NHỮNG NHÀ VĂN – NHÀ THƠ ĐÃ KHUẤT NÚI

40 Năm Hải Ngoại 

NHỮNG NHÀ VĂN – NHÀ THƠ 

ĐÃ KHUẤT NÚI

Chân dung những Nhà Văn – Nhà Thơ Miền Nam đã khuất núi

Thời gian 40 năm chỉ là một khoảnh khắc trong lịch sử, nhưng tuy vậy cũng đủ để cho con người hoàn tất một sự nghiệp hay từ giã cõi đời.

Trong suốt 40 năm qua, kể từ khi miền Nam sụp đổ, nhiều văn nghệ sĩ vốn đã tạo dựng nên một nền Văn Học rực rỡ của miền Nam cũng đã vượt thoát ra đi để mưu tìm một cuộc đời tự do đáng sống. Trên phần đất tự do thuộc nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh những nỗ lực để hội nhập vào xã hội mới, các nhà văn, nhà thơ gốc Việt vẫn tiếp tục miệt mài sáng tạo, duy trì và phát triển Văn Học Miền Nam trên đất tạm dung để có thể coi là đã có một nền văn chương VN hải ngoại.

Và cũng ròng rã trong suốt hơn 40 năm tận tụy với ngòi bút ấy, nhiều người đã lặng lẽ ra đi, bỏ lại phía sau những công trình có thể chưa hoàn tất nhưng cũng đã gieo nhiều nỗi ngậm ngùi, xót xa trong lòng của nhiều người ở lại

Nay nhân dịp kỷ niệm 40 năm hội nhập, mặc dù không thể thu góp đầy đủ danh xưng của tất cả những nhà văn, nhà thơ đã khuất bóng, phần liệt kê dưới đây xin coi như một nén nhang, một bông hồng cho tất cả những nhà văn, nhà thơ đã mất ở hải ngoại mà trong suốt 40 năm qua đã góp phần cung ứng cho đời những tác phẩm quý giá để các thế hệ sau khi nhìn lại không thể không biết tới.

Danh sách dưới đây xếp theo thứ tự thời gian mà các vị đã khuất núi.

THANH NAM (1931-1985)

Nhà văn/nhà thơ Thanh Nam tên Trần Đại Việt, người làng Mỹ Trọng tỉnh Nam Định, thân phụ là Tổng Giám thị trường Cao đẳng Kỹ thuật Hà Nội ngày trước. Năm 1946, mới 15 tuổi, Thanh Nam đã được tờ báo Thiếu Nhi tại Hà Nội đăng thơ và mời cộng tác, và viết một số Sách dành cho tuổi trẻ cho nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh.

Năm 1953 ông vào Sài Gòn, được mời làm Tổng Thư ký báo Thẩm Mỹ, viết truyện ngắn, truyện dài, bình thơ độc giả, phụ trách nhiều mục khác như Phụ nữ Gia Đình, Gỡ Rối Tơ Lòng … và còn ký nhiều bút hiệu như Sông Hương, Cô Hồng Ngọc, Bà Bách Lệ, Tôn nữ Đài Trang, Thợ Cạo. Năm 1960, ông hợp tác với nguyệt san Hiện Đại do Nguyên Sa và Thái Thủy chủ trương, và là Tổng Thư ký tuần báo Nghệ Thuật, cùng viết bài trên tuần báo Kịch Ảnh.

Di tản sang Hoa Kỳ năm 1975, ông tạm cư tại tiểu bang New Jersey rồi năm 1976 định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington. Ở đây ông cộng tác với tờ Đất Mới và một trong vài tờ báo Việt ngữ đầu tiên xuất bản tại Hoa Kỳ . Ông mất vào ngày 2 tháng 6 năm 1985 do chứng ung thư thanh quản.

Tác phẩm đã xuất bản :

Hồng Ngọc (1957) Người Nữ Danh ca (1957) Buồn Ga Nhỏ (1962) Giấc Ngủ Cô Đơn (1963) Còn Một Đêm Nay (1963) Cho Mượn Cuộc Đời, Bầy Ngựa Hoang (1965) Giòng Lệ Thơ Ngây (1965) Những Phố Không Đèn (1965) Mấy Mùa Thương Đau (1968)
Gã Kéo Màn, …. Đất Khách (1983)

VŨ KHẮC KHOAN (1917-1986)

Ông sinh năm 1917 tại Hà Nội, theo học trường Bưởi, nhập học trường Y Khoa nhưng rồi đổi sang Cao đẳng Canh Nông, tốt nghiệp kỹ sư sau chuyển sang văn học và lịch sử, dạy học ở trường trung học Chu Văn An.

Ông là tác giả những vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948), Thành Cát Tư Hãn, và Giao thừa (1949). Hai vở Giao thừa và Thằng Cuội đã được trình diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội vào những năm 1951 và 1952. Bài vở của ông cũng được đăng trên báo Phổ thông và Quan điểm.

Sau năm 1954 ông di cư vào Nam viết cho các báo Tự do, Quan điểm rồi làm chủ nhiệm nguyệt san Vấn đề. Ông là giám đốc kịch nghệ của Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ở Sài Gòn. Ông tỵ nạn sang Mỹ năm 1975, định cư ở Minnesota nơi ông dạy Pháp văn ở đại học Minnesota và thành lập Hội Phật giáo Việt Nam tại đây. Ông mất ngày 12 tháng Chín, 1986.

ĐÀO ĐĂNG VỸ (1908-1997)

Đào Đăng Vỹ là nhà văn, nhà văn hóa, nhà từ điển học rất nổi tiếng ở Huế từ những năm cuối của thập niên 40. Ông cũng là dịch giả có tiếng của Việt Nam. Riêng trong lãnh vực từ điển, ông đã biên soạn những cuốn như Pháp Việt Đại Từ điển (1949-52, 1963, 1970), Việt Pháp Đại Từ điển ( 1956, 1963, 1970), Pháp Việt Từ điển Phổ thông (1954-1956, 1960, 1963, 1965, 1970), Pháp Việt Tiểu Từ điển (1961, 1963, 1966, 1970), Việt Pháp Tiểu Từ điển (1962, 1964, 1966, 1970), Việt Nam Bách Khoa Từ điển (Cuốn I cuốn II, III…; 1959-1963)..

Ông sinh ngày 1 tháng 2 năm 1908 tại Huế, và mất ngày 7/4/1987 tại California – Mỹ.

BÌNH NGUYÊN LỘC (1914-1987)

Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, là một nhà văn lớn, nhà văn hóa trong giai đoạn 1945-1975. Ngoài bút danh Bình Nguyên Lộc, ông còn có các bút hiệu khác như Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Tôn Dzật Huân, Phóng Ngang, Phóng Dọc, Diên Quỳnh…]

Ông đã sáng tác khoảng 50 tiểu thuyết, 1.000 truyện ngắn và bốn quyển sách nghiên cứu, trong đó quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam chỉ được in phần đầu, phần còn lại độ 800 trang viết tay coi như bị thất lạc.

Ông cũng từng viết tiểu thuyết bằng thơ trường thiên như Thơ Ba Mén, Việt sử trường ca, Luận thuyết y học, Thơ thổ ngơi Đồng Nai, Ca dao… Ông còn có công sưu tầm được hàng nghìn câu ca dao kèm theo chú thích về đặc điểm của mỗi câu.

Tháng 10 năm 1985, ông được gia đình bảo lãnh sang Mỹ chữa bệnh. Ngày 7 tháng 3 năm 1987, ông từ trần tại Rancho Cordova, Sacramento, California, vì bệnh cao huyết áp, thọ 74 tuổi

HOÀI ĐIỆP TỬ (1941-1987)

Tên thật Phạm Văn Tập. Sinh năm 1941 – Tân Tỵ – tại Bạc Liêu. Ông dùng nhiều bút hiệu khác nhau như Điệp Yên Hà, Lê Thăng, Kép Độc, Kiều Linh Khanh. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 14 tuổi, chính thức viết văn vào năm 1958 với truyện dài đầu tiên “Mớ tóc gái Phù Sa” viết trên nhật báo Chuông Mai của ông Huỳnh Hoài Lạc.

Lần lượt cộng tác với các nhật báo, tuần san như Chuông Mai của Huỳnh Hoài Lạc, Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai, Dân Đen của Nguyễn Duy Hinh, Tiếng Dân, Tia Sáng của Nguyễn Trung Thành, Tiếng Nói Dân Tộc của Lý Quý Chung, Độc Lập của Hoàng Châu, Tin Sáng của Ngô Công Đức, Thách Đố của Đặng Văn Bé v.v…

– Năm 1966 ông sáng lập Nhà xuất bản Sông Hậu cùng với các thân hữu như Trương Đạm Thủy, Ngô Tỵ, Phan Yến Linh, Phương Triều, Tâm Đạm Dương Trữ La.

– Khi sang Mỹ từ năm 1981, nhà văn Hoài Điệp Tử làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tuần báo Mai (Nam California) từ năm 1982 đến 1987. Ông bị sát hại tại tòa soạn nằm trên đường Westminster (Nam California) lúc 2 giờ 15 sáng chủ nhật ngày 9 tháng 8 năm 1987. Vụ án mạng này đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Các tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam : – Vũng Lầy (1964) – Trái Cấm – Tuổi Tình Yêu, nhà xuất bản Sống Mới phát hành, 1965. – 16 Phiên Buồn (1966) – Lửa Đạn Về Thành – Tình Biển (1968) – Đỉnh Núi Sương Mù – Còn Xanh Kỷ Niệm (1969) – Bến Đục – Giọt Máu Cho Cánh Đồng Mùa Hạ (1970) – Tặng Phẩm Của Đêm – Bụi Thành Phố (1971) – Mặt Trời Mọc Cho Ai – Hành Lang Đen (1972) – Cao Ốc Số 8 (1973) – Sóng Hoang, nhà xuất bản Sông Hậu phát hành (1974)…. và một số thơ cùng truyện ngắn.
Tác phẩm đã xuất bản tại Mỹ : – Truyện dài: Trên Đầu Sóng, nhà xuất bản Hải Ngoại phát hành, 1982.

NGUYỄN TẤT NHIÊN (1952-1992)

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30-5-1952 tại xã Bình Trước, quận Đức Tu, tỉnh Biên Hoà..

Ông là một thi sĩ bẩm sinh, tài hoa, suốt đời cuồng nhiệt, đam mê với thơ, đặc biệt là thơ tình. Biết làm thơ từ rất sớm : Mới 14 tuổi (1966,) đã có tập thơ đầu tay“Nàng Thơ Trong Mắt” và hai năm sau, 16 tuổi (1968,) viết tiếp tập thơ“Dấu Mưa Qua Đất” (cả hai tập thơ nầy đều ký bút danh Hoài Thi Yên Thi).

Năm 1970, ông tự ấn hành tập thơ“Thiên Tai,”lần đầu tiên lấy bút danh Nguyễn Tất Nhiên. Năm 1978, ông vượt biên và định cư tại Pháp. Tại đây, nhà xuất bản Sud-Asie đã ấn hành tập“Thơ Nguyễn Tất Nhiên” gồm những bài thơ sáng tác từ 1970 – 1980. Sau đó, ông sang Hoa Kỳ, định cư tại Nam California, tiếp tục sáng tác thơ, nhạc, cho ấn hành các tập thơ “Chuông Mơ” (NXB Văn Nghệ,1987,) “Tâm Dung” (NXB Người Việt, 1989,) “Minh Khúc” (1990, đã hoàn tất bản thảo, phổ biến hạn chế.) Ông mất ngày 3-8-1992 tại California.

DUYÊN ANH (1935-1997)

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ.. Ông sinh ngày 16 tháng 8 năm 1935 tỉnh Thái Bình.

Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi ta, dạy sáo.

Năm 1960, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy…. viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt.

Sau đó ông trở thành một ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như : Xây Dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc… ông cũng viết nhiều truyện ngắn và truyện dài cho thiếu nhi.

Năm 1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo (tháng 4, 1976). Sau khi ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11 năm 1981 ôngvượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như Đồi FanTa, Một Người Nga ở Sài Gòn. Thời gian này, ông cũng có viết thơ và soạn nhạc. Ngày 6 tháng 2 năm 1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp.

NGUYÊN SA (1932-1998)

Nguyên Sa sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932, tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng từ thập niên 1950 với những tác phẩm như“Áo lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không em”, “Tuổi mười ba”, “Tháng sáu trời mưa”, v.v.
Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại (Mặc Lâm –RFA).

Ông đi Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước. Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời. Ông mất ngày 18 tháng 4 năm 1998.

MAI THẢO (1927-1998)

Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý, bút hiệu khác: Nguyễn Đăng, ông sinh ngày 8/6/1927 tại huyện Hải-hậu, tỉnh Nam-định. Thuở nhỏ học trường làng, trung học lên Nam-định rồi Hà-nội (học trường Đỗ Hữu Vị, sau là Chu Văn An). Năm 1945, theo trường sơ tán lên Hưng-yên. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1946, gia đình từ Hà-nội tản cư về quê chợ Cồn, từ đó Mai Thảo rời nhà vào Thanh-hóa theo kháng chiến, viết báo, tham gia các đoàn văn nghệ đi khắp nơi từ Liên-khu-ba, Liên-khu-tư đến chiến khu Việt-bắc. 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến vào thành, đi buôn. 1954, di cư vào Nam. Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Người Việt. Chủ trương báo Sáng Tạo (1956), Nghệ Thuật (1965) và từ 1974, trông nom báo Văn. Tham gia chương trình văn học nghệ thuật của các đài phát thanh tại Sài-gòn từ 1960 đến 1975. Ngày 4/12/1977, Mai Thảo vượt biển. và định cư ở Hoa-kỳ. Ít lâu sau ông cộng tác với tờ Đất Mới của Thanh Nam và một số báo khác tại hải ngoại. Tháng 7/1982 ông tái bản tạp chí Văn, làm chủ biên đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho Nguyễn Xuân Hoàng; hai năm sau ông mất tại Santa Ana, California ngày 10/1/1998.

Tác phẩm Mai Thảo đã xuất bản:

– Đoản thiên Đêm giã từ Hà Nội (Người Việt, 1955)Tháng giêng cỏ non (1956)Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời (Sáng Tạo, 1963)Bày thỏ ngày sinh nhật (Nguyễn Đình Vượng, 1965)Căn nhà vùng nước mặn (An Tiêm, 1966)Đêm lạc đường (Khai Trí, 1967)Dòng sông rực rỡ (Văn Uyển, 1968)Người thầy học cũ (Văn Uyển, 1969)Chuyến tàu trên sông Hồng (Tuổi Ngọc, 1969)

– Tùy bút (1970) – Mưa núi (tập hợp những truyện tuyển trong Đêm giã từ Hà Nội và Tháng giêng cỏ non, Tân Văn, 1970)Ngọn hải đăng mù (Làng Văn, Toronto, 1987)Một đêm thứ bảy (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1988)Hồng Kông ở dưới chân (Xuân Thu, 1989)Chân bài thứ năm (Nam Á,Paris, 1990)Chuyến métro đi từ Belleville (Nam Á, 1990)…

– Truyện dài: Mái tóc dĩ vãng (Tiểu thuyết tuần san, 1963)Cô thích nhạc Brahms? (phóng tác)Khi mùa thu tới (Thái Lai, 1964)Viên đạn đồng chữ nổi (Văn, 1966)Đêm kỳ diệu (?)Cùng đi một đường (1967)Sau khi bão tới (Màn Ảnh, 1968)Tới một tuổi nào (Miền Nam, 1968)Cũng đủ lãng quên đời (Hồng Đức, 1969)Lối đi dưới lá (1969)Mười đêm ngà ngọc (Hoàng Đông Phương, 1969)Thời thượng (Côi Sơn, 1970),Sống chỉ một lần (Nguyễn Đình Vượng, 1970),Hết một tuần trăng (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1970),Sau giờ giới nghiêm (Tủ sách Văn Nghệ Khai phóng, 1970)Trong như hồ thu (Tủ sách văn Nghệ Hiện Đại, 1971)Mang xuống tuyền đài (Tủ sách Văn Nghệ Khai Phóng, 1971

Một ngày của Nhã (1971)Để tưởng nhớ mùi hương (Nguyễn Đình Vượng, 1971)Sóng ngầm (Hoa biển, 1971)Sống như hình bóng (Tiếng Phương Đông, 1972)Hạnh phúc đến về đêm (Nguyễn Đình Vượng, 1972)Một đời còn tưởng nhớ (Hải Vân, 1972)Gần mười bảy tuổi (Nguyễn Đình Vượng, 1972)Chỉ là ảo tưởng (Sống Mới, 1972)Suối độc (Nguyễn Đình Vượng, 1973)Tình yêu màu khói nhạt (Nguyễn Đình Vượng, 1973)Bên lề giấc mộng (Ngày Mới, 1973)Chìm dần vào quên lãng (Tiếng phương Đông, 1973)Cửa trường phía bên ngoài (Đồng Nai, 1973)Ánh lửa cuối đường hầm (Anh Lộc, 1974)Ôm đàn tới giữa đời (Gìn Vàng Giữ Ngọc, 1974)Những người tình tuổi song ngư (Xuân Thu, 1992)…

Thơ: Ta thấy hình ta những miếu đền (Văn Khoa, California, 1989)

Lê Hoàng Nguyễn chuyển tiếp

BẠN BIẾT GÌ VỀ

NHẠC PHẨM HOA BIỂN

CỦA ANH THY

Click vào đường dẫn để xem video nhạc HOA BIỂN của ANH THY :

http://www.youtube.com/watch?v=eENZZWattu4

Sau tháng 4/75, nhạc miền Nam nhanh chóng vượt Bến Hải, tiến chiếm lĩnh vực nghe nhạc tại Hà Nội, Hải Phòng, lan tận ải Nam Quan. Thậm chí nhạc miền Bắc cũng dần dần mất định hướng, đành chịu để nhạc miền Nam giành dân lấn đất.

Đến nay, ba mươi hai năm trôi qua, rõ ràng là Đêm nguyện cầu đã phủ mờ Trường sơn đông Trường sơn tây. Và Tiếng chày trên sóc bam bo đã chìm dần trong Tiếng hát hậu phương âm vang Trên bốn vùng chiến thuật.

Riêng nhạc lính của nhạc sĩ miền Nam Trần Thiện Thanh có cái lạ là sau cuộc đổi đời, không chỉ lấn lướt nhạc lính của tất cả nhạc sĩ miền Bắc mà còn làm thay đổi cả cảm nhận của chính người miền Nam. Trước kia, rất nhiều người coi lời ca Trần Thiện Thanh là cường điệu, là hào nhoáng nhưng khi quê hương sỏi đá biết buồn, những lời đó lại gây nhức nhối tận tâm can.

Tôi cũng không thoát khỏi sự chuyển hướng này mà không chừng còn … sâu đậm hơn. Trước đây, tôi không chỉ cho lời ca Trần Thiện Thanh là đầu môi chót lưỡi mà còn thích nghêu ngao những câu sửa đổi cợt đùa, như “trên ngôi cao chín tầng hoàng hậu đẹp… không giống ai” ! Vậy mà khi từng trải những đêm dài trong tù, dù chỉ với một giọng ca làng nhàng, chỉ với từng tiếng đàn lập dập mà lạ lùng sao chính những lời chót lưỡi đầu môi đó lại thắm thía gợi về những buồn vui đời lính, về những vùng biển mặn xa khơi.

Tôi bắt đầu yêu nhạc Trần Thiện Thanh từ đó. Cho nên khi an cư lạc nghiệp xứ người, tôi đã tìm mua bất cứ băng nhạc, CD và DVD nào có giọng ca hoặc nhạc của Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Một là để thưởng thức trọn vẹn hàng trăm tác phẩm đa dạng của anh, hai là như một lời xin lỗi…

Khi được tin anh đã qua Mỹ 1993, tôi rất vui mừng. Tôi muốn nhìn lại hình ảnh Nhật Trường trên Tiếng Hát Đôi Mươi mà hai mươi năm trước tôi không mấy quan tâm. Quả nhiên, qua cuốn video Holywood Night, tôi đã vô cùng thích thú gặp lại Nhật Trường trong phong thái diễn tả rất đặc thù. Hình ảnh của anh trong bộ quân phục trắng hải quân gợi nhớ hình ảnh của chính tôi ngày nào. Thêm vào đó là bài Hoa Biển mang tôi trở về những kỷ niệm với nhạc sĩ Anh Thy …

Cuối năm 1967, đang chỉ huy toán giang đỉnh hoạt động vùng sông Măng Thít, tôi bất ngờ được lệnh thuyên chuyển về Phòng Tâm lý chiến Bộ tư lệnh Hải quân. Tôi chắc là nhờ “uy tín” mấy bài thơ, mấy truyện ngắn đăng trên tờ nguyệt san “Lướt Sóng” mà được ban biên tập “triệu hồi” tăng cường. Vào trình diện vị trưởng phòng, tôi không giấu vẻ thất vọng khi ông lại giao cho cái chức hoàn toàn ngoài năng khiếu : Trưởng ban văn nghệ Hải quân. Tôi viện lý do không rành đờn ca xướng hát để từ chối. Ông cười, bảo tôi có máu văn nghệ mà được giao cho nguyên ban văn nghệ thì còn đòi hỏi gì !

Ban văn nghệ Hải quân lúc đó có khoảng 20 người, gồm ban tân nhạc và ban kích động nhạc, ban kịch, hai nhân viên chuyên trị cổ nhạc và một ảo thuật gia. Đó là lần đầu tôi thấy “dung nhan” ba nhạc sĩ thành danh là Nguyễn Vũ, Mặc Thế Nhân và Anh Thy. Riêng với Anh Thy, tôi vốn thích các bản Biển Tuyết, Tâm tình Người Lính Thủy, Lời Nguyện Cầu Nửa Đêm nên có ngay cảm tình.

Nguyễn Vũ vóc dáng nhỏ con, chững chạc, ít cười. Mặc Thế Nhân ngang tầm Nguyễn Vũ, nếu không tía lia thì luôn chúm chím. Còn Anh Thy, người cân đối, cao ráo, khuôn mặt điểm vài anh hoa phát tiết, miệng rộng môi dầy, cười hở hai hàm răng đều đặn. Ba nhạc sĩ thành danh nhưng chỉ mình Nguyễn Vũ ôm đàn trên sân khấu, còn Mặc Thế Nhân thì giữ vai kịch sĩ, Anh Thy làm hoạt náo viên. Đó cũng là lần đầu tôi biết mặt ca sĩ kích động Elvis Phương, lúc đó anh biết chỉ mỗi bản tân nhạc Mộng Dưới Hoa mà dân làng xã đều ….ngáp khi anh trình diễn. Còn đỡ hơn là khi anh hát kích động Anh Mỹ họ bỏ ra về. Có lẽ vì vậy mà năm sau anh xin qua Biệt đoàn văn nghệ trung ương.

Ban văn nghệ thường tháp tùng trên một trong hai chiếc y tế hạm, phối hợp thực hiện công tác có tên gọi chung là dân sự vụ. Công tác gồm trình diễn văn nghệ, khám bệnh phát thuốc, phát quà và truyền đơn. Đối tượng là các đơn vị Hải quân, gia đình binh sĩ và dân chúng ở các làng xã vùng xôi đậu, các hải đảo xa khơi… Mỗi chuyến kéo dài từ một đến hai tháng.

Sau chuyến công tác đầu tiên vùng Rạch Giá – Phú Quốc, tôi biết được tính tình và biệt danh của từng người. Như tay trống kích động tên Minh rất vui nhộn, có bộ mặt dài như mặt ngựa nên bạn bè gọi Minh ngựa. Hai tay đờn hiền hậu có cùng tên Đức nên được phân biệt Đức Cống, Đức Cạp. Riêng Anh Thy tuy dáng vẻ hào hoa, lịch lãm nhưng do mang tên thật là Phạm Văn Khổn nên bị anh em âu yếm tặng cho cái biệt danh khó nghe : Khổn Lò ! Dù vậy nhạc sĩ nhà ta lại tỏ ra thích thú.

Thời gian đó Sài Gòn đang lộn xộn với các cuộc đảo chánh, biểu tình nên dù vừa xa nhà cả tháng mới về, chúng tôi vẫn lãnh lệnh cấm trại 50%. Tôi và Anh Thy được chia cùng phiên trực nhật nên có cơ hội gặp nhau nhiều hơn. Một buổi tối, đang ngồi viết một truyện ngắn thì Anh Thy bước đến trước bàn, chân chập lại, tay đưa lên chào, nửa nghiêm nửa đùa. Anh tươi cười mở quyển Lướt Sóng đã cũ, chỉ bài thơ :

– Ông thầy ! Em viết bản nhạc khá lâu mà không đặt ra lời. Gặp cái tựa bài thơ của ông thầy em chịu quá. Xin phép cho em “chôm” cái tựa Hoa Biển để làm tựa cho bản nhạc.

Tôi vồn vã :

– Khỏi cần chôm cái tựa, hân hạnh tặng Anh Thy nguyên bài thơ để phổ nhạc.

Anh Thy đọc một đoạn trong tám đoạn :

“Áo trắng em mang hoa bọt biển. Còn đêm nay nữa, sáng xong rồi. Áo trắng anh mang cho trọn kiếp. Còn em một buổi để rồi thôi” ! Rất tiếc ông thầy, nghe …thảm quá ! Em chỉ thích những gì vui vui…

Hai tuần sau, Anh Thy vừa đàn vừa hát cho tôi nghe lời ca đã hoàn chỉnh. Tôi thích thú với những ý tưởng hòa ái thật khớp với giai điệu nhịp nhàng. Lời bài hát đè bẹp lời bài thơ. Hoa Biển được tiếp nhận nồng nhiệt dù phát hành sau Tết Mậu Thân tang tóc…

Chừng tháng sau, khi được chỉ định làm trưởng trại tiếp cư Phạm Thế Hiển, tôi kéo trọn trung đội này qua bên kia cầu chữ Y để giữ an ninh trật tự… Nhiều tháng sau đó, toàn ban lại khăn gói xuống chiếc y tế hạm, trực chỉ miền Trung, ngược dòng Hương giang đến ủi bãi bên cầu Tràng Tiền và bắt đầu công cuộc cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến cuộc.

