PHẠM DUY NÓI VỀ 10 BÀI TỤC CA

Logo bay gio ke

10 BÀI TỤC CA9 Pham Duy 1

CỦA NS PHẠM DUY

Nhân tin nhạc sĩ Phạm Duy vừa qua đời, xin mời nghe 10 bài “Tục ca” của Phạm Duy do chính tác giả trình bày

http://youtu.be/kGDN3UQEWQY

… Trong suốt một đời, tôi chỉ muốn được nói thật nhiều về đất nước và con người Việt Nam. Khi thì nói với ngôn ngữ ngợi ca và tả thực hay hiện thực như trong nhạc kháng chiến. Khi thì nói một cách trừu tượng, siêu hình với trường ca. Tâm ca thì dùng hẳn trực ngôn và khi thấy nói như vậy mà chưa thấy đủ thì có tâm phẫn ca đi theo…

Nhưng nếu những bài ca kháng chiến mang ngôn ngữ của cả bình dân (nhất là nông dân) lẫn trí thức thì những loại ca sau đó như trường ca, tâm ca, tâm phẫn ca nhắm vào giới có học nghĩa là thanh niên, sinh viên thị thành. Tôi lại còn nhận thấy trường ca, tâm ca đứng đắn quá, nói cách khác, nó cũng có thể là bài ca đạo đức giả hay mị dân, là điều tôi sợ nhất trong đời ! Tôi bèn phá tung những huyền thoại đó bằng cách xuống vỉa hè.

9 Tuc ca 1Ngôn ngữ vỉa hè Saigon lúc đó là gì ? Là Sức mấy mà buồn, Bỏ đi Tám, Ô Kê Salem… Cũng chẳng cứ gì anh phu xe, chị bán hàng rong, chú bé đánh giầy, người lính Cộng Hoà — lính mà em — mới chế ra những danh từ của thời đại. Ngay Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Tướng, Tá, nhà văn, nhà thơ… ai cũng đều nói : sức mấy, sức voi, ô kê, chịu chơi, Tết Congo… Do đó tôi cũng cởi áo trang nghiêm để khoác áo bình dân. Tôi soạn vỉa hè ca số 1, Sức Mấy Mà Buồn :

Sức mấy mà buồn ! Buồn Giao Chỉ không lớn ! 

Sức mấy mà buồn ! Chịu chơi cả với buồn…

… với mục đích dùng ngôn ngữ của vỉa hè thành phố Saigon để nói những gì tôi đã nói qua tâm ca. Theo tôi, tinh thần sức mấy là một cái gì rất Việt Nam. Đó là phản ứng muôn đời của người mình trước định mạng. Nó là niềm tự tin, sự coi thường khó khăn. Sức Mấy Mà Buồn, trong thực tế nói triết lý đó lên một cách rất bình thường, không dung tục hoá hay cường điệu hóa chút nào cả ! Vỉa hè ca này nói cái gì ? Nó nói trong ái tình :

Tôi buồn vì nó đã bỏ tôi ! Tr gai bac 4

Tôi buồn vì nó đã đi rồi

Tôi buồn nhưng nó vẫn thảnh

Tôi buồn một lúc sẽ tức cười ! 

Ơ ! Sức mấy mà buồn…

Đối với những cái buồn viển vông như : 

Tôi buồn vì tích hát, chuyện phim.

Tôi buồn vì những cái hão huyền.

Tôi buồn không có cớ là (tôi) điên.

Không buồn lại rước lấy cái phiền !

Hơ ! Sức mấy mà buồn…

Còn cái buồn lớn của người Việt Nam hiện nay là gì ? Là chiến tranh phải không ? Cho nên :

Tôi buồn vì đấm đá mọi nơi. Tr gai bac

Tôi buồn vì chém giết tơi bời. 

Tôi buồn vì đất nước tả tơi… 

Vỉa hè ca bèn mượn lời của nhà văn Vũ Trọng Phụng :

Biết rồi ! Khổ lắm ! Cứ nói hoài !

Cái tinh thần sức mấy đã có sẵn trong người Việt Nam cho nên tác giả chỉ kết luận dùm :

Không buồn thì đã có làm sao ? 

Không buồn là sẽ hết đau đầu ! 

Không buồn đi đấu hót cùng nhau. 

Yêu đời bằng bất cứ giá nào !  Tr Ba gia 9

Và câu nói cuối cùng của tác giả là gì ? Là :

Sức mấy mà buồn, cười lên để tranh đấu ! 

Sức mấy mà buồn vượt ra khỏi cái sầu ! 

Sức mấy mà buồn niềm vui ở ta đến. 

Sức mấy mà buồn phải vui để sống còn ! 

Lúc tôi soạn vỉa hè ca là lúc quân đội ngoại quốc đổ bộ ào ạt vào Việt Nam, trước sự xâm nhập của nền văn minh vật chất, một số người mình quả thực có chạy theo lối sống Âu Mỹ ! Sự ham muốn những gì quá tầm tay của mình, chẳng hạn già như tôi mà còn mê gái sẽ bị gái nguýt cho một cái ”Xí ! Già mà ham” ! Trong xã hội Việt Nam hồi đó, nếu ta ngăn được cái lối nghèo mà ham ở mọi địa hạt, ta sẽ tránh được cảnh ô kê salem rất lem nhem đó. Tôi soạn bài Nghèo Mà Không Ham với mục đích này :

Com pho 2Nghèo mình nghèo mà mình không ham

Xin cô em đừng nên quá đáng 

Nghèo mình nghèo mà mình không ham

Xin anh Hai đừng nên láng cháng 

Chớ khoe giầu là chớ có khoe giầu 

Chớ khoe sang là chớ có khoe sang 

Nghèo mình nghèo mà mình không ham

Xin bà con đừng nên vội mừng…

. . . . . . . . . .

Nghèo mình nghèo là nghèo cho vui

Không lên voi mình không xuống chó

Nghèo mình nghèo của mình không to 

Tuy không ”beau” mình không xí quá

Sống cho đẹp là mình sống cho đẹp

Chết cho oai là mình chết cho oai

Nghèo mình nghèo là nghèo chơi chơi

Chưa thực ai thực ai là nghèo…

Bây giờ mới có dịp để nhìn kỹ vào vỉa hè ca. Té ra nó là luân lý ca ! ! !

Hai bài ca vui đùa này được in ra và bán rất chạy. Nhưng lập tức có sự phê bình gay gắt đến từ nhiều phía. Tôi định soạn thêm bài Ô Kê Salem, Ô Kê Nước Mắm thì cụt hứng ! Nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn chưa chịu thua… Rồi tôi phản ứng lại bằng cách soạn những bài ngỗ nghịch hơn vỉa hè ca. Và phải có qui mô hơn. Đó là mười bài tục ca, bài thì tục về chữ, bài thì tục về ý, bài thì tục về chuyện. Bài đầu tiên là sự phát triển của câu ca dao mà ai cũng thích :

Em như cục cứt trôi sôngTr Bac ky 1

Anh như con chó ngồi trông trên bờ…

Tôi cũng thích nó và bịa thêm lời mới :

Em đừng nói vậy em khờ

Ba em hồi đó cũng chờ như anh…

Tôi soạn thêm một vế bốn câu hát nữa để thành bài tục ca nhan đề Hát Đối :

Nam : Anh như con đực chạy rông

Còn em như con mèo cái, chổng mông em gào…

Nữ : Anh đừng nói chuyện tào laoTr Bac ky 2

Má anh hồi trước… cũng ồn ào như em…

Tục ca số 2 thì lấy cảm hứng ở một câu thơ rất lãng mạn của nữ thi sĩ thời tiền chiến, T.T.KH :

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi

Thở dài những lúc thấy tôi vui.

Bảo rằng hoa dáng như tim vỡ

Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi…

Câu thơ buồn này dù sao cũng có thể được coi như một mối tình thơm tho vì có mùi hương của những bông hoa hình con tim vỡ. Tục ca của tôi, khởi đi từ câu thơ đó thì lại mang tên là Tình Hôi… hát theo nhịp american blues :

Phu nu 2– Người ấy thường hay đến gặp tôi

Thở dài, thở dài khi thấy… nách tôi hôi 

Nói rằng : Sao nách anh hôi thế ?

Mỗi lần ngửi thấy chết đi thôi..

– Mỗi lần ngửi thấy chết đi thôi

Nhưng chót yêu anh, em ráng chịu cho rồi 

Vả chăng em vẫn thường hay nói :

Tè mình đôi lúc cũng… hôi hôi… 

Tục Ca số 3 là bài thơ của Bùi Giáng, Gái Lội Qua Khe, nói tới chuyện một cô con gái bị ướt đầm thân thể sau khi lội qua con suối rừng và phải cởi quần áo ra để vắt cho khô. Thi sĩ trông thấy thế thì nhắm mắt lại, không nhìn cô gái loã thể. Nhưng có cái khăn thường quấn trên đầu để khấn vái tổ tiên thì thi sĩ vui lòng cho cô gái mượn để lau… lau bất cứ chỗ nào, tùy ý ! Thi sĩ nhắm mắt không nhìn cô gái lau tay chân, lau mình mẩy nhưng tổ tiên ở dưới mồ thì thức dậy và khuyên cô gái cứ việc tự nhiên tùy nghi sử dụng cái khăn vẫn thường dùng để khấn vái tổ tiên.

Tục ca số 4 là truyện tiếu lâm Úm Ba La ! Ba Ta Cùng Khỏi ! do bố tôi là Thọ An, Phạm Duy Tốn viết và cho in ra trong tập Truyện Tiếu Lâm An Nam xuất bản vào hồi đầu thế kỷ. Đây là câu truyện hai vợ chồng nhà kia, vì thòm thèm chuyện tình mà bị khó khăn. Vợ thì nhét củ từ vào chỗ ấy. Chồng về định tòm tèm thì vợ khai ốm, bèn nghịch ngợm với con chó cái, ai ngờ dính luôn, lôi chẳng ra. 9 Tuc ca 2Rồi cả hai leo lên giường, nói là bị bệnh. Người nhà hoảng sợ vội đi mời ông thầy cúng tới. Ai ngờ ông này cũng bị dính luôn :

Thầy bùa tuy ra cúng

Úm ba la ! Úm ba la !

