U HỒN TRONG ĐẤT THÁNH TÂY

U HỒN TRONG

ĐẤT THÁNH TÂY

– Chu Nguyễn

Đọc lại bài Văn Tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du trong tiết tháng bảy, mà thương những u hồn còn vất vưởng cõi trần, nhất là sau cơn binh lửa, kẻ sống từng:
Kìa những kẻ bài binh bố trận

Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung

Gió mưa sấm sét đùng đùng

Phơi thây trăm họ nên công một người.

Rồi cuối cùng lâm vào cảnh:

Khi thất thế tên rơi đạn lạc

Bãi sa trường thịt nát máu rơi

Mênh mông góc bể chân trời

Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét

Khí âm huyền mờ mịt trước sau

Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,

Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường ?

Đó chính là hoàn cảnh của một sĩ quan Pháp từng nổi danh về trận mạc khi Pháp xâm chiếm Nam Kỳ (1858-1867). Nhân vật này là đại úy thủy quân lục chiến pháp Nicolas Barbé. Barbé tuy chỉ là đại úy nhưng khi thực dân mở cuộc cướp nước ta, thì những tay chiến binh nổi danh không phải hạng tướng lãnh kiêm chính trị gia khét tiếng giảo quyệt, như Amiral Courbet, Rigault de Genouilly…mà là những hung thần thực dân như Francis Garnier, Henri Rivière và Nicolas Barbé…

Biết bao thực dân bỏ mạng hoặc ở Hà Thành hoặc ở Sài Thành nhưng không nghe thấy truyền tụng hồn ma của kẻ viễn chinh từng phơi thây nơi chiến địa Lạc Hồng, còn quanh quẩn nơi dương gian trừ Barbé.

Barbé nổi tiếng khi sống với mối tình của một phụ nữ Việt nam và khi chết bị cắt cụt đầu, tứ chi bị cắt lìa nên khi mai tang, người ta phải vùi một phần tử thi của hắn ở đất Thánh Tây (Massiges or European Cemetery hay Cimetière Européen) mà sau này gọi là Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi trước khi bị san bằng và biến thành một công viên sau 1975.

Barbé là một trong những tay thực dân bị giết vào đầu cuộc xâm lăng và mộ của hắn cũng là một trong những ngôi mộ đầu tiên được chôn ở Đất Thánh Tây (dựng vào năm 1859) lúc đó còn có tên là nghĩa trang hải quân, trên phố cũ có tên là Rue Nationale (sau này là Hai Bà Trưng). Vào 1885, nghĩa trang này đã là nơi mồ chôn của 239 lính Tây.

Cái chết của Barbé được thực dân Pháp ngày ấy ca tụng như một anh hùng hy sinh vì tổ quốc, nên ngôi chùa hắn bị hạ sát trước có tên là Khải Tường được đổi tên là chùa Barbé và con đường gần nghĩa trang được đặt tên là Rue Barbé.

Ai có dịp thăm viếng nghĩa trang Mạc đĩnh Chi hay Đất Thánh Tây trước 1975 đều tò mò trước một ngôi mộ hoang liêu. Nơi đây đa số mộ bia đề bằng tiếng Pháp, ngay cả mộ của người Việt cũng không thoát ngoại lệ.

Một số mộ có ghi thêm chữ Hán và gần như tất cả đều được săn sóc và quét dọn, sửa sang, tô bồi mỗi năm và có nhiều ngôi chẳng mấy khi vắng bóng hoa tươi gửi người dưới mộ. Nhưng trong khung cảnh hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng ấy có một ngôi mộ bề thế ở góc trái cách cửa chính không xa, ngay dưới gốc một cây phượng, lại có vẻ hoang phế hình như đã lâu không có ai lai vãng, chẳng hề có một cánh hoa héo, một vết giày quanh quẩn và rêu đã mọc, mộ đã nghiêng, chữ trên bia đã mờ. Mùa thu, mùa đông chỉ có lá rụng cành khô phủ và mùa xuân chỉ có mấy đóa hoa mười giờ cố vươn từ đám cỏ gà um tùm và nở những cánh hoa chung thủy. Khách tò mò đọc kỹ mộ chí. Đúng là mộ của một sĩ quan ngươi Pháp với những chữ chỗ trắng chỗ đen như sau : Ci-git Barbé, Capitaine d’Infanterie de Marine, tué dans une embuscade, le 7 Décembre 1860. Souvenir de ses camarades”

“Đây là nơi yên giấc ngàn thu của Barbé. Đại úy Thủy quân Lục chiến hy sinh trong một cuộc phục kích đêm 7-12-1860. Các bạn hữu lập mộ”

Mộ của một sĩ quan người Pháp trong nghĩa trang Đất Thánh Tây thì không có gì là lạ vì trong nghĩa trang này có hàng mấy chục ngôi mộ của người Pháp, kể cả những nhân vật uy tín hơn, cấp bực cao hơn Barbé. Nhưng có lẽ chưa có tấm bia nào lại bề thế như vậy, cao tới hơn 2 mét. Đúng là đá xứ Quảng, dày bền, đồ sộ. Một đại úy quân viễn chinh chết giữa những năm người Pháp mới đặt chân chiếm Đông tam tỉnh Nam Kỳ sao lại được lập bằng một cái bia ngàn năm không mòn như thế ?

Người tò mò càng thêm tò mò vì trên bia lại ghi đầy chữ Hán. Nét chữ đã mờ nhưng cố gắng đọc vẫn có thể hiểu đó là một tấm bia ca tụng công đức của một vị công thần. Bia của công thần nào của nhà Nguyễn đã bị một anh thực dân tiếm dụng làm nơi ghi địa chỉ an nghỉ cuối cùng của mình ? Khách dùng khăn lau bớt bụi bậm trên bia có thể thấy người lập bia là hai nhân vật nổi danh trong lịch sử Việt Nam cận đại:

Hiệp biện đại học sĩ lãnh Lễ bộ thượng thư (thần) Phan Thanh Giản, Hình bộ thượng thư (thần) Trương Quốc Dụng phụng chỉ.

Có nghĩa là: Chúng thần là Phan Thanh Giản, Hiệp biện đại học sĩ lãnh Lễ bộ thượng thư và Trương Quốc Dụng, Hình bộ thượng thư phụng mệnh viết bi văn.

Từ đó mới biết đây nguyên là tấm bia ca ngợi công đức của công thần Phạm Đăng Hưng. Cụ Phạm Đăng Hưng là thân phụ của Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu (Bà Từ Dụ,) vợ vua Thiệu Trị. Thì ra tấm bia do vua Tự Đức ra lệnh cho các danh thần Phan Thanh Giản và Trương Quốc Dụng viết bia văn vào năm Tự Đức thứ mười (1858) và được chở từ Huế vào Gò công để dựng trước mộ cụ Phạm Đăng Hưng. Nào ngờ hải quân Pháp chặn ghe bắt được và dùng ngay vào việc lập bia cho Barbé vì Barbé mới chết dù đã chôn nhưng còn thiếu cái bia tươm tất. Lính Pháp lúc đó chẳng hiểu bia của ai và nếu trong đám cộng tác có ai biết cũng chẳng ai mở miệng trước cơn dao động lịch sử quá nhanh: Pháp lúc đó đang tung quân lấy Đông tam tỉnh rồi Tây tam tỉnh Nam Kỳ từ 1862 cho tới 1867. Ai cũng nghĩ cả nước còn có nguy cơ mất, có làm chi tấm bia đá!

Nhưng chỉ là một tấm bia thì câu chuyện không lạ. Lạ ở chỗ là Barbé vì tình mà chết chứ không chết trên chiến trường trước nghĩa quân Trương Định. Lạ hơn nữa là người yêu của Barbé lại là một cô gái Việt Nam thuộc dòng trâm anh thế phiệt và cuộc tình của họ khá đẹp và kết thúc vô cùng bi đát. Barbé chết và yên nghỉ nơi mồ sâu nhưng cô gái Việt từ đó biến thành ma vì “hận tình chưa trả cho ai, khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.”

Hai cây viết người Pháp Le Vedier và De Maubryan đã thuật lại thiên tình sử này trong “Scènes De La Vie Annamite – Ky Hoa” (Cảnh đời An nam ở Kỳ Hòa nxb P. Ollendorff, Paris 1884).

Bi kịch tình ái được kể lại như sau:

“Một ngày kia, trong lúc đi săn, Đại úy Barbé tìm thấy ở giữa sông Sài Gòn một chiếc bè trôi lềnh bềnh, trên bè hình như có người. Trôi theo bè có hai bầy cá sấu. Barbé kéo bè vào bờ, nhìn thấy một người đàn ông và một người đàn bà bị cột lại với nhau theo lối trừng phạt những kẻ thông dâm. Người đàn ông đã chết, chân trái đã bị cá sấu cắn đứt ngang, còn người đàn bà thì đang hấp hối. Barbé vội lấy dao cắt dây cột rồi vác người đàn bà lên vai đem về đồn. Người đàn bà này rất xinh và lập tức khiến trái tim Barbé xúc động. Nạn nhân về đồn bị đau và nằm luôn trên giường bệnh hai tháng và nhờ có bác sĩ Girrayd và Barbé chăm sóc thuốc thang tận tình nên lần lần hồi phục. Sau ba tháng được điều dưỡng tại đồn, người đàn bà đã khỏe nên xin phép Barbé được ra khỏi đồn để đi thăm thân nhân và hứa sẽ quay trở lại đồn với Barbé.

Rồi một đêm nọ, có một người Việt đến đồn tìm Barbé và cho hắn biết Thị Ba, người đã chiếm trái tim của Barbé, đang lâm bệnh sắp chết và hiện đang nằm tại một ngôi chùa cách đồn của Barbé không xa. Được tin này Barbé lập tức nhảy lên ngựa đi tìm nàng, nhưng chỉ ra khỏi đồn được một quãng thì trúng đạn phục kích. Trong đồn, bọn thân binh biết có chuyện chẳng lành, liền kéo ra tiếp cứu. Nhưng đã muộn, chỉ chừng 30 m, họ đã thấy Barbé nằm chết sóng sượt dưới đất bên xác ngựa, thân thể bị chém nát.

Theo người ta cho biết thì Thị Ba thuộc gia đình quyền quý, nhưng bị cưỡng ép lấy ông lãnh binh Nguyễn văn Sất. Nàng phải tản cư về làng Bình Lý vì đất Gia Định lúc đó đang ở trong vòng khói lửa. Ở Bình Lý, giữa những đồng ruộng mênh mông, Thị Ba gặp lại người quen từ thuở nhỏ tên là Nguyễn Văn Tri, hắn cũng là một võ quan trong hàng ngũ nghĩa quân. Giữa Tri và Thị Ba nối lại mối tình đậm đà. Trong khi đó viên phụ tá của Nguyễn Văn Tri là đội Dinh cũng rung động trước sắc đẹp của Thị Ba, nhưng Thị Ba không thèm ngó tới và tỏ ra khinh rẻ. Đội Dinh lấy làm tức tối và xấu hổ nên y bèn lập mưu gài bẫy Nguyễn Văn Tri và Thị Ba. Do đó cả hai đã bị lãnh binh Sất bắt trói và thả trôi sông cho chết.

Đến khi nghe Barbé đã cứu Thị Ba, lãnh binh Sất tức giận điên ruột đã quyết một phen sống chết với Barbé để chiếm lại Thị Ba. Và trong đêm ngày 3 rạng 4 tháng 7 năm 1860, lãnh binh Sất chỉ huy một đạo quân ồ ạt tấn công đồn Khải Tường. Lúc đó trong đồn nầy có 100 quân I-Pha-Nho và 60 lính Pháp đã chống cự và đẩy lùi được quân của lãnh binh Sất.

Căm thù vì không lấy được đồn Khải Tường để giết Barbé, nên lãnh binh Sất đã nghĩ ra mưu khác. Chờ cho Thị Ba ra khỏi chùa Khải Tường, lãnh binh Sất cho lính bắt Thị Ba đem nhốt chung với bọn đĩ điếm. Rồi mấy ngày sau lãnh binh Sất lập mưu phục kích đại úy Barbé khi ra khỏi đồn và sẽ bắt tình địch chặt đầu đem về cho Thị Ba nhìn thấy, rồi sau đó sẽ hành hình Thị Ba cho hả giận. Nhưng mưu kế này chỉ thực hiện được một nửa, Barbé bị hạ sát vì đang lúc Sất thực hiện giai đoạn tiếp thì quân Pháp tấn công. Lúc đó giữa Thị Ba và lãnh binh Sất lại xảy ra một cuộc cãi vã lớn, đi đến xô xát và cả hai đều chết vì trúng đạn.

Barbé chết không toàn thây và ban đầu, lúc chiến tranh đang ác liệt, cũng khó kiếm ngay một bia đá dựng lên cho kẻ đa tình nên quân Pháp lúc đó phải cướp một tấm bia của một nhân vật lịch sử Việt nam để làm bia cho Barbé. Thực là bi thảm cho một vong hồn chiến binh! Và cũng là thảm kịch cho chúng ta khi đất nước rơi vào tay ngoại bang!

Nhiều người thời đó và cả thế hệ sau này đều kể lại nhiều hiện tượng kỳ lạ về bóng ma đất Thánh Tây. Sau khi lãnh binh Sất và Thị Ba được mồ yên mả đẹp rồi, nhưng vong hồn Thị Ba vẫn còn hiện lên lởn vởn ở trước cửa đồn Chí Hòa đến đất Thánh Tây để tìm mộ kẻ tình chung đã chết vì chung tình. Còn u hồn Barbé vẫn lang thang vào những đêm mưa gió hay sương mù phủ thành phố, ở quanh khu Hai Bà Trưng và Lê Quý Đôn gõ cửa nhiều nhà gọi tên Thị Ba bằng giọng trọ trẹ của người ngoại quốc nói không sõi tiếng Việt!

Hy vọng qua cuộc biển dâu 1975, nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi không còn, u hồn Barbé sẽ có cơ hội bám theo thuyền tàu của người tị nạn trở về chính quốc! (theo Chu Nguyễn)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

RÙNG RỢN

BỐN ĐỒ VẬT BỊ MA ÁM

Chiếc roi ma được rao bán với giá 65.000 USD; chiếc nhẫn có ma của diễn viên câm; chiếc giường tầng bị ma ám ở Mỹ; và con búp bê ma của một sinh viên y khoa là những đồ vật bị tin đến sái cổ là bị ma ám.

1/.  Chiếc roi ma có giá 65.000 USD : Trên trang mua bán trực tuyến eBay, một người phụ nữ tên Mary Anderson ở Ấn Độ đã rao bán một chiếc roi ma kim loại có thể tự đi có giá 65.000 USD. Cô hi vọng rằng cuộc rao bán này có thể làm đứa con 6 tuổi của mình thoát khỏi sợ hãi vì đã tin rằng hồn ma của ông nội đang lang thang trong gia đình và đã “ám” vào chiếc roi kim loại đó.

3 Ma am 1Chiếc roi ma này đã được 132 người trả giá trên Ebay và hiện tại nó đang ở sòng bạc “lâu đài vàng” ở Antigua. Cô Anderson cũng yêu cầu người mua chiếc roi ma này viết thư cho con trai mình để nói rằng chiếc roi ma và con ma “ám” trong đó đang rất tốt.

2/. Chiếc nhẫn ma của diễn viên phim câm Mỹ : Rudolph Valentino(1895-1926) là một trong những ngôi sao phim câm vĩ đại nhất của Hollywood. Valentino bị chết bởi một vết loét năm 31 tuổi. Một số người cho rằng nguyên nhân cái chết của Valentino là do ông đã mua chiếc nhẫn ở một hiệu kim hoàn năm 1920. Chiếc nhẫn có một viên ngọc gọi là mắt của con hổ được gắn vào nó.

Sau khi mua chiếc nhẫn đó, Valentino đã khoe chiếc nhẫn với người bạn thân của mình và chính người bạn thân đã nhìn thấy sự xám xịt cũng như cái chết của ông sắp xảy ra. Sau đó thì sự nghiệp của Valentino dần lụi bại và ông đã chết trong vòng 6 năm sau. Nhưng Valentino không phải là nạn nhân duy nhất khi đeo chiếc nhẫn, người yêu của ông, bà Pola Negri đã bị ốm nặng sau khi đeo chiếc nhẫn.

3 Ma am 2Russ Colombo là diễn viên được thuê đóng vai Valentino trong bộ phim tiểu sử và cuộc đời ông. Sau khi đeo chiếc nhẫn, Colombo đã bị giết trong một tai nạn bắn súng mấy ngày sau đó. Tên lưu manh Joe Casino đã mua chiếc nhẫn và không đeo nó cho đến khi nghĩ  lời nguyền sẽ bị phai mờ. Nhưng sau nhiều năm sở hữu thì anh ta cũng đeo nó và chết trong một tai nạn xe hơi một tuần sau. Danh sách những  người bị “ám” bởi lời nguyền có lẽ còn dài nhưng từ năm 1960 thì không ai biết chiếc nhẫn đó ở đâu nữa.

3/. Chiếc giường tầng bị ma ám : Câu chuyện về chiếc giường tầng bị ma ám đã trở nên nổi tiếng đến nỗi câu chuyện về nó được phát trên chương trình truyền hình ăn khách Những điều huyền bí không lý giải được. Tháng 2 năm 1987, Alan và Debby Tallman ở Horicon, Wisconsin, Mỹ đã mua về nhà một chiếc giường tầng của một cửa hàng cũ và họ đã mang nó xuống tầng hầm. Nhưng đến tháng 5 năm 1987 thì họ mang chiếc giường lên trên gác và từ đây bắt đầu những điều kỳ lạ xảy ra.

3 Ma am 3Đầu tiên, bọn trẻ của họ bị ốm. Hai đứa đầu tiên ngủ trên chiếc giường đó thì nói rằng chúng nhìn thấy một con quỷ. Trong một lần trở về nhà sau lễ Giáng sinh năm 1988, Alan Tallman nghe thấy một giọng nói bảo ông hãy “đến đây”. Ông đi theo giọng nói tới gara và tận mắt chứng kiến một ngọn lửa đang cháy. Vội vã đi lấy bình chữa cháy nhưng khi quay lại thì ngọn lửa đã biến mất. Một vài tình huống đáng sợ hơn xảy ra, Alan nhận thức được chiếc giường bị “ma ám”, anh đã đốt chiếc giường và cũng kết thúc những câu chuyện oái ăm.

4/. Con búp bê ma : Hai nhà điều tra nổi tiếng Ed và Lorraine Warren, Mỹ đã có cuộc nghiên cứu về con búp bê bị ma ám đầu những năm 1970. Donna là một sinh viên y khoa được mẹ tặng cho một món quà là một con búp bê cũ. Cô sống cùng người bạn của mình tên Angie. Con búp bê được mẹ tặng cô đặt trên giường ngủ của mình và ngay sau đó cô đã thấy những điều kỳ lạ xảy ra. Con búp bê dường như có khả năng 3 Ma am 4tự di chuyển. Đôi khi các cô gái trở về nhà và nhìn thấy con búp bê đang ở những phòng khác nhau thậm chí còn thấy con búp bê khoanh chân trên ghế dài với cánh tay gấp lại.

Thỉnh thoảng các cô gái trở về nhà lại thấy những ghi chú giống như viết bởi như một đứa trẻ mới biết viết. Những ghi chú có viết: “Hãy giúp chúng tôi”. Nhưng các cô gái không thể biết được ai đã viết những ghi chú ngay cả khi nhiều chuyện kỳ lạ khác diễn ra sau đó. Chỉ cho đến khi các cô gái bắt đầu nhìn thấy máu trên con búp bê mà không biết là từ đâu.

Các cô gái đã gọi cho nhà chiêu hồn và được giải thích rằng con búp bê đã bị “ám” bởi một hồn ma của cô bé 7 tuổi tên Annabelle Higgins bị sát hại tại lô đất trống mà hiện nay là căn hộ của hai cô gái đã được xây dựng lên. Câu chuyện mà nhà chiêu hồn nói không biết có đúng sự thật không nhưng những hiện tượng kỳ lạ của con búp bê cũng đáng được coi là sự huyền bí rùng mình. (theo Chí Sĩ – Khampha)

Xuân Mai chuyển tiếp

TAN CHẢY TRÁI TIM TRƯỚC

LOẠT ẢNH CHÓ MẸ ‘BỈM SỮA’

CHĂM ĐÀN CON THƠ

Hình ảnh các bà mẹ cún ‘bỉm sữa’ chăm sóc đàn con thơ khiến người xem thấy ấm lòng, cũng như cảm nhận được sự thiêng liêng của tình mẫu tử.

H1: Bà mẹ cún hạnh phúc bên 6 đứa con thơ mới chào đời. H2: Nhà đông con của không ngon cũng hết. H3: Mẹ nào con nấy.

H4: Phục sát đất với tài vượt cạn của cô chó này khi cho “ra lò” hẳn 16 bé cún đáng yêu. H5: Cùng một tư thế. H6: Chó mẹ Huskies vui đùa cùng đàn con trên bãi cỏ H7: 11 cún con, ăn đã no tròn, cả đàn đi ngủ.

H8: Gia đình là tất cả. H9: Chó mẹ mệt nhoài với đàn con trong chuồng còn chó bố thì toe toét chụp ảnh. H10: Khó khăn lắm mới có thời gian chợp mắt một lúc.

H11: Ánh mắt chó mẹ ánh lên niềm tự hào vì “khối tài sản vô giá này”.H12: Thi xem ai ăn nhanh hơn nào. H13: Haizzz, bao giờ bọn nhóc mới lớn đây nhỉ. H14: Chụp ảnh và tạo dáng, mỗi đứa một kiểu

.

H15: Điệu đà và sang chảnh mọi lúc mọi nơi. H16: 4 chú cún bông tranh nhau rúc vào lòng mẹ.H17: Cô chó pit bull bên đàn con. (theo Hồng Anh – VOV)

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

Advertisements

CHUYỆN SÀI GÒN XƯA

NGƯỜI TA THƯƠNG NHỚ GÌ

Ở SÀI GÒN ?

