TỬ VI TÂY PHƯƠNG THÁNG 4/2018

GIEO QUẺ THÁNG 4/2018 CỦA BẠN

1/- Bảo Bình (20/1 – 18/2)

Trong tháng này, Bão Bình sẽ hoàn thành công việc tốt nhất nếu làm việc một mình. Bão Bình cũng sẽ có vài lời đề nghị hấp dẫn từ một vài đối tác. Vào khoảng ngày 7 hoặc 8 tuần thứ hai của tháng, Bão Bình sẽ nhận ra có một người đặc biệt có ích với bạn. Vấn đề là bạn nên phối hợp với người ta hơn là chỉ tin tưởng, và cùng tìm ra mối quan tâm chung.

Vào những ngày trung tuần, Bão Bình nhận ra những khao khát của mình hoàn toàn trong tầm với và với những chiến thuật đúng đắn, Bão Bình sẽ đạt được những gì bạn mong muốn. Từ tuần thứ tư của tháng, Bão Bình nhận ra những ý tưởng của mình rõ rệt hơn, và nếu có một cơ hội nào đó đến với bạn, rất nhanh chóng, bạn sẽ nắm bắt được nó.

Cũng từ khoảng thời gian này trở đi, Bão Bình có thể tìm ra những điều bổ ích từ một số cuộc hành trình, có thể là một hành trình bạn đã trì hoãn một thời gian dài. Tuy nhiên, chỉ cần Bão Bình xê dịch từ A sang B, bạn sẽ nhận ra có vô vàn điều bổ ích vào ngày thứ bảy đấy.

Ngày may mắn: 5, 6, 14, 15, 23, 24

Ngày không may mắn: 2, 3, 10, 11, 16, 17, 29, 30

Ngày cho tình yêu: 1, 12, 14, 15, 21, 22, 25, 29, 30

Ngày cho tài chính: 2, 5, 6, 12, 16, 17, 20, 21, 25, 26, 29

Ngày cho công việc: 1, 12, 16, 17, 21, 22, 29, 30

2/- Song Ngư (19/2 – 20/3)

Tháng 4 này, các Song Ngư sẽ cảm thấy thích thú với những trải nghiệm khác với bình thường. Nhìn chung đây là một điều tốt. Tuy nhiên, Song Ngư không muốn quá vội vã ôm đồm cái mới, đặc biệt là những việc liên quan đến tiền bạc. Từ thượng tuần tháng 4, hầu bao của Song Ngư có thể sụt giảm. Bạn hiểu nhầm những con số, số liệu và đưa ra một kết luận sai. Tuy nhiên, vào thời gian này Song Ngư hãy đặt ra cho mình những mục tiêu mới, dẹp bỏ những điều trong quá khứ không còn hữu ích với bạn nữa.

Về mặt tình cảm của Song Ngư, có thể người yêu bạn đang đưa ra những quyết định quan trọng. Và nếu bạn không thúc giục họ, thì kết quả cuối cùng sẽ khiến bạn thực sự hài lòng. Cuối tháng, Song Ngư có thể bị “cám dỗ” làm những việc liều lĩnh, điều này sẽ dẫn bạn tới nhiều hình ảnh tốt đẹp. Vì vậy, Song Ngư cần luôn luôn tuân thủ những nguyên tắc của bản thân, là tránh những toan tính quá mức bằng bất cứ giá nào dù ngày nghỉ dài ngày đang cám dỗ bạn. Ngày chờ tin có thể vào thứ năm sẽ đến.

Ngày may mắn: 2, 3, 12, 13, 21, 22, 29, 30

Ngày không may mắn: 1, 7, 8, 14, 15, 27, 28

Ngày cho tình yêu: 1, 8, 12, 21, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho tài chính: 7, 8, 9, 16, 17, 18, 23, 24, 25, 26

Ngày cho công việc: 4, 5, 14, 15, 16, 17, 25, 26

3/- Bạch Dương (21/3 – 19/4)

Tháng 4 có lẽ không phải là tháng tốt nhất trong năm của Bạch Dương. Nhưng bạn có vị thần hộ mệnh nên mọi sự đều chuyển từ hung sang kiết, Có kha khá rắc rối xảy ra và bạn bận rộn tới mức chẳng có thời gian nghỉ ngơi. Cần chú ý những căng thẳng có thể nảy sinh trong gia đình, nhưng như đã nói “tiền hung hậu kiết”.

Sự nghiệp của Bạch Dương càng phát triển thì có nhiều người sẽ ghen tị với bạn. Điều quan trọng là để mọi thứ nằm trong tầm kiểm soát và tránh va chạm với những người khác. Về vấn đề tình cảm, sự lãng mạn của Bạch Dương sẽ được cất cánh. Và có lẽ một người đặc biệt nào đó đã sẵn sàng để đưa ra quyết định cuối cùng.

Cuối tháng, Bạch Dương sẽ phải đối diện với một tình huống oái ăm được tạo ra bởi những người khác. Tuy nhiên đừng hoảng hốt vì bạn sẽ giải quyết được mọi chuyển ổn thỏa. Hãy đón một ngày thứ năm trong tháng sẽ khiến Bạch Dương hài long.

Ngày may mắn : 1, 10, 11, 19, 27, 28

Ngày không may mắn : 5, 6, 12, 13, 25, 26

Ngày cho tình yêu : 1, 5, 6, 12, 21, 22, 29, 30

Ngày cho tài chính : 7, 8, 16, 17, 21, 22, 25, 26

Ngày cho công việc : 5, 6, 12, 13, 14, 15, 25

4/- Kim Ngưu (20/4 – 20/5)

Trong suốt tháng 4 này, mối quan hệ giữa Kim Ngưu và những người khác có thể gặp chút sóng gió, và những tranh luận có thể đến từ những chuyện chẳng ra đâu. Tuy nhiên không có nghĩa là phải tránh các mối quan hệ. Và những ngày của tuần thứ hai trong tháng, Kim Ngưu sẽ rất ổn với những mối quan hệ về hợp tác.

Về sự nghiệp, tháng 4 là một tháng thực sự tốt. Nhưng Kim Ngưu cần phải cân bằng tham vọng với những điều bình thường. Tất cả các bước phải được thực hiện một cách hợp lý. Nói đơn giản, không được đi tắt !

Từ những ngày hạ tuần tháng 4, Kim Ngưu sẽ có một nguồn năng lượng to lớn. Tuy nhiên, quan trọng là bạn ý thức được giới hạn của mình – quá nhiều năng lượng, cùng với sự thiếu quan tâm chi tiết, có thể gây ra thảm họa. Tuần cuối cùng của tháng 4, Kim Ngưu hãy cố tránh rủi ro, đặc biệt là trong môi trường làm việc của bạn. Lưu ý vào ngày đầu tuần nhé Kim Ngưu.

Ngày may mắn: 7, 8, 16, 17, 25, 26

Ngày không may mắn: 2, 3, 10, 11, 23, 24, 29, 30

Ngày cho tình yêu: 1, 10, 12, 18, 19, 21, 28, 29, 30

Ngày cho tài chính: 5, 7, 8, 14, 16, 17, 18, 19, 23, 25, 26

Ngày cho công việc: 5, 6, 10, 11, 14, 15, 25

5/- Song Nam (21/5 – 21/6)

Tháng 4 này, Song Nam cần xem xét lại mọi thứ và chắc chắn rằng chúng vẫn đang nằm trong trật tự. Ngoài ra, đây cũng là lúc rất thích hợp để chú ý hơn tới sức khỏe của mình.

Về mặt tình cảm, vào thượng tuần Song Nam sẽ gặp nhiều may mắn. Nếu bạn kiên nhẫn thì rất có thể sẽ đạt được những kết quả tuyệt vời vào những ngày cuối tháng. Nhưng trước khi đưa ra quyết định, Song Nam nên ngồi lại và lắng nghe bằng cả con tim lẫn lý trí nhé.

Vào các ngày trung tuần tháng 4, cuộc sống của Song Nam trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn, những sự trì hoãn gần đây sẽ tự động bắt đầu trở lại. Song Nam có lẽ cũng sẽ nhận thấy mình có được một sự may mắn lớn. Bạn bè cũng như đồng nghiệp có thể bất ngờ tặng quà cho bạn. Thậm chí, điều này cũng dự báo rằng một điều ước có liên quan đến những người khác của Song Nam sẽ bắt đầu thành hiện thực. Ngày may mắn vào thứ sáu.

Ngày may mắn: 5, 6, 14, 15, 23, 24

Ngày không may mắn: 1, 7, 8, 21, 22, 27, 28

Ngày cho tình yêu: 1, 9, 12, 18, 21, 22, 27, 28, 29, 30

Ngày cho tài chính: 1, 8, 12, 16, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho công việc: 4, 5, 7, 8, 15, 16, 17, 25, 26

6/- Bắc Giải (22/6 – 22/7)

Tháng 4 là thời điểm để Bắc Giải nhìn lại một số thứ đã qua. Các kế hoạch có thể bị trì hoãn, điều đó khó tránh khỏi. Tuy nhiên vào khoảng trung tuần tháng 4 này, niềm hy vọng mới sẽ được nhen nhóm với những phương thức để giải quyết khó khăn.

Thời gian này, Bắc Giải sẽ cảm thấy mình tràn trề năng lượng để làm việc. Điều này có nghĩa bạn hoàn toàn yên tâm khi gặp gỡ người khác. Các mối quan hệ đều đáng được quan tâm, và thực sự nó tốt đẹp hơn nhiều so với những gì bạn nhìn thấy. Cứ kiên trì và Bắc Giải sẽ tìm thấy điều mình thực sự trông đợi.

Vào ngày cuối tuần thứ ba Bắc Giải sẽ thấy mình trở nên mạnh mẽ và quyết đoán hơn. Khi giải quyết các vấn đề với người xung quanh, Bắc Giải nên bày tỏ rõ ràng quan điểm để tránh các bất đồng. Bắc Giải cũng nên tránh tiếp xúc với những người có tư duy hướng ngoại quá mạnh, đặc biệt là vào cuối tháng. Lưu ý vào ngày thứ ba Bắc Giải sẽ có tin vui.

Ngày may mắn: 2, 3, 12, 13, 21, 22, 29, 30

Ngày không may mắn: 5, 6, 19, 25, 26

Ngày cho tình yêu: 1, 2, 12, 20, 21, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho tài chính: 4, 5, 7, 8, 14, 15, 16, 17, 25, 26

Ngày cho công việc: 1, 5, 6, 12, 21, 22, 29, 30

7/- Hải Sư (23/7 – 22/8)

Tháng này, Hải Sư nên giữ thái độ thận trọng và dè dặt khi xuất hiện dấu hiệu của các rắc rối. Xét từ phương diện tinh thần, Hải Sư trở nên khá hấp tấp, vội vã. Sự cả tin của bạn đôi khi khá nông cạn, thậm chí là thiếu thực tế. Vì vậy, nên bước chậm lại. Nhưng Hải Sư đừng quá lo lắng ưu phiền, vì thần Zeus vị thần bảo hộ tuổi Hải Sư sẽ không để bạn gặp ưu phiền, Cứ an tâm làm việc có trách nhiệm.

Về tình cảm, có người nào đó sẽ cảm mến và sẵn sang chiều theo ý Hải Sư. Tuy nhiên, họ là những người khá nhạy cảm, vì vậy bạn cần đối xử thật nhẹ nhàng. Nếu là một Hải Sư còn độc thân thì đây có thể là lúc bạn gặp được người thực sự phù hợp với mình.

Trong suốt nửa sau của tháng 4, mọi việc sẽ được cải thiện. Hải Sư sẽ trở nên tự tin hơn, và dễ dàng tiếp xúc với mọi người hơn. Trong suốt tuần cuối cùng của tháng 4, Hải Sư có lẽ sẽ làm điều gì đó mà chưa suy nghĩ kỹ. Ngày tốt đẹp trong tháng 4 là ngày thứ ba đấy Hải Sư.

Ngày may mắn: 1, 10, 11, 19, 27, 28

Ngày không may mắn: 2, 3, 16, 17, 23, 24, 29, 30

Ngày cho tình yêu: 8, 9, 18, 21, 22, 23, 29, 30

Ngày cho tài chính: 5, 6, 7, 8, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 25, 26

Ngày cho công việc: 1, 2, 3, 10, 11, 18, 19, 27, 28, 29, 30

8/- Xử Nữ (23/8 – 22/9)

Tháng 4, Xử Nữ sẽ muốn đạt được một thứ gì đó mới mẻ. Và Xử Nữ sẽ cảm thấy mình có một lượng năng lượng khổng lồ trong tháng này. Tuy nhiên khi giải quyết những vấn đề với người khác, bạn không nên quá nhân nhượng.

Về tình cảm, tình hình sẽ khá là khả quan. Người ấy của Xử Nữ sẽ sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, thông cảm với bạn nhiều hơn và ngay cả những vấn đề gần đây bạn mắc phải trong mối quan hệ của mình. Nếu bạn là một Xử Nữ còn cô đơn, một mối quan hệ mới có thể sẽ xuất hiện trong tháng này, nhưng đừng vội vàng quá. Nên suy xét cho cẩn thận nhé.

Về phương diện công việc, có vẻ đây đúng là một tháng tuyệt vời của Xử Nữ. Tuy nhiên để đạt được kết quả tốt nhất Xử Nữ cũng không nên từ chối sự giúp đỡ của người khác, hoặc ít nhất là lời khuyên của họ. Ngày tốt d0ẹp của tháng có thể đến vào thứ tư, bạn nên nắm bắt nhé

Ngày may mắn: 7, 8, 16, 17, 25, 26

Ngày không may mắn:1, 14, 15, 21, 22, 27, 28

Ngày cho tình yêu: 8, 12, 16, 17, 25, 26, 29, 30

Ngày cho tài chính: 5, 6, 7, 14, 15, 16, 17, 25, 26

Ngày cho công việc:1, 9, 18, 27, 28

9/- Thiên Xứng (23/9 – 22/10)

Đôi khi các Thiên Xứng hay nghi ngờ bản thân mình. Thái độ này trong nhiều trường hợp hoàn toàn không thích hợp. Một khi Thiên Xứng tập trung hết sức thì sẽ làm tốt nhiệm vụ được giao, và bạn giỏi trong việc khắc phục sự đối lập. Trong khoảng tuần thứ hai của tháng 4 này, Thiên Xứng, sáng tạo vượt bậc và có những ý tưởng rõ ràng về các dự định ấp ủ.

Tháng này cũng đem lại những tin tức tốt đẹp cho các mối quan hệ. Và Thiên Xứng sẽ tìm kiếm một cái gì đó sâu sắc hơn, lâu dài và bền vững hơn. Tháng này, Thiên Xứng nên suy nghĩ nghiêm túc về kế hoạch đi du lịch, vì có ngày nghỉ dài lâu. Đó sẽ là một hành trình khám phá, không chỉ đơn giản là một hành trình của niềm vui cho ai thích phiêu lưu mạo hiểm. Nhớ ngàu thứ sáu tốt lành đấy Thiên Xứng.

Ngày may mắn: 5, 6, 14, 15, 23, 24

Ngày không may mắn: 12, 13, 19, 25, 26

Ngày cho tình yêu : 1, 14, 18, 19, 21, 22, 23, 29, 30

Ngày cho tài chính: 4, 5, 7, 8, 15, 16, 17, 25, 26

Ngày cho công việc: 2, 12, 20, 21, 25, 26, 29

10/- Hổ Cáp (23/10 – 21/11)

Tháng này mang lại cho Hổ Cáp nhiều may mắn. Sự nhiệt tình và hài hước khiến bạn trở nên đặc biệt. Vào hạ tuần của tháng, Hổ Cáp có thể nắm bắt được các cơ hội rất nhanh chóng và tận dụng được tất cả lợi thế. Trong một vài tuần, Hổ Cáp muốn phá vỡ thói quen sinh hoạt thường nhật của mình. Sự thay đổi có thể đem lại nhiều điều thú vị cho bạn, đặc biệt là những kế hoạch đi du lịch được lên lịch chắc chắn do cuối tháng có ngày nghỉ dài.

Trong lĩnh vực tình cảm, Hổ Cáp có sự hấp dẫn và thu hút rất mạnh mẽ. Nhưng nên nhớ nếu bạn gặp một người mới, bạn cần phải nhận thức những nhược điểm của họ. họ có thể khá ổn trong ngắn hạn, nhưng nếu Hổ Cáp cần một mối quan hệ lâu dài, thì bạn cần phải kiên nhẫn đấy.

Cuối tháng, Hổ Cáp có nhiều năng lượng, và nếu tập trung vào tham vọng cốt lõi của mình, và không bị phân tâm, thì bạn có thể làm rất tốt trong sự nghiệp của bạn. Ngày mong chờ có thể đến vào chủ nhật của tháng.

Ngày may mắn: 2, 3, 12, 13, 21, 22, 29, 30

Ngày không may mắn: 10, 11, 16, 17, 23, 24

Ngày cho tình yêu: 12, 16, 17, 21, 22, 29, 30

Ngày cho tài chính: 12, 16, 17, 21, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho công việc: 8, 9, 17, 18, 23, 24, 26

11/- Nhân Mã (22/11 – 21/12)

Tháng này không phải là tháng tuyệt vời nhất của Nhân Mã khi bạn đang có xu hướng lùi sâu vào nội tâm của chính mình và tạo nên các rào cản. Tuy nhiên, thực tế, tháng này là thời gian để thư giãn, nạp lại năng lượng của bạn.

Gia đình Nhân Mã cũng nên được quan tâm nhiều hơn. Thông qua các hoạt động gia đình, cuộc sống của bạn sẽ hạnh phúc và có ý nghĩa hơn.

Về đời sống tình cảm, tháng 4 hầu như không có những thời điểm bùng nổ về cảm xúc. Nếu Nhân Mã đang tìm kiếm một người bạn mới, bạn cần thể hiện mình là người đáng tin cậy và tôn trọng những lời hứa.

Vào cuối tháng sẽ đem lại những thay đổi lớn cho Nhân Mã. Bạn thú vị và hướng ngoại hơn. Ngoài ra, trong tuần cuối của tháng 4 này, Nhân Mã sẽ nhận được nhiều sự lãng mạn hơn. Bạn dễ dàng thể hiện bản thân và các phẩm chất đặc biệt của mình. Có tin đến vào thứ ba trong tháng.

Ngày may mắn : 1, 10, 11, 19, 27, 28

Ngày không may mắn : 7, 8, 14, 15, 21, 22

Ngày cho tình yêu : 1, 4, 5, 12, 14, 15, 16, 17, 21, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho tài chính : 1, 2, 3, 7, 8, 10, 11, 16, 17, 18, 19, 25, 26, 27, 28, 29, 30

Ngày cho công việc: 7, 8, 16, 17, 21, 22, 25, 26

12/- Nam Dương (22/12 – 19/1)

Tháng 4 sẽ là một tháng khá bận rộn. Về công việc, những ngày của tuần thứ nhất, các Nam Dương sẽ bắt đầu trăn trở về định hướng trong cuộc sống. Chắc chắn những cố gắng sẽ có thành quả tốt đẹp nên bạn cũng không cần quá vội vã.

