2 NỮ CA SĨ THANH THÚY – THANH LAN

Logo Van nghe

Tr ca si 22 NỮ DANH CA

THANH THÚY – THANH LAN

– Trúc Giang MN

CA SĨ THANH THÚY :

a/- Vài nét tổng quát về ca sĩ Thanh Thúy : Tên đầy đủ là Nguyễn Thị Thanh Thúy, sanh ngày 2-12-1943 tại Huế, trong một gia đình 5 chị em. Năm 1964 Thanh Thúy kết hôn với tài tử Ôn Văn Tài, (Sau mang lon Đại tá Không Quân VNCH, trực thuộc binh chủng phòng không không quân).

10-thanh-thuy-1Thanh Thúy là một trong 10 ca sĩ có ảnh hưởng lớn trong nền tân nhạc Việt Nam trước năm 1975. Được mệnh danh là Nữ Hoàng trong thể điệu Bolero và Rumba -Bolero.

b/- Sinh hoạt ca hát của Thanh Thúy : Tên tuổi của Thanh Thúy gắn liền với những ca khúc mà nhạc sĩ Trúc Phương viết riêng cho chị hát. Đồng thời cũng gắn liền với những nhạc khúc tiền chiến, nổi bật nhất là bản nhạc bất hủ Giọt Mưa Thu của Đặng Thế Phong.

Thanh Thúy được các nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn và diễn viên điện ảnh nổi tiếng hết lòng ca ngợi bằng những mỹ từ như “Tiếng Hát Khói Sương”, “Tiếng Hát Liêu Trai”.

Năm 1961. Tài tử kiêm Đạo diễn Nguyễn Long thực hiện cuốn phim “Thúy Đã Đi Rồi” nói về Thanh Thúy. Ngoài cuốn phim nầy, tên tuổi Thanh Thúy còn xuất hiện trên sân khấu kịch và truyền hình. Năm 1962. Thanh Thúy được bầu chọn danh hiệu “Hoa Hậu Nghệ Sĩ”. Năm 1964. Bản nhạc Chuyến Tàu Hoàng Hôn đã khắc sâu tên tuổi và tài 10-thanh-thuy-2nghệ của chị trong lòng khách mộ điệu.

Năm 1973. Đoạt giải Kim Khánh của nhật báo Trắng Đen dành cho nữ ca sĩ ăn khách nhất.

c/- Thanh Thúy và những ca khúc u hoài của cuộc đời : Nhiều ca khúc nói lên nỗi niềm cay đắng, nghiệt ngã về tâm trạng thương cảm, ngang trái trong cuộc đời và cuộc tình, được dàn trải qua tiếng hát Thanh Thúy tạo dấu ấn sâu đậm trong lòng người thưởng ngoạn.

Từ nhạc phẩm tiền chiến như Giọt Mưa Thu, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương, Tan Tác của Tu Mi, Chuyển Bến của Đoàn Chuẩn, Biệt Ly của Dzoãn Mẫn, Nhắn Gió Chiều của Nguyễn Thiện Tơ, Tiếng Còi Trong Sương Đêm của Lê Trực, Tiếng Đàn Tôi và Thuyền Viễn Xứ của Phạm Duy…cho đến Ngăn Cách, Người Em Sầu Mộng của Y Vân, Lạnh Lùng của Đinh Việt Lang sang Kiếp Cầm Ca của Huỳnh Anh, Tiếng Ve Sầu của Lam Phương, đến Mộng Chiều của Khánh Băng, Nhạt Nắng của Xuân Lôi, Đường Nào Lên Thiên Thai cửa Hoàng Nguyên… vu-hoi-ng-savà nhiều ca khúc của Trúc Phương phù hợp với tiếng hát Thanh Thúy đã gắn liền giọng ca và dòng nhạc trong giới yêu nhạc.

d/- Tiếng hát Thanh Thúy qua ngòi bút của các văn, thi sĩ :  Nhà thơ  Nguyên Sa viết: “Thanh Thúy là nữ ca sĩ được ngợi ca nhiều nhất trong văn, trong thơ. Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Viên Linh, nhà văn Tuấn Huy cũng có những bài ca ngợi Thanh Thúy bởi vì Thanh Thúy chính là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, trong đó có những nhà văn, nhà thơ. Tiếng hát Thanh Thúy đã từng được  nhà văn Mai Thảo mệnh danh là “Tiếng hát lúc 0 giờ”,  giáo sư Nguyễn Văn Trung thì gọi chị là “Tiếng hát liêu trai”, nhạc sĩ Tuấn Huy gọi là “Tiếng sầu ru khuya”.

Nhiều nhạc sĩ, thi sĩ sáng tác ca khúc, bài thơ để dành riêng cho Thanh Thúy hát.  Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay “Ướt Mi” và “Thương một người”, Tôn Thất Lập sáng tác “Tiếng hát về khuya, Anh Bằng viết ca khúc “Tiếng ca u hoài” để chị hát.  Y Vân với “Thúy đã đi rồi” trong phim cùng tên. Và rất nhiều sáng tác của Trúc Phương đều lấy cảm hứng từ tình cảm của ông dành cho Thanh Thúy.

10-thanh-thuy-4

Nhà thơ Hoàng Trúc Ly đã viết tám câu thơ lục bát nổi tiếng bày tỏ lòng giao cảm với tiếng hát Thanh Thúy, tựa đề “Sầu ca sĩ”.

Nhà thơ, danh họa Vũ Hối, qua nét bút độc đáo như tranh vẽ dành tặng bốn câu thơ:

10-thanh-thuy-3Liêu trai tiếng hát khói sương

Nghẹn ngào nhung nhớ giòng Hương quê mình

Nghiên sầu từng nét lung linh

Giọng vàng xứ Huế ấm tình quê hương.

Nguyên Sa viết :

“Từ em tiếng hát lên trời

Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh.

Sợi buồn chẻ xuống lòng anh

Lắng nghe da thịt tan tành hư vô”

CA SĨ THANH LAN :

a/- Vài nét tổng quát về Thanh Lan : Trước năm 1975, trong lãnh vực sân khấu và điện ảnh Việt Nam nổi bật lên sáu mỹ nhân tài sắc: Kiều Chinh, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Thanh Nga, Mộng Tuyền và Thanh Lan. Trong đó Thanh Lan là một hiện tượng khá đặc biệt, một tài năng hiếm có và đa dạng, đã thành công trên ba lãnh vực: âm nhạc, kịch nghệ và điện ảnh.

Thanh Lan nổi tiếng với những bài hát tiếng Pháp và cũng là một trong những gương mặt tiêu biểu trong phong trào nhạc trẻ đầu tiên ở Sài Gòn.

10-thanh-lan-1b/-  Tiểu sử Thanh Lan : Thanh Lan tên thật là Phạm Thái Thanh Lan sinh ngày 1/3/1948 tại thành phố Vinh, Nghệ An. Cha là Phạm Đình Vịnh, mẹ tên Thái Chi Lan, em của đạo diễn Thái Thúc Nha, chủ hãng phim Alpha. Thanh Lan học chương trình Pháp, tên Tây là Cathérine. Tiểu học ở trường Saint Paul, trung học Marie Curie. Đậu tú tài toàn phần Pháp. Tốt nghiệp cử nhân Văn Khoa ban văn chương Anh. (1973)

c/- Quá trình học nhạc của Thanh Lan : Từ năm 9 tuổi, Thanh Lan học đàn piano suốt 3 năm với các Sơ ở Saint Paul rồi được bà Thẩm Oánh và nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi hướng dẫn. Đã ghi tên học các lớp dân ca Việt Nam và đàn tranh ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn. Tóm lại, Thanh Lan thông thạo tiếng Pháp, lưu loát tiếng Anh, trình độ văn hóa đại học và được đào tạo về âm nhạc một cách rất có bài bản.

d/- Sự nghiệp văn nghệ của Thanh Lan : Thanh Lan tham gia văn nghệ từ năm 9 tuổi. Bắt đầu sự nghiệp văn nghệ năm 12 tuổi trong Ban Việt Nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức, đơn ca đầu tiên trên đài phát thanh Sài Gòn với bản nhạc Vui Đời Nghệ Sĩ của Văn Phụng. Năm 18 tuổi tham gia ban kịch Vũ Đức Duy trên đài truyền hình. Năm 20 tuổi đóng phim.

e/- Sinh hoạt âm nhạc của Thanh Lan : Năm lớp 11 trung học Marie Curie, 10-thanh-lan-2Thanh Lan gia nhập ban nhạc sinh viên Hải Âu của nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Là ban nhạc trẻ đầu tiên có khuynh hướng Việt hóa nhạc trẻ Việt Nam. Nét đặc biệt của Thanh Lan là hát nhạc Pháp.

Thanh Lan là một hiện tượng trong giới ca nhạc Sài Gòn trước 1975. Báo chí săn đón. Hình ảnh Thanh Lan tràn ngập trên các bìa băng nhạc, bản nhạc, bày bán khắp nơi ở Sài Gòn. Thời gian đó, Sài Gòn có hai trung tâm nhạc lớn và có uy tín là Trung Tâm Tú Quỳnh của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương và trung tâm Shotguns của Ngọc Chánh.

Thanh Lan thường hát chung với Nhật Trường Trần Thiện Thanh, với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Vũ Thành An, Từ Công Phụng…

Năm 1967, Thanh Lan theo đoàn văn nghệ Nguồn Sống lưu diễn các nước từ Châu Á tới Châu Âu: Thái Lan, Lào, Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh Quốc và Đức.

10-thanh-lan-3Năm 1973, Thanh Lan cùng với Phạm Duy và Ngọc Chánh sang Nhật Bản tham dự Đại Hội Âm Nhạc Quốc Tế Yamaha Festival in Tokyo, với 100 quốc gia tham dự. Thanh Lan hát bản Tuổi Biết Buồn của Phạm Duy và Ngọc Chánh, được vào chung kết với hai ca sĩ nổi tiếng thế giới là Anne Marie David ca bản  “Tu te Reconnaîtras” (Nhạc Pháp) và với nam ca sĩ nổi tiếng Hy Lạp Demi Roussos với bản Rain and Tears Sau đó Thanh Lan ở lại Tokyo để thu hai bài Ai no hio Kesanaide và Tuổi Mộng Mơ của Phạm Duy.

g/- Về kịch nghệ : Trong chương trình học của trường Marie Curie, nữ sinh có môn học về kịch nghệ, cụ thể là phân tích và phê bình nhiều vở kịch của Molière, Corneille, Racine…Đó là căn bản về kịch nghệ của Thanh Lan. Hồi còn bé Thanh Lan thủ vai em bé trong Ban Kịch Kiều Hạnh trên đài phát thanh Sài Gòn. Rồi trong ban kịch Linh Sơn diễn chung với Vũ Huyến. Năm 1973 Thanh Lan tham gia ban kịch Vũ Đức Duy trong vở kịch Những Người Không Chịu Chết của Vũ Khắc Khoan. Năm 2009 khi ở Hoa Kỳ, Thanh Lan thủ một vai trong vở bi trường kịch “Âm Mưu và Tình Yêu” (Intrigue and Love) của Friedrich Schiller, và vở Ngôi Nhà Không Có Đàn Ông.

10-thanh-lan-4h/- Về điện ảnh : Từ năm 1970, Thanh Lan thủ vai chánh trong phim Tiếng Hát Học Trò của đạo diễn Thái Thúc Nha. Qua bộ phim nầy Thanh Lan được trao giải nữ diễn viên triển vọng nhất, là Giải Văn Học Nghệ Thuật của Tổng thống VNCH. Thanh Lan cũng thủ những vai diễn trong các bộ phim Lệ Đá, Gánh Hàng Hoa, Ván Bài Lật Ngữa…

Cuối năm 1974, Thanh Lan nhận giải Diễn Viên Đẹp Nhất Miền Nam, do đạo diễn Lê Dân trao trong buổi lễ ở khách sạn Continental. Như vậy tài sắc vẹn toàn. Tháng 3 năm 1975, Thanh Lan đóng vai chánh bên cạnh các diễn viên Nhật Yusuke Kawazu, Kenji Isomura và tài tử Đoàn Châu Mậu. Phim do hãng Amino in Tokyo thực hiện với tựa đề Number Ten Blues, về sau đổi tên lại là Goodbye Saigon. Thanh Lan đóng 8 bộ phim, trong đó có hai bộ phim truyền hình

danh-dan-7Tóm lại, Thanh lan là một nghệ sĩ tài sắc vẹn toàn có tầm vóc quốc tế, thành công trên ba lãnh vực, ca nhạc, kịch nghệ và điện ảnh. Đóng phim, đóng kịch, làm thơ và sáng tác nhạc.

Cuộc đời cũng lắm gian truân. Vượt biên bảy lần, lần cuối thành công và xin tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ ngày 28/12/1993. Có thể nói “Cuộc đời lắm nổi gian truân đúng với câu hồng nhan bạc phận” (theo Trúc Giang – Minnesota 6-2-2017)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Logo nhan vat 1

9-duong-ha-1ĐẾN THĂM NHÀ VĂN DƯƠNG HÀ

MỘT NGÀY ĐẦU THÁNG BA

Đã hơn một năm không gặp lại nhà văn Dương Hà (nay ông đã khoảng 84 tuổi), do ông sống với con gái sau khi bán ngôi nhà mặt tiền ở đường Cao thắng, sau dọn về khu An Phú Q2, và nay đã chuyển vế Quốc Lộ 13 gần cầu vượt Bình Phước thuộc quận Thủ Đức, tức chuyển nhà đã ba bốn bận.

Có lẽ vì thế ông mắc bệnh trầm cảm mà sinh đột quỵ, như bản tin đã post  trên trang HNC.Gr ngày 19/4/2015 như sau :

Nhà văn Dương Hà  thoát qua cơn hiẻm nghèo

Mới đây Cao Bồi Già có đưa tin chỉ trong 2 năm, nhà văn Dương Hà (tác giả tác phẩm nổi tiếng “Bên dòng sông Trẹm” của thập niên 70 thế kỷ trước) phải dời nhà 3 làn (việc di dời này nằm ngoài dự kiến của ông, do con gái tự biên tự diễn) từ một lần trên đường Lương Định Của Q2, nay vừa chuyển qua QL 13 phường Hiệp Bình Phước, Thủ Đức, lại dời thêm lần nữa, tức vô hẻm 700 sâu hơn.

Chuyện di dời nhà này khiến ông đâm trầm cảm, vì xa các thân hữu. Bởi vậy cách đây hơn 10 ngày (tức khoảng thượng tuần tháng 4/2015) ông bị huyết áp tăng đến hôn mê. Con gái ông phải đưa vào BV Nhân Dân Gia Định cấp cứu,9-duong-ha-4 và hôm 14/4/2015 lại chuyển sang BV Phực hồi chức năng, trên đường Âu Dương Lân, Q8, để trị xương khớp (vì sau cơn tai biến, ông không thể ngồi dậy được).

Đến thăm Dương Hà vào ngày đầu tháng 3/2017

Theo nhà thơ nhà báo Thiên Hà đề nghị, sáng 1/3/2017 Cao Bồi Gìà cùng Thiên Hà đến thăm nhà văn Dương Hà, ông vẫn ở sâu trong con hẻm 700 trên đường Quốc Lộ 13 gần cầu vượt Bình Phước từ hơn 3 năm qua. Và sau cơn đột quỵ năm 2015, nay ông vẫn nói không ra tiếng, và thân thể ông vẫn ốm trơ xương đồng thời phải ngồi xe lăn mỗi khi di chuyển.

Để có thể chuyện trò, Thiên Hà và Cao Bồi Già đề nghị Tuyết Nga (con gái ông Dương Hà, người đang chăm sóc ông tại nhà) xin đưa ông ra quán cà phê bên hẻm 718 để dễ chuyện trò hơn. Và xin trích tâm tư của nhà văn Dương Hà qua bài thơ của Thiên Hà sau đây :

9-duong-ha-8MỘT NGÀY THÁNG BA

Hôm nay ngày 1 tháng Ba

Đi thăm nhà văn Dương Hà

Tác giả Bên Dòng Sông Trẹm

Một thời, đã tuổi tám ba (83)

Mơ sẽ về thăm Thới Bình

9-duong-ha-5Nhớ thương miền quê sông Trẹm

Dương Hà mắt sáng tinh anh

Cà Mau xa như dĩ vãng

Tôi bảo anh đi được chăng

Anh cười vẫn đi được chớ

Cho dù phải ngồi xe lăn

Vượt hơn ba trăm cây số

9-duong-ha-5bAnh hồn nhiên đến thơ ngây

Trọng lượng nhẹ ba hai ký

Không ăn chỉ uống nửa ly

Làm sao qua được trăng này?

Vẫn nụ cười tươi như trẻ thơ

Yêu đời định viết tiếp tập ba

Bên Dòng Sông Trẹm cho nhân thế

Mai kia còn chút để gọi là….

Ngày đầu tháng Ba gặp Dương Hà !

Thiên Hà 1/3/2017

Nhà văn Dương Hà tìm tác phẩm cũ

Nhà văn lão thành Dương Hà như đã hoàn thành tâm nguyện. Ở tuổi trên “bát tuần” thượng thọ, nhưng ông vẫn mang nặng nghiệp văn. Trước đây 5 năm, nhà văn Dương Hà cho tái bản lại một số tác phẩm cũ từng ăn khách trước những năm 1975, và sau 1975 còn được dựng thành phim và tuồng cải lương lẫn thoại kịch.

9-duong-ha-2Trong đợt tái bản đầu tiên, nhà văn Dương Hà cho ra mắt bộ tiểu thuyết “Bên Dòng Sông Trẹm” gồm 2 cuốn 1 và 2, đưa câu chuyện vào cuộc sống ở miền quê còn chịu nhiều ảnh hưởng phong kiến, nên trong cuộc sống ấy bị xáo trộn qua những mối tình không cân xứng giữa giàu và nghèo, giữa địa chủ và nông dân, cuối cùng là một đoạn kết đầy bi thương. Mỗi cuốn dày trên dưới 200 trang in trên giấy ford trắng rất đẹp mắt.

Như nhà văn Hoàng Hải Thủy từng viết về nhà văn Dương Hà : Tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn năm 1951. Năm ấy 18 tuổi, tôi đến học ở trường Tư Thục Tân Thanh. Trường mới mở, Hiệu Trưởng là Kỹ sư Phan Út, giáo sư chính là hai thầy Phan Thụy, Phan Ngô. Trường sở là một nhà tư nằm trong một góc khuất trên đường Lacoste, sau năm 1956 đường Lacoste là đường Pham Hồng Thái, Sài Gòn. Tại đây tôi gặp Dương Hà, một trong những người viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông nổi tiếng của làng báo Sài Gòn. Dương Hà tên thật là Dương Văn Chánh, người miền Nam, anh hơn tôi chừng hai, ba tuổi. Năm ấy Dương Hà và tôi học chung một lớp ở trường Tân Thanh. Hai chúng tôi không thân nhau lắm nhưng chúng tôi cũng biết nhau có mộng viết tiểu thuyết.

9-duong-ha-6“Chưa hết năm 1951 Dương Hà và tôi đã bỏ học. Năm 1952 Dương Hà nổi tiếng với tiểu thuyết phơi-ơ-tông “Bên Dòng Sông Trẹm”, truyện đăng trên nhật báo Sàigònmới, truyện đầu tay mà “ăn khách”, tức có nhiều người đọc, nên truyện được xuất bản thành sách ngay sau khi đăng hết trên báo.

“… Độc giả tiểu thuyết phơi-ơ-tông những năm xưa ở Sài Gòn đa phần là phụ nữ. Những thập niên 50, 60, trong xã hội miền Nam một người đi làm, thường là người đàn ông chủ gia đình, kiếm được tiền đủ nuôi vợ con. Người vợ trong những gia đình thường không phải đi làm. Ngoài việc mỗi ngày đi chợ, thường là ra khỏi nhà vài bước là có chợ đầu xóm bán đủ thức ăn, ngoài việc nấu ăn, trông con, những phụ nữ ấy có nhiều thì giờ nhàn rỗi, họ đọc tiểu thuyết đăng từng ngày trong các nhật báo.

“Họ là lớp độc giả chính, trung thành của tiểu thuyết phơi-ơ-tông, và họ rất chịu bỏ tiền mua báo. Báo nào có tiểu thuyết được họ đọc là báo bán chạy. Và họ thích đọc những truyện tình ái mùi mẫn, éo le trong đó nhân vật chính là những thiếu nữ xinh đẹp, hiền hậu, con nhà nghèo – nghèo mà vẫn giữ được trong sạch – bị rơi vào những cảnh ngộ oan trái nhưng sau cùng vượt thắng được nghịch cảnh, gặp tình yêu. Hoặc nhân vật chính là một thiếu nữ con nhà giàu sang yêu một chàng trai nghèo nhưng lương thiện. Họ thích những mối tình trong đó hai người yêu nhau bị chia cách bởi giầu nghèo, sang trọng và bình dân, điều quan trọng nhất là sau cùng tình yêu phải thắng, 9-duong-ha-7đôi tình nhân sau trăm cay, nghìn đắng, sẽ thành vợ, thành chồng, sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi….”

“Bên Dòng Sông Trẹm” là tác phẩm tiểu thuyết đầu tay và là tác phẩm xuất sắc nhất của Dương Hà. Năm 1990 “Bên Dòng Sông Trẹm” được tái bản ở Sài Gòn, năm 1995 “Bên Dòng Sông Trẹm” được làm thành phim.

“Từ năm 1952 Dương Hà chuyên viết tiểu thuyết để sống, anh không làm phóng viên, tức anh không làm ký giả nhà báo, không làm việc ở tòa soạn, anh chỉ viết tiểu thuyết đăng báo, anh viết tiểu thuyết cho nhật báo Sàigònmới từ năm 1952 dài dài cho đến đầu năm 1964 nhật báo Sàigònmới bị đóng cửa….

“Những năm của thập kỷ 50 – 60 thế kỷ trước; làng báo Sài Gòn có mấy cây viết phơi-ơ-tông về “tâm lý tình cảm xã hội” nổi tiếng như Dương Hà, Trọng Nguyên, bà Tùng Long sau có thêm bà Lan Phương. Như Dương Hà, bà Tùng Long là cây viết tiểu thuyết trụ cột của nhật báo Sàigònmới, bà viết truyện cho báo Sàigònmới từ năm 1950 cho đến ngày Sàigònmới bị đình bản năm 1964. Bà Lan Phương cũng viết nhiều, cũng có nhiều tác phẩm xuất bản thành sách, nội dung những tiểu thuyết của bà 9-duong-ha-3Lan Phương giống như nội dung những tiểu thuyết của Dương Hà, Trọng Nguyên hay bà Tùng Long như đã nói trên.

Nhà văn lão thành Dương Hà rất hồ hỡi với cuốn tiểu thuyết “Bên dòng sông Trẹm” vừa tái bản (sách dày 440 trang chia làm 2 tập : phần một và phần hai) do nhà văn nhà báo Nguyễn Việt liên kết xuất bản với NXB Thanh Niên.