Ở Huế trở về, tôi được thăng cấp, thăng chức phó phòng, bàn giao ban văn nghệ cho một sĩ quan tân đáo. Bẵng một thời gian, một buổi sáng, Anh Thy vào văn phòng tặng tôi bản nhạc mới ra lò Lính Mà Em. Anh cho biết đã sáng tác trong những ngày ở Huế. Tôi có dịp hỏi anh học nhạc với ai. Anh Thy tươi cười, nghe cái “air” thì biết là ai rồi. Tôi thú nhận không rành nhạc. Anh lại cười, là Nhật Trường sư phụ !

Ngoài Anh Thy, Mặc Thế Nhân, Nguyễn Vũ cũng thỉnh thoảng tặng tôi các bản nhạc và các dĩa hát mang giọng ca Lệ Thu, Hoàng Oanh, Thanh Tuyền… Tôi cứ áy náy nghĩ đến chuyện phải tặng lại cái gì. Thời may bỗng tới. Buổi chiều đang đọc văn thư, tôi bất ngờ nhận điện thoại từ nhà văn Huỳnh Văn Phú. Chúng tôi mất liên lạc nhau từ sau trung học. Anh đang làm trưởng phòng Tâm lý chiến Bộ Tư Lệnh Sư đoàn Thuỷ quân lục chiến (TQLC) đồn trú cách chỗ tôi làm vài khu phố. Anh rủ đi nhậu ở một quán bên lề đường Phạm Ngũ Lão, tình cờ tôi ngồi cạnh nhà xuất bản Thiên Tứ. Ông Thiên Tứ thấy tôi mang hia đội mão hải quân nên trêu chọc : “Binh chủng nào cũng có truyện viết về binh chủng của họ như Đời Phi Công, Đời Pháo Thủ…, chắc Hải quân có người nhái nên lặn kỹ quá” ! Tôi khích lại : “Nếu ông in thì tôi viết.” Ông Thiên tứ tỉnh queo : “Nếu anh dám viết thì tôi dám in”. “Thật không” ? “Chỉ với một điều kiện : cái tựa phải là Đời Thủy Thủ”.

Tôi thấy cũng dễ… ăn tiền. Cứ dựa vào bốn năm đi tàu từ ngày ra trường, rồi thêm mắm thêm muối là thành truyện dài thỏa mãn điều kiện. Hăng hái, tôi miệt mài viết ba tháng liền nhưng vì ướt át quá nên trở ngại… phối hợp nghệ thuật. Mãi đến giữa năm 1969 tôi mới có sách để “đáp lễ” các nhạc sĩ của tôi. Khi đọc dòng đề tặng Mến tặng nhạc sĩ Anh Thi, anh gãi đầu xin sửa thành Thy. Vài hôm sau, Anh Thy chê : “Truyện viết về sĩ quan mà lại lấy cái tựa Đời Thủy Thủ”. Tôi bào chữa : “Thì quan đi tàu cũng là… thủy thủ” !

Chưa kịp hưởng cái thú chiều chiều dạo qua các nhà sách, sạp sách xem vị thế trình làng của Đời Thủy Thủ, tôi được lệnh tham dự hành quân tái lập quận Năm Căn. Toàn ban văn nghệ với sự tăng cường các chuyên viên tâm lý chiến gồm các nhà văn nhà thơ Võ Hà Anh, Phan Minh Hồng, Tống Minh Phụng, Tô Giang…, chúng tôi đảm trách phần nhiệm chiêu dụ dân chúng trở về quận cũ đang bỏ hoang. Ngày nào như ngày nào, cứ vừa ra khỏi căn nhà nổi trên sông Bồ Đề chừng vài trăm thước là bị tấn công. Tuần nào cũng có tử thương, bị thương nặng nhẹ. VC cũng không chừa cả chiếc y tế hạm có mang biểu tượng hồng thập tự to lớn hai bên hông.

Sau một tháng căng thẳng thần kinh, tôi may mắn trở về không bị sứt mẻ, lại đi nhậu với Huỳnh Văn Phú, lại bị nhà xuất bản khích tướng, rằng nếu tôi dám viết nữa thì ông sẽ dám in nữa. Tôi lại phải bỏ ăn, bỏ chơi, bỏ ngủ nhiều tháng. Nạp xong bản thảo cho Sở phối hợp nghệ thuật thì cũng vừa lúc tôi chia tay ban nhạc để về đơn vị mới vùng biên giới Việt-Miên. Ai cũng bùi ngùi. Riêng Anh Thy cười cười, mong sớm gặp lại ông thầy.

Gần Tết năm 71, lên Sài Gòn nhận sách biếu, tôi ghé Phòng tâm lý chiến ưu tiên gặp họa sĩ Vũ Thái Hòa (Nhiều thông tin trên interrnet cho rằng Anh Thy chính là Trần Thiện Thanh. Một bài viết của Vũ Thái Hòa cho rằng Phạm Văn Khổn không biết đàn và tiếm danh Anh Thy là của Trần Thiện Thanh. Còn Việt Dzũng cho biết Anh Thy soạn Hoa Biển chung với Trần Thiện Thanh) , người phụ trách trình bày tờ Lướt Sóng và vẽ bìa cho các quyển truyện dài của tôi. Kế đến là tìm các nhạc sĩ hải quân. Nhìn tựa truyện Trong Cơn Bão Biển, Anh Thy đùa : “À, truyện về bão, không phải về quan… thủy thủ !” Tôi cười gượng : “Vẫn là truyện quan thủy thủ !”.

Về lại vùng hoạt động, lòng nhủ lòng nhất định phải viết một truyện về lính. Cuối tuần, tôi theo các giang đỉnh đi hành quân tuần tiểu. Một giang đỉnh thường được trang bị bốn nhân viên. Thuyền trưởng thâm niên nhất mang cấp hạ sĩ quan. Đây là một tập hợp các nhân vật lý tưởng cho quyển truyện tương lai. Tôi quan sát nghi nhận sinh hoạt. Tôi nghiền ngẫm nội dung, sắp xếp bố cục. Đầu năm 75, quyển Một Dòng Sông Cho Chiến Đỉnh ra đời. Tôi ghé phòng Tâm lý chiến, hy vọng ban văn nghệ chưa đi trình diễn xa để có dịp khoe “thành tích” với Anh Thy. Nhưng Vũ Thái Hòa lại báo tin Anh Thy đã tử nạn trong một chuyến công tác năm rồi…

Anh Thy để lại mươi bài hát mang niềm vui và hãnh diện cho Hải quân Việt Nam. Riêng nhạc phẩm Hoa Biển được in như một sử liệu trong Tuyển Tập Hải Sử, trang 205, do Tổng Hội Hải Quân Hàng Hải ấn hành năm 2004.… Ngoài những lần gặp lại Nhật Trường Trần Thiện Thanh trên cuốn video Holywood Night, tôi còn có dịp gặp tận mặt trao đổi vài câu khi anh và ca sĩ Mỹ Lan phụ trách phần văn nghệ cho buổi ra mắt sách của nhà văn Phan Nhật Nam tháng 11/1997 tại thủ đô Hoa Kỳ. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã ký tặng tôi CD mới nhất Gọi Tên Anh Là… Lính, và thật tình cờ trong đó lại có bài Hoa Biển tôi ưa thích.

Một hôm nghe tin Nhật Trường tuyên bố giải nghệ, tôi gửi mua ngay cái DVD cuối cùng của anh : Nhật Trường Giã Từ Sân Khấu. Ngày 13 tháng 5 năm 2005, các báo đồng loạt đưa tin Trần Thiện Thanh đã vĩnh viễn ra đi…. Gần một năm sau, gần thủ đô của người Viêt tỵ nạn, Trung tâm Asia tổ chức một đại nhạc hội quy mô trên một sân khấu tráng lệ để vinh danh chàng ca sĩ kiêm nhạc sĩ tài hoa. Tôi muốn về tham dự nhưng ở quá xa. Đành phải chờ DVD 50 Anh Không Chết Đâu Anh phát hành tháng 4/2006.

Từ nhạc bản đầu tiên của DVD 1, tôi đã bắt đầu rơi nước mắt. Tôi say mê thưởng thức từng bài hát qua những giọng ca hàng đầu, qua nghệ thuật hòa âm hiện đại, trong một khung cảnh huy hoàng và trong nỗi xúc động sâu xa. Tới DVD thứ nhì, sau liên khúc Không Bao Giờ Ngăn Cách và Mùa Đông Của Anh, MC Việt Dzũng giới thiệu mục kế tiếp : “Ca khúc Hoa Biển được viết chung với nhạc sĩ Anh Thy, cũng là một Trung uý Hải quân”. Đang tràn ngập xúc động, lời giới thiệu làm tôi tỉnh người. Tôi chưa từng nghe hoặc đọc thấy tác giả Hoa Biển là Trần Thiện Thanh dù là soạn chung với Anh Thy. Trên các tác phẩm tôi được tặng, từ Anh Thy cũng như từ Trần Thiện Thanh, từ các bài viết xưa tới nay đều ghi một tác giả duy nhất là Anh Thy. Tác phẩm này nổi tiếng đến độ nói đến Hoa Biển là người yêu nhạc nghĩ đến Anh Thy hoặc nói đến Anh Thy là thấy Hoa Biển. Thêm một ngạc nhiên nữa, nhạc sĩ Anh Thy không thể là Trung úy Hải quân. Cho đến ngày tôi rời ban văn nghệ năm 1970, Anh Thy còn mang cấp hạ sĩ. Vào năm anh tử nạn 1974, có thể anh được vinh thăng Thượng sĩ.

Trong khi tôi còn đang ngơ ngẩn về tiết lộ tác giả mới của bài Hoa Biển thì một tiết lộ khác, kế tiếp, làm tôi sững sờ. Ở tiết mục ngay sau đó, MC Nam Lộc gợi ý cho nữ ca sĩ Thanh Tuyền đứng bên cạnh, rằng theo mọi người biết thì nhạc phẩm Chuyến Đi Về Sáng là của nhạc sĩ Mạnh Phát nhưng theo gia đình Nhật Trường tiết lộ thì ca khúc này là của Trần Thiện Thanh. MC Nam Lộc yêu cầu Thanh Tuyền, trong tư cách là học trò của nhạc sĩ Mạnh Phát và cũng là bạn thân của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, hãy cho mọi người biết tác giả thực sự của Chuyến Đi Về Sáng. Thanh Tuyền xác nhận chính Trần Thiện Thanh sáng tác bản nhạc này nhưng vì do túng thiếu nên đem bán cho Mạnh Phát. Mạnh Phát góp phần hiệu đính nên tác giả là thực sự là cả hai người.

Hai tiết lộ liên tiếp, bất ngờ khiến tôi bực mình tắt máy và trằn trọc cả đêm. Trước Hoa Biển, Anh Thy đã là một nhạc sĩ nổi tiếng. Lời ca chắc chắn là của Anh Thy. Phần nhạc, rất có thể do Anh Thy sáng tác nhưng nhờ thầy Trần Thiện Thanh duyệt sửa ? Duyệt sửa thì có đáng gì nên “sư phụ” không muốn ghi tên mình vào. Lại nữa, có nên tin chăng sự việc “Trần Thiện Thanh hợp soạn cùng Anh Thy” khi mà ngay cấp bậc của Anh Thy đã được nêu lên không đúng ?

Trường hợp Chuyến Đi Về Sáng. Chuyện riêng giữa hai nhạc sĩ, làm sao Thanh Tuyền biết ? Có đáng tin không ? Sao Trần Thiện Thanh không bán thẳng cho nhà xuất bản mà lại bán cho Mạnh Phát ? Có thể đó là bản nhạc đã bị nhà xuất bản từ chối, nhưng vì đàn anh Mạnh Phát muốn giúp đàn em Trần Thiện Thanh có tiền thang thuốc cho con nên mới mua. Và dành quyền sửa chữa. Dù thế nào, việc đàn anh mua nhạc đàn em và đề riêng tên mình xem ra cũng không mấy tốt đẹp. Trần Thiện Thanh biết vậy nên đã tự trọng, biết ơn và giữ kín trọn đời. Vậy thì Thanh Tuyền lấy tư cách gì mà công khai phổ biến ? Chẳng lẽ Thanh Tuyền không hiểu làm như thế là bêu rêu cả hai nhạc sĩ ?

Việc chọn lựa nhạc để vinh danh Trần Thiện Thanh của Trung tâm Asia cũng lạ lùng. Trần Thiện Thanh nổi tiếng qua cả trăm bản nhạc, đâu cần phải “dựa hơi” hai bản chưa từng mang tên Trần Thiện Thanh. Vinh danh bằng hai bản nhạc “soạn chung” sao bằng hai bản của chính đương sự. DVD 50 chỉ mới sử dụng có 26 bản nhạc. Còn đến 80 bản. Như Mùa Xuân Lá KhôDấu Đạn Thù Trên Tường Vôi Trắng có phần mang nhiều ý nghĩa hơn cả Hoa BiểnChuyến Đi Về Sáng!

Một năm đã trôi qua kể từ ngày phát hành Asia DVD 50 Anh Không Chết Đâu Anh, một quãng thời gian đủ để tránh mọi ngộ nhận. Công trình huy hoàng tráng lệ đã gặt hái thành quả tương xứng. Xúc động của hàng trăm ngàn khán giả cũng đã lắng dần. Tôi thấy đây là lúc cần đặt ra câu hỏi: “Tại sao Trung tâm Asia lại nêu lên sự việc quá xa xưa, chỉ người trong cuộc mới biết, khi mà cả ba tác giả liên hệ đều đã qua đời ?” Những gì do các MC và ca sĩ Thanh Tuyền tiết lộ lại chỉ là những lời nói suông. Đây không thể là vấn đề giải trí, mua vui mà là vấn đề danh dự, đạo đức. Nếu vì mục đích “sự thực” thì hãy trưng bằng cớ… (Thạch Bích theo Vũ Thất)

Lan Hương chuyển tiếp

Advertisements

NGHỀ LÀM BÁO TRƯỚC 1975

Logo bay gio ke

SG Ng Viet 4NGHỀ LÀM BÁO TRƯỚC 1975

– Hồi ký Nguyễn Việt

Khi bước chân vào nghề báo, người yêu nghề phải biết lựa chọn 1 trong 2 cách để tiến thân :

– Thứ nhất : kinh qua các trường lớp chuyên nghiệp để được đào tạo chính quy; nhưng thông thường các trường đại học, trung học chuyên nghiệp chỉ giảng dạy bằng những lý thuyết từ chương, đến khi vào nghề giữa lý thuyết và thực hành lại rất xa rời thực tế. Lý do : vì điều kiện tờ báo, vì mục đích tôn chỉ tờ báo khi xin phép xuất bản, và còn do đồng vốn; cuối cùng là do nhiệm vụ được ban biên tập giao trách nhiệm.

Và bạn là một sinh viên mới ra trường, bạn sẽ không có quyền chọn lựa giữa năng khiếu và sự trưởng thành trong đào tạo; mà nhất định phải chịu sự điều phối từ ban biên tập.

Đây là mấu chốt trong nghề làm báo hay viết báo, khi bạn mới chân ướt chấn ráo vào nghề.

– Thứ nhì : nói như thế, trước khi chọn lựa đi vào nghề này bạn phải có người đỡ đầu, hoặc người hướng dẫn trong nghề nghiệp, và phải đi từng bước vào nghề, đừng vội đi hia bẩy dặm. Những người đỡ đầu ấy, hoặc đứng tuổi hoặc có thâm niên trong nghề,9 Nghe bao 1 thì thật quý.

Kinh nghiệm của người viết khi vào nghề báo, đã phải đứng trước hai sự lựa chọn :

– 1- làm phóng viên (viết báo)

– 2 – làm biên tập viên (làm báo).

Và người viết đã chọn nghề làm biên tập.

– Nghề làm báo có 2 loại, loại chuyên nghiệp và loại không chuyên. Loại chuyên nghiệp có thể làm đủ mọi thể loại sách báo, có thể thay đổi mọi hình thức của tờ báo, thay đổi cả quan điểm lập trường của tờ báo, theo bất cứ yêu cầu nào của chủ báo.

Còn không chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, là chỉ thực hiện theo mẩu mã đã định sẵn (từ nội dung đến hình thức), sẽ không thích nghi theo yêu cầu thị trường, dể gây nhàm chán trong xử lý tin tức.

– Thứ nhất người làm báo và viết báo, phải nắm được tính thời sự của tin tức, biết khai thác đúng lúc không quá sớm hay quá muộn.

– Thứ hai biết nhận xét và phân tích sự việc như một điều tra viên, sau đó mới có phương hướng đi tìm tài liệu.

– Khi điều tra phải hiểu rõ trạng thái tâm lý người mình muốn khai thác, phải có bản lĩnh hỏi đáp với đối tượng và luôn luôn phải chứng tỏ mình là người đang nắm rõ vấn đề.

– Thứ ba khi viết bài, phải viết cô đọng, viết báo không như làm luận văn phải có mở đầu, thân bài và kết luận, hãy vào đề ngay với sự kiện chính trong tin tức, sau đó mới đi vào chi tiết. Như thế bài viết sẽ dẫn dắt người đọc, tạo cảm giác cho người đọc không phải đọc thừa, để tránh gây nhàm chán và choán chỗ trên trang báo (vốn dĩ rất cần nhiều tin tức, mà số trang chỉ có giới hạn)

– Người làm báo biết hướng dẫn phóng viên đi đến nơi đâu để khai thác đề tài. Khi người phóng viên viết xong, phải sửa bài cho đúng đường lối ội dung tôn chỉ của tờ báo (gồm nhiều yếu tố chủ quan và khách quan), cắt tỉa hay thêm thắt cho bài viết ấy thêm sinh động (action) hơn.

Từ nội dung vụ việc, người làm báo sẽ ấn định, bài được đăng với tít (titre) mấy cột báo (báo ngày trước có 8 cột, mỗi cột chiếm 4,5 cm – nay là 5cm

9 Nghe bao 2Thông thường những tin chủ lực trong ngày đều cho lên tít 8 cột từ 1 đến 2 dòng, xuống từ 4 đến 2 cột tùy theo cách trình bày tờ báo. Những tin tức bài vỡ thuộc dạng cần gây chú ý hàng nhì, cho lên tít từ 6 đến 4 cột và nằm nơi phần trên của nửa tờ báo, sau đó là những tít phụ và những tít nhỏ (sous titre) diễn giải nội dung.

Những hàng tít này phải sử dụng câu chữ dễ gây chú ý. (Bởi báo chí, không kể đến tạp chí tuần san, có quá nhiều trên sạp báo, muốn cạnh tranh và có đọc giả, người biên tập phải biết cách thu hút người đọc vào từng tin tức bài vỡ một).

Trong làng báo lúc đó (trước 30/4/1975), có nhiều tờ báo có cách trình bày trang báo (xem hình vẽ dẫn giải) :

– Trình bày theo lối Bắc, là những hàng tít chủ lực không bao giờ đi quá 4 cột, tít chữ cỡ 2cm cao, chữ không chân, không có nhiều tít phụ, và không có phi-lê (filet) bỏ dọc phân theo từng bài viết. Những loạt bài khác tít chữ cũng chỉ cao khoảng 1,2 đến 1,5cm.

Chủ yếu những tờ báo trình bày theo lối Bắc, xuất phát từ lớp người làm báo từ Bắc vào Nam năm 1954, như nhóm báo Chính Luận, Ngôn Luận, Tự Do, sau có nhóm báo Sống, Con Ong… Trong nghề còn gọi là trình bày theo lối Mỹ.

– Trình bày theo lối Nam, lại trái hẳn với lối Bắc, thường trên báo có hàng tít chạy dài 8 cột, loại chữ có chân cao cỡ 4 đến 6 cm, và những tít phụ cũng cao đến 2 cm, kiểu chữ không đồng bộ với tít lớn, có phi-lê gạch dưới cả hai và có từ 1 đến 2 hàng tít nhỏ (sous titre), có phi-lê bổ dọc phân ra từng bài vỡ.

Đây là cung cách làm báo cổ điển được du nhập từ thời Pháp, điển hình như những tờ Thần Chung, Sàigòn Mới, Tiếng Chuông, Lẽ Sống; sau này có Đuốc Nhà Nam, Trắng Đen, Tia Sáng, Thách Đố… Tuy có cải tiến cách trình bày trông đỡ rườm rà, do bỏ bớt những phi-lê gạch dưới hàng tít, nhìn trang báo thấy sáng sủa hơn, hoặc phóng túng đi những hàng tít có hoặc không có chân. Đây là cách trình bày báo theo Pháp khi xưa.

Trong nghề làm báo tối kỵ những cách trình bày (ngày xưa gọi là “mi” nay là “dàn trang”) như :

– Lên xuống thang. – Chữ T. – Suôn đuột.

Là những cách trình bày dễ làm người đọc thấy tờ báo không có thẩm mỹ, và như có một cái gì trái khoáy không hợp với nhãn quan.

Phải nói tờ TĐ trước 1975, là tờ báo được in offset đầu tiên tại miền Nam bấy giờ, vào năm 1971 (kể cả tuần báo, tuần san và tạp chí đang phải in typo với bản chì – mỗi bản chì nếu có nhiều antimoine cũng chỉ in khoảng 5.000 bản, là chữ đã mòn nhoè không đọc được nữa, còn mỗi bản kẽm in trên máy offset có số lượng không dưới 20.000 bản, hình ảnh chữ nghĩa rất rõ ràng dễ đọc). 9 Nghe bao 5Lúc đó anh em họa sĩ vẽ tranh cho thiếu nhi bằng mực tàu, vẽ trên giấy bóng mờ, chụp lên bản kẽm rất đẹp, còn với loại chữ nhỏ – có co chữ 7 đến 8 points – trên báo lúc đó chưa ai dám in thử nghiệm.

Do đang giữ vai trò biên tập kiêm kỹ thuật, người viết đã mạnh dạn cho “vỗ bài” từng nữa trang báo, trên máy in Tasming, hay trên máy in typo khổ 65×100, thay cho giấy in là giấy bóng mờ, vẫn sử dụng mực in nhưng trên trang in đó được phủ lên một lớp bột nhũ màu đen (hoặc bột nhũ vàng), trước là cho mực in không bị nhoè, sau là cho dàn đèn huỳnh quang trong kỹ thuật chụp bản kẽm không lọt ánh sáng.

Thời gian này chưa ai nhập máy in offset rotative (máy in offset tự động), nên in một tờ báo có số lượng ấn hành hàng ngày trên 100.000 bản, phải sử dụng ít nhất là 10 máy in Offset bán tự động (bình quân mỗi giờ chỉ in được từ 4.000 đến 6.000 bản/mặt), và do thời gian in không được kéo dài quá 3 tiếng trước lúc báo phát hành.

Thời gian trước 1975, các báo phát hành vào buổi chiều, các trang trong và trang quảng cáo được in vào buổi sáng, còn trang ngoài thợ sắp chữ làm từ 5 giờ sáng đến 10 giờ 30 phải kết thúc, đến 11 giờ đưa montage, rồi chụp bản kẽm, khoảng 12 giờ báo bắt đầu in để đem nạp bản, 1 giờ trưa báo mới được phép phát hành.

Nhưng việc in ấn phát hành sẽ không quá 3 giờ chiều phải hoàn tất, vì các đơn vị phát hành sẽ không đến nhận báo giao đi nữa. Giờ giấc bị hạn chế và ràng buộc, nên số lượng in càng nhiều càng phải có nhiều máy in ra cho đúng lịch nói trên,

Khu nhà in ngày trước thường tập trung tại đường Phạm Ngũ Lão, Lê Lai và Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi, Q.1), đa số là máy in typo hoặc được trang bị thêm máy offset đặt tay in bìa tập san, tuần san, (sau này ngành in offset chiếm hẳn thị phần, nên các khu vực trên chỉ cho thuê làm tòa soạn báo). Nhà in lớn và hiện đại lúc đó chỉ có Indeo (Nhà máy in Trần Phú ở đường Thi Sách) và Nguyễn Bá Tòng 9 Nghe bao 6(Liksin đường Bùi Thị Xuân, Tôn Thất Tùng), còn lại chỉ thuộc loại vừa và nhỏ đều do tư nhân kinh doanh, còn khu vực in nhà nước không nhận in gia công cho tư nhân.

Khi ngành in offset được tuyệt đại đa số báo chí ra ngày, tuần hay tháng đặt in, bấy giờ các chủ nhà in lại thi nhau nhập máy, như nhà in Nguyễn Tấn Đời (một nghiệp chủ ngân hàng trước khi ngồi tù vì vỡ nợ, cũng ra làm báo – tờ Việt Nam – và lập nhà in), mua về máy in offset rotative in 4 màu 8 trang đặt tại cao ốc Trần Hưng Đạo (gần khu Chợ Quán, Trần Bình Trọng), nhưng máy khai thác không hết công suất, vì tờ Việt Nam in ra không bán được. Đến một nghiệp chủ ngân hàng khác – ông Phạm Sanh – mua máy rotative về in báo mướn, đặt tại đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, sau này Phạm Sanh cũng đỗ nợ, vì buôn gạo cho Tổng Cục Tiếp Tế, nhà in bị trưng thu), nên khi nói về ngành in, thì từ năm 1972 trở đi miền Nam mới có những thiết bị tiên tiến hiện đại…

Làm báo xưa và nay

Ngày trước bạn có một số vốn, dù không có tay nghề vẫn có thể là một chủ báo (xin nhấn mạnh ở dây, chủ báo không đồng nghĩa với chủ nhiệm báo, vì chủ nhiệm báo là pháp nhân được nhà nước cấp giấy phép cho xuất bản báo, còn chủ báo chỉ có trong thực tế do có tiền bỏ ra làm báo, không có tư cách pháp nhân, thông thường nắm vai trò Giám đốc trị sự hoặc kiêm chức hàm chủ bút).