Là người Sài Gòn, người ta thường nhớ gì ở Sài Gòn nhất ? Một khoảng lặng trôi qua. Có lẽ sự hồi tưởng đang trở lại trong đầu những người bạn nay tóc ngả hai màu. Có người nhớ tiếng rao trên đường phố, nhớ tiếng ồn ào trong khu xóm lao động, nhớ cảnh nhộn nhịp Sài Gòn dịp Tết những ngày còn thơ, nhớ những cuộc tình lang thang dưới vòm me xanh lá trên con đường Duy Tân đầy bóng mát, nhớ nhiều thứ lắm… Nỗi nhớ ùa về như cơn gió thoảng rồi qua. Nhưng với tôi những con đường góc phố Sài Gòn vẫn còn đọng lại mãi mãi.

Ðầu tiên tôi nhớ góc bùng binh Quách Thị Trang, nơi lần đầu tuổi nhỏ được ba tôi dẫn đi ngao du thành phố Sài Gòn. Quách Thị Trang là ai, biết để làm gì. Cái chợ Bến Thành treo đầy biển quảng cáo hình kem đánh răng anh Bảy Chà Hynos và Perlon kín chợ chẳng có gì đẹp. Chợ cũng chẳng làm tôi nhớ, bởi đi chơi Sài Gòn nhưng ba tôi chẳng ghé vào ăn. Ði chơi khơi khơi, mỏi chân ngồi nghỉ trên băng ghế xi măng giữa công viên thưa thớt cây xanh và chung quanh trang trí vài bồn hoa sặc sỡ.

Ngồi đây nhìn ngắm phố phường Sài Gòn bốn phương tám hướng. Nhìn dòng xe xuôi ngược, những dòng người tay xách nách mang hành lý băng qua cầu thang sắt ngang đường đến ga xe lửa về quê, những người buôn thúng bán bưng ngồi chật phía ngoài cửa chợ cất cao tiếng rao mời khách, những đứa trẻ đành giày, bán báo dạo lăng xăng đánh bóng mấy đôi giày “botte de sault” của mấy anh lính Mỹ.

Tôi may mắn hơn mấy đứa trẻ cùng trang lứa đó. Và tôi cố tìm trong những đứa đánh giày xách thùng đi trong công viên trước chợ một hình dáng thân quen. Tự nhiên lúc đó tôi nhớ thằng Hên người bạn nhỏ nhà xóm bên mới học lớp ba đành bỏ học đi bụi đời. Chừng tuổi ấy ra đời có thể làm gì kiếm sống ?

Hoàn cảnh gia đình nó không đến nỗi tan hoang khi tự dưng ba nó bỏ nhà theo vợ bé, má nó cũng không vừa bỏ mặc đám con sống chết tự lo đi buôn chuyến xe hàng dài ngày, cả tháng mới về nhà năm ba bữa. Rồi tôi nghe hàng xóm nói thằng Hên bỏ nhà ra đi, mới tí tuổi đầu mà lá gan to bằng người lớn. Thỉnh thoảng tôi ghé ngang dò la tin tức nhưng lúc nào cửa nhà cũng đóng im lìm.

Thế là tôi mất một thằng bạn nhỏ chơi bắn bi, nó sống ở đầu đường xó chợ khiến lòng tôi ngậm ngùi, chợt nhớ đến bài hát “Nó” văng vẳng đâu đây. “Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ. Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo. Ngày nó sống kiếp lang thang. Ngẩn ngơ như chim xa đàn, Nghĩ mình tủi thân muôn vàn”.

Hồi nhỏ tôi không thích bài hát này, nghe như nỗi đau quất vào da thịt một đứa nhỏ nhưng sau này hiểu ra chút ít. Thời buổi đó, trẻ con mồ côi mất cha mất mẹ vì chiến tranh bom đạn, vô gia đình vì muôn vàn lý do đều có thể đẩy đứa trẻ ra ngoài đường phố. Lòng cảm thương cho thân phận nhỏ bé lặn hụp trong cuộc đời mà ông nhạc sĩ Anh Bằng viết nên lời nhạc buồn đó chăng. Xem ra thằng có cái tên Hên mà chẳng may chút nào.

Lớn lên chút xíu, tôi biết la cà trên đường phố sau những buổi tan học cuốc bộ về nhà. Trường tôi nằm ở quận 3, nên con đường Bà Huyện Thanh Quan bán đầy bò bía, chè đậu xanh đậu đỏ, là một địa điểm hấp dẫn giới học trò chúng tôi. Nhưng với tôi, con đường Trương Ðịnh cắt ngang gần đấy rất đỗi nên thơ, nhất là đoạn giữa gần trường Nguyễn Thị Minh Khai (Gia Long ngày trước) ra Công viên Tao Ðàn. Một con phố bình yên và rất lặng lẽ với những hàng dầu hàng sao rợp bóng.

Những hàng cây cao bóng mát này lại là ký ức đẹp, tôi mang hình ảnh đó vào bài tạp văn “Những hàng cây thị xã” trong một lần về thị xã Trà Vinh.

Mỗi khi có dịp đi qua tỉnh nào đó, tôi hay hỏi người bản xứ về cảnh đẹp địa phương. Hôm đến Trà Vinh, người đầu tiên tôi hỏi là chị chủ nhân khách sạn chỗ tôi trọ. Ðã gần nửa thế kỷ sống ở đất Trà Vinh, chị bảo trong thị xã không có cảnh gì đẹp ngoại trừ những ngôi chùa Tàu, chùa Việt và đặc biệt là chùa Khmer cổ kính.

Hôm sau, trên đường đến Trường Ðại học Trà Vinh, tôi hỏi một cô gái tuổi mười chín, đôi mươi. Sau vài phút do dự, cô cho tôi một câu trả lời thật bất ngờ: Những con đường rợp bóng cây xanh ở thị xã…

Ðúng vậy đó. Chiều dần buông, đứng ngoài ban công khách sạn nhìn về góc xanh thị xã thấy rõ những vạt nắng vàng vương trên tàn me làm những vòm lá trông thật mơ màng. Hình ảnh ấy đã quyến rũ tôi rời khách sạn thả bộ về hướng đó. Từ con đường Hàng Ðiệp bông trổ lấm tấm vàng, qua Hàng Sao cao vút đứng lặng thinh, bước lại Hàng Dầu um tùm lá chen lẫn màu hoa dầu hồng non ưng ửng. Dầu là loại cây rừng cho gỗ, thân có nhựa dùng để trét ghe rất tốt nên người ta cũng gọi là dầu rái, có người gọi là dầu dù.

Trái dầu có hai cánh lá, nhưng nói là cánh hoa đúng hơn. Lúc còn non, chúng có màu hồng pha màu cà phê sữa, hạt lộ ở cuống hoa. Hạt non màu xanh có khía giống như hạt xí muội. Ðến cuối tháng Bảy thì trái dầu già khô lại. Trái cùng hai cánh hoa ngả sang màu nâu đất sét. Chỉ cần một chiều lộng gió, những cánh hoa già rơi khỏi cành mẹ bung ra như cơn mưa dù, xoay tít bay bay trong không trung mang theo chiếc hạt, nhẹ nhàng đáp xuống mặt đất. Hình ảnh đó trông thật thích mắt và luôn để lại ấn tượng cho nhiều người. Chẳng thế, hình ảnh cánh hoa dầu bay trong gió đã vào thơ vào nhạc :

Cánh hoa dầu xoay tít bay bay

Nhớ chiều nào, bên em từng giờ…

Dù chưa có được cái cảm giác hạnh phúc bên em như nhạc sĩ Giáp Văn Thạch nhưng những “cánh hoa dầu xoay tít bay bay” ấy bay mãi trong ký ức tuổi học trò của tôi. Tôi biết được điều này là nhờ có lần được ba tôi dẫn đi Chợ Cũ Sài Gòn ăn phở. Từ nhà, hai cha con đi bằng xe ngựa, rồi lội bộ dọc theo đường Hồng Thập Tự vào vườn Tao Ðàn. Vườn Tao Ðàn ngày ấy rất vắng người, chỉ toàn cây dầu cao tít và tàn lá che mát cả một vùng rộng lớn.

Ba đi trước, tôi theo sau, giẫm chân lên những chiếc lá khô xào xạc giống như những nhà thám hiểm trong một cánh rừng già. Bỗng ba tôi cúi xuống nhặt những trái có hai cọng lá khô, hỏi tôi có biết trái gì không, rồi ba tôi bảo quăng chúng lên trời. Kể từ sau đó, những trái dầu dù theo tôi đến lớp cùng chúng bạn thả từ lầu ba xuống chào đón ngày khai giảng năm học mới, khi những cánh phượng hồng đã rời xa mùa hạ. Những cánh hoa dầu bay bay không mất tiền mua của lũ nam sinh chúng tôi đã làm bọn con gái học trò thích mê…

Tất nhiên nỗi nhớ nơi mảnh đất mình sinh ra và lớn lên của mỗi người đều rất nhiều và mỗi người có quyền lựa chọn những hình ảnh ký ức đẹp đẽ nhất. Cái đẹp làm tâm hồn lắng đọng cho ta khoảnh khắc bình yên giữa nhịp sống hối hả xôn xao của chốn thị thành. Có người chẳng thèm nhớ con hẻm nhỏ ngày xưa nơi sinh ra và lớn lên như anh bạn của tôi. Anh bảo ghét lắm cái xóm lao động đã nghèo mà còn hay sanh sự, đánh lộn nhau hà rầm. Người bên ngoài nghe đi vào xóm Miếu Nổi là sợ bọn lưu manh. Anh thích những con hẻm ngoài phố trung tâm bên hông đường Hàm Nghi hay các con hẻm của người Tàu Chợ Lớn trên đường Trần Hưng Ðạo, Ðồng Khánh. Những con hẻm đó bình dị và hiền lành khác xa hẻm lao động xô bồ xô bộn.

Thế nhưng khi nghe tôi hỏi chuyện xóm nhỏ Miếu Nổi ngày xưa thì anh kể ngàn chuyện lẻ một không hết. Anh nhớ từ góc phố con hẻm xưa với một tâm hồn trẻ trung và rộng lượng. Dường như anh yêu mảnh đất mình “ghét bỏ” hơn bao giờ. Bởi vì khi cái gì mất đi hay xa rồi mới làm lòng ta hồi tưởng và càng yêu mến hơn. Chẳng thế mà nhà thơ Chế Lan Viên từng viết: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở, khi ta đi đất bỗng hoá tâm hồn”. (theo Trang Nguyên)

Dung Dung chuyển tiếp

SÀI GÒN CỦA TÔI,

50 NĂM TRƯỚC

Đặt chân tới Sài Gòn năm 1954, lúc ấy tôi là đứa bé 9 tuổi, theo gia đình từ miền Bắc di cư vào miền Nam tự do. ký ức của đứa bé 9 tuổi hẳn nhiên không thể ghi nhận được gì nhiều; nhưng đứa bé lớn lên và sinh sống tại Sài Gòn từ thuở ấy tới bây giờ, đã giúp tôi dễ dàng gợi dậy trong ký ức, ít nhất là những hình ảnh đậm nét của Sài Gòn, 50 năm về trước.

Ấn tượng về Sài Gòn trong tôi từ lúc ấy tới bây giờ cũng không phai nhạt bao nhiêu, dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Ấn tượng sâu đậm, bởi Sài Gòn những ngày tháng ấy quá mới lạ trong tâm trí tôi, đứa trẻ đã trải qua một đoạn đời ấu thơ tại hà nội.

Điều đầu tiên tôi nhận biết lúc ấy, tôi nói với cha tôi, là Sài Gòn có vẻ rất Tây so với Hà Nội. cha tôi bảo, bởi vì một trăm năm Pháp thuộc, Sài Gòn và miền Nam là thuộc địa; trong khi Hà Nội của miền Bắc là bảo hộ.

Cha tôi làm thông ngôn trong quân đội liên hiệp Pháp, dạy tiếng Pháp cho các con từ nhỏ; nên tôi nhớ được rành rõ những tên pháp ngữ đặt cho nhiều đường phố lớn của Sài Gòn lúc ấy. căn nhà đầu tiên của gia đình chúng tôi khi vào Sài Gòn ở đường Bà Hạt, quận 10. ðường Bà Hạt là đường phố nhỏ, một đoạn chạy ngang đường phố lớn mang tên Tây, là Lacaze – tức đường Nguyễn Tri Phương.

Vài năm sau, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho thay thế tên Tây; vẫn giữ lại tên những danh nhân thế giới, dù danh nhân ấy là người Pháp, như Calmette, Pasteur, Alexandre De Rhodes… những đường phố mang tên Tây, đa số là quan chức pháp, được thay thế, như : Bonard – Lê Lợi; Charner – Nguyễn Huệ; Galliéni – Trần Hưng Ðạo; De La Grandrière – Gia Long; Catinat – Tự Do; Lacaze – Nguyễn Tri Phương… tuy nhiên, nhiều năm sau đó, dân Sài Gòn vẫn nói: ði bát phố Bô-Na, Catinat; đi mua hàng ở thương xá Charner…, luôn là gọi tên Tây, cho 3 đường phố đẹp bậc nhất của Sài Gòn.

Phố phường Sài Gòn lúc ấy đa số là những con đường lớn rộng, dài dằng dặc. và rất nhiều cổ thụ. ðặc biệt loại cây có tên rất bình dân là cây dái ngựa – tên khoa học là meliaceae – thân to nổi mấu gồ ghề, tỏa rộng cành lá, bóng mát ngợp đường Lê Ðại Hành, trước mặt trường ðua Phú Thọ, quận 11. hàng cây me xanh mát mắt suốt con đường Gia Long, con đường có bệnh viện Grall do người Pháp lập nên, giữa vườn cây rộng rinh. rừng cao su bát ngát, chạy dài theo con đường Nguyễn Văn Thoại, từ trường ðua Phú Thọ tới ngã tư Bảy Hiền…

Năm tôi còn nhỏ tuổi, cha vẫn dẫn đi chơi mỗi chủ nhật. vào vườn ông Thượng, còn có tên tây là Bờ-Rô, sau đó mới gọi tên là vườn Tao Ðàn; dẫn đi chơi ở sở thú – Thị Nghè… cây trồng ở sài gòn phong phú là nhờ công sức của vị giám đốc sở thú đầu tiên, người Pháp; ông từng là chuyên viên nghiên cứu về cây trồng ở nhiều nơi trên thế giới; nhất là vùng nhiệt đới ở phi châu, có nhiều loại cây thích hợp với thổ nhưỡng sài gòn. những năm sau này, lớn thêm vài tuổi, lại được anh cùng cho đi “bát phố Bô-Na”, để thấy rõ Sài Gòn quả là rất Tây; tôi tha hồ thưởng ngoạn vẻ đẹp “Paris” của nó.

Tản bộ trên đường Catinat, từ nhà thờ Ðức Bà tới bến Bạch Ðằng, nhìn ngắm các cửa hiệu sang trọng thời thượng dọc con phố. và passage Eden, rất nên gọi là “hành lang ði bộ,” chính diện nhìn ra đường Catinat. passage Eden gồm trong đó: bát phố; xem chiếu phim – trong rạp Eden giữa lòng hành lang; mua sắm; ăn kem uống cà phê ăn tối ở quán givral liền bên… và ngắm nhìn trai thanh gái lịch, quý ông bà Sài Gòn, cũng ở trong đó.

Trai thanh – quý ông thì áo sơ mi quần tây trắng lốp; mũ flechet; giày deux couleurs; đồng hồ quả quít đeo ở dây lưng. gái lịch – quý bà thì áo dài lemur-cát tường không thua phụ nữ hà nội, hoặc vận jupe như “bà đầm”; tay xách porte feuille, chân đi guốc cao gót; tóc búi cao hoặc uốn dợn sóng, cổ đeo kiềng vàng…

Ra vào passage Eden nhiều lối, ưa thích ra vào lối nào cũng được. anh tôi dẫn tôi vào lối cửa ở đường Charner, rồi đi vòng qua Bonard, rồi ra cửa Catinat… rồi chúng tôi ghé hiệu sách Albert Portail – sau có tên là Xuân Thu – sát cạnh đó, toàn là sách từ bên tây đưa sang, tha hồ mà đọc mà ngắm.

Rồi với bạn học cùng lớp cùng trường Chu Văn An, trường-trung-học-di-chuyển-Bắc-Việt (có ghi ở bảng hiệu của trường như vậy, vì trường cũng di cư từ Hà Nội vào Sài Gòn) đi chơi và chụp ảnh lưu niệm Sài Gòn.

Bất cứ buổi sáng chủ nhật nào, góc thân thuộc nhất, tập trung nhiều nhất các “bác phó nhòm” chính là quảng trường trước mặt quán Givral. mái hiên cong kiều diễm của quán Givral, và con đường Catinat thẳng tắp, với hai hàng cây hai bên chạy dài ngút mắt, đã đi vào không biết bao nhiêu tấm ảnh lưu niệm Sài Gòn. hoặc những tấm ảnh của cả gia đình, lưu niệm ngày đi mua sắm ở thương xá Charner; buổi dùng bữa cơm tây ở một nhà hàng pháp trên phố Bonard…

Những ngôi đền Ấn ðộ giữa lòng Sài Gòn lúc ấy, cũng đi vào ký ức của đứa bé miền Bắc di cư khá đậm nét. sao mà sài gòn nhiều đền đài của Ấn giáo, với kiến trúc tinh tế kỳ công đến thế. những ngôi đền uy nghi tọa lạc ở các con đường Tôn Thất Thiệp – Trương Ðịnh – Công Lý của quận 1, trung tâm Sài Gòn. người Ấn ðộ sinh sống tại Sài Gòn khá đông, chỉ không nhiều bằng người Hoa, ở cả một vùng Chợ Lớn. tôi nghe dân Sài Gòn gọi họ là Chà Và. sau này tôi mới hiểu, Chà Và là đọc trại từ Java, gọi chung cho người Ấn ðộ và người Mã Lai; họ thường làm nghề mại bản, quản lý nhà đất, cho vay tiền, làm trung gian giữa người Việt và người Pháp…

Ðường Tôn Thất Thiệp, vào năm 1954 vẫn được xem là một tiểu Ấn ðộ, với những ông Chà Và cho vay tiền, chủ quán cà ri nị, mở tiệm kim hoàn. những người Ấn ðộ gốc ở Bombay thường kinh doanh ngành vải; họ có nhiều cửa hiệu ở đường Catinat, Bonard, Hàm Nghi, Galliéni, và chợ Bến Thành. từ lâu trước đó, cộng đồng người Ấn ðộ ở quận 1 còn đông đảo hơn nhiều; đã có một đợt người Ấn ðộ rời Sài Gòn sang định cư tại Pháp, vào năm 1945.

Có lẽ cái mới lạ, và thấy thân thương nhất, đối với người miền Bắc di cư vào Sài Gòn như tôi, là những quán tiệm bình dân, tiệm hoa kiều. hai thứ quán tiệm này khá giống nhau. buổi sáng tới quán, những ông già Sài Gòn đọc-nhựt-trình, nói chuyện ưa chêm tiếng Pháp, xưng tôi là mỏa (moi); những bà già hút thuốc điếu; những anh tài xe xích lô máy chở cả vợ con trong lòng xe rộng bè, tới quán ăn hủ tíu uống cà phê, xong chở về nhà rồi mới đi chở khách. một thời gian trong năm 1954-55, khi có xài tiền 5 cắc bằng kim loại; thì tại Sài Gòn, cứ việc lấy giấy bạc một đồng – có hình Nam Phương Hoàng Hậu – mà xé làm hai, xài một nửa tương đương 5 cắc ! thật là thuận tiện, đơn giản.

Người Sài Gòn – Nam Bộ không cần thiết phải biết tên người mới quen; chỉ hỏi người này là con thứ mấy trong gia đình, để kêu anh hai, anh ba… thân thương biết mấy ! chuyện trò với người Sài Gòn – Nam Bộ, câu chuyện của họ giản dị, rõ ràng, không úp úp mở mở; không bắt người cùng trò chuyện với mình phải chịu đựng sự vòng-vo tam quốc, sự rào trước đón sau, như rất nhiều người miền Bắc và miền Trung, trong đó có dân di cư năm 1954 thường như vậy. (theo Nguyễn Ðạt)

NGƯỜI SÀI GÒN…XƯA !

Dù bạn sinh quán ỏ đâu, trước 1975 đã sống lâu tại Sài Gòn, bạn vẫn là: ngưỜi Sài Gòn.lần đầu tiên lên Sài Gòn là để đi thi đại học. Tôi và một thằng bạn thi chung trường nên đi chung với nhau. Ở thì không lo vì đã có nhà người quen ở bên kia cầu chữ Y. chỉ lo cái chuyện ăn uống giữa hai buổi thi. ngay sau khi thi xong môn đầu tiên, hai đứa kéo nhau ra quán cạnh trường kêu hai dĩa cơm sườn. cầm cái muỗng, cái nĩa để ăn cơm dĩa mà cứ lọng cọng. ăn hết dĩa cơm, uống cạn mấy ly trà đá tự múc ở trong cái xô để ở góc quán, mà bụng vẫn trống không.

Nhỏ lớn ở quê khi nào đi đâu xa thì cơm đùm, cơm bới mang đi theo chứ có khi nào ăn cơm tiệm để mà biết kêu cơm thêm. kêu thêm dĩa nữa thì không dám, vì sợ không đủ tiền ăn cho ngày mai, ngày kia… ngó quanh ngó quất, thấy bàn nào cũng để một nải chuối, mọi người ăn xong cứ thuận tay bẻ, người một trái, người hai trái. thế là hai đứa sáng mắt, chuối này chắc người ta cũng cho không như trà đá. vậy là, chỉ một loáng nguyên cả nải chuối để trên bàn chỉ còn đống vỏ.khi tính tiền, thấy phụ quán cứ đếm đi đếm lại mấy cái vỏ chuối để trên bàn rồi nhìn chằm chằm, thỉnh thoảng lại liếc qua bà chủ quán đang đứng gần đó cười mím chi thì đâm lo. không biết tiền mang theo có đủ để trả không.

