Trùm giang hồ TRẦN ĐẠI (1)

“GIAI THOẠI” VỀ ĐẠI CA THAY

TRÙM GIANG HỒ ĐẤT SÀI GÒN

– Yên Huỳnh post (kỳ 1)

Cách đây gần một tháng (29/3/2011) đạo diễn Lê Hoàng Hoa người thực hiện cuốn phim “Điệu Ru Nước Mắt” (giữa thập niên 1960) lấy từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Duyên Anh, chiếu lại cho bạn bè thân hữu xưa và nay của anh đến xem, tại Viện Tư Liệu Phim TP (số 7 Phan kế Bính – Q1 – Sài Gòn).

“Điệu ru nước mắt” là hư cấu về cuộc đời của Đại Ca Thay. Còn thực tế như bài viết dưới đây :

Nguyễn Việt

Ngay cả đám giang hồ cộm cán, đám đàn em tin cẩn cũng không ai biết hắn con ai, tên thật là gì. Chính Đại Cathay cũng… không biết tên thật của mình nốt. Hơn chục lần bị điệu về bót cảnh sát, Đại tự khai cho mình hơn chục lai lịch khác nhau. Theo đó, cha của hắn lúc là Lên Văn Cự, lúc lại là Trần Văn Trự… Mẹ của Đại Cathay cũng khá… nhiều tên, lúc là Hương, lúc là Duyên, sống hay chết thì “có trời mà biết”. Nói tóm lại, như Đại Cathay thường tự nhận, gã là một thằng… con trời có lẽ xuôi tai hơn cả.

Kì thực, Đại tuổi Thìn, sinh năm 1940. Theo tìm hiểu của chúng tôi, mẹ của Đại tên gì không rõ, chỉ biết người xung quanh thường gọi là bà Sáu. Còn cha Đại thì chính tên là Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Sau năm 1945, Hai Cự tham gia kháng chiến, trở thành lính của “Mười ban tự vệ công tác thành”, sau đó bỏ vào chiến khu rừng Sác đầu quân vào bộ đội Bình Xuyên của thủ lĩnh Ba Dương (tức Dương Văn Dương). Đại sinh ra giống cha như đúc nhưng tuổi thơ rất ít được gần cha. Thuở nhỏ, gã sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội, Quận 4. Cả cha lẫn mẹ của hắn đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh chợ cũ, Quận 1. Đại thường xuyên trốn học chạy sang chơi vơi đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất “lì đòn”, những đức tính được “thừa kế” đầy đủ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, gã đã thường xuyên luồn lách vào các chợ, sạp hàng xung quanh, ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn.

Sau 1945 cha Đại tham gia kháng chiến và bị bắt vào cuối năm 1946, bị đày ra Côn Đảo và ít lâu sau thì chết. Cha mất, mẹ lấy chồng khác. Bố dượng là 1 tay máu me cờ bạc, lại nghiện thuốc phiện nặng nên gia sản dần dần biến hết. Cáu bẳn vì sinh kế, ông dượng thường nọc đứa con riêng của vợ ra hành hạ để hả cơn bực tức. Không chịu nổi, Đại bỏ học hẳn, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo tự nuôi thân. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý – Nguyễn Công Trứ. Tại đó có 1 rạp chiếu bóng tên là Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại cứ lăn xả vào đối thủ liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn nửa cái đầu cũng mặc. Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy vết rách bầm. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng nghiễm nhiên, gã được quyền ráp thêm “tên đất” vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, “đại ca” đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954 lúc Đại mới 14 tuồi. Trở thành “anh chị”, Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì.

Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em “đi làm” mang tiền về nộp. Mỗi buổi sáng, hàng chục thiếu niên Ba Binh, Ba Tướng, Ba Gà (hỗn danh để gọi đám trẻ du đãng chưa có tên tuổi. Ba Binh là quân sư, Ba Tướng là những thằng trực tiếp đi đánh nhau còn Ba Gà là những tên thuyết khách) cả trai lẫn gái tụ tập quanh Đại Cathay nhận công việc và địa bàn do hắn cắt cử, sau đó túa đi, chiều lại đem tiền về cho Đại. Được cái, hắn rất hào phóng, Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Những đàn em không may bị ế báo, bị mưa ướt thuốc, kẹo phải đền tiền, Đại Cathay cũng không chửi bới, đánh đập như những tên “chăn chíp” tham lam khác mà còn lấy của đứa “trúng mánh” cho thêm. Vì vậy, đàn em rất khoái và chỉ nghe lời “anh Đại”. Tình trạng đánh lộn, tranh giành khách trong khu vực của Đại Cathay được dẹp yên.

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị các ông cò bót quận Nhì xách tai lôi về bót. Không còn cách nào khác, các thầy cảnh sát đành tống Đại Cathay vào trại tế bần hoặc Trại giáo hóa thiếu nhi phạm pháp ở Thủ Đức.

Ở miền Nam trước giải phóng, có bốn nơi được coi là “lò đào tạo du đãng”. Nơi thứ nhất là Trại nuôi dạy trẻ mồ côi, nằm tại địa điểm nhà hát Hòa Bình hiện nay. Nơi thứ hai, Làng cô nhi Thủ Đức, điều kiện sống khá hơn nhưng vẫn rất lỏng lẻo, tha hồ cho đám tiểu yêu phá phách. Những tên nhóc bất trị nhất, hai trại trên đều không chứa nổi thường bị cảnh sát lùa vào Trại giáo hóa Thủ Đức. Thực chất, đây chỉ là nơi nuôi báo cô đám du thủ du thực, chờ chúng đủ tuổi là đẩy vào quân đội. Nơi thứ tư, Trại Tế Bần nằm bên kia cầu Trình Minh Thế (nay là cầu Tân Thuận), là một Trạm trung chuyển giam giữ những tên lưu manh sắp hết tuổi vị thành niên.

Sau nửa tháng bị giam, nếu có người nhà bảo lãnh, đóng phạt, tên tiểu yêu sẽ được cho ra. Nếu không chúng sẽ bị nhốt lại, chờ đủ tuổi là tống vào đội quân lao công chiến trường. Biết trước số phận “bia thịt” của mình nên đám du đãng vào trại tế bần chưa ấm chỗ đã tìm cách trốn. Lọt ra khỏi vòng rào các trại, đám nhóc lại lần về với các băng nhóm du đãng, bụi đời. Hầu hết đám giang hồ Sài Gòn nổi tiếng sau này đều đã từng qua đủ các trại nói trên. Thuộc hạng vào ra như cơm bữa, Đại Cathay được liệt vào loại “tù con rạ”, để phân biệt với đám “tù con so” mới nhập trại lần đầu. Ở các trại, Đại Cathay đã làm quen với những Của Gia Định, Lâm Chín Ngón, Hắc Quảy Quảy, Hòa Áo thun… những chiến hữu đắc lực sau này trên chốn giang hồ. Mỗi lần vào trại rồi trốn ra, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, càng “tích cực” lao đầu vào những trận thư hùng-vốn là thứ năng khiếu nổi trội hơn cả ở hắn.

Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực hãng phân Khánh Hội cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám trẻ con khu vực này đón tiếp Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ nhóc tì khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân bến tàu vựa cá, vựa rau cải – vốn có hạng trong nghề dao búa – đều bị Đại Cathay qui phục về dưới trướng.

Khi Đại Cathay còn là một cậu bé đánh giày thì toàn bộ khu vực Cầu Mống – Dân Sinh – Cầu Ông Lãnh mà dân giang hồ gọi là khu Da Heo, đều do một tay giang hồ nổi tiếng là Tám Lâu cai quản. Ở trần, quần dài vắt vai, đi đứng nói năng khụng khiệng, nét mặt luôn đằng đằng sát khí, Tám Lâu bị bà con khu Da Heo coi như một hung thần. Nghề chính là đạp xích lô, nhưng thực chất Tám Lâu là kẻ nhận quyền bảo kê thu thuế toàn bộ khu Da Heo, dưới trướng có hàng chục đàn em. Dưới nệm xích lô, Tám Lâu luôn thủ sẵn “hàng mã”, sẵn sàng vung ra bất cứ lúc nào với bất cứ ai.

Nhiều lần chứng kiến thằng nhóc đánh giày dẫn quân đập lộn, Tám Lâu đâm “chịu” Đại. Thỉnh thoảng ngồi nhậu thấy Đại đi qua, Tám Lâu lại ngoắc vào kê ghế cho ngồi cạnh mần hơi cho ấm bụng. Qua những lần nhậu ké đó, Đại Cathay được Tám Lâu giới thiệu như một tay trẻ tuổi tài cao đầy hứa hẹn với đám giang hồ đàn anh : Ba Hội, Cảnh Tượng… Tám Lâu cũng thường đưa Đại đến các khu Lò Heo (cũ), Chánh Hưng, hẻm Hai mươi để làm quen với các tay anh chị khu vực khác. Nể tình Đại Cathay cũng hay ghé đến hẻm 110 Nguyễn Công Trứ để thăm hỏi Tám Lâu.

Tuy hung tợn, dữ dằn nhưng Tám Lâu vẫn phải thúc thủ trước uy thế của anh em Bé Bún, một trùm giang hồ quận 4, khu vực cạnh hãng phân nơi Đại Cathay trú ngụ. Cậy đông quân lắm mã, đám này thường kéo rốc qua Cầu Ông Lãnh, tràn vào “thu thuế” giật bà con thiểu thương chợ vựa Cầu Muối, Tám Lâu không cản nổi.

Một ngày cuối năm 1957, tình cờ nghe đàn anh thở ngắn than dài, nộ khí xung thiên, Đại Cathay đề xuất :

– Anh Tám để đó em lo. Phải cho Bé Bún nằm viện, đám này mới ngán !

Tám lâu gạt phắt :

– Con nít biết gì ? Tao còn thua nó, mày là cái đinh gỉ !

Tự ái Đại Cathay bỏ về. Lúc này đám Ba Binh, Ba Tướng của Đại cũng đã lớn, toàn thanh niên 17, 18 tuổi, lại lăn lộn lề đường nhiều nên cũng khá dày dạn. Nghe lời Đại Cathay, đám này vác dao qua Bến Vân Đồn “chém bậy” vài tay em của Bé Bún để khiêu khích. Điên tiết, Bé Bún hô toàn bộ em út tấn công sang khu Da Heo hỏi tội Tám Lâu. Quân Bé Bún quá đông, khiến Tám Lâu và đám đàn em hoảng hốt, định bỏ chạy. Nhưng vừa qua khỏi Cầu Ông Lãnh, băng Bé Bún đã ôm đầu máu chạy ngược trở lại, kêu la vang trời. Không nói trước với đàn anh nửa câu, Đại Cathay đã âm thầm cho đàn em của mình “trải đệm”, bất ngờ “luộc” băng Bé Bún. Dưới sự chỉ huy của Đại Cathay, đám giang hồ tân binh tả xung hữu đột lăn xả vào chém quân Bé Bún, xộc thẳng sang cả bên kia cầu. Nói là làm, Đại Cathay đã xỉ cho Bé Bún mấy nhát sau đó phải nằm viện thật, không dám bén mảng sang giành mối ở khu Da Heo nữa.

Sau trận hỗn chiến, Tám Lâu đâm ớn “tài ba” của Đại Cathay. Một mặt, Tám Lâu tuyên bố trong khu Da Heo, Đại Cathay có toàn quyền xử sự, mặt khác y lại lo ngay ngáy bị Đại Cathay lấy làm đối thủ. Biết ý, Đại tuyên bố không giành đất, khu Da Heo vẫn của Tám Lâu. Phần Đại, gã chỉ thu thuế các sòng bài, ổ đề, tiệm hút trong khu vực. Tiếp đó, Đại vươn tay bảo kê tất cả các ngành nghề kinh doanh lậu bao gồm xưởng nấu xà phòng, lò mổ heo, lò rượu… trong khu. Có tiền có quyền, Đại dần dần đã khiến các tay anh chị khác phải dạt ra. Đại Cathay tha hồ ăn chơi và làm mưa làm gió.

Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập vào miền Nam. Các cậu ấm cô chiêu con nhà giàu tuy được ăn học đàng hoàng nhưng cũng học đòi nhau, thường xuyên có mặt ở các nhà hàng, vũ trường, tiệm hút với đủ kiểu quần áo tóc tai dị hợm. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí…. giả trong khoản ăn chơi. Nhẵn mặt ở các nơi đốt tiền nổi tiếng của quận 1, quận 3, Đại Cathay và đám đàn em bắt đầu quen biết với một đám sinh viên, kỹ sư, bác sĩ con nhà gia thế, trong đó có anh em Dzách Bửu, Dzí Bửu, Hùng Đầu bò, Hoàng Sayonara (tay này móc classic bản Sayonara rất “não nùng”)… và nhiều văn sĩ nghệ sĩ khác. Đám nghệ sĩ trí thức cũng nể Đại Cathay chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã – trông bụi đời, hippi hơn cả. Chính Hoàng Sayonara sau đó đã trở thành quân sư hoạch định chiến lược làm ăn và chinh phạt cho Đại. Nghe lời các quân sư, Đại Cathay đứng ra cùng với Bảy Si, bà Bảy Trà đá mở sòng bài lấy xâu ở khu vực Cầu Muối.

Ban Đầu Đại Cathay không thích mở sòng bài vì dân giàu có đã có các sòng Đại Thế Giới, Kim Chung… Mở nữa e không cạnh tranh nổi, Hoàng Sayonara vẽ :

– Không chỉ giàu mới máu me đen đỏ. Các sòng lớn như Kim Chung, Đại Thế Giới toàn dân quí tộc, chức sắc, dân giang hồ, người buôn bán ngại vô. Ta mở sòng vừa vừa kéo khách từ đám này.