Mà lòng còn tưởng hoài.

Nậm rượu thờ, đem xuống

Úm ba la ! Úm ba la !

Thầy luồn vào của … thầy !9 Tuc ca 3

Nậm rượu mắc ngẵng, muốn lôi ra chẳng được, thầy bùa như chết cứng, đứng giữa sân khư khư ôm nậm rượu. Chị vợ trông thấy phì cười và phọt củ từ ra ! Tưởng là miếng thịt, con chó cái nhẩy vọt ra tìm cục mồi. Thầy bùa nghi chó cắn, hoảng sợ chạy, nậm rượu đập vào bàn, vỡ tan tành ! Thế là cả ba thoát nạn. Thầy bùa bèn niệm chú : Úm ba la ! Ba ta cùng khỏi ! 

Như đã nói, trong thời gian tôi đi học nhạc ở Pháp, tôi rất yêu thi sĩ kiêm nhạc sĩ và ca sĩ Georges Brassens. Anh này soạn những bài hát rất tục, rất sắc bén… nói thẳng vào xã hội nước Pháp, nhưng bao giờ cũng nói với tâm hồn của một thi nhân. Trong số những bài được gọi là chansons grossières của ông, tôi thích bài Gare Au Gorille nhất. Tôi dịch nguyên văn bài này để thành ra tục ca số 5, nhan đề Khỉ Đột :

Đàn bà rủ nhau ra gánh xiếc xem

Một con khỉ đột đứng im trong chuồng,

Lớn to như người, chẳng chi là kém !

Bà này bà kia mắt liếc mắt lia

Nhìn đi nhìn lại cái nơi đen xì,

Vốn tên tục tằn, mẹ tôi cấm nghe…

Một hôm con khỉ đột thoát ra khỏi chuồng và vui mừng vì phen này sẽ được mất tân. Dù nữ lưu trong vùng xưa rày vẫn phục khỉ đột là hay hơn người nhưng bây giờ họ chạy đâu mất tung. Trừ ra một bà cụ và một ông Quan Toà…

Khỉ đột nhìn quanh không thấy gái tơ

Bèn đi đủng đỉnh tới nơi ông Toà,

Tới nơi bà già, khỉ toe toét ra…

Bà già cho rằng ta đã 60 mà con khỉ đột có ưa biết mùi thì cái duyên may này, thật không ngờ tới ! Ông quan Toà thì yên chí :

9 Tuc ca 4Làm sao khỉ đột dám nghi ta là khỉ non trắng da ? 

Nào ngờ khỉ ta tuy có tiếng tăm

Là tay khoẻ mạnh, vốn tay dâm thần,

Khỉ ta khờ lắm !

Phải chọn bà kia cho đúng lẽ ra

Ngờ đâu khỉ đột nắm tai ông Toà

Cùng ra chiến khu…

Câu chuyện kết thúc với hình ảnh con khỉ đột hiếp dâm ông Toà ở khu rừng lá. Ông Quan bù lu bù loa khóc, giống như anh tù nhân mà ông vừa kết án tử hình hôm qua…

Vào những năm đầu của thập niên 70, tại Saigon có phong trào sửa sắc đẹp. Tôi soạn bài tục ca nhan đề Mạo Hoá để phản ánh xã hội thời đó :

Tôi có người yêu, cái đít to như Thẩm Thúy Hằng 

Cái đít nhìn qua đã khiến cho ta phải ngỡ ngàng

Vừa to vừa lớn ! Như những mặt Vua

Mặt ông Tổng Thống, cũng phải thua…

Nhưng có ngờ đâu mông của em được bơm nhựa, mỗi khi em bị cúm, tiêm thuốc vào mông em thì gẫy cả kim của anh thầy chích. Luân lý của bài này là : Mông giả, vú giả, răng giả, tóc giả… cái gì của em cũng giả, thì anh phải đi Đức Quốc mua một cái giả cho hợp marque với em !

Tục ca số 7 Nhìn L… là một chuyện có thật, xẩy ra hồi tôi còn bé và sống ở tại một tỉnh nhỏ ngoài Bắc Việt. Một lũ ranh con thích rủ nhau đi nhòm phụ nữ tại cầu tiêu công cộng. Ai ngờ một hôm nhòm đúng cái đó của bà mẹ một thằng trong bọn. Từ đó :

Lũ ranh con tò mò tọc mạch

Cùng nói với nhau : 

Xin chừa ! Xin chừa ! 

Tục ca số 8 nhan đề Em Đ… thì tục quá là tục, tôi không dám kể ra đây ! Ngoài tính chất châm biếm xã hội, tục ca còn là bài hát chính trị nữa. Tục ca số 9 Chửi Đổng và tục ca số 10 Cầm C… phản ảnh sự công phẫn tột độ của tôi vào giai đoạn 1968-72, trong đó có Tết Mậu Thân, mùa Hè đỏ lửa, xã hội Việt Nam bị băng hoại vì đồng tiền và chiến tranh, tham nhũng trong chính quyền và cái Hội Nghị dăm ba thành phần gì đó ở Paris mà tôi cho là sự đổi chác của lũ bịp (marché de dupes). 9 Pham Duy 2Bài Cầm C… còn biểu dương mạnh mẽ tinh thần độc lập, nhất định không cầm cờ cho phe nào cả ! (2)

Hai vị viết sách, viết báo về tôi là Tạ Tỵ và Georges Gauthier đều cho rằng cái vui, cái tếu không phải là chất liệu Phạm Duy, cho nên tục ca không thành công. Chưa kể có người chê tôi đi tới chỗ nhảm nhí trong nghệ thuật. Tôi cũng hiểu được vì sao có những người chống đối tục ca dù họ không biết cặn kẽ nội dung của nó. Tôi không hề tung tục ca ra quần chúng. Tôi chỉ tặng vài người bạn thân một băng cassette ghi lại buổi hát chơi ở Vũng Tầu và còn dặn dò đừng phổ biến !

Tôi soạn vỉa hè ca và tục ca trước và sau khi đi Mỹ. Lúc đó, sự có mặt của người Mỹ tại nước ta là một điều rất trầm trọng, mọi người đều sợ bị ngoại xâm văn hoá. Người ta không thích Cộng Sản, nhưng người ta cũng không thích văn hoá Mỹ, nhất là không muốn lối sống Mỹ xâm nhập vào Việt Nam. Khi thấy tôi được mời đi Mỹ theo Chương Trình Trao Đổi Văn Hoá, nếu nói một cách nhẹ, người ta nghĩ rằng tôi có một thứ compromis nào đó với Mỹ rồi. Nếu nói thâm độc hơn, ai được Mỹ mời mọc, người đó phải là tay sai của Mỹ. Ở Hà Nội mà được đi Liên Xô thì phải có liên hệ chặt chẽ ra sao chứ ? Bây giờ, tôi đi Mỹ về, muốn chỉ trích tôi cũng không tìm được cái gì cụ thể để tấn công. Khi biết tôi soạn tục ca (chứ không hề được nghe tôi hát tục ca) thì người ta có cái họ cho là sở đoản để tấn công. Cũng có thể đây chỉ là hành động của những người ghen ghét về nghề nghiệp, chưa chắc đã là do nơi những người làm chính trị chống Mỹ cứu nước. 

Sau hai mươi năm, bình tĩnh nhìn lại thời thế, phải công nhận một điều : người nào sống trong xã hội Việt Nam liên tục từ 1954 thì cho tới 1968-70 — là lúc tôi soạn những bài ca nổi giận như tâm phẫn ca, vỉa hè ca, tục ca — họ cũng phải nổi giận như tôi ! Người dân miền Nam đã chờ đợi, chịu đựng suốt từ thời ông Diệm cho tới biến cố 11-63, rồi chịu đựng thêm một năm 64 để hi vọng có một cuộc Cách Mạng thực sự. Người ta còn cố chịu đựng để cho Mỹ vào Việt Nam giải quyết chiến tranh, giải quyết nổi loạn. Đúng là một chuỗi dài chấp nhận hi sinh trong hi vọng có một chiều hướng tiến bộ nào đó làm đẹp cho quốc gia.

9 Pham Duy 4Đến lúc đó, 1970, sự chờ đợi đã lâu quá rồi ! Hết sự thất bại này đưa tới lời hứa hẹn và khuyên nhủ chờ đợi thêm, tới sự thất bại khác với lời hứa hẹn khác. Đến lúc sự chết chóc, đổ vỡ cứ tiếp diễn, cuộc chiến cứ đi sâu và mang tính chất hoàn cầu, hoàn cảnh đất nước trở nên quá lớn lao, không rút chân ra được thì người ta càng thấy bị trói buộc. Sự thất bại, chua cay không nằm trên bình diện lý luận hay quan sát nữa. Nó đi vào tiềm thức mất rồi ! Sự phản ứng bây giờ không phải là phân tích tình hình bằng bon sens hay bằng cách ngồi lại với nhau, giải thích với nhau. Ai cũng bị bó tay, bó chân trong cơn bối rối. Tất cả những áp lực cùng tới mà mình phản ứng không khéo thì có hại cho bản thân. Và mọi người bèn nổi giận. Sự nổi giận lúc đó là gì ? Là phải văng tục ra chứ còn là gì nữa ?