Nhìn hai đứa gom từng đồng bạc để bỏ lên bàn, bỗng nhiên chủ quán bước lại.thôi, tính hai dĩa cơm thôi. phần chuối chắc là không biết có tính tiền nên lỡ ăn, chị không tính. ngày mai ăn có thiếu thì cứ kêu cơm thêm mà ăn, để bụng đói không làm bài được đâu. chỉ có nải chuối, cho thấy tính cách người Sài Gòn.

Cuộc sống không thẳng tắp.bon chen lên Sài Gòn không phải lúc nào cũng dễ kiếm tiền. cũng trong những năm thập niên 1980, có lần, tôi thử sức mình với nghề đạp xích lô.. mượn chiếc xe của ông chú vào buổi sáng, lúc ấy chú cho xe ở nhà để ngủ sau một đêm chạy mối chở hàng. lần đầu tiên chạy xích lô chỉ có chạy xe không từ bên này sang bên kia cầu chữ Y đã muốn hụt hơi. thế nhưng vẫn rán vì trong túi không còn tiền. chạy lòng vòng Sài Gòn cả tiếng đồng hồ, ngang qua rạp Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi), thấy một đôi nam nữ đi ra, tay ngoắt, miệng kêu: “xích lô !”. luồn tay kéo thắng ngừng xe lại hỏi: “anh chị đi đâu ?”.

– Cho ra bến xe miền Tây. nhiêu ?

Dân miền Đông mới lên Sài Gòn tập tành chạy xe kiếm sống, biết bến xe miền Tây đâu mà cho giá. thôi đành chơi trò may rủi: “dạ, em mới chạy xe chưa rành đường, anh chị chỉ đường em chở. tới đó cho nhiêu thì cho”.

Tưởng không biết đường thì người ta không đi, ai dè cả hai thản nhiên leo lên. người con trai nói: “mười lăm đồng mọi khi vẫn đi. cứ chạy đi tui chỉ đường”.

Sức trẻ, thế mà vẫn không chịu nổi đường xa, đạp xe chở hai người từ rạp Quốc Thanh đến chân cầu Phú Lâm thì đuối, liệu sức không thể nào qua khỏi dốc cầu đành tính chước bỏ của chạy lấy người. Xuống giọng: “em mới chạy xe, đi xa không nổi. anh chị thông cảm đi xe khác giùm”.

Ai ngờ người con trai ngoái đầu lạ : “tui biết ông đuối từ hồi nãy rồi. thôi leo lên đằng trước ngồi với bà xã tui. đưa xe đây tui đạp cho. tui cũng từng đạp xích lô mà !”. thế là, vừa được khách chở, lại vừa được lấy tiền.không phải 15 đồng mà tới 20 đồng. Chắc cũng chỉ có người sài gòn mới khoáng đạt như vậy !

Người Sài Gòn tốt bụng, chia sẻ không từ những chuyện cá biệt, người nơi khác vào Sài Gòn hỏi đường thật dễ chịu. già trẻ, lớn bé, gặp ai hỏi người ta cũng chỉ dẫn tận tình. có nhiều người còn bỏ cả công việc để dẫn kẻ lạc đường đi đến đúng địa chỉ cần tìm.có những địa chỉ nhiều người hỏi quá, thế là người Sài Gòn nghĩ cách viết hoặc bỏ tiền ra đặt làm một cái bảng đặt bên lề đường, gắn vào gốc cây. đôi khi, kèm theo một câu đùa, câu trách rất sài gòn ở cái bảng này khiến ai đọc cũng phì cười. như cái bảng viết trên nắp thùng mốp trên đường Sư Vạn Hạnh mới đây : “bà con nào đi photo thì qua bưu điện bên đường. hỏi hoài mệt quá !”.

Đi xe ôm, taxi, gặp đúng dân Sài Gòn thì mười người hết chín không lo bị chặt chém, vẽ vời. đôi khi, kêu giá là vậy, nhưng khách không có tiền lẻ hoặc hết tiền người ta còn bớt, thậm chí cho thiếu mà không cần biết khách ở đâu, có trả hay không.với người Sài Gòn, đó là chuyện nhỏ.

Ở Sài Gòn, cho tới bây giờ vẫn còn nhiều nhà để một bình nước suối trước nhà, kèm thêm một cái ly, một cái bảng nước uống miễn phí. Và bình nước này không bao giờ cạn, như lòng tốt của người Sài Gòn. sẽ có nhiều người bảo cái ly nhiều người uống, bẩn chết đi được, nhưng không biết họ có cách nào hay hơn ? (mua ly giấy, uống xong vứt…. mời các người ấy về Sài Gòn mua ly giấy cho khách thập phương dùng).

Có người đã phát hiện, khi bạn chạy xe trên đường phố Sài Gòn, nếu có ai đó chạy theo nhắc bạn gạt cái chân chống, hay nhét lại cái ví sâu vào túi quần thì đích thị đó là người Sài Gòn !.Bi giờ còn vậy nữa không ? cũng còn, nhưng mà nếu bạn không gặp người như vậy ở sài gòn là vì những người mà bạn gặp đó không phải là người Sàigòn !

Tui hỏi anh cyclo “đạp từ rạp rex về cầu Chông (nhà tui) giá bao nhiêu ?”. anh nói “20 ngàn”.tui nói “30 ngàn thì tui mới đi”. anh cyclo lập lại “20 ngàn”. tui cũng nói như cũ. anh cyclo tưởng tui là thằng này khùng và nói “thôi lên xe đi”.đến nhà, tui đưa anh 30 ngàn và cám ơn. Năm 1978 khi ra tù tại ga xe lửa đường Lê Lai, một anh cyclo đến hỏi tui “về đâu ?”, nhưng khi nhìn thấy bộ đồ tù tui mặc nên anh nói câu mà tui nhớ đời “lên đi thằng ông nội, tui chở về…không có tính tiền đâu“. làm sao tui quên được câu nói đó.

Người Sài Gòn là như vậy bạn ơi !

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp

CA KHÚC BẤT HỦ BÉSAME MUCHO

BÉSAME MUCHO

– Thạch Bích

Tôi đang nhớ về Sài gòn một đêm vừa mưa, vừa gió… Cơn mưa rào miền Nam không những xoa dịu hơi nóng hầm hập suốt ngày, những luồng gío nhẹ luồn qua chắn song cửa đủ mang đến chút lành lạnh, khiến tôi nằm trong giường đã phải chùm chiếc chăn mỏng màu huyết dụ, có điểm những bông hoa trắng nhỏ li ti, Bố Mẹ mang theo từ hồi di cư vào Nam. Những đêm như thế, kéo chăn lên tới tận cổ, nằm đọc truyện hay nghe nhạc thì chắc không còn thú nào hơn …

Hồi đó tôi đang tuổi mới lớn, đã biết chăm sóc diện mạo của mình, đã biết vui buồn vu vơ… và cũng mới quen với anh T., một học sinh bên trường HNC. Thời ấy tôi có thói quen đêm đêm đón nghe chương trình “Tiếng nói Dạ Lan”, tiếng nói của em gái hậu phương gửi các anh trai ngoài trận tuyến… Tôi không phải là lính, thế mà tôi vẫn mê cái giọng Bắc ngọt ngào, dễ thương của Dạ Lan.

Nhưng lý do chính khiến tôi thích nghe chương trình này, là những bài nhạc tình lồng trong những buổi phát thanh đó, nhất là những bài nhạc ngoại quốc. Chỉ riêng điệu nhạc chính dùng đệm nền “Walk don´t run” do ban nhạc “The Venture” trình bày đã đủ làm tôi mê mẩn… Rồi tôi còn nhớ thật rõ ràng, vào đêm Sài gòn có mưa, có gió đó tôi đã lần đầu tiên được nghe trong chương trình “Dạ Lan” bài nhạc ngoại quốc rất lạ : Bésame mucho …

Vào cuối thập niên 60 những ban nhạc theo kiểu The Beatles : Một chàng gõ trống, ba, bốn chàng ôm đàn guitar điện gảy từng tưng và lắc lư qua lại như có chút men rượu… xuất hiện thể nấm rừng gặp mưa…  Nào là “The Shadows” với bài “Apache”, (mà anh T. kể, bọn học sinh lớp anh đã ngổ ngáo đặt lời : “Kìa xem … Thầy Tổng đen … treo toòng teng …”, để ngạo Thầy Tổng giám thị có làn da ngăm ngăm và rất ư là nghiêm khắc). Còn ban nhạc “The Animals” được biết đến qua bài “The house of rising sun”… Những bài “Yesterday”, “Hey Jude” … giới trẻ chúng tôi ai chả đã từng nghe ?

Từ năm 1963 chiến trận bùng nổ khắp miền Nam, nhất là sau khi Mỹ đã đổ gần nửa triệu quân vào tham chiến… Thế nhưng Sài gòn vẫn ăn chơi phè phỡn, vẫn tóc dài (con trai), váy ngắn (con gái) và không hề bị “Mỹ hóa” hoàn toàn, trái lại dân Sài gòn rất… Tây ! Con ông lớn, bà bé, những cậu ấm, tiểu thư con nhà giàu, trưởng gỉa, đua nhau theo học các trường theo chương trình Pháp, đắt è cổ : J. J. Rousseau, Marie Curie, Lasan Taberd, Couvent des oiseaux… Và một ngày đẹp giời, dạo phố Lê Lợi, thế nào cũng gặp những cặp choai choai dung dăng, dung dẻ với nhau, miệng bi bô :

Tous les garçons et les filles de mon âge

Se promènent dans la rue deux par deux

Tous les garçons et les filles de mon âge

Savent bien ce que c’est d’être heureux

Et les yeux dans les yeux

Et la main dans la main …

(Tous les garçons et les filles – François Hardy)

Từ những kiosks thâu băng nhạc trên đường Nguyễn Huệ vẫn văng vẳng tiếng hát của cô đầm tóc vàng Silvie Vartan:

… La plus belle pour aller danser …

Nên hồi đó, với tôi, trên đời này những bản tình ca chỉ có thể bằng tiếng Anh, Pháp và… Việt Nam ! Vẫn biết rằng còn có tiếng Tàu, tiếng Nhật… và sau này, khi đi du học, tôi còn học thêm tiếng Đức nữa. Nhưng những thứ ngôn ngữ ấy làm sao có được những câu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình tựa như :

Trời ươm nắng cho mây hồng / Mây qua mau em nghiêng sầu / Còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm, / mây âm thầm mang gió lên. / Người ngồi đó trông mưa nguồn / Ôi yêu thương nghe đã buồn / Ngoài kia lá như vẫn xanh, ngoài sông vắng nước dâng lên hồn muôn trùng. (Mưa hồng – Trịnh công Sơn)

Thế mà bài “Bésame mucho” này bằng tiếng gì lạ hoắc, tôi không thể nào hiểu được lời nhạc ! Nhưng điệu nhạc êm dịu, giọng ca của nữ ca sĩ tôi không biết tên thật ấm áp, thật truyền cảm và mang một thoáng buồn đã mê hoặc tôi. Tôi cảm nhận một chuyện tình si mê, đắm đuối, nhưng cũng có chia ly, tan tác … Từ đấy tôi lắng nghe, mỗi khi bài hát được truyền đi trên đài phát thanh Sài gòn, nhưng tôi không nhớ được gì ngoài… Bésame  mucho ! Mà ngay chỉ hai chữ đó tôi cũng chả biết nghĩa là gì nữa, vậy mà tôi vẫn rung động, vẫn thấy thích mỗi khi nghe bài nhạc ấy…

Sau này khi qua sống bên Âu châu, tôi tìm hiểu, mới biết bài hát đó là tiếng Tây Ban Nha (Spain), một ngôn ngữ (cùng với tiếng Bồ Đào Nha / Portuguese) phổ biến trong khắp vùng Trung và Nam của châu Mỹ, từ Cuba, Mexico tới Argentina, Brazil… nơi xuất phát những điệu vũ say mê, sôi động, nồng nhiệt : Tango, Samba, Rumba… Và tôi đã biết : Bésame = kiss me, mucho = much; bésame mucho = kiss me much / kiss me a lot, cũng như tôi đã kiếm được lời cả bản nhạc và tạm dịch qua tiếng Việt : (Xem ảnh minh họa)

Hóa ra lời nhạc thật giản đơn, thật cô đọng như những câu thơ, như những nét chấm phá trong bức tranh thủy họa của Tàu. Nhưng chỉ vài câu rất đơn giản ấy đã đủ diễn tả hết sự si mê, đắm đuối, nỗi đau buồn chia ly trong cuộc tình…

Có lẽ cái hay của bài Bésame Mucho này trước hết chính là điệu Boléro nhẹ nhàng, chầm chậm, nhưng thấm sâu vào tâm gan người nghe, gây ra một nỗi buồn man mác. Chả thế đa số những bài “nhạc vàng”của Việt Nam cũng hay sử dụng điệu nhạc này. Trong khi vũ nhạc điệu Tango được coi như của Argentina, Samba của Brazil, thì Bboléro đã được cải biến từ vũ nhạc điệu Trova hồi cuối thế kỷ 19 và rất được ưa chuộng ở Cuba và sau này lan rộng sang Mexico.

Thứ đến có lẽ vì các tình tiết của bản nhạc đã phản ảnh phần nào tâm tư, mộng ước của chính tác gỉa, nữ nhạc sĩ và danh thủ đàn dương cầm người Mexico, Consuelo Velázquez : Bà vẫn được cho là bị long đong, lận đận trên tình trường. Năm 1941, lúc đó bà gần 25 tuổi (vì năm sinh của bà không chính xác, nên có tài liệu ghi tuổi của bà chênh lệch đến 10 tuổi), sau lần dự buổi nhạc cảnh (opera) Goyescas của soạn giả người Tây Ban Nha Enric Granados, bà đã có ngẫu hứng và sáng tác bài Besame Mucho.

Trong lần phỏng vấn mấy năm trước khi bà mất vào năm 2005, bà đã tiết lộ : Tới thời điểm sáng tác bài nhạc đó, bà chưa từng hôn ai, ôm hôn thắm thiết người bà mong đợi vẫn chỉ là ước mơ thầm kín…

Tài năng về âm nhạc của Consuelo Velázquez đã được ghi nhận rất sớm : Mới 7 tuổi bà đã biễu diễn đàn dương cầm trước công chúng. Khi 17 tuổi bà thành giáo sư âm nhạc và sau này bà là nhạc công (đàn dương cầm) trong ban nhạc cộng hưởng quốc gia của Mexico. Bà đã sáng tác nhiều nhạc phẩm được ưa chuộng như : No me pidas nunca, Pasional, Déjame quererte, Que seas feliz, Yo no fui, Chatito, chachito… Nhưng nhạc phẩm Bésame Mucho đã đưa bà Velázquez lên đỉnh danh vọng.

Không thể kể hết các ca sĩ nổi tiếng đã trình bày nhạc phẩm Bésame mucho, hai videos dưới đây sẽ giới thiệu hai giọng hát tuyệt vời : Cesária Évora và Andrea Bocelli. Tôi đã chọn hai người này không chỉ vì họ là những ca sĩ thượng hạng, mà cả về cuộc đời rất đặc biệt của họ.

– Bà Cesária Évora sinh năm 1941 (cùng năm bài Bésame mucho được sáng tác) ở Cap Vedes, một quần đảo phía bờ biển Tây của châu Phi, trong một “gia đình yêu âm nhạc”, thân phụ của bà đàn vĩ cầm. Sau khi thân phụ mất sớm, bà đã vào ở trong một cô nhi viện, trước khi được một gia đình nhận về nuôi. Bà sinh sống bằng cách đi hát trong các nhà hàng, phòng trà…

Mãi tới khi 47 tuổi bà mới nhận được hợp đồng với một hãng đĩa nhạc. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau khi đĩa nhạc của bà phát hành, bà đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng trên thế giới. Một điều đặc biệt khác: Bà không bao giờ mang giày, vớ khi lên trình diễn trên sân khấu, vì thế bà vẫn được mệnh danh là “Nữ hoàng chân đất”…

Xin click vào đường dẫn :

http://www.youtube.com/watch?v=Esdl_3kKSBk

– Andrea Bocelli sinh năm 1958 tại Lajatico, miển Trung nước Ý. Bị bệnh bẩm sinh, mắt của Bocelli mờ dần và thành bị mù khi 12 tuổi. Cũng chính trong năm đó Bocelli đã đoạt giải nhất trong một kỳ thi tuyển ca nhạc với bài hát nổi tiếng “O sole mio – Mặt trời của tôi”. Tuy bị mù, Bocelli sống rất lạc quan, nhưng không tiếp tục theo đuổi nghiệp cầm ca, mà theo học ngành Luật và trình luận án Tiến sĩ tại Đại học Pisa.

Sau một năm hành nghề luật sư, Bocelli theo học thanh nhạc với Luciano Bettarini. Mặc dù đã đoạt nhiều giải trong một số kỳ thi tuyển ca nhạc, nhưng phải mất 5, 6 năm Boccelli mới có được những thành qủa đầu tiên, sau khi gặp và được Zucchero và Casselli nâng đỡ. Bây giờ Bocelli được coi là ca sĩ tenor thành công nhất thế giới, với hơn 70 triệu đĩa nhạc đã bán được …

Xin click vào đường dẫn :

http://www.youtube.com/watch?v=gPRESlT4Ccg

Dưới đây Bésame mucho kiểu Mỹ qua sự trình bày của tài tử Hollywood, gốc Ý, Dean Martin :

Xin click vào đường dẫn : http://www.youtube.com/watch?v=Ab7e8y_IODk

– Và nghe Bésame mucho từ tiếng hát Ngọc Lan một danh ca người Việt (đã qua đời tại Hoa Kỳ)

https://youtu.be/-Xb-wpLQb5s

Nhớ về Sài gòn ngày xưa, cũng là nhìn lại quãng đời đã qua  Tuổi mộng mơ đã xa ! Qúa nửa đời người tôi đã biết… yêu, đã vui nhiều, đã thao thức, đã ưu tư… Hạnh phúc từng có trong tay, nhưng mất mát, đổ vỡ cũng đã chịu ! Nên bây giờ may mắn có được người “bạn đời” sánh bước, đi hết đoạn đường còn lại, tôi có những ước mong, thấy thích bản dịch kiểu … Mỹ hơn. Và tôi muốn cất tiếng hát nho nhỏ cho người tôi yêu : Bésame, bésame mucho ! …

Thạch Bích

NGÔ THỤY MIÊN

NHỮNG TÌNH KHÚC BẤT HỦ

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sinh ngày 26 tháng 9 năm 1948 tại Hải Phòng, và là con thứ nhì trong một gia đình bảy người con. Ông lớn lên trong môi trường sách vở và thơ văn, do gia đình ông có mở một nhà sách tên Thanh Bình ở thành phố Hải Phòng, và sau này ở trên đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) khi vào định cư ở Sài Gòn. Tại đây, ông học trường Trung học Nguyễn Trãi. và sau đó là Trường Đại học Khoa học Sài Gòn.

Trong thập niên 1960, Ngô Thụy Miên có theo học vĩ cầm với Giáo sư Đỗ Thế Phiệt, và nhạc pháp với Giáo sư Hùng Lân tại Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Thời gian học ở đây, ông quen biết với Đoàn Thanh Vân (con gái của diễn viên Đoàn Châu Mậu), và hai người đã có một mối tình.

oOo

Từ năm 1970-1975, Ngô Thụy Miên làm kiểm soát viên không lưu tại  phi trường Tân Sơn Nhất. Cũng khoảng thời gian đó, ông là Trưởng ban nhạc Luân Phiên tại Đài phát thanh Quân đội

Năm 1963, ông bắt đầu viết nhạc. Tình khúc đầu tiên mà ông sáng tác là bài “Chiều nay không có em” hoàn tất vào tháng 2/1965 được giới sinh viên học sinh lúc bấy giờ hưởng ứng rất nồng nhiệt.

Vài năm sau, ông cho xuất bản một tập nhạc đầu tay lấy tựa “Tình khúc Đông Quân” (Đông Quân chính là bút hiệu đầu đời của ông trước khi đổi qua bút hiệu Ngô Thụy Miên bây giờ) in ronéo phát hành tại Sài Gòn năm 1969. Trong đó có nhiều bài đáng chú ý như : Giáng ngọc, Mùa thu này cho em (sau đổi là Mùa thu cho em), Gọi nắng (sau đổi là Giọt nắng hồng), Dấu vết tình yêu (sau đổi là Dấu tình sầu), Cho những mùa thu (sau đổi là Thu trong mắt em), Tình khúc tháng 6, Mùa thu về trong mắt em (sau đổi là Mắt thu) và Ngày mai em đi

Tiếp theo, Ngô Thụy Miên có những nhạc phẩm phổ từ thơ của thi sĩ Nguyên Sa như: Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tuổi 13

Năm 1974, Ngô Thụy Miên thực hiện băng nhạc đầu tay Tình Ca Ngô Thụy Miên gồm 17 tình khúc đã được viết trong khoảng thời gian 1965-1972. Với sự góp mặt của các ca sĩ và nhạc sĩ như Khánh Ly, Duy Trác, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Duy Quang,…

Sau ngày 30/4, ông vượt biên đến tị nạn tại đảo Pulau Bidong của Mã Lai Á, và chính thức ra mắt một sáng tác viết từ năm 1975 là bài Em còn nhớ mùa xuân gởi tặng riêng cho người yêu của ông là Đoàn Thanh Vân. Sau sáu tháng ở trại tị nạn, nhạc sĩ được nước thứ ba bảo lãnh cho sang Montréal (Canada) tháng 4/1979.

Từ SanDiego (Hoa Kỳ) Đoàn Thanh Vân được tin người yêu đã đến được Canada, đã bay sang nối kết lại cuộc tình đã bị dở dang vì thời cuộc. Cùng năm 1979, cả hai qua sống tại San Diego rồi dời lên Orange County Qua năm 1980, Ngô Thụy Miên bắt đầu đi làm về ngành điện toán cho trường UCLA, tại thành phố Olympia thuộc tiểu bang Washington.

