) do Marlon Brando đóng vai thuyền phó Christian Fletcher sau khi nổi loạn lật đổ thuyền trưởng Bligh (do Trevor Howard đóng) có lạc lên một hòn đảo. Ở đó Fletcher tán tỉnh được một người đẹp. Lúc Fletcher định đè người đẹp xuống bụi cây để hôn.. . môi, bị người đẹp chống cự kịch liệt bảo rằng hôn môi không. . đúng và bày cho Fletcher lối hôn của người hải đảo bằng cách cọ mũi với nhau. (Có lẽ cảm xúc với lối hôn cọ mũi này, sau khi đóng phim Marlon Brando lấy nữ tài tử chính của phim tên Tarita, sống nhau vài ba 9 Hon moi 1Bnăm, và có con với nhau).

Điểm qua phim ảnh trong suốt mấy mươi năm qua, người ta thấy có lẽ phim ‘Mutiny on the Bounty’ là phim duy nhất của Hollywood đã trình bày lối hôn chính xác của một dân tộc khác với Âu Mỹ. Rất tiếc đó chỉ là cuốn phim duy nhất cho thấy lối hôn chính xác của người hải đảo trước khi hôn môi được tràn ngập toàn cầu, ít ra cũng trong phim ảnh.

Ở Nhật ngày xưa hôn nhau là một việc kín đáo giữa hai người với nhau nên ít người ngoại quốc biết họ hôn nhau ra làm sao. Có người viết rằng người Nhật hôn theo kiểu người hôn dùng hai môi hôn vào môi dưới của người được hôn đang chụm lại bất động, và người được hôn không có hôn lại người kia. Người Eskimo, hôn nhau bằng cách trước cọ mũi, sau sà mũi qua bên má và hít hít như kiểu Vietnam xưa. Người In-Đô (Nam Dương) cũng giống người Việt khi xưa chỉ hôn trên má thôi. Người Mã Lai, PôLinêsiên, người Bali hôn bằng cách cọ mũi với nhau. Người Áo nổi tiếng về việc hôn tay nhau. Người Phần Lan ở Bắc Âu ngày trước xem chuyện hôn môi như chuyện cấm kỵ. Người Á Rập và Ấn Độ Giáo xem chuyện hôn môi là chuyện dâm dục xúc phạm thuần phong mỹ tục.

Tuy quyển cẩm nang về sex của Ấn ‘Kama Sutra’  có ghi  một vài tư thế hôn nhau bằng môi, chính phủ Ấn đã cấm phim Ấn Độ quay cảnh hôn nhau bằng môi từ năm 1929 và mãi cho đến năm 1983 cảnh hôn nhau bằng môi mới được phép cho ‘quay phim’ trở lại trong nền điện ảnh Ấn.  Đặc biệt ở hòn đảo Mangia ở Thái Bình Dương cư dân trên đảo đã không hề biết hôn nhau ra làm sao cho đến khi người da trắng đến đó vào thế kỷ 18 !

Hôn nhau tại Vietnam nhất là ở thôn quê ngày xưa chắc chắn chỉ hôn qua má, hoặc cổ, hoặc trên khuôn mặt nói chung, là cùng. Không hề có kiểu ‘nút lưỡi’ (kiểu của Pháp), hôn môi với nhau. Hôn ở má khác với hôn môi ở chỗ động tác hôn má thường bao gồm động tác hít bằng mũi. Bởi vậy ngôn ngữ Việt thường gọi chung  ‘hôn hít’ để chỉ động tác hôn nhau. Chính xác một chút ta có thể nghĩ từ ‘kiss’của Anh ngữ nếu phiên dịch sang tiếng Việt có thể được giới hạn ở chỗ ‘hôn’ (môi)  mà thôi. Muốn dịch ngược lại lối hôn của người Việt các thế hệ trước – tức ‘hôn hít’ –  chắc có lẽ ta phải dịch là ‘kiss & sniff’ (hôn hít!!), hay gọn gàng hơn sáng tác ra thành ‘kniff’ hay ‘kisniff’ (!!). Điểm nữa cần để ý là ‘phó từ’ thông thường của động từ ‘hôn’ là ‘chùn chụt’.  Chỉ có hôn trên má hay chỗ nào khác với môi mới hôn chùn chụt được. Hôn môi với nhau không thể nào 9 Hon moi 1Chôn chùn chụt được !.

Sách vở trong văn học sử Vietnam cũng xác định điều này. Người ta có thể kiểm chứng bằng cách đọc qua tất cả các tiểu thuyết thời tiền chiến cho đến khoảng 1954 tại Vietnam. Từ quyển truyện viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên (‘Thầy Lazaro Phiền’ của Nguyễn Trọng Quản, con rể Petrus Trương Vĩnh Ký) sang qua mấy quyển tiểu thuyết đầu mùa như ‘Tố Tâm’ (Hoàng Ngọc Phách), ‘Châu về hiệp phố’ (Phú Đức), những tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, cho đến thời Tự Lực Văn Đoàn tuyệt nhiên không có tới một hàng chữ mô tả hai người yêu nhau ôm nhau bên bờ hồ hay trong bụi chuối và hôn nhau đắm đuối bằng môi (!!).

Trong quyển ‘Đôi Bạn’ của Nhất Linh có đoạn tả cảnh Dũng trong lần hội ngộ với Loan ở nhà một người bạn tại miền quê. Loan đang ngồi sau nhà lo việc thổi cơm. Dũng đứng đâu đó gần đấy chợt nhìn thấy Loan vén tóc lên để lộ cổ trắng nõn nà – Dũng nhìn thấy thèm hôn vào gáy cổ của Loan và băn khoăn không biết có nên tiếp tục đi làm cách mạng hay là lo ‘settle down’ an phận thủ thừa lấy Loan làm vợ. Tuyệt nhiên, ta để ý, Nhất Linh không có đá động gì đến cái cảm xúc của cuối thế kỷ 20 – sang thế kỷ 21 – là Dũng nhìn thấy đôi môi mọng của Loan và muốn ôm Loan và hôn vào môi của Loan, hay tặng cho Loan một ‘nụ hôn’ đắm đuối.

Hôn môi có lẽ chỉ bắt đầu được phổ biến ở miền Nam vào khoảng đầu thập niên 1960 trở đi. Lúc đó, còn nhớ có một phim VN nào đó có quay cảnh lần đầu tài tử La Thoại Tân ôm Kim Cương hay Thẩm Thúy Hằng hôn môi với nhau. Dư luận quần chúng có vẻ khá chấn động về chiếc hôn cải cách này trên phim ảnh. Song song vào thời đó các loại tiểu thuyết lãng mạn trữ tình kiểu đợt sóng mới thi đua nhau tràn ngập thị trường sách báo, mô tả và ‘đề cao’ cảm xúc ‘tuyệt vời’ của hôn môi. Những nhà văn thuộc loại đợt sóng mới có ‘trách nhiệm’ với việc ‘lăng xê’ hôn môi vào xã hộI Việt Nam phải kể đến : Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng, Túy Hồng, Văn Quang, Tuấn Huy, v.v. Và cũng từ dạo đó hôn môi đã nhanh chóng đi sâu vào lòng ‘dân tộc’ và đồng hóa –  9 Hon moi 1Dmột cuộc đồng hoá không mấy ai để ý đến  –  với việc ‘nhập khẩu’ thành công của ảnh hưởng Tây Phương.

Nguồn gốc của hôn môi dẫn xuất từ đâu ?

Theo giáo sư Vaugh Bryant ở đại học Texas A & M, có rất nhiều lý thuyết về nguồn gốc cuả hôn môi. Một vài người cho rằng hôn môi có thể được ‘phát minh’ cách đây hằng triệu năm, khi ngườI mẹ tiền sử nhai đồ ăn trước rồi mớm thức ăn cho con sơ sinh. Thế nhưng nhiều bà mẹ ở Papua New Guinea và ở Nam Phi Châu vẫn còn mớm thức ăn cho con bằng miệng khi người da trắng đến đó đánh chiếm thuộc địa cách đây vài thế kỷ vẫn chưa biết hôn nhau bằng môi là gì.

Theo nhiều học giả của ngành Nhân Chủng Học nếu tiền nhân đã hôn môi với nhau họ có thể rất kín đáo về việc này. Một trong những quyển sách có ghi chú về cách thức hôn nhau bằng cọ mũi đã xuất hiện tại Ấn Độ cách đây khoảng 3500 năm! Sau đó quyển Kama Sutra cũng của Ấn Độ, một quyển được xem như Kim chỉ Nam cổ điển nhất của nhân loại về SEX xuất hiện vào thế kỷ thứ 6, đã mô tả một vài lối hôn môi thô sơ vào thời đó. Hôn môi của người Âu Tây theo Vaugh Bryant được tuyên nhiễm từ Ấn Độ qua Hy Lạp bằng chuyến viễn chinh về phía Đông của Alexander the Great (A-Lịch-Sơn đại đế).

Chuyện vụn vặt về hôn ra sao ?

Vô số kể. Kiss lâu nhất trong lịch sử kéo dài đến 17 ngày 10 giờ rưởi tại Chicago vào năm 1984. Ngược lại quyển Guinness Book of Records ấn bản năm 2000 lại ghi cái hôn đoạt giải lâu nhất chỉ có 29 giờ trong thế đứng diễn ra tại Michigan vào năm 1998.9 Hon moi 2BHôn nhiều ‘cú’ nhất là 11030 cái trong vòng 8 giờ đồng hồ do một anh chàng nọ biểu diễn tại Minnesota vào năm 1990.

Một cuộc nghiên cứu tại Baltimore City College cho biết trong một cái hôn có đến 278 các loại tổ hợp vi trùng được truyền qua hai đôi môi. Rất may là 95% của các tổ hợp vi trùng này mang tính chất hoàn toàn vô hại. Ngoài ra mặc dù vi khuẩn bệnh SIDA (Aids) có thể được tìm thấy trong nước miếng (nước bọt) nhưng chưa có ‘ca’ nào được ghi nhận rằng bệnh Sida có thể bị truyền lây qua cái hôn cả.

Theo y khoa, lưỡi và môi chứa rất nhiều điểm cuối của các dây thần kinh nhỏ. Hôn nhau bằng môi và ‘nút lưỡi’ do đó sẽ làm tiết ra nhiều chất ‘hótmôn’ (hormones) và ‘enđôphin’ (endorphins), làm nâng cao sảng khoái. Hèn gì . . .

Thay lời kết :

Viết đến đây thấy tạm đủ nên người viết tắt máy computer và ngồi xem Tivi truyền hình Olympics Thế Vận HộI Sydney 2000. Lạ quá khi xem mấy giải có người Trung quốc tham dự như gymnastics, vũ cầu badminton, hay bóng bàn ping pong, người ta thấy  các nhà lực sĩ Trung quốc sau khi thắng đối phương, rời sân đấu đều làm những cái high fives với các bạn đồng đội hay với ông bầu dìu dắt. Nhắc lại high five xuất xứ từ những người Mỹ đen và bao gồm việc xoè bàn tay năm ngón đập vào bàn tay của bạn đồng đội sau khi làm bàn một điểm trong một trận đãu thể thao. Để tự tán thưởng với nhau.

Ngày nay bất kỳ người ta đối đáp được một câu nào có lý và hay ho, 9 Hon moi 2Ahay làm bàn được một cái gì đó người ta thường high-five với bạn cùng phe với nhau. High-five chỉ được Hollywood cho lăng-xê vào phim ảnh cỡ từ năm 1980 trở lại đây. Và ngày nay hầu hết các phim nhất là những phim truyền hình về các trận đấu thể thao, như bóng đá, bóng rổ basketball thường có high-fives.

Thế có nghĩa ngoài chiếc hôn môi, văn minh của Mỹ còn tràn ngập hoàn cầu qua cái high-five – trong vòng trên dưới 20 năm. Ngay cả các anh Trung Quốc, nước có hơn 2000 năm văn hiến ngày trước thường chắp tay xá xá hay bái tổ trước và sau khi lên võ đài mà hôm nay cũng đành bắt chước làm cái high five cho nó giống Mỹ, cho được vẻ văn minh tiến bộ. Và có lẽ chủ tịch Giang Trạch Dân của Trung Quốc chắc đã từng nghĩ đến sự tiêm nhiễm của hôn môi và high five khi ông tuyên bố gần đây rằng Trung Quốc có thể đạt được thể thức dân chủ Tây Phương vào năm 2020 trở đi. (theo Nguyên Nguyên) 

Lan Hương chuyển tiếp

Logo Phong su

Tranh Ben ThanhẨM THỰC SÀI GÒN :

ĐA DẠNG VÀ PHONG PHÚ

Quả thật không sai khi nghe khách sành điệu ẩm thực thốt lên: “Người ta đã bê món ngon khắp nơi vào đất Sài Gòn!”. Thật vậy, nơi đây quy tụ những món ăn mọi miền đất nước. Thực đơn của Sài Gòn sáng, trưa, chiều, tối có đầy đủ các món ăn Bắc, Trung, Nam từ bình dân đến sang trọng.

Là trung tâm của vùng đất phương Nam trù phú, sản vật dồi dào, nên ở Sài Gòn món ăn rất đa dạng. Lại thêm là nơi hội tụ của cư dân từ mọi miền đất nước và cửa ngõ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nên thành phố đã tiếp nhận thêm các dòng ẩm thực của cả nước và thế giới, chọn lọc tinh hoa thành một nền ẩm thực phong phú và hấp dẫn.

8 Am thuc 1Đặc sản Miền Nam : Miền Nam, với nhiệt độ ôn đới nên các loại thức ăn đa dạng và phong phú quanh năm. Các món ngon luôn “hiện diện” khắp nơi ở Sài Gòn như: canh chua, cá kho tộ, cá lóc nướng trui, lẩu mắm Châu Đốc, hủ tiếu Mỹ Tho, tôm lụi Bạc Liêu, nấm tràm Phú Quốc…. có những món mà khó có thể tìm thấy nơi khác.

Món ăn Trung Bắc : Vào ban đêm, những món ăn xứ Huế, xứ Quảng náo nhiệt hơn ban ngày. Với các món bún bò giò heo, bánh ướt cuốn thịt, bánh khoái, bánh nậm, bột8 Am thuc 2 lọc, mỳ Quảng… cứ nối tiếp nhau bán từ 19h đến khuya, lúc nào khách cũng đông ngồi kín chỗ. Còn các món ăn xứ Bắc cũng có nhiều ở Sài Gòn. Món ăn của Hà Nội là chả cá, bánh tôm Hồ Tây, miến lươn… cũng khá hấp dẫn.

Nhìn những vị khách ngoại quốc xì xụp húp miến lươn hay cắn trái ớt với cà pháo giòn tan chấm mắm tôm dưới ánh đèn đêm ta cảm thấy một niềm đồng cảm. Vào Chợ Lớn, món ăn được khách hàng tâm đắc là “heo sữa quay” kiểu Hàng Buồm Hà Nội, da nổi hoa vừa giòn vừa béo ngậy. Sau món quay là những món nướng tức món “quanh lửa hồng”. Gà, vịt, cừu, bò, cá lóc đều có thể nướng sau khi ngâm tẩm ướp đủ thứ gia8 Am thuc 3 vị cần thiết. Gà thì nướng vỉ, nướng ngói, tôm càng nướng nguyên con; thịt ba chỉ thái nướng xiên thành chả ; cá lóc nướng lá chuối. Người ăn có thể vừa gắp vừa nướng, vừa ngửi mùi thơm. Ở bất cứ đâu trên đất Sài Gòn, thực khách cũng có thể tìm thấy cho mình các món ngon nổi tiếng của xứ Bắc như : Phở Hà Nội, Chả cá Lã Vọng, Bánh cuốn Thanh Trì, Cốm Vòng, bún thanh, bún chả, bánh tôm Hồ Tây, dưa hành…

Các món ăn “Tây” : Quả thật, ở Sài Gòn ngoài tất cả các món ngon Việt của ba miền Trung Nam Bắc, chúng ta còn có thể thưởng thức các món ngon Hoa, Ấn, Nhật, Hàn, Thái, Ý, Tây Ban Nha…, và nhất là các món Pháp nổi tiếng thế giới, bên cạnh thịt nướng Tiệp Khắc, xúc xích Đức, hamburger Mỹ, caviar Nga hay Iran… là đủ các loại rượu và bia ngon nhất hoàn cầu. Tập trung các khu như phía tây Phạm Ngũ Lão, khu Phạm Văn Hai; Trường Sơn với món ăn Hàn, khu Thái Van Lung với các món ăn Thái.

