Nhạc sĩ Anh Việt Thu (1939-1975)

ANH VIỆT THU

Thế hệ nhạc sĩ

sau cùng ở miền Nam

Tên thật Huỳnh Hữu Kim Sang, sinh năm 1939 tại An Hữu – Mỹ Tho  (Định Tường) nay là Tiền Giang. Tốt nghiệp Hòa âm Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn năm 1963.

Thụ huấn điều khiển giàn nhạc với nhạc trưởng Otte Soelner. Đệ trình luận án Âm-nhạc-học với đề tài : “Không có Tiếng Động trong Âm Nhạc” tại Nhạc viện Tokyo – Nhật Bản năm 1963. Trưởng Đoàn Văn Nghệ Tổng Hội Sinh Viên Quốc Gia niên khóa 1958-1959

Chủ tịch Sinh viên Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn 1963 – Hát với tuổi trẻ Biên Hòa (1960-1965) – Thành lập Đoàn Du Ca Phù Sa hát dạo từ Cần Thơ ra Huế trong những năm 1965-1966

Những ca khúc đầu tiên được phổ biến từ năm 1956 : Giòng An Giang, Đường Này Anh Về Đâu…

NHỮNG TÁC PHẨM CHÍNH:

– Dạ khúc Kim Sang (10 bài nhạc không lời cho vĩ cầm và dương cầm) Giải Cantorum Schola – La Mã 1962

– 20 ca khúc Anh Việt Thu phổ biến trong những năm 1964-1968

– Xuân Nguyễn Huệ (trường ca) Giải Đài Phát Thanh Sài Gòn 1966

– Đường chúng ta đi (liên ca)

Ngoài ra đã soạn thảo khoảng trên 200 ca khúc phổ thông. Cùng với Thiên Hà chủ trương chương trình “Phù Sa” ca-ngâm-diễn-đọc, và “Tuần báo Văn Nghệ Truyền Thanh” trên làn sóng phát thanh Sài Gòn (1966 -1968)

Chủ trương “Giờ Âm Nhạc Anh Việt Thu” trên đài Vô Tuyến Truyền Hình Việt Nam từ năm 1971

Hợp tác với hãng đĩa Việt Nam thực hiện một số album như “Bóng Mát Việt Nam”, “Rạng Đông Trên Quê Hương Việt Nam”… dự báo tín hiệu hòa bình đầy ấn tượng trong những năm 1972-1974

Do căn bệnh hiểm nghèo, sau 103 ngày vật lộn với thần chết qua các bệnh viện Rall, Tổng Y Viện Cộng Hòa, Y Viện Quảng Đông, người nhạc sĩ tài hoa ấy đã trút hơi thở cuối cùng hồi 2 giờ 40 phút ngày 15-03-1975 nhằm ngày mùng 3 tháng 2 năm Ất Mão.

Lời trần tình của Anh Việt Thu

Mùa xuân đó có em

… Là những bài tình ca mang bóng dáng những khuôn mặt người yêu và bạn bè, dĩ nhiên có chia ly từ giây phút sum họp, có đau khổ tận cùng trong hạnh phúc vời vợi trong niềm kiêu hãnh vô biên trong tuyệt vời của tuổi trẻ. Là những bài hát đã viết trong suốt quãng đời trẻ tuổi xem như những đóa hoa cỏ dại rải rác bên đường… Và là những dấu hằng năm tháng trên lưng con ngựa già. Không là tường trình đúc kết bởi chân, tác giả còn hơi thở nhịp đi, còn quờ quạng bò lết, còn chạy nhảy trèo leo, còn bồng bế nâng niu không hơn một loài dã thú giữa cội rừng già buồn hiu…

Lời cuối

Trong giây phút chờ đợi ấn hành, tác giả xin dành lại sự quyết định sau cùng, có thể bán hoặc cho không từng bài hay xóa bỏ tất cã những bài hát trong tuyển tập này và xin xem như không có tác giả trong cái xô bồ của làng nhạc ở đây nữa.

Trân trọng xin giới thưởng ngoạn nghệ thuật đón nghe và đón xem, nhưng đừng đợi chờ. Lời cuối cùng là lời chân thành cảm tạ và có thể là lời tạ từ, bởi chân, sự an nghỉ là linh dược cho người điên.

Để từ đó, tác giả yêu Phạm Công Thiện Và từ đó, thương Nguyễn Đức Sơn vô cùng… (AVT)

Cuộc đời của người nhạc sĩ

Nhạc sĩ Anh Việt Thu tên thật là Huỳnh Hữu Kim Sang quê Cái Bè – An Hữu thuộc tỉnh Tiền Giang. Bút danh nầy theo lời anh Vũ Anh Sương (làm thơ – bạn của Anh Việt Thu ) xuất phát từ câu chuyện gia đình : tên Việt Thu là em trai của ông, do ông phải bảo bọc người em nên đặt tên như thế để nhớ trách nhiệm của mình tức “anh của Việt Thu”.

Anh Việt Thu hoạt động văn nghệ ở Sài Gòn vào những năm 70. Các bài hát của ông đã quá quen với chúng ta như Đa tạ, Người ngoài phố, Tám điệp khúc, Hai vì sao lạc, Người đi ngoài phố..

Vào năm 1964 nhạc sĩ Anh Việt Thu từ Sài Gòn lên Tây Ninh dạy học ở trường Nam (nay là trường PTTH Trần Hưng Đạo). Có thể nói ông là người đầu tiên đưa âm nhạc vào học đường thời ấy. Lớp học trò bây giờ ở trên tuổi ngũ thập tri thiên mệnh, vẫn còn nhớ bài hát mang điệu valse ngọt ngào mà thầy Thu đã dạy :

“Dòng An Giang sông sâu nước biếc, dòng An Giang cây xanh lá thắm,lã lướt về qua Thất Sơn….

“Dòng An Giang đáy nước in sâu, nhịp cầu tre ngắm bóng say sưa, nắng vẫn chiếu trên làn nước nhấp nhô…

“Đây những người thôn nữ xinh duyên dáng chuyền tay dắt nhau múc mấy vầng trăng đổ đi…”

Ông dạy nhạc có những nét độc đáo khó quên, lúc ngẫu hứng cùng thầy đi bộ từ chợ cũ – thị xã (nơi ông thuê nhà luật sư Đinh) xuống dốc sương mù Mít Một vào khu vườn sầu riêng của hai người bạn tên Muông -Trâm để vui chơi ca hát. Lương bổng thời đó rất khá (tương đương một chiếc xe Honda Nhật) nhưng do tánh nghệ sĩ nên cũng túng thiếu dài dài, có lần ông phải bán chiếc radio 3 band để trả tiền thuê nhà (nên nhớ thời đó có cái radio là quý, nghệ sỹ càng quý hơn vì để nghe nhạc của mình.)

Đời nghệ sỹ là vậy, xưa thi sĩ Hàn Mặc Tử từng than : Gió trăng có sẵn làm sao ăn?

Ông là một trong những người đưa những âm điệu nhẹ nhàng bình dân vào nhạc cùng với các nhạc sỹ Trúc Phương, Châu Kỳ, Minh Kỳ. Lam phương… (Như điệu boléro, ballade, habanera…) và đã từng đỗ hạng ưu khoá I trường quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn.

Theo nhạc sĩ Nguyễn Quốc Đông kể :

– Trong một dịp xuống Cẩm Giang vào năm 2005, tôi được Vũ Anh Sương cho xem bức thư ông gửi khi sáng tác xong ca khúc Đa Tạ, lời thư rất cảm động : “Mình vừa sáng tác xong 2 bài, độ trung tuần tháng tư trở đi cậu đón nghe đó là Chân dung và Đa tạ. Hiện mình chưa in ronéo, cuối tháng tới mình in luôn, cậu nhớ mua cái radio nho nhỏ nghe nhạc mình xem sao? Mình vẫn sống vất vưởng cù bất cù bơ…(thư đề ngày 31/3/66)

Cũng vào thời ấy, nhạc sĩ Anh Việt Thu phổ một bài thơ hay của thi sĩ Trường Anh, một nhà giáo ở Gò Dầu, bài “Mưa Cẩm Giang” trích trong tập thơ “Mưa Đêm Nay” xuất bản năm 1964 được thi sĩ Vũ Hoàng Chương đề tựa.

