Nữ minh tinh THẨM THÚY HẰNG

Thẩm Thúy Hằng

NGƯỜI ĐẸP BÌNH DƯƠNG

Thẩm Thúy Hằng mấy năm trước trở lại với sân khấu không bằng những vai diễn mà bằng 2 kịch bản do chị sáng tác : “Người hạnh phúc”, “Nụ cười và nước mắt”.

Là một người đẹp nổi tiếng và là một trong những gương mặt điện ảnh gặt hái nhiều thành công ở những năm của thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ 20, Thẩm Thúy Hằng trở lại sân khấu với vai trò tác giả đã tạo được sự chú ý của giới sân khấu và những người quan tâm.

Trả ơn cuộc đời

Không hẹn mà gặp, cả 2 kịch bản Thẩm Thúy Hằng viết đều chọn đề tài hạnh phúc, bởi chị quan niệm : “Hạnh phúc là được lao động và cống hiến”. Nữ nghệ sĩ Hồng Vân xúc động cho nói : “Cô Hằng lâu nay ăn chay trường, sống khép kín, nhưng lúc nào cũng quan tâm đến hoạt động sân khấu và điện ảnh. Tất cả những trang viết của cô đều xuất phát từ trái tim nhân ái, muốn mỗi người đều trân trọng hạnh phúc đang có. Chúng tôi đang chuẩn bị đưa lên sàn tập kịch bản của cô”. Đạo diễn Văn Thành cũng cho biết sẽ giao kịch bản “Người hạnh phúc” cho một đạo diễn trẻ dàn dựng tại Nhà hát Kịch Sân khấu nhỏ trong thời gian tới.

Từ ngày chồng Thẩm Thúy Hằng (tiến sĩ kinh tế học Nguyễn Xuân Oánh) qua đời (thọ 82 tuổi), các con chị dù định cư ở nước ngoài vẫn thường xuyên về nước thăm mẹ. Công việc hiện nay của chị là tham gia các hoạt động từ thiện. Chị lấy việc ăn chay niệm Phật làm niềm vui. Khi có cảm hứng sáng tác chị ngồi vào bàn để viết.

Trả lời thắc mắc vì sao chị lại quan tâm đến đề tài hạnh phúc, trong khi sân khấu kịch đã có hàng trăm vở khai thác thành công đề tài này. Chị cười, nụ cười nhân hậu : “Tôi muốn cảm ơn cuộc đời đã cho tôi nhiều hạnh phúc, nhất là hạnh phúc trong nghệ thuật”.

Thẩm Thúy Hằng là nghệ danh

Ngược thời gian, chị kể về cái tên Thẩm Thúy Hằng của mình. Tên thật của chị là Nguyễn Kim Phụng, sinh năm 1941 tại Hải Phòng. Theo gia đình vào Nam sinh sống, lớn lên tại tỉnh An Giang. Năm vừa tròn 16 tuổi, độ tuổi còn cắp sách đến trường, cũng như biết bao cô gái thích mơ mộng, Kim Phụng khao khát gắn mình với nghệ thuật. Biết tin về cuộc thi tuyển diễn viên điện ảnh của hãng phim Mỹ Vân với một dòng tít lớn : Giải nhất sẽ được sang Hồng Kông tham dự lớp đào tạo diễn xuất. Thông tin này hấp dẫn Kim Phụng, nhưng cô không dám bộc lộ với cha mẹ. Kim Phụng lén ghi danh và giấu chiếc áo dài vào cặp để đi thi.

Không ngờ Kim Phụng đã vượt lên hơn 2.000 gương mặt khả ái khác để giành giải nhất. Và nghệ danh Thẩm Thúy Hằng do ông bà chủ hãng phim Mỹ Vân đặt đã ra đời từ đó.

Sau lần xuất hiện với vai Tam Nương trong bộ phim Người đẹp Bình Dương, đóng cặp với nam diễn viên Nguyễn Đình Dần (vai hoàng tử), cái tên Thẩm Thúy Hằng nhanh chóng đi vào trí nhớ của người xem : “Người đẹp Bình Dương” Thẩm Thúy Hằng (tên của chị gắn liền với tên bộ phim đầu tiên). Từ một cô bé nhút nhát, chị bước lên ngôi vị nữ diễn viên khả ái nhất của màn ảnh Sài Gòn vào cuối thập niên 50.

“Người đẹp Bình Dương” lừng danh

Hạnh phúc nối tiếp hạnh phúc, những hợp đồng đóng phim đua nhau chào đón. Thẩm Thúy Hằng lập kỷ lục là nữ minh tinh đóng nhiều phim nhất của thập niên 50 – 60. Năm 1969, đứng ra lập nhóm làm phim mang tên Thẩm Thúy Hằng và đây là tiền thân của Vilifilms nổi tiếng ở Sài Gòn. Phim đầu tay chị thực hiện với vai trò chủ hãng là Chiều kỷ niệm, có sự tham gia của đạo diễn Lê Mộng Hoàng và các diễn viên : Năm Châu, Kim Cúc, Phùng Há, Thanh Tú, Huy Cường, Việt Hùng, Ngọc Nuôi… Bộ phim thành công ngoài sức tưởng tượng.

Danh tiếng của Thẩm Thúy Hằng được nâng cao hơn khi chị xuất hiện tại Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Indonesia… tham dự các cuộc liên hoan phim. Đối với các diễn viên điện ảnh quốc tế như : Creg Moris, Wen Tao, Địch Long, Khương Đại Vệ… chị là bạn.

Không dừng ở điện ảnh, Thẩm Thúy Hằng còn thử sức mình ở lãnh vực sân khấu. Chị tham gia đóng kịch, diễn cải lương, hát tân nhạc… Năm 1960, tại Sài Gòn xuất hiện nhiều ban kịch như : Dân Nam, Tân Dân Nam, ban kịch Kim Cương, ban kịch Mộng Tuyền, ban kịch Thẩm Thúy Hằng với những câu chuyện kể sau 0 giờ luôn được khán giả yêu mến.

Vào Tháng Năm 1965 minh tinh Thẩm Thúy Hằng tham dự Đại Hội Điện Ảnh Á Châu kỳ 12 tổ chức tại Kyoto Nhật Bản. Trên đường phố, một số nữ sinh viên Nhựt đón đường người đẹp Bình Dương xin chữ ký và chụp hình kỷ niệm.

Với vai trò làm trưởng ban, chị viết kịch bản, dàn dựng và đóng vai chính. Khán giả trước năm 1975 chắc không thể quên những vai diễn của chị trong các vở kịch như : Người mẹ già, Suối tình, Đôi mắt bằng sứ… Ở lĩnh vực cải lương, chị có vai vũ nữ Cẩm Lệ trong vở Bóng chim tăm cá của đoàn Thanh Minh – Thanh Nga… Sau năm 1975, chị tham gia những bộ phim như : Như thế là tội ác, Ngọn lửa Krông Zung, Hồ sơ một đám cưới, Đám cưới chạy tang, Cho cả ngày mai, Nơi gặp gỡ của tình yêu… Ngay cả lĩnh vực sân khấu kịch nói chị đã cùng với Nguyễn Chánh Tín tạo nên những đêm diễn tuyệt vời cho sân khấu đoàn Bông Hồng qua những vở như : Cho tình yêu mai sau, Đôi bông tai, Hoa sim gai trắng, Biệt thự hoang tàn… Vai diễn cuối cùng trước khi từ giã hoạt động nghệ thuật là vai Phồn Y trong vở Lôi Vũ của đoàn kịch Kim Cương.

Với vai trò tác giả kịch bản của 2 vở diễn được dàn dựng, Thẩm Thúy Hằng tâm sự : “Tôi muốn góp phần với các nghệ sĩ sân khấu mang đến công chúng yêu kịch những thông điệp chứa đựng giá trị nhân ái, để mọi người hiểu và nâng niu hơn hạnh phúc đang có của mình. Cuộc đời tôi đã có quá nhiều hạnh phúc. Tất cả những tâm sự của tôi xin được gửi vào những sáng tác mới này”.

THẨM THÚY HẰNG… NGƯỜI ĐẸP BÌNH DƯƠNG

Hồi còn đi học lớp diễn xuất điện ảnh, có lần nghe Phạm Thùy Nhân nói về các diễn viên điện ảnh mà ông yêu thích, ông có nhắc đến nữ diễn viên Thẩm Thúy Hằng. Trong cách nói chuyện với các học trò của mình, ông bày tỏ lòng ngưỡng mộ của mình trước một ngôi sao về sự ảnh hưởng trong lòng của công chúng Việt. Ông còn nói những diễn viên sau này, chưa có tìm ra một gương mặt nào có sự ảnh hưởng sâu rộng trong công chúng như nữ nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng….

Thẩm Thúy Hằng là nghệ danh của một trong những gương mặt diễn viên điện ảnh nữ vang bóng một thời tại miền Nam. Có thể nói chưa có một gương mặt diễn viên nữ nào tại Việt Nam được “tổ đãi” và danh tiếng như chị, kể từ khi chính thức vào nghề năm 1958, Thẩm Thúy Hằng đã tạo được tiếng vang và trở thành một trong những gương mặt nữ hiếm hoi của nước ta đứng vào hàng ngũ minh tinh của Á Châu suốt các thập niên 60-70. Là biểu tượng một thời của sắc đẹp.

HÀNH TRÌNH NGHỆ THUẬT

Sau khi cô bé Nguyễn Kim Phụng từ từ bỏ đi chiếc áo dài trắng nữ sinh để bước vào thế giới của đèn huỳnh quang, thế giới của sự nổi tiếng với nghệ danh là Thẩm Thúy Hằng. Từ vai diễn đầu tiên : Tam nương trong bộ phim “Người Đẹp Bình Dương”. Nhân vật đã hòa nhập vào cuộc đời, sống bền lâu trong ký ức người xem, đưa Thẩm Thúy Hằng bước lên ngôi vị diễn viên khả ái nhất của màn ảnh Sài gòn vào cuối thập niên 50 đầu thập niên 60…

Vẻ đẹp mỹ miều của Thẩm Thúy Hằng là đại diện của biểu tượng sắc đẹp miền nam. Hình ảnh của nàng Chức nữ liễu yếu đào tơ vừa hát vừa bay về trời trong nhạc cảnh “Chức nữ về trời” của nhạc sĩ Phạm Duy sọan nhạc trong bộ phim “Ngưu Lang Chức Nữ” cũng do hãng Mỹ Vân sản xuất và đạo diễn bởi NS Năm Châu; vai diễn đó của Thẩm Thúy Hằng đến nay vẫn còn in đậm những ký ức đẹp trong lòng khán giả lớn tuổi.

Rồi những hợp đồng đóng phim thi nhau mời gọi, nhan sắc và tài năng của Thẩm Thúy Hằng ngày càng đi lên đỉnh cao của nghệ thuật, nhanh chóng đưa tên tuổi của chị trở thành ngôi sao số một, và đã giữ được kỷ lục về số đầu phim tham gia trên dưới hơn 60 phim truyện nhựa.

Những phim mà Thẩm Thúy Hằng tham gia nổi tiếng thời đó là : Trà Hoa Nữ, Tấm Cám, Sự Tích Trầu Cau, Bạch Viên Tôn Cát, Sài Gòn Vô Chiến Sự, Nửa Hồn Thương Đau, Đôi Mắt Huyền (đóng với La Thoại Tân, Kim Cương, Thanh Thanh Hoa…), Oan Ơi Ông Địa (đóng chung với các nghệ sĩ Cải Lương như Bảy Xê, Ba Vân…), Dang Dỡ (đóng chung với Trần Quang), Tơ Tình (đóng chung với La Thoại Tân, Mai Ly, Thanh Thúy..), Nàng (đóng cùng Trần Quang, Xuân Dung, Phương Hồng Ngọc…), Bóng Người Đi (đóng chung với Thành Được, Út Bạch Lan, Túy Hoa, La Thoại Tân..), Ngậm Ngùi, Mười Năm Giông Tố, Sóng Tình, Xin Đừng Bỏ Em

Thời rực rỡ và sung sức nhất của chị là khoảng thời gian 1965-1972, những bộ phim có Thẩm Thúy Hằng tham gia đều đạt doanh thu cao.

Năm 1969, Thẩm Thúy Hằng lập nhóm làm phim Thẩm Thúy Hằng. Trong lĩnh vực này, Thẩm Thúy Hằng rất nhậy bén. Phim đầu tay chị chọn làm là phim “Chiều Kỷ Niệm”, thuộc thể loại tình cảm xã hội do Lê Mộng Hoàng đạo diễn. Các diễn viên tham gia diễn xuất cùng gồm NS Năm Châu, Kim Cúc, Phùng Há, Thanh Tú, Huy Cường, Việt Hùng, Ngọc Nuôi… Nhờ một lực lượng hùng hậu những tên tuổi nổi tiếng như thế mà bộ phim đen trắng “Chiều Kỷ Niệm” đã tạo nên một kỷ lục gây nên sự ngạc nhiên trong giới nghệ thuật miền nam thời đó bởi sự thành công ngoài mức tưởng tượng:

“Ngay ngày chiếu cho khán giả xem, khán giả đã chen chúc tới hai rạp Rex và Văn Hoa Dakao để giành vé. Chỉ trong ngày đầu chiếu, rạp Rex đã thu về được hơn một triệu tiền tiền vé, còn Văn Hoa thu về hơn bảy trăm ngàn đồng. Sau đó, suốt trong một tuần lễ chiếu, ngày nào cũng đông như vậy. Thành công này đã giúp cho Thẩm Thúy Hằng thừa thắng xông lên đóng tiếp phim “Như Hạt Mưa Sa”.

Như Hạt Mưa Sa là bộ phim đen trắng, chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngọc Linh, do cố đạo diễn Bùi Sơn Duân dàn dựng năm 1971. Hợp diễn với Thẩm Thúy Hằng là Trần Quang, Bạch Tuyết, Đoàn Châu Mậu, Diễm Kiều… Người nữ nghệ sĩ khả ái này đảm nhận hai vai diễn là hai chị em sinh đôi với hai tính cách hoàn toàn trái ngược, cô chị thì dịu dàng và nữ tính còn cô em thì trẻ trung, hiện đại. Bộ phim này cũng có doanh thu rất cao, riêng tiền lãi đã giúp cho nhà sản xuất đủ tiền làm tiếp phần 2 là “Như Giọt Sương Khuya” bằng phim màu.

