NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM

Logo tai lieu

logo vietSƠ LƯỢC NGUỒN GỐC

MỘT SỐ ĐịA DANH MIỀN NAM

Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó… riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy ?

Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.

Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác – để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

1/- Tên do địa hình, địa thế 

Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, tỉnh Bến Tre : 9 Dia danh 1“Gió đưa gió đẩy, / về rẫy ăn còng, / về bưng ăn cá, / về giồng ăn dưa…”

– Giồng là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát : “trên đất giồng mình trồng khoai lang…”

Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một quận (huyện). Lại nhắc đến một câu hát khác : “Ai dzìa Giồng Dứa qua truông Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…” Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Luơng đến cầu Long Định, ở bên phải quốc lộ 4 là Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn). Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì ?

– Truông là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. 9 Dia danh 2Ở vùng Dĩ An có truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có truông nhà Hồ.

“Thương em anh cũng muốn vô Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang” Tại sao lại có câu ca dao này ? Ngày xưa truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.

– Phá là lạch biển, nơi hội ngộ của các con sông trước khi đổ ra biển nên nước xoáy,sóng nhiều thường gây nguy hiểm cho thuyền bè. Phá Tam Giang thuộc tỉnh Thừa Thiên, phía bắc của phá Tam Giang là sông Ô Lâu đổ ra biển, phía nam là sông Hương đổ ra cửa Thuận An.

– Bàu : là nơi đất trũng, mùa mưa nước khá sâu nhưng mùa nắng chỉ còn những vũng nước nhỏ hay khô hẳn. Khác với đầm, vì đầm có nước quanh năm. Ở Sài Gòn, qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền chừng 1 km về hướng Hóc Môn, phía bên trái có khu Bàu Cát. Bây giờ đường xá được mở rộng, nhà cửa xây rất đẹp nhưng mùa mưa vẫn thường bị ngập nước. Ở Long Khánh có Bàu Cá, Rạch Giá có Bàu Cò.

– Đầm : là chỗ trũng có nước quanh năm, mùa mưa nước sâu hơn mùa nắng, thường là chỗ tận cùng của một dòng nước đổ ra sông rạch hoặc chỗ một con sông lở bờ nước tràn ra hai bên nhưng vẫn dòng nước vẫn tiếp tục con đường của nó. Ở Cà mau có Đầm Dơi, Đầm Cùn. Ở quận 11 Sài Gòn có Đầm Sen, bây giờ trở thành một trung tâm giải trí rất lớn.

9 Dia danh 3Bưng : từ gốc Khmer là bâng, chỉ chỗ đất trũng giữa một cánh đồng, mùa nắng không có nước đọng, nhưng mùa mưa thì ngập khá sâu và có các thứ lác, đưng… mọc. Mùa mưa ở bưng thường có nhiều cá đồng. “…về bưng ăn cá, về giồng ăn dưa”. Ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, có hai bưng là Bưng TrômBưng Cốc.

– Láng : chỗ đất thấp sát bên đường nước chảy nên do nước tràn lên làm ngập nước hoặc ẩm thấp quanh năm. Ở Bình Chánh (gíap ranh Sài Gòn – Long An) có Láng Le, được gọi như vậy vì ở láng này có nhiều chim le le đến kiếm ăn và đẻ. Vùng Khánh Hội (quận 4 Sài Gòn) xưa kia được gọi là Láng Thọ vì có những chỗ ngập do nước sông Sài Gòn tràn lên. Người Pháp phát âm Láng Thọ thành Lăng Tô, một địa danh rất phổ biến thời Pháp thuộc.

Trảng : chỗ trống trải vì không có cây mọc, ở giữa một khu rừng hay bên cạnh một khu rừng. Ở Tây Ninh có Trảng Bàng, địa danh xuất phát từ một cái trảng xưa kia có nhiều cỏ bàng vì ở vùng ven Đồng Tháp Mười. Ở Biên Hoà có Trảng Bom, Trảng Táo.

Đồng : khoảng đất rất rộng lớn bằng phẳng, có thể gồm toàn ruộng, hoặc vừa ruộng vừa những vùng hoang chưa khai phá. Một vùng trên đường từ Gia Định đi Thủ Đức, qua khỏi ngã tư Bình Hoà, trước kia toàn là ruộng, gọi là Đồng Ông Cộ. Ra khỏi Sài Gòn chừng 10 km trên đường đi Lái Thiêu có Đồng Chó Ngáp, được gọi như thế vì trước kia là vùng đất phèn không thuận tiện cho việc cày cấy, bị bỏ hoang và rất vắng vẻ, trống trải. Ở Củ Chi có Đồng Dù, 9 Dia danh 4vì đã từng dược dùng làm nơi tập nhảy dù. Và to, rộng hơn rất nhiều là Đồng Tháp Mười.

Hố : chỗ đất trũng, mùa nắng khô ráo nhưng mùa mưa có nơi nước lấp xấp. Ở Củ Chi có Hố Bò, vì bò nuôi trong vùng thường đến đó ăn cỏ. Biên Hoà có Hố Nai, là nơi những người Bắc đạo Công Giáo di cư năm 1954 đến lập nghiệp, tạo thành một khu vực sầm uất.

2/- Tên bắt nguồn từ tiếng Khmer

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hoá đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hoá một cách tài tình.

9 Dia danh 13– Cần Thơ : Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre), không thấy có liên quan gì về ngữ âm, người nghiên cứu chưa thể vội vàng kết luận là Cần Thơ là một địa danh hoàn toàn Việt Nam và vội đi tìm hiểu căn cứ ở các nghĩa có thể hiểu được của hai chữ Hán Việt “cần” và “thơ”.

Cần Thơ không phải là từ Hán Việt và không có nghĩa. Nếu dò tìm trong hướng các địa danh Việt hoá, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của Cần Thơ rất gần với ngữ âm của từ Khmer “kìntho”, là một loại cá hãy còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặc rằn, nhưng người ở Bến Tre vẫn gọi là cá “lò tho”.

Từ quan điểm vững chắc rằng “lò tho” là một danh từ được tạo thành bằng cách Việt hoá tiếng Khmer “kìntho”, người nghiên cứu có thể sưu tầm các tài liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer xa xưa trong địa phương này, rồi đi đến kết luận là địa danh Cần Thơ xuất phát từ danh từ Khmer “kìntho”.

– Mỹ Tho : Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, “mỹ” và “tho”, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người 9 Dia danh 11Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock,chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

Sóc Trăng : Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng. Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn.

Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).Đến thời ông Diệm, lại gọi là tỉnh Ba Xuyên, châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

Bãi Xàu : là tên một quận thuộc tỉnh Sóc Trăng. Đây là một quận ven biển nên có một số người vội quyết đoán, cho rằng đây là một trường hợp sai chính tả, phải gọi là Bãi Sau mới đúng. 9 Dia danh 14Thật ra, tuy là một vùng bờ biển nhưng Bãi Xàu không có nghĩa là bãi nào cả. Nó xuất phát từ tiếng Khmer “bai xao” có nghĩa là cơm sống. Theo truyền thuyết của dân địa phương, có địa danh này là vì nơi đây ngày trước, một lực lượng quân Khmer chống lại nhà Nguyễn đã phải ăn cơm chưa chín để chạy khi bị truy đuổi.

Kế Sách : cũng là một quận của Sóc Trăng. Kế Sách nằm ở gần cửa Ba Thắc (một cửa của sông Củu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K’sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hoá tiếng Khmer “k’sach”.

Một số địa danh khác :

– Cái Răng (thuộc Cần Thơ) là sự Việt hoá của “k’ran”, tức cà ràn, là một loại bếp lò nấu bằng củi, có thể trước kia đây là vùng sản xuất hoặc bán cà ràn.

– Trà Vinh xuất phát từ “prha trapenh” có nghĩa là ao linh thiêng.

– Sông Trà Cuông ở Sóc Trăng do tiếng Khmer “Prek Trakum”, là sông rau muống (trakum là rau muống).

– Sa Đéc xuất phát từ “Phsar Dek”, phsar là chợ, dek là sắt.

– Tha La, một địa danh nổi tiếng ở Tây Ninh (Tha La xóm đạo), do tiếng Khmer “srala”,là nhà nghỉ ngơi, tu dưỡng của tu sĩ Phật giáo.

9 Dia danh 15– Cà Mau là sự Việt hoá của tiếng Khmer “Tưck Khmau”, có nghĩa là nước đen.

3/- Địa danh do công dụng của một địa điểm hay do một khu vực sinh sống làm ăn.

Đây là trường hợp phổ biến nhất trong các địa danh. Theo thói quen, khi muốn hướng dẫn hay diễn tả một nơi chốn nào đó mà thuở ban đầu chưa có tên gọi, người ta thường hay mượn một điểm nào khá phổ biến của nơi đó, như cái chợ cái cầu và thêm vào một vào đặc tính nữa của cái chợ cái cầu đó; lâu ngày rồi thành tên, có khi bao trùm cả một vùng rộng lớn hơn vị trí ban đầu.

Chợ : Phổ biến nhất của các địa danh về chợ là chợ cũ, chợ mới, xuất hiện ở rất nhiều nơi. Sài Gòn có một khu Chợ Cũ ở đường Hàm Nghi đã trở thành một địa danh quen thuộc. Chợ Mới cũng trở thành tên của một quận trong tỉnh An Giang. Kế bên Sài Gòn là Chợ Lớn, xa hơn chút nữa là Chợ Nhỏ ở Thủ Đức. Địa danh về chợ còn được phân biệt như sau;

– Theo loại hàng được bán nhiều nhất ở chợ đó từ lúc mới có chợ, như : Chợ Gạo ở Mỹ Tho, Chợ Búng (đáng lý là Bún) ở Lái Thiêu, Chợ Đệm ở Long An, Chợ Đũi ở Sài Gòn.

Cho Ba Chieu– Theo tên người sáng lập chợ hay chủ chợ (độc quyền thu thuế chợ), như : chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hom, chợ Bà Quẹo, chợ Bà Rịa.

– Theo vị trí của chợ, như : chợ Giữa ở Mỹ Tho, chợ Cầu (vì gần một cây cầu sắt) ở Gò Vấp, chợ Cầu Ông Lãnh ở Sài Gòn.

– Xóm : là một từ để phân biệt một khu vực trong làng hay một địa phương lớn hơn, về mục tiêu sản xuất, thương mại hay chỉ đơn thuần về vị trí. Đơn thuần về vị trí, trong một làng chẳng hạn, có Xóm Trên, Xóm Dưới, Xóm Trong, Xóm Ngoài, Xóm Chùa, Xóm Đình… Về các mục tiêu sản xuất và thương mại, ngày nay cách phân biệt các xóm chỉ còn ở nông thôn mà không còn phổ biến ở thành thị.

Những địa danh còn sót lại về xóm ở khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn : vùng phụ cận chợ Bà Chiểu có Xóm Giá, Xóm Gà. Gò Vấp có Xóm Thơm. Quận 4 có Xóm Chiếu. Chợ Lớn có Xóm Than, Xóm Củi, Xóm Vôi, Xóm Trĩ (Trĩ là những nhánh cây hay thân cây suôn sẻ to cỡ bằng ngón chân cái, 9 Dia danh 5dài chừng 2 mét, dùng để làm rào, làm luới hay làm bủa để nuôi tằm).

Thủ là danh từ chỉ đồn canh gác dọc theo các đường sông, vì khá phổ biến thời trước nên “thủ” đã đi vào một số địa danh hiện nay hãy còn thông dụng, như : Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Ngữ (Sài Gòn), Thủ Thừa (Long An), Thủ Dầu Một (Bình Dương).

Đức, Thiêm, Ngữ, Thừa có lẽ là tên những viên chức được cử đến cai quản các thủ này và đã giữ chức vụ khá lâu nên tên của họ đã được người dân gắn liền với nơi làm việc của họ. Còn Thủ Dầu Một thì ở thủ đó ngày xưa có một cây dầu mọc lẻ loi.

Bến ban đầu là chỗ có đủ điều kiện thuận tiện cho thuyền ghe ghé vào bờ hoặc đậu lại do yêu cầu chuyên chở, lên xuống hàng. Sau này nghĩa rộng ra cho cả xe đò,xe hàng, xe lam… Cũng như chợ, bến thường được phân biệt và đặt tên theo các loại hàng được cất lên nhiều nhất. Một số tên bến đặt theo cách này đã trở thành tên riêng của một số địa phương, như : Bến Cỏ, Bến Súc, Bến Củi ở Bình Dương. Bến Đá ở Thủ Đức. Bến Gỗ ở Biên Hoà. Ngoài ra bến cũng còn có thể được đặt tên theo một đặc điểm nào ở đó, như một loại cây, cỏ nào mọc nhiều ở đó, và cũng trở thành tên của một địa phương, như : Bến Tranh ở Mỹ Tho, Bến Lức ở Long An (đáng lý là lứt, là một loại cây nhỏ lá nhỏ, rễ dùng làm thuốc, đông y gọi là sài hồ).

4/- Một số trường hợp khác

Có một số địa danh được hình thành do vị trí liên hệ đến giao thông, như ngã năm, ngã bảy, cầu, rạch…thêm vào đặc điểm của vị trí đó, hoặc tên riêng của một nhân vật có tiếng ở tại vị trí đó. Ở Sài Gòn có rất nhiều địa danh được hình thành theo cách này: Ngả Tư Bảy Hiền, Ngã Năm Chuồng Chó, Ngã Ba Ông Tạ9 Dia danh 9Ở Trà Vinh có Cầu Ngang đã trở thành tên của một quận.

Trường hợp hình thành của địa danh Nhà Bè khá đặc biệt, đó là vị trí ngã ba sông, nơi gặp nhau của 2 con sông Đồng Nai và Bến Nghé trước khi nhập lại thành sông Lòng Tảo. Lúc ròng, nước của hai con sông đổ ra rất mạnh thuyền bè không thể đi được, phải đậu lại đợi con nước lớn để nương theo sức nước mà về theo hai hướng Gia Định hoặc Đồng Nai. “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.”

Tương truyền có ông Thủ Huồng là một viên chức cai quản “thủ” ở vùng đó, tham nhũng nổi tiếng. Có lần nằm mơ thấy cảnh mình chết bị xuống âm phủ phải đền trả những tội lỗi khi còn sống. Sau đó ông từ chức và bắt đầu làm phúc bố thí rất nhiều; một trong những việc làm phúc của ông là làm một cái bè lớn ở giữa sông trên đó làm nhà, để sẵn những lu nước và củi lửa. 9 Dia danh 6Những ghe thuyền đợi nước lớn có thể cặp đó lên bè để nấu cơm và nghỉ ngơi. Địa danh Nhà Bè bắt nguồn từ đó.

Miền Nam là đất mới đối với người Việt Nam, những địa danh chỉ mới được hình thành trong vài thế kỷ trở lại đây nên những nhà nghiên cứu còn có thể truy nguyên ra nguồn gốc và ghi chép lại để lưu truyền. Cho đến nay thì rất nhiều địa danh chỉ còn lại cái tên mà ý nghĩa hoặc dấu vết nguyên thuỷ đã biến mất theo thời gian.

Thí dụ, Chợ Quán ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, bây giờ chỉ biết có khu Chợ Quán, nhà thờ Chợ Quán, nhà thương Chợ Quán… chứ còn cái chợ có cái quán đố ai mà tìm cho ra được. Hoặc Chợ Đũi (có một số người tưởng lầm là Chợ Đuổi vì người buôn bán hay bị nhân viên công lực rượt đuổi) ban đầu chuyên bán đũi, là một thứ hàng dày dệt bằng tơ lớn sợi, bây giờ mặt hàng đó đã biến mất nhưng địa danh thì vẫn còn.

Ngoài ra, đất Sài Gòn xưa sông rạch nhiều nên có nhiều cầu, sau này thành phố được xây dựng một số sông rạch bị lấp đi, cầu biến mất, nhưng người dân vẫn còn dùng tên cây cũ ở nơi đó để gọi khu đó,như khu Cầu Muối. Và cũng có một số địa danh do phát âm sai nên ý nghĩa ban đầu đã bị biến đổi nhưng người ta đã quen với cái tên được phát âm sai đó nên khi ghi chép lại, vẫn giữ cái tên đã được đa số chấp nhận, như Bến Lức, chợ Búng (Lứt là tên đúng lúc ban đầu, vì nơi đó có nhiều cây lứt; còn chợ Búng nguyên thủy chỉ bán mặt hàng bún, sau này bán đủ mặt hàng và cái tên được viết khác đi).

Phần trên đã nói tới nhiều địa danh của miền Nam, bây giờ là phần bổ túc. 9 Dia danh 12Gặp đâu ghi đó. Có những địa danh có thể đã được đề cập ở phần trên nhưng cũng vẫn ghi lại, vì tôi mới đọc được trong những cuốn sách khác.

1/- Thủ Đức : Ai chẳng một lần nghe nói đến nem Thủ Đức. Người ta nhắc đến cái địa danh Thủ Đức, Xuân Trường như là một nơi danh thắng để giai nhân, tài tử, tao nhân mặc khách đến đây thưởng thức phong quang. Theo lời truyền khẩu của các vị bô lão ở địa phương : Khi xưa, có vị thủ đồn đầu tiên ở nơi này tên là Đức. Đến sau, ông Tạ Dương Minh đứng ra qui dân lập chợ buôn bán, nhớ đến công vị thủ đồn tên Đức, nên lấy tên và chức tước của ông mà đặt cho chợ, gọi là chợ Thủ Đức nay đã thành danh. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh)

2/- Gò Vấp : Gò Vấp là tên một quận của tỉnh Gia Định. Gọi là Gò Vấp có ý nghĩa gì ? Chúng tôi đã dụng công ra tìm những sử sách và hỏi thăm các vị bô lão, nhưng chẳng tìm hiểu được gì đích xác. Tuy nhiên, theo truyền thuyết, cũng có thể tin được, địa danh mang tên Gò Vấp, vì lúc trước nơi ấy là một ngọn đồi trồng cây Vấp (theo tiếng Chàm gọi là Krai, tiếng Việt là Vấp hay Lùn). Thứ cây Vấp là thứ cây mà dân Chàm coi như thần mộc, yểm hộ cho dân tộc Chàm. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh) Cây Vấp (tên khoa học là Mesua Ferrea L.)

3/- Đồng Ông Cộ : Đồng bào ở tỉnh Gia Định từ xưa tới nay thường nghe nói đến tên “Đồng Ông Cộ” nhưng không hiểu rõ cụm từ này do ai đặt ra mà được truyền tụng mãi đến ngày nay.

Ở miền Nam chúng ta, địa phương nào cũng có nhiều huyền thoại, giai thoại truyền khẩu trong dân gian, lâu ngày trở thành một địa danh. Chúng tôi, người tình nguyện vạch bóng thời gian,ghi lại những sự việc xảy ra từng vùng,từng địa phương, để hiến quí bạn đọc hiểu rõ nguồn gốc từ thuở xa xưa nơi địa phương chính mình. Theo một vài vị bô lão cố cựu sinh quán tại Gia Định, thuật lại sự tích “Đồng ông Cộ” cho chúng tôi biết như sau.

8 Cho Saigon 2Đất Gia Định ngày xưa rộng lớn hoang vu, dân chúng ở rải rác từng nhóm theo ruộng gò nổng, rừng chòi dày đặc,đường sá chưa được khai mở, lối đi vất vả khổ cực. Khu đất “Đồng ông Cộ” này ngày xưa thuộc vùng sát cận trung tâm tỉnh Gia Định. Nó ăn từ chợ (ngã ba trong) dài tới cầu Hang; vòng ra đường Nguyễn Văn Học, phía bên này cầu Bình Lợi nó ăn sâu luôn phía trong có hơn 10 cây số, rồi vòng ra khu Hàng Xanh phía lò heo cũ Gia Định chạy dài tới ngã năm Bình Hoà.

Toàn thể khu vực rộng lớn như vậy,thuở xưa không có lấy một con lộ cái quan nào để dân chúng xê dịch. Dân cư trong vùng, sinh sống về nghề ruộng nương, rẫy bái, làm nghề hạ bạc (đánh cá) dọc theo sông cầu Bình Lợi, cầu Băng Ky bây giờ. Những khoảng đất không được khai phá thì toàn là rừng chồi cây lùm mọc rậm rạp. Về sau, Tây lấy Gia Định rồi thì mở mang quốc lộ đi Thủ Đức và khu sát rìa quốc lộ, ăn sâu vô hằng 5-7 cây số (từ phía Gia Định lên nằm bên tay mặt), được Tây khai phá làm rừng cao su. Toàn thể một khu đồng ruộng mênh mông như vậy, hơn phân nửa đất đai toàn là rừng rậm, dân cư lại ít nên không có nhiều đường mòn để xê dịch. Dân chúng di chuyển bằng ngựa cũng không tiện chớ đừng nói chi đến dùng xe bò hoặc xe trâu.

9 Dia danh 7Đây khác hơn mọi nơi là chỗ đó ! Mỗi khi dân cư trong vùng này muốn ra tỉnh, lúc đó là thành Gia Định, có việc cần kíp, hoặc rước thày trị bệnh, hoặc tải hàng rẫy, gạo thóc ra chợ bán, hoặc mua đổi các thứ cần thiết đem về dùng…. thật là muôn vạn khó khăn.

Chỉ có những trai tráng khoẻ mạnh mới có thể di chuyển nổi hằng mấy chục cây số đường lồi lõm không khác lên thác xuống ghềnh, khu đất này lại nhiều chỗ dốc lên, dốc xuống, đồi nổng..v.v.. Rất ít chỗ được khai phá, thành giồng như xuyên rừng vậy. Mà hễ mỗi lần đi như vậy thì ruộng nương, rẫy bái ở nhà lại không ai khai phá, làm lụng sản xuất. Lại mỗi lần đi ra thành thì lại mất ít nhất 2 ngày – 1 ngày đi, 1 ngày về mua bán, đổi chác.