Năm 1972,nhạc sĩ Anh Việt Thu là một trong 12 nhạc sĩ du ca có mặt trong tuyển tập nhạc “Hát cho những người sống sót “ (Bút nhạc xuất bản 1973) ông đã viết : Một ngày Việt Nam thơm lừng hòa bình, một ngày Việt Nam bay tràn thế giới…

Đến năm 1975 ông qua đời tại Sài Gòn, hiện còn người vợ là bà Trần Nữ Hiệp và con trai Việt Bằng sống ở Sài Gòn.

Còn nhà thơ Thiên Hà viết về người bạn thân :

– Với Anh Việt Thu phải nói là người bạn thâm giao của Thiên Hà. Anh Việt Thu đã phổ nhạc rất nhiều bài thơ của Thiên Hà và bài nào cũng nổi tiếng đi vào lòng người cho đến tận hôm nay như : Gió Về Miền Xuôi, Nhớ Nhau Hoài, Xa Dấu Ngựa Hồng…v..v.

Do cơn bệnh hiểm nghèo những ngày cuối đời Anh Việt Thu tâm sự với Thiên Hà , anh mơ ước có một căn nhà bên cạnh dòng sông như ở Tân Qui, đường Trần Xuân Soạn hay Bình Đông. Có lẽ anh muốn ngắm nhìn dòng nước mỗi ngày như ở vùng An Hữu quê anh thời thơ ấu.

Khi Thiên Hà đẩy xe đưa Anh Việt Thu vòng quanh bệnh viện cho khuây khỏa chuyện các thầy thuốc đã bó tay. Qua khoảng sân còn sót từng giọt nắng chiều Anh Việt Thu nhìn bầu trời bao la mà thèm những bông hoa nắng. Hiểu ý bạn Thiên Hà hái một đoá Mẫu Đơn bên vệ đường an ủi, động viên bạn mình. Nhưng rồi cơn bệnh nan y đã ngắt đi cuộc sống của nhạc sỹ Anh Việt Thu tại Y viện Quảng Đông (nay là Bệnh viện Nguyễn Tri Phương) Sài Gòn lúc 2giờ 40 ngày 15 tháng 03 năm 1975 và đưa đi an táng tại quê nhà.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn viết :

– Anh Việt Thu mất sớm. Những ngày còn làm việc tại Phòng Văn Nghệ thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (do Thiếu Tá Ðinh Thành Tiên, tức Thi sĩ Tô Thùy Yên làm trưởng phòng), Anh Việt Thu chắc chỉ mời ngoài 30 tuổi. Nếu chúng tôi nhớ không lầm thì khi ấy, cùng làm việc trong Phòng Văn Nghệ còn có nhạc sĩ Trần Thiện Thanh tức ca sĩ Nhật Trường nữa. Chính trong thời gian này, Anh Việt Thu khám phá bị ung thư nhiếp hộ tuyến (hay phổi?) rồi qua đời.

Như thế ca khúc “Dòng An Giang” hẳn đã được Anh Việt Thu viết vào những năm ông còn rất trẻ, ở độ tuổi chưa đến 20, vì bài hát đã nổi tiếng trước đó nhiều năm.

Những người quen biết Anh Việt Thu cho biết, ông là người ít nói. Ông hiền lành và sống với bạn bè rất nhiệt tình.

Có một thời ông muốn làm nhà xuất bản nhạc, nhưng hình như chỉ in được một, hai tập nhạc ngoại quốc lời Việt, rồi thôi.

Có thể coi Anh Việt Thu là thế hệ nhạc sĩ sau cùng sinh trưởng tại miền Nam (nếu lấy ngày 30/04/1975 làm dấu mốc) những người viết nhạc với tâm hồn đôn hậu của người miền Nam, ít cầu kỳ, cả trong giai điệu lẫn ca từ. Nghe nhạc Anh Việt Thu người ta nghĩ đến những kinh rạch chứ không phải những ao hồ. Ao, hồ có một vẻ gì đó u uẩn, tù túng. Kinh, rạch, như lòng người miền Nam, khi thủy triều rút đi, khô cạn, phơi mở không còn gì giấu giếm, lúc thủy triều trở lại, lại kín đáo, tràn đầy. Như bài “Dòng An Giang”.

“Tám Ðiệp Khúc” của Anh Việt Thu là một tình khúc. Nhưng ông đã nhập cái tình riêng của mình vào với tình yêu quê hương, đất nước. Một đất nước tràn ngập điêu linh, tang tóc, mỗi tiếng hát như một lời thở than, kêu gọi yêu thương nhiều hơn là tỏ tình. Nhà văn Nguyễn Mạnh Côn có lần nói rằng, ông rất thích bài hát này của Anh Việt Thu, mặc dầu nghe cả bài trong một lúc khó nắm bắt tác giả nói gì, nhưng nghe từng đoạn tách rời, âm điệu day dứt của nó làm cho rất buồn…

Những nhạc phẩm thành danh của Anh Việt Thu

Đa tạ

Tôi xin đa tạ ngày nao súng phải thẹn thùng, / Ngày nao súng phải lạnh lùng.  / Nắng hạ vàng rưng rưng mây trắng / Ôi mây xõa tóc nghiêng nghiêng. / Xin đa tạ người em bé bỏng mặn mà, / người em bé bỏng thật thà. / Nắng hạ vàng rơi phủ bờ vai. / Lời ai ru gió hiu hiu buồn.

Tôi xin đa tạ lời ca tiếng ru ru mềm, / lời ca tiếng ru êm đềm  / Ôi lời ca đã xua chinh chiến / ru chim trắng trắng tung bay. / Xin đa tạ giòng máu thắm đỏ ruộng cây, / Giòng máu vẫn chảy miệt mài / Xin lời ru xua hãi hùng đi./ Lời ai ru gió hiu hiu buồn.

(Lời 2)

Tôi xin đa tạ mồ hôi nhỏ giọt dầm dề / Mồ hôi nhỏ giọt tràn trề / Trên đồng sâu hay trên ruộng lúa / xanh thăm thẳm mắt em thơ / Xin đa tạ lời ca ấp ủ vỗ về / Lời ru ấp ủ não nề / Nắng hạ vàng rơi phủ bờ vai / Lời ai ru gió hiu hiu buồn.

Tôi xin đa tạ lời ca lời ca đã xua bạo tàn / Lời ru đã xua phũ phàng / Nắng hạ vàng rưng rưng mây trắng / ôi mây xõa tóc nghiêng nghiêng. / Xin đa tạ ngày nao súng phải thẹn thùng / ngày nao súng phải lạnh lùng. / Xin lời ru xưa hãi hùng đi. / Lời ai ru gió hiu hiu buồn

Tám điệp khúc

Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu / Bàn tay năm ngón mưa sa / Dìu anh trong tiếng thở / Đưa tiễn anh đi vào đời / Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về

Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu / Bàn tay đón gió muôn phương / Bàn tay đan gối mộng / Đưa tiễn anh đi vào đời / Mẹ Việt Nam ơi ! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời

Tiếng hát hát trên môi / Giấc ngủ ngủ trong nôi / Một đàn, đàn chim nhỏ bay khắp trời Việt Nam mến yêu / Ôi tiếng chim muông gọi đàn / Mẹ Việt Nam ơi! Con xin dâng hiến trọn cả đời

Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu / Nằm nghe tiếng hát đu đưa dìu anh trong giấc ngủ / Ôi tiếng ru ru ngọt ngào / Mẹ Việt Nam ơi ! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời

Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu / Từng đêm ấp ủ trong tim / Từng đêm khe khẽ gọi / Anh nhớ thương em từng giờ / Mẹ Việt Nam ơi! Ai chia ly tan tác cả ngàn đời

Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu / Trùng dương sóng nước bao la / Trùng dương vang tiếng gọi / Ôi sóng thiêng em về Trời / Mẹ Việt Nam ơi! con xin ghi xin khắc nguyện lời thề

Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu / Rừng thiêng lá đổ âm u / Rừng thiêng vang tiếng gọi / Ôi núi thiêng em về nguồn / Mẹ Việt Nam ơi ! con xin ghi xin khắc nguyện lời thề

NHỚ NHAU HOÀI

(Nhạc Anh Việt Thu – lời thơ Thiên Hà)

Em ở nơi nào ? / Có còn mùa xuân không em / Rừng ngàn lá gió / Từng đêm nhắc nhở thì thầm / Nắng ở trên đầu nắng trong lòng phố / Gió ở trên non gió cuốn mây về