Thời kỳ đó, nhiều chủ nhiệm báo cho thuê manchette (tức tên báo) để người khác kinh doanh, hay hợp tác kinh doanh, trước hết giữ được sự tồn tại của tờ báo, sau là chủ nhiệm có tiền lương hàng tháng, mà không phải suy nghĩ đến việc lời lỗ.

Làm một tờ báo, dù là báo ngày hay báo tuần, đều phải có điều kiện :

– Vốn (Ban trị sự)

– Ban biên tập (biên tập viên và phóng viên, ký giả)

– Địa điểm tòa soạn và nơi in

Khi hội đủ các yếu tố trên, xem như tờ báo đã đi được nữa chặng đường hình thành.

Tiền vốn : Trong tiền vốn bỏ ra, ngoài những khoản tiền ban đầu, như nơi đặt tòa soạn và nhà in, còn phải :

– Tìm ê kíp sắp chữ, mua chữ chì theo số trang được phép xuất bản (nếu tòa soạn và nhà in không ở cùng địa điểm, bắt buộc phải mua chữ chì về đây, do ê-kíp sắp chữ luôn luôn phải ở cùng địa điểm với ban biên tập). Hiện nay báo chí không còn sắp 9 Nghe bao 7chữ chì như ngày trước, vì bài vỡ được đánh máy và dàn trang ngay trên máy vi tính (PC).

– Ban trị sự có nhiệm vụ thu chi tài chính : Chi trả lương, tiền các bản tin và hình ảnh, trả tiền gia công in, mua giấy in. Còn thu, qua các phần nhận quảng cáo và bán báo. (Trong bán báo có phần tiền thu ngay – thường do nhóm bán báo cổ động thanh toán ngay sau khi phát hành – và thu có gối đầu, do các nhà phát hành ấn định, thông thường báo ra hàng ngày bị gối đầu khoảng nữa tháng, báo tuần từ 4 đến 5 số định kỳ).

Vì vậy khi ra 1 tờ báo phải có số vốn lưu động rất lớn, nếu không tờ báo sẽ không thể hoạt động và cạnh tranh, (nếu tờ báo bán chạy, người chủ báo sẽ bớt lo, vì khoản tiền do tư nhân bán báo sẽ thanh toán rất nhanh, còn ngược lại tờ báo sẽ không đủ vốn chịu đựng được vài tháng khi bắt đầu có độc giả thường xuyên).

Ban biên tập :

– Chủ nhiệm, chủ bút (người đưa ra chủ trương đường lối chiến lược của tờ báo) – Nay thông thường do một cơ quan chủ quản nhà nước nào đó chịu trách nhiệm.

– Tổng thu ký – Thư ký tòa soạn : trình bày báo, xem xét nội dung bài vỡ tin tức, chỉ đạo đặc phái viên, phóng viên (gọi tắt là ký giả), đi thu thập tài liệu. Tổng thư ký phần lớn có nhiệm vụ coi tin quốc tế và đường lối chính trị của tờ báo, còn thư ký tòa soạn là trợ lý cho tổng thư ký, xem phần tin quốc nội và xã hội kiêm phụ trách trang trong (là các trang chuyên đề).

– Phụ trách chuyên đề : Thông thường tờ báo ngày có những trang chuyên đề, như Văn hóa nghệ thuật (bao gồm những trang chính : Điện ảnh – Sân khấu – Tân nhạc – Thoại kịch – Cải lương), Phụ nữ Gia đình (bao gồm những nội dung tình yêu, hôn nhân, gia đình và xã hội), Văn nghệ (gồm những mục thơ, truyện ngắn, thiếu niên nhi đồng). Và những tiểu thuyết đăng nhiều kỳ (feuilleton) của các nhà văn.

– Phụ trách kỹ thuật : là người theo dõi bộ phận sắp chữ (nay là bộ phận vi tính), thực hiện cách trình bày dàn trang các chuyên đề đã định, cùng tư duy người phụ trách, làm sao cho tờ báo có những hình thức lôi cuốn người đọc (sắp xếp thêm hình ảnh, tranh vẽ vào bài vỡ v.v…).. Bộ phận kỹ thuật còn theo dõi lúc in ấn, có thẩm quyền cho in hay không, những bản kẽm vừa lên máy, hoặc khi in xảy ra những sự cố kỹ thuật trong ấn loát.

– Ký giả : bao gồm từ 2 đến 3 thành phần chính trong một tờ báo : Đặc phái viên, phóng viên và thông tín viên.

– Đặc phái viên : cũng là ký giả, nhưng được đặc phái trực tiếp điều tra, thu lượm tin tức, có sự giới thiệu từ ban biên tập, hoặc đặc phái tiếp xúc với một nhân vật VIP nào đó, là người có thể đại diện để giải quyết mà không cần xin ý kiến trước từ ban biên tập. Đặc phái viên có lúc được chỉ định đứng đầu 1 tổ điều tra.

– Phóng viên : là ký giả chỉ thực hiện những nhiệm vụ được phân công trước (như phụ trách mảng tin kinh tế, xã hội, thanh niên, phụ nữ, thể thao, văn hóa v.v…), không đủ 9 Nghe bao 3thẩm quyền đại diện cho tờ báo để tiếp xúc với các cơ quan ban ngành xin truy cứu hồ sơ (nếu không có sự giới thiệu từ ban biên tập).

– Thông tín viên hay cộng tác viên : là những người không ăn lương tháng, chỉ ăn lương theo bài vở, tin tức được đăng (hưởng nhuận bút), không phải là người viết chính thức trong tờ báo. Thường những thông tín viên, cộng tác viên họ thường trú tại các tỉnh, thành trong nước và nước ngoài, thu nhận tin tức và quảng cáo – nếu có vụ án lớn, sẽ đề nghị báo cử phóng viên hay đặc phái viên đến cùng thực hiện.

Một loại thông tín viên khác, là những người đứng ra thành lập bản tin riêng, (những bản tin xe cán, đánh ghen, trộm cướp v.v…, in ronéo hay pho to bán cho nhiều tờ báo, nay bán qua mạng Internet – ngày xưa có nhóm Văn Đô, Thanh Huy, Đức Hiền …)

Các báo mua các bản tin này trả tiền tháng, nhưng giá khá rẻ so với lương ký giả. Thông tín viên về hình ảnh khi được báo chọn đăng mới được tính tiền.

– Bộ phận phiên dịch : dịch các bản tin hoặc sách báo Anh, Pháp, Hoa Ngữ cho ban biên tập sử dụng hàng ngày, hoặc những tài liệu đăng trang chuyên đề.

Sự hình thành một ban biên tập gồm những bộ phận nói trên.

Cũng có nhiều tờ báo ít vốn, họ giảm biên chế tối thiểu, trong ban biên tập chỉ có tổng thư ký và thư ký tòa soạn, một vài ký giả đi săn tin, còn lại mua bài hay đặt hàng từ những người dịch, hoặc ký giả báo khác. Vì lượng tin tức từ các bản tin của Thông tấn xã, AP, UPI, Reuteur … và các thông tín viên, cộng tác viên gởi về có khối lượng thông tin khá nhiều, đủ để khai thác trong ngày… Tuy nhiên những tờ báo này không thể có sắc thái riêng biệt, không nhạy bén trước các tin tức, lý do không đủ người đi nhận tin từ các hiện trường đưa về.

Ngày trước làm một tờ báo hàng ngày, người ta cạnh tranh nhau từng tin tức, từng bài viết, chỉ cần hơn đồng nghiệp một vài chi tiết, là có thể tờ báo có số bán vượt hẳn lên.

Bao trang den 2QUẢNG CÁO

Trong nghề, để báo được sống thọ cùng đọc giả, người làm báo chuyên nghiệp phải có những cách kiếm tiền. Như đã trình bày ở những phần trên, đi tìm những tin tức giật gân (scandal), nếu không có phải làm tít tựa thật giật gân để bán báo. Và còn một cách kiếm tiền khác là nhận quảng cáo.

Bạn đừng nghĩ đơn thuần, tờ báo chỉ nhận đăng quảng cáo từ bạn đọc, hay các cty quảng cáo đem đến. Quảng cáo trên báo có nhiều hình thức :

1- Từ bạn đọc (đa số nhờ đăng rao vặt, chúc mừng, cáo phó, cảm tạ)

2- Từ các nhóm tiếp thị, công ty quảng cáo, đưa đăng quảng cáo từ các cửa hàng, công ty, nhà máy, xí nghiệp, các sản phẩm…

3- Những quảng cáo thuộc dạng tin tức, giá đăng báo thường rất cao so với trang chuyên mục, vì nó nằm ngoài quy hoạch.

4- Và những bài cậy đăng (thông thường những bài cậy đăng là thanh minh, đính chính hoặc công bố một vụ việc gì đó).

Nói như thế để người làm báo có những kinh nghiệm về việc, làm thế nào cho tờ báo sống được.

ĐỘC QUYỀN

Cái hay của người làm báo là sự “độc quyền” được cho phép. Ngày trước báo ngày hay báo tuần, đều đăng tiểu thuyết nhiều kỳ, còn gọi là feuilleton (có khi kéo dài cả năm mới chấm dứt). Một tờ báo xuất bản trong ngày có 8 trang bài vở và 4 trang quảng cáo. Trong 8 trang bài, đã có đến 2 trang tiểu thuyết.

Một tờ báo ngày xưa thường có nhiều tiểu thuyết đăng nhiều kỳ, chia ra các thể loại (trong bài là những tác giả tiêu biểu) : xã hội (bấy giờ có các nhà văn như Tùng Long, Dương Hà, Lan Phương), mang tính gợi dục (Lê Xuyên, Trần Đức Lai, Vũ Bình Thư), tình cảm tuổi đôi mươi (Lệ Hằng), thời đại (Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long), võ hiệp, kiếm hiệp kỳ tình (sáng tác hoặc phóng tác, dịch thuật : Từ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn, Từ Khánh Vân, Thanh Lan) v.v…

Nhiều tờ báo ngày trước thường “mua độc quyền” tên nhà văn, như tờ TĐ với nhà văn Trần Đức Lai (tức ký giả Tô Văn) đang nổi tiếng với tiểu thuyết “Cậu Chó”, tờ TS với Vũ Bình Thư qua “Lệnh Xé Xác” v.v… Không báo nào có tên những nhà văn nói trên viết những feuilleton mới… Vì mỗi nhà văn thường viết tiểu thuyết cho nhiều tờ báo.

Nhưng ăn khách nhất là tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, tiểu thuyết tình cảm của Quỳnh Giao, hai nhà văn Trung Hoa một sống tại Hong Kong và một sống tại Đài Loan, được dịch hàng ngày từ báo in tiếng Hoa xuất bản tại Chợ Lớn.

Bao trang den 1Cho nên người làm báo mang tính chuyên nghiệp phải nhạy bén, biết nắm bắt yếu tố ăn khách đó. Là được đăng độc quyền.

Một chủ nhiệm báo bấy giờ không ngại bỏ tiền sang tận Hong Kong, Đài Loan mua độc quyền tiểu thuyết đang ăn khách đăng (cụ thể tiểu thuyết võ hiệp Lộc Đỉnh Ký đang xuất hiện trong thời gian 74-75 thế kỷ trước).

Độc quyền chỉ dài hơn các báo Hoa ngữ phát hành trong Chợ Lớn hay Việt Ngữ ngoài Sài Gòn, chừng một gang tấc hàng ngày trên báo. Tức thì người đọc đang “ghiền” tiểu thuyết Kim Dung đã đổ xô mua đọc.

Theo người viết được biết, tờ báo đi mua “độc quyền” này thỏa thuận với tác giả Kim Dung và tờ Minh Báo xuất bản tại Hong Kong (đang đăng tiểu thuyết Lộc Đỉnh Ký), hàng ngày gửi theo máy bay qua Sài Gòn, một đoạn trước khi tờ Minh Báo ấn hành trong ngày.

Tuy nhiên để phá “độc quyền”, các báo “chậm chân” đã ra “chiêu” phá bĩnh, bằng cách cho người dịch viết vuốt đuôi chừng đôi ba dòng khác với tờ báo có đoạn “độc quyền”, khác hẳn khi dịch nguyên bản. Làm người đọc phân vân, không còn biết báo nào là “độc quyền” nữa. Đó là mưu mẹo của người làm báo chuyên nghiệp.

Ngoài những thủ thuật trên, có những tờ báo còn “độc quyền” khai thác những vụ án lớn :

– Như vụ “Công chúa Ba Xi – Martine – Bokassa”.

Khi tờ báo phát hiện ra vụ án mang tầm cỡ thu hút được số đông đọc giả, những người trong ban biên tập đã có quyết định “giữ đầu mối”, tức đưa “công chúa Martine” và gia đình về nơi nhà riêng ở, không cho một phóng viên báo nào khác tiếp cận, khai thác.

Trên đây là những “điển hình” về việc giữ “độc quyền”. Trong đó nói về độc quyền tác phẩm, tác giả thuộc dạng “hàng nằm” lôi kéo người đọc dài hạn, còn độc quyền tin tức thuộc dạng “hàng nóng” chỉ giữ người đọc trong một thời gian nhất định.

PHỐI KIỂM BÀI VỞ

Ngày trước cũng như bây giờ, ký giả thường gặp nhiều tai tiếng, vì mọi người đánh giá họ qua câu “nhà báo nói láo ăn tiền” hay “ký giả cà phê” nhằm miệt thị những người làm báo và viết báo không chân chính.

Chính vì thế vai trò của người Tổng biên tập hay Thư ký tòa soạn rất nặng nề, phải nhạy bén tìm ra những bài viết không đúng sự thật, làm thay đen đổi trắng, hoặc dựa vào bản tin viết thành bài quảng cáo có lợi cho “đối tác” v.v…

Việc phối kiểm bài vở thường diễn ra trong một buổi, hay trong ngày, nhất là những vụ án về kinh tế, những phát biểu, hay trả lời phỏng vấn những sự kiện quan trọng, có thể dẫn đến kiện thưa tại tòa án.

Người Tổng biên tập chỉ cần nhấc điện thoại gọi đến hiện trường, đến cơ quan thẩm quyền hay chính đương sự để hỏi thêm chi tiết (nếu là phát biểu quan trọng còn phải có băng ghi âm).

Nhưng còn những bài vở tin tức không quan trọng, như những mẫu tin lượm lặt khỏa lTr Bloggerấp cho đầy trang. Đây là “môi trường” các ký giả cà phê len lõi để kiếm cơm. Như bản tin sau đây :

Nhà máy dệt XYZ ra mắt mặt hàng mới

(XXX) Ngày ……. nhà máy dệt XYZ vừa tung ra thị trường loại vải mới mang tên Teljin, dệt bằng sợi pha Polyester, vải này mịm đẹp dành cho nam giới may quần tây. Về chất lượng, có số đông khách hàng khen ngọi vải không thua kém hàng của Thái Lan, Canada và cả Pháp hiện đang tràn ngập thị trường may mặc, giá lại chỉ bằng một nửa so với vải các nước trên.

Nên trong mấy ngày đầu, nhà máy dệt XYZ tung ra dò dẫm thị trường, được mọi người tìm mua, không đủ số lượng bán buôn tại các chợ đầu mối như Bến Thành, Bình Tây, An Đông, Bà Chiểu. Nhà máy dệt XYZ phải buộc công nhân tăng ca, nhằm đáp ứng số cung cầu cho thị trường đang đòi hỏi.

Bản tin chỉ đăng 1 cột và dài khoảng 8 hay 10 phân báo, nhưng giá trị tinh thần rất lớn, tạo ra lợi nhuận cho nhà máy XYZ rất nhiều, nếu đăng theo hình thức quảng cáo nó sẽ không tạo ra sự “cung cầu” giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Nhưng phóng viên viết nó lại không mang ích lợi tài chánh nào cho tờ báo,(qua tiền quảng cáo, hay bài cậy đăng), hoặc giả thu hút được người đọc.

Nhiều anh chị em phóng viên mới vào nghề không rõ vì vô tình hay cố ý, viết những mẫu tin đại loại như trên, và cuối ngày không thấy tin của mình được đăng, hỏi ra mới biết bài này nếu đăng phải trả tiền, còn bằng không sẽ phải viết lại bản tin như sau :

Một mặt hàng vải ăn khách không thua vải ngoại

(XXX) Theo một số bạn hàng buôn bán vải ở các chợ đầu mối cho biết, gần đây có một loại vải quần tây do 1 nhà máy dệt trong nước sản xuất đã đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu, giá rẻ, bền, đẹp được dân chúng tìm mua, nên rất khan hiếm trên thị trường. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho hàng hóa do người Việt Nam sản xuất.

Bạn thử so sánh 2 bản tin trên, 1 tin mang đặc chất quảng cáo, còn 1 tin chỉ mang tính thời sự.

Nên người làm báo chuyên nghiệp sẽ dễ dàng nhận ra một bản tin có giá trị về quảng cáo và 1 bản tin mang tính thời sự như thế nào, các anh chị em viết báo nhiều khi quá nhiệt tình (khách quan và chủ quan) không hiểu rõ tính chất bài mình viết, thường gây hiểu lầm với ban biên tập.

Đôi khi bên biên tập được sự thỏa thuận từ khách hàng, cử phóng viên đi nhận tin tức, phóng viên lại viết quá khách quan không đúng với giao ước, buộc lòng bên biên tập phải bổ sung lại nội dung, đến khi báo ra người phóng viên không còn nhận ra đó là 9 Nghe bao 4bài viết của mình nữa.

Tuy nhiên có loại tin tức, báo cần chua thêm một dòng “bài cậy đăng”, như đính chính một tin tức, thanh minh một vụ việc. Đại loại như bài dưới đây :

Hãng Giày XYZ nhờ thừa phát lại niêm phong lô hàng giả.

Trong. năm qua, thương hiệu Giày XYZ được mọi tầng lớp dân chúng ưa chuộng, vì kiểu dáng đẹp, bền và giá cả phải chăng. So với những loại Giày của Italy, Pháp, giày mang nhản hiệu XYZ có số lượng tiêu thụ rất mạnh, chính vì thế hãng Giày XYZ đã mang nhản hiệu ra tòa cầu chứng độc quyền, nên hiện nay trên thị trường có những cơ sở sản xuất giày mang giả nhản hiệu XYZ.

Ngày …. hãng Giày XYZ đã nhờ thừa phát lại (*) đến tiệm X. niêm phong 200 đôi giày các loại giả nhản hiệu, và đang nhờ thừa phát lại lập hồ sơ đưa tiệm X. ra tòa.

Bài cậy đăng trên cũng thuộc dạng tin tức, quảng cáo, nhưng sở dĩ phải sử dụng câu từ “Bài cậy đăng” là có lý do :

– Bên hãng XYZ không cho sửa chữa bài viết đưa đến đăng báo, phải đăng nguyên văn.

– Việc niêm phong một số giày của tiệm …. dù là có thật. Nhưng báo vẫn vi phạm vào tội vu khống, do hai bên nguyên và bị đơn chưa được tòa án phân xử tình lý rõ ràng. Đồng thời thừa phát lại có thừa hành việc niêm phong giày tại tiệm X, cũng chỉ mang tư cách độc lập khi được bên nguyên yêu cầu, không phải do cơ quan bên hành pháp đến xử lý.

Vì vậy câu “Bài cậy đăng”, về tính pháp lý, bên nguyên đơn là hãng giày XYZ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước bài viết của mình.

Việc phối kiểm tin tức chỉ là nhiệm vụ thứ yếu của ban biên tập, nhưng không vì thế mà không xem lại các bài vở tin tức do các ký giả mang về đăng tải.

LÀM BÁO NÓI LÁO

Có lẽ trong nghề báo chưa ai dám vỗ ngực xưng mình chưa hề nói biết láo, tức người đó không phải là dân làm báo chuyên nghiệp !

Trong nghề làm báo dù muốn hay không, cũng đôi lần phải nói láo, dù bản thân vẫn muốn giữ vững ngòi bút không bị bẻ cong, và luôn luôn tôn trọng sự thật. Nhưng những ảnh hưởng từ khách quan đưa đến, đôi khi phải chấp nhận để tồn tại ! Lúc tôi làm báo, nhiều lúc báo mất dần đọc giả, ban trị sự lo lắng cho sự sinh tồn của tờ báo, họ lên tiếng báo động tìm những giải pháp cứu gở tình thế sắp bi đát đó.

Mai le huyenNgày xưa các báo đối lập có những bài vở chỉ trích chính quyền, trong đó họ cũng đưa ra nhiều hình ảnh không thực tiễn, “mị người đọc” để hợp lòng dân mà bán báo. Còn người làm báo thương mãi, nếu không thân chính quyền, họ cũng không dám chống đối chính quyền.

Khi báo “bán ế” bên phát hành cổ động đã nắm được, họ thúc hối ban biên tập, nào cải tiến tờ báo bằng hình thức hay nội dung, tìm kiếm những đề tài hấp dẫn nhằm lôi cuốn đọc giả.

Muốn cải tiến tờ báo bằng hình thức thật dễ, chỉ cần thay đổi cách trình bày, in thêm màu, tăng cường một hai tiểu thuyết là được, nhưng không vì thế trong ngày một ngày hai đã tăng đọc giả; muốn tăng thêm đọc giả ngay tức khắc là việc làm rất khó, đâu phải lúc nào cũng có những vụ nóng như Công chúa lọ lem Mar-tine Bokassa (năm 1972, đây là một đề tài xã hội rất sôi nổi trong dân chúng miền Nam bấy giờ).

Những chiêu thức làm sao có lại đọc giả đã được đem ra mổ xẻ :

– Tình hình chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội đang bế tắc về tin tức, càng không thể trở thành báo đối lập “ăn nói huyên thuyên” như các các chủ báo đang khoát áo Dân biểu, Thượng Nghị Sĩ.

Muốn vậy chỉ còn một cách tạo ra “sì-căn-đan” (scandal).

– Và tạo “sì-căn-đan” vào giới ca nghệ sĩ là mau có đọc giả, lại an toàn mọi mặt. Nhưng phải biết ai trong giới ca nhạc sĩ đang được quần chúng mến mộ, có như thế mới có đọc giả. Vậy ai sẽ được chọn làm vật “tế thần” đây ?!

Thời gian đó nhiều ca nghệ sĩ đang được mến mộ, như giới cải lương có “Cải lương chi bảo” Bạch Tuyết, rồi những Thanh Nga, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Hùng Cường, Thành Được, Dũng Thanh Lâm, bên thoại kịch có La Thoại Tân, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, còn điện ảnh có Trần Quang, Huỳnh Thanh Trà, ca nhạc có “Tiếng hát liêu trai” Thanh Thúy, “Giọng hát khói sương” Khánh Ly hay Thanh Lan, Lệ Thu, Mai Lệ Huyền, quái kiệt với những Thanh Việt, Phi Thoàn, có đông đảo người ái mộ từ Bến Hải cho đến Cà Mau.

Việc gây “sì-căn-đan láo” trong giới ca nghệ sĩ để bán báo, được ban biên tập chọn phương án này, được bàn thật kỹ trước khi thực hiện, nếu viết chỉ có Bạch Tuyết, Thanh Nga , Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng là tạo ra “cơn chấn động” mạnh, nhưng có nhiều yếu tố không thể “đụng đến” những người này.

Chỉ có Mai Lệ Huyền mới thật là nhân vật cần tìm ! Thứ nhất đôi song ca MLH và Hùng Cường chuyên hát nhạc sến, từ trẻ em đến người lớn, từ giới bình dân cho đến trí thức, đều biết đến ca sĩ “nhạc sến” MLH. Thứ nhì, cô ca sĩ này cũng hay thay đổi chồng mấy bận, cả nước đều biết. Thứ ba, MLH không có ô dù nào đỡ đầu, đơn thuần là ca sĩ độc lập, MLH sẽ không dám đụng giới báo chí.

Đúng là nhân vật tờ báo đang cần, về mặt chiến lược đều thuận lợi. Còn chiến thuật tạo ra “sì-căn-đan”, làm sao để tránh bị thưa kiện, vì thế tôi tìm đến người thân cận (trông coi báo chí cho MLH) để bàn bạc trước những bài báo sẽ được in ra, và mong giữ “im lặng” trước cô ca sĩ về tin tức giật gân nói về cô ta.

Được người này chấp thuận, tôi lên phương án cho loạt bài như sau :

– Ngày đầu tiên : Tung tin “sì-căn-đan” ca sĩ Mai Lệ Huyền giựt chồng người, vợ một đại úy không quân kêu cứu với báo chí.

– Ngày thứ nhì, thứ ba : Viết về những mảnh đời tình ái “sôi nổi” của cô ca sĩ vừa “chảnh” vừa “hot” đó, khi lấy nhạc sĩ Trần Trịnh như thế nào, ai lăng xê cô ta thành “nữ hoàng nhạc sến”, tại sao MLH bỏ Trần Trịnh đi lấy đạo diễn Việt. làm ở đài truyền hình v.v…

– Bước qua ngày thứ ba, thứ tư : dự đoán có thể MLH đến tòa soạn kêu oan, lúc này phải chuẩn bị chụp hình, phỏng vấn để có những tấm ảnh “nóng sốt” đăng báo.

Tr bang hoang– Ngày thứ năm : Đăng tiếng kêu oan của MLH, cùng các hình ảnh chụp được tại tòa soạn.