Đại Cathay đồng ý. Ở chợ Cầu Muối trước đó Bảy Si (anh vợ Năm Cam – ông trùm sòng bạc sau này) đã có sòng bài sẵn, nhưng khi nghe Đại Cathay đề nghị hùn hạp, Bảy Si cũng không thể chối từ. Thừa thắng, Đại mở rộng ra cả lĩnh vực làm huyện đề 40 con chung với Hỏi, trùm khu Cây Da Xà. Hắn mua của Hùng Đầu bò một chiếc Traction 15, chiều chiều cho đàn em lái đi khắp các ngả đường vứt lên từng xấp “phơi” đề cùng với hàng cọc tiền chở về. Quyền lực được tiền bạc hậu thuẫn khiến Đại Cathay càng thêm uy thế. Đến năm 1962, 1963, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm khét tiếng. Gần như hầu hết nhà hàng khách sạn, động mại dâm, tiệm hút chích, sàn nhảy ở khu vực quận 1, quận 2 đều chịu sự bảo kê của Đại. Các vũ trường nổi tiếng như Olympic, Queen Bee, Barcara, Paramouth đều coi hắn như ông chủ đích thực, Đại Cathay và đàn em tha hồ ăn chơi nhảy múa mà không một nơi nào dám viết hóa đơn, thậm chí còn lấy làm vinh hạnh vì được đàn anh chiếu cố.

Nhưng nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế bảo kê. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (Vua kẽm gai), Xí Ngàn mặt rỗ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các “vu”, Đại Cathay cũng làm quen, “chơi chịu” được với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.

Chỉ năm năm sau ngày khởi sự ở khu Da Heo, Đại Cathay đã trở thành một ông trùm không đối thủ, được toàn giới giang hồ kiêng dè, sợ hãi. Nhưng vẫn còn ba ông trùm “lừng lẫy” khác không ưa gì Đại Cathay, đó là Huỳnh Tỳ, ông trùm Lê Lại, Ngô Văn Cái và Ba Thế. Cho rằng Đại “chơi kèo trên”, giành mối, giành đất, Huỳnh Tỳ và Ngô Văn Cái quyết định “hội đồng” diệt Đại.

Hai tên giang hồ họp nhau tại vũ trường Aristo (sau này là khách sạn Lê Lai, cạnh khách sạn New World) cùng một giang hồ gộc là Thế Aristo – chủ vũ trường – có thêm Hùng phốc và Luân – 2 giang hồ cộm cán khác cùng hỗ trợ, mời Đại đến “bàn công việc”. Không chút nghi ngờ, Đại Cathay đã bất ngờ bị Thế Aristo đá lộn cổ trở xuống. Bốn kẻ phục kích cũng nhất tề rút dao xông vào chém. Đại Cathay vừa đỡ đòn vừa tìm đường thoát thân, chạy được ra ngoài, mình mẩy đầy thương tích nhưng may không chết. Những vết thương chưa kịp kéo da non, Đại đã đơn thương độc mã giắt dao đi tìm từng tên một trị tội. Cả năm tên đều lần lượt bị Đại Cathay chém trọng thương. Cuối cùng Tám Lâu phải nhờ Cảnh Tượng, Ba Hội và một số tay đàn anh khác xin lỗi giúp cho năm tên, Đại Cathay mới nguôi giận, đồng ý “hòa giải”. Danh xưng “Tứ Đại giang hồ” bắt nguồn từ đó.

Lẽ ra, với những thành tích bất hảo chồng chất lên nhau, Đại Cathay đã ngồi tù mọt gông từ những năm trước đó. Nhưng xã hội miền Nam đầy nhiễu nhương với bộ máy quan chức được mua bán bằng tiền đã tỏ ra bất lực không trị nổi Đại Cathay và đám du đãng, để mặc kệ cho chúng làm mưa làm gió. Cò Ly, quận trưởng quận 1 còn cố tình dung túng cho Đại Cathay mở sòng bài, hoạt động bảo kê thu thuế. Bù lại, hằng tháng, Đại đều có những khoản riêng béo bở tuồn vào cửa sau cho vợ ông Cò. Mỗi chiều thứ bảy, cò Ly và Đại Cathay lại sánh vai nhau bước vào các vũ trường nhà hàng sang trọng ăn chơi, đập phá thâu đêm. Đương nhiên, lương quận trưởng một năm cũng không đủ chi cho một lần nhất dạ đế vương nên ông cò chẳng bao giờ phải nghĩ đến chuyện móc hầu bao.

Có tiền, có quyền, có thế, Đại Cathay quyết định bành trướng xuống Chợ Lớn, lãnh địa của Tín Mã Nàm, ông trùm giới Hắc Đạo người Hoa, xưa nay vẫn được coi là bất khả xâm phạm.

So với băng du đãng của Đại Cathay, giới Hắc Đạo của Tín Mã Nàm có tổ chức chặt chẽ và hùng hậu hơn nhiều. Dưới thời Diệm – Nhu, toàn bộ hoạt động kinh tài của các bang hội Hoa Kiều Chợ Lớn đều có cổ phần của giới Hắc Đạo. Toàn bộ nhà hàng, sòng bạc, tiệm hút… đều do giới này quản lý hoặc hùn hạp. Tuy nhiên, sau đảo chính tháng 11.1963, do tham lam, chính Tín Mã Nàm đã khiến giới Hắc Đạo suy yếu. Bắt tay với khá nhiều tướng lĩnh, chính khách thuộc phe đảo chính, “Con ngựa điên” đã bán đứng một số cơ sở kinh tài của các bang hội cho chính quyền mới, tố họ là “cơ sở kinh tài của Diệm – Nhu”. Mặt khác, Tín Mã Nàm cũng tố cáo và giao nộp cho cảnh sát một loạt tay giang hồ Hoa kiều không ăn cánh với y như Hỏi Phòong Kin, Sú Hồng, Cọp Chảy, Quầy Thầu Hao, Hắc Quẩy Chảy… nhằm củng cố địa vị “Vua Hắc Đạo” của mình. Vì vậy, Tín Mã Nàm được trung tá Lê Ngọc Trụ – Trưởng ty cảnh sát quận 5 trọng dụng và ưu đãi, trong khi bị nhiều đàn em oán giận và tìm cách trả đũa.

Trong những kẻ oán Tín Mã Nàm có tay tài pán tên Chó, người giúp việc cho Tín Mã Nàm quản lý ngành kinh doanh cờ bạc. Biết được sự chia rẽ đó, Đại Cathay đã sai đàn em dụ hàng tên này. Chó đã bán đứng Tín Mã Nàm, kéo một lượng lớn các con bạc nặng ký từ các sòng Đại Thế Giới, Hào Huê về Cầu Muối cho sòng của Đực Bà Tiều và Bảy Si thuộc quyền Đại Cathay, đồng thời bỏ luôn khu Chợ Lớn về theo Đại Cathay mở mang sòng bạc ở khu Sài Gòn. Biết chuyện, Tín Mã Nàm hạ lệnh cho giới Hắc Đạo :

– Chém bất cứ tên đàn em nào của Đại Cathay bén mảng xuống Chợ Lớn.

Chỉ chờ có thế, suốt 12 tháng trời, Đại Cathay đã liên tục đổ quân tập kích xuống các điểm làm ăn của Tín Mã Nàm ở vùng Chợ Lớn, chém phứa vào bất cứ ai rồi tức tốc bỏ chạy. Người bị chém thường là dân lành, khách chơi, chính vì vậy họ đâm sợ các điểm ăn chơi giải trí của Hắc Đạo, không dám lui tới nữa. Vắng khách, thu nhập thấp, đám cô hồn bảo kê của Tín Mã Nàm đành túa ra làm ăn lẻ để gỡ gạc, bất chấp kỷ luật của ông trùm. Nhưng cứ tên Hắc Đạo nào lọt xuống khu Sài Gòn là tên đó bị đàn em của Đại Cathay chặn đánh. Đầu năm 1964, biết phe Hắc Đạo đã hết phong độ, Đại Cathay quyết định đánh trận cuối, Đại dẫn theo 9 tên đàn em “chiến đấu” nhất, trong đó có Ba Thế và Lâm chín ngón đi trên 5 xe Goebel bất thình lình tấn công vào quán cà phê ngay trước rạp Hào Huê, đối diện với Đại Thế Giới. Đây là điểm tụ tập của các tay đàn em Tín Mã Nàm vào 2 buổi sáng chiều.

Cuộc tập kích thất bại, hai bên đều thiệt hại nặng nề. Nhưng máu liều của Đại Cathay càng được giới giang hồ truyền tụng và vị nể. Tín Mã Nàm cũng lo lắng : nếu cứ để cho Đại Cathay tập kích mãi như vậy, giới Hắc Đạo chỉ còn nước dẹp hết sòng bài, tiệm hút vì không còn ai dám bén mảng. “Con ngựa điên” phải kìm cơn điên, cử người đến mời Đại Cathay lên nhà hàng Đồng Khánh điều đình. Đàn em cố khuyên Đại đừng vào hang cọp, e bị “trải đệm” nhưng Đại Cathay nổi máu yên hùng, vẫn quyết định nhận lời. Để tài xế ngoài cửa, Đại một mình tay không lên nhà hàng hội kiến với Tín Mã Nàm. Cử chỉ ngang tàng này khiến Tín Mã Nàm thầm phục. Hắn nhượng bộ, đồng ý giao toàn bộ khu vực từ chợ Nancy về Sài Gòn cho Đại Cathay toàn quyền. Phần quận 5, Chợ Lớn, đàn em của Đại được phép hoạt động với điều kiện không lấn vào những khu vực đã có sẵn người của Hắc Đạo. Riêng các khu vực chợ Sắt, chợ Tân Thành, hẻm “dzách bạc hồ hãn” (hẻm 100), Đại Cathay và đàn em tuyệt đối không được xâm phạm, vì đó là giang sơn riêng của Tín Mã Nàm, nơi vợ bé của y sinh sống.

Mỗi lần ra đường, Đại Cathay và băng du đãng lại một phen khiến người đi đường khiếp vía. Như một gã con trời thứ thiệt, Đại Cathay chễm chệ trên băng trước chiếc Mustang mui trần do Năm Công lái, có cả chục tên đàn em phóng xe máy theo sau hộ tống. Xe chạy xả ga, hú còi vô tội vạ khiến mọi người hốt hoảng chạy giạt sang hai bên đường, trong khi đám lưu manh tha hồ vỗ tay cười hô hố. Sự ngang ngược coi thường luật pháp của Đại Cathay khiến những kẻ tai to mặt lớn và cảnh sát thời đó hết sức tức tối, nhiều lần tống cổ Đại vào khám. Nhưng bắt cóc bỏ đĩa, chẳng lần nào cảnh sát đủ bằng chứng để giam giữ hắn lâu, đành phải thả. Dùng luật không xong nhiều quan chức ngụy tìm cách mua chuộc hắn.

Biết Đại Cathay đang tuổi quân dịch, viên tướng máy bay Nguyễn Cao Kỳ – có lẽ do muốn chơi trội – bèn cho gọi tên du đãng đến. Kỳ phủ dụ :

– Tôi biết anh là người có chí, nhưng luật là luật, anh không thể trốn mãi được đâu. Về làm vệ sĩ cho tôi, anh vừa khỏi đăng lính, lại vẫn có quyền hành, muốn đi đâu làm gì mặc sức mà khỏi bị ai thù oán. Anh cứ suy nghĩ cho kỹ, ba ngày nữa trả lời tôi cũng được.

Tên du đãng ít học đời nào chịu suy nghĩ những ba ngày. Kỳ chưa dứt Đại Cathay đã trả lời luôn :

– Dạ, cảm ơn thiếu tướng đã có thịnh tình chiếu cố. Phiền nỗi tôi đi đâu cũng có cả chục gạc-đờ-co hộ tống, giờ tôi lại làm gạc-đờ-co cho người khác, không lẽ để cho tụi nó thất nghiệp ?

Tướng râu kẽm bầm mặt nhưng vẫn ngọt nhạt :

– Làm vệ sĩ của tôi, anh là nhân viên công lực của quốc gia, danh giá đâu kém cạnh gì ai ? Là quí anh tôi mới bảo thế, chứ nếu cần vệ sĩ tôi đâu thiếu người giỏi.

Đại Cathay vẫn ngổ ngáo :

– Dạ, xin lỗi, tôi không hầu thiếu tướng được…

Sau Nguyễn Cao Kỳ đến lượt tướng Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc Nha cảnh sát Đô Thành. Tuyên bố “Đặt giang hồ ra ngoài vòng pháp luật”, tướng Sáu Lèo cho mở “Trung tâm bài trừ du đãng” đặt ở bên kia cầu Bình Triệu và lập “Biệt đội hình cảnh” nhằm tiêu diệt giang hồ do đại úy Trần Kim Chi làm đội trưởng. Theo lệnh Sáu Lèo, “Biệt đội hình cảnh” được bắn bỏ bất cứ tên giang hồ nào trên đường phố nếu chúng gây án và chống lại cảnh sát. Sau một thời gian hoạt động, “Biệt đội hình cảnh” vẫn chỉ tóm được một số tên du đãng “tép riu”, tướng Sáu Lèo bèn quay sang tìm cách mua chuộc Đại Cathay hòng “dĩ độc trị độc”. Đính thân Mã Sâm Nhơn, phụ tá của tướng Sáu Lèo đến gặp, đưa giấy mời của ngài chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan cho Đại Cathay. Cùng một đàn em, Đại Cathay có mặt y hẹn. Nguyễn Ngọc Loan ra giá :

– Tôi sẽ nhận anh vào chức vụ đại úy Phó ty cảnh sát một quận. Anh được toàn quyền hành động, nhưng phải giúp tôi tiêu diệt hết đám lưu manh du đãng.

Đại Cathay từ chối :

– Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được ? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt.