Trong thập niên 1990, nhạc sĩ tiếp tục sáng tác với những ca khúc mới như Cần thiết, Em về mùa thu, Trong nỗi nhớ muộn màng… và nhất là Riêng một góc trời. Tổng cộng đến nay, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã sáng tác được trên 70 ca khúc, với khoảng 20 bài từ trong nước. Theo đánh giá của nhiều người, thì Ngô Thụy Miên chính là “một nhạc sĩ tài hoa đích thực”…

Trung tâm Thúy Nga từng thực hiện Paris By Night 21: Tình ca Ngô Thụy Miên (1993)Paris By Night 66: Người tình và Quê hương (2002) (cùng với Trần Trịnh và Nhật Ngân) để vinh danh ông và những sáng tác của ông.

– Những tác phẩm tiêu biểu: https://youtu.be/Y0Z510osXaI

– Tình Ca Ngô Thụy Miên (1:27’)

15 Bản tình ca hay nhất của Ngô Thụy Miên

https://youtu.be/5AoMQnPuqsU

CON GÁI NHÀ THƠ QUANG DŨNG

VÀ NHỮNG HỒI ỨC VỀ CHA

Ngày 27/2 năm 2015, Trung đoàn 52 Tây Tiến long trọng kỷ niệm 70 năm ngày thành lập, chị Bùi Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng ( tên thật là Bùi Đình Dậu) lại bồi hồi nhớ về cha, đại đội trưởng của Trung đoàn Tây Tiến năm xưa và những thăng trầm của bài thơ “Tây Tiến”.

Là con gái út trong gia đình, nên có thể nói chị Phương Thảo được cha cưng chiều nhất và cũng hay tâm sự nhiều nhất. Chị Thảo kể : “Khi còn nhỏ, tôi được gần gũi với cha lâu nhất. Tôi rất  hay quan sát bố  viết bài hoặc  giao du với bạn bè.

Nhà tôi ngày xưa ở phố Bà Triệu, nhà tuy nhỏ và nghèo, nhưng lại rất hiếu khách. Bố tôi thường hay có nhiều bạn bè đến chơi. Bây giờ nhớ lại, tôi thầm ước nếu hồi đó mà có những thước phim ghi lại thì đó là những thước phim vô giá.

Bởi lẽ, có rất nhiều nhân vật văn học điển hình của nước mình thường hay đến nhà tôi chơi, trong đó có bác Tô Hoài,  Nguyễn Công Hoan, Phạm Hổ, Nguyễn  Tuân, Nguyễn Đình Thi, cô Xuân Quỳnh, họa sỹ Phan Kế An… Khách đến chơi nhà nhiều khi chỉ có đĩa lạc hay ít đậu phụ thôi, mà mọi người trò chuyện như ngô rang “.

Gia tài tinh thần đầy ắp của người cha

Theo lời chị Thảo, bố chị mất đi  không để lại của cải vật chất gì nhiều, nhưng để lại cho con cháu kho gia tài tinh thần đồ sộ. Trong số những đứa con tinh thần của nhà thơ Quang Dũng, bài thơ  “Tây Tiến” được ông tâm đắc hơn cả. Nó có thể coi là đứa con cả khỏe mạnh nhất, vạm vỡ nhất.

Bài thơ “Tây Tiến” sau này được đưa vào sách giáo khoa và được nhiều thế hệ học sinh biết tới. Thế nhưng, ít ai biết rằng, khi nhà thơ Quang Dũng còn sống, bài thơ này đã từng bị ” xét lại” vì cho rằng đi chiến đấu gian khổ mà lại mơ tưởng xa hoa, lãng mạn.

Chị Thảo cho biết, chỉ vì câu thơ ” Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” mà bài thơ của ông bị một số chỉ trích. Thế nhưng, ai cũng hiểu thời của của các cụ, toàn các thanh niên Hà Nội, những chàng trai được cho là giai cấp tiểu tư sản bỏ lại tất cả để đi theo kháng chiến, có xá chi đâu. Còn cái lãng mạn đó là bản chất, tích tụ trong con người.Chính sự lãng mạn đó đã khiến cho người lính quên đi mọi khó khăn gian khổ và vượt lên phía trước.

Sau này, với tư tưởng cởi mở hơn, bài thơ “Tây Tiến” đã được ghi nhận.Cho tới năm 1988, lần đầu tiên bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” của ông được nhạc sỹ Phạm Đình Chương phổ nhạc và phát trên Paris by night, một video ca nhạc hải ngoại, cũng khiến nhà thơ lo lắng. Chị Thảo nhớ lại: “Lúc đó ông hay lo sợ lắm. Rất may, đó thời kỳ đầu của cải cách mở cửa, nên tư tưởng cũng đã bắt đầu thoáng hơn. Chứ trước đó, câu thơ “Mắt em dìu dịu buồn  Tây Phương” trong bài thơ “Đôi mắt người Sơn Tây” cũng bị qui chụp là tơ tưởng đến một cô gái phương Tây nào đó…”

Thực ra, chị Thảo cho biết, sinh thời nhà thơ Quang Dũng cũng ít nói chuyện văn chương với con gái, cũng vì những lo lắng trên. Còn cô con gái Phương Thảo thì là một người mến mộ thơ ông, mà theo ngôn ngữ ngày nay gọi là “fan cuồng”. Chị thuộc lòng các bài thơ của bố. Sau này, khi tham gia Câu lạc bộ văn nghệ sỹ  Xứ Đoài, quê cha, chị mới  biết nhiều hơn về bố mình qua câu chuyện của các bạn văn chương của bố.

Nhà thơ Quang Dũng qua con mắt của con gái Phương Thảo là một người cha mẫu mực, chịu thương chịu khó. Ông luôn giành những việc nặng nhọc nhất trong gia đình về mình vì ông bảo, ông là người khỏe nhất. Ông thường dậy từ 4 giờ sáng để đi lấy nước cho cả gia đình, trong khi mọi người vẫn đang chìm trong giấc ngủ.

Thơ và tranh đều đem tặng bạn

Chị Thảo bộc bạch, bố chị ít lưu lại những bút tích của mình và hay thường tặng cho bạn bè. Chính vì thế, sau khi nhà thơ mất, chị Thảo đã lặn lội tìm đến bạn bè cha với hy vọng tìm được di cảo của cha. Những bài thơ “Nhớ chuyện xa” hay “Cô gái mùa ổi”… là những bài thơ ông chép trong cuốn sổ tay tặng bạn học từ những năm 1940.

Trong cuốn “Nhà thơ Quang Dũng trong hồi ức của người thân”, chị Thảo viết: “Cha tôi vốn là người không lưu tâm giữ lại những tác phẩm mình sáng tác, có những bài thơ làm xong thì tặng ngay cho người bạn mình quý mến hoặc tự tay chép thơ tặng nhưng lại chép vào sổ của bạn và quên mất mình đã có những bài thơ như thế…”

Cũng trong lần đi tìm di cảo của cha, chị Thảo đã được xem bức ảnh bà Giáng Kiều, nghệ sỹ trong đoàn kịch của Thế Lữ, tên thật là Kiều Dinh, một trong bốn chị em gái rất đẹp ở phố Hàng Bông những năm 1940, “người tình trong mộng” của người bạn thân. Chữ kiều trong tên bà Kiều Dinh ngày ấy được cho là nhà thơ “mượn” để làm danh từ chung trong bài thơ “Tây Tiến”, làm nên một hình ảnh lãng mạn : “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Ngoài ra, nhà thơ Quang Dũng có vẽ khá nhiều tranh, trong đó ông tặng bạn bè khá nhiều. Hiện nay, chị Thảo còn lưu giữ tại nhà một số bức tranh quí của ông như bức Mây đầu ô, Ba Vì…

Chị Bùi Phương Thảo, con gái út nhà thơ Quang Dũng sinh năm 1962. Chị hiện là Phó hiệu trưởng trường tiểu học Võ Thị Sáu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

100 NĂM TẠP CHÍ NAM PHONG

100 NĂM TẠP CHÍ NAM PHONG :

Khát vọng giáo dục quốc dân

của lớp trí thức thời đầu thế kỷ XX

Năm 2017 đánh dấu tròn 100 năm tạp chí Nam Phong ra mắt quốc dân. Số báo đầu tiên của Nam Phong được phát hành vào ngày 01/07/1917 và số cuối cùng vào ngày 16/12/1934, chấm dứt 210 số báo tiếng Việt, 210 phụ trương tiếng Pháp và 210 phụ trương tiếng Hán sau hơn 18 năm tồn tại.

Vào năm cuối cùng này, tờ báo chuyển từ nguyệt san sang bán nguyệt san với một nỗ lực mạnh mẽ đổi mới, như Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng viết trong số báo 199 kỷ niệm mười tám năm ra số đầu : «Tôi muốn từ nay Nam Phong không phải là một bà lão, Nam Phong lại là một cô thiếu nữ hây hây».

Trả lời RFI tiếng Việt, nhà nghiên cứu Thủy Chi tại Hà Nội, nhận xét : Ám chỉ một bà lão ở tuổi 18 của một tờ báo mang nhiều ý nghĩa. Trước hết, nó gắn với hiện tượng thường gặp trong làng báo chí đương thời: việc đình bản và tục bản của các tờ báo trong một thị trường báo chí thuộc địa rất hẹp và nhỏ. Thứ hai, báo chí Việt Nam cho tới những năm 1930 đã chứng kiến một sự lột xác ngoạn mục, mà ví dụ là việc Phong Hóa với khẩu hiệu trẻ trung đã thay thế «vị trí rất cao trong văn giới, chính giới» của Nam Phong.

Dĩ nhiên Nam Phong sống thọ như thế một phần quan trọng là nhờ ở vai trò ở hậu trường của người Pháp với một ý định chính trị thực dân cáo già rất rõ ràng. Đó là nhằm loại trừ ảnh hưởng nước Đức, vốn được truyền bá gián tiếp qua phong trào Tân Thư, qua tên tuổi Lương Khải Siêu. Nam Phong không chỉ nhận được khoản trợ cấp để có thể ra báo một cách đầy đặn, mà còn được chính quyền thực dân hỗ trợ «tạo nên công chúng».

Hồi ký của Hồ Hữu Tường cho biết ông cậu bà con của mình làm Hội Đồng «bị nhà nước ép mua dài hạn tạp chí nầy». Song mọi việc nhanh chóng vượt khỏi những điều mà Louis Marty dự tính ban đầu khiến ta phải thừa nhận rằng Nam Phong tồn tại thực sự trong làng báo chí Việt Nam với tư cách một tờ báo lớn không thể chỉ là nhờ ý định chủ quan của giới thực dân mà còn chính ở những người trực tiếp chèo lái nó. Một trong số những công trạng quan trọng nhất cần kể đến là khát vọng giáo dục quốc dân của lớp trí thức.

Trong lời mở đầu cho số 1 Nam Phong, Phạm Quỳnh đã đặt ra một vấn đề quan trọng về vai trò học vấn : «Ông cha ta đã đề tạo ra cái tổ quốc ta, đã chung đúc thành cái quốc hồn ta, không ngờ rằng ngoài nước ta còn có nhiều nước khác, ngoài học vấn đạo đức của ta còn có nhiều học vấn đạo đức khác nữa mà có ngày ta không thể biết hết được. Ngày ấy nay đã đến.Người nước ta nay đã mở mắt tỉnh giấc mộng trăm năm, mở cái mắt mơ màng ra mà nhìn cái thế giới mới.Trông thấy những cảnh tượng lạ lùng mà kinh mà sợ […] Sống trong thời đại này tất phải có một phần trong sự hoạt động ấy».

Phạm Quỳnh như thế đã tóm tắt điểm chủ yếu nhất mà một trí thức Việt Nam đương thời phải đối mặt.Đó là tình thế «toàn cầu hóa» một cách bất đắc dĩ.Nhận thức của ông với tư cách một trí thức Tây học không chỉ bao gồm việc nhận ra «kẻ khác» mà còn hiểu rằng giờ đây ta phải sống cùng kẻ khác thì mới có cơ hội tồn tại trong thời mới.

Để tồn tại được cùng kẻ khác, giáo dục là một trong những cách mà thế hệ trí thức 1907 thực hiện nhằm gìn giữ những giá trị quá khứ. Thế mà chi phí giáo dục theo lối mới rất đáng kể đối với một gia đình thường thường bậc trung ở ngay Hà Nội khi đó. Vào thời điểm này, từng có Đông Kinh Nghĩa Thục tham gia giáo dục quốc dân rồi nhanh chóng bị chính quyền thuộc địa đàn áp và giải tán. Đồng hành cùng với họ là Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút với những bài viết về học vấn Tây phương, nhưng cuối cùng bị đình bản.

Giáo dục quốc dân qua tạp chí

Với phụ đề «l’Information française» (Cơ quan thông tin của Pháp) trên măng sét, tạp chí Nam Phong lại có phụ đề khác bằng tiếng Việt Văn học Khoa học tạp chí. Các đề mục đặc biệt có liên quan tới giáo dục do các nhà tân nho như Phan Kế Bính và Nguyễn Đỗ Mục, hoặc các trí thức Tây học Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn đảm trách và được duy trì suốt trong suốt thời kỳ ra báo : Luận thuyết, Văn học bình luận, triết học bình luận, Khoa học bình luận, Văn tuyển, Tạp trở, Thời đàm, tiểu thuyết.

Bằng việc thiết kế như vậy, Nam Phong tự nhiệm về giáo dục như Đông Dương tạp chí từng làm.Cũng trong số đầu tiên, bức ảnh Albert Sarraut được chú thích là người thành lập Đại học Đông Dương chứ không phải bằng chức danh quan toàn quyền. Rõ ràng, tạp chí Nam Phong là một cách thức giáo dục dành cho quốc dân mà Phạm Quỳnh muốn theo đuổi. Với cách học qua tạp chí như thế, học không chỉ là lên lớp để lấy bằng, mà còn học để lấy tri thức như ông viết: «đương buổi bây giờ không cần cấp bằng gây lấy một cái cao đẳng học thức để thay cái học thức cũ đã gần mất».

Theo bà Phạm Thị Ngoạn, trong nghiên cứu của mình, hoàn toàn có lý khi gọi Phạm Quỳnh cùng các bạn đồng chí là những « giáo sư » trong một trường học mở theo lối mới để đáp ứng một nhu cầu học mới. Trong hoạt động của kiểu trường học không có trụ sở này, giáo sư không giao bài cho học sinh, không sửa bài, mà chỉ muốn «tâm tình với bạn đọc như với bạn cố tri», nhận những câu trả lời từ bạn đọc để từ đó có những bài viết thể hiện được.

Tính chất trường học góp phần tạo nên tính điển phạm ở cả khía cạnh kiến thức lẫn hành vi của cuộc đời. Điều ấy còn tương ứng với một kỳ vọng khác của Phạm Quỳnh khi ông viết: «Nước cốt ở dân, dân chủ ở một bọn người gọi là «thượng-lưu», hay bọn «thức giả xã hội», như nhà có nóc vậy. Nhà không có nóc thì ở sao.Nước không có một bọn thượng-lưu trí-thức để giữ-gìn cái cốt-cách trong nước, thì sao gọi là một nước được?Có nhà danh-sĩ Pháp đã nói rằngNước Pháp sở-dĩ là nước Pháp, cũng chỉ nhờ bởi bốn năm mươi người đại-trí.Nếu không có bọn ấy thì nước Pháp không còn là nước Pháp nữa ».

Chi tiết « bọn bốn mươi người đại trí » của Hàn Lâm Viện Pháp, mà Phạm Quỳnh thường xuyên cho in lại trên Nam Phong những bài viết của các thành viên hoặc của các giáo sư đại học Paris, hàm ý tham vọng xây dựng một lớp trí thức mới mẫu mực, tinh túy cho thời đại mới.

Vậy ai là những thành viên có thể tham gia vào nhóm bốn mươi người Việt đó? Hẳn nhiên trước hết chính là những ai từng bỉnh bút cho Nam Phong giai đoạn đầu như Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đôn Phục và Nguyễn Mạnh Bổng. Họ tất thảy đều có hai yếu tố rất quan trọng đối với giới trí thức Việt Nam đương thời: uy tín và tuổi tác.

Phạm Quỳnh cùng tờ báo của mình không chỉ hoàn thành một vai trò nhà báo đưa tin như cái măng-sét đã ghi ban đầu, mà còn có tham vọng giữ một tiếng nói chính thức về mặt học thuật đương thời trên trường trí thức mới đương thành lập. Dù tiếng nói đó đôi lúc trở nên học phiệt như Phan Khôi sau này từng lên tiếng, nhưng người ta không thể không ghi nhận một kỳ vọng lớn lao ấy của Phạm Quỳnh về lớp «thượng lưu trí thức để giữ gìn cốt cách trong nước, để bồi dưỡng cái quốc-túy».

Phong Hóa vào những năm 1930 sẽ chấm hết sự tồn tại Nam Phong bằng giọng hài hước khi nhại lại câu «Thứ nhất sừ Uỳnh thứ nhì sừ Ĩnh». Nhưng chắc chắn lớp trí thức tư sản như Nhất Linh, Khái Hưng đã được thừa hưởng rất nhiều từ cái khát vọng thượng lưu trí thức của Phạm Quỳnh như một nền tảng của trường trí thức thời hiện đại.

Phan Tất Đại chuyển tiếp

KHÁM PHÁ NGHỆ THUẬT

TRANH GƯƠNG XỨ HUẾ

DI SẢN QUÝ GIÁ THỜI NGUYỄN

Chúng ta đã được chiêm ngưỡng nhiều bức họa được vẽ trên các chất liệu như: giấy, lụa, sành, sứ… Nhưng có một loại tranh đặc biệt độc đáo, nó được vẽ trên kính, mà người Huế gọi nó là tranh gương. Dòng tranh này có giá trị nghệ thuật đặc sắc cần được bảo tồn và lưu truyền.

Đến nay, các bức tranh gương có giá trị đều do triều Nguyễn để lại và đang được trưng bày tại Bảo tàng cổ vật cung đình Huế (16 bức) và các cung điện, lăng tẩm ở Huế như cung Diên Thọ (điện chính), lăng Minh Mạng (điện Sùng Ân), lăng Thiệu Trị (điện Biểu Đức), lăng Tự Đức (điện Hòa Khiêm, điện Lương Khiêm), lăng Đồng Khánh (điện Ngưng Hy) và điện Huệ Nam (điện Hòn Chén).

Xuất xứ của dòng tranh gương vẫn còn nhiều thắc mắc

Có rất nhiều người nghiên cứu về xuất xứ của loại nghệ thuật độc đáo này. Phần đa ý kiến cho rằng, tranh gương cố đô Huế có xuất xứ từ Trung Quốc. Nguyên là vua Thiệu Trị (1841-1847) có tập thơ “Thần kinh nhị thập cảnh” vịnh 20 cảnh đẹp của đất Huế, đã gởi các bài thơ này qua Trung Quốc đặt vẽ. Dựa trên nguồn cảm hứng này, các nghệ nhân Trung Quốc thời đó đã khắc họa 20 bức tranh theo 20 khung cảnh trong tập thơ. Mỗi bài thơ này được thể hiện thành một bức tranh gương, sau đó mới mang trở về kinh đô Huế, treo tại các miến điện.

Nét độc đáo của tranh gương triều Nguyễn- cung đình Huế

Nếu ai đã từng tới Huế, thì không khỏi ngỡ ngàng và yêu thích những bức tranh gương đang được trưng bày tại đây. Một loại thể hiện nghệ thuật trên chất liệu mới lạ đã có từ trăm năm nay.

Tranh gương cung đình Huế là một loại hình tranh mang bản sắc riêng của Huế bởi xuất xứ, cách thể hiện cùng chất liệu độc đáo. Tranh gương được đóng trong những khung gỗ chạm thếp vàng, khá cầu kỳ, thực sự là những bức tranh độc lập.

Chủ đề của tranh gương cung đình Huế về cơ bản có 3 loại chính. Loại tranh cao cấp “thi họa” hay tranh thơ ngự chế chủ yếu mô tả và ca ngợi 20 cảnh đẹp được vua Thiệu Trị xếp hạng, tranh minh họa các bài thơ đề vịnh các mùa trong năm, vịnh các cảnh mà vua bất chợt tức cảnh đề thi…

Loại tranh thứ hai không đề thơ nhưng có đề rõ chủ đề là loại tranh minh họa cho các điển tích trong lịch sử Trung Hoa.

Loại tranh thứ ba là tranh vẽ tĩnh vật. Với người thưởng lãm hay du khách, những bức tranh này có thể chỉ đơn thuần là cảnh đẹp của thiên nhiên, của non nước hữu tình, nhưng với những nhà nghiên cứu, bên cạnh giá trị nghệ thuật, mỗi bức tranh gương chính là giai thoại lịch sử quan trọng để phục dựng, trùng tu các di tích có liên quan.

Chất liệu để vẽ loại tranh này là bột màu pha keo, hoặc sơn, được vẽ hoặc khảm xà cừ vào mặt sau của gương theo kiểu vẽ âm bản để nhìn mặt trước thành dương bản.

Kỹ thuật vẽ ngược chiều đòi hỏi họa sĩ, nghệ nhân phải hết sức tài hoa, khéo léo và có trí tưởng tượng cực kỳ phong phú mới có thể thực hiện được.

Do kỹ thuật phức tạp, sự tư duy về mặt hình tượng là rất riêng. Người vẽ phải tưởng tượng phía bên kia (mặt trái) để nhìn xuyên từ kính qua (mặt phải) đòi hỏi dự phối hợp giữa tư duy, kỹ thuật, chất liệu và đặc trưng phản ánh. Tất cả tạo nên nét riêng, độc đáo, tinh tế của tranh gương và đó cũng chính là những đặc trưng mà không có loại hình mỹ thuật nào của Huế có được

Đặc biệt trong đề tài, màu sắc của tranh gương dường như là ngôn ngữ của một mảng nghệ thuật riêng biệt, không nhất quán. Tại lăng Tự Đức, điện Hòa Khiêm, cung An Định hiện lưu giữ được những tranh gương tuyệt đẹp, mỗi bức có chiều rộng khoảng 9 tấc, cao 6 tấc. Bức tranh được lồng trong một khung thếp vàng, chạm nổi những vòng hoa, trái, lá… Theo một số tài liệu, khi sơn thếp vàng dùng trong tranh là vàng thật, bằng một chất kết dính đặc biệt, không làm phai màu của vàng và giữ được độ óng ánh của màu kim loại này. Do đó, trải qua thăng trầm thời gian, những bức tranh vẫn rực rỡ, tươi tắn như mới, có độ phát quang, lan tỏa giữa các màu.