Về tình yêu, đây là cơ hội tốt để Nam Dương còn cô độc sẽ tìm kiếm được một nửa của mình. Công việc và tình yêu được kết nối một cách mật thiết. Tuy nhiên, người ấy có lẽ đang để sự nghiệp lên hàng đầu và đây là điều Nam Dương cần chấp nhận trong thời điểm này. Nếu Nam Dương nghĩ bạn đã bị bỏ rơi thì đừng lo lắng hay phiền muộn vì bạn không thể lúc nào cũng là trung tâm của sự chú ý được.

Tâm trạng của Nam Dương tốt nhất là vào nửa cuối tháng khi bạn trở nên mạnh mẽ và thông minh hơn. Nam Dương sẽ gặp những người khá thú vị và có ảnh hưởng đến bạn trong thời gian tới. Ngày tốt đẹp rơi vào thứ tư, hãy đón chờ.

Ngày may mắn: 7, 8, 16, 17, 25, 26

Ngày không may mắn: 5, 6, 12, 13, 19

Ngày cho tình yêu: 1, 5, 6, 12, 13, 14, 15, 21, 22, 25, 29, 30

Ngày cho tài chính: 1,7, 8, 9, 16, 17, 18, 25, 26, 27, 28

Ngày cho công việc: 3, 6, 12, 15, 21, 22, 29, 30

Quế Phượng (theo Horoscope)

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

Advertisements

TRÚC PHƯƠNG ĐỜI BUỒN NHƯ BOLÉRO

NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG

CUỘC ĐỜI BUỒN

NHƯ NHỊP ĐIỆU BOLERO

Chẳng quá lời khi gọi Trúc Phương là “Ông hoàng nhạc Bolero”. Với cả gần trăm ca khúc, hầu như bài hát nào của ông cũng có một sức sống bền bỉ mãi cho đến ngày hôm nay ở bất cứ nơi nào có người Việt sinh sống.

Tài năng của ông thì ai cũng thấy, nhưng đời ông thì lại trải qua quá nhiều bất hạnh và đau thương, khốn khổ cho đến tận giờ phút cuối cùng.

Tài hoa, mệnh bạc

Nhạc sĩ Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiện Lộc. Ông sanh năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình) ở vùng hạ lưu sông Cửu Long. Cha ông là một nhà giáo sống thầm lặng và nghiêm khắc. Nhưng tâm hồn của chàng trai Thiện Lộc thì rất lãng mạn, yêu thích văn nghệ nên đã tự học nhạc, và bắt đầu sáng tác những bài hát đầu tiên lúc vừa 15 tuổi. Xung quanh nhà ông có trồng rất nhiều tre trúc, nên từ nhỏ ông đã yêu mến những âm thanh kẽo kẹt của tiếng tre va chạm với nhau và sau này đã chọn tên là Trúc Phương để nhớ về thời thơ ấu của ông với những cây tre trúc.

Cuối thập niên 1950, ông sinh hoạt văn nghệ với các nghệ sĩ ở ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Bình một thời gian ngắn, rồi lên Sài Gòn dạy nhạc và bắt đầu viết nhạc nhiều hơn. Bài hát “Chiều Làng Quê” được ông sáng tác vào thời gian này để nhớ về khung cảnh thanh bình ở làng xóm của ông, một bài khác cũng rất nổi tiếng với giai điệu trong sáng, vui tươi là “Tình Thắm Duyên Quê”.

Không tiền bạc và không một ai thân quen ở đô thành Sài Gòn, ban đầu Trúc Phương ở trọ trong nhà một gia đình giàu có bên Gia Định và dạy nhạc cho cô con gái của chủ nhà. Không bao lâu sau thì cô gái này yêu chàng nhạc sĩ nghèo tạm trú trong nhà. Biết được chuyện này, cha mẹ cô bèn đuổi Trúc Phương đi nơi khác.

Sau chuyện tình ngang trái này, Trúc Phương càng tự học thêm về âm nhạc và càng sáng tác hăng hơn. Những bài hát sau này của ông nghiêng về chủ đề tình yêu với những nghịch cảnh chia lìa.

Trúc Phương sáng tác rất dễ dàng, nhưng với bản tính trầm lặng, bi quan và khép kín sau những cuộc tình dang dở, sáng tác của ông thường mang âm điệu u buồn, thê lương như phảng phất nỗi sầu của cổ nhạc miền Nam. Nổi tiếng nhất là “Nửa Đêm Ngoài Phố” với tiếng hát liêu trai Thanh Thúy. Sau đó là “Buồn Trong Kỷ Niệm” với những câu hát đớn đau, buốt nhói tim gan người nghe như “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn. Đôi khi nhầm lẫn đánh mất ân tình cũ, có đau chỉ thế, tiếc thương chỉ thế. Khi hai mơ ước không chung lối về…”.

Có người cho là bài hát này ông đã viết ra sau khi bị thất tình một cô ca sĩ lừng danh thời đó.

Nhạc của Trúc Phương có một giai điệu rất đặc biệt của riêng ông, mà khó lầm lẫn với người khác được. Nó trầm buồn, ray rứt, ưu tư và buồn phiền vì những mối tình dang dở, trái ngang. Nên khi soạn hòa âm cho những bài hát của Trúc Phương, nhạc sĩ hòa âm phải sử dụng ít nhất là một trong vài loại nhạc khí cổ nhạc như đàn bầu, đàn tranh, hay đàn cò (hoặc violon) thì mới có thể diễn tả hết cái hay của dòng nhạc Trúc Phương và người nghe lại càng thấm thía với nỗi muộn phiền, nhức nhối tim gan của ông.

Tên tuổi và tài năng sáng chói, nổi bật, nhưng tình duyên của nhạc sĩ Trúc Phương thì vô cùng lận đận. Khoảng năm 1970, Trúc Phương được một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp, cao sang đài các đem lòng yêu thương ông, do rung cảm từ tài năng và những tác phẩm tuyệt vời của ông. Cả hai đã nên duyên chồng vợ. Tuy sống trong cảnh nghèo nàn, đó là những năm tháng hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Trúc Phương và ông sáng tác sung mãn hơn bao giờ hết với hàng chục bài hát ra đời mỗi năm.

Nhưng niềm vui của đôi uyên ương này không kéo dài được lâu. Sau một thời gian chung sống với nhau, những tình cảm ban đầu trở nên phai lạt dần theo năm tháng và hai người đã lặng lẽ chia tay nhau. Câu hát ngày nào lại rơi đúng vào trường hợp này “khi hai mơ ước đã không cùng chung hướng về” “đường vào tình yêu có trăm lần vui, nhưng có vạn lần buồn” ? Nhạc sĩ Trúc Phương âm thầm đau khổ trong cô đơn và lại vùi đầu vào men rượu để sáng tác thêm nhiều bài hát trong nỗi đau thương cùng cực, pha chút chán chường cho nhân tình thế thái.

Bạn bè thường gặp ông ngồi yên lặng bên những ly rượu nơi một quán nhỏ ở đường Tô Hiến Thành, quận 10, gần nhà của ông. Có lẽ đó là một cách làm cho nhạc sĩ tạm quên đi những cay đắng của tình đời. Đó cũng chính là lúc bài hát “Thói Đời” được sáng tác với những câu như “Bạn quên ta, tình cũng quên ta, nên chung thân ta giận cuộc đời, soi bóng mình bằng gương vỡ nát, nghe xót xa ngùi lên tròng mắt”… và “Người yêu ta rồi cũng xa ta … “Cỏ ưu tư” buồn phiền lên xám môi …”.

Thực ra phải nói là “cỏ tương tư” tức “tương tư thảo” là tên gọi văn hoa của thuốc lá. Những giọt rượu nồng của cõi “trần ai” này lại càng gợi thêm “niềm cay đắng” để cho nỗi ưu tư “in đậm đường trần”.“Thói Đời” lại như là một lời tiên tri thật chính xác cho quãng đời còn lại của ông suốt gần 25 năm sau đó (1971-1995).

Sau năm 1975 thì sự nghiệp sáng tác nhạc của ông dừng lại, tất cả những ca khúc của ông đều bị cấm phổ biến và trình diễn. Ông vượt biên không thành nên mất căn nhà trên đường Nguyễn Văn Thoại. Không nghề nghiệp, không nhà, ông làm đủ mọi việc để sinh sống. Với hai bàn tay trắng, ông trở về quê cũ sống nhờ vả bạn bè, mỗi nơi một thời gian ngắn.

Có người hỏi sao ông không về quê ở hẳn với thân nhân, Trúc Phương đã trả lời “Má của tôi thì già yếu đang ở dưới quê Cầu Ngang (Trà Vinh), nhưng bà nghèo quá, lại phải nuôi đám cháu nheo nhóc, không đủ ăn … nên tôi không thể về đó để làm khổ cho bà thêm nữa.”

Ở dưới tỉnh nhà Trà Vinh với bạn bè xưa cũ một thời gian, Trúc Phương lại tìm đường về Sài Gòn. Ban ngày ông làm thuê, làm mướn đủ mọi thứ nghề và lang thang khắp nơi. Bạn ông kể có một dạo bạn bè cho tá túc, ông sống trong một cái chuồng heo được sửa sang chút đỉnh, mà cũng chẳng được bao lâu…

Ông có tâm sự lại vài lời xót xa, nghẹn ngào, xúc động trên một đoạn video clip ngắn ngủi về đời sống của chính bản thân ông lúc đó như sau : “Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rày đây mai đó, “bèo dạt hoa trôi”… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no… Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được…đến nữa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắt, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả.

Tôi nghĩ ra được một cách… là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ… Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, một chiếc chiếu lúc bấy giờ là một đồng… thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta… thế là mình lấy một đồng về…. như là tiền thế chân… Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng… Mà nói anh thương… khổ lắm…

Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi, tôi đành phải trải chiếu gần chỗ “thằng cha đi tiểu vỉa hè”, thế rồi cũng phải nằm thôi. Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát… mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn…Tôi nghĩ mà thôi, còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…

Và ông âm thầm từ giã cõi đời trong cảnh nghèo nàn, bi đát và cô đơn trong căn phòng trọ tồi tàn, nhỏ hẹp ở quận 11, Sài Gòn vào ngày 18 tháng 9 năm 1995, tài sản của ông có được lúc đó chỉ là một đôi dép…

Trúc Phương ghi lại biết bao cuộc tình lãng mạn ướt át nồng nàn. “Nửa đêm ngoài phố” lang thang, tình cờ làm quen một người con gái lạ, rồi để lòng vương vấn mãi: “Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Ðường phố vắng đêm nao quen một người..” hoặc “Trở lại chuyện hai chúng mình. Khi em với anh…” làm quen, hẹn hò cùng nhau đi tới mòn lối, khiến nó trở thành “Con đường mang tên em”.

Cũng có những lúc cô đơn, rút về nhốt mình nơi nhà trọ, nhưng Ðêm gác trọ chỉ nói lên nỗi buồn bâng quơ có vương chút phấn chấn nhờ thể điệu Tango, mà Trúc Phương ít khi dùng trong hầu hết các nhạc phẩm của mình. Rồi có lúc người yêu xưa tìm đến, cùng nhau ôn chuyện cũ, nhắc lại Chuyện ngày xưa, được ghi lại: “Hôm nào em đến thăm, mà quên mang tiếng cười, lặng yên không nói. Hai mươi tuổi đời qua mất rồi… Thôi em nhé, xin trả về niềm cô đơn trước, cho anh bước xuôi ngược, khi hai chúng mình, vòng tay trót buông xuôi, dù gặp nhau ta cúi mặt bước mà đi ”

Tiếng hát khói sương và nhạc sĩ Trúc Phương

Nhắc đến Tiếng Hát Liêu Trai, Tiếng ca U Hoài, Tiếng Hát Khói Sương Thanh Thúy phải nhắc đến Trúc Phương. Hình ảnh Thanh Thúy là nguồn cảm hứng cho ông sáng tác nhiều tuyệt phẩm mà giọng hát Thanh Thúy đã làm cho đi vào tâm khảm bao người : Chuyện Chúng Mình, Hai Lối Mộng, Ai Cho Tôi Tình Yêu, Chiều Cuối tuần, Buồn Trong Kỷ Niệm, Bóng Nhỏ Đường Chiều, Tàu Đêm Năm Cũ, …

Trúc Phương đã viết tặng riêng Thanh Thúy một số ca khú : Hình bóng cũ, Lời ca ca nữ, Mắt em buồn, Tình yêu trong mắt một người, Mắt chân dung để lại.
Hãy nghe Thanh Thúy- người hát nhạc ông thành công nhất, nói về ông trong một số báo tưởng niệm ở hải ngoại sau khi ông mất:

“Anh và tôi không hẹn, nhưng đã gặp nhau trên con đường sống cho kiếp tằm. Anh trút tâm sự qua cung đàn, còn tôi qua tiếng hát. Trong khoảng thập niên 60, tên tuổi Anh và tôi như đã gắn liền với nhau: nhạc Trúc Phương, tiếng hát Thanh Thúy.

Như một định mệnh, tôi vào đời ca hát đúng vào thời điểm Anh say mê sáng tác, và tình cờ trở thành vị sứ giả đem tâm sự Anh đến mọi người, những người không nhiều thì ít cùng mang một tâm sự với Anh. Tâm sự về tuổi thơ mộng, về tình yêu dịu dàng của đôi lứa (dù trong bối cảnh đau thương của đất nước), về chuyện tình dở dang, về cuộc đời…

Đến khi nhạc phẩm “Nửa Đêm Ngoài Phố” ra đời, tên tuổi Anh đã vang dậy khắp nơi. Với thể điệu Rumba quen thuộc, diễn tả tâm trạng đau buồn của một người khi người yêu không đến nữa, “Nửa Đêm Ngoài Phố” đã ăn sâu vào lòng tất cả mọi người, từ những người lớn tuổi, cho đến lớp người trẻ lúc bấy giờ. Bất cứ buổi trình diễn nào, tôi cũng được yêu cầu trình bày “Nửa Đêm Ngoài Phố”, từ các sân khấu phòng trà, khiêu vũ trường cho đến Đại Nhạc Hội, từ các thôn làng nhỏ bé cho đến các tiền đồn hẻo lánh xa xôi. Ngoài ra, trong những chương trình phát thanh của đài Sài Gòn và đài tiếng nói Quân Đội, vào bất cứ chương trình nhạc nào cũng có bài này…

Cũng như “Nửa Đêm Ngoài Phố”, nhiều nhạc phẩm của Anh đã trở thành gần gũi với mọi người và đã giúp tôi leo cao hơn trên nấc thang sự nghiệp. Các bài này gồm có: Nửa Đêm Ngoài Phố, Buồn Trong Kỷ Niệm, Hai Lối Mộng, Chiều Cuối Tuần, Mưa Nửa Đêm, Tàu Đêm Năm Cũ, Hai Chuyến Tàu Đêm, Chuyện Chúng Mình, Đêm Tâm Sự, Hình Bóng Cũ, Đò Chiều, Chiều Làng Em…

Thế rồi, theo như Anh hơn một lần tâm sự, đường đời đã chia đôi chúng tôi ra hai ngã, hai hướng đi. Tôi đã giã từ sân khấu, giã từ lời ca tiếng nhạc, giã từ tất cả, theo chồng đi đến những phương trời xa. Còn Anh vào quân ngũ, và vẫn tiếp tục hăng say sáng tác, hầu hết những nhạc phẫm đều nói về đời người lính phong sương, xa nhà, xa thành phố, xa người em nhỏ hậu phương… (24 Giờ Phép, Bông Cỏ May, Kẻ Ở Miền Xa, Trên 4 Vùng Chiến Thuật…)

Vào thời điểm này, Duy Khánh, Chế Linh và Hoàng Oanh có lẽ là những ca sĩ đã hát nhạc của Anh rất nhiều. Kiếp tằm chưa dứt, tôi đã trở lại với sân khấu, với ánh đèn màu. Trở lại với “Nửa Đêm Ngoài Phố”, với “Buồn Trong Kỹ Niệm”…

Rồi lại thêm một lần cuộc đời lại chia đôi chúng tôi ra hai ngã: Anh kẹt lại quê nhà, tôi sống đời lưu vong. Tôi đã tìm đủ mọi cách để liên lạc hầu mong gởi về những gói quà biếu Anh. Sự liên lạc trong những năm đầu thật khó khăn, cho mãi tới sau này, qua một số bạn bè và qua Trần Quốc Bảo, tôi mới có thể liên lạc thường hơn với Anh. Tuy nhiên, tôi rất lo lắng về bịnh tình Anh do Trần Quốc Bảo kể lại.

Nhìn những tấm ảnh Anh gởi qua đăng trên Thế Giới Nghệ Sĩ, trông Anh gầy gò, đau yếu, tôi đã không sao cầm được nước mắt. Tôi đã bàn với Trần Quốc Bảo thực hiện một cuốn băng với toàn nhạc của Anh, hầu có thể giúp Anh phần nào trên phương diện vật chất lẫn tinh thần. Chợt nghe tin Anh đau nặng… Chợt nghe tin Anh qua đời…” (theo TK tổng hợp)

– Tiểu sử nhạc sĩ Trúc Phương

https://youtu.be/g3QiTcHD0Rw

– Những tuyệt phẩm hay nhất trong sự nghiệp (2:22’)

https://youtu.be/44x86EmpHwo

– Tình khúc Trúc Phương qua tiếng hát Thanh Thúy (0:57’)

https://youtu.be/bFHCfMlb5jM

NỮ SĨ QUỲNH DAO VIẾT TÂM THƯ

DẶN DÒ CON CÁI LO CHUYỆN HẬU SỰ

Nữ sĩ Quỳnh Dao dặn dò con : “Khi còn sống, nguyện là ánh lửa, cháy hết mình tới phút cuối cuộc đời. Lúc chết đi, nguyện là hoa tuyết, lất phất rơi, hóa thành cát bụi”.

Nữ sĩ Quỳnh Dao nổi tiếng với vai trò nhà văn, nhà biên kịch với các tác phẩm điện ảnh nổi tiếng được chuyển thể như “Dòng Sông Ly Biệt”, “Hoàn Châu Cách Cách”,… Mới đây, bà đã có một tâm thư dặn dò con trai và con dâu lo lắng cho chuyện hậu sự sau này của bà.