Nguyễn Ngọc Loan hạ giá :

– Anh không muốn nhận, tôi không ép, nhưng anh phải giải tán băng nhóm, không được lộng hành.

Đại Cathay đồng ý với điều kiện để cho y và đàn em toàn quyền làm ăn và cai quản khu cảng Sài Gòn, Khánh Hội, khu vực chợ vựa Cầu Muối, và hai bên bờ Kinh Tẻ. Thấy tên giang hồ cứng đầu, Nguyễn Ngọc Loan nổi đóa :

– Tôi lệnh cho anh giải tán hết, nếu không giang hồ, du đãng sẽ không còn đất sống !

Đại Cathay trả lời :

– Giang hồ không có vua, tôi đâu có ra lệnh cho các băng khác được.

Cuộc mặc cả kết thúc. Tiếng tăm Đại Cathay nổi như cồn trong giới giang hồ vì “dám vuốt râu kẽm” tướng Kỳ và từ chối chức tước của tướng Loan ban cho. Đại Cathay càng vênh váo hơn. Nhưng chính bằng sự nổi tiếng ấy, Đại Cathay đã tự ký cho mình bản án tử hình.

(Còn một kỳ nữa)

Tướng cướp BẠCH HẢI ĐƯỜNG (2)

SỰ THẬT VỀ :

TƯỚNG CƯỚP

BẠCH HẢI ĐƯỜNG

(Kỳ 2)

BỊ BẮT LẦN THỨ HAI

Mời xem một trích trích đoạn trong phim “Tướng cướp Bạch Hải Đường”.

Xin bấm vào đường dẫn :

http://youtu.be/xp3irhqnJBQ

            Với hai tay hai chân bị còng, Bạch Hải Đường (BHĐ) chỉ cần một đêm mưa gió để thoát ra ngoài cùng bốn phạm nhân khác. Sáng ra, cán bộ quản giáo, cán bộ điều tra – chấp pháp đều sững sờ khi nền phòng giam chỉ còn mấy bộ còng bị phá nằm chỏng chơ.

            Lời thách thức sau vụ vượt ngục, tường nhà giam đã bị đục thủng một lỗ, bên cạnh là dòng chữ của tên siêu tội phạm để lại như trêu ngươi : “Nơi đây không phải chốn dừng bước giang hồ của Bạch Hải Đường”, ký tên Nguyễn Ngọc Truyện (tên thật của BHĐ)…

            Một tổ trinh sát được thành lập, các anh cùng thề sẽ sinh tử với tên tội phạm đặc biệt này. Sau khi Thị đội Long Xuyên bàn giao BHĐ cho Công an tỉnh An Giang, hắn bị giam giữ chung với bốn đối tượng khác. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, giữa tháng 5/1980, BHĐ đã tổ chức cuộc vượt ngục gây kinh ngạc không chỉ với lực lượng công an, quân đội mà bất cứ cơ quan nào.

            Bạch Hải Đường bị bắn tới ba phát súng vào chân, bị trọng thương. Khi về nhà tạm giam, hắn gần như kiệt sức, chân gần như không còn cử động được. Việc đầu tiên của cán bộ quản giáo lúc đó là điều trị vết thương cho BHĐ. Khi vết thương bắt đầu khô và lành dần, hắn đã tổ chức vượt khỏi trại giam cùng bốn đối tượng khác. Các lãnh đạo các phòng ban nghiệp vụ và công an tỉnh khi đến hiện trường phòng giam mà BHĐ đã tổ chức để “ra ngoài”, đều không tin vào mắt mình. Phòng giam giữ được xây dựng kiên cố. BHĐ đã bị còng tay chân. Nhưng vì sao hắn có thể thoát thân với một lỗ thủng trên bức tường trại giam và bỏ lại tất cả những chiếc còng ?

            Sau này, khi bắt được BHĐ lần thứ ba, bức màn bí mật về cuộc vượt ngục mới được hắn khai nhận tỉ mỉ. Thông tin BHĐ đào thoát khỏi trại giam đã gây sửng sốt đối với mọi người, kể cả những cán bộ công an An Giang. Một lần nữa, tên giang hồ khét tiếng đã đào thoát khỏi vòng vây pháp luật và một cuộc truy bắt lại bắt đầu. Nó gian nan, gay cấn và nguy hiểm hơn. Bởi hơn ai hết, BHĐ khi ra khỏi trại lần này đã trở thành con mãnh hổ ghê gớm hơn trước để tồn tại ngoài vòng pháp luật !

            Bạch Hải Đường đào thoát khỏi trại giam là một việc hết sức nguy hiểm cho xã hội. Lãnh đạo Công an An Giang, nhất là lực lượng cảnh sát hình sự phải mất ăn mất ngủ vì cái tin BHĐ trốn trại. Nhiều cuộc họp khẩn cấp diễn ra tại Ban Giám đốc Công an tỉnh An Giang nhằm huy động tất cả lực lượng nghiệp vụ để truy bắt bằng được BHĐ. Đội trọng án của Phòng Cảnh sát hình sự được giao nhiệm vụ chủ chốt, truy bắt BHĐ. Sau một tháng, rồi hai tháng trời ròng rã truy tìm, tung tích của BHĐ vẫn biệt vô âm tín. Tất cả các đối tượng hình sự ở An Giang và các tỉnh lân cận có quan hệ với BHĐ đều được các trinh sát “bám”, nhưng vẫn không có chút manh mối nào.

            Lãnh đạo Phòng Cảnh sát hình sự nhận định có thể BHĐ chỉ còn những chỗ ẩn nấp là gia đình những người thân. Nhưng việc xác minh được người thân của hắn ở đâu cũng là một thách thức. Từ An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang… đều có người thân của BHĐ. Thời gian đã trôi qua hơn hai tháng, BHĐ vẫn không hề xuất hiện. Có ý kiến cho rằng BHĐ đã chết do những vết thương bị bắn ? Ông Nguyễn Thanh Sang – Trưởng Phòng CSHS và các người trong Đội trọng án gần như ngồi trên đống lửa vì nhiệm vụ cấp trên giao vẫn chưa hoàn thành.

            Ông Sang chỉ đạo Đội trưởng Đội trọng án lúc đó là ông Phạm Thanh Sơn phải truy bắt bằng được cả bốn đối tượng vượt ngục cùng đêm với BHĐ. Có thể những tên này sẽ biết BHĐ đang ở đâu. Cuối cùng, bằng các biện pháp nghiệp vụ sắc bén, một đối tượng hình sự tên là Th. đã bị bắt. Rất may là qua khai thác tên Th., đã có manh mối về nơi ẩn náu của BHĐ. Nguồn tin quý giá từ tên Th. làm ban chuyên án mừng như mở cờ trong bụng. Ông Sang đã nhanh chóng báo cáo Ban Giám đốc công an tỉnh xin ý kiến rồi tổ chức vây bắt. Chỉ thị của lãnh đạo công an tỉnh cho Phòng CSHS là không được để BHĐ trốn thoát và sống ngoài vòng pháp luật, phải bắt bằng được.

            Nhận nhiệm vụ nặng nề là ông Phạm Thanh Sơn, lúc đó là thượng úy, Đội trưởng Đội trọng án (sau này làm Phó giám đốc Công an tỉnh An Giang, nay đã mất). Ông Sơn là một trong những CSHS tài năng nhất của Phòng CSHS. Anh có tư duy phá án tốt và đặc biệt là rất giỏi võ. Lúc đó, giới giang hồ ở Sài Gòn thì khiếp đảm ông D.M.N, còn ở An Giang, thì các đối tượng hình sự đều rất “ngán” ông Sơn. Nếu đã đụng độ với Sơn, tất những tên giang hồ đều phải thúc thủ, dù trong tay chúng đang cầm loại hung khí gì.

            Sau khi xác định được địa điểm mà BHĐ đang ẩn náu, tổ công tác do ông Phạm Thanh Sơn phụ trách, cùng với hai trinh sát của đội trọng án là Lê Trường Thanh và Nguyễn Trường Sơn được giao nhiệm vụ truy bắt BHĐ. Cùng đi có tài xế lái xe và đối tượng Th. có nhiệm vụ dẫn đường. Trước khi lên đường, ông Sang chỉ đạo : “Chúng ta đang nhận nhiệm vụ rất nặng nề. Tôi tin tưởng các anh sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Trên xe có xăng đủ chạy suốt ba ngày. Nếu dọc đường không đủ xăng thì cứ ghé vào đổ rồi… ký sổ. Tôi sẽ đến thanh toán !”. Sau cái bắt tay chắc nịch của trưởng phòng với từng người trong tổ công tác, ngày 25-7-1980, tổ công tác đặc biệt lên đường, hướng về thị xã Sóc Trăng – nơi mà Bạch Hải Đường đã ẩn trú suốt hai năm trong nhà một người thân và trong một ngôi chùa.

            Ba giờ chiều 25-7-1980, tại căn nhà nằm ở ngoại ô thị xã Sóc Trăng, khu vườn có nhiều cây cối, nắng vẫn gắt, soi qua từng tán cây. Trên chiếc võng, một người nằm vắt vẻo, chân trên võng, chân chống dưới đất đu đưa, mắt lim dim ngủ. Tiếng một người đàn ông gọi khẽ bên tai : – Truyện ơi. Mày có khách này ! – giọng người anh rể vang lên làm BHĐ chồm dậy. – Trời đất. Anh Th. Sao tìm được em ? – Bạch Hải Đường vồn vã nhận ra “chiến hữu” Th. ở chung phòng giam đã được hắn kéo ra cùng trong đêm vượt ngục tại trại tạm giam cách đó hai năm.

            Hai gã đàn ông ôm chầm lấy nhau ra chiều rất thân thiết. – Dạo này chú thế nào rồi ?

            BHĐ : – Thì em toàn lo nghỉ ngơi và điều trị vết thương chứ có làm ăn gì đâu anh. Với lại nghe nói mấy ổng đang tìm em dữ lắm anh ạ ! – Còn anh thì thế nào ?

            Th. cười : – Anh đâu có dám “xông ra” nữa. Chạy xe ôm kiếm sống qua ngày. Cuộc hàn huyên của Th. và BHĐ kéo dài đến khoảng sáu giờ chiều. BHĐ định gọi anh rể đi chợ mua ít đồ về nhà lai rai với bạn hiền. Nhưng Th. Ngăn :

            – Thôi không cần đi chợ đâu chú. Phiền hà nhà anh chị. Anh em mình kéo ra quán nào đó gần đây ngồi cho thoải mái đi. Bao nhiêu lâu mới gặp lại!. BHĐ đồng ý. Sau vài phút thay y phục chỉnh tề, BHĐ và Th. đưa nhau ra một quán nhậu bình dân gần nhà anh rể để tiếp tục ôn lại chuyện xưa.

            Vừa tìm xong chỗ ngồi, chưa kịp ăn thì BHĐ chợt nhận ra hai bóng người đi bộ bên kia đường. Linh tính mách bảo hắn có chuyện chẳng lành…

Cuộc chiến sinh tử trong quán nhậu …

            Từ bên kia đường, ánh mắt nhà nghề của thượng úy Phạm Thanh Sơn cũng chợt nhận ra sự bất thường của BHĐ nên nháy mắt ra hiệu cho Lê Trường Thanh rồi nhanh như chớp cả hai băng qua đường, lao thẳng vào quán. Ông Thanh móc súng đưa về hướng BHĐ ra lệnh :

            – Bạch Hải Đường. Đưa tay lên. Mày đã bị bắt !

            Vẫn như bao lần trước đó, BHĐ không bao giờ ngoan ngoãn chịu khuất phục. Hắn phi thân vào hướng nhà bếp của quán hòng thoát thân. Vì biết phía sau không có đường chạy, nên tôi chuyển khẩu súng cho Sơn rồi lao theo BHĐ. Hắn đã quay người tống về phía tôi mấy cú đá. Nhưng lúc đó, tôi đã dùng tất cả sức lực, “chịu đòn” để lao vào ôm hắn bằng được. BHĐ bị tôi quật ngã, đập đầu vào cái bếp nấu bằng trấu của chủ nhà. Hắn có vẻ loạng choạng nhưng vẫn lồng lộn chống cự. Hắn đã tính cướp súng trên tay tôi, nhưng ông Sơn phát hiện đã dùng chân đá khẩu súng văng ra và giữ súng. Khi tôi đã xiết chặt vòng tay, ôm gọn người từ phía sau, hắn vẫn ra đòn liên tục vào người tôi. Vì tình thế khẩn cấp và nghĩ đến lòng tin của cấp trên, ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi ngay lập tức là không thể để hắn thoát được, dù phải đổ máu.

            Tôi ôm hắn, hắn đã kéo lê tôi khoảng năm mét. Tôi cố ôm và quay mặt hắn về phía ông Phạm Thanh Sơn và kêu lên :

            – Bắn ! Bắn ! Anh cứ bắn đi. Không được để hắn chạy !

            Ở một cự ly quá gần, ông Sơn hai tay cầm hai khẩu súng nhưng chưa dám siết cò. Vì nếu súng nổ thì chắc chắn tôi cũng “ăn” đạn cùng với BHĐ. Khi tôi gọi đến lần thứ hai “anh cứ bắn đi !” thì ông Sơn đã chọn được khoảng cách thích hợp rồi hạ thấp tầm ngắm và nổ súng (vì lúc đó ông Sơn không thể tiến sát BHĐ với hai khẩu súng trên tay, sẽ rất nguy hiểm – N.V) Viên đạn đã bắn trúng đùi BHĐ. Lúc đó hắn mới đổ gục bên cái bếp của quán nhậu.

            Người dân hiếu kỳ đã tụ tập kín cả khu vực, bởi khi biết đó là BHĐ thì người ta muốn đến xen chân tướng của hắn và xem CA bắt hắn thế nào ? Chúng tôi băng bó vết thương cho hắn, còng tay lại rồi đưa lên xe Jeep. BHĐ nằm bất động trên xe. Anh em cứ tưởng hắn đã đuối sức. Nhưng khi xe chạy về đến phà Vàm Cống, BHĐ tỉnh lại nói chuyện với chúng tôi bình thường.