– Kết thúc : vợ viên đại úy không quân lên tiếng đính chánh nguồn tin MLH giựt chồng bà ta…

Ghi chú cho kế hoạch : Tìm một tấm ảnh của MLH, phía sau cho ghi mấy chữ “Tặng kỷ niệm”, soạn một bức thư mang danh nghĩa vợ của một đại uý không quân nào đó gửi bằng đường bưu điện cho báo, với lời lẽ khuyên can cô ca sĩ đừng đeo đuổi chồng bà ta, (phải lấy binh chủng không quân cho anh chàng, vì thời kỳ đó đang có phong trào nữ sinh yêu lính không quân), và một bức thư đính chánh chuyện hiểu lầm cô ca sĩ MLH giựt chồng, với lý do : vì chị ta đã mở từ trong bóp chồng mình thấy tấm ảnh MLH ghi mấy câu “Tặng kỷ niệm”, nên chị không có những suy nghĩ chính chắn đã nổi cơn ghen, viết thư nhờ báo chí kêu cứu, đến khi số báo ra mắt và đọc được bài MLH minh oan, lúc đó chồng chị vừa ở đơn vị về giải thích, anh ta vì mê tiếng hát của MLH nên đến CLB Huỳnh Hữu Bạc (dành cho giới không quân làm việc trong sân bay quân Tr hoan hosự Tân Sơn Nhất đến giải trí) nơi MLH đến hát hàng đêm, anh ta có xin một tấm ảnh làm kỷ niệm, ngoài ra chẳng ai gặp nhau bao giờ.

Đó là toàn bộ kế hoạch, và đúng như dự liệu, tin giật gân về “nữ ca sĩ MLH giựt chồng” đăng độc quyền trên báo, báo đã bán rất chạy, hàng ngày số in cứ tăng dần. Trong giai đoạn có thêm đọc giả, chúng tôi cho cải tiến các trang trong, ngoài, thêm nhiều mục mới lạ nhằm giữ khách.

Chỉ tội cho cô ca sĩ bị bêu riếu bất ngờ, đã bị “sốc” và khóc hết nước mắt, đến tòa soạn báo kêu oan. Đọc giả là người bị bịp nhiều nhất, đâu nghi ngờ tờ báo viết láo tạo ra “sì-căn-đan” để bán báo.

Nghề làm báo chuyên nghiệp là như thế, nên đừng trách các tờ báo lá cải bên phương tây tại sao hay dựng đứng các mẫu chuyện của giới VIP, giới minh tinh màn bạc, làm “Sì-căn-đan”, thuê cả trực thăng chỉ để bay lên trời chụp xuống nơi “cung cấm”, để săn những tấm ảnh quý giá từ các bậc phu nhân !

Nghề làm báo là, luôn luôn có mặt thật và mặt trái của vấn đề.

Nguyễn Việt (trích hồi ký “Nghề làm báo”)

CON GÁI NHA MÂN (2)

VỀ MIỀN GÁI ĐẸP

BẬC NHẤT MIỆT CỬU LONG

– Tiếp theo và hết

Huyền thoại về miền gái đẹp 

Ông Tám Khai nói rằng, từ lúc còn nhỏ ông đã nghe ông cố, ông sơ kể lại, tương truyền vào tháng 7/1784, mượn cớ giúp chúa Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) chống lại nhà Tây Sơn, khoảng 50.000 quân Xiêm và hơn 300 chiến thuyền do các danh tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương, Sa Uyển, Chiêu Chuỳ Biện chỉ huy cùng 4.000 quân của chúa Nguyễn Ánh theo hai đường thuỷ, bộ tiến vào địa phận Kiên Giang.

Đến cuối năm 1784, liên quân Xiêm – Nguyễn chiếm được một số vùng đất ở phía Tây thành Gia Định, đóng quân ở vùng Trà Tân (nay có lẽ là vùng Hòa Khánh thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) để dự trữ lương thảo, vật lực chuẩn bị đánh thành Mỹ Tho và Gia Định.

Khi hay tin liên quân Xiêm – Nguyễn uy hiếp thành Mỹ Tho, Gia Định, tháng 1/1785, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đưa 20.000 quân thuỷ, bộ từ Quy Nhơn hành quân cấp tốc vào Gia Định. Sau khi xem xét tình hình, Nguyễn Huệ không chủ trương phòng thủ thành Gia Định đang bị uy hiếp, tức tốc đưa quân xuôi xuống thành Mỹ Tho quyết chiến với quân Xiêm.

Trong những ngày đầu, Nguyễn Huệ dùng lực lượng nhỏ thăm dò, nghi binh, cử người mang của cải cầu hoà với Chiêu Tăng nhằm tạo sự chủ quan, gây chia rẽ nội bộ và dụ liên quân Xiêm – Nguyễn sớm tiến đánh Mỹ Tho. Sau khi điều nghiên địa hình, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ quyết định chọn đoạn sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xoài Mút dài khoảng 6-7 km (nay thuộc địa phận huyện Châu Thành, Tiền Giang) làm nơi quyết chiến với liên quân Xiêm – Nguyễn.

Rạng sáng ngày 19/1/1785, từ Trà Tân, Chiêu Tăng chỉ huy toàn bộ lực lượng hành quân xuôi về hạ lưu sông Tiền, đẩy quân Nguyễn đi trước, tiến đánh thành Mỹ Tho. Khi hầu hết thuyền quân Xiêm – Nguyễn lọt vào trận địa phục kích tại Rạch Gầm – Xoài Mút, quân Tây Sơn dùng pháo đặt trên thuyền, trên bờ và cù lao Thới Sơn bắn áp đảo, đồng thời thuỷ binh từ các nhánh sông tiến ra và từ Mỹ Tho kéo lên chặn đầu, khoá đuôi, đánh tạt sườn.

Bộ binh Tây Sơn đón lõng diệt tàn quân trốn chạy trên bờ. Kết quả là toàn bộ mấy trăm chiến thuyền và phần lớn liên quân Xiêm – Nguyễn bị diệt. Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng vài nghìn quân sống sót mở đường máu rút về Xiêm.

Lúc đó chúa Nguyễn Ánh ở phía sau, nghe tàn quân hớt hãi quay lui báo hung tin thất trận, vội quay thuyền lại đưa toàn bộ bầu đoàn thê tử chạy theo sông Tiền tìm đường trốn sang Xiêm. Trên đường tháo thân, vì bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, người đông, thuyền nặng nên các cận thần, quan lại khuyên chúa Nguyễn Ánh cần phải làm cho thuyền nhẹ bớt.

Không còn cách nào khác, chúa Nguyễn Ánh đã gạt nước mắt, bấm bụng bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường, cho lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, nay thuộc Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp) và Mỹ Luông (Chợ Mới, An Giang) cho “nhẹ gánh loạn ly”.

Những mỹ nhân bị rơi rớt trôi dạt sau đó lấy chồng là người địa phương, sinh con đẻ cái đều là “nam đồng, ngọc nữ”. Chính nhờ nguồn gen cung phi mỹ nữ từ thời xa xưa lưu truyền đến nay, xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp.

Trong khi đó nhóm cung phi mỹ nữ dạt vào cù lao Ông Chưởng (Chợ Mới, An Giang) cũng lấy chồng, sinh con đẻ cái, cũng tạo được một “miền gái đẹp” nhưng không nổi tiếng bằng con gái Nha Mân. Theo ông Tám Khai, từ xưa đến nay người đẹp xứ Nha Mân đếm không kể xiết, nghe đồn trước đây các vua xứ Cao Miên còn chịu khó xuôi dòng sông Tiền sang tận Nha Mân để chọn vợ.

Nhắc những người đẹp thời xa xưa ở làng Nha Mân, ông Tám Khai kể vanh vách: ông Quản Y có ba người con gái đẹp nức tiếng Nam Kỳ.. Ông Quản Chức có chị Tám Ngự, chị Mười Xinh. Hai đứa con gái thứ 11, 13 của ông chủ Trọng cũng là người đẹp vang danh một thời. Thầy giáo Chữ cũng có con gái đẹp.

Chị Bảy Nhẫy, cô Tư Nga là những người đẹp nhìn không chán mắt. Trong vùng còn có anh Hai Rít lai Tây, đẻ ra cô Ba Xê đẹp chim sa cá lặn vì phối hợp được nết đẹp Tây với vẻ đẹp cung đình Việt Nam. Hồi cô Ba Xê chết, đã 70 tuổi mà nhìn cũng còn đẹp lão. Ông  Tám Khai kể, hồi xưa cứ Tết đến, đám trai làng rất khoái đi chợ tết để “rửa mắt” vì trong chợ toàn là đàn bà con gái đẹp… “não nùng”.

Ông Tám Khai khẳng định, đàn bà ở Nha Mân đẻ mười đứa con gái thì hết chín đứa là người đẹp, đứa còn lại cũng bậc trên trung bình, và không ở đâu những ngày Tết lại vui bằng Tết ở Nha Mân. Trong những ngày xuân, trên những con đường dọc theo các bờ kênh, bờ rạch lúc nào cũng nườm nượp đàn bà con gái đẹp quần là áo lượt muôn màu sắc ngược xuôi, kẻ vào trong ngọn, người ra ngoài vàm thăm viếng thân nhân, bạn bè, nhìn không chán mắt.

Ly kỳ những phận hồng nhan 

Buổi sáng ngồi nhâm nhi cà phê trong các quán xá quanh chợ Nha Mân, cái nôi của những người đẹp miệt vườn, có thể nghe hàng trăm câu chuyện về những người đẹp Nha Mân. Ông Tám Khai, ông thường có thói quen uống cá phê từ sáng sớm ở các quán quanh chợ Nha Mân, vừa ngồi nhâm nhi ly cà phê vừa nhìn ngắm các bà, các cô đi chợ sớm, tất bật bán mua nhưng vành nón lá vẫn không che hết được vẻ đẹp mặn mòi, duyên dáng.

Lâu dần, ngồi quán uống cà phê ngắm những người đàn bà đẹp trở thành một thói quen kỳ thú, bất di bất dịch của đám đàn ông con trai xứ Nha Mân. Những bậc trưởng thượng ở xứ Nha Mân thường nói, con gái Nha Mân xinh đẹp chim sa cá lặn là niềm hãnh diện của làng xóm, nhưng đó cũng là bi kịch cho không ít người.

Một trong những bi kịch ở “miền nhan sắc” này được bàn tán nhiều nhất mà ông Tám Khai còn nhớ rõ đến giờ là chuyện ăn ở bất nhân thất đức, quả báo nhãn tiền đối với ông bầu gánh hát Quốc Bửu Bang. Chuyện kể rằng, hồi xưa gánh hát Quốc Bửu Bang là một trong những gánh hát nổi tiếng của miền Tây Nam Bộ.

Trong gánh hát này, có rất nhiều đào tơ xinh đẹp mơn mởn, nhưng không có nhan sắc của cô đào nào có thể sánh với nét đẹp chim sa cá lặn của vợ ông thầy tuồng, là người chuyên viết kịch bản cho đoàn hát diễn, dù cô vợ ông thầy tuồng chỉ đơn thuần làm việc nội trợ, không biết hát hò. Sở dĩ cô vợ của ông thầy tuồng có sắc đẹp ăn đứt các cô đào của gánh hát Quốc Bửu Bang chỉ vì một điều đơn giản: cô ta là con gái Nha Mân chính gốc.

Ông thầy tuồng giấu vợ ở nhà, không dám cho đi theo đoàn hát vì biết rõ tính háo sắc, hoang dâm vô độ của ông chủ gánh Quốc Bửu Bang. Ông thầy tuồng cũng không bao giờ dám mời ông chủ gánh hát đến nhà và cũng chưa bao giờ dám tiết lộ nơi ở của mình cho ông chủ gánh hát biết. Nhưng trong một lần ông thầy tuồng lâm bệnh kéo dài, gánh hát không còn tuồng mới để hát, túng thế, ông chủ gánh hát phải dò hỏi khắp nơi và tìm được nhà ông thầy tuồng.

Ban đầu, ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang chỉ định đến nhà ông thầy tuồng để thăm bệnh và lấy vở mới đem về cho đoàn hát diễn. Nhưng khi bước vào nhà, vừa nhìn thấy nhan sắc của cô vợ ông thầy tuồng, ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang hồn xiêu phách lạc, hai con mắt nhìn người đẹp thiếu điều… rớt xuống đất.

Máu háo sắc bốc lên phừng phừng, từ đó ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang càng ngày càng chăm lui tới nhà của ông thầy tuồng, ban đầu còn e dè nhìn ngắm lén lút cô vợ, nhưng càng về sau ông chủ gánh hát càng công khai, không thèm giấu diếm chuyện ông ta đang chết mê chết mệt nhan sắc của cô vợ thầy tuồng, và tuyên bố trước sau gì ông ta cũng sẽ tìm cách chiếm đoạt cho bằng được mỹ nhân.

Làng xóm, người đời dị nghị cười chê, ông chủ gánh hát mặc kệ. Vợ con ghen tuông chửi mắng om sòm, ông chủ gánh hát bỏ ngoài tai. Trong lòng chủ gánh hát bây giờ không còn gì quan trọng bằng việc phải tìm mọi mưu ma chước quỷ để chiếm đoạt cho bằng được cô  vợ mỹ miều của ông thầy tuồng.

Ông thầy tuồng thấy sự tình như vậy, nhiều lần năn nỉ, lạy lục van xin ông chủ gánh hát buông tha cho vợ chồng ông, tha cho cái gia đình nhỏ của ông, nhưng lão chủ gánh hát tham lam háo sắc và bất nhân không thèm đếm xỉa, càng ngày càng túc trực ở nhà ông thầy tuồng, hoặc tìm mọi cách đón đường cô vợ xinh đẹp của thầy tuồng để giở trò ghẹo nguyệt trêu hoa, tìm cách cưỡng bức mỹ nhân. Ông thầy tuồng đã vài lần dời nhà để tránh chủ gánh hát, nhưng không biết bằng cách nào, lão chủ gánh hát háo sắc lại tìm được, mò tới.

Làm đủ mọi cách cũng không thể tránh khỏi chủ gánh hát, một ngày mưa tầm tã ông thầy tuồng phẫn chí lấy dao mổ bụng tự sát, còn cô vợ xinh đẹp của ông cũng biến mất tăm, không ai biết cô ta đi tu hay đã nhảy xuống sông Tiền tự tử chết theo ông thầy tuồng. Nhưng khi câu chuyện bi thảm của vợ chồng ông thầy tuồng vẫn còn nóng hổi, làng xóm vẫn còn bàn tán râm ran thì gánh hát Quốc Bửu Bang đột nhiên lụi bại, tan rã.

Mấy cụ cao niên ở xứ Nha Mân nói rằng, từ khi ông thầy tuồng chết, gánh hát Quốc Bửu Bang không còn người viết tuồng mới nên cứ đem tuồng cũ ra diễn tới diễn lui nên ai cũng chán, chẳng ai thèm coi hát nữa, khiến gánh hát ngày càng lụi bại. Nhưng ở góc độ tâm linh, có nhiều người cho rằng gánh hát Quốc Bửu Bang tan rã là do trời quả báo, trời cao có mắt, nhìn thấy dã tâm cướp đoạt vợ người khác một cách bất nhân của ông chủ gánh hát Quốc Bửu Bang nên đã khiến cho gánh này suy tàn.

Từ ngày gánh hát tan rã, ông chủ gánh Quốc Bửu Bang từ chỗ giàu có vô song trở thành kẻ sạt nghiệp, trắng tay, vợ con của lão cũng chẳng thèm nhòm ngó, nên cuối cùng lão phải quay về ngồi lay lắt ngoài rìa chợ Nha Mân ăn xin. Nhưng khi nhìn thấy sự suy sụp của lão chủ gánh hát háo sắc, người ta chẳng những không thương hại cho tiền, mà còn đem chuyện ông ta hại chết ông thầy tuồng, làm gia đình người khác tan nhà nát cửa, để phỉ nhổ, thóa mạ thậm tệ.

Cuối cùng ông chủ gánh hát bất nhân bất nghĩa phải lâm vào cảnh chết không có hòm chôn, chỉ được người đời thương tình bố thí cho manh chiếu rách đem vùi thân ở bãi tha ma.

Câu chuyện về người đẹp Nha Mân được nhiều người biết và truyền tụng nhất, chính là chuyện về cô Hai Hiên. Ông Tám Khai nói, các bậc bô lão ngày xưa kể rằng, hơn 150 năm trước, vợ chồng ông Phạm Văn Cần, làm ăn sinh sống ở khu vực vàm sông Nha Mân, lúc bấy giờ thuộc làng Phú Nhuận, tổng An Mỹ, Sa Đéc, sinh được một người con gái đặt tên là Phạm Thị Liên, nhưng trong gia đình thân tộc và bà con lối xóm thường gọi là Hai Hiên.

Cô Hai Hiên là con gái duy nhất của ông bà Cần, từ nhỏ đã xinh đẹp mỹ miều nổi tiếng trong vùng. Đã có nhiều đám ngấp nghé, mai mối muốn kết tình thông gia với ông bà Cần, hỏi cưới cô Hai Hiên về làm dâu, nhưng ông bà Cần chưa kịp chọn ai thì đột ngột cô Hai Hiên qua đời.

Cái chết của cô Hai Hiên làm cho người cha hết sức buồn đau, khóc hết nước mắt thương tiếc và không giấu được sự oán hận trời xanh không công bằng. Hết than khóc đến trách trời xanh không có mắt mà cô Hai Hiên vẫn không thể sống lại, ông Cần phẫn chí quay sang trách móc Quan Thánh Đế Quân (Quan Công, Quan Vân Trường). Từ lâu trong nhà ông Cần luôn có bàn thờ và bức tượng Quan Công, biểu trưng cho lòng trung cang nghĩa khí.

Khi cô Hai Hiên lâm bệnh chết khi tuổi đời còn quá trẻ, ông Cần cho rằng ngài Quan Công đáng lý ra phải soi xét công minh, không thể để ông phải mất đi đứa con gái mà ông yêu quý nhất trên đời. Nhưng đức Quan Thánh Đế Quân không công bằng nên đã khiến ông Cần phải lâm vào cảnh mất đứa con gái độc nhất mà vợ chồng ông vô cùng yêu quý, khiến vợ chồng ông phải chịu cảnh “tre khóc măng, cha mẹ già khóc con trẻ bạc phận”. Càng đau thương, oán trách, ông Cần càng như phát điên.

Trong cơn nóng giận, ông Cần nghĩ rằng ngài Quan Công dứt khoát phải được chôn theo con ông để còn phân giải, đối chất khi Diêm vương phán xét. Nghĩ như vậy nên khi chuẩn bị khâm liệm cô Hai Hiên, ông Cần không ngần ngại lấy ngay bức tượng Quan Công đắp lên thi hài cô Hai Hiên và đóng nắp hòm lại.

Sự việc này đã gây kinh động cả xứ Nha Mân lúc bấy giờ, bởi xưa kia người dân Nha Mân có tín ngưỡng thờ phụng Quan Thánh Đế Quân. Chính vì vậy mà hành động chôn tượng Quan Thánh Đế Quân theo thi hài cô Hai Hiên của ông Cần làm kinh động người dân bản xứ.

Không biết ngài Quan Công có phần trần gì với Diêm Vương ở chốn âm ty địa ngục hay không, nhưng sau khi an táng cô Hai Hiên được ba ngày, nhiều người dân xứ Nha Mân tận mất nhìn thấy cô hiển linh, hiện về thăm cha mẹ và giúp đỡ dân nghèo, những người bệnh tật. Đến lúc này thì xứ Nha Mân lại lan truyền tin đồn, cô Hai Hiên được Quan Thánh Đế Quân phù trợ nên không phải về chầu Diêm Vương, sống lây lất trong cõi u minh mà hóa thành cốt linh của người con gái đồng trinh, ngày ngày hiển linh giúp đỡ mọi người.

Nhiều người dân xứ Nha Mân nói, cô Hai Hiên trở nên hiển linh là vì cô, người con gái đồng trinh, chết nhằm giờ thiêng và có bức tượng Quan Thánh Đế Quân được chôn theo.. Cô Hai Hiên chết đi nhưng vẫn hiển hiện trên đời, do cô còn rất trẻ, đang tràn đầy nhựa sống. Những người rành chuyện cô Hai Hiên ở xứ Nha Mân kể rằng, chỉ ba hôm sau khi chôn cất, cô Hai Hiên trở về để thăm cha mẹ.

Người ta kể, cô Hai Hiên hiển hiện khắp nơi, trong đó có câu chuyện kỳ thú về việc cô quá giang ghe bầu của những người buôn bán ra thăm xứ Huế, vì khi còn sống cô Hai Hiên có ước nguyện được thăm kinh thành Huế, nguồn cội của những cung tần mỹ nữ do loạn ly đã phải lưu lạc tận xứ Nha Mân.

Lần đó, đoàn ghe bầu chở hàng hóa ra Huế khi đi trên sông Tiền ngang qua xứ Nha Mân thì có một người con gái xinh đẹp gọi lại xin quá giang về Huế thăm lại quê xưa. Dù không biết cô gái là ai nhưng những chủ ghe tốt bụng hô phu chèo ghé vào bến, cho cô gái  quá giang. Trên đường theo ghe bầu vượt biển ra Huế, suốt nhiều tháng trời, nhiều lần cô Hai Hiên ngấm ngầm trợ giúp những người đi thuyền có lòng tốt vượt qua phong ba bão dữ, nhưng cũng không ai hay biết.

Ra đến Huế, sau khi thăm thú các nơi, cô Hai Hiên gửi về cho cha mẹ ở quê nhà Nha Mân một cây quế và nhánh bưởi Thanh Trà, đặc sản của xứ Huế, nhờ các chủ ghe khi đi ngang qua Nha Mân thì chuyển cho ông bà Cần. Khi đoàn ghe bầu về ngang qua xứ Nha Mân, ghé lại tìm nhà ông bà Cần để đưa cây quế và nhánh bưởi của cô Hai Hiên gửi tặng, mọi người mới tá hỏa khi được ông bà Cần cho hay cô Hai Hiên chết đã lâu và hai ông bà già còn dẫn họ ra thăm mộ cô Hai để chứng minh.

Đến khi người dân trong xứ Nha Mân hay tin, đến xem và kể cho các chủ ghe bầu những việc hiển linh giúp đời, giúp người của cô Hai Hiên và qua miêu tả của dân làng, những chủ ghe bầu mới biết chính cô Hai Hiên đã hiển linh đi cùng họ trong suốt nhiều tháng trời từ Nam ra Huế.

Ông Tám Khai nói, theo lời ông bà xưa kể lại thì cây quế và nhánh bưởi Thanh Trà của cô Hai Hiên trồng trong vườn nhà ông bà Cần rất tươi tốt. Cây bưởi năm nào cũng trĩu quả và được ông bà Cần chia cho dân làng Nha Mân cùng ăn lấy thảo, còn cây quế thì được dùng làm thuốc để chữa bệnh cho dân làng.

Nhưng đến đầu năm 1946, khi quân Pháp quay lại Cái Tàu Hạ, Nha Mân, cây quế và cây bưởi Thanh Trà của Cô Hai Hiên gửi cho cha mẹ đã bị giặc Pháp ra tay đốn hạ. Vì vậy mà hiện nay ở xứ Nha Mân vẫn còn lưu truyền câu ca : “Thương thay cây quế vườn Nha, thù giặc Pháp, ghét gian tà đốn đi”. Ông Tám Khai nói, sau nhiều lần cô Hai Hiên hiển linh giúp đời, giúp người, nhiều nhà lập bàn thờ cô Hai để thờ phụng nhang khói, nhiều xóm ấp xây miếu thờ cô và cô Hai Hiên đã trở thành một tín ngưỡng dân gian.

Ở Chùa Tây An dưới chân Núi Sam, Châu Đốc, tỉnh An Giang, trong điện thờ Phật có đặt ban thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Tiên và cả Cô Hai Hiên mà nhiều người quen gọi là bàn thờ Phật Cô Hai. Hàng năm, vào ngày 25 tháng 8 Âm lịch, người dân xứ Nha Mân thường tổ chức trọng thể Ngày vía Cô để cúng bái cô Hai Hiên, cầu mong cô phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.
Ông Tám Khai kể, trong ngày vía Cô Hai Hiên, những ông già bà cả thường hay kể cho đám con cháu hậu sinh nghe nhiều chuyện ly kỳ về việc cô Hai Hiên hiển linh giúp đời, giúp người.

Nhưng ngày nay “miền gái đẹp” Nha Mân đang có nhiều thay đổi. Ông Tám Khai dẫn tôi ra chợ Nha Mân, nơi được xem là chiếc nôi của “miền gái đẹp”. Chợ vẫn náo nhiệt, nhưng khó tìm đâu ra một bông hoa đặc sắc tiêu biểu cho “miền gái đẹp”, thiếu nữ 18 tuổi đến 25 đẹp rực rỡ càng khó, dù trong nhiều cuộc thi nhan sắc, con gái Nha Mân từng đoạt các giải thưởng lớn.

Ông Tám Khai nói, giống như nhiều vùng quê ở miền Tây, do cuộc sống khó khăn quá nên các cô gái xinh đẹp đã rủ nhau lên Sài Gòn mưu sinh. Những năm gần đây tiếng đồn gái Nha Mân đẹp người, tốt nết đã lan ra khỏi biên giới Việt Nam và nhờ miệng lưỡi dẻo quẹo của đám mai mối lấy chồng nước ngoài mà rất nhiều gái đẹp xứ Nha Mân đã lên máy bay, về làm dâu xứ Đài Loan, Hàn Quốc, để lại nỗi buồn da diết trong lòng đám trai làng dọc theo bờ rạch Nha Mân. Ông Tám Khai bùi ngùi nói, cứ đà nay, không khéo vài năm nữa “miền gái đẹp” Nha Mân sẽ không còn gái đẹp.

Về miền đất “sắc” 

Cách Sài Gòn 130 km, xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp được mệnh danh là “cái nôi của nét đẹp cung tần mỹ nữ”. Anh Huỳnh Hoàng Quân, Trưởng ấp Tân Lập, xã Tân Nhuận Đông dắt chúng tôi đi gặp các mỹ nhân từng vang bóng một thời.