Về phương diện dân tộc học, xưa kia, trong nền văn minh dân gian, mỗi năm có một ngày lễ hèm để người ta tới đó làm chuyện gọi là bậy bạ, văng tục, chửi thề để giải toả ẩn ức. Nền văn minh của người Việt miền Nam vào những năm cuối của thập niên 60 bắt con người phải văng tục vào nền văn minh cơ khí, nền văn minh chiến tranh, nền văn minh tiêu thụ, nền văn minh hippy đang hiện diện ở mảnh đất này. Trong khi thế giới rêu rao rằng nền văn minh hippy là cao siêu nhất, tổng hợp được Đông Phương và Tây Phương thì bây giờ người Việt thấy những cái gọi là Hành Trình Về Đông Phương, Câu Chuyện Một Dòng Sông, những gì ngỡ là cao siêu nhất hoá ra chỉ là không tưởng….

Ai cũng biết là dù chúng ta có ngồi lại với nhau, nói chuyện với nhau một cách xây dựng và có thiện chí nhất, có cởi mở hoàn toàn thì cũng không đi đến đâu hết. Mọi sự đã hoàn toàn ra khỏi tầm tay của người Việt, nạn nhân của một thời đại trong đó thế giới đang ở điểm cao nhất của một cuộc chiến tranh lạnh !

Đó cũng là cao điểm tột bực của cuộc chiến tranh lạnh vì ngay sau đó, người ta đã phải giải quyết bằng sự rút quân. Mình là cái gì mà có thể bình tĩnh để ra khỏi cái mâu thuẫn mà mình là nạn nhân ba bốn đời đó được ? Chỉ có thể phản ứng bằng tiếng hát. Tiếng hát thở than hay tiếng hát chửi rủa cũng đều là tiếng hát phản kháng. Trong phạm trù ấy, âm nhạc ở miền Nam đã diễn tả rõ ràng sự nổi giận của tất cả mọi người qua nhiều bài hát

Phản kháng của tôi là sự kéo dài từ tâm ca, tâm phẫn ca qua vỉa hè ca, tục ca. Phản kháng của anh em trong các nhóm du ca là bài hát của Nguyễn Đức Quang : Xương sống tôi đã oằn xuống, triệu mưu toan cứ đè lên… Phản kháng của Phạm Thế Mỹ là thương quá Việt Nam, của Tôn Thất Lập là đứng dậy hát cho đồng bào tôi, của Miên Đức Thắng là hát từ đồng hoang… Và của Trịnh Công Sơn là : Bao năm máu như sóng trôi thành nguồn, máu đã khô trên ruộng đồng, máu âm u trong rừng rậm, từng dòng máu che mặt trời soi quanh đời u tối… Người nói mạnh nhất là Giang Châu :

Tuổi trẻ chúng tôi 9 Pham Duy 3

Đã bao nhiêu năm lần lượt đi lên giàn lửa thiêu

Kiếp sống lang thang như mây chiều

Vì đâu xương máu ngất núi

Trên quê hương giẫy đầy hận thù…

Sao chúng tôi không có quyền lên tiếng nói

Sao chúng tôi phải gục đầu và hi sinh cho ngoại quyền

Cho chủ nghĩa, cho danh từ rỗng không ?

Hai mươi năm Việt Nam — từ 1954 tới 1975 — là sự đấu tranh không ngưng nghỉ giữa người Việt hai miền. Tại miền Bắc với một nền văn nghệ chính ủy, âm nhạc hoàn toàn phải phục vụ tuyên truyền, đố ai tìm được một bài hát tình yêu hay phản kháng. — miền Nam, may thay, người nghệ sĩ được nói lên đầy đủ hai khía cạnh của cuộc đời (tôi sực nhớ tới bài hát rất được phổ biến hồi đó là Both Sides Now của Judy Collins, người tình một thời của anh bạn Steve Addiss) nghĩa là nói lên được đầy đủ cái tốt cái xấu, cái thực cái giả, cái buồn cái vui… âu cũng là một liều thuốc an ủi cuộc đời. Sau thời huy hoàng của nhạc kháng chiến, tới thời tương đối hoà bình nên có nhạc tình yêu rồi cũng phải có nhạc nổi giận trước hoàn cảnh ngả nghiêng của đất nước chứ !

Yên Huỳnh post (trích hồi ký của Phạm Duy)

KÝ ỨC VỀ NGÔ ĐÌNH LỆ THỦY

Logo bay gio ke

NGÔ ĐÌNH LỆ THỦYNg D Le Thuy 1

HỒNG NHAN MỆNH YỂU

Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương  

(Đoạn Trường Tân Thanh)

1.

Niên khóa 1962-63, tôi học năm cuối của chương trình Cử Nhân Giáo khoa Văn Chương Pháp tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Còn nhớ cùng lớp tôi lúc ấy có nhạc sĩ Hùng Lân, người hiền lành, dễ mến, như một thầy tu, thỉnh thoảng nổi hứng bất tử ngồi lén ghi nốt nhạc ngay tại chỗ, trong lúc thầy giảng bài. Có bà sơ Phạm Thị Nhâm, mà tôi thường hỏi mượn cua mỗi lần trốn học đi chơi, sau trở thành hiệu trưởng trường Nữ Thánh Tâm Nha Trang, và đã nhận ra tôi ngay khi vừa thấy tôi lò dò đến trường xin dạy. Có Đặng Tiến, da vàng ủng như người bị sốt rét kinh niên, tóc bờm xờm không chải, nói tiếng Pháp đặc giọng Quảng Nam, trước 75 ở phòng tùy viên Tòa đại sứ VNCH tại Thụy Sĩ, đào ngũ qua Pháp sống cho đến bây giờ, chuyên viết báo nịnh hót Cộng sản và phê bình gia văn chương có hạng. Có Đại úy Bộ Binh Ngô Văn Minh, sau lên chức Đại tá Tham mưu trưỏng Quân Đoàn III, Biên Hòa. Có Wang Seng, cô bạn Tàu, Bùi Thế Cần, Lương Thị Nga, Thái Thị Nhân, Lê Thị Bích, Thái Tuyết Lê, Lê Thị Ngọc Loan, và Irène Công Huyền Tôn Nữ Phụng Tiên  – đồng hương Nha Trang và đồng môn trong lớp Latin của M. Le Menn – tất cả đang ở Pháp. Có Nguyễn Nương Minh Châu, sau thành vợ Bác sĩ Đinh Hà, cả hai là cựu JECU (viết tắt của Jeunes Etudiants Catholiques Universitaires, Thanh Sinh Công Đại Học), đang sống rất thầm lặng tại một nơi nào trên đất Mỹ.

Đầu niên học, từ lầu ba, tôi và Bùi Thế Cần (học giỏi nhất lớp, con của dân biểu Bùi Tuân, Huế) hay xuống lầu một, vào giảng đường Dự Bị, để tìm người quen giữa đám nai vàng ngơ ngác, hay đúng hơn tuyển mộ tân binh cho JECU. Lúc ấy, Cần là trưởng JECU Liên Trường, Nguyễn Ánh Tuyết (con trai), thư ký, còn tôi, Ng D Le Thuy 3trưởng Nhóm Văn Khoa Pháp. Một hôm, tôi thấy đứng trước cửa giảng đường một sĩ quan mang ba hoa mai bạc, đầu đội béret đỏ, tay cầm một xấp cua. Ông dáng cao gầy, vẻ tươi cười. Gặp ông, tôi khẽ gật đầu chào, và ông lịch sự chào lại. Có người cho biết, đó là Đại tá Cao Văn Viên. Mấy năm sau, ông lên tướng, trở thành xếp quá lớn của tôi, và lấy bằng Cử Nhân Pháp. Có kẻ xấu mồm nói, ông nhờ người đi học và đi thi thay cho ông. Tôi không tin. Vì ở Văn khoa Pháp, thầy cô không phát cua, phải vào lớp ghi chép hoặc mượn ai, và kỷ luật thi cử lúc bấy giờ khá gắt gao, ít sinh viên, lại phải thi oral, thầy trò biết mặt nhau hết, rất khó gian lận.

Vào trong giảng đường, Cần và tôi ngồi lẫn lộn với đám tân sinh viên, nghe cha Cras giảng về Socrate và Hégel hay thầy Kiết dịch tiếng Pháp ra tiếng Việt mà phát mệt trở lại. Một hôm, chúng tôi thấy Yvonne Lan Hương, cô bạn trong JECU, học dưới một lớp, đang ngồi trò chuyện với một cô. Bèn sà đến. Yvonne giới thiệu, đây Thủy, Ngô Đình Lệ Thủy. Lần đầu gặp cô, chúng tôi không nói gì hơn ngoài vài câu xã giao thông lệ.

Về sau, khi Lệ Thủy gia nhập JECU Văn khoa Pháp, tôi tiếp xúc với cô thường hơn, nhưng thường chỉ để thông báo ngày và chương trình họp của Hội. Cô có dáng thanh thanh, vẻ thùy mị, thông minh, ít nói, ít cười, đôi mắt linh hoạt, khuôn mặt hơi vuông, cằm hơi nhọn, tóc dày, cài bandeau trắng hoặc đỏ. Chúng tôi nói tiếng Pháp với nhau, cho nên bây giờ tôi không biết cô nói tiếng Việt ra sao, giọng miền nào. Đó là một điều mà sau gần nửa thế kỷ, già đi, nghĩ lại, tôi thấy “dị hợm”, mắc cỡ, mặc dù do thói quen, giống như các em Việt Nam hiện tại ở Mỹ nói chuyện bằng Anh ngữ, chứ chẳng vì “snobisme”, thời thượng, lòe thiên hạ. Lệ Thủy thường mặc váy đỏ, áo sơ mi trắng đi học, đôi khi cả đồng phục Thanh Nữ Cộng Hòa. Nói chung, cô khá đẹp, nhưng không lồ lộ, sexy như Irène, không tươi lộng lẫy như Lương Thị Nga. Một sắc đẹp trang nhã, đài các. Tôi để ý, cô ở đâu là luôn luôn có hai anh chàng gorilles (hộ vệ), giả dạng sinh viên, ngồi phía dưới, cách cô một dãy bàn, nhìn chòng chọc vào mọi người.