Một ngày, bỗng dưng người ta thấy trước cổng nhà của một ông Phú Hộ với nhà ngói 3 gian, 2 chái, 1 dãy nhà bếp, nền đúc cao treo tấm bảng lớn đề mấy chữ : “Đảm nhận ‘Cộ’ người và hàng hoá đi khắp nơi”. Đồng thời với tấm bảng treo lên, ông Phú Hộ trong vùng gọi là ông Ba Phú Hộ truyền thâu dụng tất cả thanh niên vạm vỡ trong toàn khu, hay bất cứ nơi nào,muốn có chuyện làm, ngoài nghề ruộng rẫy.

9 Dia danh 10“Cộ người và hàng” ! Đó là một lối tải người và hàng hoá giản tiện hơn cả võng hay kiệu. Ông Ba Phú Hộ bèn cho dân đan những tấm vạc bằng tre, hai đầu có 4 lóng tre ló ra giống như cái băng ca nhà thương khiêng bệnh, để người đầu trước người đầu gác lên hai vai, khách thì ngồi ở vạc tre khúc giữa thòng chân lủng lẳng để người “Cộ” đi. Hàng hoá thì lại để ở khoảng giữa, thay vì tấm vạc tre đương thì nó là một miếng ván dày để có thể chất nhiều đồ mà không bị oằn chính giữa. Người sử dụng muốn mướn chỉ cần cho ông Ba Phú Hộ hay trước, cho biết nhà rồi thì sáng sớm, khi gà vừa gáy là có dân phu mang “Cộ” đến tận nhà mà rước người, hoặc “Cộ” hàng đi ra thành Gia Định. Từ đó, dân cư bắt đầu xê dịch dễ dàng, không nhọc mệt, bận tâm, hay tốn hao người mỗi khi tải hàng đi ra thành. Rồi thì, thời gian trôi qua, địa danh xuất hiện theo miệng người cư ngụ trong vùng. Khi hỏi : – Ở đâu ? Bèn đáp: – Ở trong đồng ông Ba “Cộ” !

Ông Ba “Cộ” đây có nghĩa là ông Ba Phú Hộ “Cộ” người và hàng hoá. Dần dần, hàng trăm năm sau vùng này được mở mang, nhưng là một vùng rộng lớn, dân chúng quy tụ về càng ngày càng đông lại không có địa danh, nên người ta nhớ ơn ông Ba “Cộ” lập thành vùng này thành địa danh gọi là “Đồng ông Cộ” cho đến ngày nay.

Cộ – danh từ: xe quệt. (td. trâu kéo cộ, một cộ lúa) – động từ: kéo đi, mang chở, khuân lấy (td. cộ lúa từ đồng về nhà) ăn. (td. nồi cơm lớn quá mức tụi tôi đâu có cộ nổi) đảm đương (td. nhiều việc quá liệu mình có cộ nổi khổng) (Theo cuốn Tự Điển Phương Ngữ Nam Bộ.) (Xe quệt, là loại xe dùng trâu hoặc bò để lết trên mặt đất. Khung xe bằng tre đặt trên 2 cây trượt. Đầu 2 cây trượt được gông vào càng xe. Người ta dùng dây chão buộc càng xe vào vai của trâu hoặc bò. Đây là phương tiện vận chuyển đường dài chủ yếu dùng trong mùa vụ nông nghiệp, thích ứng với địa hình phức tạp.)

Xe-cộ là danh từ kép, trong trường này, chữ cộ phải là danh từ để đứng chung với chữ xe. Cái xe và cái cộ cùng là danh từ chỉ một vật dùng để chuyển tải (người hoặc hàng hoá). Giống như danh từ kép chợ-búa, chợ và búa là hai danh từ đồng nghĩa, nhưng chữ búa là từ cổ đã biến mất không ai dùng nữa, chỉ còn tồn tại trong từ kép chợ-búa.  (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh)

9 Dia danh 84/- Đồng Tháp Mười : Chú thích năm 1970. Theo tôi, thuyết dưới đây của ông Lê Hương có phần đáng tin hơn cả. Trong bài Địa danh, di tích, thắng cảnh trong vùng người Việt gốc Miên, tập san Sử Địa số 14, 15 năm 1969, ông viết :

– “Tháp mười là một trong những ngôi tháp làm bằng đá do vua Jayavarman VII xây cất khắp lãnh thổ để thờ vị thần Bà La Môn Lockecvera là vị thần chuyên trị bệnh cho nhân loại. Bên cạnh tháp có những căn nhà sàn gỗ lợp bằng đá mỏng, bằng ngói hay bằng lá thốt nốt để người bịnh nằm dưỡng bệnh do nhân viên y tế hoàng triều coi sóc. Những ngôi tháp được xây dựng dọc theo các con đường lớn trong nước mà ngôi nằm trong đồng Tháp Mười, tính từ địa điểm xuất phát, đứng vào hàng thứ muời.

Thời gian trôi qua, tàn phá tất cả các công trình kiến trúc của cổ nhân, dãy nhà gỗ tiêu tan, chỉ còn một tượng sư tử đá và một linh phù (linga) cũng bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc Phạn (sanscrit) ghi tên Tháp thứ mười.9 Dia danh 16Trong năm 1932, nhà khảo cổ Pháp Parmentier đã đi vào Đồng Tháp bằng ghe và xuồng để đọc những chữ khắc vào đó và phát giác ra ngôi tháp…” (trích trong cuốn Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Muời của Nguyễn Hiến Lê)

5/- Bến Tre : Trường hợp hình thành tên gọi Bến Tre thật đặc biệt, vì đó là sự gán ghép giữa tiếng Khmer và tiếng Việt.Xưa kia người Khmer gọi nơi đó là Srok Treay – srok là xứ,treay là cá. Sau người Việt thay chỗ người Khmer đến sinh sống làm chủ chốn đó, biến chữ srok thành Bến nhưng chữ treay không dịch là cá mà phát âm theo tiếng Khmer thành Tre. Quả tình nơi đó không có tre mà thật nhiều tôm cá.(theo Hồ Đình Vũ)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

CHUYỆN TÌNH “LÁ DIÊU BÔNG”

DƯƠNG THIỆU TƯỚC MĨM CƯỜI

TRONG BÓNG CHIỀU XƯA

Tác giả của những ca khúc nổi tiếng của thời kỳ đầu tân nhạc Việt Nam: “Ngọc Lan”, “Bóng chiều xưa”, “Đêm tàn bến Ngự”… đã viết ra những cảm xúc Việt bằng âm điệu phương Tây để có được những bài ca hấp dẫn, đi cùng năm tháng

Có lẽ, Dương Thiệu Tước là một trong những nhạc sĩ thuở bình minh tân nhạc có cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo khá khác biệt.

Xuất thân dòng dõi quý tộc

Dương Thiệu Tước sinh ngày 15/5/1915 ở làng Vân Đình, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình nho học truyền thống. Ông nội ông là nhà nho Dương Khuê, tự Vân Trì, đỗ tiến sĩ năm 1868, làm quan đến Định Ninh Tổng Đốc, Thượng thư tham tán Nha Kinh Lược Bắc Kỳ, là bạn đồng khoa thân thiết với Yên Đỗ Nguyễn Khuyến.

Dương Khuê nổi tiếng với những bài văn ca trù phần nhiều viết về những mối tình gặp gỡ các cô đào trong hoàn cảnh éo le. Những tác phẩm này được thu thập vào cuốn “Vân Trì thi lục”. Ông trẻ (em ruột ông nội) Dương Lâm tự là Thu Nguyên, Mộng Thạch, hiệu là Quất Đình, Quất Tẩu đỗ Trạng nguyên năm 1878, làm quan đến Thượng thư Hiệp biện đại học sĩ, tước Thiếu Bảo.

Tác phẩm của ông được ghi lại trong “Vân Đình thi văn tập”. Cha thân sinh Dương Thiệu Tước là ông Dương Tự Nhu làm bố chính tỉnh Hưng Yên. Dương Thiệu Tước lại mê đàn từ bé. Bảy tuổi đã học đàn nguyệt rồi đàn tranh và cổ nhạc. Mười bốn tuổi đã học piano của giáo sư người Pháp tại Viễn Đông Âm nhạc Viện và học guitar cổ điển cùng các tiết tấu dancing.

Và nghiệp cầm ca đã đưa ông đến việc cùng các bạn như Thẩm Oánh, Vũ Khánh, Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Trần Dzư, Phạm Văn Nhường… lập ra nhóm âm nhạc Myosotis (Hoa lưu ly). Ông cùng nhóm đã cho xuất bản những nhạc phẩm đầu tiên của nhóm như “Đồi Oanh vàng”, “Hoa tàn”, “Phút vui xưa”… cùng những bản soạn cho guitar Hawaienne như “Joie d’aimer”, “Son ven-ance”, “Tondouxsourise” vào cuối năm 1938.

Cũng trong năm ấy, vào tháng 9, “Myosotis” đã có buổi trình diễn trước đông đảo công chúng tại rạp Olenpia (nay là rạp Hồng Hà đối diện chợ Hàng Da – số 51 Đường Thành, Hà Nội) những nhạc phẩm của Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước được thanh niên mến mộ, náo nức xin văn bản để tập đàn ca. Nhóm thường xuyên được Hội Ánh Sáng của Tự Lực Văn Đoàn mời biểu diễn.

Gửi hồn dân tộc trên âm điệu phương Tây

Khi bắt đầu sáng tác, Dương Thiệu Tước có chủ trương soạn nhạc theo âm điệu Tây phương. Ông nghĩ nếu đã có nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam viết tác phẩm bằng tiếng Pháp thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng rất có thể viết được những bản nhạc có âm điệu phương Tây.

Và cứ thế, từ ông đã tuôn trào ra những “Tâm hồn anh tìm em”, “Một ngày mà thôi”, “Ngọc Lan”, “Bóng chiều xưa”, “Ôi quê xưa”… chịu ảnh hưởng nhạc nhẹ cổ điển phương Tây. Nhưng dù có quan niệm như thế, Dương Thiệu Tước vẫn cho rằng khi ông đã là người Việt Nam thì những gì ông viết ra là đã mang hồn vía dân tộc Việt Nam rồi. Điều ấy cũng thể hiện rõ khi ông viết “Tiếng xưa”, “Chiều” (phổ thơ Hồ Dzếnh) và vượt lên hơn cả là đã sử dụng rất tinh tường ca Huế vào “Đêm tàn bến Ngự”.

Từ cảm xúc với nữ ca sĩ Minh Trang đẹp đến nao lòng, Dương Thiệu Tước đã thả hồn vào những luyến láy “rất Huế”, những biến phách, những đảo phách dìu dặt của nhạc cung đình và lời ca như nhập với giai điệu : “Nam Bình sầu than, như nức nở khóc duyên bẽ bàng…” hay “Thuyền mơ trong khúc Nam ai – Đàn khuya trên sóng ngân dài…” man mác đượm buồn như bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” của Văn Cao.

Giống như Phạm Văn Ký, Phạm Duy Khiêm trong văn chương hay Nguyễn Văn Huyên trong nghiên cứu, Dương Thiệu Tước là nhạc sĩ viết ra những cảm xúc Việt bằng “ngữ pháp Tây” nhưng lòng trắc ẩn về một bản sắc dân tộc vẫn giúp cho ông biến những giáo huấn khô khan “Ơn nghĩa sinh thành” thành một bài ca hấp dẫn, biến những hồn nhiên thơ ngây thành những đồng dao đầy chất Việt như “Nhạc ngày xanh”, “Dưới nắng hồng”…

Nhân nhắc đến Nguyễn Văn Huyên, điều không ngờ là cả hai ông đều đem lòng yêu một thiếu nữ Hà Nội kiều diễm là con Tổng đốc Vi Văn Định – bà Vi Kim Ngọc. Khi Nguyễn Văn Huyên còn học ở Pháp, Dương Thiệu Tước đã đem lòng yêu thiếu nữ này. Song duyên đời lại không cho hai người se lại. Khi Nguyễn Văn Huyên về nước và gặp duyên với nàng, Dương Thiệu Tước mới lấy bà Lương Thị Thuần. Nhưng mối tơ duyên thì còn vấn vương. Đó là cảm hứng để ông viết “Ngọc Lan”.

Cái nhìn riêng về chiến tranh

Chiến tranh bùng nổ, Dương Thiệu Tước vẫn ở Hà Nội theo đuổi sự nghiệp sáng tác của mình. Ông từng khẳng định “Âm nhạc cải cách đã trỗi dậy và đã gieo vào tâm hồn ta những ý niệm tươi đẹp của một nền âm nhạc Việt Nam tương lai, cái ảnh hưởng mãnh liệt sâu xa của nó đan xen với mạch sống hằng ngày của mỗi người”.

 Dương Thiệu Tước có cái nhìn riêng của mình về chiến tranh qua “Ôi quê xưa”: “Rồi một chiều thu – Tôi về chốn xưa – Nhìn cảnh làng quê – Vết tro tàn đìu hiu gió sương – Nhìn mái nhà xác xơ – Mơ chốn đây năm nào – Chiều chiều bao người hẹn nhau – Đến bên nhịp cầu…” Ông cứ cảm nhận cuộc đời tha thiết và sang trọng trong tình yêu.

Tính đến năm 1953, Nhà Xuất bản Tinh Hoa đã thống kê ra đến 41 ca khúc ông viết từ thuở bình minh tân nhạc Việt Nam đến thời điểm đó. Sau Hiệp định Genève, ông vào Sài Gòn. Ở đây, những ca khúc của ông vẫn tiếp tục được tái ấn hành và được Thái Thanh, Minh Trang và cô con gái Quỳnh Giao trình diễn nhiều năm tháng.

Ông hướng về giáo dục âm nhạc là chủ yếu. Bởi vậy, sau ngày 30/4/1975, ông vẫn được trọng dụng để giảng dạy ở Nhạc viện Sài Gòn bằng một cuộc sống đạm bạc trong căn nhà có chái bếp lợp lá ở giữa con hẻm gần chùa Hành Thiên. Ông tạ thế ngày 1/8/1995, khi ấy ca khúc Dương Thiệu Tước đã được hát khắp nơi. Trong chương trình “Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam” hồi cuối Xuân 1994, “Ngọc Lan” đã vang lên qua giọng hát Thu Hà.

– Những tình khúc bất hủ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1:20’)

https://youtu.be/RrM6X-yvcss

Những Tình Khúc Bất Hủ Của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước : Mai Hương,Khánh ly, Hương Lan, Thái Thanh

Danh Sách Bìa Hát : 1/. Bóng Chiều – Mai Hương 2/. Chiều – Mai Hương 3/. Tiếng Xưa – Mai Hương 4/. Bóng Chiều Xưa – Khánh Ly 5/. Đêm Tàn Bến Ngự – Mai Hương 6/. Khúc Nhạc Dưới Trăng – Mai Hương 7/. Kiếp Hoa – Mai Hương 8/. Ngọc Lan – Mai Hương 9/. Thuyền Mơ – Mai Hương 10/. Áng Mây Chiều – Mai Hương 11/. Cánh Buồm Lướt Gió 12/. Đêm Ngắn Tình Dài – Thái Thanh 13/. Bến Xuân Xanh – Mai Hương 14/. Ơn Nghỉa Sinh Thành – Hương Lan 15/. Vườn Xuân Thắm Tươi – Mai Hương

LÁ DIÊU BÔNG,

MỘT TÌNH YÊU THÁNH HÓA

– Trần Việt Long

– Chuyện tình lá diêu bông – Thu Hiền

https://youtu.be/hgZgh8sGr8I

– Sao em nở vội lấy chồng , Tuấn Vũ

https://youtu.be/RBaF6mN0NDg

Lá Diêu Bông không hiện hữu trên trái đất này thì làm sao ai mà tìm thấy được và như thế thì chẳng khác nào người đẹp gieo cầu trong gió lớn, làm lỡ duyên người con gái thơ ngây ! Tôi viết vài dòng về Lá Diêu Bông vì thấy lyric và nhạc của Trần Tiến mang tính mẫn cảm thật đẹp về tình yêu hơn lyrics và nhạc của Phạm Duy về cùng một bài thơ, Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm.

Thật vậy, câu chuyện tình Lá Diêu Bông là có thật cho dầu Lá Diêu Bông là một loại cỏ cây huyền thoại mang tính platonic. Năm 8 tuổi, cậu bé học trò Bùi Tằng Việt (sinh năm 1921) từ nơi trọ học trở về nhà ở Bắc Ninh thì tình cờ cậu gặp một thiếu nữ hàng xóm 16 tuổi tên Vinh, cậu fell in love immediately. Rung cảm trước tình cảm thiết tha thật dễ thương đó nơi một cậu em thật bé, tâm hồn người thiếu nữ đã khởi lên một tình yêu thăng hoa đầy thánh hóa.

Nhưng rồi mùa Xuân có giới hạn thời gian, người thanh nữ phải xuất giá ở tuổi 20 khi nhà thơ tương lai Hoàng Cầm của chúng ta mới tròn 12 tuổi. Chôn chặt hình ảnh lãng mạn đầu đời đó mãi đến năm 1959 thì bài thơ “Lá Diêu Bông” mới ra đời. Cần phân biệt ở đây bài thơ của Hoàng Cầm với bản nhạc cùng tên do Phạm Duy sáng tác trong thập niên 1980s. Bài thơ nguyên tác như sau :

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều,

Cuống rạ.

Chị bảo:

Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng.

Hai ngày em tìm thấy lá

Chị chau mày: Đâu phải Lá Diêu Bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu,

Trông nắng vãng bên sông.

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xoè tay phủ mặt, chị không nhìn.

Từ thuở ấy

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể.

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời… ới Diêu Bông !

Qua kinh nghiệm cuộc đời, chúng ta biết cả hai, cô Vinh và cậu bé Việt, đã tha thiết yêu nhau trong ý nghĩa thánh thiện nhất của tình yêu. Ở đây tình thơ và tình yêu đã quyện lẫn vào nhau nhưng vẫn ở ngoài tình ái. Biết tình cảm lãng mạn của mình không có lối thoát nên cô Vinh đã đưa ra một thách đố không thể thực hiện được cho cậu bé Việt.

Cô Vinh biết rằng làm gì có Lá Diêu Bông trên thực tế nhưng cậu bé Việt thì quyết tâm đi tìm trong cả cuộc đời mình như là một sự đi tìm cái “bản lai diện mục” của Tình Yêu viết hoa vậy. Đấy là “the Soul of World”“when you want something with all your heart, that’s when you are closest to the Soul of World . It’s always a positive force.” [The Alchemist, p. 78].

Khi một người tha thiết yêu ai đó thì tình yêu đó là một nguồn cảm hứng dạt dào thúc đẩy người ấy sáng tác những vần thơ tuyệt diệu mà sức tuôn trào của lời thơ như một dòng thác chảy vô bờ.

Tôi rất ngưỡng mộ khả năng diễn đạt ngôn ngữ qua lời nhạc của Phạm Duy nhưng lyric Lá Diêu Bông của ông thì dường như ông chưa nhận ra được tình yêu chân thành của cô Vinh dành trọn vẹn cho cậu bé Việt khi ông đem chữ “tao” gắn vào ngôn ngữ trữ tình của cô Vinh thay cho chữ “ta” nguyên khởi của chính cô, “Đứa nào tìm được lá diêu bông / Từ nay tao sẽ gọi là chồng.” “Ta / ngươi” là ngôn ngữ tình yêu được xử dụng bình đẳng giữa nam và nữ khi tình cảm của họ đã “tế ngộ” mà quan hệ xã hội chưa đủ chín mùi để chuyển sang “anh / em.”

Và cuộc hành trình đi tìm Lá Diêu Bông vẫn tiếp tục nơi Hoàng Cầm cho dầu đang tìm ở cõi vĩnh hằng chứ không phải nói như Phạm Duy, “Em đi trăm núi nghìn sông / Nào tìm thấy lá Diêu Bông bao giờ …”.

– Lá Diêu Bông – thơ Hoàng Cầm – nhạc Phạm Duy – trình bày : Ý Lan

https://youtu.be/7rhyRDaZHVo

Nhạc của Phạm Duy hay hơn nhưng tương đối khó hát trong khi nhạc của Trần Tiến rất gần gũi dân ca và dễ hát hơn, và lyric của Trần Tiến thì trung thành với cảm quan của cô Vinh và cậu bé Việt hơn; ngoài ra Trần Tiến lại thêm vào vài lời thật dễ thương mà có người con gái đã trả lời tôi khi tôi hỏi về chồng con của nàng sau nhiều năm mới gặp lại,

“Lấy chồng sớm làm gì /để lời ru thêm buồn !” Thật ra cô em này cũng “ăn gian” tôi khi cô chỉ trích ra một dòng để trả lời câu hỏi của tôi, trong khi lyric của Trần Tiến là lời than của Hoàng Cầm đối với cô Vinh khi cô Vinh đi lấy chồng:

Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn

Ru em thời thiếu nữ xa xôi

Còn đâu bao đêm trăng thanh

Tát gàu sòng, vui bên anh.

Để hiểu bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm thì không thể không nói phớt qua về ý nghĩa của các chữ “váy Đình Bảng” và “buông chùng cửa võng” được .

Váy : Từ trước khi quân nhà Minh chiếm đóng Việt Nam thì đàn bà người Việt mặc váy. Váy giống như skirt của Mỹ và jupe của Pháp :

Vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu,

Bên ta thì có, bên Tàu thì không.