Dù bước sang cái tuổi xế chiều, nhưng nét đẹp vẫn còn in đậm trên khuôn mặt của cụ Phạm Thị Cám, 94 tuổi. Cụ nhớ lại: “Lúc nhỏ được ba mẹ nhiều lần kể về sự kiện năm 1785, Nguyễn Huệ cầm quân Tây Sơn đánh tan quân Xiêm liên minh với Nguyễn Ánh trên sông Rạch Gầm-Xoài Mút. Trước khi tháo chạy ra đảo Phú Quốc, Nguyễn Ánh đã bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ. Sau đó, các cung phi sắc nước nghiêng thành này đã lấy các chàng trai ở đất Nha Mân. Chính vì vậy, con gái Nha Mân tuy xuất thân từ nông dân nhưng rất đẹp. Đầu thế kỉ 20, nghe danh gái Nha Mân, vua Cao Miên cũng tìm sang kiếm vợ”. Cụ Huỳnh Thị Sáu, 84 tuổi, cũng là một trong những mỹ nhân ở vùng đất Nha Mân một thời. Cuộc sống của cụ gặp nhiều trắc trở.

Hồi ở cái tuổi đôi mươi, rất nhiều người khá giả đến dạm hỏi nhưng cụ nhất quyết không chịu. Cuối cùng, cụ chọn người đàn ông “chân lấm tay bùn” xuất thân như mình. Nhưng đến cái tuổi hồi xuân rạo rực, cụ phải gánh chịu nỗi đau mất chồng. “Chịu tang ổng mới có vài tháng là có nhiều người giàu đến dạm hỏi, nhưng tui từ chối hết để giữ son sắt với chồng. Lúc chưa có gia đình, ba mẹ răn dạy lễ nghĩa “công dung ngôn hạnh” của người con gái ở xứ Đồng Tháp Mười này kỷ lắm nên tui không dám làm trái”.

Anh Quân dắt chúng tôi đi khắp ấp để tìm các cô gái Nha Mân ở tuổi đôi mươi với chiếc áo bà ba truyền thống. Nhưng đi tới đâu người dân cũng lắc đầu nói : “Không có ai nữa đâu mà kiếm, tụi trẻ cưới chồng Đài Loan, Hàn Quốc và đi lên Sài Gòn hết rồi. Còn chiếc áo bà ba tụi nó chê quê mùa có mặc nữa đâu”.

Cái đẹp tàn phai

Bà Nguyễn Thị Lan, 61 tuổi, ngụ ấp Tân Lập nói: “Tôi không hiểu lũ trẻ lên Sài Gòn làm gì trên đó, nhưng mỗi khi về quê là chúng nó ăn mặc, đi đứng đều thay đổi. Nói chuyện với ai cũng chê là “đồ hai lúa quê mùa”. Những ngày Lễ, Tết, khu Nha Mân như trở thành nơi trình diễn thời trang “thiếu áo, thiếu quần” rất kỳ quái. Cái nết, cái bảnh đã bị lớp trẻ làm mai một rồi. Chiếc áo bà ba tụi nó chê là lạc hậu, nghĩ mà xót xa”.

Từ ngày phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc lan về đã làm cho xứ Nha Mân loạn nhịp. Nhiều năm qua, “cò” luôn lùng sục từng nhà để tìm các cô gái trẻ có nhan sắc. Nhiều lần những người môi giới đem 30 triệu đồng đến năn nỉ bà Lan gả con gái cho một người Đài Loan, nhưng bà không đồng ý. Gần nhà bà Lan cũng có hai cô gái trẻ lấy chồng Hàn Quốc. Mẹ của hai cô gái này cho biết: “Số tiền mấy chục triệu mà “cò” đem tới là để dàn cảnh thôi, họ rước con tôi xong là lấy lại số tiền đó”.

Năm 2005, tại nơi Nguyễn Ánh năm xưa cùng đoàn phi tần dừng chân nghỉ ngơi, được chọn để xây chợ Nha Mân. Trong lúc đào hệ thống thoát nước, đơn vị thi công phát hiện dưới lớp đất sâu có 2 chiếc hòm, bên trong chứa hàng trăm cân tiền xu. Số tiền này được Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp lưu giữ. Để tưởng nhớ sự kiện lịch sử này, UBND xã Tân Nhuận Đông lấy hình ảnh đĩnh vàng và đồng xu để làm biểu tượng của chợ. Họa tiết trang trí hàng chục ngôi nhà xung quanh chợ Nha Mân cũng được lấy hình ảnh đồng tiền xu. Họ cho rằng, đó là sự giàu sang trù phú người đi trước để lại.

Ông Tươi, Chủ tịch xã Tân Nhuận Đông cho biết, một năm ở xã có khoảng 1.000 người đang ở độ tuổi lao động đi làm ăn xa. “Nét đẹp con gái Nha Mân mất đi buồn lắm.. Nơi này đã sinh ra những người con gái đẹp người, đẹp nết nhất các tỉnh miền Tây. Vì vậy chúng tôi đang cố gắng khôi phục lại, không để sắc đẹp bị “chảy máu” nữa. Từ đầu năm đến nay, xã mở 3 lớp đan thêu cho phụ nữ và xây dựng dự án các khu công nghiệp để thu hút nguồn nhân lực”.

Chuyện khôi phục hình ảnh con gái Nha Mân không phải nói là làm được, vì hiện tại cái đẹp, cái bảnh trong câu ca dao lưu truyền “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh / Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” giờ chỉ còn là ký ức. (theo Du Nguyễn)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CON GÁI NHA MÂN (1)

VỀ MIỀN GÁI ĐẸP BẬC NHẤT

MIỆT CỬU LONG

Nằm cách trung tâm thành phố Cao Lãnh khoảng 30km, Nha Mân (xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp) từ lâu đã nổi tiếng với câu ca dao: “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh. Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” để chỉ miền gái đẹp bậc nhất ở miệt sông nước Cửu Long. Vậy điều gì đã khiến con gái Nha Mân hầu hết đều “sắc nước, hương trời” đến vậy ?

Yếu tố lai giữa 3 dân tộc ? Những ngày cuối tháng 7 vừa rồi, tôi có dịp trở lại Nha Mân trong một chuyến công tác. Ở đây, hỏi bất kỳ ai về gốc tích nhan sắc con gái Nha Mân, bà con đều kể giống như in về cuộc binh biến thời Tây Sơn – Nguyễn Ánh. Đó là trận Rạch Gầm – Xoài Mút đêm 19 rạng 20.01.1785, Nguyễn Huệ đánh tan hai vạn quân Xiêm – Nguyễn. Sau khi thua trận thì bầu đoàn thê tử của Nguyễn Ánh chạy về lánh nạn ở rạch Nha Mân (nay thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp).

Chợ Nha Mân ngay trung tâm thị trấn

Trên đường tháo thân, vì bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao. Nguyễn Ánh đã gạt nước mắt, bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường, cho lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, trong đó có vùng Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp). Những mỹ nhân này sau đó lấy chồng là người địa phương, sinh con đẻ cái. Chính nhờ “nguồn gen cung phi mỹ nữ”, xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp như vậy.

Thế nhưng, chúng tôi tìm mãi trong sử sách của triều Nguyễn không hề ghi chép chi tiết này. Một lần gặp được thạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu – Phó chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Đồng Tháp, ông cho biết : “Theo sách Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả (gia phả nhà Nguyễn), thì năm lên 13 tuổi (1774), Nguyễn Ánh đã bắt đầu “chạy giặc” vào miền Nam khi quân Trịnh tấn công vào Thuận Hóa.

Những năm sau đó, cuộc chiến giữa nhà Nguyễn và quân Tây Sơn diễn ra ngày càng khốc liệt, nhiều lần thua trận, ông bị quân Tây Sơn truy đuổi ráo riết, sống lưu lạc khắp nơi, trong đó có lần cầu viện quân Xiêm như đã nói. Nếu tính từ lúc Nguyễn Ánh vào Gia Định (1775) cho đến trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785), thì đây là khoảng thời gian Nguyễn Ánh phải bôn ba khắp nơi, lúc thì trốn chạy, lúc lo gây dựng binh lực để đánh quân Tây Sơn.

Trong hoàn cảnh như vậy, liệu ông có thể lập cho mình “năm thê bảy thiếp” ? Mặt khác, nhiều câu chuyện trong dân gian kể rằng, có thời điểm, Nguyễn Ánh phải bôn tẩu một thân một mình, không nhà không cửa, sống nhờ sự đùm bọc của người dân. Vậy, nếu lập bầu đoàn thê tử thì họ sống ở đâu ?… Ngày nay khoa học cũng đã chứng minh rồi, cha mẹ đẹp chưa chắc gì sinh con ra đã đẹp”. Ông Hiếu nói.

Nếu gái đẹp Nha Mân không phải di truyền từ cung tần mỹ nữ của Nguyễn Ánh, thì bắt nguồn từ đâu ? Hàng trăm năm qua, ở vùng đất Nha Mân, dân gian vẫn còn kể về sự tích cô Hai Hiên với màu sắc huyền bí.

Chuyện xảy ra vào năm Mậu Ngọ, niên hiệu Tự Đức thứ 11, tức năm 1858 tại thôn Phú Nhuận, tổng An Mỹ, huyện An Xuyên, tỉnh An Giang, nay là ấp Tân Hòa, xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp (từ năm 1967 – 1975 khu vực này thuộc tỉnh Sa Đéc, bên bờ sông Tiền, cách chân cầu Mỹ Thuận 8km, bờ Nam, phía thượng nguồn, địa danh dân gian gọi là Nha Mân, bởi có con rạch cùng tên chảy qua).

Ông Hương Cả làng Phú Nhuận tên Phạm Văn Cần cưới người vợ tên Võ Thị Niên và sinh được một người con gái tên Phạm Thị Liên (thường gọi là cô hai Hiên). Cô hai Hiên càng lớn càng xinh đẹp nhất vùng, nhiều người danh gia, thế phiệt đem trầu cau dạm hỏi nhưng đều bị cô từ chối.

Vào ngày 25 tháng 8, năm Mậu Thìn (1858), cô hai Hiên tròn đôi tám, một buổi chiều dạo chơi trên bờ sông Nha Mân, bỗng nghe tiếng gọi đò. Người đưa đò đi vắng, tiếng bà lão gọi hối hả bên kia sông như có chuyện cần kíp. Động lòng, cô Hai nhảy xuống chèo đò rước bà lão.

Đò ra giữa dòng Nha Mân chảy xiết, khiến cô chới với té nhào xuống sông. Mọi người tri hô lên, ông Cả hay tin chạy ra vớt con lên thì cô đã tắt hơi. Đau lòng trước cái chết của cô con gái, ông cả Cần oán trách cao xanh. Trong nhà ông từ lâu có thờ bức tượng Quan Công, biểu trưng cho lòng trung cang nghĩa khí.

Nghĩ rằng, ngài Quan Công đáng ra phải soi xét công minh không để ông phải mất đi đứa con gái mà ông yêu quý nhất trên đời, nên trong cơn quẫn trí, ông Cần nghĩ rằng ngài Quan Công phải được chôn theo con ông để còn phân giải khi Diêm vương phán xét.

Thế là ông lấy bức tượng Quan Vân Trường đắp lên thi hài con gái. Kỳ lạ thay, mấy ngày sau, người trong làng hằng ngày cứ đến nhà kể cho ông nghe chuyện thường xuyên gặp cô Hai đi chợ, thậm chí là chuyện cô Hai “quá giang” ghe bầu ra Huế. Những lúc gặp nạn, chỉ có ghe mà cô quá giang là an toàn. Từ đó, người Nha Mân lập miếu thờ cô Hai với tên gọi “Cô Hai Hiên” – giống như tín ngưỡng bà Liễu Hạnh..

Câu chuyện trên cho thấy rằng, trong truyền thuyết về cô Hai Hiên có xuất hiện giao thoa tín ngưỡng người Hoa và người Việt. Chuyện ông Cả Cần thờ Quan Thánh Đế Quân chứng tỏ đó là tín ngưỡng người Hoa. Chuyện cô Hai Hiên độ trì ghe bầu đi biển ra Huế giống y chang tín ngưỡng thờ Bà Thiên Hậu của người Hoa. Cuối cùng thì dân đồng bằng tín ngưỡng cô Hai Hiên như Bà Liễu Hạnh người Việt.

Từ những luận cứ trên, có thể đưa ra một giả thuyết vùng đất Nha Mân là vùng đất có cả 3 dân tộc : Việt-Hoa từ xa đến cộng cư với người Khmer bản địa. Cách Nha Mân 3km về phía hạ nguồn sông Tiền là rạch Cái Tàu hạ, chứng minh có người Tàu sinh sống. Chính sự quần cư này đã tạo điều kiện sinh ra những cô gái lai 3 dòng máu nên rất đẹp.

Một thời gái đẹp Nha Mân 

Dù xuất phát từ nguyên nhân nào đi nữa, cũng chắc chắn một điều rằng rằng, Nha Mân là một miền gái đẹp bậc nhất ở miệt sông nước Cửu Long. Hôm tôi trở lại Nha Mân, cụ Phan Thị Lợi (82 tuổi) là một trong những mỹ nhân của miền gái đẹp ngày trước. Theo lời cụ Lợi, ngày xưa, con gái Nha Mân, không chỉ đẹp nết mà còn đẹp người.
Cuộc sống của họ cũng đơn giản như bao cô gái ở những vùng quê khác: Ra đồng, làm vườn… Nhà ông Quản Chức thì có chị Tám Ngự, chị Mười Xinh đẹp người đẹp nết. Hay nhà thầy giáo Chữ cũng có con gái đẹp. Chị Bảy Nhẫy, cô Tư Nga là những người mà phụ nữ nhìn cũng mê…

Hằng năm, cứ Tết đến, đám trai làng thường kiếm cớ đi chợ Tết để nhìn đám con gái làng mình. Cũng theo lời bà, hồi đầu thế kỷ 20, vua Cao Miên cũng tìm sang đây cưới vợ. “Thời xưa, con gái tụi tui chỉ đua nhau may đồ bà ba, tóc dài cả thước. Mỗi lúc đi ruộng là khăn rằn quấn không muốn hết búi tóc trên đầu. Tối về gội đầu là má hay chị em phải phụ. Mà không hiểu sao hồi đó đi mần ruộng cứ phơi cái mặt ra chứ có bịt khăn như giờ đâu, vậy mà da đứa nào cũng trắng”.

Nức tiếng với gái Nha Mân ai ai cũng đẹp, theo người dân, người được mang danh hoa khôi ở đây là bà Nguyễn Ngọc Tiết, con gái ông cả Trọng giàu có nhất vùng. Được sự hướng dẫn, chúng tôi tìm đến nhà bà Tiết. Ông Trần Văn Mão, 82 tuổi (chồng bà Tiết) cho biết một tai nạn cách đây mười năm đã lấy đi sinh mạng của bà. Ông kể với vợ với nỗi buồn nhưng xen lẫn tự hào: “Xưa vợ tôi là hoa khôi xứ này đó, nhiều người hỏi cưới bả không chịu, ưng phải tôi nên cuộc đời bà ấy khổ lúc về già”.

Ông nhớ lại, cô gái thứ 11 của ông Cả Trọng (thường gọi cô Mười Một) vốn nổi tiếng là hoa khôi trong vùng. Khi tốt nghiệp Tú Tài, cô lên SàiGòn học và quen ông Ba Nhẫn (lúc đó là nhân viên văn thư cho một công ty nhỏ), để lại sự nuối tiết cho nhiều chàng trai nơi đây. Lấy nhau và sinh được hai người con thì giặc Pháp càn vào, ông bà dắt dìu nhau về quê vợ sinh sống.

Cứ tưởng cuộc sống thế là an nhàn, vợ chồng ông sinh thêm 5 người con nữa. Sau giải phóng, vợ chồng ông phải làm thuê làm mướn để mưu sinh. “Nói ngay, gái Nha Mân đẹp người lại đẹp nết, công việc nội trợ giỏi lắm. Nói không phải “mèo khen mèo dài đuôi”, như vợ tôi là một tiểu thư nhưng tháo vác mọi thứ.

Khi gia sản không còn gì, hằng ngày tôi đạp xích lô, vợ tôi ngoài việc đồng án còn nội trợ ở nhà để phụ chồng nuôi con ăn học. Nay 7 đứa con của tôi đều có nghề nghiệp ổn định thì bà ấy bỏ tôi mà đi. Nhưng gái Nha Mân giỏi giang, đó là chuyện của 60 chục năm về trước. Còn con gái bây giờ “loãng” hết rồi. Họ chê công việc ở đây chân lấm tay bùn, bỏ đi xứ khác làm ăn hoặc lấy chồng nước ngoài hết rồi…”.

Nha Mân là một trong những miền gái đẹp bậc nhất vùng châu thổ Cửu Long, chuyện đó không cần phải bàn cãi, nhưng cũng đã… xưa rồi. Bây giờ, con gái Nha Mân đang dần bị “loãng” khi các mỹ nữ thay nhau lấy chồng ngoại và đi lập nghiệp tứ phương… Khi sắc đẹp thành dĩ vãng… Là một trong những mỹ nhân của miền gái đẹp một thời, cụ Phan Thị Lợi (82 tuổi) từng nuôi cách mạng trong thời kháng chiến chống Mỹ giờ đây sống một mình trong căn nhà tình thương. Giọng run run, cụ nói : “Lúc mấy ông cách mạng nằm vùng, tui nấu cơm cho mấy ổng ăn chứ có làm được nhiều gì cho đất nước đâu”. Cụ kể, cuộc sống của cụ gặp nhiều trắc trở.

Hồi con gái, cũng nhiều người đến hỏi, cuối cùng cụ chọn một anh nông dân cùng xóm làm chồng. Sống với nhau được vài năm thì ông có người phụ nữ khác, cụ đành chia tay để ông vui vầy bên duyên mới. Đến đời chồng thứ hai cũng không được êm đẹp, ông ấy cũng có vợ khác. Trải qua hai đời chồng nhưng cụ không có mụn con nào, giờ già rồi vẫn sống cô đơn một mình.

Tôi hỏi về chuyện gái đẹp xứ Nha Mân, cụ Lợi liệt kê ra một loạt danh sách những người đẹp có tiếng ngày xưa, rồi thở dài : “Những hoa khôi ngày xưa giờ đã gần đất xa trời hết rồi, còn bây giờ, con gái xứ này đã bỏ đi hết, cuộc sống thời hiện đại đã làm thay đổi mọi thứ”.

Quả thật, từ một địa danh hoang vu, hẻo lánh, xã Tân Thuận Đông ngày nào giờ đã trở thành một vùng đô thị mới, nhộn nhịp và náo nhiệt. Những thiếu nữ nơi đây cũng ngày càng thay da đổi thịt, thay vào vẻ đẹp tự nhiên ngày xưa thì nay được tô đậm má hồng môi đỏ. Để thẩm định lại tin đồn, chúng tôi dạo một vòng quanh chợ mong tìm được một cô gái Nha Mân như trong thơ ca, nhưng chợ dường như chỉ còn thanh niên và người lớn tuổi.

Chị Huỳnh Thị Ngọc Dung (53 tuổi) – con gái bà Tiết (hoa khôi xứ Nha Mân một thời) – cho biết : “Gái Nha Mân nay nếu không có chồng nước ngoài thì cũng lên Sài Gòn làm hết rồi, tết họ mới tập trung về. Những ngày giáp tết mấy chị lên đây mà xem, cô nào cũng đẹp, ăn mặc không thua gì gái thành thị đâu nha”.

Nha Mân một thời nổi tiếng với nhiều cô gái đẹp nên sau giải phóng, nhiều dân Tây sang đây cưới vợ. “Lúc đó ai cũng nói những cô gái đó là dân phản động vì lấy chồng Tây. Mình cũng không trách họ được, cuộc sống khó khăn, các cô gái mới lấy chồng Tây để giúp gia đình hết khó. Tôi thấy nhiều cô gái gửi tiền về cho cha mẹ xây nhà lầu nhiều lắm. Từ lấy chồng Tây rồi đến phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc,… dần dần Nha Mân hết gái, đàn ông xứ này phải sang xứ khác cưới vợ”. Chị Dung cho biết thêm.

Và những chuyện buồn chưa kể hết… 

Từ khi phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc lan về, cuộc sống xứ Nha Mân trở nên loạn nhịp… Cuộc sống đổi thay, đô thị hóa vùn vụt khiến cho mảnh đất Châu Thành nhanh chóng lột xác. Những thiếu nữ ở đây cũng ngày càng cuốn hút hơn. Sự cuốn hút này đã nhanh chóng lọt vào tầm ngắm của những cò mai mối gần xa.

Trong suốt chuyến hành trình, “câu kết” cho câu chuyện về người con gái Nha Mân của những người dân tại xứ này mà chúng tôi từng gặp chỉ là sự xót xa cho “nét đẹp” đang bị biến mất. Nhất là kể từ thời điểm rộ lên phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Nha Mân náo loạn bởi những tay môi giới hôn nhân lùng sục từng nhà.

Một bậc cao niên cho biết : Cách đây 7 năm, mấy người môi giới lấy chồng nước ngoài đến nhà, lúc đó gia cảnh tôi rất nghèo. Nếu chấp nhận thì có ngay 30 triệu đồng tiền mặt, đối với gia đình tôi thì số tiền đó rất lớn nhưng cũng may là chúng tôi không nghe lời, nếu không thì giờ cũng ân hận. Mấy chú cứ đi hết xã này mà hỏi, con gái Nha Mân lấy chồng ngoại nhiều lắm.

Cách đây không lâu, người dân sống quanh chợ Nha Mân khá quen với hình ảnh hai người đàn bà lạ, ăn mặc lịch thiệp, chuyên đi ô-tô xịn và xưng là tiến sĩ nghiên cứu tâm lý từ Sài Gòn về làm việc. Tuy nhiên chẳng thấy họ nghiên cứu gì mà hai người đàn bà này sớm tối chỉ lo tiếp cận những người đẹp Nha Mân. Chính vì nổi tiếng là gái đẹp nên mấy “tú bà” thường ve vãn đến đây săn mồi.

Cách đây 2 năm, người dân ở đây xôn xao vụ tú bà Đinh Thị Thu Hồng bị bắt về tội dụ dỗ gái địa phương ra nước ngoài bán dâm. Cơ quan điều tra cho biết, Hồng đã lừa được 13 cô gái trẻ đẹp ra nước ngoài làm gái mại dâm. Khám xét nhà Hồng, công an phát hiện 73 hồ sơ của những cô gái trẻ đẹp gốc Nha Mân và các vùng lân cận. Dự định sẽ bán họ sang Malaysia làm gái.

Người dân nơi đây kể lại, lúc Hồng chưa bị bắt, thị thường dùng bề ngoài sang trọng của mình để lừa gạt gái đẹp. Nói rằng mình là chủ một công ty gì đó, quen biết nhiều người làm chức lớn để giới thiệu cho thiếu nữ, rồi vẽ ra một viễn cảnh đổi đời cho những cô gái ít học. Những bậc cha mẹ khi nghe con nói cứ tưởng con gái mình vốn sinh ra ở vùng gái đẹp nên được nhiều người săn đón là chuyện bình thường, thậm chí còn tự hào.

Và cũng chính mỹ danh ấy làm con gái xứ này “tự tin” đua nhau lên Sài thành đi xin việc ở các quán bar, nhà hàng, quán nhậu… Nghe danh đã lâu, khi nhìn thấy hồ sơ con gái Nha Mân, các chủ nhà hàng rất thích thú.

Đối lập với gái Nha Mân ngày xưa hiền dịu, nết na thì ngày nay, gái Nha Mân ngoài vẻ đẹp vốn có thì đa số rất chịu “chơi”, mấy ông bợm nhậu chỉ cần có vậy… Phần lớn “trụ cột” các quán cà phê, quán nhậu trên địa bàn Sài Gòn là con gái Nha Mân. Nhờ duyên ăn  nói và vẻ tự tin về xuất xứ bản thân, các cô không gặp nhiều khó khăn trong chuyện lấy lòng những ông khách làng chơi..

Khi chúng tôi hỏi các bậc cha mẹ có con gái đi làm ăn xa có biết con gái họ làm gì không ? Chị Dung trả lời : “Số người gả con cho Đài Loan, Hàn Quốc thì tự hào vì được xây nhà cao cửa rộng, còn những cô gái đi làm quán bar thì biết cũng không cản được, họ đã quen với cách kiếm tiền dễ dàng đó rồi. Trong số đó, không ít người dở khóc dở cười với ngày trở về”.

Nói xong chị Dung kể một chuyện chấn động cả tỉnh cách đây 5 năm. Hai bên họ hàng của cô dâu Trần Thanh Lan, Lê Thị Kim Đồng tự hào khi nhìn con lên xe hoa để lấy đại gia xứ Hàn. Cứ tưởng sẽ được hưởng sung sướng nhưng sau đám cưới linh đình ấy là chuỗi ngày đau khổ của hai cô khi người chồng của họ lộ nguyên hình là những gã vũ phu, thường xuyên đánh đập vợ. Dù thể xác bị bầm giập nhưng không trốn về được.

Gia đình biết chuyện cũng đành câm nín chịu đựng nghe con than thở. Rồi ngày đau đớn nhất cũng đến, khi người nhà hai cô dâu này đón con về bằng hai cái xác không hồn. Hai cái chết thương tâm này xảy ra từ cuối năm 2007 và ám ảnh cho đến bây giờ. Gần đây nhất là cái chết oan uổng và chấn động dư luận của cô dâu Thạch Thị Hoàn Ngọc, xảy ra vào cuối năm 2010.