Ở độ tuổi 79 gần đất xa trời, nữ sĩ Quỳnh Dao cho biết, gần đây bà đọc được một bài viết mang tên “Lời cáo biệt tốt đẹp dành cho bản thân” và nhận ra rằng pháp luật có một thứ gọi là “Quyền được quyết định của người bệnh” – được Đài Loan thông qua và ban hành từ năm 2009, theo đó người bệnh có thể toàn quyền quyết định về cái chết của mình, không cần bác sĩ hoặc người nhà quyết định hộ nữa.

Nữ sĩ Quỳnh Dao cho biết, bà đã dặn dò hai con là Tú Quỳnh và Trung Duy về chuyện hậu sự, hai người con đều hoàn toàn tôn trọng ý kiến của mẹ, song bà vẫn muốn chia sẻ tâm thư của mình cho tất cả mọi người được biết vì sợ rằng sau này nhỡ hai con hối hận, không nỡ cho mẹ rời xa dương gian :

“Mẹ nghĩ rằng, các con đều hiểu rõ mẹ sợ hãi cái ngày định mệnh ấy đến nhường nào. Giờ đây, mẹ muốn nói rõ về “quyền lợi” của mình, những ai đọc được bức thư này có thể làm chứng, rằng dù thế nào đi chăng nữa, dù gặp bất cứ áp lực nào cũng không được lưu giữ hài cốt của mẹ, không được biến mẹ thành “cứu sống không được, để chết không xong.” Nếu các con làm thế thì sẽ là “đại bất hiếu !”

Quỳnh Dao viết them : “Năm nay mẹ 79 tuổi, năm sau đã là 80. Quả là đời người đã dài, mẹ không vì chiến tranh, bệnh tật, nghèo đói, thiên tai,… mà đi trước một bước. Sống đến tuổi này đã là sự ban ơn của thượng đế đối với mẹ. Chính vì lẽ đó, từ giờ trở đi, mẹ sẽ đón nhận cái chết với nụ cười trên môi. Mong muốn của mẹ chỉ là:

1/. Dù mẹ có lâm trọng bệnh thế nào, nhất quyết không được phẫu thuật, hãy để mẹ ra đi nhanh chóng. Chừng nào mẹ còn minh mẫn làm chủ được mọi thứ thì hãy để mẹ làm chủ, bằng không thì phải nghe theo ý nguyện của mẹ.

2/. Không được đưa mẹ vào phòng điều trị hồi sức cấp cứu đặc biệt.

3/. Bất luận là chuyện gì, tuyệt đối không được lắp ống thở cho mẹ. Bởi vì một khi mẹ đã mất khả năng nuốt, tức là cũng mất đi niềm vui ăn uống. Mẹ không muốn sống cuộc sống như vậy.

4/. Thêm một điều nữa, dù có chuyện gì, cũng không được đặt ống truyền chất bổ cho mẹ. Kể cả ống thông, ống thở,… đều không được.

5/. Mẹ đã từng nhắc nhở rồi, những biện pháp cứu sống như điện giật, các loại máy móc, tất cả đều không được dùng. Mẹ muốn ra đi nhẹ nhàng, điều này còn quan trọng hơn việc để mẹ sống trong đớn đau.

Mẹ đã từng nói:  “Khi còn sống, nguyện là ánh lửa, cháy hết mình tới phút cuối cuộc đời. Lúc chết đi, nguyện là hoa tuyết, lất phất rơi, hóa thành cát bụi”.

Nữ sĩ quyết định bà không muốn mai táng theo nghi thức tôn giáo truyền thống mọi người vẫn hay làm. Bà dặn con không đăng cáo phó, không làm lễ truy điệu, không đốt vàng mã,… Bà muốn mọi việc diễn ra lặng lẽ, đơn giản, không phô trương. “Cái chết là việc riêng, đừng làm phiền người khác, càng đừng làm phiền những người yêu mến mẹ. Nếu thật lòng yêu mẹ, họ sẽ hiểu cho mẹ…” , “sau này, tiết Thanh Minh cũng không cần cúng bái mẹ, vì mẹ đã không còn tồn tại”. Bà còn dặn con cháu rằng: “Trái đất đang ngày càng ấm lên, đốt giấy đốt hương đều đang phá hoại quả địa cầu này, Chúng ta có nghĩa vụ giữ gìn môi trường sống sạch sẽ cho những sinh mệnh mới đang nối tiếp nhau chào đời”. (theo Nhã An, nguồn: Sohu)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Con rể tương lai

Hôm qua, em được bạn gái dẫn về ra mắt gia đình. Cảm giác nó hồi hộp lắm các bác ạ.

Vào đến nhà, nhìn thấy bố bạn gái đang nghiêm nghị ngồi đấy mà run hết cả người. Ngồi giới thiệu xong cái tên, tuổi và nghề nghiệp thì chả biết nói chuyện gì cũng buồn nên nhìn thấy nhà bạn gái làm bằng gỗ đẹp quá nên khen ngay:

– Bác làm được căn nhà gỗ đẹp thế. Bằng này gỗ quý thì chắc lâm tặc phải cưa lâu lắm bác nhỉ. Nhà này mà cháy chắc khó dập lắm..

Haizz. Mình đã mở lời thế mà mặt bố vợ tương lai lại hằm hằm chả bảo gì.
Ngồi một lúc thì bố vợ tương lai hỏi mình :

– Thế bây giờ đi trên đường người ta đánh rơi một túi tiền và một túi đạo đức thì cậu nhặt túi nào ?

Mình nhanh nhảu đáp ngay :

– Dạ. Tất nhiên là phải nhặt túi tiền rồi ạ.

Bố vợ tương lai mặt hằm hằm :

– Tôi biết ngay mà, các anh trẻ tuổi thì chỉ quan tâm đến tiền. Không coi trọng đạo đức gì cả. Tôi là tôi sẽ nhặt ngay cái túi đạo đức.

Mình phải chống chế ngay :

– Dạ cháu chỉ nghĩ ai thiếu cái gì thì nhặt cái đấy thôi ạ.

Có thế thôi mà ông ấy không thèm nói gì với mình đến tận bữa ăn.

oOo

Vào bữa, chắc gia đình bạn gái ít nói nên chả ai mở lời, mình phải phá tan bầu không khí bằng cách khen mẹ vợ tương lai làm món ăn:

– Món dưa muối này của bác đặc biệt quá. Dưa muối này mà ăn chung với thịt chó thì ngon tuyệt vời ạ.. . (Mà lạ thật, mình khen mà chả thấy mẹ vợ tương lai vui vẻ gì cả).
Ăn xong cơm rồi thấy mẹ vợ nằm võng, bố vợ chán bỏ vào chơi game còn các em của vợ tương lại xem tivi chả ai nói chuyện với mình nên mình đành đi về. Tính mình vốn tiết kiệm lời nói, lại thích nói ngắn gọn nên chào :

– Cô nằm, chú chơi, các em xem, cháu đi về ạ.

Ra đến cửa mới nhớ quên cái mũ ở ghế lại nhanh mồm :

– Cháu quên cái mũ. Tí thì mất..

Bố vợ bảo :

– Anh để đây, mai quay lại vẫn còn chứ ai lấy của anh làm gì.

Mình đáp:

– Thời buổi này không tin được bố con thằng nào chú ạ.

Ra dắt xe, con chó nhà vợ ra sủa ầm lên. Đá cho nó 1 phát rồi quát :

– Tao thách cả nhà mày ra cắn tao đấy.

Từ tối qua đến giờ không thấy vợ tương lai gọi điện, nhắn tin.

Yên Nhàn chuyển tiếp

CHUYỆN TÌNH NGƯỜI NHẠC SĨ

Logo nhan vat

3 Tu Cong Phung 1TỪ DUNG &

TỪ CÔNG PHỤNG

“TRÊN NGỌN TÌNH SẦU”

Cùng thời với Lê Uyên và Phương còn đôi song ca nổi tiếng khác là Từ Dung – Từ Công Phụng.

Từ Công Phụng sinh năm 1942 tại Ninh Thuận, là nhạc sĩ sáng tác nổi tiếng giai đoạn 1955 – 1975 tại miền Nam. Ông có thể hình to lớn, nhưng phong thái lại rất nghệ sĩ, ăn nói nhẹ nhàng, lịch sự, dễ gây thiện cảm với mọi người.

Là người dân tộc Chăm, được chính quyền Sài Gòn ưu đãi theo chính sách đối với các dân tộc thiểu số. Vì thế, chưa tốt nghiệp tú tài, Từ Công Phụng đã được ưu tiên vào học trường đại học quốc gia Hành chính. Tuy nhiên, chỉ học được hơn một năm thì ông bỏ học, đi làm biên tập viên cho một đài phát thanh. Không như nhiều bài báo trong và ngoài nước cho rằng Từ Công Phụng đã tốt nghiệp cử nhân Luật tại Sài Gòn.

Không qua một trường lớp âm nhạc nào, nhưng với năng khiếu bẩm sinh và tâm hồn nhạy cảm, Từ Công Phụng tự học để trở thành một tên tuổi lớn trong lĩnh vực sáng tác. Năm 1960, ông ra mắt ca khúc đầu tay Bây giờ tháng mấy khi vừa tròn 18 tuổi và ngay lập tức trở nên nổi tiếng. Có thời gian Từ Công Phụng sống tại Đà Lạt và cùng Lê Uyên Phương thành lập nhóm nhạc Ngàn Thông, biểu diễn hàng tuần trên đài phát thanh Đà Lạt. Không dữ dội như Lê Uyên Phương, nhạc của Từ Công Phụng đầy chất trữ tình, êm ái với ca từ trau chuốt, sang trọng. 3 Tu Cong Phung 4Ông còn có khả năng phổ nhạc cho thơ, đặc biệt là thơ của Du Tử Lê. Tiêu biểu như những bài Trên Ngọn tình sầu, Ơn em

Năm 1968, Từ Công Phụng gặp Từ Dung – cô gái có làn da trắng, đẹp lộng lẫy, từng đoạt danh hiệu Á hậu trong một cuộc thi sắc đẹp tại miền Nam. Đôi trai tài gái sắc này sau đó nên duyên chồng vợ.

Sinh năm 1945, Từ Dung là con gái của nhà văn Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long) trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, là cháu ruột của hai nhà văn Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) và Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân). Năm 1965, Từ Dung tốt nghiệp Tú tài toàn phần và đến năm 1969 lấy bằng cử nhân văn chương.

Từ Dung rất say mê ca hát và cũng được trời ban cho một chất giọng khá hay. Lúc bấy giờ, cô đang theo học thanh nhạc với ca sĩ Châu Hà, vợ của nhạc sĩ Văn Phụng. Chính môi trường này đã đưa đẩy Từ Dung gặp gỡ rồi quen biết với Từ Công Phụng. Lần đầu họ xuất hiện bên nhau ở quán Văn ở đại học văn khoa với ca khúc Bây giờ tháng mấy.

Vào thời điểm này, có 3 cặp đôi nổi đình nổi đám là thần tượng của thanh niên,3 Tu Cong Phung 2 sinh viên, học sinh : Khánh Ly – Trịnh Công Sơn, Lê Uyên – Phương, Từ Dung – Từ Công Phụng. Mỗi cặp một đặc điểm riêng nhưng giống nhau ở chỗ giọng nam kiêm luôn sáng tác. Trong 3 cặp này thì Từ Dung – Từ Công Phụng ít nổi tiếng hơn nhưng cũng là một hiện tượng trong đời sống âm nhạc dạo đó.

Sống với nhau có một con gái thì Từ Dung – Từ Công Phụng chia tay, một cuộc chia tay khá buồn ! Chẳng ai biết được nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ này. Nhưng theo một người quen thân của cặp đôi, vào một chiều 30 Tết, người này tình cờ gặp Từ Công Phụng trên đường và họ rủ nhau đi bộ về nhà. Dọc đường, Từ Công Phụng tâm sự hết nỗi niềm của mình với những lời trách móc Từ Dung. Nhưng đó cũng chỉ là những lời từ phía của Từ Công Phụng, còn Từ Dung thì chẳng nghe nói một lời nào.

Năm 1980, Từ Công Phụng sang Mỹ, định cư tại Portland, tiểu bang Oregan và lập gia đình mới với một người phụ nữ tên là Kim Ái. Thời gian này, Từ Dung còn ở lại Việt Nam, bà mướn một căn phòng trong cư xá Ngân hàng, quận 3 và có biểu hiện tâm thần. Bà ít khi mở miệng nói với ai một lời nào. Đêm đêm, bà thường khỏa thân ngồi lặng lẽ trong bóng tối trước hiên thềm như một pho tượng. Một thời gian sau, Từ Dung qua cơn trầm cảm và cũng sang định cư tại Mỹ 3 Tu Cong Phung 3và sinh sống tại tiểu bang Hawaii. Từ Dung cũng đã lập gia đình khác với một người đàn ông Mỹ.

Ở Mỹ, Từ Công Phụng vẫn tiếp tục cuộc đời sáng tác và ca hát, ông đã nhiều lần về thăm quê nhà và ít nhất đã có hai lần biểu diễn tại một phòng trà nổi tiếng ở Sài Gòn, cuối năm 2012, ông có đêm nhạc riêng tại Nhà hát TP.HCM. Còn Từ Dung thì im hơi lặng tiếng, chẳng còn nghe ai nhắc đến tên bà nữa. Ngay cả Từ Công Phụng trong các bài phỏng vấn cũng chỉ nói đến Kim Ái và các con sau này – như Từ Dung chưa bao giờ xuất hiện trong sự nghiệp và cuộc đời của ông. Mọi chuyện dường như đã chìm hẳn vào quên lãng. Âu đó cũng là nỗi đau “hồng nhan bạc phận” của Từ Dung. (theo Duyên Dáng Việt Nam)

CHUYỆN TÌNH

LÊ UYÊN VÀ PHƯƠNG

Lý do những cặp vợ chồng nổi tiếng giữa đường đứt gánh vẫn là câu hỏi lớn với người ái mộ.

Lê Uyên Phương sinh ngày 2/7/1941, tại Đà Lạt. Tên khai sinh của ông là Lê Văn Lộc. Trước đó cha mẹ ông đặt là Lê Minh Lập, nhưng do sự cẩu thả của nhân viên hộ tịch, trở thành Lê Minh Lộc, rồi cuối cùng thành Lê Văn Lộc.

Nhạc sĩ bắt đầu sáng tác năm 1960 với ca khúc đầu tiên Buồn đến bao giờ, được viết tại Pleiku, khi ông dạy học tại đó và ký tên là Lê Uyên Phương. Bút danh này được ông lấy chữ lót tên mẹ là Công Tôn Nữ Phương Nhi ghép với tên người tình đầu tiên là Uyên mà thành.

Trời phú cho Lê Uyên Phương năng khiếu trong lĩnh vực viết ca khúc nhưng lại bắt ông gánh chịu căn bệnh hiểm nghèo: nhiều khối u mọc đầy cơ thể. Ông không nói ra và  người khác cho rằng ông bị ung thư xương, sẽ giã từ cõi đời bất cứ lúc nào. 3 Le Uyen Phuong 1Chính nỗi đau này tạo cho âm nhạc của Lê Uyên Phương những nét riêng, như tiếng thét gào, buồn da diết.

Năm 1968, định mệnh mang đến cho Lê Uyên Phương một người con gái Hà Nội, gốc Hoa (cha Hải Nam, mẹ Triều Châu). Cô tên là Lâm Phúc Anh, sinh năm 1952. Gia đình của Lâm Phúc Anh thuộc dạng giàu có ở vùng Chợ Lớn, họ là chủ một hãng xe chạy đường Sài Gòn ra các tỉnh miền Trung. Vì có tiền của, Lâm Phúc Anh được học trường Virgo Maria (ở Đà Lạt) – một trường Tây sang trọng lúc bấy giờ.

Lâm Phúc Anh xinh đẹp, đài các, rất lãng mạn mà đầy cá tính. Cô có năng khiếu âm nhạc. Năm 1968, tròn 16 tuổi, Phúc Anh gặp thầy dạy triết và Việt văn – Lê Uyên Phương – lớn hơn mình 11 tuổi – ở nơi thành phố sương mù. Nhìn dáng vẻ và khuôn mặt đầy chất nghệ sĩ của ông, Lâm Phúc Anh trúng tiếng sét ái tình đánh khi trông thấy dáng vẻ và gương mặt đầy chất nghệ sĩ của thầy giáo. Khi biết Lê Uyên Phương mắc bệnh nan y, Lâm Phúc 3 Le Uyen Phuong 2Anh càng yêu ông tha thiết.

Gia đình Lâm Phúc Anh ra sức ngăn cản nhưng cô gái bất chấp tất cả. Cha mẹ cô dùng biện pháp cuối cùng là đưa Phúc Anh về Sài Gòn để chia cách họ. Không chịu nổi nỗi nhớ, Lê Uyên Phương thường tới Sài Gòn và nơi họ thường xuyên gặp gỡ nhau là nhà ga xe lửa. Chính thời gian này, Lê Uyên Phương cho ra đời một trong những ca khúc bất hủ của ông – Khi loài thú xa nhau.

Lâm Phúc Anh tâm sự : “Tôi yêu Lê Uyên Phương vì tài năng, sự hiền lành, đạo đức và tấm lòng nhân ái, rộng lượng của anh. Nhưng tha thiết hơn cả là con người nghệ sĩ và căn bệnh hiểm nghèo mà anh mắc phải. Cuộc tình của chúng tôi rất đẹp nhưng cũng rất đau đớn bởi không biết ngày nào đó sẽ vĩnh viễn mất nhau vì cái chết luôn rình rập”.

Năm 1969, Lê Uyên Phương và Lâm Phúc Anh chính thức chung sống và bắt đầu cuộc đời ca hát, nhanh chóng trở thành đôi song ca nổi tiếng. Lâm Phúc Anh 3 Le Uyen Phuong 3không muốn lấy tên thật của mình hay bất cứ nghệ danh nào khác. Cô muốn mình là Lê Uyên để cùng với Phương gắn kết suốt đời. Tên gọi “Lê Uyên và Phương” ra đời từ đó.

Sau lần xuất hiện đầu tiên tại quán Thằng Bờm của phong trào du ca, Lê Uyên và Phương được người yêu nhạc đón nhận một cách nồng nhiệt, coi đó như làn gió mới thổi vào đời sống nghệ thuật trong thời điểm chiến tranh ngày càng khốc liệt. Những ca khúc mà đôi vợ chồng sáng tác, biểu diễn ghi đậm dấu ấn vào lòng người nghe, điển hình là Khi loài thú xa nhau, Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta… Lê Uyên và Phương có với nhau hai người con gái là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My. Năm 1979 họ rời Việt Nam sang Hoa Kỳ, định cư tại 3 Le Uyen Phuong 4California.

Lê Uyên và Phương chia tay năm 1984, sau gần 15 năm chung sống. Nhiều người cho rằng phần lỗi hoàn toàn thuộc về Lê Uyên. Thực, hư thế nào không rõ, nhưng chắc chắn ngay sau đó, Lê Uyên đã có thời gian chung sống với một người đàn ông khác. Nhưng cuộc chung sống đầy tai tiếng này không như ý của Lê Uyên. Sau đó cô lại quay về với Phương và tái kết hợp trong lĩnh vực ca hát ở hải ngoại. Năm 1999, Phương qua đời ở tuổi 51.