Có nhiều nhà văn cùng thời với Dương Hà cũng theo trường phái viết “tiểu thuyết tình cảm tâm lý xã hội” như Trọng Nguyên, bà Tùng Long, bà Lan Phương… nhưng chưa ai có tác phẩm dựng thành phim hay tuồng cải lương như các tác phẩm của nhà văn Dương Hà. Riêng bộ “Bên dòng sông Trẹm” nổi tiếng từ trong nước ra đến hải ngoại, qua cuốn phim phát hành năm 1993 và mới đây đài truyền hình HTV của Sài Gòn đã dựng thành tuồng cải lương (trước 1975 cũng đã được nhiều soạn giả phóng tác đưa lên sân khấu cải lương lẫn thoại kịch).

Trong tinh thần hồ hỡi, nhà văn Dương Hà xin nhắn đến các đọc giả, các nhà cho thuê sách từ trong nước ra đến nước ngoài bản tin :

– Ai còn giữ tác phẩm tiểu thuyết mang tên Dương Hà, xin báo tin, một xin tặng lại tác giả, hai thỏa thuận giá bán lại. Nhất là hai tác phẩm sau đây :

sg-cao-boi-1– Truyện ngắn “Bên song cửa”

– Tiểu thuyết “Anh ơi ! Đừng yêu em”

Mong rằng các đọc giả nhận tin này giúp đỡ nhà văn Dương Hà hết mình, vì sau 1975, các tác phẩm xuất bản trước 1975 của ông đều bị thất lạc. Xin liên lạc qua email : nguyenviet168@yahoo.com.vn hoặc Nguyễn Việt người đại diện nhà văn Dương Hà qua số Điện thoại 0903.639.821.  

Cao Bồi Già tổng hơp

MÓN NGON SÀIGÒN XƯA

Logo am thuc

Ng Ngoc ChinhNHỚ LẠI MÓN NGON

SÀIGÒN NGÀY TRƯỚC

– Nguyễn Ngọc Chinh

Bây giờ ở VN ăn gì cũng chết, và chết từ từ, nhất là trái cây và hải sản. Không còn các món ngon của Saigon xưa. Mời đọc lại lần nữa bài viết của Nguyễn Ngọc Chính

Tôi rất tâm đắc với ý kiến này. Hồi còn trong trại tù cải tạo, cái bụng lép kẹp lúc nào cũng sôi ùng ục, tôi và vài người bạn tù có “tâm hồn ăn uống” vẫn thường kể cho nhau nghe những món khoái khẩu của mình. Ăn “hàm thụ” sao mà ngon thế. Phải nói ngon gấp nghìn lần ăn… thực thụ ! Có nhà văn nào đó cho rằng khi viết về ẩm thực bụng phải đói mới “lột tả” hết cái ngon của món ăn.An uong 1

Thời cải tạo qua đi nhưng thời điêu linh lại kéo tới. Vào thời đó, cái để đút vào mồm chỉ toàn khoai mì chạy chỉ với bo bo, còn được mệnh danh là… cao lương. Ngồi nhấm nháp cao lương mà cứ tức anh ách. Ai đó đã khéo chơi chữ mà đặt tên, mỉa mai không khác gì cái món “mầm đá” của ông vua ngày xưa !

Nhưng rồi cũng qua đi cái thời ăn để mà sống, người ta bỗng nhớ đến thời… sống để mà ăn ở Sài Gòn hoa lệ ngày nào.

PhoChuyện hàng Phở

Theo tôi, một trong những món ngon đó phải kể đến phở. Mặc dù phở có xuất xứ từ miền Bắc nhưng phở Sài Gòn thường ăn kèm với giá, ngò gai, húng quế vẫn ngon hơn phở Hà Nội thiếu hẳn các loại rau thơm mà lại không có giá. Vào đến Sài Gòn ngày xưa có con đường tên Turc (Thổ Nhĩ Kỳ), một đầu là đường Tự Do (Catinat), đầu kia là đường Hai Bà Trưng (Paul Blanchy). Tiệm Phở Bắc được bán trong khuôn viên nhà thờ Hồi Giáo này, nên có tên là Phở Turc.

Sài Gòn 1954, lúc người Bắc mới vào Nam, những tiệm Phở Bắc hãy còn đếm được trên đầu ngón tay. Ðó là mấy tiệm Phở Thịnh đường Gia Long, Phở Turc đường Turc, Phở Minh đường Pasteur và Phở 79 ở đường Frère Louis (sau này đổi tên thành đường Võ Tánh và đến 1975 lại đổi thành Nguyễn Trãi thuộc quận 1).

Ngay bên hông rạp Casino có một hẻm nhỏ, đi vào hẻm đó là một dẫy nhà, đa số là nhà dân Bắc Kỳ di cư sớm, từ những năm 1920. Tiệm Phở Minh nằm ở dãy nhà đó.

Phở Minh có cả phở bò lẫn phở gà nhưng đặc biệt hơn cả còn có bài thơ do thi sĩ Trần Rắc đề tặng. Bài thơ được cắt chữ, đóng khung kính, treo trên tường. Bài thơ Ðường Luật có 4 câu đầu như sau :

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành,

Trần Minh Phở Bắc đã lừng danh

Chủ đề : tái, chín, nạm, gầu, sụn,

Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh.

Thi sĩ Trần Rắc chính là ông chủ tiệm giày Trần Rắc đường Lê Thánh Tôn, gần Khám Lớn Catinat năm xưa. 9 Hang pho 1Tiệm giầy Trần Rắc, và cả mấy tiệm giầy ở đường này, đều có cửa sau đi vào hẻm “ẩm thực” Casino. Việt Nam ta đúng là… ra ngõ gặp nhà thơ. Ðến như ông chủ tiệm giày cũng có thể làm thơ về phở chứ chưa dám nói đến Tản Ðà là người viết nhiều về nghệ thuật ăn uống!

Trên đường Mạc Ðĩnh Chi (Massiges), gần bên hông Tòa Ðại Sứ Mỹ, còn có phở Cao Vân, dù tiệm phở này không nằm trên đường Trần Cao Vân (Larclause) cách đó không xa. Theo tôi, phở Cao Vân (25 Mạc Ðĩnh Chi) chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung” nhưng được nhắc tới cùng với phở Minh vì Cao Vân cũng có một bài thơ ca tụng phở của thi sĩ Tú Mỡ được viết bằng sơn ngay trên tường.

Trong các món ăn Quân Tử Vị

Phở là quà đáng quý trên đời

Chủ của phở Cao Vân ngày nay là một ông cụ Bắc Kỳ hom hem theo năm tháng. Ông không còn đứng ra nấu phở nhưng chiều chiều thường ngồi nhậu lai rai với các “chiến hữu” để hưởng nhàn!

… Trên đường Pasteur có Phở Hòa, khá nổi tiếng. Ban đầu, lúc khai trương năm 1960, tiệm phở này mang tên Hòa Lộc. Có lẽ sau này khách ăn cứ gọi tắt là Hòa nên Hòa Lộc biến thành Hòa theo kiểu gọi tên một chữ cho dễ nhớ thường thấy ở các tiệm phở (?). Phở Hòa chỉ chuyên loại phở bò, nếu vào đây mà tìm tô phở gà thì không có. Khách phải chịu khó ra đường Hiền Vương (bây giờ đổi tên là Võ Thị Sáu), đến tiệm 9 Hang pho 2Hương Bình, “chuyên trị” phở gà.

Nói đến phở Sài Gòn tại khu vực trung tâm, phải nói đến tiệm Phở 79, ngay tại số nhà 79 trên đường Võ Tánh. Khoảng năm 1952, tiệm Phở 79 mở cửa, khi đó nền nhà của tiệm còn thấp hơn mặt đường. Chỉ vài năm sau tiệm phát đạt, chủ nhân mua hai nhà bên cạnh, mở lớn thành tiệm Phở 79 khang trang và có thể nói là một trong những tiệm phở sạch nhất Sài Gòn thời đó.

Trường Sinh ngữ Quân đội có chi nhánh ở đường Nguyễn Văn Tráng rất gần với Phở 79 tại khu vực Ngã Sáu Sài Gòn. Ðám giảng viên chúng tôi thường xuyên ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối mỗi khi “ứng chiến” tại trường. Phở tại đây được đánh giá là… “ăn được.” Nếu ai “ăn không được” thì chịu khó đi thêm vài bước ra Ngã Sáu, nơi đây có đủ các món ăn chơi thuộc loại bình dân, từ phở, hủ tíu cho đến mì và có cả xe… bánh mì mua về trường nằm gặm trong những đêm ứng chiến!

Gần ngã tư Phú Nhuận có phở Quyền trên đường Võ Tánh (thuộc quận Phú Nhuận), cách cổng phụ của Tổng Tham Mưu chừng 100 mét. Tôi thường ghé ăn nơi đây mỗi khi về trụ sở chính của trường sinh ngữ trong Tổng Tham Mưu. Nước phở ở đây rất đậm đà, vị ngọt là của xương ống chứ không phải vì bột ngọt. Phở Quyền còn có cả món “tái sách tương gừng” được xếp vào loại… trứ danh.

Con cháu của một số gánh phở nổi tiếng Hà Nội đã vào Nam lập nghiệp năm 1954, trong cơ hội lịch sử này có phở Tàu Bay. Vốn là quán phở do ông nội mở vào 1950 ở Hà Nội, khi di cư vào Nam, ông chủ quán được người bạn thân tặng cho chiếc mũ bay.9 Hang pho 3 Ông thường xuyên đội nó, khách thấy lạ, gọi ông “Tàu Bay” rồi chết tên thành tên quán.

Phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ ngày nay vẫn bán và khách quen ngày nào vẫn chịu khó mò đến đây để tìm lại hương vị đặc thù. Phải nói Phở Tàu Bay rất… hiếu khách. Gọi thêm nước béo, nhà phở đem ra cả tô chứ không bằng chén nhỏ như những tiệm khác. Tô đặc biệt của Tàu Bay lại là tô “Xe Lửa,” bánh và thịt trên mức hậu 10 Xe hu tiuhĩnh.

Chuyện hủ tíu

… Kể từ khi người Bắc di cư vào Nam, tiệm phở đánh bạt các tiệm hủ tíu, vốn là món “đặc sản” của miền Nam. Các tiệm hủ tíu nổi tiếng Sài Gòn phải kể đến hủ tíu Thanh Xuân đường Tôn Thất Thiệp (gần chùa Chà Và), hủ tíu Phạm Thị

Trước ở đường Lê Lợi (khúc gần Pasteur), hủ tíu Gà Cá ở đường Hàm Nghi gần khu Ngân hàng Quốc gia và hủ tíu Thanh Thế trên đường Nguyễn Trung Trực…

Có người đến hủ tíu Phạm Thị Trước gọi thêm bánh pâté chaud ăn kèm, cũng giống như hủ tíu Gà Cá. Tuy nhiên, mỗi tiệm hủ tíu đều có hương vị riêng khiến một khi khách đã “kết” thì khó đi ăn nơi khác. Hủ tíu Sài Gòn sáng nào cũng đông người đến thưởng thức, không cần đợi đến những ngày cuối tuần.

9 Tiem hu tiu 1Thường thì hủ tíu có bánh mềm, chỉ riêng hủ tíu Thanh Xuân hay Mỹ Tho thì thêm bánh dai, nấu khô hay nước, tùy theo ý thích của khách. Chỉ nhìn dĩa rau dọn lên trước thì cũng thấy bắt mắt: giá, hẹ, rau cần tàu, tần ô và vài cọng xà lách. Thêm vào đó, mùi nước lèo xông lên như đập vào khứu giác thực khách làm cho bụng cứ gào thét…

Người bồi bàn bưng mâm ra để tô hủ tíu trên bàn, mùi nước lèo xông lên mũi, nếm thử “nghe” được mùi thơm của nước lèo, thêm chút gia vị vào và cầm đũa ngay. Hủ tíu Thanh Xuân thì phải có rau tần ô, rau cần tàu, giá sống. Hủ tíu Phạm Thị Trước hay Thanh Thế cũng thế, nhưng không có rau tần ô. 9 Tiem hu tiu 2Riêng hủ tíu Gà Cá thì chỉ có giá sống.

Tuy nhiên, các thứ hủ tíu nếu thiếu vài miếng tóp mỡ và cải bắc thảo thì hình như thiếu mất cái gì đó. Nước lèo vừa ngọt của xương, vừa béo của chất tủy từ ống xương, thoang thoảng chút mùi của con mực, tôm khô, hào khô và củ cải. Những thứ ấy quyện vào nhau thành một thứ nước lèo hấp dẫn. Hủ tíu bình dân thì có những xe hủ tíu bán dạo. Từ mờ sáng cho đến khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng rao… lòng thấy nao nao!

Chuyện bánh mì

Ðối với tôi, một món cũng thuộc loại “khoái khẩu” ở Sài Gòn là… bánh mì thịt nguội, trong đó có cả jambon, xúc xích, patê ăn kèm với sốt mayonaise và đồ chua! Bánh mì thịt nguội ăn sẽ ngon hơn nếu bạn có thì giờ ngồi nhẩn nha tại tiệm: các loại thịt bày trên đĩa trắng tinh kèm thêm một cục sốt bên cạnh dao, nĩa sạch bóng. 9 Quan banh mi 1Bẻ một miếng bánh mì còn nóng, trét sốt lên trên rồi một lớp patê, sau đó cắt một miếng jambon… đưa vào miệng. Tuyệt cú mèo !

Một trong những tiệm bán bánh mì thịt nguội có tiếng ở Sài Gòn từ năm1954 và còn tồn tại đến ngày nay là Hòa Mã. Tiệm Hòa Mã nằm trên đường Cao Thắng, gần khu vực Bàn Cờ, nơi có những địa điểm nổi tiếng như Kỳ Viên Tự, Tam Tông Miếu, Trường Aurore, Cư Xá Ðô Thành, Nhà Bảo Sanh Ðức Chính…

Ngày nay, Hòa Mã không khác xưa là mấy. Hòa Mã cũ kỹ, bảng hiệu phai màu theo năm tháng vì đã tồn tại hơn 50 năm kể từ ngày mở cửa. Nhiều người nói chủ nhân Hòa Mã là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn… Tiệm Hòa Mã gọi ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, dùng theo tiếng Pháp cassecroute, bữa ăn lót dạ, bữa ăn nhẹ. Những năm 60, giá bán một ổ bánh mì Hòa Mã là 3 đến 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 đến 10 đồng.

…Xe bánh mì Tám Lự gần chợ Bàn Cờ chỉ bán từ sẩm tối đến đêm khuya. Một ổ bánh mì Tám Lự dài cỡ 4 tấc, 9 Quan banh mi 2hai gang tay, tối ăn vào no đến sáng. Bánh mì ngon, ngoài pâté chả lụa, pâté foie, bơ Bretel còn thêm dưa leo, ngò, hành lá, nước tương, muối tiêu, ớt xắt. Ngày xưa khách chỉ cần nói: “Cho một tàu lặn hay một tiềm thủy đĩnh đi, anh Tám!” là khách sẽ có ngay một ổ bánh mì nóng giòn, thơm phức.

Nếu muốn sang hơn thì lên bánh mì Pâté Tòa Ðô chính trên đường Nguyễn Huệ hoặc tiệm bánh Hương Lan trước Bưu Điện Sàigòn hay ngồi Thanh Bạch đường Lê Lợi (gần bệnh viện Sài Gòn). Chỉ cần gọi đĩa bánh mì thịt nguội kèm theo một ly cà phê sữa đá là đủ no cho đến trưa. Thanh Bạch vẫn là nơi lý tưởng để vừa ăn sáng vừa ngắm cảnh người Sài Gòn sửa soạn cho một ngày mới.

Những món ăn khác

… Sài Gòn xưa có hai tiệm Thanh Bạch, một ở đường Lê Lợi, bên rạp xi-nê Vĩnh Lợi. Tiệm Thanh Bạch thứ hai ở đường Phạm Ngũ Lão, trong dẫy phố trệt dưới tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới năm xưa. Ngoài bánh mì ốp-la, ôm-lết, thịt nguội, Thanh Bạch có bánh mì bò kho, hủ tíu và đặc biệt là món suông. Bún suông dùng xương heo để nấu nước lèo, và đặc biệt ở đây là dùng tôm tươi lột vỏ, bỏ đầu, bằm nhuyễn sau đó vo lại thành sợi dài (như sợi bún). 9 Mon an 1Nước lèo ở đây rất trong, ăn kèm với rau sống…

Nhà hàng Tài Nam trên đường Ohier (Tôn Thất Thiệp) nổi tiếng với món đuông chà là chiên bơ rất ngon nhưng cũng rất mắc tiền. Theo nhà văn Sơn Nam, vua chúa cũng còn thèm “con đuông chà là,” tên chữ là “hồ đa tử.” Hồ đa là cây dừa rừng, tức cây chà là hoang thường mọc miền nước mặn Nam bộ, giống như cây cau kiểng. Cây dừa rừng có “củ hũ,” tức đọt non, đến mùa sau Tết thường xuất hiện con đuông, giống như con nhộng. Ðuông ăn đọt dừa non nên to, mập và thường được bắt trước khi nở thành bướm.

Sơn Nam viết: “Ðem đuông nướng trên vỉ sắt, cho héo, rồi ăn, chấm với nước mắm nhĩ nguyên chất. Con đuông béo ngậy vì tăng trưởng, ăn ròng củ hũ cây chà là.”

… Vùng Thanh Ða (Bình Thạnh) nổi tiếng khắp Sài Gòn với món cháo vịt, gỏi vịt. Vào buổi tối người Sài Gòn hay ra bán đảo Thanh Ða trước là để đón những luồng gió mát từ sông Sài Gòn thổi vào và khi về, ghé mấy quán cháo vịt, gọi thêm đĩa gỏi vịt ăn kèm. Nếu là “bợm nhậu” thì gọi thêm chai bia Con cọp BGI để… đưa cay. Nếu ngại ra Thanh Ða thì trên đường Hồng Thập Tự cũng có khu bán cháo vịt thuộc loại… “ăn được.” Thịt vịt tại đây khá mềm, nhai kỹ thấy ngọt và đặc biệt không thấy mùi hôi vốn có 9 Mon an 2của thịt vịt. Có thể họ tuyển loại vịt chạy đồng nên không hôi (?).

Ðinh Công Tráng là một con đường nhỏ gần nhà thờ Tân Ðịnh nhưng cũng đi vào lịch sử ăn uống của Sài Gòn với món bánh xèo. Bí quyết của bánh xèo nằm ở kỹ thuật pha bột, sao cho khi chiên lên, bánh giòn tan khiến người ăn có thể cảm được cái thú nghe miếng bánh đang được nhai dưới hai hàm răng. Lớp bột gạo pha chút nghệ khi đổ vào chảo dầu tạo nên một tiếng “xèo” khiến ta hiểu được tại sao lại gọi là… bánh xèo!

Ngày nay, đường Ðinh Công Tráng trở thành “đường bánh xèo” nhưng người sành ăn thì chọn quán bên tay trái, nếu đi từ đường Hai Bà Trưng vào. Quán không tên nhưng người ăn vẫn nhớ vì nó đã đi vào “bộ nhớ” của người Sài Gòn từ bao năm nay. Những quán đối diện bên kia đường trông có vẻ lịch sự hơn, sạch sẽ hơn nhưng vẫn chịu cảnh vắng khách vì là kẻ… hậu sinh.

Khu Ða Kao có tiệm bánh cuốn Tây Hồ (127 Ðinh Tiên Hoàng), gần chợ Ða Kao, quận 1, nổi tiếng. Tại đây, mỗi bàn có để sẵn một thẩu nước mắm và một chồng chén nhỏ để khách tùy nghi sử dụng, thêm nhiều hay ít ớt bằm theo sở thích riêng của từng người. Tuy nhiên, có khách lại thích chan luôn nước mắm vào đĩa để bánh cuốn thấm nước mắm, đậm đà hơn.

Chả quế và giò lụa được cắt thành miếng lớn, để riêng trong một đĩa nhỏ. Khách có thể chỉ ăn bánh cuốn nhân thịt mà không đụng tới đĩa giò chả, 9 Mon an 3như vậy người phục vụ nhìn vào đĩa chả còn nguyên mà không tính tiền. Nếu cần, có thể gọi thêm đĩa bánh tôm hoặc bánh cuốn không nhân.

Sài Gòn cũng có bánh cuốn Thanh Trì kiểu Bắc, mỏng như tờ giấy, ăn với “ruốc” (chà bông) và nước mắm phải kèm với vài giọt cà cuống mới là “sành điệu”! Còn bánh ướt là kiểu bánh cuốn bình dân ở Sài Gòn, cũng ăn kèm với bánh tôm chiên, giò, chả và rau, giá. Những xe bánh ướt được đẩy đi khắp Sài Gòn, có cả nồi hấp nên lúc nào bánh cũng nóng và người bán bao giờ cũng chan nước mắm vào đĩa thay vì chấm kiểu “thanh cảnh” như bánh cuốn Thanh Trì.

Lại nói thêm, đường Albert (vào thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đổi tên thành Ðinh Tiên Hoàng) khá dài nên dọc theo con đường này có nhiều địa chỉ ẩm thực nổi tiếng. Tiệm ăn Chez Albert (lấy tên theo con đường), Cà phê Hân, Mì Cây Nhãn (tên đặt theo cây nhãn hồi đó còn trồng trước sân), Thạch chè Hiển Khánh (nơi sưu tầm rất nhiều thơ ca tụng thạch chè)… Tôi chắc chắn còn bỏ quên khá nhiều điểm ăn uống khác nữa trên con đường này.

9 Mon an 4

Ở góc đường Tôn Thất Ðạm và Hàm Nghi, trước kia vào thập niên 30 có một quán cháo cá nổi tiếng một thời. Buổi chiều cho đến gần khuya, khách đến ăn rất đông, nhất là khi cải lương, hát bội, hát bóng vãn hát. Theo Vương Hồng Sển trong Sài Gòn Tạp Pín Lù, quán cháo cá này của người Tàu, gốc Quảng Ðông, “cha truyền con nối suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi…” Cháo tại đây nấu bằng gạo tấm hầm với cá, xương heo và thịt tôm hùm để thành một thứ hồ sền sệt khiến “người đau mới mạnh dùng không sợ trúng thực, người mệt mỏi ăn vào cảm thấy nhẹ bụng, mau tiêu. Tô cháo cá Chợ Cũ quả là một ‘tô thuốc tráng thần’…”

Cháo nóng hổi bốc hơi nghi ngút. Vừa thổi vừa húp xì xụp mới thấy được cái thú vị của món cháo cá Chợ Cũ. Thịt cá giòn, thơm, lẫn lộn hương vị của hành, tiêu, gừng và có thể ăn với “dầu chá quẩy.” 9 Mon an 6Thú thật, tôi là người thích thịt hơn cá nhưng thỉnh thoảng được thưởng thức món cháo cá vẫn thấy ngon đến toát mồ hôi!

Có một tiệm cháo giò heo khá nổi tiếng trong ngõ đường Phan Ðình Phùng (ngày nay là Nguyễn Ðình Chiểu). Tiệm không có tên, chuyên bán cháo từ 6 giờ tối tới một, hai giờ sáng. Khách của tiệm này đa số là khách chơi đêm, khách đi nhảy, khuya về đói bụng đến ăn tô cháo nóng.