JECU Văn Khoa Pháp lâu lâu ra một tờ Bản Tin (Bulletin), bằng tiếng Pháp, do Bùi Thế Cần, Ánh Tuyết, Minh Châu và tôi viết gần hết, vì không ai gửi bài. Trong đó, thỉnh thoảng có đăng một vài bài thơ tình lẩm cẩm của tôi, không đối tượng, chỉ là gửi gió cho mây ngàn bay, mà bây giờ tôi còn nhớ lõm bõm vài câu:

Je veux tremper mes lèvresTr nu sinh 5

Dans l’ eau pure de ton coeur

Et émerger frissonnant

D’ une aube de lumière…

(Anh muốn nhúng môi anh

Vào nước tinh tuyền tim em

Và bừng lên run rẩy

Dưới ánh sáng bình minh…)

hay những câu dịch của John Keats, hoặc Tennyson, đại khái :

Ce n’ est pas toi que je regretteTr nu sinh 1

C’ est le rêve par toi brisé

(Không phải em mà anh tiếc nuối

Mà giấc mơ vì em vỡ tan) 

Lệ Thủy đọc xong, mày hơi nhíu, bảo tôi, nghiêm trang như một cô giáo la rầy học trò : “Je n’ savais pas que tu es si romantique. Les poèmes d’amour, ça c’est vraiment beau, mais ils désespèrent aussi” (tôi không biết anh lãng mạn dữ thế. Những bài thơ tình hay thật, nhưng cũng làm người ta tuyệt vọng). Tôi khoát tay, ấp úng chối tội như ăn vụng bị bắt quả tang : “Un peu, oui, j’ n’ les ai faits que pour m’amuser. Rien de sérieux !” (Chút chút, đúng, tôi chỉ làm để chơi vui thôi mà. Không có gì quan trọng !).

Lệ Thủy không bao giờ đến CLB Phục Hưng để họp, ngoại trừ một lần, tôi nhớ, tham dự thánh lễ đầu tháng cho toàn JECU do cha Pineau cử hành, rồi về ngay sau lễ. Chúng tôi chỉ gặp nhau tại giảng đường Propédeutique, trong giờ nghỉ giải lao, năm sáu đứa ngồi cuối phòng, có khi tại bàn của Lệ Thủy, thảo luận, hay trao đổi vài thông tin cần thiết. Hai anh chàng gorilles, chắc đã được báo trước, đứng xa xa hút thuốc, để chúng tôi yên.

Một ngày thứ bảy, JECU Liên Hội tổ chức đi thăm trại cùi và nhà thương điên Chợ Quán. Mỗi người góp mười đồng, làm chi phí lặt vặt, và ăn trưa. Số tiền không nhỏ, hơn ba tô phở vào thời ấy, đối với ngân quỹ khiêm tốn của sinh viên còn lãnh lương cha mẹ. Lệ Thủy đưa cho tôi một trăm đồng, trước mặt Cần, nói là tiền của “maman cho Hội”, nhưng “tiếc là Thủy bận việc bên Thanh Nữ Cộng Hòa, không đi với tụi toa được”.  Tôi nhận tiền, cám ơn, rồi nói nhỏ vào tai Cần : “Như thế cũng hay. Có Thủy tham gia, hai  gorilles phải theo, phiền phức, mà trông ngứa mắt lắm !”

Hôm ấy, tất cả chúng tôi, khoảng bốn chục người, chia nhau lên hai xe buýt, tuyến đường Chợ Bến Thành – Trần Hưng Đạo. Hoặc tự túc, có xe hơi riêng, như hai chị em Anh Thư, Hạp Thư, hay “đại ca” Dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ. Tổ y tế gồm các sinh viên Y khoa, trang bị ống nghe và túi cứu thương, do Đinh Hà hướng dẫn, làm công tác khám bệnh, phát thuốc. Ng D Le Thuy 4Tổ ăn uống do Rosa điều động. Tổ văn nghệ gồm một cây guitare và một số ca sĩ mầm non, do các cô bên Dược phụ trách, trong số có Yvette Trương Tấn Trung, đang ở Pháp. Bùi Thế Cần làm tổng tư lệnh, Nguyễn Ánh Tuyết phụ tá.

Đầu tiên chúng tôi thăm nhà thương điên. Toàn đàn ông. Vài ông, tóc dài rũ rượi, biểu diễn nhiều màn rất… điên, như xé áo xé quần, rú lên những tràng cười kinh dị, khiến các cô sợ quá, mặt mày tái mét. Nhưng đa số hiền lành đứng nhìn chúng tôi đi qua, vẻ thẫn thờ, ngây dại. Tôi cười, chào, hỏi thăm, họ vẫn vô cảm. Rồi cả toán chuyển sang thăm trại cùi. Thói quen nghề nghiệp, Đinh Hà phát sẵn mấy chai alcool, để tùy nghi. Bệnh nhân rất đông, sống theo khu, gồm cả con nít, trông rất tội nghiệp. Tôi không lạ với cảnh này, vì gần xóm tôi ở Nha Trang, khu Lạc Thiện, cũng có một trại cùi do các tu sĩ dòng Franciscains sáng lập và đảm nhiệm, nhưng lúc ấy tôi còn nhỏ, chỉ là một khán giả bàng quan, đi ngang tò mò đứng nhìn vào qua những vòng rào kẽm gai dày. Bây giờ, lần đầu tiên có dịp thấy tận mắt những thân hình gầy còm, lở lói, những bàn tay, bàn chân co quắp, hoặc mất ngón, những cặp mắt mờ đục, mù lòa. Và lòng dâng tràn một niềm cảm thương vô hạn. Tổ y tế bắt đầu khám, phát thuốc cho những bệnh nhân cùi bị cảm cúm, đau đầu, sổ mũi, do trưởng trại giới thiệu, yêu cầu. Các cô tập họp những cháu bé lại, phát kẹo, tập chúng hát theo nhịp đàn guitare của Nguyễn Ánh Tuyết, vỗ tay, rồi cười lớn tiếng với nhau. Vài cháu chưa bị nhiễm bệnh, mặt mày trông rất sáng sủa, thông minh, phải theo sống chung với cha mẹ.

Tháng sáu 1963, mãn trường. Bùi Thế Cần, Nguyễn Nương Minh Châu đậu Cử Nhân liền một khi. Tôi rớt oral chứng chỉ Văn chương Quốc âm, bắt buộc cho sinh viên Văn khoa Pháp – Anh, vì trong buổi thi vấn đáp với giáo sư Vương Hồng Sển tôi không nhớ Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị ông nào theo Tây, ông nào chống Tây, và đem thơ ông này cắm vào cằm ông kia. Với giáo sư Bửu Cầm, kết quả còn tệ hơn, tôi không biết chiết tự bốn câu thơ chữ Nôm của thi sĩ Tuy Lý Vương, đứng chịu chết như Từ Hải, nhìn thầy cười cầu tài. Phải thi lại hai môn vấn đáp này. Còn những nàng tiên nga “trong đám xuân xanh ấy”, mà tôi đã kể tên ở trên, chưa có ai “theo chồng bỏ cuộc chơi”, như trong thơ Hàn Mặc Tử, nhưng đã lần lượt đi du học Pháp một cách lặng lẽ từ năm thứ hai, thứ ba. Cần ra Huế, tôi về quê Nha Trang, dạy tại Collège français môn Việt văn cũng nhờ cái chứng chỉ Văn chương Quốc âm khó ác ôn ấy.

Ng D Le Thuy 6Không bao giờ tôi gặp lại Lệ Thủy, đã biến mất, từ ngày cô tặng JECU chúng tôi một trăm đồng. Tôi biết cô cũng đã đậu Propédeutique, qua bản niêm yết dán trước của trường, với tên chính thức, đầy đủ: Anne-Véronique Ngô Đình Lệ Thủy, sinh năm 1945. Chiến sự mỗi ngày leo thang. Khủng hoảng chính trị gia tăng. Sinh viên và Phật tử xuống đường hàng ngày. Cảnh sát dàn chào với dùi cui, lựu đạn cay. Những tờ báo chui chửi thậm tệ chế độ. Làm tôi rất quan tâm vì, qua Lệ Thủy, cảm tình của tôi với cụ Diệm rất sâu nặng, không như một vài bạn JECU khác. Tôi lờ mờ hiểu rằng thế nào bàn tay lông lá của người Mỹ cũng đã nhúng vào nội bộ Việt Nam.

Nhưng tôi tin tưởng và cầu mong cụ Diệm sẽ vượt qua hết như lần đảo chánh hụt 1960. Thời gian sau đó, nhiều biến cố xảy ra, dồn dập. Lựu đạn nổ tại đài phát thanh Huế. Thượng tọa Thích Quảng Đức tự thiêu. Nữ sinh viên Quách Thị Trang biểu tình bị cảnh sát bắn chết tại chợ Bùng Binh Sài Gòn. Rồi đảo chánh. Ngày 2/11/1963, nghe tin hai anh em cụ Diệm bị giết, ba tôi chảy nước mắt và trong giờ kinh tối ba bắt cả nhà đọc thêm kinh cầu hồn cho hai cụ. Còn tôi tự nhiên thấy buồn vô hạn, suốt mấy bữa, mặc dù chưa hề lãnh được một tí ơn mưa móc nào từ chế độ.