Thẩm Thúy Hằng kinh doanh nghệ thuật xốc vác và có nhiều tâm huyết, chị từng hợp tác cùng nhiều nhà làm phim thực hiện những phim đa quốc tịch như : Từ Sài Gòn đến Điện Biên Phủ (với Đài Loan do Mỹ Vân hợp tác), Vàng (với Thái Lan do Việt Ảmh hợp tác)… Cuối năm 1974, Thẩm Thúy Hằng với cương vị là giám đốc hãng Vilifilms đã gặp gỡ và bàn kế hoạch để thực hiện bộ phim “Hòn Vọng Phu” dựa theo kịch bản của soạn giả Hoàng Khâm, ngoài ra còn khởi quay bộ phim chiếu tết năm 1975 “Chàng Ngốc Gặp Hên”, cùng thể nghiệm với đạo diễn Lê Hoàng Hoa trong bộ phim kinh dị “Giỡn Mặt Tử Thần”

Thẩm Thúy Hằng là nghệ sĩ hoạt động rất tích cực trong ngành điện ảnh. Cát xê của chị thuộc giá cao nhất. Như năm 1974, chỉ cần xuất hiện một số phân đoạn trong một bộ phim hài chiếu tết, mà chị đã nhận được hơn 1 triệu đồng thời đó (khoảng 1 ký lô vàng 9999). Được như vậy là vì Thẩm Thúy Hằng là tên bảo chứng doanh thu khi bộ phim trình chiếu.

Không dừng ở Điện ảnh, Thẩm Thúy Hằng còn thử sức mình ở Kịch nghệ, Cải lương, Tân nhạc… Thời những năm 1960, trong miền Nam xuất hiện nhiều ban kịch như Dân Nam, Tân Dân Nam, ban kịch Kim Cương, ban kịch Túy Hồng, rồi chị lập ban kịch Thẩm Thúy Hằng… đảm nhận vai trò làm trưởng ban, viết kịch bản… dĩ nhiên là diễn viên chính.

Trước năm 1975, ban kịch Thẩm Thúy Hằng được xếp vào một trong mười ban kịch tiêu biểu của kịch nghệ Miền nam, riêng chị nhiều lần được bầu chọn là một trong mười hai diễn viên vững chắc của ngành kịch. Trên truyền hình, hằng tuần đều có vở mới có sự tham gia diễn xuất của Thẩm Thúy Hằng. Khán giả trước năm 1975 chắc không thể không nhớ đến những vai diễn chính mà Hằng tham gia trong các vở kịch như : Sông Dài, Vũ điệu trong bóng mờ, Người Mẹ Già, Suối Tình, Đôi Mắt Bằng Sứ, Dạt Sóng… và những vở kịch ngắn lúc 0 giờ trên truyền hình do Lê Hoàng Hoa thực hiện cùng kịch sĩ Túy Hồng.

Ở lĩnh vực cải lương, Thẩm Thúy Hằng đã có dịp biết đến khi tham gia những phim được sân khấu hóa như : Đò Chiều, Đôi Mắt Huyền, Oan Ơi Ông Địa, nhưng vai diễn trên sân khấu ấn tượng nhất khi Thẩm Thúy Hằng hát cải lương chính là vai vũ nữ Cẩm Lệ trong vở “Bóng chim tăm cá” của đoàn Thanh Minh – Thanh Nga… Người nhiệt tình giúp đỡ Hằng trên sân khấu cải lương chính là soạn giả Lê Khanh. Sau vở này, Kịch sĩ Anh Lân và Túy Hoa có mời Hằng tham gia vở hát dã sử Việt Chiêm của soạn giả Mộc Linh là “Đồ Bàn Di Hận”, Thẩm Thúy Hằng diễn vai Phàm Lan, cô gái Chiêm, một vai diễn thành công trước nay của sầu nữ Út Bạch Lan.

Xuất hiện trong những chương trình đại nhạc hội, Thẩm Thúy Hằng còn hát tân nhạc “khá mùi” như nhạc phẩm “Hai Chuyến Tàu Đêm” của Nhạc sĩ Trúc Phương hay “Tình lỡ” của nhạc sĩ Thanh Bình.

Sau tháng 4/1975 Thẩm Thúy Hằng vẫn ở lại quê hương. Cùng với những tên tuổi gạo cội khác của nền nghệ thuật miền nam như Thanh Nga, Kim Cương, Mộng Tuỵền, Bạch Tuyết,… tiếp tục đóng phim, diễn kịch. Những bộ phim như Như Thế Là Tội Ác, Ngọn Lửa Krông Zung, Hồ Sơ Một Đám Cưới, Đám Cưới Chạy Tang, Cho Cả Ngày Mai, Nơi Gặp Gỡ Của Tình Yêu… với những nhân vật hoá thân là cô Diệp, Hơ Doan, thím Ba Xoay… cũng một phần nào minh chứng cho quyết tâm hoà nhập vào đời sống mới, vai diễn mới.

Bên lĩnh vực kịch nói chị cùng với Nguyễn Chánh Tín tạo nên những đêm diễn tuyệt vời. Sân khấu đoàn Bông Hồng của chị sáng đèn hằng đêm với những vở diễn như Cho Tình Yêu Mai Sau, Đôi Bông Tai, Hoa Sim Gai Trắng, Biệt Thự Hoang Tàn… Một trong những vở kịch hay của Thẩm Thúy Hằng rất được yêu thích là vở “Đôi Mắt” của tác giả Vũ Dũng Minh. Nguyễn Chánh Tín sắm vai một bác sĩ quân y, Thẩm Thúy Hằng cũng là một bác sĩ quân y mới ra trường, Bích Thủy là một y tá quân y, và Bạch Lan Thanh trong vai cô gái Vân Kiều.

Vai diễn cuối cùng trước khi từ giã lĩnh vực nghệ thuật là vai Phồn Y trong vỡ diễn Lôi Vũ của đoàn kịch Kim Cương.

Thời vang bóng của Thẩm Thúy Hằng đã đem về cho chị những giải thưởng điện ảnh quốc tế như : Hai lần đạt giải Diễn viên xuất sắc Á châu tại Liên hoan phim Đài Bắc, Ảnh hậu Á châu trong liên hoan phim Á Châu tổ chức tại Hồng Kông và Đài Loan (1972,1974). Liên bang Xô viết lại đón chào chị, và Thẩm Thúy Hằng được bầu chọn là Nữ diễn viên khả ái nhất vượt qua các đối thủ là những diễn viên xinh đẹp đến từ Đông âu, Nhật bản, Trung quốc, Mông cổ vào năm 1982.

NHỮNG KỶ NIỆM KHÓ QUÊN

Nghề và nghiệp diễn đã để lại cho chị nhiều kỷ niệm khó quên. Có những kỷ niệm vui mà cũng có những kỷ niệm buồn. Có cả những kỷ niệm “xém” chết người vì yêu nghệ thuật.

Vào năm 1970, khi quay bộ phim “Xin đừng bỏ em” của Thăng Long điện ảnh do Lê Mộng Hoàng đạo diễn, Thẩm Thúy Hằng đã bị tai nạn liên quan đến phần đầu và mặt khi ngọn đèn Sunlight rout xuống trúng ngay đầu trong khi “người đẹp Bình Dương” đang “say mê” diễn xuất một cảnh tình cảm rất mùi. Tai nạn đã làm ảnh hưởng đến dây thần kinh thị giác của chị và “xém” làm cho người đẹp của chúng ta trở thành “độc thủ mỹ nhân”.

Trên thị trường đĩa DVD có bày bán bộ phim S.T.A.B của Đạo diễn Chalong Pakdivijit dàn dựng. Phim do hãng Colombia Mỹ phát hành, với sự diễn xuất của các ngôi sao “đa quốc tịch” như Greg Moris, Anoma Palalak, Krung Srivilai… và có cả sự tham gia với tư cách “minh tinh quốc tế” Thẩm Thúy Hằng. Ngay trong phần giới thiệu bộ phim, tên của chị được nêu lên trân trọng, xem như là một sự xuất hiện thật đặc biệt. Và bộ phim này khi phát hành tại Thái Lan và Việt Nam có tên là “Thoong” (Vàng). Đây là bộ phim có doanh thu cao nhất trong lịch sử điện ảnh Thái Lan (trước năm 1975). Ở bộ phim này Hằng có rất nhiều kỷ niệm như kỷ niệm khó quên nhất mà “Minh Tinh” nhà ta đã phải chịu là những trận mưa giả liên tục hơn 3 ngày, 3 đêm.

Người ái mộ Thẩm Thúy Hằng thuộc đủ thành phần trong xã hội. Khi khán giả ái mộ xin chữ ký cũng có nhiều chuyện ly kỳ ! Chị ký ảnh đề tặng cho người hâm mộ phía sau ảnh nhưng cũng có những trường hợp chị ký luôn vào áo của người hâm mộ. Khi Thẩm Thuý Hằng xuất hiện đi chợ. Con nít, người lớn hiếu kỳ theo rần rần như đám rước đèn vậy !

Trong đời nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng, có những tên tuổi như NS Năm Châu, Phùng Há, Kim Cúc, Ba Vân, nhạc sĩ Thẩm Oánh là những bậc thầy mà chị không bao giờ quên ơn. Chính những tên tuổi bậc thầy này đã có công dạy dỗ, hướng dẫn và tạo điều kiện để khán giả biết đến một Thẩm Thúy Hằng.

…VÀ HIỆN NAY

Hiện nay Thẩm Thúy Hằng không còn tham gia hoạt động nghệ thuật, một phần là do sức khoẻ, một phần là do muốn khán giả luôn giữ cho mình những kỷ niệm đẹp về một Thẩm Thúy Hằng của quá khứ…

Chị có một đam mê khi tuổi tác đã cao là nghiên cứu về Thiền, hằng ngày chị dành nhiều thời gian cho việc ngồi thiền, ăn chay trường… Sau khi sang nhượng lại ngôi nhà thân thương số 608 trên đường Cách Mạng Tháng Tám, nơi đã gắn bó với mình suốt một quảng thời gian dài, chị cùng gia đình dọn nhà đi nơi khác. Chồng chị là Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh đã mất ngày 29/08/2003 do mắc bệnh về tim mạch (thọ 82 tuổi).

Bây giờ Thẩm Thúy Hằng sống giản dị trong ngôi nhà mới, yên tỉnh ở khu vực Bình Quới. Gặp bạn bè đến thăm, chị vẫn vui vẻ khi được khơi gợi lại ký ức về cuộc đời nghệ thuật. Còn cuộc sống riêng chị càng lặng lẽ và âm thầm hơn. Thỉnh thoảng khán giả chỉ thấy một số vở kịch được dàn dựng tại các sân khấu nhỏ với tên tác giả là Thẩm Thúy Hằng. Ngoài ra Thẩm Thúy Hằng thường xuyên tham gia công tác từ thiện để cố gắng trong khả năng của mình đem lại phần nào no ấm hạnh phúc cho người kém may mắn hơn mình trong xã hội.

Về cuộc sống gia đình Thẩm Thúy Hằng rất vui khi thấy các con đều yêu thương mình. Niềm đam mê nghệ thuật thì vẫn còn mãi trong Hằng, lúc nào Hằng cũng suy nghĩ đến kịch, đến phim, đến những bạn bè, khán giả tri âm tri kỷ. Thẩm Thúy Hằng tham gia viết kịch bản. Chẳng hạn như kịch bản phim “Chuyện Tình Của Em” từng được nhà sản xuất phim Đào Thu thực hiện năm 1995, và sáng tác những vở kịch như “Nụ Cười Và Nước Mắt”, “Người Hạnh Phúc” được dàn dựng trên sân khấu nhỏ.

LÝ HƯƠNG  trích thuật

Advertisements

BÙI GIÁNG – Điên hay tĩnh ?

CỐ THI SĨ BÙI GIÁNG,

ĐIÊN HAY TỈNH

NHẤT PHIẾN TÀI TÌNH THIÊN CỐ LỤY

Bùi Giáng (sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 mất ngày 7 tháng 10 năm 1998) là một nhà thơ, dịch giả và nghiên cứu văn học của Việt Nam, ông nổi tiếng từ thập niên 1960 với tập Mưa nguồn. Và ông còn có các bút danh khác : Bán Dùi, Bùi Giàng Dúi.

Tiểu sử

Ông sinh tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Bố của Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ cả qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con thứ hai của Bùi Thuyên với Huỳnh Thị Kiền nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng.

Sau khi học xong bậc tiểu học ở Trường Bảo An tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Bùi Giáng được gia đình cho ra Huế tiếp tục học ở Trường Trung học Thuận Hóa, đang học thì thế chiến thứ hai nổ ra, Nhật hất cẳng Pháp, rồi đến Cách mạng Tháng Tám. Nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành Chung.

Bùi Giáng cưới vợ năm 18 tuổi (1944), vợ ông là bà Phạm Thị Ninh nổi tiếng xinh đẹp, nhưng chỉ vài năm sau, bà bị bệnh, sinh non và cả 2 mẹ con cùng chết. Nhiều người cho rằng đây là 1 trong những lý do khiến Bùi Giáng bị điên từ lúc trẻ.

Rồi Bùi Giáng theo kháng chiến. Năm 1950, khi có kỳ thi tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài 2 văn chương. Ông qua Liên khu IV, tới Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học đại học bằng cách đi bộ theo đường mòn trên núi hơn một tháng rưỡi trời. Nhưng khi đến nơi, không hiểu sao ngay trong ngày khai giảng, Bùi Giáng đã quyết định bỏ học để quay ngược trở về Quảng Nam rồi theo chân đàn bò rong ruổi khắp các vùng đồi núi 2 năm.