Tôi lại nhớ đến món phá lấu ở góc đường Lê Lợi – Pasteur, nơi đây còn có xe bò bía và nước mía Viễn Ðông. Bán phá lấu là một chú Tàu và “cửa hàng” của chú chỉ vỏn vẹn một cái khay tròn, trên đó bày đầy đủ nội tạng heo: lòng, dồi, gan, bao tử, ruột non, ruột già, tim, phèo, phổi… Trông thật hấp dẫn, ngửi thơm phức và ăn vào thì giòn tan. Phá lấu nói chung có vị hơi ngòn ngọt, gan thì bùi bùi, lòng thì hơi dai dai nhưng khi nhai kỹ mới thấy ngon… thấu trời xanh!

Nghệ thuật làm phá lấu chắc chỉ mấy chú ba mới đáng hàng sư phụ. Phá lấu làm tại nhà cũng ướp húng lìu, ngũ vị hương nhưng không thể nào so sánh với phá lấu góc nước mía Viễn Ðông. Từng miếng phá lấu được ghim sẵn bằng tăm, chấm với tương đỏ trộn tương đen. Khách ăn xong chú Ba chỉ nhìn tăm mà tính tiền nhưng tuyệt không bao giờ sai. Quá bộ vài bước là xe nước mía tươi mát đang chờ… để kết thúc một chuyến ăn hàng bên lề đường.

Gần nước mía Viễn Ðông có xe thịt bò khô của ông Năm (theo tên gọi của khách quen) và sau 1975 ông dời về đường Tự Ðức (nay đã đổi tên là đường Nguyễn Văn Thủ) thuộc khu Ða Kao.

9 Mon an 5

Dân chơi Sài Gòn thường xếp hạng: “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1” nên viết về món ngon Sài Gòn mà bỏ qua khu vực Chợ Lớn là cả một thiếu sót lớn. Dọc đường Trần Hưng Ðạo nối với đường Marins (Ðồng Khánh) thuộc địa phận quận 5 có những nhà hàng, tửu lầu nổi tiếng một thời như Arc-en-Ciel, Ðồng Khánh, Á Ðông, Bát Ðạt.

Theo tôi, Chợ Lớn nổi tiếng hơn cả là đường Lacaze mà người Việt hay gọi trại là La Cai, tức đường Nguyễn Tri Phương sau này. Khu La Cai có mì vịt tiềm hầm thuốc bắc, một trong những món “tủ” của người Hoa. An uong 2Bên cạnh đó còn có những tiệm hủ tíu mang tên Mỹ Tiên, Cả Cần và tiệm bánh bao Bà Năm Sa Ðéc.

Ðêm đến có các quán sò huyết dọc theo lề đường. Khách bình dân ngồi ăn nhậu thoải mái giữa dòng xe cộ ồn ào bên ánh đèn nê-ông từ các nhà hàng, vũ trường sang trọng của Chợ Lớn “by night”!

…Thôi thì đời người có lúc hưng lúc tàn, cũng như vận nước có khi thịnh khi suy. Viết lại món ngon Sài Gòn chỉ để thỏa mãn kiểu “ăn hàm thụ”như đã nói ở trên. Giờ có cho ăn thực thụ chắc cũng chẳng thấy ngon như thời còn trai trẻ. Tất cả chỉ còn là… hoài niệm !

Yên Huỳnh chuyển tiếp

FRANCISCO DE PINA CHA ĐẺ CHỮ QUỐC NGỮ

Logo bay gio ke

9 Quoc ngu 1ALEXANDRE DE RHODES

KHÔNG PHẢI LÀ “CHA ĐẺ”

CHỮ QUỐC NGỮ ?

Tại hội thảo “Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ quốc ngữ” do UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức ngày 24/8/16 ở huyện Điện Bàn, nhiều ý kiến cho rằng giáo sĩ Francisco de Pina là người đặt nền tảng cho việc ra đời của chữ quốc ngữ. Hội thảo thu hút hàng trăm nhà khoa học, sử học, chuyên gia trên khắp cả nước tham dự.

Tại hội thảo, ông Thanh phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, cho biết những nghiên cứu của các nhà khoa học suốt gần 15 năm qua đã đưa ra những kết luận khoa học có giá trị về vai trò, công lao của Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha) và Alexandre de Rhodes (người Pháp) trong sáng tạo, hoàn thiện chữ quốc ngữ vào đầu thế kỷ 17.

Theo tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng, hội thảo thu hút 69 tham luận là những nghiên cứu khoa học đầy tâm huyết, giàu sức thuyết phục. Trong đó nhiều nghiên cứu khẳng định vai trò tiên phong của giáo sĩ Francisco de Pina trong việc sáng tạo chữ quốc ngữ và giáo sĩ Alexandre de Rhodes là người có công hoàn thiện chữ quốc ngữ thông qua việc tu chỉnh, biên soạn và xuất bản hai cuốn sách quan trọng là Từ điển Việt – Bồ – La và Phép giảng tám ngày vào năm 1651.

Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết có lẽ một thời gian rất dài chúng ta nhắc đến Alexandre de Rhodes có vai trò hết sức quan trọng trong sự đóng góp phát triển chữ quốc ngữ, và quan trọng là di cảo ông để lại. Quả thật trong điều kiện tư liệu lúc đó, ông Rhodes là người đóng góp rất lớn.9 Quoc ngu 3

Nhưng sau này khi chúng ta có điều kiện nghiên cứu nhiều hơn, những công trình đã tiếp cận các nguồn tư liệu rất khó tiếp cận thì mới thấy được ông Francisco de Pina là người không những đi trước mà còn để lại nhiều dấu ấn, bằng chứng lịch sử để thấy ông là người sớm nhất, giỏi tiếng Việt nhất thời điểm ấy. Vì thế chúng ta tôn vinh một cách công bằng nhưng không phải vì thế mà hạ thấp người này, nâng cao người khác.

“Nhưng ngay chính trong sách ông Alexandre de Rhodes viết cũng nói rất rõ là viết từ điển dựa vào thành quả của những người đi trước. Điều đó cho thấy sự hình thành, phát triển chữ quốc ngữ có sự đóng góp của nhiều thế hệ, là cả một quá trình, từ chỗ ý tưởng đầu tiên đến thử nghiệm đầu tiên, rồi có cả một công trình đi vào đời sống” – ông Dương Trung Quốc nhấn mạnh.

Theo thông tin tại hội thảo, năm 1617 giáo sĩ Francisco de Pina được cử vào xứ Đàng Trong giúp đỡ Nhật kiều công giáo ở Hội An. Sau đó giáo sĩ chú tâm nghiên cứu, sáng tạo chữ quốc ngữ. Và tại Thanh Chiêm, nơi được Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chọn làm dinh trấn của Quảng Nam, đã ra đời trường dạy quốc ngữ đầu tiên.

Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ

Dựa vào bức thư do chính tay Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên gửi cho Nhật Bản năm 1601 và các sử liệu, ta có thể dựng được quá trình hình thành Dinh trấn Thanh Chiêm ở Quảng Nam như sau :

– Năm 1570, do Nguyễn Bá Quýnh từ trấn thủ Quảng Nam được vua Lê triệu đến trấn thủ Nghệ An, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng từ chức vụ trấn thủ Thuận Hóa, được kiêm lãnh hai xứ Thuận Hóa – Quảng Nam “đeo ấn tổng trấn tướng quân”, nhưng ông chưa bao giờ vào Quảng Nam xem xét tình hình cuộc sống dân cư, mà chỉ “giao cho tùy tướng là Dũng Quận Công lưu thủ Quảng Nam để thu phục dân chúng”.

9 Quoc ngu 7– Năm 1592, Đoan Quốc Công cùng Hầu tước Nguyễn Phúc Nguyên ra Đông Đô giúp vua Lê đánh nhà Mạc, có công, nên Hầu tước Nguyễn Phúc Nguyên được thăng một bậc thành Thụy Quận Công.

– Năm 1600, vua Lê trao chức Đô thống Nguyên soái, trấn thủ Quảng Nam cho Nguyễn Phúc Nguyên tại Đoan Môn. Sau khi nhận ấn tín, hai cha con Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên bỏ về Nam. Cũng trong năm này, để đi trước một bước giúp con mình, Nguyễn Hoàng vào Quảng Nam xem xét tình hình và chọn nơi xây dựng kho tàng, chứa lương tiền… Đó là tiền thân của Dinh trấn Thanh Chiêm.

– Năm 1601, Thụy Quốc Công Nguyễn Phúc Nguyên chính thức vào trấn thủ Quảng Nam, đặt dinh quân đội, khu hành chính… ở nơi cha mình đã xây dựng, và phát triển thành Dinh trấn Thanh Chiêm…

Công đầu thuộc về Francisco de Pina

Francisco de Pina đặt chân đến Quảng Nam từ năm 1617, nhưng đến năm 1923 ông mới ổn định cư sở làm việc tại Thanh Chiêm, thủ phủ tỉnh Quảng Nam thời đó. Điều này, cho ta xác định việc ông được thụ phong linh mục cũng là vào thời điểm này, tức là năm 1623 như linh mục Đỗ Quang Chính nhận định.

Nếu vậy, thì chính thời điểm này, Francisco de Pina mới có đủ điều kiện và thời gian hệ thống hóa, biên soạn lại những gì mà ông đã thu thập được trước đó để sáng tạo ra chữ Quốc ngữ tại cư sở Thanh Chiêm và cũng tại Thanh Chiêm, Francisco de Pina viết bức thư gửi cho Cha bề trên ở Ma Cao Jéromino Rodriguez báo cáo việc ông đã biên soạn được một chuyên luận nhỏ về từ vựng và các thanh của ngôn ngữ này (tiếng Việt) 9 Quoc ngu 4và ông đang bắt tay viết về ngữ pháp…

Dĩ nhiên, lá thư ấy chỉ được gửi đi theo con đường duy nhất là từ Hội An, theo các thương thuyền về Ma Cao, chứ không hẳn Francisco de Pina viết tại Hội An.

Theo nghiên cứu của Roland Jacques, cũng như một số nhà nghiên cứu khác, cho rằng: chính các vị giáo sư người Bồ Đào Nha hồi ấy trong Hội dòng Tên hoạt động sớm và tích cực có sự hỗ trợ của con chiên người Nhật và người Hoa tại Quảng Nam, nên trong giao thiệp, tiếng Bồ Đào Nha rất có ảnh hưởng đối với việc sáng tạo chữ Quốc ngữ (lúc ban đầu chưa tiếp xúc với giáo sĩ Pháp, chưa có sự liên hệ nào với chữ Latinh).

Và trên thực tế, chữ Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam hồi đó có nhiều chữ viết dùng theo chữ viết của Bồ, mà ta có thể nghiệm thấy rõ trong chứng minh của nhiều nhà nghiên cứu.

Sau ngày bị nạn tại biển Hội An (15.12.1625) tất cả công trình nghiên cứu chữ Quốc ngữ của Francisco de Pina, là những tài liệu được tập trung vào tay Alexandre de Rhodes, giúp cho Rhodes sử dụng cùng với những tài liệu của các giáo sĩ dòng Tên khác của thời đó viết nên Tự điển Annam – Lusitan – La Tinh năm 1651.

Vậy là đã quá rõ để ngày này chúng ta tôn vinh: “cái nôi” khai sinh ra chữ Quốc ngữ là thủ phủ Thanh Chiêm – tỉnh Quảng Nam và tôn vinh vị thủy tổ phát minh ra chữ Quốc ngữ là người Bồ Đào Nha có tên là: Francisco de Pina.

Có điều đặc biệt người viết bài này ghi nhận được giữa câu chuyện trao đổi với linh mục Roland Jacques trong một lần gặp gỡ, có đến mấy lần ông nhấn mạnh rằng: chữ Quốc ngữ của ta có được là nhờ công đầu tiên của giáo sĩ Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha sáng tạo, còn Alexandre de Rhodes có công bồi đắp, 9 Quoc ngu 5hoàn thiện – đó cũng là công đáng kể.

Ảnh hưởng của người Nhật

Thực ra, Pina nhờ người Việt đọc chữ Hán và nói phát âm của nó để ghi phiên âm tiếng Việt. Tiếp theo, Pina nhờ người Nhật đọc chữ Hán để nghe ý nghĩa của nó bằng tiếng Latinh. Lúc đó, người Nhật không biết tiếng Bồ Đào Nha nên dịch sang tiếng Latinh. Pina hiểu được nghĩa của từ rồi viết (dịch) sang tiếng Bồ Đào Nha. Làm như vậy, các nhà truyền giáo người châu Âu mới hiểu được từ vựng tiếng Việt một cách chính xác.

Chính vì thế, đằng sau lý do Pina trở thành người nói giỏi tiếng Việt đầu tiên trong các nhà truyền đạo Kitô (ở Đàng Trong) là có sự hỗ trợ của người Nhật. Nếu không có sự hỗ trợ người Nhật thì việc ký âm tiếng Việt bằng chữ Latinh sẽ ra đời muộn hơn so với thực tế đã diễn ra trong lịch sử.

Vậy tại sao Pina biết được chỗ cách trong danh từ 2 âm tiết ? Theo tôi hiểu, ông đã dựa vào chữ Hán, và học hỏi cách phiên âm và ý nghĩa của từ. Hiểu rõ các từ rồi thì có thể quay lại cấu thành các từ để xác định rõ chỗ tách biệt giữa từ với từ. Công việc này chắc hẳn có sự tham gia của người Nhật. Vì người Nhật biết chữ Hán. 9 Quoc ngu 6Sau khi tách từ, ông dùng cách phiên âm tiếng Nhật Bản và tiếng Trung Hoa, ký âm bằng chữ Latinh và dựa vào kiến thức hệ thống âm vần tiếng Trung Hoa để xác định được nguyên âm, phụ âm và thanh điệu của tiếng Việt. Như vậy, hệ thống phiên âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh sẽ hoàn thành. Lúc bây giờ, kiến thức phiên âm tiếng Nhật Bản và tiếng Trung Hoa bằng chữ Latinh đã không xa lạ đối với các nhà truyền đạo Kitô.

Như vậy, chúng ta không thể phủ nhận được việc người Nhật Bản có liên quan sâu sắc đến quá trình thiết lập hệ thống phiên âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh.

Học viện Việt Ngữ học đầu tiên trên thế giới

Nhờ quan hệ tốt với thế tử Nguyễn Phúc Kỳ ở Dinh trấn Thanh Chiêm, nên Pina đã lập một trú sở mới ở đây vào khoảng cuối năm 1624, đầu năm 1625 và đến tháng 5 năm 1625, Pina chính thức trở thành Cha bề trên quản nhiệm trú sở truyền giáo Thanh Chiêm (Residentia Dinh Ciam), trú sở quan trọng nhất tại Đàng Trong vì nó ở ngay cạnh dinh trấn Quảng Nam, thủ phủ thứ hai của xứ này do thế tử Nguyễn Phúc Kỳ 9 Quoc ngu 2đứng đầu.

Không chỉ có hoạt động nghiên cứu và sáng tạo chữ Quốc ngữ, tại trú sở Thanh Chiêm, Pina vừa là thầy dạy tiếng Latinh cho các thầy giảng người Việt vừa là giáo sư Việt ngữ cho hai giáo sĩ dưới quyền mới đến hồi cuối năm 1624 là Antônio de Pina Fontes và Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), người mà sau này được thực dân Pháp tôn vinh, một cách có dụng ý, như là ông tổ của chữ Quốc ngữ. Nói không ngoa, trú sở Thanh Chiêm là Học viện Việt ngữ học đầu tiên trên thế giới, mà Pina có tư cách là vị Giám đốc khai lập và Đắc Lộ là vị Giám đốc kế nhiệm.

Đối với công việc nghiên cứu tiếng Việt, đọc lại những lời của giáo sĩ Đắc Lộ, ta có thể thấy ông chưa bao giờ tự nhận mình là người đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ như những gì mà linh mục Léopold Cadière về sau xưng tụng. Tuy không phải là người đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, nhưng Đắc Lộ lại là người có công trong việc biên tập, chỉnh lý, tu sửa một thứ chữ đang thời kỳ phôi thai.Ghi chep

Công việc biên tập ấy không hề đơn giản chút nào, mà thực sự là công trình khoa học sáng chói của Đắc Lộ. Có thể, Đắc Lộ không giỏi chữ Quốc ngữ như các linh mục Pina, Amaral hay Barbosa, nhưng ông may mắn hơn các giáo sĩ khác là sách của ông đã được xuất bản và tồn tại cho đến ngày hôm nay. Do đó, công lao của Đắc Lộ cũng đáng được tôn vinh, mặc dù ông không giữ địa vị công đầu. (nguồn báo Quảng Nam)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

9 Con De Tham 1CON GÁI CỤ ĐỀ THÁM

HÙM XÁM YÊN THẾ !

Giai thoại con gái…. Đề Thám…

Hoàng Hoa Thám để lại một người con gái Hoàng Thị Thế với số phận khác thường. Bà sinh 31-3-1901 tại Phồn Xương, được đính hôn với hoàng tử của hoàng đế Trung Hoa lúc lên 3. Tháng 6-1909, bà bị người Pháp phục kích bắt trong núi rừng Yên Thế.

Bà được toàn quyền Pháp Albert Sarraut nhận làm con nuôi, sang Pháp năm 1917, theo học trường nội trú Jeanne D’Arc ở Biarritz, lấy tên là Marie Beatrice Destham.

Về Bắc Kỳ, bà làm thủ thư tòa Thống sứ Hà Nội, sống từ 1925 đến 1927 với em trai Hoàng Văn Vi tại phố Hàm Long. Trở lại Paris, bà được Albert Sarraut giới thiệu như bà là công chúa. Bà tự xưng là công chúa Hoàng Thị Thế – công chúa Trung Hoa, năm 1930 đóng bộ phim Lá Thư, dựa theo truyện ngắn của William Somerset Maugham, sau đó là bộ phim “La Donna Bianca”. Năm 1935, bà đóng phim “Bí mật của lục bảo” của Maurice de Canonge.

9 Con De Tham 2

Năm 1959, bà được Ngô Đình Diệm mời về Sài Gòn nhưng khộng kết quả. Năm 1961, bà sống tại nhà 16 đường Boulboone ở Toulouse. Ít lâu sau, chính phủ Việt Nam đề nghị bà phụ trách một hiệu sách Pháp ở Bắc Giang.A Vui quaNăm 1974, bà về Hà Nội và sống tại phòng 31 khu tập thể Văn Chương.

Bà qua đời ngày 9-12-1988. Bà được chôn tại Phồng Xương, Yên Thế, Bắc Giang. Bà có một chồng, ly hôn năm 1940 và một con trai Jean Marie Albert Ảthur. (theo Andrew sưu tầm)

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

9 Banh mi 1BÁNH MÌ VÀ

HƠN 14.000 NĂM LỊCH SỬ

Hương vị chiếc bánh mì pa-tê kẹp thịt đậm đà, chua chua ngọt ngọt của Việt Nam trở thành một thương hiệu nổi tiếng khắp năm châu. Hình ảnh người đàn ông đội chiếc mũ bê-rê với chiếc bánh mì dài kẹp tay cũng là một trong những đặc trưng của nước Pháp. Nhiều người cho rằng bánh mì có nguồn gốc từ châu Âu và được du nhập ra khắp thế giới. Nhưng không, bánh mì bắt nguồn từ Ai Cập, xuất hiện khoảng 12.000 năm trước Công Nguyên (TCN) và có nhiều hình dạng khác nhau từ khoảng 3.500 năm TCN.

Vào thời kỳ đồ đá mới : 53’) nhờ nắm được kỹ thuật lên men, được đánh giá là một trong những kỳ tích văn hóa của nhân loại, người Ai Cập sống bên bờ sông Nil đã phát minh ra bánh mì, khởi nguồn của món ăn cơ bản.

Phát hiện trên được nhà sử học người Pháp Adrien Berthelot, hướng dẫn viên tại khu vực thời cổ đại trong bảo tàng Louvre, giải thích với nhật báo công giáo La Croix (25/07/2016). Ông nói : «Người Ai Cập ghi chép lại tất cả trên giấy cói và khắc lên đá những thời điểm quan trọng của cuộc sống hàng ngày. Những hành động được cho là kéo dài và lặp đi lặp lại ngay cả bên kia thế giới».

Và những ký tự tượng hình Ai Cập cổ cho thấy bánh mì chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. 9 Banh mi 2Vẫn theo nhà sử học, «Sự chuyển đổi lúa mì thành bánh xảy ra vào thời kỳ trái đất ấm lên. Quá trình định cư và phát triển trồng trọt được nhận thấy tại nhiều địa điểm trên khắp hành tinh và diễn ra trong cùng một khoảng thời gian. Nước là yếu tố cần thiết để làm hoạt động chu trình sản xuất. Sông Nil, với những trận lũ lụt và sình lầy mầu mỡ, đã mở ra con đường này cho người Ai Cập. Vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) là khu vực lý tưởng. Herodote từng nói rằng Ai Cập là một món quà của sông Nil. Một ốc đảo trải dài đến 2.000 km, trở thành khu vực trồng ngũ cốc quan trọng và là điểm khởi đầu của vựa trồng lúa mì của người La Mã».

Người Ai Cập tin có được loại ngũ cốc này là nhờ thần Osiris, người cai quản linh hồn người chết. Thần Osiris là người phán xét những ai xứng đáng được sống vĩnh cửu hay bị đầy ải vào địa ngục tối tăm. Để giữ trọn lời hứa ân sủng, người chết có công được phép trở thành người phục vụ tang lễ với nhiệm vụ là reo hạt và thu hoạch để đảm bảo phần bánh mì của thần Osiris.

Tại bảo tàng Louvre, người ta thấy nhiều bức tượng nhỏ mang túi lúa mì nặng trên lưng. Trên bàn thờ lễ, người ta thấy những chiếc bánh lớn được khắc trong đá. Đó là những chiếc bánh mì mà lời cầu nguyện của người sống biến chúng thành bánh thật cho người chết. Và trên thành những công trình tang lễ, như kim tự tháp hay lăng tẩm, người dân ở thế giới bên kia vẫn có thể tìm được nhiều công thức làm bánh khác nhau.

Theo những ghi chép bằng chữ tượng hình Ai Cập, có đến 19 loại bánh mì với cách và thời gian làm chín khác nhau : như đổ khuôn hay nướng trực tiếp trên đá… Nhà sử học Alexandre Burtard cho biết : «Phương thức bảo tồn đặc biệt những di sản khảo cổ tại hoang mạc Ai Cập đã cho phép phát hiện ra được những loại bánh mì có từ nhiều thiên niên kỷ, trong đó nhiều mẫu được bảo quản tại bảo tàng Louvre».

Ông Jean-Philippe de Tonnac, đồng phụ trách cuốn Từ điển Phổ thông về Bánh mì 9 Banh mi 3(Dictionnaire universel du pain) nhận xét : « Người ta giết một con vật, người ta ăn nó, sau đó chẳng còn gì. Ngược lại, sau vụ thu hoạch, người ta có thể có thức ăn trong vòng một năm. Hơn nữa, người ta còn có thể bảo quản thóc thu hoạch được để cấy vào năm sau. Thế giới Lưỡng Hà là nơi thí nghiệm những kinh nghiệm đầu tiên của ngành nông nghiệp. Văn học xứ Xu-me (miền nam Lưỡng Hà) mang dấu ấn những sản phẩm bánh mì đầu tiên ».