Giờ đây, người dân xã Tân Nhuận Đông vẫn luôn tự hào về miền gái đẹp quê mình. Nhưng trong niềm tự hào đó, đang ẩn chứa những xót thương cho bao phận má hồng nơi đất khách. Gái đẹp Nha Mân đang chìm vào quá vãng, chủ yếu do guồng quay của những cuộc mưu sinh, cùng tác động của cuộc sống thời mở cửa. Buổi chiều rời Nha Mân, đám cưới nhà ai đang tưng bừng rộn rã đón dâu. Nghe đâu cô dâu ở Vĩnh Long chứ không phải người địa phương…

Trận thủy chiến trên sông Tiền Theo những bậc cao niên ở Nha Mân và một số tài liệu ghi lại, khoảng giữa năm 1784 mượn cớ giúp Chúa Nguyễn Ánh chống lại nhà Tây Sơn, khoảng 2 vạn quân Xiêm đã theo hai đường thủy bộ tiến vào địa phận Kiên Giang. Liên quân này có thêm 4.000 lính của Chúa Nguyễn Ánh. Đến cuối năm 1784, liên quân Xiêm – Nguyễn chiếm được một số vùng đất ở phía tây thành Gia Định.

Họ cho đóng quân ở vùng Trà Tân (nay thuộc huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) để dự trữ lương thảo, khí tài chuẩn bị đánh thành Mỹ Tho và Gia Định. Lúc này, Chúa Nguyễn Ánh cùng bầu đoàn thê tử hàng trăm người cũng trú tại đây. Cuối năm 1784, khi liên quân Xiêm – Nguyễn uy hiếp cả thành Mỹ Tho và Gia Định thì Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ liền đưa 2 vạn quân từ Quy Nhơn xuôi xuống thành Mỹ Tho quyết chiến với quân Xiêm. Sau khi điều nghiên địa hình, Nguyễn Huệ quyết định chọn đoạn sông Tiền từ rạch Gầm đến Xoài Mút dài khoảng 6-7km (nay thuộc địa phận huyện Châu Thành, Tiền Giang) làm chiến trường quyết chiến với liên quân Xiêm – Nguyễn.

Đêm 18 tháng 1 năm 1785 (ngày 8 tháng Chạp năm Giáp Thìn), lợi dụng con nước đang xuôi, cả hai đạo thủy bộ quân Xiêm cùng rầm rộ tấn công Mỹ Tho. Khi liên quân Xiêm – Nguyễn vừa lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn, từ hai bờ sông Tiền và dọc bờ cù lao Thới Sơn, các đại bác cùng pháo hỏa hổ của bộ binh Tây Sơn bắn ra uy hiếp dữ dội.

Những chiến thuyền Tây Sơn từ những nhánh rạch nhỏ kéo ra chặn đánh đầu, số khác xông ra đánh vỗ hông nhằm chia cắt đội hình và đánh chặn đường lui, dồn đoàn thuyền của đối phương vào thế tiến thoái lưỡng nan. Cùng lúc ấy những thuyền nhẹ chở đầy những vật liệu dễ cháy đâm thẳng vào những chiến thuyền đang rối loạn làm cho số bị chìm, số bị cháy…

Trời vừa rạng sáng, thì chiến cuộc cũng vừa dứt. Kết quả là 300 chiến thuyền và gần 3 vạn quân Xiêm – Nguyễn bị phá tan. Chúa Nguyễn Ánh cùng bầu đoàn thê tử và một ít tùy tùng đang đóng quân ở Trà Tân nghe tàn quân báo hung tin thất trận vội quay thuyền chạy theo sông Tiền tìm đường thoát thân. Bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, hàng trăm cung tần mỹ nữ chân yếu tay mềm bỗng chốc trở thành “của nợ”. Nhiều người trong số này chịu đựng không nổi cực khổ trên đường trốn chạy nên Chúa Nguyễn Ánh đành gạt nước mắt, bấm bụng bỏ lại hàng trăm cung tần mỹ nữ dọc đường.

Để “nhẹ gánh loạn ly”, những mỹ nhân được ban cho ít vàng bạc rồi lên tá túc ở các làng bên bờ sông Tiền, nay thuộc Nha Mân (Châu Thành, Đồng Tháp) và cù lao Ông Chưởng (Chợ Mới, An Giang). Theo lời kể của các cụ cao niên, những nhan sắc khuynh nước khuynh thành này nói đủ các giọng ở nhiều vùng miền, nhưng lại hiếm người miền Tây Nam Bộ.

Ông Tám Khai – một người sống gần cả thế kỷ bên bờ Nha Mân cho rằng, chính nhờ nguồn “gen” cung phi mỹ nữ lưu truyền mà xứ Nha Mân mới có nhiều thiếu nữ đẹp như hôm nay. Tương truyền, những mỹ nhân bị “bỏ rơi” đều lấy chồng là người địa phương, trở thành nông dân nhưng con cái do họ sinh ra đều đẹp như tiên đồng ngọc nữ.

Theo nhận xét của nhiều người, nhóm mỹ nữ dạt vào cù lao Ông Chưởng cũng lấy chồng, cũng tạo được một “miền gái đẹp” nhưng không nổi tiếng bằng con gái Nha Mân. “Hồi nhỏ, tôi nghe ông bà kể lại người đẹp xứ Nha Mân đếm không kể xiết. Khoảng đầu thế kỷ thứ 20, các vua xứ Cao Miên mang vàng bạc châu báu xuôi dòng sông Tiền sang tận “miền gái đẹp” Nha Mân để tìm ý trung nhân” – ông Tám Khai quả quyết.

Cho đến nay, người Nha Mân vẫn tự hào vì đàn bà xứ này đẻ 10 đứa con gái thì hết 9 đứa là người đẹp, đứa còn lại cũng trên trung bình. Trong những ngày xuân, trên những con đường dọc theo các bờ kênh, bờ rạch đi dọc hai bờ rạch lúc nào cũng nườm nượp đàn bà con gái đẹp quần là áo lượt muôn màu sắc ngược xuôi, kẻ vào trong ngọn, người ra ngoài vàm thăm viếng thân nhân, bạn bè, nhìn không chán mắt.Trong những cuộc trà dư tửu hậu, luận bàn về sắc đẹp phụ nữ, các bậc cao niên ở miền Tây Nam Bộ đều thừa nhận, đất chín rồng (đồng bằng sông Cửu Long) là nơi có nhiều “miền gái đẹp”. Nhưng nổi tiếng nhất và đi vào ca dao tục ngữ, được truyền tụng lâu đời phải kể đến “miền gái đẹp” Nha Mân, thuộc tỉnh Đồng Tháp.

Hàng trăm năm trôi qua, nhưng nhắc đến nét đẹp con gái Nha Mân ai cũng nhớ câu “Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh, gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”. Từ xưa, gà Cao Lãnh nổi tiếng đá hay, lì đòn. Còn con gái Nha Mân, nói như ông Tám Khai, người cố cựu xứ Nha Mân, nay đang sinh sống ở thị trấn Cái Tàu Hạ, cách “miền gái đẹp” Nha Mân không xa, thì từ xưa đến nay con gái Nha Mân “nhìn không biết chán vì… ngộ (đẹp) nhất miền Tây”.

Qua khỏi thị trấn Cái Tàu Hạ gần chục cây số là đến địa phận “miền gái đẹp” Nha Mân, thuộc xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Từ năm 1940, ba xã Phú Nhuận, Tân Hựu, và Tân Hựu Đông được ghép thành Tân Nhuận Đông thuộc quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc. Từ năm 1956 đến năm 1965, Nha Mân thuộc quận Đức Tôn, Sa Đéc. Năm 1966, tỉnh Sa Đéc được tái lập, Nha Mân trở lại trực thuộc quận Châu Thành cho đến ngày nay.

Nha Mân, một phía giáp với sông Tiền quanh năm chở nặng phù sa bồi đắp cho những vườn cây ăn trái xanh tốt, một phía gần giáp với sông Hậu gạo trắng nước trong. Rạch Nha Mân bắt đầu từ một nhánh của sông Tiền, chảy quanh co uốn khúc hàng chục cây số trong những khu vườn, những thửa ruộng màu mỡ rồi nối vào rạch Ba Càng của Vĩnh Long, đổ ra phía sông Hậu.

Phía bờ trái sông Nha Mân, từ cầu Nha Mân vào các vườn cây ăn trái trĩu quả, có nhiều rạch nhỏ như rạch Chùa Ông Chiêm, rạch Bà Thiên, rạch Cầu Xoay, rạch Ông Đại, rạch Ông Yên, rạch Tre, rạch Rắn, rạch Cái Ngổ, rạch Da, rạch Cầu, rạch Bằng Lăng, rạch Mương Khai, rạch Ba Càng… Ông Tám Khai nói, con gái Nha Mân hàng trăm năm qua ra đời quanh những cái tên rạch ấy. Trước đây nhiều người cho rằng, nước rạch Nha Mân trong lành, mát ngọt phù sa ngày đêm vun đắp, làm cho da dẻ các cô gái trắng trẻo mịn màng, giọng nói thanh tao, mắt phụng mày ngài, dáng đi uyển chuyển nhẹ nhàng, thanh thoát.

Nhưng những điều võ đoán đó đều không bao giờ đúng, bởi sắc đẹp của con gái Nha Mân chỉ một phần nhờ con nước phù sa sông Tiền, phần chủ yếu làm nên huyền thoại “miền gái đẹp” Nha Mân lại ở tuốt tận kinh đô Huế, cách xa xứ Nha Mân cả ngàn cây số.  (theo Du Nguyễn)(Còn 1 kỳ nữa)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

U HỒN TRONG ĐẤT THÁNH TÂY

U HỒN TRONG

ĐẤT THÁNH TÂY

– Chu Nguyễn

Đọc lại bài Văn Tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du trong tiết tháng bảy, mà thương những u hồn còn vất vưởng cõi trần, nhất là sau cơn binh lửa, kẻ sống từng:
Kìa những kẻ bài binh bố trận

Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung

Gió mưa sấm sét đùng đùng

Phơi thây trăm họ nên công một người.

Rồi cuối cùng lâm vào cảnh:

Khi thất thế tên rơi đạn lạc

Bãi sa trường thịt nát máu rơi

Mênh mông góc bể chân trời

Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

Khí âm huyền mờ mịt trước sau

Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường ?

Đó chính là hoàn cảnh của một sĩ quan Pháp từng nổi danh về trận mạc khi Pháp xâm chiếm Nam Kỳ (1858-1867). Nhân vật này là đại úy thủy quân lục chiến pháp Nicolas Barbé. Barbé tuy chỉ là đại úy nhưng khi thực dân mở cuộc cướp nước ta, thì những tay chiến binh nổi danh không phải hạng tướng lãnh kiêm chính trị gia khét tiếng giảo quyệt, như Amiral Courbet, Rigault de Genouilly…mà là những hung thần thực dân như Francis Garnier, Henri Rivière và Nicolas Barbé…

Biết bao thực dân bỏ mạng hoặc ở Hà Thành hoặc ở Sài Thành nhưng không nghe thấy truyền tụng hồn ma của kẻ viễn chinh từng phơi thây nơi chiến địa Lạc Hồng, còn quanh quẩn nơi dương gian trừ Barbé.

Barbé nổi tiếng khi sống với mối tình của một phụ nữ Việt nam và khi chết bị cắt cụt đầu, tứ chi bị cắt lìa nên khi mai tang, người ta phải vùi một phần tử thi của hắn ở đất Thánh Tây (Massiges or European Cemetery hay Cimetière Européen) mà sau này gọi là Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi trước khi bị san bằng và biến thành một công viên sau 1975.

Barbé là một trong những tay thực dân bị giết vào đầu cuộc xâm lăng và mộ của hắn cũng là một trong những ngôi mộ đầu tiên được chôn ở Đất Thánh Tây (dựng vào năm 1859) lúc đó còn có tên là nghĩa trang hải quân, trên phố cũ có tên là Rue Nationale (sau này là Hai Bà Trưng). Vào 1885, nghĩa trang này đã là nơi mồ chôn của 239 lính Tây.

Cái chết của Barbé được thực dân Pháp ngày ấy ca tụng như một anh hùng hy sinh vì tổ quốc, nên ngôi chùa hắn bị hạ sát trước có tên là Khải Tường được đổi tên là chùa Barbé và con đường gần nghĩa trang được đặt tên là Rue Barbé.

Ai có dịp thăm viếng nghĩa trang Mạc đĩnh Chi hay Đất Thánh Tây trước 1975 đều tò mò trước một ngôi mộ hoang liêu. Nơi đây đa số mộ bia đề bằng tiếng Pháp, ngay cả mộ của người Việt cũng không thoát ngoại lệ.

Một số mộ có ghi thêm chữ Hán và gần như tất cả đều được săn sóc và quét dọn, sửa sang, tô bồi mỗi năm và có nhiều ngôi chẳng mấy khi vắng bóng hoa tươi gửi người dưới mộ. Nhưng trong khung cảnh hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng ấy có một ngôi mộ bề thế ở góc trái cách cửa chính không xa, ngay dưới gốc một cây phượng, lại có vẻ hoang phế hình như đã lâu không có ai lai vãng, chẳng hề có một cánh hoa héo, một vết giày quanh quẩn và rêu đã mọc, mộ đã nghiêng, chữ trên bia đã mờ. Mùa thu, mùa đông chỉ có lá rụng cành khô phủ và mùa xuân chỉ có mấy đóa hoa mười giờ cố vươn từ đám cỏ gà um tùm và nở những cánh hoa chung thủy. Khách tò mò đọc kỹ mộ chí. Đúng là mộ của một sĩ quan ngươi Pháp với những chữ chỗ trắng chỗ đen như sau : Ci-git Barbé, Capitaine d’Infanterie de Marine, tué dans une embuscade, le 7 Décembre 1860. Souvenir de ses camarades”

“Đây là nơi yên giấc ngàn thu của Barbé. Đại úy Thủy quân Lục chiến hy sinh trong một cuộc phục kích đêm 7-12-1860. Các bạn hữu lập mộ”

Mộ của một sĩ quan người Pháp trong nghĩa trang Đất Thánh Tây thì không có gì là lạ vì trong nghĩa trang này có hàng mấy chục ngôi mộ của người Pháp, kể cả những nhân vật uy tín hơn, cấp bực cao hơn Barbé. Nhưng có lẽ chưa có tấm bia nào lại bề thế như vậy, cao tới hơn 2 mét. Đúng là đá xứ Quảng, dày bền, đồ sộ. Một đại úy quân viễn chinh chết giữa những năm người Pháp mới đặt chân chiếm Đông tam tỉnh Nam Kỳ sao lại được lập bằng một cái bia ngàn năm không mòn như thế ?

Người tò mò càng thêm tò mò vì trên bia lại ghi đầy chữ Hán. Nét chữ đã mờ nhưng cố gắng đọc vẫn có thể hiểu đó là một tấm bia ca tụng công đức của một vị công thần. Bia của công thần nào của nhà Nguyễn đã bị một anh thực dân tiếm dụng làm nơi ghi địa chỉ an nghỉ cuối cùng của mình ? Khách dùng khăn lau bớt bụi bậm trên bia có thể thấy người lập bia là hai nhân vật nổi danh trong lịch sử Việt Nam cận đại:

Hiệp biện đại học sĩ lãnh Lễ bộ thượng thư (thần) Phan Thanh Giản, Hình bộ thượng thư (thần) Trương Quốc Dụng phụng chỉ.

Có nghĩa là: Chúng thần là Phan Thanh Giản, Hiệp biện đại học sĩ lãnh Lễ bộ thượng thư và Trương Quốc Dụng, Hình bộ thượng thư phụng mệnh viết bi văn.

Từ đó mới biết đây nguyên là tấm bia ca ngợi công đức của công thần Phạm Đăng Hưng. Cụ Phạm Đăng Hưng là thân phụ của Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu (Bà Từ Dụ,) vợ vua Thiệu Trị. Thì ra tấm bia do vua Tự Đức ra lệnh cho các danh thần Phan Thanh Giản và Trương Quốc Dụng viết bia văn vào năm Tự Đức thứ mười (1858) và được chở từ Huế vào Gò công để dựng trước mộ cụ Phạm Đăng Hưng. Nào ngờ hải quân Pháp chặn ghe bắt được và dùng ngay vào việc lập bia cho Barbé vì Barbé mới chết dù đã chôn nhưng còn thiếu cái bia tươm tất. Lính Pháp lúc đó chẳng hiểu bia của ai và nếu trong đám cộng tác có ai biết cũng chẳng ai mở miệng trước cơn dao động lịch sử quá nhanh: Pháp lúc đó đang tung quân lấy Đông tam tỉnh rồi Tây tam tỉnh Nam Kỳ từ 1862 cho tới 1867. Ai cũng nghĩ cả nước còn có nguy cơ mất, có làm chi tấm bia đá!

Nhưng chỉ là một tấm bia thì câu chuyện không lạ. Lạ ở chỗ là Barbé vì tình mà chết chứ không chết trên chiến trường trước nghĩa quân Trương Định. Lạ hơn nữa là người yêu của Barbé lại là một cô gái Việt Nam thuộc dòng trâm anh thế phiệt và cuộc tình của họ khá đẹp và kết thúc vô cùng bi đát. Barbé chết và yên nghỉ nơi mồ sâu nhưng cô gái Việt từ đó biến thành ma vì “hận tình chưa trả cho ai, khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.”

Hai cây viết người Pháp Le Vedier và De Maubryan đã thuật lại thiên tình sử này trong “Scènes De La Vie Annamite – Ky Hoa” (Cảnh đời An nam ở Kỳ Hòa nxb P. Ollendorff, Paris 1884).

Bi kịch tình ái được kể lại như sau:

“Một ngày kia, trong lúc đi săn, Đại úy Barbé tìm thấy ở giữa sông Sài Gòn một chiếc bè trôi lềnh bềnh, trên bè hình như có người. Trôi theo bè có hai bầy cá sấu. Barbé kéo bè vào bờ, nhìn thấy một người đàn ông và một người đàn bà bị cột lại với nhau theo lối trừng phạt những kẻ thông dâm. Người đàn ông đã chết, chân trái đã bị cá sấu cắn đứt ngang, còn người đàn bà thì đang hấp hối. Barbé vội lấy dao cắt dây cột rồi vác người đàn bà lên vai đem về đồn. Người đàn bà này rất xinh và lập tức khiến trái tim Barbé xúc động. Nạn nhân về đồn bị đau và nằm luôn trên giường bệnh hai tháng và nhờ có bác sĩ Girrayd và Barbé chăm sóc thuốc thang tận tình nên lần lần hồi phục. Sau ba tháng được điều dưỡng tại đồn, người đàn bà đã khỏe nên xin phép Barbé được ra khỏi đồn để đi thăm thân nhân và hứa sẽ quay trở lại đồn với Barbé.

Rồi một đêm nọ, có một người Việt đến đồn tìm Barbé và cho hắn biết Thị Ba, người đã chiếm trái tim của Barbé, đang lâm bệnh sắp chết và hiện đang nằm tại một ngôi chùa cách đồn của Barbé không xa. Được tin này Barbé lập tức nhảy lên ngựa đi tìm nàng, nhưng chỉ ra khỏi đồn được một quãng thì trúng đạn phục kích. Trong đồn, bọn thân binh biết có chuyện chẳng lành, liền kéo ra tiếp cứu. Nhưng đã muộn, chỉ chừng 30 m, họ đã thấy Barbé nằm chết sóng sượt dưới đất bên xác ngựa, thân thể bị chém nát.

Theo người ta cho biết thì Thị Ba thuộc gia đình quyền quý, nhưng bị cưỡng ép lấy ông lãnh binh Nguyễn văn Sất. Nàng phải tản cư về làng Bình Lý vì đất Gia Định lúc đó đang ở trong vòng khói lửa. Ở Bình Lý, giữa những đồng ruộng mênh mông, Thị Ba gặp lại người quen từ thuở nhỏ tên là Nguyễn Văn Tri, hắn cũng là một võ quan trong hàng ngũ nghĩa quân. Giữa Tri và Thị Ba nối lại mối tình đậm đà. Trong khi đó viên phụ tá của Nguyễn Văn Tri là đội Dinh cũng rung động trước sắc đẹp của Thị Ba, nhưng Thị Ba không thèm ngó tới và tỏ ra khinh rẻ. Đội Dinh lấy làm tức tối và xấu hổ nên y bèn lập mưu gài bẫy Nguyễn Văn Tri và Thị Ba. Do đó cả hai đã bị lãnh binh Sất bắt trói và thả trôi sông cho chết.

Đến khi nghe Barbé đã cứu Thị Ba, lãnh binh Sất tức giận điên ruột đã quyết một phen sống chết với Barbé để chiếm lại Thị Ba. Và trong đêm ngày 3 rạng 4 tháng 7 năm 1860, lãnh binh Sất chỉ huy một đạo quân ồ ạt tấn công đồn Khải Tường. Lúc đó trong đồn nầy có 100 quân I-Pha-Nho và 60 lính Pháp đã chống cự và đẩy lùi được quân của lãnh binh Sất.

Căm thù vì không lấy được đồn Khải Tường để giết Barbé, nên lãnh binh Sất đã nghĩ ra mưu khác. Chờ cho Thị Ba ra khỏi chùa Khải Tường, lãnh binh Sất cho lính bắt Thị Ba đem nhốt chung với bọn đĩ điếm. Rồi mấy ngày sau lãnh binh Sất lập mưu phục kích đại úy Barbé khi ra khỏi đồn và sẽ bắt tình địch chặt đầu đem về cho Thị Ba nhìn thấy, rồi sau đó sẽ hành hình Thị Ba cho hả giận. Nhưng mưu kế này chỉ thực hiện được một nửa, Barbé bị hạ sát vì đang lúc Sất thực hiện giai đoạn tiếp thì quân Pháp tấn công. Lúc đó giữa Thị Ba và lãnh binh Sất lại xảy ra một cuộc cãi vã lớn, đi đến xô xát và cả hai đều chết vì trúng đạn.

Barbé chết không toàn thây và ban đầu, lúc chiến tranh đang ác liệt, cũng khó kiếm ngay một bia đá dựng lên cho kẻ đa tình nên quân Pháp lúc đó phải cướp một tấm bia của một nhân vật lịch sử Việt nam để làm bia cho Barbé. Thực là bi thảm cho một vong hồn chiến binh! Và cũng là thảm kịch cho chúng ta khi đất nước rơi vào tay ngoại bang!

Nhiều người thời đó và cả thế hệ sau này đều kể lại nhiều hiện tượng kỳ lạ về bóng ma đất Thánh Tây. Sau khi lãnh binh Sất và Thị Ba được mồ yên mả đẹp rồi, nhưng vong hồn Thị Ba vẫn còn hiện lên lởn vởn ở trước cửa đồn Chí Hòa đến đất Thánh Tây để tìm mộ kẻ tình chung đã chết vì chung tình. Còn u hồn Barbé vẫn lang thang vào những đêm mưa gió hay sương mù phủ thành phố, ở quanh khu Hai Bà Trưng và Lê Quý Đôn gõ cửa nhiều nhà gọi tên Thị Ba bằng giọng trọ trẹ của người ngoại quốc nói không sõi tiếng Việt!

Hy vọng qua cuộc biển dâu 1975, nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi không còn, u hồn Barbé sẽ có cơ hội bám theo thuyền tàu của người tị nạn trở về chính quốc! (theo Chu Nguyễn)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

RÙNG RỢN

BỐN ĐỒ VẬT BỊ MA ÁM

Chiếc roi ma được rao bán với giá 65.000 USD; chiếc nhẫn có ma của diễn viên câm; chiếc giường tầng bị ma ám ở Mỹ; và con búp bê ma của một sinh viên y khoa là những đồ vật bị tin đến sái cổ là bị ma ám.

1/.  Chiếc roi ma có giá 65.000 USD : Trên trang mua bán trực tuyến eBay, một người phụ nữ tên Mary Anderson ở Ấn Độ đã rao bán một chiếc roi ma kim loại có thể tự đi có giá 65.000 USD. Cô hi vọng rằng cuộc rao bán này có thể làm đứa con 6 tuổi của mình thoát khỏi sợ hãi vì đã tin rằng hồn ma của ông nội đang lang thang trong gia đình và đã “ám” vào chiếc roi kim loại đó.

3 Ma am 1Chiếc roi ma này đã được 132 người trả giá trên Ebay và hiện tại nó đang ở sòng bạc “lâu đài vàng” ở Antigua. Cô Anderson cũng yêu cầu người mua chiếc roi ma này viết thư cho con trai mình để nói rằng chiếc roi ma và con ma “ám” trong đó đang rất tốt.

2/. Chiếc nhẫn ma của diễn viên phim câm Mỹ : Rudolph Valentino(1895-1926) là một trong những ngôi sao phim câm vĩ đại nhất của Hollywood. Valentino bị chết bởi một vết loét năm 31 tuổi. Một số người cho rằng nguyên nhân cái chết của Valentino là do ông đã mua chiếc nhẫn ở một hiệu kim hoàn năm 1920. Chiếc nhẫn có một viên ngọc gọi là mắt của con hổ được gắn vào nó.

Sau khi mua chiếc nhẫn đó, Valentino đã khoe chiếc nhẫn với người bạn thân của mình và chính người bạn thân đã nhìn thấy sự xám xịt cũng như cái chết của ông sắp xảy ra. Sau đó thì sự nghiệp của Valentino dần lụi bại và ông đã chết trong vòng 6 năm sau. Nhưng Valentino không phải là nạn nhân duy nhất khi đeo chiếc nhẫn, người yêu của ông, bà Pola Negri đã bị ốm nặng sau khi đeo chiếc nhẫn.

3 Ma am 2Russ Colombo là diễn viên được thuê đóng vai Valentino trong bộ phim tiểu sử và cuộc đời ông. Sau khi đeo chiếc nhẫn, Colombo đã bị giết trong một tai nạn bắn súng mấy ngày sau đó. Tên lưu manh Joe Casino đã mua chiếc nhẫn và không đeo nó cho đến khi nghĩ  lời nguyền sẽ bị phai mờ. Nhưng sau nhiều năm sở hữu thì anh ta cũng đeo nó và chết trong một tai nạn xe hơi một tuần sau. Danh sách những  người bị “ám” bởi lời nguyền có lẽ còn dài nhưng từ năm 1960 thì không ai biết chiếc nhẫn đó ở đâu nữa.