Kho tàng ẩm thực Sài Gòn :  Ngày nay, người Sài Gòn vẫn không ngừng sưu tầm để bổ sung vào thực đơn của mình những món ăn đã một thời bị quên lãng cũng như những món mới từ khắp bốn phương trời. Nói như Lê Văn Hảo : “Ẩm thực Sài gòn 8 Am thuc 4có tính thế giới, tính tứ xứ (cosmopolite) của nó. Nhưng tính chất thứ hai của nó lại là sự đón nhận trân trọng kho tàng văn hóa ẩm thực truyền thống của dân tộc. Bằng chứng là chẳng cần ra Trung hay ra Bắc người Sài Gòn nếu muốn thì có thể vui vẻ thưởng thức phở Bắc, chả cá Hà Nội, bún bò Huế, nem tré Huế, mì Quảng, cao lầu Hội An, v.v., bên cạnh những món ngon Nam Bộ bất hủ như canh chua, cá kho tộ, cá lóc nướng trui, lẩu mắm Châu Đốc, hủ tiếu Mỹ Tho, tôm lụi Bạc Liêu, nấm tràm Phú Quốc và nhiều nữa”.

Suy cho cùng ẩm thực Sài Gìn là sự pha trộn giữa các vùng miền, giữa món Âu và món Á. Tất cả những đặc trưng của xứ khác được hòa lại tạo nên ẩm thực Sài Gòn. Có lúc bạn bè của tôi ở nơi xa đến, bọn chúng muốn mình tìm một quán ăn nào đó “rất Sài Gòn” để cho xứng với chuyến đi đến Sài Gòn này, nhưng rồi cuối cùng lại vào ăn phải những món mà… xứ nó cũng có. Tất cả các quán ăn không quá đặc trưng, thực phẩm thì na ná nhau. Nhưng quả thật sự không giống ai đó lắm lúc làm người ta cứ ngẩn ra thích thú vì ngộ. Cho nên thật không có gì quá đáng khi nói rằng ẩm thực Sài Gòn thuộc loại hàng đầu trong cả nước. (theo Tapchomonngon)

Quế Phượng chuyển tiếp

CA KHÚC MỚI CỦA ĐẶNG THẾ PHONG

NHỮNG KẺ ĐỐT ĐỀN

Ngôi đền Artemis nổi tiếng đã bị

phá hủy như thế nào?

Một đêm hè oi bức năm 356 trước CN, có một người rón rén đi trên các đường phố của Ephesus (thành phố ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Anh ta mang một bó đuốc nhỏ cố tránh thu hút sự chú ý của mọi người. Khi gặp người qua đường tình cờ lúc ban đêm, anh ta sợ hãi lấy chiếc áo mưa rộng thùng thình của mình để che giấu.

Lén lút nhìn quanh một hồi, cuối cùng anh ta đã lẻn đến ngôi đền lớn màu trắng vươn cao ở một vùng ngoại ô thành phố. Đội canh gác ngủ say nên anh ta đã đột nhập điện thánh chẳng gặp trở ngại gì. Và chính ở đây anh ta đã gây nên chuyện làm chấn động thế giới văn minh : dùng đuốc đốt một số đồ thờ cúng và tặng vật thiên liêng.

Bức màn che trước tượng thần bốc lửa cháy, ngọn lửa lan đến các cửa ra vào bằng gỗ tẩm dầu, rồi táp lên mái nhà. Trong chốc lát điện thánh biến thành những đống đổ nát, khói lửa mù mịt, dưới bầu trời đen tối chỉ còn thấy nhô lên hình bóng những chiếc cột đá cẩm thạch điêu tàn.

Tại phiên tòa xét xử kẻ phạm tội ác man rợ, hắn thừa nhận rằng hắn đã đốt đền để được lưu danh muôn thuở. Để loại trừ kẻ điên cuồng háo danh, những người dân thành phố Ephesus đã nhất quyết quên và không bao giờ nhắc đến tên hắn ta, những có lẽ chính vì thế mà tên hắn lại lưu truyền đến chúng ta ngày nay : Herostratus.

Còn nói về đền thờ đã bị hắn đốt biến thành tro tàn và đổ nát thì, theo lời nhà lịch sử học cổ đại Ampêli, đó la một ngôi đền “uy nghi và lớn nhất thế giới đã tìm được”, và theo sự xác nhận của Plini, một đồng nghiệp khác của Ampêli, thì đây là “đài  kỷ niệm thực là kỳ diệu của nền văn hóa Hy Lạp, khiến mọi người kinh ngạc về sự tráng lệ của nó”. Đấy là ngôi đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus, xây bằng cẩm thạch – kỳ quan thứ tư trong số bảy kỳ quan thế giới.

Tính đến thời gian đó thì ngôi đền đã tồn tại trên một nghìn năm. Cuối thiên niên kỷ thứ hai trước CN, một bộ phận người lônit – trong khi đi tìm không gian sinh hoạt mới –  đã di dân từ lục địa Hy Lạp sang Tiểu Á và định cư trên vùng duyên hải đối diện với hòn đảo Xamôxơ, thành phố Ephesus.

Thành phố cảng này nhanh chóng biến thành trung tâm buôn bán nhộn nhỊp với những ngôi nhà lớn, đẹp và những căn lều nhỏ hẹp, những đường phố sạch sẽ và quảng trường rộng lớn, thường là những nơi họp chợ, đông đúc người. Việc buôn bán của những người Hy Lạp ở đây rất sầm uất, y như ở quê hương cũ của họ vậy. Ephesus đã nhanh chóng trở thành một trong những thành phố lớn nhất của thế giới cổ đại.

LỜi BÀN CỦA CAO BỒI GIÀ :

Đọc mẫu chuyện kẻ đốt đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus, hồi năm 356 TrCN, và kẻ đốt đền là Herostratus. đã lên tiếng nhận hắn đốt đền để được lưu danh muôn thuở.

Nay suy ngẫm về vụ xả súng ờ Las Vegas mới đây : Cảnh sát trưởng Las Vegas Joseph Lombardo cho biết, tên Paddock là nghi phạm chính vụ xả súng khiến 58 người chết và gần 600 người bị thương nặng nhẹ, tại lễ hội âm nhạc tối 1/10/2017, theo cuộc điều tra Paddock lên kế hoạch trốn thoát sau khi thực hiện vụ thảm sát nhưng bất thành, nên đành tự xử sau đó.

Phải chăng tên Paddock cũng muốn như Herostratus thời cổ Hy Lạp ? Tức muốn ghi danh thiên cổ ?! Vì đến giờ các nhà điều tra chưa tìm thấy “đồng đảng” hay ý đồ gây ra cuộc thảm sát của tên Paddock !

Và mời các bạn đọc tiếp về một kẻ đốt thành Roma :

KẺ ĐỐT THÀNH ROMA

Năm 64 sau Công nguyên đã xảy ra một trận hỏa hoạn vô cùng dữ dội kéo dài suốt hơn một tuần liền khiến cho PHẦN LỚN THÀNH Roma bị hủy hoại. Ngay sau đó đã dấy lên tin đồn cho rằng hoàng đế Nero chính là kẻ đã châm ngòi cho ngọn lửa.

Trận hỏa hoạn dữ dội chưa từng thấy

Việc thành phố Roma bị lửa thiêu rụi quả là một bi kịch quốc gia. Thảm họa này không chỉ nổi tiếng vì quy mô lớn chưa từng có mà còn bởi vì kẻ gây ra nó được cho là … hoàng đế Nero ?!?

Vào đêm 18 rạng sáng 19 tháng 7 năm 64, các kho hàng nằm gần Đại Đấu Trường bỗng vô cớ bốc cháy. Gặp gió mạnh, ngọn lửa nhanh chóng bốc cao, lan về hướng đồi Palatin rồi tỏa xuống các con phố dọc đồi Quirinal, đồi Viminal và đồi Esquiline. Bị đánh thức trong cơn say ngủ, người dân thành phố nháo nhào chạy ra đường trong hoảng loạn.

Mỗi người nếu không tự thoát thân thì cũng lo cứu người thân hoặc cứu lấy của cải. Lính gác đêm, tức những người có nhiệm vụ phòng cháy và dập cháy, không cách nào ngăn chặn được ngọn lửa do bị màn đêm dày đặc cùng đám đông hỗn loạn gây trở ngại.

Trận hỏa hoạn không những không lắng xuống mà còn tiếp tục hoành hành trong suốt 7 ngày đêm. Khi nhà cầm quyền tưởng đã khắc chế được ngọn lửa thì nó lại đột ngột bùng lên ở một con phố khác. Mãi đến ngày thứ 9, ngọn lửa mới tắt hẳn. Roma lúc này chỉ còn là một đống hoang tàn đổ nát.

Thành Roma bị thiêu rụi

Trong số 14 khu phố ở Roma, chỉ có 4 khu là không hề hấn gì. 10 khu còn lại thì có khu bị thiêu hủy hoàn toàn, khu bị thiêu hủy một phần. Không thể tổng kết số nạn nhân của trận hỏa hoạn, nhưng có lẽ phải đến hơn 200.000 người Roma phải ra đường ở do nhà cửa bị thiêu hủy. Nơi bị cháy nặng nhất là những khu phố bình dân có nhiều nhà cho thuê.

Các công trình cổ kính mà người Roma vô cùng trân trọng chỉ còn là những đống gạch vụn. Các tác phẩm nghệ thuật đưa từ Hy Lạp và Phương Đông về đễ trang trí các nơi công cộng đều hư hại nặng. Sách cổ chép tay trong các thư viện công cộng cũng không thể cứu vãn.

Tin đồn động trời

Ngay từ lúc thảm họa mới xảy ra, mọi người đã tìm hiểu xem ai là người gây ra hỏa hoạn. Ngọn lửa lan nhanh đến mức nhiều người cho rằng trận hỏa hoạn không phải là ngẫu nhiên. Một số người kể rằng họ nhìn thấy nhiều người ném đuốc vào các căn nhà. Chẳng bao lâu, toàn bộ dân chúng thành Roma đều cho rằng người gây ra thảm họa kinh hoàng này không ai khác hơn là Nero.

Người thì nói rằng hoàng đế vì muốn xây dựng lại kinh đô nên đã tìm cách san bằng các khu phố cũ. Kẻ lại cho rằng Nero vì muốn tìm cảm hứng cho thiên anh hùng ca “Chinh phục thành Troy” mà ngài đang sáng tác nên đã ra lệnh phóng hỏa chính thành phố của mình.

Nero thoát tội

Khi nghe khắp nơi đồn mình là kẻ phóng hỏa, Nero hoảng sợ. Quần chúng đang cần 1 con tốt thí, vì thế nhà vua phải nhanh chóng chỉ ra kẻ phạm tội để thoát khỏi trách nhiệm này. Quả thật, dân chúng đã nguôi ngoai khi tội ác được đổ lên đầu một Giáo phái nhỏ.

Các tín đồ của giáo phái này bị vu cáo đã thực hiện những nghi lễ bí ẩn làm phật lòng các vị thần hộ mệnh của Roma. Khoảng 200 tín đồ của giáo phái đó bị bắt và hành quyết. Họ bị biến thành những ngọn đuốc sống để soi sáng các lễ hội mà Nero tổ chức cho dân chúng thành Roma.

Cho đến nay vẫn chưa ai chứng minh được một cách chắc chắn rằng hoàng đế Nero đã gây ra chuyện này. Thay vì tìm kẻ phóng hỏa, ta hãy trở về với lời giải thích hợp lý và đơn giản nhất : ngọn lửa đã bốc lên từ những khoang chứa dầu và kho lúa ở bến tàu rồi nhanh chóng bị gió thổi lan ra. Do thảm họa xảy ra ngay giữa mùa hè nên lính cứu hoả gần như bất lực vì nguồn nước dự trữ của họ rất hạn chế.

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

KẺ CẮP GẶP… CHUYÊN VIÊN

Hai thầy trò vừa nhận phòng được mấy giờ tại khách sạn 9 sao, Sếp bất thình lình kêu mất cái phong bì 10 ngàn đô, tôi chết đứng. Mới có 1 cô hầu phòng vào cung cấp nước uống, khăn mặt, kem đánh răng…

Vậy thì ai lấy trộm 10 ngàn đô của Sếp đây ? Nhưng bị mất trộm mà mặt Sếp vẫn tỉnh như quả bơ chín. Tại sao nhỉ ?!

Phải tìm cho ra thằng ăn trộm mới được, đích thân tôi, chuyên viên giỏi nhất cơ quan sẽ giải quyết vụ này, tạm thời chưa báo công an. Mà không hiểu sao đi công tác mấy ngày mà Sếp mang đi nhiều tiền quá thế ? Chả nhẽ công ty nào vừa biếu phong bì này hay sao, nghi ngờ tí cho có vẻ thám tử.

Tôi quyết định triển khai truy tìm nguồn gốc cái phong bì 10 ngàn đô này trong thời gian nhanh nhất. Sếp đồng ý để tôi áp dụng mọi biện pháp nghiệp vụ, kể cả khám xét khắp phòng tìm dấu vết tên trộm.

Tôi lật tung 2 cái giường, tủ đồ, tủ lạnh, thùng rác trong phòng vệ sinh, thậm chí khám cả túi quần Sếp nhưng vô vọng. Tên trộm này quá giỏi, chắc chắn được đào tạo bài bản ở một trường gián điệp bên Tây.

Thời gian hứa với Sếp sắp kết thúc, nếu không tìm ra cái phong bì này thì toi là cái chắc rùi, bao nhiêu công lao phấn đấu coi như vứt đi, kể cả chân ứng viên chức phó văn phòng. Đầu óc tôi gần như phát điên, bây giờ mà tóm được thằng trộm này thì bố tùng xẻo mày giải hạn. Kiếp trước chắc chắn tôi nợ thằng trộm này khá nhiều tiền.

Bóp nát quả chuối chín trứng cuốc, tôi chạy ra sảnh gọi điện cho vợ: “Cô gửi gấp cho tôi 10 ngàn đô la. Nếu không có thì tôi chính thức bị kỷ luật ! Nếu không có số tiền này thì đời tôi chính thức xuống dốc !” Chạy ra ngân hàng rút tiền, tôi cho vào cái phong bì rồi chạy về phòng báo cáo Sếp :

 – Dạ thưa thủ trưởng kính mến, em đã túm được tên trộm rùi ạ. Thằng này vô cùng giỏi, hình như nó là thằng trộm chuyên nghiệp khét tiếng. Em nhìn nó ngồi uống bia cỏ ở bờ sông nên xông vào tóm liền. Cái phong bì của Sếp vẫn còn nguyên trong túi quần nó, may là bà bán bia hơi chỉ lấy tiền Việt. Xin mời Sếp đến lại xem còn đủ 10 ngàn đô không ạ !

Sếp bình tĩnh đếm lại tiền cẩn thận, gật đầu khen tôi sái cổ :

– Hay lắm, cậu đúng là một chuyên viên vô cùng đa tài, viết báo cáo cũng giỏi mà bắt trộm cũng giỏi. Chân phó văn phòng chắc chắn là của cậu rùi. Chỉ có điều cậu giúp tớ thêm một vụ nữa: Bà xã tớ cũng mới bị mất trộm 5 cây vàng… (Lê Tự theo Dân Việt)

Huỳnh Công Khanh chuyển tiếp

TỘI NGHIỆP ANH QUANG !!!

Anh Nguyễn Xuân Quang đương kim Phó Cục trưởng Cục kiểm soát ô nhiễm của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, vừa vào miền Nam kiểm tra tình trạng ô nhiễm tại các doanh nghiệp hồi cuối tháng Chín này. Vậy mà mới mấy ngày sau, anh Quang đã bị đạo chích đột nhập phòng khách sạn cuỗm mất gần 400 triệu đồng.

Đời thuở nào mà chấp nhận được bọn đạo chích bất lương, nhẫn tâm và bất chấp đạo lý đến vậy ?!

oOo

Anh Quang bị mất trộm ở một khách sạn tại thành phố Tân An (tỉnh Long An), lúc điều tra viên đến ghi nhận hiện trường, còn phát hiện một giấy chuyển tiền vào ngân hàng trước lúc bị mất trộm một ngày. Trong phòng còn có tiền đô, tiền Việt và một cơ số phong bì đã bị bóc vỏ.

Tui biết là dư luận nghe đến đây dư luận đã vội hồ nghi anh Quang ảnh nhận tiền của doanh nghiệp hay ảnh trục lợi cho cá nhân từ chuyến công tác kiểm tra này rồi. Ai nói gì thì nói, ai đồn gì thì đồn, ai nghi gì thì nghi nhưng cá nhân tui tin chắc anh Quang ảnh không có vậy đâu.

oOo

Cứ nhìn vào thực tế đi, ngành Môi trường của nước mình rất có trách nhiệm trong việc giám sát lẫn xử lý doanh nghiệp xã thải bậy, trong việc bảo vệ môi trường sống của người dân. Mà giám sát chặt chẽ vậy, xử lý nghiêm minh vậy thì làm gì kiếm chác được.

Lúc báo đăng công ty này xả thải ra sông, công ty kia xả thải ra biển, công ty kia chôn bùn thải xuống khu vực gần khu bảo tồn… lãnh đạo ngành Tài nguyên đều lên tiếng ủng hộ quyết liệt thấy không ? À, tui nhầm. Lãnh đạo ngành Tài nguyên không phải ủng hộ mà họ lý giải có tình có lý vì sao doanh nghiệp làm vậy, vì sao làm vậy là đúng luật, vì sao làm vậy là an toàn, vì sao làm vậy là không có ảnh hưởng gì hết.