Tháng 5-1952, Bùi Giáng ra Huế thi lấy bằng tú tài để có thể vào Sài Gòn theo học ĐH. Nhưng một lần nữa ông lại bỏ học khi đọc danh sách các giáo sư giảng dạy ở ĐH Văn khoa. Sau sự cố này, Bùi Giáng không bao giờ đi học nữa.

Rồi Bùi Giáng chuyên tâm vào việc nghiên cứu, viết sách và sáng tác thơ văn. Những người thân cận cho biết ông đã về quê bán tất cả ruộng vườn được thừa kế để lấy tiền in sách. Từ năm 1957, ông lần lượt cho ra đời một loạt sách giới thiệu về văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm… Ông nổi tiếng bởi tốc độ sáng tác nhanh : tập thơ Mười hai con mắt được ông sáng tác chỉ trong một đêm Noel năm 1992.

Từ năm 1962, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam trước 1975. Sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ thì phải kể bằng đơn vị nghìn bài.

Năm 1969, tất cả sách vở cùng với nhà cửa bị một cháy hết trong một cơn hỏa hoạn. Ông bị sốc nặng, từ đó trở đi ông là bệnh nhân quen thuộc của viện dưỡng trí Biên Hòa.

Từ 1975 trở đi ông vẫn tiếp tục sáng tác rất nhiều thơ, nhưng thời gian này ông có biểu hiện bệnh tâm thần nặng. Ông thường rong chơi nghịch ngợm ngoài đường với bộ đồ rách rưới, dơ dáy, nhiều lần bị công an bắt vì gây rối trật tự, cản trở giao thông.

Tháng 10 năm 1998, trong một lần đi chơi ông bị té làm chấn thương sọ não. Sau khi hỏi ý kiến của nghệ sĩ Kim Cương, bệnh viện chợ Rẫy quyết định mổ cho ông, song ông đã qua đời vào ngày 7 tháng 10, 1998.

Chuyện tình cảm

Bùi Giáng chỉ có 1 vợ là bà Phạm Thị Ninh, một thiếu phụ hồng nhan bạc mệnh đã để lại cho ông nhiều đau khổ. Đó là lý do để trong thơ của ông sau này thường xuyên nhắc đến sự mất mát, sự chia ly, một hình bóng cũ : “Có hàng cây đứng ngóng thu/ Em đi mất hút như mù sa bay; hay những dòng thơ trên bia mộ của Bùi Giáng :

Đùa với gió, rỡn với vân

Một mình nhớ mãi

gái trần gian xa

Sương buổi sớm, nắng chiều tà

Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu

Song ngoài người vợ đầu, Bùi Giáng cũng có những đối tượng khác để yêu, để làm thơ, ngoài mối tình đơn phương nổi tiếng dành cho nữ nghệ sĩ Kim Cương, còn phải kể đến những mối tình vượt không gian với những mỹ nhân Tây Phương như Marilyn Monroe (mà ông gọi là Lyn-rô), Brigitte Bardot, ngoài ra trong thơ ông còn có những hình bóng của ca sĩ Hà Thanh, Thái Thanh, ni cô Trí Hải tức là Phùng Khánh (ông gọi là Mẫu thân Phùng Khánh), hay cả những nhân vật tiểu thuyết Marguerite, A Châu, A Tử.

Riêng mối tình đối với Kim Cương được cho là sâu đậm nhất, và đã để lại khá nhiều giai thoại.

Theo Wikipedia

NHẤT PHIẾN TÀI TÌNH THIÊN CỐ LỤY

– Bùi Chí Vinh

Bên Trung Quốc gọi nhà thơ Lý Bạch là “trích tiên” có nghĩa là ông tiên bị đày nơi đất Trích. Thì tôi cũng đặt nickname cho Bùi Giáng là… trích tiên, nhưng là ông tiên bị trời đày đọa.

Tôi bảo vệ quan điểm ấy ngay từ hồi làm cố vấn văn hóa văn nghệ cho họa sĩ Ớt tức Huỳnh Bá Thành, thời anh còn sống và làm Tổng Biên Tập báo Công An vào đầu  thập niên 1990. Có lần anh hội ý với tôi về kịch bản phim MÊNH MÔNG TÌNH BUỒN (chuyển thể từ tiểu thuyết LUẬT NHÂN QUẢ mà tôi và Huỳnh Bá Thành là đồng tác giả).

Anh Thành nói đại khái muốn cho thêm vài phân đoạn về sự có mặt của Bùi Giáng trong phim và hỏi tôi có ô kê không, thì tôi gật đầu cái rụp. Tôi trả lời : “Ô kê, vị trích tiên đó sẽ xuất hiện trong tư thế một đạo sĩ hoặc một nhà hiền triết giả điên để quan sát tấn tuồng đời”. Huỳnh Bá Thành sửng sốt : “Chú mày phong ông Bùi lên hàng trích tiên sao ?” “Đúng. Ông Bùi ra đời để chịu cảnh… nhất phiến tài tình thiên cổ lụy”.

Cuộc thí nghiệm của chúng tôi về Bùi Giáng đã làm cho điện ảnh bớt tính… quốc doanh và thêm phần phong phú. Lần đầu tiên lão thi sĩ giang hồ thứ thiệt múa may giữa cõi trần gian ta bà được đưa vào phim đẹp như siêu cao thủ hành khất Hồng Thất Công của kiếm hiệp Kim Dung. Mà so sánh Bùi Giáng là “siêu cao thủ” cũng chẳng sai. Chỉ nội chuyện ông đứng múa may bất chấp trời mưa trời nắng giữa các ngã tư giao lộ để “chỉ đường” xe cộ chạy đúng chiều thay cho đèn xanh đèn đỏ cũng đủ phải… kính nể. Ngày nào cũng làm “cảnh sát giao thông” từ 8 đến 12 tiếng đồng hồ liên tục như thế chứng tỏ nội công ông quả thật phi phàm.

Mùng 2 Tết Quý Dậu (1993) vị “Mạnh Thường Quân” của tôi và ông là Huỳnh Bá Thành chết bất đắc kỳ tử. Tôi và ông mỗi người rơi nước mắt một kiểu. Đúng một năm sau vào ngày giỗ đầu vị cố Tổng Biên Tập, chị Ninh (vợ Huỳnh Bá Thành) nói với tôi : “Anh Ba Ớt hồi còn sinh tiền hay nói họ Bùi có hai kẻ chọc trời khuấy nước là Bùi Giáng và Bùi Chí Vinh. Ông Giáng ghé thắp nhang hồi nãy rồi, bây giờ Bùi Chí Vinh đốt cho anh Ba điếu thuốc trên bàn thờ đi”. Coi, tự nhiên tôi và Bùi tiên sinh dù chẳng họ hàng gì với nhau (tuy cùng họ Bùi) nhưng định mệnh gần như sắp đặt sẵn trên cửa miệng của vị Mạnh Thường Quân Ba Ớt. Thật ra định mệnh sắp đặt từ cách đây 25 năm trước.

Cách đây 25 năm tôi và mấy huynh đệ giang hồ ngồi cụng ly nửa đêm ở góc chợ Gò Vấp. Trong mấy huynh đệ có Lã Văn Cường, Nguyễn Hải, Hồ Lê Thuần. Chúng tôi nhậu nhằm vào lúc Bùi Giáng rời chùa Long Huê gần đó ra chợ quậy tưng bừng khói lửa với một cây chổi rách tượng trưng cho ấn kiếm. Gọi là ấn kiếm vì Bùi Giáng luôn vỗ ngực xưng vương bất cứ lúc nào cao hứng. Đêm đó “vua cỏ” Bùi Giáng làm bà con chạy tán loạn và ông múa chổi tiến về phía chúng tôi. Ông vừa đi vừa khạc thơ rồi dòm trừng trừng vào mặt tôi. Trong cơn say xỉn ngất trời, Hồ Lê Thuần xúi tôi đọc thơ đáp lễ. Thế là người ngồi người đứng xuất khẩu thành thi qua lại liên tục.

Không biết Bùi tiên sinh “phê” thơ tôi ra sao, chỉ biết người tự động quỳ xuống bàn chúng tôi dâng cây chổi rách lên và tuyên bố “Đêm nay Trẫm thay mặt cựu hoàng Bảo Đại giao ấn kiếm cho thế hệ trẻ”. Câu nói đầy tính “chính trị” và đối phó của Bùi Giáng bắt buộc tôi phải nhận cây chổi và làm một bài thơ tặng ông tại chỗ, có chép lại nhét túi ông đàng hoàng, xin mạn phép ghi ra đây để người đọc biết sự tỉnh táo và khôn ngoan của Bùi Giáng :

CÁCH LẠY CỦA BÙI GIÁNG

“Liên tồn, l… tiên, liền tôn”

Bác Bùi chưa gặp đồng môn đây mà

Ta hăm bảy tuổi đăng khoa

Bác hơn sáu chục mới là Trạng Nguyên

“Bác đi, bi đát” cơn điên

Để mua trí tuệ “l… tiên, liên tồn”

“Riêng ta” thành “ra tiên” con

Lúc say xỉn vỗ hậu môn cười khà

“Bán dùi Bùi Giáng” xót xa

“Bình Chí Vui” ta vốn là “Bùi Vinh”

Bác không màng nhắc triều đình

Có đâu ta nỡ cố tình làm vua

Chi bằng giữa chợ say sưa

Bùi to Bùi nhỏ đi lùa các em

Kìa sao bác lạy như điên

Đợi ta đỡ dậy chiêu hiền nữa sao ?!?

Cuộc hội ngộ thứ hai xảy ra khoảng đầu năm 1990 khi tôi chở hiền thê Hương Lan lúc đó mang bầu đứa con đầu lòng ghé chơi nhà Nguyễn Lương Vỵ, thi sĩ kiêm Trưởng phòng Văn Hóa Thông Tin quận Phú Nhuận. Tại phòng khách có mặt sẵn hai dị nhân Bùi Giáng và Joseph Huỳnh Văn. Sau khi làm thủ tục chào hỏi, Bùi tiên sinh hất hàm với tôi : “Phu nhân của Bùi hậu sinh có chữa hả, đặt tên gì chưa ?”. Tôi trả lời rằng chưa thì Bùi Giáng vỗ bàn cái rầm : “Trẫm đề nghị đặt tên cho hậu duệ Bùi hậu sinh là Bùi Vương. Bởi họ Bùi chưa có ai làm vua cả”. Phát ngôn của Bùi Giáng làm cả bàn phì cười, lúc đó tôi giả tảng nhắc lại kỷ niệm cùng với Hồ Lê Thuần và mấy huynh đệ hội ngộ ông ở chùa Long Huê, Gò Vấp. Kỷ niệm sâu sắc đến mức tôi ghi lại bằng bài thơ HỌ BÙI đọc ra trước mặt ông, khiến ông hết sức tự hào :

HỌ BÙI

Ta kiếm hoài một gã họ Bùi

Trong lịch sử từng làm hoàng đế

Chỉ thấy họ Đinh, Lê, Trần, Lý

Thay phiên nhau mặc áo long bào

Gượng cười ba tiếng mà rơi lệ

Bùi gia trang tuyệt giống rồi sao?

Không xưng vương thì ắt cường hào

Ta bỏ sử đi tìm kinh sách

Nguyễn Đình Chiểu đui mà thấy hết

Gọi ngay ông Bùi Kiệm đến chào

Chao ôi thủy tổ nhà ta lạ

Khinh ngai vàng, mê gái thật sao ?

Không xưng vương thì ắt xưng tao

Ta bỏ sách đi lùng tứ phía

Chùa Long Huê có người mũ tía

Trải chiếu rơm viết một chữ Bùi

Ta giả nhà sư đi ngắm nghía

Biết rằng Bùi Giáng ghé am chơi

Thế thì dòng dõi nhà ta quậy

Tửu sắc đều say đến bốc trời

Không lập đế vì ưng rượu đế

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

Không lập chúa vì ưng nữ chúa

Thà lên… Bùi mãi, chẳng lên ngôi !

Chỉ cần hai ví dụ có nhân chứng, vật chứng trên đây tôi thiết tưởng độc giả cũng đoán được Bùi tiên sinh điên hay tỉnh. Theo tôi, điên hay tỉnh tùy phản xạ và đề kháng của chính ông khi tiếp xúc với người lạ. Gặp kẻ ác, kẻ vô cảm, kẻ ăn hiếp phụ nữ trẻ con và súc vật thì ông điên tới bến. Còn gặp tâm hồn tri âm tri kỷ đồng điệu thì ông tỉnh táo như “trích tiên” Lý Bạch chứ sao.

Thực ra định mệnh còn bắt tôi và Bùi tiên sinh đối tửu đối thơ trong những lần gặp nhau. Tôi nhớ có lần hẹn hò với nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (hạ sơn từ núi Đại Lào) tại quán cà phê Hội Văn Nghệ TP 81 Trần Quốc Thảo, Quận 3 thì trời… sắp mưa.

Trong lúc “ngồi đồng” vì Nguyễn Đức Sơn chưa đến, tôi trò chuyện với anh Bùi Bảy và Vũ Ngọc Giao cho đỡ buồn. Ai ngờ đang trò chuyện rôm rã bỗng Bùi Giáng vác một túi vải đi đến. Trong bộ cánh “cái bang” Bùi tiên sinh mở túi vải cho bầy chó con chạy lăng xăng rồi múa may một điệu nhảy bộ lạc quanh bàn chúng tôi, sau đó kéo ghế ngồi gấp bởi… trời trút mưa đột ngột. Bùi tiên sinh chỉ mặt tôi rồi phán : “Bùi hậu sinh xuất khẩu ngay một bài thơ về trú mưa cho Trẫm. Thơ hay lát nữa Trẫm đãi két bia”.