Quá trình khôi phục dòng tranh đặc sắc này cần thời gian nghiên cứu và sự bền bỉ

Có một vài ý kiến cho rằng, lí do mà dòng tranh mang giá trị nghệ thuật lớn như thế này gần như không còn phát triển tại Huế là vì nó được truyền từ Trung Quốc, trải qua năm tháng lịch sử mà bị thất truyền.

Do kĩ thuật vẽ loại hình tranh gương này rất đặc biệt, bức họa được vẽ theo dạng vẽ ngược, tức là cái gì kết thúc sau phải vẽ trước, nên càng đòi hỏi sự tài hoa và truyền dạy.

Chính vì vậy mà sau  2 năm mày mò tìm hiểu, thử nghiệm, hiện nay họa sĩ Dương Văn Kính đã có thể tạo nên những sản phẩm tranh gương trang trí khổ nhỏ về chủ đề phong cảnh, tranh dân gian làng Sình, tranh Đông Hồ và sen Huế để quảng bá du lịch, tạo sản phẩm lưu niệm mới cho du khách khi đến cố đô Huế. Anh mạnh dạn dùng màu chuyên dụng cho tranh gương của Pháp, loại màu này cho phép nhìn bức tranh 2 mặt gần như nhau chứ không chỉ một mặt như tranh gương trước đây.

Tranh gương xứ Huế dẫu trải qua những năm tháng của lịch sử, nhưng màu sắc và tuổi thọ của nó như thách thức với thời gian. Nó tạo lên một nét rất riêng của Huế.

Quá trình phát triển của xã hội cuốn theo các trào lưu tư tưởng nghệ thuật mới, có những dòng tư tưởng được coi là biến dị về phong cách nghệ thuật cũng như ý tứ nghệ thuật, cái mà ngày nay người ta gọi đó là nghệ thuật đôi khi là sự phản cảm thì sức hút của nó tới công chúng chỉ là một giai đoạn thời gian ngắn ngủi, nhưng với những kiệt tác nghệ thuật cổ xưa thì sức hấp dẫn của nó chưa bao giờ là nguội.

Nó không chỉ là giá trị tinh thần của dân tộc mà hơn thế, chính là tinh hoa trí tuệ của người xưa. Cái mà cho đến ngày nay, thế hệ đời sau vẫn mãi phải kiếm tìm để có được. Bảo tồn giá trị xưa chính là bảo tồn và di lưu truyền thống, tìm về văn hóa nghệ thuật nguồn cội. (theo Tịnh Tâm)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG TRUYỆN THẬT NGẮN

ĐẦY CẢM ĐỘNG

Lời con trẻ

Sau khi ly hôn, người chồng dọn đồ đạc ra khỏi nhà. Đứa con gái nhỏ hỏi mẹ :

– Sao mẹ đuổi bố ?

– Tại bố hư !

Để nó khỏi vặn vẹo hỏi lôi thôi, người mẹ mua cho cái bánh. Thằng anh từ đâu phóng tới bẻ của em miếng bánh, bỏ ngay vào mồm. Con bé khóc ré bắt đền. Người mẹ dỗ dành:

– Anh này hư quá ! Thôi con nín đi, bỏ qua cho anh một lần.

Đứa con phụng phịu:

– Thế mẹ có bỏ qua cho bố đâu !

Người mẹ nhìn xa xăm:

– Ừ, ra mẹ cũng hư!

Em tôi

Bám đất Sài Gòn sau 3 năm ra trường, tôi vẫn không xin được việc. Vài cua dạy kèm cũng chẳng đủ trang trải, lại phải nhờ nguồn “trợ cấp” ở quê. Vừa rồi, đau ruột thừa, nằm viện. Mẹ vượt ngàn cây số vào thăm. Ngày về, dúi vào tay tôi chỉ vàng, bảo : “Của cái Lan, nó dặn con dùng để hồi sức, viện phí và tiền gởi vào cho con trước đây cũng một tay nó cả. Tội nghiệp ! Dạy thêm tít mù, còn nuôi thêm cả lợn”.

… Nhớ ngày Lan trượt đại học, thư về tôi mắng chẳng tiếc lời… Cầm món quà của em, tôi chỉ còn biết nuốt nước mắt vào trong.

Ngày xưa

Thuở nhỏ, nhà tôi nghèo lắm. Mỗi chiều, anh em tôi thường tụ lại bên nồi cơm độn khoai sắn, ríu rít như đàn chim về tổ. Thiếu thốn, nhưng chúng tôi nhường nhau phần thức ăn ngon nhất, mẹ tôi rất vui lòng.

Khi chúng tôi khôn lớn, có gia đình riêng, ai cũng khá giả. Hôm giỗ ba, có mặt đông đủ, anh Hai tôi phàn nàn với mẹ cây xoài của anh Ba mọc chồm qua sân nhà anh. Chị Ba trách anh Tư đào ao lấn qua phần đất của chị hai tấc. Mẹ tôi trầm ngâm : “Mẹ ước gì được trở lại thời nghèo khó ngày xưa…”

Mẹ tôi

Chiến tranh ác liệt. Bố ra chiến trường. Mẹ cô độc dắt con lánh nạn khắp nơi.
Hòa bình. Bố không trở về. Mẹ khóc hằng đêm.

Năm năm sau, mẹ mới quyết định lập bàn thờ với bức di ảnh của bố. Một mình mẹ vất vả nuôi con. Vậy mà căn bệnh ung thư quái ác lại cướp mất mẹ.

Hôm bức ảnh mẹ được đưa lên bàn thờ bên cạnh bố, bất ngờ bố trở về ! Tất cả chợt vỡ òa…. Bức ảnh bố được hạ xuống. Trên bàn thờ… mẹ lại một mình.

Mẹ ghẻ

Cô tôi muộn chồng vì quá dữ dằn, ruột thịt cũng chẳng ai muốn gần, đành lấy dượng, đã góa vợ.

6 tuổi, Lộc về với mẹ ghẻ, làm đủ việc mà vết roi mới chồng lên dấu đòn cũ… Lộc 15 tuổi, dượng chết. Đinh ninh Lộc bỏ đi, nên ngày mở cửa mả, cô đuổi khéo :

– Có muốn về với bà ngoại mày không ?

Lộc cúi đầu, nói trong nước mắt :

– Con đi rồi, mẹ ở với ai ?

Sau câu nói ấy, dường như bà mẹ ghẻ thì ở lại với nấm mồ, còn cô tôi về, đi chùa, ăn chay. Lộc trở thành cậu ấm – rồi trở thành thạc sĩ, mẹ con thân thương như một phép màu.

Lòng mẹ

Nhà nghèo, chạy vạy mãi mới được xuất hợp tác lao động, Thanh coi đó như cách duy nhứt để giúp đỡ gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan. Xứ người chẳng phải là thiên đường. Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng.

Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong mơ.
Ngày về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống trong mơ. Đêm. Chỉ có Mẹ. Hết nắn tay, nắn chân Thanh rồi Mẹ lại sụt sùi. Thanh nghẹn ngào khi nghe Mẹ nói : “Dối Mẹ làm gì ! Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở con !”

Quế Phượng chuyển tiếp

Say vì vợ

Một người đàn ông đến quầy bar và yêu cầu một ly rượu.​ Khi vừa uống hết ly rượu, ông ta khẽ liếc vào túi áo mình rồi mới bắt đầu gọi thêm một ly rượu khác. Cứ như thế, người đàn ông luôn nhìn vào túi áo trước khi gọi rượu. Quá ngạc nhiên, người phục vụ hỏi :​

– Tôi có thể phục vụ cho ông cả đêm, nhưng tại sao trước khi gọi ông cứ phải nhìn vào túi áo mình thế ?

Người đàn ông cười lớn;

– Đó là phương pháp giúp tôi xác định mình còn tỉnh táo hay không ấy mà.

Người phục vụ ngạc nhiên :

– Làm sao có thể chứ.

– Bên trong túi áo là một bức ảnh của vợ tôi, khi tôi bắt đầu nhìn thấy cô ấy xinh đẹp thì đó chính là lúc tôi nên về nhà rồi đấy anh bạn ạ

Thế mà điên được sao ?

– Lão chồng làm mình tức điên được.

– Sao thế ?

– Mình xin lão 500usd đi thẩm mỹ viện.

– Đúng là lão keo thiệt mà, có 500usd mà không cho hả ?

– Lão nhìn mình từ đầu đến chân, rút ví đưa mình hẳn 5.000usd mình mới điên đấy chứ.

!!!!????

Đồ ngu

Rời rạp hát, Tèo dìu nàng lên xe bus… Xe chạy chưa tiêu một lít xăng thì Tèo lại táy máy … đặt tay lên đùi váy ngắn của nàng rồi từ từ run run nhích cao lên … cao lên. Thấy nàng ngồi im không phản đối… Tèo háo hức lướt tay thẳng vào… nguồn gốc của nhân loại …

– ĐỪNG, “nàng quát và Tèo mất cả hồn vía rút tay về… có cái gì chợt… tiu ngĩu”
– Chời ơi..! Bảo đừng nhấc tay lên, để yên đấy ! Sao mà ngu thế không biết; “nàng .!!!”

Dung Dung chuyển tiếp

CHUYỆN ĐÀ LẠT KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT

CHUYỆN ĐÀ LẠT KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT

DINH III BẢO ĐẠI

& NGÔI BIỆT THỰ ĐÁ

Kể từ khi bác sĩ Yersin tìm ra cao nguyên Lang Biang, Đà Lạt trở thành tên gọi quen thuộc có sức hút mãnh liệt đối với du khách. Vùng đất này vẫn còn ẩn chứa nhiều điều không phải ai cũng biết.

Xin giới thiệu với bạn đọc một số câu chuyện về Đà Lạt ít ai biết, hoặc đã biết nhưng chưa tỏ tường…

Lão bộc nhận lương bằng…. vàng

Ngày 23/12/2017, bộ sưu tập “Báu vật triều Nguyễn tại Đà Lạt” với hơn 120 cổ vật quý giá được đưa ra trưng bày. Bà Đoàn Thị Ngọ, phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng, đã ghi nhận một cách trân trọng rằng ông Nguyễn Đức Hòa là người có công giữ gìn và bàn giao chúng nguyên vẹn cho chính quyền sau năm 1975.

Ông Hòa là ai mà được quyền lưu giữ, bảo quản những cổ vật quý giá được làm từ ngọc, bạc, vàng, đá quý, ngà voi và mã não…? Không nhiều thông tin về ông cho đến khi chúng tôi lục lại những tư liệu cũ liên quan đến dinh Bảo Đại tại Đà Lạt.

Dinh Bảo Đại là một công trình kiến trúc hài hòa giữa phong cách Á – Âu đầu tiên của triều Nguyễn được xây dựng trong bốn năm (1934-1938). Tên gốc của công trình này là Palais Impérial nằm trên đường Darles (nay là đường Triệu Việt Vương), bao quanh là rừng thông mang tên Bois d’amour (Rừng tình) rộng gần 10ha.

Sau năm 1975, có tên mới là Dinh 3. Trong biệt điện có một người quản gia tận tụy từ thời vua Bảo Đại qua chế độ Việt Nam cộng hòa cho đến sau ngày đất nước thống nhất. Đó là ông Nguyễn Đức Hòa (1926-2009).  Sinh thời, giới văn nghệ sĩ và người dân Đà Lạt gọi ông là “lão bộc qua các triều đại”.

Theo vua từ thuở mười ba

Trước năm 1945, dinh thự Palais Impérial là nơi sinh hoạt của gia đình vị vua cuối cùng của vương triều Nguyễn. Khi trở thành quốc trưởng và khai sinh ra Hoàng triều cương thổ (năm 1950), vua Bảo Đại đã sử dụng biệt điện này để ở và tiếp khách.  Công trình kiến trúc này được xây dựng hai tầng, sắp xếp khéo léo từ trong ra ngoài.

Ông Nguyễn Đức Hòa sinh ra và lớn lên tại làng Dương Nỗ (huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế). Năm 13 tuổi, được một người bác họ làm ở đội kỵ mã đưa vào Đại nội giúp việc và được thái hậu Từ Cung (bà Hoàng Thị Cúc, mẹ vua Bảo Đại) tin cậy cho theo hầu Bảo Đại.

Ngày 28/4/1949, Bảo Đại được Pháp đưa về Việt Nam. Ngày 14/4/1950, Bảo Đại ra dụ số 6/QT/TG xác định Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều cương thổ và cao nguyên miền Nam. Ông Nguyễn Đức Hòa được theo vua lên Đà Lạt. Ông được vua Bảo Đại hết sức tin cậy.

Khi còn sinh hoạt trong dinh, vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu luôn giữ gìn nề nếp gia phong của hoàng tộc. Sau mỗi bữa tối, các hoàng tử, thái tử, công chúa đều được gọi lên phòng để hàn huyên và nghe vua, hoàng hậu giáo huấn, bảo ban.

Sau khi Bảo Đại không còn làm vua nữa, ông Hòa được Việt Nam cộng hòa giữ lại làm việc trong dinh. Đây cũng là điều đặc biệt, có lẽ nhờ bản tính điềm đạm, hiền lành, trung thực của ông.

Gìn giữ báu vật hoàng gia

Trước khi ông Hòa mất, chúng tôi có gặp ông và đề nghị ghi âm cuộc trò chuyện, ông vui vẻ đồng ý. Khi hỏi đến tiền lương, ông nói :

– Ngày còn phục vụ vua Bảo Đại, mỗi tháng tôi được 4 lượng vàng.

– Vậy một năm được 48 lượng vàng, bác tiêu sao hết ?

– Tuổi trẻ ham chơi, tiêu hết rồi…

– Trong thời gian làm việc với Bảo Đại, có bao giờ bác thấy vợ chồng Bảo Đại to tiếng với nhau không ?

– Có chứ ! Nhưng mỗi lần cãi nhau thì họ chuyển sang nói bằng tiếng Pháp. Mình chịu. Ông tiếp : Vua Bảo Đại hay dành thời gian nói chuyện với tôi khi đi xa. Ông cũng có nỗi niềm riêng ít ai biết được.

Rồi ông cho biết them : “Dưới thời ông Ngô Đình Diệm, tôi được trả lương hằng tháng tương đương 5 lượng vàng, thời ông Nguyễn Văn Thiệu là 7 lượng vàng”.

Sau ngày 30/4/1975, chính quyền quân quản cũng tiếp tục nhận ông làm nhân viên, lo các công việc trong dinh Bảo Đại và được hưởng lương theo quy định nhà nước cho đến khi qua đời.

Ông là lão bộc duy nhất được các chế độ khác nhau giữ lại làm quản gia ở dinh Bảo Đại, và là người được Từ Cung thái hậu tín cẩn giao giữ các két sắt có chứa tài sản (gồm tư trang và đồ dùng của gia đình). Về sau, tài sản này đã được đơn vị T78 thuộc Ban Tài chính quản trị Tỉnh ủy Lâm Đồng bảo quản, cất giữ.

Năm 2000, ông Hòa là người đặt ra một số câu hỏi đề nghị những người có trách nhiệm trong chính quyền địa phương trả lời về sự mất còn của số tài sản là ngọc ngà châu báu tại dinh Bảo Đại trước đây.

Ngày 17/2/2000, Văn phòng Chính phủ đã có công văn yêu cầu chủ tịch tỉnh Lâm Đồng làm rõ sự việc và báo cáo kết quả lên Thủ tướng. Kết quả báo cáo như sau (trích) :

Nguồn gốc số tài sản này (gồm tư trang và đồ dùng gia đình) trước ở dinh III là tài sản của Từ Cung thái hậu (mẹ của vua Bảo Đại). Sau ngày 30-4-1975, đơn vị T78 thuộc Ban Tài chính quản trị Tỉnh ủy Lâm Đồng tiếp nhận, bảo quản, cất giữ (có biên bản bàn giao và niêm phong cẩn thận). Đến cuối năm 1996, số tài sản đó được đưa sang Kho bạc Lâm Đồng tiếp nhận niêm phong cất giữ cho đến nay và bảo đảm còn nguyên trạng như khi tiếp nhận từ T78.

Sở dĩ tỉnh chưa có kế hoạch trưng bày các cổ vật này vì : Đây là những cổ vật quý, hiếm, có giá trị về lịch sử nên muốn trưng bày phải có chế độ bảo quản nghiêm ngặt. Ngoài ra, khi cho trưng bày thì phải đầu tư trang bị một số thiết bị chuyên dùng để phục vụ công tác bảo quản tránh hư hao xuống cấp đồ vật”.

Cho đến khi mất, ông Hòa có hơn 60 năm gắn bó với dinh Bảo Đại, khu Rừng tình và những ký ức khó để nói tường tận về vua Bảo Đại.

Trưng bày báu vật triều Nguyễn trong festival hoa

Trong thời gian diễn ra Festival hoa Đà Lạt 2017 (từ ngày 23/12/2017 đến ngày 2/1/2018), Bảo tàng Lâm Đồng đã chọn cung Nam Phương Hoàng Hậu (số 4 Hùng Vương, Đà Lạt) làm nơi trưng bày giới thiệu bộ sưu tập “Báu vật triều Nguyễn tại Đà Lạt”.

Đây cũng là lần đầu tiên bộ sưu tập hiện vật độc đáo này ra mắt công chúng một cách đầy đủ về số lượng và chuẩn xác về thông tin với trên 120 cổ vật.

Phần lớn các hiện vật này đều do Ngự xưởng triều Nguyễn chế tác từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, cá biệt có một ít hiện vật thuộc thế kỷ 18.

NGÔI BIỆT THỰ ĐÁ CỦA BÀ PHI ÁNH

Ngoài Nam Phương hoàng hậu – người vợ chính thức, vua Bảo Đại còn có các thứ phi và những cuộc tình. Câu chuyện tình của cựu hoàng Bảo Đại và thứ phi Phi Ánh là lý do quyết định khiến tôi tìm hiểu thêm về căn biệt thự này

Qua sự “mai mối” của dược sĩ Phan Văn Giáo – thủ hiến Trung Kỳ, cựu hoàng Bảo Đại đã gặp Lê Thị Phi Ánh (sinh năm 1925).

Người tình đặc biệt

Năm 1949, được tin cựu hoàng Bảo Đại trở về nước lại lên ngay Đà Lạt, ông Phan Văn Giáo đã xuống tận phi trường Liên Khương đón vua Bảo Đại và giới thiệu Phi Ánh cho ông. Bà Lê Thị Phi Ánh là con út của ông Lê Quang Sáu ở Huế. Bác của Phi Ánh là ông Lê Quang Thiết, phò mã của vua Thành Thái.

Chúng tôi đã nhiều lần được gặp ông Nguyễn Đắc Xuân – một người luôn gắn bó với công việc nghiên cứu về Huế, đặc biệt là chuyện vua tôi nhà Nguyễn.  Khi nhắc đến Đà Lạt và những câu chuyện liên quan đến những bà thứ phi của cựu hoàng Bảo Đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân rất vui và kể lại rành mạch.

Bà Lê Thị Phi Ánh người trắng trẻo, cao ráo, mũi cao, mắt sáng, đẹp nhất trong bốn cô “phi”. Đang lúc buồn, gặp Phi Ánh, Bảo Đại phải lòng ngay. Không rõ Phan Văn Giáo đã “tâu” với Bảo Đại như thế nào mà sau khi ân ái với Phi Ánh, Bảo Đại đã “tặng” cho bà một số tiền lớn. Và thật bất ngờ, theo một người thân trong gia đình Phi Ánh cho biết, ông vua “ham chơi” đã bị nhân tình “thất lễ” bằng một cái tát.

Phi Ánh giải thích cho Bảo Đại biết bà “muốn làm thứ phi của hoàng đế, chứ không phải là gái làm tiền”. Bảo Đại vỡ lẽ, không những ông không phẫn nộ mà càng yêu quý Phi Ánh hơn.

Bà Phi Ánh xuất thân trong một gia đình tử tế và giàu có với nhiều nhà cửa và biệt thự tại Huế. Bà Ánh gọi bà Lê Thị Kim Lộc (bà ngoại của giáo sư Phan Lương Cầm) là cô ruột.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân còn cho biết thêm: Bà Phi Ánh đã sinh cho vua Bảo Đại được 2 người con. Người con gái là Nguyễn Phước Phương Minh, sinh năm 1950 và qua đời tại Mỹ năm 2012. Người con trai là Nguyễn Phước Bảo Ân, sinh năm 1951 tại Đà Lạt. Sau năm 1975, bà Phi Ánh sống trong cô đơn tại Sài Gòn và qua đời vào năm 1986 ở tuổi 61.

Nhà… đá tặng thứ phi

Cựu hoàng Bảo Đại đã mua một ngôi biệt thự bằng đá nằm trên đường René Robin (nay là đường Quang Trung, P.9, TP Đà Lạt) vào năm 1950, được người Pháp xây dựng theo kiến trúc Tây Ban Nha để làm quà tặng cho bà Phi Ánh.

Đây là món quà tặng đặc biệt của cựu hoàng, nên còn có tên gọi khác là biệt thự Phi Ánh. Theo Trung tâm Quản lý nhà Đà Lạt, biệt thự được xây dựng vào năm 1928.

Khác với các ngôi biệt thự khác, kiến trúc của biệt thự Phi Ánh nằm trên một diện tích sân vườn vừa phải.. Biệt thự được xây phần lớn bằng đá chẻ, có lối đi rộng nối từ căn nhà bên này sang bên kia, có những ô cửa lớn được thiết kế thành những chiếc vòm cao gió lùa bốn phía.