Lúc ấy Lệ Thủy đang ở ngoại quốc với mẹ trong chuyến công du giải độc. Liền sau đảo chánh, các phản tướng chia nhau tiền thưởng của CIA, nhảy đầm thả giàn, phá bỏ các ấp chiến lược. Báo chí, sách vở (của anh chàng Hoàng Trọng Miên nào đó chẳng hạn) mở chiến dịch bôi nhọ gia đình họ Ngô, và bà Nhu, Lệ Thủy cũng bị dính miểng. Nào là bà Nhu có một chiếc ghế khích dục, trong dinh Độc lập, nhưng sự thật đó chỉ là chiếc ghế làm răng thường thấy trong phòng nha sĩ. Nào là ông Nhu bất lực. Nào là bà Nhu tư tình với cụ Diệm, với ông tướng này, ông tướng nọ. Nào là Lệ Thủy có nhiều bồ, kể cả một anh người Nhật, Lệ Thủy thất tình, học Văn Khoa, chỉ ghi danh, không đến lớp mà cũng có bằng, v.v…

Tôi đọc và thấy buồn nôn. Vô lý quá, vậy mà dân chúng ít học hoặc quá khích vẫn tin, thế mới kỳ lạ. Công việc và đời quân ngũ làm tôi quên Ngô Đình Lệ Thủy. Kỷ niệm với JECU những ngày có cô cũng dần phai theo thời gian.

2.

Cho đến đầu năm 1967. Bốn năm sau. Tôi được tăng phái cho Tiểu đoàn 4/44 Bộ Binh trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn tại quận Thiện Giáo (Ma Lâm cũ), nổi tiếng nguy hiểm, thuộc tỉnh Phan Thiết. Ngày đi hành quân tìm địch, qua các thôn xóm, đêm đóng quân ven rừng, mắc võng giữa hai thân cây nằm nghe tiếng đại bác ầm ì xa xa, nhìn hỏa châu từng hồi loé sáng trên ngọn Tà Dôm, mà thương cho kiếp lính tráng nay đây mai đó, trực diện cái chết cận kề.

Tr Chien si 4Một buổi trưa, tôi đang nói chuyện với ông Đại úy Tiểu đoàn trưởng, một viên đạn rít ngang nón sắt, cách đầu tôi một đường tơ, xuyên ngay cổ binh nhất H., mang máy truyền tin PRC 25 đứng gần đó, làm anh gục chết tại chỗ. Tên du kích bắn sẻ vụt bỏ chạy, bị lính Tiểu đoàn rượt theo và lãnh trọn một tràng carbine, phơi thây. Một người lính, bà con của H., giận dữ chửi thề và muốn xẻo tai tên này để trả thù, tôi phải khuyên ngăn mãi, mới thôi.

Trở lại với Ngô Đình Lệ Thủy. Một ngày cuối tuần và cuối tháng 4/1967, tôi cùng với vài sĩ quan bạn được phép lên Phan Thiết, cách Thiện Giáo khoảng mười lăm cây số, để nghỉ xả hơi qua đêm, và nhậu bia. Tại quán bánh căng “còn ướt sền sệt”, chúng tôi gọi mỗi người hai tô, mỗi tô hai mươi lăm cái, đổ đầy nước mắm, ăn cho bõ những bữa cơm sấy, đồ hộp ngán đến tận óc. Tôi mua một tờ nhật báo, và giật mình đọc tin Lệ Thủy đã chết trong một tai nạn xe hơi tại Pháp, chính xác tại Longjumeau, vùng Essonne, ngoại ô Paris. Chết tại chỗ. Lúc ấy cô vừa hai mươi hai tuổi. Bài báo kể, ban đêm, cô lái xe nhỏ và bị một camion ngược chiều húc thẳng, đầu xe của cô nát bấy. Sau này, đọc trên tờ Time, số Friday April 21/1967, thấy cũng đăng đúng tin ấy.

Mặc dầu tình cảm của tôi đối với cô, và ngược lại, chưa bao giờ thắm thiết, gắn bó, đong đầy, đủ để những giọt lệ trào dâng chan chứa, như trong mắt nàng kỹ nữ Tầm Dương làm đẫm vạt áo xanh của người Giang Châu Tư Mã thuở trước, tôi vẫn thấy bàng hoàng, xao xuyến. Tôi bỏ dở bữa nhậu đã bao lâu chờ đợi, ngồi thừ người, nghĩ đến những kỷ niệm thời sinh viên, JECU, những buổi họp, những bài thơ tình lẩm cẩm và lời phê bình nặng ký của cô, một trăm đồng “maman cho”.

Ng D Le Thuy 2Đêm về, qua cửa sổ khách sạn, tôi nhìn trời xanh thẳm không gợn mây và nửa mảnh trăng mới mọc vàng úa trên ngọn núi Tà Dôm mà nhớ câu thơ của Mạc Đĩnh Chi khóc nàng công chúa Tàu :

Y! Vân tán, tuyết tiêu / Hoa tàn, nguyệt khuyết

(Ôi! Mây tản, tuyết tan / Hoa tàn, trăng khuyết).

3.

Hai tháng sau, tôi được lệnh thuyên chuyển đi Qui Nhơn. Tôi đáp chuyến bay Air VN đến Sài Gòn trước, dự trù ở chơi vài hôm, rồi về Nha Trang nghỉ phép một tuần, trước khi ra Qui Nhơn đáo nhậm đơn vị mới. Hành trang là túi ba lô và cây carbine đeo vai, cây Colt bên hông, và bộ quân phục mặc trên người. Trong chuyến bay có một số sĩ quan trẻ từ các đơn vị tác chiến về, cũng trang bị tận răng như tôi, báo hại các cô tiếp viên phải gom hết súng lại, đem cất đi một nơi phía sau phi cơ. Tại phi trường Tân Sơn Nhất, đang đứng chờ taxi, tôi bất ngờ thấy Thái Tuyết Lê cũng từ chuyến Air France xuống. Tôi hỏi dồn :

– Tuyết Lê phải không ? Toa về từ Pháp ? Không ai đón sao ?

– Không, moa không báo trước ngày giờ, muốn dành ngạc nhiên cho gia đình.

Tuyết Lê, người Huế, cựu JECU mặc dầu ngoài Công giáo, là em bà chủ tiệm kem Phi Điệp, chợ Bến Thành – Trần Hưng Đạo, du học Pháp từ năm thứ ba Văn Khoa. Tay bắt mặt mừng, tôi mời Tuyết Lê đi chung chuyến taxi về thành phố. Trong xe, Tuyết Lê nhìn tôi đăm đăm, tấm tắc khen, “toa trông đen, nhưng có vẻ nam nhi, hùng dũng, khác với hồi còn là thư sinh.” “Dĩ nhiên, tôi vênh mặt đáp, bắt chước nghệ sĩ Hùng Cường, lính mà em !” Cả hai cùng cười vui.

Câu chuyện xoay quanh bạn cũ bên đó, bên này, và tôi được biết Irène Phụng Tiên học ở Grenoble, quê hương của Stendhal, tác giả mà tôi yêu mến từ thời còn học tại Jean-Jacques Rousseau. Rồi cái chết của Ngô Đình Lệ Thủy. Đổi sang tiếng Pháp, để tài xế taxi không nghe hiểu, Tuyết Lê kể :

– Tại Paris, tụi moa có đi viếng xác Lệ Thủy và dự lễ cầu hồn và đưa nó ra nghĩa trang. Đầu Lệ Thủy bị kính trước cắt gần lìa cổ. Khi liệm, được khâu lại và quàng bằng chiếc khăn lụa màu thiên thanh, trông mặt nó đẹp quá, thanh thản như một thiên thần. Bà Nhu từ Rome bay sang, ôm xác con mà khóc ngất, khiến tụi moa cũng khóc theo. Chiếc xe bị nạn là chiếc Peugeot còn mới do Tổng giám mục Ngô Đình Thục mua cho Lệ Thủy. Tài xế xe poids lourd không việc gì cả, bị thẩm vấn qua loa, rồi cho về.

Ng D Le Thuy 5Tôi hỏi:

– Lệ Thủy học môn gì ở Paris ?

– Trường Luật.

– Tụi toa có gặp Thủy lần nào trước đó ?

– Thỉnh thoảng. Thủy vẫn gentille (dễ thương) như trước kia.

Tôi bỗng thở dài :

– Tội nghiệp nó quá! Đúng là hồng nhan bạc phận !

Xe ngừng trước tiệm kem Phi Điệp. Tuyết Lê giành trả tiền, mời tôi vào chơi, ăn kem.

Nhưng tôi thoái thác, “thôi, toa mới về, cần gặp gia đình, để dịp khác”, rồi vác túi ba lô và cây súng lững thững bước đi, gọi xích lô chở về nhà ông bác họ ở đường Nguyễn Trãi.

4.

Nếu còn sống, năm nay Lệ Thủy cũng đã 68 tuổi. Quá khứ xa rồi, nhưng khi ngồi viết bài này, tôi vẫn thấy lòng bồi hồi, bởi kỷ niệm. Tôi vẫn nhớ lời cô “la rầy” tôi một lần về những bài thơ tình làm tuyệt vọng.Ng D Le Thuy 7Và hôm nay tôi sửa lại câu thơ ngày đó :

C’est bien toi que je regrette

Ce n’est pas le rêve par toi brisé

(Chính em mà anh tiếc nuối

Không phải giấc mơ vì em vỡ tan)

Nhưng trong một nghĩa nào, vì mang bệnh kinh niên lãng mạn, tôi nghĩ rằng mỹ nhân Ngô Đình Lệ Thủy mất sớm như vậy cũng hay. Để không bao giờ cho thế gian thấy tóc mình bạc màu.

Yên Huỳnh post (theo Kim Thanh – Portland)

NS PHẠM DUY – CS BẠCH YẾN

Logo nhan vat 1

NỮ CA SĨ BẠCH YẾN9 Bach Yen 1

Nữ ca sĩ Việt đầu tiên đến với kinh đô điện ảnh Hollywood. Câu chuyện khá hấp dẫn, mời quý bạn đọc.