Họ đàng hoàng như vậy thì lấy đâu là chuyện tư túi tư lợi ở đây, doanh nghiệp nào mua chuộc được họ. Đừng có nghĩ là doanh nghiệp dùng tiền mua ai cũng được, nghĩ vậy là không có đúng, là không có chuẩn, là rất dễ lâm vào tình cảnh nhìn cuộc đời một màu đen thui lui như nước sông bị nhiễm chất bẩn từ nước thải mà doanh nghiệp bất lương xả ra.

oOo

Ví như anh Quang ảnh đi công tác hai tuần, mà đi công tác nghĩa là phải xa vợ xa con, nghĩa là phải xa bữa ăn ấm cúng, chiếc giường ngủ thân thuộc, hơi thở của hiền thê, giọng nói cười của nhi tử… Ảnh đi công tác mà lại là kiểm tra doanh nghiệp xem doanh nghiệp có hoạt động trên cơ sở đảm bảo sự ổn định về môi trường hay không ?

Có lén lút làm chuyện đặt ống ngầm xả thải chưa qua xử lý ra sông hồ hay không, có bớt xén trong khâu xử lý nước thải để giảm đầu tư nhằm tăng lợi nhuận hay không, có phương pháp để chắc rằng khói bụi thải ra khi sản xuất đạt mức cho phép hay không…

Anh Quang ảnh hy sinh cái cá nhân, ảnh hy sinh cái riêng tư, ảnh hy sinh nhiều thứ lắm để bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, để bảo vệ môi trường cho quốc gia. Thiệt, cái tình đó lớn lắm, cái công đó vĩ đại lắm.

Vậy mà, bọn trộm lại ác nhơn đến mức nhắm vào cá nhân như vậy để hành nghề thì thiệt là quá đáng, thì thiệt là không còn coi luân thường đạo lý nhân quả ở đời ra cái gì nữa hết.

Còn dư luận nữa, dư luận nghi ngờ cái gì mà nghi ngờ. Anh Quang ảnh đi công tác xa nhà, ảnh sợ của nả để lại có gì bất trắc không may, nên ảnh mang toàn bộ gia sản chắt chiu dành dụm được có thể do từ chạy xe ôm thâu đêm lúc trẻ, từ nuôi heo lúc tốt nghiệp đại học, từ buôn chổi đót khi vừa mới có việc làm…

oOo

Tiền của ảnh là minh bạch, việc làm của anh là minh bạch, chỉ có thái độ của dư luận mới mờ mịt thôi.

Anh Quang hãy vững tin, tui luôn thấu hiểu và thông cảm cho anh. Thói đời ngày càng trớ trêu thiệt !!! Bọn đạo chích ngày càng tinh ranh, ngày càng biết lựa người mà. (Quan Quan theo Tuổi Trẻ Cười)

Khách Giang Hồ chuyển tiếp

VỪA TÌM THẤY MỘT NHẠC PHẨM

CỦA ĐẶNG THẾ PHONG

Cho đến nay, giới nghiên cứu âm nhạc chỉ biết Đặng Thế Phong qua đời ở tuổi 22 và có 3 bài hát : Con thuyền không bến, Đêm thu và Giọt mưa thu. Nhưng ông còn có nhạc phẩm Gắng bước lên chùa.

Trong đó, Con thuyền không bến lúc đầu có tên Vạn cổ sầu. Thông qua Lê Thương, Thế Lữ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Văn Thương, v.v…, tôi được biết: Đặng Thế Phong còn là tác giả một số nhạc phẩm khác. Đồng thời, ông còn có mối quan hệ về mặt sáng tác với nhà văn chuyên viết truyện trinh thám Phạm Cao Củng.

Bộ sưu tập các bài hát Việt Nam từ khoảng 1937 tới 1975 của tôi không có nhạc phẩm nào mà Đặng Thế Phong và Phạm Cao Củng là đồng tác giả.

Cho tới một hôm…

Cuối năm 1993, tôi lên Đà Lạt dự kỷ niệm Đà Lạt một trăm tuổi. Một buổi chiều, đang đắm mình trong cảnh vật trầm lắng của một ngôi chùa lớn, giữa tiết trời mưa rét, tôi nghe tiếng hát của một người khoảng trên năm mươi tuổi đứng gần cổng chùa. Người đó hát nhè nhẹ, cách hát tỏ rõ ông hiểu âm nhạc.

Tôi làm quen với ông. Tôi bảo ông có giọng hát khá hay. Ông cười và hát lại cả bài. Tôi ngạc nhiên vì bài hát nói về chuyện lên chùa qua những âm điệu gần gũi với đặc trưng nơi cửa Phật.

Tôi nói : Lần đầu tiên, tôi được biết bài này. Nó làm cho tôi nhớ tới ca khúc Kinh khổ (Lời và nhạc: Trầm Tử Thiêng) mặc dầu hai ca khúc có nhiều nét khác nhau.

Ông khen tôi biết thẩm âm. Rồi ông cho biết: Bài hát vừa rồi có tên Gắng bước lên chùa – Nhạc: Đặng Thế Phong. Lời: Phạm Cao Củng.

Tôi hỏi : Có phải Đặng Thế Phong tác giả Con thuyền không bến và Phạm Cao Củng tác giả nhiều truyện trinh thám hay không ?

Ông nói : Đúng, đúng ! Rồi ông hẹn tôi : Hôm sau, khoảng 15 giờ, cũng tại chùa này, đến gặp ông để tiếp tục câu chuyện liên quan đến bài hát nói trên. Đúng hẹn, tôi đến. Trời vẫn rét nhưng khô ráo.

Người đàn ông mang theo một cây đàn ghita. Ông hát và tự đệm đàn bài hôm trước. Giọng trầm ấm và thiết tha. Sau đó, ông cho tôi xem một bức ảnh chụp ca khúc Gắng bước lên chùa do chính tay Đặng Thế Phong viết nắn nót cả nhạc lẫn lời.

Dưới đầu đề Gắng bước lên chùa, Đặng Thế Phong ghi rõ: Nhạc: Đặng Thế Phong. Lời: Phạm Cao Củng. Cuối ca khúc, có dòng chữ: Tặng Hoàng Quý – Hà Nội, 1 Mai 1940 (tức mồng 1 tháng 5 – 1940).  Ông cho biết thêm : Bức ảnh này do cụ Phúc Lai, một chủ hiệu ảnh rất nổi tiếng ở Hà Nội và Hải Phòng lúc bấy giờ, chụp tại Hà Nội cho bố ông khoảng cuối năm 1940.

Ảnh chụp từ bản có dòng chữ đề tặng nói trên cho nhạc sĩ Hoàng Quý (tác giả Cô láng giềng, Cảm tử quân) – anh ruột của Hoàng Phú tức GS nhạc sĩ Tô Vũ. Nhạc sĩ Hoàng Quý quen bố ông và đã cho bố ông mượn bài hát có lời đề tặng ấy để bố ông nhờ cụ Phúc Lai chụp làm kỉ niệm. Bố ông qua đời tại Đà Lạt năm 1991. Nhưng khoảng năm 1970, tại Sài Gòn, bố ông đã góp phần vào việc xuất bản tuyển tập nhạc Hoàng Quý.

Tôi hỏi tên ông và tên cụ nhưng ông trả lời: Vì lí do riêng, không thể cho biết. Tuy nhiên, ông nhiệt tình nói rõ: Ca khúc này, theo bố ông, đã in trên nhật báo Tin Mới khoảng đầu năm 1940.

Hồi giải phóng Sài Gòn, cùng cả gia đình dời Sài Gòn lên Đà Lạt, bố ông bỏ lại hết, kể cả trọn bộ tạp chí Nam Phong và trọn bộ báo Phụ Nữ Tân Văn.

Mùa đông. Chưa đến xế chiều trời đã trở nên mờ xám. Gió lạnh. Tôi phải đi xe ôm về nhà trọ ở xa ngôi chùa chúng tôi đang trò chuyện khoảng 5 cây số. Vì thế, không thể đi phô-tô-cóp-pi bức ảnh chụp bài hát nói trên được. Thật đáng tiếc !

Từ đó đến nay, tôi không được gặp lại người bạn quý ấy nữa.

Gần hai tuần sau, trở về Sài Gòn, tôi gặp ngay người chủ một tiệm sách báo cũ mà từ mười mấy năm nay tôi là khách quen, hỏi anh có báo Tin Mới hay không. Anh bảo: Khó lắm ! Để em tìm !  Tôi ghi số điện thoại bàn cho anh chủ tiệm.

Mãi đến… mười năm sau

Một chiều cuối thu 2003, anh chủ tiệm sách cũ điện thoại cho tôi, bảo đến tiệm anh ngay. Tôi vừa tới, anh lập tức đưa ra hai tập Tin Mới đóng gáy da từ tháng Giêng đến hết tháng Chạp 1940, trong đó khoảng bốn chục số bị mất.

Rất mừng : Có một số in bài hát Gắng bước lên chùa. Đó là số Jeudi 4 Avril 1940 (tức thứ Năm, mồng 4 tháng 4 năm 1940).

Tôi nghẹn ngào tưởng như Đặng Thế Phong đang đứng trước mặt, và, những trang truyện trinh thám Phạm Cao Củng hồi nhỏ tôi đọc ở Thủ đô Hà Nội bỗng hiện ra trước mắt, chập chờn !!!  Tôi đề nghị anh chủ tiệm đi cùng tôi đến một cửa hàng ở đường Hai Bà Trưng để photocopy và xin anh nhận một số tiền nào đó tương đối lớn của tôi.

Anh bảo : Mười năm lặn lội đi tìm một bản nhạc của một nhạc sĩ lỗi lạc. Mười mấy năm anh mua sách báo cũ của em và nhiều tiệm khác… Em chẳng những không lấy một đồng của anh mà còn biếu anh tiền photocopy bài hát đó.

22 giờ, trời se lạnh. Tôi ôm một tập Tin Mới ngồi sau xe máy do anh chủ tiệm sách báo cũ điều khiển phóng đến một cửa hàng photocopy trên đường Hai Bà Trưng (Tân Định, quận 1).  Xong việc, anh đèo tôi về tiệm của anh để tôi lấy xe đạp. Tôi nâng niu hồi lâu ca khúc Gắng bước lên chùa trước khi bắt tay cảm ơn anh bạn, ra về.

Gần 23 giờ. Đường vắng. Trong gió se lạnh phả vào mặt, tôi đạp xe từ từ trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Khi qua cửa chùa Vĩnh Nghiêm, tôi chợt nghĩ : Thế là… mình đã Gắng bước lên chùa

Đã hơi khuya. Gió heo may có vẻ mạnh hơn.  Đêm nay thu sang cùng heo may… Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong… (theo tác giả Nhật Hoa Khanh)    

Thái Thanh với 3 ca khúc của Đặng Thế Phong

https://youtu.be/WefG2bi00AM

Phan Tất Đại chuyển tiếp

CÂU CHUYỆN “PHÂY-BÚT”

CÂU CHUYỆN “PHÂY-BÚT”

Tôi mới làm quen trang ‘Phây-bút” chừng đôi ba năm nay, và cũng rất ít tâm sự về mình cho “bạn bè trên Phây-bút” biết mình đang muốn gì, vì đó không phải là nơi bày tỏ nỗi lòng cá nhân.

Hiện nay hiện tượng câu “lai’ đang trở thành một bệnh dịch trên “Phây-bút”, vì tôi có kết bạn bè với một số người (mà trước đây tôi có ý tưởng cũng nhằm câu “lai” hay có “còm-măng” trong mỗi tin ảnh chuyển lên trang mạng). Nhưng rồi quá bực mình, vì có một vài “hốt-gơn” ngày nào cũng trưng bày chừng bốn – năm tấm ảnh với đủ loại “Xì – Xú” hay quần là áo lượt đủ màu sắc như để khoe của hoặc để khoe thân, mà những hình ảnh đó không một lời chú thích. Làm tôi liên tưởng đến những cuốn ”ăn-bum” mà má mì ở các động chứa thường đưa cho khách làng chơi xem để lựa “đào” !

Vì thấy mình kết bạn không đúng người, nên vào “Phây bút” để xóa đi tình trạng kết bạn “lỗi lầm” đó. Cách xóa như sau :

– Động tác 1: Nhìn cột bên trái có mục “Danh sách bạn bè”. (H1)

– Động tác 2: bấm vào đó sẽ xuất hiện một hộp tim gồm 2 mục : 1/- Tạo danh sách và 2/- Xem tất cả bạn bè. (H2)

– Động tác 3: hãy bấm vào “Xem tất cả bạn bè”, sẽ xuất hiện tên và ảnh người mình đang kết bạn (mỗi tin ảnh của người này khi “bốt” lên “Phây-bút” nó sẽ xuất hiện trên trang “Phây-bút” của bạn)

– Động tác 4: bấm vào ô bạn bè, sẽ xuất hiện một ô gồm 5 hàng, hãy bấm vào “hủy kết bạn”, tức thì hình ảnh và tên người đó (thí dụ Nguyễn Văn Mít) sẽ biến mất. (H3)

Khách Giang Hồ

Nói cho rõ : “Phây-bút” = Facebook – “Lai” = Like –  “Còm-măng” = Comment (bình luận} – “Hốt-gơn” = Hot Girl – “Xú Xì” – Xu cheng và Sì lip

NỖI NIỀM ĐÊM MƯA

– Tùy bút của Uyên Sô

Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăng. Em đến thăm anh, vì trời mưa mãi nên không kịp về. Bên em anh lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơ. Sợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa…

Đó là một chiều mưa của nhạc  sỹ Nguyễn Vũ. Còn đây là một chiều mưa của nhạc sỹ Nhật Ngân : Tôi đưa em sang sông chiều xưa mưa rơi âm thầm để thấm ướt chiếc áo xanh và đẫm ướt mái tóc em… Nếu tôi đừng đưa em thì chắc đôi mình không quen. Đừng bước chung một lối mòn có đâu chiều nay tôi buồn…?

Như thế đó, cũng là  một chiều mưa thôi mà hạnh phúc một người và u sầu một kẻ.

Nhạc sỹ Nhật Ngân không lẻ loi trong phũ phàng mưa lạnh bỏi vì còn có một người khác cũng  trách cũng than vô tình mưa gió : “Mưa ơi ! Mưa ơi ! Mưa gieo sầu nhân thế”. Người ấy là nhạc sỹ Huỳnh Anh vậy. Mưa có “gieo sầu nhân thế” không ? Để trả lời câu hỏi đó, xin đến với một cô giáo – cô giáo Nhi Nguyễn – để nghe cô bộc bạch nỗi lòng :

Giờ này chưa ngủ được. Mỗi lần một cơn mưa đổ xuống là thấp thỏm lo lắng. Không biết nước có tràn vô nhà không ? Đêm nay cũng không phải là lần đầu tiên… Nước tràn sân trước, sân sau, vô phòng… Tội nghiệp mấy nhóc đang ngủ say sưa bị dựng dậy phụ tát nước.

Vậy đó thời gia sống chung với lũ cũng không phải là ít… Biết sao bây giờ ? Để có đủ kinh phí sửa lại cái nên nhà cũng đâu phải dễ. Chị em nhà giáo ráng dành dụm để làm lại cái nên nhà cho được yên giấc ngủ với những cơn mưa đêm.

Thế rồi lên kế hoạch. Đêm đơn lên phường thì được trả lời : “Không được sửa vì đang có tranh chấp”. Tranh chấp gì chứ. Đất nhà mình để ống nước mấy chục năm rồi. Giờ họ xây dựng lấn ép còn có chút xíu, giờ kiện ngược lại mình để ống nước lên đất của họ. Mà sao họ không kiện lúc chưa làm nhà ?

Cũng chấp nhận chờ… Chờ đến giờ này cũng chẳng thấy” anh chị” nào mời lên… Tranh chấp… Chờ… chờ… chờ… Giờ cũng hết hè rối. Vật tư thì tăng chóng mặt…Làm gì được nữa. Và cứ mỗi đêm mưa là như thế này.

Giờ các “anh chị” ấy nệm ấm chăn êm có nhớ đến lá đơn nhà mình nằm ở đâu không ? Ôi ! Đúng là “mưa gieo sâu nhân thế”. Mối sầu ngàn cân ! Có ai nghe thấy tiếng nức nở không ? Hay tiếng nức nở đã bị gió mưa, sấm sét nuốt chửng rồi ?

Cô giáo Nhi Nguyễn ơi ! Cô có thể chờ tới bao lâu nhỉ ?  Cô chờ để rồi hàng đêm cô lại chắp tay cầu khấn : Xin Chúa cho con đêm nay được bình an. Đêm qua con  sợ lắm rồi. Cô là một tín đồ ngoan đạo. Cô hết lòng tin tưởng vào Chúa và nhất nhất làm theo lời Chúa dạy : “Hãy xin thì sẽ được. Hãy gõ thì sẽ mở cửa cho”.