            Khi đã thúc thủ, Bạch Hải Đường dù đã trúng thêm viên đạn thứ tư vào người, vẫn tỉnh táo nhận xét: “Trước giải phóng, cỡ mười quân cảnh, cảnh sát dù có ôm chặt cũng chẳng thể làm gì được tôi. Tôi thoát khỏe re. Còn đây chỉ có hai anh đã bắt được tôi. Các anh quá giỏi !”.

            Ông Thanh khi kể với tác giả loạt bài này, đã không thể quên được lúc đó : “Phải nói là hắn có sức khỏe cực tốt. Đù đã “ăn” viên đạn thứ tư vào người, máu chảy rất nhiều nhưng sau đó hắn tỉnh lại và vẫn nói chuyện với anh em như không bị gì vậy”.

            Trên xe, BHĐ đã nói với ông Sơn rằng : “Tôi công nhận mấy anh giỏi thật. Đây có lẽ là lần đầu tiên trong đời, BHĐ biết sợ, biết rằng “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”. Suốt mười năm tung hoành giang hồ, phần vì bất cần đời, liều lĩnh, phần vì giỏi võ Thiếu Lâm nên hắn dường như không biết sợ ai, chưa ai có thể “đấu” tay đôi với hắn mà thắng được. Nhưng lần này hắn đã nếm mùi thất bại. Phát súng của thượng úy Phạm Thanh Sơn hôm đó đã đặt dấu chấm hết cho một cái tên gây bao nhiêu kinh hoàng cho xã hội, cho lực lượng cảnh sát của chế độ cũ và gây mệt mỏi, vất vả cho những cán bộ chiến sĩ công an nhân dân có nhiệm vụ truy bắt hắn.

            Khi bị giam giữ trong trại tạm giam, BHĐ vẫn chưa phải đã cải tà quy chính để hoàn lương thật sự như hắn đã “hứa” qua bao nhiêu lần hỏi cung. Hắn đã nhiều lần mưu toan “ảo thuật” với chiếc còng để vượt ngục. Nhưng những quản giáo canh giữ BHĐ với kinh nghiệm trước đó, không để hắn có cơ hội lần nữa. Trung tá Trần Thanh Tình – nguyên cán bộ quản giáo, Phó giám thị Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang, trước đây được giao nhiệm vụ canh giữ BHĐ – kể lại :

            – Thời điểm BHĐ vừa đào thoát khỏi trại giam, tôi đang đi dự một lớp tập huấn, không có mặt tại trại giam. Khi trở về, nghe anh em kể lại vụ đào thoát của hắn. Trước khi rời nhà giam, hắn đã viết lên tường rằng : “Nơi đây không phải là chốn dừng bước giang hồ của Bạch Hải Đường”.

            Sau này, khi BHĐ bị bắt trở lại vào ngày 25/7/1980, trung tá Trần Thanh Tình được giao nhiệm vụ nặng nề là canh giữ nghiêm ngặt tên giang hồ khét tiếng này. Ông Tình cũng không thể ngờ rằng, lần hắn vượt ngục trước đó và lần vừa bị bắt lại đã làm hắn hối cải, hoàn lương. Chính thời gian “cùng ăn, cùng ở” với tên “tướng cướp” này trong trại giam, ông Tình phần nào hiểu được vì sao tên cướp khét tiếng này đã khiến cho lực lượng giữ gìn trật tự của cả chế độ cũ và chúng ta hôm nay phải vô cùng vất vả. Lần thứ hai bị bắt trở lại, BHĐ đã bị bắn trọng thương thêm một lần nữa, sức khỏe trở nên kiệt quệ. Thế nhưng, khi về tới trại tạm giam, không vì thế mà công an lơ là, chủ quan.

            BHĐ bị ngồi trong nhà giam với cả còng tay, còng chân. Hắn chỉ được di chuyển trong một không gian hạn hẹp. Thế nhưng, trong một buổi trưa, sau khi ăn cơm trưa cùng một số đồng chí và chuẩn bị nghỉ trưa thì từ bên phòng mình, ông Tình nghe được những tiếng lộc cộc khả nghi phát ra từ căn phòng giam sát bên bức tường – nơi giam giữ BHĐ. Khi nhìn qua cửa thì ông hoảng hốt vì nền nhà giam hoàn toàn trống rỗng, chỉ còn lại mấy cái còng.

            Khi mở cửa phòng giam để vào, ông Tình không thể ngờ rằng, BHĐ đang đu người như một con vượn trên trần nhà giam để hòng tháo lưới chui ra ngoài, dù vết thương vẫn còn rất nặng trên chân của hắn.

            Ông Tình đã phải ra lệnh :

            – Truyện ! Mày không nên làm liều. Xuống đi !

            Hắn ngoan ngoãn phi xuống nền nhà giam nhẹ như con sóc. BHĐ đã “giả điên” mà khai rằng :

            – Hôm qua tôi nằm mơ, thấy mẹ tôi về báo mộng, bảo tôi phải “đi” khỏi đây không thì sẽ bỏ mạng ở đây. Nên tôi định… ra ngoài thôi !

            Đó không phải là lần duy nhất BHĐ đã tháo được ổ khóa, tháo còng để đào thoát. Nhưng sau lần đó, ông Tình đã có thêm được một bài học mà vì thế, sau này suốt một thời gian dài, ông đã hoàn toàn khống chế được hắn. Hầu như tất cả ổ khóa dùng để khóa còng chân của chúng ta lúc đó đều không thể “khóa” được BHĐ.

Chính ông đã liên tục phải thay ổ khóa. Đến nỗi quá bực mình, có lần ông đã chửi thẳng :

            – Mày làm gì mà cứ “tháo” khóa mãi vậy ? Ổ khóa đâu mà tao thay hoài !”.

            Sau nhiều lần như thế, ông Tình đã nghĩ ra cách để khống chế được tên cướp vốn có tài “ra khỏi nhà giam” này. Cùm chân được lồng vào một cây sắt to và dài, luồn qua tận bên phòng của ông Tình và làm móc khóa ở đó.

            Thế là BHĐ không còn cơ hội “mày mò” với ổ khóa nữa. Hắn chỉ biết ngồi một chỗ và gầm rú như một con thú dữ cho đến ngày hắn không còn nữa. Trung tá Trần Thanh Tình, người được giao nhiệm vụ canh giữ BHĐ cuối đời

            Là người chứng kiến những tháng ngày cuối đời của tên tội phạm, ông Tình vẫn nhớ như in từng cử chỉ, điệu bộ, tính tình và cả những vết xăm trên người hắn.

            “BHĐ khá đẹp trai, lanh lợi, điềm đạm và ít nói. Đúng bản chất của một tay đàn anh thứ thiệt chứ không phải là một đối tượng giang hồ kiểu chợ búa ăn to nói lớn để thị uy người khác. Chính những tháng ngày được ông Tình gần gũi, giáo dục, BHĐ bắt đầu hối cải về con đường tội lỗi của hắn, BHĐ bắt đầu xem ông Tình như một người anh. Hắn đã lặp đi lặp lại một điều về cuộc đời hắn với ông Tình là hắn chỉ ăn trộm chứ không phải “tướng cướp” như mọi người gọi. Vụ cướp duy nhất mà hắn thực hiện là cướp vàng ở biên giới và ngày hôm sau, 22-3-1980 bị bắt tại Long Xuyên. Hắn không hề thích cái “danh tiếng” mà giới giang hồ và cảnh sát chế độ cũ đã đặt cho hắn. Không hiểu vì sao những ngày cuối đời, BHĐ vẫn muốn “đính chính” về điều đó.

            Có lẽ trong sâu thẳm tâm hồn, hắn vẫn còn một chút phần người ít ỏi mà hắn không muốn người đời nghĩ về mình là một tên tướng cướp hung ác. Chính vì những suy nghĩ như vậy, hắn đã thổ lộ ra hết câu chuyện về cuộc đời “hành tẩu giang hồ” của hắn cho ông Tình biết. Và có lẽ, đến bây giờ, ông Tình là người duy nhất biết trọn vẹn về cuộc đời của BHĐ một cách đầy đủ, mà ngay cả những người thân như cha mẹ, vợ con, đàn em và cả lực lượng cảnh sát của chế độ cũ và lực lượng công an bây giờ cũng chưa ai biết được.

            Những ngày sau cùng, BHĐ đã viết lại cuộc đời hắn bằng 17 trang viết tay khá chi tiết – bút tích duy nhất còn lại kể về cuộc đời thật của BHĐ. Chúng tôi xin được thuật lại bút tích của BHĐ để bạn đọc có thể hiểu được phần nào về con người thật, tội lỗi thật sự của “tướng cướp Bạch Hải Đường”…

(Khuyết danh – Trích từ Internet)

CÒN TIẾP

Tướng cướp BẠCH HẢI ĐƯỜNG (1)

SỰ THẬT VỀ

“TƯỚNG CƯỚP

BẠCH HẢI ĐƯỜNG”

            Tướng cướp Bạch Hải Đường đã nổi tiếng trong dư luận Sài Gòn suốt mấy mươi năm qua. Nhiều câu chuyện theo đó được thổi phồng, thêu dệt về sự “xuất quỷ nhập thần” của y như tự tháo còng tay – chân, đào tẩu khỏi trại giam..

            Có người còn lãng mạn hơn khi kể về đối tượng tội phạm này như một tay giang hồ hào hiệp – chuyên cướp của người giàu chia cho người nghèo, chuyên trả thù bằng cách dùng tài nhập nha thần kỳ để trộm vợ của những cố vấn Mỹ và các sĩ quan cảnh sát, quân đội cao cấp chế độ cũ. Có cả những cuốn sách, kịch bản điện ảnh, sân khấu cải lương đã được xây dựng nhân vật từ những tình tiết hư cấu này, làm Bạch Hải Đường càng thêm nổi tiếng.

            Phóng viên đã tốn khá nhiều thời gian, công sức để đi đến các tỉnh miền Tây tìm lại những anh cảnh sát công an, các nhân chứng trên dưới 30 năm trước đã từng nhận nhiệm vụ truy bắt, giam giữ, lấy lời khai Bạch Hải Đường. Và cũng đã vào các thư viện, các kho lưu trữ ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh miền Tây để thu thập, tìm lại những trang tài liệu, hồ sơ, thông tin về đối tượng phạm tội khét tiếng này. Qua đó, chân dung Nguyễn Ngọc Truyện – tướng cướp Bạch Hải Đường – đã lần đầu tiên được dựng lại một cách hoàn chỉnh, chính xác.

            Sau khi gạt bỏ mọi hư cấu đồn thổi, thêu dệt, Bạch Hải Đường theo các tài liệu điều tra, nhân chứng và dưới ngòi bút của nhà báo Trần Trung Sơn vẫn đủ làm chúng ta kinh ngạc về sức khỏe, sự chịu đựng và khả năng kỳ lạ để đào thoát khỏi các vòng vây, các trại giam. Qua đây, chúng ta càng khâm phục những cảnh sát công an và cả quân đội đã kiên trì chiến đấu, mưu trí, dũng cảm để khuất phục được một “siêu tội phạm” mà cảnh sát, quân cảnh chế độ Sài Gòn xưa coi như… bó tay.

Nghi vấn về viên

“sĩ quan”

có khẩu Colt45

và vụ cướp tiệm vàng

            Ông Phạm Thành Lợi (còn gọi là Năm Sắt) – nguyên Tham mưu trưởng Thị đội Long Xuyên (thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh An Giang) đã nghỉ hưu, vẫn nhớ như in cuộc chạm trán với Bạch Hải Đường (BHĐ) vào năm 1980. Chính ông là người đầu tiên buộc tên giang hồ khét tiếng phải thúc thủ sau gần 10 năm trời gây tội ác, cũng là người đầu tiên cho hắn “ăn” ba viên đạn vào người. Ngày đó, ông là một thanh niên cường tráng, một sĩ quan quân đội, được giao nhiệm vụ đặc biệt phải “hạ” bằng được BHĐ. Và ông cùng những chiến sĩ trong đơn vị đã lập một chiến công xuất sắc.

            Ông Lợi kể lại : Hồi đó, tôi đã “theo” BHĐ từ năm 1978, nhưng vẫn bặt vô âm tín vì không biết đối tượng này thực hư thế nào. Đến đầu năm 1980, chúng tôi nhận được tin báo từ một đối tượng tên là Hoàng “ó” trong khi ở tù với một đối tượng khác đã nghe tên này kể về một gã giang hồ khét tiếng đang ở bên ngoài và đang giữ một số vũ khí.

            Sau khi đối chiếu tất cả các nguồn tin, chúng tôi phán đoán đó có thể là BHĐ chứ không ai khác. Tên giang hồ khét tiếng này đã đào thoát khỏi trại giam công an tỉnh vào tháng 8/1975, sau khi hắn bị bắt hơn một tháng, và vừa làm bản “tự khai”, hứa hẹn đủ điều về sự hoàn lương, hối cải. Tỉnh ủy, Thị ủy giao nhiệm vụ cho lực lượng công an, bộ đội phải truy lùng, bắt bằng được tên giang hồ này. Phía Thị đội, việc bố trí theo dõi, tìm ra chân tướng, hành tung của BHĐ được chỉ huy giao nhiệm vụ cho chúng tôi.

            Trong khi đang rà soát các đối tượng cộm cán trên địa bàn thì có một tên luôn xuất hiện ở Long Xuyên với bộ dạng khả nghi. Hành tung của đối tượng này ngay lập tức được các trinh sát đưa vào tầm ngắm. Quy luật đi lại, xuất hiện của tên này luôn được giám sát chặt chẽ. Có một điều rất lạ là y lúc ẩn lúc hiện như một bóng ma và gần như không ở chỗ nào cố định quá một đêm.