Lê Uyên Phương để lại cho đời hơn 40 tác phẩm. Số lượng tuy không lớn nhưng chất lượng, nhất là những gì đã được Lê Uyên và Phương thể hiện thì rất khó bị lãng quên.

10 Ho Diep 1NHỚ : NỮ SĨ NGÂM THƠ

HỒ ĐIỆP

Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Nhu, sinh năm 1930 tại Sơn Tây, chồng tên Chu Văn Khuê. Có 5 người con : 2 trai: Nguyễn Năng Tiến, Nguyễn Quốc Quân và 3 gái : Nguyễn Thu Hương, Nguyễn Phương Liên (hải ngoại) và (?).

Về giọng ngâm nữ thoạt đầu có giọng ngọt ngào của Giáng Hương, nhưng người sành điệu nhớ mãi giọng ngâm đổ hột đặc sắc của Đàm Mộng Hoàn, tiếng tăm vang lừng ở Khâm Thiên thời tiền chiến trong “Tỳ Bà Hành”. Hồ Điệp giọng ngâm nữ nhiều năm làm thổn thức trái tim thính giả trong thơ của T.T.Kh đầy nức nở. Sau có một giọng nữ như sương như khói làm khởi sắc những vần ca dao và các bài huyền sử. Đó giọng ngâm của ca sĩ Hoàng Oanh.

Trong những nữ nghệ sĩ ngâm thơ trước năm 1975, Hồ Điệp nổi tiếng nhất, có giọng ngâm tuyệt vời, xuất sắc trong mọi thể loại. Tuy nhiên, Hồ Điệp lại bất hạnh nghiệt ngã nhất sau năm 1975, mất tích trong rừng trên đường vượt biên bằng đường bộ qua ngả Campuchia năm 1987.

Trên tờ Người Việt Boston, Hoàng Hạc viết : “Một người tỵ nạn Việt Nam làm việc cho cơ quan Hồng Thập Tự tại trại tỵ nạn đường bộ Thái Lan đã kể trong bài tự thuật Cánh Bướm Bên Trời : “Chúng tôi nhận được một lá thư nhờ theo dõi giùm tin tức của một người thân đã rời Sài Gòn năm 1987. Thư cũng cho biết nhóm này gồm có 11 người: 5 nam và 6 nữ. Thư cũng nói trong nhóm có Hồ Điệp… 10 Ho Diep 3Ngày tháng trôi đi, thư từ Mỹ qua vẫn tiếp tục hỏi về đoàn người đó và xác nhận chưa thấy họ quay về Việt Nam, như vậy có nghĩa Cánh Bướm [Hồ Điệp] đã tan tác, vì không một ai có thể ở trong rừng sâu suốt 6 tháng mà sống sót được.”

Các con của Hồ Điệp hiện ở Hoa Kỳ, trong số họ có Tiến sĩ Toán học Nguyễn Quốc Quân, một nhà đấu tranh dân chủ bất bạo động,

Giọng ngâm của Hồ Điệp trong trẻo, sắc sảo, ảnh hưởng nhiều điệu cổ nhạc miền Bắc, cao sang, yểu điệu và cổ kính. Hồ Điệp phát chuỗi ngân từ khẩu cái, mà không ở cổ họng, nên người nghe có cảm giác như Hồ Điệp kết lại từng hạt cườm nhỏ li ti. Cách ngâm của Hồ Điệp còn pha điệu lẩy Kiều, Sa Mạc, Bồng Mạc, và cho dù bất cứ lối ngâm nào Hồ Điệp đều sành sỏi, quyến rũ. Đặc biệt bài Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, Hồ Điệp ngâm thật xuất sắc, khó ai có thể vượt qua, nghe như rờn rợn tóc gáy, giọng ngâm ma quái, lánh lót. Vì thế mỗi kỳ lễ Vu Lan, ban Tao Đàn thường mời Hồ Điệp ngâm bài này.

Cho nên nhiều người lầm lẫn cô đầu với nghệ sĩ ca trù, đã có thời vì thế ca trù bị quên lãng, người ca bị nhìn sai lệch. Nữ nghệ sĩ Hồ Ðiệp là bạn quí của những tài danh như Vũ 10 Ho Diep 2Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Hà Thượng Nhân, Cao Tiêu.

Bà tên thật là Nguyễn Thị Tý, tự là Nhu, sinh ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ tức ngày 1 tháng 6, 1930 trong một gia đình nghệ sĩ tại làng Hiệp Lộc, tỉnh Sơn Tây. Gia đình bà nhiều người là các nghệ sĩ chầu Văn, ca ngâm tại các đền chùa, hội hè ở Phủ Giầy, đền Hai Bà, đền Ðức Thánh Trần ở ngoài Bắc.

Theo một bài viết của Vĩnh Tường đăng trên Khởi Hành, Hồ Ðiệp mất vào năm 1987, nhưng theo một bài viết của nữ sĩ Hoàng Hương Trang, có khác. “Di ảnh của Hồ Ðiệp hiện thấy được thờ ở chùa An Lạc, đường Phạm Ngũ Lão quận nhất thành phố Sài Gòn, trên di ảnh đề ngày mất 15 tháng 5 Mậu Thìn (1988). Có lẽ đó chỉ là ngày ra đi của Hồ Ðiệp chứ không phải là ngày mất thật sự.” (Hoàng Hương Trang, Nhớ Nghệ Sĩ Ngâm Thơ Hồ Ðiệp). Vẫn theo nhà thơ nữ thì Hồ Ðiệp được thờ ở đây là do lòng hâm mộ của một thính giả, một người say mê giọng ngâm của bà ở Sài Gòn. Một nhà thơ, tiến sĩ ngữ học Ðại Học Prague, Tiệp Khắc, mệnh danh Hồ Ðiệp là Nữ Hoàng Thanh Sắc với hai câu thơ:

Thanh, sắc vọng mãi Ðất Trời

Nghìn thu cánh bướm vỗ hoài Hồn Thơ.

(Nguyễn Phan Cảnh, Dự báo Bùng nổ Thi Ca)

“Theo cô Thái Hằng [bà vợ Phạm Duy], thì khi còn nhỏ Hồ Ðiệp là một cô bé rất xinh đẹp. Thái Hằng và Hồ Ðiệp có cùng một ông ngoại. Hồ Ðiệp lớn lên ở quê ngoại, còn Thái Hằng theo bố mẹ ra Hà Nội. Mỗi lần Thái Hằng về quê, Hồ Ðiệp chạy thật nhanh từ cổng nhà lên đến tận bờ đê đón các anh các chị với quà Hà Nội… 10 Ho Diep 4Hồ Ðiệp có giọng cười trong như một dòng suối tinh khiết và đôi mắt rất đẹp, ngày đó chưa u ẩn và chưa buồn viễn xứ.”

Sau 1954 tại Sài Gòn, “Thỉnh thoảng, Hồ Ðiệp hay ra sân quét vạt sân rụng đầy lá trứng cá. Cô hay mặc quần satin tuyết nhung, áo phin trắng nõn, gấu và cổ tay có thêu rua. Buổi tối đi hát, cô hay đeo kiềng vàng, mặc áo nhung đen rưng rức trơn một màu, không thêu, không vẽ. Cô choàng tấm khăn san mỏng, chân mang hài cong. Cô trang điểm rất ít, tóc bới cao hay quấn khăn vành dây. Cử chỉ cô cực kỳ khiêm cung, nhỏ nhẹ. Cô có cái đẹp cổ kính của một thục nữ cõi Bắc Hà.” […] Theo lời bà Hồ Liễu (nữ đại tá QLVNCH), sau 1975 Hồ Ðiệp từ chối trình diễn, chỉ nhận lời ngâm thơ tại các chùa, hay tại nhà bạn hữu…

Như báo chí lâu nay vẫn loan tin, nữ nghệ sĩ Hồ Ðiệp vượt biên bằng đường bộ, và từ đó bặt vô âm tín. Không một nhân chứng nào xuất hiện, để thuật lại những gì đã xảy ra cho nữ nghệ sĩ; khác với trường hợp danh hài Khả Năng.

Nghệ sĩ Khả Năng cũng vượt biên đường bộ, và một nhân chứng là nhà thơ Trần Bát Nhã, sau này là chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Louisianna, là chứng nhân, đã thuật lại cái chết của anh, bị bắn chết trong cuộc rượt đuổi cạnh biên giới, như bài tường thuật trên cùng tờ báo.

Logo vannghe A

3 My Nhan 1MỸ NHÂN HOLLYWOOD

“CĂNG THẲNG” VÀO VAI…

NGƯỜI NỔI TIẾNG

Naomi Watts đã rất lo lắng khi nhận vai công nương Diana, Nicole Kidman “phát sốt” khi trở thành bà hoàng Grace Kelly và Michelle Williams đã từng chuẩn bị cho tình huống xấu nhất vì đóng vai Marilyn Monroe…

1/- Naomi Watts vào vai công nương Diana trong phim “Diana” (2013) Vào vai công nương Diana là một áp lực lớn đối với bất cứ diễn viên nào bởi đây là nhân vật được người dân Anh và công chúng thế giới quan tâm, yêu mến. Khi được giao đảm nhiệm vai diễn “khó nhằn” này, thử thách khó khăn nhất đối với Naomi Watts chính là giọng nói quý phái của công nương, một giọng nói vừa thể hiện sự sang trọng đẳng cấp vừa hàm chứa sự ấm áp.

2/- Nicole Kidman vào vai bà hoàng Monaco – Grace Kelly trong phim “Grace of Monaco” (2013) Grace Kelly là một trong những “cô gái vàng” của điện ảnh Hollywood. Bà từng là nữ diễn viên “cưng” của đạo diễn Alfred Hitchcock, tuy vậy, Grace Kelly sớm từ bỏ sự nghiệp diễn xuất để trở thành công nương Monaco. Cuộc đời bà là một trong những câu chuyện truyền cảm hứng nhất ở Hollywood.

Dù là diễn viên nổi tiếng thế giới nhưng khi được giao vai diễn này, Nicole Kidman vẫn rất lo lắng, đồng thời, cô cũng lấy làm hạnh phúc vì biết đây là một vinh dự lớn. 3 My Nhan 2Hình ảnh của Grace Kelly luôn đẹp trong mắt công chúng, vì vậy nữ diễn viên được vào vai này cũng phải chọn lựa rất kỹ càng.

3/- Ashton Kutcher vào vai Steve Jobs trong phim “Jobs” (2013) Khi vào vai Steve Jobs, Ashton Kutcher đã thực hiện chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt của Jobs và hậu quả là anh phải nhập viện sau khi giảm gần 10kg. Đối với vai diễn Steve Jobs, Kutcher luôn cảm thấy khó có thể diễn đạt sự nghiêm khắc ở Jobs trong công việc.

Bên cạnh đó, có một số thương vụ kinh doanh mà cách thực hiện của Jobs bị những người trong nghề đánh giá là “tàn nhẫn”. Tuy vậy, với lòng ngưỡng mộ của mình, Kutcher cho rằng chính bằng sự khắc nghiệt đó mà Jobs đã làm nên những điều kỳ diệu.

4/- Daniel Day Lewis vào vai Tổng thống Mỹ – Abraham Lincoln trong phim “Lincoln” (2012) Nam diễn viên Daniel Day Lewis đã giành được giải Oscar với vai diễn về vị Tổng thống huyền thoại trong lịch sử Mỹ. Bí quyết để Lewis đóng đạt vai này là tin rằng mình chính là Abraham Lincoln.

Sau khi giành được tượng vàng Oscar cho vai diễn xuất sắc, chính Lewis thú nhận rằng 3 My Nhan 3ông rất ghét những câu hỏi phân tích kỹ lưỡng về diễn xuất của ông bởi đối với Lewis “diễn là diễn, chính tôi cũng không hiểu lắm về những gì mình đã làm trên phim trường”.

5/- Meryl Streep vào vai Thủ tướng Anh Margaret Thatcher trong phim “The Iron Lady” (2011) Nhắc đến vai diễn “bà đầm thép”, không nữ diễn viên nào có thể vượt qua Meryl Streep, bà đã giành được tượng vàng Oscar danh giá với vai diễn để đời này. Khi vào vai nữ Thủ tướng Anh Margaret Thatcher, Meryl Streep đã dành rất nhiều mỹ từ để ca ngợi sự nghiệp và tầm vóc của nữ chính trị gia kiệt xuất trong lịch sử chính trường Anh.

Tuy vậy, đối với Meryl Streep, điều bà khâm phục nhất ở Margaret Thatcher chính là sự dũng cảm khi rời xa sự nghiệp chính trị để bước sang một trang mới trong cuộc đời, làm một người phụ nữ bình thường. Đối với bản tính mạnh mẽ của Margaret Thatcher, đó hẳn phải là một cuộc chiến nội tâm dữ dội với nhiều giằng xé mà “The Iron Lady” không thể lột tả hết.

6/- Michelle Williams vào vai “biểu tượng sex của Hollywood” – Marilyn Monroe trong phim “My Week with Marilyn” (2011) Đã có rất nhiều diễn viên từng vào vai Marilyn Monroe,3 My Nhan 4 tuy vậy chỉ có Michelle Williams giành được đề cử tại giải Oscar cho cách nhập vai xuất sắc của mình. Việc vào vai “biểu tượng sex của Hollywood” khiến Michelle Williams có cảm giác như mình thử đùa với lửa. Áp lực vai diễn không hề nhỏ.

Để giúp mình bình tĩnh hơn trong quá trình diễn xuất, Michelle đã hình dung đến những tình huống tồi tệ nhất khi khán giả chê diễn xuất của cô. “Dù sao thì tôi cũng không thể chết vì một vai diễn tệ được”, nghĩ như vậy, Michelle Williams cảm thấy bình tĩnh hơn và nhập vai một cách hoàn toàn thoải mái. (Bích Ngọc theo Zimbio)

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

 

ĐỜI LƯU VONG CỦA NHÀ VĂN DUYÊN ANH

CUỘC ĐỜI LƯU VONG

CỦA NHÀ VĂN DUYÊN ANH

Nhà văn Duyên Anh qua cái nhìn của một người bạn thân, Vĩnh Phúc, Senior Producer của đài BBC. Dưới đây là bài viết của Vĩnh Phúc từ Luân Đôn. 

oOo

Hôm nay, mở e-mail, tôi thấy một bài, tựa đề 20 năm nhà văn Duyên Anh lìa cõi tạm. Tôi ngồi lặng người, để mặc cho bao nhiêu ký ức về Duyên Anh chợt dồn dập trở về.

Tôi còn nhớ như in, chiều ngày 30 tháng chạp năm Bính Tý, từ Luân Đôn tôi bàng hoàng nhận được tin Duyên Anh qua đời ở Paris ngày hôm trước. Tính theo dương lịch thì là ngày 6/2/1997.

Tang lễ cử hành 10 giờ sáng 14/2/1997, hỏa thiêu lúc 14 giờ cùng ngày. Cuối cùng, tôi đi tới quyết định phải kể lại những điều tôi biết về Duyên Anh, để giúp những người ái mộ nhà văn hiểu rõ hơn về anh, đồng thời đính chính những hiểu lầm của người đời, do vô tình hay cố ý.

Ngay khi Duyên Anh sống trên đảo Pulau Bidong chờ được sang Pháp sum họp với vợ con, anh đã liên lạc với tôi ở Luân Đôn. Và cũng vào thời gian này, rắc rối đã xảy ra. Hồi đó, có người kể lại với tôi rằng một số người trên đảo nghe nói là Duyên Anh làm ăng ten khi đi tù cộng sản, nên họ dọa đánh.

Cũng trong thời gian này, con gái Duyên Anh là Vũ Nguyễn Thiên Hương gửi cho tôi và giáo sư Patrick Honey bản thảo hai truyện “Đồi Fanta”, “Một người Nga ở Sài Gòn”. Tôi thấy trong “Đồi Fanta” tác giả mượn lời mấy đứa trẻ bụi đời để chửi các nhân vật lãnh đạo cũ của VNCH như Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, hoặc nhà văn Mai Thảo.

Tôi dùng bút chì đánh dấu những chỗ đó rồi chú thích đề nghị Duyên Anh bỏ các đoạn đó đi, với lý do chúng chỉ làm rẻ tác phẩm mà thôi. Sau đó tôi cảm động và ngạc nhiên khi thấy Duyên Anh nghe theo lời khuyên mà bỏ những đoạn văn đó. Tôi mừng vì nghĩ rằng môt con người cao ngạo và bướng bỉnh như Duyên Anh mà bây giờ biết “tu tỉnh” và biết nghe lời khuyên hợp lý rồi chăng ?

Nhưng không lâu sau thì chứng nào vẫn tật nấy khiến tạo ra biết bao nhiêu là hệ lụy. Tuy nhiên, trong mối giao tình suốt gần hai thập niên 1980, 90, đã có những lần Duyên Anh chịu lắng nghe tôi.

Có thể nói rằng Duyên Anh mang một cuộc sống nội tâm nhiều dằn vặt. Phải chăng điều này tạo ra một Duyên Anh bề ngoài khinh mạn, bướng bỉnh, phá phách ? Có những chuyện riêng tư dường như Duyên Anh chỉ giữ kín trong lòng không hề thố lộ với ai, kể cả người bạn thân nhất, từng gắn bó với Duyên Anh từ thời trai trẻ hàn vi hồi mới di cư, từng hi sinh rất nhiều cho Duyên Anh cả về vật chất lẫn tinh thần, là Đặng Xuân Côn. (Đặng Xuân Côn lớn tuổi hơn Duyên Anh nhưng lấy cô em vợ Duyên Anh, cô Minh).

Đây là ví dụ cho thấy tình thân giữa hai người bạn, và sự hi sinh của Đặng Xuân Côn dành cho Duyên Anh như thế nào: Hồi hai người còn nghèo, với đồng lương thư ký và chỉ đi làm bằng chiếc xe mô bi lét cọc cạch, mà Đặng Xuân Côn dám mua chiếc xe Vespa mới toanh đầu đời cho Duyên Anh.

Và ba lần vợ Duyên Anh đi sanh, thì chính Đặng Xuân Côn là người vào bảo sanh viện trông nom săn sóc sản phụ và hài nhi, khiến cho các bác sĩ và y tá cứ tưởng Đặng Xuân Côn là cha mấy đứa trẻ !

Tôi nghĩ rằng hệ lụy đeo đẳng cuộc đời Duyên Anh có lẽ từ khi Duyên Anh kết hôn. Duyên Anh theo đạo Phật trong khi vợ theo đạo Chúa. Song hình như Duyên Anh cũng không quan tâm chuyện tôn giáo.