ĐIỆP KHÚC

Sao em vẫn ngồi mà nghe cô đơn / Mà nghe nức nở trong hồn / Và thương đôi mắt nhỏ em buồn / Vì mình yêu nhau / Vì mình thương nhau nên mới giận hờn / Vì mình xa nhau nên nhớ nhớ nhau hoài

Em ở nơi nào ? / Có còn mùa xuân không em / Rừng ngàn lá gió / Từng đêm nhắc nhở thì thầm / Mai lỡ không về chắc anh buồn biết mấy / Dáng nhỏ xuân xưa cũng nhớ đêm ngày

Quế Phượng (Tổng hợp)

Advertisements

Thi sĩ ĐINH HÙNG

CUỘC ĐỜI ĐINH HÙNG

NGƯỜI THI SĨ YỂU MỆNH

– Bài Nguyễn Việt

Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3/7/1920, thuộc người làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông nay thuộc huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Ông là con của cụ Hàn Phụng, một gia đình trung lưu, từ lâu đã ra lập nghiệp ở Hà Nội. Khi còn sống thi sĩ Đinh Hùng cho biết, ông được hoài thai vào năm 1919 trên đất xứ người là Phi Luật Tân (Philippines) nhưng lại ra đời ở Việt Nam ngay trại Trung Phụng gần toà Khâm Thiên Giám cũ, Hà Nội.

Đinh Hùng là con út gồm sáu anh chị em : anh cả là Đinh Lân, các chị là Loan, Yến, Hồng, Oanh. Chị Đinh Thục Oanh lớn hơn Đinh Hùng một tuổi sau lấy thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thuở nhỏ thi sĩ Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tại trường trường Bưởi, Hà Nội. Và sau khi đậu bằng Cao đẳng Tiểu học hạng bình thứ ông được học bổng theo ban chuyên khoa để thi Tú tài bản xứ thì “thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn” (theo lời kể của ông anh rể Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang để đi viết văn, làm thơ.

Và hình như gia đình thi sĩ Đinh Hùng đa số mọi người đều yểu mệnh, chưa ai bước qua khỏi tuổi 60. Năm 1931, người chị thứ ba của thi sĩ tên Tuyết Hồng tự tử tại hồ Trúc Bạch vì một mối tình duyên trắc trở. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng qua đời. Còn nếu tính đến ông khi mất vào ngày 24/8/1967, thì cũng chỉ mới hưởng dương có 48 tuổi !

Nói về thân thế sự nghiệp của thi sĩ Đinh Hùng. Năm 1943, ông theo sống với chị là bà Thục Oanh và thi sĩ Vũ Hoàng Chương tức anh rể của ông. Cũng năm này, ông cho xuất bản tập văn xuôi Đám ma tôi (NXB Tân Việt) và thơ đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực văn đoàn… Nhưng thật sự bắt đầu nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” mà Thế Lữ in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh.

Năm 1944, sau khi thi sĩ Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh đưa về Nam Định sinh sống, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, với sự cộng tác của một số bạn như Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Mai Châu… Cùng năm này, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học. Khi ấy, Vũ Hoàng Chương và vợ đang ở đó.

Năm 1949, ông lại cùng gia đình trở lại Hà Nội. Tại đây ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô văn nghệ (1952) và Mê Hồn ca (1954).

Tháng 8 năm 1954, thi sĩ Đinh Hùng và gia đình di cư vào Nam, cộng tác với tờ nhật báo Tự Do của Phạm Việt Tuyền, có sự cộng tác của Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong… Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông về cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, phụ trách ban thi ca Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. (Ban thi ca tao đàn từng đưa những tên tuổi ca sĩ như Hồng Vân, Hoàng Oanh thành những người đọc và ngâm thơ hay nhất lúc bấy giờ).
Ngoài việc làm thơ ký bút hiệu Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang lúc viết tiểu thuyết. Ông viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng đăng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận.

Năm 1961, Đinh Hùng cho in tập Đường vào tình sử (đoạt giải Văn chương về thi ca năm 1962). Năm 1967, cho ra tuần báo Tao Đàn thi nhân, nhưng mới phát hành được 2 số thì ông mất lúc 5 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại bệnh viện Bình Dân, Sài Gòn, vì bệnh ung thư gan.

Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10 năm 1967. Ngoài những tác phẩm kể trên, thi sĩ Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.
Mặc dù Đinh Hùng có viết văn, viết kịch, nhưng ông nổi tiếng là nhờ thơ. Các thi phẩm như Mê Hồn ca, Đường vào tình sử là hai thi phẩm nổi trội.

Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau :

“Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử.

“Ở phần đầu Mê hồn ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác cô độc đặc biệt đến bi thiết: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên…Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác của thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia: Gửi người dưới mộ, Cầu hôn, Tìm bóng tử thần…

Hiện tượng này hẳn liên quan đến nhiều chuyện tang tóc bất bình thường, trong thời gian ngắn, liên tục đổ ập xuống đời sống của tác giả thưở thanh thiếu niên.

“Thơ Đinh Hùng hàm súc, lối thao tác “tụ” và “tán” nhanh chóng, những “từ” và “tứ” đột xuất, khiến thơ ông có khả năng gây được cộng cảm, dễ lưu vào tâm trí người đọc”.(bộ mới, NXB Thế giới, 2004)

Tình thơ trong thi phẩm Đinh Hùng

Nhà thơ, nhà văn thường có tính tình lãng mạn, trữ tình, như ở thuở thanh niên thi sĩ Đinh Hùng đang được cấp học bổng để theo học ban chuyên khoa. Nhưng vào một ngày đẹp trời thì “tiếng sét ái tình” bỗng nhiên đánh trúng tim ông :

Có chàng mang lòng thương

Đi dạo muôn con đường.

Một hôm dừng trước mộng,

Yêu nàng tên Tần Hương.

(Tần Hương – Đường vào tình sử)

Người đẹp ấy tên là Kiều Hương, nhưng ông sợ gây rắc rối cho nàng khi đi lấy chồng nên sửa tên là Tần Hương. Mối tình ấy của Đinh Hùng tuy là mối tình đầu nhưng không sâu sắc, vì chỉ là tình yêu đơn phương. Nên khi nàng Kiều Hương đi lấy chồng, ông không buồn như nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà từng thất tình khi nghe người yêu đi lấy chồng để có một thi phẩm bất hủ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”. Còn ông chỉ có 2 bài thơ mang tên “Tần Hương” và “Bài hát mùa thu” đăng trong tập thơ Đường vào tình sử.

Mối tình thứ hai mới thực sự mãnh liệt và ghi dấu suốt đời trong tâm khảm của nhà thơ. Nàng là một cô bé họ xa, tên Bích Liên, thỉnh thoảng đến chơi nơi trại Trung Phụng của ba ông, nên thi sĩ Đinh Hùng có dịp quen thân. Thuở ấy nàng còn bé nhưng xinh đẹp tuyệt vời, và vì tên nàng là Liên nên Đinh Hùng viết :

Người đẹp ngày xưa tên giống hoa,

Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.

Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,

Lén bước trang đài tới gặp ta.

(Liên tưởng – ĐVTS)

Hai người mỗi ngày một lớn, tình yêu cũng cùng với tháng năm mà lớn dần theo, cô bé Liên càng ngày càng đẹp. Hai người yêu nhau nhưng trong mối tình hoàn toàn trong trắng. Không may nàng Liên bị bệnh phổi nặng, sắc đẹp ngày càng kỳ ảo và huyền hoặc khiến ông cứ ngất ngây, trong khi đó sức khỏe của nàng cứ hao mòn rồi từ giã cõi đời vào khoảng năm 1940. Đó là cái chết thứ tư của người thân yêu mà Đinh Hùng chứng kiến trong khoảng thời gian chưa tới mười năm.

Mất Liên, thi sĩ Đinh Hùng đau đớn như điên dại :

Qua xứ ma sầu, ta mất trí,

Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền.

Trời ơi ! Trời ơi ! Làn tử khí,

Lạc lõng hương thầm đóa Bạch Liên.