Đầu năm 1965, đúng18 tuổi, tôi về Sài Gòn. Một buổi tối, tôi lên phòng trà Hòa Bình (tọa lạc trước g axe lửa Sài Gòn cũ nay là mũi tài công viên 23/9, trước chợ Bến Thành hiện nay). Đúng lúc, người ta giới thiệu ca sĩ Bạch Yến hát bài “Đêm đông”. Vẫn mái tóc đó, khuôn mặt đó, chẳng thể nào quên được. Tim đập loạn lên, nhưng tôi vẫn hỏi cho chắc : “Có phải hồi trước Bạch Yến này lái môtô bay không ?”. Anh nhạc sĩ đàn anh dẫn tôi đi đáp : “Đúng rồi đó”.

Tôi đứng như trời trồng, không phải nghe mà để tiếng hát trầm ấm, trong vắt rót vào hồn mình từng cung bậc. Nhẹ nhàng và tự nhiên lắm. Tiếng hát cứ như tuôn ra từ lồng ngực, rõ ràng từng chữ, không cố gắng, kiểu cách, nhưng sao lại có sức truyền cảm mãnh liệt đến thế!… Gần nửa thế kỷ trôi qua, tôi đã nghe không biết bao nhiêu giọng hát tuyệt vời của nhiều ca sĩ tài năng. Nhưng trong lòng, giọng hát Bạch Yến vẫn là niềm xao xuyến dạt dào nhất, chưa chút tàn phai.

Chị tên thật là Quách Thị Bạch Yến, chào đời tại Sóc Trăng năm 1942, có cha là người Triều Châu (Trung Quốc) và mẹ là một người Kinh rất yêu âm nhạc. Lên 9 tuổi, Bạch Yến theo học tiểu học Trường La providence, Cần Thơ, gia nhập đoàn thánh ca nhà thờ để làm quen với âm nhạc. Năm 1953, về Sài Gòn, chị tham gia cuộc thi tiếng hát nhi đồng do Đài Phát thanh Pháp Á tổ chức và đoạt ngay huy chương vàng. Được vinh quang này, Bạch Yến lại đối mặt với mất mát khác. Thân sinh của chị đòi đem cả nhà sang Phnôm Pênh (Campuchia) định cư. Mẹ Bạch Yến lại không muốn rời xa quê hương nên cương quyết ở lại. Thế là chia tay !

9 Bach Yen 4Mẹ con Bạch Yến sống chen chúc trong một căn nhà nhỏ ở một con hẻm trên đường Cao Thắng nhưng cũng chẳng được bình yên. Một cơn hỏa hoạn đã thiêu rụi căn nhà này thành tro bụi. Một ông cậu ruột của Bạch Yến từ Cần Thơ lên, nảy ra ý định thành lập một gánh xiếc môtô bay thiếu nhi, lưu diễn khắp miền Nam để kiếm sống. Bạch Yến cùng với chị ruột, em trai và em họ đi theo cái nghề nguy hiểm này trong nỗi lo ngay ngáy của người mẹ. Một lần biểu diễn tại Thị Nghè, khi đang bay môtô trên độ cao 4 mét, Bạch Yến đã đạp nhầm thắng và rơi xuống sàn gỗ, bị chiếc môtô đè lên người, gãy ba xương sườn, màng tang trái bị chấn thương, phải điều trị mất một thời gian dài. Đoàn môtô bay của ông cậu cũng ngưng hoạt động sau tai nạn này!

Mới 14 tuổi, Bạch Yến đã cố trang điểm cho già dặn hơn để lần mò đến các vũ trường, phòng trà xin làm ca sĩ, những mong kiếm tiền để phụ giúp mẹ. Nơi Bạch Yến đến gõ cửa đầu tiên là phòng trà Trúc Lâm trên đường Phạm Ngũ Lão do hai nhạc sĩ Mạnh Phát và Ngọc Bích làm chủ. Chỉ mới thử giọng lần đầu, Bạch Yến đã được thu nhận với khoản thù lao hết sức khiêm tốn. Từ phòng trà Trúc Lâm, Bạch Yến tiến lên phòng trà Hòa Bình, được khán giả tán thưởng nồng nhiệt qua các ca khúc “Bến cũ”, “Gái xuân”… và một số bài hát pháp : “Tango Blue”, “Étoile Des Neiges”…

CS Bach YenNăm 1957, tròn 15 tuổi, Bạch Yến đã khiến người nghe ngẩn ngơ khi trình bày ca khúc “Đêm đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Tên tuổi chị đã gắn liền với bài “Đêm đông” như một định mệnh. Từ đó, chị nhận được không biết bao nhiêu lời mời mọc với tiền cátxê cao ngất, dù còn ở tuổi thiếu niên.

Năm 1961, khi tên tuổi đã nổi như cồn, Bạch Yến lại từ bỏ tất cả, cùng với mẹ sang Pháp với mong ước được học hỏi những tinh hoa của âm nhạc Tây phương. Bạch Yến may mắn được ông Phạm Văn Mười thu nhận làm ca sĩ, hát tại nhà hàng sang trọng La Table Du Mandarin do ông ta làm chủ trên đường Rue de l Echelle, quận 1, Paris. Trong thời gian này, Bạch Yến được hãng Polydor của Pháp mời thâu đĩa và lưu diễn một số nước châu Âu.

Thu nhập lý tưởng, nhưng Bạch Yến không hài lòng. Trong mắt khán giả, chị chỉ là một khuôn mặt Á Đông xa lạ. Thế là năm 1963, Bạch Yến quay về cố hương và trụ lại phòng trà Tự Do của ông Ngô Văn Cường, một người từng sống lâu năm ở Pháp. Bấy giờ Bạch Yến đã bước sang tuổi 21, và đã trải qua 7 năm sống đời ca hát với những thành công rực rỡ. Chị được nhiều phòng trà, vũ trường mời gọi.

Năm 1965, Bạch Yến được giới thiệu với chương trình ca nhạc truyền hình “Ed Sullivan Show” nổi tiếng, thu hút gần 40 triệu người xem trên toàn nước Mỹ. Bạch Yến ra điều kiện chỉ nhận lời nếu có mẹ cùng đi. Yêu cầu của chị được đáp ứng. Theo hợp đồng, Bạch Yến sẽ lưu lại Hoa Kỳ 12 ngày. Chị đã xuất hiện trong chương trình “Ed Sullivan Show” danh giá với ca khúc “Đêm đông” bất hủ của Việt Nam và ca khúc nổi tiếng “If I have a hammer” của Mỹ.9 Bach Yen 5 Bạch Yến đậu lại ở Mỹ không chỉ 12 ngày mà tới 12 năm, đi lưu diễn trên khắp Hoa Kỳ và nhiều nước châu Mỹ : Canada, Mexico, Brasil, Venezuela, Colombia, Panama… bên cạnh những tên tuổi lớn của thế giới, thuộc nhiều lãnh vực nghệ thuật khác nhau : Bob Hope, Bing Crosby, Mike Douglas, Joey Bishop, Pat Boone… Nghệ sĩ dương cầm lừng danh của Hoa Kỳ Liberrace, danh ca Frankie Avalon và Mike Qayne đã mời Bạch Yến về Hollywood, hát cho bộ phim nổi tiếng “Green Berets” (Mũ nồi xanh), do nam tài tử gạo cội John Wayne đóng vai chính. Bạch Yến đã chọn vùng Beverly Hill, miền Nam California để cư ngụ. Láng giềng của chị toàn là những nghệ sĩ lừng danh thế giới trong hai lãnh vực điện ảnh và ca nhạc. Có thể nói, Bạch Yến là ca sĩ Việt Nam đầu tiên đến tiểu bang này. Lúc bấy giờ, trên toàn nước Mỹ mới chỉ có trên, dưới 1.000 người Việt định cư.

Có lần, ông bầu quyền lực Jimmy Durante mời chị đi hát ở Las Vegas. Chị mặc áo dài Việt Nam, vô tình đi ngang qua phòng thay đồ của đại danh ca Frank Sinatra (1915-1998). Vừa thấy Bạch Yến, Frank Sinatra đã nhờ ông bầu Jimmy Durante giới thiệu để làm quen và mời chị đi ăn tối. Mặc dù cảm thấy rất vinh hạnh, nhưng lòng kiêu hãnh của một cô gái Việt nổi lên, chị đã phớt lờ. Ông bầu gặp chị, hỏi lý do, Bạch Yến đáp là từ trước đến nay, chị đi đâu cũng có mẹ theo kèm, không dám đi một mình. Lập tức, Frank Sinatra không chỉ mời cả hai mẹ con đi ăn, mà còn mời đi nghe ông hát.

Frank Sinatra bấy giờ 50 tuổi. Ông là siêu sao của nước Mỹ, từng đoạt nhiều giải thưởng âm nhạc Grammy cao quý, đồng thời chiếm luôn giải Oscar dành cho nam diễn viên xuất sắc nhất trong bộ phim “From here to Etemity”. Sau này, ông đã được nhiều đời Tổng thống Mỹ vinh danh và ngành Bưu chính Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ in hình ông lên tem để ghi nhớ tài năng một con người đã làm rạng danh cho nghệ thuật nước Mỹ. Hôm Bạch Yến điện thoại chào từ biệt, Frank Sinatra đã thuyết phục chị cố gắng ở lại thêm một ngày, ông ta sẽ cho máy bay riêng chở về Hollwood. Bạch Yến khéo léo từ chối. Đối với đa số phụ nữ trên thế giới, được một lần diện kiến với Frank Sinatra là vinh dự lớn lao.