Nguyễn Ngọc Phương – vợ Duyên Anh – là con nhà đại điền chủ miền Nam Nguyễn Ngọc Đề, em phó tổng thống thời Đệ Nhất Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Thơ. Ở Long Xuyên có con kinh gọi là kinh Ông Đề, chính do cha vợ Duyên Anh cho đào để đem nước vô giúp dân làm ruộng. Dù lấy vợ nhà giàu và có thế lực nhưng Duyên Anh hầu như không nhờ nhà vợ gì cả, vì mẹ ruột Ngọc Phương mất sớm, và ba chị em gái gặp bà dì ghẻ khắc nghiệt.

Tuy vậy cũng khó tránh được “lời ong tiếng ve” và chính Duyên Anh sau này có viết mấy lần về thái độ xem thường của cậu em vợ, để rồi khi đã có danh vọng thì Duyên Anh “tuyết hận” (chữ của Duyên Anh)

Sau này nhờ có dịp tiếp xúc nhiều nên tôi được biết khá rõ về tính tình của vợ Duyên Anh. Chính vì giữa hai vợ chồng không có được mối quan hệ hòa thuận kẻ tung người hứng, hiểu nhau, thông cảm cho nhau, nên gia đình thỉnh thoảng xảy ra cảnh bất hòa.

Theo ông Trần Kim Tuyến, hồi những năm trước 1975, cứ trung bình khoảng 2, 3 tháng, vợ Duyên Anh lại đến khóc lóc nhờ ông và linh mục Thiên Hổ (Nguyễn Quang Lãm, báo Xây Dựng) đi tìm Duyên Anh vì anh chàng cãi nhau với vợ, đã bỏ nhà đi biệt.

Hai vị niên trưởng lại phải cho người đi dò la tin tức Duyên Anh, rồi khuyên nhủ hắn về với gia đình. Đã đành vợ chồng nhà nào cũng đôi khi có chuyện mà người ta gọi là “bát đĩa có khi xô”. Nhưng với Duyên Anh hình như tình trạng này không phải chỉ xảy ra “thỉnh thoảng”.

Sau này, khi đã lâm cảnh mất nước, mất nhà, thân đi tù đi tội, thế mà cũng vẫn còn cảnh xào xáo lục đục. Lắm khi tôi cứ giả thiết : nếu Duyên Anh lấy một người vợ tính tình nhu mì, biết cách chìu chồng, biết nhẫn nhịn chịu đựng, thì có lẽ Duyên Anh đã không gây gổ và có cuộc sống gia đình thật hạnh phúc. Duyên Anh ham bạn, rồi khi có sẵn đồng tiền thì lại ham chơi vung vít.

Khi sống cuộc đời tị nạn ở Paris, không còn tiền để vung vít nữa, nhưng tính ham bạn vẫn còn. Cộng thêm hoàn cảnh sống gò bó cả tinh thần lẫn vật chất, nên càng thèm bạn và chỉ còn cách tìm sự khuây khỏa bằng ly rượu. Bởi vậy, trong một lá thư gửi cho tôi hồi cuối năm 1987 trước khi bỏ Paris sang Hoa Kỳ, Duyên Anh thổ lộ tâm sự với tôi, còn bình thường không hề hé môi.

Trước đó không lâu, Duyên Anh tỏ ra buồn và cô đơn vì cuộc sống ở Paris không thích hợp với mình, nên đã làm bài thơ Lưu đầy gồm 100 câu gửi tặng tôi. Hiểu rõ tâm trạng Duyên Anh, tôi đã viết trả lời bằng bốn câu có giọng hơi trách móc như sau:

“Đến được đây ta ở lại đây

Có ai vui kiếp sống lưu đầy

Sao vội quên câu “sông có khúc…”

Địa ngục, thiên đàng, ai tỉnh say ?”

Viết như vậy, nhưng tôi biết rất rõ rằng Paris không phải nơi có thể cầm chân Duyên Anh được. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn cho Duyên Anh biết rằng đất Mỹ cũng chưa hẳn sẽ là nơi thích hợp với anh. Bởi vì bây giờ thời thế đã đổi khác. Những người bạn mà anh tưởng có thể chia bùi xẻ ngọt, những người trước kia đã nhờ vả anh hoặc tỏ ra hào sảng với anh; tất cả bây giờ đã đổi khác rồi. Sẽ khó trông mong gì ở họ. Có kẻ gặp vận may trở nên khá giả, nhưng họ làm mặt xa lạ chứ không nồng nhiệt với anh.

Có những người còn tình nghĩa nhưng lâm cảnh “ốc chưa mang nổi mình ốc làm sao mang cọc cho rêu”. Tôi cũng nhắc nhở Duyên Anh rằng nếu vẫn cứ muốn đi Mỹ thì phải rất thận trọng. Vì đất Mỹ vốn có lối sống rất bạo động, mà bằng cách ăn nói, viết lách đụng chạm, gây thù oán với nhiều người của Duyên Anh thì khó tránh được tai họa.

Nhưng sau khi đọc hai lá thư cuối cùng của Duyên Anh viết từ Paris, tôi mới hiểu rõ thêm những nguyên nhân thúc đẩy Duyên Anh có quyết định dứt khoát. Trước nhất là sự việc liên quan đến buổi ra mắt 3 băng cassette nhạc do Duyên Anh thực hiện. Trước đó một thời gian Duyên Anh viết cho tôi, nói rằng cần tiền để làm việc này. May mắn là một mạnh thường quân giúp một khoản lớn, một vài anh em khác ủng hộ những món nhỏ. Và Duyên Anh ngỏ ý “vay” tôi một khoản nhỏ, hứa bán xong cassette sẽ trả ngay. Tôi đã gửi “ủng hộ, chứ không vay mượn gì cả”.

Chẳng ngờ, khi buổi ra mắt băng nhạc được tổ chức khá xôm tụ với hi vọng tràn trề của Duyên Anh, thì bất ngờ vợ Duyên Anh ập đến phá đám. Bởi vì vị mạnh thường quân của Duyên Anh là một phụ nữ.

Người này tôi đã biết, và khoảng nửa năm trước đã mời tôi cùng Duyên Anh về nhà ăn cơm. Đây là một phụ nữ đã có hai con gái học trung học và đại học ở Mỹ. “Bị” mời thì tôi đến, nhưng tôi không tỏ ý kiến tán thành hay phản đối mối liên hệ này của Duyên Anh.

Vì tôi nghĩ bạn tôi đã quá khôn ngoan từng trải và nhiều tài hoa do đó đi đến đâu cũng có rất nhiều người mến mộ. Đó là chuyện… bình thường. Còn tôi “tài hèn trí đoản”, nên chỉ biết an phận mà thôi. Vì vụ đánh ghen bất ngờ đó mà Duyên Anh và vị mạnh thường quân được bằng hữu đưa vội ra cửa sau, biến mất; còn quan khách cứ tự động giải tán trong sững sờ.

Sau đó, vợ Duyên Anh tịch thu hết băng nhạc, cho nên không ai mua được, và chỉ một số rất nhỏ bạn thân của Duyên Anh có được các băng nhạc đó mà thôi. Sau vụ này Duyên Anh viết thư cho tôi.

Tất nhiên, không khí gia đình Duyên Anh càng kém vui hơn. Có lẽ sự dằn vặt của vợ đã khiến cho Duyên Anh đi đến quyết định dứt khoát là bỏ gia đình, bỏ Paris để đi Mỹ, mặc dù chưa có quốc tịch Pháp, mà cũng chẳng có một thứ bảo hiểm nào cả, trong đó bảo hiểm du lịch là tối quan trọng.

Chính vì vậy mà khi bị hành hung ngày 30/4/1988, Duyên Anh lâm vào tình trạng rất bi đát. Trong lá thư cuối viết từ Paris, Duyên Anh tỏ cho tôi biết quyết định dứt khoát. Hình như khi sang Mỹ, Duyên Anh đến ở với gia đình Đặng Xuân Côn một thời gian ngắn, rồi đi gặp một số bạn cũ và mới, rồi cũng viết cho một hai tờ báo (hồi đó báo chí Việt Nam ở hải ngoại còn phôi thai lắm). Và dĩ nhiên, Duyên Anh cũng đả kích vung vít khá nhiều người. Đụng chạm lớn nhất có lẽ là với mặt trận Hoàng Cơ Minh mà nghe nói hồi đó đang phát triển mạnh lắm.

Những hệ lụy do Duyên Anh tạo ra khiến đưa đến vụ hành hung thô bạo. Tôi thương và buồn cho Duyên Anh. Không lâu sau khi Duyên Anh đến Paris từ Pulau Bidong, tôi đã sang ngay để phỏng vấn và tường thuật trên BBC.

Còn nhớ, tôi đã chỉ mặt Duyên Anh mà bảo : “Thôi nhé. Từ nay hãy chôn bỏ những thằng Thương Sinh, Bếp Nhỏ, Thập Nguyện v.v… mà chỉ giữ lại thằng Duyên Anh nhé ! Để cho người ta thương và tránh gây thù chuốc oán. Vả lại, viết lách và làm báo ngoài này rất khác với trong nước như cách các ông quen làm trước 1975”.

Khi đó, Duyên Anh đã cười, trả lời, “Tôi hứa với ông và thề sẽ chỉ giữ lại một thằng Duyên Anh thôi”. Và vợ Duyên Anh đã đúng khi nói : “Anh Duyên Anh thề cá trê chui ống !”

Những huyền thoại quanh vụ Duyên Anh bị hành hung

Đã 29 năm rồi, kể từ cái ngày định mệnh 30/4/1988, ngày nhà văn Duyên Anh bị đánh suýt vong mạng. Lúc đó là 5 giờ sáng giờ Luân Đôn. Chuông điện thoại reo, tôi ngạc nhiên bật dậy khỏi giường và lẩm bẩm, “Ai gọi sớm thế !” Đầu dây bên kia, tiếng vợ Duyên Anh khóc và kể rằng chồng bị người ta đánh hôn mê bất tỉnh, chắc là chết mất !

Tôi sững sờ, hỏi xem tình trạng Duyên Anh ra sao. Chị Ngọc Phương vẫn mếu máo, bảo, “Đưa vào nhà thương, nhưng vì anh Duyên Anh không có giấy tờ, không có bảo hiểm, nên chúng nó vất nằm một xó như con chó, không biết gì cả. Anh làm ơn gọi ngay cho bệnh viện, bảo lãnh cho anh Duyên Anh, thì họa may họ mới chữa cho. Anh làm ngay đi !”

Tôi hỏi tên bệnh viện, số điện thoại, và tên bác sĩ trực hôm đó. Vợ Duyên Anh cho mọi chi tiết. Bây giờ tôi chỉ còn nhớ được ông bác sĩ hôm đó có tên Fernandez (?) nên đoán ông ta gốc Mễ. Tôi gọi ngay, xin nói chuyện với ông ta, xưng tên họ, là senior producer trong đài BBC London, cho số điện thoại sở cũng như nhà riêng, kèm theo địa chỉ.

Tôi cho biết Duyên Anh là một nhà văn nổi tiếng của VNCH, từ Paris sang Mỹ chơi, chứ không phải một tên vô gia cư. Và tôi thay mặt gia đình Duyên Anh, hứa sẽ thanh toán mọi phí tổn của bệnh viện. Sau đó, tôi gọi luôn đại diện Pen Club International ở Mỹ, nói cho biết sự thể, và đề nghị họ cũng gọi cho bệnh viện để giới thiệu thân thế và sự nghiệp Duyên Anh.

Tôi lại gọi đại diện Secours Catholique của Pháp (một tổ chức thiện nguyện Công giáo) yêu cầu họ làm tương tự. Rồi sau được biết là Đặng Xuân Côn và con trai lớn của Duyên Anh là Vũ Nguyễn Thiên Chương đã từ Texas bay sang ngay để săn sóc cho Duyên Anh và lo mọi thủ tục giấy tờ.

Tôi yên tâm vì Đặng Xuân Côn và Thiên Chương đã có mặt ngay bên cạnh Duyên Anh. Rồi được biết là sau một thời gian chữa trị trong bệnh viện, Duyên Anh được cho về. Một mạnh thường quân dấu tên (sau này nghe nói là Bùi Bỉnh Bân), đã bí mật đem Duyên Anh về tiếp tục săn sóc.

Theo gia đình Duyên Anh thì người này phải giữ hoàn toàn bí mật, vì vào thời điểm đó người Việt tị nạn sống ở Mỹ rất hoang mang sau vụ Duyên Anh bị hành hung. Trước đó đã thỉnh thoảng có người bị khủng bố hoặc sát hại vì bày tỏ thái độ chính trị.

Vợ con Duyên Anh còn sợ rằng kẻ thù sẽ tiếp tục truy tìm để làm cho Duyên Anh chết luôn hầu bịt miệng. Cơ quan FBI gặp bế tắc vì cộng đồng người Việt tại Orange County không có ai dám hợp tác để giúp cho cuộc điều tra truy tìm hung thủ. Người ta sợ và hèn!

Trong khi đó, lại không thiếu những tin đồn, những lời rỉ tai trong quần chúng cũng như trong giới cầm bút về tình trạng sức khỏe của Duyên Anh. Những người bạn tốt muốn tìm hiểu sự thực cũng mù tịt, trong khi có người tung tin là Duyên Anh đã về Pháp rồi.

Thậm chí có một vài ông trong giới cầm bút còn tuyên bố (như thật) rằng tổng thống Mỹ ra lệnh dùng một chuyến bay riêng để đưa Duyên Anh về Pháp, có nhân viên FBI đi theo bảo vệ ! Ông khác lại nói rằng tổng thống Pháp ra lệnh đem một máy bay đặc biệt sang đưa Duyên Anh về Pháp.

Ấy thế mà người Việt mình quả thật quá dễ tính, cứ tin là có thật. Nực cười nhất là cho đến tận ngày nay mà vẫn còn có nhiều người tin như vậy ! Vậy sự thật ra sao ? Sự thật là sau một thời gian chờ đợi cho Duyên Anh phục sức để có thể ngồi máy bay về Pháp, tổ chức thiện nguyện Secours Catholique của Pháp gửi tặng 2 vé máy bay. Một cho Duyên Anh và một cho một người thân đi theo săn sóc. Chỉ có vậy thôi.

Và từ đó, tại Paris, mỗi tuần Duyên Anh phải vào bệnh viện mấy lần để cho bác sĩ theo dõi sức khỏe, rồi được cho tập vận động nhẹ nhàng, nếu không thì sẽ bị bại liệt luôn. Thế rồi, với thời gian, với việc tập vận động, lần lần Duyên Anh sử dụng được tay trái và chân trái.

Nghĩa là nửa người bên trái phục hồi tuy không mạnh như xưa, còn nửa bên phải vẫn liệt. Tôi lại luôn luôn gọi qua Paris khích lệ để Duyên Anh đừng nản chí. Tôi thường nhắc Duyên Anh về một thí dụ mà chính Duyên Anh đã viết trong truyện của mình về tấm gương nghị lực và ý chí phấn đấu không chịu khuất phục trước nghịch cảnh, đó là con gọng vó, một loài nhện nước chân dài lêu khêu trông như những gọng của cái vó đánh cá.

Trong một đoạn văn, Duyên Anh tả con gọng vó đứng trên một dòng nước chảy xiết. Nó bị dòng nước cuốn xuôi, nhưng không chịu thua. Nó gắng hết sức vượt lên, ngược dòng. Rất nhiều lần nó bị cuốn xuôi, nhưng nó nhất định không chịu khuất phục, lại vượt lên ngược dòng. Và tôi đã nhắc Duyên Anh hình ảnh con gọng vó để cho Duyên Anh lên tinh thần, khắc phục nghịch cảnh.

Duyên Anh hứa với tôi sẽ làm như con gọng vó. Qủa nhiên, một thời gian sau, Duyên Anh đã viết bằng tay trái khá nhanh, tuy không đẹp được như ngày xưa viết bằng tay phải. Ngày xưa Duyên Anh nổi tiếng viết khá nhanh, chữ nhỏ li ti như con kiến, và rất đều, thẳng tắp. Bây giờ viết tay trái không nhanh và đẹp bằng, nhưng chữ cũng nhỏ và đều đặn.

Họa vô đơn chí

Duyên Anh bị hành hung 30/4/1988, còn đang thời kỳ phục hồi sức lực và gặm nhấm đau thương thì thảm họa lại bất ngờ chụp xuống đầu anh một lần nữa. Đó là sự mất đi đứa con gái duy nhất mà Duyên Anh rất thương vì cháu rất thông minh lanh lợi : Vũ Nguyễn Thiên Hương cùng chồng tử nạn trong chuyến máy bay trở về, sau chuyến đầu tiên về thăm quê nội làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chồng của Thiên Hương là David McAree, một thanh niên hiền lành gốc Tô Cách Lan. David nói tiếng Việt khá giỏi và trước kia có thời gian làm cho đài BBC.

Khoảng gần cuối năm 1988, một hôm vợ Duyên Anh gọi điện thoại than phiền với tôi rằng con gái muốn đem chồng về thăm quê nội, nhưng chị không muốn. Chị cố thuyết phục và ngăn cản, nhưng nó vẫn giữ ý định. Cuối cùng, chị nói, “Tao bảo mày không nghe, mày cứ đi, nếu mày có rớt máy bay mày chết, tao cũng không thương đâu !” Tôi kêu lên, “Sao chị ăn nói gì kỳ cục vậy ? Nói gở như vậy, nếu rủi có chuyện gì xảy ra thì chị sẽ ân hận suốt đời đấy !”

Rồi vì bận rộn công việc, tôi cũng quên chuyện đó. Cho tới một hôm, em trai của Thiên Hương là Thiên Sơn gọi điện thoại sang báo tin, “Bác ơi ! Chị Hương cháu tử nạn máy bay rồi ! Bố cháu bảo cháu báo tin cho hai bác”. Tôi như bị điện giật, sửng người đi một lát mới hỏi, “Sao ? Còn thằng David ? Bố cháu nay ra sao ?” Sơn đáp : “Cả anh David cũng chết luôn. Bố cháu chỉ ngồi yên, không nói gì”

Thì ra, vợ chồng cháu Hương về Việt Nam, ghé về quê nội thăm họ hàng. Ở chơi ít ngày, David còn nhảy xuống tắm ở ao làng, cả làng ra xem. Không ngờ trên chuyến bay đến Bangkok trước khi về Pháp thì máy bay đâm xuống ruộng lúa khi gần tới thủ đô Thái Lan làm 76 người thiệt mạng. Bà mẹ góa của David McAree xin đem hài cốt của con trai và con dâu về chôn trong hai ngôi mộ cạnh nhau gần nhà ở Tô Cách Lan.