3/. Chiếc giường tầng bị ma ám : Câu chuyện về chiếc giường tầng bị ma ám đã trở nên nổi tiếng đến nỗi câu chuyện về nó được phát trên chương trình truyền hình ăn khách Những điều huyền bí không lý giải được. Tháng 2 năm 1987, Alan và Debby Tallman ở Horicon, Wisconsin, Mỹ đã mua về nhà một chiếc giường tầng của một cửa hàng cũ và họ đã mang nó xuống tầng hầm. Nhưng đến tháng 5 năm 1987 thì họ mang chiếc giường lên trên gác và từ đây bắt đầu những điều kỳ lạ xảy ra.

3 Ma am 3Đầu tiên, bọn trẻ của họ bị ốm. Hai đứa đầu tiên ngủ trên chiếc giường đó thì nói rằng chúng nhìn thấy một con quỷ. Trong một lần trở về nhà sau lễ Giáng sinh năm 1988, Alan Tallman nghe thấy một giọng nói bảo ông hãy “đến đây”. Ông đi theo giọng nói tới gara và tận mắt chứng kiến một ngọn lửa đang cháy. Vội vã đi lấy bình chữa cháy nhưng khi quay lại thì ngọn lửa đã biến mất. Một vài tình huống đáng sợ hơn xảy ra, Alan nhận thức được chiếc giường bị “ma ám”, anh đã đốt chiếc giường và cũng kết thúc những câu chuyện oái ăm.

4/. Con búp bê ma : Hai nhà điều tra nổi tiếng Ed và Lorraine Warren, Mỹ đã có cuộc nghiên cứu về con búp bê bị ma ám đầu những năm 1970. Donna là một sinh viên y khoa được mẹ tặng cho một món quà là một con búp bê cũ. Cô sống cùng người bạn của mình tên Angie. Con búp bê được mẹ tặng cô đặt trên giường ngủ của mình và ngay sau đó cô đã thấy những điều kỳ lạ xảy ra. Con búp bê dường như có khả năng 3 Ma am 4tự di chuyển. Đôi khi các cô gái trở về nhà và nhìn thấy con búp bê đang ở những phòng khác nhau thậm chí còn thấy con búp bê khoanh chân trên ghế dài với cánh tay gấp lại.

Thỉnh thoảng các cô gái trở về nhà lại thấy những ghi chú giống như viết bởi như một đứa trẻ mới biết viết. Những ghi chú có viết: “Hãy giúp chúng tôi”. Nhưng các cô gái không thể biết được ai đã viết những ghi chú ngay cả khi nhiều chuyện kỳ lạ khác diễn ra sau đó. Chỉ cho đến khi các cô gái bắt đầu nhìn thấy máu trên con búp bê mà không biết là từ đâu.

Các cô gái đã gọi cho nhà chiêu hồn và được giải thích rằng con búp bê đã bị “ám” bởi một hồn ma của cô bé 7 tuổi tên Annabelle Higgins bị sát hại tại lô đất trống mà hiện nay là căn hộ của hai cô gái đã được xây dựng lên. Câu chuyện mà nhà chiêu hồn nói không biết có đúng sự thật không nhưng những hiện tượng kỳ lạ của con búp bê cũng đáng được coi là sự huyền bí rùng mình. (theo Chí Sĩ – Khampha)

Xuân Mai chuyển tiếp

TAN CHẢY TRÁI TIM TRƯỚC

LOẠT ẢNH CHÓ MẸ ‘BỈM SỮA’

CHĂM ĐÀN CON THƠ

Hình ảnh các bà mẹ cún ‘bỉm sữa’ chăm sóc đàn con thơ khiến người xem thấy ấm lòng, cũng như cảm nhận được sự thiêng liêng của tình mẫu tử.

H1: Bà mẹ cún hạnh phúc bên 6 đứa con thơ mới chào đời. H2: Nhà đông con của không ngon cũng hết. H3: Mẹ nào con nấy.

H4: Phục sát đất với tài vượt cạn của cô chó này khi cho “ra lò” hẳn 16 bé cún đáng yêu. H5: Cùng một tư thế. H6: Chó mẹ Huskies vui đùa cùng đàn con trên bãi cỏ H7: 11 cún con, ăn đã no tròn, cả đàn đi ngủ.

H8: Gia đình là tất cả. H9: Chó mẹ mệt nhoài với đàn con trong chuồng còn chó bố thì toe toét chụp ảnh. H10: Khó khăn lắm mới có thời gian chợp mắt một lúc.

H11: Ánh mắt chó mẹ ánh lên niềm tự hào vì “khối tài sản vô giá này”.H12: Thi xem ai ăn nhanh hơn nào. H13: Haizzz, bao giờ bọn nhóc mới lớn đây nhỉ. H14: Chụp ảnh và tạo dáng, mỗi đứa một kiểu

.

H15: Điệu đà và sang chảnh mọi lúc mọi nơi. H16: 4 chú cún bông tranh nhau rúc vào lòng mẹ.H17: Cô chó pit bull bên đàn con. (theo Hồng Anh – VOV)

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

CHUYỆN SÀI GÒN XƯA

NGƯỜI TA THƯƠNG NHỚ GÌ

Ở SÀI GÒN ?

Là người Sài Gòn, người ta thường nhớ gì ở Sài Gòn nhất ? Một khoảng lặng trôi qua. Có lẽ sự hồi tưởng đang trở lại trong đầu những người bạn nay tóc ngả hai màu. Có người nhớ tiếng rao trên đường phố, nhớ tiếng ồn ào trong khu xóm lao động, nhớ cảnh nhộn nhịp Sài Gòn dịp Tết những ngày còn thơ, nhớ những cuộc tình lang thang dưới vòm me xanh lá trên con đường Duy Tân đầy bóng mát, nhớ nhiều thứ lắm… Nỗi nhớ ùa về như cơn gió thoảng rồi qua. Nhưng với tôi những con đường góc phố Sài Gòn vẫn còn đọng lại mãi mãi.

Ðầu tiên tôi nhớ góc bùng binh Quách Thị Trang, nơi lần đầu tuổi nhỏ được ba tôi dẫn đi ngao du thành phố Sài Gòn. Quách Thị Trang là ai, biết để làm gì. Cái chợ Bến Thành treo đầy biển quảng cáo hình kem đánh răng anh Bảy Chà Hynos và Perlon kín chợ chẳng có gì đẹp. Chợ cũng chẳng làm tôi nhớ, bởi đi chơi Sài Gòn nhưng ba tôi chẳng ghé vào ăn. Ði chơi khơi khơi, mỏi chân ngồi nghỉ trên băng ghế xi măng giữa công viên thưa thớt cây xanh và chung quanh trang trí vài bồn hoa sặc sỡ.

Ngồi đây nhìn ngắm phố phường Sài Gòn bốn phương tám hướng. Nhìn dòng xe xuôi ngược, những dòng người tay xách nách mang hành lý băng qua cầu thang sắt ngang đường đến ga xe lửa về quê, những người buôn thúng bán bưng ngồi chật phía ngoài cửa chợ cất cao tiếng rao mời khách, những đứa trẻ đành giày, bán báo dạo lăng xăng đánh bóng mấy đôi giày “botte de sault” của mấy anh lính Mỹ.

Tôi may mắn hơn mấy đứa trẻ cùng trang lứa đó. Và tôi cố tìm trong những đứa đánh giày xách thùng đi trong công viên trước chợ một hình dáng thân quen. Tự nhiên lúc đó tôi nhớ thằng Hên người bạn nhỏ nhà xóm bên mới học lớp ba đành bỏ học đi bụi đời. Chừng tuổi ấy ra đời có thể làm gì kiếm sống ?

Hoàn cảnh gia đình nó không đến nỗi tan hoang khi tự dưng ba nó bỏ nhà theo vợ bé, má nó cũng không vừa bỏ mặc đám con sống chết tự lo đi buôn chuyến xe hàng dài ngày, cả tháng mới về nhà năm ba bữa. Rồi tôi nghe hàng xóm nói thằng Hên bỏ nhà ra đi, mới tí tuổi đầu mà lá gan to bằng người lớn. Thỉnh thoảng tôi ghé ngang dò la tin tức nhưng lúc nào cửa nhà cũng đóng im lìm.

Thế là tôi mất một thằng bạn nhỏ chơi bắn bi, nó sống ở đầu đường xó chợ khiến lòng tôi ngậm ngùi, chợt nhớ đến bài hát “Nó” văng vẳng đâu đây. “Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ. Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo. Ngày nó sống kiếp lang thang. Ngẩn ngơ như chim xa đàn, Nghĩ mình tủi thân muôn vàn”.

Hồi nhỏ tôi không thích bài hát này, nghe như nỗi đau quất vào da thịt một đứa nhỏ nhưng sau này hiểu ra chút ít. Thời buổi đó, trẻ con mồ côi mất cha mất mẹ vì chiến tranh bom đạn, vô gia đình vì muôn vàn lý do đều có thể đẩy đứa trẻ ra ngoài đường phố. Lòng cảm thương cho thân phận nhỏ bé lặn hụp trong cuộc đời mà ông nhạc sĩ Anh Bằng viết nên lời nhạc buồn đó chăng. Xem ra thằng có cái tên Hên mà chẳng may chút nào.

Lớn lên chút xíu, tôi biết la cà trên đường phố sau những buổi tan học cuốc bộ về nhà. Trường tôi nằm ở quận 3, nên con đường Bà Huyện Thanh Quan bán đầy bò bía, chè đậu xanh đậu đỏ, là một địa điểm hấp dẫn giới học trò chúng tôi. Nhưng với tôi, con đường Trương Ðịnh cắt ngang gần đấy rất đỗi nên thơ, nhất là đoạn giữa gần trường Nguyễn Thị Minh Khai (Gia Long ngày trước) ra Công viên Tao Ðàn. Một con phố bình yên và rất lặng lẽ với những hàng dầu hàng sao rợp bóng.

Những hàng cây cao bóng mát này lại là ký ức đẹp, tôi mang hình ảnh đó vào bài tạp văn “Những hàng cây thị xã” trong một lần về thị xã Trà Vinh.

Mỗi khi có dịp đi qua tỉnh nào đó, tôi hay hỏi người bản xứ về cảnh đẹp địa phương. Hôm đến Trà Vinh, người đầu tiên tôi hỏi là chị chủ nhân khách sạn chỗ tôi trọ. Ðã gần nửa thế kỷ sống ở đất Trà Vinh, chị bảo trong thị xã không có cảnh gì đẹp ngoại trừ những ngôi chùa Tàu, chùa Việt và đặc biệt là chùa Khmer cổ kính.

Hôm sau, trên đường đến Trường Ðại học Trà Vinh, tôi hỏi một cô gái tuổi mười chín, đôi mươi. Sau vài phút do dự, cô cho tôi một câu trả lời thật bất ngờ: Những con đường rợp bóng cây xanh ở thị xã…

Ðúng vậy đó. Chiều dần buông, đứng ngoài ban công khách sạn nhìn về góc xanh thị xã thấy rõ những vạt nắng vàng vương trên tàn me làm những vòm lá trông thật mơ màng. Hình ảnh ấy đã quyến rũ tôi rời khách sạn thả bộ về hướng đó. Từ con đường Hàng Ðiệp bông trổ lấm tấm vàng, qua Hàng Sao cao vút đứng lặng thinh, bước lại Hàng Dầu um tùm lá chen lẫn màu hoa dầu hồng non ưng ửng. Dầu là loại cây rừng cho gỗ, thân có nhựa dùng để trét ghe rất tốt nên người ta cũng gọi là dầu rái, có người gọi là dầu dù.

Trái dầu có hai cánh lá, nhưng nói là cánh hoa đúng hơn. Lúc còn non, chúng có màu hồng pha màu cà phê sữa, hạt lộ ở cuống hoa. Hạt non màu xanh có khía giống như hạt xí muội. Ðến cuối tháng Bảy thì trái dầu già khô lại. Trái cùng hai cánh hoa ngả sang màu nâu đất sét. Chỉ cần một chiều lộng gió, những cánh hoa già rơi khỏi cành mẹ bung ra như cơn mưa dù, xoay tít bay bay trong không trung mang theo chiếc hạt, nhẹ nhàng đáp xuống mặt đất. Hình ảnh đó trông thật thích mắt và luôn để lại ấn tượng cho nhiều người. Chẳng thế, hình ảnh cánh hoa dầu bay trong gió đã vào thơ vào nhạc :

Cánh hoa dầu xoay tít bay bay

Nhớ chiều nào, bên em từng giờ…

Dù chưa có được cái cảm giác hạnh phúc bên em như nhạc sĩ Giáp Văn Thạch nhưng những “cánh hoa dầu xoay tít bay bay” ấy bay mãi trong ký ức tuổi học trò của tôi. Tôi biết được điều này là nhờ có lần được ba tôi dẫn đi Chợ Cũ Sài Gòn ăn phở. Từ nhà, hai cha con đi bằng xe ngựa, rồi lội bộ dọc theo đường Hồng Thập Tự vào vườn Tao Ðàn. Vườn Tao Ðàn ngày ấy rất vắng người, chỉ toàn cây dầu cao tít và tàn lá che mát cả một vùng rộng lớn.

Ba đi trước, tôi theo sau, giẫm chân lên những chiếc lá khô xào xạc giống như những nhà thám hiểm trong một cánh rừng già. Bỗng ba tôi cúi xuống nhặt những trái có hai cọng lá khô, hỏi tôi có biết trái gì không, rồi ba tôi bảo quăng chúng lên trời. Kể từ sau đó, những trái dầu dù theo tôi đến lớp cùng chúng bạn thả từ lầu ba xuống chào đón ngày khai giảng năm học mới, khi những cánh phượng hồng đã rời xa mùa hạ. Những cánh hoa dầu bay bay không mất tiền mua của lũ nam sinh chúng tôi đã làm bọn con gái học trò thích mê…

Tất nhiên nỗi nhớ nơi mảnh đất mình sinh ra và lớn lên của mỗi người đều rất nhiều và mỗi người có quyền lựa chọn những hình ảnh ký ức đẹp đẽ nhất. Cái đẹp làm tâm hồn lắng đọng cho ta khoảnh khắc bình yên giữa nhịp sống hối hả xôn xao của chốn thị thành. Có người chẳng thèm nhớ con hẻm nhỏ ngày xưa nơi sinh ra và lớn lên như anh bạn của tôi. Anh bảo ghét lắm cái xóm lao động đã nghèo mà còn hay sanh sự, đánh lộn nhau hà rầm. Người bên ngoài nghe đi vào xóm Miếu Nổi là sợ bọn lưu manh. Anh thích những con hẻm ngoài phố trung tâm bên hông đường Hàm Nghi hay các con hẻm của người Tàu Chợ Lớn trên đường Trần Hưng Ðạo, Ðồng Khánh. Những con hẻm đó bình dị và hiền lành khác xa hẻm lao động xô bồ xô bộn.

Thế nhưng khi nghe tôi hỏi chuyện xóm nhỏ Miếu Nổi ngày xưa thì anh kể ngàn chuyện lẻ một không hết. Anh nhớ từ góc phố con hẻm xưa với một tâm hồn trẻ trung và rộng lượng. Dường như anh yêu mảnh đất mình “ghét bỏ” hơn bao giờ. Bởi vì khi cái gì mất đi hay xa rồi mới làm lòng ta hồi tưởng và càng yêu mến hơn. Chẳng thế mà nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. (theo Trang Nguyên)

Dung Dung chuyển tiếp

SÀI GÒN CỦA TÔI,

50 NĂM TRƯỚC

Đặt chân tới Sài Gòn năm 1954, lúc ấy tôi là đứa bé 9 tuổi, theo gia đình từ miền Bắc di cư vào miền Nam tự do. ký ức của đứa bé 9 tuổi hẳn nhiên không thể ghi nhận được gì nhiều; nhưng đứa bé lớn lên và sinh sống tại Sài Gòn từ thuở ấy tới bây giờ, đã giúp tôi dễ dàng gợi dậy trong ký ức, ít nhất là những hình ảnh đậm nét của Sài Gòn, 50 năm về trước.

Ấn tượng về Sài Gòn trong tôi từ lúc ấy tới bây giờ cũng không phai nhạt bao nhiêu, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ấn tượng sâu đậm, bởi Sài Gòn những ngày tháng ấy quá mới lạ trong tâm trí tôi, đứa trẻ đã trải qua một đoạn đời ấu thơ tại hà nội.

Điều đầu tiên tôi nhận biết lúc ấy, tôi nói với cha tôi, là Sài Gòn có vẻ rất Tây so với Hà Nội. cha tôi bảo, bởi vì một trăm năm Pháp thuộc, Sài Gòn và miền Nam là thuộc địa; trong khi Hà Nội của miền Bắc là bảo hộ.

Cha tôi làm thông ngôn trong quân đội liên hiệp Pháp, dạy tiếng Pháp cho các con từ nhỏ; nên tôi nhớ được rành rõ những tên pháp ngữ đặt cho nhiều đường phố lớn của Sài Gòn lúc ấy. căn nhà đầu tiên của gia đình chúng tôi khi vào Sài Gòn ở đường Bà Hạt, quận 10. ðường Bà Hạt là đường phố nhỏ, một đoạn chạy ngang đường phố lớn mang tên Tây, là Lacaze – tức đường Nguyễn Tri Phương.

Vài năm sau, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho thay thế tên Tây; vẫn giữ lại tên những danh nhân thế giới, dù danh nhân ấy là người Pháp, như Calmette, Pasteur, Alexandre De Rhodes… những đường phố mang tên Tây, đa số là quan chức pháp, được thay thế, như : Bonard – Lê Lợi; Charner – Nguyễn Huệ; Galliéni – Trần Hưng Ðạo; De La Grandrière – Gia Long; Catinat – Tự Do; Lacaze – Nguyễn Tri Phương… tuy nhiên, nhiều năm sau đó, dân Sài Gòn vẫn nói: ði bát phố Bô-Na, Catinat; đi mua hàng ở thương xá Charner…, luôn là gọi tên Tây, cho 3 đường phố đẹp bậc nhất của Sài Gòn.

Phố phường Sài Gòn lúc ấy đa số là những con đường lớn rộng, dài dằng dặc. và rất nhiều cổ thụ. ðặc biệt loại cây có tên rất bình dân là cây dái ngựa – tên khoa học là meliaceae – thân to nổi mấu gồ ghề, tỏa rộng cành lá, bóng mát ngợp đường Lê Ðại Hành, trước mặt trường ðua Phú Thọ, quận 11. hàng cây me xanh mát mắt suốt con đường Gia Long, con đường có bệnh viện Grall do người Pháp lập nên, giữa vườn cây rộng rinh. rừng cao su bát ngát, chạy dài theo con đường Nguyễn Văn Thoại, từ trường ðua Phú Thọ tới ngã tư Bảy Hiền…

Năm tôi còn nhỏ tuổi, cha vẫn dẫn đi chơi mỗi chủ nhật. vào vườn ông Thượng, còn có tên tây là Bờ-Rô, sau đó mới gọi tên là vườn Tao Ðàn; dẫn đi chơi ở sở thú – Thị Nghè… cây trồng ở sài gòn phong phú là nhờ công sức của vị giám đốc sở thú đầu tiên, người Pháp; ông từng là chuyên viên nghiên cứu về cây trồng ở nhiều nơi trên thế giới; nhất là vùng nhiệt đới ở phi châu, có nhiều loại cây thích hợp với thổ nhưỡng sài gòn. những năm sau này, lớn thêm vài tuổi, lại được anh cùng cho đi “bát phố Bô-Na”, để thấy rõ Sài Gòn quả là rất Tây; tôi tha hồ thưởng ngoạn vẻ đẹp “Paris” của nó.

Tản bộ trên đường Catinat, từ nhà thờ Ðức Bà tới bến Bạch Ðằng, nhìn ngắm các cửa hiệu sang trọng thời thượng dọc con phố. và passage Eden, rất nên gọi là “hành lang ði bộ,” chính diện nhìn ra đường Catinat. passage Eden gồm trong đó: bát phố; xem chiếu phim – trong rạp Eden giữa lòng hành lang; mua sắm; ăn kem uống cà phê ăn tối ở quán givral liền bên… và ngắm nhìn trai thanh gái lịch, quý ông bà Sài Gòn, cũng ở trong đó.

Trai thanh – quý ông thì áo sơ mi quần tây trắng lốp; mũ flechet; giày deux couleurs; đồng hồ quả quít đeo ở dây lưng. gái lịch – quý bà thì áo dài lemur-cát tường không thua phụ nữ hà nội, hoặc vận jupe như “bà đầm”; tay xách porte feuille, chân đi guốc cao gót; tóc búi cao hoặc uốn dợn sóng, cổ đeo kiềng vàng…

Ra vào passage Eden nhiều lối, ưa thích ra vào lối nào cũng được. anh tôi dẫn tôi vào lối cửa ở đường Charner, rồi đi vòng qua Bonard, rồi ra cửa Catinat… rồi chúng tôi ghé hiệu sách Albert Portail – sau có tên là Xuân Thu – sát cạnh đó, toàn là sách từ bên tây đưa sang, tha hồ mà đọc mà ngắm.

Rồi với bạn học cùng lớp cùng trường Chu Văn An, trường-trung-học-di-chuyển-Bắc-Việt (có ghi ở bảng hiệu của trường như vậy, vì trường cũng di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn) đi chơi và chụp ảnh lưu niệm Sài Gòn.

Bất cứ buổi sáng chủ nhật nào, góc thân thuộc nhất, tập trung nhiều nhất các “bác phó nhòm” chính là quảng trường trước mặt quán Givral. mái hiên cong kiều diễm của quán Givral, và con đường Catinat thẳng tắp, với hai hàng cây hai bên chạy dài ngút mắt, đã đi vào không biết bao nhiêu tấm ảnh lưu niệm Sài Gòn. hoặc những tấm ảnh của cả gia đình, lưu niệm ngày đi mua sắm ở thương xá Charner; buổi dùng bữa cơm tây ở một nhà hàng pháp trên phố Bonard…

Những ngôi đền Ấn ðộ giữa lòng Sài Gòn lúc ấy, cũng đi vào ký ức của đứa bé miền Bắc di cư khá đậm nét. sao mà sài gòn nhiều đền đài của Ấn giáo, với kiến trúc tinh tế kỳ công đến thế. những ngôi đền uy nghi tọa lạc ở các con đường Tôn Thất Thiệp – Trương Ðịnh – Công Lý của quận 1, trung tâm Sài Gòn. người Ấn ðộ sinh sống tại Sài Gòn khá đông, chỉ không nhiều bằng người Hoa, ở cả một vùng Chợ Lớn. tôi nghe dân Sài Gòn gọi họ là Chà Và. sau này tôi mới hiểu, Chà Và là đọc trại từ Java, gọi chung cho người Ấn ðộ và người Mã Lai; họ thường làm nghề mại bản, quản lý nhà đất, cho vay tiền, làm trung gian giữa người Việt và người Pháp…

Ðường Tôn Thất Thiệp, vào năm 1954 vẫn được xem là một tiểu Ấn ðộ, với những ông Chà Và cho vay tiền, chủ quán cà ri nị, mở tiệm kim hoàn. những người Ấn ðộ gốc ở Bombay thường kinh doanh ngành vải; họ có nhiều cửa hiệu ở đường Catinat, Bonard, Hàm Nghi, Galliéni, và chợ Bến Thành. từ lâu trước đó, cộng đồng người Ấn ðộ ở quận 1 còn đông đảo hơn nhiều; đã có một đợt người Ấn ðộ rời Sài Gòn sang định cư tại Pháp, vào năm 1945.

Có lẽ cái mới lạ, và thấy thân thương nhất, đối với người miền Bắc di cư vào Sài Gòn như tôi, là những quán tiệm bình dân, tiệm hoa kiều. hai thứ quán tiệm này khá giống nhau. buổi sáng tới quán, những ông già Sài Gòn đọc-nhựt-trình, nói chuyện ưa chêm tiếng Pháp, xưng tôi là mỏa (moi); những bà già hút thuốc điếu; những anh tài xe xích lô máy chở cả vợ con trong lòng xe rộng bè, tới quán ăn hủ tíu uống cà phê, xong chở về nhà rồi mới đi chở khách. một thời gian trong năm 1954-55, khi có xài tiền 5 cắc bằng kim loại; thì tại Sài Gòn, cứ việc lấy giấy bạc một đồng – có hình Nam Phương Hoàng Hậu – mà xé làm hai, xài một nửa tương đương 5 cắc ! thật là thuận tiện, đơn giản.

Người Sài Gòn – Nam Bộ không cần thiết phải biết tên người mới quen; chỉ hỏi người này là con thứ mấy trong gia đình, để kêu anh hai, anh ba… thân thương biết mấy ! chuyện trò với người Sài Gòn – Nam Bộ, câu chuyện của họ giản dị, rõ ràng, không úp úp mở mở; không bắt người cùng trò chuyện với mình phải chịu đựng sự vòng-vo tam quốc, sự rào trước đón sau, như rất nhiều người miền Bắc và miền Trung, trong đó có dân di cư năm 1954 thường như vậy. (theo Nguyễn Ðạt)

NGƯỜI SÀI GÒN…XƯA !

Dù bạn sinh quán ỏ đâu, trước 1975 đã sống lâu tại Sài Gòn, bạn vẫn là: ngưỜi Sài Gòn.lần đầu tiên lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y. chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi. ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán, mà bụng vẫn trống không.

Nhỏ lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm, cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. kêu thêm dĩa nữa thì không dám, vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia… ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ.khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thỉnh thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì đâm lo. không biết tiền mang theo có đủ để trả không.

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại.thôi, tính hai dĩa cơm thôi. phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn, chị không tính. ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu. chỉ có nải chuối, cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp.bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. cũng trong những năm thập niên 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô.. mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng. lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. thế nhưng vẫn rán vì trong túi không còn tiền. chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: “xích lô !”. luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi: “anh chị đi đâu ?”.