(Cầu hồn – Mê Hồn Ca)

Từ đó Đinh Hùng thường làm những bài thơ “Chiêu niệm”, tên Liên được thay thế bằng những tên khác, nào Diệu Hương, Diệu Thư, nào Ý Liên, Bạch Liên, Diệu Liên, nào Em Buồn, Em Đau Thương, Sầu Hoài Thương Nữ, nào Thần Nữ, Kỳ Nữ v.v… nhưng thực ra cũng chỉ có một nàng Bích Liên thôi. Khi nàng chết, Đinh Hùng bỏ trường đi sống lang bạt kỳ hồ, khi dạy học ở Hà Đông, lúc gia nhập một ban nhạc tài tử đi trình diễn ở vùng Bắc Cạn. Đi đâu Đinh Hùng cũng mang theo tấm di ảnh của nàng Bích Liên.

Nhà văn Mai Thảo thuật :

“Tôi được biết là sau ngày người con gái mang tên Liên từ trần, Đinh Hùng bỏ đi đến Hải Dương… Vượt Hồng Hà, bỏ Hà Nội, chàng tuổi trẻ khóc ngất, không mang theo gì hết ngoài nỗi đau đớn và một tấm hình. Đó là di vật cuối cùng của Liên…”

Nhà thơ có cá tính Ai đã gặp thi sĩ Đinh Hùng một lần thì khó lòng quên được. Thân hình mảnh mai, nước da xanh như tàu lá, đôi chân ngắn, bàn tay đẹp như bàn tay con gái mềm mại thon thon, và rất đẹp khi “vân vê” điếu thuốc lào hay khi lướt nhẹ trên chiếc vĩ cầm. Đôi mắt mơ hồ và huyền hoặc dường như luôn luôn in bóng một trời thơ diệu kỳ và mộng ảo. Giọng nói Đinh Hùng rất đặc biệt, nó “vang vang mà nhừa nhựa, nửa như thoát lên cao cùng mây, nửa như la đà cùng khói” (Hoàng Hương Trang).

Ngay lúc nằm trên giường bệnh, giọng nói ấy cũng vẫn còn nồng nàn nỗi yêu đời và niềm lưu luyến tình người. Còn vẻ bề ngoài, ông bao giờ cũng chải chuốt, tứ thời bát tiết lúc nào cũng diện complet thắt cravate cho dù là mùa hè đỏ lửa, đầu chải láng, miệng ngậm pipe, đôi vai nghiêng bởi chiếc cặp dày và nặng trĩu. Gặp bạn thơ thì mừng rỡ, chèo kéo bắt uống cho bằng được một vài ly để rồi say sưa nói về chuyện văn thơ không dứt.

Tạ Tỵ gợi lại một vài kỷ niệm :“Có những đêm đông Hà Nội tôi đến thăm Hùng tại căn nhà cổ nằm sâu trong ngõ hẹp ở cửa ô Cầu Rền, chẳng cách xa phường Dạ Lạc là bao. Ở tuổi hoa niên, tôi quen nhiều bạn biết uống rượu, nhưng tôi chưa thấy ai uống hào bằng Đinh Hùng và Văn Cao. Riêng Hùng có thể uống hai lít đế không cần đồ nhắm, vì thế Hùng mới có gan đối ẩm với Tản Đà hàng nửa ngày trời”. Và cũng vì thế mà bạn bè không ai cảm thấy bất ngờ khi hay tin Hùng bị ung thư gan ở tuổi 48.

Những tác phẩm thi ca của Đinh Hùng Thi sĩ Đinh Hùng có hai thi phẩm lớn là Mê Hồn ca và Đường vào tình sử là nổi bật hơn hết. Cho nên các nhà thơ tên tuổi vào những năm 60, 70 thế kỷ trước từng tranh cãi về giá trị của hai tập thơ này. Theo nhà thơ Sa Giang Trần Tuấn Kiệt chọn Đường Vào Tình Sử, thì nhà văn Trần Phong Giao lại chọn Mê Hồn Ca. Trần Tuấn Kiệt nói :“Mê Hồn Ca tuy đặc biệt nhưng thua xa tiếng thơ của tập Đường Vào Tình Sử”. Còn Trần Phong Giao nói :“Ai cũng bảo Mê Hồn Ca là tuyệt tác, chỉ có ́mình cậu là khác”. Rồi Trần Phong Giao khẳng định : “Trong tất cả những tác phẩm của Đinh Hùng, gặp trường hợp chỉ được quyền cất giữ một cuốn thì tôi sẽ không ngần ngại gì trong việc chọn lựa Mê Hồn Ca. Vì đó là tất cả vũ trụ thơ anh. Vì đó là tất cả anh”.

Nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca, nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền cho rằng “thi phẩm này thuộc loại thơ nói ít hiểu nhiều, cái hay cốt ở chỗ sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mác, điều mà Đinh Hùng chắc đã chịu ảnh hưởng ít nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire, Rimbaud. Thế giới Mê Hồn Ca là thế giới của đắm đuối say mê, của hoang sơ man dại, của chết chóc lạnh lùng, của nhiệm mầu huyền bí. Tình yêu trong Mê Hồn Ca thiết tha, mănh liệt và kinh khủng. Có nhà thơ nào đã xây dựng được cả một khu nghĩa trang huyền ảo như những bài Tìm bóng tử thần, Màu sương linh giác, Cầu hồn, Thoát duyên trần cấu, Gửi người dưới mộ… như Đinh Hùng?”

Còn nhà thơ nhà giáo Bàng Bá Lân cũng thích Mê Hồn Ca hơn Đường Vào Tình Sử, thích nhất Bài Ca Man Rợ vì bài thơ này rất giàu vần điệu và gợi hình, nhạc thơ toàn bài hùng mạnh một cách man rợ hợp với nhan đề..

Những ngày cuối cùng của Đinh Hùng

Vào trưa ngày 23/8/1967 – trước ngày Đinh Hùng mất – các bạn thơ và văn nghệ sĩ họp mặt trong một quán nhỏ, nhà văn Thanh Nam bộc bạch đọc bốn câu thơ mà ông rất thích :

Khi tôi ngồi xuống ở bên em,

Giở tập thư xưa đọc trước đèn.

Vẫn ngọn đèn mờ, trang giấy lạnh,

Tiếng mùa thu động, tiếng mưa đêm.

Nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà ở đó, tấm tắt khen thơ hay quá, nhưng khi hỏi xuất xứ thì nhà văn Thanh Nam không nhớ, chỉ biết đó là thơ Đinh Hùng trong cuốn Đường Vào Tình Sử. Về đến nhà nhà thơ Kiên Giang vội tìm cuốn Đường Vào Tình Sử để đọc bài thơ có bốn câu ấy. Đó là bài Gặp nhau lần cuối.
Tháng 7 năm 1967 khi bệnh tình của thi sĩ Đinh Hùng bỗng trở nặng, các thân hữu liền đưa ông vào bệnh viện Bình Dân để cứu chữa, nhưng bệnh ung thư chỉ có thầy tiên thuốc thánh mới cứu nổi.

Khi nhà thơ Tô Kiều Ngân vào thăm thì “trước mắt tôi không phải là chàng thơ phong vận từng bơi qua Hồ Tây, từng đánh đàn mandoline trong các phòng trà, nói chuyện có duyên, làm thơ tình ái rất hay. Người nằm đó chỉ là một bệnh nhân, mắt rất buồn, hơi thở mệt nhọc, đang chờ mổ mà tin tưởng thì rất mong manh… Người thơ của chúng ta trầm mình trong nỗi cô đơn giữa bốn bức tường bệnh viện lạnh lùng, đôi vai gầy, gầy thêm, khuôn mặt nhỏ, nhỏ thêm. Cuộc sống ở đây hoàn toàn bị lùi xa, bị tách rời”.

Có những người “vô danh” tình nguyện cho ông máu để đủ sức chịu đựng khi giải phẫu, nhưng đến nơi thì ông đã đuối quá ra đi rồi.

Tô Kiều Ngân viết tiếp : “Trước giờ liệm Hùng, tôi giở tấm vải trắng nhìn anh lần chót. Mớ tóc xõa ra, đôi mắt nhắm nghiền, da mặt trắng xanh. Buồn quá, không ngờ Hùng chết nhanh như vậy. 48 năm, thôi thế cũng được, 48 năm miệt mài với thơ, với nhạc, với Bộ lạc, Hải tần, Kỳ nữ, với “mây trắng bay đầy gối”, với “hiu hắt tiếng dương cầm”, đời anh toàn gắn liền với thơ, với rượu, kể ra đã thừa chất đẹp”

Hôm đưa tang Đinh Hùng vào chủ nhật 27-8-1967 tức 22 tháng 7 năm Đinh Mùi – là một ngày trong tiết thu sơ, bầu trời ảm đạm. Bạn bè đi đưa tuy không đông lắm nhưng ai nấy đều chan chứa trong lòng niềm tiếc thương vô hạn một nhà thơ tài hoa mà yểu mệnh.