Nhưng cô giáo ơi ! Cô xin không đúng người và gõ không đúng cửa rồi. Người mà cô cần phải xin không phải là Chúa mà là các quan lớn quan nhỏ ở trên phường kìa. Cái cửa mà cô cần phải gõ không phải là trái tim Chúa mà là cửa phòng của các quan trên phường đó. Chúa đâu có làm cho cô khổ sở như thế đâu.

Hãy nhìn vào khuôn mặt u sầu của Người trên Thập giá đi ! Người đang trông xuống để chia sẻ nỗi khổ với cô mà. Nước tràn ngập nhà cô không phải do Chúa đâu. Do các “anh chị” trên phường đấy. Nếu họ không vứt đơn của cô vào sọt rác thì hè vừa qua chị em cô đã nâng được nền nhà lên rồi và như thế thì cô đâu có phải nặng trĩu lo âu : “Giờ này chưa ngủ được. Mỗi lần một cơn mưa đổ xuống là thấp thỏm lo lắng. Không biết nước có tràn vào không. Đêm nay cũng không phải là đêm đầu tiên… Nước tràn sân trước, sân sau, vô phòng…”

Vậy, cô hãy  mau mau lên UBP mà gõ cửa và kêu xin. Nhưng, để có kết quả thì đừng đi tay không, cô nhé ! Vì “vào cửa quan không có lối nói bằng nước dãi”. Câu nói ấy của viên quan huyện trong tác phẩm Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan cách đây gần một thế kỷ vẫn còn là kim chỉ nam cho bất cứ người dân nào khi đặt chân vào cổng các “ công đường” của thế kỷ 21 này, cô giáo Nhi Nguyễn ạ.

Sau khi cô giáo Nhi Nguyễn đăng lời than thở trên fb thì  cô nhận được nhiều sự cảm thông chia sẻ; trong đó có một người đã gợi ý cô nên siêng mua vé số Vietlot để, nếu trúng thì có tiền sửa nền nhà. Lời khuyên đó thoạt nghe có vẻ bông đùa, nhưng nếu ngẫm nghĩ kỹ thì quà là một lời khuyên chí lý. Bởi, nếu cô trúng số thiệt thì việc sửa nhà của cô sẽ rất thuận lợi, không chỉ có đủ kinh phí mà quan trọng hơn là việc làm đơn xin giấy phép ở trên phường  chắc chắn sẽ rất dễ dàng.

Ông bà ta đã chẳng từng dạy : “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” sao ? Sở dĩ đơn xin của cô trước đây không được cứu xét vì cô không biết thủ tục đầu tiên” ở các cơ quan công quyền hiện nay.

Cô không biết vì cô là cô giáo. Là cô giáo  nên ngây thơ, thật thà. Mà “thật thà thì thua thiệt”. Cô nên biết rằng đất nước Việt Nam hôm nay là vương quốc của loài chuột. Bởi vậy, cô phải thuộc nằm lòng bài hát “ Bác đang cùng chúng cháu hành quân”. Đi đến đâu cô cũng phải hát bài ấy thì bảo đảm với cô rằng việc khó mấy cũng thành. Nhớ kỹ nhé, hỡi cô giáo nhỏ tội nghiệp !

Cầu xin cho cô được trúng số. Lần này thì phải cầu xin ơn Trên thật.

Trong  bản tin tối nay, xướng ngôn viên đài truyền hình loan báo : “ Đêm nay Nam bộ sẽ có mưa giông, gió giật cấp  8 đến cấp 9…”  Giữa lúc xướng ngôn viên còn đang đọc bản tin thì sấm sét bắt đầu lên tiếng. Những tia chớp ngoằn nghoèo xé nát bầu trời đêm. Gió  thổi mạnh  như muốn  xô đổ, giật sập mọi thứ nó gặp trên đường đi. Và mưa ào ào đổ xuống như thác lũ.

Giờ này chắc hẳn cô giáo Nhi Nguyễn đang sợ hãi âu lo. Mưa từ đâu mưa về làm muôn đóa hoa rơi tả tơi. Phải chăng mưa buồn vì tình đời, mưa sầu vì lòng người…?

Uyên Sồ Sài Gòn trong cơn bão số 10

TRUNG THU BUỒN

Trung thu buồn quá, chị Hằng ơi !

Mưa lớn lụt lội khắp nơi nơi.

Lênh láng nước dâng tràn mọi ngả,

Hối hả người chạy hụt cả hơi.

Tiu nghỉu trẻ con chực muốn khóc,

Rầu rầu người lớn ngăn lệ rơi.

Ai gây  cảnh này, chị Hằng nhỉ ?

Chị bảo :  Bắc thang lên hỏi Trời”.

Kiều Uyên Du

TIẾNG ĐÀN PIANO NỬA ĐÊM

Một chuyện có thật rất có tình…

Một ngày anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt :

– Ông lại bán xe rồi hay sao mà đi tàu lên đây ?

Anh cúi đầu trả lời lí nhí trong hổ thẹn :

– Ừ thì bán rồi, vì cũng không có nhu cầu lắm !

Chị sầm mặt xuống :

– Ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không ngóc lên đầu lên được. Hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy ?

Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều mà anh muốn nhờ. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể trả lời từ chối :

– Nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu đưa con bé về e sẽ chẳng còn được bình yên nữa !

Anh năn nỉ, nhưng thật sự là anh rất bối rối :

– Con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được. Anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi. Chỉ cần nửa năm hay vài ba tháng gì cũng được.

Em là phụ nữ em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh sẽ lại đón nó về.

Chị thở dài :

– Ông lúc nào cũng mang xui xẻo cho tôi. Thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã.Có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau.

Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi, tiễn chị ra xe rồi thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg…

oOo

Anh và chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động xuất khẩu ở Ðông Ðức. Chị theo học Ðại Học Sư Phạm Hà Nội 1. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây Ðức. Chị tốt nghiệp đại học, về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.

Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Ðức.

Vừa sang Ðức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt, đa số ai cũng có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán, chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta. Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu: Ðể có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời mới được. Do vậy mà anh đã không dám mạo hiểm ra làm ăn.

“Ðồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng…” đó là câu nói cửa miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị có bé Hương.

Bé Hương sinh thiếu tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nửa năm mới được về nhà. Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh. Giông tố bắt đầu thực sự nổi lên từ đó : Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho ra hồn thì hỏi làm được gì chứ. Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.

Bé Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh. Chị nói, ông buông tha cho tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý vì anh biết chị nói đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ rằng buộc sẽ làm khổ chị. Bé Hương 3 tuổi mà chưa biết nói. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm.

Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ. Biết vậy nên chị cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn. Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá.Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới. Thành phố Bremen là thành phố nhỏ.Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố. Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.

Chị không phải là người vô tâm, nên thỉnh thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng con cho anh. Trong những dịp năm mới hay Noel, chị cũng có quà riêng cho con bé. Nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến trực tiếp tặng quà cho con bé trước ngày lễ Giáng Sinh nữa.

Thấm thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ. Tuy chị không biết cụ thể thế nào. Chị chỉ hiểu, dù con bé lớn lên trong tật nguyền hẩm hiu nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều.Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn.Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà…

Chồng chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với chị vài tháng, với điều kiện trong thời gian con bé về sống chung với vợ chồng chị, anh không được ghé thăm. Chị cũng muốn thế, vì chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh.

Vợ chồng chị đã mua nhà. Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng. Chị đã xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được.

Ði học về, nó cứ thui thủi một mình trong phòng. Ðứa em trai cùng mẹ của nó, cũng như mẹ nó và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.

Em trai nó học thêm piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn piano rất đẹp để ở phòng khách. Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó không dám đụng đến nữa. Có hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lõm bõm : “…đàn… đàn… klavia… con muốn…” Anh thở dài và hát cho nó nghe.

Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần. Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa.Sau một tuần đăng đẳng không nghe anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học. Chị không biết gì cứ mắng nó giở chứng.

Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn piano, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng chị nên chị không quan tâm.

Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì… Và chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: “…Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo… sống với cha êm như làn mây trắng… Nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con…với tháng năm nhanh tựa gió… Ôi cha già đi, cha biết không…” 

Chị vòng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lồng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó. Nó chìa cho chị một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.

Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi :

– Con biết bố con bị ung thư lâu chưa ?

Nó chìa bốn ngón tay ra trước mặt mẹ.

– Chị hỏi : bốn tháng rồi hả ?.

Nó gật đầu. Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài. Con bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu cho mẹ. Ðại ý là nó diễn đạt rằng :

– Bố lên ở trên Thiên Ðường rồi. Mẹ yên tâm. Con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg, ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu ! Con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra đi được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con…

Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói, con gái ngoan của mẹ. Ngày mai nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg…

oOo

Tôi nghe người ta kể lại chuyện này, khi đi dự một cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị. Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài hát “Người Cha Yêu Dấu” bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Ðức. Quá kinh ngạc nên tôi cứ gạn hỏi mãi một người trong ban tổ chức. Cuối cùng họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy. (Tín Hữu theo nguồn: luu vu)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

TRUNG THU CHO AI ?

TRUNG THU CHO AI ?

Vốn là biểu tượng của sự đoàn tụ, sum vầy, bánh Trung thu ngày nay đã trở thành một sản phẩm tiềm ẩn nguy hại cho sức khỏe. Oái oăm thay, đó lại là thứ quà cáp để đổi chác lấy tình thân. Lãng quên truyền thống để rồi vướng mắc trong vòng xoáy luẩn quẩn của sự thực dụng, chiếc bánh tự nó kể một câu chuyện nhói lòng về thế giới mà chúng ta đang thuộc về nhưng dường như không thực sự nhận ra.

Sinh ra là món quà của con người dâng lên Đất Trời

Bánh Trung thu xưa kia là món quà của con người dâng lên Trời Phật, vậy nên người xưa cũng làm ra nó với tất cả sự cẩn trọng và cầu kỳ. Chiếc bánh tưởng giản dị ấy chứa đựng biết mấy công phu và tâm huyết của những người phụ nữ vừa khéo tay, khẩu vị tinh tế và hết mực cẩn thận.

Nước đường làm vỏ bánh phải được nấu trước vài tháng thậm chỉ cả năm, mới lên được màu bánh đẹp và thơm. Mỡ lợn được phơi vài nắng đến khi trong veo, ăn béo mà không ngấy, bánh dẻo được làm từ thứ gạo nếp mới trắng ngần, cốm phải là loại cốm tươi…

Từ những nguyên liệu chính là những sản vật gần gũi trong tự nhiên như mứt sen, hạt bí, hạt dưa, mỡ, gừng, lá chanh, đậu xanh, sen, cốm.., người xưa khéo léo kết hợp để làm ra một chiếc bánh thơm ngọt, dậy mùi đặc trưng, hòa quyện hương vị như biểu tượng của sự no đủ, tròn đầy, viên mãn.

Trung thu cho ai ?

Chiếc bánh ấy vốn là biểu tượng của sự đoàn viên, của tình yêu đối với quê hương đất nước, của lòng thành kính với Trời Phật. Nhưng rồi, không hiểu sao, ý nghĩa thiêng liêng ấy không còn quan trọng nữa.

Chiếc bánh nay trở thành thứ quà cáp để đổi chác lấy tình thân và thể hiện văn hóa biếu xén cho công việc. Món quà của lòng thành trở thành món hàng béo bở, cơ hội vàng để các nhà sản xuất bánh biến hóa từ một loại bánh truyền thống dân gian vốn chẳng có gì đắt đỏ trở thành những chiếc bánh cao cấp có giá từ vài trăm đến vài triệu đồng.

Giá trị tinh thần được thay thế bằng giá trị vật chất nên bánh càng đắt tiền thì càng có giá trị. Giới buôn bánh Trung thu vẫn nói, làm một mùa ăn cả năm. Truyền thống ngày nay không phải để thờ mà là để bán mất rồi, nhất là khi nó lại siêu lợi nhuận.

Ngày này, người ta không xem trọng hương vị mà quan tâm đến giá tiền, độ sang trọng, bắt mắt của cái hộp đựng bánh. Để đáp ứng nhu cầu này, nhà sản xuất đua nhau ra đời những dòng bánh cao cấp, thay thế nguyên liệu truyền thống vốn đã trở nên lỗi thời bằng những nguyên liệu đắt đỏ thể hiện đẳng cấp như vi cá mập, yến sào, rượu, hoặc là những nguyên liệu hoàn toàn mới lạ nhưng là thứ nguyên liệu làm bánh như phô-mai, socola, trà xanh, café.….

Chỉ cần nhìn qua nguyên liệu bánh Trung thu cũng đủ biết người ta không mua bánh để cho trẻ nhỏ. Món bánh cổ truyền xưa đã trở thành món quà đắt tiền, mà lý do của sự đắt đỏ hẳn bởi mục đích đổi chác thay vì sự tri ân giản dị.

Cơ hội của nguyên liệu bánh Trung Quốc

Thị trường lớn và cơ hội kinh doanh vàng đã khiến các nhà sản xuất nhanh nhạy tìm đến nguồn hàng giá rẻ với số lượng lớn. Báo chí đã liên tiếp đưa tin về việc bắt giữ hàng tấn nhân bánh Trung thu Trung Quốc. Lại có tin về việc phát hiện bánh Trung Quốc để 10 năm không hỏng.

Cũng như bao sản phẩm khác, Việt Nam luôn được xem như một bãi rác thải lớn để nguồn sản phẩm kém chất lượng và độc hại từ Trung Quốc đổ vào. Hàng tấn bánh bị thu giữ, còn nhiều tấn nhân bánh có thể đã được đưa vào trót lọt đã yên vị trong những chiếc bánh đẹp đẽ, bắt mắt, bao bì sang trọng.

Truyền thống… kiểu hiện đại

Ngập trong các loại bánh Trung thu hiện đại với đủ các thứ nhân lạ lùng, người Hà Nội cũng muốn tìm về với bánh Trung thu truyền thống. Thế nên các tiệm bánh Trung thu kiểu truyền thống được dịp ‘phất’ lên như diều nhờ hàng ngàn thực khách sẵn sàng dậy sớm, xếp hàng cả nửa ngày để mua được một hộp bánh Trung thu kiểu truyền thống.

Thế nhưng cái truyền thống ấy mới nửa vời và hình thức làm sao ! Cứ như thể chỉ cần nói truyền thống là đã thành cố nhân vậy. Bánh tại những tiệm bánh “truyền thống” đôi khi còn xa lắm mới đúng là hương vị truyền thống. Nhiều chiếc bánh được làm thiếu vệ sinh, và còn khó có thể gọi là ngon… vậy mà người người xếp hàng chờ đợi để được mua.

Chán nản với bánh Trung thu không đảm bảo chất lượng và giá thành đắt đỏ, nhiều người đã tự làm những chiếc bánh Trung thu cho gia đình và người thân. Trào lưu bánh Trung thu handmade (tự làm) trở nên rầm rộ. Dạo một vòng qua các cửa hàng bán nguyên liệu làm bánh, dễ dàng thấy hóa ra việc làm bánh handmade trở thành trào lưu cũng bởi vì nó quá dễ dàng với nhân bánh được làm sẵn, đóng gói, chỉ việc mua về nhồi vào vỏ bánh nữa là xong.

Nhân bánh có đủ thứ đủ loại hương vị, từ đậu xanh, sầu riêng, khoai môn, lá dứa, chanh leo, sữa dừa… Giá thành mỗi cân nhân bánh khá rẻ, khoảng 60-80 ngàn cho một cân nhân bánh các loại. Làm một tính toán nhỏ, một cân hạt sen đã khoảng 150 ngàn, mà một cân nhân bánh chỉ có mấy chục ngàn, chưa kể để sên một mẻ nhân bánh cũng phải mất đến vài giờ đồng hồ với rất nhiều dầu và đường do nhân bánh trung thu phải được nấu rất tỉ mẩn cẩn thận với nhiệt độ thấp và thời gian dài.

Chừng đó đủ thấy là nhân bánh làm sẵn không thể được làm từ nguyên liệu tự nhiên mà có lẽ được thay bằng bột, phẩm màu, hương liệu vốn có đủ không thiếu hương vị gì ? Thời gian” luôn là câu trả lời cho mọi vấn đề của cuộc sống hiện đại, nhưng sống nhanh hơn, tiện hơn liệu có tốt đẹp hơn là câu hỏi rất cá nhân dành cho mỗi người. Nhưng có lẽ người ta cũng không còn thời gian để suy nghĩ về câu hỏi đó nữa.

Tràn ngập trên mặt báo là các câu chuyện về tham nhũng, chạy trường, chạy điểm, chạy việc.. Điều gì khiến cuộc sống trở thành cuộc thi maraton như thế? Và chiếc bánh được sinh ra từ thần thoại về chị Hằng, thỏ Ngọc, bỗng phải đóng vai lo lót bất đắc dĩ, để rồi người ta chỉ quan tâm đến kết quả của cuộc đổi chác mà thôi

Trung thu trong phong tục truyền thống cổ xưa vốn là lễ thưởng trăng.

Từ cảm hứng về vầng trăng tròn đầy, viên mãn, người xưa đã gửi gắm tư tưởng tình cảm của mình trong biểu tượng chiếc bánh tròn trịa được gọi là bánh Nguyệt Bính hay bánh Vầng Trăng. Hình ảnh “tròn” (viên) của trăng với cảnh quây quần “đoàn viên” của con người. Nên bánh Trung thu còn được gọi là bánh đoàn, bánh đoàn viên.