            Khi đủ cơ sở khẳng định manh mối của BHĐ, nhiều đồng chí trong nhóm trinh sát của Thị đội hết sức bất ngờ. Vì đối tượng giang hồ nguy hiểm mà các đồng chí lâu nay truy tìm lại đang ung dung trong bộ quân phục bộ đội với cấp hàm trung úy, bên hông còn kè kè bao súng ngắn với khẩu colt 45 nhỏ gọn.

            Trong quân phục với vũ khí quân dụng đeo rất “oai” như thế, nhưng “sĩ quan” này ban ngày toàn lui tới nhà của những đối tượng giang hồ tại khu vực đường Thoại Ngọc Hầu, thị xã Long Xuyên. Lạ lùng hơn nữa là “sĩ quan” này ban đêm thỉnh thoảng lại xin vào ngủ nhờ tại một số cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn. Sáng dậy lại đi “công tác”. Có lẽ sự lì lợm, tự tin của BHĐ đã khiến hắn không hề có chút nao núng, lúng túng mỗi khi vào xin trọ ở những nơi như thế.

            Địa bàn “công tác” của “sĩ quan” BHĐ là lui tới từ Long Xuyên, lên Châu Đốc rồi vùng biên giới giáp Campuchia. Một kế hoạch vây bắt BHĐ được chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo.

            Ngày 22/3/1980, nguồn tin từ cơ sở báo về cho Thị đội Long Xuyên, BHĐ vừa thực hiện một vụ cướp tiệm vàng tại biên giới và đang trên đường về ăn mừng chiến thắng tại thị xã Long Xuyên. Ông Phạm Thành Lợi lập tức bố trí trinh sát theo dõi mọi động thái của BHĐ, đồng thời báo cáo chớp nhoáng với ông Nguyễn Văn Bê (Tám Bê) – Chỉ huy trưởng Thị đội Long Xuyên lúc đó (sau này là Bí thư Huyện ủy huyện Tịnh Biên, An Giang). Ông Nguyễn Văn Bê cũng nhanh chóng báo cáo lên ông Mười Liên – Bí thư Thị ủy Long Xuyên và Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh An Giang về kế hoạch tổ chức bắt bằng được tên cướp nguy hiểm BHĐ.

            Lúc đó ông Nguyễn Văn Bê đã chỉ đạo ông Phạm Thành Lợi phải liên lạc ngay với ông Nguyễn Văn Dũng – lúc đó là Trưởng ban Quân báo (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh) để phối hợp nghiệp vụ. Tin báo từ cơ sở cho biết, tối 22/3/1980, BHĐ sẽ tổ chức ăn mừng chiến thắng vừa cướp tiệm vàng tại nhà của một đối tượng tên là Cùi Cang trong hẻm Ba Lâu, đường Thoại Ngọc Hầu (khóm 6 phường Mỹ Long, thị xã Long Xuyên).

            Đây là căn nhà nằm cách nhà của BHĐ thuê ở với mẹ già của hắn khoảng 50 mét. Sau khi nắm chắc kế hoạch tụ tập ăn mừng của BHĐ và đàn em tại đó, một tổ công tác, chỉ huy nhanh chóng đựơc hình thành do ông Nguyễn Văn Bê làm Tổ trưởng. Trong cuộc họp chớp nhoáng được tổ chức sau đó vài phút, ông Bê nhận định : “Hẻm Ba Lâu ở đường Thoại Ngọc Hầu là khu vực nhà sàn ổ chuột, địa hình phức tạp, lắc léo. Từ trước giải phóng là địa bàn phức tạp về an ninh trât tự. Một bề giáp với sông, bên dưới là bùn lầy, lau, sậy mọc um tùm… Nếu đối tượng cố tình bỏ chạy sẽ rất khó khăn để truy đuổi. Đối diện hẻm Ba Lâu, bên kia đường Thoại Ngọc Hầu là hẻm Mừng Ký nổi tiếng từ thời chế độ cũ đến nay với rất nhiều đối tượng giang hồ ẩn nấp. Riêng đối với BHĐ, tổ công tác một lần nữa xác định đó là một đối tượng có “bản lĩnh” võ nghệ, gan lì, táo bạo và rất xảo quyệt trong việc tháo chạy mỗi khi bị vây bắt. Vì BHĐ đã từng “xuất quỷ nhập thần” trước mắt nhiều nhóm cảnh sát, quân cảnh chế độ cũ, khiến bọn chúng cũng rất ngán khi đối mặt với BHĐ.

            Người trong tổ công tác cũng không quên hệ thống lại những vụ tẩu thoát ly kỳ của BHĐ, trong đó có vụ đào thoát ngay tại con hẻm Ba Lâu vào năm 1974. Lần đó, quân cảnh chế độ cũ bao vây để bắt BHĐ. BHĐ bị còng tay, bỏ lên xe jeep chở đi. Hai cảnh sát lực lưỡng ngồi “kèm” BHĐ hai bên hông với vũ khí trong tay nhưng trên đường áp giải về đồn cảnh sát, BHĐ đã đánh gục cả hai viên cảnh sát và tài xế để tẩu thoát. Từ đó, các đồng chí trong Thị đội Long Xuyên đã vạch một kế hoạch gần như hoàn hảo để vây bắt BHĐ.

            Ông Tám Bê là Tổng chỉ huy. Lực lượng tác chiến chia làm hai tổ. Tổ một do ông Phạm Thành Lợi làm Tổ trưởng, với các thành viên là các ông Đỗ Dũng Sĩ, Huỳnh Tấn Tùng. Tổ một có nhiệm vụ trực tiếp vây bắt BHĐ.

            Tổ hai do ông Trần Văn Be làm Tổ trưởng, cùng với các ông Bùi Văn Nghề, Nguyễn Văn Mừng, Nguyễn Văn Ký. Tổ hai có nhiệm vụ chốt chặn trên đường Thoại Ngọc Hầu để đề phòng BHĐ có thể tẩu thoát bằng con đường này. Tất cả bảy đồng chí được trang bị vũ khí là súng ngắn để chiến đấu.

Chuyện khó tin về hai lần vượt vòng vây của “siêu tội phạm”

            Đêm 22/3/1980, sau khi bị bắn ba phát súng vào chân, BHĐ vẫn chạy thoăn thoắt, lội sình ào ào. Khi đã mất nhiều máu, kiệt sức, tên tội phạm giỏi võ Thiếu Lâm này vẫn đủ khả năng đánh gục nhóm trinh sát để phá vòng vây… Trước đó, vào năm 1974, khi đã bị còng hai tay ngồi trên xe Jeep giữa gọng kìm của hai quân cảnh (chế độ cũ) to như hộ pháp, BHĐ vẫn thoát được. Hắn đánh song chỏ hạ gục hai hộ pháp rồi tung người đá dập đầu tay quân cảnh lái xe. Chiếc xe mất lái đâm vào lề, BHĐ nhảy xuống với hai tay bị còng, chạy thoát… Đọc lại những trang hồ sơ lưu trữ trước năm 1975, các trinh sát mới biết tại sao hôm nay mình chưa bắt được tên cướp có những khả năng khó tin như thế !

            Khoảng 19 giờ tối 22/3/1980, nguồn tin trinh sát báo về lần cuối cùng cho biết BHĐ đã xuất hiện tại nhà của Cùi Cang, một đối tượng hình sự có máu mặt ở cùng xóm với BHĐ. Ông Phạm Thành Lợi cùng hai hai chiến sĩ của tổ một lên đường, áp sát mục tiêu. Tổ hai cũng triển khai ngay sau đó. Con hẻm tối tăm, rộng hơn một mét dẫn vào căn nhà lá lụp xụp của tên Cùi Cang được các đệ tử của BHĐ ngồi canh giữ rất cẩn thận. Khó khăn lắm, người của Tổ công tác mới tiếp cận được nhà của đối tượng. Khi BHĐ và bốn tên khác đang nâng những ly rượu đế hô hào “dzô, dzô !…” thì ba họng súng đen ngòm chỉa thẳng vào giữa cái bàn làm tất cả im phăng phắc.

            – “Bạch Hải Đường. Mày đã bị bắt. Giơ tay lên đầu !” – ông Phạm Thành Lợi ra lệnh.

            Khi tất cả chưa kịp hoàn hồn, BHĐ bật ngửa ra phía sau bằng một thế võ điệu nghệ, phi ra cánh cửa sau nhà rồi lao xuống con rạch đầy bùn lầy tẩu thoát. BHĐ đã có một kinh nghiệm là dù ngồi bất cứ ở đâu, hắn cũng “xem hướng” rất kỹ để phòng khi bất trắc có thể tẩu thoát được. Và lần này, kinh nghiệm ấy đã chứng minh hắn cảnh giác như thế là không thừa. Thấy tình huống không ổn, ông Đỗ Dũng Sĩ đã bắn một phát súng chỉ thiên yêu cầu BHĐ đứng lại, nhưng không ăn thua. Hắn vẫn lao mình băng băng dưới đám bùn đen ngòm như một bóng ma giữa đêm tối. Tình thế khẩn cấp, như một phản xạ tự nhiên, ông Lợi lao theo BHĐ như một mũi tên, vừa hô lớn :

            – Bạch Hải Đường. Đứng lại !

            Sau nhiều tiếng ra lệnh nhưng BHĐ vẫn không khuất phục, ông Lợi đã buộc phải hạ thấp người, đưa súng về hướng chân của BHĐ bóp cò. Ba tiếng nổ xé màn đêm làm cả xóm nhà ổ chuột nháo nhào. Cả ba phát súng đều trúng chân hắn. Nhưng thật kinh khủng, ông Lợi và cả hai người dưới quyền ông đang đuổi theo sau lưng không thể tin được. BHĐ không những không gục ngã mà hắn chỉ khựng lại bước chân trong giây lát bởi lực của những viên đạn ở tầm ngắn quá mạnh, rồi vẫn băng băng quanh co trong những con hẻm chằng chịt. Hắn tìm được một con hẻm thông ra đường Thoại Ngọc Hầu rồi phi lên đường này đúng như tính toán ban đầu của tổ công tác.

            Các người trong Tổ hai đã chuẩn bị tư thế nên khi thấy bóng của tên cướp loạng choạng chạy thục mạng trên đường đã giương súng và một đồng chí lệnh :

            – Bạch Hải Đường ! Không được chạy !

            Tưởng rằng, thấy một nhóm người đang cầm vũ khí trong tay chặn trước mặt, hắn sẽ đầu hàng. Nhưng, một lần nữa, sức mạnh vốn đã làm nên “tên tuổi” của hắn trong giới giang hồ và cả giới quân cảnh chế độ cũ lại được hắn chứng minh. Cả bốn người của tổ hai không dám nổ súng vì sợ lạc đạn vào người đi đường đông đúc. BHĐ đã bị bắn, chạy cà nhắc. Nhưng khi giáp lá cà, những cú đánh với tất cả sức lực để thoát thân như một bản năng sinh tồn, hắn đã gần như hạ gục người của Tổ hai và tiếp tục tháo chạy.

            Hắn lao mình vào con hẻm Mười Ký của đường Thoại Ngọc Hầu. Lúc ấy, người của Tổ một cũng đã lường trước sự việc nên đi vòng đón đầu lối ra của hẻm Mười Ký. Phía sau lưng BHĐ, Tổ hai cũng đã xốc lại đội hình và tiến về phía hắn. Đứng giữa hai nhóm trinh sát ở hai đầu con hẻm đang kẹp hắn lại như gọng kềm. BHĐ biết đang gặp lại viên sĩ quan có tài thiện xạ vừa cho hắn “ăn” ba viên đạn, ý chí hắn bắt đầu co lại. Ý nghĩ đó thoáng qua trong đầu BHĐ, và đây là lần đầu tiên trong đời sau mười năm “hành nghề”, hắn đã phải thúc thủ.

            Tuy nhiên, khi hai mũi tấn công tiến lại gần, BHĐ vẫn gan lì chống cự. Ông Lợi và một trinh sát có “nghề” của thị đội đã quần nhau với BHĐ một lúc khá lâu hắn mới bị khống chế. Đó là lúc hắn đã đuối sức. Ba phát súng do ông Lợi bắn, hai viên găm vào bắp đùi và một viên găm vào bắp chuối của BHĐ. Những vết đạn này làm máu chảy quá nhiều khiến tên cướp kiệt sức, thúc thủ. Ông Lợi đến giờ vẫn nhớ dáng người của BHĐ tối hôm đó : “Hắn nhanh và khỏe đến kỳ lạ. Tôi không nghĩ một người đã bị bắn ba phát vào chân mà vẫn còn vùng vẫy chạy và đánh gục được vài anh em như hắn. Phải công nhận những gì mà chúng tôi biết được về hắn qua báo chí chế độ cũ là không ngoa tí nào. Nếu không có lần chạm trán hôm đó, chắc anh em chúng tôi chẳng ai tin được”.

            Lần đầu tiên trong đời, hắn nếm mùi thất bại và cũng là lần đầu tiên, hắn “dính” đạn, sau một vài lần (trong chế độ cũ) hắn đã may mắn thoát được trong làn đạn của quân cảnh. BHĐ bị khuất phục, tra tay vào còng số tám. Chiếc xe Jeep đã chờ sẵn để áp giải hắn về Thị đội Long Xuyên. Sáng hôm sau, BHĐ được bàn giao cho Công an tỉnh An Giang giam giữ.