“Bên chiếc huyệt đào sẵn, Vũ Hoàng Chương gọi lớn : “Đinh Hùng ! Đinh Hùng !” nhưng người thơ phong vận không bao giờ lên tiếng nữa. Bậc đàn anh Vi Huyền Đắc ngậm ngùi bên bờ huyệt, Vũ Khắc Khoan lặng lẽ ném một hòn đất xuống quan tài. Thanh Nam bỏ ra ngoài lặng lẽ đưa khăn lau mắt, Hoàng Anh Tuấn khóc lăn bên nấm mộ… Khi ra về, đi bên cạnh Tuấn, tôi mới hỏi “Toa hôm nay xúc động quá nhỉ !”Tuấn nói “Đâu mình có khóc Đinh Hùng, khóc cho mình đấy chứ !” (Ký giả Lô-Răng).

Và như lời tiên tri, thi sĩ Đinh Hùng từng có bài thơ “Cung đàn tưởng niệm” để khi ông chết như một di chúc để lại cho mọi người, đọc khi đến viếng mộ ông, một thi sĩ tài danh yểu mệnh :

Cung đàn tưởng niệm

Khi anh chết, các Em về đây nhé,

Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa.

Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ,

Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ.

oOo

Em lả lướt, Em là Buồn cố kết,

Tự ngày anh ra sống kiếp trần ai.

Em khóc cho anh mối hận tình dài,

Em nói cho anh tấm lòng cô lữ.

oOo

Và em nữa, ôi Sầu-Hoài-Thương-Nữ !

Anh thường mê tiếng hát của Em xưa.

Những ngày vui, bóng mộng mất không ngờ,

Em thân ái vẫn cùng anh tưởng nhớ.

oOo

Anh quên đấy: còn người em duyên số,

Em đã về chưa nhỉ ? Hỡi Đau Thương !

Nhớ cùng Em đối bóng mấy canh trường,

Tự đêm ấy cầm tay nhau không nói…

oOo

Anh tưởng niệm các Em về một buổi,

Ở bên mồ, cỏ úa sắc chiều rơi.

Ngược Sông Mê, bàng bạc nẻo luân hồi,

Sầu rũ tóc, ngậm ngùi in khóe mắt.

oOo

Anh đã thấy dáng Em Buồn cúi mặt,

Anh cảm lòng vì lệ của Thương đau.

Các Em sang vĩnh biệt tấm thân sầu,

Các Em khóc các Em buồn lắm nhỉ?

oOo

Phải xa anh, từ đây đường nhân thế,

Các Em đi, phiêu bạt giữa thời gian.

Và từ đây trong khe núi, bên ngàn,

Các Em dạo, làm những hồn oan khổ.

oOo

Anh bơ vơ lạc trên đường thiên cổ,

Lạnh tâm tư, mờ tỏ ánh tinh cầu.

Mất anh rồi, Các Em sẽ về đâu ?

Đinh Hùng chết để sự nghiệp thơ ông trở thành bất tử” (Văn học hiện đại).

NGUYỄN VIỆT

Nhạc sĩ Y VÂN

TÁC GIẢ TÁC PHẨM 

“SÀI GÒN ĐẸP LẮM”

NHẠC SĨ Y VÂN

– NGUYỄN VIỆT

Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội nhưng quê gốc ở Thanh Hóa. Thuở thiếu niên ông từng theo học nhạc với giáo sư – nhạc sĩ Tạ Phước, và đã tập tành sáng tác từ rất sớm nhưng không mấy thành công. Mồ côi cha, nhà nghèo, mấy mẹ con dắt díu nhau nương náu trong một túp lều xiêu vẹo ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, Trần Tấn Hậu rất thương mẹ và các em.

Lúc đó chàng nhạc sĩ nghèo chưa lấy nghệ danh Y Vân, ông phải đi dạy đàn để nuôi gia đình. Có một người bạn thân giới thiệu anh đến dạy đàn cho một tiểu thư khuê các – nàng tên là Tường Vân. Rồi giữa họ hé nở một mối tình đằm thắm. Nhưng… tình đầu tan vỡ cũng là lẽ thường, huống chi chàng chỉ là anh “Trương Chi” si tình khốn khổ, còn nàng lại là một “Mỵ Nương” danh gia vọng tộc. Không thành duyên nhưng… thành danh, một loạt các ca khúc của Y Vân (có nghĩa là Yêu Vân) ra đời từ đó như : Đò nghèo, Ảo ảnh, Nhạt nắng… với phong cách tha thiết, trữ tình rất được công chúng yêu thích.

Không chỉ có vậy, sáng tác của Y Vân còn rất đa dạng : vui tươi, sôi động với Sài Gòn đẹp lắm, lung linh, sang trọng với Tiếng trống cao nguyên, Những bước chân âm thầm (thơ Kim Tuấn) và nhất là ca khúc Lòng mẹ êm ái đầy xúc cảm…

Tác giả biết rất nhiều về anh em nhạc sĩ Y Vân và Y Vũ, nhưng có bài viết của Nguyễn Linh Giang mang thật nhiều ý nghĩa về người nhạc sĩ sáng tác ca khúc “Người em sầu mộng” phổ thơ của Lưu Trọng Lư. Bài viết mở đầu có nội dung :

Y VÂN VÀ MẸ

– Ai là người Việt Nam mà không biết bài “Lòng Mẹ” cua Y Vân, thậm chí còn có thể ngân nga ít nhất là hai câu đầu của bài hát : “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào / Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…”. Bài hát tha thiết, êm ái và chân thành quá khien ai cũng có thể… vơ vào để tưởng tượng người mẹ trong bài hát là mẹ của mình, để rồi hát lên và… chảy nước mắt.

Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 và mất năm 1992, đúng 60 tuổi, y như bài nhạc twist “60 năm cuộc đời” mà ông đã viết thuở nào. Y Vân lúc nhỏ nhà nghèo lắm, sống xa bố, chỉ có mẹ hiền và bên ngoại đùm bọc. Có lẽ ông đã thừa hưởng dòng máu nghệ sĩ từ bên ngoại vì ông ngoại giỏi thơ văn và mẹ cũng rất giỏi thơ văn.

Năm 1954, ông cùng 2 em và mẹ di cư vào Nam với hai bàn tay trắng, lúc vừa 21 tuổi. Mẹ hiền buôn bán nuôi 3 con. Còn Y Vân thì đã thích nhạc từ nhỏ, học đàn, sáng tác, hòa âm từ trước năm 54 nên vào Nam đã có thể đi trình diễn giúp vui cho đồng bào di cư.

Giai thoại ca khúc Lòng Mẹ :

Sau một buổi trình diễn với Phủ Tổng Ủy Di Cư về, Y Vân bị mưa ướt như chuột lột, quần áo dơ hết. Mới di cư còn nghèo, chỉ có một bo đồ coi được nhất để trình diễn, Y Vân rất lo lắng vì ngay sáng hôm sau lại phải đi đàn nữa. Khuya hôm đó, mẹ ông đã đem bộ quần áo ra máy nước công cộng đầu hẻm giặt sạch rồi về nhà đốt than lên hơ cho chóng khô. Sáng hôm sau, Y Vân đã nghiễm nhiên có được bộ quần áo sạch  mặc đi diễn. Ông cảm động lắm và cảm hứng viết ca khúc đầu tay “Lòng Mẹ”, một bài hát đã đi vào lòng hằng triệu người dân nước Việt.

Và đó là khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc của một trong những nhạc sĩ tài hoa nhất của Việt Nam.

Người mẹ đã đóng một vai trò quan trọng trong suốt cuộc đời Y Vân. Mẹ là người nuôi nấng nên người từ khi còn nhỏ và săn sóc con khi đã lớn. Mẹ cũng chính là người dựng vợ cho con.

Một cô gái quen với Y Vân do bạn thân làm mối năm mới 16 tuổi. Cô không mê nhạc mà chỉ thích thơ. Y Vân về nói chuyện với mẹ. Bà cụ thân hành qua nhà cô để xem mặt. Để tìm hiểu về cô dâu tương lai, bà xin phép xuống nhà dưới đi vệ sinh nhưng mục đích chính là xem thử bếp nước như thế nào. Bà về nói với cô em gái :

– Được lắm! Bếp nước gọn gàng sạch sẽ.