Men bánh mì, phát minh hóa học kì diệu

Chỉ cần bốn thành phần cơ bản là có thể làm ra được bánh mì : bột, nước, muối và men nở nổi tiếng. Đó là một loại bột mà quá trình lên men, dù đã được phân tích kỹ về mặt khoa học, vẫn là một điều thu hút những người nhào bột và nhìn thấy bánh nở phồng trước khi ngọn lửa làm nó rắn lại.

Một trong những thắc mắc của các nhà khảo cổ và sử gia là bằng cách nào người Ai Cập lại có thể kiểm soát được quá trình làm bánh mì cần độ chính xác và khéo léo. Và có phải họ là người đã phát minh ra men bánh mì ?

Nhà sử học nổi tiếng về lương thực, Steven Kaplan, cho biết : «Dường như họ tình cờ tìm ra phương pháp này. Đó là loại bột có thể gồm đại mạch và nước, sau đó được ủ, rồi lên men, cuối cùng có thể được nấu chín. Kết quả là một hình thù lạ lẫm, nhưng không phải để vất «đồ thối rữa» đó đi giống như một điềm xấu. Đây mới chỉ là bước đầu của giai đoạn lên men, điều bí ẩn được chứng minh khoa học mà vẫn thần kỳ».

Còn nhà sử học Alexandre Burtard lại thiên về sự hiểu biết và nắm vững kỹ thuật : «Thường bánh mì có nguồn gốc từ cháo ngũ cốc. Quá trình nấu chín giúp nó được bảo quản mà không bị thiu. Sau này, nhờ nắm vững quy trình nướng chín nên một nghề mới xuất hiện : nghề làm bánh mì».

Homer từng đánh giá người văn minh khác với người hoang dã nhờ đặc điểm «ăn bánh mì». 9 Banh mi 4Còn trong cuốn Lịch sử bánh mì từ 6.000 năm, Heinrich Eduard viết : «Bánh mì chế ngự tinh thần và vật chất của thế giới cổ đại, từ người Ai Cập đã phát minh ra và biến bánh mì thành nền tảng của đời sống kinh tế của họ, cho đến khi người Do Thái biến bánh mì thành điểm xuất phát của pháp chế tôn giáo và xã hội. Sau đó là người Hy Lạp đã biết sáng tạo ra những huyền thoại sâu sắc và trang trọng nhất về những bí ẩn của thành Eleusis. Cuối cùng là người La Mã đã biến bánh mì thành một vấn đề chính trị. Cho tới ngày Chúa Jesus nói : « Hãy ăn đi ! Ta là bánh hằng sống ! »

Bánh mì dài (baguette), một đặc trưng của Pháp.

Xuất phát từ Ai Cập, bánh mì đến Hy Lạp, Roma và phương tây để trở thành một loại lương thực cơ bản, là thành phần tham khảo và điều hòa xã hội.

Trong số chiến lợi phẩm từ các cuộc trường chinh của Alexandre Đại Đế (356-323 trước Công Nguyên), người Hy Lạp đã chiếm được phát minh của người Ai Cập : đó là bánh mì. Bằng cách cải tiến nó và thêm vào các hương vị như hồi hay mật ong, họ đã đưa bánh mì vào kỷ nguyên của ẩm thực với 72 loại khác nhau.

Sau này, những nô lệ Hy Lạp phục vụ người La Mã đã dạy lại cho họ nghệ thuật làm bánh này. Những thợ làm bánh mì đầu tiên được gọi là « depistores » (những người dùng chày để giã bột). Đây là công việc cha truyền con nối mà người con trai không thể từ chối, nếu không sẽ bị phạt nặng. 9 Banh mi 5Dần dần, họ đảm trách một « nhiệm vụ chung » và được xếp vào hàng công chức.

Khách hàng có thể mua được các loại bánh mì đủ hình dạng khác nhau, kể cả loại bánh mì đặc biệt ăn kèm lúc thưởng thức hải sản. Đế chế La Mã đảm bảo ổn định xã hội bằng cách phân phát « bánh mì và trò giải trí ».

Một trăm năm trước Công Nguyên, người La Mã đã lắp đặt cối xay bằng nước để hoạt động các thớt cối xay. Và phải đến hơn 4 thế kỷ sau đó, người Gaulois (Pháp) mới biết đến phát minh này.

Tại Pháp, quy định đầu tiên về bánh mì xuất hiện vào năm 630, dưới thời vua Dagobert : Các tiệm bánh mì phải nằm gần hoàng gia, các thành trì và tu viện. Những người làm bánh mì được gọi là « talemelier ». Từ này có bắt nguồn từ « tamis » (cái rây) được dùng để sàng bột.

Vào thế kỷ XI, bánh mì là một trong những loại lương thực chính. Được Cơ Đốc Giáo khuyến khích sản xuất và phân phối, nó trở thành nguồn thu nhập chính của giáo hội. Phần lớn nông dân tự làm bánh và chỉ trả một khoản phí để xay hạt và một khoản khác để được quyền sử dụng lò nướng chung, từ đó xuất hiện loại bánh mì đen.

Từ «boulanger» bắt nguồn từ vùng Picardie, có nguồn gốc từ «boulenc» (những người làm bánh mì tròn). Từ này trở nên phổ biến trong ngôn ngữ đời thường vào khoảng giữa thế kỷ XIII. Theo ngôn ngữ latin trung đại, «boulengarius» biến thành «bolengier» trong tiếng Pháp trước khi cố định thành Bo tay 1«boulanger» như hiện nay.

Chỉ dụ ngày 19/01/1322 cho phép người làm bánh mì làm việc buổi đêm. «Bánh mì trắng» được cho thêm bọt bia làm bột nở (cách làm được thừa hưởng từ người Gaulois) được dành cho giới quý tộc và tư sản. Còn ở nông thôn, người nông dân làm «bánh mì đen» từ các loại ngũ cốc họ có trong tay nên có hình dạng thô hơn.

Ngày nay, bánh mì được dùng làm thước đo biểu tượng chỉ ra những dấu hiệu đầu tiên về tình cảnh đói kém hay giá cả tăng vọt. Như Lionel Poilâne từng viết : «Kể về lịch sử bánh mì, là kể một chút về lịch sử của loài người». (theo Thế Hằng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CUỘC ĐỜI NS TÒNG SƠN – LÊ UYÊN PHƯƠNG

Logo Van nghe

9 Tong Son 1NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI CỦA

NGHỆ SĨ TÒNG SƠN

và nỗi niềm khi lá đơn xin vào trại dưỡng lão nghệ sĩ bị từ chối

Tuổi già bệnh tật và không còn nơi nương thân, nghệ sĩ Tòng Sơn viết đơn xin vào ở trong Khu dưỡng lão nghệ sĩ ở Q8 trên đường Âu dương Lân, nhưng đơn của ông bị từ chối…

Vào năm 2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton có chuyến thăm Việt Nam. Dịp này, Tổng thống Bill Clinton cùng đoàn tùy tùng ghé thăm cảng Container quốc tế Việt Nam ở Sài Gòn. Nghệ sĩ khẩu cầm Tòng Sơn được vinh dự mời đến biểu diễn. Giữa hàng trăm quan khách cấp cao cấp của hai nước, nghệ sĩ Tòng Sơn tự tin thể hiện tài năng của mình qua cây kèn harmonica, những âm điệu trầm bổng du dương vang lên đã làm say đắm cả phái đoàn ngoại giao nước Mỹ. Khi bản nhạc vừa chấm dứt, những tràng pháo tay vang lên không dứt tán thưởng cho tài nghệ của ông…

Nhắc lại câu chuyện xa xưa cách đây 16 năm để thấy rằng nghệ sĩ Tòng Sơn đã từng có một thời “oanh liệt” trong làng giải trí Việt Nam. Ông là một trong những người được khán giả mến mộ đặt cho biệt danh là “quái kiệt”. Buồn thay ngày tháng rất đẹp ấy đã xa rồi. Hoàn cảnh của ông giờ bi đát lắm. Bước qua tuổi 86 với bệnh tật, cô đơn, nghèo túng, ông phải sống trong ngôi nhà trọ diện tích chưa tới 12m2 ở khu Bàn Cờ, 9 Tong Son 2BSài Gòn và một mình chống chọi với bệnh tim ngày càng thêm trầm trọng. Có lần những người cùng xóm thấy cả buổi ông không mở cửa phòng, họ đập cửa nhà thấy ông đang nằm thoi thóp đau đớn. Mọi người vội đưa ông vào viện cấp cứu.

Để giữ hình ảnh của mình mãi đẹp trong lòng khán thính giả, ông sợ những người yêu mến ông phải thấy cảnh một ông lão Tòng Sơn tàn tạ nơi đầu đường xó chợ, vì thế ông quyết định viết một lá đơn xin được vào ở tại Khu dưỡng lão nghệ sĩ. Đơn của ông bị từ chối với lý do ông không phải là hội viên của Hội âm nhạc thành phố. Tuyệt vọng, lão nghệ sĩ Tòng Sơn chỉ còn biết kêu… trời !

Nói đến Tòng Sơn, những người mộ điệu nghĩ ngay đến người nghệ sĩ được mệnh danh là “quái kiệt” bởi cách sử dụng nhạc cụ của ông rất quái lạ và độc đáo. Tòng Sơn có thể cùng một lúc thổi hai cây kèn một ở lỗ mũi và một ở miệng. Độc đáo hơn ông vừa thổi vừa ăn chuối và vừa uống bia. Tài nghệ như thế nên từ những thập niên 50 của thế kỷ trước, tên tuổi của Tòng Sơn nổi tiếng khắp miền Nam. Ông được mời lưu diễn khắp nơi trong và ngoài nước, từ châu Á đến châu Mỹ, châu Âu…

Đến thăm ông vào một buổi sáng Sài Gòn có vài cơn mưa nhỏ, căn phòng trọ chật hẹp trong khu Bàn Cờ nơi ông ở không đủ sức chứa đến năm sáu người. Phòng ở trống trơn, chỉ có chiếc giường là vật có nhiều diện tích nhất. Góc bàn nhỏ bày la liệt những vỉ thuốc chữa bệnh, thuốc trợ tim. Có lẽ thứ làm ông tự hào nhất là tấm bằng xác lập kỷ lục “Người có phong cách biểu diễn khẩu cầm độc đáo nhất Việt Nam” 9 Tong Son 3của Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác nhận. Trên tường còn treo một vài tấm ảnh của ông thời trai trẻ, một chàng trai phong độ, đẹp trai và tài hoa.

“Tôi là một người suốt đời chưa từng có tên ghi trong sở nhà đất”, nghệ sĩ Tòng Sơn nói vui khi nhắc đến gia cảnh của mình. Đằng sau câu đùa đó là nụ cười với nỗi niềm chua xót. Ông cho biết, hơn 60 năm tuổi nghề, ông chưa từng có cho mình một ngôi nhà riêng, lang thang hết trọ chỗ này chuyển đến trọ chỗ khác. Từng có một gia đình và có đến 10 đứa con nhưng rốt cuộc “từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”. Người tình của ông, tri kỷ của ông giờ chỉ còn là tiếng kèn với những giai điệu buồn đến nao lòng.

Tòng Sơn không phải là tên thật của ông. Ông tên là Dương Ngô Tòng, nghệ danh Tòng Sơn là để tri ân công lao dưỡng dục của thân phụ ông. “Sơn là tên cha tôi, Tòng Sơn có nghĩa là theo cha”, đó là giải thích của lão nghệ sĩ về nghệ danh của mình.

Nghệ sĩ Tòng Sơn sinh ra và lớn lên ở miền Tây Nam Bộ. Tuổi thơ của ông là những ngày chinh chiến chạy giặc Tây. Chưa bao giờ ông nghĩ sau này mình sẽ trở thành một danh cầm, một “quái kiệt” như bây giờ. Số phận run rủi, trong một lần tình cờ ông nhặt được cây kèn harmonica của một người lính Pháp đánh rơi trên đường đi bố ráp. Chiếc kèn Tây là lạ và đẹp ngày ấy đã gắn liền với số phận của ông.

Năm 16 tuổi, bằng chiếc kèn nhặt được, những giai điệu vỡ lòng bắt đầu được phát ra từng chính miệng của Tòng Sơn. Đi đâu Tòng Sơn cũng mang theo cây kèn harmonica ấy. 9 Tong Son 5Năm 1950, Tòng Sơn lên Sài Gòn làm thợ sắp chữ cho một nhà máy in. Những buổi tối buồn và nhớ nhà, Tòng Sơn lại mang kèn ra thổi, lúc đó Tòng Sơn mới phát hiện ra mình có năng khiếu về nhạc cụ này.

Tòng Sơn chính thức bước vào con đường nghệ thuật vào khoảng năm 1956 sau khi ông trúng tuyển trong cuộc thi “Tuyển lựa tài tử” do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức. Từ đó tiếng kèn của ông vang xa và ngày càng điêu luyện hơn với các ngón nghề có một không hai. Thế giới nghệ thuật đầy hào hoa, cám dỗ đã quyến rũ Tòng Sơn bước vào. Nơi đó ông nhận được những vinh quang và cả những bạc bẽo đắng cay.

Tuổi già, bệnh liên miên không đi biểu diễn được, lão nghệ sĩ Tòng Sơn phải đối diện với một thực tế phũ phàng, tiền ăn cho mình, tiền thuốc, tiền trọ và nhiều thứ nữa. “Bạn bè, người thân và các nghệ sĩ đồng nghiệp chỉ giúp đỡ một phần nào thôi chứ làm sao lo hết được. Tôi đứng trên sân khấu Trống Đồng biểu diễn cho khán giả đến 25 năm, nhưng đến nay họ cũng cắt mất show này. Tôi sợ một ngày phải cô đơn nằm chết ở một góc phố nào đó”, nghe nghệ sĩ Tòng Sơn tâm sự mà chúng tôi cay mắt.

9 Tong Son 4Câu chuyện của nghệ sĩ Tòng Sơn kể cho chúng tôi nghe thỉnh thoảng phải dừng lại bởi cơn đau đột ngột. Mặt ông nhăn lại nhưng sau đó lại nở một nụ cười rất hiền. Nghệ sĩ Tòng Sơn nói rằng ông từng có một thời “oanh liệt” nhưng điều đó không quan trọng, bởi sứ mệnh của người nghệ sĩ là cống hiến, là con tằm rút ruột nhả tơ. Quy luật muôn đời là vậy, than trách để làm gì. Trong câu chuyện của Tòng Sơn, ông cố tránh né nhắc đến những cuộc tình, những người đàn bà đã từng được ông gọi là vợ. Có lẽ đó là nỗi niềm, là những điều thầm kín mà ông cần được tôn trọng.

Tất cả đã trôi qua, thực tại của ông bây giờ là căn bệnh tim ngày càng trầm trọng. Ông muốn có một chốn bình yên để nương náu khi tuổi đã về già. Tuy nhiên, cái mơ ước tưởng chừng như nhỏ bé ấy lại là quá xa vời với một người nghệ sĩ cả đời cống hiến như ông.

Mở chiếc valy chứa đầy các loại kèn harmonica lớn nhỏ mà ông cả đời sưu tập được, chọn một chiếc, nghệ sĩ Tòng Sơn thổi cho chúng tôi nghe bài Hạnh phúc lang thang.

“Nhưng năm tháng vô tình mà lòng người cũng vô tình / Rồi màu úa thay màu xanh / Người yêu xa bến mộng đò xưa đã sang sông dòng đời trôi mênh mông / Dáng xưa nay xa rồi đường khuya 9 Tong Son 6mưa rơi rơi/ Phố xưa quên một người bàn chân gieo đơn côi / Gió mang theo cơn lạnh về rót lệ trên môi…”.

Căn phòng trọ của ông bỗng trở nên chật hẹp, giai điệu bài hát buồn đến não nùng vượt xa khỏi không gian bé nhỏ ấy rồi lên tận đến trời xanh. Sài Gòn lại mưa, đôi mắt của nghệ sĩ Tòng Sơn ươn ướt.

Lá đơn xin vào Khu dưỡng lão nghệ sĩ của ông bị trả lại vẫn còn nằm im dưới chiếc gối ngủ mỗi đêm, thi thoảng ông đem ra đọc lại rồi ngậm ngùi tự hỏi : “Tôi có phải là một người nghệ sĩ không ?”.

Chương trình Một đời âm nhạc 

Chương trình Một đời âm nhạc – tôn vinh và gây quỹ giúp nghệ sĩ Tòng Sơn diễn ra vào 20 giờ tối thứ bảy 27/8/2016, tại nhà hát The V Show (sân khấu Nam Quang cũ).

Tham gia chương trình có các nghệ sĩ Vân Sơn, Tấn Beo, Chí Tài, Cát Phượng, ca sĩ hải ngoại Ngọc Ánh, Quang Hà, Nguyễn Phi Hùng, Khánh Bình, Khánh Ngọc, Minh Luân, Vỹ Khang, Vi Thảo, Ngọc Hân, Tiến Vinh, Thu Hồng, Lâm Ngọc Huỳnh, Mai Yến Chi, doanh nhân Kim Ánh Ngọc, nhóm Nhật Nguyệt, nhóm V Music New, 9 Tong Son 2Anhóm Ayor, quái kiệt Mai Đình Tới, quái kiệt Nguyễn Thế Vinh, “Người nhiều mặt” Phi Long… (theo Tiểu Vũ) 

– Nghệ sĩ khẩu cầm Tòng Sơn

https://youtu.be/G214tXPAnJ4

– Nghệ sĩ khẩu cầm cuối cùng ở Sài Gòn

https://youtu.be/03FREOqP0G4

– Harmonica huyền thoại – (0:19’)

https://youtu.be/K5l7SoGOqhI

Nghệ sĩ Tòng Sơn : Yêu thương cuộc sống (0:22’)

https://youtu.be/CFgeFFO7Dms

9 Le Uyen Phuong 1CẶP ĐÔI LÊ UYÊN PHƯƠNG 

MỘT THỜI VANG BÓNG

Những năm đầu của thập kỷ 70, Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh. Trong đạn bom và máu lửa, phong trào phản chiến của học sinh, sinh viên diễn ra ngày càng rầm rộ.

Còn nhớ những đêm văn nghệ xuống đường tại Sài Gòn, bên cạnh những ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn, sự xuất hiện cặp song ca Lê Uyên – Phương như một hiện tượng, họ đã thổi một luồng gió mới vào nền tân nhạc thời bấy giờ.

Với giai điệu nồng nàn, khắc khoải đôi khi bàng bạc và triết lý, Lê Uyên – Phương đã được giới trẻ đón nhận nồng nhiệt trong những ca khúc nổi tiếng :

Bài ca hạnh ngộ, Còn nắng trên đồi, Dạ khúc cho tình nhân, Lời gọi chân mây, Vũng lầy của chúng ta…

Tuổi thơ

Lê Uyên Phương sinh năm 1941 tại Đà Lạt, là một trong những nhạc sĩ lớn của âm nhạc miền Nam Việt Nam trước 1975. Ông tên thật là Lê Minh Lập. Do giấy tờ bị thất lạc trong chiến tranh, tên của ông bị khai nhầm thành Lê Minh Lộc rồi Lê Văn Lộc. Ông giữ tên Lê Văn Lộc từ đó đến giờ.

Cha của Lê Uyên Phương vốn họ Phan nhưng vì cuộc cách mạng của Phan Bội Châu nên phải đổi thành họ Lê. Mẹ của Lê Uyên Phương là Công Tôn Nữ Phương Nhi, ông lấy chữ Phương trong tên của mẹ làm9 Le Uyen Phuong 2 tên cho mình. Cùng với chữ Uyên, tên người bạn gái đầu tiên, ông ghép thành Lê Uyên Phương.

Bản nhạc đầu tiên “Buồn đến bao giờ” được Lê Uyên Phương viết tại Pleiku vào năm 1960. Tám năm sau đó (1968), Lê Uyên Phương gặp Lâm Phúc Anh ở Đà Lạt, hai người thành hôn.

Họ trở thành đôi tình nhân song ca nổi tiếng. Lâm Phúc Anh không muốn dùng tên thật nên lấy tên là Lê Uyên. Hai người thường xuất hiện song ca trước công chúng nên được gọi Lê Uyên và Phương.

Thật ra, Lê Uyên là người Trung Hoa thuần chủng, sinh 1952 tại phố Hàng Bồ, Hà Nội. Cha chị người gốc Hải Nam, mẹ người Triều Châụ. Năm 1954, Lê Uyên cùng với bố mẹ và người em gái là Lâm Phi Yến từ Hà Nội di cư vào Nam, cư ngụ trong một ngôi nhà rất khang trang ở Chợ Lớn. Đây cũng là nơi đặt văn phòng của một Công ty vận tải chạy đường Qui Nhơn, Huế và Đà Nẵng do thân phụ chị khai thác.

Năm 1969, họ dắt nhau xuống Sài Gòn. Trong những năm đầu cùng nhau đi hát, Lê Uyên và Phương chỉ giới hạn phạm vi hoạt động của mình trong khuôn viên đại học với phong trào Du ca Việt Nam. Với giọng ca thiết tha và trầm ấm, 9 Le Uyen Phuong 3Lê Uyên và Phương đã đem một luồng gió mới đến với khán giả giả Sài Gòn những năm sau đó…

Yêu nhau trong lo âu…

Lê Uyên Phương là một người đa tài. Tuy nhiên, đến 27 tuổi, anh vẫn chưa có “mảnh tình vắt vai”. Lúc bấy giờ, trên thân thể chàng xuất hiện nhiều khối u lạ. Mặc dù bác sĩ chưa định ra chính xác là bệnh gì, nhưng ai cũng nghĩ chàng mắc bệnh ung thư xương, không biết sẽ ra đi vào lúc nào. Chính vì thế, anh không nghĩ đến hôn nhân  để khỏi gây khổ luỵ cho người khác.

Ngày ấy, 16 tuổi, nàng là nữ sinh trung học xinh đẹp và ngây thơ, được cha (một thương gia giàu có) đưa lên Đà Lạt  học tại Virgo Maria, một trường nữ trung học có tiếng thời bấy giờ. Vừa xinh đẹp, vừa giàu có, Lê Uyên được nhiều chàng trai tán tỉnh, ngày đêm thương nhớ.

Như một định mệnh, nàng lại gặp và yêu đắm say Phương, chàng nhạc sĩ mang trong mình căn bệnh hiểm nghèo không biết sẽ ra đi lúc nào. Nàng như con nai hiền, anh như một khu rừng già luôn xòe bóng mát chở che. Lê Uyên Phương hơn Lê Uyên 11 tuổi. Năm ấy, anh đã là một ông thầy giáo dạy Triết và  Nhạc tại một vài trường ở Đà Lạt. Chàng được học violon từ bé và bắt đầu sáng tác nhạc từ năm 20 tuổi, nhưng không ký tên thật là Lê Minh Lộc mà dùng bút danh Lê Uyên Phương.