Trong biệt thự này có trưng bày các bức tượng vũ nữ, 12 phù điêu hai mặt trên tường, trong đó có 4 bức hoa sen cách điệu có hình hai đầu chim lạ. Một số bức tranh sơn dầu vẽ cựu hoàng Bảo Đại, thứ phi Lê Thị Phi Ánh trên tầng lầu phía bên trái nhìn từ ngoài vào.

Ông Đặng Nguyễn Văn Tích, giám đốc Trung tâm Quản lý nhà Đà Lạt, cho biết biệt thự Phi Ánh sau năm 1975 được giao cho khoảng 30 hộ dân sống bên trong, khiến nó xuống cấp trầm trọng vì sử dụng không đúng công năng và quá tải bởi hơn trăm người cư ngụ, trong khi nó được thiết kế cho một gia đình.

Sau này, nhà đầu tư đã bỏ tiền di dời dân ra khỏi biệt thự, thuê chuyên gia khôi phục nguyên trạng. Đây là căn biệt thự được đánh giá hồi sinh sau khi giao cho tư nhân sử dụng kinh doanh du lịch.

Sau nhiều lần sang tay đổi chủ, hiện nay biệt thự này có tên mới là nhà hàng Phù Đổng. Ông Nguyễn Trọng Phương – người Hà Nội, là người chủ mới nhất của biệt thự này – không chỉnh sửa nhiều mà cố giữ nguyên trạng, đặc biệt là hình dáng và vật liệu làm nên sự độc đáo của ngôi biệt thự là những khối đá xanh lớn.

Ông Phương cho biết khi đến Đà Lạt có để ý nhiều biệt thự cổ, nhưng sau cùng ông quyết định mua biệt thự Phi Ánh : “Câu chuyện tình của cựu hoàng Bảo Đại và thứ phi Phi Ánh là lý do quyết định khiến tôi tìm hiểu thêm về căn biệt thự này và mua”.

“Có hơi người thì biệt thự Phi Ánh mới có sức sống. Khi tiếp nhận nó, mở cánh cửa từng căn phòng, tôi cảm nhận hơi lạnh tràn từ góc nhà này sang góc nhà khác. Từ lúc đó, tôi biết căn nhà này không được đóng cửa dù chỉ một ngày” – ông Phương nói.

Ông bóng gió rằng chính ký ức mãnh liệt của Đà Lạt thời Bảo Đại khiến căn nhà này có sức sống và độ bền bỉ hơn hàng trăm biệt thự cổ khác ở Đà Lạt. Khi còn sống, kiến trúc sư Nguyễn Văn Lập, nguyên chủ tịch Hội Kiến trúc tỉnh Lâm Đồng, nhận định biệt thự Phi Ánh có nét riêng biệt giữa 170 biệt thự cổ trên địa bàn TP Đà Lạt.

Xét về độ độc đáo, nó có thể so sánh với bốn công trình đặc trưng của Đà Lạt là: Trường cao đẳng Sư phạm Đà Lạt (trước kia là Trường Grand Lycée Yersin, thành lập năm 1927), nhà ga Đà Lạt, nhà thờ Con Gà, Cục Bản đồ (trước là Nha Địa dư) dù có quy mô khiêm tốn hơn nhiều.

Trong một tài liệu mới đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Trân cho biết: sau ngày cựu hoàng bị Ngô Đình Diệm truất phế, bà con, ngay cả bên gia đình của bà Phi Ánh cũng không ai dám chứa chấp mẹ con bà, nên ba mẹ con phải ở nhà thuê, rày đây mai đó, thật mệt mỏi…

Trong hoàn cảnh này, bà Phi Ánh đành phải bước thêm bước nữa cho đỡ cô đơn, vất vả. Các con của bà Phi Ánh và cựu hoàng Bảo Đại cũng có cuộc sống long đong, lận đận không khác gì mẹ mình.

Quan tâm đến người tình

Không riêng gì với thứ phi Phi Ánh, cựu hoàng Bảo Đại luôn quan tâm đến các thứ phi cũng như người tình của mình khi họ cùng lên Đà Lạt sinh sống với ông.

Bà Bùi Mộng Điệp được cựu hoàng Bảo Đại mua tặng một ngôi biệt thự sang trọng của ông Basier trên đường Graffeuille, gần ngã ba Trại Hầm (giao giữa đường Hùng Vương và Hoàng Hoa Thám, P.10, Đà Lạt).

Bà Jenny Woong (Hoàng Tiểu Lan, còn có tên là Tran Ny) được cựu hoàng Bảo Đại đưa về Đà Lạt và dành cho bà một ngôi biệt thự tại số 3 đường Babey (nay là đường Nguyễn Du). (theo Mai Vinh – Ngọc Trác)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

THỦ PHỦ

‘HOÀNG TRIỀU CƯƠNG THỔ’

Đà Lạt dù là vùng đất được phát hiện muộn (năm 1893) nhờ công của bác sĩ Yersin nhưng thành phố nhỏ này luôn được đặt ở một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia cho dù thời thế đã vần chuyển bao lần.

Chính quyền thời Pháp thuộc từng xác định mảnh đất cao nguyên nhỏ bé này là thủ phủ Đông Dương và ra sức quy hoạch, xây dựng. Cựu hoàng Bảo Đại có một thời gian ngắn “làm chủ” vùng đất này và biến nó thành “đất của vua”. Ai muốn đặt chân đến lãnh thổ này (Đà Lạt) phải xin phép Nha công an Hoàng triều cương thổ thuộc Văn phòng Quốc trưởng ở Hà Nội và Sài Gòn

“Đất của vua”

Cựu hoàng Bảo Đại được Pháp đưa về nước năm 1949, cho lập chính phủ mới và làm quốc trưởng “Quốc gia Việt Nam”. Một năm sau, ông ra dụ số 6/QT/TG, lập Hoàng triều cương thổ đặt dưới quyền quản trị của khâm mạng (Nguyễn Đệ nhận chức vụ ấy) nhưng mọi quyết định đều do Khâm sứ Trung kỳ chuẩn phê.

Dụ này cũng xác định Đà Lạt là thủ phủ của Hoàng triều cương thổ và cao nguyên miền Nam. Mấy tháng sau, Bảo Đại bổ nhiệm đại tá Didelot làm đại diện cho quốc trưởng tại các tỉnh sơn cước Tây Nguyên: Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk, Kon Tum, Pleiku, Lâm Viên, Đồng Nai Thượng và gọi là “Hoàng triều cương thổ”, tức đất của nhà vua. Như vậy, Hoàng triều cương thổ trải dài trên khắp các tỉnh Tây Nguyên.

Khi về nước, ông Ngô Đình Diệm được Bảo Đại cử làm thủ tướng của chính phủ “Quốc gia Việt Nam”. Được Mỹ hậu thuẫn, ông Ngô Đình Diệm đã tổ chức truất phế Bảo Đại, lập ra chính phủ “Việt Nam cộng hòa” do ông làm tổng thống.

Ngày 24/3/1955, đại diện quốc trưởng Bảo Đại đã đọc tuyên bố chấm dứt chế độ “Hoàng triều cương thổ” tại buổi lễ tổ chức trước Tòa hành chánh Kon Tum, với sự hiện diện của hàng ngàn đồng bào Thượng (dân tộc thiểu số). Như vậy, Hoàng triều cương thổ vỏn vẹn chỉ tồn tại có 4 năm 11 tháng.

Đến Đà Lạt phải có “visa”

Chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Hữu Tranh, nguyên cán bộ Sở Khoa học kỹ thuật Lâm Đồng. Ông Tranh là người đã sống qua thời “Hoàng triều cương thổ” và có hơn 30 năm tổng hợp tư liệu và nghiên cứu về Đà Lạt.

Khi hỏi đến thời kỳ Hoàng triều cương thổ, ông hào hứng kể : “Năm 1952, lúc ấy tôi mới 13 tuổi đã lên Đà Lạt đi học. Thời đó học sinh giỏi sẽ được nhà trường giới thiệu đưa lên Dinh Bảo Đại dự lễ vạn thọ của cựu hoàng và nhận quà do Bảo Đại tận tay trao”.

Theo ông, cuộc sống ngày đó ở Đà Lạt rất bình yên. Ai muốn đặt chân đến lãnh thổ này phải xin phép Nha công an Hoàng triều cương thổ thuộc Văn phòng Quốc trưởng ở Hà Nội và Sài Gòn.

Thời Pháp thuộc thì phải có giấy khám sức khỏe, phải có bảo lãnh. Thời Hoàng triều cương thổ không cần giấy khám sức khỏe, nhưng bắt buộc phải có người ở Đà Lạt bảo lãnh và phải có công ăn việc làm mới cho nhập cư. Nếu người được bảo lãnh mà phạm pháp thì chính quyền bắt ngay người bảo lãnh.

“Luật pháp nước Nam thời đó có nhiều thứ để bàn nhưng luật lệ ở Đà Lạt có nhiều điểm riêng biệt và nghiêm lắm nên tệ nạn trộm cắp, cướp giật rất khó xảy ra. Ngoài đường người ăn xin, giang hồ đầu trộm đuôi cướp không có.

Cờ bạc, rượu chè say xỉn công khai không xảy ra. Đường sá thì sạch sẽ. Chẳng hạn như chợ Đà Lạt (nay là khu Hòa Bình) thì khoảng 4 giờ chiều mọi người buôn bán đã xịt nước xung quanh rửa chợ sạch bong” – ông Tranh kể.

Nhà lề cửa lối

Chúng tôi hỏi ông Tranh : “Chuyện xây nhà, lấn đất ra sao ?”, ông cười bảo: “Nhà cửa phải lề lối nghiêm túc, mà muốn xây nhà khó lắm. Thông thường những năm đó chỉ có thầu khoán đứng ra xin phép, xây dựng nhà cửa rồi bán lại. Thời thuộc Pháp, nhà cửa phải theo mẫu kiến trúc.

Thời Hoàng triều cương thổ của quốc trưởng Bảo Đại, các thầu khoán xây nhà theo mẫu quy định, giống nhau trên từng con đường đã được xem xét. Chẳng hạn đường Duy Tân (nay là 3/2) chỉ có nhà 3 tầng liền nhau, đường Phan Đình Phùng chỉ có 2 tầng, đường Võ Tánh (nay là Bùi Thị Xuân) hai bên là nhà gỗ.

Dọc theo đường Hai Bà Trưng là khu cư xá của các công sở ở Đà Lạt. Tất cả nhà dân thường làm một kiểu giống nhau, chỉ có một số con đường như Trần Hưng Đạo, Yersin, Trần Bình Trọng, Lê Hồng Phong bấy giờ… là mỗi nhà mỗi kiểu.

Nhà dân cũng phải làm theo mẫu của ban kiến thiết lập ra. Ngay cả làm hàng rào, màu sơn hàng rào cũng phải được chính quyền cho phép”.

Ông Nguyễn Văn Kỳ (91 tuổi, ở đường Lê Hồng Phong, TP Đà Lạt) là công chức làm việc cho quốc trưởng Bảo Đại trong việc đánh morse (truyền điện tín).  Ông kể thời kỳ này, người Việt từ miền xuôi lên đây lập nghiệp rất khó khăn vì Hoàng triều cương thổ chú trọng đến việc phát triển đồng bào dân tộc và cư dân người Kinh hiện hữu.

Cũng như thời kỳ Pháp thuộc, ở Đà Lạt và các vùng trong Hoàng triều cương thổ khi đốn cây, xây dựng nhà đều phải được chính quyền cấp phép, không ai được tự tiện chặt phá rừng, kể cả cây hoa trồng ven đường.

Sau khi giải tán Hoàng triều cương thổ, chế độ Ngô Đình Diệm cho phép người Kinh lên Tây Nguyên sinh sống làm ăn tự do và bãi bỏ nhiều quy định có tính đặc thù khiến trật tự được xây dựng từ thời Pháp thuộc cho đến Hoàng triều cương thổ bị phá bỏ mau chóng.

Giữ những gì còn lại

Giữa năm 2014, Thủ tướng đã phê duyệt “Điều chỉnh quy hoạch chung TP Đà Lạt đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050”.  Theo đó, Đà Lạt tương lai sẽ có diện tích gấp 10 lần hiện tại. Quy hoạch này xác định những vùng đất tương đồng với Đà Lạt về mặt thổ nhưỡng, khí hậu, điều kiện phát triển kinh tế để mở rộng môi trường đầu tư cho Đà Lạt và vùng phụ cận; đồng thời tạo nên những đô thị vệ tinh hỗ trợ cho sự phát triển của Đà Lạt, bảo vệ Đà Lạt hiện hữu theo hướng thành phố di sản, thành phố du lịch xanh.

Đồ án do ThS.KTS Thierry Huau và nhóm chuyên gia quy hoạch tại Pháp thực hiện với sự phản biện của các cơ quan chuyên môn quy hoạch trong nước. Trong lần trao đổi với chúng tôi, ông Thierry Huau cũng nhấn mạnh về việc hình thành trục di sản tại Đà Lạt hiện hữu và tương lai để giữ được Đà Lạt – những gì còn lại.

Lan Hương chuyển tiếp

VĂN HÓA VĂN NGHỆ

THỜI NAY VÀ TUỎI THƠ CỦA TÔI

– Minh Ngọc

Tối Thứ Năm, 31 Tháng Tám, đọc thấy tin từ nhà văn Song Thao cho biết ông Nguyễn Văn Thái vừa từ trần tại Sài Gòn, sau đó có hình ảnh từ nhà văn Thiếu Khanh về lễ viếng ông Thái, tôi bồi hồi cảm xúc, những tháng ngày thơ ấu như tập sách cũ lâu năm đóng bụi thời gian bỗng mở ra, tươi mới rõ ràng như mới hôm qua.

Những cái tên này có thể không có ý nghĩa với nhiều người nhưng đã đồng hành với tôi suốt bao năm tháng từ hồi mới biết giở sách đọc chữ. (Ngồi đây viết lại theo trí nhớ vì trong tay hiện không có cuốn Thời Nay nào, thể nào cũng có sai sót, mong các chú Song Thao và Thiếu Khanh lượng thứ, quả tình cháu không dám múa rìu qua mắt thợ).

Má tôi nói tôi biết đọc từ lúc bốn tuổi vì má tôi chở theo vào lớp học, để ngồi bàn cuối. Đó là thời điểm khủng hoảng không chỉ với gia đình tôi mà cho đại đa số gia đình miền Nam. Ba tôi trình diện tập trung cải tạo, bà Tư hàng xóm vẫn coi giữ chị em tôi hàng ngày cho má tôi đi dạy nay phải về quê phụ con dâu có chồng đi cải tạo, má tôi chỉ gởi được em tôi mới một tuổi cho người quen, còn thì đưa tôi và chị tôi theo vào trường.

Lớn lên vào thời điểm chiến dịch kiểm kê văn hóa, tôi đáng lẽ cũng chịu chung cảnh bưng bít kiến thức như nhiều trẻ em Việt Nam hồi ấy nhưng may mắn được ở vùng Tân Quy có làng thương phế binh và cư xá cho công chức, sĩ quan, đa số người dân cùng chung hoàn cảnh nên đùm bọc thương yêu nhau, cán bộ phường xã cũng dĩ hoà vi quý.

Đội kiểm kê gồm nhiều học trò cũ của má tôi nên tuy biết nhà tôi nổi tiếng có tủ sách lớn nhất vùng đã làm ngơ vì tiếc, chỉ kê vài cuốn giáo khoa cũ mà không tịch thu. Hàng xóm và các thầy cô giáo thấy vậy chở thêm sách lại cho tị nạn nhà tôi. Má tôi cẩn tắc vô ưu nên dù được bảo đảm vẫn đóng khóa sách cẩn thận. Nhà tôi có một tủ sắt loại locker cho cầu thủ trong sân vận động, cao tới nóc nhà.

Má tôi tống hết sách báo vào đó, từ tạp chí Văn, Bách Khoa, sách Trung Hoa xưa, tiền chiến, Tự Lực Văn Đoàn, cho đến các tác giả bị liệt vào hạng phản động… Một cô giáo còn chở lại cả tủ Quỳnh Dao. Má tôi khóa tủ sắt, dặn chị em tôi không được lấy sách ra đọc rồi bỏ lung tung lỡ có ai thấy, ai hỏi thì nói khóa tủ hư lâu rồi không mở được.

Dĩ nhiên chị em tôi tránh sao khỏi tò mò, má tôi đi dạy là mở tủ lôi sách ra đọc ngấu nghiến, canh giờ má tôi sắp về thì gom sách cất khóa lại. Cũng từ lúc này tôi mới biết ở Huế có cây sầu đâu !

 Riêng bán nguyệt san Thời Nay, do số lượng quá nhiều (mỗi tháng hai số trong 15 năm) và cũng là tờ tạp chí yêu thích nhất, má tôi dành riêng một chỗ rất đặc biệt và an toàn. Dân miền Nam xưa chắc ai cũng biết cái garde-manger, người Bắc gọi là chạn thức ăn, phần trên có hai ngăn, hai cánh cửa tủ, giữa là ngăn trống để chai hũ, phần dưới không có ngăn nên rất rộng, chắc dành cho những bao hũ khổ lớn, có cửa đóng lại, là chỗ trú ẩn của bộ Thời Nay gia đình tôi.

Đội kiểm kê có vào chắc cũng chẳng nghĩ tới xét lục ngăn thường đựng nước mắm, dưa cải, v.v… này. Chị em tôi say mê đọc Thời Nay từng số tới lui đến thuộc lòng mà không chán, mỗi lần lấy ra mấy cuốn một lúc, đọc xong nhét giấu dưới gối nệm, tránh sao khỏi quăn góc, rớt bìa. Hễ má tôi thấy là la, vậy mà không chừa. Ngày đầu kỳ nghỉ Hè, má tôi quậy một nồi hồ, chị em tôi mở tủ Thời Nay lôi cả bộ ra, tìm những trang bìa rời dán lại, sắp theo thứ tự ngày tháng. Ít lâu lại tiếp tục rớt bìa, lại dán, lại sắp. Tụi tôi thuộc lòng tới nỗi nhìn tờ bìa là nhớ vanh vách trong cuốn đó có bài nào, ai viết.

Thời Nay được ông Nguyễn Văn Thái khai sinh và gầy dựng, tới lúc ra số chót Tháng Tư, 1975 là hơn 15 năm, một quãng thời gian quá ngắn ngủi so với đời người, nhưng đủ để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng độc giả miền Nam, với đứa hậu sinh như tôi thì đó là tờ tạp chí tiếng Việt hay nhất trên đời.

Mô hình tương tự Reader’s Digest, nhưng nếu Reader’s Digest như một chương trình tạp kỹ với một vài bài về y tế sức khỏe, chính trị, giải trí, xã hội, tâm lý v.v… gom tứ tung vào một số, Thời Nay chọn lựa và sắp xếp bài vở công phu, thường có chủ đề cho mỗi số, ngoài số Xuân, kỷ niệm chu niên.

Hình bìa trình bày mỹ thuật, thường là tranh, ảnh nghệ thuật hay địa danh nổi tiếng, không bao giờ có hình chính trị gia, tài tử hay ngôi sao thể thao. Hình bìa thường theo nội dung chủ đề của số đó. Phần quảng cáo cũng hạn chế để đảm bảo tính nghệ thuật, trang đầu là nước ngọt Con Cọp “Nước ngọt Con Cọp ở đâu, Đấy là khỏe mạnh sống lâu yêu đời”, trang chót là dầu gội đầu Lan Sơn “Tóc mai sợi vắn sợi dài, Lan Sơn em gội thương hoài ngàn năm.”

Thời gian đầu, Thời Nay có khổ nhỏ, vuông vuông, chữ in nhỏ rí, bìa tối màu, những năm về sau khổ dài hơn, rõ ra hình chữ nhật, chữ in lớn và thưa hơn, bìa nhiều màu sáng hơn. Lối in tựa Thời Nay bằng chữ thường “thời nay” giản dị trên bìa đã từng bị các độc giả khó tính phê bình là sai luật văn phạm/chính tả (trong mục thư độc giả) nhưng Thời Nay trung thành với lối trình bày rất đặc biệt đó tới số chót.

Sau trang Con Cọp là mục lục bài vở. Những trang đầu dành cho “Thời Nay Khắp Nơi” và “Thế Giới Dưới Mắt Người Việt” điểm tin trong và ngoài nước với lối viết cô đọng, sắc sảo và trào phúng của Trọng Thăng làm tôi rất mê đọc dù lúc tôi đọc những chuyển biến thời cuộc đó đã quá cũ, mục này giúp tôi hiểu rõ những sự kiện mà sau này tôi được dạy khác hẳn.

Những bài viết theo chủ đề của số được sắp gần nhau rất dễ đọc, gồm phóng sự của Đông Quân, phiếm luận hài hước cười đau bụng của Thiên Ân, Thẩm Dương, Thẩm Diên An (có phải một người ?), bình luận thể thao của Lân Lũy Thân, những bài có tính cách khảo cứu giáo dục tâm lý của Xuân Tước, Thượng Nhân, ký sự của Song Thao…

Sau có Minh Trí là một bác sĩ y khoa viết nhiều bài về y học. Các học giả nổi tiếng Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Vương Hồng Sển cũng góp mặt thường xuyên. Xen lẫn đây đó là truyện ngắn của Thiếu Khanh, Lê Tất Điều, Tạ Sương Phụng… Thỉnh thoảng có truyện ngắn dịch từ các tác giả ngoại quốc O. Henry, Guy de Maupassant, Andre Gide, Leo Tolstoy…

Thơ không nhiều, nhưng bài nào được chọn đăng cũng thật hay, thường hai ba bài thơ sắp cùng một trang, tựa bài thơ và các chữ đầu câu bao giờ cũng in bằng chữ thường, không hề có chữ in hoa. Nhiều tác giả gửi thơ lúc đó là học sinh sinh viên, sau thành những nhà thơ tên tuổi những năm 80-90. Trang trí bên cạnh tựa bài là những ký họa đơn sơ, hình như của Khánh Giang ? Cuối các bài viết có một chuyện vui ngắn in bằng chữ nhỏ nghiêng, nhờ đó tôi thu thập cả kho chuyện cười kể cho bạn bè nghe. Sau mục truyện dài là những trang cuối dành cho độc giả với mục câu đối, câu đố và hộp thư bạn đọc.