Thế là Y Vân được vợ. Từ lúc quen đến lúc cưới chỉ vỏn vẹn 5 tháng. Ngày đám cưới, Y Vân đã viết bài “Người Vợ Hiền” tặng vợ.

Y Vân là một trong số ít những nhạc sĩ Việt Nam sống hoàn toàn bằng âm nhạc. Ngoài việc sáng tác và làm việc cho các đài phat thanh và truyền hình, ông còn đánh đàn contrebass và guitar tại các phòng trà ca nhạc ở Sài Gòn và các Club Mỹ. Là một nghệ sĩ, ông ít có đầu óc thương mại, thường bán đứt bản quyền các bài hát  ăn khách. Trong một thời gian ông và vợ có thực hiện một số băng nhạc lấy tên Trung Tâm Mây Hồng nhưng cũng không kéo dài lâu

Sau 1975, Y Vân trở nên nghèo túng như tất cả những người Sài Gòn lúc gạo châu củi quế. Và nhiều bài hát của các nhạc sĩ chưa được cho phép trình diễn, nên ông không hành nghề được phải sống bằng tiền dành dụm. Đến những năm 80, hoạt động âm nhạc mới trở lại, nhưng lúc này ông ít sáng tác mà chỉ làm nhạc phim và viết hòa âm cho các ca sĩ.

Nhạc sĩ Y Vân mất ngày 28/11/1992, sau một cơn mệt tim nặng. Bà Minh Lâm, vợ cố nhạc sĩ Y Vân tâm sự :

– “Nhiều người thêu dệt Y Vân thành một con người đa tình, trăng hoa. Là vợ chồng, mấy mươi năm đầu gối tay ấp nên tôi rất hiểu nhà tôi. Anh ấy là một người đàng hoàng, có gì cũng thật thà kể với vợ (kể cả những việc sâu kín như trường hợp lấy nghệ danh Y Vân). Anh ấy rất có hiếu với mẹ và thương yêu vợ con.

“Thời gian sau năm 1975, Y Vân tham gia Đoàn ca nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn : phối nhạc cho Saigon Audio, viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Anh làm việc cật lực bất kể ngày đêm. Ban trưa, nhìn anh xoay trần viết nhạc dưới mái tôn thấp nóng hầm hập, thấy thương vô cùng. Trời thương, nên giai đoạn đó anh được “đặt hàng” dồn dập, có thể nói là “ăn nên, làm ra”, nhờ đó mà gia đình chúng tôi xây lại được căn nhà tạm gọi là ngăn nắp, nhưng anh làm ra cho mẹ con chúng tôi hưởng, bởi chỉ một năm sau thì anh mất.

“Dạo ấy, đứng trước quan tài của anh đang được quàn tại Hội Âm nhạc TP.HCM, mẹ chồng tôi không hề khóc một tiếng. Có lẽ tất cả nước mắt để khóc thương con, bà cụ đã âm thầm nuốt ngược vào trong. Chúng tôi nghe bà cụ nói : “Người đời thường bảo: Con “đi” trước mẹ là bất hiếu, nhưng mẹ chẳng trách con đâu bởi con đã làm tròn chữ hiếu ngay từ lúc viết xong bài Lòng mẹ”… Con đi trước mẹ nhưng không nợ mẹ, vì mẹ nuôi con 20 năm nhưng con đã nuôi mẹ đến 40 năm.

10 tháng sau, mẹ ông mất.

Nhạc phẩm “LÒNG M Ẹ”

I. Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,/ Tình Me tha thiết như giòng suối biển ngọt ngào,/ Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào./ Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.

Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu./ Tình Mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ./ Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ./ Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ.

Thương con thao thức bao đêm trường,/ Con đà yên giấc Mẹ hiền vui sướng biết bao./ Thương con khuya sớm bao tháng ngày./ Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn.

Dù cho mưa gió không quản thân gầy Mẹ hiền./ Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền./ Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm./ Tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên.

II. Lòng Mẹ chan chứa trên bao xóm làng gần xa./ Tình Mẹ dâng tới trăng ngàn đứng lặng để nghe,/ Lời ru xao xuyến núi đồi suối rừng rặng tre./ Sóng ven Thái Bình im lìm khi tiếng Mẹ ru.

Một lòng nuôi nấng vỗ về những ngày còn thơ./ Một tình thương mến êm như tiếng đàn lời ca./ Mẹ hiền sớm tối khuyên ngủ bao lời mặn mà./ Khắc ghi bên lòng con trẻ muôn bước đường xa.

Thương con Mẹ hát câu êm đềm,/ Run lòng thơ ấu quản gì khi thức trắng đêm./ Bao năm nước mắt như suối nguồn./ Chảy vào tim con mái tóc chót đành đẫm sương.

Dù ai xa vắng trên đường sớm chiều về đâu./ Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu./ Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng lạt mầu./ Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu.

Và ca khúc “Sài Gòn đẹp lắm” của Y Vân, có lẽ không người Việt nào không biết đến :

SÀI GÒN ĐẸP LẮM

SÀI GÒN ƠI !

Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai, / Từ xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay / Nếp sống vui tươi nối chân nhau đến nơi này / Saigon đẹp lắm, Saigon ơi ! Saigon ơi !

Ngựa xe như nước trên đường vẫn qua mau / Người ra thăm bến câu chào nói lao xao / Phố xa thênh thang đón chân tôi đến chung vui / Saigon đẹp lắm, Saigon ơi ! Saigon ơi !

Nhạc phẩm “NGƯỜI EM SẦU MỘNG”

(Thơ Lưu Trọng Lư – Nhạc Y Vân)

Em là gái trong song cửa / Anh là mây bốn phương trời / Anh theo cánh gió chơi vơi / Em vẫn nằm trong nhung lụa

Em chỉ là em gái thôi / Người em sầu mộng muôn đời / Tình như tuyết giăng đầu núi / Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời

Ai bảo em là giai nhân / Cho đời anh đau buồn / Ai bảo em ngồi bên song / Cho vương nợ thi nhân

Ai bảo em là giai nhân / Cho lệ đêm Xuân tràn / Cho tình tràn gối chăn

Em chỉ là em gái thôi / Người em sầu mộng muôn đời / Tình như tuyết giăng đầu núi / Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời

Trên đây chỉ là một số những nhạc phẩm tiêu biểu và được biết đến nhiều nhất cả Y Vân, một nhạc sĩ hiền hòa, nhiều suy tư và tràn đầy tính nhân bản. Phải nói nhạc sĩ Y Van là người có đóng góp lớn đối với nền tân nhạc còn phôi thai của miền Nam nói riêng và đất nước nói chung vào những thập niên 50, 60..

NGUYỄN VIỆT

Nhà văn THANH NAM

THANH NAM,

TRỌN ĐỜI SỐNG CHẾT

VỚI VĂN CHƯƠNG !

– Bài NGUYỄN THIẾU NHẪN

Khoảng năm 1966, tôi đang cộng tác với nhật báo Dân Đen của ông Nguyễn Duy Hinh có tòa soạn tại đường Lê Lai, Sàigòn, thì tờ báo này bị đóng cửa. Thất nghiệp khoảng một tháng tôi được anh Trần Văn Sơn rủ đi làm nhật báo Miền Tây của nhà văn An Khê – Nguyễn Bính Thinh. Tòa soạn báo này đặt ở trên đường Thủ Khoa Huân, Cần Thơ. Báo do nhà văn An Khê đứng tên chủ nhiệm nhưng hình như do vốn của ông Nguyễn Trung Thành là chủ nhiệm nhật báo Tia Sáng lúc bấy giờ.

Anh Trần Văn Sơn, bút hiệu Tyca, đưa tôi đến gặp anh Trương Hồng Sơn là Giám đốc của nhật báo Tia Sáng. Anh Trương Hồng Sơn không có viết lách gì nhưng lại là người tổ chức ban biên tập của nhiều tờ báo tại Sàigòn lúc bấy giờ (kể cả tờ Miền Tây).

Chính tại tòa soạn báo Tia Sáng ở đường Phát Diệm, tôi đã gặp và quen biết với nhà văn Thanh Nam. Qua giới thiệu của anh Ngô Tỵ, Tổng thư ký tòa soạn báo Tia Sáng, Thanh Nam cười cười, nói với tôi :

– Qua quán kiếm bia uống.

Trước khi đi, Thanh Nam còn ngoái lại hỏi Ngô Tỵ :

– Chốc ông có qua không?