Dưới sự chứng kiến của những người cùng ngồi, sau khoảng 15 phút bài thơ HIÊN MƯA của tôi ra đời. Bài thơ khiến ông Bùi rất khinh khoái. Xin phép chép bài thơ ra đây cho các bạn thưởng thức :

HIÊN MƯA

Một hôm lãng xẹt mưa rơi

Giọt thưa giọt nặng khiến đời có hiên

Ta vào trú tuổi thanh niên

Chưa hay thứ tóc đã quên thiếu thời

Một hôm lãng xẹt mưa rơi

Thất thanh ta gọi em ơi đỡ buồn

Ngoài hiên đám trẻ bất lương

Coi thường phụ nữ cởi truồng tắm mưa

Trong hiên người lớn chẳng vừa

Nâng ly kể chuyện ngày xưa đa tình

Ta ngồi nghe ngóng văn minh

Uống một mình thấy hai mình ngất ngư !

Sau bài thơ tôi ứng khẩu, Bùi tiên sinh phun một loạt thi phẩm “tiếng lái” của ông. Thơ ông “độc” và “siêu” đúng trường phái Hồ Xuân Hương và tôi cũng tung hai bài thơ tiếng lái là bài QUỐC KỲ và ĐẢO NGỮ HÀNH đáp lễ. Bùi Giáng khoái chí quá tuyên bố : “Khanh là hậu sinh đối với Trẫm về thơ tiếng lái. Khanh thuộc loại “lái dỏm” bởi Hồ Xuân Hương và Trẫm đã làm trước rồi”.

Tôi bật cười và buộc phải chứng minh trường phái thơ “không giống ai” của mình. Đó là kiểu thơ chơi chữ tối đa nhằm xả stress. Cụ thể tôi bỏ các dấu gồm “dấu huyền, dấu hỏi, dấu sắc, dấu ngã, dấu nặng” xuống các mẫu tự của 24 chữ cái hoặc các từ ngữ để chúng hóa thành thơ. Xin thí dụ một vài đoạn ở đây :

BÃO

Giữa cuộc đời giông bão

Ta ruột xé gan bào

Văn miếu nuôi cường bạo

Triều đình nuôi hổ báo

Mình ta nuôi chiêm bao

QUẬY

Ở biển ta là cá quẫy

Sao ngươi đem bỏ mặt quầy

Giang hồ có câu phải quấy

Lẽ nào ta chịu lăn quay

Lẽ nào ta không dám quậy ?

THƠ

Có con ong thợ

Không thèm hít thở

Khí hậu đền thờ

Cho nên có thớ

Mật thành ra thơ

Cuối cùng chúng tôi kéo rốc qua quán bia đối diện ăn mừng cuộc tao ngộ chiến thành công tốt đẹp.

Ngày Bùi Giáng mất, xác quàng tại chùa Vĩnh Nghiêm tôi có đến viếng ông. Thức một đêm cạnh quan tài Bùi tiên sinh cùng với bà chị nghệ sĩ Kim Cương (người lo hậu sự cho đám ma Bùi Giáng). Đêm đó chị Kim Cương và điêu khắc gia Phạm Cung đồng ý với tôi rằng sự nghiệp thơ ông Bùi không chỉ nằm trong sáng tác mà còn nằm trong chính cuộc đời của một vị trích tiên. Rằng ông giả điên như một “hành giã”. Thưở còn sống ông chỉ chơi với trẻ con, chuồn chuồn, châu chấu mà không hề quan tâm đến những kẻ hò reo tên tuổi hoặc ăn theo hư danh của mình…

Nhắc về chuyện thương yêu muông thú và bảo vệ môi trường phải nói ông Bùi là người có tình nghĩa số một, ông coi chim chóc cũng như con người. Tôi nhớ có lần gặp ông nằm khóc bù lu bù loa như con nít trước nhà Nguyễn Lương Vỵ bèn ngồi xuống hỏi tại sao thì ông giãy đành đạch mếu máo : “Bùi hậu sinh biết không Trẫm gửi một con chim se sẻ cho Phượng vợ thi sĩ Vỵ chăm sóc nào ngờ con chim sẻ bị con mèo hoang ác ôn mở cửa lồng ăn thịt nên quyết đến đây đòi lại xác con chim để làm đám ma long trọng cho nó”.

Viết đến đây cũng quá đủ để nói về tính cách của ông. Một vị trích tiên “tỉnh trong điên” và “điên trong tỉnh”. Bài viết này dù có muộn màng sau ngày giỗ của ông nhưng cũng là một nén nhang thắp cho bậc tiền bối “nhất phiến tài tình thiên cổ lụy”. Chỉ vì một chút tài tình mà vướng lụy ngàn năm.

Cuối tháng 9-2010

BÙI CHÍ VINH (Nguyễn Văn Danh post)

Võ sư chưởng môn Vovinam LÊ SÁNG

ĐÔI NÉT VỀ VÕ SƯ

CHƯỞNG MÔN VOVINAM

LÊ SÁNG

Nguyên quán ở tỉnh Thanh Hóa, võ sư Lê Sáng chào đời vào mùa thu năm 1920 tại căn nhà bên bờ hồ Trúc Bạch ( Hà Nội). Ông là trưởng nam của cụ ông Lê Văn Hiển tự Đức Quang (1887-1959) và cụ bà Nguyễn Thị Mùi (1887-1993). Hai người em gái của võ sư là Lê Thị Xuất và Lê Thị Hương.

Vào năm 1939, sau một cơn bạo bệnh nên đôi chân đi đứng khó khăn, nghe theo lời khuyên của mẹ, võ sư Lê Sáng đã tìm thầy học võ với mục đích rèn luyện cho đôi chân cứng cáp và thân thể khỏe mạnh. Duyên may đưa đẩy ông đến với lớp Vovinam tại trường Sư phạm (Ecole Normale) Hà Nội do cố võ sư sáng tổ Nguyễn Lộc trực tiếp giảng dạy vào mùa xuân năm 1940. Có tố chất, thông minh, chịu khó học hỏi và chuyên cần luyện tập, ông sớm cải thiện tình trạng sức khỏe và tiến bộ nhanh trên bước đường võ nghệ. Chỉ vài năm sau, ông được võ sư sáng tổ cho tham gia huấn luyện tại Hà Nội. Từ đó, ông luôn gắn bó với võ sư sáng tổ như anh em ruột thịt, cùng đồng lao cộng khổ và từng theo chân võ sư sáng tổ đi dạy Vovinam ở nhiều nơi như : huyện Thạch Thất (tỉnh Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Hà Tây); tỉnh Phú Thọ; Chuế Lưu, Đan Hà, Đan Phú (tỉnh Yên Bái); Me Đồi (tỉnh Vĩnh Yên)…

Tháng 7 năm 1954, ông cùng võ sư sáng tổ vào Sài Gòn. Tại đây, ông được phân công mở các lớp Vovinam ở đường Avigateur Garros (nay là đường Thủ Khoa Huân), Hiến binh QG Sài Gòn và Trung tâm Huấn luyện Hiến Binh ở Thủ Đức. Đến năm Đinh Dậu (1957), võ sư sáng tổ lâm bệnh, ông thay người tiếp tục huấn luyện cho các môn sinh cao đẳng, đồng thời mở thêm võ đường ở đường Trần Khánh Dư (Tân Định), Sư Vạn Hạnh (sát chùa Ấn Quang), Moulin Rouge (đường Trần Hưng Đạo)…

Tháng 4 năm 1960, trước lúc qua đời, võ sư sáng tổ đã giao nhiệm vụ chưởng môn lại cho ông. Do tình hình thời sự, những năm đầu thập niên 60, võ sư Lê Sáng phải lên tận Buôn Mê Thuộc làm ăn và mãi đến cuối năm 1963, khi các võ phái ở Sài Gòn được phép hoạt động trở lại, ông mới quay về, bắt tay vào việc củng cố lực lượng, định hướng khôi phục và phát triển môn phái.

Là môn đệ trưởng tràng, sát cánh cùng võ sư sáng tổ khoảng 20 năm trường, võ sư Lê Sáng đã tiếp thu những tư tưởng võ đạo và võ thuật của sáng tổ một cách sâu sắt nhất. Trên cơ sở đó, với cương vị chưởng môn và bằng uy tín cá nhân, ông đã quy tụ nhiều cộng sự (võ sư, thân hữu…) tâm huyết và đã lãnh đạo môn phái vươn lên thật mạnh mẽ – Vovinam có mặt hầu hết tại các tỉnh miền Nam và lan rộng sang một số nước ở châu Âu – trong thời gian từ đầu năm 1964 đến đầu năm 1975. Những năm đầu khôi phục môn phái, dù cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, nhưng song song với chỉ đạo phong trào, mỗi ngày ông vẫn trực tiếp huấn luyện hàng 10 giờ cho nhiều đối tượng khác nhau; vậy mà đêm đêm vẫn còn chong đèn viết sách để hệ thống lại những tư tưởng võ học của sáng tổ; và qua kinh nghiệm thực tiễn của mình, ông đã bổ sung vào chương trình huấn luyện nhiều đòn thế mới. Bên cạnh đó, ông còn được bầu làm Tổng thư ký Tổng cuộc Quyền thuật miền Nam Việt Nam và Thủ quỹ Ủy ban Olympic miền Nam Việt Nam trong nhiều năm.

Từ cuối thập kỷ 80 đến nay, là người lãnh đạo tinh thần của Vovinam – Việt Võ Đạo, với chủ trương Thuận thiên – Hòa nhân, võ sư chưởng môn Lê Sáng luôn hướng dẫn và hỗ trợ những hoạt động chuyên môn của môn phái ở các nơi, trực tiếp khảo thí các môn sinh cao đẳng; đồng thời tiếp tục nghiên cứu để phát triển hệ thống lý luận và hệ thống kỹ thuật của môn phái phù hợp với xu thế của thời đại.

Chẳng những giỏi võ, có khả năng kinh doanh – từng là chủ tiệm đóng giày Phi Điệp (1950-1954), chủ nhà in và nhà xuất bản Nguồn Sống (1953-1954) ở Hà Nội – và năng lực lãnh đạo tốt, võ sư chưởng môn Lê Sáng còn là một con người tài hoa. Bằng những nét chữ bay bướm, đẹp mắt và rõ ràng, ông thường sáng tác nhiều bài thơ, mang cảm xúc sâu lắng và tinh thần thượng võ. Một số bài thơ của ông đã được phổ nhạc. Trong đời thường, ông sống ung dung, giản dị, thường giúp đỡ bạn bè và cư xử chân tình với những người chung quanh. Đối với môn đệ, ông chí tình dạy bảo, thương yêu và dung thứ. Những lúc cha mẹ ốm đau, ông luôn cận kề và chăm lo chu đáo.

Sống đơn thân, không nặng gánh gia đình, thích đọc sách báo, thấm nhuần triết lý phương Đông, và cũng là người môn đệ xuất sắc nhất của cố võ sư sáng tổ Nguyễn Lộc; bằng tài năng và đạo đức của mình, võ sư chưởng môn Lê Sáng đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho công cuộc xây dựng và phát triển môn phái Vovinam-Việt Võ Đạo.

Ban Nghiên cứu Việt Võ Đạo

NHỮNG KỶ NIỆM

VỚI VÕ SƯ LÊ SÁNG

– Vũ Ánh

Tôi biết Võ sư Lê Sáng Chưởng môn phái Việt Võ Đạo tức Vovinam từ lúc còn mới chập chững bước vào nghiệp báo bổ qua lời giới thiệu của một môn sinh của ông lúc đó mới mang chuẩn Hồng đai Nguyễn Đức Quỳnh Kỳ. Sau đó có một vài lần đến võ đường của Vovinam gần nơi tôi làm việc để xem Quỳnh Kỳ dạy võ cho các môn đệ của anh và đến tổ đường Vovinam ở 31 đường Sư Vạn Hạnh để xem Quỳnh Kỳ học võ với võ sư Chưởng môn Lê Sáng.

Rồi sau đó, miệt mài với nghề nghiệp, với chiến trường nên tôi không còn hình ảnh nào với môn phái này nữa suốt trong thời gian chiến tranh.

Cho mãi đến năm 1976, khi tôi từ biệt giam ở nhà tù Chí Hòa ra ngồi tù ở phòng tập thể số 14 khu ED thì gặp lại võ sư Lê Sáng.

Khoảng thời gian này, buồng giam 14 khu ED là một buồng giam có nhiều điểm đặc biệt về tù nhân. Chẳng hạn như trong số hơn 60 tù nhân, có cựu Thủ Tướng VNCH Phan Huy Quát và con trai là Phan Huy Anh, Phó Đại sứ Nam Hàn tại VNCH (rất tiếc tôi đã quên mất tên vị này), linh mục Trần Hữu Thanh (người cầm đầu phong trào tố cáo tham nhũng), Võ sư Suzuki một người Nhật nhưng quốc tịch Việt Nam chuyên dạy môn karate cho cảnh sát quốc gia và quân đội VNCH, Chủ tịch Dân Xã Đảng Phan Bá Cầm, cụ Nguyễn Phan tổng giám đốc công ty bột giặt NET, Lưu Nhật Thăng, một chủ báo Hoa ngữ ở Chợ Lớn từng là thư ký của Kim Dung, nhà văn chuyên viết tiểu thuyết kiếm hiệp nổi tiếng ở Hong Kong, ông Tám Mộng người được nói là cầm đầu một trong những lực lượng vũ trang của Phật Giáo Hòa Hảo, ông Nguyễn Thế Thông giáo sư Anh văn rất nổi tiếng của Saigon vào thời đó.

Năm 1976, ghẻ bắt đầu hoành hành tại khắp các khu ở nhà tù Chí Hòa và riêng buồng 14 khu ED. Ghẻ kềnh ghẻ càng, ghẻ khủng khiếp. Ghẻ làm da hư hại nặng có thể gây tử vong, và một trong những nạn nhân đầu tiên của dịch ghẻ là cựu Thủ tướng Căm Bốt Sơn Ngọc Thành.

Trong buồng giam chỉ có võ sư Lê Sáng là coi như bị nhẹ nhất chỉ ở kẽ ngón chân và ngón tay. Có lẽ thấy ông còn mạnh và quắc thước nên ghẻ có vẻ kiêng nể ? Vì phòng chật và nóng như lò than nên ban đêm Lưu Nhật Thăng thường dựa vào tường ngủ đứng, còn võ sư Lê Sáng thì ngồi tập và điều tức rất kín đáo tại chiếu nằm của mình. Ông tránh để giám thị canh gác phòng giam nhìn thấy ông tập, bởi vì vào thời đó, nếu bọn coi trại giam biết ai có võ chúng sẽ gây phiền hà vô cùng.