Đến đầu thế kỷ thứ 15 khoảng sau năm 1415 thì nhà Minh bắt buộc đàn bà Việt phải mặc áo ngắn và quần dài như người Tàu. Hơn 250 năm sau thì Nhà Lê cấm đàn bà mặc quần áo như Tàu mà phải mặc váy theo truyền thống văn hóa dân tộc.

Đến khoảng năm 1750 thì Chúa Nguyễn thấy người Chiêm ăn mặc kín đáo hơn nên bắt buộc đàn bà người Việt phải mặc quần như người Tàu. Đến đời Vua Minh Mạng thì nhà vua buộc đàn bà cả nước phải mặc quần như đàn bà Đàng Trong nhưng lệnh này không được thi hành triệt để ở Đàng Ngoài, nhất là vùng thôn quê.

Tháng chín có chiếu vua ra:

Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.

Đình Bảng : Làng Đình Bảng nguyên là đất cố đô Hoa Lư, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đình Bảng là nơi nổi tiếng về con gái đẹp, vãi lĩnh và lụa tốt, và có nhiều thợ may khéo, nhất là may váy phụ nữ. Về con gái đẹp thì Đình Bảng cũng như Nha Mân của Miền Nam hay Kim Long của Huế.

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân ?

Kim Long con gái mỹ miều

Trẫm yêu trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi

Nhưng xin các cô gái Miền Nam và Miền Trung đừng giận tôi nhe vì tôi phải thành thật nói rằng cả Nha Mân và Kim Long đều không thể nào sánh được nét thướt tha duyên dáng của người con gái Đình Bảng trong chiếc váy lĩnh, váy lụa thật mượt mà và sang quý khi họ làm như vô tình “buông chùng” đến mắt cá chân với các nếp gấp phía trước (phụ nữ) hay hai bên (thiếu nữ) lượn hình lưỡi trai (con trai, con hến) như những gợn sóng nhấp nhô nho nhỏ để tha hồ cho các chàng trai giàu tưởng tượng mến yêu.

Cửa võng : hay còn gọi là “bao lam” là hình ảnh của “rèm vắn lên hai bên” như chúng ta cột màn cửa sổ sát hai bên thành đố cửa sổ. Vải rèm hay màn dồn lại và rũ xuống hai bên. Trên một bức hoành phi thì cửa võng là phần trang trí sơn son thếp vàng làm khung phía trên của bức hoành phi mà phía dưới thì “để trống” không trang trí.

Câu thơ này là câu thơ nói lên đại ý của cả bài thơ. Một cậu bé 8-9 tuổi lững thửng theo sau một cô gái 16-17 tuổi đang thẩn thơ (chứ không phải thẩn thờ) đi tìm trên đồng ruộng vừa gặt lúa xong chỉ còn trơ cuống rạ trong một buổi chiều để đi tìm cái chân nguyên thơ mộng mà trong tâm tư thầm kín nhất, sâu thẳm nhất của nàng là cái mộng mơ đầu đời không diễn đạt thành lời.

Đấy là cái tinh hoa của tình yêu nam nữ mơ hồ được thăng hoa từ sự phát triển thể chất tròn đầy một cách tự nhiên và không gợn một tí gì về dục tính. Và đấy là cái mà nàng đi tìm suốt cuộc đời một khi nàng đã trưởng thành và biết tên gọi rõ ràng cái tinh hoa đó là Hạnh Phúc ! Hình ảnh đầu tiên gây ấn tượng nhất về cô gái đối với cậu bé là chiếc váy của nàng (cậu bé thấp quá so với cô gái !).

Cái váy của người phụ nữ lớn tuổi và vất vã thì rất đơn giản, chỉ là một cuộn vải may khép kín, tròng vào qua hai chân, và có giây thắt lưng ở phần trên, nhưng chiếc váy của các phụ nữ giàu sang hay các cô gái mới lớn thì ngoài “cái thúng mà thủng hai đầu” đó thì vạt vải còn rộng dung hơn sự cần thiết dùng để tạo dáng thướt tha bằng cách làm nên những nếp gấp cân đối ở hai bên như hình ảnh cửa võng hay bao lam vậy.

Điều bi thảm của con người là cô gái mãi đi tìm trong suốt cuộc đời nàng nhưng cái tinh hoa của tình yêu mang tên là Hạnh Phúc đó vẫn xa xôi biền biệt vì rằng,

Hai ngày em tìm thấy lá

Chị chau mày : Đâu phải Lá Diêu Bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu ,

Trông nắng vãng bên sông.

rồi

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.

cuối cùng

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xoè tay phủ mặt, chị không nhìn.

Tâm trạng người con gái đi từ “chau mày, lắc đầu, cười” lơ đãng đến nỗi buồn vô vọng “xòe tay phủ mặt, chị không nhìn” vì không thể nào tìm được Hạnh Phúc của Tình Yêu. (theo Trần Việt Long)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

CA KHÚC TRƯNG VƯƠNG

KHUNG CỬA MÙA THU

(nhạc ngoại quốc- lời Việt : Nam Lộc)

Vào khoảng giữa thập niên 1960, phong trào Nhạc Trẻ Việt Nam phát triển một cách mạnh mẽ, với những tên tuổi được giới trẻ yêu mến như Elvis Phương, Thanh Lan, Billy Shane, Đức Huy, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Thuý Anh… Họ nổi danh với các bản nhạc ngoại quốc hát bằng lời Pháp và Anh. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ 1968, càng khuyến khích số người hát nhạc Mỹ nhiều hơn. Trước sự phát triển mạnh của các ca khúc ngoại quốc nổi tiếng, các nhạc sĩ Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang, Trường Kỳ, vv… đã đặt lời Việt cho nhạc ngoại quốc, để kéo giới trẻ đến với phong trào “Việt hoá nhạc trẻ”.

Một trong những tên tuổi tiêu biểu trong phong trào ấy mà chúng tôi muốn nhắc đến là nhạc sĩ Nam Lộc. Ông đã đặt lời Việt cho rất nhiều ca khúc ngoại quốc được công chúng đón nhận một cách sâu rộng. Nhiều người cứ ngỡ bài hát đó là những thuần tuý nhạc Việt Nam, như Mùa Thu Lá bay, Mây lang Thang, Chỉ Là Giấc Mơ Qua….

Trong số những ca khúc được nhạc sĩ Nam Lộc đặt lời Việt, có một bài hát nói về câu chuyện tình kết cục bi thảm nổi tiếng của tuổi thanh thiếu niên Mỹ vào năm 1960 là bài “Tell Laura I love her”. Nam Lộc đã chuyển lời Việt thành nhạc khúc học trò thơ mộng lãng mạn “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”.

Trưng Vương là tên của ngôi trường nữ trung học danh tiếng trước năm 1975 tại Sài Gòn. Bài hát “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” trước năm 1975 được thâu âm đầu tiên bởi ca sĩ Thanh Lan – Tiếng hát học trò của Sài Gòn một thời kỷ niệm. Bài hát đã nhanh chóng trở thành Top Hits trong giới sinh viên học sinh.

Sau năm 1975, ở hải ngoại có rất nhiều ca sĩ thâu âm lại ca khúc này như Ngọc Lan, Kiều Nga, Như Quỳnh… Nữ ca sĩ Thuý Vi trình bày bài hát này trong chương trình Asia video thu hình lần đầu tiên tại Las Vegas với chủ đề ĐÊM SÀI GÒN 1, đã để lại trong lòng người yêu nhạc những hình ảnh khó quên với giọng ca, với tà áo dài trắng và gia điệu Rumba dập dìu của Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu…

Hãy cùng nghe lại để nhớ về khung trời của sân trường ngày cũ….

– Trưng Vương khung cửa mùa Thu – Ngoc Lan

https://youtu.be/kGYCPH0dNsI

– Trưng Vương khung cửa mùa Thu – Thanh Lan

https://youtu.be/i3ZXI-NNC-s

Lan Hương chuyển tiếp

BỘ ẢNH MÁI TÓC DÀI

VÌ SAO CÁC BỨC TRANH “KHÓ HIỂU”

CỦA PICASSO LẠI ĐẮT GIÁ NHẤT ?

Tranh của Picasso khiến cho những người không am hiểu hội họa cảm thấy khó hiểu, ấy thế mà chúng lại có giá đắt bậc nhất thế giới. Cùng với tranh của Van Gogh, tranh của danh họa Picasso trở thành người sở hữu nhiều bức họa đắt giá nhất thế giới.

Điều đáng nói là đối với nhiều người tranh của ông có vẻ như “không đẹp” đến mức có thể lên giá trị cao như vậy. Hãy cùng khám phá lý do khiến những bức họa khó hiểu này đắt giá như vậy.

Một vài điều về Picasso

Picasso được coi là một trong những nghệ sĩ nổi bật nhất của thế kỷ 20, ông cùng với Georges Braque là hai người sáng lập trường phái lập thể trong hội họa và điêu khắc.

Ông là một trong 10 họa sĩ vĩ đại nhất trong top 200 nghệ sĩ tạo hình lớn nhất thế giới thế kỷ 20 do tạp chí The Times, Anh, công bố. Ông thọ 92 tuổi, là danh họa với phong cách vẽ trải qua rất nhiều trường phái – phong cách nghệ thuật, từ Hiện thực, Ấn tượng, Dã thú đến Biểu hiện, Lập thể, Siêu thực v.v… trường phái nào ông cũng đều thử sức và thành công.

Phần lớn nghệ thuật của ông được đồng nghiệp tán thưởng và khâm phục vì tạo hình đột phá, kỹ thuật hoàn hảo, biểu cảm mãnh liệt… Ông giao tiếp rộng rãi, lại vẽ liên tục nên nhiều tác phẩm sớm được lăng xê và sớm được đông đảo công chúng biết tới. Ông hình thành khả năng nghệ thuật từ rất nhỏ do cha mình (cũng là một họa sĩ) hướng dẫn và định hướng.

Picasso từng nói: “Người ta nói rằng tôi có thể vẽ giỏi hơn Raphael và có lẽ họ nói đúng. Có khi tôi còn vẽ giỏi hơn” (Gertrude Stein ghi lại lời Picasso).

Sinh thời, Picasso thực hiện khoảng 50.000 tác phẩm, bao gồm gần 2.000 bức tranh, hơn 1.200 bức điêu khắc, gần 3.000 tác phẩm gốm, 12.000 bản vẽ, hàng nghìn bức tranh in từ những bản khắc…

Mỗi tác phẩm của Picasso khi xuất hiện trên thị trường đều có giá triệu đô cho tới trăm triệu đô. Hiện tại, tác phẩm của ông vẫn đang nắm giữ kỷ lục “bức tranh được trả giá cao nhất trong lịch sử đấu giá”.

Picasso và trường phái độc đáo của mình

Được xem là “bậc thầy hư hỏng” với sự nghiên cứu hàn lâm nghệ thuật tinh thông, ông trở thành người phá cách, với ý tưởng đi tìm một con đường mới, con đường của nghệ thuật hiện đại.

Picasso trở thành người tiên phong của một trường phái nghệ thuật do chính mình sáng lập. Ông đi con đường của riêng mình, không giống ai và trở nên khác biệt.

Nếu như để xây dựng một còn đường, một trường phái cần rất nhiều bàn tay. Ở thời Phục Hưng những bậc thầy như Leonardo da Vinci, Michael Angello. Raffael,… và rất nhiều họa sĩ khác cũng nhau xây dựng nên.

Thì hội họa đương đại lại mang tính cá nhân, phá cách,… mà Picasso chính là người đầu tiên làm được. Một cậu bé chỉ mới 16 tuổi đã chống lại lối vẽ cổ điển hàn lâm, đi ngược lại con đường của các bậc thầy, Đi tìm cho mình một lối đi riêng, do đó tranh của ông còn mang tính cá nhân rất cao.

Nhưng có phải ông là kẻ cứng đầu và thiển cận, trước khi lựa chọn lối đi này ông đã dày công học hỏi, nghiên cứu của nhiều trường phái của nhiều bậc thầy.

Hơn nữa Picasso muốn phá vỡ mọi qui cách, ước lệ ở thời đó,một sự hoà nhập phi thường cho một cá tính riêng biệt và đưa dẫn những hoạ nhân khác đổi mới tư duy để cùng nhau hội nhập một thời đại mới dưới nhiều sắc thái khác nhau.

Picasso là một nghệ nhân riêng biệt; ông không lệ thuộc vào một điều kiện nào cả, ông tránh xa những hình ảnh có tính truyền thống. Picasso sống ngoài tầm nhìn xã hội, phá vỡ mọi hình thức cưỡng chế của nền luân lý cố hữu.​

Leonard Da Vinci từng nói  : “Khi trau dồi nghệ thuật,phải học cho đúng kỷ thuật căn bản trước, nhưng khi học xong rồi thì từ từ quảng cái căn bản đó đi”. Picasso đã tìm hiểu rất kỹ lưỡng những thứ căn bản và rồi ném nó để trở thành người đặc biệt của hội họa hiện đại.

Ông chính là “Einstein” của giới hội họa, những điều ông làm có lẻ phải rất lâu sau chúng ta mới có thể hiểu được như những gì Einstein từng làm vậy.

Huyền thoại làm tăng giá bức tranh

Bán một bức tranh không đơn giản chỉ vì giá trị nghệ thuật của nó, còn rất nhiều yếu tố khác chi phối khiến giá trị bức tranh đó “đội giá” một cách khủng khiếp. Ví dụ như tranh Van Gogh, đương thời chúng không được đánh giá cao và rất khó bán khiến cuộc sống của ông vô cùng bần hàn.

Mãi sau khi danh hoạ này chết thì cuộc đời chìm nổi, sóng gió và quyết liệt vì lý tưởng nghệ thuật của ông mới làm xúc động hàng triệu người. Số phận bi thảm bao nhiêu thì tranh của ông sau này đắt giá bấy nhiêu bởi các nhà tỷ phú quyết tâm dốc hầu bao mua bằng được nhằm thoả mãn cơn khát: Nghệ thuật + huyền thoại + sự xả thân vì lý tưởng nghệ thuật cao cả.

Với Picasso cũng gần như vậy. Ông là huyền thoại của lối sống tự lập, đi lên từ nghèo khó, với niềm đam mê mãnh liệt, sức sáng tạo vô bờ bến và còn được công chúng yêu thích nghệ thuật biết tới bởi những rắc rối về đời sống tình ái của ông.

Những bức họa không thể sao chép

Khác với các loại hình nghệ thuật khác như văn thơ, nhạc, kịch,.. chúng có thể được sao chép, diễn đi diễn lại, chơi bằng nhiều nhạc cụ khác nhau. Riêng đối với hội họa, chúng là duy nhất ! Bức họa đó được sáng tạo chỉ duy nhất một lần bởi một họa sĩ, dù cho có sao chép cũng chỉ là “đồ nhái” và không thể đạt tới mức độ của các bậc thầy.

Chính vì tính độc bản, có một không hai nên những bức tranh kiệt tác càng trở nên có giá trị khi ai đó sở hữu nó, không ai có thể có được.

Một gia tài cho hậu thế

Đa số các kiệt tác hội họa lại không nổi tiếng lúc đương thời khi tác giả còn sống, nhiều khi tác giả còn không thể bán tranh của mình. Thế nhưng trớ trêu thay sau khi họ mất đi, những bức tranh của họ lại có một cái giá mà có lẽ bản thân họa sĩ cũng “không thể tin nổi” nếu biết được.

Những nhà sưu tập tranh ban đầu cũng thường mua chúng với cái giá khá “bèo” nhưng theo thời gian chúng lại có thể bán đấu giá với giá trị cao ngất ngưỡng. Và những người kế thừa bức tranh sau này lại càng sỡ hữu tác phẩm giá trị tăng theo thời gian.

Một “món thừa kế” mà những người đi trước để lại cho con cháu. Do đó càng làm tăng mong muốn sở hữu “con gà đẻ trứng vàng” này. “Một vốn bốn lời” và cứ thế tăng theo thời gian.

Ví dụ : Bức “Cậu bé cầm tẩu thuốc” được hai vợ chồng ông Whitney mua từ năm 1950 với giá 30.000 USD để hôm nay đạt giá 104 triệu USD. Hai ông bà Witney là những nhà từ thiện lớn, từng có địa vị xã hội cao – tên tuổi của họ một lần nữa tăng thêm huyền thoại cho bức tranh, mà huyền thoại ở đây lại có thể quy ra tiền. (Hoa Hướng Dương theo Trí Thức Trẻ)

Lan Hương chuyển tiếp

NGẮM BỘ ẢNH

MÁI TÓC DÀI NHẤT VIỆT NAM

Nhiếp ảnh gia Trần Bích là người đam mê chụp ảnh sen, nhưng bị cuốn hút bởi mái tóc dài của cô Hoàng Thị Lan nên đã từ Sài Gòn ra Thái Bình chụp bộ ảnh về mái tóc đặc biệt này.

Tác giả thừa nhận có chịu ảnh hưởng từ nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi (1907 – 1992), nhưng bộ ảnh của ông ra đời xuất phát từ tình yêu vẻ đẹp mềm mại, cổ điển bộc lộ qua mái tóc dài người phụ nữ Việt Nam. Nhiếp ảnh gia Trần Bích được biết như một người chỉ thích chụp ảnh sen và không gì khác ngoài sen. Ông từng xác lập kỷ lục triển lãm và chụp sen nhiều nhất Việt Nam.

Trong lần trò chuyện, người bạn giới thiệu ông về một người phụ nữ cũng từng xác lập kỷ lục Việt Nam: cô Hoàng Thị Lan, quê Thái Bình – người phụ nữ sở hữu mái tóc dài 2.4m – được ghi nhận có mái tóc dài và thẳng nhất Việt Nam

Trần Bích kể tuy toàn tâm toàn ý chụp sen, nhưng ông bị thu hút bởi vẻ đẹp của mái tóc dài của cô Hoàng Thị Lan nên đã tìm về Thái Bình để chụp bộ ảnh. “Trước đây ông Phạm Văn Mùi từng chụp bộ ảnh tóc dài quá nổi tiếng. Chính vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua mái tóc dài của người phụ nữ Việt Nam làm tôi muốn ghi lại những hình ảnh này”.

Tuy nhiên, Trần Bích cũng khiêm tốn nói về bức ảnh của mình: “Thật ra chụp ảnh về người không phải là sở trường của tôi lắm. Tôi chụp vì thích và  muốn chia sẻ với mọi người về vẻ đẹp bộ tóc dài của cô Lan thôi !”.

 Trong khi đó, bộ ảnh tóc dài của nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi được chụp vào thập niên 1960 của thế kỷ trước. Người mẫu trong bộ ảnh là chị em bà Nguyễn Tú Loan, Nguyễn Tú Quỳnh, vốn là bạn của bà Phạm Vân Loan – con gái của nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi và là vợ của TS sử học Nguyễn Nhã.

Bà Phạm Vân Loan với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cũng là con em chú bác ruột, là dòng dõi của Phạm Thận Duật (1825 – 1885), một đại thần nổi tiếng thời Nguyễn.

Trong lúc chơi cùng bà Phạm Vân Loan, chị em bà Nguyễn Tú Loan, Nguyễn Tú Quỳnh được ông Phạm Văn Mùi đề nghị chụp bộ ảnh mái tóc dài – bộ ảnh nổi tiếng của ông. Và dưới đây là những bức ảnh nổi tiếng của nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi.

CỐ NGHỆ SĨ NHIẾP ẢNH PHẠM VĂN MÙI

QUA HỒI ỨC CỦA CON GÁI

Là một trong những bậc đại thụ của nhiếp ảnh đen – trắng Việt Nam, cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi(1907 -1992) đã để lại một khối lượng lớn tác phẩm cũng như những kinh nghiệm, bài học rất có giá trị về nghệ thuật nhiếp ảnh. Dù rằng, giờ đây, ảnh đen – trắng không còn phổ biến nhưng người mê ảnh và học chụp ảnh vẫn thích tìm về giá trị của nó.

Nhân dịp đầu xuân, tôi gặp bà Phạm Vân Loan, ái nữ thứ năm trong 7 người con của ông, nghe những dòng hồi tưởng về người cha, người nghệ sĩ mà bà suốt đời trân trọng, yêu thương, kính phục.

Trò chuyện với con gái cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi tôi cảm nhận bà vẫn còn nhiều chất của phụ nữ Hà Nội xưa dù rằng bà đã cùng gia đình di cư vào Nam từ năm 1954. Hồi ức của bà cứ xen giữa hiện tại và quá khứ, nó không theo một dòng mà là những lát cắt thời gian và không gian về người bố đáng kính.

Cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi có 7 người con thì chỉ duy nhất bà Vân Loan sống ở Việt Nam. Đã mấy bận tôi ghé nhà lưu niệm của cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi để gặp TS Nguyễn Nhã (con rể nghệ sĩ Phạm Văn Mùi) phỏng vấn về vấn đề Hoàng Sa- Trường Sa, về hành trình xây dựng Bếp Việt do ông nguyên là Viện trưởng Viện nghiên cứu ẩm thực Việt Nam. Những lần ấy, các bức ảnh đen – trắng của cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi trên bức tường như mê hoặc và tôi quyết định gặp bà Phạm Vân Loan.