Ngô Tỵ đang cắm cúi làm tin, nói không nhìn lên :

– Làm tin xong tôi qua, nhưng không chắc. Bữa nay có bạn mới, ông đâu có sợ… độc ẩm.

Ở cái quán cà phê kế tòa soạn, anh Thanh Nam và tôi ngồi ở cái bàn trong góc quán. Quán lèo tèo với ba, bốn cái bàn gỗ. Một thùng gỗ có bọc nhôm trên mặt chất đầy nước ngọt, si-rô, ở một phía có đặt chiếc hỏa lò bằng đất, bên trên là ấm nước bằng nhôm, bên trên có chiếc ấm nhôm khác với chiếc vợt lọc cà phê đặt trên miệng ấm đang bốc khói.

Cô chủ quán người Hoa với chiếc trán vồ bướng bỉnh giống như cô đào chiếu bóng Trịnh Phối Phối lúc bấy giờ rất nổi tiếng với phim kiếm hiệp Thần Kiếm Kim Yến Tử đóng chung với tài tử Vương Vũ.

Không nói không rằng, cô ta khệ nệ khiêng một “kết” bia sơn màu vàng có hình con cọp sơn đỏ : một “kết” mười hai chai bia “33” để dưới gầm bàn. Kế, trở về cái thùng nhôm, chặt đá để vào hai cái ly cối và mang lại bàn chúng tôi. Vẫn không nói không rằng. Lại trở lại thùng gỗ bọc nhôm và trở lại bàn chúng tôi với chiếc dĩa bên trên có đựng mấy bịch ny lông me khô ngào đường. Cúi xuống lấy hai chai bia, khui nắp và để trên bàn. Anh Thanh Nam rót bia ra ly, khuấy khuấy cục đá chạm vào thành ly nghe lanh canh, nâng ly bia lên :

– Uống đi, cậu.

Đó, như vậy là buổi đầu chúng tôi quen nhau. Anh Thanh Nam nói rất ít. Hình như hôm đó tới chai bia thứ hai thì tôi bắt đầu đọc bài thơ “Thu tưởng nhớ” của anh.

Mùa Thu đây rồi sao

Với mây bay lành lạnh

Cho giấc tròn chiêm bao

Ngẩn ngơ từng dư ảnh.

oOo

Thương những chiều Thu xưa

Hồn trong những nắng ngọc

Yêu người và làm thơ

Mộng dài theo song tóc.

oOo

Thương những lần gặp nhau

Thẹn bừng lên đôi má

Mừng yêu nhìn rất lâu

Vào mắt em biển cả.

oOo

Thương những buổi giận hờn

Hai tay ôm mặt khóc

Người yêu chiều chuộng hơn

Vì thua đôi hạt ngọc.

oOo

Hôm nay Thu rồi sao?

Có chi làm xao xuyến

Chuyện ngày xưa ngọt ngào

Chỉ mình tôi tưởng niệm.

(Ghi lại theo trí nhớ)

Anh có vẻ thích thú, gật gù :

– Cậu thuộc cả bài thơ ấy à?

Anh nói với tôi về những ngày còn nhỏ sống ở miền Bắc lúc anh sinh hoạt trong đội thiếu niên tiền phong, thời anh còn đội mũ chào mào. Anh cắt nghĩa cho tôi nghe mũ chào mào ở trong Nam gọi là mũ ca-lô. Tôi cũng nhớ là mình có một chiếc mũ ca-lô màu vàng để đội trong những ngày lễ lạc, đứng trước các quan khách hồi thời tiểu học.

Thanh Nam là một “nhà văn miền Bắc đề tựa tập thơ cho một nhà thơ miền Nam” – hình như trong tập thơ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà anh đã viết như thế.

Một hôm nào đó, tôi và anh ghé vào một sạp bán thuốc lá mua thuốc. Một đứa bé đánh giày xách cái thùng gỗ, chạy theo hỏi:

– Chú, chú, sau này thằng Lập nó có lấy con Lài không chú?

Hình như thằng Lập, con Lài là những nhân vật trong phơi-ơ-tông “Mưa Đêm Tỉnh Nhỏ” mà lúc bấy giờ anh đang viết trên báo Tia Sáng thì phải. Tôi không nhớ câu trả lời của anh về tương lai của nhân vật cho độc giả của mình là thằng bé đánh giày.

Tôi còn nhớ là sau đó, ở cái quán cà phê ở góc đường Phát Diệm – Trần Hưng Đạo, anh đã nói với vẻ thích thú về những đứa bé đánh giày đón đường hỏi anh về tương lai của các nhân vật trong cái truyện dài đang viết.

Hình như thời gian đó Thanh Nam và Mai Thảo là hai nhà văn trong số những nhà văn có nhiều phơi-ơ-tông đăng trên nhật báo nhất. Và hình như cả hai đều là những nhà văn sống bằng ngòi bút của mình, không giống như một số nhà văn khác nghề cầm bút chỉ là nghề tay trái. Cũng có người nói với tôi là hai nhà văn này không biết đi xe đạp hoặc xe gắn máy mà chỉ có ngồi xe xích lô ! Không biết có đúng vậy không?

Trong thời gian tôi cộng tác với nhật báo Miền Tây, lúc đó Thanh Nam viết phơi-ơ-tông “Chuyện Một Người Con Gái Ở Sàigòn”. Anh viết bài trên mặt sau của bản tin Việt Tấn Xã. Chữ viết của anh đẹp và đều. Chính ở căn gác ở tòa soạn báo Tia Sáng, tác giả Mưa Đêm Tỉnh Nhỏ đã cho những nhân vật của mình : những thằng Lập, con Lài… ra đời. Những nhân vật bình thường của đời sống bình thường trong một xứ sở mà chiến tranh kéo dài dai dẳng cũng đã trở nên bình thường, quen măt.

Cuối năm 1967, vì một lý do riêng, tôi không còn cộng tác với nhật báo Miền Tây. Năm sau, nhận được lệnh nhập ngũ khoá 26 trường Võ Bị Thủ Đức. Thế là tôi từ giã cái nghề ký giả là cái nghề mà hình như lúc còn sống nhà văn Chu Tử gọi là cái nghề “raté” nhất – hình như ở đâu đó nhà văn Chu Tử đã viết là những người làm nghề này tại vì không biết làm cái nghề nào khác (?!), theo học nghề sử dụng súng, dao, giết người để khỏi bị người khác giết. Dù gì thì trong cuộc nội chiến, ngoại khiển tôi cũng đã làm tròn cái bổn phận mà người ta vẫn gọi một cách văn chương, hoa mỹ là “bảo vệ những vườn khoai, nương sắn, những tiếng hát trên nương chiều, những bông hoa ngọc lan thơm ngát phơi mình dưới sương khuya”…

Thỉnh thoảng tôi cũng có gặp lại và nhậu la-de với anh Thanh Nam. Cũng ở cái quán kế tòa soạn báo Tia Sáng. Vẫn cô chủ quán người Hoa mà tôi đặt tên Tiểu Muội. Mỗi lần nhậu cũng chỉ với me khô ngào đường đựng trong bịch ny-lông hoặc với trái sê-ri màu xanh đỏ chua chua, ngọt ngọt. Và nếu lần nào tôi không có tiền thì anh Thanh Nam lại ký sổ ghi nợ bằng tiếng Tàu.

Sau đó, vì những sôi động của chiến cuộc, tôi rất ít gặp lại anh. Cho đến khi đọc một tờ báo văn nghệ nào đó loan tin là anh đã cử hành hôn lễ với nhà văn Túy Hồng. Hình như là đám cưới được tổ chức tại nhà hàng Mỹ Cảnh. Và hình như bản tin cũng có viết thêm là tiền bạc để tổ chức đám cưới do bạn bè đóng góp.

Cho đến sau ngày 30/4/75, tôi làm nghề đong rượu và bán… nước trà đá ở một quán nhậu do người bạn của vợ tôi hợp đồng với công ty ăn uống của một Tỉnh nọ. Nhiệm vụ của tôi là đong rượu thuốc ngâm trong một cái khạp da bò ra chai một xị, hai xị và bưng trà đá cho khách. Quán nhậu chuyên môn bán gỏi gà, lòng heo phá lấu. Thỉnh thoảng tới mùa chim cũng có bán chim óc cao, chim mỏ nhác rô ti. Bà chủ là người bán cháo gà nổi tiếng trước năm 1975. Cơ ngơi, nhà cửa hiện còn là do một tay bà bán cháo gà.