            Ông Huỳnh Tấn Tùng – nguyên Trợ lý Quân báo Thị đội Long Xuyên kể lại : Trước giải phóng, BHĐ bị cảnh sát vây bắt một lần ngay tại con hẻm Ba Lâu mà chúng tôi bắt BHĐ vào tối 22/3/1980. Vì là người được phân công theo dõi tung tích của BHĐ, sau ba tháng trời lặn lội “theo chân” BHĐ, tôi đã nắm khá rõ “thành tích” trong giới giang hồ của tên cướp. Lần đó, cũng trong con hẻm Ba Lâu, BHĐ bị hai viên quân cảnh chế độ cũ to lực lưỡng vây bắt, đã còng được tay đưa lên xe jeep chở về đồn. Nhưng khi vừa ngồi lên xe, BHĐ đã dùng hai cùi chỏ đánh gục hai quân cảnh ngồi hai bên hông hắn và phi cú đá như trời giáng vào đầu lái xe rồi lao xuống đường tẩu thoát với chiếc còng trên tay. Khi lực lượng ứng cứu đến, hai viên quân cảnh và ông tài xế vẫn ê ẩm mình mẩy. Sau lần tẩu thoát ngoạn mục đó, BHĐ trở thành một cái tên đáng sợ đối với giới quân cảnh chế độ cũ và cũng làm cho giới giang hồ thêu dệt thêm huyền hoặc.

            Ông Tùng tiếp : Khi được giao nhiệm vụ theo dõi và bắt BHĐ, ông Nguyễn Văn Bê – chỉ huy đơn vị – trong một cuộc họp đã hỏi tôi : “Thường vụ Thị ủy kêu tôi sang báo cáo vụ việc BHĐ, anh có dám hứa hoàn thành nhiệm vụ không, để tôi hạ quyết tâm với Thường vụ ?”. Tôi trả lời anh Bê : “Nếu lần này chúng tôi không bắt được BHĐ thì tôi xin lột lon giao lại Nhà nước rồi về nghỉ luôn, không ở trong quân ngũ nữa !”. Nghe xong, ông Bê đã mạnh dạn sang báo cáo với Thị ủy và hạ quyết tâm sẽ bắt được BHĐ.

            Hôm đưa về Thị đội, tôi hỏi BHĐ :

            – Mày có biết vì sao bị bắt không ?

            – Không biết thưa cán bộ !

            – Thế mày mang súng trong người để làm gì ?

            – Dạ, để phòng thân thôi ạ !

            – Sao phải phòng than ?

            – Dạ, để phòng bất trắc khi ăn trộm !

            – Nếu không phải là kẻ cướp thì chỉ có làm chính trị mới mang theo súng trong người thế này !

            – Dạ, thật ra thì tôi chỉ trộm từ trước giải phóng !

            Ông Nguyễn Văn Dũng – nguyên Trưởng ban Quân báo (Bộ Chỉ huy quân sự An Giang), nhớ lại : “Thời đó, chúng tôi theo đối tượng này vô cùng gian nan. Gần như anh em chúng tôi không biết mặt mũi của BHĐ ra làm sao. Hắn gần như không để lại bất cứ một tấm hình nào lọt ra ngoài xã hội. Dù hắn đã chôm rất nhiều máy chụp hình trong chế độ cũ. Đó cũng là một trong những “mánh” để những tên giang hồ như BHĐ tồn tại trong bóng tối được lâu như thế. Hơn nữa trước đó, trong một vụ cướp, có một đối tượng gây án tự xưng là Bạch Hải Đường. Khi đối tượng này bị bắn chết, các cơ quan chức năng của ta đều cho rằng không cần lo nghĩ gì về BHĐ nữa. Suốt một thời gian dài gần ba năm trời, mọi thông tin về BHĐ đều biệt tăm. Mãi đến khi một đối tượng hình sự ra tù còn nhận dạng được BHĐ. Sau khi đối chiếu với tấm hình duy nhất lưu trong hồ sơ truy nã của cảnh sát chế độ cũ còn lại, mô tả các dấu vết, chúng ta mới biết rằng Bạch Hải Đường – Nguyễn Ngọc Truyện (hay Truyện “xăm mình”) vẫn còn sống và đang tiếp tục ẩn nấp để phạm tội”.

CÒN TIẾP

Nữ ca sĩ KIM ANH

Nữ ca sĩ KIM ANH…

Rượu, ma túy và

thân phận đàn bà

Mỗi năm, nữ hoàng “Mùa Thu lá bay” sống và hát ở Việt Nam khoảng 6 tháng. Dù đã nổi tiếng từ lâu và ở cái tuổi không nhiều lợi thế cho việc hát nhưng chị nói rằng, chị đang ở một giai đoạn hồi sinh tiếp theo. Đó là sự hồi sinh sau bao bĩ cực như một vở bi kịch mà người đàn bà vốn mạnh mẽ như đàn ông này đã tự diễn kín với chính mình suốt cả cuộc đời.

Kim Anh uống rượu rất khỏe và gần như là một “độc cô cầu bại” trên bàn nhậu. Thuốc lá đốt cũng nhiều, mà phải là thuốc nặng đô. Chị nói :

– “Anh cứ nhìn mặt tôi uống hàng chai rượu mà mặt cứ tỉnh như sáo thì anh đừng ngạc nhiên. Đau cỡ nào về cả thể xác lẫn tinh thần, với tôi giờ như không nghĩa lý. Đưa xương cho người ta khoan để bắt vít, không tiêm thuốc tê, tôi còn chịu được nữa là. Đôi lúc buồn quá, 3 giờ sáng ngẩng mặt lên hỏi trời còn điều gì đày ải nữa cứ đày ải nốt đi, con chịu được hết ! Có lẽ giờ này, trời cũng nên để yên cho tôi được rồi đấy !”

Những đày ải, bĩ cực cuộc đời mà một kiếp đàn bà phải chịu, gần như Kim Anh đã phải gánh hết. Sự bất cần, sự không sợ sệt, cùng những tỉnh bơ với đau đớn, cùng rượu, cùng tro tàn của sự thiêu đốt mình suốt một quãng đời, chưng cất trong giọng hát Kim Anh để trở thành một chất giọng đặc thù không giống ai. Thế mà nỗi buồn trong giọng hát chị, không nhuốm màu cay đắng, không bị ám ảnh của cô đơn, nhưng cũng không có chức năng ru ngủ. Nó như một thứ cồn rửa vết thương. Rằng, dốc hết đốt hết những gì Kim Anh có, cũng chỉ để rửa những vết thương trong lòng người nghe mà thôi.

Bài hát định mệnh

Nhắc đến thế hệ ca sĩ vàng ở hải ngoại một thời, thấy ai cũng có một xuất phát điểm và một sự nghiệp lẫy lừng. Còn nhắc đến Kim Anh trong quá khứ thường không thấy một dữ liệu gì ngoài bài hát Mùa thu lá bay, được chị hát vào những năm 80 ?

– Tôi đến với ca hát khá ngẫu nhiên và xuất phát điểm ca hát của tôi cũng là ở trời Tây chứ không phải ở Việt Nam. Tôi gốc người Hoa, sinh ra và lớn lên ở cù lao Ông Chưởng (tỉnh Đồng Tháp). Hồi nhỏ, tôi nổi tiếng thông minh và quậy phá. Năm 1969, tôi được một học bổng qua Mỹ học về kế toán. Đầu tháng 5/1975, tôi gặp một người Mỹ gốc Hoa, là chủ nhà hàng lớn Empress ở Wasington DC, nhờ tôi làm thông dịch tiếng Việt cho một số anh chị em nghệ sĩ, cũng là một ban nhạc vừa di tản từ Việt Nam sang sau khi Sài Gòn thay đổi.

Hàng ngày, tiếp xúc với ban nhạc, thấy tôi cũng nghêu ngao thì họ bảo, cứ hát chơi một bài. Tôi hát, ban nhạc họ rất thích. Từ đó tôi trở thành ca sĩ nữ duy nhất của ban nhạc hát hàng đêm tại nhà hàng. Năm 1977, có một người bạn là ca sĩ ở New York rủ tôi lên New York sống và hát với tư cách là một ca sĩ độc lập. Những năm này tôi hát chủ yếu cho một nhà hàng người Hoa ở New York, hát nhạc Tây lẫn nhạc Hoa nhưng hầu hết là nhạc Hoa. Những bài như Mùa Thu lá bay hay Máu nhuộm Bến Thượng Hải tôi đã hát tiếng Hoa trong thời gian này.

– Được biết Mùa Thu lá bay đến với chị để rồi chị trở thành một ca sĩ Kim Anh nổi tiếng là một câu chuyện rất lạ. Chị có thể kể rõ hơn câu câu chuyện này ?

– Năm 1982, nhà ở Việt Nam nhắn tôi rằng ba tôi sắp mất và trước khi qua đời ông muốn được nghe giọng nói của tôi. Tôi đi thu một băng cassette với 11 bài hát cả lời Việt lẫn lời Hoa gửi về để như an ủi ba được nghe giọng của đứa con từ phương xa, cũng như để nói với ba tôi vẫn giữ gốc gác của mình. Cái khó là thời gian này chủ yếu tôi hát tiếng Anh và tiếng Hoa, với nhạc Việt tôi hoàn toàn lạ lẫm nên thu một cuốn băng cũng chỉ là để ba nghe giọng mình, chứ cũng chẳng nghĩ sẽ đi dài và xa hơn như sau này.

Lúc cuốn băng về đến nơi ba đã mất được ba ngày, mắt vẫn mở. Má lại gần và nói : “Thôi ông ơi, dù con không về được, con cũng gửi giọng nói về. Ông yên lòng nhắm mắt cho con dễ làm ăn”. Thế, đôi mắt ba từ từ khép lại, một giọt nước mắt đã khô đọng phía dưới quầng mắt ba.

Những ngày ba mất, tôi buồn nghe đi nghe lại cuốn băng, chợt chạnh lòng thương phận mình xa xứ, tử biệt sinh ly có thể là những điều gắn chặt. Tôi gửi cho bạn bè một số cuốn băng để tặng, như một sự chia sẻ. Nào ngờ, người nọ chuyền tai người kia, họ gọi cho tôi và mua băng. Tiền gửi về lúc đó cũng rất nhiều. Tôi vẫn nghĩ đó đơn thuần chỉ là động viên, an ủi.

Còn 70 cuốn, lúc đó tôi cũng chẳng biết làm gì. Tôi lái xe qua Trung tâm băng nhạc Thanh Lan, giới thiệu tôi là ca sĩ mới, tên là Kim Anh và mong họ mua băng với giá 4 đô la/cuốn (tiền công thu là 4,25 đô la). Bà chủ còn hỏi : “Kim Anh Ba Con Mèo phải không ?”, tôi nói không phải. Tôi đưa 10 cuốn cho bà nghe thử, nếu được thì bà lấy, không thì thôi. Khi tôi đi được 10 cây số, bà lái xe theo và nói có bao nhiêu bán hết cho bà, bà sẽ trả 4,5 đô la/cuốn. Tôi nổi tiếng với Mùa Thu lá bay bắt đầu từ đó.

Tai ương, hồi sinh và hủy diệt

Sự nổi tiếng mang lại danh vọng, tiền bạc nhưng cũng có thể gây không ít tai ương cho người nghệ sĩ. Hình như, trong những năm đó, cũng có rất nhiều biến cố xảy đến với cuộc đời chị ?

– Chính xác là những tai ương xảy đến từ những ngày tôi cầm đồng tiền đầu tiên của nghiệp cầm ca. 8/1/1978, New York có bão tuyết, tất cả xe cộ ngoài đường hầu như không lưu thông được nữa. Đúng lúc đó tôi gặp người hàng xóm đang đỗ xe trong garage và cho tôi đi nhờ về nhà. Khi qua cầu, đúng lúc gặp bão xoáy, xe bị quay rồi va vào thành cầu. Gần 3 năm trời tôi sống trong nhà thương, không một người quen thân bên cạnh, sống chủ yếu nhờ lòng tốt của thiên hạ. Toàn cơ thể tôi lúc đó chi chít vết thương. Chân tay liệt. Đầu vẹo. Mặt chi chít vết khâu, 285 mũi. Lưng cong. Nói chung, nghĩ về cái chết khi đó, tôi còn thấy nhẹ hơn việc nghĩ mình sống.

Bác sĩ sợ tôi cắn lưỡi tự tử nên suốt ngày để nẹp miệng. Họ nói, giờ nếu bắt vít vào cánh tay thì lưng cong suốt đời. Mà chữa cho lưng thẳng xem như tay bị liệt. Tôi nói, có tay mới làm được việc, chứ lưng cong cũng chẳng sao. Lúc này tôi nghĩ rằng, cả cuộc đời tôi chắc cũng mãi gắn với chiếc xe lăn. Nhưng tôi chợt nhớ, mình còn giọng hát. Dù thế nào cũng phải sống để mà hát, kể cả hát rong kiếm tiền nhưng trước hết là phải sống.

Vậy làm thế nào mà chị thoát khỏi chiếc xe lăn và đặc biệt là sống qua những ngày “phế nhân” khi không có một người thân nào bên cạnh ?

– Thời gian đó, ông chủ nhà hàng qua thăm tôi trong bệnh viện, quyết bảo lãnh tôi được hát vì lý do rằng, chỉ có hát cô ấy mới cảm thấy được sống. Họ cho người đến bế cả xe lăn, tôi hát Diễm xưa cùng nước mắt của khán giả, nước mắt mình, nhất là đoạn “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”.

Đi hát, ý chí thúc tôi phải thoát khỏi cái xe lăn càng sớm càng tốt. Tôi muốn được đứng lên, muốn được đi ra, muốn được bay nhảy với những giai điệu như trước đây. Có lẽ, ông trời chơi khăm, muốn bắt tôi hát nhạc buồn suốt đời, nên cứ để tôi ngồi, và hát là đủ. Mỗi tối, trước khi lên sân khấu, tôi phải uống rượu. Uống để quên mình buồn nhưng càng uống càng thấy tỉnh. Dần dần, rượu thành người bạn không thể thiếu mỗi lần lên hát.