Bố tôi”, bà bắt đầu hành trình cảm xúc, “ông rất thương yêu con cháu, chăm sóc từng li từng tí một, dạy từ cách cầm bút, cầm đôi đũa, cách đánh răng; còn mẹ tôi thì dạy nữ công gia chánh, là hình ảnh người phụ nữ “công, dung, ngôn, hạnh” mà tất cả 5 chị em gái chúng tôi đều ảnh hưởng những tính cách của bà cụ”. Cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi sinh tại thành phố Nam Định, nguyên quán làng Đông Ngạc (làng Vẽ), tỉnh Hà Đông, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Sau khi học trường Nam Định, ông làm việc tại Nông Phố Ngân Hàng Nam Định, sau trở thành một chuyên gia và thầy dạy kế toán giỏi tại Nông Phố Ngân Hàng ở Nam Định và Bộ Tài Chánh, sau đó làm tại Nông Tín Cuộc ở Sài Gòn. Ông cũng là người rất có khiếu về nhiếp ảnh và hội họa, đặc biệt là vẽ chân dung vì ông từng là học viên dự thính cùng lớp với họa sĩ Nguyễn Gia Trí của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội.

Là bậc thầy tài ba về kỹ thuật phòng tối, chính công thức tráng phim hai nước thuốc để trị độ tương phản do ông khám phá thời cuối thập niên 50 thế kỷ trước đã được áp dụng vào bộ ảnh “mái tóc”, đem về hàng chục huy chương nổi tiếng trên thế giới. Nổi tiếng nhất trong di sản nhiếp ảnh của nghệ sĩ Phạm Văn Mùi phải kể đến các bộ ảnh “Đôi dòng thác (1961), “Duyên dáng” (1962), “Tâm tư” (1963)… với hình ảnh những thiếu nữ trong bộ áo dài truyền thống, mái tóc mượt mà chấm gót tạo nên vẻ đẹp nền nã, hoài cổ của phụ nữ Việt Nam thời xưa. Không những thế, nghệ sĩ Phạm Văn Mùi còn là người thầy rất tận tâm với học trò, không bao giờ giấu nghề mà luôn truyền đạt tất cả cho các thế hệ học trò, “Bố tôi luôn nói với học trò mong học trò mình phải thành đạt hơn mình và ông quan niệm “Nghệ sĩ nhiếp ảnh cần nhất là cái nhìn, tâm hồn thì mới tìm được tác phẩm hay, đặc sắc”, bà Loan chia sẻ.

Chúng ta đều biết là đầu thế kỷ XX, kỷ thuật nhiếp ảnh ở Việt Nam chưa phát triển nhưng cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi đã mê nó từ sớm. Vì thiếu phương tiện, nên thời đầu mê nhiếp ảnh, ông phải vây tấm màn xung quanh cái bàn để làm phòng tối và chui vào bên trong để in ảnh bằng đèn dầu. Bà Loan vẫn nhớ mãi về một người bố với tính cách kỹ càng, chỉnh chu, để săn được một bức ảnh có khi phải mất hàng giờ liền, canh từng tí một và chờ đúng khoảnh khắc cần chớp và nếu ảnh nào có lỗi là ông xé bỏ ngay chứ không để công bố rộng rãi ra ngoài. Đối với ông, trong công việc và cả trong nghệ thuật phải chỉnh chu, nghiêm túc, cẩn trọng và luôn cần sự hoàn hảo chứ không làm qua loa hay chơi chơi được.

Tôi bắt gặp sự tự hào rực sáng trong đôi mắt bà khi nói về bố mình, từng câu chuyện nhỏ, từng kỉ vật của nghệ sĩ Phạm Văn Mùi đều được bà lưu giữ cẩn trọng. Và bà cũng kể tôi nghe hai câu chuyện đáng nhớ trong cuộc đời của ông ngoài chuyện nhiếp ảnh, chuyện giải thưởng. Ấy là, năm 1981, nghệ sĩ Phạm Văn Mùi chuẩn bị đầy đủ đồ nghề đi săn ảnh cùng một nhóm nhiếp ảnh, hôm đó đến Nhà văn hóa Thanh Niên TPHCM vì mải trò chuyện với bạn bè, học trò, ông để túi xách máy ảnh ở một góc phòng, xong việc quay lại thì chúng đã không cánh mà bay. Cụ tiếc đứt ruột, thế là về nhà nói con cháu bán cái giải thưởng “Con Sò Vàng” mà cụ đã nhận trước đây. Nhưng gia đình giấu cụ không bán, bà Loan đưa ông cụ 5 chỉ vàng y nói đã đổi được để bố mua bộ máy ảnh mới.

Ông cụ thế đó, con cháu gửi ông tiền để mua, ông nhất quyết không chịu: “Cái gì của bố thì bố xài. Bố có cái gì thì bố dùng cái đó, bố chưa cần dùng tiền của các con”. Bà vui vẻ kể tiếp: “Trước ngày ông cụ đi Mỹ, học trò ảnh hỏi Con Sò Vàng bán ở đâu để họ mua về làm kỷ niệm, tôi bèn đem giải thưởng Con Sò Vàng đã cất bấy lâu đưa cụ coi. Cụ mới ngả người, bố cứ tưởng tụi con đã bán và lấy tiền cho bố mua máy ảnh rồi chứ”.

Không chỉ là nhà kế toán giỏi, nhà nhiếp ảnh giỏi mà ông còn là vận động viên bơi thuyền, chơi tennis rất cừ. Vì thế mà ông tự cứu được mình trong một lần té xuống rạch gần kênh Thị Nghè, chỉ vì né một người đi đường trên một chiếc cầu ván gỗ gập ghềnh không có thành cầu từ Tân Định về Phú Nhuận mà cả ông và chiếc xe đạp bị quăng xuống kênh. Con cháu hết hồn bảo sao bố té xuống lỡ có chuyện gì thì sao: “Bố té xuống sông thì bố bơi vào bờ chứ sao”, “ ông cụ trả lời tỉnh bơ vậy đó cô”.

Dù rằng trong 7 người con cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi, chỉ có một người theo nghiệp nhiếp ảnh nhưng tất cả những người còn lại đều mê ảnh, biết tự tặng cho mình, bạn bè và gia đình những bức ảnh đẹp. Là người sống bên bố gần trọn cuộc đời, bà Vân Loan nhiều lần giúp bố chấm lỗi trên các bức ảnh bằng bút lông với mực tàu, và bà cũng là cô con gái được ông cụ chọn làm người mẫu cho một số bức chân dung nên tình cảm bố con rất sâu sắc.

Nói về những tác phẩm của cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi, GS-TS Trần Văn Khê từng nói rằng: “Tôi như nghe thấy nhạc, đọc thấy thơ trong từng bức ảnh của Phạm Văn Mùi. Với những tấm ảnh đen trắng, đẹp như tranh thủy mặc, Phạm Văn Mùi lấy cái đơn sơ, giản dị để làm rung động lòng người… Những bức ảnh của Phạm Văn Mùi sẽ là bài học lớn cho các thế hệ nhà nhiếp ảnh hiện đại. Vì ngày xưa máy ảnh chỉ làm 20% công việc. Còn người cầm máy phải làm tới 80%. Nhưng bây giờ thì ngược lại”.

Ngoài ra, cố nghệ sĩ Phạm Văn Mùi còn là một nhà phê bình, biên khảo và lý luận sắc bén, một họa sĩ, một thi sĩ với lòng yêu quê hương nồng nàn. Năm 1991, khi qua Mỹ thăm con cháu chưa kịp quay về quê hương như ước nguyện thì ông mất tại California, đó quả là một sự nuối tiếc không chỉ cho bản thân ông mà còn cho gia đình và những học trò của ông.

Hơn 60 năm cầm máy với hàng trăm tác phẩm được sáng tác, nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, nhiều tác phẩm của ông bị thất lạc và năm 2007, gia đình và học trò ruột của ông là nghệ sĩ nhiếp ảnh Thu An đã dày công lựa chọn những tác phẩm tiêu biểu nhất trong sự nghiệp của nghệ sĩ Phạm Văn Mùi để in “Ảnh nghệ thuật Phạm Văn Mùi”. Những tác phẩm tiêu biểu này được trưng bày vĩnh viễn tại Nhà lưu niệm của cố nghệ sĩ ở Sài Gòn.

Ảnh hưởng từ bố nếp sống cẩn thận, nguyên tắc, chỉnh chu và tính cách thành thật, trung thực, không giấu nghề, bà Phạm Vân Loan (vợ của TS sử học Nguyễn Nhã) giờ là chuyên gia ẩm thực món ngon Hà Nội, cùng chồng tiếp tục sứ mệnh hành trình xây dựng thương hiệu ẩm thực Bếp Việt. Cả hai ông bà đang sống và gìn giữ nhà lưu niệm cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Phạm Văn Mùi. Nơi để những nghệ sĩ nhiếp ảnh, công chúng yêu ảnh nghệ thuật đen – trắng đến thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật vang bóng một thời. (theo Thiên Thanh – petrotimes)

– Nhiếp ảnh gia Phạm Văn Mùi và các tác phẩm bất hủ

https://youtu.be/BuzeD2YqHAA

Nguyễn Văn Danh tổng hợp chuyển tiếp

TRANH BIẾM HỌA BÓC TRẦN

BẢN CHẤT CUỘC SỐNG NGÀY NAY

Có những góc khuất trong cuộc sống mà bất cứ ai cũng hiểu nhưng không phải ai cũng dám nói ra và càng không có đủ bản lĩnh để thay đổi những sự thật ấy.

Cuộc sống đang thay đổi từng ngày, ấy thế nhưng bên cạnh những điều tốt đẹp còn có biết bao nhiêu những góc khuất mà bất cứ ai cũng hiểu nhưng không phải ai cũng dám nói ra và càng không có đủ bản lĩnh để thay đổi những sự thật ấy.

H1: Phố phường thì ngày một đông đúc, ở đâu cũng chỉ trông thấy toàn người với người. Mỗi ngày chúng ta sẽ lại bắt đầu bằng việc chen lấn, xô đẩy nhau để đến trường học, đến nơi làm việc giống như những chú chuột chù ở dưới hố sâu.

H2: Xem TV là một hình thức giải trí phổ biến ngày nay cho mọi gia đình, mọi lứa tuổi. Ấy thế nhưng trên TV thực sự đang chiếu những gì ? H3: Động vật thì bị giết hàng loạt để phục vụ nhu cầu của con người H4: Vòng tuần hoàn của cuộc sống: Không có ai cho không ai thứ gì, anh muốn có được thứ này thì anh phải bỏ ra thứ khác

H5: Mọi thứ đều được qui đổi ra thành tiền, kể cả…trái đất! H6: Dù rằng ai cũng mong muốn có tiền để được hạnh phúc thế nhưng làm thế nào để có được tiền mà không rơi vào cạm bẫy mới thực sự là một câu hỏi không phải ai cũng trả lời được.

H7: Những người giàu luôn làm giàu thêm trên lưng của những người nghèo khó. Việc những người nghèo có thể làm là…chấp nhận. H8: Khi đối xử với nhau con người cũng cố che đi bản chất thật của mình. Họ sẽ mang những khuôn mặt khác nhau khi bước vào các mối quan hệ ngoài xã hội

H9: Công nghệ đã mang đến cho chúng ta những trải nghiệm tuyệt vời, ấy thế nhưng việc quá lệ thuộc vào nó đã vô tình biến chúng ta thành những kẻ nô lệ không hơn không kém. H10: Còn đây là những thứ mà chúng ta ăn hàng ngày với toàn những đồ ăn nhanh, đồ ăn nhiễm độc do dùng chất bảo quản và được gắn mác rất rõ ràng… “có thể gây chết người” H11: Đồ ăn nhanh có thể thấy ở bất cứ đâu… H12: Chính con người đang tự hủy hoại bản thân mình (tác giả: Steve CuttsHLT – Ohay TV)

Dung Dung chuyển tiếp

MỘT THOÁNG SAIGON

MỘT THOÁNG SAIGON

https://youtu.be/8ZHRDd-UVBc

Tôi như nhiều người không sinh ra tại Sài Gòn nhưng suốt học trình từ tiểu học lên đại học được sống với thủ đô của miền Nam, mà qua tên gọi mỹ miều là “Hòn Ngọc viễn Đông”. Tôi suy tư về nguồn gốc các danh từ Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông.

Theo sự truy nguyên, Sài Gòn thuở ban đầu là đất của người Khờ-me, là một làng đánh cá, có tên đầu tiên là Prey Nokor mà Prey là thánh thần (dieu, god) và Nokor là thành phồ hay đô thị (la ville; town, city), mang ý nghĩa là “thành phố thánh thần”.

Năm 1862, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, người Pháp đặt tên chính thức là Saigon. Lấy theo cách giải thích vì sao người Pháp gọi là “Saigon” do theo âm ngữ của người Tàu (Thầy Ngòn, Xi Coón) hay Miên ngữ “Prey Nokor”. Từ đó Saigon được Việt hóa là Sài Gòn.

Vì là thuộc địa của Pháp, thành phố được Pháp xây dựng rất tối tân, mới lạ, được xem là bậc nhất của vùng Đông Nam Á vào thời bấy giờ. Nên Pháp xem đó là Hòn Ngọc Viễn Đông (la Perle de l’Extrême-Orient, the Pearl of the Far East) hay theo sự ví von của người Pháp là Paris Phương Đông (Paris de l’Orient, Paris in the Orient) để ám chỉ là một thành phố giàu sang, lịch lãm của Pháp ở vùng Đông Nam Á.

Giả thuyết khác như theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ “Lũy Sài Gòn” (theo Hán Nho viết là “Sài Côn”). Đây là lần đầu tiên chữ “Sài Gòn” xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán – “Côn” – được dùng thế cho “Gòn”. Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Sài Gòn, không phải đợi đến năm 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị quân Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cống.

Dù sao thì Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông vẫn là một nơi quyến rũ, ấp ủ con tim bao thế hệ dù là gốc Âu hay Á. Trước khi tôi rời Sài Gòn vì biến cố chính trị 1975, những kỷ niệm lưu luyến với Sài Gòn hay Hòn Ngọc viễn Đông có nhiều lắm.

Thời sinh viên thuở ấy sao mà đẹp đẽ trong ngắn ngủi, thời gian trôi qua như cái chớp mắt mà nay đã gần 4 thập niên ly hương, nhìn lại thấy mình không còn trẻ của lứa tuổi hai mươi của Sài Gòn mộng mơ, không còn nữa kỷ niệm đêm đêm tản bộ hóng mát dọc theo bờ sông Sài Gòn, hướng mắt về mái nhà lồng bên kia là Thủ Thiêm từ bến đò, bến bắc, gió thổi mát rượi từ mé sông, không còn nữa kỷ niệm Sài Gòn mưa lãng mạn ta phải luồn lách những vũng nước không tên, trong cái giá lạnh khi lượn xe gắn máy chạy trong cơn mưa rào xối xả từ trời cao mà nước mưa bắn văng tung tóe.

Sài Gòn cũng đã chìm khuất vào dĩ vãng xa xôi, rồi khi kỷ niệm trở về chỉ còn lại những nỗi nhớ đáng yêu bằng nước mắt ấm đầy ắp những lưu luyến yêu thương trong tâm tưởng, đôi lúc âm thầm trở về, cơ hồ như Sài Gòn đã sống dậy mãnh liệt trong tiềm thức cũ, mãi mãi theo ta những nhờ nhung không nguôi như bài ca :

“Sài gòn bây giờ trời mưa hay nắng ?

Tà áo em bay theo giọt nắng vàng

Con đường ta đi giòng sông kỷ niệm

Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu dàng

Sài gòn bây giờ mưa giăng ngập lối

Hai đứa bên nhau âu yếm không rời

Đôi mắt yêu thương làn môi chờ đợi

Từng đợt mưa rơi.. bối rối bồi hồi

Sài gòn bây giờ lòng ai vương vấn

Mai anh đi rồi còn nhớ em không?

Đôi mắt nai tơ buồn xa vời vợi

Cơn gió vô tình đuổi lá vàng rơi

Sài gòn bây giờ có buồn không em?

Mưa vẫn rơi rơi.. từng giọt êm êm

Suối tóc thơm bay hương tình dịu nhẹ

Ngây ngất dạt dào con phố về đêm”

(Sài Gòn Niềm Thương Nỗi Nhớ của Võ Tá Hân, Trần Ngọc)

Sài Gòn gắn bó với tôi bắt đầu bằng những ngày thơ ngây thành phố như một chốn phồn hoa đô hội, người ta có thể bị choáng ngợp với một đô thị mang dáng vẻ tây phương như người con gái kiều diễm, kiêu sa, đài các, rồi cũng ở một góc nào đó Sài Gòn ủ dột của phố đêm, lầy lội của xóm nghèo, trong nét bình dân của tiếng rao hàng, những con kinh nước đen,…

Nhiều người sống với Sài Gòn, dù mưa hay nắng, ban ngày hay ban đêm, bận rộn tất bật hay nhàn rỗi rong ruổi với phố xá của nó. Thưởng thức những món ngon mà cả nhóm bạn tôi khoái khẩu nào là Mì Cây Nhãn, Mì Chú Hỏa, mì La Cay Nguyễn Tri Phương, hủ tiếu gà cá chợ cũ, hủ tiếu saté Lệ Thanh Chợ Lớn. Lề đường Sàigòn xưa có hàng me Nguyễn Du, có hàng sao cao vút khúc Võ Trường Toản, Trưng Vương.

Tôi nhớ rõ có những hàng phượng vĩ và hoàng điệp trong sân trường Petrus Ký, Sài Gòn có trường Gia Long với món bò bía, xe đậu xanh đậu đỏ; có trường Luật Khoa trên đường Duy Tân với xe nước dừa uống môi em ngọt; có trường Dược khoa, Văn khoa chạy về hướng bờ sông Sài Gòn có Bến Bạch Đằng,…  Sài Gòn có những quán kem, quán cà-fé, quán ăn vỉa hè,…

Những sinh hoạt bình dị có quán cơm Bà Cả Đọi, quán Bắc Bà Ba Bủn; để thưởng thức những món Sài Gòn sự khoái khẩu với hệ quả Pavlov cồn cào dạ dầy sau những buổi tan học ngày cũ bạn bè rủ nhau đi ăn hàng Sài Gòn. Tôi nhớ con hẽm kín đáo Casino Sài Gòn nào những bún chả, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Cổ Ngư; những gánh hàng rong, những xe bán thức ăn của khu Bàn Cờ, khu Nguyễn Thiện Thuật, Chợ Vườn Chuối, Chùa Kỳ Viên, Chợ Đũi,… xen kẻ trong trí nhớ có nhiều lưu niệm trong ký ức xưa, có những nhà hàng, những điểm hẹn hò như: Passage Eden, Casino Sài Gòn, Mini Rex, La Pagode, Pôle Nord, Givral, Brodard, khu thương xá Tax,…

Nhắc đến Sài Gòn có những nơi như Continental, Caravelle, Majestic,… Lề đường Saigòn còn có những gánh hàng rong. Thương nhớ làm sao kỷ niệm Sài Gòn có nước mía Viễn Đông có thịt phá lấu, có gỏi đu đủ gan cháy khô bò, có bánh bột chiên, có món bánh cay gần khu Chùa Chà Và mà nhà văn Thinh Quang nhắc tôi hôm nọ. Những thực khách của những nhà hàng sang trọng theo cung cách kiểu tây phương của Sài Gòn, nhưng rồi chính họ cũng là những giới hâm mộ thường trực tại các quán cóc trên vỉa hè Sài Gòn. Đó là những nét đặt thù của Sài Gòn, của người Sài Gòn, hay thuật ngữ phương tây “Saigonais”,  hoặc “Saigonese”.

Nhớ Sài Gòn, làm sao quên nỗi những góc phố, những con đường của nơi ấy nhỉ? Năm 1865, Phó đô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807 – 1876) đại diện cho chính quyền Pháp tiến hành việc đặt tên cho 26 con đường trên địa bàn của thành phố Sài Gòn mà trước đó chỉ được đánh số thứ tự. Trải qua hơn 300 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn đã có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu các tên đường thay đổi do yếu tố chính trị. Thời Pháp thuộc thì đường Tự Do  xưa của ta là đường Catinat; rồi Pháp đặt Charnerta cho tên đường Nguyễn Huệ, Pháp đặt tên đường Mac Mahon ta là Công Lý; và đường Bonard là Lê Lợi; đường Mossard là đường Nguyễn Du; đường mang tên Phó đô đốc HQ Pháp De La Grandlière ta thay bằng tên vua ta đường Gia Long; đường Paul Blanchy tên ta là Hai Bà Trưng), đường Mayer là tên vua ta đường Hiền Vương; và đại lộ Boulevard de la Somme phe ta đặt tên vua, đại lộ Hàm Nghi, nhà tôi ở đường mang tên tây D’Espagne tên ta là vua Lê Thánh Tôn,…

Những khách sạn thời Pháp thuộc tọa lạc ngay trung tâm Sài Gòn đã  là nhân chứng cho bao năm binh biến, vật đổi sao dời. Khách sạn Continental được các kiến trúc sư nổi tiếng của Pháp thiết kế và xây dựng vào năm 1880 và nay là khách sạn lâu đời nhất Việt Nam.

Continental từng đón tiếp nhiều nhân vật nổi tiếng như nhà thơ Nobel của Ấn Độ là Rabindranath Tagore; văn hào Pháp André Malreaux là tác giả của La condition humaine (Thân phận con người 1933), sau làm Bộ trưởng Văn hóa Pháp (1959-1969); văn hào Anh Graham Greene (tác giả của sách bestseller “The Quiet American” – Người Mỹ Trầm Lặng); cựu tổng thống Pháp Jacques Chirac, và nữ tài tử điện ảnh Catherine Deneuve (thủ diễn trong các phim đoạt giải điện ảnh Indochine, Le Dernier Métro, Belle de Jour),…

Chủ nhân đầu tiên của Continental là Pierre Cazeau, nhà sản xuất vật liệu xây dựng, sau bán lại cho Công tước De Montpensier. Chủ sau là Mathieu Francini. Ngoài ra, Continental còn có tên là “Radio Catinat”, nơi mà giới báo chí truyền thông tụ hội, trao dổi, thu nhặt tin tức thời sự “nóng” nhất, sai có, đúng có.