Trung thu Nguyệt bính với ý nghĩa nguyên sơ là dịp gia đình sum vầy, đoàn tụ trong một đêm trăng đẹp, cùng nhau ăn bánh, uống trà và các thứ hoa quả thơm ngọt ngào của mùa, thưởng ngoạn vẻ đẹp huyền ảo, nồng hậu của vầng trăng để thấy ấm nồng hơn bao giờ tình cảm gia đình và tình yêu với quê hương đất nước. Vẻ đẹp trong trẻo và thuần khiết của một giá trị văn hóa có lẽ nào đã dễ dàng mất đi trong dòng xoáy bất tận của sự bán mua đổi chác danh, lợi, tình..… (theo Lam Thư – ĐKN)

Lan Hương chuyển tiếp

THỎ NGỌC, HẰNG NGA,

VÀ NHỮNG ẨN Ý SÂU XA

TRONG CÂU CHUYỆN VỀ TẾT TRUNG THU

Cứ mỗi lần tới tết Trung Thu, ngẩng lên nhìn mặt trăng sáng vằng vặc trên không trung, tôi bỗng nhớ tới những câu chuyện thần thoại về chị Hằng, về Ngô Cương chặt quế và thỏ ngọc giã thuốc mà tôi thường nghe khi còn thơ dại.

Luân hồi chuyển thế đã mấy ngàn năm, những câu chuyện thần thoại xưa kia luôn hàm chứa nhiều ẩn ý sâu xa. Đã hàng ngàn năm qua đi, đây vẫn là điều con người luôn mong muốn tìm kiếm một lời giải…

Chúng ta hãy cũng tĩnh tâm lại một chút để cùng tìm hiểu ý tại ngôn ngoại ẩn sâu trong những câu chuyện thần thoại này.

1/. Hằng Nga bay lên cung trăng

Trong cuốn sách cổ “Hoài Nam Tử” thời Tây Hán có câu chuyện Hằng Nga bay lên cung trăng. Mỗi lần tới Trung Thu, nhìn lên bầu trời chúng ta lại thầm hỏi: Trăng đêm rằm tròn và trong sáng tới vậy, cớ sao Hằng Nga chỉ ở đó một mình ?

Trong truyền thuyết, Hằng Nga là nhân vật liên quan tới sợi dây tơ tình suốt thiên thu ngàn năm của thế gian nhân loại. Cái tên Hằng Nga gắn liền với Hậu Nghệ. Hậu Nghệ là anh hùng bắn rơi 9 mặt trời, còn Hằng Nga là một tiên nữ xinh đẹp trên thiên đình.

Tương truyền, một ngày trên không trung bỗng xuất hiện 10 mặt trời làm trái đất nóng bỏng, hoa màu cỏ cây bị thiêu đốt, dân chúng cũng lầm than cơ cực. Đồng cảm với nỗi thống khổ của muôn dân trăm họ, Hậu Nghệ đã lên đỉnh núi Côn Lôn kéo căng cung thần nhắm vào mặt trời mà bắn. 9 mặt trời lần lượt rơi xuống đất, cuối cùng, chỉ còn lại một mặt trời chiếu sáng cho nhân gian.

Hậu Nghệ và Hằng Nga kết nghĩa phu thê, tình cảm đằm thắm như chim liền cánh như cây liền cành, kính trọng yêu thương nhau. Tuy nhiên đến một ngày, Hằng Nga bỗng rời xa người chồng của mình mà bay lên cung trăng, để lại chàng Hậu Nghệ đau buồn nơi trần thế…

Hậu Nghệ mê mờ trong nhân thế, Hằng Nga một mình lên cung trăng

Tại sao Hằng Nga lại bay lên cung trăng một mình ? Trong các câu chuyện cổ được truyền lại có một số cách giải thích khác nhau:

Cách giải thích thứ nhất là Hằng Nga lấy trộm viên thuốc trường sinh nên đã bỏ lại Hậu Nghệ rồi một mình rời đi. Nhưng sau khi lên trời, Hằng Nga bị Thiên đế trách phạt và nhốt trong cung Quảng Hàm trên mặt trăng.

Tuy nhiên, nếu quả thật Hằng Nga là người thay lòng đổi dạ thì sao lại có thể lên được thiên giới ? Người xấu sao lại có thể trở thành tiên nữ mà không phải ở lại nhân gian chịu báo ứng ? Như vậy, cách giải thích này chưa thật sự hợp lý.

Cách giải thích thứ hai cho rằng, Hậu Nghệ và Hằng Nga vốn là phu thê tình cảm mặn nồng hòa thuận. Với tấm lòng nhân ái bao la, Hậu Nghệ đã truyền thụ thần thông cho mọi người trong thiên hạ. Tuy nhiên một trong những người được Hậu Nghệ truyền thụ lại có mưu đồ ác độc, rắp tâm ăn cắp tiên dược. Hằng Nga vì không muốn để tiên dược rơi vào tay kẻ ác nên đã nuốt viên thuốc trường sinh, kết quả nàng từ từ bay lên mà không kịp nói lời từ biệt với Hậu Nghệ.

Lại có một cách lý giải khác là: Sau khi bắn hạ 9 mặt trời, Hậu Nghệ được tôn vinh lên làm vua. Tuy nhiên, khi đã lập được công lao hiển hách, ông càng ngày càng trở nên kiêu ngạo, xa hoa phóng đãng và trở thành mối nguy hại cho muôn dân. Vì không muốn một tên bạo chúa có thể trường sinh bất lão nên Hằng Nga đã uống tiên dược.

Quay trở lại câu chuyện của Hằng Nga: Tại sao Tây Vương Mẫu chỉ đưa cho nàng một viên tiên dược ? Đó là khảo nghiệm hay đó là lời tiên tri ? Hay đó là lời nhắn nhủ rằng những kẻ tham lam dù có uống tiên dược cũng không thể thành tiên ? Liệu thần có thể cho phép kẻ xấu dùng thủ đoạn cướp đoạt tiên dược mà thành tiên được không ? Kỳ thực, chỉ những ai có tâm hồn thuần khiết không nhiễm bẩn bụi trần mới có thể thành tiên, chứ không phải thông qua thủ đoạn mà đạt được điều ấy.

Và phải chăng vì nhìn thấy Hậu Nghệ đang mê đắm trong danh lợi tình nơi cõi thế nên Tây Vương Mẫu chỉ đưa một viên tiên dược ? Hằng Nga bay lên cung trăng không phải là bởi bất đắc dĩ, mà đó là sự xả bỏ, đoạn tuyệt với những thất tình lục dục nơi cõi người thường để đạt tới một cảnh giới siêu phàm, thoát tục. Mong muốn lên cung trăng, cũng chính là nguyện ước muốn quy thiên để trở về ngôi nhà chân chính của sinh mệnh.

Hậu Nghệ và Hằng Nga vốn là những sứ giả của Thần được cử xuống nhân gian, sau khi hoàn thành việc cứu độ thế nhân sẽ cùng nhau trở về trời. Tuy nhiên, vì Hậu Nghệ đã mê đắm quá sâu trong cõi nhân gian nên Hằng Nga chỉ có thể một mình bay về trời, quy thiên phục mệnh.

Đêm nay là đêm nào ? Đừng để mất đi sinh mệnh và cơ duyên vốn có của bản thân

Gần 1.000 năm trước, Tô Đông Pha đã để lại những dòng tuyệt tác dưới đêm trăng :

“Vầng trăng sáng có tự khi nào,

Nâng chén rượu lên hỏi trời cao,

Chẳng biết cung điện trên chốn ấy,

Đêm nay đã là đêm năm nào”.

Đêm nay đã là đêm năm nào ? Có lúc là trăng sáng sao thưa, có lúc là trăng ẩn sao hiện, lại có lúc trăng sao cùng ẩn mất. Con người đi giữa thế gian cũng giống như vậy, có lúc thiện tính rõ ràng, lại có lúc ma tính nổi lên, và có lúc quên mất rằng bản thân mình là ai. Khi hạ xuống nhân gian lạc vào cõi hồng trần, chỉ vì một chút thành tích đã làm Hậu Nghệ phóng túng bản thân, để ma tính trong mình lấn át đi phần thiện tính, nên không thể thăng hoa tầng thứ, cũng vĩnh viễn không thể quay về trời.

Đây lẽ nào là lời nhắn nhủ tới con người thế gian ? Câu chuyện Hậu Nghệ và Hằng Nga chính là lời thức tỉnh tới những ai đang hàng ngàn vạn năm không thoát khỏi kiếp luân hồi. Con người tới thế gian là mang theo sứ mệnh lịch sử, đó là tu luyện để thăng hoa cảnh giới của sinh mệnh, cuối cùng hồi thiên trở về nhà. Câu chuyện cũng là lời nhắc nhở thế nhân đừng mê đắm trong cõi hồng trần, để lỡ mất đi cơ duyên đáng quý nhất của bản nguyên sinh mệnh mình.

2/. Ngô Cương chặt quế

Trong “Thái Bình ngự lãm” và “Hoài Nam Tử” có ghi chép về sự tích cây quế trên mặt trăng, cũng chính là câu chuyện thần thoại Ngô Cương chặt quế.

Ngô Cương là người Tây Hà sống vào thời nhà Hán, khi tu đạo vì phạm tội nên bị sư phụ trừng phạt, phải lên Nguyệt Cung chặt quế. Cây quế trên Nguyệt Cung cao 500 trượng, là loại cây vô cùng thần kỳ, hễ chặt thì vết chặt lại lành lặn như cũ. Bởi vậy mặc dù trải qua thời gian rất lâu, Ngô Cương cũng không làm cây quế đổ xuống được, đành bất đắc dĩ ở Nguyệt Cung chặt cây mãi không ngừng.

Ngô Cương bất lực trước cây quế cao to, tới lúc nào mới có thể đốn ngã, tới lúc nào mới có thể phục mệnh ? Có lẽ việc chặt quế chính là một cách tu đạo mà sư phụ đã an bài cho anh ta, chính là qua chịu khổ mà tiêu trừ tội nghiệp. Vậy Ngô Cương phải làm thế nào mới có thể hoàn thành nhiệm vụ để thoát khỏi phàm trần?

Cảnh giới siêu phàm thoát tục, cuối cùng đắc Đạo thành tiên

Điều then chốt nhất của quá trình tu luyện chính là tu tâm. Sư phụ giao cho Ngô Cương chặt quế, một mặt vừa có thể thông qua chịu khổ mà tiêu nghiệp, một mặt cũng là để khảo nghiệm ngộ tính của Ngô Cương.

Người tu luyện phải đạt tới cảnh giới siêu phàm thì mới có thể thoát khỏi thế tục và đắc đạo, cũng chính là cần vượt qua tầng thứ hiện tại của bản thân mới có thể bước vào cảnh giới cao hơn. Chỉ khi loại bỏ những chấp trước ngăn trở về danh lợi tình trong thế gian, mới có thể đề cao cảnh giới và tầng thứ của sinh mệnh, mới có thể tu thành đắc đạo.

Đối với một người bình thường, chẳng phải đạo lý cũng như vậy hay sao? Người đời vì trăm ngàn lo âu về những thứ vật chất xung quanh mà tổn hại nhân tâm. Có những việc đôi khi cố gắng cả đời cũng không thể giải quyết được, bởi có những điều mà bản thân không thể làm chủ, ví dụ như thọ mệnh và số phận.

Những điều con người cả một đời theo đuổi đều không nằm ngoài những truy cầu về danh lợi tình. Kỳ thực, phúc phận của đời người sớm đã được an bài sắp đặt. “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”, tạo nghiệp đời trước sẽ phải hoàn trả kiếp này. Nếu bản thân có thể coi nhẹ mọi việc, lùi một bước biển rộng trời cao thì con người mới có thể thoát khỏi khổ ải trầm luân. Chỉ cần cố gắng làm tốt mọi việc, tuỳ kỳ tự nhiên, thuận thiên nhi hành, thì con người mới được sống an nhiên và tự tại. Thần Phật luôn bảo hộ những người lương thiện, những người luôn tích đức hành thiện thì phúc báo sẽ mãi dài lâu.

3/. Thỏ ngọc giã thuốc

Người bạn nhỏ của chị Hằng trên cung trăng là thỏ ngọc. Câu chuyện về thỏ ngọc cũng là một trong những truyện cổ tích được lưu truyền trong ngày tết Trung Thu.

Trong “Nghĩ thiên vấn” của Phù Hàm có câu: “Trong trăng có gì thế? Có con thỏ bạch giã thuốc, cầu mong hưng thịnh, phúc lành”. Trong “Thơ ca nhạc phủ” thời xưa có bài: “Hái lấy ngọn cây trên núi thần dược, thỏ bạch giã thành viên thuốc tắc kè, dâng lên bệ hạ với cả tấm lòng”.

Kinh Veda kể rằng có bốn con vật, gồm khỉ, chó, rái cá và thỏ hằng ngày đến lắng nghe một vị đạo sĩ thuyết giáo. Một ngày nọ vị đạo sĩ tu thành và chuẩn bị rời khỏi thế gian; trước khi đi ông đã yêu cầu cả bốn con vật đi tìm thức ăn cho mình. Tất cả các con vật đều tìm được thức ăn, ngoại trừ thỏ. Vì để cung cấp thức ăn cho vị đạo sĩ, thỏ lao mình vào đống lửa, nhưng đống lửa lại biến thành băng tuyết và thỏ được cứu sống. Vị đạo sĩ hiển lộ thân phận thật và đưa thỏ lên cung Quảng Hàm, kể từ đó thỏ được lưu lại ở đây làm bạn với Hằng Nga.

Xả bỏ tự ngã, thoát khỏi phàm trần

Thỏ ngọc không phải là một chú thỏ bình thường. Từ xa xưa ngọc luôn tượng trưng cho phẩm hạnh đạo đức cao thượng, bởi vậy thỏ ngọc chính là một cảnh giới thăng hoa của sinh mệnh. Vì người khác, thỏ ngọc có thể hoàn toàn xả bỏ sinh mệnh, không màng tới an nguy của bản thân, vậy nên cảnh giới của thỏ ngọc đã thoát khỏi cõi phàm trần. “Thỏ ngọc giã thuốc” chính là bản nguyên của sinh mệnh sau khi không ngừng xả bỏ những tạp chất hậu thiên, hiển lộ bản chất hồn nhiên, thiện lương, thuần khiết vốn có. Thiện lương vốn là bản tính của con người, bản chất vô tư vô ngã chính là loại tiên đơn thần dược trường sinh bất lão chân chính nhất.

Hàng ngày hàng giờ, năm này qua năm khác, chúng ta đang đắm chìm trong vòng quay nơi thế tục. Trong những bon chen chìm nổi đó, con người dễ dàng nảy sinh các chủng nhân tâm như toan tính, ganh ghét, tranh đấu… Do vậy nếu muốn được thanh thản, muốn được thăng hoa, con người cần phải giữ cho mình sự thư thái thiện lương và không ngừng loại bỏ những nhân tâm bất hảo của bản thân. Thỏ ngọc giã thuốc là tượng trưng cho sinh mệnh con người, ở vào bất cứ thời điểm nào cũng không ngừng tu luyện bản thân, phản hồi về bản tính tiên thiên vốn có của sinh mệnh khi tới thế gian này.

Ánh trăng thu vẫn hàng ngày hàng giờ chiếu sáng thế gian, đưa đường chỉ lối cho con người mỗi khi đêm đến. Trong những năm tháng của tiến trình sinh mệnh, hãy giống như ánh trăng đang hàng ngày soi tỏ kia, luôn giữ được sự thuần khiết của mình. Hãy không ngừng đề cao cảnh giới tư tưởng đạo đức, quay về bản thính Chân, Thiện, Nhẫn tiên thiên vốn có của bản thân, đó mới là thứ tiên dược chân chính giúp con người “trường sinh bất lão”.

Phải chăng đây cũng chính là hàm ý sâu xa trong những câu chuyện thần thoại về tết Trung Thu được lưu truyền cho đến ngày nay ?

Yên Huỳnh chuyển tiếp

 

O HUẾ VÀ PHỤ NỮ SÀI GÒN

TẢN MẠN VỀ “O HUẾ”

Bà xã của tôi là một cô gái Huế, nói theo kiểu Huế là một o Huế. Dù cho bây giờ o Huế của tôi đã phần nào không còn là “rặc” Huế nữa, nhưng chỉ cần là sinh ra tại làng Phú Xuân và đi học ở trường Đồng Khánh, là đủ tiêu chuẩn o Huế rồi.

O sinh ra và đi học ở Huế, nhưng lớn lên một chút thì theo gia đình dọn vào Đà Nẵng, rồi khi lên đại học thì vào Sài Gòn.

Như thế là qua thời gian “chất Huế” của o cứ “loãng” dần theo mỗi chặng đường xuôi Nam. Nhưng có lai thì cũng chỉ lai một chút ở cái giọng nói nhẹ bớt đi thôi, chứ o vẫn là một o Huế chính hiệu.