Không hiểu do bà có tay buôn bán hay cái nghệ thuật luộc gà, chặt gà, trộn gỏi như thế nào đó mà quán của bà rất là đông khách.

Nếu không có chuyến vượt biển chắc là tôi cũng bị bắt trở lại nhà tù, hoặc bị chết bởi ba cái rượu bọt mía. Số là quán nhậu bình dân, mở cửa từ 4 giờ chiều, tới đâu khoảng 8, 9 giờ tối là đã bán hết vì khách bình dân ăn nhậu rất đông. Và trong cái đám khách bình dân ăn nhậu đó : những cựu trung úy đạp xe lôi, cựu đại úy đạp xe đạp ôm, cựu thiếu tá đạp xe ba gác, vá xe đạp, chạy mánh… toàn là bạn bè quen biết với anh chàng bán nước trà đá và đong rượu là tôi. Tôi chỉ yên tâm bán nước trà đá có tuần lễ đầu. Tuần lễ thứ hai, quán vừa mở cửa, tôi đang ở sau quán đong rượu ra những chai một xị, hai xị thì cô thư ký của công ty ăn uống bước vào, cười cười đưa cho tấm giấy, đọc thấy hàng chữ : “Đại ca, đàn em là Hai què chờ đại ca ở bàn số 4”. Bữa khác, đang loay hoay chặt nước đá ở phía sau quán, chợt giật mình khi nghe câu nói dễ ở tù : “Kính chào Đại tá !”, quay lại thấy người bạn đang đứng ở thế nghiêm đưa tay chào.

Chính trong thời gian này, tôi biết được tin tức về nhà văn Thanh Nam. Số là một hôm tôi giúp bà chủ quán bỏ chuối khô vào cái khạp ngâm rượu thuốc gồm có sâm qui, sâm đại hành, và mấy cái dây thần thông quỉ quái gì đó, tôi tình cờ đọc được bài viết có nói về nhà văn Thanh Nam trên tờ Tuổi Trẻ dùng để gói chuối khô. Tờ báo có bài viết về “đời sống văn nghệ sĩ ở nước ngoài”. Tôi nhớ trong bài viết này có đề cập tới hai người : người thứ nhất Võ Phiến, và người thứ hai là Thanh Nam.

Tôi sững sờ khi đọc đến tin Thanh Nam không còn nữa!

Nhà văn đã giã từ những “Đêm Mưa Tỉnh Nhỏ”, đã chia xa với những “Buồn Ga Nhỏ” để đi về “Cánh Đồng Xanh Phía Dưới” của cõi ngàn thu tịch mịch.

Những bài thơ báo Tuổi Trẻ trích từ tập thơ “Đất Khách” của Thanh Nam. Những đoạn trích riêng rẽ, cố ý chứng tỏ cái tâm trạng tuyệt vọng, chán chường của văn nghệ sĩ ở hải ngoại. Tôi xin chép lại một vài đoạn (theo trí nhớ) mà tờ Tuổi Trẻ đã trích :

“… Ta như giông bão tan rồi họp

Trôi nổi còn hơn sóng đại dương

Lận đận bên trời chung một lứa

Say càng chua xót, tỉnh càng thương…

oOo

… Tuyết đổ dầy thêm, đêm lạnh buốt

Người về phòng nhỏ bóng cô đơn

Mở chai bia lạnh thay cơm tối

Ngồi đọc thư nhà lệ chứa chan”.

Năm 1987, định cư ở Des Moines, thủ phủ tiểu bang Iowa, một tiểu bang miền Trung Tây Hoa Kỳ, qua nhật báo Người Việt do nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, tổng thư ký của tờ báo này gửi, tôi có đọc những bài viết của nhà văn Túy Hồng viết về người chồng quá cố của mình.

Qua các bài viết này, tôi mới biết là qua Mỹ, nhà văn Thanh Nam vẫn tiếp tục làm báo Việt ngữ. Trong một bài tổng kết văn học của nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc viết đại ý : “Võ Phiến, Thanh Nam và Lê Tất Điều là ba người có công nhất trong việc giữ lửa trong thời kỳ đầu cho nền văn chương Việt Nam ở hải ngoại”.

Năm ngoái, nhà văn Túy Hồng cũng đã viết bài “Anh Có Còn Yêu Em Không?” đăng trên tạp chí Thế Kỷ 21. Bài viết vẫn là những kỷ niệm về người chồng quá cố. Mới đây, trên tạp chí Sóng ở Canada, nhà văn Túy Hồng lại cho nhân vật truyện của mình nhận xét về người chồng quá cố, đại ý : “Người suốt đời ăn chơi, nhậu nhẹt như Thanh nam mà còn viết lời bản nhạc “Suy tôn Ngô Tổng Thống” với nhạc sĩ Ngọc Bích, tức là người có tinh thần quốc gia…”

Hình như tác giả “Những Sợi Sắc Không”, “Tôi Nhìn Tôi Trên Vách” lúc nào cũng sống với những kỷ niệm về người chồng quá cố.

Thanh Nam là thư ký tòa soạn, là chủ bút các tạp chí Hiện Đại, Văn Học Nghệ Thuật… và là người phơi-ơ-tông thuộc loại nhiều nhất cho các nhật báo ở Sàigòn trước năm 1975. Sang Mỹ, anh lại tiếp tục làm tờ Đất Mới ở Seattle, tiểu bang Washington. Trước năm 1975, anh đã xuất bản tập truyện ngắn Buồn Ga Nhỏ và nhiều truyện dài đăng báo. Đã xuất bản tập thơ Đất Khách ở Hoa Kỳ và đang viết dở dang hồi ký Hai Mươi Năm Làm Báo (theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc).

Những truyện ngắn, truyện dài và thơ của Thanh Nam không xuất sắc, nổi bật đến độ gây tiếng vang ồn ào. Theo tôi, hình như cái đời sống của anh, anh đã là nhà văn, nhà thơ. Anh sống không tính toán với anh em. Có lần lãnh lương ở tòa soạn báo Tia Sáng, ra quán cô Tiểu Muội, tôi thấy anh đưa hết số tiền nhuận bút vừa lãnh hình như là 10 ngàn đồng để trả tiền bia. Đó là lần đầu tiên tôi nghe cô chủ quán mỉm cười và nói với cái giọng lơ lớ : “Thôi còn thiếu 10 đồng bớt cho ông nhà văn đó”. Lại cái chuyện cưới vợ bằng tiền của anh em nhà văn, nhà báo đóng góp vào cũng đã là văn nghệ ra phết !

Trong thời gian quen biết, nhậu nhẹt, tôi không thấy anh có cái kiêu ngạo, làm-dáng-ra-vẻ-nhà-văn. Văn chương, chữ nghĩa của anh cũng giản dị, bình thường như cuộc đời. Như thằng Lập – như những đứa bé đánh giày. Như con Lài – như những đàn bà, con gái đã phải cho-mượn-cuộc-đời. Như những Năm Xe Ngựa, những Buồn Ga Nhỏ, như Bài Hành Bốn Mươi. Và ngậm ngùi như tiếng thơ Đất Khách !

Như đã viết, văn chương chữ nghĩa của Thanh Nam bình thường như đời sống. Nhưng chẳng phải kể những câu chuyện bình thường với giọng văn bình thường, giản dị một cách lương thiện là điều mà Hemingway, nhà văn đoạt giải Văn chương Nobel, đã mong muốn, hay sao?

Anh Thanh Nam đã đi về bên kia cõi đời. Mọi điều bây giờ, đối với anh, chỉ là chuyện bọt bèo.

Bài viết này không phải là một bài phê bình văn học hay một tổng kết về sự nghiệp văn chương của một nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Tôi không phải là, và cũng không đủ khả năng, làm ngự sử văn đàn.

Bài viết chỉ là đôi điều kể lể về một người viết văn, làm thơ, làm báo đã trọn đời sống chết với văn chương, chữ nghĩa mà tôi đã có thời quen biết. Chỉ mong được như là nén hương thắp muộn gửi đến linh hồn người quá cố. Và là lời chia buồn trễ tràng – quá trễ tràng, xin gửi tới chị Túy Hồng mà nỗi buồn mất mát chắc hẳn khôn nguôi suốt quãng đời còn lại.

NGUYỄN THIẾU NHẪN