Nhà hàng kỳ cựu sau Continental là Majestic, thành lập năm 1925, nằm ở góc đường Catinat và Luro (sau là Cường Để) nhìn ra bờ sông Sài Gòn, do một thương nhân người Tàu giàu có và nổi tiếng nhất nhì Sài Gòn thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (tức chú Hỏa) xây dựng theo đồ án thiết kế của một kiến trúc sư người Pháp.

Suốt gần 90 năm tuổi của mình, Majestic đã đón tiếp nhiều nhân vật quốc tế, hay chính khách: Tổng thống Pháp Mitterrand, Thái tử Nhật Akishino, Thủ tướng Lý Hiển Long của Singapore, Thái tử Đan Mạch Henrick, Thái tử Anh Andrew, công chúa Thái Lan Maha Chakri Sring Dhorn,…

Các quán cà phê như La Pagode là nơi hội tụ của giới thơ văn, báo chí Sài Gòn một thuở như tụ quán Caffe Trieste nằm trên Vallejo Street (góc đường Grant) hướng bắc của phố San Francisco, chủ nhân là một người Ý di cư, nhưng quán cà phê nảy là nơi mà giới tao nhân mặc khách, những nghệ sĩ lui tới gặp gỡ nhau, nò là phòng hội của những nhà văn Lawrence Ferlinghetti, Alan Watts, Jack Kerouac, Allen Ginsberg, Richard Brautigan, Bob Kaufman, Gregory Corso, Michael McClure, Kenneth Rexroth, Neeli Cherkovski,… nhà thơ  nổi tiếng Jack Hirschman, nghệ sĩ Peter Le Blanc, Don Moses và nhiếp ảnh gia giải Pulitzer là Joe Rosenthal, rồi những Jimo Perini, Bill Cosby, Paul Kantner, Liam Mayclem, Joey Reynolds và Mal Sharpe,… Trieste còn là nơi thi sĩ gốc Nga giải Nobel văn chương Joseph Brodsky lui tới trau chuốt thơ của mình.

Còn nữa. Rồi ở góc phòng còn phảng phất bóng dáng của nhà đạo diễn nổi danh Francis Ford Coppola ngồi đọc và đánh bóng kịch bản phim “The Godfather” những năm 70.

Paris có Café de Flore, ở ngay ngã Tư của Boulevard Saint-Germain và đường St. Benoit, nơi gặp gỡ ngày xưa của văn và triết gia như André Breton, Françoise Sagan, André Malraux, Francois Mauriac, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Albert Camus,…

Cái chung của La Pagode của Sài Gòn, Caffe Trieste của San Francisco hay hay Café de Flore của Paris là những địa điểm tụ họp của giới văn hoá nghệ thuật, những nơi có lịch sử của chính nó.

“Nắng SàiGòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng…”

Sàigòn có thơ Nguyên Sa, có nhạc Ngô Thụy Miên, hỡi những ai đã từng đi dưới cơn nắng của Sài Gòn, bạn còn nhớ chứ ?

Nhà thơ Vũ Uyên Giang cho bài thơ nhớ Sài Gòn xưa, Sài Gòn nhớ nắng, nhớ mưa :

Nhớ quá Sàigòn của thuở xưa

Ta từ Bưu Điện bước ngang qua

Nhà thờ Đức Mẹ nằm im lặng

Con phố Hàn Thuyên nắng nhạt nhòa

Nhớ đến Sàigon một thuở xưa

Buổi chiều nhạt nắng lại rơi mưa

Gọi thầm khe khẽ tên ai đó

Đất khách trong lòng đang đổ mưa.”

 (Lê Sáng chuyển bài Việt Hải)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG ĐẤT NƯỚC CÓ NHIỀU

NGƯỜI ĐẸP NHẤT CHÂU Á

Phụ nữ ở đâu cũng đều xinh đẹp, nhưng tại các quốc gia này tỉ lệ bắt gặp những mỹ nhân thường cao hơn.

Tờ The Toptens đã mở ra một cuộc bình chọn để tìm ra những quốc gia nào ở châu Á sở hữu nhiều người đẹp tự nhiên nhất thông qua sự bình chọn của cư dân mạng. Tới hiện tại, cuộc bình chọn đã nhận được hơn 9000 lượt vote với vô vàn bình luận của độc giả để cùng nhau tìm ra 10 quốc gia may mắn sở hữu nhiều cô gái xinh đẹp tự nhiên nhất trong tổng số 42 quốc gia được đề cử.

1/. Philippines : Chiếm 20% trong tổng số lượt bình chọn đã giúp Philippines bứt phá, vươn lên dẫn đầu trong cuộc đua. Những năm gần đây, Philippines dần trở thành “cường quốc hoa hậu” với nhiều cái tên lần lượt lên ngôi ở các cuộc thi sắc đẹp đình đám thế giới. Thậm chí, ở đất nước này có cả một ngành công nghiệp chuyên đào tạo hoa hậu, giúp các cô gái có được phong thái quyến rũ, bước đi uyển chuyển hút hồn. Vẻ đẹp Philippines thường là sự hòa trộn giữa nét đẹp phương Đông và dòng máu phương Tây, toát lên sự sexy, khỏe khoắn.

H1: Mỹ nhân đẹp nhất Philippines giành số phiếu bình chọn nhiều nhất.

2/. Nhật Bản : Các cô gái xứ Phù Tang sở hữu vẻ đẹp tự nhiên rất riêng, vừa ngây thơ lại vừa quyến rũ. Rất nhiều người đẹp Nhật được xem là biểu tượng sắc đẹp, “thánh nữ” trong mắt mày râu như Kitagawa Keiko, Nozomi Sasaki, Misaki Ito, Reon Kadena… Ở Nhật cũng có rất nhiều cô gái lai với gương mặt đáng yêu như búp bê. Đa số những lời bình luận đều ca ngợi không chỉ vẻ đẹp ngoại hình mà còn cả tài năng của con gái Nhật Bản.

H2: Nhắc đến những mỹ nhân đẹp nhất Nhật Bản thì không thể không nhắc Kitagawa Keiko.

3/. Trung Quốc : Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới Trung Hoa khi thống kê những quốc gia sản sinh ra những nữ thần sắc đẹp tự nhiên. Vẻ đẹp của phụ nữ Trung Quốc là vẻ đẹp đậm chất truyền thống với các đường nét nhỏ nhắn, yêu kiều. Trong khi phái đẹp Hàn, Nhật thường toát lên nét đẹp dễ thương thì con gái Trung lại đẹp kiểu thùy mị, trưởng thành. Con gái Trung cũng rất thích để tóc đen cổ điển.

Vị trí thứ 4 trong BXH của Trung Quốc có vẻ khiến nhiều người không đồng tình, mà kì vọng ở một vị trí cao hơn:

H3: Lưu Diệc Phi à một trong những nhan sắc không tuổi được ngưỡng mộ nhất xứ Trung.

4/. Hàn Quốc : Làng giải trí xứ Hàn luôn ngập tràn các mỹ nhân sở hữu vẻ mặt thiên thần khiến các fan phải mê mẩn. Thế nhưng, hầu như công thức chung dành cho những khuôn mặt đình đám ấy đều nằm ở cụm từ “phẫu thuật thẩm mỹ”. Công thức này phổ biến trong showbiz xứ Kim chi đến mức, bất cứ cô nàng/anh chàng nào có vẻ đẹp hoàn hảo là đều bị đem lên bàn cân soi xét mổ xẻ quá khứ trước khi được “hô biến” thành thiên nga.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng Hàn Quốc thiếu đi những sao có nhan sắc tự nhiên mà vẫn đủ sức tỏa sáng giữa rừng những nhan sắc nhân tạo. Và họ vẫn đẹp lên hàng ngày nhờ sự hoàn thiện bản thân và phong cách chứ không chỉ nhờ “dựa dẫm” vào dao kéo.

H4: “Mỹ nữ đẹp nhất Hàn Quốc” Kim Tae Hee

5/. Đài Loan : Các cô gái Đài Loan nổi tiếng là có làn da trắng hồng rạng rỡ, vẻ đẹp tự nhiên không cần dao kéo. Nhiều người đẹp Đài Loan như Thư Kỳ, Thái Y Lâm, Lâm Y Thâm… luôn nằm trong danh sách những ngôi sao khiến mày râu “khao khát” nhất.

Có lẽ cũng vì vậy mà đa số bình luận về những cô gái Đài Loan luôn đến từ các quý ông:

H5: Thư Kỳ cũng được xem là một trong những cô gái đẹp nhất nhì Đài Loan.

6/. Ấn Độ : Phụ nữ Ấn Độ có sự pha trộn hoàn hảo của vẻ đẹp và sự quyến rũ – điều hiếm thấy ở những đất nước khác. Với làn da nâu và đôi mắt sâu đặc biệt, phụ nữ Ấn Độ luôn cuốn hút mắt nhìn. Họ là đại diện của vẻ đẹp phương Đông thâm trầm, duyên dáng, kết hợp hoàn hảo với nét sexy toát lên từ ánh mắt trong veo và bí hiểm.

H6: Hoa hậu Ấn Độ 1994 Aishwarya Rai Bachchan còn được xem là “hoa hậu đẹp nhất thế giới”.

7/. Indonesia : Các người đẹp Indonesia thường xuyên đạt thứ hạng khá tốt khi chinh chiến ở các đấu trường sắc đẹp, đặc biệt là gần đây, Hoa hậu Hòa bình Quốc tế 2016 cũng là người Indonesia. Phụ nữ đất nước này mang vẻ đẹp lai, khỏe khoắn và quyến rũ, lại gây ấn tượng với bạn bè bốn phương bởi những đường nét hài hoà và tự nhiên:

H7: Ariska Putri Petriwi là hoa hậu Indonesia đầu tiên đạt danh hiệu Hoa hậu Hòa bình Thế giới vào năm 2016.

8/. Malaysia : Malaysia nổi tiếng với nhiều hot girl gây bão mạng khắp châu Á. Các cô gái đất nước đang phát triển này sở hữu vẻ đẹp năng động, đáng yêu. Họ cũng được biết đến như một quốc gia thiên về vẻ đẹp tự nhiên, ít dao kéo.

H8: Chloe Leong là hot girl số một tại đất nước Malaysia

9/. Thái Lan : Mỹ nhân Thái Chompoo Araya vốn là gương mặt thân quen với khán giả Việt

Nhắc tới Thái Lan ngày nay, người ta thường hay gợi nhớ tới xứ sở của Phật giáo và là “thiên đường” với những người chuyển giới. Thế nhưng, Thái Lan còn là một trong những cái nôi sản sinh ra những mỹ nhân tự nhiên vô cùng xinh đẹp và quyến rũ. Vẻ đẹp của phụ nữ Thái Lan từ lâu đã được xem là biểu tượng của mà nhiều cô gái hướng đến.

Rất nhiều diễn viên, người mẫu xứ Chùa Vàng được hâm mộ vì có sắc vóc quyến rũ, nét đẹp pha trộn giữa sự e ấp phương Đông và vẻ nóng bỏng phương Tây. Những năm gần đây, Thái Lan cũng thường xuyên làm nên chuyện ở các cuộc thi sắc đẹp quốc tế.

H9: Mỹ nhân Thái Chompoo Araya vốn là gương mặt thân quen với khán giả Việt  (Bùi Zín theo The thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

GIÀNH GIẢI TRANG PHỤC ĐẸP NHẤT 

NHỜ MẶC BỘ VÁY ‘TRÁI SẦU RIÊNG’

Dù chỉ nhận được danh hiệu Á hậu 3 do lùm xùm ‘váy nhái’, Aoom Thaweeporn vẫn kịp bỏ túi giải thưởng Best National Costume của Miss Grand Thailand 2017.

Đêm chung kết Hoa hậu Hòa bình Thái Lan đã diễn ra gay cấn và sôi nổi tại sân vận động Indoor Stadium Huamark, Bangkok, Thái Lan tối 8/7/2017 do nước này là “cái nôi” của cuộc thi nhan sắc thuộc Top 5 thế giới. Kết quả, cô gái 23 tuổi Pamela Pasinetti, Miss Grand Krabi, đã vượt qua 77 người đẹp trên khắp các tỉnh thành của Thái Lan đoạt vương miện Miss Grand Thailand 2017.

Theo ban tổ chức, Pamela Pasinetti mang hai dòng máu Thái Lan và Ý. Tân hoa hậu năm nay 23 tuổi, cao 1,75m, thông thạo 3 thứ tiếng: Thái, Anh, Ý. Cô cũng sẽ đại diện cho Thái Lan trong cuộc thi Hoa hậu Hòa bình Quốc tế 2017 sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 10 tới.

Á hậu 1 là Chatnalin Chotjirawarachat, Miss Kamphaeng Phet và Á hậu 2 thuộc về Sarucha Nilchan, Miss Prachuap Khiri Khan. Gây nhiều tiếc nuối có lẽ là thí sinh giành giải Á hậu 3 Aoom Thaweeporn, Miss Chanthaburi. Cô từng được kỳ vọng cho vị trí cao nhất nhưng sát ngày chung kết vướng phải lùm xùm mặc váy nhái một thương hiệu thời trang quốc tế. Điều này khiến Aoom Thaweeporn dừng chân ở vị trí thứ tư.

Tuy nhiên trang phục sáng tạo từ trái sầu riêng, trái cây nổi tiếng ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Thái Lan nói riêng đã giúp người đẹp giành Best National Costume. Phần thi trang phục dân tộc cũng là điểm mạnh của Miss Grand Thailand 2017, cho thấy nước này là đối thủ nặng đáng gờm khi sang Việt Nam tranh tài vào tháng 10 tới.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

MƠ ƯỚC CỦA NS LAM PHƯƠNG

MƠ ƯỚC CỦA NS LAM PHƯƠNG :

‘CÓ MÔT NGƯỜI BẠN ĐỂ HỦ HỈ’

Tối Thứ Bảy, 24/6/2017, tại Hội trường báo Người Việt diễn ra chương trình văn nghệ “Lam Phương- 80 cuộc đời, 65 năm âm nhạc” thu hút đông đảo khán giả thuộc nhiều thế hệ đến xem.

Nhân dịp này, phóng viên Ngọc Lan đã có cuộc phỏng vấn “chớp nhoáng” với nhạc sĩ Lam Phương để nghe ông chia sẻ những buồn vui trong cuộc đời của người nhạc sĩ tài hoa. Đặc biệt là niềm mơ ước rất thú vị của ông ở tuổi 80.

Ngọc Lan (NL) : Khi nãy nhìn thấy chú Lam Phương vừa ngồi vừa coi những video clip, có lẽ là những bài hát của chú. Mỗi lần ngồi xem ca sĩ trình diễn các ca khúc của mình như thế thì cảm xúc của chú như thế nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Chắc chắn là rất cảm động, nhất là những bài hát mình viết, nghe để nhớ lại lúc mình sáng tác nó như thế nào.

NL: Chương trình ca nhạc, những ca sĩ hầu hết không phải chuyên nghiệp hay trên một sân khấu lớn, mà chú vẫn có mặt để tham dự. Chú nghĩ gì về việc có mặt ở đây để tham dự một chương trình đơn giản như vậy ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đối với tôi, việc đi dự những buổi nhạc chuyên nghiệp quen rồi. Nhưng tôi vẫn muốn làm điều gì để nâng đỡ đàn em sau này. Cho nên hy vọng sự hiện diện của tôi sẽ giúp cho các cháu ngày sau sẽ tiến lên.

NL: Chú bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình như thế nào  Giống như là năng khiếu bẩm sinh hay xuất phát từ điều gì để đi đến sáng tác đầu tiên của chú ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Tôi sáng tác rất sớm, khi mới có 15 tuổi. Đây này là năng khiếu tự nhiên của mình. Lúc đó tôi còn đi học, thức đêm thay vì học bài mình lại có đầu óc sáng tác. Lúc trời khuya dễ có cảm hứng lắm.

NL: Khi sáng tác ra bài nhạc đầu tiên, chú đưa cho ai hát ? Làm sao để người ta biết đến tên của nhạc sĩ Lam Phương ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Khổ lắm cháu ơI ! Cái gì khi bắt đầu cũng khó. Khi viết bài đầu tiên đâu có ai biết mình là ai, thành ra mình phải đi đến gặp họ, trình bày bài của mình cho họ biết, rồi họ kêu mình hát, dù hát không được cũng cố gắng hát cho họ nghe, nghe được rồi họ mới chịu hát bài của mình, chứ không có dễ đâu.

NL: Khoảng bao nhiêu lâu sao bài hát đầu tiên của chú thì người ta bắt đầu biết đến tên nhạc sĩ Lam Phương ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Bài đầu tiên là bài Chiều Thu Ấy, tôi làm lúc 13 tuổi. Đến năm 15 tuổi mới tung ra mà đâu ai mua, trong khi không có tiền, phải đi mượn tiền để in bài đó. Phải bán cả năm sau mới lấy vốn được. Cũng gian nan lắm !

NL: Phải mấy năm sau sự gian nan đó thì tên tuổi Lam Phương mới được người ta chú ý đến ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Hai năm sau. Bài đầu ít người biết lắm, sau này đến bài thứ nhì thì người ta mới biết nhiều, là bài “Nhạc Rừng Khuya,” giai đoạn tôi viết nhạc về quê hương đó, thì lúc đó phong trào mới nổi lên, và người ta mới biết đến tên tôi.

NL: Và khi tên tuổi nhạc sĩ Lam Phương được người ta biết đến nhiều, thì chuyện sáng tác của chú làm ra để đưa đến ca sĩ hay làm ra băng đĩa bán trở nên dễ dàng hơn rất nhiều phải không ạ ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đúng rồi, dễ dàng hơn lúc đầu nhiều lắm, vì người ta đã biết tên mình thì người ta tin tưởng bài mình. Lúc đó mình không cần năn nỉ nữa mà người ta tìm đến mình xem có bài mới không là họ hát.

NL: Trong số những ca sĩ đã trình diễn các sáng tác của chú, chú cảm thấy ưng ý nhất là ca sĩ nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Cũng khó so sánh, vì tôi viết nhiều loại nhạc lắm, mỗi một loại nhạc có một số ca sĩ riêng, như nhạc quê hương thì có Hương Lan, Mai Thiên Vân, nhạc tình thì có Khánh Hà, Ý Lan, thành ra mình không so sánh được, mỗi ca sĩ chuyên về một loại nhạc, mình không đem ca sĩ hát loại nhạc này với ca sĩ hát loại nhạc khác.

NL: Về bài hát “Chiều Tây Đô,” chú Lam Phương có thể cho biết là chú sáng tác bài đó trong hoàn cảnh như thế nào để có thể nói lên nỗi niềm tâm sự của nhiều người như vậy?

Nhạc sĩ Lam Phương : Trước tiên, tôi không phải là người sanh dưỡng tại Cần Thơ, mà tôi sanh ở Rạch Giá. Nhưng tôi có một người bạn, người bạn đó nói “Sao anh viết cho mọi người được mà anh không viết cho em được? Em ở Tây Đô.” Chính vì vậy mà tôi viết bài “Chiều Tây Đô.”

NL: Còn bài hát “Một Mình” thì sao ạ ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Thường những bài hát tôi sáng tác là tôi có một hoàn cảnh riêng của mình. Tôi viết bài đó lúc thôi bà vợ thứ hai, thứ ba, sống một mình. Sống một mình thì tình cảm cô đơn lắm. Tối tôi nằm một mình thấy tình cảnh mình cô độc quá mới viết bài “Một Mình,” đó là hoàn cảnh thật.

NL: Chú viết từ năm 13 tuổi, đến 15 tuổi thì tung sáng tác đầu tiên ra, cho đến bài cuối cùng là lúc chú bao nhiêu tuổi?

Nhạc sĩ Lam Phương : Tôi bệnh là năm 62 tuổi, tức năm 1999. Bốn năm sau, tức 2003, tôi viết bài cuối cùng là “Hạnh Phúc Mang Theo” lúc đó tôi nghĩ mình sắp chết rồi. Tôi nghĩ khi mình chết thì tất cả những kỷ niệm mình mang theo mình, để cho người sống ở lại không nhớ tới để mà buồn, tôi mang theo tất cả.

NL: Mặc dù trải qua một cơn bạo bệnh như vậy và có lúc đã nghĩ là mình không còn sống được lâu, nhưng đến bây giờ đã là 19 năm rồi, mà mỗi lần chú xuất hiện đều trong một thần thái rất là lạc quan, rất là vui. Làm sao chú có được điều đó ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Nhờ vậy mà sống lâu đó cháu. Giờ 80 rồi. Tôi nghĩ giờ mình có buồn cũng vậy thôi, tại sao mình không vui để hưởng những ngày cuối cùng của mình cho nó êm đẹp.

NL: Người ta thường nói, người nhạc sĩ, hay thi sĩ cũng vậy, khi họ sáng tác, thường có những tâm sự buồn hay khi xung quanh có những tác động mang tính buồn, tiêu cực thì sáng tác của họ hay hơn. Thì điều đó có đúng không ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Phần đông là như vậy. Nhưng riêng tôi thì tôi viết trong mọi hoàn cảnh. Lúc vui tôi viết nhạc vui, lúc buồn tôi viết nhạc buồn, lúc giận viết nhạc giận, không có so sánh được.