Lê Uyên đã tâm sự : “Tôi yêu bởi cái tài và con người hiền lành, đạo đức, rộng lượng của anh. Nhưng yêu tha thiết hơn chính là vì căn bệnh hiểm nghèo của anh. 9 Le Uyen Phuong 4Cuộc tình chúng tôi lãng mạn, đau đớn cũng bởi không biết một ngày nào đó cả hai sẽ chia lìa nhau. Chúng tôi yêu nhau nồng nàn và như thành một khối từng ngày, từng giờ cũng bởi cái chết luôn ám ảnh”.

Một nghiệt ngã khác trong cuộc tình định mệnh này là gia đình Lê Uyên không chấp nhận cho con gái đến với một người nay sống, mai chết như Phương. Cha, mẹ Lê Uyên cấm không cho họ gặp mặt nhau mỗi ngày. Trong thời gian về lại Sài Gòn, để được gặp mặt, họ phải ngồi suốt ngày trong nhà ga Sài Gòn. Có khi bụng đói rã rời, chỉ có mẩu bánh mì nhỏ trong bụng, ấy vậy mà họ vẫn không lìa nhau. Họ sống như thế một tháng trời. Những lúc nhớ thương người yêu da diết, anh dành hết cho âm nhạc. Những ca khúc trong tập “Khi loài thú xa nhau” đã ra đời trong hoàn cảnh chia lìa như thế.

Sau này, nhà văn Song Thao có viết về cuộc đời và hoàn cảnh những tác phẩm của Lê Uyên Phương:

“Hồi đó… Nàng quen em gái anh và thỉnh thoảng vẫn lui tới nhà. Lúc đầu nói chuyện thường thường rồi sau anh trở thành “cố vấn” của nàng. Nàng hỏi ý kiến anh đủ thứ chuyện kể cả chuyện yêu đương nhăng nhít”. Họ yêu nhau lúc nào không biết. Tôi hỏi anh ngỏ tình yêu ở đâu. Trên đồi ! Đà Lạt có những ngọn đồi mộng mơ cho những kẻ yêu nhau quấn quít..

Tiếng Lê Uyên và Phương từ chiếc máy cassette quấn lấy nhau vọng ra :

9 Le Uyen Phuong 9“ …Lệ ngập ngừng bờ mi.

Giọt nước mắt lăn nỗi buồn.

Giọt nước mắt xa cách vời vợi trông.

Giờ này còn nhìn nhau.

Nhìn đắm đuối như suối bền.

Nhìn suốt kiếp như chết mòn.

Nhìn hấp hối thương đau.

Ngày mai ta không còn thấy nhau”

(Cho Lần Cuối).

Anh khẽ bảo tôi chính vì bài này mà người ta đồn là anh sắp chết. Bệnh tật của anh đã trở thành huyền thoại. Người ta bảo là anh chỉ còn sống được một năm nữa. Người ta đồn là vào năm 1972 anh sẽ chết. Anh đưa bàn tay trái cho tôi coi. Trên lưng ngón tay trỏ nổi lên một cục bằng trái cà chua nhỏ đỏ au và mòng mọng. Những đường gân máu chạy nổi thấy rõ. “Bác sĩ cũng chưa thể định là bệnh gì.

Bây giờ nó đã nổi thêm trên mấy ngón khác và một vài chỗ trong người. Muốn chữa bây giờ chỉ có thể cắt ngón tay này nhưng tôi chưa muốn cắt”. Anh xác nhận là những bài ca viết về sự chia phôi không phải là do bị ám ảnh bởi cái chết nhìn thấy trước mà do sự rắc rối và xa cách của mối tình đẹp nhất đời anh và khi được hạnh phúc anh luôn luôn sợ ngày nó sẽ hết. Người nghệ sĩ không những sống cho mình mà còn thông cảm được với cuộc sống của những người khác. Anh đã nhìn thấy cái chết và 9 Le Uyen Phuong 5đã nghĩ nhiều về cái chết…”

“Chuyện tình của họ đòi đoạn đớn đau. Gia đình nàng không chấp nhận. Họ mê say trong trốn chạy. Năm 1968, hai người sống ở Sài Gòn. Họ không có một chỗ gặp gỡ nhau. Suốt ngày hai người ngồi trong sân nhà ga Sài Gòn. Thỉnh thoảng họ phải làm bộ ngoắc tay những hành khách ngồi trên xe ca của hãng Hàng không Việt Nam cho ra vẻ ngồi chờ người nhà. Mỗi ngày chỉ có một mẩu bánh mì nhỏ trong bụng.

Họ sống như vậy một tháng trời. Tình yêu của họ được kết hợp bằng những ngày không có nhau. Chính những ngày xa cách nhớ thương là thời gian anh sáng tác nhạc. Những bản nhạc đang dần dần quen thuộc với mọi người được kết tinh trong sự nhớ thương đó nên nặng mang sự chia phôi. Mười hai bài trong tập “Khi Loài Thú Xa Nhau” được viết trong thời kỳ này. Nó không còn mang tình yêu thơ mộng, tình yêu trong trí tưởng, thật xa và thật huyền diệu như mười bài trong tập “Yêu Nhau Khi Còn Thơ” được sáng tác trong thời kỳ trước đó khi chưa gặp Lê Uyên”.

…Đà Lạt hoang sơ quyến rũ đã đưa anh trở về những rung cảm nguyên thủy của buổi hồng hoang. Không có Đà Lạt chắc khó có một thứ nhạc độc đáo Lê Uyên Phương. Mỗi ngày anh thức dậy từ sớm đi lang thang khắp núi đồi Đà Lạt tới khoảng nắng lên thì trở về nhà nghỉ. Khi mặt trời đi ngủ anh lại đi cho tới tối trở về ngồi vào viết tới sáng”.

9 Le Uyen Phuong 6

Ngày mai, ta không còn thấy nhau.

Năm 1979, Lê Uyên và Phương rời khỏi Việt Nam và định cư tại Nam California, Hoa Kỳ. Họ có hai con gái là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My. Sau 15 năm chung sống, khoảng năm 1984 hôn nhân của hai người tan vỡ.

Sau đó, Lê Uyên Phương lâm bệnh nặng. Sau một thời gian điều trị ở bệnh viện UCI (University Of California in Irvine) Lê Uyên Phương đã về nhà người con gái lớn của anh là Lê Uyên Uyên để sống. Đó là những ngày tháng bi thảm với một tình trạng sức khỏe sa sút do căn bệnh ung thư phổi tàn phá.

Cuối cùng, anh lại được đưa lại bệnh viện này để trút hơi thở cuối cùng vào chiều thứ Ba 29/06/1999, hưởng dương 59 tuổi. Ông ra đi trong niềm luyến tiếc của mọi người yêu âm nhạc.9 Le Uyen Phuong 7

Ngày anh ra đi,  Lê Uyên suy sụp và gần như không gượng lại nỗi. Lê Uyên nhớ lại : “Lúc anh mất, tôi đã chuẩn bị thuốc ngủ để theo anh. Tôi khóc từ sáng đến đêm khuya, ngày nào cũng khóc và ngay khi tôi định tìm đến cái chết bởi quá tuyệt vọng thì tôi cảm nhận được có điều gì đó từ anh không muốn tôi như vậy.

Có thể anh đã xui khiến một người bạn gọi đến cho tôi. Tôi còn nhớ rất rõ đó là ngày thứ 50 anh mất. Tôi không ngờ người bạn ấy có thể nói được những lời mà trước đây anh từng nói với tôi : “Nếu như nhạc của anh không có mình (anh không gọi tôi bằng em mà gọi là mình) thì không biết phải làm sao. Mình không thể khóc hoài như vậy, mình phải sống và có bổn phận gìn giữ, đưa âm nhạc của anh thăng hoa”.

Hơn 16 năm trôi qua… Giờ đây, Lê Uyên Phương không còn nữa nhưng tình khúc của ông đã trở thành những viên ngọc quý. Với giai điệu đam mê, đầy luyến tiếc, người ta còn thấy ở Lê Uyên Phương một tấm lòng bao dung và sự chắt chiu cho âm nhạc. 9 Le Uyen Phuong 9Một ngày nào đó, trong góc khuất của đời sống, ngồi nghe lại “Dạ khúc cho tình nhân”:

“…Ngày em thắp sao trời

Chờ trăng gió lên khơi

Mà mưa bão tơi bời

Một ngày mưa bão không rơi

Trên đôi vai thanh xuân

Ướp hôn nồng bên gối đắm sayÁnh sao trời theo gió rụng rơi đầy…”

chúng ta mới thấy hết sự da diết, nồng cháy và ngọt ngào của một tình yêu đã đi xa. (theo Trương Văn Khoa)

– Những ca khúc hay nhất của Lê Uyên Phương (1:49’)

https://youtu.be/V0IKZkMJCow

– Những tình khúc bất tử của Lê Uyên Phương (1:10’)

https://youtu.be/Lh2O97JwE_4

– Tuyển tập những bài hát hay nhất của Lê Uyên Phương (2:10’)

https://youtu.be/7AqSMVj6Ggk

– Tiếng hát Lê Uyên (nhạc Trịnh Công Sơn) (0:27’)

https://youtu.be/7G9UAenAWKM

Lê Uyên là một nữ ca sĩ đã thành danh từ khi còn ở trong nước, với tiếng hát đã gắn liền với những ca khúc của Lê Uyên Phương kể từ cuối thập niên 60. Ra đến hải ngoại tên tuổi của Lê Uyên vẫn giữ được một chỗ đứng cao với một giọng hát mạnh cùng một sự diễn đạt đầy tình cảm. Sau trên 30 năm góp mặt trong làng ca nhạc, 9 Le Uyen Phuong 8tuy rằng hiện nay những hoạt động của chị cũng như những ca sĩ cùng thời khác không còn được mạnh mẽ như xưa, nhưng đối với mọi người thì Lê Uyên vẫn là một khuôn mặt lớn.

List : 1/. Tôi sẽ đi thăm- 2/. Huế Sài Gòn Hà Nội – 3/. Hát trên những xác người – 4/. Ngày dài trên quê hương – 5/. Ca dao mẹ – 6/. Người con gái Việt Nam – 7/. Gia tài của mẹ – 8/. Bài ca dành cho những xác người – 9/. Người về bỗng nhớ – 10/. Hãy nhìn lại

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

NHÌN LẠI TỔ NGHIỆP CẢI LƯƠNG

Logo Van nghe

Tr cai luongÔNG T CẢI LƯƠNG LÀ AI ?

– Trúc Giang MN

Ông tổ cải lương là Tống Hữu Định

Theo GS Trần Quang Hải, con của GS Trần Văn Khê, thì ông tổ cải lương tên là Tống Hữu Định. Bút hiệu là Tịnh Trai. Được gọi là “Thầy Phó Mười Hai”. “Thầy Phó” là vì ông giữ chức Phó Tổng vùng đất Vãng (Sau đổi thành tỉnh Vĩnh Long). “Mười Hai” là người con thứ 12 trong gia đình. Tống Hữu Định sinh năm 1896 tại làng Long Châu (Vĩnh Long). Mất năm 1932. là con của vị quan khai quốc công thần Nhà Nguyễn, Tống Phước Hiệp. Ông Định nổi tiếng là hào hoa phong nhã, ăn chơi đứng đầu tỉnh Vĩnh Long. Thời gian 1915-1920, ông thường tổ chức tiệc tùng, cờ bạc, đá gà nòi, ca hát, ngâm thơ, kết bạn rộng rãi.

9 Cai luong 1Một hôm, ông đến Mỹ Tho, ngủ qua đêm để sáng hôm sau đi xe lửa lên Sài Gòn. Ở Mỹ Tho, ông xem hát bóng (Cinéma) bắt đầu bằng màn phụ diễn đờn ca múa hát Việt Nam. Ông ghi nhận. Một lần khác ở Sài Gòn, ông thấy một giàn đờn tài tử. Ông để bụng.

Khi về nhà, ông Định bày ra đờn ca trên bộ ván ngựa. Vừa ca vừa ra bộ. Khoảng đầu năm 1916, trong một buổi hòa nhạc tại nhà ông, bài ca “Tứ Đại Oán” về một cảnh trong Lục Vân Tiên là “Bùi Kiệm thi rớt trở về nhà”. Vừa ca vừa ra bộ. Ba người trong vai là: Bùi Ông do thầy Du đóng vai. Thầy Diệp Minh Ký thủ vai Bùi Kiệm. Cô Ba Định giữ vai Kiều Nguyệt Nga. “Thầy” là thầy chú, chỉ người sang trọng hoặc được kính nể. Ngày thứ bảy hàng tuần đều có tổ chức tiệc tùng, ca nhạc với ba tài tử nói trên có sự tham dự của bạn bè khắp nơi. Phong trào “vừa hát vừa ra bộ” phát triển mạnh ở Miền Tây Nam Bộ.

Ngày 15/11/1918, tuồng Cải Lương được diễn lần đầu tiên tại nhà Thầy Phó Mười Hai. Sau đó diễn ra ở Sa Đéc và Vũng Liêm. Tóm lại, cải lương bắt nguồn từ dòng nhạc “Đờn ca tài tử” mục đích để tiêu khiển, thường được tổ chức phục vụ cho những buổi lễ như : lễ giỗ, lễ cưới, bữa tiệc, tại tư gia.

Cho nên Ông tổ của nghệ thuật cải lương là Tống Hữu Định ở Vĩnh Long.

Vì sao gọi là “cải lương” ? Theo GS Trần Văn Khê: “Cải lương có nghĩa là cải cách, sửa đổi cho tốt hơn”. Đó là sửa đổi hát bội. Sau khi được sửa đổi, cải lương hoàn toàn khác hẳn với hát bội từ hình thức tới nội dung.

Ngày Giỗ Tổ của cải lương : Ngày 12 tháng 8 âm lịch hàng năm được chọn là “Ngày Sân Khấu Việt Nam”, cũng chính là 9 Cai luong 2“Ngày Giỗ Tổ” được ngành sân khấu tổ chức rất long trọng.

Mặt trái của sân khấu cải lương

1). Hát cải lương và hút á phiện : Hồi thập niên 1930, thời Pháp thuộc, tệ đoan xã hội lan tràn, sân khấu cải lương cũng không ngoại lệ. Trên sân khấu, khán giả chỉ thấy những cái đẹp, cái hay và nghệ thuật, nhưng sau bức màn nhung thì không có gì tốt đẹp cả. Không phải chỉ riêng một vài gánh hát, mà hầu như đó là tình trạng chung của những đoàn cải lương.

Phía sau cánh gà, sát bên vách là mâm đèn hút á phiện. Lúc nào cũng có vài người nằm lim dim đi mây về gió. Giới nghệ sĩ cải lương nhiều người bị ghiền á phiện là do đó. Có nhiều anh kép, vừa hát xong vai tuồng thì nhảy vào kéo ro ro. Mấy ông thầy đờn cũng vậy, màn vừa bỏ xuống để thay cảnh, là buông đờn chạy vào phi một cặp rồi trở ra đờn tiếp. Mấy bữa hút nhiều quá, mùi khói khét lẹt bay ra ngoài, khán giả chịu không nổi, người ta phải quạt cho khói bay ra phía sau sân khấu.

2). Cờ bạc : Cờ bạc, á phiện là do các chủ rạp tổ chức. Hút bao nhiêu cũng được miễn là trả đủ tiền cho họ thôi. 9 Cai luong 4Chủ rạp tổ chức cờ bạc để lấy xâu. Chủ rạp nào cũng vậy, mình không mướn thì thôi, bởi vì rạp thì ít mà gánh hát thì nhiều. Hát ở trên, đánh bài ở dưới. Đào kép lãnh lương xong thì họ ngồi sẵn ở đó, thu tiền liền. Chạy đâu cho khỏi.

Thời đó, sân khấu nào cũng vậy. Ở trên treo màn, treo cảnh, còn ở dưới là một khoảng trống lót gạch tàu, làm chỗ ăn chỗ ở cho đào kép. Sòng bài cũng ở đó. Chửi thề, nói tục không ngớt. Một số ít đào kép chánh, tiền nhiều thì họ ở khách sạn hay thuê nhà bên ngoài.

Đào kép nào tới vai thì lên hát, mà chưa tới, thì xáp lại đặt vài tụ. Để nguyên râu ria áo mão dài thường thượt ngồi vào chia bài. Quan Công, Lưu Bị cũng kéo dà dách (còn gọi là xì dách, xì lát). Tiết Nhơn Quý và Tiết Đinh San cũng sát phạt nhau, ăn thua đủ bất kể cha con gì cả. Cãi vã rùm beng. Chửi thề không ngớt.

Một hôm, gánh Năm Châu hát tuồng Lan và Điệp. Vừa hết cảnh Lan cắt đứt dây chuông rồi ngất xỉu. Điệp đau khổ. Người coi hát cảm thương vậy mà màn vừa bỏ xuống để thay cảnh thì cả Lan và Điệp chạy xuống sòng bài kéo dà dách hai lá. Lúc ông hòa thượng đang ca vọng cổ trên sân khấu thì Điệp kéo bài ăn gian sao đó,9 Cai luong 1 sẵn cái dĩa để kéo bài, Lan đập cho Điệp xụi tay.

Chừng ra sân khấu trở lại, theo bài bản, ông hòa thượng đưa áo cà sa cho Điệp mặc vào, nhưng Điệp đưa tay lên không được, hòa thượng phải giúp một tay. Rồi lúc Lan sắp chết, Điệp phải cổi áo cà sa ra thật mau để chạy đến ôm Lan vào lòng, nhưng vì tay bị xụi phải làm bộ xiểng niểng vì quá đau khổ, lùi ra sau cánh gà để nhờ chú tiểu Huệ Thông kéo ra giùm.

Khán giả cho rằng có lẻ kép nầy say rượu nên quên bài bản, hát quờ quạng chớ đâu có biết Lan đập cho Điệp vì kéo bài ăn gian. Vì thế, nên đa số đào kép lúc nào cũng mắc nợ. Hát bữa nào xào bữa nấy. Cũng vì lý do đó mà cô Bảy Phùng Há không cho con gái đến rạp hát.

ÔNG TỔ BẢN VỌNG CỔ LÀ CAO VĂN LẦU

Bản “Dạ Cổ Hoài Lang”

Bản Dạ Cổ Hoài Lang của ông Cao Văn Lầu được coi là nguồn gốc khai sanh ra những bản vọng cổ hiện nay của ngành cải lương. Dạ Cổ Hoài Lang có nghĩa là “Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng”.

1). Nguyên nhân ra đời : Ông Cao Văn Lầu thổ lộ với bạn: “Tôi đặt ra bản nầy bởi vì tôi rất thương vợ là Nguyễn Thị Tấn. Tôi đã ở với vợ suốt ba năm mà không có con. Theo tục lệ xưa “Tam niên vô tự bất thành thê”. Gia đình buộc tôi phải thôi vợ. Trả vợ về cha mẹ ruột, 9 Cai luong 5nhưng tôi không đành. Tôi âm thầm chống lại nghiêm lịnh của gia đình, đem vợ gởi cho một gia đình bên vợ. Trong một thời gian dài phu thê phải chịu cảnh “Đêm đông gối chiếc cô phòng”.

Ông Sáu Lầu mượn tiếng đàn để vơi cơn phiền muộn. Và bản Dạ Cổ Hoài Lang ra đời trong bối cảnh đó. Ông thường xuyên bí mật gặp gỡ vợ, và sau đó bà vợ có thai và hai người sống chính thức với nhau có 7 người con (5 trai, 2 gái)

2). Bản Dạ Cổ Hoài Lang : Bản Dạ Cổ Hoài Lang có 20 câu, mỗi câu trong bài có hai nhịp, gọi là nhịp đôi. Do nhu cầu phát triển, bản vọng cổ có từ 8 nhịp, 16 nhịp và hiện nay là 32 nhịp trong 6 câu. Thành ngữ “Rành sáu câu” bắt nguồn từ vọng cổ.

Nốt nhạc là: hò (la), xự (si), xang (re) xê (mi) cống (fa). Sau khi nói lối rồi xuống chữ “Xề” để bắt đầu ca vọng cổ. Khán giả thường vổ tay khen điệu mùi của chữ xề.

Soạn giả Viễn Châu là ông vua đặt bản vọng cổ. Út Trà Ôn được cho là ông vua ca vọng cổ.

Ông Cao Văn Lầu

Ông Cao Văn Lầu, thường gọi là Sáu Lầu (22-12-1892 – 13-8-1976), là tác giả bản Dạ Cổ Hoài Lang.  Gia đình gốc ở Long An, vì nghèo và bị áp bức nên xuống Bạc Liêu sinh sống. Năm 1908, ông Sáu Lầu mỗi đêm đến học đờn tại nhà thầy Hai Khỵ (Lê Tài Khí). Do yêu thích và siêng học, Cao Văn Lầu thành thạo các loại đờn : đờn kìm, đờn cò, đàn tranh, trống lễ, và trở thành nhạc sĩ nồng cốt trong ban cổ nhạc của thầy Tran Tan Quoc 2Hai Khỵ.

Năm 1912, Sáu Lầu bắt đầu đi hát với Sáu Thìn và cô Phấn với bài Tứ Đại Oán trong vở Bùi Kiệm Thi Rớt Trở Về Nhà.

Giải Thanh Tâm

1). Giải Thanh Tâm : Năm 1960, Ký giả Trần Tấn Quốc, người sáng lập Giải Thanh Tâm, thưởng huy chương vàng cho diễn viên cải lương xuất sắc trong năm. Ông là chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tiếng Dội Miền Nam, tổ chức một cuộc trưng cầu ý kiến độc giả, bỏ phiếu bình chọn những diễn viên xuất sắc nhất của sân khấu cải lương.

Kết quả được công bố như sau :

1/- Đệ nhất danh ca vọng cổ: Út Trà Ôn.

2/- Đệ nhất nữ danh ca vọng cổ: Thanh Hương.

3/- Đệ nhất kép độc, lẳng: Hoàng Giang.

4/- Đệ nhất đào độc nữ: Như Ngọc.

9 Cai luong 62). Những biệt danh của đào kép cải lương : Vua vọng cổ: Út Trà Ôn. Nữ vương sầu mộng: Út Bạch Lan. Giọng ca vàng: Hữu Phước. Vua không ngai: Thành Được. Hoàng đế dĩa nhựa: Tấn Tài. Vua vọng cổ hài: Văn Hường. Nữ hoàng sân khấu: Thanh Nga. Giọng hát liêu trai: Mỹ Châu.Tiếng hát nhung lụa: Ngọc Giàu.

KÉP ĐC HOÀNG GIANG

Soạn giả Nguyễn Phương thuật lại câu chuyện về Hoàng Giang như sau. Trong vở Tôn Tẫn-Bàng Quyên, hai nhân vật đều là đệ tử của Quỷ Cốc Tử. Bàng Quyên độc ác, nham hiểm tìm cách hại Tôn Tẫn để đoạt binh thơ.

9 Cai luong 7Lần đó, Hoàng Giang thua bài cháy túi mà còn mắc nợ mấy ngàn đồng. Khi lên sân khấu, Hoàng Giang như kẻ mất hồn, hát xụi lơ như để trả nợ quỷ thần.

Ông bầu Trương Gia Kỳ Sanh của gánh Tiến Hóa đứng sau cánh gà thấy ngứa mắt, hò hét biểu hát cho xôm lên, cho nóng lên. Ông nói: “Bộ thằng Út nó là cha mầy sao mầy không dám đánh nó một bạt tai. Dù nó là tía ruột của mầy, mầy cũng phải đánh. Đánh đi! Đánh thật mạnh cho tao coi”.