Một thời gian sau, vợ chồng Duyên Anh được Thiên Chương là con trai lớn cùng Đặng Xuân Côn từ Mỹ sang, đưa đi thăm mộ Thiên Hương ở Tô Cách Lan. Họ ghé nhà tôi ở Luân Đôn làm trạm nghỉ chân ít ngày.

Vợ Duyên Anh không ngớt cằn nhằn chồng tại sao để cho bà sui gia giành lãnh hết tiền bồi thường của hãng hàng không. Phần Duyên Anh chỉ nói, “Cái mạng con mình đã mất rồi, còn chẳng giữ được, tranh giành tiền bạc để làm gì ?”

Những tháng năm cuối đời

Bị tàn tật, chỉ sử dụng có nửa người bên trái, lại bị thêm thảm họa mất con gái, Duyên Anh như chết lịm hẳn đi. Nay trong mắt người vợ, Duyên Anh mất giá hẳn. Cho nên Duyên Anh lại càng phải nghe những lời cằn nhằn vốn đã quá quen thuộc. Tôi không ngạc nhiên khi thấy Duyên Anh rất muốn thoát khỏi không khí tù túng của gia đình.

Thỉnh thoảng Duyên Anh sang ở với tôi ít ngày. Trong những dịp như thế, tôi lại đưa lên thành phố Cambridge cho anh thăm ông Trần Kim Tuyến và nhà văn lão thành Lãng Nhân Phùng Tất Đắc.

Những lúc như thế, Duyên Anh vui lắm, cứ như cá gặp nước. Tuy nhiên, tôi vì bận công việc nên khó thu xếp thời giờ để luôn luôn giúp bạn vui. Ngay như ở Paris, không dễ gì để Duyên Anh có thể đi đây đi đó gặp gỡ bạn bè. Họa hoằn mới nhờ được người đem xe đến chở đi. Và người có lòng tốt cũng lại ngại ngùng không muốn làm phật lòng bà Duyên Anh.

Hình như bà không muốn chồng đàn đúm, vui vẻ với bạn bè. Ngày xưa Duyên Anh còn khỏe mạnh, sẵn tiền bạc, danh vọng, thì có lý do chính đáng để bà giữ chồng vì sợ tính nết trăng hoa của chồng đã đành. Nhưng nay Duyên Anh đã tàn phế, thất thế, không tiền bạc, mà bà cũng không muốn cho chồng ra ngoài.

Khoảng giữa năm 1995, chẳng hiểu vì sao, Duyên Anh phải kéo lê cái va li nhỏ, được bà đầm hàng xóm kêu giùm cái xe taxi, để đến tá túc ở nhà bà Bích Thuận. Rồi bà Bích Thuận bị vợ Duyên Anh gọi điện thoại dùng lời lẽ khá bất nhã.

May quá, dịp đó bác sĩ Tuyến đang có mặt ở Paris, liền mua vé máy bay cho Duyên Anh sang Luân Đôn, định đến ở nhà tôi. Nhưng lại gặp rủi, là vì đúng ngày hôm sau tôi phải lên đường đi Việt Nam công tác sáu tuần lễ. Nên Duyên Anh phải lên Cambridge ở 3 tuần với bác sĩ Tuyến. Sau đó ông lại mua vé cho Duyên Anh sang Mỹ.

Sang California, Duyên Anh được một số đàn em cưu mang : ở với Vũ Trung Hiền một thời gian, rồi Nguyễn Kim Dung đón về ở một thời gian. Trong những năm này, có lần Duyên Anh trở về Paris để lấy quốc tịch Pháp. Nghe nói cũng thời gian này, FBI cử nhân viên sang Paris gặp Duyên Anh, cho biết họ đã tìm ra kẻ hành hung Duyên Anh trước kia.

Nếu Duyên Anh muốn thì khởi tố, họ sẽ bắt và đưa hung thủ ra tòa. Nhưng Duyên Anh trả lời rằng anh không muốn làm gì nữa. Người Mỹ làm việc quá chậm, còn anh thì đã cảm thấy chán hết mọi chuyện rồi. Thôi hãy bỏ đi ! Cho nên vụ án này chìm và bị quên luôn !

Không phải tới năm đó Duyên Anh mới “bỏ qua” vụ án. Năm 1991 Duyên Anh sang nhà tôi. Tôi đã phỏng vấn để phát trên đài BBC. Khi được hỏi về vụ bị hành hung, Duyên Anh trả lời không còn thù hận gì những kẻ hành hung mình. Duyên Anh bảo họ cứ sống thản nhiên, đừng lo ngại. Theo anh, có thể người ta nghĩ rằng anh đã sợ. Nhưng ai muốn nghĩ sao tùy ý.

Điều xót xa đau đớn cho Duyên Anh là trong những tháng năm cuối đời, khi đã thất thế, thân thể tàn tật, chỉ có thể sử dụng được tay trái và chân trái, nói năng cũng chậm chạp, đầu óc không còn minh mẫn như xưa, nên lắm khi cần phải có người giúp đỡ trong các sinh hoạt hàng ngày.

Vốn là người nhiều nghị lực và tự ái, Duyên Anh cố gắng, không muốn nhờ vả ai cả. Ngay trong gia đình đã thiếu đi tình thương yêu và sự an ủi săn sóc của một người vợ hiền. Cứ nhìn cảnh Duyên Anh ngồi ăn cũng đủ thấy hoàn cảnh bi đát của anh. Thường thường, Duyên Anh thích được ăn cơm để trong cái tô lớn, có chan canh, để có thể dùng tay trái xúc bằng muỗng mà ăn. Gặp những món ăn cứng, thái miếng to, hay phải gắp bằng đũa thì chịu chết !

Đã vậy, còn bị đổ vãi ngoài ý muốn. Có khi chỉ vì một sự bất ưng ý nào đó, tô cơm đang ăn bị lấy đi, đem đổ vào thùng rác! Cho nên, đã từ lâu rồi, Duyên Anh chỉ muốn vùi đầu vào ly rượu để quên đời, quên sầu tủi.

Tiểu sử nhà văn Duyên Anh (1935-1997)

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ.

Ông sinh ngày 16/8/1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông học tiểu học và trung học ở Thái Bình và Hà Nội. Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề : bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi ta, dạy sáo.

Năm 1960, được sự nâng đỡ tận tình của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy…. viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt, giọng văn tha thiết, nhẹ nhàng và tình cảm.

Sau đó ông trở thành một ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như : Xây dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc…

Có một dạo, Duyên Anh thường viết về giới giang hồ, bụi đời trong xã hội trước năm 1975. Trong tác phẩm của Duyên Anh ca ngợi lối sống phóng khoáng, bất cần đời của giới trẻ bị bế tắc trong cuộc sống. Tuy nhiên vẫn thấm đậm một tính cách nghĩa khí và các nhân vật của Duyên Anh đều sẵn sàng chết vì tình nghĩa và chữ tín của mình. Các tác phẩm mổi tiếng phải kể đến “Ðiệu ru nước mắt”, “Luật hè phố”, “Dzũng ÐaKao”, “Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang”, “Nặng nợ giang hồ”, “Bồn Lừa”…

Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975,ngày 8/4/1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo. Sau khi ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11/1981 ông vượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như “Đồi Fanta”, “Một Người Nga ở Sài Gòn”. Thời gian này, ông cũng có viết thơ và soạn nhạc. Năm 1985, ông bắt đầu cộng tác với tờ Ngày Nay và trở thành một trong những cây bút trụ cột của báo này.

Ngày 6/2/1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp. (theo Vĩnh Phúc)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

TÁC GIẢ CA KHÚC ‘THUYỀN VIỄN XỨ’

TÁC GIẢ BÍ ẨN CỦA

‘THUYỀN VIỄN XỨ’

Lúc sinh thời, Phạm Duy rất tâm đắc tác phẩm “Thuyền viễn xứ” mà ông phổ nhạc từ bài thơ của một thi sĩ ẩn danh – bút danh Huyền Chi. Huyền Chi là ai và cô đang ở đâu ?

– Ca khúc : Thuyền Viễn Xứ

Nhạc Phạm Duy – thơ Huyền Chi – Trình bày : Lệ Thu : https://youtu.be/MInJX7k-AXk

Tôi đã gặp Phạm Duy lúc ông về Việt Nam, trong ngôi nhà khá vắng người, ông nói : “Bài nào viết ra tôi đều thích cả, nhưng trong đó “Thuyền viễn xứ” là một trong những bài tôi thích nhất. Tiếc là tôi không gặp lại được tác giả bài thơ hay đó. Nó là kỷ niệm của một thời đất nước loạn ly, những kẻ xa quê lòng luôn hướng về quê cha đất tổ”.

Một đời ẩn dật

Có một vài bài báo viết về tác giả Huyền Chi nhưng việc gặp được bà không hề dễ dàng bởi hầu như chưa bao giờ thấy Huyền Chi xuất hiện trong một sự kiện âm nhạc hay thơ văn nào mấy chục năm qua. Một lần tình cờ, một nghệ sĩ nhiếp ảnh là con người bạn của bà Huyền Chi nói với tôi về tác giả “Thuyền viễn xứ”: “Theo mình biết, cô Huyền Chi vẫn làm thơ, nhưng cô ấy không xuất bản”.

Nhờ có sự giới thiệu, tôi đã tìm gặp được tác giả bài thơ đã trở thành lời nhạc đi vào lòng nhiều thế hệ, nhưng vừa gặp cô đã bảo : “Tôi chẳng có gì mà kể cả đâu”. Rồi câu chuyện trở nên nóng hơn xung quanh tập thơ duy nhất ấy. Cô bảo : “Từ năm 1975 tới nay tôi thất lạc tập thơ của mình và cũng chẳng hy vọng một ngày lại nhìn thấy nó.

Sau khi chồng tôi mất, tôi buồn lắm, các con tôi bảo tôi nên chơi facebook. Tôi vào thế giới ảo, không lấy tên thật, nhưng có đưa tác phẩm của mình lên, ấy thế mà một số bạn đọc nhận ra tôi và họ từ Mỹ gửi tặng tôi một bản phô tô tập thơ của mình. Tôi không còn gì sung sướng hơn khi hơn 40 năm mới nhìn lại tác phẩm tâm huyết của cuộc đời mình, dù chỉ là bản phô tô từ giấy in rất xấu thời đó”.

Tác giả Huyền Chi năm nay đã 84 tuổi. Cô vẫn dạy Anh văn, một cách để rèn luyện trí nhớ, theo cách cô nói. Cô vẫn làm thơ, viết hồi ký, nhưng không phải để in mà để ghi lại những nỗi lòng mình. Cầm tập thơ của mình trên tay, cô lật giở cho tôi đến trang thơ in bài “Thuyền viễn xứ”. Giọng đọc của cô du dương, vần điệu, nhưng rất khúc chiết, mạnh mẽ :

Lên khơi, sương khói một chiều

Thùy – dương rũ bến tiêu – điều ven sông

Lơ – thơ rớt nhẹ men lòng

Mây trời pha dáng lụa hồng giăng ngang

Có thuyền viễn xứ Đà – Giang

Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa

(Thuyền viễn xứ)

Lòng già mong con

“Những năm 1951-1952, lúc ấy cô làm thư ký tòa soạn mục thơ cho một tờ báo, cô vừa làm vừa học. Lúc đó cô có in tập thơ đầu tiên. Thình lình ông Phạm Duy vào. Ông ấy quen bà chủ nhà in, bà ấy giới thiệu. Cô mới đưa cho ông tập thơ vừa in xong. Ông Duy mới nói cô viết ký tặng cho ông ấy và sau này ông thích ông sẽ xin phép phổ nhạc. Đó cũng là lần gặp gỡ duy nhất giữa hai chúng tôi”. Tác giả “Thuyền viễn xứ” kể về những ngày tháng lúc cô mới 18 tuổi và tự bỏ tiền ra in tập thơ đầu tiên.

Nói về thơ và nghệ thuật làm thơ, nhà thơ Huyền Chi cho biết : “Tôi thích tất cả các nhà thơ. Trong thơ, tôi rất trọng vần điệu.Không có bài nào của tôi không có điệu. Có người hỏi tôi thế nào là bài thơ hay ?  Tôi nói rằng: ý thì nhiều mà không có vần điệu thì bài thơ vẫn phải là bài thơ hay. Trong thơ phải có nhạc. Không có vần điệu, thơ chỉ như câu văn ngắn, không phải thơ. Có vần điệu mới có nhạc, có thơ”.

Một nhà thơ nữ mới 18 tuổi đã in thơ, phụ trách mục thơ của một tờ báo là chuyện khá hiếm vào những năm 1950. Thi sĩ Huyền Chi yêu thơ từ nhỏ: “7 tuổi đã biết chép thơ rồi” – cô nói. Bố cô làm giám đốc hỏa xa 3 tỉnh, ông tên Hồ Văn Ánh. Cô quê gốc Bắc Ninh, sinh năm 1934, khi ấy ông cụ do công việc duy trì đường hỏa xa, ông đi từ Bắc vào Nam.

Đi tỉnh này mấy năm, qua tỉnh khác mấy năm. Sinh cô ở Sài Gòn mà gia đình thì ở Phan Thiết. Ông cụ yêu thơ nên đặt tên các con là Nghiên, Thư. Đến cô con gái nhỏ này ông đặt tên là Hồ Thị Ngọc Bút. Cô bảo : “Khi làm thơ, ban đầu tôi lấy bút danh Khánh Ngọc, sau đó lấy bút danh Huyền Chi”.

Cuộc đời gia đình cô ly tán như biết bao gia đình thời kỳ chống Pháp. Cô kể : “Cha cô về Bắc và chết ngoài Bắc năm 1947. Ngoài Bắc khi ấy còn bà nội ở Bắc Ninh. Bà hấp hối, kêu cả nhà về. Lúc đó anh của cô bị bệnh, má cô nói là để về sau, để chồng ra Bắc trước. Ngoài Bắc có chiến sự giữa Việt Minh và Pháp, cha không vào Nam được.

Năm 1954 cha viết thư vào bảo “Mình (má cô) phải về, con thì đứa nào về được thì về”. Lúc đó mình má cô về Phù Lưu (Bắc Ninh). Sau bà cụ mất trước, bà cụ mất sau. Còn cô thì ở lại Sài Gòn, cha mẹ mất mà không nhìn thấy mặt”.

Về bài thơ, tác giả cho tâm sự : “Cô buồn mà viết bài đó, trước khi sông Gianh chia đôi đất nước. Cô viết khoảng năm 1951-1952. Đà Giang là mình tưởng tượng thôi, chứ lúc viết thì không ra Bắc được. Hồi đó chính trị khó khăn nên mình không nói rõ hết mọi sự về thân phận của cô là người gốc Bắc”.

“Có người nghe bài hát của Phạm Duy phổ nhạc, hỏi rằng “cố lý” có phải một địa danh ở Bắc không, xin thưa, cố lý chỉ có nghĩa là quê xa thôi. Phù Lưu, Bắc Ninh mới là quê của tôi. Lúc nhỏ vì bố làm nghề hỏa xa nên năm nào cũng được ra Bắc nghỉ hè, về quê.Trong bài hát có hình ảnh mái đầu bạc là mô tả mẹ của cô”.

“Sáu mùa mưa gió phũ phàng

Bến sông quay lại hướng làng nẻo xa

Lệ nhòa như nước sông Đà

Mái đầu sương tuyết mẹ già mong con”.

(Thuyền viễn xứ)

Cô Huyền Chi trầm ngâm : “Sau khi nhận thư của bố tôi bảo má tôi phải ra Bắc, bà đã bỏ sạp vải trong chợ Bến Thành ra với chồng, kể từ đó, tôi một thân một mình ở Sài Gòn, thương cha, nhớ mẹ, một mình lủi thủi nơi đất khách quê người. Tôi lập gia đình và bỏ luôn nghiệp làm thơ vì phải bận rộn cùng chồng nuôi 7 đứa con dại”.

Một đời ẩn dật

Năm 1954 thi sĩ lập gia đình khi mới đôi mươi. Chồng nhà giáo, đông con, phải giúp chồng làm kinh tế. Cô mở hiệu sách bán và dạy Anh văn. Trong cuộc đời ta, ai cũng muốn trở thành người nổi tiếng và nổi tiếng đôi khi cũng có nhiều cái lợi.Huyền Chi không nghĩ như vậy.

Cô bảo : “Tôi rất sợ hư danh, tôi không muốn nổi tiếng. Sau khi Phạm Duy phổ nhạc, bài hát rất nổi tiếng, những bản in của bài hát được bán khắp nơi, ai cũng hỏi Huyền Chi là ai vậy ? tôi không bao giờ xuất hiện và tôi cũng không nhận một đồng tác quyền nào từ bài hát này trước 1975, mặc dù tôi biết rằng số tiền nhuận bút khi ấy rất lớn. Phạm Duy không tìm được tôi, nên trên nhiều bản in của bài hát ấy có ghi dòng chữ Phạm Duy nhắn gửi: Huyền Chi cô ở đâu ?”.

Tôi nói với cô Huyền Chi rằng khi Phạm Duy còn sống, trong vài lần trò chuyện cùng tôi, ông cũng nói rằng bài “Thuyền viễn xứ” là một trong những bài hát mà ông viết ra rất nhanh, cảm xúc và rất yêu thích. Tiếc rằng không gặp lại được tác giả bài thơ.

Cô Huyền Chi tủm tỉm cười, gật đầu bảo : “Tôi biết nhạc sĩ Phạm Duy đi Mỹ rồi trở về định cư ở Việt Nam. Thông qua một người bạn, ông ấy viết thư cho tôi, bày tỏ ý định muốn gặp lại tôi. Nhận được thư, đọc xong, tôi xé quẳng vào thùng rác. Tôi không muốn gặp ông ấy, hay đúng hơn là tôi không muốn trở thành một người nổi tiếng làm gì”.

Cuộc đời của thi sĩ Huyền Chi thật không dễ dàng. Sau khi lấy chồng, cô phải làm đủ thứ việc để nuôi con và không làm thơ nữa. Sau năm 1975, cô được ông anh cho một ít ruộng để làm, mưu sinh, bởi khi ấy không ai cho dạy thêm, dạy kèm. Cô bảo : “Vì chúng tôi có ruộng nên không vào diện được cấp gạo. Tiếng có ruộng mà có ai biết cấy trồng gì đâu, trong nhà có lúc không còn gì ăn. May rồi cuộc sống cũng dần thay đổi, tôi lại được đi dạy Anh văn ở các trung tâm, từ đó cuộc sống dần qua lúc cùng cực”.

Tuổi 84, cô Huyền Chi vẫn đọc, vẫn viết, như thỏa mãn niềm đam mê đã bị bỏ lỡ một thời. Cô bảo : “Tôi viết thơ và đăng trên facebook của mình, nhờ thế mà tôi tìm được đứa cháu bên Pháp hơn 40 năm không gặp. Nó về Việt Nam nhiều lần tìm tôi, đăng báo tìm tôi mà không gặp nhau. Nhờ mò mẫm trên mạng mà nó tìm ra tôi, cũng nhờ tôi đăng lại bài “Thuyền viễn xứ” trên facebook, nhiều người vào bình luận mà nó tìm được tôi”.