NL: Một bài thường từ lúc hình thành ý tưởng đến lúc chú hoàn thành sáng tác mất bao lâu ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Cũng tùy, nhưng thường tôi viết mau lắm. Một bài chậm lắm là một tuần thôi. Một bài mà tôi viết 3-4 ngày mà nghe không được là bỏ liền để viết bài khác.

NL: Vậy bài nhanh nhất chú viết trong bao lâu ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Trong vài tiếng đồng hồ, trong một đêm.

NL: Chú có thường nghe lại nhạc của chính mình mỗi ngày hay mỗi tuần không ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Nghe mỗi ngày (cười). Nghe để coi có chỗ nào yếu, không hay mình sửa lại để sau này tránh đi, để viết hoàn hảo hơn.

NL: Có bao giờ chú nghe lại sáng tác của mình và nghĩ “Ồ tại sao lúc đó mình viết hay như vậy !” Hay có lúc nào lại nghĩ “Trời, sao lúc đó mình viết tệ quá!” ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Như tôi đã nói khi viết tôi thấy được mới tiếp tục, còn không được thì thôi bỏ, để khỏi mất thì giờ.

NL: Ngay trong lúc này, khi mà bên hội trường có rất nhiều ca sĩ đang trình diễn những ca khúc của chú, thì chú cảm thấy như thế nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đó là niềm sung sướng của người sáng tác. Mình hát không được thì mình nghe người ta hát nhạc của mình. Đó là niềm vui sướng của người sáng tác.

NL: Hiện giờ điều chú lấy làm niềm vui trong đời sống hằng ngày của mình là gì ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Bây giờ tôi sống một mình, với gia đình người em. Cuộc sống rất giản dị. Tối ngủ, không thức khuya. Sáng thức sớm, rồi ăn uống, ngủ trưa. Cuộc đời có vậy thôi.

NL: Nếu bây giờ, có một điều ước thật đặc biệt thì chú nghĩ chú ước điều gì ?

Nhạc sĩ Lam Phương (suy nghĩ thật nhanh): Có một người bạn để mình hủ hỉ những lúc buồn. Thế thôi. Bạn thôi. (Cười)

NL: Một người bạn, nhưng là nam hay nữ ?

Nhạc sĩ Lam Phương (cười lớn): Nữ càng tốt !

Đọc thêm : Trên “Một thời Sài Gòn’ ngày 5/12/2013

NHẠC SĨ LAM PHƯƠNG

Trên “Một thời Sài Gòn’ ngày 2/9/2017

LAM PHƯƠNG & NHỮNG MỐI TÌNH (1)

LAM PHƯƠNG & NHỮNG MỐI TÌNH (2)

NHỮNG NHẠC PHẨM  CỦA NS LAM PHƯƠNG

– Cho Em Quên Tuổi Ngọc

Hoàng Kim;

https://youtu.be/x4jBS1cWEt4

– Chuyến đò vĩ tuyến – Giao Linh

http://youtu.be/V634FEJrusk

– Đèn Khuya – Thanh Thúy :  http://youtu.be/ZPVvKO3nmGQ

– Một mình – Quang Dũng :  https://www.youtube.com/watch?v=m_B1mBTmpXE

– Chuyến đò vĩ tuyến – Hoàng Oanh :  http://youtu.be/8-6sbyFZFL8

– Bức tâm thư – Tuấn Vũ & Ngọc Đan Thanh

http://youtu.be/5jeMNBivXzg

BÁNH MÌ SÀI GÒN

Bánh mì đã xuất hiện ở xứ ta trước cái mốc 1859, nhưng được biết đến nhiều là sau khi đội quân viễn chinh chiếm thành Gia Định.

Ngoài người Pháp, cách làm bánh mì đầu tiên được người Hoa tiếp thu, sản xuất bán ra thị trường và trong số khách hàng mua bánh mì thời kỳ đó có cả người Việt : Bồi bàn, thông ngôn, thầy ký có lẽ là những người nếm bánh mì đầu tiên; Kế đó là công chức tân trào, rồi đến tầng lớp Tây học, thị dân và lần lần tỏa rộng phổ biến cả thành thị lẫn nông thôn”

Trong bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc của cụ Nguyễn Đình Chiểu năm 1861, ta thấy có hai câu như sau :

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Rồi có thêm bài thơ chế :

Vân Tiên ngồi dựa gốc dừa,

Tay cầm chai rượu miệng nhai bánh mì.

Nguyệt Nga mới hỏi ăn gì ?

Vân Tiên mới nói thịt quay bánh mì.

Bánh mì theo chân người Pháp đến Saigon đầu tiên, xuống Nam Kỳ lục tỉnh, ra miền Bắc, sau đó mới phổ biến trên toàn quốc, cho nên khi đề cập đến bánh mì, người ta đề cập đến Saigon : bánh mì Saigon.

Ta thấy những thực phẩm, những vật dụng hàng ngày mà người Pháp mang đến Việt Nam, đều được gọi kèm theo chữ tây như : khoai tây, hành tây, dâu tây, rượu tây, thuốc tây, giày tây …

Trong khi ngoài Bắc gọi bánh mì là bánh tây, thì miền Nam lúc đó đã gọi nó là bánh mì ổ (ổ như chữ ổ của bánh bông lan). Có lẽ một trong các loại bánh mì mà người Pháp du nhập sang đầu tiên là pain de champagne (bánh mì đồng quê) ổ bự, to bè, nhiều ruột, để được vài ngày hay các loại bánh mì hình tròn, hình bầu dục gọi tên là le pain rond, le complet, le bâtard…

Những ổ bánh mì Saigon mới ra lò còn nóng, dậy mùi thơm của bột mì nướng, vỏ giòn rụm, vàng ươm, láng lẩy bơ, nở tròn bụng, ruột trắng mịn và xốp này từ những năm 30 cho mãi đến bây giờ, vẫn là một thứ quà Saigon, mà những người dân ở miền Tây đi Saigon về lại nhà mua làm quà cho con cháu.

Dù bánh mì khắp nơi đều có, ở các tỉnh đều có lò làm bánh mì, nhưng danh tiếng bánh mì Saigon đã đi vào ký ức người ta từ lâu lắm rồi. Ở cửa ngõ thành phố đi các tỉnh đầy những chỗ bán bánh mì.

Bến xe xa cảng miền Đông, miền Tây, lúc nào cũng có những người đội các cần xé đựng bánh mì đến tận cửa xe bán cho khách mua. Nhà thơ Kiên Giang có bài thơ :

– Đáp tàu khói, về quê ăn Tết

Gió bấc đầu mùa gợn sóng đêm

Ôm ổ bánh mì làm gối nhỏ

Đem về cho mẹ với cho em.

Còn ông Công Tử Hà Đông thì viết :

Bánh mì ăn không cũng ngon

Ta đi trăm núi, ngàn sông biển

Không đâu bánh mì ngon

Bằng bánh mì Saigon.

Bánh mì ăn kèm với gì ?

Ăn bánh mì theo ông Tây, bà đầm từ thời thuộc địa là ăn bánh mì với fromage, trứng (omelette, oeufs au plat), thịt nguội (paté, jambon, saucisse à), beurre, mứt trái cây (confiture) như dâu, cam, nho àhay chấm sữa nóng cho bữa ăn sáng. Dùng bánh mì ăn kèm với súp (soupe), bí tết (bifteck), ra gu (ragout)à trong bữa ăn tối.

Tuy cũng ăn giống như vậy, nhưng người Saigon đã dần dà cải tiến cho hợp với khẩu vị của mình như: Ăn bánh mì với những miếng phô mai “ Đầu con bò cười (La vache qui rit)”, phối hợp thêm chuối già.

Ăn sáng bằng bánh mì trét bơ mặn Bretel, rắc chút đường cát trắng; Bánh mì chấm sữa nóng, pha thêm một chút cà phê cho có mùi thơm hay ăn bánh mì trét bơ chấm cà phê sữa nóng; Bánh mì chấm sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hay Con chim (hiệu Ông Thọ – Hiệu sữa Longevity, trước đây thuộc hãng Foremost, Mỹ, hình “Ông Thọ chống gậy”, nói lên tuổi thọ của người dùng. Hiệu Con chim của hãng Nestlé, Thụy Sỹ, đúng ra là hình một tổ chim, gồm một chim mẹ và hai chim con)…

Nổi tiếng ở Sài Gòn có lẻ tiệm Hòa Mã của vợ chồng ông Bắc kỳ di cư, rồi tiệm Hương Lan ở Bưu Điện Sài Gòn, xe bánh mì chả lụa của bà Bắc ở đường Phan Thanh Giản… nói ra thì rất nhiều. Kết bài bằng mấy câu thơ :

Ngồi buồn gặm ổ bánh mì

Mùi thơm chả quế thầm thì bên tai

Bánh mì hương vị mặn mà

Bỏ tình anh gặm mì gà ba-tê

Bánh mì xá xíu ai chê

Lại thêm xíu mại cho “phê” cõi người

”Xì dầu” anh xịt đã đời

Thừa thiên “ớt hiểm” cho vừa xót xa

Bánh mì thịt nguội có hành

Mua năm tặng một cả làng anh quơ

Cho dù người có thị phi

Yêu đời anh “ xực ” bánh mì mà thôi. ( st).

NHỮNG CHỦ ĐỀ TÁO BẠO

TRONG TRANH TRUYỀN THỐNG

NHẬT BẢN

Ukiyo-e, tức tranh in bản gỗ, là “dấu son” nổi bật trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản. Không chỉ thịnh hành như một trường phái hội họa độc đáo, ukiyo-e còn tạo tiền đề quan trọng cho rất nhiều trào lưu nghệ thuật đương đại. Tính lôi cuốn đến “mê hoặc” của thể loại tranh truyền thống này, tuy nhiên, vượt xa những hình ảnh phong cảnh hay lễ hội vui tươi. Ở ukiyo-e, chủ đề tình dục, đồng tính, thậm chí kinh dị, nhận được sự chú ý đặc biệt.

1/- Shunga – tranh ảnh “phòng the” ; Shunga (xuất phát từ từ gốc Hán “xuân họa” – tranh vẽ về mùa xuân) là phong cách ukiyo-e phát triển mạnh vào khoảng thế kỉ 17-19. Shunga tập trung mô tả cảnh ân ái chốn lầu xanh, chân dung những nàng kỹ nữ với dáng điệu gợi cảm, quyến rũ, cùng nhiều hoạt động “người lớn” khác nơi phố đèn đỏ.

Có quá trình tạo dựng suốt 300 năm, đến nay, Shunga đã trở thành dạng tranh ukiyo-e nổi tiếng, rất được yêu thích. Dù mang nét cổ xúy tính dục, xã hội Nhật thời bấy giờ không phân loại tranh in như văn hóa phẩm khiêu dâm. Thực tế, chế độ Tokugawa, giai đoạn Shunga trở nên “cực thịnh,” không cấm đoán việc thể hiện đề tài tình dục trên tranh ảnh.

Nghệ sĩ nổi bật, từng tạo dấu ấn lớn nhờ Shunga, không thể không nhắc đến Katsushika Hokusai (1760-1849). Bức “Người phụ nữ và đôi bạch tuộc” (ảnh trên) của ông, xuất hiện lần đầu như tranh minh họa cho một tựa sách xuất bản năm 1814, đã trở thành ví dụ điển hình nhất của phong cách Shunga truyền thống.

2/- Wakashu – những “mỹ nam” lưỡng tính : Bức vẽ bên thực hiện bởi họa sĩ nổi tiếng thời Edo, Suzuki Harunobu, tái hiện một ngày thường nhật trong khu phố đèn đỏ, thủ đô nước Nhật thế kỉ 18. Bạn sẽ muốn tập trung vào nhân vật mặc kimono sọc, cầm quạt, ngồi phía trái khung tranh. Người này mang gương mặt thanh tú, bề ngoài hệt như phụ nữ, nhưng thật ra lại là nam giới. Tên gọi cho họ là “wakashu,” nhân vật lưỡng tính đầu tiên tìm thấy trong tranh ukiyo-e.

Wakashu là khái niệm bắt nguồn từ các sử gia Nhật, dùng để ám chỉ một “mỹ nam,” hay người đàn ông có dáng vấp hấp dẫn cả hai giới. Vào thời Edo thịnh vượng, họ làm công việc mua vui – đàn hát trong kỹ viện. Hoặc, wakashu còn được hiểu như nhóm diễn viên được đào tạo đặc biệt, chuyên đóng vai nữ trên sân khấu ca kịch truyền thống.

Đối với ukiyo-e, hình tượng wakashu hiện diện không nhiều, nhưng luôn rất lôi cuốn và độc đáo. Tương tự Shunga, bằng cách phát họa wakashu, họa sĩ ukiyo-e đã tạo nên dấu ấn chưa từng có xoay quanh chủ đề nhạy cảm như tình dục và đồng tính. Nhìn ngắm những “mỹ nam” này trên tranh màu, người xem dễ dàng bị thu hút bởi nét duyên dáng, thần thái sống động của họ. Như nhiều nhà giám tuyển và chuyên gia sưu tầm tranh ukiyo-e nhận xét, vẻ đẹp riêng ở wakashu đã “thách thức ranh giới giới tính” trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản.

3/- Thế giới rùng rợn của ukiyo-e : Nhật Bản với nền hội họa lâu đời, không thiếu cảm hứng cho tranh vẽ kinh dị. Yếu tố ma quỷ, linh hồn cho đến cái chết được người nghệ sĩ “tái sinh” trên mặt giấy thông qua truyện cổ, giai thoại lẫn sự kiện kinh hoàng có thật.

Nổi tiếng hàng đầu thuộc thể loại ukiyo-e là dạng tranh in minh họa cho “kusazoshi,” một phong cách truyện dân gian phổ biến từ những năm 1700, thời Edo. Kusazoshi được hiểu như tiền thân của truyện tranh kinh dị ngày nay. Chúng khai thác nhiều khía cạnh “lạnh gáy” tiềm ẩn nơi đời sống thường ngày lẫn thần thoại Nhật Bản. Tranh ukiyo-e với nét cọ uyển chuyển, “truyền thần,” càng khiến câu chuyện kể thêm phần đặc sắc đến rợn người. .

Không ít “huyền thoại” ukiyo-e như họa sĩ thiên tài Hokushai, Toyokuni I, Utagawa Kunisada đều có niềm đam mê lớn dành cho chủ đề kinh dị. Bên cạnh mục tiêu gây sợ hãi hay thể hiện bài học răn đe đạo đức, đôi khi một số nhân vật yêu quái hoặc hồn ma trong tranh vẽ còn nhằm gây cười cho độc giả kusazoshi. (theo JapanTimes)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

HOÀNG HẬU NAM PHƯƠNG NGÀY Ở PHÁP

THÁNG NGÀY LƯU VONG

CỦA HOÀNG HẬU NAM PHƯƠNG

Khối tài sản đồ sộ, lâu đài, đồn điền nơi đất khách rốt cuộc có khiến bà hạnh phúc

Là con gái của một trong 4 gia đình giàu có nhất miền Nam thế kỷ XX- đại điền chủ Nguyễn Hữu Hào, trở thành hoàng hậu An Nam, khi dứt áo rời quê hương để lưu vong nơi đất khách, Nam Phương hoàng hậu vẫn có cuộc sống sung túc đề huề với những khối tài sản đồ sộ trên khắp nước Pháp và các lãnh địa Pháp như các lâu đài lớn ở Cannes, Limousin, Paris.. nhiều nhà đất ở bên xứ Maroc, Congo… Sở hữu nhiều lâu đài, đồn điền như thế, nhưng rốt cuộc Nam Phương hoàng hậu tìm được hạnh phúc ở đâu trong những năm tháng cuối đời tha hương bên xứ người?

Bom đạn khói lửa, bà hoàng quyết định ra đi, rời khỏi 2 chữ “An Định”

Tháng 3/1946, ông cố vấn Vĩnh Thụy, tức cựu hoàng Bảo Đại, đã sang Hồng Kông cùng vũ nữ Lý Lệ Hà. Tháng 12/1946, tình hình chính t rị và quân sự giữa Việt và Pháp rất căng thẳng, chiến tranh tới gần. Cựu hoàng hậu Nam Phương một nách 5 con sống trong cung An Định trong khi mẹ chồng cũng đã tản cư, cảm thấy hoang mang và tuyệt vọng. Ở lại Huế thì nay mai chiến sự nổ ra, khó tránh hòn tên mũi đạn, đi tản cư về nông thôn thì sợ các con mình quen nếp sống vương giả, không hòa nhập được.

Tính đi tính lại, người phụ nữ thông minh chọn giải pháp đưa các con vào nương nhờ nhà thờ dòng Chúa cứu thế, nơi thuộc quyền quản lý của các linh mục Canada, một nước trung lập, không ngả về Mỹ hay Pháp. Cuộc sống ở đây khá kham khổ so với sinh hoạt trước kia của họ, sáng sáng các hoàng tử, công chúa phải tự đi tìm nước rót vào ca để rửa mặt.

Súng bắt đầu nổ ở Huế vài tuần và bà Nam Phương rất lo vì tu viện có thể bị tấn công. Bản thân các linh mục trong nhà dòng cũng cảm thấy bà và các con nên sang Pháp tản cư.

Những tháng ngày tại lâu đài Thorenc ở Cannes)

Thời gian đầu, mẹ con cựu hoàng hậu sống ở lâu đài Thorenc tại Cannes. Bà Nam Phương gửi các con vào trường trung học Couvent des Oiseaux, nơi bà từng học thời con gái.

Nam Phương hoàng hậu sành thời trang và có gu ăn mặc thanh lịch, tinh tế. Bà rất thích mua đồ của nhãn hiệu Christian Dior và Balmin, màu tím nhạt được bà ưa chuộng nhất. Về gu nghệ thuật, bà treo tranh của của Renoir, Buffet trong nhà. Bà không thích tranh lập thể của Picasso vì tâm hồn bà không hợp với trường phái hội họa này cũng như siêu thực.

Bà cũng rất thích nuôi chó. Trong nhà bà có cả một đàn chó, và trong đó có một con thuộc giống Saint Bernard, loại chó to như con cọp, loại chó này để sử dụng tìm người mất tích trong rừng, trong khi đi trượt tuyết. Về thể thao bà có thể chơi bong bàn, quần vợt, và golf nhưng không giỏi lắm.

Âm hưởng chung trong cuộc sống của cựu hoàng hậu: cô đơn.

Bảo Đại thỉnh thoảng mới về Pháp, và đôi khi bà cũng cùng chồng tới casino xem ông đánh bạc. Những lần đó, nếu thắng bạc, ông vua mất ngôi sẽ tặng hết tiền cho vợ để mua sắm thời trang. Tuy nhiên, cái niềm vui ở bên chồng quá ít ỏi, nhất là từ sau năm 1955, Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm lật đổ, ông chán đời bỏ đi tứ xứ, các con thì đã lớn, như chim bay đi…

Điền viên ở vùng quê Chabrignac: thú vui điền viên lánh xa nơi phù phiếm đô thành

Năm 1958, nhằm tránh mặt báo chí, dư luận và những người quen biết, bà Nam Phương đã rời bỏ cả Cannes xa hoa hay thành Paris hoa lệ và ồn ào. Những cơ ngơi đồ sộ ở Neuilly, hàng tá căn nhà lớn ở Morocco, biệt thự trên đại lộ Opéra, Paris hay trang trại rộng lớn ở Congo đều không còn sức hấp dẫn để có thể níu giữ nổi bà.

Nam Phương Hoàng hậu đã rời xa Paris 500km về phía nam, về làng Chabrignac, hạt Correze tỉnh Limousin, mua lại điền trang La Perche rộng 160 ha của một quý tộc Pháp đã sa sút làm nơi sống nốt những năm tháng còn lại. Điền trang đẹp như mơ có rừng bao quanh gồm 32 phòng, 7 phòng tắm, 5 phòng khách… và một vườn hồng tuyệt đẹp. Lâu đài cách nhà dân khá xa, hàng xóm ít qua lại. Có lẽ bà hoàng xa xứ chọn nơi yên tĩnh này để nội tâm được bình ổn, sống kiểu nửa tu hành trong những năm cuối đời.

Hạnh phúc thực sự ở nơi đâu ?

Ngoài hoa lợi thu được từ cây trái trong điền trang, bà hoàng Nam Phương còn nuôi thêm khoảng 100 con bò sữa trên một trang trại lớn với 160 mẫu đất.
Tất cả những người con của bà đều sống với bà trong điền trang La Perche. Theo Daniel Grande Clemént, tác giả cuốn “Bảo Đại, hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam” thì “dường như thời gian sống tại điền trang La Perche là những tháng năm bình yên và hạnh phúc nhất của Nam Phương Hoàng hậu”

Cho đến cuối đời, bà vẫn sống trong nhung lụa nhờ gia đình cự phú của mình. Bố mẹ hoàng hậu, ông bà Nguyễn Hữu Hào, đã mua cho con gái bao nhà đất, những mong của cải vật chất tiện nghi có thể khỏa lấp nỗi buồn riêng của con gái…

Cựu hoàng hậu sống lặng lẽ với thú vui điền viên trong trang trại Charbrignac, bất động sản duy nhất bà giữ lại cho riêng mình, sau khi chia hết các tài sản khác cho các con.

Hàng ngày, bà dậy rất sớm, thường tự tay trang trí, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc cây cảnh. Vừa làm bà vừa khe khẽ hát. Khi có việc ra ngoài, bà thường tự tay lái chiếc xe hơi hiệu Dauphine, có thêm cô hầu gái hay người quản gia đi theo.