Nghe ông bầu chửi, Hoàng Giang nổi sùng, khi nghe Mười Út hét lớn:”Dầu có giết ta, 9 Hoang Giangta cũng không chép binh thơ cho ngươi đâu!”. “Như vậy nhà ngươi phải chết! Phải chết!”. Nói xong Hoàng Giang xáng cho Út Trà Ôn một bạt tai nháng lửa. Mười Út xiểng niểng, ôm mặt chạy ra xa rồi xuống vọng cổ chữ “xề” mùi quá, khán giả vỗ tay như bể rạp.

Ông bầu khen Hoàng Giang: “Hôm nay mầy hát hây lắm”. Út Trà Ôn ôm mặt còn in dấu bàn tay đến xin xé contrat để đi gánh khác. Ông bầu và Hoàng Giang xin lỗi. Hoàng Giang phải quỳ trước bàn thờ tổ, hứa và cam kết không đánh bài nữa.

VAI H TRONG GÁNH CẢI LƯƠNG

Hề Văn Hường

Nội dung vở cải lương nào cũng  mang đầy đủ tính hỷ, nộ, ái, ố để thỏa mãn sở thích của khán giả. 9 Cai luong 3Vai chọc cười khán giả là một trong những vai quan trọng của gánh hát. Gánh nào cũng có đào, kép thủ vai hề cả. Chọc cười thiên hạ không phải là chuyện dễ. Những kép hề trên sân khấu nổi tiếng như Văn Hường, Văn Chung, Kim Quang, Thanh Việt, Thanh Hoài, Tùng Lâm, Xuân Phát, Khả Năng, Phi Thoàn… Nổi bật nhất là hề Văn Hường.

Văn Hường sinh tại xã Long Thạnh Mỹ, quận Thủ Đức được mệnh danh là vua vọng cổ hài vì có lối hát đặc biệt khác người, khó bắt chước được.

Soạn giả Viễn Châu đã viết 100 bản ca riêng cho Văn Hường hát. Các soạn giả Yên Ba, Quy Sắc cũng góp vào gần 100 bài nữa.

Hề râu Thanh Việt

Thanh Việt để hàm râu dê dưới càm nên được gọi là hề râu Thanh Việt. Năm 14 tuổi,9 Cai luong 8 Thanh Việt theo cha dượng là kép Tám Huê theo những gánh nhỏ hát dưới tỉnh. Thanh Việt đóng những vai quân hầu, lính chạy cờ hiệu, đầy tớ theo hầu, nịnh bợ ông chủ…

Vì hát cương nên thầy tuồng nhắc đến đâu thì hát đến đó. Vì không thuộc bài bản nên hát như người cà lăm, thế mà khán giả ở tỉnh lại thích anh hề bất đắc dĩ nầy.

Thanh Việt thành công trong một số vở tuồng, nhưng vì bị Việt Cộng chọi lựu đạn khi hát ở Miễu Quốc Công, tỉnh Vĩnh Long, nên gánh hát tan rả. Đào kép tứ tán.

Năm 1960, tại Đại Nhạc Hội Cù Léc, Tùng Lâm, Xuân Phát, Phi Thoàn, Khả Năng, Thanh Hoài, Thanh Việt được mệnh danh là Lục Hài Tướng.

Một hôm, bà Bầu Thơ của đoàn Thanh Minh-Thanh Nga nhờ Thanh Việt hát thế vai của hề Kim Quang, bị té xe Honda nằm nhà thương Chợ Rẫy. Sau đó, Thanh Việt được ký hợp đồng hát cho đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, chính thức gia nhập ngành cải lương.

QK Tung Lam 2Ngoài cải lương còn tham gia đóng phim với tiền lương cao nhất. Thanh Việt mua nhà ở Phú Nhuận, mua xe hơi mới. Đời sống huy hoàng.

Sau năm Mậu Thân 1968, các nghệ sĩ gia nhập quân đội như : Thành Được, Hùng Cường, Thanh Tú, Diệp Lang, Thanh Việt, Khả Năng, Phi Thoàn…

Sau năm 1975, Khả Năng bị tù 6 năm. Phi Thoàn lách vào ban văn nghệ của Bến xe Xa cảng Miền Tây, và những người khác núp bóng trong các đoàn văn công của nhà nước ở Hậu Giang. Thanh Việt hát cho đoàn văn công Huyện Cầu Ngang. Lãnh 10 đồng mỗi suất hát. Không đủ tiền nuôi vợ con.

Vợ anh dẫn con đi vượt biên. Chết ngoài khơi. Ban ngày anh chọc cho thiên hạ cười, tối về nhớ vợ nhớ con, nhớ hoàn cảnh bi đát của mình nên khóc thầm thâu đêm.

SỰ HỦY DIỆT MÔN CẢI LƯƠNG

Nền nghệ thuật sân khấu cải lương hiện nay đang ngất ngư, dở sống dở chết bởi những lý do như sau. 9 SG Vien Chau 4Trước hết, phim bộ Hồng Kông, Hàn Quốc và cả Việt Nam, đã góp phần tạo ra sự rơi rụng khán giả của cải lương. Kế đến, việc quốc doanh các đoàn cải lương đã góp phần đưa bộ môn nghệ thuật nầy trên đà xuống dốc, đến tự hủy diệt.

Đào kép cải lương trở thành công chức biên chế nhà nước được hưởng lương như công chức, cán bộ. Trước kia đào kép chánh ký hợp đồng tiền lương cao, ngày nay đào kép xuất sắc được phong tặng Nghệ sĩ Ưu Tú, Nghệ sĩ Nhân dân. Xuất sắc hơn nữa thì được kết nạp vào Đảng.

Về nhạc vọng cổ.

Những soạn giả nổi tiếng trước 1975 như Viễn Châu, Nguyễn Phương, Hà Triều, Hoa Phượng, Hoàng Khâm, Quy Sắc… không có người thừa kế. 9 SG Vien Chau 2Tài năng của soạn giả là đặt ra những bản vọng cổ cho các vai trong vở tuồng hát. Như vậy, mỗi vở có hơn một chục bản vọng cổ.

Thế hệ trẻ ngày nay rất ít có người sáng tác vọng cổ và cũng ít có người biết thưởng thức vọng cổ. Những nghệ sĩ cải lương nổi tiếng một thời, nay đã lùi vể quá khứ. Trở thành một kỷ niệm. Vang bóng một thời.

Vài thế hệ sau, những nghệ sĩ sân khấu cải lương, vang bóng một thời, sẽ trở nên hoàn toàn xa lạ mỗi khi được nhắc đến. (theo Trúc Giang – Minnesota ngày 21-6-2016)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo van de

9 Thieu lam 1VÕ SƯ THIẾU LÂM DẠY VÕ

CHO CÁC CÔ GÁI HỞ HANG

Hình ảnh những cô gái mặc trang phục khá… gợi cảm, luyện tập võ thuật với các võ sư đến từ ngôi chùa cổ nổi tiếng của Trung Quốc đã khiến truyền thông và dư luận nước này không khỏi xôn xao. Võ sư Thiếu Lâm Tự dạy võ cho các cô gái mặc… bikini

Một điểm đến du lịch sông nước nằm ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc đã vừa thành lập một đội những nữ “nhân viên cứu hộ” xinh đẹp và gợi cảm, để bao đảm sẵn sàng ung phó mọi bất trắc xảy ra đối với sự an toàn của du khách.

Để trở thành một thành viên trong biệt đội “Nữ thần cứu hộ” làm việc trong khu du lịch sông nước Cổ Long Hiệp nằm ở miền Nam Trung Quốc, các nữ nhân viên nay phải mặc trang phục đồ bơi (trang phục thường ngày khi làm việc của họ) và sẵn sàng “đương đầu” với các võ sư đến từ… Thiếu Lâm Tự. Nếu vượt qua bài kiểm tra này, họ mới được thuê vào làm việc.

Những bức ảnh xuất hiện trên mạng xã hội Trung Quốc cho thấy một đội gồm những cô gái muốn được tham gia vào nhóm “Nữ thần cứu hộ” đang luyện tập những kỹ năng võ thuật cùng nhiều bài tập thể lực khác với các võ sư đến từ Thiếu Lâm Tự.

Hình ảnh những cô gái mặc trang phục khá… gợi cảm, luyện tập với các võ sư đến từ ngôi chùa cổ nổi tiếng của Trung Quốc đã khiến truyền thông và dư luận nước này 9 Thieu lam 2không khỏi xôn xao.

H1: Một cô gái đang luyện tập võ công với một võ sư Thiếu Lâm trước khi trải qua bài thi sát hạch để xem có đủ điều kiện trở thành “Nữ thần cứu hộ” hay không.

H2: Hơn 30 cô gái đã tham gia vào khóa huấn luyện của khu du lịch Cổ Long Hiệp nằm ở miền Nam Trung Quốc. Hình ảnh những cô gái trong trang phục gợi cảm luyện tập võ thuật trên dòng suối với các võ sư Thiếu Lâm đã gây xôn xao dư luận Trung Quốc.

H3: Các cô gái này sẽ phải luyện tập võ thuật và những bài tập thể lực dưới sự hướng dẫn của các võ sư. H4: Các cô gái này mặc trang phục đồ bơi trong lúc luyện tập bởi đây cũng chính là trang phục thường ngày trong giờ làm việc của họ nếu được tuyển dụng.

H5: Một bài tập thể lực đối với những cô gái muốn trở thành “Nữ thần cứu hộ”. H6: Những hình ảnh gây xôn xao truyền thông và dư luận Trung Quốc.

9 Thieu lam 3

H7: Một võ sư trẻ được cử đến từ Thiếu Lâm Tự để giúp các cô gái luyện tập võ công trước khi trải qua bài thi sát hạch. H8: Quang cảnh một buổi luyện tập của các thầy trò. H9: Những buổi luyện tập vất vả trước kỳ thi sát hạch.

Thiếu Lâm Tự giờ đã bị “thương mại hóa”?

Trong lịch sử tồn tại của Thiếu Lâm Tự, trong hơn hai thập kỷ trở lại đây, ngôi chùa vốn sản sinh ra môn võ Thiếu Lâm đã dần trở thành một “đế chế võ thuật mang đầy tính thương mại”. Sự chuyển mình này của Thiếu Lâm Tự vốn vẫn luôn gây tranh cãi, người cho rằng đây là việc làm có công, cũng có người cho rằng có tội, chưa thể phân xử rõ ràng.9 Thieu lam 4

Từ lâu, Thiếu Lâm Tự vốn đã trở nên nổi tiếng với người yêu phim võ thuật trên khắp thế giới với những bộ phim làm về các đệ tử Thiếu Lâm, sử dụng bối cảnh Thiếu Lâm Tự, như “Thiếu Lâm ngũ tổ” (1974), “Thiếu Lâm tam thập lục phòng” (1978), “Thiếu Lâm thập tam côn tăng” (1980), “Thiếu Lâm Tự” (1982), “Đội bóng Thiếu Lâm” (2001)…

Giới tu hành và cả dư luận Trung Quốc vốn vẫn luôn tranh cãi về việc ngôi chùa cổ và môn võ Thiếu Lâm đã và đang trở thành “món hàng thương mại”, trong khi đó người tu hành vốn được cho là phải tránh xa “tham, sân, si”.

Tuy vậy, giờ đây, cái tên Thiếu Lâm Tự đã thường xuyên được đặt bên cạnh những chiến dịch PR, quảng cáo, để tăng thêm sức hút cho các sự kiện, thương hiệu.

Thiếu Lâm Tự được xây dựng từ cuối thế kỷ 5, những người trụ trì ngôi chùa này trước đây đều phản đối kịch liệt việc thương mại hóa ngôi chùa và môn võ Thiếu Lâm với niềm tin rằng đây là cách tốt nhất để bảo tồn những giá trị di sản của Thiếu Lâm Tự, cũng như giáo lý của họ. Nhưng giờ đây, điều này đã thay đổi, gây nên nhiều tranh cãi.

Vo hiepGiờ đây, Thiếu Lâm Tự không chỉ nổi tiếng về võ thuật mà còn nổi tiếng là ngôi chùa tham gia đủ loại hình kinh doanh, từ đóng quảng cáo cho tới trình diễn võ thuật trong các tour lưu diễn, mở trường dạy võ thu học phí… Và như trên đây, họ còn sẵn sàng cử võ sư tới tham gia những khóa đào tạo huấn luyện rất thu hút sự quan tâm của dư luận như thế này.

Tất cả những người phản đối hướng đi này đều cho rằng một ngôi chùa thì không nên điều hành theo kiểu một doanh nghiệp, bởi chùa chiền đã được mặc định là nơi chốn của tâm linh, thanh tịnh, tránh xa mọi thị phi, bon chen thường thấy ngoài cuộc đời. Việc nhà sư, chùa chiền cũng tham gia kinh doanh, thu lợi là đi ngược lại quan niệm truyền thống. (theo Bích Ngọc tổng hợp)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

VUA KHÔNG NGAI NGUYỄN TẤN ĐỜI

Logo nhan vat

9 Ng Tan Doi 1NGUYỄN TẤN ĐỜI :

‘VUA’ KHÔNG NGAI

Một tài phiệt của Sài Gòn trước 1975

Không bằng cấp, không kinh nghiệm, nhưng với khả năng kinh doanh thiên phú, ông đã làm cho giới tài phiệt và chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 nhiều phen phải ngả mũ bái phục.

Vua gạch ngói Nam kỳ

Nguyễn Tấn Đời sinh năm 1922 tại làng Bình Hòa, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang). Ông nội Nguyễn Tấn Đời là một trong những người giàu có và tiếng tăm ở làng Bình Hòa thời bấy giờ. Vì vậy, từ nhỏ Nguyễn Tấn Đời được gia đình cho ăn học khá đàng hoàng.

Có một chi tiết thú vị là thời gian ở Long Xuyên, Nguyễn Tấn Đời vừa học vừa lùa bò thuê cho Nguyễn Ngọc Thơ. Khi đó Nguyễn Ngọc Thơ (sau này là Phó Tổng thống dưới thời Ngô Đình Diệm) đang làm quận trưởng Châu Thành, Long Xuyên kiêm luôn lái buôn… trâu bò từ Campuchia về Long Xuyên.

Năm 1945, Nguyễn Tấn Đời lên Sài Gòn theo học bậc cao đẳng tiểu học. Cách mạng Tháng Tám diễn ra, Nguyễn Tấn Đời tham gia lực lượng Việt Minh tại Sài Gòn, sau đó ông trở lại Long Xuyên. Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, Nguyễn Tấn Đời gặp lại Nguyễn Ngọc Thơ lúc này đang là Phó tỉnh trưởng Long Xuyên. Ông ta dọa Nguyễn Tấn Đời rằng ai đã đi theo Việt Minh mà bỏ về sẽ bị Việt Minh lên án xử tử ? Hoang mang trước lời hù dọa, gia đình Nguyễn Tấn Đời cấp tốc gom góp đồ đạc cho ông trốn lên Sài Gòn.

Tại Sài Gòn, không tiền bạc, không người thân thích, hàng ngày Nguyễn Tấn Đời lân la khắp nơi tìm kiếm việc làm, đêm đến thì ngủ ngoài hàng hiên một ngôi nhà ở đường Yên Đổ (nay là Lý Chính Thắng, quận 3). Người chủ nhà thấy thương tình nên không nỡ đuổi đi, thậm chí còn “tặng” ông một chiếc ghế bố. 9 Ng Tan Doi 2Đây là kỷ niệm khó quên trong khoảng thời gian hàn vi của Nguyễn Tấn Đời, cũng chính vì thế mà sau này khi làm ăn khấm khá ông quyết định mua một căn biệt thự trên con đường này để ở.

Lang thang vạ vật ăn bờ ngủ bụi một thời gian Nguyễn Tấn Đời được một người bạn giới thiệu vào làm sổ sách cho một hãng buôn của người Pháp. Nhưng vốn là người không thích ngồi một chỗ, ông bỏ công việc nhàm chán này và chọn nghề môi giới để kiếm cơm. Ban đầu ông giao thiệp với các hãng lớn tại Sài Gòn như Descour Cabaud, Denis Frères, Biderman… với đủ loại mặt hàng, dần dần ông tập trung “chuyên môn” vào hai loại chính là vật liệu xây dựng và vải vóc.

Không ngờ nghề “buôn nước bọt” này đã giúp Nguyễn Tấn Đời giàu lên rất nhanh, trở thành một nhà môi giới có tiếng, đi lại bằng xe hơi sang trọng. Khi có vốn liếng, Nguyễn Tấn Đời quay sang một công việc khác : buôn bán tiền Pháp. Nghề này đòi hỏi phải có vốn lớn và gan cũng lớn vì thời điểm ấy đồng tiền không ổn định, thị trường rất bấp bênh, hên thì giàu to, xui thì… ra tro. Và thất bại đã chọn đúng Nguyễn Tấn Đời.

Năm 1949, ông lỗ trắng tay, đến nỗi phải bán cả xe hơi để trả nợ. Chán nản, ông định quay trở về nghề môi giới để làm lại từ đầu, nhưng rồi ông cảm thấy nghề này có phần hơi ác đức, khó mà vững bền nên quyết định chuyển sang một nghề hoàn toàn mới : mở Hãng gạch ngói Đời Tân.

Thời gian sang Campuchia lùa bò thuê cho Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Tấn Đời đã tìm hiểu và có chút kiến thức về công việc làm gạch ngói, hơn nữa máy móc bên Campuchia nhiều hãng bị dư thừa nên họ bán với giá rất rẻ. 9 Ng Tan Doi 3Nghề môi giới trước đây cũng giúp ông có khá nhiều kinh nghiệm trong việc buôn bán vật liệu xây dựng và biết những thợ người Triều Châu làm gạch ngói rất giỏi. Hội đủ những yếu tố cần thiết, gom góp tiền bạc và đi vay thêm bạn bè, ông lập xưởng sản xuất gạch ngói tại số nhà 321 Bến Bình Đông, Chợ Lớn.

Là một ông chủ hãng nhưng hàng ngày Nguyễn Tấn Đời cứ lóc cóc đạp xe đến từng ngôi nhà đang xây để chào hàng. Thậm chí, lúc giao gạch ngói, ông tự mình leo lên mái nhà căng dây lẩy mực rồi cùng thợ lợp ngói ngon lành. Đến khi lát gạch nền cũng thế, ông xắn tay vào làm thành thạo như một người thợ nhà nghề.

Tuần nào ông cũng tới Tòa Đô chánh Sài Gòn – Chợ Lớn tìm xin địa chỉ những nhà đang xin phép xây dựng để đến tận nơi chào hàng. Ông chịu khó đến nỗi nhà ở Bình Đông, Chợ Lớn, mà cứ sáng sáng đạp xe sang tận trung tâm Sài Gòn giao hàng và thu tiền. Trưa đến thì vào công viên tìm một chiếc ghế đá trống để ngả lưng. Đến xế chiều, ông lại lọc cọc đạp xe về tận Bình Đông.

Với cách làm như thế, chỉ hai năm sau, doanh thu của xưởng gạch ngói Đời Tân vượt lên dẫn đầu thị trường vật liệu xây dựng. Nguyễn Tấn Đời còn sang tận Pháp, đến Guillon Barthelemy để học hỏi công nghệ làm gạch ngói của người Pháp. Từ đó mẫu mã và chất lượng sản phẩm của ông chinh phục được hầu hết khách hàng, nơi nơi đều ưa chuộng. Hãng gạch ngói Đời Tân trở nên nổi tiếng khắp Nam Kỳ lục tỉnh, cung cấp cho thị trường từ Sài Gòn, miền Đông cho đến cả miền Tây Nam Bộ.

Phi thương bất phú

Sau sự thành công của Hãng gạch ngói Đời Tân, Nguyễn Tấn Đời mở rộng việc làm ăn ra đủ loại ngành nghề, nghề nào cũng mang lại lợi nhuận kếch xù. Năm 1952, ông sang Hồng Công tìm thị trường chuyển ngân Sài Gòn – Paris – Hồng Công, đăng ký nhập cảng lưới đánh cá từ Nhật về Hồng Công sau đó từ Hồng Công xin giấy nhập khẩu về Sài Gòn, rồi xuất cảng gạo từ Sài Gòn sang Hồng Công, Singapore…

Chưa hết, Nguyễn Tấn Đời còn sang Pháp lập Hãng Construction Me1talliques để xuất cảng sườn sắt cho quân đội Pháp xây đồn bót…Năm 1953, ông lại mở công ty quảng cáo, cạnh tranh mạnh mẽ với Công ty quảng cáo AIP của người Pháp. 9 Ng Tan Doi 4Ông còn với tay sang lĩnh vực phim ảnh, lập Công ty Cửu Long Film, nhập phim từ Pháp về Việt – Campuchia – Lào rồi làm phụ đề cho thuê. Đến năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết, người Pháp vội vã bán đồn điền để về Pháp, Nguyễn Tấn Đời bung tiền mua lại.

Năm 1955 – 1956, ông sang Campuchia đấu giá hội chợ và hùn vốn mở một công ty nhập khẩu xe đạp và máy móc nông ngư cụ đem về tiêu thụ tại miền Nam… Rồi ông cho nhập máy cày từ Âu – Mỹ về miền Nam bán cho nông dân. Thậm chí ông còn xoay qua hoạt động trong lĩnh vực hải sản, với một loạt những chiếc tàu đông lạnh ngày đêm hoạt động ngoài khơi. Đây là một ngành nghề rất mới mẻ thời bấy giờ, và nó đã đem lại cho Nguyễn Tấn Đời nhiều món lợi khổng lồ.

Vào những năm 1968, 1969, tại miền Nam phế liệu do quân đội Mỹ thải ra từ các căn cứ quân sự rất nhiều, chất cao như núi. Người ta cho đó là những đống rác bình thường nhưng Nguyễn Tấn Đời nhìn thấy vàng trong các đống rác đó. Ông đấu thầu mua lại toàn bộ với cái giá như cho không ! Và, từ những đống phế liệu đó, ông cho nấu lại lấy đồng làm dây điện với nhãn hiệu Vidico.

Hãng Vidico trước đó bị phá sản do làm ăn thua lỗ, Nguyễn Tấn Đời bỏ vốn mua lại và biến nó từ đống tro tàn thành một hãng dây điện nổi tiếng miền Nam. Sản phẩm chất lượng tốt, lại trích hoa hồng cao cho các đại lý, vì vậy mà chẳng bao lâu dây diện Vidico của Nguyễn Tấn Đời đã lan tràn khắp nơi, trở thành một sản phẩm được tiêu thụ rất mạnh từ Quảng Trị cho đến Cà Mau, cạnh tranh mạnh mẽ, lấn lướt cả hàng ngoại nhập.

Ông “vua” cao ốc miền Nam

Có thể nói Nguyễn Tấn Đời là người có tầm nhìn xa trông rộng, có sự am tường về các lĩnh vực kinh tế và luôn đi trước thời đại. 9 Ng Tan Doi 5Vào những năm đầu thập niên 1950, tại Sài Gòn có rất nhiều biệt thự được người Pháp xây dựng tại quận 3. Những ngôi biệt thự này một phần được cấp cho các quan chức chính quyền, một phần dành cho các nhà đại phú thuê ở. Một số nhà kinh doanh cũng học theo người Pháp, đầu tư xây dựng biệt thự để cho thuê.