– Cho ra bến xe miền Tây. nhiêu ?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết bến xe miền Tây đâu mà cho giá. thôi đành chơi trò may rủi: “dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. tới đó cho nhiêu thì cho”.

Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. người con trai nói: “mười lăm đồng mọi khi vẫn đi. cứ chạy đi tui chỉ đường”.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: “em mới chạy xe, đi xa không nổi. anh chị thông cảm đi xe khác giùm”.

Ai ngờ người con trai ngoái đầu lạ : “tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. đưa xe đây tui đạp cho. tui cũng từng đạp xích lô mà !”. thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền.không phải 15 đồng mà tới 20 đồng. Chắc cũng chỉ có người sài gòn mới khoáng đạt như vậy !

Người Sài Gòn tốt bụng, chia sẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. già trẻ, lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm.có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất sài gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây : “bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. hỏi hoài mệt quá !”.

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không.với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà, kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí. Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. sẽ có nhiều người bảo cái ly nhiều người uống, bẩn chết đi được, nhưng không biết họ có cách nào hay hơn ? (mua ly giấy, uống xong vứt…. mời các người ấy về Sài Gòn mua ly giấy cho khách thập phương dùng).

Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống, hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn !.Bi giờ còn vậy nữa không ? cũng còn, nhưng mà nếu bạn không gặp người như vậy ở sài gòn là vì những người mà bạn gặp đó không phải là người Sàigòn !

Tui hỏi anh cyclo “đạp từ rạp rex về cầu Chông (nhà tui) giá bao nhiêu ?”. anh nói “20 ngàn”.tui nói “30 ngàn thì tui mới đi”. anh cyclo lập lại “20 ngàn”. tui cũng nói như cũ. anh cyclo tưởng tui là thằng này khùng và nói “thôi lên xe đi”.đến nhà, tui đưa anh 30 ngàn và cám ơn. Năm 1978 khi ra tù tại ga xe lửa đường Lê Lai, một anh cyclo đến hỏi tui “về đâu ?”, nhưng khi nhìn thấy bộ đồ tù tui mặc nên anh nói câu mà tui nhớ đời “lên đi thằng ông nội, tui chở về…không có tính tiền đâu“. làm sao tui quên được câu nói đó.

Người Sài Gòn là như vậy bạn ơi !

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp

CA KHÚC BẤT HỦ BÉSAME MUCHO

BÉSAME MUCHO

– Thạch Bích

Tôi đang nhớ về Sài gòn một đêm vừa mưa, vừa gió… Cơn mưa rào miền Nam không những xoa dịu hơi nóng hầm hập suốt ngày, những luồng gío nhẹ luồn qua chắn song cửa đủ mang đến chút lành lạnh, khiến tôi nằm trong giường đã phải chùm chiếc chăn mỏng màu huyết dụ, có điểm những bông hoa trắng nhỏ li ti, Bố Mẹ mang theo từ hồi di cư vào Nam. Những đêm như thế, kéo chăn lên tới tận cổ, nằm đọc truyện hay nghe nhạc thì chắc không còn thú nào hơn …

Hồi đó tôi đang tuổi mới lớn, đã biết chăm sóc diện mạo của mình, đã biết vui buồn vu vơ… và cũng mới quen với anh T., một học sinh bên trường HNC. Thời ấy tôi có thói quen đêm đêm đón nghe chương trình “Tiếng nói Dạ Lan”, tiếng nói của em gái hậu phương gửi các anh trai ngoài trận tuyến… Tôi không phải là lính, thế mà tôi vẫn mê cái giọng Bắc ngọt ngào, dễ thương của Dạ Lan.

Nhưng lý do chính khiến tôi thích nghe chương trình này, là những bài nhạc tình lồng trong những buổi phát thanh đó, nhất là những bài nhạc ngoại quốc. Chỉ riêng điệu nhạc chính dùng đệm nền “Walk don´t run” do ban nhạc “The Venture” trình bày đã đủ làm tôi mê mẩn… Rồi tôi còn nhớ thật rõ ràng, vào đêm Sài gòn có mưa, có gió đó tôi đã lần đầu tiên được nghe trong chương trình “Dạ Lan” bài nhạc ngoại quốc rất lạ : Bésame mucho …

Vào cuối thập niên 60 những ban nhạc theo kiểu The Beatles : Một chàng gõ trống, ba, bốn chàng ôm đàn guitar điện gảy từng tưng và lắc lư qua lại như có chút men rượu… xuất hiện thể nấm rừng gặp mưa…  Nào là “The Shadows” với bài “Apache”, (mà anh T. kể, bọn học sinh lớp anh đã ngổ ngáo đặt lời : “Kìa xem … Thầy Tổng đen … treo toòng teng …”, để ngạo Thầy Tổng giám thị có làn da ngăm ngăm và rất ư là nghiêm khắc). Còn ban nhạc “The Animals” được biết đến qua bài “The house of rising sun”… Những bài “Yesterday”, “Hey Jude” … giới trẻ chúng tôi ai chả đã từng nghe ?

Từ năm 1963 chiến trận bùng nổ khắp miền Nam, nhất là sau khi Mỹ đã đổ gần nửa triệu quân vào tham chiến… Thế nhưng Sài gòn vẫn ăn chơi phè phỡn, vẫn tóc dài (con trai), váy ngắn (con gái) và không hề bị “Mỹ hóa” hoàn toàn, trái lại dân Sài gòn rất… Tây ! Con ông lớn, bà bé, những cậu ấm, tiểu thư con nhà giàu, trưởng gỉa, đua nhau theo học các trường theo chương trình Pháp, đắt è cổ : J. J. Rousseau, Marie Curie, Lasan Taberd, Couvent des oiseaux… Và một ngày đẹp giời, dạo phố Lê Lợi, thế nào cũng gặp những cặp choai choai dung dăng, dung dẻ với nhau, miệng bi bô :

Tous les garçons et les filles de mon âge

Se promènent dans la rue deux par deux

Tous les garçons et les filles de mon âge

Savent bien ce que c’est d’être heureux

Et les yeux dans les yeux

Et la main dans la main …

(Tous les garçons et les filles – François Hardy)

Từ những kiosks thâu băng nhạc trên đường Nguyễn Huệ vẫn văng vẳng tiếng hát của cô đầm tóc vàng Silvie Vartan:

… La plus belle pour aller danser …

Nên hồi đó, với tôi, trên đời này những bản tình ca chỉ có thể bằng tiếng Anh, Pháp và… Việt Nam ! Vẫn biết rằng còn có tiếng Tàu, tiếng Nhật… và sau này, khi đi du học, tôi còn học thêm tiếng Đức nữa. Nhưng những thứ ngôn ngữ ấy làm sao có được những câu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình tựa như :

Trời ươm nắng cho mây hồng / Mây qua mau em nghiêng sầu / Còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm, / mây âm thầm mang gió lên. / Người ngồi đó trông mưa nguồn / Ôi yêu thương nghe đã buồn / Ngoài kia lá như vẫn xanh, ngoài sông vắng nước dâng lên hồn muôn trùng. (Mưa hồng – Trịnh công Sơn)

Thế mà bài “Bésame mucho” này bằng tiếng gì lạ hoắc, tôi không thể nào hiểu được lời nhạc ! Nhưng điệu nhạc êm dịu, giọng ca của nữ ca sĩ tôi không biết tên thật ấm áp, thật truyền cảm và mang một thoáng buồn đã mê hoặc tôi. Tôi cảm nhận một chuyện tình si mê, đắm đuối, nhưng cũng có chia ly, tan tác … Từ đấy tôi lắng nghe, mỗi khi bài hát được truyền đi trên đài phát thanh Sài gòn, nhưng tôi không nhớ được gì ngoài… Bésame  mucho ! Mà ngay chỉ hai chữ đó tôi cũng chả biết nghĩa là gì nữa, vậy mà tôi vẫn rung động, vẫn thấy thích mỗi khi nghe bài nhạc ấy…

Sau này khi qua sống bên Âu châu, tôi tìm hiểu, mới biết bài hát đó là tiếng Tây Ban Nha (Spain), một ngôn ngữ (cùng với tiếng Bồ Đào Nha / Portuguese) phổ biến trong khắp vùng Trung và Nam của châu Mỹ, từ Cuba, Mexico tới Argentina, Brazil… nơi xuất phát những điệu vũ say mê, sôi động, nồng nhiệt : Tango, Samba, Rumba… Và tôi đã biết : Bésame = kiss me, mucho = much; bésame mucho = kiss me much / kiss me a lot, cũng như tôi đã kiếm được lời cả bản nhạc và tạm dịch qua tiếng Việt : (Xem ảnh minh họa)

Hóa ra lời nhạc thật giản đơn, thật cô đọng như những câu thơ, như những nét chấm phá trong bức tranh thủy họa của Tàu. Nhưng chỉ vài câu rất đơn giản ấy đã đủ diễn tả hết sự si mê, đắm đuối, nỗi đau buồn chia ly trong cuộc tình…

Có lẽ cái hay của bài Bésame Mucho này trước hết chính là điệu Boléro nhẹ nhàng, chầm chậm, nhưng thấm sâu vào tâm gan người nghe, gây ra một nỗi buồn man mác. Chả thế đa số những bài “nhạc vàng”của Việt Nam cũng hay sử dụng điệu nhạc này. Trong khi vũ nhạc điệu Tango được coi như của Argentina, Samba của Brazil, thì Bboléro đã được cải biến từ vũ nhạc điệu Trova hồi cuối thế kỷ 19 và rất được ưa chuộng ở Cuba và sau này lan rộng sang Mexico.

Thứ đến có lẽ vì các tình tiết của bản nhạc đã phản ảnh phần nào tâm tư, mộng ước của chính tác gỉa, nữ nhạc sĩ và danh thủ đàn dương cầm người Mexico, Consuelo Velázquez : Bà vẫn được cho là bị long đong, lận đận trên tình trường. Năm 1941, lúc đó bà gần 25 tuổi (vì năm sinh của bà không chính xác, nên có tài liệu ghi tuổi của bà chênh lệch đến 10 tuổi), sau lần dự buổi nhạc cảnh (opera) Goyescas của soạn giả người Tây Ban Nha Enric Granados, bà đã có ngẫu hứng và sáng tác bài Besame Mucho.

Trong lần phỏng vấn mấy năm trước khi bà mất vào năm 2005, bà đã tiết lộ : Tới thời điểm sáng tác bài nhạc đó, bà chưa từng hôn ai, ôm hôn thắm thiết người bà mong đợi vẫn chỉ là ước mơ thầm kín…

Tài năng về âm nhạc của Consuelo Velázquez đã được ghi nhận rất sớm : Mới 7 tuổi bà đã biễu diễn đàn dương cầm trước công chúng. Khi 17 tuổi bà thành giáo sư âm nhạc và sau này bà là nhạc công (đàn dương cầm) trong ban nhạc cộng hưởng quốc gia của Mexico. Bà đã sáng tác nhiều nhạc phẩm được ưa chuộng như : No me pidas nunca, Pasional, Déjame quererte, Que seas feliz, Yo no fui, Chatito, chachito… Nhưng nhạc phẩm Bésame Mucho đã đưa bà Velázquez lên đỉnh danh vọng.

Không thể kể hết các ca sĩ nổi tiếng đã trình bày nhạc phẩm Bésame mucho, hai videos dưới đây sẽ giới thiệu hai giọng hát tuyệt vời : Cesária Évora và Andrea Bocelli. Tôi đã chọn hai người này không chỉ vì họ là những ca sĩ thượng hạng, mà cả về cuộc đời rất đặc biệt của họ.

– Bà Cesária Évora sinh năm 1941 (cùng năm bài Bésame mucho được sáng tác) ở Cap Vedes, một quần đảo phía bờ biển Tây của châu Phi, trong một “gia đình yêu âm nhạc”, thân phụ của bà đàn vĩ cầm. Sau khi thân phụ mất sớm, bà đã vào ở trong một cô nhi viện, trước khi được một gia đình nhận về nuôi. Bà sinh sống bằng cách đi hát trong các nhà hàng, phòng trà…

Mãi tới khi 47 tuổi bà mới nhận được hợp đồng với một hãng đĩa nhạc. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi đĩa nhạc của bà phát hành, bà đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng trên thế giới. Một điều đặc biệt khác: Bà không bao giờ mang giày, vớ khi lên trình diễn trên sân khấu, vì thế bà vẫn được mệnh danh là “Nữ hoàng chân đất”…

Xin click vào đường dẫn :

http://www.youtube.com/watch?v=Esdl_3kKSBk

– Andrea Bocelli sinh năm 1958 tại Lajatico, miển Trung nước Ý. Bị bệnh bẩm sinh, mắt của Bocelli mờ dần và thành bị mù khi 12 tuổi. Cũng chính trong năm đó Bocelli đã đoạt giải nhất trong một kỳ thi tuyển ca nhạc với bài hát nổi tiếng “O sole mio – Mặt trời của tôi”. Tuy bị mù, Bocelli sống rất lạc quan, nhưng không tiếp tục theo đuổi nghiệp cầm ca, mà theo học ngành Luật và trình luận án Tiến sĩ tại Đại học Pisa.

Sau một năm hành nghề luật sư, Bocelli theo học thanh nhạc với Luciano Bettarini. Mặc dù đã đoạt nhiều giải trong một số kỳ thi tuyển ca nhạc, nhưng phải mất 5, 6 năm Boccelli mới có được những thành qủa đầu tiên, sau khi gặp và được Zucchero và Casselli nâng đỡ. Bây giờ Bocelli được coi là ca sĩ tenor thành công nhất thế giới, với hơn 70 triệu đĩa nhạc đã bán được …

Xin click vào đường dẫn :

http://www.youtube.com/watch?v=gPRESlT4Ccg

Dưới đây Bésame mucho kiểu Mỹ qua sự trình bày của tài tử Hollywood, gốc Ý, Dean Martin :

Xin click vào đường dẫn : http://www.youtube.com/watch?v=Ab7e8y_IODk

– Và nghe Bésame mucho từ tiếng hát Ngọc Lan một danh ca người Việt (đã qua đời tại Hoa Kỳ)

https://youtu.be/-Xb-wpLQb5s

Nhớ về Sài gòn ngày xưa, cũng là nhìn lại quãng đời đã qua  Tuổi mộng mơ đã xa ! Qúa nửa đời người tôi đã biết… yêu, đã vui nhiều, đã thao thức, đã ưu tư… Hạnh phúc từng có trong tay, nhưng mất mát, đổ vỡ cũng đã chịu ! Nên bây giờ may mắn có được người “bạn đời” sánh bước, đi hết đoạn đường còn lại, tôi có những ước mong, thấy thích bản dịch kiểu … Mỹ hơn. Và tôi muốn cất tiếng hát nho nhỏ cho người tôi yêu : Bésame, bésame mucho ! …

Thạch Bích

NGÔ THỤY MIÊN

NHỮNG TÌNH KHÚC BẤT HỦ

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sinh ngày 26 tháng 9 năm 1948 tại Hải Phòng, và là con thứ nhì trong một gia đình bảy người con. Ông lớn lên trong môi trường sách vở và thơ văn, do gia đình ông có mở một nhà sách tên Thanh Bình ở thành phố Hải Phòng, và sau này ở trên đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) khi vào định cư ở Sài Gòn. Tại đây, ông học trường Trung học Nguyễn Trãi. và sau đó là Trường Đại học Khoa học Sài Gòn.

Trong thập niên 1960, Ngô Thụy Miên có theo học vĩ cầm với Giáo sư Đỗ Thế Phiệt, và nhạc pháp với Giáo sư Hùng Lân tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Thời gian học ở đây, ông quen biết với Đoàn Thanh Vân (con gái của diễn viên Đoàn Châu Mậu), và hai người đã có một mối tình.

oOo

Từ năm 1970-1975, Ngô Thụy Miên làm kiểm soát viên không lưu tại  phi trường Tân Sơn Nhất. Cũng khoảng thời gian đó, ông là Trưởng ban nhạc Luân Phiên tại Đài phát thanh Quân đội

Năm 1963, ông bắt đầu viết nhạc. Tình khúc đầu tiên mà ông sáng tác là bài “Chiều nay không có em” hoàn tất vào tháng 2/1965 được giới sinh viên học sinh lúc bấy giờ hưởng ứng rất nồng nhiệt.

Vài năm sau, ông cho xuất bản một tập nhạc đầu tay lấy tựa “Tình khúc Đông Quân” (Đông Quân chính là bút hiệu đầu đời của ông trước khi đổi qua bút hiệu Ngô Thụy Miên bây giờ) in ronéo phát hành tại Sài Gòn năm 1969. Trong đó có nhiều bài đáng chú ý như : Giáng ngọc, Mùa thu này cho em (sau đổi là Mùa thu cho em), Gọi nắng (sau đổi là Giọt nắng hồng), Dấu vết tình yêu (sau đổi là Dấu tình sầu), Cho những mùa thu (sau đổi là Thu trong mắt em), Tình khúc tháng 6, Mùa thu về trong mắt em (sau đổi là Mắt thu) và Ngày mai em đi

Tiếp theo, Ngô Thụy Miên có những nhạc phẩm phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa như: Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tuổi 13

Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện băng nhạc đầu tay Tình Ca Ngô Thụy Miên gồm 17 tình khúc đã được viết trong khoảng thời gian 1965-1972. Với sự góp mặt của các ca sĩ và nhạc sĩ như Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Duy Quang,…

Sau ngày 30/4, ông vượt biên đến tị nạn tại đảo Pulau Bidong của Mã Lai Á, và chính thức ra mắt một sáng tác viết từ năm 1975 là bài Em còn nhớ mùa xuân gởi tặng riêng cho người yêu của ông là Đoàn Thanh Vân. Sau sáu tháng ở trại tị nạn, nhạc sĩ được nước thứ ba bảo lãnh cho sang Montréal (Canada) tháng 4/1979.

Từ SanDiego (Hoa Kỳ) Đoàn Thanh Vân được tin người yêu đã đến được Canada, đã bay sang nối kết lại cuộc tình đã bị dở dang vì thời cuộc. Cùng năm 1979, cả hai qua sống tại San Diego rồi dời lên Orange County Qua năm 1980, Ngô Thụy Miên bắt đầu đi làm về ngành điện toán cho trường UCLA, tại thành phố Olympia thuộc tiểu bang Washington.

Trong thập niên 1990, nhạc sĩ tiếp tục sáng tác với những ca khúc mới như Cần thiết, Em về mùa thu, Trong nỗi nhớ muộn màng… và nhất là Riêng một góc trời. Tổng cộng đến nay, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã sáng tác được trên 70 ca khúc, với khoảng 20 bài từ trong nước. Theo đánh giá của nhiều người, thì Ngô Thụy Miên chính là “một nhạc sĩ tài hoa đích thực”…

Trung tâm Thúy Nga từng thực hiện Paris By Night 21: Tình ca Ngô Thụy Miên (1993)Paris By Night 66: Người tình và Quê hương (2002) (cùng với Trần Trịnh và Nhật Ngân) để vinh danh ông và những sáng tác của ông.

– Những tác phẩm tiêu biểu: https://youtu.be/Y0Z510osXaI

– Tình Ca Ngô Thụy Miên (1:27’)

15 Bản tình ca hay nhất của Ngô Thụy Miên

https://youtu.be/5AoMQnPuqsU

CON GÁI NHÀ THƠ QUANG DŨNG

VÀ NHỮNG HỒI ỨC VỀ CHA

Ngày 27/2 năm 2015, Trung đoàn 52 Tây Tiến long trọng kỷ niệm 70 năm ngày thành lập, chị Bùi Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng ( tên thật là Bùi Đình Dậu) lại bồi hồi nhớ về cha, đại đội trưởng của Trung đoàn Tây Tiến năm xưa và những thăng trầm của bài thơ “Tây Tiến”.

Là con gái út trong gia đình, nên có thể nói chị Phương Thảo được cha cưng chiều nhất và cũng hay tâm sự nhiều nhất. Chị Thảo kể : “Khi còn nhỏ, tôi được gần gũi với cha lâu nhất. Tôi rất  hay quan sát bố  viết bài hoặc  giao du với bạn bè.

Nhà tôi ngày xưa ở phố Bà Triệu, nhà tuy nhỏ và nghèo, nhưng lại rất hiếu khách. Bố tôi thường hay có nhiều bạn bè đến chơi. Bây giờ nhớ lại, tôi thầm ước nếu hồi đó mà có những thước phim ghi lại thì đó là những thước phim vô giá.

Bởi lẽ, có rất nhiều nhân vật văn học điển hình của nước mình thường hay đến nhà tôi chơi, trong đó có bác Tô Hoài,  Nguyễn Công Hoan, Phạm Hổ, Nguyễn  Tuân, Nguyễn Đình Thi, cô Xuân Quỳnh, họa sỹ Phan Kế An… Khách đến chơi nhà nhiều khi chỉ có đĩa lạc hay ít đậu phụ thôi, mà mọi người trò chuyện như ngô rang “.

Gia tài tinh thần đầy ắp của người cha

Theo lời chị Thảo, bố chị mất đi  không để lại của cải vật chất gì nhiều, nhưng để lại cho con cháu kho gia tài tinh thần đồ sộ. Trong số những đứa con tinh thần của nhà thơ Quang Dũng, bài thơ  “Tây Tiến” được ông tâm đắc hơn cả. Nó có thể coi là đứa con cả khỏe mạnh nhất, vạm vỡ nhất.

Bài thơ “Tây Tiến” sau này được đưa vào sách giáo khoa và được nhiều thế hệ học sinh biết tới. Thế nhưng, ít ai biết rằng, khi nhà thơ Quang Dũng còn sống, bài thơ này đã từng bị ” xét lại” vì cho rằng đi chiến đấu gian khổ mà lại mơ tưởng xa hoa, lãng mạn.

Chị Thảo cho biết, chỉ vì câu thơ ” Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” mà bài thơ của ông bị một số chỉ trích. Thế nhưng, ai cũng hiểu thời của của các cụ, toàn các thanh niên Hà Nội, những chàng trai được cho là giai cấp tiểu tư sản bỏ lại tất cả để đi theo kháng chiến, có xá chi đâu. Còn cái lãng mạn đó là bản chất, tích tụ trong con người.Chính sự lãng mạn đó đã khiến cho người lính quên đi mọi khó khăn gian khổ và vượt lên phía trước.

Sau này, với tư tưởng cởi mở hơn, bài thơ “Tây Tiến” đã được ghi nhận.Cho tới năm 1988, lần đầu tiên bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” của ông được nhạc sỹ Phạm Đình Chương phổ nhạc và phát trên Paris by night, một video ca nhạc hải ngoại, cũng khiến nhà thơ lo lắng. Chị Thảo nhớ lại: “Lúc đó ông hay lo sợ lắm. Rất may, đó thời kỳ đầu của cải cách mở cửa, nên tư tưởng cũng đã bắt đầu thoáng hơn. Chứ trước đó, câu thơ “Mắt em dìu dịu buồn  Tây Phương” trong bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” cũng bị qui chụp là tơ tưởng đến một cô gái phương Tây nào đó…”

Thực ra, chị Thảo cho biết, sinh thời nhà thơ Quang Dũng cũng ít nói chuyện văn chương với con gái, cũng vì những lo lắng trên. Còn cô con gái Phương Thảo thì là một người mến mộ thơ ông, mà theo ngôn ngữ ngày nay gọi là “fan cuồng”. Chị thuộc lòng các bài thơ của bố. Sau này, khi tham gia Câu lạc bộ văn nghệ sỹ  Xứ Đoài, quê cha, chị mới  biết nhiều hơn về bố mình qua câu chuyện của các bạn văn chương của bố.

Nhà thơ Quang Dũng qua con mắt của con gái Phương Thảo là một người cha mẫu mực, chịu thương chịu khó. Ông luôn giành những việc nặng nhọc nhất trong gia đình về mình vì ông bảo, ông là người khỏe nhất. Ông thường dậy từ 4 giờ sáng để đi lấy nước cho cả gia đình, trong khi mọi người vẫn đang chìm trong giấc ngủ.

Thơ và tranh đều đem tặng bạn

Chị Thảo bộc bạch, bố chị ít lưu lại những bút tích của mình và hay thường tặng cho bạn bè. Chính vì thế, sau khi nhà thơ mất, chị Thảo đã lặn lội tìm đến bạn bè cha với hy vọng tìm được di cảo của cha. Những bài thơ “Nhớ chuyện xa” hay “Cô gái mùa ổi”… là những bài thơ ông chép trong cuốn sổ tay tặng bạn học từ những năm 1940.

Trong cuốn “Nhà thơ Quang Dũng trong hồi ức của người thân”, chị Thảo viết: “Cha tôi vốn là người không lưu tâm giữ lại những tác phẩm mình sáng tác, có những bài thơ làm xong thì tặng ngay cho người bạn mình quý mến hoặc tự tay chép thơ tặng nhưng lại chép vào sổ của bạn và quên mất mình đã có những bài thơ như thế…”

Cũng trong lần đi tìm di cảo của cha, chị Thảo đã được xem bức ảnh bà Giáng Kiều, nghệ sỹ trong đoàn kịch của Thế Lữ, tên thật là Kiều Dinh, một trong bốn chị em gái rất đẹp ở phố Hàng Bông những năm 1940, “người tình trong mộng” của người bạn thân. Chữ kiều trong tên bà Kiều Dinh ngày ấy được cho là nhà thơ “mượn” để làm danh từ chung trong bài thơ “Tây Tiến”, làm nên một hình ảnh lãng mạn : “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Ngoài ra, nhà thơ Quang Dũng có vẽ khá nhiều tranh, trong đó ông tặng bạn bè khá nhiều. Hiện nay, chị Thảo còn lưu giữ tại nhà một số bức tranh quí của ông như bức Mây đầu ô, Ba Vì…

Chị Bùi Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng sinh năm 1962. Chị hiện là Phó hiệu trưởng trường tiểu học Võ Thị Sáu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Phan Tất Đại chuyển tiếp