Một bác sĩ người Do Thái vào thăm tôi trong bệnh viện và quyết cãi trước tòa để tôi được ra ngoài tìm bác sĩ chữa trị cho mình để có cơ hội cất tiếng hát hàng đêm. Đúng lúc ấy, có một cậu người Đài Loan thích nghe tôi hát Mùa Thu lá bay ở nhà hàng, quyết đón tôi về ở để có bác sĩ chăm sóc cho tiện.

Được 2 tuần, người nhà cậu ở Đài Loan có công chuyện nên cậu phải về đó, không biết khi nào trở lại. Vừa gặp quý nhân chưa lâu thì như thế, tôi rất hoang mang về phần mình. Đứng không đứng được. Đi không đi được. Lúc đó, tôi chỉ ước cứ ngồi thế mà chết cho rồi. Đúng lúc hoang mang nhất, tôi nghe dưới nhà có hai người nói tiếng Việt. Họ nói “địa chỉ này đúng là nơi cô ca sĩ Kim Anh hát trên xe lăn ở đây”. Họ qua thăm, biết được tình hình tôi, họ nói : “Thôi, cô về nhà anh chị mà ở. Đừng ngại gì, đời người ai chẳng gặp lúc hoạn nạn”. Tôi mừng quá, xỉu luôn.

Về nhà, ba cô con gái của ông bà thay nhau đút cơm cho tôi ăn. Hai năm ròng được quý nhân cưu mang, chữa trị, đến khi cắt băng, tôi xin đi chứ không làm phiền quý nhân của mình thêm nữa. Ba năm trời đau đớn, ngồi cho người ta khoan từng mũi vào xương và ngủ ngồi, đến lúc ráp xương, được ngủ nằm, là một hạnh phúc lớn nhất đời khi đó. Tôi ngủ vùi 4 đêm, 5 ngày, nhiều người cứ nghĩ là tôi chết. Không, tôi đã hồi sinh sau một quãng đời tưởng chừng như chẳng bao giờ có ngày này.

Sự hồi sinh này có làm cho giọng hát chị vui lên, hay vẫn cứ buồn như những ngày “thân em giờ hoang phế, lê theo thời gian giông gió” ?

– Một sự hồi sinh mới, nhưng lại bắt đầu một cuộc hủy diệt. Thời gian trong bệnh viện các bác sĩ đã cho tôi dùng thuốc lá và ma túy để quên đi cơn đau. Tôi nghiện là tại tôi, cũng chẳng trách các bác sĩ được. Mình lạm dụng vô ý thức, trở thành một con nghiện. 4 năm trời vật vã với ma túy, bao nhiêu tiền làm ra, vừa hỗ trợ gia đình khi ba tôi mất, còn bao nhiêu tôi nướng hết vào ma túy. Rồi các fan, họ cũng thể hiện lòng hâm mộ bằng việc tặng tôi… ma túy.

Năm 1984, sau một cơn sốc, tôi tỉnh dậy và tự nhủ, không thể thế này mãi được. Một là chết, hai là sống. Bĩ cực đau đớn mình đã chiến đấu để giành quyền được sống, nay sống như thế này thì thà chết còn hơn. Tôi quyết đi Pháp cai. Tôi ôm bọc ma túy đi lang thang và tìm đến một nghĩa trang quân đội ở miền Đông nước Pháp, quyết sống tách biệt để thử sức chịu đựng. Tôi được gia đình người quản trang cho ở lại, họ không hề biết tôi nghiện mà chỉ biết tôi đến xin một việc để làm. Tôi vào toilet, đổ bọc ma túy xuống bồn cầu và giật nước. Rồi tôi ôm lấy bồn cầu ngồi khóc, như thể lần này mình không thể sống nữa. Sau đó, cơn nghiện bắt đầu vật. Ông bà chủ biết, còn hỏi tôi có muốn không thì đi mua thuốc cho, tôi lắc đầu quyết không và quyết cai cho bằng được.
Sau 8 tháng, tôi từ bỏ ma túy mà không cần một viên thuốc. Đáng lẽ, tôi đã ở lại nước Pháp và an phận. Nhưng rồi, cơn bĩ cực này qua lại là những cơn bĩ cực khác.

Người đàn bà tìm con

Không lẽ, cả tuổi thanh xuân của chị là tai ương, ma túy, thuốc lá và rượu ? Suốt một quãng đời lúc đó, không có ai là người đàn ông của riêng chị ư ?

– Thực ra năm 1970 tôi đã có chồng và năm 1972 tôi đã sinh con. Lúc sang Mỹ tôi chưa có bằng tú tài, nên hoặc sẽ phải có người bảo lãnh để ở lại, hoặc sẽ bị trục xuất. Có một người rất thương nói rằng : “Thực lòng tôi không muốn cưới em vì trông em trẻ trung hồn nhiên quá. Nhưng để giúp được em, tôi không ngại gì cả” Một năm sau thì tôi sinh con.

Cuộc sống không có tình yêu nên gia đình có cũng như không. Đứa con để lại cho anh nuôi. Tôi học xong, lang thang theo nghiệp cầm ca và quên mất rằng mình cũng đã có chồng. Khi bị tai nạn, tôi chợt nhớ ra dù gì tôi cũng có thứ quý giá nhất trên đời là con, thì cũng éo le thay anh đã lấy vợ khác và tôi không biết cách nào để liên lạc với anh cũng như gặp con mình.

Tôi thỏa hiệp với cả nỗi đau này để được sống. Khi rời khỏi chiếc xe lăn, việc đầu tiên là đi tìm con. Lúc lần ra dòng địa chỉ, gặp phải cô vợ anh vốn rất ghen tuông nên ba lần bảy lượt muốn gặp con mình mà không thể được. Tôi nhờ đến luật sư và phải năn nỉ ông bằng cách này hay cách khác để tôi được nhìn thấy con tôi ngay. Khi ra tòa, tòa nói, với sức khỏe hiện tại tôi không thể nuôi con và cho tôi một ân huệ mỗi năm chỉ được gặp con cho đến khi nào khỏi bệnh hẳn. Từ đó, cứ ba tháng hè, con lại về ở với tôi.

Niềm an ủi lớn nhất là, con tôi dù bao năm xa cách, rất ngoan, có hiếu và thương mẹ. Khi tôi làm cuốn băng để gửi về Việt Nam, hai mẹ con cùng nhau ghép vỏ, cùng nhau dán nhãn. Nó học kế toán, hiện giờ sống ở San Francisco, hiện cũng đã có vợ con, sống rất hiếu nghĩa.

Trải qua bao bi thương như thế, mất mát như thế, cũng đồng nghĩa với việc con tim thời tuổi trẻ của chị không còn chỗ cho tình yêu ?

– May mắn là dù bị đẩy đến chốn cùng cực thì cuối cùng ông trời cũng cho tôi được rung cảm dù không kéo dài. Những ngày tôi cai nghiện ở Pháp, người con trai của ông chủ lúc đó đem lòng yêu tôi. Anh là một diễn viên kịch, hơn tôi 8 tuổi. Chúng tôi yêu nhau và tôi sinh cho anh được một đứa con trai.

Cuộc sống của chúng tôi cũng có những ngày hạnh phúc. Anh đi diễn, tôi đi hát. Trong chuyện tình cảm tôi là người nghiêm túc, gia đình anh rất quý tôi ở điều đó. Nhưng rồi một lần anh nửa đùa nửa thật: Ca sĩ đi bốn mùa thế, ai mà tin được có chung thủy hay không. Tôi giận quá, ngày hôm sau mua vé máy bay về Mỹ. Năm nay con cũng đã 23 tuổi và đang học về nhạc. Hai cha con thỉnh thoảng vẫn gặp nhau nhưng tình yêu mà tôi dành cho anh đã chết, có lẽ do tự ái của tôi cao quá.

Hình như trải qua nhiều biến cố cuộc đời, đã có một thời gian dài chị nghỉ hát ? Thực tế là dù chị có xảy ra chuyện gì thì âm nhạc cũng không bỏ chị. Nó là nghiệp với chị. Nhưng cũng có thể nhìn nhận nó là một sự cứu rỗi ?

– Năm 1989 mẹ tôi đau nặng, tôi về Việt Nam tính nghỉ hát luôn nhưng sân khấu đã không phụ tôi. Có một người rất mê tiếng hát của tôi làm hẳn cho tôi một talk show Tâm tình với Kim Anh. Tiếng hát của tôi có dịp được hội ngộ khán giả dù gián tiếp và những băng hình tôi thu cũng từ thời điểm này. Nhưng năm 1992, mẹ mất, tôi sock nặng nên nghỉ hát luôn.

Không hát, cuộc sống rơi vào cơ cực, nên năm 2005, tôi xin đi hát trở lại. Tôi gọi cho Trúc Hồ nói tôi đã thực sự mệt mỏi, muốn lấy một số hình ảnh trong cuốn băng cũ làm băng, rồi lên sân khấu trở lại. Nhạc sĩ Anh Bằng nói, ai chứ Kim Anh thì nên giúp nó. Khán giả lúc này không ít người nghĩ tôi bê tha nghiện ngập nên cũng không muốn gần. Tôi lấy mọi can đảm để hát. Bộ trang phục cũ, nhưng hợp với bài hát, và giọng hát vẫn còn đủ độ say nên khán giả lại thương tôi trở lại như năm nào. Và bây giờ, trong nghệ thuật, tôi đang hồi sinh.

Và bây giờ, khi sự nghiệp hồi sinh, cũng là lúc chị phải đối diện với sự cô độc của mình ?

– Không. Thực tế lúc này tôi đã bớt phần cô độc. Đúng hơn, dù không được sống trong cảm giác tình yêu mà vẫn thấy mình đang được nhận. Tôi hát khỏe hơn, mãnh lực hơn trước và vẫn cái tật xấu, mỗi lần lên sân khấu là phải uống rượu. Tôi không say bao giờ, càng uống càng tỉnh và càng hát hay hơn. Giờ này về Việt Nam, tôi đã, đang và sẽ đến các vùng sâu vùng xa hát cho đồng bào, ở những nơi họ không có điều kiện xem ca sĩ, nghe ca sĩ hát.

Tôi cũng tri ân với những người đồng hành với trái tim tôi trong một khoảng thời gian ngắn ngủi hay không ngắn ngủi thì tôi vẫn thấy trái tim mình vẫn còn biết nói với tình yêu. Người gần người đấy nhưng tôi thấy một ai đó thực sự hiểu và cảm thông với tôi vẫn còn ở đâu đó xa lắm, gần hết một đời người mà tôi vẫn chưa thấy. Hay để đến lúc tôi chết đi, người đó sẽ là người đặt hoa hồng vàng trên mộ tôi? Nếu như vậy, thì hạnh phúc có phù phiếm quá với một cõi người không nhỉ ?

– Cầu mong chị tìm được một hạnh phúc thực sự. Cảm ơn chị về cuộc trò chuyện !

Yên Huỳnh (theo Hoàng Nguyên Vũ)

MỜI CÁC BẠN NGHE QUA GIỌNG HÁT CỦA KIM ANH

– Mùa thu lá bay

http://youtu.be/3oG1tiaQciI

– Người tình mùa đông

http://youtu.be/GygsUDKAQrA

– Không bao giờ ngăn cách

http://youtu.be/Ba3XQwT1NjE

Nhớ về NS NGUYỄN ĐỨC QUANG

NS NGUYỄN ĐỨC QUANG

QUA ĐỜI

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang đã ra đi vào sáng Chủ Nhật 27/3/2011 tại Quận Cam, California, hưởng thọ 68 tuổi. Vào buổi chiều Chủ Nhật 27/3/2011, một chương trình nhạc đặc biệt đã thực hiện tại Quận Cam để vinh danh nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, người đã góp công khai sáng Phong Trào Du Ca VN, và đã đóng góp lớn cho nền âm nhạc VN nhiều thập niên..

Du Ca, Hướng Đạo vinh danh NS Nguyễn Đức Quang

Trong buổi văn nghệ đặc biệt này, một nghi thức đặc biệt do Phong Trào Hướng Đaọ thực hiện để vinh danh nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang : trao tặng Bắc Đẩu Huân Chương Hướng Đạo; thay mặt đón nhận Huân Chương này là anh Nguyễn Đức Tường, con trai của nhạc sĩ. Chiều Nhạc Du Ca Nguyễn Đức Quang do Nhạc Sĩ Diệu Hương, Nhạc Sĩ Đinh Trung Chính, Hội Ca Cầm và anh chị em Du Ca Nam Cali,  Bắc Cali tổ chức. Đến từ Bắc Cali có Luật Sư Nguyễn Tâm và một số Anh Chị Du Ca.

Tại nhà hàng Emerald Bay vào lúc 3 giờ 30 chiều, hàng trăm đồng hương, thân hữu, các thành viên Du Ca, các Trưởng và Hướng Đạo Sinh Nam California tham dự.

Điều hợp chương trình là Nguyễn Bá Thành. Mở đầu tất cả mọi người cùng đứng lên dành một phút tưởng niệm đến Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang. Sau đó Nhạc Sĩ Diệu Hương và Nhạc Sĩ Đinh Trung Chính thay mặt Ban Tổ Chức lên ngỏ lời chào mừng và cảm ơn tất cả đồng hương thân hữu đến tham dự,

Nhạc Sĩ Diệu Hương cũng lược qua một vài kỷ niệm đối với Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang mà bà đã có những đồng cảm với người đàn anh tài hoa trong làng âm nhạc Việt Nam. người đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam nhiều bài hát giá trị để đời cho các thế hệ tiếp nối… Tiếp theo Bác Sĩ Thiên Hương lên đọc bài thơ của người bạn già viết cho  Nguyễn Đức Quang khi hay tin anh bị tai biến trong đó có câu : “…Đất nước lâm nguy như người đang lâm trọng bệnh…”

Những ca khúc của Nguyễn Đức Quang được hát vang lên trong hội trường qua phần đệm Guitar của Doãn Hưng và Nguyễn Trọng Hoàng gồm các bản như : Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, Đường Việt Nam, Người Yêu Tôi Bịnh, Như Mây Trên Cao, Chiều Qua Tuy Hòa, Hy Vọng Đã Vươn Lên…

Các bản nhạc đã làm xúc động mọi người tham dự, không khí hội trường như lắng đọng để nhớ về một Nhạc Sĩ đã đóng góp nhiều cho quê hương dân tộc trong giai đoạn nghiệt ngả của đất nước, thờiø  đó ở bất cứ nơi đâu cũng có những đoàn du ca hát những bản nhạc của Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang.