Tuy nhiên Nguyễn Tấn Đời nghĩ khác, ông cho rằng chi phí để xây dựng biệt thự quá cao, lại tốn quá nhiều quỹ đất. Chính vì vậy, ông không đi theo lối mòn của người Pháp mà học hỏi con đường kinh doanh của các nước tân tiến Tây phương: đầu tư xây cao ốc. Năm 1954, cao ốc đầu tiên do ông xây dựng được đưa vào sử dụng. Đó là cao ốc Mai Loan 125 phòng tại số 16 Trương Định. Toàn bộ số phòng trên đều được thuê, đa số là những người sống độc thân như nhà văn, nhà báo, ca sĩ, vũ nữ…

Năm 1955, thấy dân Sài Gòn đang sung túc, làm ăn mua bán nhiều, Nguyễn Tấn Đời xây thêm cao ốc Tân Lộc với 5 tầng lầu, 90 phòng ở số 177 – 179 đường Lê Thánh Tôn. Các căn hộ trong cao ốc này rộng rãi và tiện nghi hơn cao ốc Mai Loan, khi khánh thành cũng được thuê hết.

Một thời gian sau, Nguyễn Tấn Đời xây thêm cao ốc thứ ba là cao ốc Victoria ở số 937 đường Trần Hưng Đạo. Cao ốc này được xem là cao nhất và nhiều phòng nhất thời bấy giờ, gồm 240 phòng. Tuy nhiên, sau khi xây xong ông không cho thuê ngay như cao ốc Mai Loan và Tân Lộc mà để đó… chờ sau này người Mỹ thuê ở. Đến năm 1962, ông đầu tư xây cao ốc President ở số 727 đường Trần Hưng Đạo với 1.200 phòng, và ngay tức khắc nó đã được người Mỹ thuê dài hạn 10 năm…

Đến năm 1963, khi thấy Mỹ sắp hất Ngô Đình Diệm để chuẩn bị đưa lính Mỹ vào Việt Nam, Nguyễn Tấn Đời cho xây thêm cao ốc Đức Tân ở số 491 đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) và cao ốc Prince ở số 175 – 177 đường Phạm Ngũ Lão.

9 Ng Tan Doi 6Có thể nói, vào những năm 1960, Nguyễn Tấn Đời là “vua” cao ốc của Sài Gòn. Những tòa cao ốc của ông rất đồ sộ, có cái lên đến 1.655 phòng và tất cả được người Mỹ thuê hết.

Từ tay trắng trở thành tỷ phú, cái tên Nguyễn Tấn Đời được người dân cả miền Nam biết đến. Nhiều người tỏ ra khâm phục, kính trọng, nhưng cũng lắm kẻ ghen ghét ganh tỵ, luôn tìm sơ hở để hãm hại ông. Nhưng với một con người có khả năng thiên phú như Nguyễn Tấn Đời, ông đã vượt qua tất cả, đi lên từ chính bàn tay khối óc của mình.

Thời gian sau, ông nhảy sang kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng với cương vị là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Ngân hàng Tín Nghĩa – một ngân hàng thương mại lớn nhất miền Nam những năm 1970. Ông đã có những cải tổ gây chấn động ngành ngân hàng, “làm mưa làm gió” suốt một thời gian dài, gây ra những làn sóng dai dẳng khen chê đủ kiểu làm tốn không ít giấy mực của giới báo chí Sài Gòn.

Chỉ bốn năm sau, vào năm 1971, TNNH hầu như trùm thiên hạ, lấn lướt hẳn các ngân hàng khác, kể cả ngân hàng Việt Nam Thương Tín. Biểu tượng ông Thần Tài đưa cao tay với xâu tiền điếu trong tay, hầu như quen thuộc với mọi người. Ở tận các hang cùng ngõ hẻm, dân nghèo sở hữu một món tiền nho nhỏ đều có thể có cuốn sổ tiết kiệm “Thần Tài”. Nhưng đùng một cái, tỷ phú Nguyễn Tấn Đời bị bắt ! TNNH bị sụp đổ !

Chuyện gì đã xảy ra cho nhà tỷ phú tiếng tăm này ? Nếu 9 Ng Tan Doi 7theo tin tức đăng tải công khai trên các báo xuất bản tại Saigon vào thời điểm đó, thì Nguyễn Tấn Đời đã phạm vào các tội làm TNNH mất cân đối thu chi và không còn khả năng chi trã cho khách hàng, cá nhân ông Đời đã vi phạm việc huy động vốn và đầu tư kinh doanh… Nhưng theo dư luận bên ngoài, kể cả của những người am tường nghiệp vụ ngân hàng, thì ông Đời đã bị các đối thủ “chơi” một vố thẳng tay, hết đường chống đỡ.

Đó là các tập đoàn tài phiệt đang cạnh tranh với ông, họ thấy cái thế của ông trong hệ thống ngân hàng quá lớn (theo con số được báo chí công bố lúc đó thì tổng số tiền của TNNH lên đến 22 tỷ đồng, số tiền này vào lúc đó rất lớn gần bằng số tiền của tất cả các ngân hàng tư nhân gộp lại) và có khả năng ông ta sẽ bỏ vòi sang địa hạt chính trị. Một câu hỏi khác đã từng được dư luận nêu lên : phải chăng ông Nguyễn Tấn Đời đã bị thế lực của các tướng lĩnh trong quân đội ra tay triệt hạ ? Bởi cạnh tranh với TNNH còn có Kỹ Thương Ngân Hàng – một ngân hàng quân đội – mà đa số vốn là của các tướng lĩnh chóp bu trong quân đội thời đó.Bo tay 1

48 giờ đồng hồ sau, khi chính quyền ra lệnh phong tỏa tất cả TNNH, ông Nguyễn Tấn Đời đã bị bắt tại nhà một người cháu ở đường Phan Liêm. Cuộc thẩm vấn ông Đời diễn ra chóng vánh, gần như đã được sắp xếp sẵn, để rồi tội danh được công bố như đã nói ở trên. Ông Nguyễn Tấn Đời bị tống giam vào khám Chí Hòa, như một tù nhân đặc biệt.

Nguyễn Tấn Đời ở tù cho đến ngày 30/4/75, nghe nói nhân lúc tình hình còn lộn xộn, ông Đời đã thoát ra khỏi khám Chí Hòa, sau đó về Rạch Giá để rồi lên tàu (do người nhà đóng sẵn) rời khỏi Việt Nam, định cư Canada. Tại đây, ông mở một số nhà hàng Nhật và qua đời ở tuổi 70. (theo Sagant Phan – Vũ Thất)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo van de

9 Pax Thien 1PAX THIÊN 

MỘT BƯỚC LÊN TIÊN

VỚI NHÀ “SMITH”

Pax Thiên có tên khai sinh khi ở VN là Phạm Quang Sáng. Là một cậu bé mồ côi cha và bị mẹ bỏ rơi. Những tưởng số phận là quá nghiệt ngã với em nhưng chỉ một chút động tâm của cặp đôi nổi tiếng nhất thế giới, cuộc sống của Pax Thiên đã thay đổi hoàn toàn ! Hãy nhìn lại khoảng thời gian sau 8 năm Pax Thiên được Angelina Jolie và Brad Pitt nhận nuôi từ Việt Nam.

Pax Thiên Jolie-Pitt là một trong ba người con nuôi của gia đình Angelina Jolie – Brad Pitt. Cậu bé chào đời ngày 29/11/2003 ở Sài Gòn và được đặt tên là Phạm Quang Sáng. Từ khi mới sinh ra, Sáng đã gặp bất hạnh khi không có cha và bị mẹ bỏ rơi. Mẹ bé là Phạm Thu Dung, một người nghiện ma túy, cô đã quyết định không nhìn mặt con sau khi sinh và trốn viện khi vẫn còn nợ tiền viện phí. Cha của Sáng là một người đàn ông đã có gia đình riêng và không hề biết về sự tồn tại của Sáng, bởi ngay cả mẹ bé cũng chưa biết mình mang thai Sáng khi chia tay người đàn ông này. Bé Sáng sau khi bị mẹ bỏ rơi đã được đưa về Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi Tam Bình.

Khi mới chào đời, Sáng đã bị suy dinh dưỡng, nặng khoảng 2,1kg, toàn thân bị ghẻ chàm trầm trọng. Trung tâm lo cậu bé bị bệnh truyền nhiễm, nên đã cho đi khám, xét nghiệm máu cẩn thận, nhưng may mắn là bé chỉ bị nhiễm trùng da. Hằng ngày, Sáng được các cô trong trung tâm tẩy trùng và đưa đi khám định kỳ.

9 Pax Thien 2

Sau này, Sáng đã khỏe mạnh hơn, sáng sủa, dễ thương hơn trước. Tuy nhiên, cậu bé khá ít nói, trầm lặng. Các bảo mẫu cho biết, Sáng rất thông minh và thích tìm tòi, nghiên cứu mọi thứ xung quanh một mình.

Suốt một thời gian, trung tâm đã giới thiệu bé cho nhiều người nhưng không ai nhận nuôi bé, một phần vì có những bé khác khỏe mạnh, hoạt bát hơn. Ngày định mệnh của Sáng đến vào năm 2006, khi Angelina Jolie tới thăm trung tâm. Trong khi những đứa trẻ khác quấn quýt cô, thì Sáng lại đứng riêng ở góc phòng, chính điều này làm nữ minh tinh chú ý đến cậu bé.

Tháng 1/2007, Angelina nộp đơn xin nhận con nuôi ở Việt Nam, với yêu cầu là một bé trai 3 – 5 tuổi, không mắc bệnh truyền nhiễm. Khi được cho xem ảnh, nữ diễn viên nhận ra cậu bé từng trốn tránh mình, và lập tức hoàn tất các thủ tục xin nhận nuôi bé Sáng. 9 Pax Thien 3Buổi sáng khi Angelina đến nhận con, bé Sáng đã thét lên, chạy vào góc phòng ngồi khóc khi thấy cô cùng hai vệ sĩ cao lớn đứng ở cửa.

Angelina mới bắt đầu từ từ bò đến Sáng để dỗ dành bé, còn Maddox (con trai cả gốc Campuchia của cô) cũng cầm đồ chơi đến vỗ về em. Ban đầu, Sáng rất cảnh giác với Angelina, nhưng với Maddox thì em lại rất thích.

Ít lâu sau khi nhận nuôi Sáng và đặt tên bé là Pax Thiên, Angelina Jolie tiết lộ cái tên Pax là do mẹ cô – bà Marcheline – nghĩ ra. Khi Angelina mang thai cô bé Shiloh, bà Marcheline đã cho cô và Brad Pitt một bản danh sách những cái tên nên đặt cho con, trong đó có Pax, cái tên mang ý nghĩa là “sự bình yên”. Còn tên lót “Thiên” của cậu bé thì có nghĩa là bầu trời, “Pax Thiên” nghĩa là “bầu trời bình yên”.

Brad Pitt và Angelina Jolie lúc bấy giờ chưa kết hôn, và vì ở Việt Nam không cho phép các cặp đôi chưa cưới nhận con nuôi, nên trên giấy tờ, chỉ có Angelina là người nhận nuôi bé. Một năm sau khi đưa Pax về Mỹ, Brad Pitt mới hoàn tất thủ tục nhận nuôi Pax, họ của bé được đổi thành Jolie-Pitt.

9 Pax Thien 4

Giống như chị gái Shiloh, Pax là đứa trẻ khá tinh nghịch. Angelina từng đùa rằng, cặp chị em này khiến cô biết được cảm giác của mẹ cô ngày xưa, khi Angelina còn bé và cũng rất “quậy”. Trong gia đình, Pax cũng là đứa trẻ thường có vẻ căng thẳng nhất khi đối diện với paparazzi, bởi khác với những đứa con khác của “Brangelina”, cậu bé được nhận nuôi khi đã được 3 tuổi rưỡi, vì thế Pax là đứa trẻ duy nhất trong nhà không sống cùng bố mẹ nổi tiếng từ lúc là trẻ sơ sinh.

Sau khi sống ở Mỹ được một năm, Pax đã thực sự thích nghi được với cuộc sống là con của người nổi tiếng. Trước những ống kính máy ảnh, cậu bé không còn e dè, sợ hãi như trước. Sau này khi Angelina hạ sinh hai con út là Vivienne và Knox, Pax rất yêu quý hai em, thường vào bếp làm bánh cho các em. Angelina từng thổ lộ, cậu bé là đầu bếp giỏi nhất nhà. Trong đám cưới của cô và Brad Pitt năm ngoái, chính Pax là người tự tay làm bánh cưới cho bố mẹ.

9 Pax Thien 5

Angelina còn đưa Pax về thăm Sài Gòn vào năm 2011. Nữ minh tinh từng chia sẻ rằng cô muốn các con luôn nhớ về nguồn cội của mình. Cô thậm chí thuê gia sư dạy tiếng Việt cho Pax ở nhà, cùng con tìm hiểu về văn hóa của quê hương

Pax giờ đây đã 12 tuổi, chững chạc và khôn lớn hơn trước rất nhiều. Cậu bé cũng thường theo mẹ tham gia công tác xã hội, khi hai mẹ con đến Myanmar thăm các công nhân vào tháng 8 năm nay

9 Pax Thien 6

Tôi đọc nhiều bài báo nói Jolie nhận con nuôi để tìm kiếm thêm sự nổi tiếng, nhưng tôi tin không phải như vậy, Jolie nhận con nuôi là vì cái tâm. Tôi hiểu điều đó và rất kính trọng Jolie vì điều đó. Tôi là một người mẹ không có trách nhiệm”.

H1: Bé Sáng (áo vàng) khi còn ở trung tâm Tam Bình. H2: Angelina Jolie và Brad Pitt lần đầu đến trung tâm Tam Bình năm 2006. H3: Angelina Jolie rời trung tâm Tam Bình.

H4: Ba mẹ con Angelina, Maddox và Pax khi đi chơi công viên vào năm 2007 ở Hoa Kỳ. 9 Pax Thien 7H5: Qua thời gian, Pax đã gắn bó với Angelina, cô trở thành bờ vai vững chắc, một người mẹ thật sự của em.

H6: Brad Pitt bế Pax và Zahara. H7: Cậu bé tinh nghịch khiến Angelina nhớ lại khi cô còn nhỏ. H8: Pax thích thú lên chức anh khi cặp song sinh của Angelina và Brad chào đời.

H9:Pax thường được mẹ dẫn đi dã ngoại, công viên giải trí. H10: Từ một em bé không may mắn, Pax giờ đây là con của hai siêu sao số một thế giới, thường xuất hiện trên thảm đỏ các sự kiện danh giá.  H11: Trong số những “cục cưng” của sao Hollywood, Pax cũng rất được truyền thông thế giới quan tâm và luôn được cánh săn ảnh vây đón khi xuất hiện. H12: Cậu bé còn được chu du khắp nơi trên thế giới với gia đình.

H13: Trên du thuyền, và phi cơ riêng của bố mẹ, Pax được khám phá mọi nơi, từ những thành phố châu Âu, châu Mỹ cho đến Nhật Bản, Hàn Quốc. H14: Những phút giây vô tư đùa giỡn cùng gia đình giúp tuổi thơ của em được trọn vẹn hơn. H15: Cậu bé và chị gái Zahara còn được đóng vai nhỏ trong Vo taybom tấn “Maleficent” của mẹ. H16: Angelina còn đưa Pax về thăm Sài Gòn vào năm 2011.

H17: Pax mặc chiếc áo đặc biệt có dòng chữ “iPhở – made in Vietnam” khi chơi bóng cùng anh trai Maddox. H18: Cậu bé còn là đầu bếp giỏi nhất nhà, tự tay làm bánh cưới cho bố mẹ. H19: Pax giờ đây đã 12 tuổi, chững chạc và khôn lớn, thường theo mẹ tham gia công tác xã hội. H20: Mẹ ruột của Pax bà Phạm Thu Dung.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

SỐ PHẬN CON CỦA NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU

Logo bay gio ke

9 Me chong 1ACHUYỆN MẸ CHỒNG NÀNG DÂU

CỦA NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU

 Tuy là một phụ nữ nết na và rất biết cách ăn ở, trong thời gian sống ở Hoàng thành Huế, bà hoàng hậu cuối cùng của nước Việt cũng gặp phải những vấn đề mẹ chồng nàng dâu như ai.

Hoàng hậu Nam Phương vẫn được đánh giá cao về trí thông minh và phẩm hạnh, là người kết hợp hài hòa nét đẹp truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây. Tuy không phải là nàng dâu mà hoàng tộc muốn lựa chọn nhưng khi vào sống trong kinh thành Huế, bà đã khéo léo giữ phận dâu con. Bà hoàng Tây học đầu tiên và duy nhất này ngoài việc dạy dỗ con cái còn cùng với bộ Lễ lo về lễ tiết, cúng kỵ, thăm hỏi mẹ chồng và các bà nội chồng… Thật sự người ta không tìm ra được điểm nào trong cách hành xử của bà để chê bai, ấy vậy mà xung đột mẹ chồng nàng dâu vẫn ngấm ngầm nảy nở.

Những mâu thuẫn xung quanh “hoàng tử bé”

Những năm đầu tiên trong cuộc hôn nhân với hoàng đế Bảo Đại, Nam Phương cực kỳ hạnh phúc, vợ chồng đi đâu cũng có nhau. Nhà vua thường tự mình lái xe chở vợ đi chơi mỗi tuần, hết Nha Trang lại Đà Lạt, thậm chí cả lên Tây Nguyên săn bắn. 9 Me chong 1BÁi ân đằm thắm nên những đứa con cũng nối nhau ra đời, đầu tiên là hoàng tử Bảo Long, sinh vào đêm 4/1/1936.

Đêm ấy, nghe 7 phát súng thần công, người dân Huế biết hoàng hậu đã hạ sinh một hoàng tử, người sẽ kế vị ngai vàng. Với thái hậu Từ Cung mà nói, đây là một sự kiện không thể vui hơn. Nước Việt thời ấy, ngay cả trong gia đình thường dân, đứa cháu trai cũng còn thuộc quyền của ông bà nội nữa là gia đình vua chúa. Thế nhưng trong gia đình Bảo Đại lại khác, bởi để cưới được Nam Phương, nhà vua đã cam kết để bà giữ đạo Thiên Chúa. Và để hoàng hậu không bị Vatican rút phép thông công vì lấy chồng ngoại đạo, ông cũng chấp nhận điều kiện của Tòa thánh: các con sinh ra sẽ rửa tội theo đạo của mẹ.

Chính vì vậy, hoàng tử Nguyễn Phúc Bảo Long đã chịu phép rửa tội và đặt tên thánh là Phillipe, dĩ nhiên cái lễ “nhạy cảm” này được hoàng hậu tổ chức lặng lẽ và kín đáo. Hoàng tử lớn hơn một chút, bà yêu cầu con trai mỗi tối đến phòng mình đọc kinh cầu nguyện. Hằng tuần, có một linh mục đến làm lễ riêng cho hoàng hậu và bà cũng để con trai tham gia. Với sự “bồi dưỡng” của mẹ, hoàng tử Bảo Long từ khi còn ít tuổi đã rất chăm cầu nguyện và thuộc nhiều kinh.

Là cháu đích tôn của hoàng tộc, dĩ nhiên Bảo Long vẫn được giáo dục theo tinh thần Phật giáo, thế nhưng Nam Phương đã cố gắng tránh cho con trai mình tham dự quá nhiều lễ nghi cổ truyền mang màu sắc đạo Phật.9 Me chong 2 Điều này, bà Từ Cung hẳn cũng cảm nhận được tuy không có cớ bắt bẻ con dâu.

Tuy nhiên, thái hậu khó mà không tức giận khi bà bắt cháu đeo những đạo bùa cầu an, trừ tà ở cổ tay mà mẹ nó nhất quyết phản đối.

Một điều nữa khiến thái hậu Từ Cung khó chịu là hoàng hậu Nam Phương và hoàng tử Bảo Long thường nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp những khi ở nhà, khiến bà không thể hiểu con dâu và cháu nội nói gì. Bà Từ Cung vốn xuất thân không cao sang, học vấn lại khá “khiêm tốn”, nên hẳn không thoải mái, dễ chịu gì trước việc nàng dâu hiểu nhiều biết rộng, tiếng Pháp nói như gió, có thể qua mặt bà trong việc dạy dỗ đứa cháu đích tôn. Bà cũng biết rằng Bảo Long không thích dự các nghi lễ Phật giáo mà bà sùng mộ, chỉ thích các lễ nghi Tây phương và Thiên Chúa giáo. Cậu bé thích nói tiếng Pháp nên giao tiếp nhiều với các quan Tây, các quan trong triều muốn nói chuyện với hoàng tử và hoàng hậu thường hay phải dùng tiếng Pháp.

Là một bà mẹ chồng, một thái hậu, có toàn quyền trong hậu cung nhưng bà Từ Cung lại bất lực nhìn kẻ nối ngôi được giáo dục theo một đường hướng mà bà không mong muốn. 9 Me chong 3Vì thế, tuy không công khai đả kích Nam Phương nhưng tình cảm mẹ chồng nàng dâu không thể nói là tốt đẹp, mâu thuẫn cứ ngấm ngầm phát triển.

Không thích hoàng hậu, thái hậu mở lòng với các “thứ phi”

Thực ra, mối bất hòa giữa thái hậu và hoàng hậu cuối cùng triều Nguyễn cũng khó mà không xảy ra, cho dù hai bên có giỏi kiềm chế tới đâu chăng nữa. Trước hết, hai con người này quá khác nhau. Bà Từ Cung xuất thân nghèo khó, đến mức phải bán con làm hầu gái của một bà chúa, rồi sau đó được lấy sang hầu hạ bên dinh ông hoàng Bửu Đảo (sau là vua Khải Định), rồi vì may mắn có thai với ông chủ mà trở thành mẹ vua. Trong khi đó Nam Phương hoàng hậu sinh ra trong nhung lụa, được học hành đến nơi đến chốn, ngay hôm lấy chồng đã được tấn phong hoàng hậu. Nếu người ta nói bà Từ Cung có chút mặc cảm với con dâu thì cũng chưa hẳn đã là đoán bừa.

Nam Phương là nàng dâu mà bà Từ Cung bị ép phải chấp nhận đã đành. Đã thế, cô dâu bất đắc dĩ này cũng không phải cúi đầu vào cung, mà đã đưa ra cả mớ điều kiện “ngông cuồng” mới chịu lấy hoàng đế: phải được tấn phong hoàng hậu, nhà vua phải giải tán tam cung lục viện, thực hiện chế độ một vợ một chồng, con trai nàng sinh ra phải được phong thái tử.