Người cháu ấy là con anh trai của cô Huyền Chi. Người anh trai đã mất từ lâu, đứa cháu chỉ biết thông tin về cô của mình chính là tác giả bài thơ “Thuyền viễn xứ”, cứ thế mà nó mò mẫm tìm cô. Lúc tôi tới gặp cô, người cháu cũng đang ở Việt Nam. Cô Huyền Chi vui vẻ bảo : “Cháu tôi đã có cả quốc tịch Pháp và Việt Nam, nó rất hay về Việt Nam thăm, ở cùng tôi. Tôi rất vui vì nhờ bài thơ Thuyền viễn xứ mà cô cháu tôi đã tìm được nhau sau gần nửa thế kỷ thất lạc”.

Không làm thơ tình

Tập thơ của tác giả Huyền Chi có tên “Cởi mở” do Nxb Xây Dựng, Huế in. Tập gồm 24 bài thơ, do tác giả tự xuất bản, tự biên tập và tự mang đi bán. “Lúc đó thơ người ta nói về tình thôi. Lúc ấy cô viết tập thơ này không có bài nào là thơ tình, một phần vì chưa yêu, một phần vì muốn làm những vấn đề thời sự” – nhà thơ tiết lộ.

Cô ở trong một nhóm thơ văn nhạc gồm những người trẻ, cô làm phó hội thơ, mọi người gửi thơ tới, cô sửa để đăng. Sau khi lấy chồng vẫn viết thơ và truyện ngắn một thời gian nữa, rồi lo việc gia đình nên bỏ hẳn sáng tác.

Hơn 40 năm mới nhìn thấy lại tập thơ của mình, nhà thơ Huyền Chi bùi ngùi: “Thời đó chỉ dám in 500 cuốn, không dám in nhiều. Cô làm cô tự in tự bán.Lúc đầu bán chậm, sau lần lần người ta biết họ mua, họ tìm cô xin chữ ký, cô sợ mình thành người nổi tiếng nên lánh đi, không gặp độc giả nữa”.

Tập “Cởi mở” được viết trong thời điểm mà cô gọi là “thời kỳ máu lửa”: “Người Việt Nam ta bắt đầu đứng lên công khai mà chống Pháp, cô ủng hộ phong trào dân ta nổi lên chống Pháp, lúc đó phong trào đang máu lửa. Người Bắc vào Nam nhiều, nên người ta rất thích thơ của cô. Thời chiến tranh mình không thể nói thẳng ra, phải mượn hình ảnh để nói, chẳng hạn trong bài “Thuyền viễn xứ” có câu : Ngàn câu hát buổi quân hành/ Dặm trường vó ngựa đăng – trình nẻo xưa”. (theo Trần Nguyễn Anh)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

LẦU ÔNG HOÀNG

Lầu Ông Hoàng là một điểm du lịch nhiều người muốn biết đến. Lý do dễ hiểu, đây là nơi hẹn hò của Hàn Mặc Tử với nữ thi sĩ Mộng Cầm.

Thơ của Hàn Mặc Tử biến nơi này thành một di tích lịch sử. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh trong bài ca “Hàn Mặc Tử” cũng đã nhắc đến Lầu Ông Hoàng nầy. Các bạn còn nhớ Hàn Mặc Tử với những câu thơ bất hủ và câu chuyện tình làm xúc động hàng triệu con tim người Việt nam khắp thế giới không ?

“…Ta lang thang tìm tới chốn Lầu Trăng

Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang.

Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết

Ôi trời ôi ! là Phan Thiết Phan Thiết

Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi ..”

Chính tại Lầu Ông Hoàng Hàn Mặc Tử đã hẹn hò với người tình muôn thuở của ông là nữ sĩ Mộng Cầm.

Lầu Ông Hoàng ngày nay hoang tàn, không còn gì. Tuy nhiên cảnh vật Phan Thiết, và bãi biển Mũi Né nhìn từ khu đồi này rất đẹp và nên thơ. Tôi tưởng tượng những đêm trăng ngày trước, khi Hàn Mặc Tử đến đây gặp người yêu, cùng nhau ngắm trăng và thưởng ngoạn cảnh đẹp dưới đồi, chắc vui lắm.

Di tích Lầu Ông Hoàng ngày nay chỉ còn lại một số lô cốt bỏ hoang của thời chiến tranh. Sau khi Hàn Mặc Tử chết, nữ sĩ Mộng Cầm tiếp tục sống trong cô đơn, vừa qua đời một vài năm trước, nhà ở Phan Thiết không thấy bóng ai lai vãng, chỉ thỉnh thoảng một vài du khách Việt Kiều còn nhớ tới Hàn Mặc Tử, và mối tình đầy trắc trở, nhiều xúc động và đau thương này, đến đây chụp một vài hình kỷ niệm hai nhà thơ xấu số nầy. (theo Lê Thanh Hoàng Dân)

LỊch sử Lầu Ông Hoàng

Lầu Ông Hoàng nằm cách trung tâm TP Phan Thiết khoảng 7 km về hướng đông bắc, trên khu vực đồi Bà Nài, sau gần trăm năm được phát hiện, xây dựng và nổi danh với những bài thơ của thi sĩ bạc mệnh tài hoa Hàn Mặc Tử, di tích lầu Ông Hoàng nay đã ngủ quên trong nhịp sống hối hả của dòng đời.

Lầu cao 105m so với mặt nước biển, đỉnh đồi là vị trí đẹp nhất TP Phan Thiết ngày nào giờ chỉ là một bãi hoang tàn.

Nơi ngự của các ông hoàng…  : Lầu Ông Hoàng không phải là nhà lầu của một người đàn ông tên Hoàng, càng không phải là dinh thự mà ông hoàng Bảo Đại nghỉ mát như lâu nay người ta đồn đại.

Xuất xứ của địa danh lầu Ông Hoàng bắt nguồn vào năm 1911, gắn liền với một ông hoàng người Pháp là công tước De Montpensier qua Việt Nam du lịch và săn bắn. Thấy phong cảnh sơn thủy ở những ngọn đồi lân cận Phan Thiết hữu tình, ông hoàng này nảy sinh ý định mua đất xây dựng biệt thự để nghỉ ngơi trong các kỳ săn bắn và du lịch sau này.

Sau những cuộc thăm viếng và thương lượng, công sứ Garnier cầm quyền đất Phan Thiết lúc bấy giờ đã đồng ý bán ngọn đồi Bà Nài cho công tước De Montpensier. Ngày 21/2/1911, cách nhóm đền tháp Pôsanư 100m về hướng nam, trên diện tích 536m2, một biệt thự với qui mô 13 phòng đã được khởi công xây dựng.

Cụ Trần Đạt, năm nay ngoài 80 tuổi, hiện sống dưới chân đồi nhớ lại :

– “Hồi nhỏ tôi có nghe cụ thân sinh kể lại đã có không ít nhân công phải bỏ mạng khi xây dựng công trình. Do lúc đó đường lên đồi chưa có, để xây dựng người ta phải bạt đá khoét núi làm lối đi. Quá trình vận chuyển nguyên vật liệu thời bấy giờ cũng không kém gian nan. Do trên đồi toàn đá hoa cương hấp thụ ánh sáng mạnh vừa nóng vừa hắt ra ánh sáng khiến lao công bị mất sức, chói mắt té xuống núi chết thảm”.

Sau gần một năm xây dựng, đại công trình trên đỉnh Bà Nài tương đối hoàn chỉnh. Với máy phát điện đặt dưới tầng hầm, có chỗ chứa nước dùng đủ một năm, biệt thự này được xem là hiện đại nhất Phan Thiết lúc bấy giờ.

Cụ Đạt tiếp tục mạch chuyện : “Quan Pháp hồi đó sang trọng, giàu có như một ông hoàng với nhiều kẻ hầu người hạ. Vả lại do công trình xa hoa như một biệt điện nên dân địa phương lúc bấy giờ cứ “lầu Ông Hoàng” mà gọi. Riết rồi chết luôn tên đó !”.

Tháng 7/1017, ông hoàng De Montpensier “gả” biệt thự trên đỉnh Bà Nài cho một chủ khách sạn người Pháp tên Prasetts… Về sau, vua Bảo Đại đã mua lại biệt thự. Vài chục năm sau, thi sĩ bạc mệnh Hàn Mặc Tử đã đến địa danh này và để lại nhiều kỷ niệm khiến lầu Ông Hoàng càng thêm ý nghĩa.

Chuyện tình Hàn Mặc Tử  : Nhắc đến lầu Ông Hoàng là nhắc đến nhà thơ Hàn Mặc Tử – bởi lẽ lầu Ông Hoàng là nơi hẹn hò và ngắm trăng của Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm. Trong một bài thơ về Phan Thiết, ông có kể lại nơi này và gọi đó là “nơi đã khóc đã yêu thương da diết”.

Về sau Mộng Cầm có nói về câu chuyện tình lãng mạn này, trong đó thổ lộ nơi ấy là nơi hẹn hò yêu đương của họ : “Một dịp thứ bảy đi chơi lầu Ông Hoàng, anh thổ lộ mối tình với tôi. Tôi có trả lời anh : Chắc là không thể đi đến chỗ trăm năm được, tôi nói trước để anh đừng hy vọng. Anh hỏi lý do. Tôi viện lẽ tôn giáo khác nhau, nhưng thật ra vì biết Hàn Mặc Tử mang chứng bệnh hiểm nghèo, không thể sống lâu được, ý tôi muốn một người chồng mạnh khỏe, tráng kiện”.

Sau này nhạc sỹ Trần Thiện Thanh cũng đã có một ca khúc rất hay, được nhiều người nhớ đến về lầu Ông Hoàng cũng như câu chuyện tình của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Bài hát có những câu mà rất nhiều người nhớ “Lầu ông Hoàng đó, thuở nào chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng, bờ cát dài thêm hoang vắng”…

Thắng tích thành phế tích : Đến thăm Phan Thiết, phần lớn du khách đều ghé thăm nhóm đền thờ công chúa Chăm (tháp Pôsanư) và sau đó leo dốc đến đỉnh đồi Bà Nài, nơi tọa lạc lầu Ông Hoàng đặng ngắm toàn cảnh bức tranh non nước Phan Thiết trong gió thổi lồng lộng và màu xanh ngút ngàn của đại dương.

Từ tháp Pôsanư, để đến được lầu Ông Hoàng, chúng tôi phải leo lên một mỏm dốc trơ cằn sỏi đá lởm chởm. Sau hơn trăm bước chân, không thể tin được khu vực hoang vắng đầy cỏ dại um tùm và ngôi nhà cao rệu rã trơ gạch kia chính là một trong những địa danh nổi tiếng ở Phan Thiết.

Lầu Ông Hoàng đó ư ? Biệt thự 13 phòng hiện đại nhất Phan Thiết một thời đấy ư ? Tất cả chẳng còn gì ngoài những hầm chứa nước được trùng tu và bỏ mặc cho đất đá, bụi bặm, mạng nhện, cỏ dại bám đầy.

Những tấm bia đá tương truyền Hàn Mặc Tử đã phóng bút tích đề ghi những bài thơ si tình với Mộng Cầm ngày nào nay đã thành gạch vụn. Lầu trăng nơi Hàn Mặc Tử từng ngắm trăng, làm thơ rệu rã và có nguy cơ sụp đổ bất kỳ lúc nào…

Bên trong lầu Ông Hoàng, hiện trạng lại càng thê thảm hơn. Qua lối vào chính và qua lỗ thủng do đạn pháo thời chiến, bất kỳ ai ghé mắt trông ngang đều có thể chiêm ngưỡng khung cảnh hỗn tạp với bao bịch, cỏ dại, mạng nhện và có cả bao cao su bên trong…

Trước sự hoang phế của thắng cảnh nổi tiếng về cảnh đẹp và ý nghĩa lịch sử, đầy thất vọng không ít du khách thốt lên: “Như vầy mà là lầu Ông Hoàng đó sao ? Lầu tan hoang thì có !”.

Trên đỉnh đồi Bà Nài, Pháp sau đó đã cho xây dựng một hệ thống đồn bót với nhiều lô cốt nhằm khống chế toàn vùng Phan Thiết. Ngày 14/6/1947, cũng chính nơi đây đã diễn ra trận đánh ác liệt. Tiểu đội thuộc đơn vị Hoàng Hoa Thám do ông Nguyễn Minh Châu chỉ huy đã tiêu diệt nhiều lính Pháp, thu nhiều súng đạn, trong đó có một khẩu đại liên Vitke, một súng trung liên Bren và nhiều chiến lợi phẩm khác. Từ đó, người dân cũng quen gọi là “Chiến thắng lầu Ông Hoàng”.

Lầu Ông Hoàng là di tích thắng cảnh nổi tiếng của Phan Thiết, là địa danh rất được du khách từ khắp mọi nơi thường xuyên tìm đến thưởng lãm nhưng cùng với thời gian, sự bọt bèo của thắng tích đã khiến nhiều du khách thất vọng. Và theo nhiều cái rỉ tai nhau của những bước chân lãng tử nên giờ đây lầu Ông Hoàng đã không còn là điểm thu hút khách tham quan nữa.

Bao giờ lầu Ông Hoàng không còn bị trùm màu ? Bao giờ du khách gần xa được lưu trú trên ngọn đồi lịch sử, hay chí ít cũng được đứng trên lầu vang ngắm cảnh trong một không gian đầy hoa thơm chứ không phải là cỏ dại ?… Câu trả lời là : “Chẳng biết đến bao giờ” bởi hàng chục năm qua thắng tích này vẫn nằm ngoài vùng phủ sóng của những người có trách nhiệm và tầm nhìn chiến lược.

Ngọc Sương chuyển tiếp

CA KHÚC BẤT HỦ BÉSAME MUCHO

BÉSAME MUCHO

– Thạch Bích

Tôi đang nhớ về Sài gòn một đêm vừa mưa, vừa gió… Cơn mưa rào miền Nam không những xoa dịu hơi nóng hầm hập suốt ngày, những luồng gío nhẹ luồn qua chắn song cửa đủ mang đến chút lành lạnh, khiến tôi nằm trong giường đã phải chùm chiếc chăn mỏng màu huyết dụ, có điểm những bông hoa trắng nhỏ li ti, Bố Mẹ mang theo từ hồi di cư vào Nam. Những đêm như thế, kéo chăn lên tới tận cổ, nằm đọc truyện hay nghe nhạc thì chắc không còn thú nào hơn …

Hồi đó tôi đang tuổi mới lớn, đã biết chăm sóc diện mạo của mình, đã biết vui buồn vu vơ… và cũng mới quen với anh T., một học sinh bên trường HNC. Thời ấy tôi có thói quen đêm đêm đón nghe chương trình “Tiếng nói Dạ Lan”, tiếng nói của em gái hậu phương gửi các anh trai ngoài trận tuyến… Tôi không phải là lính, thế mà tôi vẫn mê cái giọng Bắc ngọt ngào, dễ thương của Dạ Lan.

Nhưng lý do chính khiến tôi thích nghe chương trình này, là những bài nhạc tình lồng trong những buổi phát thanh đó, nhất là những bài nhạc ngoại quốc. Chỉ riêng điệu nhạc chính dùng đệm nền “Walk don´t run” do ban nhạc “The Venture” trình bày đã đủ làm tôi mê mẩn… Rồi tôi còn nhớ thật rõ ràng, vào đêm Sài gòn có mưa, có gió đó tôi đã lần đầu tiên được nghe trong chương trình “Dạ Lan” bài nhạc ngoại quốc rất lạ : Bésame mucho …

Vào cuối thập niên 60 những ban nhạc theo kiểu The Beatles : Một chàng gõ trống, ba, bốn chàng ôm đàn guitar điện gảy từng tưng và lắc lư qua lại như có chút men rượu… xuất hiện thể nấm rừng gặp mưa…  Nào là “The Shadows” với bài “Apache”, (mà anh T. kể, bọn học sinh lớp anh đã ngổ ngáo đặt lời : “Kìa xem … Thầy Tổng đen … treo toòng teng …”, để ngạo Thầy Tổng giám thị có làn da ngăm ngăm và rất ư là nghiêm khắc). Còn ban nhạc “The Animals” được biết đến qua bài “The house of rising sun”… Những bài “Yesterday”, “Hey Jude” … giới trẻ chúng tôi ai chả đã từng nghe ?

Từ năm 1963 chiến trận bùng nổ khắp miền Nam, nhất là sau khi Mỹ đã đổ gần nửa triệu quân vào tham chiến… Thế nhưng Sài gòn vẫn ăn chơi phè phỡn, vẫn tóc dài (con trai), váy ngắn (con gái) và không hề bị “Mỹ hóa” hoàn toàn, trái lại dân Sài gòn rất… Tây ! Con ông lớn, bà bé, những cậu ấm, tiểu thư con nhà giàu, trưởng gỉa, đua nhau theo học các trường theo chương trình Pháp, đắt è cổ : J. J. Rousseau, Marie Curie, Lasan Taberd, Couvent des oiseaux… Và một ngày đẹp giời, dạo phố Lê Lợi, thế nào cũng gặp những cặp choai choai dung dăng, dung dẻ với nhau, miệng bi bô :

Tous les garçons et les filles de mon âge

Se promènent dans la rue deux par deux

Tous les garçons et les filles de mon âge

Savent bien ce que c’est d’être heureux

Et les yeux dans les yeux

Et la main dans la main …

(Tous les garçons et les filles – François Hardy)

Từ những kiosks thâu băng nhạc trên đường Nguyễn Huệ vẫn văng vẳng tiếng hát của cô đầm tóc vàng Silvie Vartan:

… La plus belle pour aller danser …

Nên hồi đó, với tôi, trên đời này những bản tình ca chỉ có thể bằng tiếng Anh, Pháp và… Việt Nam ! Vẫn biết rằng còn có tiếng Tàu, tiếng Nhật… và sau này, khi đi du học, tôi còn học thêm tiếng Đức nữa. Nhưng những thứ ngôn ngữ ấy làm sao có được những câu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình tựa như :

Trời ươm nắng cho mây hồng / Mây qua mau em nghiêng sầu / Còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm, / mây âm thầm mang gió lên. / Người ngồi đó trông mưa nguồn / Ôi yêu thương nghe đã buồn / Ngoài kia lá như vẫn xanh, ngoài sông vắng nước dâng lên hồn muôn trùng. (Mưa hồng – Trịnh công Sơn)

Thế mà bài “Bésame mucho” này bằng tiếng gì lạ hoắc, tôi không thể nào hiểu được lời nhạc ! Nhưng điệu nhạc êm dịu, giọng ca của nữ ca sĩ tôi không biết tên thật ấm áp, thật truyền cảm và mang một thoáng buồn đã mê hoặc tôi. Tôi cảm nhận một chuyện tình si mê, đắm đuối, nhưng cũng có chia ly, tan tác … Từ đấy tôi lắng nghe, mỗi khi bài hát được truyền đi trên đài phát thanh Sài gòn, nhưng tôi không nhớ được gì ngoài… Bésame  mucho ! Mà ngay chỉ hai chữ đó tôi cũng chả biết nghĩa là gì nữa, vậy mà tôi vẫn rung động, vẫn thấy thích mỗi khi nghe bài nhạc ấy…

Sau này khi qua sống bên Âu châu, tôi tìm hiểu, mới biết bài hát đó là tiếng Tây Ban Nha (Spain), một ngôn ngữ (cùng với tiếng Bồ Đào Nha / Portuguese) phổ biến trong khắp vùng Trung và Nam của châu Mỹ, từ Cuba, Mexico tới Argentina, Brazil… nơi xuất phát những điệu vũ say mê, sôi động, nồng nhiệt : Tango, Samba, Rumba… Và tôi đã biết : Bésame = kiss me, mucho = much; bésame mucho = kiss me much / kiss me a lot, cũng như tôi đã kiếm được lời cả bản nhạc và tạm dịch qua tiếng Việt : (Xem ảnh minh họa)

Hóa ra lời nhạc thật giản đơn, thật cô đọng như những câu thơ, như những nét chấm phá trong bức tranh thủy họa của Tàu. Nhưng chỉ vài câu rất đơn giản ấy đã đủ diễn tả hết sự si mê, đắm đuối, nỗi đau buồn chia ly trong cuộc tình…

Có lẽ cái hay của bài Bésame Mucho này trước hết chính là điệu Boléro nhẹ nhàng, chầm chậm, nhưng thấm sâu vào tâm gan người nghe, gây ra một nỗi buồn man mác. Chả thế đa số những bài “nhạc vàng”của Việt Nam cũng hay sử dụng điệu nhạc này. Trong khi vũ nhạc điệu Tango được coi như của Argentina, Samba của Brazil, thì Bboléro đã được cải biến từ vũ nhạc điệu Trova hồi cuối thế kỷ 19 và rất được ưa chuộng ở Cuba và sau này lan rộng sang Mexico.