Bà nuôi trong điền trang 4 công nhân nông nghiệp, một số người hầu gái và một viên quản gia người Pháp. Tất cả người ăn kẻ ở trong nhà đều được bà đối xử thân tình, gần gũi. Trong các dịp lễ, Noel hay ngày đầu năm mới, bà đều không quên có quà tặng cho họ và gia đình. “Bà Hoàng hậu đẹp vẫn ngự trong tim” (La belle impératrice demeure dans les coeurs). Đó là đầu đề một bài báo điện tử của Pháp.

Năm 1947 ấy, bà cùn các con cuối cùng đã ra đi và không có lần quay về Việt Nam nữa, mặc dù trong lòng bà cũng đã có lần muốn về lại chốn quê hương. Hằng ngày, ngoài việc chăm sóc con cái, bà thường đọc sách báo hoặc chăm sóc hoa lá trong vườn, buổi tối thì chơi dương cầm cho các con nghe. Những ngày lễ, mấy mẹ con cùng ra phố xem phim hoặc mua sắm.

Tuy nhiên, trái ngược với ông chồng lúc nào cũng cần tiền để tiêu xài xa hoa, với bà Nam Phương, tiền không giúp mua được niềm vui.  Rũ bỏ lớp áo vàng son quyền quý, bà Nam Phương quay lại sống đúng nghĩa cuộc đời an lành, bình dị của một phụ nữ An Nam học thức.

Lucien Boudy – một cựu xã trưởng Chabrignac, cho biết Hoàng hậu Nam Phương

Nam Phương Hoàng hậu sống rất cởi mở, quảng giao, thường xuyên đi thăm khắp điền trang để gặp gỡ và trò chuyện thân mật với những người nông dân. Vì thế dân làng rất quý mến bà. Từ chỗ xa lạ, sau 5 năm làm dân Chabrignac, bà đã để lại biết bao tình cảm trong tâm trí người dân địa phương. Họ xem bà là một cô-rê-diên (Người địa phương Correze) chính cống.

Người quản gia người Pháp: một vị trí đặc biệt bên cạnh cựu hoàng hậu

Đối với bà, người quản gia người Pháp có một vị trí rất đặc biệt. Thay cho vị trí của cựu hoàng, ông này luôn tháp tùng bà trong những chuyến làm khách, dự tiếp tân đối với các gia đình quyền quý ở trong vùng. Không ai có bằng chứng xác đáng nhưng dường như những người quen biết trong vùng đều cho rằng, ông quản gia này đã yêu Nam Phương Hoàng hậu.

Dân làng càng thương quý bà hơn khi biết Hoàng hậu đẹp, giàu sang, từng làm Đệ nhất phu nhân ở Việt Nam, nhưng đời sống tình cảm gia đình của bà những năm ở Chabrignac không vui lắm. Cựu hoàng Bảo Đại – chồng bà, ít khi đến thăm bà. Họ chỉ nhớ có một lần Cựu hoàng về Chabrignac vào tháng 1 năm 1962, nhân dịp Công chúa Phương Liên – con gái của ông bà, tổ chức lễ thành hôn với một người Pháp tên Bernard Soulain.

Hàng xóm công chúa Như Lý, con gái vua Hàm Nghi

Thế nhưng rất kỳ lạ, suốt 5 năm sống ở Chabrignac, bà vẫn không hề ghé thăm viếng lâu đài De La Nouche – nơi ở của Công chúa Như Lý, con gái vua Hàm Nghi ở, lấy một lần, dù hai điền trang nằm gần như cạnh nhau. Cả Công chúa Như Lý và Hoàng hậu Nam Phương đều có vẻ như không hề biết đến sự tồn tại của người kia trên cùng một vùng đất, dù trên quan hệ, Công chúa Như Lý là cô chồng của bà Nam Phương.

Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới

Có lẽ sự cô đơn và nỗi đau buồn cho cuộc đời tuy vàng son mà bất hạnh của mình khiến hoàng hậu lưu vong mắc bệnh tim. Ngày 14/9/1963, vừa từ thị trấn Brive cách điền trang 30 km trở về, bà Nam Phương đã cảm thấy đau họng. Viên bác sĩ được mời đến đã khám qua loa và kết luận là bà bị viêm họng nhẹ, chỉ uống thuốc vài ngày là khỏi. Kỳ thực, bà bị chứng lao hạch tràng hạt, cơn đau tiếp tục hoành hành dữ dội. Trước khi viên bác sĩ thứ hai kịp đến nơi thì Nam Phương Hoàng hậu, 49 tuổi, đã qua đời vì nghẹt thở.

Một đám tang lặng lẽ không điếu văn

Bà mất vào ngày 15 tháng 9 năm 1963. Đám tang của bà rất lặng lẽ. Ngày đưa tang, ngoài hai Hoàng tử Bảo Long (1936), Bảo Thăng (1943) và ba Công chúa Phương Mai (1937), Phương Liên (1938) và Phương Dung (1942) đi bên cạnh quan tài của mẹ, không có mặt Bảo Đại và cũng không có một người bà con thân thuộc nào khác ngoài dân làng Chabrignac. Về phía quan chức Pháp thì chỉ có ông Quận trưởng Brive la Gaillarde và ông xã trưởng Chabrignac.

Những mộ phần vua chúa Việt Nam nhỏ bé ở một nơi đất khách: vua Hàm Nghi cũng trở về đây

Mộ phần của bà được đặt trong phần mộ của dòng họ Bá tước De La Besse. Bà Bá tước De La Besse, tức Công chúa Như Lý cũng có mặt trong dòng người đưa tang của làng Chabrignac, với nỗi ân hận vì trước đó hai người đã không hề có cơ hội gặp gỡ nhau.

Ít lâu sau, Công chúa Như Lý đã lần lượt cải táng mộ Vua Hàm Nghi từ Alger về nghĩa trang này. Sau đó, Công chúa Như Mai, Hoàng tử Minh Đức cũng lần lượt được đưa về an táng tại làng Chabrignac, cách mộ của Nam Phương Hoàng hậu không xa lắm.

Mộ phần nhỏ bé, đơn sơ của một hoàng hậu nổi tiếng

Ngôi mộ của bà Hoàng Hậu Nam Phương, người vợ chính thức đầu tiên của Bảo Đại, rất dễ nhận ra, vì có hai cây tùng trồng hai bên mộ, nay đã cao và to phình. Ngôi mộ có vẻ mới được trùng tu lại, sạch sẽ, đơn sơ. Trên ngôi mộ đơn sơ dựng một tấm bia đá giản dị. Mặt trước tấm bia ghi dòng chữ Hán: “Đại Nam Nam Phương Hoàng Hậu chi lăng” (Dịch nghĩa: Lăng của Hoàng hậu Nam Phương nước Đại Nam).

Nắp đậy huyệt chỉ là một tấm bê tông phẳng phiu, có chạm nổi hình thánh giá và một tấm bia chìm đề hàng chữ tiếng Pháp “Sa Majesté Nam Phuong Impératrice d’Annam 1913 – 1963”. Trên nắp huyệt dựng một tấm bia khác đề rõ hơn một chút “Ici repose l’Impératrice Nam Phuong, née Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 – 15.09.1963” (Tại đây an nghỉ Nam Phương Hoàng Hậu, tên gốc Jeanne Mariette Nguyen Huu Hao, 14.11.1913 – 15.09.1963).

Ngôi lăng của bà tuy khiêm tốn, bé nhỏ so với nhiều lăng mộ của người dân trong làng, nhưng nó được xem như một di tích lịch sử quý hiếm của vùng. Với niềm tự hào ấy, người chủ Domaine de la Perche ngày nay đã xây dựng khu nhà cũ và lăng mộ của bà thành một điểm du lịch ở trung tây nước Pháp.

“…Là một mệnh phụ phu nhân rất duyên dáng, đặc biệt thân thiện rộng rãi với dân làng. Bà cũng rất nhân đạo và yêu thương với người hầu kẻ hạ trong nhà bà” Có một nghịch lý là, hoàng hậu Nam Phương nổi tiếng là một Đệ nhất phu nhân đẹp nhất nước Nam, nhưng thời gian 5 năm bà làm dân Chabrignac và lăng mộ của bà ở Chabrignac, không mấy người Việt Nam ở Việt Nam hay ở ngay trên đất Pháp biết đến. Trong lúc đó người dân Chabrignac hạt Corrèze thì lại rất tự hào khi quê hương họ đã từng là nơi sinh sống 5 năm cuối đời và là nơi an nghỉ của bà Hoàng hậu đẹp nổi tiếng của Việt Nam. Lần đầu tiên có người Việt tới thăm mộ bà, là 35 năm sau khi bà mất…

Vậy là, một cuộc đời oanh liệt của hoàng hậu Nam Phương đã khép lại, không đài các, không lăng tẩm, chỉ có một ngôi mộ quá đỗi nhỏ bé đơn sơ ở nơi đất khách quê người.  Những ngày tháng buồn nhiều hơn vui. Tiền tài, của cải, vật chất, danh vọng, sắc đẹp… đã thoáng qua đi như bong bóng. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn đức hạnh của bà lại là điều sống mãi… Một kiếp người oanh liệt như thế, nhưng cuối cùng chỉ là: Sống gửi, thác về. Hãy trân quý những ngày chúng ta đang sống bằng cách sống thiện lương, đó có lẽ là điều sẽ lưu hương lại mãi, như cái tên bà hoàng hậu Nam Phương – Hương thơm từ Phương Nam…

Yên Huỳnh chuyển tiếp

ẢNH HIẾM VỀ CUỘC SỐNG

NGƯỜI HOA TRÊN ĐẤT SÀI GÒN

TRƯỚC 1975

Nét văn hóa đặc trưng của người Hoa, Chợ Lớn – Sài Gòn đã được nhiếp ảnh gia Pháp Jack Garofalo tái hiện chân thực trong loạt ảnh chụp năm 1961.

H1: Ông bố người Hoa hút thuốc bằng tẩu bên 3 đứa con gái tại cửa hàng bán trang phục sân khấu của mình ở Chợ Lớn năm 1961. H2: Một thầy thuốc người Hoa mỉm cười khi đứng tại quầy thuốc của mình. Trước mặt ông là các loại bột đá và trà dùng để chữa bệnh.

H3: Một thợ đóng giày cao tuổi ngồi trong cửa hàng giày của mình, bên cạnh là một kệ trưng bày giày dép. H4: Một bé trai trong cửa hàng bán đồ trang trí ngày lễ của người Hoa. Nơi đây bán các loại đèn lồng, đầu lân, vòng hoa và cả các loại đồ chơi trẻ em bằng giấy.

H5: Cậu bé và chiếc lồng chim. Chơi chim cảnh là thú vui của nhiều gia đình người Hoa. H6: Một người phụ nữ đội nón lá đi qua cảnh xửa xếp treo đầy tranh ảnh tôn giáo của người Hoa ở Chợ Lớn. H7: Cụ bà người Hoa với gánh hàng bàn chải, chổi và quạt trên vai. H8: Trong một ngôi chùa của người Hoa ở Chợ Lớn.

H9: Những đứa trẻ tụ tập trong một hội quán người Hoa. H10: Hai cậu bé vui đùa trong khi tắm bên một con đường ở Chợ Lớn. H11: Khu ổ chuột bên kênh Hàng Bàng ở Chợ Lớn năm 1961.

H12: Đốt vàng mã trong chùa. H13: Cụ bà và những đứa trẻ người Hoa. H14: Nam diễn viên kinh kịch người Hoa đang vẽ mặt trước khi biểu diễn ở Chợ Lớn. H15: Khuôn mặt ấn tượng sau khi hoàn thiện việc tô vẽ.

H16: Hậu trường của các nữ diễn viên kinh kịch. H17: Một nữ diễn viên với khuôn mặt đã được vẽ xong. H18: Nam diễn viên kinh kịch trong vai nho sĩ. H19; Làm vịt để quay bán. (theo Kiến Thức)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

7 LOẠI CÂY KHAI VÃN NĂM MỚI

Năm mới sắp đến, hãy lựa chọn cây cảnh trang trí cho ngôi nhà thêm đẹp và mang đến nhiều may mắn hơn nữa cho mọi người trong gia đình.

Theo quan niệm của phong thủy, một số cây cảnh có tác dụng phong thủy như hoa cúc, hoa đào, hoa lan… Trồng những loại cây đó trong nhà sẽ mang đến những điều tốt đẹp cho gia đình trong năm mới.

Hoa cúc

Ngày Tết, người ta thường thấy xuất hiện hoa cúc trong nhà, đặc biệt là hoa cúc vàng và đỏ… Bởi vì theo phong thủy, hoa cúc là biểu tượng của sự sống, tăng thêm phúc lộc cũng như sự hoan hỉ đến nhà. Trồng những chậu cúc nhỏ hay cắm hoa cúc có thể giúp ổn định phúc khí trong nhà. Cũng lưu ý rằng, hoa cúc nên đặt nơi có nhiều ánh sáng trong nhà để sự may mắn thêm mạnh mẽ và rực rỡ.

Cây quýt (quất)

Cây quất (hoặc quýt) tượng trưng cho sự thu hoạch và cũng là một khởi đầu tốt đẹp. Vì thế, vào đầu năm mới, ta thường thấy mỗi gia đình thường mua một cây quất (quýt) quả vàng xum xuê, lá xanh tốt với mong muốn khởi đầu một năm mới tốt đẹp, giúp gia tăng tiền tài và vận may cho các thành viên trong gia đình.

Hoa mai

Hoa mai thích hợp với khí hậu ở miền Trung và miền Nam nước ta. Mai vàng tượng trưng cho sự phú quý, giàu sang. Trong ngày Tết, mọi người thường mua cây (hoặc cành) mai vàng nhiều lộc bởi theo quan niệm của phong thủy, hoa mai nở đúng lúc giao thừa hay sớm mùng một sẽ mang lại nhiều may mắn, thịnh vượng và hạnh phúc sẽ đến với gia đình trong năm đó.

Hoa đào

Nếu miền Nam chuộng hoa mai trong ngày Tết thì miền Bắc nước ta lại thường mua những cành đào để trang trí cho căn nhà vào những ngày đầu Xuân. Hoa đào không chỉ có tác dụng xua đuổi tà ma mà còn có thể mang đến nguồn sinh khí mới, giúp mọi người trong nhà luôn khỏe mạnh và bình an trong năm mới.

Hoa thủy tiên

Hoa thủy tiên được xem là loài hoa thanh tao, quyền quý. Trồng hoa thủy tiên có tác dụng khử tà, mang lại cát tường như ý cũng như tăng thêm tài khí cho gia đình.

Hoa thủy tiên là loại hoa rất khó trồng, hoa thường được trồng trong nước, hình dáng giống như củ hành tươi. Trước khi mua về, bạn nên tìm hiểu cách chăm sóc để cây hoa có thể sống thật lâu trong nhà.

Cây sung cảnh

Cây sung là loại cây khá dễ trồng và dễ sống. Chọn một cây sung có dáng đẹp và nhiều quả trang trí trong nhà vào ngày Tết cũng có thể mang đến sự no đủ và nhiều điều tốt lành cho năm mới.

Hoa đồng tiền

Cây hoa đồng tiền còn gọi là cây kim tiền. Trong những dịp đầu xuân năm mới, nếu trồng hoa hoặc cắm hoa đồng tiền sẽ mang đến nhiều tài lộc và tiền của cho gia đình.

Xuân Mai chuyển tiếp

GIA ĐÌNH TỔNG ĐỐC PHƯƠNG

BẬT MÍ GIA SẢN TỶ PHÚ

GIÀU THỨ 2 SÀI GÒN MỘT THỜI

Tổng đốc Phương tên thật Đỗ Hữu Phương, từng được xem là tỷ phú giàu thứ hai tại Sài Gòn trong tứ đại phú “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Trạch”.

Ở quận 3, phía sau BV Mắt Saint Paul có một ngôi từ đường cổ hơn 100 tuổi. Người ta gọi là Đỗ Hữu Từ đường, là nơi thờ tự dòng họ Đỗ Hữu, còn gọi là đền Tổng đốc Phương nhưng người dân từ xưa quen gọi là đền Bà Lớn, vì cũng là nơi thờ người vợ của Tổng đốc Phương, do bà vốn có nhiều công đức với dân chúng quanh vùng.

Không tạo ân oán

Biết tiếng Hán và tiếng Pháp nhưng Đỗ Hữu Phương lại rất chuộng văn hóa Pháp nên tìm cách ra làm việc với Pháp. Sau khi chiếm được thành Chí Hòa năm 1861, Pháp mở cửa thương mại và mở rộng mối quan hệ với người Hoa trong vùng để phát triển buôn bán. Ông Phương nhờ người quen giới thiệu với tham biện hạt Chợ Lớn lúc này là Đại úy Francis Garnier và được Garnier tuyển dụng. Đến năm 25 tuổi được phong làm hộ trưởng ở Chợ Lớn.

Dù làm việc cho Pháp nhưng chủ trương của ông Phương là không gây thù chuốc oán, cho nên ngay cả trong trường hợp không dụ hàng được mà phải đưa quân đánh dẹp, sau đó Đỗ Hữu Phương lại đứng ra che chở và xin chính phủ Pháp ân xá cho những người Việt tham gia khởi nghĩa.

Trong tài liệu của Pháp mang ký hiệu SL. 312 ở Cục Lưu trữ Nhà nước II, có đoạn khen ngợi Đỗ Hữu Phương: “Ông ta cố gắng tránh đổ máu trong lúc dập tắt nhiều cuộc nổi loạn gần đây. Ông ta đã xin chính phủ Pháp ân xá cho một số đông những đồng bào của ông đã cầm vũ khí chống lại chúng ta…”.

Nhờ cách hành xử như vậy cho nên dù bị ghét vì theo Pháp nhưng nhiều người vẫn cho rằng Đỗ Hữu Phương là người hiền.

Câu chuyện lạ lùng về tình bạn

Nguyễn Hữu Huân đỗ đầu thi hương năm Nhâm Tý nên được gọi là Thủ Khoa Huân. Ông vốn là bạn thân với Đỗ Hữu Phương từ nhỏ. Sau này lớn lên hai người hai ngả đường. Năm 1864, Nguyễn Hữu Huân bị bắt ở An Giang, Pháp xử án 10 năm tù, đày sang Guyan rồi Cayenne – là thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ.

Sau khi ông thọ án năm năm, Đỗ Hữu Phương đứng ra bảo lãnh để xin chính phủ Pháp ân xá cho Thủ Khoa Huân. Ngoài ra ông Phương xin đưa Thủ Khoa Huân về an trí ngay ở nhà của mình và phục chức giáo thụ là chức cũ trước đây để dạy học cho sinh đồ ở vùng Chợ Lớn.

Lợi dụng việc cho dạy học, Thủ Khoa Huân bí mật liên lạc với nhiều sĩ phu yêu nước và hội kín của Hoa kiều để mua vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa. Thủ Khoa Huân bỏ trốn khỏi nhà Đỗ Hữu Phương rút về Mỹ Tho cùng với Âu Dương Lân để hội quân khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa lần thứ ba này được rất nhiều nông dân và địa chủ ủng hộ nên thanh thế rất mạnh.

Phải hai năm sau, Pháp đưa quân bất ngờ tấn công thẳng vào căn cứ Bình Cách mới đánh dẹp được. Thủ Khoa Huân chạy thoát nhưng sang năm khi đi huy động quân binh khởi nghĩa thì bị Pháp phục kích bắt. Sau khi bị giam ở Mỹ Tho và được Tỉnh trưởng Gailland chiêu dụ hàng nhưng Thủ Khoa Huân vẫn từ chối, Pháp quyết định xử tử ông.

Vươn lên ngôi thứ hai của tứ đại phú

Trong quá trình làm việc, Đỗ Hữu Phương được thăng làm đốc phủ sứ Vĩnh Long, tổng đốc danh dự, rồi làm phụ tá Xã Tây Chợ Lớn, dân gian quen gọi là Tổng đốc Phương. Đây là chức vụ không quá lớn nhưng thiên hạ đồn rằng chức vụ này giúp ông Phương trở thành trung gian cho các thương gia Hoa kiều hối lộ viên chức Pháp, nhờ vậy thu rất nhiều tiền của trong các phi vụ làm ăn này.

Tuy nhiên, nguồn tin khác cho rằng nhờ giao thiệp rộng, lại nhanh nhạy với việc làm ăn buôn bán nên ông Phương đã gầy dựng, mở mang các mối làm ăn thông qua các chuỗi cửa hiệu trong vùng Chợ Lớn.

Ông Phương có người vợ họ Trần (không rõ tên) là con của một viên tri phủ miền Trung. Bà là người rất giỏi giang trong việc quán xuyến nhà cửa và buôn bán. Nhà có hơn 2.000 mẫu ruộng do Toàn quyền Doumer cho khẩn trưng ruộng đất, bà vợ không chỉ lo việc cai quản, thu hoa lợi từ ruộng đất mà còn điều hành hệ thống buôn bán, phân phối hàng hóa cả ngàn cửa hiệu trong vùng. Hai vợ chồng “song kiếm hợp bích”, chồng ngoại giao mở mang, vợ tề gia, tiền đẻ ra tiền, đến mức thiên hạ đồn gia đình có gia nhân chuyên cho việc đếm tiền vì tiền thu vào nhiều quá, bà vợ không thể đếm xuể.

Nhớ đến nguồn gốc Minh Hương của mình, Đỗ Hữu Phương đã xây dựng nên Nghĩa Nhuận hội quán trên đường Gò Công. Ông Phương cũng đã bỏ tiền xây dựng Trường Collège de Jeunes Filles Indigènes tức Trường nữ Trung học Sài Gòn, sau này gọi là Trường Áo Tím, Gia Long, nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai.