Ông ít nói chuyện, hay ngồi trầm ngâm với chiếc điều cầy. Nhưng với đám tù chính trị còn thanh niên như chúng tôi thì ông không ngại gì khi giảng giải về phái võ mà ông là Chưởng môn.

Võ sư Lê Sáng không bao giờ đề cập đến quyền cước của môn phái mà ông chỉ nhấn mạnh đến tinh thần của nó. Ông nói nhiều đến điều gọi là “cách mạng tâm thân” để giữ vững tinh thần anh em chúng tôi và để hướng về tương lai. Võ sư thường nhấn mạnh : “Ở trong tù, đói khát như thế này thì làm sao gia đình thỏa mãn nhu cầu cho chúng ta được. Phải biết sống về tinh thần. Thực phẩm chỉ là phụ đệm”.

Dĩ nhiên, chúng tôi hiểu rằng nói thì dễ nhưng làm rất khó. Nhưng nhìn dáng dấp ông lúc nào cũng vững chãi, đường bệ, với hàm râu dài, nụ cười rất tươi, đôi mắt sáng quắc, ăn nói không thừa, không thiếu, giọng nói mạnh, sang sảng nhưng ôn tồn, lịch sự ngay cả khi trả lời những câu hỏi rất thiếu giáo dục của bọn cán bộ trại giam, chúng tôi vững tin ở cách rèn luyện tinh thần mà ông thường chỉ dạy cho anh em trẻ chúng tôi.

Võ sư Lê Sáng là người rất uyên bác về thơ đường. Có nhiều buổi tối ông ngâm thơ Đường cho chúng tôi nghe, nhưng anh em thích nhất là khi ông ngâm bài “Hồ Trường”. Nhiều anh em đã không tránh được ngậm ngùi mỗi lần nghe ông ngâm bài thơ này. Ông cũng ít kể chuyện, nhưng khi nghe ông kể chuyện kiếm hiệp của Kim Dung hay kể về bộ Tam Quốc Chí, anh em trong buồng giam theo dõi một cách hào hứng, có thể quên đói và quên hẳn cảnh tù đầy.

Sống trong môi trường bị giam hãm như vậy, mỗi hành động của những tù nhân nổi tiếng trong buồng giam 14 khu ED đều bị chú ý. Chẳng hạn như cứ vào mỗi buổi sáng, vị phó đại sứ Nam Hàn sửa lại bộ quần áo tù cho chỉnh tề rồi ông bước lại chiếu nằm của ông Phan Huy Quát bắt tay vị cựu thủ tướng này, cúi gập đầu xuống để chào và sau đó hai người mới thăm hỏi sức khỏe của nhau. Võ sư Lê Sáng nói với chúng tôi : “May ra mà trong cảnh nhiễu nhương hỗn tạp, giậu đổ bìm leo này, trong buồng giam còn có được những hình ảnh đẹp đẽ của nền văn minh”.

Khi chúng tôi bị chuyển lên trại Hàm Tân Z-30C vào những tháng đầu của năm 1977, đám lính giải giao thường dùng dây xích cứ 5 người một rồi khóa vào chân ghế ngồi trên những chiếc xe đò.

“Xâu” đầu tiên được đưa lên xe gồm những người mà tôi còn nhớ rõ, đó là Võ sư Lê Sáng, ông Phan Bá Cầm, nhà báo Lâm Tường Dũ, Đoàn Bá Phụ (cựu trung úy Nhảy Dù) và tôi. Lên đến trại Hàm Tân, chúng tôi và Võ sư Lê Sáng vẫn được phân phối vào một trại lao động. Sau khi ở Hàm Tân Z-30C được vài tháng thì võ sư Lê Sáng bị dẫn vào nhà kỷ luật và bị cùm lần thứ nhất trong đời tù chỉ vì ông có bộ râu dài.

Viên cán bộ an ninh trại cho gọi thợ hớt tóc (cũng là mấy anh em tù cải tạo) đến. Võ sư Lê Sáng ôn tồn : “Cán bộ muốn cạo thì xin cứ thi hành, nhưng tôi không vi phạm nội qui của trại, cán bộ nên nhớ như thế nhé”. Ông đứng im lặng như một gốc cây, mắt sáng quắc nhìn thẳng vào mặt Tý. Nhưng khi thợ hớt tóc vừa đến gần ông thì Tý gọi giật lại : “Thôi. Cứ để cho anh ấy để râu nhưng đem cùm xem có chịu cạo râu không”. Võ sư Lê Sáng bị cùm hai tuần lễ nhưng kể từ sau đó không ai trong trại giam còn để ý gì đến râu tóc của võ sư Lê Sáng nữa.

Khó khăn thứ hai của Chưởng môn Việt võ đạo là do chính tiếng tăm của ông. Không hiểu nhóm công an vũ trang chuyên canh gác tù ở các bãi lao động bàn tán với nhau như thế nào mà không một tên nào dám đi gần ông. Tại bãi lao động, một tù cải tạo phải đứng cách xa lính canh 5 thước, khi phải báo cáo xin đi tiểu tiện, nhưng riêng võ sư Lê Sáng phải đứng cách vệ binh 10 thước. Biết được điều đó nên võ sư Lê Sáng rất thận trọng trong đi đứng tại bãi lao động để tránh hiểu lầm. Một lần buổi sáng tập họp trước cộng trại giam để xuất trại đi lao động, võ sư Lê Sáng bị kêu ở lại trại để “làm việc”. Buổi trưa khi lao động về, chúng tôi túm lại hỏi ông xem có chuyện gì, nhưng ông chỉ cười và nói : “Chẳng có chuyện gì cả. Vài học trò cũ của tôi từ Bắc vào thăm”.

Sau này, trong những lúc ngồi nói chuyện riêng tư vào những ngày nghỉ lao động, võ sư Lê Sáng cho biết là Hà Nội nghe tiếng ông, muốn vào thăm ông và cho người thử thách, nhưng ông từ chối vì, theo lời ông, “tôi học võ để rèn luyện tinh thần, không phải là để thi đấu, tôi là chưởng môn mà còn đi dương danh là một lỗi lầm với môn phái, tôi không làm điều ấy”. Chúng tôi ở với nhau ở Hàm Tân Z-30C đến năm 1979 thì bị chuyển trại theo phương án 4 tức được lọc lựa ra và đưa vào danh sách “chết” tức là danh sách không thể cải tạo được, và không bao giờ được xét tha theo quan điểm của trại giam. Thế là đang đêm chúng tôi lại bị gọi tên, bị xiềng đưa lên xe đò và đưa lên A-20 Xuân Phước, tức trại trừng giới.

Tôi đã viết khá nhiều điều về trại này, nên ở đây tôi chỉ nói đến hoàn cảnh của Chưởng môn Việt võ đạo khi bị đưa đến cái trại nổi tiếng khủng khiếp này trong suốt giai đoạn I, từ 1980 cho đến cuối 1988. Đến A-20 được 3 tháng thì Chưởng môn Vovinam Lê Sáng vào cùm ngay. Lần vào cùm này không do bất cứ một lỗi lầm về nội qui của võ sư Lê Sáng mà chỉ vì ông được sự kính nể và quí mến của anh em trong trại từ tập trung cải tạo, tù chính trị có án hay tù hình sự, ở cách ông cư xử và chia sẻ đói khổ với anh em, ở tinh thần vững chãi để đối phó với mọi hoàn cảnh khó khăn cùng quẫn trong tù, ông cũng không hé ra một lời nào có thể xâm hại đến người khác.

Trong bối cảnh này, bọn trại giam nhắm vào việc triệt hạ những thần tượng của tù cải tạo. Cũng chỉ vì thế mà Chưởng môn Việt võ đạo Lê Sáng vào cùm hết một năm. Khi ra khỏi nhà kỷ luật, sức khỏe của cụ có sa sút, nhưng giọng nói vẫn sang sảng và đôi mắt vẫn sáng quắc. Ra khỏi nhà kỷ luật hôm trước thì hôm sau ông đi lao động ngay. Võ sư Lê Sáng nói : “Ra ngoài cho khỏe”. Quả thật sức khỏe của võ sư Chưởng môn Vovinam phục hồi rất nhanh. Ông nói : “Vì khí trời”. Khi võ sư Lê Sáng về tiếp tục sinh hoạt ở đội lao động được vài tuần lễ thì tôi cùng một số bạn khác vào nằm cùm mãi cho đến năm 1985 mới gặp lại võ sư Lê Sáng tại phân trại B của A-20 để chuẩn bị chuyển trại.

Trước Noel 1985, chúng tôi chuyển trại về Z-30A nằm trong phương án đặc biệt mà Hà Nội đã thỏa thuận với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đó là thỏa thuận về chương trình HO. Võ sư chưởng môn Việt Võ Đạo Lê Sáng được thả tại Z-30A, trước thời gian tôi cũng như một số anh em khác từng làm tờ Hợp Đoàn, tờ báo chui ở A-20 bị “điệu” về trại Phan Đăng Lưu để chờ ngày ra tòa. Nhưng cuối cùng, vụ án được hủy bỏ và chúng tôi được đưa trở lại Z-30A tiếp tục nằm trong nhà kỷ luật.

Năm 1988, tôi được thả về và ít lâu sau có đến tổ đường của Vovinam trên đường Sư Vạn Hạnh để thăm võ sư Chưởng môn. Lúc này tổ đường Vovinam đã được củng cố. Các môn sinh người ngoại quốc từ Âu châu và các môn sinh Vovinam từ khắp Việt Nam đã lục tục kéo về để ra bái lậy Chưởng môn. Trong câu chuyện thăm hỏi tôi, ông cứ nhắc mãi đến “cách mạng tâm thân” và tính nhân bản của Việt võ đạo.

Bây giờ, cụ Lê Sáng đã ra người thiên cổ. Cụ thọ 91 tuổi. Trong bức hình chụp Võ sư Lê Sáng mà các bạn ở Việt Nam gởi cho, tôi thấy đôi mắt võ sư Chưởng môn Việt võ đạo vẫn sáng quắc như ngày nào.

Tôi viết những kỷ niệm trên với Võ sư Chưởng môn Việt võ đạo trong thời tù để gọi là đại diện cho một số anh em cựu tù của trại Hàm Tân Z-30C, A-20 và Z-30A bái vọng cố quốc để tiễn đưa cố võ sư Chưởng môn. Bởi trong những đêm tối ấy, ông vẫn như ngọn đèn sáng dẫn dắt tinh thần anh em chúng tôi. Cố võ sư Chưởng môn là một người cả đời hy sinh cho Việt võ đạo và đây cũng là lý do ông cụ không bao giờ lập gia đình.

Tuy nhiên, cụ rất nhiều con tinh thần vì trong tù chúng tôi đều gọi Võ sư Chưởng môn Vovinam là bố, “Bố Lê Sáng”. Vả lại ngày nay, trên khắp thế giới, hàng chục ngàn môn sinh Vovinam cũng đang thổn thức vì những mất mát không có gì bù đắp được cho môn phái vì sự khuất bóng của Võ sư Chưởng môn.
Đoàn Hồng (theo Vũ Ánh)

BÍCH THUẬN – BÍCH SƠN – TÚY PHƯỢNG

TÚY PHƯỢNG (1939 – 11/2001)

TỪ HOA HẬU ĐÔNG PHƯƠNG

ĐẾN NỮ HOÀNG NHẠC TWIST

Nữ nghệ sĩ Túy Phượng, ái nữ của cố nữ kịch sĩ Túy Hoa. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu. cùng tuổi với các nữ tài tử : Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn.

Túy Phượng là con của Túy Hoa nhưng được Anh Lân hết lòng thương yêu và bồi đắp trên bước đường nghệ thuật trình diễn. Túy Phượng giống mẹ như đúc, nhưng nõn nà và bốc lửa hơn mẹ. Vóc mình cô nhỏ nhắn, cân đối, tay chân xinh xắn. Khuôm mặt cô kết hợp bởi những đường nét cong và mềm và thanh tú. Đó là một vẻ đẹp chanh cốm, mũm mĩm làm say lòng người . Cô đoạt giải Hoa Hậu Đông phương trong đó có Kiều Chinh tham dự.

Tuổi thơ của Túy Phượng thật là gian nan vất vã phải cùng mẹ Túy Hoa bôn ba khắp nơi. Năm 1945, hai mẹ con do tránh chiến tranh và bom đạn đã sang Cam Bốt sinh sống. Bà Túy Hoa đã theo nghề ca hát để nuôi con, bà hát trong ban nhạc Tony Murena ở vũ trường Rex tại Nam Vang. Trong một lần tình cờ khi gánh Mộng Vân sang diễn cải lương tại Nam Vang, nhớ quê hương và được bầu gánh mời ký hợp đồng, Túy Hoa đã bồng con theo gánh về nước.

Vào nghề : Thoại kịch – Ca nhạc & Diễn viên điện ảnh

Về lại Sài Gòn, Túy Phượng được mẹ cho theo học trường nhà trắng Tân Định rồi Chí Thanh học hiệu, Đông Tây học đường…. Có gien ca nhạc trong người, Túy Phượng cũng đam mê nghiệp cầm ca như Mẹ. Năm 15 tuổi, cô chính thức gia nhập làng nghệ sĩ. Với sự dìu dắt của mẹ Túy Hoa và dượng Anh Lân lúc này là bầu gánh Dân Nam.Túy Phượng dần dần khẳng định vị trí của mình tại đoàn nhà.