Thời gian Bạch Yến ở Mỹ, bà mẹ dặn chị 3 điều : Không được lấy chồng Tây, không được cắt tóc ngắn và cuối cùng là không được mặc bikini, dù là đi tắm. Chị kể : “Ở Mỹ, có rất nhiều đàn ông đeo đuổi tôi, Tây cũng có mà ta cũng có. Có một người Mỹ, là chủ của 6 đài truyền hình tha thiết muốn cưới tôi làm vợ. Anh ta nói tôi muốn cái gì, được cái đó. Nhưng tôi nói với anh ta rằng : “Tôi yêu anh nhưng chưa đủ để cưới anh !”. Thật oái oăm, tôi từ chối nhiều “ông Tây” nhưng khi yêu mấy “ông ta” thì họ toàn làm tôi khổ !”

9 Bach Yen 6Năm 1978, Bạch Yến về lại Paris. Nơi đây, chị gặp lại nhạc sĩ Trần Quang Hải, một con người nặng tình với dân ca, gần như dành cả đời cho những làn điệu hát ru, quan họ, chèo văn, nam ai, nam bình… Có lẽ do anh ảnh hưởng dòng máu của người cha, giáo sư, nhạc sĩ Trần Văn Khê. Như đùa, khi Trần Quang Hải buột miệng nói : “Mình cưới nhau đi”, Bạch Yến giỡn lại : “OK !”. Nào ngờ Trần Quang Hải làm thiệt, cho in thiệp cưới. Thế là thành vợ thành chồng. Bạch Yến nói : “Đó là duyên số, chúng tôi sống với nhau tràn đầy hạnh phúc cho đến hôm nay. Đã 34 năm rồi”.

Định cư hẳn ở Paris, Bạch Yến cũng làm một cuộc thay đổi lớn lao trong đời sống nghệ thuật. Chị rời bỏ nền âm nhạc Tây phương khi đang ở trên đỉnh cao danh vọng và kiếm được rất nhiều tiền, quay về với dân ca, cùng với chồng tìm trong âm điệu ngũ cung cái hồn dân tộc thấm đẩm ân tình. Với chị, Trần Quang Hải không chỉ là một người chồng, mà còn là một người thầy. Anh chỉ dẫn, nắn nót cho chị từng điệu hát ru, từng lời quan họ và những điệu hò phương Nam.

Cho đến năm nay (2012), vợ chồng Bạch Yến – Trần Quang Hải đã có hơn 3.000 suất diễn dân ca Việt Nam trên 70 quốc gia. Hiện nay, hàng năm Bạch Yến và Trần Quang Hải vẫn duy trì 60 suất diễn cho khán giả ngoại quốc, trên dưới 10 xuất cho các cộng đồng người Việt hải ngoại. 9 Bach Yen 3Bạch Yến khiêm tốn : “Giọng tôi không được mềm mại như những ca sĩ xuất thân từ nhạc cổ truyền một cách chính thống. Nhưng tôi biết thả hồn mình vào trong từng câu, từng lời khoan nhặt và dày công luyện tập để không vấp phải bất cứ một sai sót nào. Không chỉ người Việt tha hương thèm nghe làn điệu dân ca mà ngay cả người Tây cũng thích. Với họ đó là một sự lạ lẫm, mang tính khám phá”.

Năm 1983, vợ chồng Bạch Yến – Trần Quang Hải được nhận giải “Grand Prix Du Disque De L” Académie Charles Cros” (giải thưởng tối cao của Hàn Lâm Viện đĩa hát Charles Cros) do quyết định của một hội đồng giám khảo, bao gồm những nhà nghiên cứu âm nhạc hàng đầu thế giới tại Paris.

Tháng 10/2009, cánh chim phiêu lãng Bạch Yến trở về quê hương sau 44 năm sống đời viễn xứ. Tại phòng trà Văn Nghệ với ca khúc bất hủ “Đêm đông” và một số bài hát quen thuộc khác, chị được khán giả chào đón nồng nhiệt. Bạch Yến xúc động: 9 Bach Yen 7“Tôi rất hạnh phúc pha lẫn bất ngờ. Lúc đầu, tôi nghĩ khán giả đến với mình chắc là những người còn lại của thế hệ trước. Nào ngờ, hầu hết khán giả có mặt liên tục trong các đêm diễn toàn là người trẻ. Tôi quá cảm động và hạnh phúc khi thấy họ lắng nghe một cách say mê”.

Có người hỏi Bạch Yến : “Chị có còn về Việt Nam nữa hay không ?”. Bạch Yến trả lời : “Tất nhiên, bởi bố chồng tôi (Giáo sư Trần Văn Khê) đang ở Việt Nam. Hơn nữa mảnh đất này mới thật sự là quê nhà của tôi”.

Yên Huỳnh post (theo Đoàn Thạch Hãn)

Mời Nghe Elvis Phương phỏng vấn nữ ca sĩ Bạch Yến, và nghe Bạch Yến trình bày nhạc phẩm Đêm Đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương

http://youtu.be/wST6RE-Cms4

Cũng nhạc nhạc phẩm Đêm Đông với phần hòa tấu saxophone của Lê Tấn Quốc

http://youtu.be/GXB4Fjhi5M4

Logo bay gio ke

9 Pham Duy 1NS PHẠM DUY TRẢI LÒNG

SAU KHI DUY QUANG QUA ĐỜI

NHỮNG ĐIỀU XẢY RA TRƯỚC KHI DUY QUANG RA ĐỜI

– Người tình cuối của tôi (PD) trước khi tôi lấy Thái Hằng là cô Xuân Huơng, bởi vậy mới có bài bài hát : … khoan khoan hò ơi, thuyền về tới bến mê rồi… thật ra là : Xuân Huơng nàng ơi, thuyền về tới bến mê rồi…

Nàng Xuân Huơng không thể so bì với Thái Hằng được, tôi sẽ cho quý bạn đọc biết tôi phải tốn bao công sức mới làm xiêu lòng Thái Hằng, nhưng tôi phải cám ơn Xuân Huơng vì nhờ nàng mà tôi đã không hăm hở theo đuổi tán cô Thái Hằng như các anh Văn Cao v.v…

Nếu tôi cũng hùa theo các anh kia thì tôi cũng bị người đẹp cho ra rìa, vì tôi không thể so sánh với anh Văn Cao, huynh trưởng của tôi. Văn Cao cho tôi biết : sở dĩ Thái Hằng không chỊu lấy ai cả vì nàng đang ôm 1 mối tình với 1 người đã hy sinh vì dân tộc, anh ta đã bỊ quân Nhật bắn chết ngay khi anh dẫn đầu 1 nhóm chiến sĩ xung phong tấn công 1 đồn bót kem-pei-tai (dữ dằn như Guestapo của Hitler).

Tôi biết điều bí mật này, nên tôi sáng tác lời của vài bản nhạc Âu Tây Cổ, serenata v.v. trong đó tôi viết những câu như : “chiều nay hát cho xanh câu yêu đời, cho người thôi hết thuơng đau, cho tình yêu đên bên tôi” (ý’ tôi muốn Thái Hằng ngưng thuong đau vì su hy sinh của anh kia) Thái Hằng đã chỊu hát những ca khúc đó, và dần dần nàng cảm phục tôi, vì thời điểm đó tôi được người ta biết đến như 1 ca sĩ, chứ không phải 1 nhạc sĩ như thời nay.

Khi tình đã lên ngôi, tôi lại nhận được công tác đi cùng với 1 đoàn chiến sĩ vào miền Trung. Điều này càng làm cho mối tình của hai đứa tôi thêm lãng mạn vì yêu nhau rồi, mà phải sống trong mong nhớ xa nhau.

9 Pham Duy 5Thế là các bài nhạc sau đây được ra đời : Quê Nghèo với lời ca nguyên thủy : bao giờ anh lấy được đồn Tây hỡi anh, để cho cô con gái không buồn vì lính Tây (ngày nào các cô cũng bị lính Tây hãm hiếp)

Sau khi tôi về với Bảo Đại, thì bài nay được sửa là : bao giờ cho lúa về đầy sân hỡi ai, để cho cô con gái không buồn vì gió Đông.

Sau đó là bài : Bà Mẹ Gio Linh có câu : mẹ mưng con giết nhiều Tây ra công tưới vun cày cấy…. Đặc biệt bài : Về Miên Trung có 1 đoạn vui lắm : về đây với lúa với nàng, thay bao nỗi khổ tiếng đàn tôi mừng reo…

Vâng, đám cưới cỦa chúng tôi rất vui, nhưng chỉ có thể đãi mỗi vỊ khách 1 bát phở vì quán phở Thăng Long của ông bố vợ tôi hồi này vắng khách rồi. Phòng hoa trúc của chúng tôi chính là cái quán phở, và cái giường hạnh phúc chính là các cái ghế dài cho khách kê lại sát nhau rồi trải chiếu lên. Mà nào chúng tôi có được ở đó lâu. tôi được mời lên vùng Việt Bắc mà họp đại hội các văn nghệ sĩ nghe bác Tố Hữu tuyên bố đường lối chính trỊ phải theo, khi sáng tác văn thơ và nhạc.

9 Ban Thang Long 1Thái Hằng đòi đi theo, tôi phải chiều người vợ mới toanh này, nhưng đi bộ được 1/2 quãng đường từ Thanh Hóa đến Việt Bắc thì nàng bỊ tắt kinh, ghé trạm y tế thì được biết nàng có thai.

Tôi mừng lắm hẹn với nàng rằng : nếu nó là con trai thì sẽ đặt tên nó là thằng Quảng (ai dè cô thư ký ghi vào khai sinh lại thiếu dấu hỏi) thế là cái tên Phạm Duy Quang theo nó suớt đời.

Có lẽ các bài như Quê Nghèo , Bà Mẹ Gio Linh, Về Miền Trung được nhiều ông to nghe và yêu thích, nên tôi được HCM gọi vào văn phòng (chỉ là 1 cái nhà tranh vách đất) cho biết tôi đã được Đảng cho đi du học về nhạc tận Mát Kơ Va. Tôi không dám từ chối ngay, mà ra ngoài nói với Tố Hữu : nhà tôi đang ốm nghén con đầu lòng, tôi lo lắm, nên xin hoãn sau khi con tôi đầy tháng.