Tôi gặp o khi lần đầu bước chân vào trường ĐHSP. Hình ảnh ban đầu ấy cho tới bây giờ vẫn còn in đậm trong trí tôi. Một o Huế với mái tóc đen dài buông xõa ngang lưng, với chiếc “băng đô” màu tím Huế đi kèm với cặp kính cận sẫm màu trà rất hợp với khuôn mặt của o. Chiếc áo dài trắng đơn sơ, vừa kín đáo vừa quyến rũ của o, cứ bay bay theo gió khi o ngồi trên chiếc Yamaha màu xanh đời cũ của những năm 66-67, đi đến trường vào mỗi buổi sáng sớm.

Có khi o đi một mình, có lúc o chở thêm cô bạn thân cùng lớp. Hình ảnh đó cứ lập đi lập lại mà trở thành quen thuộc, đến độ mới gần đây tôi tình cờ thấy một tấm ảnh trên “net” được chụp từ phía sau o với cô bạn gái, làm cho tôi chợt kêu lên : “Ai chụp tấm hình nầy vậy ?”. Cũng mái tóc đó, dáng dấp đó, chiếc áo dài đó, cũng chiếc xe cùng hiệu, cùng đời, cùng màu với xe của o.

Tấm ảnh giống đến 99,5%, khi tôi gởi tấm ảnh nầy cho cô bạn của o xem, thì cô bạn cũng kêu lên : “Tấm hình nầy chụp hồi nào vậy ?”. Sau đó tôi xem kỹ lại thì thấy có một chi tiết làm tôi ngờ ngợ là không có… bảng số xe và cái giỏ phía trước.

Thế đấy, tôi giật mình khi thoáng thấy lại cái hình ảnh của o hơn 40 năm trước, tôi cũng hồi hộp xôn xao giống như khi nhìn o lần đầu vậy. Lạ lắm, không biết có ai giống tôi không ? !!!

Có đôi lúc, o thỏ thẻ cất giọng nhẹ nhàng như rót mật vào tai mà hỏi tôi rằng : “Sao mình không chọn một o Nam giống mình hay o Bắc, mà lại chọn o Huế vậy ?”. Thiệt là không biết trả lời sao, khi “thế giới đông người nhưng chỉ thấy riêng em”.

Chính o cũng nhìn nhận một cách hết sức chủ quan là các o Huế…. “không đẹp” như hoa hậu, nhưng nếu làm người mẫu chụp ảnh thì…. điệu không ai bằng. Còn o Nam hay o Bắc thì tôi không dám lạm bàn, nếu lỡ nói bậy rất dễ…. cháy nhà lắm. Chỉ dám nói tới o Huế của tôi thôi, thì o “dễ thương chi lạ” !!!

Mà không phải đến khi gặp o trong sân trường đại học thì tôi mới thích cái “chất Huế” của o, với giọng nhỏ nhẹ đầy dấu nặng hay qua dáng vẻ dịu dàng khép nép rất bắt mắt của một nữ sinh Đồng Khánh ngày nào.

Tôi đã từng kể chuyện cho o nghe về việc học hành thời niên thiếu của mình.

Khi ấy vào khoảng năm học lớp đệ ngũ hay đệ tứ gì đó (lớp 8, lớp 9 bây giờ) ở trường HNC Gia Định, có một cô giáo trẻ mới ra trường về dạy lớp của tôi. Đó là cô N, dạy Anh văn. Giờ đầu tiên của cô giáo làm cho tôi rất thích thú với giọng Huế khá nặng của cô, nhưng lại rất êm tai. Các bạn trong lớp cũng hào hứng khi bỗng đâu một cô tiên thật là ngọt ngào hiền dịu lại lạc vào cái đám nam sinh quỷ quái chúng tôi.

Những giờ học sau đó của cô càng chứng tỏ cái “sức Huế” nó mãnh liệt biết chừng nào. Bọn học sinh chúng tôi cứ mong đến giờ Anh văn, cả lớp im phăng phắc ngóng cổ lên để nghe cô giáo….. nói tiếng Huế, chứ nào có thiết gì đến bài học tiếng Anh đâu. Sự trật tự của lớp tôi dành cho giờ dạy của cô giáo mới chưa bao giờ nặng lời quát mắng học trò, là một ngoại lệ hiếm có.

Nhưng rồi những ngày vui thường qua mau. Khoảng chừng ba bốn tháng sau, cô giáo N không còn dạy lớp tôi nữa vì nghe đâu cô đi… lấy chồng và đổi về trường khác.

Thế là tôi hụt hẫng, mất ăn mất ngủ nhiều tháng trời sau đó. Kỷ niệm của tuổi mới lớn nầy đã gây một ấn tượng sâu sắc trong tôi cho mãi đến bây giờ.

Từ khi tôi biết o Huế đến nay là tròn 43 năm, thời gian không dài lắm nhưng có đôi lúc tôi quên béng đi là tôi có một o Huế bên cạnh, nếu không có vài sự kiện thỉnh thoảng cứ xảy ra “nhắc nhở” tôi.

Vợ chồng tôi khi ra ngoài đi phố, đi chợ búa hay đi đâu đó chút việc, nhiều khi tình cờ gặp một dân Huế nào đó bắt chuyện, thì sau câu chào xã giao thông thường là đến câu thứ hai với giọng điệu mừng rỡ của vị khách lạ:

– “Chị là người Huế à ? Chị ở mô rựa ?”

– “Dạ, tui ở gần cầu Kho Rèn”.

Rồi sau đó là những câu thăm hỏi rối rít vồn vã thân tình giữa hai người, làm như thể cả hai đã quen nhau “từ kiếp trước” rồi. Khi đó tôi bắt đầu đóng vai kẻ thứ ba nhìn hai người nói chuyện mà tôi chẳng hiểu gì cả. Chỉ nội mấy cái địa danh, mấy cái tên ông Nghè, ông Tổng gì đó đã lạ hoắc, nói chi nó được phát âm bởi giọng Huế đặc sệt thì… hết biết luôn.

Hồi lâu sau khi mãi mê với “Huế của mình”, người khách lạ mới sực nhớ lại quay sang hỏi tôi :

– “Còn anh là người ở mô ?”

– “Dạ, tôi là dân Sài Gòn”.

Người khách nhìn tôi như có ý tò mò, nhưng tôi đoán trong đầu anh ta đang thắc mắc là không hiểu sao tôi là dân ở tuốt trong Nam mà lại rinh được một o Huế xa lắc xa lơ “ngoài nớ”. Cái tình cảnh vừa kể trên không phải tôi chỉ đụng một lần, mà hễ gặp dân Huế đâu đó là y như rằng cái điệp khúc “Chị là người Huế à ? Chị ở mô rựa ?” lại bắt đầu và rồi….. cứ thế tới luôn !!!

Các bạn nào có bà xã là o Huế thử xem tôi nói có đúng không ? Dân Huế cứ gặp nhau là rất mừng rỡ, nhất là ở hải ngoại nầy. Họ coi như “chất Huế” là tài sản riêng của con dân đất Thần Kinh, tất cả ai có dính dáng chút xíu đến Huế là đương nhiên trở thành thân thuộc, là người trong nhà với nhau từ thời…. ông Bành Tổ !!!

Đây có lẽ là một đặc điểm trong văn hóa ứng xử của riêng dân Huế, vì tôi không thấy điều nầy ở người miền Nam hay miền Bắc. Chưa hề có một người Nam nào hỏi tôi: “Bộ anh là người Nam hả ?” !!!

Tôi chỉ hay nghe nói “người Nam”, “người Bắc”, chứ hình như ít ai nói “người Trung”. Người Nam thường không phân biệt miệt nào, còn người Bắc đôi lúc có xác định “người Hà Nội”, “dân xứ Nghệ”…..

Riêng “dân Huế” nhất định không cho mình lẫn lộn vào cụm từ “người miền Trung”, mà phải chỉ đích danh “Huế” mới chịu. Mà cũng phải thôi, có lẽ do ở khúc giữa nầy thường bị chia vụn ra như “người Đà Nẵng”, “dân xứ Quảng”, “gốc Bình Định”, “người Nha Trang”, “dân Phan Thiết”. v.v…, nên người Huế “buộc lòng” phải dành riêng cho mình một vương quốc “quý tộc”.(?) Chứ chẳng phải các o Huế kênh kiệu đâu….

Mới đây có người bạn email cho tôi một truyện ngắn dí dỏm “Vợ chồng như khách khứa” của NTTD. Tựa truyện nầy phát xuất từ câu “Phu phụ tương kính như tân”. Ở đây tôi không bàn đến nội dung truyện mà chỉ muốn nói đến chữ “tân” là “khách”.

Tại sao vợ chồng lại phải đối xử với nhau như là khách. Đã là khách thì khách sáo rồi. Đã là khách thì còn gì là chân thật, còn gì là tình tứ lãng mạn nữa. Đã làm khách với nhau thì miệng mồm xởi lởi, rào trước đón sau, tay bắt mặt mừng, nhưng không biết câu nào là thật, câu nào là giả. Đã là khách thì phải dè dặt xem lời nào là nói suông miệng, câu nào là gài độ, khi nói bông đùa mà nghe ra như xiên xỏ !!!

Thế mà cứ bảo vợ chồng phải xem nhau như khách khứa thì quả thật chả còn tình nghĩa đầu ấp tay gối gì nữa.

Đó là chưa nói đến cái kiểu khách khứa bây giờ. Vào một ngày đẹp trời nào đó, bỗng dưng sếp vi hành đến nhà nhân viên “làm khách” khiến chủ nhà mặt mày tái mét, ngồi căng tai nghe cả buổi cũng không hiểu nỗi sếp mình muốn vòi vĩnh cái gì để mà… liệu cơm gắp mắm. Hay là gặp lúc Tết nhất thì thuộc hạ phải đến “làm khách” nhà ông chủ để chúc Tết, mà đã chúc thì phải làm sao…. coi cho được thì làm !!!

Như thế làm khách đâu phải là dễ chịu. Mình là khách của người ta hay người ta là khách của mình thì cũng chỉ là hai cách…. chết khác nhau thôi. Trong hoàn cảnh nầy tôi liên tưởng đến nghĩa khác của chữ “tân” là “cay”, là cay đắng, cay nghiệt .

Cho nên tôi muốn hiểu “tân” là “mới”. Vợ chồng đối xử với nhau lúc nào cũng như lúc mới biết, mới quen, mới cưới. Dù qua thời gian, vẫn giữ gìn lời ăn tiếng nói cho cẩn trọng, đúng lễ nghĩa, biết kềm chế, biết tôn trọng đừng làm tổn thương nhau, việc gì cũng đúng mực, không bất cập, không thái quá.v.v…

Nếu hiểu như thế nầy thì o Huế của tôi đúng là “tương kính như tân” rồi.

Mỗi khi tôi hỏi o một chuyện gì hoặc làm giúp o một việc lặt vặt nào đó, thì o luôn nhỏ nhẹ: “Dạ, em làm rồi mình à “, “Dạ, cám ơn mình”…. Những chi tiết như vậy xem ra cũng là vặt vãnh thôi, vã lại lâu dần tôi quen rồi nên có khi không “thấy” nữa. Nhưng hễ ra ngoài nghe vợ chồng người ta ăn nói với nhau nhát gừng, không đầu không đuôi, thì tôi lại nhớ ra o Huế khác xa cái kiểu ngang phè đó.

Hỏi như vậy thì làm sao mà tôi không mê o cho được !!!

Thập niên 60 là khoảng thời gian nhiều “sóng gió” trong đời tôi. Những năm đầu là ngẩn ngơ trước cô giáo Huế ở trung học, những năm cuối là mê mẩn với o Huế ở đại học. Còn những năm lơ lửng giữa chừng thì bận…. mơ mộng đến các người đẹp trong phim “xi nê”.

Vào thời đó, các rạp chiếu phim bình dân đều chiếu thường trực suốt ngày, giá vé chỉ 5 đồng xem hai phim. Những tên tuổi lớn vẫn còn “theo” tôi đến giờ như Audrey Hepburn trong phim “Roman Holiday” (1953), hay Romy Schneider trong “Sissi” (1955), hoặc những ngôi sao hạng nhì như Giorgia Moll với “The Thief of Bagdad” (1961).

Khi lớn hơn một chút thì trong bóp của tôi đã có ảnh của Sylvie Vartan, cô nàng hát bài “La plus bell pour aller danser” trong phim “Cherchez l’idole” (1964), lúc đó đang chiếu tại rạp Casino Dakao gần cầu Bông. Còn ca khúc vượt thời gian “The house of the rising sun” được ban nhạc The Animals trình diễn trong phim “Pop Gear”(1965), đã gợi cảm hứng cho tôi nuôi mộng trở thành tay trống chuyên nghiệp, nhưng chỉ mãi đến những năm gần đây tôi mới được cầm đũa chơi trên dàn “Tama” trong một thời gian ngắn.

Nhưng từ khi ra đi dạy, tôi không còn cái thú xem phim nữa, kể cả sau nầy khi có thể xem phim online tại nhà. Cho nên những cái tên mới còn nhớ được ngày càng hiếm dần, như Julia Roberts (Pretty Woman, 1990), Sandra Bullock (Speed, 1994), hay Natalie Portman (The Professional, 1994)

oOo

Còn o Huế của tôi thì rất mê xem phim, nhất là phim bộ nhiều tập. Có lúc tôi thấy o cắm cúi rà tìm phim trên web, tôi hỏi, thì o nói  : “Mình ơi, hết phim cho em coi rồi”. Thì ra mấy hãng phim đó quay…. không kịp cho o coi. Vì mê phim như vậy nên chẳng những o không lạ gì các khuôn mặt Chương Tử Di, Phạm Băng Băng, hay Choi Ji Woo, Kim Hye Soo…. mà đôi khi còn nhập tâm cả lời thoại lồng tiếng trong phim nữa. Những lúc đó, o thỏ thẻ vào tai tôi:

– “Mình à,……. Huynh có thích muội không ?”

– “Trời, không thích muội thì thích ai chứ ?”

– “Vậy hả mình,……vậy còn cô bạn gái ở Văn khoa khi xưa….. thì răng ? “

Nghe đến đây tôi bỗng bủn rủn tay chân. Nếu sơ sẩy thì “bể dĩa” như chơi. Thế nên nói chuyện với o phải thật cẩn thận, phải biết câu nào nên trả lời ra sao, chứ mà cứ vô tư thì có ngày sẽ dính chấu với hoạt cảnh “trắng đêm không ngủ”. Lúc đang diễn cái cảnh thỏ thẻ vào tai nầy, tốt nhất là phải nhớ câu “tương kính như…. khách khứa” mới an toàn.

Nói thiệt thì o Huế của tôi cũng có uy lắm đấy, đừng tưởng là o hiền. Đôi lúc vui miệng tôi hỏi o: “Vậy chớ kho rèn ngoài nớ nó rèn cái giống gì vậy ?”, thì o không trả lời mà trừng mắt nhìn tôi !!!

Đến đây, dám có người cho là tôi sinh ra ở gần “kho đạn” Long Bình lắm. Làm gì có chuyện đó. Không tin thì cứ…. đi hỏi o Huế coi. (theo Bùi Thanh Đoàn)

– Huế Xưa – Anh Bằng & Vân Khánh

https://www.youtube.com/watch? v=cTn49Dwvbec

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA

NỬA THẾ KỶ TRƯỚC, PHỤ NỮ SÀI GÒN

ĂN MẶC ĐẸP NHƯ THẾ NÀO ?

Sài Gòn trong những bức ảnh xưa hiện lên với những quý cô xinh đẹp, phóng khoáng và chịu chơi… luôn khiến người ta thích thú.

Sài Gòn đã bước qua những giai kỳ hoa lệ khác nhau, giai kỳ nào cũng tân thời và phồn hoa. Thế kỷ trước, Sài Gòn được những tao nhân mặc khách mà giờ chắc đã ra thiên cổ gần phân nửa ưu ái gọi bằng cái tên Hòn ngọc Viễn Đông.

Tôi luôn tự hỏi, điều gì khiến Sài Gòn được ưu ái gọi tên như thế, do vị trí địa lý phù hợp với những cuộc kinh thương ngoại quốc, do đất chật người đông, ồn ào náo nhiệt với những vũ trường, rạp hát ken đặc người…? Không, có lẽ Sài Gòn được ví như ngọc là bởi con người, nhất là phụ nữ Sài Gòn thời đó.

Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang riêng biệt. Từ một cô gái xa lạ băng ngang qua đường với kiểu tóc “bình bông” và đôi kính râm thôi cũng đủ khiến cánh đàn ông đang đọc nhật trình gần đó phải ngẩn ngơ ngước nhìn.