Trang bìa sau đề tên giám đốc Nguyễn văn Thái, thư ký tòa soạn Khánh Giang, địa chỉ 217 Phạm Ngũ Lão, Văn Thái Ấn Quán. Thời Nay có khuynh hướng chính trị phóng khoáng với thành phần cộng tác viên trẻ nên có bài bị đục đen lỗ chỗ trong những giai đoạn kiểm duyệt khắt khe, bây giờ trong nước gọi là “nhạy cảm!”

Mỗi kỳ sự kiện quan trọng như Đại Hội Đồng Liên Hợp quốc, Hòa Đàm Paris, cho đến World Cup (hồi đó gọi là giải túc cầu thế giới), Thế Vận Hội, Thời Nay có cộng tác viên tường thuật tại chỗ với bài vở, hình ảnh phong phú, khi tôi đọc là cũng cả chục năm rồi mà vẫn thấy hấp dẫn.

Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh cộng tác rất đắc lực cho Thời Nay. Cô có những thiên phóng sự nhiều kỳ rất đặc sắc về những chủ đề trong xã hội như “con không cha,” ký tên “cô Minh Đức”. Cô có lối viết giản dị mà sắc bén, lôi cuốn, những chủ đề vui cô cũng rất hóm hỉnh trào lộng. Có dạo cô viết phóng sự vui nhiều kỳ “Ôi đàn ông,” sau đó lại xuất hiện “Ôi đàn bà” mà cô giải thích là vì bị độc giả nam giới khiếu nại quá nhiều nên cô phải viết để đảm bảo lẽ công bằng !

Những trang cuối Thời Nay thường dành cho truyện dài nhiều kỳ của cô như Phi lễ, Thiên Nga, Bên ni bên tê. Khi viết truyện dài, giọng văn cô tuy gai góc bướng bỉnh nhưng vẫn mềm mại nữ tính. Dù sao đọc văn cô tôi vẫn tưởng tượng cô là một phụ nữ mạnh mẽ, độc lập kiểu nữ quyền (feminist). Mãi tới khi ra hải ngoại thấy hình cô, một phụ nữ mảnh mai xinh đẹp, thanh lịch, tôi mới tin đó là tác giả những dòng thơ yêu đương mãnh liệt mà nhạc sĩ Phạm Duy đã làm cho bất tử với hai bản nhạc “Đừng bỏ em một mình” và “Kiếp nào có yêu nhau.” Cô vừa mất cách đây không lâu.

Một cộng sự nhiệt tình khác của Thời Nay là Song Thao. Ông đi đây đi đó nhiều theo nhu cầu công việc, đi đến đâu ông không quên gửi một ký sự cho độc giả cùng thưởng thức. Từ Manila, Hồng Kông, Seoul, Tokyo, đến New York, Washington, DC, Los Angeles… độc giả đi du lịch theo ngòi bút sống động đầy hình tượng của ông với những chuyện vui chuyện buồn. Hồi đó còn nhỏ xíu tôi rất mê đọc ký sự Song Thao, đọc đi đọc lại, mơ ước một ngày đặt chân đến những nơi ấy.

Bây giờ đi du lịch đã nhiều, những ấn tượng đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn khi đọc lại những ký sự này in trong tập “Dấu chân lang bạt” ông xuất bản năm ngoái. Song Thao còn giữ mục “100 cuốn tiểu thuyết hay nhất thế giới,” mỗi kỳ tóm tắt một tác phẩm cổ điển rất cô đọng mà diễn cảm. Lúc ấy tôi đọc ông viết về Jane Eyre (Charlotte Bronte), Đỉnh gió hú (Emily Bronte), Phù hoa giả dối (William Thackeray), David Copperfield (Charles Dickens)… Lên cấp hai, đủ trình độ đọc các tác phẩm này trọn vẹn, bài giới thiệu của Song Thao vẫn là cảm hứng ban đầu giúp tôi say mê những nhân vật trong sách.

Sau này, khi cộng tác với tạp chí Văn của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, thấy tên Song Thao dưới một truyện ngắn, tôi hỏi có phải đó là Song Thao của Thời Nay không, ông Hoàng bảo “đúng rồi” mà ngạc nhiên không hiểu sao tôi biết Thời Nay ! Hay tin ông đã ở Canada, vẫn viết rất mạnh, thiên về truyện ngắn, tôi mừng vì biết thân phận những người cầm bút còn ở lại rất lao khổ.

Máu viết phiếm luận và ký sự vẫn còn tươi trong Song Thao nên ông viết đều đặn, đã xuất bản tới cuốn “Phiếm” số 19. Ông cho biết những truyện ngắn ký tên Tạ Sương Phụng, Phượng Uyển trên Thời Nay cũng là của ông.

Khi nhớ lại giai đoạn “đổi đời” của người dân Sài Gòn, tôi cứ nghĩ về ông Thái. Gầy dựng, nuôi nấng tờ tạp chí và nhà in với tất cả tâm huyết qua mười lăm năm nhiều biến động chính trị đến khi chứng kiến nó bị khai tử, hủy diệt, chắc ông phải đau lòng lắm ? Phạm Ngũ Lão bây giờ là khu Tây ba-lô xô bồ xô bộn với đủ loại dịch vụ to nhỏ mọc lên như nấm, không còn dấu vết gì của khu báo chí ngày xưa.

Tôi thử tìm trên Google địa chỉ 217 thì thấy một khách sạn mini, không còn giống gì hình tòa soạn Thời Nay mà nhà văn Song Thao gởi cho tôi xem. Không biết số nhà có thay đổi không, thật đúng là nơi tòa soạn cũ chắc tôi chẳng bao giờ muốn đi ngang nếu là ông Thái.

Tạ thế ở tuổi 90, ông đã chứng kiến lẽ đời thăng trầm bể dâu, có thể cuối đời ông cũng chẳng còn tiếc nuối gì. Thời Nay bị khai tử nhưng nó không chết trong lòng độc giả ái mộ và thế hệ hậu sinh như tôi. Xin vĩnh biệt ông, thần tượng tuổi thơ của tôi, một thời ôm Thời Nay đọc giấu dưới gối ! (theo Minh Ngọc)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

Nói thêm : Ông Nguyễn Văn Thái có nhà riêng tại đường Nguyễn Văn Lạc, P19, Q, Bình Thạnh (tức khu Thị Nghè, con đường nằm sau nhà thờ Thị Nghè), Trước 1975, tờ Thời Nay chủ nhiệm là ông Thái, còn Tổng thư ký là Khánh Giang (còn là con rể ông Thái) sau chết vì bệnh tiểu đường (phải phẫu thuật tay chân, nỗi ngày vết thương không lành sinh biến chứng). còn người bạn của tôi là Phạm Đức giữ chức Thư ký tòa soạn.

Thời tôi còn làm tờ Hòa Bình (trước khi nhóm của ký giả Anh Quân đến thuê manchette của linh mục Trần Du), tôi vẫn thường ghé vào tờ Thời Nay thăm bạn, Vì tờ Thời nay hay tờ Hòa Bình đều nằm trên “con đường báo chí” trước 1975, mà giới văn nghệ sĩ thường mệnh danh cho nó. (Nguyễn Việt)

TẢN MẠN VỀ CHIẾC ÁO

– Nhã My

Ai cũng biết cái áo là vật để che thân. Không biết nó xuất hiện từ lúc  nào, nhưng kể từ khi con người biết tìm cái gì đó để che thân thì nó ra đời. Đầu tiên nó ”nghèo” lắm, chỉ tạm bợ ít oi để che phần nhạy cảm cuả phụ nữ, (đàn ông thì không cần thiết lắm), rồi từ từ theo thời gian văn minh tiến hóa, vật chất đầy đủ hơn nó cũng biến thể thành nhiều kiểu cách thời trang khéo léo, hấp dẫn ,sang trọng như bây giờ.

Mà thật ra để che thân thì phải xài luôn cả cái quần cho đủ bộ, vậy mà cái áo lại được nói đến nhiều hơn ở trong văn chương, âm nhạc , hội họa mới là kỳ và thú vị.
Hình ảnh cái áo lưu lại trong văn chương Việt Nam ta thì nhiều lắm, đầu tiên xin điểm qua chiếc áo đã đi vào ca dao, rồi đựoc cải biên thành điệụ hát. Cái áo huê tình thật dễ thương nó như thế này :

”Thương (yêu) nhau cởi áo cho nhau

Về nhà dối mẹ (mẹ hỏi) qua cầu gió bay”

Thử ”tán” rộng ra một chút cho vui nhé : cái áo ở đây chắc  là áo của người nam (chàng trai) tặng cho người nữ (cô gái) và nó xuất thân từ ngày xa xưa lắm,lúc xã hội còn nghèo, chưa có vải màu, vải hoa và may nhiều kiểu cách, đơn giản nó là một cái áo ”bà ba” màu gì đó (trắng, đen, chàm, nâu chẳng hạn) mà cả nam và nữ đều có thể mặc được, chỉ là kiểu may, kích thước hơi sai xích một ít thôi.

Người con trai không có ”của làm tin” nên đã cởi chiếc áo đang mặc tặng cho người mình thương yêu, chàng bèn để mình trần về nhà và nói dối với mẹ là ”qua cầu, gió bay”. Đương nhiên là chàng nói dối khó ai tin, bởi áo mặc phải cài khuy nút, gió làm sao mà bay được !.

Ta cũng có thể tưởng tượng thêm vài hình ảnh thơ mộng khác là họ đứng ở bờ sông (hay con rạch), sau phút tâm tình, chàng can đảm và chắc nịch với mối tình muốn bày tỏ cùng nàng nên dù chỉ có chiếc áo tùy thân đang mặc cũng cởi phắt ra trao tuốt cho nàng. Chàng qua cầu về nhà, nàng cũng trở về (không biết có cùng qua cầu chung một đoạn đường nữa hay không), chàng thì đã có sẵn cách nói dối (khó tin !), còn nàng ?

Thương quá đi, phận nữ nhi thời đó làm sao dám công khai mặc áo cuả chàng hoặc đi khoe áo, chắc là chiếc áo đó sẽ được đem cất kỹ (và len lén ngửi mùi chàng !). Rồi họ có thành đôi không , dù chưa chắc chắn nhưng mối tình ”trao áo” thì thật là đẹp, đơn giản, thực tế, chân tình .!

Còn thêm chàng trai quê khác, có chiếc áo (giả vờ hay cố ý) bỏ quên để ướm thử cô nàng.

“Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen”

(ôi ! cành sen nó mỏng manh mềm mại thế kia , làm sao mà chàng máng áo lên được, chẳng qua là mượn cớ để hỏi chuyện thôi mà)

“Em được thì cho anh xin” (nếu em đã có người rồi)

“Hay là em để làm tin trong nhà” (ướm hỏi trao tình )

”Áo anh sứt chỉ đường tà (ồ, thì ra chỉ là một chiếc áo rách !)

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu (vì hoàn cảnh ….)

Áo anh sứt chỉ đã lâu

Nay mượn cô ấy về khâu cho cùng (cô ấy = đằng ấy tiếng gọi thân mật)

Khâu rồi anh sẽ trả công

Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho

Giúp cho một thúng xôi vò, (kể một lô lễ vật mà ai cũng hiểu là để rước nàng về dinh)

Một con lợn béo, một vò rượu tăm.

Giúp em đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp, đôi chằm em đeo.

Giúp em quan tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau”

Mối tình ”ướm áo” này cũng đẹp lắm, đơn giản, không kiểu cách màu mè tán tỉnh lơ mơ mà đi ngay vào thực tế, chân chất hiền hòa như tình cảm đôi bên (nếu áo có thật và nàng trả áo thì thôi có gì để nói, nhưng chắc là đoán biết nàng không  có áo để trả nên chàng mới can đảm tỏ (rõ) tình mình như thế ! Chân quê, khôn khéo quá ! Tình tứ quá !

Đó là hai chiếc áo cuả người bình dân mộc mạc trong văn chương truyền khẩu, còn thi sĩ ”tình yêu” Nguyên Sa thì:

”Nắng Sai Gon anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo luạ Hà Đông”

Một chiếc áo lụa tình cờ của ai đó đang mặc trên hè phố đã làm chàng thi sĩ đọng lòng khi nhớ về tà áo thời quá khứ của quê hương xa cách để rồi :

”Anh vẫn yêu tà áo ấy vô cùng (cuả người yêu cũ)

Thơ anh vẫn còn nguyên lụa trắng” (đẹp lưu luyến đến thẫn thờ !)

Tà áo cũng được chàng thi sĩ nhuộm thêm màu sắc rất đẹp và so sánh với hoa, với lá :

”Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh anh mến lá sân trường” (nàng ở đây hẳn là cô giáo hay sinh viên trường đại học mới mặc áo (dài) màu chứ không phải tà áo trắng nữ sinh , tà áo màu rất đẹp  của thơ tình lảng mạn đầy thi vị)…

À quên, tôi cũng phải nói thêm tà áo trong ca từ đẹp lãng mạn đã làm say đắm nhiều người cuả  nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nữa chứ :

”Gọi nắng

Trên vai em gầy đường xa áo bay…”

…. ”Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau.”

…”Aó em bây giờ mờ xa nẻo mây

Gọi tên em mãi suốt cơn mê này”

Hay chiếc áo (đúng hơn là một bộ đồ) của cô giáo tên Lan, vợ bé  thầy giáo Hương, sau là ông cò quận 8 (thời đó đô thành SG mới có 7 quận) trong tuồng cải lương ”Tuyệt Tình Ca” đã từng lấy nước mắt nhiều người trước năm 75 ở miền Nam : bộ đồ mà bà giáo chung tình đã cất giữ suốt 18 năm dài  khi chồng bỏ đi về với vợ lớn, cho tới khi đôi mắt đã mờ không còn trông thấy được, chỉ để ngửi hơi hám của cố nhân !

Và chính mùi hơi thân thiết đó (cuả bộ áo) đã in sâu vào tâm khảm người vợ có thân phận đáng thương để rồi  trong lần gặp lại sau thời gian dài đằng đẵng cách xa, tuy không nhận ra giọng nói, mà đã nhận được hơi người !

Và còn , còn rất nhiều nữa ,ta cũng đã bắt gặp biết bao tà áo khác xinh đẹp rộn ràng , dịu dàng đầy sắc màu mộng mơ, yêu kiều, mến thương ở nhiều bài khác trong thơ và nhạc, nghĩa là Áo cũng là đề tài trong các đề tài thu hút sự sáng tác của thi , nhạc sĩ    …

Nhã My tui, làm thơ (dở ẹ ) chỉ để mua vui, thật không dám phạm thượng và khoe khoang những ”chiếc áo” trong nhiều bài thơ  của mình  bên cạnh tiền nhân lỗi lạc, nhưng cũng có ”tà áo trắng” của cô học trò ngây ngơ, đỏng đảnh :

“Ngày lại ngày trôi qu

Em khoe tà áo mỏng

Trắng cả trời ban trưa

Gió lùa trêu khóm lá

Anh nghe hồn đong đưa…”

Cái tà áo mỏng tí ti này (làm từ năm 19 tuổi) đã hân hạnh được thi sĩ tiền bối Nguyễn Khôi và  nhà văn Lê Ngọc Trác đã nhắc tới ! (ôi thật là cảm kích !)

Và có cái áo nữa của tui  (làm  năm 2011 lấy ý từ câu ca dao ”cởi áo cho nhau” thì nó không có gói bọc được  tình yêu trọn vẹn mà  ”ngậm ngùi” như thế này :

“Ngậm ngùi khúc vọng cổ xưa

Bên bờ lau lách gió đưa cung sầu

Tiếng thương tí tách giọt ngâu

Tiếng buồn chợt nhớ ” qua cầu gió bay”

Dối cha giấu mẹ bao ngày

Ngậm ngùi

Tiếc áo

Đã bay theo người !”

(Áo này là áo mua hoặc may để tặng và người ở đây là nam hay nữ gì cũng được hii bởi vì  là thơ  là sản phẩm cuả trí , tình trong tưởng tượng !)

Chúng ta đã điểm qua những chiếc áo trong tình cảm thơ văn (tưởng tượng), còn chiếc áo trong thực tế đời sống ? Tôi  dám chắc là không có ai trong chúng ta trong đời mà chưa có lần nào được nhận áo hay tặng áo.

Hồi nhỏ, lúc còn nghèo, trẻ con ắt đứa nào cũng mong tết đến để được bố mẹ may cho áo mới, áo đẹp để mặc đi chơi, đi khoe. Lên thời trung học, mấy cô bé nữ sinh đố đứa nào khỏi suýt xoa, vui mừng hoặc đôi chút ngỡ ngàng khi (lần đầu tiên soi gương) được mặc chiếc áo dài màu trắng tinh khôi mà mẹ , chị đã sắm cho.

Rồi thời ”bao cấp” chắc cũng có nhiều người rưng rưng cảm động khi nhận được chiếc áo cũ hay thầy,cô giáo (nghèo) cảm động khi nhận được xấp vải  (mà học trò nhiều đứa đã hùn tiền mua tặng để biết ơn thầy cô trong ngày lễ  Nhà Giáo ) để may chiếc áo mới mặc cho lịch sự , tươm tất hơn.

Tôi thật sự không muốn nói chuyện buồn khi thình lình người vợ  nhận chiếc áo tang của chồng  trong thời chiến tranh hay khi gia đình có người thân quá cố nhưng làm sao mà tránh được những chiếc áo tang thương đó .

Riêng cá nhân tôi, tuổi nhỏ và lớn lên trong đầy đủ ,vậy mà cũng vô cùng mừng vui , cảm động khi lưu lạc xứ người, nhận được những chiếc áo cũ phân phát từ trung tâm từ thiện. Những chiếc áo không đẹp lắm, không khít khao vừa vặn nhưng nó thật là quí ở thời điểm cần thiết, để tiết kiệm tiền mua sắm và hạnh phúc hơn khi nhận được tấm lòng từ những con người xa lạ.

Rồi qua thời gian làm việc, kiếm tiền và sinh sống trong xã hội thực dụng và đầy đủ vật chất, nói không ngoa, mỗi người phụ nữ ở đây ít nhứt cũng đã sắm từ vài chục tới vài trăm cái áo (không phải những thương hiệu với giá khủng tiền) Áo (quầ ) thì phải mặc theo thời tiết từng mùa, hè qua, đông đến, cứ lần lượt đem cất vì không mặc được.

Cứ bảo để sang năm đem ra mặc lại, rồi thì tới mùa năm khác lại ”sale off”, lại mua sắm cái mới ! Những chiếc áo cũ không xài tới, mang về quê nhà tặng thì sợ bị bắt lỗi là cho đồ cũ (mà hàng mới mua tặng cũng không đắc bao nhiêu), bán (ga-ra sale) cũng chỉ mua được vài món đồ ăn, thôi thì theo dòng đời luân chuyển, kẻ có, người không cứ mang tặng hết cho cơ sở từ thiện.

Những chiếc áo này (không mới tinh nhưng cũ thì không cũ lắm) sẽ được bay đi tận những nơi xa xôi, nghèo khó mà người cho và người nhận hoàn toàn xa lạ. Thương lắm thay những tấm lòng của những người làm thiện nguyện ,âm thầm nối kết , chia xẻ những tình người ! (theo Nhã My mùa đông 2017)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC

NHỮNG KHẨU PHÁO

THẦN CÔNG CỔ

BẬC NHẤT VIỆT NAM

Được sản xuất vào những năm đầu thế kỷ 19, Cửu vị Thần công được xem là những khẩu pháo sở hữu sức mạnh hỏa lực lớn nhất trong lịch sử Việt Nam.

H1: Cửu vị Thần công hay khẩu pháo thần công có thể coi là một trong những khẩu đại bác cổ nhất và lớn nhất Việt Nam từng chế tạo do các nghệ nhân của nước ta tự tay đúc. Chín khẩu thần công này được đúc từ năm 1803 tới 1804, dưới thời vua Gia Long.

H2: Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và lên ngôi, chính vua Gia Long đã ra lệnh cho các nghệ nhân thời đấy thu thập đồng từ các loại binh khí thừa thãi sau chiến tranh để đúc thành chín khẩu thần công làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. H3: Mỗi khẩu thần công này có chiều dài 510 cm và nặng tới 17 tấn chưa tính giá đỡ. Tổng cộng, 9 khẩu thần công đã tốn tới 153 tấn đồng nguyên chất, đây là một con số khổng lồ thời bấy giờ khi mà công nghệ luyện kim còn rất sơ khai.

H4: Quá trình đúc Cửu vị Thần công chỉ kéo dài trong chưa đầy một năm, từ năm 1803 tới năm 1804 là hoàn thành. Bên ngoài của các khẩu thần công cùng với bệ đỡ được trạm trổ cực kỳ tinh vi. H5: Thậm chí, trên phần thân súng còn được trạm trổ cả trọng lượng, vị thứ, danh hiệu và cả… cách dùng súng. Mặc dù là một công trình mang tính biểu tượng nhưng việc trạm cả cách dùng súng vào thân súng cho thấy những khẩu thần công này hoàn toàn có thể bắn được.

H6: Chín khẩu thần công này được đặt tên theo thứ tự tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông và theo ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. H7: Thời gian đầu khi vừa được đúc xong, Cửu vị Thần công được đặt dưới chân Hoàng Thành, trước cửa Ngọ Môn – kinh thành Huế. Tuy nhiên tới đời vua Khải Định, chúng đã được di dời vào trong kinh thành và chính thức trở thành công trình mang tính biểu tượng như các bảo vật trấn quốc.