Sau đó là phần nghi thức Hướng Đạo trao Bắc Đẩu Huân Chương Hướng Đạo cho Trưởng Nguyễn Đức Quang. Được biết Trưởng Nguyễn Đức Quang tham gia phong trào Hướng Đạo lúc 12 tuổi, và sau đó anh làm Bầy Trưởng Bầy Ngàn Thông, Đạo Lâm Viên. Suốt trong chiều dài sinh hoạt Hướng Đạo anh đã đóng góp nhiều công sức cho phong trào để tiếp tục đào tạo những công dân tốt tương lai của đất nước. Vì những đóng góp đó nên Hội Đồng Trung Ương qua sự đề nghị của Hướng Đạo Miền Tây Nam Hoa Ky quyết định trao “Bắc Đẩu Huân Chương” một huân chương cao qúy nhất của Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam.

Trưởng Võ Thành Nhân Chủ Tịch Hội Đồng Trung Ương Hướng Đạo Việt Nam cùng các Trưởng Trong Hội Đồng gồm có Trưởng Trần Xuân Đức Phó Chủ Tịch Nội Vụ, Trưởng Nguyễn Trí Tuệ Tổng Thư Ký Hội Đồng Trung Ương, Trưởng Lế Đức Phẩm Ủy Viên Truyền Thống Văn Hóa Hội Đồng Trung Ương, Trưởng Hồ Đăng Ủy Viên Liên Lạc Trưởng Niên, Trưởng Nguyễn Tư Nhân Ủy Viên Miền tây Nam Hoa Kỳ cùng tất cả các Trưởng cũng như Anh Chị Em Hướng Đạo Sinh Tây Nam Hoa Kỳ đã hiện diên trong lễ trao huân chương.  Trưởng Võ Thành Nhân đã nghẹn ngào khi nhắc lại những thành tích trước khi trao. Huân Chương được trao tận tay cho người con trai của Trưởng Nguyễn Đức Quang là anh Nguyễn Đức Tường.

Chương trình tiếp tục với những bài hát của Nhạc Sĩ Nguyễn Đức Quang do Anh Chị em Du ca trình diễn.

Chương trình tang lễ của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang sẽ tổ chức tại Peek Family (Lakeside Chapel) — dự kiến giờ viếng tang sẽ là Thứ Bảy 2/4/2011 và Lễ Hỏa Táng sẽ là Chủ Nhật 3/4/2011.

Đặc biệt, sẽ có một chương trình tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang với đóng góp của nhiều cơ quan truyền thông, văn nghệ, ca nhạc sĩ, nghệ sĩ … tổ chức vào Thứ Bảy 2/4/2011. Chi tiết về chương trình văn nghệ vinh danh và tưởng niệm naỳ sẽ phổ biến sau.

Một chút tiểu sử :

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, sau một căn bịnh hiểm nghèo kéo dài hơn tháng qua, đã qua đời lúc 4 giờ sáng hôm nay tại California. Nhạc sĩ tên thật Nguyễn Đức Quang, sinh năm 1944 tại Sơn Tây.

Theo gia đình vào Nam năm 1954. Sinh sống tại Ðà Lạt từ năm 1958. Tốt nghiệp đại học Ðà Lạt phân khoa Chính Trị Kinh Doanh khóa 1.

Bắt đầu sáng tác nhạc năm 1961. Ca khúc đầu tay dành cho Hướng đạo với tên Gươm Thiêng Hào Kiệt. Sau biến chuyển chính trị lớn ở miền Nam năm 63, bắt đầu cảm hứng về nhạc Thanh niên và những vấn đề đất nước. Năm 1964, chuyển qua hẳn những ca khúc có chủ đề Tuổi trẻ, Quê hương, Dân tộc, xây dựng những đề tài mới cho tập Trầm Ca, hát nhạc tranh đấu xã hội và nhạc sinh hoạt thanh niên và thành lập Phong Trào Du Ca Việt Nam năm 1966 .

Năm 1979 cùng gia đình đến Hoa Kỳ, hoạt động liên tục trong nghành truyền thông tại hải ngoại.

Mục Lục Những Ca Khúc Tiêu Biểu :

Măi đến sau 1965, một số những bài hát của Nguyễn Đức Quang mới xuất hiện rải rác trên một số ấn phẩm sách, báo và vài tuyển tập sơ sài do tình hình thiếu thốn phương tiện và điều kiện lúc bấy giờ, người ta đã thấy có các tập nhạc in bằng ronéo như : Trầm ca, Những bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Thỏ Thẻ Loan Phòng v..v.

Năm 1995, Ngô Mạnh Thu và Nguyễn Thiện Cơ trong nhóm Đồng Vọng thu gom lại hầu hết bả nhạc trong các tập nhạc chính và ấn hành tuyển tập Dưới Ánh Mặt trời gồm 69 bài. Duới đây là những nét chính và 9 tập nhạc đã được tác giả hình thành trên suốt quãng đường sinh hoạt và sáng tác của anh. (Trích trong ”về những ca khúc Nguyễn Đức Quang đă viết” trong tuyển tập “Dưới Ánh Mặt Trời” )

Ấn Phẩm Đã Phát Hành :

1/- Chuyện Chúng Mình : 52 ca khúc, viết từ 1960 đến 1964,thời kỳ đầu sáng tác, hầu hết là các khúc tình ca tuổi học trò và thời gian sinh sống tại Đà lạt . Một số bài như : Chuyện Người Con Gái , Khôn Hồn Có Cánh Thì Bay, Trẫm Nhớ Ái Khanh Không (phổ thơ Nhất Tuấn), Lửa Từ Bi (Thơ Vũ Hoàng Chương).

2/-Trầm Ca : 10 ca khúc cho thanh niên và thời cuộc, những thao thức lớn nhất về con người, đất nước. Những ca khúc này tạo nên cả một cao trào tuổi trẻ nhập cuộc vào các sinh hoạt : Nỗi Buồn Nhược Tiểu, Người Anh Vĩnh Bình, Tiếng Hát Tự Do, Chiều Qua Tuy Hòa, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ là dấu ấn chưa phai mờ trong nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam từ đó đến nay.

3/- Những Bài Ca Khai Phá : trên 40 ca khúc sinh hoạt đặc biệt cho tuổi trẻ, sinh viên, học sinh dùng trong các buổi họp mặt công tác xã hội, các hoạt động đám đông, là tiếng kêu gọi tuổi trẻ đến với nhau cùng xây dựng một đất nước và niềm tin : Không Phải Là Lúc , Về Với Mẹ Cha, Đưới Ánh Mặt Trời, Chuyện Quê Ta, Hy Vọng Đã Vươn Lên, Một Giấc Chiêm Bao, Về Miền Gian Nan v..v..

Khởi động phong trào hát cộng đồng, hát chung khắp mọi nơi, sau này được lan truyền sang nhiều địa hạt và nhiều giới khác, kể cả tôn giáo. Du Ca trở thành hình ảnh mẫu mực con người xã hội mới, đi vào phim ảnh Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương.

4/- Cần Nhau : 12 tình khúc được biết đến nhiều với : Bên Kia Sông, Vì ́ Tôi Là Linh Mục, Cần Nhau, Như Mây Trên Cao, Vỗ Cánh Chim Bay ..

5/- Thỏ Thẻ Loan Phòng (hay Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc) : 18 bài sinh hoạt trong ngày hạnh phúc lứa đôi, hình thành 1969, nhiều bài hì́nh như đă thành nếp trong các đám cưới như : Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc, Đám Cưới Chúng Mình, Lũ Chén Dĩa Có Tội Tì́nh Gì, Đường Đến Hạnh Phúc .

6/- Khúc Nhạc Thanh Xuân : Khoảng 40 bài nhạc sinh hoạt thanh niên quốc tế.
Nhiều nhất là các ca khúc trong thời lập quốc Do Thái, phong trào Kibbuz, những bài hát nhân quyền, tự do từ Âu sang Á và Mỹ như : Về Miền Gian Nan, Bài Ca Hải Tặc, Quân Đoàn Thức Tỉnh, Không Ai Là Hoang Đảo… được chuyển qua lời Việt để sử dụng trong nhiều sinh hoạt tuổi trẻ.

7/- Hương Đồng Quê : Các khúc Dân Ca và nhạc đồng quê nổi tiếng trên thế giới chuyển dịch sang lời Việt, gần 200 bài như Bài Ca Sông Hồng, Những Bụi Hoa Dại, Em Yêu Dấu Hỡi, Bên Bờ Sông Ohio, Tâm Sự Chú Lừa… hầu hết bị thất lạc năm 1975.

8/- Phúc Ca Mùa Lễ : 25 bài đồng dao quốc tế hát trong mùa Gíáng sinh như : Jingle Bells, The Christmas Tree, Silent Night… được coi là những khúc hát vui trong mùa an bình của nhân loại.

9/- Ruồi Và Kên Kê : Hoàn tất năm 1970, gồm 11 bài, là những ca khúc bi phẫn về những vấn đề lớn nhất trong một khung cảnh chính trị và xă hội đen tối nhất của cả 2 miền đất nước : Im Lặng Là Ðồng Lõa, Ruồi Và Kên Kên, Bọn Lái Buôn Ở Khắp Nơi, Phòng Thí Nghiệm Công Cộng, Vụ Án Cuối Cùng… Những ca khúc này vẫn được yêu chuộng cho đến nay.

10/- Dưới Ánh Mặt Trời : gồm những sáng tác trong tập Trầm Ca, Những Bài Ca Khai Phá, Ruồi và Kên Kên, Chuyện Chúng Mình, Cần Nhau, Khúc Nhạc Thanh Xuân, Lời Nguyện Cầu Hạnh Phúc…. Bìa : Nguyễn Ðồng, Nguyễn Thị Hợp. Hý họa : Tạ Tỵ, Chóe, Hiếu Ðệ. Chân dung: Lê Phúc Kẻ nhạc: Phạm Xuân Ðài. Trình bày : Nguyễn Thiện Cơ, Ngô Mạnh Thu. Hình ảnh sưu tập : Trần Ðại Lộc. Hình bìa : Hồ Ðăng. Xuất bản Ðồng Vọng 1997 tại Cali – USA.

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ

Sau tin NS Nguyễn Đức Quang qua đời, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng. NĐQ, tôi cúi đầu tiễn anh….

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn

Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm

Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người

Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi

Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi

Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại

Xương da thịt này cha ông ta miệt mài

Từng giờ qua

Cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi

Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang

Trên bàn chông hát cười đùa vang vang

Còn Việt Nam

Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hung

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng

Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm

Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời

Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người

Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam

Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian

Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên

thụyvi (chuyển tiếp)

Phần trên là lời nhạc phẩm “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” và dưới đường dẫn này là phần trình diễn của chính NS Nguyễn Đức Quang (xin Click vào đường link) :

http://www.youtube.com/watch?v=K9L_05ctYQg

Và mời các bạn nghe lại nhạc phẩm “Vì tôi là linh mục” của NS Nguyễn Đức Quang, bài thơ đầu tiên của Nguyễn Tất Nhiên được phổ nhạc, qua tiếng hát của Lệ Thu :

http://www.youtube.com/watch?v=cpi5aAo1014

Và giọng hát : Đon Hồ

“VÌ TÔI LÀ LINH MỤC”

http://www.youtube.com/watch?v=3UxSOjv0wJ0

Mời nghe nhạc phẩm “Hai năm tình lận đận” sau đây, cùng nguyên tác thơ của Nguyễn Tất Nhiên :

http://www.youtube.com/watch?v=H1oPjZ4W_ks

Thơ : Hai Năm Tình Lận Đận

1/.

Hai năm tình lận đận

Hai đứa cùng xanh xao

Mùa đông, hai đứa lạnh

Cùng thở dài như nhau

Hai năm tình lận đận

Hai đứa cùng hư hao

Em không còn thắc bính

Nuôi dưỡng thời ngây thơ

Anh không còn lýnh quýnh

Giữa sân trường trao thư

Hai năm tình lận đận

Hai đứa đành xa nhau

Em vẫn còn mắt liếc

Anh vẫn còn nôn nao

Ngoài đường em bước chậm

Trong quán chiều anh ngóng cổ cao

2/.

Em bây giờ có lẽ

Toan tính chuyện lọc lừa

Anh bây giờ có lẽ

Xin làm người tình thua

Chuông nhà thờ đổ mệt

Tượng Chúa gầy hơn xưa

Chúa bây giờ có lẽ

Rơi xuống trần gian mưa

Dù sao thì Chúa cũng

Một thời làm trai tơ

Dù sao thì Chúa cũng

Là đàn ông … dại khờ

Anh bây giờ có lẽ

Thiết tha hơn tín đồ

Nguyện làm cây thánh giá

Trên chót đỉnh nhà thờ

Cô đơn nhìn bụi bậm

Làm phân bón rêu xanh

Dù sao cây thánh giá

Cũng được người nhân danh

3/.

Hai năm tình lận đận

Em đã già hơn xưa !

Nguyễn Tất Nhiên (1972)

Yên Huỳnh (chuyển tiếp)