Ngoài ra ông ta cũng bỏ nhiều tiền tu bổ rất nhiều chùa chiền miếu mạo quanh vùng nên được dân chúng ghi công. Dọc theo kinh Chợ Lớn có một cây cầu gọi là cầu Ông Lớn. Ông Lớn đây chính là Đỗ Hữu Phương, theo lý giải của nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển. Hồi đó người dân không gọi bằng tên thật. Cũng như sau này ngôi từ đường thờ người vợ rồi trở thành từ đường của dòng họ, được gọi là đền Bà Lớn.

Phong lưu cuối đời

Danh vọng và tiền bạc đều có đủ, Đỗ Hữu Phương sống phong lưu, thụ hưởng. Ông nhiều lần sang Pháp du ngoạn, đi thăm thú thủ đô nhiều nước châu Âu và đi vòng quanh thế giới. Trong danh sách các hành khách đi tàu Anadyr từ Sài Gòn đến Marseille ngày 29-4-1889 có tên ông cùng với hai người con. Điều này chứng tỏ ông tham dự Hội chợ kỷ niệm 100 năm cách mạng Pháp và sau này góp phần tổ chức khu triển lãm Đông Dương ở Hội chợ quốc tế Paris năm 1900.

Đỗ Hữu Phương sống trong một tòa nhà được xem là to nhất nhì Sài Gòn, nằm trên bờ kênh Xếp (sau này lấp thành đường gọi là đường Tổng đốc Phương, nay là Châu Văn Liêm). Bề ngoài nhà kiểu Tây nhưng bên trong nội thất theo kiểu Việt và Trung Hoa.

Bá tước Pierre Barthélemy kể lại khi được viếng thăm : “Nhà ông là một sự pha trộn lạ kỳ giữa Âu và Á. Sân trong thiết kế theo kiểu Trung Hoa, chung quanh sân là các phòng kiểu An Nam mà một phòng salon ở tận trong rất đáng chú ý. Đối diện với salon này là một biệt thự kiểu Âu. Bàn thờ trong phòng salon An Nam này là một công trình tuyệt diệu nổi tiếng, bàn thờ được cẩn xà cừ. Những cột nhà làm bằng gỗ teck rất quý, trụ mái nhà của phòng salon này trông rất thanh tao và trên một bàn làm bằng gỗ quý là những chai rượu absinthe, amer Picon và những sản phẩm của Pháp khác. Ông Phủ thích đãi khách các đồ ăn đặc biệt và ông ta cũng biết thưởng thức các loại rượu của chúng ta. Nếu phải diễn tả hết tất cả sự giàu sang của nội thất An Nam này thì phải viết rất nhiều trang giấy…”.

Bá tước Pierre Barthélemy cũng kể về bữa ăn đặc biệt với những món ăn Tây, Việt và Trung Hoa, trong đó ông được đãi món đuông dừa vô cùng ấn tượng.

Đỗ Hữu Phương còn được biết đến như một người giao thiệp rộng, hiếu khách, hào phóng và sành điệu mà chính Toàn quyền Paul Doumer cũng phải kể lại trong hồi ký về Đông Dương : “Ông Phủ ở Chợ Lớn tiếp khách người Âu trong nhà ông, mời uống rượu Champagne và bánh petits beurres de Nantes, cho khách xem một vài sản phẩm đặc thù lạ kỳ của người An Nam và tổ chức theo sự đòi hỏi, ước muốn của khách, xem một tuồng hát của người bản xứ (hát bội)…”.

Trong nhà mình, ông Phương có xây cả một rạp hát bội nhỏ để chiêu đãi khách khứa. Ông thường đến nhà hàng, khách sạn Continental ở Sài Gòn và Café de la Paix, nơi gặp gỡ của các bạn bè Pháp-Việt thượng lưu trí thức để giao lưu. (theo Dân Việt)

ĐỖ HỮU VỊ

NGƯỜI PHI CÔNG VIỆT NAM

ĐẦU TIỂN

“Ngay từ những thập niên đầu thế kỷ 20 Việt Nam đã có phi công được lịch sử hàng không ghi nhận, đó là Đỗ Hữu Vị” “Ông là một người Việt gốc Sài Gòn, đi lính ở nước Pháp và trở thành sĩ quan không quân trong Thế chiến thứ nhất” – nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nói…

Người con trai đặc biệt của Tổng Đốc Phương

Điều thú vị là trong dịp kỷ niệm 100 năm Thế chiến thứ nhất, truyền hình Pháp đã công bố các hình ảnh, tư liệu quý hiếm về binh lính Việt tham gia chiến trường này. Hình ảnh Đỗ Hữu Vị với bộ ria mép đầy chất lính xuất hiện nhiều lần, từ các tấm ảnh ông chụp chung với các sĩ quan Pháp ở trường đào tạo không quân đến cảnh ông ngồi lái máy bay, cưỡi ngựa. Các bưu ảnh cũng in hình ảnh, tên tuổi ông trang trọng…

Đỗ Hữu Vị là con trai thứ năm trong 11 người con của ông Đỗ Hữu Phương, vị tổng đốc khét tiếng giàu có nhất nhì miền Nam hồi cuối thế kỷ thứ 19, đầu thế kỷ 20. Sinh năm 1883 theo giấy tờ khai tại Pháp (có tài liệu cho rằng năm sinh thật của ông là 1881), ông Vị cùng các anh em trai của mình được người cha chịu ảnh hưởng sâu nặng văn hóa Pháp cho theo học trường Tây tại Sài Gòn.

Sau đó, anh em ông tiếp tục sang Pháp học Trường Janson de Sailly, Paris. Giống cha mình, họ nhanh chóng trở thành “người Pháp” hơn cả dân Pháp.

Rời ngôi trường cổ kính này, ngày 1/10/1904, ông Vị đăng ký nhập học Trường võ bị Saint-Cyr. Đây là trường đào tạo sĩ quan cực kỳ danh giá của nước Pháp, lò tôi luyện của rất nhiều tướng lãnh Pháp, trong đó có đại tướng Leclerc, tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp quốc tại Đông Dương.

Trải qua hai năm ở Saint-Cyr, năm 1906 Đỗ Hữu Vị ra trường với quân hàm thiếu úy (sous – lieutenant) trong quân đoàn lê dương số 1, tham chiến tại các chiến địa Oujda Maroc, Casablanca, Algérie… Sau một thời gian dài chinh chiến, đến cuối năm 1910 ông Vị tiếp tục đăng ký vào Trường Quân sự lái máy bay (l’école militaire de pilotage).

Đây là thời điểm nền hàng không thế giới mới ở buổi bình minh phát triển, đặc biệt là không quân, nên sự chọn lựa của ông được rất nhiều người ngưỡng mộ.

Tháng 11/1911, ông tốt nghiệp khóa học được cấp bằng lái máy bay của Aéroclub de France và thăng một cấp lên trung úy. Nam Phong Tạp Chí số tháng 2-1920 đã có bài viết rằng Đỗ Hữu Vị là phi công Việt Nam đầu tiên bay vòng quanh nước Pháp.

Trong hồ sơ quản bạ quân đội, Đỗ Hữu Vị tham gia quân đội Pháp ở Maroc. Nhưng đến năm 1914 ông trở lại Việt Nam để trở thành một trong những người Việt đầu tiên học vận hành loại thuyền lướt trên sông chạy bằng động cơ cánh quạt máy bay do Charles de Lambert chế tạo.

Đây chính là khoảng thời gian nền khoa học hàng không thế giới mới xuất hiện ở nước Việt. Đỗ Hữu Vị trở thành phi công Việt Nam bay biểu diễn cùng các phi công nước ngoài ở Sài Gòn và Hà Nội. Ông cũng tham gia câu lạc bộ hàng không đầu tiên do người Pháp thành lập ở Đông Dương.

Tuy nhiên, Đỗ Hữu Vị không thể nán lại quê hương được lâu. Năm 1914, cuộc đại chiến thế giới bùng phát khốc liệt, ông lại cấp tốc sang Pháp cùng người anh Đỗ Hữu Chấn để tái nhập đơn vị không quân chiến đấu ngay tại chiến trường chính quốc này. Ông đã tình nguyện tham gia nhiều trận chiến nguy hiểm và được giao trách nhiệm phi đội phó một phi đội máy bay ném bom.

Tham chiến

Năm 1915, thời điểm Thế chiến thứ nhất diễn ra vô cùng ác liệt, quân Pháp chịu nhiều thiệt hại nặng trước đối thủ Đức. Cũng trong năm chiến sự nóng bỏng này, Đỗ Hữu Vị rơi máy bay sau một trận đánh vì trúng một trận bão lớn. Chiếc chiến đấu cơ hư hỏng hoàn toàn, ông bị thương nặng, bất tỉnh gần chục ngày với cánh tay gãy, vỡ xương hàm mặt nhưng một lần nữa lại thoát chết…

Sự can đảm của Đỗ Hữu Vị tiếp tục làm cho người Pháp kính nể khi ông không chịu giải ngũ theo tiêu chuẩn thương binh được hưởng, mà vẫn tình nguyện ở lại đơn vị dù không thể lái máy bay được nữa. Được thăng quân hàm đại úy, ông đảm nhiệm công việc mặt đất hỗ trợ không chiến. Sau đó ông gia nhập quân đoàn kỵ binh lê dương số 1 và được giao nhiệm vụ chỉ huy đại đội số 7 cùng khoảng 300 quân ở mặt trận Somme, miền Bắc nước Pháp.

Trong một đợt chỉ huy xung phong, ông bị trúng nhiều phát đạn súng trường của quân Đức và lần này thì ông tử thương ngay tại chiến địa. Các chiến hữu Pháp đã chôn cất người lính Việt dũng cảm Đỗ Hữu Vị ở cánh đồng làng Dompierre bên bờ sông Somme.

Bốn năm sau, người anh Đỗ Hữu Chấn cũng là một sĩ quan quân đội Pháp đã đưa hài cốt em mình về nước trên chuyến tàu vượt đại dương. Tổng đốc Phương lúc này đã mất nhưng anh em trong gia đình đã tổ chức lại cho Đỗ Hữu Vị một đám tang trang trọng nhất Sài Gòn vào thời điểm ấy.

Các quan chức phủ toàn quyền và quân đội Pháp đã thay nhau túc trực tang lễ, tri ân người sĩ quan không quân Việt đầu tiên đã dũng cảm chiến đấu và hi sinh cho nước Pháp. Thái độ trân trọng của chính quyền Pháp sau đó còn được thể hiện qua các bưu thiếp Đông Dương in ảnh ông.

Đặc biệt ở thành phố Casablanca, Maroc và làng Lafaux, Picardie, Pháp đều có đường mang tên Đỗ Hữu Vị. Tại Việt Nam thời Pháp thuộc, nhiều con đường, trường học tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng cũng được đặt tên ông.

HOÀI NIỆM THẦY VĂN GIÃNG

AI VỀ SÔNG TƯƠNG

Thầy Ngô Văn Giảng qua đời ngày 9/5/2013 tại Melbourne – Úc, hưởng thọ 89 tuổi. Tin buồn loan ra, tôi bâng khuâng nhớ về 54 năm trước, năm 1959, thầy là giáo sư âm nhạc của chúng tôi tại trường Hàm Nghi, Huế. Thuở ấy, thầy mới ngoài 30, dáng điệu phương cường, đi chiếc xe gắn máy hiệu Zunndapp của Đức nổ bịch bịch nổi bật cả sân trường.

Tôi còn nhớ ngày đầu tiên khi Thầy bước vào lớp đệ Thất B1 của chúng tôi, trò Trương Phước Ni bắt tay làm loa đứng dậy chào thầy bằng câu : “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…” Thầy cười rất tươi cho cả lớp, nhưng cũng lập nghiêm nhìn chú học trò rắn mắt ở dãy bàn cuối lớp. Đây là câu mở đầu của hùng ca Lục Quân Việt Nam, một trong những bài ca mang tiết điệu hành khúc, hùng tráng nổi tiếng nhất của Thầy – nhạc sĩ Văn Giảng – như Thúc Quân, Đêm Mê Linh, Qua Đèo, Nhảy Lửa

Thầy đã là một nhạc sĩ thành danh, nổi tiếng trong cả nước, trước khi trở thành giáo sư âm nhạc của trường Hàm Nghi. Nhưng nhiều người chỉ biết Văn Giảng qua những bản hùng ca. Bởi thế, vào mấy năm đầu thập niên 1950, khi bản nhạc để đời của Thầy, Ai Về Sông Tương, trở thành một bản tình ca thời danh với tên tác giả là Thông Đạt có lẽ ít ai để ý rằng, trong góc khuất của những tâm hồn nghệ sĩ thì bên cạnh nhịp đời hào hùng vươn tới vẫn có tiếng thở dài chan chứa điệu buồn.

Hai niên khóa học với nhạc sĩ Văn Giảng, tôi thích học nhạc thì ít mà mê Thầy kể chuyện thì nhiều. Cứ mỗi cuối giờ, Thầy có một câu chuyện kể về các giai thoại âm nhạc. Thích nhất là những chuyện thâm cung bí sử của những nghệ sĩ âm nhạc tài hoa. Chẳng hạn như bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác, Thầy xướng âm lên và phân tích cho chúng tôi nghe rằng, tiết điệu của bài ca đó có những trường canh trãi dài xa vắng và âm hưởng thương nhớ quặn lòng “rất Tây Phương” vì đây là bản nhạc do một người lính Đức trong đội quân viễn chinh của Pháp viết lên giai điệu. Nhạc sĩ Hoàng Giác chỉ soạn ca từ…

Hoặc như bản nhạc Trầm Hương Đốt của Bửu Bác, xuất xứ là bài Hải Triều Âm. Đây là một trong những bản nhạc nghi lễ đầu tiên dùng trong sinh hoạt chùa viện đã bứt phá từ giai điệu ngũ âm “Đăng Đàn Cung” để tiến lên bát cung của phương Tây. Bởi vậy mà ảnh hưởng âm điệu “thánh ca nhà thờ” như âm vang trầm trầm không cao không thấp quá tầm uyển thanh của organ thể hiện rất rõ trong giai điệu của bản nhạc.

Nhưng thú vị hơn cả là lịch sử bản nhạc Ai Về Sông Tương. Thầy kể rằng, thời trai trẻ, Thầy ở Thành Nội và yêu một cô gái ở Kim Long – Kim Long có gái mỹ miều; trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi… mà – nhưng duyên không thành vì gia đình nho phong của cô bé không có cái nhìn thiện cảm với đời nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ trong ngành âm nhạc, xướng ca… Thế là chia tay và cô bé đi lấy chồng !

Rồi một hôm, Thầy vào rạp Xi-nê Tân Tân, gần cầu Trường Tiền bên bờ Bắc sông Hương để coi phim “Bé Nhà Trời” (Les enfants du paradis). Ngay trước mắt Thầy, ở hàng ghế trước có một cô Bé tóc dài. Tuy nhìn không rõ mặt nhưng từ dáng dấp đến hương tóc thoang thoảng mùi hoa Ngâu của người thiếu nữ đã làm sống lại hình ảnh người tình Kim Long “ngày xưa Hoàng Thị” ấy.

Thầy bị xúc động đến nỗi không thể còn ngồi lại lâu hơn trong rạp chiếu bóng để xem phim, nên vội vàng ra khỏi rạp. Thầy cỡi chiếc xe đạp Dura Mercier của Thầy và đạp xe dọc theo bờ sông Hương để vô cửa Thượng Tứ vào nhà ở Thành Nội. Thoáng chốc dòng sông Hương hiện ra như là dòng sông Tương chia biệt trong truyện tình cổ thư Trung Quốc. Thầy vừa đến nhà là dựng ngay chiếc xe đạp ngoài hiên, đi nhanh vào nhà và vội vã sáng tác bản nhạc bằng tất cả sự hoài niệm và háo hức nghệ thuật với sự chấn động dị thường như phép lạ hóa thân. Bản nhạc Ai Về Sông Tương được viết ra trong vòng mười lăm phút !

Sau đó, Thầy bí mật ký tên là Thông Đạt và chép một bản gởi ra đài phát thanh toàn quốc là đài Pháp Á ở Hà Nội. Mấy hôm sau, Mạnh Phát vừa là nhạc sĩ vừa là ca sĩ đã hát bản Ai Về Sông Tương lần đầu trên đài Pháp Á Hà Nội. Bản nhạc sáng tác năm 1949 đã nhanh chóng nổi tiếng trong toàn cả nước.

Đã trải qua hơn 60 năm, những mối tình đã cũ, những hẹn hò thuở răng trắng tóc xanh đã thành “răng long đầu bạc”. Nhưng Ai Về Sông Tương vẫn mới như thời gian là nước chảy qua cầu, vẫn còn là tiếng lòng tình tự của những đôi tình nhân ước hẹn không thành. Bản nhạc với một giai điệu thướt tha lãng mạn, lời lẽ đậm nét hoài niệm trữ tình làm dậy lên nguồn tình cảm sướt mướt, mượt mà mà rất “sang” ấy như một dòng suối tươi tắn, mát dịu trong một hoàn cảnh tạm hồi sinh sau cuộc chiến:

Ai có về bên bến sông Tương

Nhắn người duyên dáng tôi thương

Bao ngày ôm mối tơ vương

Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương

Tâm hồn mơ bóng em luôn

Mong vài lời em ngập hương…

Nghe ca khúc “Ai về sông Tương” do Tuấn Ngọc trình bày :

https://youtu.be/wQby8Mf5rcU

Cũng theo lời Thầy vui vui kể chuyện rằng, Mạnh Phát, là bạn thân của Văn Giảng, đã nhờ Văn Giảng đến nhà ấn hành tân nhạc gần như độc nhất thời bấy giờ là nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế do ông Tăng Duyệt làm giám Đốc để hỏi cho ra Thông Đạt là ai ngay sau khi bản nhạc phát trên đài Pháp Á. Thầy tảng lờ như không hay biết. Nhưng mãi đến ba tháng sau thì tông tích của Thông Đạt mới được tiết lộ. “Mạnh Phát vô Huế chơi khi biết tui là Thông Đạt, hắn đấm lưng tui thùi thụi như rứa thì thôi ! ”Thầy Văn Giảng cười vui kể lại.

Một lần trong giờ học nhạc, trò Nguyễn Xuân Huế là tay đọc tiểu thuyết đệ nhất trong lớp hỏi Thầy : “Thưa Thầy, tại sao mình có sông Hương, mình cũng có Hương giang đầu, Hương giang vỹ mà Thầy lại phải vay mượn sông Tương của Tàu như rứa ạ ?”. Thầy trả lời, đại khái là tại sông Hương chưa có chuyện tình nào nổi tiếng trong tình sử như sông Tương. Tương Giang là một con sông ở Trung Hoa, bắt nguồn từ núi Duyên Hải, chảy qua Hồ Nam dài hơn hai ngàn dặm. Còn ý “ai về sông Tương” của Thầy trong bản nhạc là bắt nguồn từ cảm hứng của bốn câu thơ tình sử trích từ khúc Trường Tương Tư của nàng Lương Ý, đời Hậu Chu. Nàng và Lý Sinh yêu nhau say đắm nhưng phải chia tay. Nàng làm thơ mong gửi gấm nguồn tâm sự đau khổ khi phải xa cách người yêu:

Quân tại Tương Giang đầu

Thiếp tại Tương Giang vĩ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương Giang thủy

(Chàng ở đầu sông Tương / Thiếp ở cuối sông Tương / Nhớ nhau không thấy mặt / Cùng uống nước sông Tương)

Sau đó không lâu, tôi lại được “gặp” Thầy qua một tác phẩm mang tính chất đạo ca của khách hành hương mà tôi đã gặp trên chuyến đò Thừa Phủ : Nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương Tôi. Lần nầy Thầy để tên tác giả là Nguyên Thông. Bản nhạc tuy được liệt vào thể loại nhạc tôn giáo nhưng cả giai điệu lẫn ca từ đã vượt ra ngoài khuôn khổ giới hạn của văn hóa chùa viện.

Cảm quan nghệ thuật sáng tạo của người nhạc sĩ tài hoa đã dung hóa được tính chất tráng liệt của hùng ca như Thúc Quân, Lục Quân Việt Nam, làn điệu mượt mà lãng mạn của tình ca như Ai Về Sông Tương, Ai Đưa Con Sáo Sang Sông và biểu tượng thiêng liêng, siêu thoát của đạo ca như Mừng Đản Sanh, Ca Tỳ La Vệ, Từ Đàm Quê Hương Tôi.

Những nhạc sĩ tài hoa của nền tân cổ nhạc Việt Nam thuộc thế hệ Chiến Tranh Việt Nam lần lượt ra đi. Nghệ thuật và người nghệ sĩ đến với đời và ra đi không bằng tấm vé một chiều. Tác phẩm để lại cho thế hệ kế thừa sẽ làm cho con đường sáng tạo nghệ thuật rộn ràng và phong quang hơn. Với hơn 50 tác phẩm âm nhạc phong phú giá trị nghệ thuật để lại cho đời, nhạc sĩ Văn Giảng đã cống hiến phần tinh hoa lớn nhất của đời mình vì lợi lạc của tha nhân mà các nhà tu Phật giáo thường gọi là “công hạnh viên thành”. Thế hệ đàn em, học trò như chúng tôi có điểm tựa tinh thần đáng tự hào cùng tấm lòng trân trọng trong giờ phút tưởng niệm và bái biệt Thầy. (theo Trần Kiêm Đoàn)

Phan Tất Đại tổng hợp chuyển tiếp