Khi về đến Thanh Hóa, thì Đảng không phân cho tôi 1 công tác nào nữa, do đó không có tiền lương… chúng tôi phải chia làm 2 nhóm :

– Nhà tôi (Thái Hằng), Thái Thanh, và bà mẹ vợ đi về Hanoi trước ngày 1 tháng 5

Duy Quang– Tôi, Phạm Đình Chương và ông bố vợ tôi đi vào ngày 1-5 là ngày người CS lăng xăng lo tổ chức mừng Lễ Lao Động thế giới

Tôi gặp lại vợ tại Hanoi (tại nhà 1 người họ hàng), nhưng CS dằn mặt tôi bằng cách cho một anh đang làm gián điệp nội thành đến gặp tôi và khen tôi biết điều, nên đã không tiết lộ bí mẬt quân sự nào cho Pháp. Duy Quang ra đời 1950, ai cũng mừng vì mẹ tròn con vuông.

Sau đó tôi đem tất cả gia đình vào Saigon vì trong Nam người ta chịu chơi hơn ngoài Bắc, lại có đài phát thanh Pháp Á cho các cô ca sĩ Thái Thanh, Thái Hằng trổ tài…(Đỗ Hưng viết theo trí nhớ của PD)

9 Pham Duy 4NS PHAM DUY

Theo một số tài liệu, thì sự nghiệp khởi đầu của nhạc sĩ Phạm Duy đi từ gánh hát Đức Huy qua vai trò của một ca sĩ hát “tăng-mo” tức hát chờ những ca sĩ chánh chưa đến kịp. Sau đó ông tham gia Kháng chiến chống Pháp một thời gian trước khi vào Nam hoạt động âm nhạc.

Sau năm 1975 Phạm Duy sang Hoa Kỳ sinh sống; và vào năm 2005, ông về lại quê hương định cư; và có một số ca khúc của ông đã được cho phép phổ biến rộng rãi.

Ông sinh ngày 5/10/1921, tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Có tên thật là Phạm Duy Cẩn, ông xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền văn học mới đầu thế kỷ 20. Anh ông là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ của chính quyền cũ tại Pháp.

Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học tiểu học tại trường Hàng Vôi. Đến năm 13 tuổi (1934) ông vào lớp nhất, trở thành một trong những học sinh ưu tú sau những năm được đánh giá không được xuất sắc. Từ năm này Phạm Duy đã đọc được thơ bằng tiếng Pháp.

9 Pham duy 2Năm 1936, vào học ở trường Thăng Long, thầy dạy có tướng Võ Nguyên Giáp, còn bạn cùng lớp có nhà thơ Quang Dũng. Năm 1940, nghe lời bè bạn Phạm Duy thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học vẽ ỡ thầy Tô Ngọc Vân, chung lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng… nhưng ông không có năng khiếu, vì vào thời kỳ này ông thích ca hát và sáng tác nhạc hơn là vẽ tranh. Vì thế vào năm 1942 ông đã có sáng tác phẩm đầu tay là nhạc phẩm “Cô hái mơ” từ bài thơ của Nguyễn Bính.

Năm 1944 đến bài hùng ca Gươm tráng sĩ, là bài hát đầu tiên ông viết cả lời lẫn nhạc.

Năm 1943 – 1945, Phạm Duy trở thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi rất nhiều miền trên đất nước, từ Bắc chí Nam, khiến ông mở mang tầm mắt. Vào thời kỳ hát rong, ông gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông… và nhất là nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành người bạn thân thiết. Ông cũng là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.

Trong thời kỳ kháng chiến (1945–1946) nhạc sĩ Phạm Duy có những nhạc phẩm hùng ca như các ca khúc Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca, Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu… Bên cạnh đó còn có nhạc phẩm tình ca lãng mạn, nhiều bài đã giúp ông trở nên nổi tiếng như Cây đàn bỏ quên, Khối tình Trương Chi, Tình kỹ nữ, Tiếng bước trên đường khuya…

9 Pham duy 3Năm 1947, Phạm Duy bắt đầu sáng tác nhạc âm hưởng dân ca với mong muốn xâm nhập sâu vào giới bình dân và các vùng nông thôn, từ đó ông cho ra đời nhiều bài hát được cho gọi là “Dân ca mới”, được đông đảo mọi người yêu thích, các bài Nhớ người thương binh, Dặn dò, Ru con, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Người lính bên tê, Tiếng hát sông Lô, Nương chiều… là những ca khúc điển hình. Qua nét nhạc dùng âm giai ngũ cung nhưng ông áp dụng nhịp điệu thuật chuyển làm cho giai điệu không nằm chết trong một ngũ cung nào đó như trong dân ca cổ, mà chạy dài trên nhiều hệ thống ngũ cung khác nhau. Và thường lời ca nằm trong thể thơ lục bát nhưng có nhiều biến thể, do tiết điệu âm nhạc phải được linh động cho phù hợp với sự thưởng thức của đa số người thưởng ngoạn.

Tuy nhiên sau đó có những bài hát tuy được mọi người yêu thích, nhưng do nói về sự bi ai, thống khổ mà nhạc sĩ Phạm Duy bắt đầu bị chỉ trích, vì thế ông xuôi xuống Nam để sáng tác. Năm 1952, bài Tình hoài hương ra đời, khởi xướng cho xu hướng sáng tác “Tình ca quê hương”, sau đó là các bài Tình ca. Tiếp đó ông lại trở về với thể loại dân ca mới như những bài Đố ai, Nụ tầm xuân, Ngày trở về, Người về, Tình nghèo… Năm 1954, ông chuyển từ nhạc tình ca quê hương sang tự tình dân tộc, gồm những sáng tác Bà mẹ quê, Em bé quê, Vợ chồng… trong đó Em bé quê với những câu đầu lấy trong sách giáo khoa Quốc Văn, được thiếu niên nhi đồng thuộc như bài đồng dao.

Năm 1945 xảy ra nạn đói, Phạm Duy bỏ đi lang thang nhiều nơi, sau đó theo kháng chiến. Trong thời Chiến tranh Đông Dương, ông trở thành cán bộ văn nghệ và là một trong những nhạc sĩ thành công lúc đó. Sau những năm đi kháng chiến ông trở về Hà Nội, năm 1949 lập gia đình với nữ ca sĩ Thái Hằng tức Phạm Thị Quang Thái, chị ruột của nhạc sĩ Phạm Đình Chương (tức ca sĩ Hoài Bắc) trong Ban hợp ca Thăng Long.

9 Ban Thang Long 3Sống với Thái Hằng, hiện giờ nhạc sĩ Phạm Duy đã có con cháu đầy đàn. Con ruột là những ca nhạc sĩ gồm Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo, Duy Cường. Duy Minh. Ngoài ra có thể kể đến những anh chị em ca nghệ sĩ trong gia đình bên ngoại có nữ ca sĩ Thái Thanh tức Phạm Thị Băng Thanh (em gái Thái Hằng), cháu gái là ca sĩ Ý Lan (con gái Thái Thanh với nam tài tử Lê Quỳnh); nhạc sĩ Phạm Đình Chương (em của Thái Hằng tức ca sĩ Hoài Bắc), nghệ sĩ Phạm Đình Sỹ, Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung (anh cùng cha khác mẹ với Thái Hằng); nữ kịch sĩ Kiều Hạnh (vợ Phạm Đình Sỹ), ca sĩ Mai Hương (trước đây có tên Phương Mai trong ban thiếu nhi Tuổi Xanh của Kiều Hạnh, con gái vợ chồng Phạm Đình Sỹ); con rể là ca sĩ Tuấn Ngọc chồng của Thái Thảo.

Năm 1951, Phạm Duy đưa gia đình vào Sài Gòn, và năm 1953, ông qua Pháp học về âm nhạc, tại đây quen với giáo sư Trần Văn Khê. Về lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong Ban hợp ca Thăng Long. Lúc này ông còn là một nhà nghiên cứu âm nhạc, từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn.

9 Khanh Ngoc 1TÍNH CÁCH LÃNG MẠN CỦA NGƯỜI NHẠC SĨ

Nhạc Phạm Duy được phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam từ giữa thập niên 1950, thời gian này ông còn có những hoạt động trong ngành điện ảnh, chính thế đã gây nên một vụ tai tiếng lớn khắp từ Nam ra Bắc khi ngoại tình với em dâu là ca sĩ Khánh Ngọc còn là tài tử điện ảnh, vợ nhạc sĩ Phạm Đình Chương, người gọi ông bằng anh rể.

Sau sự kiện này, ông lại dính vào một vụ tình cảm khác với Alice, con gái của một người tình cũ hồi năm 1944 tên Hélène. Tuy nhiên, ông khẳng định chuyện này chỉ là chuyện tình cảm trong sáng : “… tôi hãnh diện để nói rằng, nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để bước chân lên xe hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt ai cả, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi, không có ràng buộc, trói chặt nhau”.

Ông đã sáng tác khá nhiều nhạc phẩm nhân chuyện tình cảm này như Nụ Tầm Xuân, Thương Tình Ca, Chỉ Chừng Đó Thôi, Tìm Nhau, Cho Nhau…

Từ sau năm 1975, nhạc sĩ Phạm Duy và gia đình cư ngụ tại Quận Cam, California. Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký. Năm 1999, vợ ông là Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, lần đầu về thăm quê hương sau 25 năm lưu lạc, ông gặp gỡ nhiều bạn cũ ở Việt Nam. Tháng 5/2005, ông trở về Việt Nam mua nhà sống tại quận 11, cùng các con trai Duy Quang, Duy Cường.

Hoàng Nguyễn (tổng hợp)