Ở tuổi 14,15 Tuý Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai nhí nhảnh, hồn nhiên, đến tuổi 16,17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, thì Túy Phượng thu hút người xem trong những vai thương cảm. Hồi đó, Tuý Phượng diễn với các NS Kim Cương, Thẩm Thuý Hằng, má Tuý Hoa, ba Anh Lân và các anh Vân Hùng, Ngọc Đức. Đáng nhớ nhất là những vai diễn nội tâm sấu sắc nhất trong vở “Trà Hoa Nữ”, “Người mẹ tội lỗi”, “ Đứa con chị bếp”, “ Ảo ảnh”, “ Yêu trong bóng tối”, “ Nhạc lòng năm cũ”, “ Áo người trinh nữ”.

Trong cuộc bình chọn diễn viên được yêu thích từ một tờ báo của ông Trần Tấn Quốc tổ chức, Tuý Phượng và Vân Hùng đã được khán giả bầu chọn là “đôi diễn viên trẻ tài năng được yêu thích nhất”. Đây là vinh dự lớn trong nghề của Tuý Phượng vì nhà báo Trần Tấn Quốc, người chủ chương bình chọn này rất có uy tính trong báo chí và kịch trường. Ông Trần Tấn Quốc cũng là người sáng lập ra giải Thanh Tâm để chọn ra những huy chương vàng của SKCL, mà mở đầu là NSƯT Thanh Nga.

Sáng chói từ cuộc thi Hoa hậu Đông Phương của hãng phim Đông Phương vào năm 1957, lúc Túy Phượng vừa tròn 17 tuổi. Biệt danh “Hoa hậu Đông Phương” gắn liền với cô từ đó. Có một chuyện vui là vì mọi chi phí, tiền thưởng do hãng xe Lambretta bảo trợ hết, nên chữ Lambretta được vẽ kèm trong tấm banner Thi Hoa Hậu. Kết quả ca sĩ Túy Phượng đoạt chức hoa hậu, và sau đó thiên hạ gọi Túy Phượng là “Hoa Hậu Lambretta,”, ít ai gọi là “Hoa Hậu Đông Phương”.

Điện ảnh đã làm cho cô được chú ý ngay từ giai đoạn này. Trong năm 1958, Túy Phượng tham gia liên tục các phim như Cúc trong “Tình quê ý nhạc” của hãng Mỹ Vân, Công chúa trong ‘Thạch Sanh Lý Thông” của Văn Thế Phim, Thị Lụa trong “Bích Câu Kỳ Ngộ” của hãng Alpha… Tuý Phượng đóng rất nhiều phim, trong đó có phim hợp tác với điện ảnh Philippine như “Ánh sáng đô thành”.

Nữ hoàng nhạc TWIST

Sau này Túy Phượng được nghệ sĩ Bích Thuận nhận làm mẹ đỡ đầu. Cô lại được nữ ca sĩ Mộc Lan luyện giọng. Giọng hát của cô không có gì đặc biệt. Cô lại hát bằng cách phát âm người miền Nam như Túy Hoa, Ngọc Hà. Tuy nhiên đây là một giọng có kỹ thuật cao, ngân nga rất vững. Những bản slow chẳng hạn như bản Sương Thu của Văn Phụng được cô diễn tả rất nghề, làm thỏa mãn khách sành điệu. Ở bản Mộng Đẹp Ngày Xanh của Hoàng Trọng, dù gặp chỗ lên cao vượt ngoài âm vực của giọng hát cô, vậy mà cô hát vẫn không gãy, vẫn ngọt ngào làm cho nhiều người thán phục.

Cũng như giọng Mai Hương, Hồng Phúc, giọng Túy Phượng không thích hợp với sân khấu mà chỉ thích hợp trên làn sóng điện mà thôi. Nhưng khi cô xuất hiện trên sân khấu, chính thân hình nhỏ nhắn và bốc lửa của cô cùng khuôn mặt mũm mĩm của cô chài bẫy khán thính giả nhiều hơn là giọng hát.

Năm 1959, Sài Gòn xuất hiện phòng trà Hòa Bình. Túy Phượng mặc chiếc robe bằng nhung đen xẻ đùi và hở ngực hở vai khá rộng. Cô mang găng tay bằng nhung đen dài đến khuỷu tay, đeo những món nữ trang lấp lánh và cài vương miện trên tóc. Cô hát bài “Mambo Italiano” rất bừng bừng phấn khởi, như rải cơn bão lửa khắp phòng trà Hoà Bình.

Về sau, khoảng 1961-63, Túy Phượng xoay qua hát nhạc Twist và trở thành “Nữ Hoàng Nhạc Twist”. Nhưng cô chỉ nổi tiếng trong một thời gian ngắn ở lãnh vực mới này. Rất tiếc, Túy Phượng có biệt tài trình diễn nhạc hay, nhưng khán thính giả chỉ say mê cô qua sắc đẹp chói chang, qua những điệu hát rậm rật mà không tìm được cái nội lực chân truyền cùng kỹ thuật thâm hậu trong giọng hát của cô. Cho nên cô phải dùng nhạc Twist để làm quỷ làm yêu, trổ nhiều quái chiêu để thu phục nhiều khán giả.

Túy Phượng đóng kịch rất hay. Sau khi Kim Cương, Vân Hùng và Túy Hồng tách rời khỏi ban Dân Nam thì cô thay thế Kim Cương thủ những vai thương cảm nòng cốt của vỡ kịch. Tùng Lâm, Túy Phượng và Tùng Giang hợp với nhau thành một ban hợp ca (nằm trong đoàn Dân Nam) lấy tên là “ban tam ca Muôn Phương”, ăn mặc theo kiểu Nam Mỹ và hát nhạc châu Mỹ La Tinh được dịch lời Việt. Nghệ sĩ Tùng Lâm chơi guitar, Tùng Giang chơi congo, còn Túy Phượng lắc tamburan.

Sau năm 1975, Tuý Phượng vẫn tiếp tục con đường nghệ thuật trên sân khấu kịch “Tân Dân Nam”, Tuý Phượng còn là ca sĩ, một thời nổi tiếng “Nữ hoàng Twist”, nên thời điểm miền Nam giải phóng giọng ca của chị nổi bật trong các đoàn “Ca múa nhạc Hậu Giang”, “Tiếng Ca Minh Hải” lưu diễn khắp miền đất nước. Tuý Phượng cũng là 1 giọng ca trình diễn ở sân khấu nhà hát Hoà Bình ở Sài Gòn sớm nhất, cùng với Cẩm Vân, Thu Cúc, Bảo Yến, Nhã Phương, Thanh Hoa, Hồng Hạnh.

Nụ cười của Tuý Phượng vẫn tròn đầy, từ nằm 1995, sau những ngày đau buồn chịu tang mẹ là NS Tuý Hoa, người ta không thấy NS Tuý Phượng lưu diễn nữa. Chị vẫn hoạt động nhưng là nhận những vở diễn trong các vở kịch video. Trong lỉnh vực hài, Tuý Phượng thừa hưởng cái “gien” của mẹ, nên cũng rất duyên dáng đem đến khán giả những trận cười thoải mái.

Tuý Phượng từng được yêu thích qua băng hài “Đắc Kỷ ho gà”, “Hai Nhái khoái vợ bé”, “Con Tấm – Con Cám” gợi nhớ một thời chị diễn hài kịch cùng mẹ là Tuý Hoa và những “Cây Cười” Thanh Việt, Phi Thoàn, Tùng Lâm, Thanh Hoài, Hoàng Mai, Khả Năng, Bé “Bự” trên nhiều sân khấu.

Túy Phượng qua đời tại Sàigòn, ngày 13-11-2001. Đám tang của nữ nghệ sĩ Túy Phượng, chồng đứng ra tổ chức và hỏa thiêu ở Bình Hưng Hòa.

Lê Minh

NỮ NGHỆ SĨ BÍCH THUẬN

Trong giới cải lương thường gọi nữ nghệ sĩ Bích Thuận là “Má Bích,” bà đi vào nghệ thuật bằng con đường rất dài, đã có một quá khứ vàng son ở sau lưng, và hầu như khán giả cải lương ít khi nghĩ rằng Bích Thuận xuất thân từ đất Bắc.

Thật thế, Má Bích vào nghề nổi danh ở đất Thăng Long, rồi đến đầu thập niên 1950 bà và đào Kim Chung vào Nam đi hát, sau đó Kim Chung về Bắc, còn nghệ sĩ Bích Thuận ở lại tiếp tục cộng tác với các đoàn hát ở Sài Gòn. Do vậy mà năm 1954 có phong trào di cư, trong khi Kim Chung cùng đoàn “Tiếng Chuông Vàng Bắc Việt” thu dọn khăn gói di cư vào Nam, thì Bích Thuận đã có mặt ở Sài Gòn đã từ lâu rồi và đang hát cho gánh Phụng Hảo.

Lúc gánh Kim Chung đóng trụ ở rạp Aristo Sài Gòn, người ta tưởng đâu Bích Thuận sẽ về hát cho Kim Chung sẽ thích hợp hơn, bởi khán giả người di cư từng biết qua thành tích nghệ thuật của bà. Nhưng không, Bích Thuận vẫn cộng các với các gánh cải lương miền Nam, với đài phát thanh và lập đoàn hát riêng cho người cháu Bích Sơn vừa mới lớn lên vào nghề có đất dụng võ. (Nhờ đi theo Má Bích nên kiều nữ Bích Sơn và Bích Thủy cũng có mặt ở miền Nam trước 1954.)

Sau năm Mậu Thân 1968, trong lúc cải lương kiệt quệ, thì bên phía điện ảnh lên như diều, đào kép cải lương một số nhảy sang đóng phim và nữ nghệ sĩ Bích Thuận cũng được mời. Năm 1971 bà góp mặt trong hai cuốn phim “Mãnh Lực Ðồng Tiền” và “Sám Hối.” Cả hai vai đều là gái già hồi xuân, rất lẳng, rất nồng nhiệt, Bích Thuận đã làm sống động vai trò của mình.

Lúc bấy giờ người ta thấy Má Bích sửa sắc đẹp, trông lộng lẫy hẳn ra, lắm lúc nhìn còn… măng tơ hơn cả hai cô cháu Bích Sơn, Bích Thủy mới ngộ chớ… Ðồng thời với nét đẹp… hồi xuân, má Bích Thuận còn lãnh đóng nhiều vai gợi tình, hấp dẫn với những cái hôn nẩy lửa và những kiểu y phục hớ hênh thấy phát lạnh. Hiện nay Bích Thuận đã hơn 80 niên kỷ và đang định cư ở miền Bắc California.

Có một năm, nữ nghệ sĩ Bích Thuận có ghé Houston, tiểu bang Texas để cho ra mắt tập hồi ký do bà viết : “Từ Vân Hò đến UNESCO” ghi lại cuộc đời trình diễn thăng trầm của người nghệ sĩ tài ba trải dài suốt bốn thập niên 1940 – 1970.

Bích Thuận sinh trưởng tại Bắc Ninh,quê huơng của những điệu hát quan họ. Vào nghề thật sớm, lúc 10 tuổi,Bích Thuần cùng với nguời em gái là Tường Vi gia nhập gánh đồng ấu Nhật Tân Ban. Sau,hai chị em cộng tác với đoàn Tố Như lúc đó đang làm mưa làm gió khắp Nam Bắc với Kim Chung, Khánh Hợi là đào chánh. Tại đây, mãi về sau nhờ sự giúp đỡ của soạn giả Phạm Ngọc Khôi, Bích Thuận mới được đóng vai Thúc Sinh trong Kim Vân Kiều mà Kim Chung là Kiều Nương. Từ vai diễn nảy Bích Thuận luôn luôn đóng kép cặp với Kim Chung.

Khi đoàn Tố Như vào Nam lưu diễn trở về Bắc đem theo Túy Hoa thì Bích Thuận đã ở lại Sài Gòn luôn và lập gánh hát mang tên bà : đoàn Bích Thuận năm 1948. Một thời gian mỏi mệt trong việc điều hành đoàn hát, bà sang Pháp nghỉ ngơi. Đến năm 1951, Bích Thuận cộng tác với gánh Phụng Hảo của cô Bảy Phùng Há rồi sang gánh Nam Phỉ, Kim Chung và đoàn Thăng Long Huỳnh Thái của nam danh tài Huỳnh Thài cùng với hai người cháu là Bích Sơn (huy chương vàng giải triển vọng Thanh Tâm năm 1960 và Bích Thủy (tốt nghiệp thủ khoa trường Quóc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ).

Những vai thành công trên sân Khấu của Bích Thuận rất nhiều :

– Vai Mạc trong ” Gánh Hàng Hoa “, An Lộc Sơn trong vở ” Truồng Hận “, Tiểu Tướng Phùng Mậu trong “Phùng Mậu Hạ San”, vai Thúy Liễu trong ” Hoa Rơi Cửa Phật”, Túy Nguyệt trong “Hai bóng Hoa Rừng”, Liên Hoa Hoàng Hậu trong vở “Phấn Hậu Cung”, Tuyên Phi Đặng thị Huệ trong vở “Bội Lan Hương” phỏng theo ” Bà Chúa Chè” của nhà văn Phan Trần Chúc, cô Chúc trong vở “Vụ Án Giết Chồng” đóng chung với Phong Trần Tiến, Trần Khắc Chung trong “Sương Gió Chiêm Thành” của Vạn Lý & Viễn Châu, vai tiểu thư trong “Trăng Nhớ Bến Tầm Dương” đóng chung với Huỳnh Thái, Ngọc Toàn, Ba Hội, Bích Sơn, Bích THủy, bé Kim Hương…

Trong thập niên 40,Bích Thuận là nghệ sĩ gốc Bắc duy nhất có đông đảo khán giả trong Nam. Mãi đến những năm cuối 50, Bích Hợp mới thay Bích Thuận giữ ngôi vị độc tôn trong lòng khán giả mộ điệu miền Nam.
Bích Thuận có thu nhiều dĩa tân nhạc như “Ai Về Sông Tương”, “Trách Người Ra Đi”. Phải nói là giọng ca tân nhạc của Bích Thuận rất hay. Ngoài ra Bích Thuận cũng có tham gia điện ảnh với các bộ phim : Mãnh Lực Đồng Tiền, Sám Hối, Sau Giờ Giới Nghiêm.