Hay những cô nàng mặc áo dài đáy thắt lưng ong, mắt kẻ viền đen, tay cầm dù hoa đang vội vàng nhảy lên một chiếc xích lô gần đó để đi cho kịp giờ coi hát cũng đủ khiến các ông các anh chạy theo, xin một lần hò hẹn. Và cả những người đàn bà buôn gánh bán bưng nhưng biết chăm chút từng nét chỉ, thớ vải áo dài để bước xuống đường sao cho ra dáng Sài Thành nhất…

Ngắm nhìn những bức ảnh phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước, tôi đồ rằng đó là phố thị duy nhất trên thế giới nơi một người đàn bà bình thường trên phố cũng mang phong thái của một quý bà dạ hội.

H1: Sự giao thoa giữa tân thời và truyền thống đã được phụ nữ Sài Gòn xưa áp dụng triệt để, nhưng không vì thế mà nó kém xinh, ngược lại nó tôn lên vẻ hiện đại nền nã của phụ nữ thời đó.

 H2: Sơ mi trắng và chân váy ngang đầu gối cũng là một mốt thời mấy chục năm trước của những cô nàng trẻ trung hiện đại. H3: Nhìn lướt qua thôi cũng nhận ra đây đích thực là phụ nữ Sài Gòn. H4: Sự hòa trộn tinh tế giữa tân thời và nét cổ Á Đông.

H5: Cách ăn mặc và ngôn ngữ cơ thể cũng đủ để chứng minh đặc tính phóng khoáng của phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước. Áo dài nền nã là vậy, phụ nữ Sài Gòn dường như vẫn chẳng e ấp mà rất cởi mở, tự tin trong phong thái.

H6: Nhóm kích động nhạc “3 trái táo” (Appe Three) ban nhạc 3 cô gái chuyên biểu diễn ở các hộp đêm với lối ăn mặc vô cùng gợi cảm. H7: Nhưng suy cho cùng, dù Sài Gòn ngày ấy có tân thời cách mấy, những người phụ nữ vẫn ưu ái chọn chiếc áo dài mỗi khi xuống phố. H8: Sài Gòn luôn nắng nóng quanh năm nên dù cũng là phụ kiện không thể thiếu của chị em thời đó.

H9: Kiểu tóc pin-up rất đặc trưng của phụ nữ Sài Thành thời trước. H10: Đừng nghĩ phụ nữ Sài Gòn cách đây nửa thế kỷ chỉ biết ăn diện mua sắm, mà đọc báo cũng là một thú tao nhã của chị em. Trong ảnh là một cô gái đứng mua báo tại một kiôt góc đường Tự Do – Nguyễn Văn Thinh (nay là Đồng Khởi – Mạc Thị Bưởi). H11: Ngoài đi bộ dạo phố, nhiều quý bà, quý cô còn chọn xích lô làm phương tiện di chuyển hàng ngày.

H12: Một cô gái đang chăm chú đọc tạp chí Salut Les Copains magazine – tạp chí Pháp rất nổi tiếng vào những năm 60 tại Sài Gòn. H13: Áo dài và xe đạp là hình ảnh thường thấy trong những hình chụp phụ nữ Sài Gòn hơn nửa thế kỷ trước.

H14: Phụ nữ Sài Gòn ngày trước cũng rất ưa đi mua sắm, vào những buổi cuối ngày mát mẻ, chị em hay rủ nhau đến các thương xá để chọn mua những món đồ yêu thích. H15: Một “Paris Phương Đông” phồn thịnh với cub, vespa và những quý cô hợp mốt với chiếc Honda PC.

H16: Một người phụ nữ Sài Gòn mặc áo dài phi bóng tím, tay cầm dù đang ung dung dạo phố tại Công Xã Paris trước 1975. H17: Váy suông cùng họa tiết đơn giản luôn là món đồ được những chị em trẻ tuổi Sài Gòn yêu thích. H18: Khi phụ nữ Sài Gòn đi lễ chùa đầu năm.

H19: Một lối nhỏ kinh kỳ hoa lệ có cô gái Sài Gòn đang vội chân đi. H20: Xe Lam mini, váy bút chì, tóc bob, kính râm thì còn gì hiện đại hơn ? H21: Những quý bà thành đô đang qua đường trong những ánh nhìn ngẩn ngơ. H22: Thật không ngoa khi nói Sài Gòn là phố thị đài các của phương Đông.

H23: Áo dài thướt tha, tóc bay trong gió thì luôn có những ánh mắt dõi theo. H24: Một góc phố giai nhân của Sài Gòn. H25: Quần ống loe – mốt của những năm 70 được phụ nữ Sài Gòn nhiệt liệt chào đón. H26: Những chiếc đầm rất mốt đã được phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước diện chỉ “chậm” hơn xu hướng của thế giới vài tháng.

H27: Quý cô Sài Gòn xưa vừa hiện đại, vừa đài các. H28: Nghinh tân những vẫn thủ cựu, Sài Gòn vẫn luôn là một bức tranh lập thể tuyệt vời như thế. H29: Một cô gái mặc áo dài trắng, đeo khăn trắng và tạo điểm nhấn bởi cặp kính đen, trông không khác nào một bức ảnh bìa của tạp chí nước ngoài. H30: Ngoài những cây dù, kính râm cũng là một phụ kiện không thể thiếu của các quý cô Sài Gòn xưa, vì nó giúp họ toát lên sự thời thượng, sang trọng.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

KÝ ỨC MỘT THỜI SÀI GÒN

KÝ ỨC

MỘT THỜI SÀI GÒN

Hồi trước, ở Sài gòn, cánh đây lâu lắm, tròm trèm… nửa thế kỷ lận nhen… Tất cả cái loại xe hơi, hai đèn trước, đều phải có “mắt mèo” nghĩa là phải sơn màu vàng lên 1/3 bên trên mặt kiếng của đèn trước, ý là… hỏng cho bác tài pha đèn ban đêm, làm chói mắt người hay xe chạy ngược chiều ! Bởi vậy, bác tài có muốn… chơi ác pha đèn, cũng… bó tay !!!

Khúc đường gần bịnh viện đều có bảng “cấm nhận kèn” để bịnh nhân khỏi giựt mình!

Xe đậu trong đường Sàigon đều phải tuân theo bảng đậu “ngày chẵn lẻ”… Tất cả xe tắc-xi đều sơn trùng một màu xanh hoặc vàng xanh, ý là để “khách bộ hành” biết nó từ đàng xa để… quơ tay đón và cũng. có ý là nếu, hỏng… phải xe tắc xi, mà là xe du lịch tư nhân lại đi ”dù” rước khách… kiếm chút cháo là biết liền, cũng dĩ nhiên, xe nào “nhảy dù” như vậy, bị bắt là bị phạt, lớ quớ còn bị tịch thu bằng lái !

Xe tắc xi phải có đèn hộp “bắt chết luôn” trên mui xe, về đêm, hộp đó có đèn cháy sáng để khách biết mà… dơ tay đón… để cho khỏi lộn với xe du lịch !

Xe buýt cũng phải sơn một màu đặc trưng riêng để dể phân biệt với xe đò… Ví dụ Xe Buýt Vàng thì… sơn màu vàng đặc trưng… khác thiên hạ… Bến xe nầy ở gần Bà Quẹo… mà bà con gọi là Bến-Tô-Bít-Vàng…  Kế bến xe buýt vàng nầy có hãng cơm xấy Hồng Hoa (?) làm cơm xấy cho lính…

Bắt đầu 18 – 20 tuổi… mới cho thanh niên lái xế hộp 4 bánh du lịch… để lấy le, sau đó vài ba năm, bác tài… trẻ mới lên được 1 “hạng”, rồi cày vô lăng… vài năm nửa, mới cho… mó tới xe tải, rồi “chạy xe” thêm vài niên, mới “đủ ngày” để lấy dấu E để lái xe đò, nghĩa là khi bác tài lái… mấy chục tánh mạng hành khách, thì bác tài… vô tuổi trung niên rồi, nên… hết máu thanh niên, háo thắng, ưa nóng gà… chạy ẩu !!! Chớ không có cái chuyện “giao trứng cho ác” được !

Ở ngã tư đèn đỏ, có vạch sơn trắng, tất cả xe cộ đều ngừng sau vạch đó, xe nào cáng mức sơn, mà nhè ông đạp xích lô thấy được… ổng chửi cho tắt bếp, quê lắm nhen !!!

Nhà bán thuốc tây, thì bảng hiệu đề Nhà Thuốc Tây hoặc Nhà Thuốc Gác (đó là danh từ chung) chớ khộng ai lấy Tên Riêng (danh từ riêng) để đề bảng hiệu bán thuốc tây ! Hai bảng hiệu nầy luôn luôn là bảng màu xanh đậm và chữ trắng, nó còn có hộp đèn chữ thập xanh gắn thêm, để đêm hôm, người mua thuốc… đứng ở xa, cũng thấy ! Tiệm nào bán thuốc bắc thì có chữ “đường” ở sau, Ví dụ : Vĩnh Sanh Đường, Nhị Thiên Đường, Thiên Hòa Đường…

Còn chùa thì có chữ “tự”… dính ở sau, ví dụ : Huỳnh Kim Tự, Thới Hòa Tự, Long Vân Tự, Linh Sơn Cổ Tự…

Tiệm bán vàng thì bảng hiệu chỉ có 2 chữ, chũ  đầu luôn luôn là chữ “kim”, ví dụ: Tiệm vàng… Kim Hưng, Kim Liên, Kim Sen, Kim Hoàng, Kim Phát…

Địa Danh ít khi dùng chữ Thái (kỵ húy vua Thành Thái ?) mà dùng chữ Thới : Ví dụ: Thới Bình (Cà Mau), núi Châu Thới (Biên Hòa), Bình Thới (quận 11), Tân Thới Hiệp (chỗ tập lính QT) Thới Tam Thôn, Thới Hòa (Vinh Lộc) Thới Nhứt, Thới Nhì, Thới Tam, Thới Tứ (Hóc Môn), Xuân Thới Sơn (chỗ đương trạc, giỏ tre… )

Nhà dân cất dọc đường lớn, xa lộ, người ta luôn luôn tự động cất nhà thụt lùi vô trong, ở xa lộ, cách Xa Lộ ít nhứt là 50 mét ! Lý do là để cho an toàn chuyện xe cộ, thứ 2 nếu có mở rộng đường xá thì khỏi phải dời nhà… Nhà mà dời đi, dời lại là điều ông bà xưa kiêng kỵ, nên, hỏng ai ham lú mặt ra đường ! Dọc đường cái trống trơn, hỏng ai… dám gan, tới chỗ đó… tự nhiên cất nhà…

Nếu gan cùng mình, cất nhà đại… thì cứ cất, đợi cất xong, bên Điền Địa hỏi Bằng Khoán đất, hỏng có, thì “coi như”… gia chủ xách tụng đi ăn mày… ở tòa bố ! Còn những tên cất nhà, mà lấn từng tấc đất, bà con nói nhẹ rằng “thằng đó hết xài” ! Thằng nào “hết xài”… thì nó, chỉ còn nước… đội quần mà đi, nhục lắm !!!…

Ở Sàigon, cái vụ học hành, có ba thứ trường để học :

Trường Công Lập, Trường Tư Thục và Trường Hàm Thụ

TRƯỜNG HÀM THỤ là trường… mà… hỏng ai tới trường ! Bất kể ai, vì hoàn cảnh gì đó không tới trường học trực tiếp được, thì cũng có cách học để tiến thân, đó là “học trường hàm thụ”. Nghĩa là, cứ… đi làm sở, làm sùng tà tà hay làm việc nhà nấu cơm hoặc cày sâu cuốc bẩm đồng sâu nước mặn…

Nếu muốn tiến thủ trong cuộc đời… thì ghi danh học Trường Hàm Thụ, trường sẽ gởi Bưu Điện bài học, bài làm tới nhà và làm bài xong, gởi bưu điện tới cho trường chấm bài, rồi trường gởi bài tiếp… Cứ thế… cứ thế… Chỉ tới ngày thi, thì thí sinh phải đi thi mà thôi… Bởi vậy, anh em nào có tinh thần cầu tiến, cứ học, nếu thi đậu thì đáng nể lắm !!!

TRƯỜNG TƯ THỤC thì học sinh phải “đóng tiền trường” hàng tháng và bằng Tú Tài cũng giống y như học sinh Trường Công Lập…

TRƯỜNG CÔNG LẬP là… trường công, học sinh không đóng tiền trường suốt 7 năm Trung Học… Đặc biệt, trường Công Lập nam nữ… lại cho học riêng, như :

– Nữ Trung Học : Lê Văn Duyệt, Gia Long, Trưng Vương… vv…

– Nam Trung Học: Hồ Ngọc Cẩn, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Pétrus Ký, Lý Thường Kiệt, Quốc Gia Nghĩa Tử… vv… Mạc Đỉnh Chi (nam nữ cùng trường)

Ở trường công nam, Nam Sinh mặc đồng phục Quần xanh áo trắng… bỏ áo vô thùng, trên miệng túi áo, có ghi tên trường hẳn hẹ… nên đố thằng nào… dám hó hé! Ở trường công nữ, Nữ Sinh đồng phục là mặc áo dài trắng, quần trắng… Có… thời khắc “mấy nhỏ áo dài trắng”… bắt chước mấy cô ca sỹ Sàigòn, bận áo dài vạt “lửng”… còn tay áo thì kiểu “rặc lăn”… là… tay áo dài nối vô thân áo…

Mấy anh chàng Nam Sinh trường công vì học chung “tòn-là đực rựa”… nên nhiều thằng dòm… quí nàng áo dài… vạt lửng… bước đi với tà áo (cố tình) thước tha yểu điệu, tụi đực rực… áp nhau thấy, tụi nó… rụng rúng bầy bầy !!! Hì hì…

Bởi vậy, mới có chuyện, mấy “tay tổ” trường công nam, cúp cua vô Lăng Ông Sở Thú Tao Đàn… để “trồng cây si” mấy nàng áo trắng, thây kệ chuyện, bị… cồng-sing !!! Và… thấy tiếp… ở Sàigòn năm xưa…

Cây xăng nào cũng có “vòi bơm bánh xe gắn máy, xe hơi” đứng ở giữa hai trụ xăng… Đang chạy xe, thấy bánh xe mềm, tấp vô cây xăng, dựng xe trước “cây bơm”, lấy tay “quây” cây kim hơi, về số 5 (5 năm ký hơi)… rồi ung dung ngồi xuống, mở nấp vòi, ịnh đầu bơm hơi vô vòi ruột xe… để cho nó tự bơm, cây kim bơm hơi, quơ quơ nghe cạch cạch cạch, tới khi, nghe kêu cái teng, đủ hơi, là máy bơm tự động ngừng bơm… Bơm xe như vầy, nghe… nó phẻ cách gì, chớ 2 tay “thụt ống bơm”… mệt lắm !!!

Nhưng… úi chà… cứ bom cây xăng riết, ruột xe Honda tòn – là… nước không hà ! Biết được ruột xe có nước là do vô vá xe tại tiệm sửa xe “Sĩ Solex” kề bên trường Lê văn Duyệt và bên kia đường… có rất nhiều ruộng rau muống xanh um !

Trên đường Phan Đình Phùng Sàigòn 3, kề bên chợ Vườn Chuối có đường xe lửa chạy ngang và bên kia đường rầy, có căn nhà 3 từng, đó là nhà “cho mướn sách” Cảnh Hưng. Cho mướn sách là cho độc giả… mượn sách về nhà đọc, nhưng phải “đóng tiền thế chưn” bằng 1/2 giá tiền sách in ở trang bìa, khi đem trả sách, Cảnh Hưng trừ tiền mướn vô tiền thế chưn, tiền mướn, cứ 1 cuốn 1 đồng 1 ngày… răng rắc !

Mấy nhà bán sách và tác giả có sách xuất bản… hỏng vui với Cảnh Hưng… Nhà Cảnh Hưng chứa sách để cho mướn… hỏng biết mấy chục ngàn cuốn, vì sách nằm trong kệ… đen nghẹt, bít kín từng trệt và 2 từng lầu… Ông Cảnh Hưng… tướng tá… hơi nhỏ con nhưng vui tánh, học trò khoái lắm ! Thằng học trò nào mê Kiếm Hiệp, muốn luyện chưởng hay… muốn đột nhập “cái bang vài ba túi”… thì tới đây… tìm bí kíp !!!

Ông Cảnh Hưng… biết tẩy học trò hết ráo nhen, thấy mặt, ổng cười hì hì, liền cho mượn cả tuần mới trả, với 2 đồng một tuần… là cái… giá-ghẽ-ghề…  Bởi vậy, học trò “mê đọc sách” Cảnh Hưng… quá xá cỡ là vậy đó đa !!!

Phụ việc ông Cảnh Hưng là bốn năm đứa nhỏ, chuyện môn, chạy đi lấy sách… theo sự “chỉ chỗ” của ông chủ hay lấy sách đọc giả trả, rồi đem sách để “chỗ cũ”…

Ông Cảnh Hưng có trí nhớ… siêu phàm tàn canh gió lốc…

Khi ai tới mướn sách, chỉ cần nói tên sách, là ông Cảnh Hưng, nói liền, thí dụ :

– Bộ Tam Quốc Chí có 3 cuốn, nhưng khách đang mướn cuốn 1 và 2…

– Ủa ? Ông chủ có cả chục bộ lận mà ?