Thử hỏi từ trước đến nay, có người phụ nữ nào dám ra điều kiện với hoàng đế, mà lại những điều kiện “trời long đất lở” chưa từng có như vậy không ? Vậy mà con trai bà lại vẫn răm rắp chấp nhận. 9 Me chong 4Nghĩ đến mình ngày trước phải chịu bao tủi nhục, ngay cả lúc mang thai còn bị hai bà mẹ chồng (bà Thánh Cung và Tiên Cung, vợ vua Đồng Khánh, mẹ đích và mẹ đẻ của Khải Định) bắt nằm úp bụng xuống một cái hố để đánh đòn, nhằm tra khảo xem cái bào thai ấy có đúng của Khải Định hay không…, thái hậu chắc sẽ có chút chua chát, và sinh ra ác cảm với con dâu.

Đã thế, Nam Phương hoàng hậu vào cung còn mang theo số của hồi môn lớn, riêng tiền mặt mà cậu ruột mừng cưới đã là 1 triệu đồng, trong khi giá một tạ thóc hồi đó chỉ 5 đồng. Nếu tính cả tiền bạc, nữ trang và bất động sản mà bố mẹ đẻ cho thì không biết bao nhiêu mà kể. Hoàng hậu lại chiếm trọn trái tim nhà vua nhờ nhan sắc và sự quyến rũ của mình, cộng thêm sự ủng hộ của người Pháp, nên quyền lực của Nam Phương trong hoàng cung không phải nhỏ.

Hoàng hậu lại có tư tưởng tự do do ảnh hưởng Tây phương, nên không thể nói một câu, làm một việc nhỏ cũng phải đón ý mẹ chồng. 9 Me chong 5Tất cả những yếu tố đó khiến cho thái hậu Từ Cung đối với con dâu mình có thể bằng mặt nhưng khó mà bằng lòng.

Có lẽ vì vậy mà bà Từ Cung rất dễ dàng chấp nhận bà Mộng Điệp, tình nhân của Bảo Đại, coi Mộng Điệp như thứ phi, cho dù chế độ phi tần đã bị chính con trai bà bãi bỏ từ lâu. Ngoài việc Mộng Điệp trên thực tế là người luôn kề cận chăm sóc Bảo Đại, được ông sủng ái, sinh con cho nhà vua, có một điểm nữa khiến thái hậu hài lòng là “thứ phi” này theo đạo Phật. Cho dù đây là người vợ không cưới xin, không hôn thú, nhưng bà vẫn nghiễm nhiên coi Mộng Điệp là dâu, và tin tưởng giao cho việc thờ cúng tổ tiên nhà chồng. Bà Mộng Điệp cũng tâm niệm mình suốt đời là vợ của Bảo Đại nên đã làm việc đó một cách thành tâm, chu đáo nhất.

Tình cảm giữa bà Từ Cung và Mộng Điệp rất tốt đẹp. Thái hậu thậm chí còn ban mũ áo cho “thứ phi” để thay mặt hoàng hậu Nam Phương trong các cuộc cúng tế, mà bà hoàng hậu theo Thiên Chúa giáo không muốn dính vào.

Tình vợ chồng giữa Bảo Đại và Nam Phương chỉ thắm thiết những năm đầu, sau đó ông vua mải chơi và trăng hoa mải miết đuổi theo những bóng hồng khác. Nam Phương lại quá nề nếp và kiêu hãnh để cố gắng quyến rũ, giành giật chồng bằng những chiêu thức mà bà cho là không xứng với địa vị của mình, vì thế vợ chồng mỗi ngày một xa cách, hoàng đế ít khi về với hoàng hậu.

Trong cảnh sống cô đơn ở hoàng cung, sự lạnh lẽo trong quan hệ với mẹ chồng càng khiến cho trái tim Nam Phương thêm tủi buồn,9 Me chong 1C đúng như lời ông thầy bói từng phán về bà thời con gái: bà sẽ bước lên địa vị tôn quý nhất, nhưng cuộc đời lại không có mấy niềm vui.

S PHN NHNG NGƯI CON

CỦA NAM PHƯƠNG HOÀNG HU

Sinh ra đã được định phận sẽ làm vua, nhưng Bảo Long từng chán đời đến mức đăng lính lê dương để tìm cái chết trên chiến trường, và nhiều lần bán báu vật hoàng gia để sống.

Bước vào năm 2014 là tròn đúng 100 năm Ngày sinh Nam Phương Hoàng hậu và cũng tròn 80 năm ngày bà được phong Hoàng hậu của vương triều phong kiến cuối cùng Việt Nam.

Trong lịch sử Việt Nam, Nam Phương là bà hoàng hậu đặc biệt không chỉ vì sau bà, vĩnh viễn không còn người phụ nữ nào được phong danh hiệu này nữa, mà còn vì trong suốt sự tồn tại của vương triều Nguyễn, bà là người phụ nữ duy nhất được phong hậu khi còn sống.

Số phận những người con của Nam Phương hoàng hậu

Nam Phương hoàng hậu sinh với vua Bảo Đại 5 người con: 2 hoàng tử là Bảo Long, Bảo Thắng, 3 công chúa là Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung. Sang Pháp định cư ngay 9 So phan 5từ những ngày thơ ấu nên cuộc đời họ hầu như đều diễn ra trên đất khách. Các hoàng tử, công chúa này hoặc có số phận đáng buồn, hoặc có cuộc sống hết sức bình thường.

– Bảo Long – thái tử bất đắc chí : 7 phát súng thần công đã được bắn khi Bảo Long chào đời vào năm 1936, cả hoàng tộc mừng rỡ đón người sẽ kế vị ngai vàng. 9 năm sau đó, vua cha thoái vị, chế độ phong kiến sụp đổ, nhưng với hy vọng khôi phục vương triều, Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu vẫn chú tâm đào tạo Bảo Long như một ông vua tương lai. Thế nhưng, cuộc đời của vị hoàng tử này lại là một chuỗi tháng năm bất đắc chí.

Khi sang Pháp sống, Bảo Long 11 tuổi. Thái tử được gửi vào trường College des Roches tại Maslacq, thành phố Paul – một trong những ngôi trường nổi tiếng nhất ở Pháp. Mang dòng máu hưởng thụ của cha, lại thêm gia đình có điều kiện, vị hoàng tử trẻ sớm thể hiện sở thích ăn chơi.

9 So phan 1Cậu học sinh này có thể đòi mẹ mua cho một chiếc xe hơi thể thao đời mới rất đắt tiền hiệu Jaguar XK 120 như đòi mua một cái áo. Có điều, chuyện đi lại sau đó của hoàng tử không được như ý khi cậu trở thành mục tiêu của một cuộc bắt cóc. Bảo Long thoát nạn do nhà chức trách ra tay kịp thời, nhưng sau đó hoàng tử 14 tuổi luôn phải ra đường với cả đoàn xe hộ tống của an ninh Pháp. \

Tốt nghiệp trường Roches, thái tử được đưa vào chính ngôi trường đã dạy Bảo Đại “nghề làm vua”, trường Lycée Condorcet, nhưng chưa tốt nhiệp thì vào quân đội Pháp. Vào năm 1953, Bảo Đại phong cho con trai trưởng là Hoàng Thái tử để chuẩn bị cho tương lai, rồi cử con sang London dự lễ đăng quang của nữ hoàng Anh Elizabeth đệ nhị.

18 tuổi, Bảo Long tuân lệnh cha, vào trường võ bị Saint Cyr ở Coetquidan (Pháp). Sau khi tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy, vì thích cưỡi ngựa, chàng thanh niên ghi tên học thêm ngành thiết kỵ của trường Saumur, và rồi xảy ra biến cố: ở quê nhà, 9 So phan 2Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm lật đổ, phải lưu vong, và con trai cả của ông nghiễm nhiên cũng thành kẻ lưu vong, với thứ giấy tờ có giá trị duy nhất là hộ chiếu ngoại giao của công dân Liên hiệp Pháp.

Lại thêm, vì trước đó đăng ký học quân sự ở Pháp với tư cách người của quân đội Việt (để không bị gửi ra mặt trận chiến đấu) nên giờ đây, Bảo Long không được công nhận là sỹ quan của quân đội Pháp.

Những chuyện này dập tắt hy vọng về sự nghiệp của hoàng thái tử. Bảo Long trở nên chán đời, u uất, thu hẹp giao tiếp, rồi. Khi tốt nghiệp, chàng trai nộp đơn tình nguyện vào binh đoàn lê dương của Pháp sang chiến trường Algerie, cho dù vì chuyện này mà bị người Việt và các thành viên hoàng tộc phê phán.

Trong thời gian ở châu Phi, hoàng tử chỉ huy một đội trinh sát và xông pha với một thái độ không tiếc thân, nhờ thế mà được thưởng 2 huy chương, được phong Trung tá danh dự của Trung đoàn Ngự lâm quân và Đại tá danh dự của Vệ binh Hoàng gia. 9 So phan 3Cả đến khi bị thương nên được cho giải ngũ sau gần chục năm chinh chiến, Bảo Long vẫn tỏ ý muốn ở lại để ra trận, có chết cũng chẳng hối tiếc.

Từ giã binh nghiệp, Bảo Long làm việc cho một ngân hàng. Không chỉ bất đắc chí trong sự nghiệp, đường tình ái và hôn nhân của Bảo Long cũng tẻ nhạt, trái ngược với ông bố lừng lẫy tình trường. Thái tử cuối cùng của nhà Nguyễn lấy một quả phụ người Pháp có hai con riêng, làm nghề trang trí nội thất ở Paris. Họ không có đứa con chung nào.

Có lẽ vì tuyệt vọng nên càng về sau, Bảo Long càng ăn chơi, tiêu tán dần số tài sản lớn mà người mẹ giàu có để lại. Thậm chí ông còn nhiều lần bán đấu giá những báu vật hoàng gia được thừa kế từ hoàng hậu Nam Phương, trong đó có thẻ bài, vương miện, kim khánh, kiếm báu, các bức ảnh hiếm, các cổ vật… Và đến cuối đời thì món gì còn lại ông cũng đem bán hết để lấy tiền tiêu xài.

9 So phan 4Cũng vì chuyện báu vật triều Nguyễn mà Bảo Long có mâu thuẫn với cha mình. Năm 1980, Bảo Đại xuất bản cuốn hồi ký “Con rồng An Nam”, hỏi mượn Bảo Long quốc ấn để đóng vào bìa sách (món này vốn do hoàng hậu Nam Phương cất giữ, khi hoàng hậu qua đời thì thái tử được thừa kế). Bảo Long kiên quyết không đồng ý.

Từ hồi cựu hoàng lấy bà đầm Baudot, quan hệ giữa ông và con cái đã xấu đi vì các hoàng tử, công chúa sợ những vật báu gia truyền về tay người nước ngoài. Đến chuyện Bảo Đại mượn quốc ấn không được này, cha và con trai coi như chấm dứt quan hệ, Bảo Long từ đó rất hiếm khi gọi điện thăm hỏi cha.

Bảo Long qua đời lặng lẽ ở Pháp năm 2007, ở tuổi 71, sau cái chết của cha mình 9 So phan 6chẵn 10 năm.

Những người con khác của Nam Phương : Sau cái chết của Bảo Long, hoàng tử Bảo Thắng, con út của hoàng hậu Nam Phương, trở thành người thừa kế danh vị vốn đã không còn giá trị thực tế và những vật còn lại của hoàng tộc. Vị hoàng tử có vóc dáng mập mạp này sinh năm 1943, sang Pháp khi mới hơn 3 tuổi, từng học trường Couvent des Oiseaux ở Pháp (ngôi trường mà hoàng hậu Nam Phương từng học thời con gái).

Hoàng tử Bảo Thắng sống ở Paris, thích vẽ tranh, chơi nhạc và không lập gia đình. Vậy là, cũng như ông anh cả Bảo Long, hoàng tử út không con cái. Vậy là cả hai người con trai chính thức của Bảo Đại đều không sinh được kẻ nối dõi. Bảo Đại,9 So phan 7 hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn, suýt nữa đã tuyệt tự, bởi hai hoàng nam mà “thứ phi” Mộng Điệp sinh ra cho ông đều chết sớm. May còn người con trai do “thứ phi” Phi Ánh sinh ra vào năm 1951 là Bảo Ân (hiện sống ở Mỹ) lại có con trai và cháu đích tôn.

Trong ba con gái của hoàng hậu Nam Phương, công chúa cả Phương Mai sinh năm 1937 là người liên tục gặp bất hạnh trong hôn nhân, lấy mấy đời chồng vẫn không hạnh phúc.

Phương Mai từng lấy một người Pháp gốc Do Thái và sinh được một con trai là Benjamin Phương. Người chồng này sớm bỏ rơi bà, mà nguyên nhân được cho là ông ta thất vọng khi nhận ra vợ mình tuy con vua cháu chúa nhưng chẳng có của nả gì cho ông ta đào mỏ, ngay cả ông bố vợ hoàng đế cũng thường xuyên trong tình trạng không xu dính túi.

– Theo tài liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân thì công chúa Phương Mai từng kết hôn với một phi công, sau đó anh ta để lại một giọt máu rơi cho bà nuôi. Người chồng tiếp theo có gốc gác hoàng tộc Italy, cũng chết sớm và để lại cho bà mấy đứa con.

9 So phan 8– Tốt số nhất là công chúa Phương Liên, sinh năm 1938. Bà lấy một người đàn ông Pháp làm trong ngành ngân hàng tên là Bernard Soulain, hai vợ chồng làm việc ở Hong Kong. Do xa xôi, công chúa ít có dịp về Pháp thăm cha mẹ, nhưng vì thu nhập khá nên thỉnh thoảng Phương Liên có gửi ít tiền cho Bảo Đại tiêu xài.

– Còn công chúa út Phương Dung, sinh năm 1942, sinh sống khá chật vật với đồng lương của một cô giữ trẻ ở Paris. Chuyện chồng con của nàng công chúa kém may mắn này đến nay vẫn là điều bí ẩn.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Logo van de

9 Co giao 1SỰ VĨ ĐẠI CỦA

MỘT CÔ GIÁO LÀM ĐIẾM

https://youtu.be/SSCPTNbcm1U

Trong lễ truy điệu cô giáo trẻ đẹp mới 21 tuổi này, hiệu trưởng giở cuốn nhật ký của cô ra, rơi nước mắt trước mặt học sinh và đọc, cô giáo đã viết thế này : Mỗi lần bán dâm, có thể giúp được một đứa trẻ nghèo thất học; Làm gái bao cho người khách một lần, có thể vực dậy cả một ngôi trường tiểu học hy vọng…

Ân Thái Hà sinh ra trong một ngôi làng nghèo khó của tỉnh Cam Túc, những cô gái trong làng bất kể xấu hay đẹp đều đi xuống phía Nam, tới các thành phố ven biển sầm uất để kiếm việc làm. Mỗi khi tết đến, họ trang điểm ăn mặc đẹp đẽ, túi lớn túi nhỏ về quê.

Nhưng Ân Thái Hà sau khi tốt nghiệp phổ thông đã không làm như thế, rất nhiều người khó hiểu, dù sao thì cô cũng là người xinh đẹp thứ nhất thứ nhì trong thôn. Cùng vì lẽ đó, bố cô thường mắng con mình không làm được gì mở mày mở mặt.

Nghe nói một trường tiểu học gần nhà thiếu giáo viên, cô đã xin hiệu trưởng cho đến dạy học. Vì trình độ khá, qua được kỳ sát hạch của nhà trường, Ân Thái Hà trở thành giáo viên thôn. Lần đầu tiên bước vào lớp học, cô thấy lũ trẻ đang huyên náo, chúng chưa bao giờ nhìn thấy một cô giáo xinh đẹp như thế.

Nói là lớp học cho sang, chứ chẳng qua chỉ là một mái lá che được gió mưa mà thôi, tường bằng cây, bàn học bằng đá, bục giảng đắp bằng gạch, thứ đắt tiền nhất là tấm bảng đen, được xẻ ra từ đá, mài nhẵn rồi quét sơn đen lên. Phấn cũng không đủ dùng. Và trong hoàn cảnh đó, cô giáo Ân Thái Hà dạy lớp học trò học hết mấy nghìn chữ Hán, theo đó là những câu chuyện kể làm người.

9 Co giao 2Một đêm gió bão lớn, gió đã thổi bay mái lớp học, tấm bảng đen cũng bị xô đổ. Ngày hôm sau đến lớp, cả cô và trò đều không biết làm thế nào. Thầy hiệu trưởng đi lên huyện, tìm Trưởng phòng giáo dục, kết quả là tay không đi về. Buổi tối về đến nơi ông kể với Ân Thái Hà, Trưởng phòng giáo dục bảo cô Hà lên đây thì sẽ cho tiền.

Chưa từng bao giờ đi xa khỏi quê, cũng chưa từng tiếp xúc gặp gỡ ai có chức có quyền, nhưng Ân Thái Hà quyết tâm đi mười mấy cây số về huyện. Trưởng phòng giáo dục huyện ở trong phòng làm việc rất hiện đại, tường treo cả tranh gấm, bàn làm việc là thứ gỗ đen ửng hồng, có thể soi bóng như gương, bên trên dựng một lá quốc kỳ Trung Quốc nho nhỏ, ghế ngồi là ghế da, bóng lên. Còn bóng hơn cả cái trán hói của Trưởng phòng.

Chiều tối, Trưởng phòng kéo tay cô giáo Hà sang phòng bên, nói sang đây lấy tiền. Và Ân Thái Hà đã mất đi đời con gái ở căn phòng đó. Tối hôm đó Ân Thái Hà băng đường về nhà. Ngày hôm sau, người dân trong thôn kéo đến lợp lại trường, mua tạm vài thứ vật liệu tạm bợ dựng lại. Nhưng suốt hai ngày mưa gió, vẫn chưa thể dạy học được. Cô giáo hứa với lũ trẻ, chỉ sau vài hôm, Phòng giáo dục sẽ cho người đến xây trường. Nhưng sau đó nửa năm không hề có ai xuống, và hiệu trưởng đi lên huyện cũng không lấy được đồng nào.

9 Co giao 3Khi nhận ra mong chờ của lũ trẻ trở thành bong bóng, Ân Thái Hà đứng trước gương tự vấn mình vì sao đã hy sinh vô ích bản thân mình. Cô biết những cô gái thời thượng về làng, ở những thành phố kia họ làm cái nghề gì, nhưng về làng vẫn cứ hơn người. Hôm sau, Ân Thái Hà thay đồ, tạm biệt hiệu trưởng, tạm biệt bố mẹ, lớp học rách nát, ngắt một bông hoa tầm ma cài lên tóc rồi lên đường ra thành phố.

Khi cô đi, bố cô thì cười còn ông hiệu trưởng thì khóc. Nơi đặt chân đầu tiên của Ân Thái Hà là một tiệm cắt tóc. Sau khi tiếp người khách đầu tiên, Ân Thái Hà ghi vào nhật ký: Trưởng phòng giáo dục còn thua một người khách mua dâm !

Ân Thái Hà là cô gái dè sẻn chi tiêu nhất trong tất cả những chị em ở đó. Ít quần áo trang sức nhất, cô lại thích cài một bông tầm ma lên tóc, vậy mà Ân Thái Hà lại “đắt khách” nhất trong số mọi người. Chỉ một thời gian “cướp cơm” các cô khác như thế, Ân Thái Hà bị các cô kiếm cớ đánh cho thâm tím mặt mày, đành phải bỏ đi nơi khác.

Cứ như thế, Ân Thái Hà lần lượt dời từ tiệm này sang quán khác. Tiền dành dụm của Ân Thái Hà gửi qua bưu điện về ngôi trường ở quê mà không gửi cho gia đình. Người nhận tiền là hiệu trưởng, theo lời dặn của Thái Hà, hiệu trưởng dùng tiền cho nhà trường. Khi có người hỏi tiền từ đâu ra để sửa sang trường lớp, hiệu trưởng thường nói, 9 Co giao 4có mạnh thường quân quyên góp cho trẻ em trong vùng.

Nhưng cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Qua bưu điện tiết lộ, rồi mọi người cũng biết tiền đó của Ân Thái Hà. Báo chí địa phương muốn tìm cách phỏng vấn cô giáo Ân, nhưng cô luôn gửi lời từ chối, vì cô đang làm cái nghề bán phấn buôn hương.

Tháng đầu tiên, tiền để mua bảng đen bằng gỗ và lợp mái lớp học. Tháng thứ hai, sắm một ít bàn gỗ và ghế gỗ. Tháng thứ ba mua sách giáo khoa, tháng thứ tư mua khăn quàng đỏ cho tất cả các em đội viên trong trường. Tháng thứ năm, không còn một em nào phải đi chân đất đến lớp.

Tháng thứ sáu, Ân Thái Hà về thăm trường. Tất cả lũ trẻ đều ồ lên chào đón khi cô giáo xuất hiện. Nhìn thấy lũ trẻ cười mà cô thì khóc. Tháng thứ 6,7,8 trôi qua, trường có thêm những đồ mới. Tháng thứ 11, khi cột cờ được dựng lên ở sân trường, lũ trẻ có thể làm lễ chào cờ thì Ân Thái Hà mang thai, cô phải đi nạo thai.

Chu nhat buon 4Nạo thai xong, cô đi làm gái bao cho một người buôn bất động sản. Không ngờ chỉ trong vòng nửa năm, giá đất ở Thâm Quyến có biến động, ông này phá sản và không để lại cho cô một đồng nào.

Lúc này Ân Thái Hà đã quá mỏi mệt và rất muốn quay về nhà. Nhưng mơ ước chưa hoàn thành, cô muốn cả ngôi trường được xây bằng gạch và muốn mua 2 máy tính cho nhà trường. Vì thế, cô tìm ông bồ cầu cứu. Ông bồ nói, không cho cô gì cả, nhưng có thể giới thiệu cho Ân Thái Hà một mối hời. Đó là một người đàn ông ngoại quốc, trả bằng đô la. Thật đáng tiếc, trong lần “giao dịch” này, Ân Thái Hà bị ba người ngoại quốc cưỡng bức đến chết. Khi đó cô vừa tròn 21 tuổi.

Cô giáo chết khi chưa xây được ngôi trường bằng gạch và cũng chưa mua được máy tính cho học sinh.

Một cô gái điếm chết thì cũng không phải một tin đáng chú ý, trời Thẩm Quyến thì vẫn trong xanh, xe cộ vẫn nhộn nhịp, quan chức vẫn sang trọng, những thương vụ vẫn hoành tráng. Những người hãnh tiến vẫn háo hức bàn về cổ phiếu, giá ô tô, âm nhạc và điện ảnh, tình yêu. Những đôi tình nhân bên đường hôn nhau đấy nhưng có khi chỉ vì một khó chịu nhỏ cũng đòi sống đòi chết trước mắt nhau.

Tr buon 2Không ai để ý một ngôi làng nhỏ ở tỉnh Cam Túc đang tổ chức một lễ truy điệu, chỉ có học sinh và phụ huynh tham gia. Có một tấm ảnh của Ân Thái Hà và cuốn nhật ký mà hiệu trưởng mở ra đọc trước mặt mọi người trong lễ truy điệu: Mỗi lần bán dâm cứu được một trẻ em nghèo thất học, mỗi lần làm gái bao có thể vực dậy một ngôi trường tiểu học hy vọng…

Lần đầu tiên, lá quốc kỳ Trung Quốc đã rủ xuống vì cái chết của một cô gái điếm. (theo Hạ Nam)

Phan Tất Đại chuyển tiếp