Trước năm 1975, nghệ sĩ Bích Thuận là giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc Và Kịch Nghệ tại Sài Gòn. Bà là một nghệ sĩ đa tài trong các bộ môn, từ hát cải lương, ngâm thơ, kịch đến điện ảnh. Bà được tổ chức UNESCO thuộc Liên Hiệp Quốc tuyên dương vì đã hoạt động cho Văn Hóa Việt Nam suốt 50 năm.

KIỀU NỮ BÍCH SƠN

Bích Sơn là cháu của nghệ sĩ tài danh Bích Thuận ở đoàn hát Kim Chung. Có năng khiếu nghệ thuật từ nhỏ, lại được dì dẫn đắt, nên khoảng năm 1955-1956, Bích Sơn đã có những vai diễn sinh động trên sấn khấu Kim Chung.

Nét đẹp cô gái miền Bắc của Bích Sơn người ta nhớ nhất là mái tóc dài như suối phủ bờ vai, cặp mắt mơ mộng với nụ cười ẩn chứa nổi buồn man mác trên đầy đặn, bầu bỉnh như búp bê. Giọng ca Bích Sơn truyền cảm, và đặc biệt là cô ngâm thơ rất hay. Qua những bài thơ trữ tình như : “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” của Kiên Giang, giọng ngâm của Bích Sơn thật cuốn hút, chất chứa những rung cảm. Bởi vậy, nét đẹp của Bích Sơn nổi danh “Kiều nữ”, còn giọng ca ngâm của cô hấp dẫn bao khán giả đương thời.

Sau những vai mở đầu nghiệp diễn ở đoàn hát Kim Chung, Bích Sơn nổi bật trên sân khấu đoàn cải lương Thuý Nga trong vở “Khi hoa anh đào nở” của đôi tác giả Hà Triều – Hoa Phượng, qua vai cô gái Nhật. Vẽ đẹp của Bích Sơn thích hợp với một mỹ nhân Phù Tang, giọng hát trầm bổng nhịp nhàng với tiếng đàn samisen thấm vào lòng khán giả.

Vở  tuồng “Khi hoa anh đào nở” đã thắp sáng tên tuổi của Bích Sơn. Tiếp đến là giải Thanh Tâm năm 1960 trao cho Bích Sơn chính là bệ phóng đưa cô lên tâm cao nghệ thuật.

Sau sân khấu đoàn Thuý Nga, kiều nữ Bích Sơn qua những đoàn khác : Trăng mùa thu, rồi Thanh Minh – Thanh Nga. Cô có nhiều vai diễn ấn tượng trong vở “Tâm tình cô gái thượng”, “Tóc em chưa úa trăng thề”, “Mối duyên thiên lý”, “Hoa mùa gió loạn”,… Kiều nữ Bích Sơn còn là một diễn viên diện ảnh nổi tiếng, vai diễn người mẹ của cô trong phim “Bụi Đời” của đạo diễn Lê Mộng Hoàng là một dấu ấn đẹp trong điện ảnh.

Sau ngày đất nước chuyển đổi đời, Bích Sơn hát ở đoàn Thanh Minh với những vai sắc nét : Nữ Tướng Thánh Thiên trong “Tiếng trống Mê Linh”, Cố Mẫu “Thái Hậu Dương Vân Nga”, Nhũ Mẫu trong “Truyền tuyết về tình yêu”,… Tuổi đã cao, nghề đang đi vào xế chiều, Cô đã rời cánh màn nhung để ra nước ngoài đoàn tự gia đình, nhưng khán giả vẫn còn nhớ hình ảnh một Kiều nữ ngày nào trên sân khấu cải lương với giọng ca trầm và đôi mắt đẹp buồn diệu vợi.

Bạch Vương


MH. HOÀI LINH PHƯƠNG

NÓI VỀ MH. HOÀI LINH PHƯƠNG

QUA NHỮNG BÀI VIẾT

– Nguyễn Việt

– Bài viết này được post trong trang “Cà phê Văn Nghệ”

(http://mienyeuthuong.wordpress.com)

qua tựa “Văn thơ nữ giới” ngày 1/9/2010

Một nhà thơ nữ khi xưa, đã một thời vang bóng trên các diễn đàn văn nghệ thời còn những anh chiến sĩ Cộng Hòa. Là nhà thơ MH. Hoài Linh Phương, bấy giờ rất nhiệt tình cổ vũ cho phong trào “Người yêu của lính” – cuối thập niên 60 của thế kỷ XX – vì thế mà đa số thơ của “em gái hậu phương” đều làm tặng các “anh trai tiền tuyến”.

Tôi biết MH. Hoài Linh Phương trước khi tôi còn phụ trách các các trang Văn Nghệ Trẻ của báo Hòa Bình, Đồng Nai, sau này là Tin Điển và Trắng Đen. Khi đó MH. Hoài Linh Phương thường đi đôi với nhà thơ nữ Lệ Khánh trên những trang văn nghệ như Mai Bê Bi của báo Chính Luận (lúc cả hai, một người đã thành danh còn một người đang bước vào vườn hoa văn nghệ).

Lúc đó tôi có câu hỏi mà không dám hỏi ai, phải chăng MH. Hoài Linh Phương mới chính là “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” thật sự chứ không phải Lệ Khánh (?!). Có lẽ vì thế mà MH. (tức Mỹ Hương, chữ tắt tên thật của Hoài Linh Phương) có chút tự ti về nhan sắc, nên để bù đắp, hơi thở trong thơ của MH. lại rất nhẹ nhàng thanh thoát, không bi ai như Lệ Khánh, trái lại mang nhiều bản chất lãng mạn trữ tình.

Ngày MH. Hoài Linh Phương còn là cắp sách đi học rồi làm thơ viết văn, tôi có ghé qua nhà MH. trên đường Trần Hưng Đạo Q5, gần chợ Hòa Bình, mới biết vì sao MH. Hoài Linh Phương thường ca tụng đời lính, vì rằng ba của MH. là một sĩ quan cấp Tá trong quân đội từ nền Đệ Nhất sang nền Đệ Nhị Cộng Hòa; là Trưởng phòng 5 của Bộ Tổng Tham Mưu, có học vị Tiến sĩ Luật khoa, người nằm xuống trong trại cải tạo Yên Bái sau 1975.

Tôi nghe có người kể, khi MH Hoài Linh Phương chưa sang định cư tại Hoa Kỳ; MH. lúc đó đi dạy học, nên trong một buổi họp tại Trường Trung Học Hòa Đồng, một giáo sư Việt văn tố cáo MH. khai man lý lịch, có cha đi Mỹ mà bảo là chết trong trại cải tạo. MH. Hoài Linh Phương rất buồn trước cánh sâu bọ lên làm người, nay lại buồn vì đồng nghiệp có trí thức, tri thức lại đi bằng bốn chân. Cho nên MH. bỏ dạy học trở vế Sài Gòn, dù biết rằng miếng cơm manh áo trong thời bao cấp rất khó tìm. Sau đó MH. mới sang Mỹ bằng diện HO vì có cha chết trong trại cải tạo.

Cũng chính vì thế tôi mới hiểu vì sao giờ đây MH. Hoài Linh Phương đang ở Hoa Kỳ (trước đây hơn hai mươi năm, tôi cứ ngỡ MH. cùng gia đình đi “hồi hương lập nghiệp” ở Gò Công hay đi “kinh tế mới” gì đó, do có cha là sĩ quan trong quân đội Sài Gòn, để hưởng chính sách “khoan hồng” cho cha được về đoàn tụ cùng gia đình).

Và cũng không hiểu vì sao (mà cũng có thể đã hiểu) vào cuối năm 2008, tôi nghe Lệ Khánh nói : “MH. Hoài Linh Phương mới… lấy chồng, cả hai đang sống ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn”.

Thơ MH. Hoài Linh Phương

Mấy độ sau này nhiều người vẫn nhắc đến tên MH. Hoài Linh Phương, như một bài viết từ trên mạng mà tôi được đọc, cũng chính là tâm sự của người thơ :

– Mặt trời cuối ngày buồn lẻ loi, như cánh môi ai thiếu vắng những nụ cười. Thơ của MH. Hoài Linh Phương vẫn gợi buồn trong thi phẩm “Tình Khúc Cho Người”:

Em gái hỏi thầm chiều nay xứ Huế

Trời có dỗi hờn ướt áo anh không ?

Em ở phương đây nghe hồn bật khóc

Thơ viết một đời… chinh phụ chờ mong

oOo

Trời vẫn còn mưa, sao tình bỗng… mất

Người đã quên rồi tôi biết hờn ai ?

Tóc chợt phiêu du qua từng phiến tủi

Một thuở hẹn hò như lá thu bay…

– Không có hận thù hay trách móc, dầu tình kia chợt biến mất như áng mây. MH. Hoài Linh Phương đã sáng tác thi phẩm “Tình Khúc Cho Người” từ năm 1969 xa xôi, tuy thơ không mang đến nụ cười, chỉ gởi lại đời từng ngấn lệ đầy vơi với bao thương cảm “… Tóc chợt phiêu du qua từng phiến tủi – Một thuở hẹn hò như lá thu bay”.

MH. Hoài Linh Phương đã viết lên những câu thơ chan chứa tình thương, từ thuở quê hương thân yêu đang ngộp thở vì chiến tranh cùng khắp. Những dòng thơ dưới đây cho thấy sự hy sinh to lớn của những người vợ, người mẹ, người chị và những người em gái ở hậu phương “…Trời vào đông nên trời mang rét mướt – Em xa anh nên nước mắt đong đầy…” (Một phần của thi phẩm Lời Tượng Ðá của MH.).

“Trời vào đông nên trời mang rét mướt

Em xa anh… nên nước mắt đong đầy

anh phương nào cho bỏ trống vòng tay ?

em cúi mặt, thương tháng ngày bỗng… lạ !

chuyện người xưa chờ chồng… nên hóa đá

chuyện bây giờ, em cũng thế… hay sao ?

thời chiến chinh ai biết được lòng nhau ?

vâng ! em hiểu – xin đi vào quên lãng…

nhưng những đêm nằm nghe mưa chờ sáng

nghe gió về, nghe bom đạn miền xa…

mi cay cay và mắt bỗng… nhạt nhòa

em tự hỏi, sao dối mình được nhỉ ?

tại nhớ anh, em mới làm “thi sĩ”

“thi sĩ” hờn nên vần điệu vô duyên

thơ vụng về như lần viết đầu tiên…”.

Những câu thơ chân thành của người em gái hậu phương MH. Hoài Linh Phương thời đó, đã sưởi ấm lòng những chiến sĩ ngày đêm xông pha ngoài tiền tuyến lửa. Từng giờ họ “giỡn mặt với tử thần”, không phải tự họ coi thường sự sống, mà chấp nhận hy sinh để bảo vệ đất nước, giữ lấy quê hương.

Có chút gì để nhớ để thương, mà MH. Hoài Linh Phương ý thức được nên đã gởi đến khắp nẻo chiến trường những tâm tình đáng quý đó…

Sau đó nhận được phản hồi như sau :

Phản hồi 1 : Gửi ông Nguyễn Việt,

Rất tình cờ, qua một người bạn – được đọc bài viết về mhhoailinhphuong. Cám ơn ông đã cho chúng tôi những người yêu thơ mhhoailinhphuong từ một thời còn khoác áo lính có dịp trở về miền ký ức của chính mình. Nhưng thật tiếc, trên bài viết của ông không có phần comment nên phải email để góp phần cho trang web.

Là một độc giả trung thành của nhật báo Chính Luận từ số ra mắt, và vẫn còn lưu giữ được những bài thơ cũ của nhà thơ này, xin bổ túc một số chi tiết cho bài viết ông được hoàn chỉnh hơn.

1. Nhà thơ Lệ Khánh chưa bao giờ cộng tác với Chính Luận, mà chỉ cộng tác với Ngôn Luận (tiền thân của Chính Luận), và tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong

2. Riêng mhhoailinhphuong cộng tác trên trang thơ chính của nhật báo Chính Luận do Thái Linh phụ trách, không phải ở trang Mai Bê Bi là trang thiếu nhi do Tô Ngọc đảm nhiệm.

Về phần thân thế, và sự nghiệp mhhoailinhphuong xuất thân từ một gia đình khoa bảng, (Thân phụ cô là người duy nhất có học vị Tiến Sĩ trong QLVNCH). Tốt nghiệp Cử Nhân Báo Chí Đại Học Vạn Hạnh. Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Saigon. Tốt nghiệp Minneapolis Technical College tại Hoa Kỳ. Làm việc tại Associated Bank, và phu quân của cô hiện là Vice President của Adamsbank

Những chi tiết này tôi tìm thấy trong thư viện tại Hoa Kỳ phần tiểu sử tác giả.

Nếu tôi không lầm, vì một lý do nào đó, ông đã không tiếp xúc được với tác giả để có những hình ảnh xác thực. Bởi những nguồn tin và hình ảnh trên Net không rõ ràng và chưa được phối kiểm.

Chúc ông tìm được nhiều tư liệu hơn để bài viết thêm trung thực và phong phú về những người muôn năm cũ. Thân ái,

Phamchinhyen

Ông Phạm Chinh Yên thân mến,

Có lẽ tôi không nhớ rõ, Ngôn Luận hay Chính Luận. Nhưng chắc một điều không phải nghĩa Mai Bê Bi (My baby) là một trang thiếu nhi. Đây là một trang Văn Nghệ Trẻ dành cho thiếu nhi và học sinh (dạng tuổi ô mai) trong đó có đầy đủ thơ văn chứ không chỉ là những chuyện cổ tích.

Trong bài tôi cũng nói có hơn 20 năm (và có thể hơn 40 năm, vì từ năm 1968 tôi về làm ở báo Trắng Đen, trông coi trang quốc nội nên ít dịp liên lạc với nhóm Văn Nghệ Trẻ xưa) tôi không còn liên lạc với MH. Hoài Linh Phương.