– Thì ờ… người ta mượn hết ráo rồi, giờ còn cuốn 3… Cuốn 1 và 2 mai trả…

–… vậy đi… lấy tui cuốn 3… cũng được !

Ông Cảnh Hưng ra lịnh :

– Tèo, mầy lên từng 2 kệ số 7 ngăn 6 lấy cuốn 3 bộ Tam Quốc Chí cho ông Hai !

Học trò Đệ Lục nghe ông Cảnh Hưng… nhớ từng vị trí cuốn sách nằm ở đâu trong rừng sách từ trên lầu xuống tới đất… thấy mà xám hồn luôn !!!

Ông Cảnh Hưng có quen với nhiều nhà xuất bản, như Yên Sơn (Phú Nhuận) chẳng hạn, khi đang sách in, ông… được ưu tiên “thộp” một mớ… đem về cho mướn trước, khi nào in đủ số, sách… mới phát hành ! Bởi vậy, coi sách “nóng hổi” là vậy !  Mỗi loại sách, Cảnh Hưng có ít lắm 15 bộ mới đủ cho mướn…

Đặc biệt, những cuốn sách hồi xưa, xa lắc, xa lơ… xuất bản từ hồi… bà cố hỉ cố lai 8 đời vương ông hoãnh… nhà Cảnh Hưng cũng có !!! Như cuốn Tôi Kéo Xe của Tam Lang hay cuốn Con Trâu của Trần Tiêu in năm 1940 hoặc cuốn Chồng Con in năm 1941 !!!  Biết “rõ” như vậy là do Cô dạy Việt Văn cho “thuyết trình” ở lớp những Tiểu Thuyết xưa, mà sách… xưa ơi là xưa, thì chỉ có ở nhà Cảnh Hưng !!! Thế là học trò Đệ Lục tức tốc mượn về, để… mần thuyết trình trong lớp…

Sách cho mướn, được bao thêm bìa giấy xi măng, trên đó, viết chi chít ngày mượn…

Ngoài ra, học trò muốn mượn “cuốn nào hây hây”, thì… hỏng hiểu “do đâu”, ông Cảnh Hưng liền nói tuốt luốt một lèo cho nghe, cái nội dung cuốn “sách hây” hoặc là bất kể cuốn nào mà học trò còn… mù mờ, nghe xong, thế là học trò mượn liền ! Ông Cảnh Hưng còn… quảng cáo cuốn sách… thứ dữ… “chỉ tao mới có”…

Sách nầy thuộc loại “cái ban môn phái” mà học trò khi ấy… đang muốn luyện thử !  Đó là cuốn Lục Tàn Bang (quên tên tác giả) Đây là cuốn sách viết về… cái bang bảy tám túi, coi… hay hết kỵ luôn:

Lục Tàn là 6 nhân vật (tàn tật) gồm : Thằng đui, thằng điếc, thằng mất 2 giò, thằng mất 1 tay, thằng mất 1 chưn, thằng cụt 2 tay. Thằng đui làm… Bang Trưởng Lục Tàn !!! (ối trời… *&%#?><… ) Sáu ông cố tàn nầy… luyện chưởng, luyện gồng, luyện nghe, luyện thấy, luyện chạy… thuộc hàng cao thủ võ lâm… để trả thù cho sư phụ bị sát hại năm xưa…

Giới giang hồ cho rằng “môn phái” đó bị tiêu diệt, khi 6 đệ tử sau cùng bị thương nặng trong rừng, không ai cứu chữa và ai cũng tưởng… chết hết rồi ! Mấy thằng học trò Đệ Lục coi say mê Lục Tàn Bang luôn !!! Có thằng còn “luyện thử”… cách dòm xuyên màn đêm của cao thủ Lục Tàn Bang !!! Bởi vậy, thằng nào… non tay ấn, luyện nhản riết, tới độ mang kiếng cận dầy cui, chớ ở đó mà đổ thừa “tại bị”… rồi nói dóc là “tao lo học” tới cận thị!!! Ba-xạo quá nha mấy cha!!!

Trên đường Phan Đình Phùng, sáng sáng có xe lấy rác, có gắn cái chuông kêu leng keng. Cuối hẻm 376 là đình Phú Thạnh, là chỗ con nít ưa tụ tập, thả diều, bắn đạn… Trước nhà số 380 Phan Đình Phùng Sàigòn 3 có “phong tên” nước công cộng… Ở đó có đông người “chuyên gánh nước mướn”, được bà con các hẻm xung quanh “mướn” gánh nước mỗi sáng sớm, gánh từng đôi nước về nhà… Mấy bà (cô) gánh nước khoái đọc cuốn tiểu thuyết Rặng Trâm Bầu của Lê Xuyên !

Nước phong tên ở đây được chảy từ cái sa-tô-đô cũng nằm ở đường Phan Đình Phùng… và và… nếu ai… hà tiện, thì khi khát nước, cứ lại phong-tên khòm lưng mở vòi uống… chùa… Bà con gọi là “uống nước khum”…

Cùng phe gánh nước mướn ở phong-tên, cũng có mấy người “ở đợ” nhưng được gọi nghe cho… nhẹ hơn là “con sen”, sáng sớm cũng ra gánh nước về nhà cho chủ… Lúc đó và sau đó, Tân Nhạc với điệu Boléro thịnh hành trên khắp nẻo đường và có nhiều bản nhạc “hợp với tâm trạng – hoàn cảnh” nên Ca Sỹ thứ thiệt hát là rung động trái tim, nên được mấy bà chị gánh nước khoái, cứ nhè mấy bản đó hát mãi, tiếng ca “nhảo nhẹt” mà hát… hoài hoài hỏng biết chán, bà con nghe riết phát nhàm…

Dần dà, cộng thêm mấy chị… ma-ri-sến ”làm sở Mỹ”, rồi dân vũ nữ quán Bar, phòng trà… thuộc loại quá “date”… cũng hát những bản điệu Boléro thịnh hành ! Ma Ri Sến thất nghiệp cũng về gánh nước và cũng hát “bản tủ” như mấy chị kia… Cứ hát riết, phát ngấy, bà con gọi giọng hát đó là… giọng rên… ma ri sến !!!

Mấy chị… sáng sớm vừa chờ nước vô thùng vừa hát tân nhạc véo von, chỉ có vài bài tủ, mấy chị cứ hát riết nghe… phát mệt… (Đã vậy, nó còn “cộng hưởng” rồi “trùng tên” với… cái vụ con gái rơi của ngài thượng sĩ – tổng thống da đen Bocasa bên châu phi, tên cô là Mary… Cô Mary gái lai đen nầy ở vùng Ngã Năm chuồng chó, ngài tông-tông Bocasa nhờ báo Trắng Đen tìm dùm, thế là cô Mary… trở thành ngọc ngà châu báu… ) Và “miệng thế gian”… đặt cho chết tên cho giọng ca… mới nổi, giọng ma-ri-rến !

Giọng marisến… làm mệt lỗ tai… thính giả ! Hát “bản nhạc tủ” miết, làm cho nó… lờn, tới độ, bà con nằm nhà hay đi ngang… nghe… thì biết là tiếng hát của con Sến nào !!! Khi ở nhà bà chủ, tên là Con Sen, sau đó, nàng ra Vũng Tàu làm “ma ri sến”… ở mấy cái Bar Thiên Thai, Ạc-ăng-Sen… ở Bãi Trước… Vì vậy, giọng ca con sen hay con sến… đều như nhau… Và bà con… giận, khi nghe hoài mấy bản nhạc “tủ”, nên nói : – Mấy con nhỏ đó… là sến nướng… nên ca hoài !!! – Mấy con sến đó… ca đi ca lại miết, nghe mệt thấy mẹ !!!

Ở đầu đường Phan Đình Phùng, có nhà số 3 đó là Đài Phát Thanh Sàigòn… Ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt có tòa đại sứ Miên, bên kia đường là cây xăng rất lâu đời và ở ngã tư nầy, năm 63 hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu… Cũng ở ngã tư nầy, có tiệm cơm tàu, ở đây có món “cơm thố”… ngon bá chấy !!! Cơm thố được hấp trong cái xửng tre có cả chục ngăn, thố là chén nhỏ rí, chừng 3 muỗng cơm, vì vậy, ăn xong, thố chất 1 chồng 15 cái… cao như núi !!! Một số… dân chơi cầu 3 cẳng, loại tứ hải giai huynh đệ… tới ăn cơm thố ở đây, ý là, để khoe chồng thố cao nghệu… để “lấy le” với thiên hạ… đó nha bà con !!!

Phan Đình Phùng… cụng vô đường Lý Thái Tổ… ngay tại ngã ba… Ở ngã ba nầy, có Phòng Trà Lệ Liễu và chủ Phòng Trà là chị Ba Liễu ! Quán “Chị ba Liễu” là chỗ gặp mặt mỗi chiều tối của rất nhiều Nhạc Sỹ – Ca Sỹ Sàigon trước khi đi hát Phòng Trà hay Hát Rạp hoặc quán Bar… Đây là “quán ruột” của Thanh Kim, Đệ Nhất Danh Cầm Hạ Uy Di… DK, MLH, GL… hát ở Phòng Trà Lệ Liễu cho khách (rất đông) thưởng thức…

Thí dụ : DK ca bài Ai Ra Xứ Huế thì chị ba Liễu “trả công” là 1 ngàn 8… Có “chàng – lính” bận đồ trận bốn túi, đội Bê Rê đen, vì là em (đệ tử) của Thanh Kim, nên chàng ta… xâm mình, bậm gan, đổ lỳ, dám… thót lên sân khấu Lệ Liễu để hát bài Đường Xưa Lối Cũ và bài Tàu Đêm Năm Cũ… (cũ mèm không hà) .

Chàng hát… một cách khơi khơi, trong khi Nghệ Sỹ thứ thiệt ngồi lủ khủ ở đó… Chàng lính trận nầy, vì ỷ có Thanh Kim… lo, nên hỏng lo trật nhịp, chàng ta cất tiếng… véo von liên tiếp hai bài tân nhạc, thì Chị Ba Liễu… coi bộ… nghe được được, chị… tức tốc tiến ra sân khấu, liền… móc bóp, xỉa cho chàng 9 trăm đồng… gọi là “lính góp vui”, rồi Chị Ba còn… xúi… (quá đã) – Đêm nào, nếu rảnh… em tới hát nhen !!! Lính mà… hát vậy, được đó…!!!

– Dà dà… $%%$!!! (vô mánh) Anh chàng lính nầy, về đơn vị… móc xấp tiền, dứ dứ lên trời… hét: – Bữa nay, tao đãi anh em cả làng một chầu… cơm tấm – cà phê – thuốc lá !!! – Chắc còn… dư bộn tiền đó ông thầy !!! – Thì thì… Băm 3 mí lỵ tôm khô củ kiệu… cho sạch nhách luôn !!! – Hoan hô thẩm quyền !!! – Hé hé… cho xin chữ ký đi ông… khò khò…

Phòng trà Lệ Liễu là chổ Nghệ Sỹ Sàigòn… tụ lại nói dóc, trước khi đi hát… Và cũng là chỗ “tụ tập” của những tay tổ đờn vọng cổ Văn Vỹ, Năm Cơ, Ngọc Sáu… Khi Ca Sĩ hát xong tới khua, trước khi về nhà, lại tụ nhau ở quán Cháo Đêm sau hàng cây… dái ngựa cổ thụ ở đường Hồng Thập Tự, quán cháo cũng gần đường xe lửa từ bên đường Phan Đình Phùng chạy qua…

Cũng ở đường Phan Đình Phùng, ngay trong vòng chợ Vườn Chuối là nhà của Soạn Giả Nguyễn Phuong, khi ấy anh Nguyễn Phương có đứa con gái nhỏ cỡ trên 10 tuổi và nó cùng với Ba Má… đặt lời thoại cho vở cải lương !!! Cô gái nhỏ cùng ba má ngồi 3 góc trong phòng, đóng làm 3 nhân vật… nói chuyện, rồi đánh máy luôn, đó là ”làm thoại” để Nguyễn Phương “lấy câu trẻ con” soạn tuồng cải lương… Đó là cách Nguyễn Phương đang soạn tuồng và… bị bắt tại trận… hì hì…

Nguyễn Phương là Đạo Diển cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga và mỗi tuồng cải lương được đánh máy sáu bảy bản để cho anh em “nhắc tuồng” đứng sau màn nhung hay cánh gà… đọc câu cho Đào Kép đứng ở ngoài sân khấu… nói hay ca !!! (cứ tưởng Đào Kép học thuộc lòng hết vở tuồng, hỏng có đâu nhen !!!)

Từ ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt chạy lên tí nữa là Ngã 6 Sàigon, ngay “bùng binh” ngã 6 nầy, có xe lửa chạy qua và là chổ bắt đầu của đường Yên Đổ, ở đây, trên đầu đường Yên Đổ,có khu Kiều Lộ (sửa, tráng dầu đường hư… ) Nằm chung trong khuôn viên khu Kiều Lộ… là Sở Phú De đó đa!!! Phú De là chổ… nhốt chó chạy rong, bị “xe bắt chó” bắt được trong đường phố! Ai mất chó, cứ vô Phú De tìm là y như rằng… nó ngự ở đó và bỏ tiền chuộc chó về! Bởi đó, hồi xưa, DA trong báo CO có viết bài Phú De Giao Chỉ, đọc nghe nhức xương Trong khu Kiều Lộ nầy có cái… cưa tay, bự chà bá, dùng xẻ gổ lóng…

Ở đây có Kỹ Sư Bê và Hồ Lợi và Hồ Lợi là dân chơi tài tử… chánh cống bà lang trọc. Trong văn phòng khu Kiều Lộ của Hồ Lợi… có tùm lum… đờn cò, gáo, xến, ghi ta thùng, ghi ta phím lỏm… treo tá lả trên tường, để nhân viên nào… quởn mà khoái đờn vọng cổ thì cứ vô… tập dợt thả giàn và… Hề Minh và danh cầm Thanh Kim, Tạo Minh Đời… vv… xuất thân từ đây ! Hề Minh là danh hề diễu có tiếng trên bầu trời Cải lương một thời…

Tạo Minh Đời cười được 18 giọng riêng biệt và còn có khiếu một mình vừa nói giọng ông nội, giọng cháu nội trai, gái, giọng con gái… rất hay, giống y giọng… như trong “gia đình bác tám”… nhất là giọng chó mèo cắn lộn… là nghe hay hết phản luôn ! Nhứt là… mở đầu câu… a… bê… cê… ca… nháy giọng xe lửa đề pa… của bản Chuyến Xe Lửa Mồng Năm của Trần văn Trạch… y chang Trần văn Trạch !… nhưng “hỏng có thời” nên anh Đời không nổi tiếng như anh Minh và anh Kim… Thanh Kim là Đệ Nhất Hạ Uy Di Cầm chuyên đờn 6 vọng cổ… nhưng né… ló mặt trước bàn dân thiên hạ truyền hình,

Thanh Kim chỉ đờn cho gánh hát và chơi tân nhạc cho quán Bar và Phòng Trà và học trò Thanh Kim là TKH… – Anh Kim, sao anh chỉ “thâu dỉa” mà hỏng thấy anh lên sân khấu hay truyền hình ? – Tao… xí-giai thấy bà… miệng rộng tàn hoạt, cười hô hố, tướng tá như đấu bò ! – Thì… có sao đâu… – Tao… trốn… để khán thính giả tưởng tao… đẹp trai đó mầy… hỏi hoài !!! – Ờ ờ… hehehe…

Năm 1965 đường Xa Lộ Saigon – Biên Hòa làm xong và dọc bên đường xa lộ đang đào để xuống ống cống vuông vuông lọt lòng trên 2 mét của Sàigòn Thủy Cục… Lúc đó, chạy xe gắn máy ở Xa Lộ thiệt… là êm, êm như mơ… Do đó, mấy tay anh chị… mới dám đi Gobel, Sachs, Rummi… chui lòn qua bụng xe be trên có 3 lóng gỗ… dài thòn bự tổ kền, đó là… chọt lét tử thần !!!

Cũng thời… xa xưa ấy, khi chở “người đẹp” ngồi đằng sau Xe Gắn Máy thì hai chân người đẹp Để Về 1 Bên, không Cô nào… dám gác cẳng 2 bên !  Nếu xe chở là chiếc Vespa Spring… thì thấy “nàng” ngồi sau… ôm eo ếch bác tài… thì… thì… ngó, thấy… đẹp như mơ luôn !!! Còn nói gì “mấy nhỏ áo dài trắng” đi Vélo Solex… thì dòm… hết phản nghen!

Gỗ rừng đem về đổ đống ở chỗ ngã ba xa lộ đi Vũng Tàu, nên ngã ba nầy có tên Ngã Ba Bến Gỗ… Từ ngã ba Bến Gỗ tới một xí là Căn Cứ Long Bình của Quân đội Mỹ… Chỉ mỗi phút buồn mà… quá xá chuyện xưa tích cũ…(theo Chàng Hiu 374)

Yên Huỳnh chuyển tiếp