Thứ đến có lẽ vì các tình tiết của bản nhạc đã phản ảnh phần nào tâm tư, mộng ước của chính tác gỉa, nữ nhạc sĩ và danh thủ đàn dương cầm người Mexico, Consuelo Velázquez : Bà vẫn được cho là bị long đong, lận đận trên tình trường. Năm 1941, lúc đó bà gần 25 tuổi (vì năm sinh của bà không chính xác, nên có tài liệu ghi tuổi của bà chênh lệch đến 10 tuổi), sau lần dự buổi nhạc cảnh (opera) Goyescas của soạn giả người Tây Ban Nha Enric Granados, bà đã có ngẫu hứng và sáng tác bài Besame Mucho.

Trong lần phỏng vấn mấy năm trước khi bà mất vào năm 2005, bà đã tiết lộ : Tới thời điểm sáng tác bài nhạc đó, bà chưa từng hôn ai, ôm hôn thắm thiết người bà mong đợi vẫn chỉ là ước mơ thầm kín…

Tài năng về âm nhạc của Consuelo Velázquez đã được ghi nhận rất sớm : Mới 7 tuổi bà đã biễu diễn đàn dương cầm trước công chúng. Khi 17 tuổi bà thành giáo sư âm nhạc và sau này bà là nhạc công (đàn dương cầm) trong ban nhạc cộng hưởng quốc gia của Mexico. Bà đã sáng tác nhiều nhạc phẩm được ưa chuộng như : No me pidas nunca, Pasional, Déjame quererte, Que seas feliz, Yo no fui, Chatito, chachito… Nhưng nhạc phẩm Bésame Mucho đã đưa bà Velázquez lên đỉnh danh vọng.

Không thể kể hết các ca sĩ nổi tiếng đã trình bày nhạc phẩm Bésame mucho, hai videos dưới đây sẽ giới thiệu hai giọng hát tuyệt vời : Cesária Évora và Andrea Bocelli. Tôi đã chọn hai người này không chỉ vì họ là những ca sĩ thượng hạng, mà cả về cuộc đời rất đặc biệt của họ.

– Bà Cesária Évora sinh năm 1941 (cùng năm bài Bésame mucho được sáng tác) ở Cap Vedes, một quần đảo phía bờ biển Tây của châu Phi, trong một “gia đình yêu âm nhạc”, thân phụ của bà đàn vĩ cầm. Sau khi thân phụ mất sớm, bà đã vào ở trong một cô nhi viện, trước khi được một gia đình nhận về nuôi. Bà sinh sống bằng cách đi hát trong các nhà hàng, phòng trà…

Mãi tới khi 47 tuổi bà mới nhận được hợp đồng với một hãng đĩa nhạc. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi đĩa nhạc của bà phát hành, bà đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng trên thế giới. Một điều đặc biệt khác: Bà không bao giờ mang giày, vớ khi lên trình diễn trên sân khấu, vì thế bà vẫn được mệnh danh là “Nữ hoàng chân đất”…

Xin click vào đường dẫn :

http://www.youtube.com/watch?v=Esdl_3kKSBk

– Andrea Bocelli sinh năm 1958 tại Lajatico, miển Trung nước Ý. Bị bệnh bẩm sinh, mắt của Bocelli mờ dần và thành bị mù khi 12 tuổi. Cũng chính trong năm đó Bocelli đã đoạt giải nhất trong một kỳ thi tuyển ca nhạc với bài hát nổi tiếng “O sole mio – Mặt trời của tôi”. Tuy bị mù, Bocelli sống rất lạc quan, nhưng không tiếp tục theo đuổi nghiệp cầm ca, mà theo học ngành Luật và trình luận án Tiến sĩ tại Đại học Pisa.

Sau một năm hành nghề luật sư, Bocelli theo học thanh nhạc với Luciano Bettarini. Mặc dù đã đoạt nhiều giải trong một số kỳ thi tuyển ca nhạc, nhưng phải mất 5, 6 năm Boccelli mới có được những thành qủa đầu tiên, sau khi gặp và được Zucchero và Casselli nâng đỡ. Bây giờ Bocelli được coi là ca sĩ tenor thành công nhất thế giới, với hơn 70 triệu đĩa nhạc đã bán được …

Xin click vào đường dẫn :

http://www.youtube.com/watch?v=gPRESlT4Ccg

Dưới đây Bésame mucho kiểu Mỹ qua sự trình bày của tài tử Hollywood, gốc Ý, Dean Martin :

Xin click vào đường dẫn : http://www.youtube.com/watch?v=Ab7e8y_IODk

– Và nghe Bésame mucho từ tiếng hát Ngọc Lan một danh ca người Việt (đã qua đời tại Hoa Kỳ)

https://youtu.be/-Xb-wpLQb5s

Nhớ về Sài gòn ngày xưa, cũng là nhìn lại quãng đời đã qua  Tuổi mộng mơ đã xa ! Qúa nửa đời người tôi đã biết… yêu, đã vui nhiều, đã thao thức, đã ưu tư… Hạnh phúc từng có trong tay, nhưng mất mát, đổ vỡ cũng đã chịu ! Nên bây giờ may mắn có được người “bạn đời” sánh bước, đi hết đoạn đường còn lại, tôi có những ước mong, thấy thích bản dịch kiểu … Mỹ hơn. Và tôi muốn cất tiếng hát nho nhỏ cho người tôi yêu : Bésame, bésame mucho ! …

Thạch Bích

NGÔ THỤY MIÊN

NHỮNG TÌNH KHÚC BẤT HỦ

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sinh ngày 26 tháng 9 năm 1948 tại Hải Phòng, và là con thứ nhì trong một gia đình bảy người con. Ông lớn lên trong môi trường sách vở và thơ văn, do gia đình ông có mở một nhà sách tên Thanh Bình ở thành phố Hải Phòng, và sau này ở trên đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) khi vào định cư ở Sài Gòn. Tại đây, ông học trường Trung học Nguyễn Trãi. và sau đó là Trường Đại học Khoa học Sài Gòn.

Trong thập niên 1960, Ngô Thụy Miên có theo học vĩ cầm với Giáo sư Đỗ Thế Phiệt, và nhạc pháp với Giáo sư Hùng Lân tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Thời gian học ở đây, ông quen biết với Đoàn Thanh Vân (con gái của diễn viên Đoàn Châu Mậu), và hai người đã có một mối tình.

oOo

Từ năm 1970-1975, Ngô Thụy Miên làm kiểm soát viên không lưu tại  phi trường Tân Sơn Nhất. Cũng khoảng thời gian đó, ông là Trưởng ban nhạc Luân Phiên tại Đài phát thanh Quân đội

Năm 1963, ông bắt đầu viết nhạc. Tình khúc đầu tiên mà ông sáng tác là bài “Chiều nay không có em” hoàn tất vào tháng 2/1965 được giới sinh viên học sinh lúc bấy giờ hưởng ứng rất nồng nhiệt.

Vài năm sau, ông cho xuất bản một tập nhạc đầu tay lấy tựa “Tình khúc Đông Quân” (Đông Quân chính là bút hiệu đầu đời của ông trước khi đổi qua bút hiệu Ngô Thụy Miên bây giờ) in ronéo phát hành tại Sài Gòn năm 1969. Trong đó có nhiều bài đáng chú ý như : Giáng ngọc, Mùa thu này cho em (sau đổi là Mùa thu cho em), Gọi nắng (sau đổi là Giọt nắng hồng), Dấu vết tình yêu (sau đổi là Dấu tình sầu), Cho những mùa thu (sau đổi là Thu trong mắt em), Tình khúc tháng 6, Mùa thu về trong mắt em (sau đổi là Mắt thu) và Ngày mai em đi

Tiếp theo, Ngô Thụy Miên có những nhạc phẩm phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa như: Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tuổi 13

Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện băng nhạc đầu tay Tình Ca Ngô Thụy Miên gồm 17 tình khúc đã được viết trong khoảng thời gian 1965-1972. Với sự góp mặt của các ca sĩ và nhạc sĩ như Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Duy Quang,…

Sau ngày 30/4, ông vượt biên đến tị nạn tại đảo Pulau Bidong của Mã Lai Á, và chính thức ra mắt một sáng tác viết từ năm 1975 là bài Em còn nhớ mùa xuân gởi tặng riêng cho người yêu của ông là Đoàn Thanh Vân. Sau sáu tháng ở trại tị nạn, nhạc sĩ được nước thứ ba bảo lãnh cho sang Montréal (Canada) tháng 4/1979.

Từ SanDiego (Hoa Kỳ) Đoàn Thanh Vân được tin người yêu đã đến được Canada, đã bay sang nối kết lại cuộc tình đã bị dở dang vì thời cuộc. Cùng năm 1979, cả hai qua sống tại San Diego rồi dời lên Orange County Qua năm 1980, Ngô Thụy Miên bắt đầu đi làm về ngành điện toán cho trường UCLA, tại thành phố Olympia thuộc tiểu bang Washington.

Trong thập niên 1990, nhạc sĩ tiếp tục sáng tác với những ca khúc mới như Cần thiết, Em về mùa thu, Trong nỗi nhớ muộn màng… và nhất là Riêng một góc trời. Tổng cộng đến nay, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã sáng tác được trên 70 ca khúc, với khoảng 20 bài từ trong nước. Theo đánh giá của nhiều người, thì Ngô Thụy Miên chính là “một nhạc sĩ tài hoa đích thực”…

Trung tâm Thúy Nga từng thực hiện Paris By Night 21: Tình ca Ngô Thụy Miên (1993)Paris By Night 66: Người tình và Quê hương (2002) (cùng với Trần Trịnh và Nhật Ngân) để vinh danh ông và những sáng tác của ông.

– Những tác phẩm tiêu biểu: https://youtu.be/Y0Z510osXaI

– Tình Ca Ngô Thụy Miên (1:27’)

15 Bản tình ca hay nhất của Ngô Thụy Miên

https://youtu.be/5AoMQnPuqsU

CON GÁI NHÀ THƠ QUANG DŨNG

VÀ NHỮNG HỒI ỨC VỀ CHA

Ngày 27/2 năm 2015, Trung đoàn 52 Tây Tiến long trọng kỷ niệm 70 năm ngày thành lập, chị Bùi Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng ( tên thật là Bùi Đình Dậu) lại bồi hồi nhớ về cha, đại đội trưởng của Trung đoàn Tây Tiến năm xưa và những thăng trầm của bài thơ “Tây Tiến”.

Là con gái út trong gia đình, nên có thể nói chị Phương Thảo được cha cưng chiều nhất và cũng hay tâm sự nhiều nhất. Chị Thảo kể : “Khi còn nhỏ, tôi được gần gũi với cha lâu nhất. Tôi rất  hay quan sát bố  viết bài hoặc  giao du với bạn bè.

Nhà tôi ngày xưa ở phố Bà Triệu, nhà tuy nhỏ và nghèo, nhưng lại rất hiếu khách. Bố tôi thường hay có nhiều bạn bè đến chơi. Bây giờ nhớ lại, tôi thầm ước nếu hồi đó mà có những thước phim ghi lại thì đó là những thước phim vô giá.

Bởi lẽ, có rất nhiều nhân vật văn học điển hình của nước mình thường hay đến nhà tôi chơi, trong đó có bác Tô Hoài,  Nguyễn Công Hoan, Phạm Hổ, Nguyễn  Tuân, Nguyễn Đình Thi, cô Xuân Quỳnh, họa sỹ Phan Kế An… Khách đến chơi nhà nhiều khi chỉ có đĩa lạc hay ít đậu phụ thôi, mà mọi người trò chuyện như ngô rang “.

Gia tài tinh thần đầy ắp của người cha

Theo lời chị Thảo, bố chị mất đi  không để lại của cải vật chất gì nhiều, nhưng để lại cho con cháu kho gia tài tinh thần đồ sộ. Trong số những đứa con tinh thần của nhà thơ Quang Dũng, bài thơ  “Tây Tiến” được ông tâm đắc hơn cả. Nó có thể coi là đứa con cả khỏe mạnh nhất, vạm vỡ nhất.

Bài thơ “Tây Tiến” sau này được đưa vào sách giáo khoa và được nhiều thế hệ học sinh biết tới. Thế nhưng, ít ai biết rằng, khi nhà thơ Quang Dũng còn sống, bài thơ này đã từng bị ” xét lại” vì cho rằng đi chiến đấu gian khổ mà lại mơ tưởng xa hoa, lãng mạn.

Chị Thảo cho biết, chỉ vì câu thơ ” Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” mà bài thơ của ông bị một số chỉ trích. Thế nhưng, ai cũng hiểu thời của của các cụ, toàn các thanh niên Hà Nội, những chàng trai được cho là giai cấp tiểu tư sản bỏ lại tất cả để đi theo kháng chiến, có xá chi đâu. Còn cái lãng mạn đó là bản chất, tích tụ trong con người.Chính sự lãng mạn đó đã khiến cho người lính quên đi mọi khó khăn gian khổ và vượt lên phía trước.

Sau này, với tư tưởng cởi mở hơn, bài thơ “Tây Tiến” đã được ghi nhận.Cho tới năm 1988, lần đầu tiên bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” của ông được nhạc sỹ Phạm Đình Chương phổ nhạc và phát trên Paris by night, một video ca nhạc hải ngoại, cũng khiến nhà thơ lo lắng. Chị Thảo nhớ lại: “Lúc đó ông hay lo sợ lắm. Rất may, đó thời kỳ đầu của cải cách mở cửa, nên tư tưởng cũng đã bắt đầu thoáng hơn. Chứ trước đó, câu thơ “Mắt em dìu dịu buồn  Tây Phương” trong bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” cũng bị qui chụp là tơ tưởng đến một cô gái phương Tây nào đó…”

Thực ra, chị Thảo cho biết, sinh thời nhà thơ Quang Dũng cũng ít nói chuyện văn chương với con gái, cũng vì những lo lắng trên. Còn cô con gái Phương Thảo thì là một người mến mộ thơ ông, mà theo ngôn ngữ ngày nay gọi là “fan cuồng”. Chị thuộc lòng các bài thơ của bố. Sau này, khi tham gia Câu lạc bộ văn nghệ sỹ  Xứ Đoài, quê cha, chị mới  biết nhiều hơn về bố mình qua câu chuyện của các bạn văn chương của bố.

Nhà thơ Quang Dũng qua con mắt của con gái Phương Thảo là một người cha mẫu mực, chịu thương chịu khó. Ông luôn giành những việc nặng nhọc nhất trong gia đình về mình vì ông bảo, ông là người khỏe nhất. Ông thường dậy từ 4 giờ sáng để đi lấy nước cho cả gia đình, trong khi mọi người vẫn đang chìm trong giấc ngủ.

Thơ và tranh đều đem tặng bạn

Chị Thảo bộc bạch, bố chị ít lưu lại những bút tích của mình và hay thường tặng cho bạn bè. Chính vì thế, sau khi nhà thơ mất, chị Thảo đã lặn lội tìm đến bạn bè cha với hy vọng tìm được di cảo của cha. Những bài thơ “Nhớ chuyện xa” hay “Cô gái mùa ổi”… là những bài thơ ông chép trong cuốn sổ tay tặng bạn học từ những năm 1940.

Trong cuốn “Nhà thơ Quang Dũng trong hồi ức của người thân”, chị Thảo viết: “Cha tôi vốn là người không lưu tâm giữ lại những tác phẩm mình sáng tác, có những bài thơ làm xong thì tặng ngay cho người bạn mình quý mến hoặc tự tay chép thơ tặng nhưng lại chép vào sổ của bạn và quên mất mình đã có những bài thơ như thế…”

Cũng trong lần đi tìm di cảo của cha, chị Thảo đã được xem bức ảnh bà Giáng Kiều, nghệ sỹ trong đoàn kịch của Thế Lữ, tên thật là Kiều Dinh, một trong bốn chị em gái rất đẹp ở phố Hàng Bông những năm 1940, “người tình trong mộng” của người bạn thân. Chữ kiều trong tên bà Kiều Dinh ngày ấy được cho là nhà thơ “mượn” để làm danh từ chung trong bài thơ “Tây Tiến”, làm nên một hình ảnh lãng mạn : “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Ngoài ra, nhà thơ Quang Dũng có vẽ khá nhiều tranh, trong đó ông tặng bạn bè khá nhiều. Hiện nay, chị Thảo còn lưu giữ tại nhà một số bức tranh quí của ông như bức Mây đầu ô, Ba Vì…

Chị Bùi Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng sinh năm 1962. Chị hiện là Phó hiệu trưởng trường tiểu học Võ Thị Sáu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Phan Tất Đại chuyển tiếp