Trong bài tôi sử dụng một số tài liệu từ trên mạng để viết về một người bạn năm xưa, vì nay chỉ nghe qua Lệ Khánh nói (lâu lâu mới gặp LK ở nhà Thiên Hà trong những dịp hội ngộ bất ngờ. Còn LK vẫn thường có liên lạc với MH qua điện thoại) nên khi phối kiểm đều thấy có sự trùng hợp.

Rất cám ơn tấm thạnh tình của ông dành cho tôi.

Phản hồi 2 : được post lên trang “Văn Nghệ Sài Gòn” (http://vannghesaigon.wordpress.cm) ngày 17/9/2010. Nguyên văn như sau :

– Để tôn trọng và bảo đảm được tính chất khách quan, trung thực, chính xác về tác phầm, tác giả, nhất là tác giả đó vẫn còn tồn tại, đề nghị người viết nên liên lạc trực tiếp với M.H.Hoài Linh Phương để các tài liệu, chứng cứ, hình ảnh về thơ văn và sự nghiệp có nguồn gốc rõ ràng (dù chỉ là một bài giới thiệu trên Net)

– Là một người từng phụ trách phòng đọc sách tại Thư Viện Quốc Gia đường Gia Long, Saigon trong một thời gian dài (trước và sau năm 75), tôi đề nghị ông nên làm một thẻ đặc biệt để được tham khào những tài liệu về sách báo hiện vẫn còn lưu trữ, nhưng phổ biến hạn chế, chỉ dành riêng cho người sưu tầm nghiên cứu về văn học sử – nhật bào Chính Luận từ số ra mắt 1964 đến 1975 (suốt 11 năm), sẽ là chứng nhân hùng hồn nhất về chuyện tác giả không hề xuất thân từ trang báo Mai Bê Bi.

– Các nhà báo lão thành từng phụ trách những trang thơ mà MH Hoài Linh Phương cộng tác ngày xưa hiện  một số vẫn còn định cư và tiếp tục làm báo tại hải ngọai. Cho nên không khó để đi tìm những gì đúng nhất về một tác giả.

Chúc ông tìm được đúng người, đúng tư liệu.

Một độc giả yêu thơ MHHLPhương từ những năm 1963.

Thụy Chương (Los Angeles – CA)

Kính gửi đến ông/bà Thụy Chương

(vì nghe tên Thụy Chương quá xa lạ đối với những người làm văn nghệ ở Sài Gòn “trước” những năm 1975 – còn sau này nhất là những người chưa nổi hay mới nổi ở hải ngoại, thì tôi chỉ là “thằng mù sờ voi” không hiểu rằng tên Thụy Chương thuộc giống cái hay giống đực – vì thế tôi phải sử dụng danh từ ghép ông/bà. Mong ông/bà tha lỗi, và đừng mở “lý luận” để thuyết về lời mở đầu này).

Những điều ông/bà nói trong thư tôi xin đón nhận và sẽ chiều theo ý ông/bà là sẽ tìm được đúng người, đúng tư liệu và cả sự liên hệ trực tiếp với MH. Hoài Linh Phương.

Còn về phụ trang MAI BÊ BI (không phải mục “đeo vè” trong trang 5 báo Chính Luận như ông Phạm Chinh Yên từng chỉ ra), xin ông/bà đọc lại một mục trong bài “Diễn đàn Văn Nghệ Tháng 9/2010” cũng nơi trang blog này. Trong đó, tôi chưa hề khẳng định MH. Hoài Linh Phương xuất thân từ phụ trang ấy, mà chỉ viết rằng MH gửi bài về để được chọn đăng như bao nhiêu cây viết trẻ khác (thi văn đoàn, văn nhóm, nhóm v.v… và v.v…).

Thật tình mà nói, tôi cũng quen biết với MH không nhiều thì ít, và bài viết như tôi đã nói là từ tư liệu góp nhặt trên Net, nên có sự bổ sung tư liệu của các thân hữu là điều rất đáng trân trọng – còn chấp nhận hay không, như ông/bà nói là cần phải kiểm chứng lại –

Tôi rất tiếc không liên lạc được với MH. Hoài Linh Phương (do người đẹp này thích ẩn hơn thích lộ), cả tỷ nội dung trên google search không bói ra được chút tiểu sử nào, chỉ thấy thơ, truyện ngắn hay tạp ghi mà thôi. Nên tôi khi viết về MH. là chỉ viết về cảm nghĩ của tôi những gì đã biết về MH. Hoài Linh Phương.

Nhưng quái lạ, tôi không hiểu vì sao MH. Hoài Linh Phương không phản hồi, mà như ông/bà hay Phạm Chinh Yên lên tiếng, mà việc lên tiếng này cũng quá mông lung chưa chuẩn xác.

Ông/bà hay ông Phạm Chinh Yên từng cho rằng “Các nhà báo lão thành từng phụ trách những trang thơ mà MH Hoài Linh Phương cộng tác ngày xưa hiện  một số vẫn còn định cư và tiếp tục làm báo tại hải ngọai. Cho nên không khó để đi tìm những gì đúng nhất về một tác giả”.

Vậy tôi nhờ ông/bà tìm dùm, ai là người ký tên “Kiều Diễm Hồng” phụ trách PHỤ TRANG MAI BÊ BI ?

Trân trọng kính chào ông/bà

HỒI ÂM CỦA

MH. HOÀI LINH PHƯƠNG

– Được post trên trang “Văn nghệ Sài Gòn » ngày 1/10/2010

Mới đây tôi nhận được 2 email do chính MH. Hoài Linh Phương gửi đến, và tôi rất hài lòng, bởi trí nhớ của MH còn rất tốt, nhớ rất đúng tên người cùng thời gian. (có một email đầu tiên gửi về địa chỉ mà tôi ít sử dụng, nên đã có sự chậm trễ).

Trong email, MH Hoài Linh Phương không xem đây là sự phản hồi của cô, mà bằng tình cảm giữa những người làm văn nghệ “nói nhau nghe”, cho nên tôi tôn trọng ý kiến của MH, không đăng nguyên văn, mà trích những khung thời gian cho tôi được nhớ lại, và cả những người từng lên tiếng sau bài viết của tôi đã post lên “Cà Phê Văn Nghệ” lẫn trang “Văn Nghệ Sài Gòn ngày ấy, bây giờ…” để làm sáng tỏ một ít vấn đề chưa sáng tỏ trong các bài viết ấy :

1/- … “Nếu anh biết quá ít về tôi, cũng là lẽ đương nhiên, bởi anh chỉ cùng Võ Hồng Nhữ Vân ghé thăm tôi một lần đầu tiên tại nhà đường Trần Hưng Đạo, và lần thứ 2 tình cờ tôi gặp lại anh tại một nhà in cũng ở đường Trần Hưng Đạo (tôi đến đó để bàn bạc một số chủ đề về bài viết với ông Lê Hùng – chủ biên đặc san Lam Sơn – Sư Đoàn 5 B.B. vì báo được đặt in tại đó). Đó là khoảng thời gian 1966. Và đó cũng là lần sau cùng, không hề có một tin tức nào giữa tôi và anh, từ ngày ấy đến  nay”.

– Rất đồng ý về điều này, nơi nhà in trên đường Trần Hưng Đạo là nhà in Thái Sơn (góc Trần Bình Trọng trong một Nghiệp đoàn lao động xe lam), lúc này tôi đang làm kỷ thuật cho tờ đặc san Lam Sơn của SĐ5BB do đại úy Hùng cùng Tam Phong phụ trách biên tập (hiện giờ tôi vẫn liên lạc với anh Tam Phong). Sau thời gian này tôi ra làm báo với tờ Đồng Nai, rồi Chuông Mai, Hòa Bình đến sau trận Mậu Thân thứ nhất mới về làm thường trực với báo Trắng Đen trong vai trò Thư Ký Tòa Soạn. Nên như tôi đã nói, từ đó không gặp MH nữa.

2/- Lệ Khánh và tôi được nhiều người biết đến cùng thời (64 -65), nhưng chị Lệ Khánh cầm bút trước tôi khá lâu, từ cuối thập niên 50, nên tôi vẫn quý trọng chị là một người đi trước..

– Điều này tôi viết cũng không sai, phải vậy không MH ?

3/- Tôi là một cây viết độc lập, không có chân trong bất cứ bút nhóm, thi văn đoàn, hay văn nghệ trẻ nào. Cũng như chưa hề góp mặt bất cứ trang Văn Nghệ Trẻ nào của các báo, dù lúc ấy tôi chỉ là một cô bé tập tành làm thơ….”người lớn”

– MH dùng câu “chưa hề góp mặt bất cứ trang văn nghệ Trẻ nào của các báo” có lẽ không đúng lắm. Có lẽ dùng câu “chưa hề cộng tác” sẽ khác với “góp mặt” vì nó gần đồng nghĩa với “gửi bài đăng báo”, nên chưa chuẩn mực lắm. Bởi nếu MH Hoài Linh Phương không góp mặt thì lúc đó không ai biết MH Hoài Linh Phương là ai !

4/- Những bài thơ đầu tiên được đăng trên nhật báo Báo Mới do nhà thơ Vương Tân phụ trách năm 63. Cùng lúc đó một vài bài rải rác trên nhật báo Ngôn Luận do nhà báo Thái Linh tức Kiều Diễm Hồng giữ vườn thơ, mà Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng là Chủ Nhiệm.

Thời kỳ này thơ Lệ Khánh, và Vũ Thành (tác giả các tập thơ Mắt Người Yêu, Người Yêu Áo Tím, Vùng Kỷ Niệm….) thường xuất hiện trên phụ trang Bé Ngôn, Bé Luận, Văn Nghệ Học Sinh, Gia Đinh xuất bản ngày chúa nhật do Phạm Cao Củng và Huyền Nga phụ trách.

5/- Sau cách mang 1963, hàng loạt báo bị đóng cửa. trong đó có Ngôn Luận. Toàn bộ ê kíp ban biên tập Ngôn Luận về cộng tác với nhật báo Chính Luận (Chủ nhiệm : Bác Sĩ Đặng Văn Sung) kể từ số ra mắt 1964.

Trong mối giao tình giữa tôi và nhóm ký giả Ngôn Luận trước đó, tôi tiếp tục gửi bài đăng trên Chính Luận từ 64 -75. (Mục thơ có cột riêng, mỗi ngày đăng một bài thơ giống Ngôn Luận trước đây).

Riêng ký giả Thanh Thương Hoàng, Trưởng nhóm phóng viên Chính Luận kiêm Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam, không phải là Chủ Nhiệm Văn Nghệ Tiền Phong và Khoa Học Huyền Bí, mà Chủ Nhiệm những tuần báo này là Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, người kiêm Chủ Nhiệm các báo Ngôn Luận, Thần Phong, và Thời Thế.

Khoa Học Huyền Bí khởi đầu là một mục trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong, sau được tách ra riêng thành tuần báo với phần nghiên cứu công phu, tỉ mỉ hơn.

– Tôi đã nhớ lầm tên giữa Nguyễn Thanh Hoàng và Thanh Thương Hoàng. Nói thật tình sau năm 1968 trở đi làng báo Sài Gòn chia làm 2 phe rõ rệt, từ khi có Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam ra đời, đối kháng với Nghiệp Đoàn Ký giả Nam Việt. Giới làm báo tđó cũng hình thành 2 trường phái gọi là Báo Nam – Báo Bắc. Chính Luận, Con Ong, Nghệ Thuật v.v.. thuộc nhóm báo Bắc; còn báo Nam như Trắng Đen, Tin Sáng, Tia Sáng, Thách Đố v.v… vì thế giữa 2 nhóm làm báo – ký giả này không chơi thân nhau lắm. Nên trí nhớ của tôi có sự nhầm lẫn.

6/- Về trang Mai Bê Bi (dành cho thiếu niên và nhi đồng) của Chính Luận, khởi đầu là phụ trang do ý kiến của Luật Sư Phạm Kim Vinh – một cây bút và cũng là thân hữu của ban biên tập Chính Luận đề nghị, về sau báo CL tăng 8 trang, Mai Bê Bi trở thành trang thường xuyên mỗi ngày vẫn do Tô Ngọc, Vân Sơn, Thùy Hương đảm nhiệm. Cùng thời gian đó, có một số thơ văn tôi cũng được đăng trên Nghị Luận, Quyết Tiến, Chọn Lọc, Tiền Tuyến, Chiến Sĩ Cộng Hòa, Tiền Phong v.v…

– Chắc 2 ông Phạm Chinh Yên và ông/bà Thụy Chương nào đó đã đọc được những dòng hồi âm của MH Hoài Linh Phương trên đây, về phụ trang và trang thiếu nhi Mai Bê Bi, đồng thời do ai phụ trách.

Trên đây là những dòng hồi âm của MH Hoài Linh Phương cho mấy bài viết của tôi về cô.

Có một điều làm tôi thật sự ân hận, do quá trực tính khi viết : “Lúc đó tôi có câu hỏi mà không dám hỏi ai, phải chăng MH. Hoài Linh Phương mới chính là “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” thật sự chứ không phải Lệ Khánh (?!). Có lẽ vì thế mà MH. (tức Mỹ Hương, chữ tắt tên thật của Hoài Linh Phương) có chút tự ti về nhan sắc, nên để bù đắp, hơi thở trong thơ của MH. lại rất nhẹ nhàng thanh thoát, không bi ai như Lệ Khánh, trái lại mang nhiều bản chất lãng mạn trữ tình”. Xin thành thật tạ lỗi cùng MH. Bởi không có nữ giới nào xấu hay đẹp, chỉ có tâm hồn hay tư tưởng xấu thôi.

Với MH Hoài Linh Phương tôi vẫn luôn dành cho cô một tình cảm đặc biệt (như MH nói từ sau 1966 chưa hề gặp lại nhau), nhưng những vần thơ “Người yêu của lính” ngày nào của MH vẫn chan chứa tâm hồn mọi người yêu thơ, không chỉ những anh lính chiến, mà một người chưa từng khoác áo trê-di như tôi vẫn dành cho thơ và cả MH Hoài Linh Phương thứ tình bạn văn nghệ tốt đẹp, khó phai mờ.

Nguyễn Việt