H8: Trong quá khứ, Cửu vị Thần công chưa từng được mang ra sử dụng bất cứ một lần nào và chỉ là một loại vũ khí mang tính biểu tượng sức mạnh của nhà Nguyễn. Dưới triều Nguyễn, Cửu vị Thần công thường có quân canh gác và thường được tổ chức cúng lễ rất linh đình. H9: Tới khi Pháp xâm lược Việt Nam, việc cúng bái Cửu vị Thần công bị bãi bỏ chính thức. Tuy nhiên binh lính và người dân sống gần khu vực này vẫn tự mang đồ lên đây cúng tế Cửu vị Thần công vì đây vốn được xem là chính vị thần linh bảo vệ Kinh thành.

H10: Cửu vị Thần công được di dời vào vị trí mới, do phương tiện lạc hậu nên việc di chuyển những khẩu trọng pháo nặng tới 17 tấn này là cả một quá trình gian nan. H11: Ngày nay, Cửu vị Thần công được xem là một bảo vật vô giá của nước ta với tuổi đời đã hơn 200 năm. H12: Hiện tại, Cửu vị Thần công đang được trưng bày cho khách du lịch viếng thăm ngay trong Kinh thành Huế.

CHỢ TRỜI Ở SÀI GÒN

NGÀY TRƯỚC

Sau năm 1954, ngoài Khu Dân Sinh bán buôn đủ loại mặt hàng thượng vàng hạ cám ở gần Cầu Muối, người tuổi trung niên trở lên chắc hẳn còn nhớ khu Chợ Cũ quanh đường Tôn Thất Đạm, Huỳnh Thúc Kháng giữa trung tâm Sài Gòn xuất hiện kiểu chợ trời tự phát trên vỉa hè bày bán một số loại thực phẩm đóng hộp của Mỹ, rượu Tây, thuốc lá và quần áo cũ.

Khoảng thời gian này, người Sài Gòn bắt đầu tiếp cận “hàng hoá Mỹ” một cách rộng rãi hơn nhờ cả triệu người miền Bắc di cư vào Nam sinh sống.

Ông bạn lớn tuổi của tôi nhớ lại cảnh lều bạt tại một khu tiếp nhận người di cư miền Bắc trong trường đua Phú Thọ. Ngoài tiền bạc trợ giúp chi phí sinh hoạt, dân di cư còn được cấp quần áo, thực phẩm vài ba tháng đầu để ổn định cuộc sống mới. Rất nhiều người di cư, chưa quen cách ăn mặc và khẩu vị của đồ ăn đóng hộp đem bán cho mấy đầu nậu thu gom bán lại ra thị trường chợ trời.

Với công việc điều hành tiếp nhận, cấp phát hàng trợ giúp cho bà con di cư, ông bạn tôi thường nhận được nhiều hàng “hiến tặng” mà không cần phải bỏ tiền mua lại những thứ thực phẩm đóng mác “Donated by The People of The USA. Do Not Resale”. (Được sự đóng góp của Nhân dân Hoa Kỳ. Không bán lại”).

Ðồ Mỹ viện trợ phần nhiều là dầu ăn, phô mai, thịt đóng hộp và ba loại kẹo bánh. Nói chung là một ít mặt hàng thiết yếu dùng hằng ngày cho người lớn và trẻ con. Ông nhớ mãi chuyện của nhiều gia đình di cư mang phô mai đến nhà tặng. Thú thật, “ban đầu tôi không dám nhận vì nhiều quá, một vài miếng phô mai thì cứ xem như nghĩa tình, đằng này cả đống phô mai, lại là loại giá trị của Pháp nhưng đối với nhiều người không biết ăn, không sành ăn phô mai Pháp thì coi như món đậu hủ thúi của người Hồng Kông, ngửi mùi đủ phát ớn, làm sao nuốt trôi qua cổ họng”.

“Tôi không hiểu sao trong hàng viện trợ của Mỹ lại có thực phẩm của Pháp nữa. Món phô mai Vieux Boulogne gói giấy bạc vuông vức. Mùi phô mai này khó ngửi nhưng lại là một trong những loại phô mai ngon mà tôi thỉnh thoảng được mấy người bạn Pháp hồi còn làm ở Kho Bạc nhà nước tặng cho. Loại phô mai này làm thủ công bằng sữa bò nguyên chất, ngâm trong bia lên men nhiều ngày. Phô mai Vieux Boulogne nhâm nhi với rượu vang Bordeaux thì rất tuyệt. Tội cho người di cư chưa quen mấy món ăn Tây”.

Thật ra, người Sài Gòn bắt đầu “yêu thích” hàng thực phẩm Mỹ bán ở chợ trời là khoảng thời gian hơn mười năm sau đó. Thời gian này, lính Mỹ vào miền Nam cả nửa triệu quân, để phục vụ miếng ăn thức uống theo khẩu vị quê nhà, các nhà thầu Mỹ thiết lập các cửa hàng PX (Post Exchange) tức là hàng hoá tiêu dùng của Mỹ dành cho quân nhân và viên chức Hoa Kỳ đóng quân ở nhiều vùng, trong đó Sài Gòn có hai cửa hàng lớn.

Một là PX Sài Gòn nằm trên đường Tự Do góc bên hông khách sạn Majestic và cái khác là PX Chợ Lớn nằm trên đường Nguyễn Tri Phương gần góc Ngã Sáu. Hàng hoá bán ra chợ trời phần lớn từ nơi đây.

Chuyện này có lần tôi đã nhắc tới trong bài viết “Hàng PX và đô la đỏ”. Và xin trích lại một bài phóng sự điều tra của ký giả Lederer William J. đăng trên tạp chí Der Spiegel số 44 ngày 28/10/1968 rằng: “Hệ thống cửa hàng PX có trên 5,000 phụ nữ người Việt được nhận vào để bán hàng. Trong tháng 5 năm 1967, chỉ riêng một cửa hàng PX ở Sài Gòn đã mất 65,000 dollar vì ăn cắp vặt. Và đó chỉ là một cửa hàng nhỏ.

Có một thời gian, ban giám đốc cho khám xét những người Việt bán hàng lúc họ tan ca ra về, khiến nhân viên dọa sẽ đình công nếu như việc kiểm tra này không chấm dứt. Trong thời gian thực hiện bài điều tra ở Sài Gòn, tôi đã quan sát thấy bốn lần chiếc xe tải chở đầy thực phẩm từ cửa hàng PX vào kho tiếp liệu của khách sạn Continental như thế nào. Có một lần, một kiện thịt to, có in tên Tướng Westmoreland, được đưa cùng với nước ép cà chua vào cửa kho khách sạn Continental”.

Và đâu chỉ có nhân viên bán hàng, kể cả những người làm nhiệm vụ quản lý người Hàn Quốc hoặc Phi Luật Tân cũng thông báo cho thân nhân của mình những đợt hàng có giá trị mới về để mua bán kiếm lời. Thế là một lô hàng tủ lạnh mới đưa vào cửa hàng ngày hôm qua, vừa mới mở cửa bán sáng nay cho lính Mỹ thì đã bị gom sạch. Ðâu chỉ thế, kể cả một số lính Mỹ cũng tham gia mua hàng mỗi ngày rồi đem ra bán lại cho con buôn thông đồng từ trước.

Cũng trong thời gian này, vài ba công ty nhập cảng hàng điện tử tủ lạnh, tivi, radio, máy hát đĩa than, máy Akai, mở đại lý chuyên bán mặt hàng này trên đường Huỳnh Thúc Kháng. Bên cạnh đó, các gian hàng nhỏ chuyên bán phụ tùng đi kèm, bao da radio, anten truyền hình, loa nhạc, băng từ và các phụ tùng transistor để sửa chữa ra đời góp phần làm nên tên chợ trời điện tử Huỳnh Thúc Kháng bán buôn nhộn nhịp trước năm 1975.

Ðây là nơi lần đầu tiên tôi biết đến một dãy cửa tiệm bán đồ điện tử ở Sài Gòn đông người lui tới. Ba tôi đi dạo một vòng xem giá rồi cuối cùng mua cái tivi trắng đen Panasonic nhỏ nhất. Tivi có cái cửa lùa, bên dưới là bốn cái chân tròn thanh mảnh màu vàng đất trông rất dễ thương. Việc ba tôi mua cái tivi là do một lần đi làm về bắt gặp tôi đứng chen chân trước cửa sổ nhà hàng xóm coi bộ phim cao bồi hấp dẫn đang bắn súng ì xèo.

Ông đứng đằng sau lay vai tôi, lúc đó do say mê xem phim tôi cứ tưởng đứa hàng xóm nào chen lấn, miệng còn lên tiếng cự nự : “Coi thì cứ coi đi, làm gì mà chen với lấn”. Với tuổi học trò cuối cấp tiểu học, được ba dẫn đi chợ hàng điện tử mua cái tivi coi cho thỏa thích đương nhiên tôi rất khoái.

Tôi cũng khoái đứng xem người ta lựa quần áo đổ đống trên vỉa hè đường Tôn Thất Ðạm. Ba tôi bảo đó là chợ trời quần áo cũ của những nước giàu viện trợ cho những nước nghèo. Nhìn những đống quần áo đủ màu đủ kiểu, nhất là những chiếc áo thun còn mới tôi rất thích với ánh mắt thèm muốn có được vài bộ đồ đẹp với chúng bạn. Nhưng ba tôi bảo thà mua vải về may mặc vừa vặn, đẹp hơn. Là đồ của mình, mình mặc chứ không phải mặc đồ của người ta.

Nói đến chợ trời đồ ăn thức uống của Mỹ không phải một số sạp hàng quanh khu Chợ Cũ mà phải nhắc đến chợ trời trên đường Nguyễn Thông. Từ khi học đệ thất, tôi mới biết đến những thứ hàng hoá đa dạng đầy hấp dẫn này. Mỗi chiều tan học tôi đều lội bộ trên con đường tắt ngang đây để xem người ta buôn bán đủ thứ kẹo chewing gum, chocolate, kẹo trái cây và từng đống đồ hộp thịt hay cá chất cao theo hình kim tự tháp.

Từ ngã ba Kỳ Ðồng kéo dài đến cuối đường gần vách tường chắn khu vực ga xe lửa Hoà Hưng, hai bên đông đúc người mua kẻ bán. Có cả đồ ăn của lính Mỹ, bột sy-rô, cacao thậm chí hàng quân tiếp vụ từ mì gói đến xà bông, đường sữa gì cũng có.

Tôi thích nhất là kẹo đậu phộng Hàn quốc, mỗi gói 6 viên, bọc trong giấy dầu, bên trong là giấy bóng, không cần phải lột vì khi bỏ vào miệng nó tan biến đâu mất. Viên kẹo giòn tan thơm đậu phộng rang xay nhuyễn, không cứng như cục kẹo gừng, kẹo kéo, kẹo ú mà mấy năm trước còn hấp dẫn đám trẻ chúng tôi.

Nguồn hàng đồ hộp của Mỹ bày bán trên đường Nguyễn Thông, ngoài hàng PX, còn có khẩu phần đồ ăn cá nhân của lính Mỹ đi trận ở mấy kho tiếp liệu. Tên vắn tắt gọi là hàng MCI (Meal Combat Individual), mỗi thùng có 12 hộp giấy nhỏ, trên mỗi hộp có ghi ký hiệu B-1, B-2 hay B-3 dùng cho bữa ăn sáng trưa chiều tối.

Sau này, tôi mới biết những ký hiệu ghi trên vỏ hộp. Hồi đó, tôi chỉ biết hộp này có ba miếng thịt heo chiên lên ăn khá ngon, thịt bò thì nghe mùi trầu không ngon bằng loại cá khô vuông vắn bằng ba ngón tay ngâm nước lạnh cho mềm chiên lên không khác gì miếng cá phi lê tươi rói.

Khi nghe chuyện đồ ăn của lính Mỹ, mấy người bạn lớn tuổi của tôi gần như rất vui, nhớ lại từng mùi vị của mỗi loại khẩu phần đóng gói. Có ông còn ganh tị, cùng là phận lính chiến, người thì ăn cơm sấy ngâm nước lạnh, hút Bastos xanh; thằng thì ăn bánh mì đồ hộp đủ loại thịt cá, hút Salem phì phèo, nhai kẹo cao su, uống thì cà phê hoà tan, cacao sữa, thậm chí còn có khăn giấy lau miệng, giấy vệ sinh đi cầu.

Chẳng lính nào trên thế giới sang hơn lính Mỹ viễn chinh xứ mình. Ðồ ăn của lính Mỹ đi trận không được bán ra ngoài. Thế nhưng muốn kiếm vài chục thùng đồ ăn MCI cứ đến chợ trời Nguyễn Thông thể nào cũng có. Nguồn hàng này từ đâu? Từ kho tiếp liệu tuồn ra !

SÀI GÒN XƯA :

CÀ PHÊ VỢT PHA BẰNG SIÊU ĐẤT,

HƠN 50 NĂM NÍU GIỮ CHÂN NGƯỜI

Sài Gòn nổi tiếng bởi những quán hàng cà phê trải dài khắp các con phố với đủ thứ đủ loại: Cà phê phin, cà phê sữa, cà phê nội ngoại,… Nhưng trong tất cả những thức đồ ấy, tồn tại một món cà phê xưa cũ từng là kí ức quen thuộc, là hoài niệm thân thương của bao người dân xứ Gia Định, đặc biệt là người Hoa sống tại nơi đây, đó chính là Cà phê vợt.

Từ đầu thế kỷ 20, cà phê được người Sài Gòn đón nhận khá nồng nhiệt. Vào khoảng những năm 1930, khắp địa phương Sài Gòn – Chợ Lớn (Région de Saigon – Cholon) hầu như sáng nào cũng có các quán cà phê đông khách. Theo thời gian, hương cà phê len lỏi và ngấm dần vào thói quen và kí ức của người dân khu phố thị bậc nhất xứ Nam Kỳ này.

Trước khi uống cà phê kiểu Pháp, người Sài Gòn pha cà phê vợt theo kiểu Trung Hoa. Cà phê vợt hay còn được gọi với những cái tên khác như cà phê bít tất hay cà phê kho là một trong những nét văn hóa xưa của cộng đồng người Hoa còn sót lại tại Sài Gòn. Cà phê xay nhuyễn được lọc qua vợt bằng vải the dài như bít tất, ủ trong siêu thuốc bắc để ra hết vị. Thứ nước đầu này được tiếp tục đem kho liu riu trên bếp than.

Đến nay, Sài Gòn có lẽ chỉ còn sót lại 2 quán cà phê vợt kho bằng siêu đất tồn tại đã trên nửa thế kỷ, một ở quận 3 và một ở quận 11. Hương cà phê vợt “kho” trong siêu đất có sự hấp dẫn riêng mà có lẽ không vị cà phê tân thời nào có thể sánh được.

“Chỉ cần ngửi mùi thơm là người ta tự đến”

Quán cà phê vợt tồn tại đã nửa thế kỷ của ông Lưu Nhân Thanh nằm trong hẻm 313 Tân Phước, P. 6, Q.11. Không gian quán nhỏ xinh đậm chất người Hoa nằm trong một con hẻm nhỏ, nhìn vào đây đã thấy một thời xưa cũ và phong cách uống cà phê mộc mạc, bình dân vô cùng..

Người Việt Nam biết cách thưởng thức cà phê một cách đích thực và đúng nghĩa chắc cũng không có nhiều. Trải bao thăng trầm cùng thời gian, sự biến đổi cách uống, cách phục vụ cà phê, ông Thanh vẫn bảo tồn vẹn nguyên phong cách pha cà phê truyền thống.

Ông Thanh pha bằng siêu đất, loại siêu mà người ta chuyên dùng để nấu thuốc bắc. Ông chia sẻ : “Chỉ có giữ nóng bằng cái siêu đất, hương thơm cà phê vợt mới ngon hơn hẳn cà phê đựng trong cái phin bằng kim loại”. Bí quyết của ông là không bao giờ giặt vợt bằng xà phòng vì sẽ làm mất mùi cà phê, chỉ cần rửa bằng nước sạch là đủ. Vợt càng dùng lâu năm, càng đen thì pha cà phê lại càng ngon.

Cà phê pha xong bằng siêu đất mới được ông đổ ra ấm nhôm để bán cho khách. Nước cà phê đầu tiên gọi là nước cốt, đây cũng là lượt cà phê chất lượng nhất của một lần pha. Ấm cà phê cốt được bắc lên một bếp than trước khi rót cho khách.

Khi dùng bạn có thể cho thêm chút đường, khuấy đều rồi bưng tách cà phê lên để nếm thử hương vị cà phê tinh khiết lúc còn nóng. Nhấp một chút rất ít cà phê rồi dùng lưỡi trải mỏng nước cà phê khắp miệng và nuốt nhẹ nhàng.  Sau đó, thở ra từ từ để hương thơm cà phê xông lên từ hốc mũi, vòm mũi và bạn cảm nhận mùi hương cà phê dường như lan tỏa lên đến đỉnh đầu.

Điều đặc biệt cà phê vợt ở đây giá chỉ 5.000 đồng, thêm sữa thì giá 1 ca sẽ là 6.000 đồng. Những khách hàng của ông Thanh hầu hết là những người trung tuổi và cao tuổi. Họ uống như một thói quen hay nói đúng hơn là thỏa cơn ghiền cà phê vợt, nhất là khi kiểu pha chế này đã gần như đang bị mất hút tại Sài Gòn.

Nhiều năm qua quán của ông Thanh cũng chứng kiến nhiều câu chuyện, nhiều cảnh đời trái ngược ngang qua. Nhưng ông vẫn luôn tận tâm phục vụ mọi người bằng một lòng nhiệt huyết và đam mê pha cà phê truyền thống.

Cà phê nguyên chất có hương thơm và hậu vị tinh tế, đậm đà theo cách tao nhã, thanh thoát hoàn toàn khác với mùi thơm nồng của hương liệu, vị đậm và đắng nặng nề, màu nước đen thui và sánh kẹo của các loại hạt ngũ cốc như bắp, đậu rang cháy được tẩm hương liệu nồng độ cao trong quy trình sản phẩm cà phê pha tạp.

Rất nhiều người dân Sài Gòn cũng không thể nào nhớ rằng cà phê vợt có từ thời nào, nhưng ai cũng hiểu rằng quán như của ông Thanh đang góp phần níu giữ “hồn” cà phê vợt và nét văn hoá một thời của người Sài Gòn một thời.

Cheo Leo – Quán cà phê lâu đời nhất Sài Gòn

Ngang qua mấy con hẻm trên đường Bàn Cờ tới Nguyễn Thiện Thuật, quận 3. Thật không khó để tìm được quán cà phê vợt Cheo Leo dù có bị lọt thỏm giữa những ngôi nhà cao tầng san sát, bởi mùi cà phê thơm sực nức cùng tiếng nhạc xưa  đã tự dẫn người tìm đường tìm đến đúng nơi cần tìm.

Cà phê Cheo Leo của cụ cố Vĩnh Ngô được mở bán từ cuối những năm thập niên 30 của thế kỷ trước. “Những ngày đầu nhà tui về đây xung quanh đồng không trống trải, nhà cửa thưa thớt với vài ngọn đèn leo lét, nên cha tui đặt tên quán là Cheo Leo”, cô Hoa người con thứ 6 của cụ cố Vĩnh Ngô kể lại.

Thời đó, Cheo Leo là một trong những quán cà phê nhạc nổi tiếng Sài Gòn, là nơi hẹn hò của những cô cậu học trò trường Chu Văn An, Petrus Ký và đây cũng là nơi thường xuyên lui tới của một vài nghệ sĩ vang bóng một thời Sài Gòn.

Trong suốt 79 năm, hương vị cà phê cùng với cách pha độc đáo vẫn được từ chiếc vợt vẫn được mọi thành viên trong gia đình giữ nguyên.

Cô Hoa chia sẻ : “Lửa rất quan trọng khi luộc cà phê. Nếu để lửa lớn quá cà phê sẽ bị kho ra vị chua, còn nhỏ, cà phê sẽ bị nguội, uống vô không còn mùi vị”.

Lò nung cha chị làm từ cái thùng phuy chèn thêm lớp gạch pha với đường cát vàng hạt lớn. Giữa lò nung có than lửa làm nước sôi, nước sôi già mới đổ vào cái siêu mà người ta thường đun thuốc Bắc. Trong siêu có tấm vải lược, tức cái vợt, bỏ cà phê xay nhuyễn vào đó. Ủ một lúc thì chắt nước cà phê qua cái siêu khác, đặt bên rìa lò nung giữ nóng lâu, hoặc chắt liền vào ly phục vụ khách vừa tới quán.

Một khách ruột của quán tâm sự : “Sanh thời ông Cheo Leo điệu nghệ lắm. Ổng luôn vận quần soọc, cỡi xe Vespa đi chợ Bến Thành mua cà phê chánh hiệu Meilleur Gout, Jean Martin mang dzìa pha vợt. Tới khi Sài Gòn đã hiếm quán cà phê pha vợt, ổng cũng không chịu pha phin, biểu pha bằng cái phin thì cà phê cũng chẳng ngon hơn chút nào, mà nỡ bỏ đi cái cách cà phê pha vợt đã quá thân thương với người Sài Gòn. Tụi tui mến ổng là vậy”.

Khi muốn cảm thụ hương vị của tách cà phê đích thực, sự thư thái trong tâm hồn cùng với những cốc nhựa cà phê ở đây, nhiều người khám phá ra cà phê vợt đem đến cho bạn trải nghiệm thú vị và bổ ích.

oOo

Giữa nhịp sống hiện đại và náo nhiệt, hình ảnh những người già ngồi bên tách cà phê cạnh lò đun nghi ngút khói trở thành một nét duyên thầm trong thế giới ẩm thực và đời sống văn hóa vốn đã lắm phong phú của Sài Gòn.

Ngày nay, cà phê vợt không chỉ là thức uống được người lao động bình dân ưa chuộng, đó đã là niềm khao khát, là thói quen chung của nhiều người thích tĩnh lặng, nhớ hoài cổ và nét trầm mặc của thời gian.

Dù chúng ta có đi rất xa, chúng ta vẫn luôn mong muốn có một điều nào đó để nhớ về. Nhất là về với những kỉ niệm, những nét văn hóa truyền thống rất riêng còn lưu giữ lại, mọi thứ đều góp phần tạo nên một bức tranh muôn màu khiến Sài Gòn trở nên đẹp hơn.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp