NGUỒN GỐC MỘT SỐ ĐỊA DANH MIỀN NAM

Logo tai lieu

logo vietSƠ LƯỢC NGUỒN GỐC

MỘT SỐ ĐịA DANH MIỀN NAM

Có nhiều nơi ở miền Nam mình đã đi qua, đã ở đó, đã nghe nói tới hoặc đã đọc được ở đâu đó… riết rồi những địa danh đó trở thành quen thuộc; nhưng chắc ít khi mình có dịp tìm hiểu tại sao nó có tên như vậy ?

Bài viết này được hình thành theo các tài liệu từ một số sách cũ của các học giả miền Nam: Vương Hồng Sển, Sơn Nam và cuốn Nguồn Gốc Địa Danh Nam Bộ của Bùi Đức Tịnh, với mục đích chia sẻ những hiểu biết của các tiền bối về tên gọi một số địa phương trên quê hương mình.

Xin mời các bạn cùng tham khảo và đóng góp ý kiến từ các nguồn tài liệu khác – để đề tài này được đầy đủ và phong phú hơn.

1/- Tên do địa hình, địa thế 

Bắt đầu bằng một câu hát dân gian ở vùng Ba Tri, tỉnh Bến Tre : 9 Dia danh 1“Gió đưa gió đẩy, / về rẫy ăn còng, / về bưng ăn cá, / về giồng ăn dưa…”

– Giồng là chỗ đất cao hơn ruộng, trên đó nông dân cất nhà ở và trồng rau, đậu, khoai củ cùng một số loại cây ăn trái. Bởi vậy nên mới có bài hát : “trên đất giồng mình trồng khoai lang…”

Một con giồng có thể bao gồm một hay nhiều xã. Ở Bến Tre, Giồng Trôm đã trở thành tên của một quận (huyện). Lại nhắc đến một câu hát khác : “Ai dzìa Giồng Dứa qua truông Gió rung bông sậy, bỏ buồn cho em…” Giồng Dứa ở Mỹ Tho, khoảng từ chỗ qua khỏi ngã ba Trung Luơng đến cầu Long Định, ở bên phải quốc lộ 4 là Giồng Dứa. Sở dĩ có tên như thế vì vùng này ở hai bên bờ sông có nhiều cây dứa. (Dứa đây không phải là loại cây có trái mà người miền Nam gọi là thơm, khóm. Đây là loại cây có lá gai dáng như lá thơm nhưng to hơn và dày hơn, màu xanh mướt. Lá này vắt ra một thứ nước màu xanh, có mùi thơm dùng để làm bánh, đặc biệt là bánh da lợn). Vừa rồi có nhắc đến truông, hồi xưa về Giồng Dứa thì phải qua truông, vậy truông là gì ?

– Truông là đường xuyên ngang một khu rừng, lối đi có sẵn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ. 9 Dia danh 2Ở vùng Dĩ An có truông Sim. Ở miền Trung, thời trước có truông nhà Hồ.

“Thương em anh cũng muốn vô Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang” Tại sao lại có câu ca dao này ? Ngày xưa truông nhà Hồ thuộc vùng Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, còn gọi là Hồ Xá Lâm. Nơi đó địa hình trắc trở, thường có đạo tặc ẩn núp để cướp bóc nên ít người dám qua lại.

– Phá là lạch biển, nơi hội ngộ của các con sông trước khi đổ ra biển nên nước xoáy,sóng nhiều thường gây nguy hiểm cho thuyền bè. Phá Tam Giang thuộc tỉnh Thừa Thiên, phía bắc của phá Tam Giang là sông Ô Lâu đổ ra biển, phía nam là sông Hương đổ ra cửa Thuận An.

– Bàu : là nơi đất trũng, mùa mưa nước khá sâu nhưng mùa nắng chỉ còn những vũng nước nhỏ hay khô hẳn. Khác với đầm, vì đầm có nước quanh năm. Ở Sài Gòn, qua khỏi Ngã Tư Bảy Hiền chừng 1 km về hướng Hóc Môn, phía bên trái có khu Bàu Cát. Bây giờ đường xá được mở rộng, nhà cửa xây rất đẹp nhưng mùa mưa vẫn thường bị ngập nước. Ở Long Khánh có Bàu Cá, Rạch Giá có Bàu Cò.

– Đầm : là chỗ trũng có nước quanh năm, mùa mưa nước sâu hơn mùa nắng, thường là chỗ tận cùng của một dòng nước đổ ra sông rạch hoặc chỗ một con sông lở bờ nước tràn ra hai bên nhưng vẫn dòng nước vẫn tiếp tục con đường của nó. Ở Cà mau có Đầm Dơi, Đầm Cùn. Ở quận 11 Sài Gòn có Đầm Sen, bây giờ trở thành một trung tâm giải trí rất lớn.

9 Dia danh 3Bưng : từ gốc Khmer là bâng, chỉ chỗ đất trũng giữa một cánh đồng, mùa nắng không có nước đọng, nhưng mùa mưa thì ngập khá sâu và có các thứ lác, đưng… mọc. Mùa mưa ở bưng thường có nhiều cá đồng. “…về bưng ăn cá, về giồng ăn dưa”. Ở Ba Tri, tỉnh Bến Tre, có hai bưng là Bưng TrômBưng Cốc.

– Láng : chỗ đất thấp sát bên đường nước chảy nên do nước tràn lên làm ngập nước hoặc ẩm thấp quanh năm. Ở Bình Chánh (gíap ranh Sài Gòn – Long An) có Láng Le, được gọi như vậy vì ở láng này có nhiều chim le le đến kiếm ăn và đẻ. Vùng Khánh Hội (quận 4 Sài Gòn) xưa kia được gọi là Láng Thọ vì có những chỗ ngập do nước sông Sài Gòn tràn lên. Người Pháp phát âm Láng Thọ thành Lăng Tô, một địa danh rất phổ biến thời Pháp thuộc.

Trảng : chỗ trống trải vì không có cây mọc, ở giữa một khu rừng hay bên cạnh một khu rừng. Ở Tây Ninh có Trảng Bàng, địa danh xuất phát từ một cái trảng xưa kia có nhiều cỏ bàng vì ở vùng ven Đồng Tháp Mười. Ở Biên Hoà có Trảng Bom, Trảng Táo.

Đồng : khoảng đất rất rộng lớn bằng phẳng, có thể gồm toàn ruộng, hoặc vừa ruộng vừa những vùng hoang chưa khai phá. Một vùng trên đường từ Gia Định đi Thủ Đức, qua khỏi ngã tư Bình Hoà, trước kia toàn là ruộng, gọi là Đồng Ông Cộ. Ra khỏi Sài Gòn chừng 10 km trên đường đi Lái Thiêu có Đồng Chó Ngáp, được gọi như thế vì trước kia là vùng đất phèn không thuận tiện cho việc cày cấy, bị bỏ hoang và rất vắng vẻ, trống trải. Ở Củ Chi có Đồng Dù, 9 Dia danh 4vì đã từng dược dùng làm nơi tập nhảy dù. Và to, rộng hơn rất nhiều là Đồng Tháp Mười.

Hố : chỗ đất trũng, mùa nắng khô ráo nhưng mùa mưa có nơi nước lấp xấp. Ở Củ Chi có Hố Bò, vì bò nuôi trong vùng thường đến đó ăn cỏ. Biên Hoà có Hố Nai, là nơi những người Bắc đạo Công Giáo di cư năm 1954 đến lập nghiệp, tạo thành một khu vực sầm uất.

2/- Tên bắt nguồn từ tiếng Khmer

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hoá đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hoá một cách tài tình.

9 Dia danh 13– Cần Thơ : Khi đối chiếu địa danh Cần Thơ với tên Khmer nguyên thủy của vùng này là Prek Rusey (sông tre), không thấy có liên quan gì về ngữ âm, người nghiên cứu chưa thể vội vàng kết luận là Cần Thơ là một địa danh hoàn toàn Việt Nam và vội đi tìm hiểu căn cứ ở các nghĩa có thể hiểu được của hai chữ Hán Việt “cần” và “thơ”.

Cần Thơ không phải là từ Hán Việt và không có nghĩa. Nếu dò tìm trong hướng các địa danh Việt hoá, người nghiên cứu có thể thấy ngữ âm của Cần Thơ rất gần với ngữ âm của từ Khmer “kìntho”, là một loại cá hãy còn khá phổ biến ở Cần Thơ, thông thường được gọi là cá sặc rằn, nhưng người ở Bến Tre vẫn gọi là cá “lò tho”.

Từ quan điểm vững chắc rằng “lò tho” là một danh từ được tạo thành bằng cách Việt hoá tiếng Khmer “kìntho”, người nghiên cứu có thể sưu tầm các tài liệu về lịch sử dân tộc, về sinh hoạt của người Khmer xa xưa trong địa phương này, rồi đi đến kết luận là địa danh Cần Thơ xuất phát từ danh từ Khmer “kìntho”.

– Mỹ Tho : Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, “mỹ” và “tho”, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người 9 Dia danh 11Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock,chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

Sóc Trăng : Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng. Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn.

Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).Đến thời ông Diệm, lại gọi là tỉnh Ba Xuyên, châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

Bãi Xàu : là tên một quận thuộc tỉnh Sóc Trăng. Đây là một quận ven biển nên có một số người vội quyết đoán, cho rằng đây là một trường hợp sai chính tả, phải gọi là Bãi Sau mới đúng. 9 Dia danh 14Thật ra, tuy là một vùng bờ biển nhưng Bãi Xàu không có nghĩa là bãi nào cả. Nó xuất phát từ tiếng Khmer “bai xao” có nghĩa là cơm sống. Theo truyền thuyết của dân địa phương, có địa danh này là vì nơi đây ngày trước, một lực lượng quân Khmer chống lại nhà Nguyễn đã phải ăn cơm chưa chín để chạy khi bị truy đuổi.

Kế Sách : cũng là một quận của Sóc Trăng. Kế Sách nằm ở gần cửa Ba Thắc (một cửa của sông Củu Long), phần lớn đất đai là cát do phù sa sông Hậu, rất thích hợp cho việc trồng dừa và mía. Cát tiếng Khmer là K’sach, như vậy Kế Sách là sự Việt hoá tiếng Khmer “k’sach”.

Một số địa danh khác :

– Cái Răng (thuộc Cần Thơ) là sự Việt hoá của “k’ran”, tức cà ràn, là một loại bếp lò nấu bằng củi, có thể trước kia đây là vùng sản xuất hoặc bán cà ràn.

– Trà Vinh xuất phát từ “prha trapenh” có nghĩa là ao linh thiêng.

– Sông Trà Cuông ở Sóc Trăng do tiếng Khmer “Prek Trakum”, là sông rau muống (trakum là rau muống).

– Sa Đéc xuất phát từ “Phsar Dek”, phsar là chợ, dek là sắt.

– Tha La, một địa danh nổi tiếng ở Tây Ninh (Tha La xóm đạo), do tiếng Khmer “srala”,là nhà nghỉ ngơi, tu dưỡng của tu sĩ Phật giáo.

9 Dia danh 15– Cà Mau là sự Việt hoá của tiếng Khmer “Tưck Khmau”, có nghĩa là nước đen.

3/- Địa danh do công dụng của một địa điểm hay do một khu vực sinh sống làm ăn.

Đây là trường hợp phổ biến nhất trong các địa danh. Theo thói quen, khi muốn hướng dẫn hay diễn tả một nơi chốn nào đó mà thuở ban đầu chưa có tên gọi, người ta thường hay mượn một điểm nào khá phổ biến của nơi đó, như cái chợ cái cầu và thêm vào một vào đặc tính nữa của cái chợ cái cầu đó; lâu ngày rồi thành tên, có khi bao trùm cả một vùng rộng lớn hơn vị trí ban đầu.

Chợ : Phổ biến nhất của các địa danh về chợ là chợ cũ, chợ mới, xuất hiện ở rất nhiều nơi. Sài Gòn có một khu Chợ Cũ ở đường Hàm Nghi đã trở thành một địa danh quen thuộc. Chợ Mới cũng trở thành tên của một quận trong tỉnh An Giang. Kế bên Sài Gòn là Chợ Lớn, xa hơn chút nữa là Chợ Nhỏ ở Thủ Đức. Địa danh về chợ còn được phân biệt như sau;

– Theo loại hàng được bán nhiều nhất ở chợ đó từ lúc mới có chợ, như : Chợ Gạo ở Mỹ Tho, Chợ Búng (đáng lý là Bún) ở Lái Thiêu, Chợ Đệm ở Long An, Chợ Đũi ở Sài Gòn.

Cho Ba Chieu– Theo tên người sáng lập chợ hay chủ chợ (độc quyền thu thuế chợ), như : chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hom, chợ Bà Quẹo, chợ Bà Rịa.

– Theo vị trí của chợ, như : chợ Giữa ở Mỹ Tho, chợ Cầu (vì gần một cây cầu sắt) ở Gò Vấp, chợ Cầu Ông Lãnh ở Sài Gòn.

– Xóm : là một từ để phân biệt một khu vực trong làng hay một địa phương lớn hơn, về mục tiêu sản xuất, thương mại hay chỉ đơn thuần về vị trí. Đơn thuần về vị trí, trong một làng chẳng hạn, có Xóm Trên, Xóm Dưới, Xóm Trong, Xóm Ngoài, Xóm Chùa, Xóm Đình… Về các mục tiêu sản xuất và thương mại, ngày nay cách phân biệt các xóm chỉ còn ở nông thôn mà không còn phổ biến ở thành thị.

Những địa danh còn sót lại về xóm ở khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn : vùng phụ cận chợ Bà Chiểu có Xóm Giá, Xóm Gà. Gò Vấp có Xóm Thơm. Quận 4 có Xóm Chiếu. Chợ Lớn có Xóm Than, Xóm Củi, Xóm Vôi, Xóm Trĩ (Trĩ là những nhánh cây hay thân cây suôn sẻ to cỡ bằng ngón chân cái, 9 Dia danh 5dài chừng 2 mét, dùng để làm rào, làm luới hay làm bủa để nuôi tằm).

Thủ là danh từ chỉ đồn canh gác dọc theo các đường sông, vì khá phổ biến thời trước nên “thủ” đã đi vào một số địa danh hiện nay hãy còn thông dụng, như : Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Ngữ (Sài Gòn), Thủ Thừa (Long An), Thủ Dầu Một (Bình Dương).

Đức, Thiêm, Ngữ, Thừa có lẽ là tên những viên chức được cử đến cai quản các thủ này và đã giữ chức vụ khá lâu nên tên của họ đã được người dân gắn liền với nơi làm việc của họ. Còn Thủ Dầu Một thì ở thủ đó ngày xưa có một cây dầu mọc lẻ loi.

Bến ban đầu là chỗ có đủ điều kiện thuận tiện cho thuyền ghe ghé vào bờ hoặc đậu lại do yêu cầu chuyên chở, lên xuống hàng. Sau này nghĩa rộng ra cho cả xe đò,xe hàng, xe lam… Cũng như chợ, bến thường được phân biệt và đặt tên theo các loại hàng được cất lên nhiều nhất. Một số tên bến đặt theo cách này đã trở thành tên riêng của một số địa phương, như : Bến Cỏ, Bến Súc, Bến Củi ở Bình Dương. Bến Đá ở Thủ Đức. Bến Gỗ ở Biên Hoà. Ngoài ra bến cũng còn có thể được đặt tên theo một đặc điểm nào ở đó, như một loại cây, cỏ nào mọc nhiều ở đó, và cũng trở thành tên của một địa phương, như : Bến Tranh ở Mỹ Tho, Bến Lức ở Long An (đáng lý là lứt, là một loại cây nhỏ lá nhỏ, rễ dùng làm thuốc, đông y gọi là sài hồ).

4/- Một số trường hợp khác

Có một số địa danh được hình thành do vị trí liên hệ đến giao thông, như ngã năm, ngã bảy, cầu, rạch…thêm vào đặc điểm của vị trí đó, hoặc tên riêng của một nhân vật có tiếng ở tại vị trí đó. Ở Sài Gòn có rất nhiều địa danh được hình thành theo cách này: Ngả Tư Bảy Hiền, Ngã Năm Chuồng Chó, Ngã Ba Ông Tạ9 Dia danh 9Ở Trà Vinh có Cầu Ngang đã trở thành tên của một quận.

Trường hợp hình thành của địa danh Nhà Bè khá đặc biệt, đó là vị trí ngã ba sông, nơi gặp nhau của 2 con sông Đồng Nai và Bến Nghé trước khi nhập lại thành sông Lòng Tảo. Lúc ròng, nước của hai con sông đổ ra rất mạnh thuyền bè không thể đi được, phải đậu lại đợi con nước lớn để nương theo sức nước mà về theo hai hướng Gia Định hoặc Đồng Nai. “Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.”

Tương truyền có ông Thủ Huồng là một viên chức cai quản “thủ” ở vùng đó, tham nhũng nổi tiếng. Có lần nằm mơ thấy cảnh mình chết bị xuống âm phủ phải đền trả những tội lỗi khi còn sống. Sau đó ông từ chức và bắt đầu làm phúc bố thí rất nhiều; một trong những việc làm phúc của ông là làm một cái bè lớn ở giữa sông trên đó làm nhà, để sẵn những lu nước và củi lửa. 9 Dia danh 6Những ghe thuyền đợi nước lớn có thể cặp đó lên bè để nấu cơm và nghỉ ngơi. Địa danh Nhà Bè bắt nguồn từ đó.

Miền Nam là đất mới đối với người Việt Nam, những địa danh chỉ mới được hình thành trong vài thế kỷ trở lại đây nên những nhà nghiên cứu còn có thể truy nguyên ra nguồn gốc và ghi chép lại để lưu truyền. Cho đến nay thì rất nhiều địa danh chỉ còn lại cái tên mà ý nghĩa hoặc dấu vết nguyên thuỷ đã biến mất theo thời gian.

Thí dụ, Chợ Quán ở đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, bây giờ chỉ biết có khu Chợ Quán, nhà thờ Chợ Quán, nhà thương Chợ Quán… chứ còn cái chợ có cái quán đố ai mà tìm cho ra được. Hoặc Chợ Đũi (có một số người tưởng lầm là Chợ Đuổi vì người buôn bán hay bị nhân viên công lực rượt đuổi) ban đầu chuyên bán đũi, là một thứ hàng dày dệt bằng tơ lớn sợi, bây giờ mặt hàng đó đã biến mất nhưng địa danh thì vẫn còn.

Ngoài ra, đất Sài Gòn xưa sông rạch nhiều nên có nhiều cầu, sau này thành phố được xây dựng một số sông rạch bị lấp đi, cầu biến mất, nhưng người dân vẫn còn dùng tên cây cũ ở nơi đó để gọi khu đó,như khu Cầu Muối. Và cũng có một số địa danh do phát âm sai nên ý nghĩa ban đầu đã bị biến đổi nhưng người ta đã quen với cái tên được phát âm sai đó nên khi ghi chép lại, vẫn giữ cái tên đã được đa số chấp nhận, như Bến Lức, chợ Búng (Lứt là tên đúng lúc ban đầu, vì nơi đó có nhiều cây lứt; còn chợ Búng nguyên thủy chỉ bán mặt hàng bún, sau này bán đủ mặt hàng và cái tên được viết khác đi).

Phần trên đã nói tới nhiều địa danh của miền Nam, bây giờ là phần bổ túc. 9 Dia danh 12Gặp đâu ghi đó. Có những địa danh có thể đã được đề cập ở phần trên nhưng cũng vẫn ghi lại, vì tôi mới đọc được trong những cuốn sách khác.

1/- Thủ Đức : Ai chẳng một lần nghe nói đến nem Thủ Đức. Người ta nhắc đến cái địa danh Thủ Đức, Xuân Trường như là một nơi danh thắng để giai nhân, tài tử, tao nhân mặc khách đến đây thưởng thức phong quang. Theo lời truyền khẩu của các vị bô lão ở địa phương : Khi xưa, có vị thủ đồn đầu tiên ở nơi này tên là Đức. Đến sau, ông Tạ Dương Minh đứng ra qui dân lập chợ buôn bán, nhớ đến công vị thủ đồn tên Đức, nên lấy tên và chức tước của ông mà đặt cho chợ, gọi là chợ Thủ Đức nay đã thành danh. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh)

2/- Gò Vấp : Gò Vấp là tên một quận của tỉnh Gia Định. Gọi là Gò Vấp có ý nghĩa gì ? Chúng tôi đã dụng công ra tìm những sử sách và hỏi thăm các vị bô lão, nhưng chẳng tìm hiểu được gì đích xác. Tuy nhiên, theo truyền thuyết, cũng có thể tin được, địa danh mang tên Gò Vấp, vì lúc trước nơi ấy là một ngọn đồi trồng cây Vấp (theo tiếng Chàm gọi là Krai, tiếng Việt là Vấp hay Lùn). Thứ cây Vấp là thứ cây mà dân Chàm coi như thần mộc, yểm hộ cho dân tộc Chàm. (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh) Cây Vấp (tên khoa học là Mesua Ferrea L.)

3/- Đồng Ông Cộ : Đồng bào ở tỉnh Gia Định từ xưa tới nay thường nghe nói đến tên “Đồng Ông Cộ” nhưng không hiểu rõ cụm từ này do ai đặt ra mà được truyền tụng mãi đến ngày nay.

Ở miền Nam chúng ta, địa phương nào cũng có nhiều huyền thoại, giai thoại truyền khẩu trong dân gian, lâu ngày trở thành một địa danh. Chúng tôi, người tình nguyện vạch bóng thời gian,ghi lại những sự việc xảy ra từng vùng,từng địa phương, để hiến quí bạn đọc hiểu rõ nguồn gốc từ thuở xa xưa nơi địa phương chính mình. Theo một vài vị bô lão cố cựu sinh quán tại Gia Định, thuật lại sự tích “Đồng ông Cộ” cho chúng tôi biết như sau.

8 Cho Saigon 2Đất Gia Định ngày xưa rộng lớn hoang vu, dân chúng ở rải rác từng nhóm theo ruộng gò nổng, rừng chòi dày đặc,đường sá chưa được khai mở, lối đi vất vả khổ cực. Khu đất “Đồng ông Cộ” này ngày xưa thuộc vùng sát cận trung tâm tỉnh Gia Định. Nó ăn từ chợ (ngã ba trong) dài tới cầu Hang; vòng ra đường Nguyễn Văn Học, phía bên này cầu Bình Lợi nó ăn sâu luôn phía trong có hơn 10 cây số, rồi vòng ra khu Hàng Xanh phía lò heo cũ Gia Định chạy dài tới ngã năm Bình Hoà.

Toàn thể khu vực rộng lớn như vậy,thuở xưa không có lấy một con lộ cái quan nào để dân chúng xê dịch. Dân cư trong vùng, sinh sống về nghề ruộng nương, rẫy bái, làm nghề hạ bạc (đánh cá) dọc theo sông cầu Bình Lợi, cầu Băng Ky bây giờ. Những khoảng đất không được khai phá thì toàn là rừng chồi cây lùm mọc rậm rạp. Về sau, Tây lấy Gia Định rồi thì mở mang quốc lộ đi Thủ Đức và khu sát rìa quốc lộ, ăn sâu vô hằng 5-7 cây số (từ phía Gia Định lên nằm bên tay mặt), được Tây khai phá làm rừng cao su. Toàn thể một khu đồng ruộng mênh mông như vậy, hơn phân nửa đất đai toàn là rừng rậm, dân cư lại ít nên không có nhiều đường mòn để xê dịch. Dân chúng di chuyển bằng ngựa cũng không tiện chớ đừng nói chi đến dùng xe bò hoặc xe trâu.

9 Dia danh 7Đây khác hơn mọi nơi là chỗ đó ! Mỗi khi dân cư trong vùng này muốn ra tỉnh, lúc đó là thành Gia Định, có việc cần kíp, hoặc rước thày trị bệnh, hoặc tải hàng rẫy, gạo thóc ra chợ bán, hoặc mua đổi các thứ cần thiết đem về dùng…. thật là muôn vạn khó khăn.

Chỉ có những trai tráng khoẻ mạnh mới có thể di chuyển nổi hằng mấy chục cây số đường lồi lõm không khác lên thác xuống ghềnh, khu đất này lại nhiều chỗ dốc lên, dốc xuống, đồi nổng..v.v.. Rất ít chỗ được khai phá, thành giồng như xuyên rừng vậy. Mà hễ mỗi lần đi như vậy thì ruộng nương, rẫy bái ở nhà lại không ai khai phá, làm lụng sản xuất. Lại mỗi lần đi ra thành thì lại mất ít nhất 2 ngày – 1 ngày đi, 1 ngày về mua bán, đổi chác.

Một ngày, bỗng dưng người ta thấy trước cổng nhà của một ông Phú Hộ với nhà ngói 3 gian, 2 chái, 1 dãy nhà bếp, nền đúc cao treo tấm bảng lớn đề mấy chữ : “Đảm nhận ‘Cộ’ người và hàng hoá đi khắp nơi”. Đồng thời với tấm bảng treo lên, ông Phú Hộ trong vùng gọi là ông Ba Phú Hộ truyền thâu dụng tất cả thanh niên vạm vỡ trong toàn khu, hay bất cứ nơi nào,muốn có chuyện làm, ngoài nghề ruộng rẫy.

9 Dia danh 10“Cộ người và hàng” ! Đó là một lối tải người và hàng hoá giản tiện hơn cả võng hay kiệu. Ông Ba Phú Hộ bèn cho dân đan những tấm vạc bằng tre, hai đầu có 4 lóng tre ló ra giống như cái băng ca nhà thương khiêng bệnh, để người đầu trước người đầu gác lên hai vai, khách thì ngồi ở vạc tre khúc giữa thòng chân lủng lẳng để người “Cộ” đi. Hàng hoá thì lại để ở khoảng giữa, thay vì tấm vạc tre đương thì nó là một miếng ván dày để có thể chất nhiều đồ mà không bị oằn chính giữa. Người sử dụng muốn mướn chỉ cần cho ông Ba Phú Hộ hay trước, cho biết nhà rồi thì sáng sớm, khi gà vừa gáy là có dân phu mang “Cộ” đến tận nhà mà rước người, hoặc “Cộ” hàng đi ra thành Gia Định. Từ đó, dân cư bắt đầu xê dịch dễ dàng, không nhọc mệt, bận tâm, hay tốn hao người mỗi khi tải hàng đi ra thành. Rồi thì, thời gian trôi qua, địa danh xuất hiện theo miệng người cư ngụ trong vùng. Khi hỏi : – Ở đâu ? Bèn đáp: – Ở trong đồng ông Ba “Cộ” !

Ông Ba “Cộ” đây có nghĩa là ông Ba Phú Hộ “Cộ” người và hàng hoá. Dần dần, hàng trăm năm sau vùng này được mở mang, nhưng là một vùng rộng lớn, dân chúng quy tụ về càng ngày càng đông lại không có địa danh, nên người ta nhớ ơn ông Ba “Cộ” lập thành vùng này thành địa danh gọi là “Đồng ông Cộ” cho đến ngày nay.

Cộ – danh từ: xe quệt. (td. trâu kéo cộ, một cộ lúa) – động từ: kéo đi, mang chở, khuân lấy (td. cộ lúa từ đồng về nhà) ăn. (td. nồi cơm lớn quá mức tụi tôi đâu có cộ nổi) đảm đương (td. nhiều việc quá liệu mình có cộ nổi khổng) (Theo cuốn Tự Điển Phương Ngữ Nam Bộ.) (Xe quệt, là loại xe dùng trâu hoặc bò để lết trên mặt đất. Khung xe bằng tre đặt trên 2 cây trượt. Đầu 2 cây trượt được gông vào càng xe. Người ta dùng dây chão buộc càng xe vào vai của trâu hoặc bò. Đây là phương tiện vận chuyển đường dài chủ yếu dùng trong mùa vụ nông nghiệp, thích ứng với địa hình phức tạp.)

Xe-cộ là danh từ kép, trong trường này, chữ cộ phải là danh từ để đứng chung với chữ xe. Cái xe và cái cộ cùng là danh từ chỉ một vật dùng để chuyển tải (người hoặc hàng hoá). Giống như danh từ kép chợ-búa, chợ và búa là hai danh từ đồng nghĩa, nhưng chữ búa là từ cổ đã biến mất không ai dùng nữa, chỉ còn tồn tại trong từ kép chợ-búa.  (trích trong cuốn Gia Định Xưa của Huỳnh Minh)

9 Dia danh 84/- Đồng Tháp Mười : Chú thích năm 1970. Theo tôi, thuyết dưới đây của ông Lê Hương có phần đáng tin hơn cả. Trong bài Địa danh, di tích, thắng cảnh trong vùng người Việt gốc Miên, tập san Sử Địa số 14, 15 năm 1969, ông viết :

– “Tháp mười là một trong những ngôi tháp làm bằng đá do vua Jayavarman VII xây cất khắp lãnh thổ để thờ vị thần Bà La Môn Lockecvera là vị thần chuyên trị bệnh cho nhân loại. Bên cạnh tháp có những căn nhà sàn gỗ lợp bằng đá mỏng, bằng ngói hay bằng lá thốt nốt để người bịnh nằm dưỡng bệnh do nhân viên y tế hoàng triều coi sóc. Những ngôi tháp được xây dựng dọc theo các con đường lớn trong nước mà ngôi nằm trong đồng Tháp Mười, tính từ địa điểm xuất phát, đứng vào hàng thứ muời.

Thời gian trôi qua, tàn phá tất cả các công trình kiến trúc của cổ nhân, dãy nhà gỗ tiêu tan, chỉ còn một tượng sư tử đá và một linh phù (linga) cũng bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc Phạn (sanscrit) ghi tên Tháp thứ mười.9 Dia danh 16Trong năm 1932, nhà khảo cổ Pháp Parmentier đã đi vào Đồng Tháp bằng ghe và xuồng để đọc những chữ khắc vào đó và phát giác ra ngôi tháp…” (trích trong cuốn Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Muời của Nguyễn Hiến Lê)

5/- Bến Tre : Trường hợp hình thành tên gọi Bến Tre thật đặc biệt, vì đó là sự gán ghép giữa tiếng Khmer và tiếng Việt.Xưa kia người Khmer gọi nơi đó là Srok Treay – srok là xứ,treay là cá. Sau người Việt thay chỗ người Khmer đến sinh sống làm chủ chốn đó, biến chữ srok thành Bến nhưng chữ treay không dịch là cá mà phát âm theo tiếng Khmer thành Tre. Quả tình nơi đó không có tre mà thật nhiều tôm cá.(theo Hồ Đình Vũ)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

SỰ RA ĐỜI CỦA MỘT TÌNH KHÚC

SỰ RA ĐỜI NGẪU NHIÊN

CỦA MỘT TÌNH KHÚC 

Theo lời nhà thơ Hà Huyền Chi kể lại về những lờì nhạc của mình

Lệ Đá, trước hết, không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của Trần Trịnh mới đúng.

Do một cơ duyên đặc biệt, Nguyễn Văn Đông, chơi Clarinet (xin nói không phải NS Nguyễn Văn Đông, tác giả Chiều mưa biên giới, Mấy dặm sơn khê…), giới thiệu Trần Trịnh với tôi :

– Nhạc Trần Trịnh khá lắm, nhưng rất ít người biết đến. Xin anh giúp thằng bạn em một lần, đặt lời ca giùm cho nó.

Tôi rất cảm mến Đông, nhưng liền lắc đầu :

– Em biết là anh vốn mù nhạc mà.

Đông tha thiết :

– Em biết chứ, nhưng em thành thực nghĩ rằng chỉ có anh mới giúp được nó.

Trần Trịnh cười hiền :

– Xin anh giúp cho, Tôi nghĩ là sẽ có cách…

Tôi thẳng thắn đặt điều kiện :

– Nể thằng em, coi như tôi thuận trên nguyên tắc. Tuy nhiên, tôi cần nghe anh đàn bản nhạc này vài lần để có khái niệm về nhạc tính. Và tôi cũng cần ý kiến thẩm định về nhạc thuật của bài này cùng Dzương Ngọc Hoán (chồng ca sĩ Quỳnh Giao).

Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội. Trần Trịnh ngồi vào Piano và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ, rất Pianissimo ấy, Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Khi ấy Đông đã kéo Dzương Ngọc Hoán qua và Hoán khen bản nhạc này không tiếc lời, khiến tôi có ngay quyết định giúp Trần Trịnh.

Sau phần thảo luận, chúng tôi tự chế ra một quy ước riêng. Trần Trịnh ghi dưới các nốt nhạc chữ “o” cho những từ không dấu (bình thanh) / Dấu huyền cho các từ mang dấu huyền, hỏi, nặng/ sắc cho các từ mang dấu sắc, ngã.

Tiếc là khi ấy loại máy cassette còn chưa được phổ biến. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hưởng của bản nhạc. Và tôi bắt đầu chơi ô chữ.

Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng tôi, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hoà được cái rung cảm đích thực của thơ tôi cho nhạc Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn. Anh và Hoán cùng hân hoan hát Lệ Đá khiến tôi cũng choáng ngợp niềm vui:

“Hỏi đá xanh rêu bao nhiều tuổi đời

Hỏi gió phiêu du qua bao đỉnh trời”…

Tôi cứ vừa viết vừa khóc thế đó, như khi ngồi chép lại những dòng này. Tôi bỏ dở bữa ăn, lên đài Quân Đội. Gặp Nhật Trường trước phòng vi âm. Tôi đưa Lệ Đá ra khoe, Nhật Trường hát ngay với nỗi hân hoan bốc lửa. Hắn túm ngay lấy Trần Trịnh đòi soạn cấp kỳ hoà âm cho ban nhạc và 2 bè khác cho Mai Hương, Như Thuỷ. Khoảng nửa giờ sau Lệ Đá được thâu cấp kỳ. Nhật Trường, Mai Hương, Như Thuỷ, mỗi nguời trên tay một bản Lệ Đá “mì ăn liền” say mê hoà ca với nỗi xúc động đồng thiếp. Take one Good take! Hát và thâu hoàn chỉnh ngay lần thứ nhất.

Nhật Trường như bay ra khỏi phòng vi âm ôm lấy tôi và Trần Trịnh :

– Ông đặt lời thần sầu. Bản này sẽ là Top Hit.

Tôi nhún nhường:

– Top Hit được là nhờ nhạc Trần Trịnh bay bổng như diều đấy chứ.

Lệ Đá – Ca khúc thơ phổ nhạc

Trong âm nhạc, các ca khúc “Nhạc phổ thơ” rất phổ biến và đóng một vai trò quan trọng trong nền âm nhạc Việt Nam. Thông thường các nhạc sĩ đồng cảm với những vần thơ, từ đó phổ nhạc viết ra những ca khúc “Nhạc phổ thơ”, ở chiều ngược lại “thơ phổ nhạc” hay là đặt lời cho một bản nhạc ít xuất hiện hơn, bởi có lẽ sẽ khó để cảm nhận được những gì tác giả gửi gắm qua một bản nhạc không lời, chính vì vậy không có nhiều bài “thơ phổ nhạc”, Lệ đá là một trong số ít các ca khúc đó.

Lệ đá vốn là một bản nhạc không tên được nhạc sĩ Trần Trịnh sáng tác vào giữa thập niên 60 của thế kỷ trước, khi đó Trần Trịnh còn là một nhạc sĩ mới, chưa có nhiều tiếng tăm trong làn tân nhạc thời bấy giờ.

Cơ duyên đã đưa nhạc sĩ Trần Trịnh đến với nhà thơ Hà Huyền Chi, để rồi “Lệ đá” ra đời khi nhà thơ Hà Huyền Chi đã hòa được cảm xúc thơ của mình vào giai điệu thiết tha, dịu nhẹ của nhạc sĩ Trần Trịnh.

Một điều thú vị là, nhà thơ Hà Huyền Chi không chỉ đặt một lời cho nhạc phẩm mà viết tận 5 lời. Lời nào cũng rất thơ và đầy cảm xúc, nhưng có lẽ nổi tiếng hơn cả là chính là lời đầu tiên mà bây giờ chúng ta thường nghe.

Trình bày Lệ Đá với Vũ Khanh :

https://youtu.be/CL6i8zrlqb4

Cái ma kiếp của một bài ca được yêu chuộng thường yểu tử, và xuống cấp. Nhưng Lệ Đá thì không. Nó may mắn thoát khỏi định số ước lệ ấý. Vào những năm 67, 68 nhạc phẩm “Lệ Đá” được cất tiếng thường xuyên hầu như ở khắp mọi sinh hoạt văn nghệ mà thời kỳ này nhạc Trịnh Công Sơn đang được mọi người hâm mộ.

Lệ Đá góp mặt hàng đêm ở các phòng trà, tiệm nhảy. Lệ Đá vào khuê phòng, ra máy nước. Rồi quán cà phê cũng Lệ Đá, phim ảnh cũng Lệ Đá với tiếng hát Khánh Ly, phim do Thanh Nga, Đoàn Châu Mậu diễn xuất, và Bùi Sơn Duân đạo diễn.

May sao, Lệ Đá vẫn chưa trở thành nhạc sến, nhạc đứng đường. May sao, tôi vẫn được yên thân, bởi vẫn giữ kín cơ duyên “nhảy dù” vào nghề viết lời nhạc. Để mọi người đều hiểu lầm rằng Trần Trịnh phổ thơ tôi.

Khi ấy tôi viết thêm lời 3 cho Lệ Đá khi đi công tác ở Sóc Trăng, Cà Mau. Nơi Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc với muỗi mòng dễ nể. Nhà văn Bình Nguyên Lộc dọa, chỉ cần quơ tay một cái là đã túm được cả chục con muỗí. Bạn bè hăm, trâu bò còn phải ngủ trong mùng. Khách sạn tỉnh lẻ không khá gì hơn mấy quán trọ trong phim Anh Hùng Xạ Điêu, Cô Gái Đồ Long. Thực khách vừa nhâm nhi, vừa quơ chưởng, đuổi muỗí. Mới chập tối, tôi đã chui vô chiếc mùng thố. Và buồn tình tôi viết lời Lệ Đá 3.

CA KHÚC ‘AI LÊN XỨ HOA ĐÀO’

VÀ MỐI TÌNH NGANG TRÁI

CỦA NGƯỜI NHẠC SĨ TÀI HOA…

– Hà Thanh : Ai lên xứ hoa đào

https://youtu.be/6Lg1AomuNrw

– 24 ca khúc hay nhất của Hoàng Trọng & Hoàng Nguyên (2:24’)

https://youtu.be/94M2eJpvhbE

Đà Lạt bồng bềnh phiêu lãng, Đà Lạt mờ hơi sương, Đà Lạt của màu hoa đào, của rừng thông, của Hồ Than Thở, của thung lũng Tình Yêu. Mọi thứ ở Đà Lạt đều tràn ngập màu sắc lãng mạn. Nhưng nói đến ca khúc nào viết về Đà Lạt nào hay nhất, đẹp nhất, ấn tượng nhất, thì ai cũng nói rằng, đó là Ai Lên Xứ Hoa Đào của người nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh Hoàng Nguyên….

Đà Lạt, một trong những địa danh được ưu ái nhất của những nhạc sĩ tài hoa…  Đà Lạt, thành phố của ngàn hoa, từ lâu đã đi vào lòng bao khách lãng du bằng vẻ đẹp sương – gió – mây – trời – cỏ cây. Hai tiếng “Đà Lạt” đã đủ khiến người ta mơ mộng.

Trong những năm tháng dạy học tại Đà Lạt vào thập niên 1950, niềm cảm hứng đã tới để nhạc sỹ tài hoa Hoàng Nguyên (1932-1973), người thầy của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, cho ra đời tác phẩm bất hủ này.

Lãng mạn, mộng mơ và tuyệt đẹp… ta có thể tìm thấy tất cả cảm giác bồng bềnh đó ở Đà Lạt, ở Ai Lên Xứ Hoa Đào.

Từ đồi Vọng Cảnh, Thung lũng Tình Yêu hiện ra trong tầm mắt đẹp tựa bức tranh; triền thông vi vu gió như “thôi miên” ta vào cõi hư vô; những ngôi nhà gỗ xinh xắn thấp thoáng trên những ngọn đồi đầy hoa cho cảm giác yên bình đến lạ lùng; những con đường đất đỏ vòng vèo đưa khách phiêu lưu cùng đỉnh Langbian thấp thoáng trong mây…

Những ca khúc tuyệt vời của Hoàng Nguyên viết về Đà Lạt đã được sinh ra chính trong thời gian nhạc sỹ sống và dạy học ở thành phố mù sương, trong tuổi hoa niên tươi đẹp, lãng mạn của chàng thanh niên hai mươi tuổi Hoàng Nguyên.

Có lẽ, trái tim đôi mươi dâng tràn nhựa sống, cảm hứng thi ca trong chàng trai trẻ mang tâm hồn nhạc sỹ đã không thể không bật thành lời trước một Đà Lạt quá đỗi nồng nàn. Ngay từ những lời đầu tiên, những nốt nhạc đầu tiên được cất lên, một Đà Lạt mơ huyền, lãng mạn, một Đà Lạt mang đậm “chất Đà Lạt” đã hiện ra trong lòng người nghe:

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi giá len vào hồn người, chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ

Ca từ tuyệt đẹp, giai điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào đã mang lại cho “Ai lên xứ hoa đào” một vị trí đặc biệt trong lòng người Đà Lạt, người yêu Đà Lạt và làng âm nhạc Việt. Và dù bài hát đã ra đời quá nửa thế kỷ, mỗi khi nhắc tới Đà Lạt, không ai có thể không nhớ tới ca khúc tuyệt vời ấy.

Đà Lạt của Hoàng Nguyên in dấu mộng “Đào Nguyên” của nhạc sĩ Văn Cao

Là người hâm mộ Thiên Thai của nhạc sĩ Văn Cao, chắc hẳn những hình ảnh về một cõi thiên thai “Đào Nguyên” nơi hai chàng Lưu Nguyễn lạc bước đã in dấu trong lòng người nhạc sĩ:

“Đào Nguyên xưa, Lưu Nguyễn quên đường về, tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao..” (Thiên Thai- Văn Cao)

Nên trong bài Ai Lên Xứ Hoa Đào, người ta thấy rất nhiều bóng dáng tiên cảnh :

“Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.

Nghe tâm tư mơ ước Mộng Đào Nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.”

Hay như:

“Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa.

Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương.

Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên.”

Một cảm giác rất sâu tìm thấy ở Ai Lên Xứ Hoa Đào, một cảm giác rất khó lý giải..

Đà Lạt trong ca khúc Hoàng Nguyên hiện lên những gì điển hình nhất của phố núi, là sương, là hoa, là thông, là tà áo dài thấp thoáng trong sương. Nhưng sự lãng mạn của ca khúc này đến từ một cái gì đó rất đặc biệt, rất sâu mà người ta khó lý giải được.

Ca từ lãng mạn, âm nhạc của ông nhẹ nhàng, ngọt ngào, tha thiết như một lời tự sự lạ kỳ.

Ngoài “bộ ba”: Bài thơ hoa đào, Ai lên xứ hoa đào và Hoa đào ngày xưa đều được viết với giọng trưởng (major), thì về sau Hoàng Nguyên còn viết bản Đà Lạt mưa bay – một Đà Lạt với giọng thứ (minor), nhịp chậm, mang tâm trạng người trẻ trong thời ly loạn.

Năm 1973, nhạc sĩ tài hoa bạc mệnh từ giã cõi đời vì tai nạn giao thông ở Vũng Tàu, nhưng đã kịp để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ xuất sắc, với Bài Tango cho riêng em, Cho người tình lỡ, Đà Lạt mưa bay, Tà áo tím, Thuở ấy yêu nhau…vv.

Cuộc đời éo le và mối tình ngang trái của người nhạc sĩ tài hoa

Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 1 1932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên lên ở Đà Lạt, Hoàng Nguyên dạy học tại trường tư thục Tuệ Quang, thuộc chùa Linh Quang, khu số 4 Đà Lạt.

Hoàng Nguyên khi đó dạy Việt văn lớp đệ lục. Lúc đó, ông là thầy giáo dạy nhạc cho Nguyễn Ánh 9, người sau này trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng đồng thời là nhạc công chơi đàn dương cầm.

Năm 1956, trong một đợt lùng bắt ở Đà Lạt, do trong nhà có các bản nhạc của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, Hoàng Nguyên bị bắt và đày ra Côn Đảo khoảng năm 1957. Ở Côn Sơn, thiên tình sử của người nghệ sĩ Hoàng Nguyên mở đầu với cảnh tình éo le và tan tác.

Là một tài hoa đa dạng, người tù Hoàng Nguyên được vị Chỉ Huy Trưởng đảo Côn Sơn mến chuộng nên đã đưa chàng ta về tư thất dạy Nhạc và Việt văn cho con gái ông, năm đó khoảng 19 tuổi… Mối tình hai người nảy nở, trăng ngàn sóng biển đã là môi trường cho tình yêu ngang trái. Ông chúa đảo phải lặng lẽ vận động để chàng nhạc sĩ tài hoa sớm được tự do.

Sau khi Hoàng Nguyên được trả tự do, trở về Sài Gòn, tiếp tục sáng tác và dạy học. Trước khi kết hôn, Hoàng Nguyên có ý định quay lại với cô gái ở Côn Sơn, nhưng cô đã đi lấy chồng. Ca khúc Thuở ấy yêu nhau ra đời trong khoảng thời gian đó.

VÌ SAO CÁC ĐẠI HIỆP

TRONG TRUYỆN KIM DUNG

THƯỜNG MỒ CÔI CHA ?

Mười mấy bộ tiểu thuyết của Kim Dung có một điểm chung khá kỳ lạ, đó là nhân vật chính đều hoặc mồ côi cha, hoặc đi tìm cha. Dương Quá, Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc, Thạch Phá Thiên… đều như vậy. Ẩn ý đằng sau là gì ?

Người say mê Kim Dung đều dễ dàng nhận ra rằng, hầu như tất cả các đại hiệp trong truyện của ông đều mồ côi cha.

Đó mặc nhiên trở thành một nguyên tắc bất di bất dịch, muốn làm đại hiệp thì phải… mồ côi cha hoặc thất lạc cha.

Có người sinh ra không biết mặt thân phụ như Lệnh Hồ Xung (Tiếu ngạo giang hồ), Vi Tiểu Bảo (Lộc đỉnh ký). Có người thuở nhỏ mồ côi, cha là đại hiệp anh dũng phi phàm như: Quách Tĩnh (Anh hùng xạ điêu), Viên Thừa Chí (Bích huyết kiếm), Trương Vô Kỵ (Ỷ thiên đồ long ký)…

Lại cũng có người thất lạc cha từ bé, người nuôi nấng mình trưởng thành hóa ra lại chẳng phải cha đẻ như : Tiêu Phong (Thiên long bát bộ – con nuôi một lão nông nhưng cha đẻ là Tiêu Viễn Sơn), Đoàn Dự (Thiên long bát bộ – Đoàn Chính Thuần nuôi lớn nhưng cha ruột lại là Đoàn Diên Khánh) hay Thạch Phá Thiên (Hiệp khách hành – bị bắt cóc từ nhỏ), Hư Trúc (Thiên long bát bộ)…

Câu hỏi đặt ra là vì sao các nam chính trong tiểu thuyết Kim Dung đều mang trong mình một nỗi ám ảnh về người cha ruột lớn đến thế ? Có vài nguyên nhân giải thích điều này.

1/. Thủ pháp nghệ thuật  : Trong tiểu thuyết Kim Dung, các đại hiệp, anh hùng muốn dựng thành tên tuổi đều phải kinh qua hết thảy khổ nạn trong đời ngay từ tấm bé. Kim Dung rất thích đặt nhân vật chính của mình trong một hành trình trưởng thành, một chuyến phiêu lưu. Qua năm tháng dài đằng đẵng ấy, người đọc được chứng kiến từng bước đi của người anh hùng, từng thay đổi, từng bước ngoặt trong đời và từng cảm xúc hỉ nộ ái ố.

Việc để cho các thiếu niên anh hùng mồ côi, thất lạc cha từ nhỏ chính là xếp đặt ra cho họ một bi kịch, đặt họ vào lò lửa luyện đan ngay từ những bước chân đầu tiên. Đó là một thủ pháp nghệ thuật rất tinh tế. Những đại hiệp mồ côi cha thường mang trong lòng nhiều tâm sự, nhiều nỗi niềm, lại thường rất cứng cỏi, nghị lực (vì phải tự lập sớm) nên dễ chiếm được thiện cảm của độc giả.

Thêm một lý do nữa, việc có một mối quan hệ không suôn sẻ với người cha của mình cũng thúc đẩy các mâu thuẫn, đặt ra cho nhân vật chính nhiều nghịch cảnh, buộc họ phải lựa chọn. Có người sùng kính, ngưỡng mộ chỉ mong nối chí cha, có người lại oán hận, căm thù người cha ruột như cừu địch. Điều đó giúp Kim Dung thả sức sáng tạo cốt truyện và tạo ra những điểm cao trào, kịch tính.

Như vậy, đại hiệp mồ côi, trước hết chính là một thủ pháp nghệ thuật.

2/. Bi kịch cá nhân : Ngoài việc là một thủ pháp văn chương, bi kịch mồ côi cha của các đại hiệp trong truyện Kim Dung cũng có nguyên nhân từ chính cuộc đời tác giả.

Cha của Kim Dung là Tra Thụ Huân, trong các bản ghi chép khác còn có tên là Tra Mậu Trung. Gia tộc của Kim Dung là một danh môn vọng tộc ở Chiết Giang. Trong từ đường họ Tra còn treo ngự bút của Khang Hy hoàng đế. Họ Tra là một trong những gia tộc lớn nhất ở Giang Nam, có lịch sử nghìn năm từ những triều đại Đường, Tống…

Đến lúc Kim Dung ra đời, gia tộc ông dù đã suy yếu nhiều nhưng vẫn còn nắm trong tay 3600 mẫu đất, hơn 100 nông dân, các tiền trang. Trong nhà có 5 đại viện và hơn 90 căn phòng, ngoài ra còn có hoa viên lớn. Cha của Kim Dung không chỉ là một địa chủ thông thường. Ông tốt nghiệp các trường đại học nổi tiếng như Đại học Giáo hội, đại học Chấn Đán ở Thượng Hải.

Ở quê nhà, Tra Thụ Huân thường ra tay cứu tế, làm nhiều điều nghĩa hiệp. Những năm cuối đời ông đã dành rất nhiều sức lực, của cải để xây dựng nghĩa trang, miếu thờ tổ tiên và cả trường học. Ông còn đem 1000 mẫu đất của gia đình để dựng “Nghĩa điền” chia ruộng cho các hộ dân làm đất cấy cày.

Những “Nghĩa điền” này đều là ruộng tốt, dù hạn hán hay lũ lụt thì sau khi khấu trừ tổn thất mỗi năm vẫn có thể thu được 300 thạch (một thạch là 120 cân). Tra Thụ Huân bán số lương thực này lấy tiền mỗi tháng cứu tế dân nghèo. Mỗi vụ thu hoạch, ông đều tính toán tỉ mỉ rồi giảm hoặc miễn thuế cho điền nông.

Tra Thụ Huân rất nhiệt tâm xây dựng trường học, trích tiền dựng trường tiểu học Long Đầu Các, miễn phí nhập học cho trẻ nhỏ. Điều khiến người ta cảm khái nhất chính là sau này ông lại bị hành hình trên chính sân cỏ ở ngôi trường này trong nỗi oan khốc hại.

Vào những năm 50 của thế kỷ 20, phong trào “Trấn phản” và “Cải cách ruộng đất” ở Trung Quốc lên thành cao trào. Gia đình Kim Dung bị quy là thành phần địa chủ. Người của tổ chức “Trấn phản” muốn vạch tội Tra Thụ Huân nhưng dân làng không ai đứng ra đấu tố vì ông có ân với rất nhiều người.

Cuối cùng, người ta gán cho ông bốn tội danh : Kháng lương (không chịu nộp lương thảo), chứa chấp thổ phỉ, âm mưu sát hại cán bộ, bịa đặt phá hoại, tạo tin đồn thất thiệt. Tra Thụ Huân bị kết tội là địa chủ bất hợp pháp, phải chịu xử bắn.

Ngày bị xử bắn, ông không được thay quần áo, không được uống rượu, ăn cơm, bị trói cổ đưa đến sân vui chơi của trường tiểu học Long Đầu Các. Thụ Huân bị bốn người đồng thời dùng súng bắn đến khi ngã gục xuống. Sau khi ông chết, mộ phần cũng không dám để lại tên tuổi.

Khi cha mình bị hại, Kim Dung đang làm việc cho tờ “Đại Công Báo” ở Hồng Kông. Rất nhiều năm về sau, trong tự truyện “Nguyệt Vân”, ông viết :

Một đội quân đánh vào quê nhà của Nghi Quan, từ Sơn Đông đến. Cha của Nghi Quan bị phán là địa chủ lừa dối, đàn áp nông dân, phải nhận tử hình. Nghi Quan ở Hồng Kông khóc ba ngày ba đêm, đau lòng hơn nửa năm. Nhưng ông tuyệt không thống hận đội quân đã giết chết cha mình, bởi vì có đến hàng ngàn hàng vạn địa chủ bị phán tử hình. Đây là một biến hóa nghiêng trời lệch đất”. Nghi Quan chính là tên khác của Kim Dung. Cho đến năm 1981, Tra Thụ Huân mới được minh oan. Lúc này vợ của Tra Thụ Huân, Cố Tú Anh đã 73 tuổi.

Nỗi đau mất thân phụ ấy trở thành ám ảnh lớn trong tâm Kim Dung, sau này lại trở thành cảm hứng chắp bút cho ông. Những nhân vật chính của Kim Dung đều có chung một cuộc hành trình tìm cha đầy gian khó. Dương Quá tìm cha, Tiêu Phong tìm cha, Đoàn Dự tìm cha, Hư Trúc tìm cha, Thạch Phá Thiên tìm cha, Trương Vô Kỵ tìm nghĩa phụ… Tất cả đều đang tìm cha.  (theo Thanh Bình – Văn Nhược)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

TỬ VI TÂY PHƯƠNG THÁNG 12/2017

GIEO QUẺ THÁNG 12/2017 CỦA BẠN

1/- BẢO BÌNH (20/1 – 18/2)

Trong lĩnh vực tình yêu, các Bảo Bình tháng cuối năm này có một sức quyến rũ tuyệt vời. Bảo Bình chẳng khác gì một thỏi nam châm đối với các bạn khác giới. Cuối tháng, chuyện tình cảm khá ổn, thậm chí, nhiều bạn Bảo Bình sẽ có một mối quan hệ vững chắc.

Tháng này Bảo Bình nên dành nhiều thời gian cho gia đình và chuẩn bị đón năm mới. Một mối quan hệ tình cảm từ gia đình và bạn bè đang chờ đợi bạn, nhưng Bảo Bình đừng chìm đắm vào nó mà không suy nghĩ gì. Hãy để mọi thứ tự tiến triển. Ngoài ra, sao Kim có thể sẽ báo trước những dấu hiệu tích cực về mặt tài chính và Bảo Bình sẽ có thêm một khoản thu nhập cho mình vào những ngày cuối tháng để vui vẻ du Xuân. Một điều bất ngờ sẽ xuất hiện vào thứ 7 với các Bảo Bình.

Ngày may mắn: 4, 5, 13, 14, 15, 22, 23, 31

Ngày không may mắn: 6, 7, 20, 21, 27, 28, 30

Ngày cho tình yêu: 11, 12, 20, 21, 22, 23, 27, 28, 29, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 16, 17, 18, 20, 21, 27, 29, 30

Ngày cho công việc: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 20, 21, 25, 26, 30, 31

2/- SONG NGƯ (19/2 – 20/3)

Những hy vọng và ước mơ sẽ trở thành hiện thực vào ba tuần đầu tiên của tháng 12 với Song Ngư. Thậm chí, dù đó chỉ là những điều mới lướt qua trí óc, song các Song Ngư cũng có cơ hội tốt đến và sẽ thành công. Trong tình yêu, những quyết định quan trọng và các mối quan hệ nên được trì hoãn đến hạ tuần tháng 12 này. Song Ngư cần phải suy nghĩ mọi chuyện rất cẩn thận và rõ ràng trước khi đưa ra quyết định.

Từ những ngày thượng tuần tháng 12, Song Ngư có thể mong đợi những cuộc gặp tuyệt vời, những lời mời quan trọng để thăng tiến trong sự nghiệp tốt hơn. Giai đoạn này, Song Ngư cũng sẽ gặp những người trợ giúp cho công việc kinh doanh trong tương lai.

Sau ngày 21, Song Ngư sẽ trở về với thế giới nội tâm của mình Song Ngư nên dành thời gian ở một mình và tìm nơi yên tĩnh để thư giãn. Hãy suy nghĩ về những tháng đã qua cũng như lập kế hoạch cho năm mới sắp đến, mục tiêu cho năm mới vào thời điểm này. Hãy chờ đợi điều thú vị vào một ngày thứ 6 nhé Song Ngư.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25, 29

Ngày không may mắn: 4, 5, 11, 12, 18, 19, 31

Ngày cho tình yêu: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 22, 23, 24, 25, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 6, 7, 16, 17, 18, 19, 24, 25, 28, 30

3/- BẠCH DƯƠNG (21/3 – 19/4)

Các cuộc hành trình đang chờ đợi Bạch Dương thực hiện nếu bạn đã lên kế hoạch trước cho năm mới sắp đến. Tình hình tài chính cần được lưu tâm, có nguy cơ Bạch Dương phải đánh đổi mối quan tâm của mình với trách nhiệm và giao kèo được thỏa thuận trước. Đồng thời Bạch Dương có thể sẽ căng thẳng khi phải làm tròn nghĩa vụ tài chính với gia đình. Nhưng một khi bạn hoàn thành thì mọi việc sẽ trở nên dễ thở hơn rất nhiều để sẵn sang đón năm mới.

Tin tốt là sự nghiệp tháng này không có gì phải lo lắng, buồn phiền. Mặt trời sẽ lướt qua cung hoàng đạo của Bạch Dương và đem lại thành công cho công việc. Có thể Bạch Dương sẽ đi công tác. Sức khỏe tốt nhưng vẫn nên nghỉ ngơi và thư giãn vào cuối tháng. Tháng này cũng là thời điểm tốt để Bạch Dương điều chỉnh chế độ dinh dưỡng và thay đổi thói quen di chuyển. Nếu có bất kỳ vấn đề nào xảy ra với gia đình, hãy cố gắng giải quyết thật nhanh gọn nhé. Hãy đợi Chủ Nhật để cảm thấy thật thư thái.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25, 27, 29

Ngày không may mắn: 1, 2, 8, 9, 10, 22, 23, 30. 31

Ngày cho tình yêu: 1, 2, 13, 14, 16, 22, 23, 24, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 18, 19, 24, 25, 29, 30:

Ngày cho công việc: 2, 3, 8, 9, 10, 13, 14, 22, 23, 31

4/- KIM NGƯU (20/4 – 20/5)

Công việc của Kim Ngưu trong tháng 12 này có vẻ bận rộn, hãy làm bất cứ điều gì cần làm, nhưng vẫn nên quan tâm đến gia đình nhé. Tháng này Kim Ngưu về tình hình tài chính, thu nhập của bạn ở giai đoạn “đỉnh cao”. Kim Ngưu gặt hái nhiều lợi nhuận, có nhiều cơ hội cho quan hệ đối tác kinh doanh hoặc liên doanh sau ngày trung tuần. Tháng này cũng đem lại cho Kim Ngưu nhiều lựa chọn, đặc biệt là từ sau ngày 20.

Trong tháng này, Kim Ngưu cũng nên quan tâm tới sức khỏe vì bạn biết sức khỏe tốt sẽ giúp ích cho cuộc sống rất nhiều. Năm nay là một năm tuyệt vời cho tình yêu và Kim Ngưu đang chuẩn bị cẩn thận để đón đợi nó. Tình yêu có thể gõ cửa từ ngày mùng 8 sau khi Kim Ngưu đã theo đuổi được mục tiêu tài chính của mình. Chúc mừng nhé Kim Ngưu sẽ trở nên giàu có cả về vật chất và tinh thần trong năm mới sắp đến. Vì dự báo bạn sẽ có của hoạnh tài

Ngày may mắn:, 11, 12, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 6, 7, 13, 14, 15, 27, 28, 31

Ngày cho tình yêu: 1, 2, 7, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 28, 31

Ngày cho tài chính: 8, 9, 11, 12, 18, 20, 21, 27, 29, 30

Ngày cho công việc: 6, 7, 13, 14, 15, 17, 18, 27, 28, 29, 30, 31

5/- SONG NAM (21/5 – 21/6)

Đây là một tháng tuyệt vời dành cho Song Nam. Bạn sẽ dành toàn bộ tập trung vào những thứ mình đang làm. Có thể nói tháng này mang lại cho Song Nam rất nhiều may mắn, vì vậy, hãy nắm bắt ngay những cơ hội đó. Song Nam cần chú ý hơn đến sức khỏe. Không có vấn đề gì nghiêm trọng xảy ra trong tháng tới cả, một tháng Tết nhiều cuộc vui chờ đón Song Nam, tuy nhiên, cũng đừng vì thế mà bỏ rơi sức khỏe của mình.

Nếu Song Nam đang yêu, một vài vấn để có thể sẽ xảy ra trong khoảng trung tuần của tháng. Nhưng đừng lo lắng, chúng sẽ biến mất ngay thôi. Còn đối với những bạn Song Nam vẫn đang cô đơn thì tháng này hãy hy vọng vào một tình yêu rất có thể nảy nở từ chính nơi làm việc của bạn.

Sau ngày 20, tình hình tài chính của Song Nam gặp nhiều thuận lợi và điều ấy còn có thể kéo dài trong suốt tháng này. Những kế hoạch bị trì hoãn sang năm mới nên thực hiện.  Trong tháng này, thứ 4 sẽ mang lại nụ cười cho Song Nam.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25, 29

Ngày không may mắn: 4, 5, 11, 12, 18, 19, 20, 22. 30, 31

Ngày cho tình yêu: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 22, 23, 24, 25, 30

Ngày cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 30

Ngày cho công việc: 6, 7, 16, 17, 18, 19, 24, 25, 28, 29

6/- BẮC GIẢI (22/6 – 22/7)  

Công việc của Bắc Giải có thể giảm tốc đôi chút; vì vậy bạn nên tập trung vào những vấn đề liên quan đến gia đình và tình cảm. Đây là thời điểm dành phát triển tinh thần hơn là vẻ bên ngoài. Bắc Giải luôn là một người của xã hội, và điều này sẽ giúp bạn nhiều trong thời điểm hiện tại. Bắc Giải hãy rèn luyện năng lực bản thân nhiều hơn để đạt được nhiều thành công. Đây cũng là lúc Bắc Giải sẽ nhận thấy con người thực sự của mình thông qua cách cư xử với người khác.

Bắc Giải cần quan tâm đến sức khỏe trong tháng này. Bạn có thể làm bất cứ điều gì mình muốn nhưng cũng nên dành thời gian để nghỉ ngơi, thư giãn. Sức khỏe sẽ được cải thiện sau ngày 20. Những Bắc Giải đang tìm kiếm công việc thì đây là thời điểm rất thích hợp cho các bạn. Bạn hãy can đảm đi tới chớ nên rụt rè mà lỡ mất cơ hội đưa đến. Hãy dẹp bỏ sự tự ti đi, đó là chìa khóa thành công với Bắc Giải đấy.

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28, 29, 30

Ngày không may mắn: 4, 5, 11, 12, 24, 25, 27, 31

Ngày cho tình yêu: 2, 3, 4, 5, 13, 14, 22, 23, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 3, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 24, 25, 29, 30

7/- HẢI SƯ (23/7 – 22/8)

Trong tháng này, các Hải Sư đang có kế hoạch muốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó mới mẻ vào năm mới sắp đến. Nhưng những việc liên quan tới hành chính sẽ “ngốn” khá nhiều thời gian và tiền bạc của Hải Sư đấy. Tháng 12 là khoảng thời gian Hải Sư dành cho công việc sau đó sẽ được thư giãn, nghỉ ngơi và tận hưởng niềm vui này bằng cả tâm hồn. Các Hải Sư hãy dành nhiều tâm trí cho những vấn đề trong gia đình. Hãy nhìn những điều vẫn còn dở dang quanh bạn để tạo ra các thay đổi trong những ngày sắp tới tốt đẹp hơn.

Về tình yêu, Hải Sư có mối quan hệ mà bạn có sẽ gặp vài thử thách vào ngày cuối năm này sẽ có nhiều điều đặc biệt. Hãy hạn chế có những quyết định về tài chính để còn thực hiện kế hoạch đầu tư. Từ khóa cho tháng này là bình tĩnh và kiên nhẫn. Hải Sư sẽ gặp “vận đỏ” vào một ngày thứ 7.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 29, 30, 31

Ngày không may mắn: 4, 5, 18, 19, 24, 25, 27, 28

Ngày cho tình yêu: 1, 2, 11, 12, 14, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 6, 7, 11, 12, 13, 14, 15, , 20, 21, 27, 29, 30

Ngày cho công việc: 3, 4, 5, 13, 18, 19, 30, 21, 22, 31

8/- XỬ NỮ (23/8 – 22/9)

Các Xử Nữ tháng này, lịch cho các hoạt động xã hội đầy ắp cho năm mới sắp đến, và Xử Nữ sẽ dễ cảm thấy bị áp lực khi phải đảm bảo những lịch trình đó. Trong chuyện tình cảm, Xử Nữ luôn mong đợi quá nhiều vì bạn thích mọi thứ diễn ra như bạn muốn. Hãy thận trọng việc Xử Nữ cư xử như thế nào trong giai đoạn này. Nó cũng có thể khiến bạn gặp rắc rối.

Tài chính không đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của Xử Nữ vào tháng này. Đối tác và gia đình người thân sẽ giúp đỡ cho các Xử Nữ vượt khó cuối năm.

Tháng này Xử Nữ cũng nên thay đổi sự chú ý vào mục tiêu công việc. Sức khỏe của bạn khá tốt khá tốt. Tuy nhiên, Xử Nữ nếu bị đau chỗ nào, hãy nghỉ ngơi và khám bác sĩ. Nhiều hoạt động xã hội và gặp gỡ với những người mới đang chờ Xử Nữ vào giữa tháng. Ngày may mắn nhất của bạn là thứ 6.

Ngày may mắn : 4, 5, 13, 14, 15, 22, 23, 31

Ngày không may mắn : 11, 12, 18, 19, 24, 25, 27, 28, 29

Ngày cho tình yêu: 2, 3, 6, 7, 16, 17, 18, 19, 24, 25, 31

Ngày cho tài chính : 1, 6, 7, 11, 12, 20, 21, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 11, 12, 20, 21, 24, 25, 29, 30

9/- THIÊN XỨNG (23/9 – 22/10)

Tháng này tạo nên một Thiên Xứng phóng khoáng nhưng vẫn cầu toàn. Bạn muốn tự do nhưng cũng vẫn gắn kết với người khác. Thiên Xứng hãy cố gắng kiềm chế khao khát để tránh mâu thuẫn với mọi người. Vận dụng quan hệ và tài ngoại giao để giải quyết mọi việc bằng thỏa thuận và hợp tác. Gia đình của Thiên Xứng có lẽ nên được ưu tiên hơn trong giai đoạn này.

Phương diện sức khỏe tháng này sẽ cực kỳ tốt. Sức khỏe của Thiên Xứng tràn trề trong tháng đặc biệt sau những ngày hạ tuần. Đây cũng là 1 tháng may mắn cho những ai đang tìm việc. Và tình yêu thì sẽ thăng hoa với bất cứ Thiên Xứng nào, các bạn đang yêu, đã kết hôn hay đang độc thân. Những Thiên Xứng còn độc thân sẽ có một cuộc gặp gỡ lãng mạn, có lẽ bạn cảm thấy nó thật lý tưởng nhưng nhớ suy xét kỹ nhé. Hãy cho trái tim thời gian chớ quá vội vàng mà quên tìm hiểu đối tượng, để về sau phải ân hận.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 29, 30

Ngày không may mắn: 7, 13, 14, 15, 27, 28, 31

Ngày cho tình yêu: 1, 2, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 30

Ngày cho tài chính: 8, 11, 12, 18, 20, 21, 22, 23, 27, 29, 31

Ngày cho công việc: 6, 7, 13, 14, 15, 17, 18, 27, 29, 30.

10/- HỔ CÁP (23/10 – 21/11)

Tháng 12 này Hổ Cáp cần cẩn trọng hơn trong lời ăn tiếng nói với những người xung quanh. Hãy đảm bảo rằng mọi người hiểu đúng ý bạn và chủ động hỏi khi gặp phải vấn đề nào đó chưa chắc chắn. Tháng này cũng báo trước cho Hổ Cáp về những vấn đề có thể xảy ra trong nội bộ gia đình của bạn. Nếu buộc phải quyết định một điều gì đó quan trọng, hãy cân nhắc kỹ càng cả mặt tích cực lẫn hạn chế.

Về tình hình tài chính, Hổ Cáp có những khoản tiền hoạnh tài sẽ đến cùng sự thành công của bạn vào thượng tuần của tháng, nhưng không nên tiêu xài quá hoang phí. 31 ngày của tháng này Hổ Cáp nên tập trung chủ yếu vào tình hình công việc và tài chính và về thu nhập cho năm mới sắp đến. Điều tốt đẹp nhất là dường như Hổ Cáp chắc chắn sẽ nhận được một khoản thu nhập phụ trội.

Về tình yêu, Hổ Cáp có thể kỳ vọng về những chuyển biến tốt đẹp trong chuyện tình cảm. Sức khỏe của Hổ Cáp tháng này khá ổn nhưng bạn sẽ cảm thấy đôi chút mệt mỏi sau ngày 24. Hãy cố gắng dành thời gian để thư giãn và nghỉ ngơi nhé ! Nhưng đừng bỏ qua cơ hội kiếm tiền nhé. Thứ 2 là ngày rất vui với Hổ Cáp.

Ngày may mắn: 4, 5, 13, 14, 15, 22, 23, 31

Ngày không may mắn: 6, 7, 20, 21, 27, 28, 30

Ngày cho tình yêu: 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 27, 28, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 16, 20, 21, 27, 29, 30

Ngày cho công việc: 16, 7, 11, 12, 20, 21, 22, 27, 30, 31

11/- NHÂN MÃ (22/11 – 21/12)

Các Nhân Mã trở thành trung tâm của các buổi tụ họp và chuyện tình cảm cũng thăng hoa trong tháng 12 này. Có nhiều thay đổi trong công việc, có thể Nhân Mã sẽ trải nghiệm với công việc mới hoặc là một phần việc khác. Kể từ hạ tuần tháng 12, hãy cẩn trọng trước khi Nhân Mã muốn thực hiện một sự thay đổi lớn nào đó. Nếu bạn muốn thay đổi, hãy làm trước những ngày này.

Những kỹ năng xã hội rất quan trọng trong hầu hết lĩnh vực cuộc sống của Nhân Mã, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính. Nhân Mã cần đánh giá tốt từ những người khác. Một quan hệ đối tác hoặc liên doanh sẽ đến, hoặc có cơ hội đến

Giúp đỡ về tài chính cho những người khác, và sự thịnh vượng đến với Nhân Mã một cách tự nhiên. Trong những ngày hạ tuần, tốt nhất Nhân Mã là cắt giảm những gì không cần thiết và lãng phí. Sức khỏe của Nhân Mã cần phải được chú ý, đặc biệt là cho đến hạ tuần. Quan trọng là thư giãn và nghỉ ngơi để giữ mức năng lượng cao.

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28, 31

Ngày không may mắn: 1, 2, 16, 17, 22, 23, 29, 30

Ngày cho tình yêu: 8, 13, 14, 18, 22, 23, 27, 30, 31

Ngày cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 16, 17, 20, 21, 24, 25, 29, 30

Ngày cho công việc: 1, 2, 6, 16, 24, 29, 30, 31

12/- NAM DƯƠNG (22/12 – 19/1) 

Nam Dương có khả năng thiết kế cuộc sống theo những gì bạn mong muốn. Khi hành động một cách quyết đoán, chủ động, Nam Dương sẽ tạo được những bước tiến cũng như thành quả rất lớn. Đây cũng là thời điểm tốt để dành trọng tâm vào những mục tiêu sự nghiệp, giao tiếp xã hội và các dự định khác. Trong các mối quan hệ tình cảm và gia đình, Nam Dương phải hết sức cẩn thận, tránh né các vấn đề xung đột. Tâm trạng Nam Dương có thể thay đổi nhanh chóng và cực đoan.

Thượng tuần tháng 12 sẽ đem đến những thương vụ liên doanh, hợp tác cho Nam Dương. Trong vấn đề tài chính, các mối quan hệ xã hội là vô cùng quan trọng. Vào những ngày cuối tháng, Nam Dương hãy thực hiện tất cả các giao dịch mua bán, đầu tư hay ký kết hợp đồng dài hạn vào những ngày trước đó. Điều đáng mừng là sức khỏe của Nam Dương rất tốt và bạn nên cố gắng duy trì bằng cách rèn luyện và giữ gìn để luôn có một thể trạng khoẻ mạnh

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28, 30

Ngày không may mắn: 4, 5, 11, 12, 24, 25, 31

Ngày cho tình yêu: 2, 3, 4, 5, 13, 14, 22, 23, 27, 28, 31

Ngày cho tài chính: 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 24, 25, 26, 30, 31

Quế Phượng (theo Horoscope)

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

NHÀ VĂN BÌNH NGUYÊN LỘC

NHỚ LẦN THĂM NHÀ VĂN

BÌNH NGUYÊN LỘC

– Phan Văn Giưỡng chuyển ngữ

“Bình Nguyên Lộc là nhà văn miền Nam. Ông ấy có thể cho anh chị biết quan điểm của người miền Nam”, nhà văn Nguyễn Mộng Giác nói với chúng tôi như thế khi vợ chồng chúng tôi đến Los Angeles nhân dịp lễ Giáng sinh để phỏng vấn các học giả và nhà văn (trong đó có Nguyễn Mộng Giác) cho một dự án nghiên cứu về bước đầu của tiểu thuyết Việt Nam được Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội tài trợ.

Từ ngày chúng tôi tin là những cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã được viết ra ở miền Nam, chúng tôi rất mong được gặp Bình Nguyên Lộc, một người miền Nam, một cây bút viết truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng, đồng thời cũng là một học giả chuyên về ngôn ngữ học lịch sử và so sánh.

Nhà văn Nguyễn Mộng Giác cho biết tiếp : “Bình Nguyên Lộc qua Mỹ chỉ khoảng một năm nay thôi. Ông ấy đang sống ở vùng Rancho Cordova, gần Sacramento”. Từ Los Angeles, chúng tôi gọi điện thoại cho Bình Nguyên Lộc và ông niềm nở nhận lời tiếp chuyện với chúng tôi nếu chúng tôi có thể ghé lại nhà ông trên đường trở về Arcata ở phía bắc California.

Chúng tôi đã trò chuyện với Bình Nguyên Lộc về văn học Việt Nam suốt mấy tiếng đồng hồ liền vào ngày 5 tháng Giêng năm 1987. Hôm qua, mở tạp chí Văn Học số tháng Tư, tôi biết tin là Bình Nguyên Lộc đã từ trần vào ngày 5/3/1987, thọ 72 tuổi.

oOo

Ngày 5 tháng Giêng là một ngày đẹp trời. Từ Sacramento, nơi chúng tôi nghỉ lại đêm, chúng tôi lái xe đến Rancho Cordova. Hai đứa con trai của chúng tôi, một đứa 6 và một đứa 12 tuổi, cùng đi với chúng tôi. Loay hoay một lúc, chúng tôi mới tìm ra nhà Bình Nguyên Lộc, một căn phố nhỏ với giá rẻ trên đường Sierre Madre.

Đón chúng tôi ở cửa, ông mặc chiếc áo khoác mùa đông màu nâu và choàng một chiếc khăn lông ở cổ. Ông cho biết thời tiết ở Rancho Cordova quá lạnh. Ông mời chúng tôi vào căn phòng bài trí đơn giản : một cái bàn nhỏ đầy sách báo được đặt ngay giữa phòng khách. Ông đã là một nhà văn và một học giả từ năm 1948 và trong sự cảm nhận của tôi, ông vẫn còn là một nhà văn và là một học giả.

Chúng tôi ngồi xuống chiếc trường kỷ trong lúc hai đứa con của chúng tôi chơi ở ngoài. Trông ông có vẻ yếu đuối khi cầm bình thuỷ rót trà cho chúng tôi. Vợ ông thì đang bị bệnh, nằm liệt giường trong một căn phòng khác. Chúng tôi biết là ông đến Mỹ trong ‘Chương trình Ra đi có Trật tự’ (O.D.P) chủ yếu là nhằm tìm cách chữa bệnh cho bà vợ.

Chúng tôi bắt đầu hỏi ông về những cuốn tiểu thuyết đầu tiên mà ông đã đọc được lúc còn là một đứa bé lớn lên ở vùng châu thổ sống Cửu Long giữa hai trận thế chiến.

Ông nói : “Cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên tôi đọc là một cuốn sách mà thoạt đầu cha tôi cấm không cho đọc vì cho là dâm thư, đó là cuốn Hà Hương phong nguyệt truyện của Lê Hoằng Mưu. Cuốn này được xuất bản vào khoảng năm 1917, và tôi tin đó cũng là cuốn tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên của Việt Nam. Đó là một câu chuyện tình xảy ra ở miền Nam, chẳng có gì là dâm ô cả.

Cuốn tiểu thuyết kế tiếp tôi đọc được là cuốn Chăng Cà Mum [1] của Nguyễn Chánh Sắt. Đây là câu chuyện về một cô gái Việt Nam sống gần biên giới Miên, bị bắt cóc đưa sang Miên một thời gian khá lâu trước khi được quay trở về Việt Nam, Cuốn tiểu thuyết này chưa được xuất bản nhưng đã được quảng bá rộng rãi trên tờ quảng cáo của một tiệm thuốc Bắc.

Tiểu thuyết gia kế tiếp mà tôi đọc là Hồ Biểu Chánh. Có thể tôi cũng đã đọc một số tác giả khác ngoài Lê Hoằng Mưu và Nguyễn Chánh Sắt nhưng họ không nổi tiếng mấy và tôi cũng không nhớ được.[2] Nếu tôi biết trước những gì ông bà định hỏi hôm nay thì tôi sẽ ghi lại những chi tiết này đầy đủ hơn.”

Nếu vào thập niên 20, khi còn là một đứa bé mới chín, mười tuổi lớn lên ở miền Nam Việt Nam, Bình Nguyên Lộc biết là vào năm 1987 ông sẽ ngồi ở một căn phố thuộc vùng Rancho Cordova, tiểu bang California, nói chuyện với một người Mỹ về Hà Hương phong nguyệt truyện và Chăng Cà Mum…, những lời phát biểu của ông sẽ mang tính chất châm biếm hơn là dự định.

Sau đó, khi đến thăm thư viện đại học Cornell, chúng tôi đã tìm ra Hà Hương phong nguyệt truyện – không phải in thành sách mà nằm rải rác trong các số báo Nông cổ min đàm,[3] một tờ báo ở miền Nam. Những gì Bình Nguyên Lộc kể với chúng tôi đều được kiểm chứng từ những nguồn tài liệu khác. Trí nhớ của ông về con người, tên sách và sự kiện đều rõ ràng và chính xác.

Những cuốn sách giáo khoa và lịch sử văn học – như của Dương Quảng Hàm và của Vũ Ngọc Phan – đều do những người ở miền Bắc viết. Những cuốn sách này cho rằng những tiểu thuyết đầu tiên ra đời ở miền Bắc, đó là cuốn Tố tâm của Hoàng Ngọc Phách (1925) và Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật (1925).

Mặc dù còn tuỳ thuộc vào cách hiểu thế nào là ‘tiểu thuyết’, công việc nghiên cứu của chúng tôi, ngược lại, đã chứng minh là những cuốn tiểu thuyết đầu tiên đã được viết ở miền Nam, và có lẽ Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Chánh Sắt hay Trần Chánh Chiếu xứng đáng hơn Hoàng Ngọc Phách hay Nguyễn Trọng Thuật trong danh hiệu cây bút viết tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam.

Tôi e rằng thành kiến địa phương đã dự phần vào việc thẩm định nên tôi muốn Bình Nguyên Lộc xác nhận sự nghi ngờ của tôi. Sau đó tôi nhận ra là tôi đã quá bồng bột khi chấp nhận một cách giải thích phiến diện cho một hoàn cảnh phức tạp.

Bình Nguyên Lộc cho biết mặc dù một số người miền Bắc có thái độ tương tự như người Trung Hoa, những kẻ tin rằng họ sống ở ‘Trung Quốc’ (Middle Kingdom) và chỉ có bọn man di mới sống ở phía Nam, có một số lý do khác cắt nghĩa tại sao các nhà phê bình miền Bắc không đề cập đến tác phẩm của các cây bút phía Nam.

Ông nói : “Các học giả miền Bắc như Dương Quảng Hàm đã không nhắc nhở đến các nhà tiểu thuyết miền Nam vì họ không đọc được tác phẩm của những người này chứ không phải vì họ không thích người miền Nam. Tác phẩm của người miền Nam không được bày bán ở Hà Nội cho nên họ không biết chút gì về những tác phẩm đầu tiên đã được sáng tác ở miền Nam.”

Khi cuộc phỏng vấn chấm dứt và máy ghi âm đã tắt, hai đứa con của tôi nhào vào phòng. Bình Nguyên Lộc cúi xuống Văn, đứa con trai lên sáu của chúng tôi, hỏi nó bằng một giọng tiếng Anh rõ ràng nhưng không hoàn chỉnh : “Cháu có thấy ông già Noel chưa ?” Ngay lúc ấy, tôi cảm thấy là ở vào lứa tuổi 70, ông không nên đến đây, không nên học tiếng Anh, không nên khởi sự cuộc đời trở lại.

Ông nên ở lại quê hương đầy nắng ấm của ông. Tôi hình dung cảnh ông lê bước dọc quầy hàng trong một khu siêu thị sáng choang ở Rancho Cordova, khom lưng trên chiếc xe đẩy mua hàng, run rẩy trong chiếc áo khoác, cố gắng nói một vài câu tiếng Anh mới học được với một thâu ngân viên lơ đễnh và thiếu kiên nhẫn.

Tôi không biết những người hàng xóm của Bình Nguyên Lộc tại Rancho Cordova nghĩ gì về ông. Có thể họ nghĩ ông cũng giống như bao nhiêu thuyền nhân khác, bao nhiêu người tị nạn khác. Có thể họ nghĩ ông – tác giả của trên 100 cuốn sách, trong đó có những công trình nghiên cứu uyên bác về nguồn gốc tiếng Việt – là một người mù chữ. Tôi nghĩ là ở Việt Nam, ông sẽ được quí trọng hơn. Nhưng tôi sực nhớ đến bàn viết đầy giấy tờ của ông. Tôi biết rằng từ ngày sang Mỹ, ông đã bắt đầu viết trở lại và xuất bản nhiều truyện ngắn và cảo luận trên các tạp chí văn học bằng Việt ngữ ở Hoa Kỳ và Canada.

Ngoài ra, các ấn bản mới của tác phẩm của ông đã được in ở Los Angeles. Rõ ràng là nước Mỹ đã cho ông được một cái gì đó trong suốt một năm ông sống ở đây. Nó cho ông tự do để cầm bút trở lại. Đối với một nhà văn như Bình Nguyên Lôc, món quà ấy chắc chắn không phải nhỏ.

(GS Phan Văn Giưỡng chuyển ngữ từ bài “Remembering a visit with Bình Nguyên Lộc” của John C. Schafer, đăng trên The Vietnam Forum số 13/1990)

Chú thích :

[1] Theo Nguyễn Khuê, trong cuốn Chân dung Hồ Biểu Chánh do Lửa Thiêng xuất bản tại Sài Gòn năm 1974, tr. 285, Nguyễn Chánh Sắt viết Chăng Cà Mum vào khoảng 1915 hay 1916. Tựa đề của nó thực ra là Nghĩa hiệp kỳ duyên nhưng nó lại được biết nhiều dưới tên Chăng Cà Mum là tên của nhân vật nữ người Miên trong truyện.

[2] Sau đó Bình Nguyên Lộc nhớ đến một tác giả khác và ông viết cho chúng tôi một lá thư đề ngày 6 tháng Giêng về tác giả ấy. Đó là Tân Dân Tử, theo Bình Nguyên Lộc, chuyên viết tiểu thuyết lịch sử, trong đó có cuốn Gia Long phục quốc.

[3] Thư viện đại học Cornell không có đủ bộ Nông cổ mín đàm. Có thể phần đầu của Hà Hương phong nguyệt truyện được đăng tải trên số tháng Giêng 1915. Số báo đầu tiên chúng tôi có được trong đó có đăng truyện này là số ra ngày 2 tháng Ba 1915.

Mời đọc thêm : trên “Một thời Sài Gòn” ngày 22/11/2010 : “Chút tâm tình với nhà văn  Bình Nguyên Lộc”

Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (1/3)

Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (2/3)

Nhà văn BÌNH NGUYÊN LỘC (3/3)

TRUYỆN NGẮN MÀ THÚ VỊ…

HOA HUỆ TRẮNG

Nguyễn Minh Phúc

Buổi trưa, tôi thường ra coi tiệm cho vợ về ăn cơm. Vợ chồng tôi có một tiệm nhỏ bán hoa tươi ở chợ. Gọi là tiệm cho sang, thật ra đó chỉ là một cái sạp nhỏ mấy mét vuông nằm lọt thỏm giữa khu chợ suốt ngày đông đúc và lắm tiếng ồn.

Được cái, sạp nằm ngay ngã tư con lộ chính nên khá đông khách. Và, với một thằng viết văn làng nhàng như tôi, nhờ vậy cũng sống tạm qua ngày cùng người vợ giỏi giắng và sạp bán hoa tươi đắt khách quanh năm.

Quả chính cái sạp nầy nuôi cả nhà tôi nhưng điều tôi thích hơn vẫn là hàng ngày, cứ mỗi buổi trưa ra sạp lại được nhìn ngắm thỏa thích những đóa hoa tươi thắm, đủ màu sắc khoe rực rỡ trên bước chân người qua lại. Một gian nhà đầy hoa, có loại tôi biết tên, loại không biết tên cứ như làm lòng tôi dịu hẳn lại trong cơn kiếm sống tất bật hàng ngày, trong những trang viết đầy gai góc.

Không gì làm lòng ta thanh thoát, dịu êm và lắng đọng hơn bằng hoa, hình như R. Tagore bảo vậy. Tôi tin ông thi hào Ấn Độ nầy khi nói về hoa như là một thứ tôn giáo trong đời sống. Nó cũng làm người ta mê mải, đam mê, đắm đuối tôn thờ.. Chẳng phải các loài hoa đều được đặt những nơi cao quý nhất đó sao? Chẳng phải những tình yêu thuần khiết nhất đều bắt đầu từ biểu tượng một loài hoa. Và các đôi trai gái yêu nhau. Có lời tỏ tình nào êm dịu, tuyệt vời hơn khi tặng nhau một đóa hồng hay hoa “ Xin đừng quên tôi” chớm nở.

… Nhưng thôi, tôi chỉ mơ mộng tí chút khi ngồi chễm chệ trên chiếc ghế thật cao, đảo mắt nhìn quanh xem có ai đi ngang qua mà mời mọc : “Hoa tươi đây, hoa Đà Lạt mới đem về đây… Mời anh chị ghé mua… Bảo đảm giá cả và chất lượng…” Vợ tôi bảo tôi mời khách như vậy, giọng nói phải nhẹ nhàng, từ tốn người ta mới chịu vào. Cái thằng tôi đôi khi cũng được việc. Thần sắc tôi trông tội nghiệp thế nào không biết nhưng cứ hễ ai ghé vào sạp, nghe tôi chào mời, nỉ non một hồi, không ít thì nhiều, thế nào họ cũng mua hoa giúp tôi.

Khách hàng quen thuộc nhất của tôi lại là một thằng bé. Vâng, một thằng bé đâu chừng mười bốn, mười lăm tuổi dáng lêu khêu, gương mặt hiền lành, dễ thương, hầu như trưa nào cũng đến chỗ tôi mua hoa. Nó mua không nhiều, mỗi lần một bó nhỏ giá chỉ có vài ngàn nhưng lại lựa rất kỹ, mà chỉ đặc biệt mua hoa huệ trắng. Lúc đầu, tôi cũng ngạc nhiên. Hỏi nó mua hoa làm gì, nó chỉ lắc lắc đầu không nói không rằng một câu.

Riết rồi tôi thây kệ ! Mắc gì đến tôi. Nó có tiền nó mua, tôi có hoa tôi bán. Cứ ba ngàn một bó sáu chiếc mà đếm tới. Ngữ nầy chắc mang tặng bồ, tặng bịch gì đây. Ôi, cái thằng con nít ranh hỉ mũi còn chưa sạch, mới chừng ấy tuổi chưa nứt mắt đã tí tởn làm người lớn, tôi nhủ thầm trong bụng như vậy.

Trả tiền tôi lúc nào cũng là những tờ giấy bạc nhàu nát như bộ đồ thằng bé đang mặc. Nó đến và đi lặng lẽ, đôi mắt đen mở to lấp lánh niềm vui và bước đi như chạy lẫn vào trong khu phố đông người. Tôi cứ băn khoăn tự hỏi không biết nó làm gì, mua hoa tặng ai… Thi thoảng, có vài cánh hoa đẹp còn dôi ra trong chậu, tôi nhã ý tặng nhưng nó nhất định không lấy. Buổi trưa, dù trời nắng hay mưa, cứ như đến giờ hẹn, nó lại đến tôi mua hoa huệ trắng với những đồng tiền nhàu nát rồi bươn bả bước đi không nói một lời nào…

oOo

… Bẳng đi một thời gian khá lâu, tôi không gặp thằng bé. Vợ tôi lúc nầy bán hoa luôn vào buổi trưa nên tôi không phải trông chừng sạp. Tôi có hỏi về thằng bé mua hoa huệ trắng thì cô ấy lắc đầu quầy quậy:

– Thằng bé nào thế, sao em không biết ? Mà trăm người bán vạn người mua, hơi đâu để ý. Nó mua hoa làm gì ? Hay là nó lại gạ ông rồi ăn cắp hoa đấy! Trẻ con bây giờ táo tợn lắm…

Tôi không biết nói gì thêm và quên bẵng chuyện mua hoa huệ trắng. Mãi cho đến một hôm, tôi nhớ là chiều thứ bảy, sẵn mới lãnh tiền nhuận bút, tôi hào phóng dẫn vợ con đi ăn tiệm. Quán đông nghịt người. Tôi đang cắm cúi ăn thì một giọng trẻ con rụt rè phát ra từ sau lưng :

– Cháu… Cháu mời chú đánh giày…

– Không ! Tôi lạnh lùng đáp.

– Chú làm ơn ! Từ sáng giờ cháu chưa đánh được đôi giày nào ! Tiếng thằng bé khẩn khoản.

– Đã bảo là không mà, Tôi gắt.

Tôi bực mình ngoái nhìn lại và chợt nhận ra thằng bé. Cặp mắt lóng lánh thơ ngây và gương mặt dễ thương kia thì không lẫn vào đâu được nhưng nụ cười hạnh phúc mỗi lần mua hoa của tôi thì biến đâu mất. Nhường lại là gương mặt buồn thiu như chực khóc…

– Cháu có phải là thằng bé vẫn thường mua hoa của chú ! Tôi hấp tấp hỏi mà lòng xốn xang.

– Dạ.. Là cháu. Thằng bé lí nhí.

– Thì ra… cháu làm nghề đánh giày ! Mà sao lâu lắm chú không thấy cháu đến mua hoa ! Tôi hỏi.

– Dạ…Thằng bé ngập ngừng hồi lâu mới trả lời. Dạo nầy cháu đánh giày ế quá chú ạ ! Có khi cơm còn không đủ ăn !

Miếng đồ ăn trên miệng tôi bỗng đắng ngắt. Tôi nghẹn như không nuốt nổi, thương cảm nhìn thằng bé gầy rộp đi so với lần đầu tôi gặp. Tôi nhìn kỹ nó. Vẫn bộ đồ cũ nát, nhiều chỗ rách hơn và nước da nhợt nhạt chắc vì thiếu ăn thiếu ngủ. Nhìn các con tôi đang nô đùa, vui vẻ tíu tít trò chuyện quanh bàn ăn thừa mứa, bất giác tôi thấy chạnh lòng.

– Thế ba mẹ cháu đâu ? Tôi hỏi.

Như chạm vào nỗi đau nào đó,thằng bé không trả lời, cặp môi mím chặt lại. Mắt nó ngân ngấn nước. và chẳng nói thêm một câu nào, thằng bé lửng thửng ôm thùng đánh giày bước đi trước khi tôi kịp kêu nó lại. Buổi ăn tiệm của tôi xem như đã hỏng. Trên đường về, tôi cứ ân hận là không kịp hỏi chỗ ở của nó để may ra, tôi còn gặp lại nó, ít ra cũng giúp được nó tí gì. Nhưng tôi chắc rằng, điều ấy thằng bé cũng chẳng nói ra đâu…

oOo

Lúc nầy, cửa hàng bán hoa của vợ tôi ế ẩm. Tôi bỏ ngang công việc viết lách buổi trưa ra trông chừng cửa hàng. Với lại, tôi cũng có ý đợi thằng bé với nỗi cồn cào khôn tả. Bao nhiêu câu hỏi trong đầu của tôi về thằng bé chưa giải đáp được. Nó con nhà ai, ở đâu ? Sao nó lại cứ để dành mua hoa với đồng tiền đánh giày ít ỏi ? Tôi chỉ biết chắc một điều tiền nó dành dụm mua hoa là những đồng bạc lẻ nhàu nát.

Ở đâu ra nếu không phải là tiền của nó chắt chiu từ những lần đánh giày hiếm hoi trong ngày? Và câu hỏi lởn vởn nhiều nhất trong đầu tôi là nó mua hoa để làm gì trong khi nó phải nhịn ăn, nhịn mặc… Nó xuất hiện trước tôi như những điều bí ẩn mà cho dù có cố cách nào, tôi cũng không giải đáp nổi…

Ơn trời, trưa nay tôi lại gặp nó. Cũng cái dáng lêu khêu, nước da đen sạm và đôi mắt long lanh và trên người là bộ đồ rách rưới. Trên tay cầm chiếc hộp đánh giày, nó xăm xăm tiến về cửa hàng, moi ra những đồng tiền cũ nát và chìa ra cho tôi:

– Chú bán cho cháu bó hoa huệ trắng như mọi lần. Nó nói, mắt ngời hạnh phúc.

Lần nầy thì tôi không hỏi nó nữa. Tôi đã có cách của mình để khám phá bí mật của thằng bé. Lựa hoa cho nó xong, tôi lặng lẽ kín đáo nhìn nó. Đôi mắt nó như nở bừng lên với niềm vui vô hạn. Sau tiếng cám ơn ngắn ngủi, thằng bé tung tăng bước lẫn vào giữa đám đông với bó hoa trên tay đung đưa trước mặt.

Tôi nhanh nhẹn rảo bước theo thằng bé. Chút nữa thì tôi mất hút nó trong đám đông khu chợ. Nó bước đi như chạy mà không hề hay rằng tôi đang hấp tấp theo sau. Một ngã quặt, rồi một ngã tư, tiếp đến là đường ra ngoại ô. Nó ra đây làm gì nhỉ ? Trời đang chuyển cơn mưa lớn… Mặc ! Tôi cứ đi theo nó mà trong lòng ngổn ngang bao nhiêu là câu hỏi…

Cái nghĩa trang thành phố hiện ra trước mắt tôi. Thằng bé vẫn xăm xăm tiến bước như đã quá quen các đường ngang ngõ tắt quanh các ngôi mộ. Mưa đã bắt đầu rơi. Sau một hồi quanh quất, nó đứng trước một ngôi mộ thấp lè tè cỏ mới lên xanh. Tôi đứng nấp sau chiếc mộ lớn, tò mò xem nó sẽ làm gì.

Nó đứng đấy, trước ngôi mộ không bia kia, nghiêm trang, thành kính, mắt ngời hạnh phúc, miệng mấp máy như khấn nguyện điều gì.. Mưa rơi mỗi lúc một nặng hạt. Nó cứ đứng như thế, co ro trong chiếc áo cũ mỏng manh, rách nát với bó hoa huệ trắng, run rẩy cầm trên bàn tay gầy guộc đặt bó hoa tươi trước ngôi mộ thấp bé, cỏ đã ướt đẫm nước mưa.

Không thể chờ lâu hơn, tôi bước gần đến nó. Thằng bé như không hề biết đến sự hiện diện của tôi, hai chân quỳ trước mộ và tôi nghe nó nói tiếng được, tiếng mất giữa màn mưa :

– Con lại đến thăm mẹ đây, mẹ ơi ! Con mang cho mẹ những đóa huệ trắng mà mẹ rất thích khi còn sống ! Xin mẹ phù hộ cho con trong cuộc đời nầy… Con nhớ mẹ lắm…. Mẹ ơi…

Tôi lặng người nhìn thằng bé. Nó vụt lớn lên trong tôi, cao sang, thanh khiết như những bông huệ trắng khẽ rung lên, tuyệt đẹp, tinh tuyền. Mưa xối xả rơi trong nghĩa trang mà lòng tôi cứ ấm áp đến lạ kỳ. Những đóa huệ trắng như sáng rực lên giữa màn mưa đen kịt . (theo Nguyễn Minh Phúc)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

CHUYỆN TÌNH “LÁ DIÊU BÔNG”

DƯƠNG THIỆU TƯỚC MĨM CƯỜI

TRONG BÓNG CHIỀU XƯA

Tác giả của những ca khúc nổi tiếng của thời kỳ đầu tân nhạc Việt Nam: “Ngọc Lan”, “Bóng chiều xưa”, “Đêm tàn bến Ngự”… đã viết ra những cảm xúc Việt bằng âm điệu phương Tây để có được những bài ca hấp dẫn, đi cùng năm tháng

Có lẽ, Dương Thiệu Tước là một trong những nhạc sĩ thuở bình minh tân nhạc có cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo khá khác biệt.

Xuất thân dòng dõi quý tộc

Dương Thiệu Tước sinh ngày 15/5/1915 ở làng Vân Đình, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình nho học truyền thống. Ông nội ông là nhà nho Dương Khuê, tự Vân Trì, đỗ tiến sĩ năm 1868, làm quan đến Định Ninh Tổng Đốc, Thượng thư tham tán Nha Kinh Lược Bắc Kỳ, là bạn đồng khoa thân thiết với Yên Đỗ Nguyễn Khuyến.

Dương Khuê nổi tiếng với những bài văn ca trù phần nhiều viết về những mối tình gặp gỡ các cô đào trong hoàn cảnh éo le. Những tác phẩm này được thu thập vào cuốn “Vân Trì thi lục”. Ông trẻ (em ruột ông nội) Dương Lâm tự là Thu Nguyên, Mộng Thạch, hiệu là Quất Đình, Quất Tẩu đỗ Trạng nguyên năm 1878, làm quan đến Thượng thư Hiệp biện đại học sĩ, tước Thiếu Bảo.

Tác phẩm của ông được ghi lại trong “Vân Đình thi văn tập”. Cha thân sinh Dương Thiệu Tước là ông Dương Tự Nhu làm bố chính tỉnh Hưng Yên. Dương Thiệu Tước lại mê đàn từ bé. Bảy tuổi đã học đàn nguyệt rồi đàn tranh và cổ nhạc. Mười bốn tuổi đã học piano của giáo sư người Pháp tại Viễn Đông Âm nhạc Viện và học guitar cổ điển cùng các tiết tấu dancing.

Và nghiệp cầm ca đã đưa ông đến việc cùng các bạn như Thẩm Oánh, Vũ Khánh, Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Trần Dzư, Phạm Văn Nhường… lập ra nhóm âm nhạc Myosotis (Hoa lưu ly). Ông cùng nhóm đã cho xuất bản những nhạc phẩm đầu tiên của nhóm như “Đồi Oanh vàng”, “Hoa tàn”, “Phút vui xưa”… cùng những bản soạn cho guitar Hawaienne như “Joie d’aimer”, “Son ven-ance”, “Tondouxsourise” vào cuối năm 1938.

Cũng trong năm ấy, vào tháng 9, “Myosotis” đã có buổi trình diễn trước đông đảo công chúng tại rạp Olenpia (nay là rạp Hồng Hà đối diện chợ Hàng Da – số 51 Đường Thành, Hà Nội) những nhạc phẩm của Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước được thanh niên mến mộ, náo nức xin văn bản để tập đàn ca. Nhóm thường xuyên được Hội Ánh Sáng của Tự Lực Văn Đoàn mời biểu diễn.

Gửi hồn dân tộc trên âm điệu phương Tây

Khi bắt đầu sáng tác, Dương Thiệu Tước có chủ trương soạn nhạc theo âm điệu Tây phương. Ông nghĩ nếu đã có nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam viết tác phẩm bằng tiếng Pháp thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng rất có thể viết được những bản nhạc có âm điệu phương Tây.

Và cứ thế, từ ông đã tuôn trào ra những “Tâm hồn anh tìm em”, “Một ngày mà thôi”, “Ngọc Lan”, “Bóng chiều xưa”, “Ôi quê xưa”… chịu ảnh hưởng nhạc nhẹ cổ điển phương Tây. Nhưng dù có quan niệm như thế, Dương Thiệu Tước vẫn cho rằng khi ông đã là người Việt Nam thì những gì ông viết ra là đã mang hồn vía dân tộc Việt Nam rồi. Điều ấy cũng thể hiện rõ khi ông viết “Tiếng xưa”, “Chiều” (phổ thơ Hồ Dzếnh) và vượt lên hơn cả là đã sử dụng rất tinh tường ca Huế vào “Đêm tàn bến Ngự”.

Từ cảm xúc với nữ ca sĩ Minh Trang đẹp đến nao lòng, Dương Thiệu Tước đã thả hồn vào những luyến láy “rất Huế”, những biến phách, những đảo phách dìu dặt của nhạc cung đình và lời ca như nhập với giai điệu : “Nam Bình sầu than, như nức nở khóc duyên bẽ bàng…” hay “Thuyền mơ trong khúc Nam ai – Đàn khuya trên sóng ngân dài…” man mác đượm buồn như bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” của Văn Cao.

Giống như Phạm Văn Ký, Phạm Duy Khiêm trong văn chương hay Nguyễn Văn Huyên trong nghiên cứu, Dương Thiệu Tước là nhạc sĩ viết ra những cảm xúc Việt bằng “ngữ pháp Tây” nhưng lòng trắc ẩn về một bản sắc dân tộc vẫn giúp cho ông biến những giáo huấn khô khan “Ơn nghĩa sinh thành” thành một bài ca hấp dẫn, biến những hồn nhiên thơ ngây thành những đồng dao đầy chất Việt như “Nhạc ngày xanh”, “Dưới nắng hồng”…

Nhân nhắc đến Nguyễn Văn Huyên, điều không ngờ là cả hai ông đều đem lòng yêu một thiếu nữ Hà Nội kiều diễm là con Tổng đốc Vi Văn Định – bà Vi Kim Ngọc. Khi Nguyễn Văn Huyên còn học ở Pháp, Dương Thiệu Tước đã đem lòng yêu thiếu nữ này. Song duyên đời lại không cho hai người se lại. Khi Nguyễn Văn Huyên về nước và gặp duyên với nàng, Dương Thiệu Tước mới lấy bà Lương Thị Thuần. Nhưng mối tơ duyên thì còn vấn vương. Đó là cảm hứng để ông viết “Ngọc Lan”.

Cái nhìn riêng về chiến tranh

Chiến tranh bùng nổ, Dương Thiệu Tước vẫn ở Hà Nội theo đuổi sự nghiệp sáng tác của mình. Ông từng khẳng định “Âm nhạc cải cách đã trỗi dậy và đã gieo vào tâm hồn ta những ý niệm tươi đẹp của một nền âm nhạc Việt Nam tương lai, cái ảnh hưởng mãnh liệt sâu xa của nó đan xen với mạch sống hằng ngày của mỗi người”.

 Dương Thiệu Tước có cái nhìn riêng của mình về chiến tranh qua “Ôi quê xưa”: “Rồi một chiều thu – Tôi về chốn xưa – Nhìn cảnh làng quê – Vết tro tàn đìu hiu gió sương – Nhìn mái nhà xác xơ – Mơ chốn đây năm nào – Chiều chiều bao người hẹn nhau – Đến bên nhịp cầu…” Ông cứ cảm nhận cuộc đời tha thiết và sang trọng trong tình yêu.

Tính đến năm 1953, Nhà Xuất bản Tinh Hoa đã thống kê ra đến 41 ca khúc ông viết từ thuở bình minh tân nhạc Việt Nam đến thời điểm đó. Sau Hiệp định Genève, ông vào Sài Gòn. Ở đây, những ca khúc của ông vẫn tiếp tục được tái ấn hành và được Thái Thanh, Minh Trang và cô con gái Quỳnh Giao trình diễn nhiều năm tháng.

Ông hướng về giáo dục âm nhạc là chủ yếu. Bởi vậy, sau ngày 30/4/1975, ông vẫn được trọng dụng để giảng dạy ở Nhạc viện Sài Gòn bằng một cuộc sống đạm bạc trong căn nhà có chái bếp lợp lá ở giữa con hẻm gần chùa Hành Thiên. Ông tạ thế ngày 1/8/1995, khi ấy ca khúc Dương Thiệu Tước đã được hát khắp nơi. Trong chương trình “Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam” hồi cuối Xuân 1994, “Ngọc Lan” đã vang lên qua giọng hát Thu Hà.

– Những tình khúc bất hủ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1:20’)

https://youtu.be/RrM6X-yvcss

Những Tình Khúc Bất Hủ Của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước : Mai Hương,Khánh ly, Hương Lan, Thái Thanh

Danh Sách Bìa Hát : 1/. Bóng Chiều – Mai Hương 2/. Chiều – Mai Hương 3/. Tiếng Xưa – Mai Hương 4/. Bóng Chiều Xưa – Khánh Ly 5/. Đêm Tàn Bến Ngự – Mai Hương 6/. Khúc Nhạc Dưới Trăng – Mai Hương 7/. Kiếp Hoa – Mai Hương 8/. Ngọc Lan – Mai Hương 9/. Thuyền Mơ – Mai Hương 10/. Áng Mây Chiều – Mai Hương 11/. Cánh Buồm Lướt Gió 12/. Đêm Ngắn Tình Dài – Thái Thanh 13/. Bến Xuân Xanh – Mai Hương 14/. Ơn Nghỉa Sinh Thành – Hương Lan 15/. Vườn Xuân Thắm Tươi – Mai Hương

LÁ DIÊU BÔNG,

MỘT TÌNH YÊU THÁNH HÓA

– Trần Việt Long

– Chuyện tình lá diêu bông – Thu Hiền

https://youtu.be/hgZgh8sGr8I

– Sao em nở vội lấy chồng , Tuấn Vũ

https://youtu.be/RBaF6mN0NDg

Lá Diêu Bông không hiện hữu trên trái đất này thì làm sao ai mà tìm thấy được và như thế thì chẳng khác nào người đẹp gieo cầu trong gió lớn, làm lỡ duyên người con gái thơ ngây ! Tôi viết vài dòng về Lá Diêu Bông vì thấy lyric và nhạc của Trần Tiến mang tính mẫn cảm thật đẹp về tình yêu hơn lyrics và nhạc của Phạm Duy về cùng một bài thơ, Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm.

Thật vậy, câu chuyện tình Lá Diêu Bông là có thật cho dầu Lá Diêu Bông là một loại cỏ cây huyền thoại mang tính platonic. Năm 8 tuổi, cậu bé học trò Bùi Tằng Việt (sinh năm 1921) từ nơi trọ học trở về nhà ở Bắc Ninh thì tình cờ cậu gặp một thiếu nữ hàng xóm 16 tuổi tên Vinh, cậu fell in love immediately. Rung cảm trước tình cảm thiết tha thật dễ thương đó nơi một cậu em thật bé, tâm hồn người thiếu nữ đã khởi lên một tình yêu thăng hoa đầy thánh hóa.

Nhưng rồi mùa Xuân có giới hạn thời gian, người thanh nữ phải xuất giá ở tuổi 20 khi nhà thơ tương lai Hoàng Cầm của chúng ta mới tròn 12 tuổi. Chôn chặt hình ảnh lãng mạn đầu đời đó mãi đến năm 1959 thì bài thơ “Lá Diêu Bông” mới ra đời. Cần phân biệt ở đây bài thơ của Hoàng Cầm với bản nhạc cùng tên do Phạm Duy sáng tác trong thập niên 1980s. Bài thơ nguyên tác như sau :

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều,

Cuống rạ.

Chị bảo:

Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng.

Hai ngày em tìm thấy lá

Chị chau mày: Đâu phải Lá Diêu Bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu,

Trông nắng vãng bên sông.

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xoè tay phủ mặt, chị không nhìn.

Từ thuở ấy

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể.

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời… ới Diêu Bông !

Qua kinh nghiệm cuộc đời, chúng ta biết cả hai, cô Vinh và cậu bé Việt, đã tha thiết yêu nhau trong ý nghĩa thánh thiện nhất của tình yêu. Ở đây tình thơ và tình yêu đã quyện lẫn vào nhau nhưng vẫn ở ngoài tình ái. Biết tình cảm lãng mạn của mình không có lối thoát nên cô Vinh đã đưa ra một thách đố không thể thực hiện được cho cậu bé Việt.

Cô Vinh biết rằng làm gì có Lá Diêu Bông trên thực tế nhưng cậu bé Việt thì quyết tâm đi tìm trong cả cuộc đời mình như là một sự đi tìm cái “bản lai diện mục” của Tình Yêu viết hoa vậy. Đấy là “the Soul of World”“when you want something with all your heart, that’s when you are closest to the Soul of World . It’s always a positive force.” [The Alchemist, p. 78].

Khi một người tha thiết yêu ai đó thì tình yêu đó là một nguồn cảm hứng dạt dào thúc đẩy người ấy sáng tác những vần thơ tuyệt diệu mà sức tuôn trào của lời thơ như một dòng thác chảy vô bờ.

Tôi rất ngưỡng mộ khả năng diễn đạt ngôn ngữ qua lời nhạc của Phạm Duy nhưng lyric Lá Diêu Bông của ông thì dường như ông chưa nhận ra được tình yêu chân thành của cô Vinh dành trọn vẹn cho cậu bé Việt khi ông đem chữ “tao” gắn vào ngôn ngữ trữ tình của cô Vinh thay cho chữ “ta” nguyên khởi của chính cô, “Đứa nào tìm được lá diêu bông / Từ nay tao sẽ gọi là chồng.” “Ta / ngươi” là ngôn ngữ tình yêu được xử dụng bình đẳng giữa nam và nữ khi tình cảm của họ đã “tế ngộ” mà quan hệ xã hội chưa đủ chín mùi để chuyển sang “anh / em.”

Và cuộc hành trình đi tìm Lá Diêu Bông vẫn tiếp tục nơi Hoàng Cầm cho dầu đang tìm ở cõi vĩnh hằng chứ không phải nói như Phạm Duy, “Em đi trăm núi nghìn sông / Nào tìm thấy lá Diêu Bông bao giờ …”.

– Lá Diêu Bông – thơ Hoàng Cầm – nhạc Phạm Duy – trình bày : Ý Lan

https://youtu.be/7rhyRDaZHVo

Nhạc của Phạm Duy hay hơn nhưng tương đối khó hát trong khi nhạc của Trần Tiến rất gần gũi dân ca và dễ hát hơn, và lyric của Trần Tiến thì trung thành với cảm quan của cô Vinh và cậu bé Việt hơn; ngoài ra Trần Tiến lại thêm vào vài lời thật dễ thương mà có người con gái đã trả lời tôi khi tôi hỏi về chồng con của nàng sau nhiều năm mới gặp lại,

“Lấy chồng sớm làm gì /để lời ru thêm buồn !” Thật ra cô em này cũng “ăn gian” tôi khi cô chỉ trích ra một dòng để trả lời câu hỏi của tôi, trong khi lyric của Trần Tiến là lời than của Hoàng Cầm đối với cô Vinh khi cô Vinh đi lấy chồng:

Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn

Ru em thời thiếu nữ xa xôi

Còn đâu bao đêm trăng thanh

Tát gàu sòng, vui bên anh.

Để hiểu bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm thì không thể không nói phớt qua về ý nghĩa của các chữ “váy Đình Bảng” và “buông chùng cửa võng” được .

Váy : Từ trước khi quân nhà Minh chiếm đóng Việt Nam thì đàn bà người Việt mặc váy. Váy giống như skirt của Mỹ và jupe của Pháp :

Vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu,

Bên ta thì có, bên Tàu thì không.

Đến đầu thế kỷ thứ 15 khoảng sau năm 1415 thì nhà Minh bắt buộc đàn bà Việt phải mặc áo ngắn và quần dài như người Tàu. Hơn 250 năm sau thì Nhà Lê cấm đàn bà mặc quần áo như Tàu mà phải mặc váy theo truyền thống văn hóa dân tộc.

Đến khoảng năm 1750 thì Chúa Nguyễn thấy người Chiêm ăn mặc kín đáo hơn nên bắt buộc đàn bà người Việt phải mặc quần như người Tàu. Đến đời Vua Minh Mạng thì nhà vua buộc đàn bà cả nước phải mặc quần như đàn bà Đàng Trong nhưng lệnh này không được thi hành triệt để ở Đàng Ngoài, nhất là vùng thôn quê.

Tháng chín có chiếu vua ra:

Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.

Đình Bảng : Làng Đình Bảng nguyên là đất cố đô Hoa Lư, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đình Bảng là nơi nổi tiếng về con gái đẹp, vãi lĩnh và lụa tốt, và có nhiều thợ may khéo, nhất là may váy phụ nữ. Về con gái đẹp thì Đình Bảng cũng như Nha Mân của Miền Nam hay Kim Long của Huế.

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân ?

Kim Long con gái mỹ miều

Trẫm yêu trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi

Nhưng xin các cô gái Miền Nam và Miền Trung đừng giận tôi nhe vì tôi phải thành thật nói rằng cả Nha Mân và Kim Long đều không thể nào sánh được nét thướt tha duyên dáng của người con gái Đình Bảng trong chiếc váy lĩnh, váy lụa thật mượt mà và sang quý khi họ làm như vô tình “buông chùng” đến mắt cá chân với các nếp gấp phía trước (phụ nữ) hay hai bên (thiếu nữ) lượn hình lưỡi trai (con trai, con hến) như những gợn sóng nhấp nhô nho nhỏ để tha hồ cho các chàng trai giàu tưởng tượng mến yêu.

Cửa võng : hay còn gọi là “bao lam” là hình ảnh của “rèm vắn lên hai bên” như chúng ta cột màn cửa sổ sát hai bên thành đố cửa sổ. Vải rèm hay màn dồn lại và rũ xuống hai bên. Trên một bức hoành phi thì cửa võng là phần trang trí sơn son thếp vàng làm khung phía trên của bức hoành phi mà phía dưới thì “để trống” không trang trí.

Câu thơ này là câu thơ nói lên đại ý của cả bài thơ. Một cậu bé 8-9 tuổi lững thửng theo sau một cô gái 16-17 tuổi đang thẩn thơ (chứ không phải thẩn thờ) đi tìm trên đồng ruộng vừa gặt lúa xong chỉ còn trơ cuống rạ trong một buổi chiều để đi tìm cái chân nguyên thơ mộng mà trong tâm tư thầm kín nhất, sâu thẳm nhất của nàng là cái mộng mơ đầu đời không diễn đạt thành lời.

Đấy là cái tinh hoa của tình yêu nam nữ mơ hồ được thăng hoa từ sự phát triển thể chất tròn đầy một cách tự nhiên và không gợn một tí gì về dục tính. Và đấy là cái mà nàng đi tìm suốt cuộc đời một khi nàng đã trưởng thành và biết tên gọi rõ ràng cái tinh hoa đó là Hạnh Phúc ! Hình ảnh đầu tiên gây ấn tượng nhất về cô gái đối với cậu bé là chiếc váy của nàng (cậu bé thấp quá so với cô gái !).

Cái váy của người phụ nữ lớn tuổi và vất vã thì rất đơn giản, chỉ là một cuộn vải may khép kín, tròng vào qua hai chân, và có giây thắt lưng ở phần trên, nhưng chiếc váy của các phụ nữ giàu sang hay các cô gái mới lớn thì ngoài “cái thúng mà thủng hai đầu” đó thì vạt vải còn rộng dung hơn sự cần thiết dùng để tạo dáng thướt tha bằng cách làm nên những nếp gấp cân đối ở hai bên như hình ảnh cửa võng hay bao lam vậy.

Điều bi thảm của con người là cô gái mãi đi tìm trong suốt cuộc đời nàng nhưng cái tinh hoa của tình yêu mang tên là Hạnh Phúc đó vẫn xa xôi biền biệt vì rằng,

Hai ngày em tìm thấy lá

Chị chau mày : Đâu phải Lá Diêu Bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu ,

Trông nắng vãng bên sông.

rồi

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.

cuối cùng

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xoè tay phủ mặt, chị không nhìn.

Tâm trạng người con gái đi từ “chau mày, lắc đầu, cười” lơ đãng đến nỗi buồn vô vọng “xòe tay phủ mặt, chị không nhìn” vì không thể nào tìm được Hạnh Phúc của Tình Yêu. (theo Trần Việt Long)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

CA KHÚC TRƯNG VƯƠNG

KHUNG CỬA MÙA THU

(nhạc ngoại quốc- lời Việt : Nam Lộc)

Vào khoảng giữa thập niên 1960, phong trào Nhạc Trẻ Việt Nam phát triển một cách mạnh mẽ, với những tên tuổi được giới trẻ yêu mến như Elvis Phương, Thanh Lan, Billy Shane, Đức Huy, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Thuý Anh… Họ nổi danh với các bản nhạc ngoại quốc hát bằng lời Pháp và Anh. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ 1968, càng khuyến khích số người hát nhạc Mỹ nhiều hơn. Trước sự phát triển mạnh của các ca khúc ngoại quốc nổi tiếng, các nhạc sĩ Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang, Trường Kỳ, vv… đã đặt lời Việt cho nhạc ngoại quốc, để kéo giới trẻ đến với phong trào “Việt hoá nhạc trẻ”.

Một trong những tên tuổi tiêu biểu trong phong trào ấy mà chúng tôi muốn nhắc đến là nhạc sĩ Nam Lộc. Ông đã đặt lời Việt cho rất nhiều ca khúc ngoại quốc được công chúng đón nhận một cách sâu rộng. Nhiều người cứ ngỡ bài hát đó là những thuần tuý nhạc Việt Nam, như Mùa Thu Lá bay, Mây lang Thang, Chỉ Là Giấc Mơ Qua….

Trong số những ca khúc được nhạc sĩ Nam Lộc đặt lời Việt, có một bài hát nói về câu chuyện tình kết cục bi thảm nổi tiếng của tuổi thanh thiếu niên Mỹ vào năm 1960 là bài “Tell Laura I love her”. Nam Lộc đã chuyển lời Việt thành nhạc khúc học trò thơ mộng lãng mạn “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”.

Trưng Vương là tên của ngôi trường nữ trung học danh tiếng trước năm 1975 tại Sài Gòn. Bài hát “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” trước năm 1975 được thâu âm đầu tiên bởi ca sĩ Thanh Lan – Tiếng hát học trò của Sài Gòn một thời kỷ niệm. Bài hát đã nhanh chóng trở thành Top Hits trong giới sinh viên học sinh.

Sau năm 1975, ở hải ngoại có rất nhiều ca sĩ thâu âm lại ca khúc này như Ngọc Lan, Kiều Nga, Như Quỳnh… Nữ ca sĩ Thuý Vi trình bày bài hát này trong chương trình Asia video thu hình lần đầu tiên tại Las Vegas với chủ đề ĐÊM SÀI GÒN 1, đã để lại trong lòng người yêu nhạc những hình ảnh khó quên với giọng ca, với tà áo dài trắng và gia điệu Rumba dập dìu của Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu…

Hãy cùng nghe lại để nhớ về khung trời của sân trường ngày cũ….

– Trưng Vương khung cửa mùa Thu – Ngoc Lan

https://youtu.be/kGYCPH0dNsI

– Trưng Vương khung cửa mùa Thu – Thanh Lan

https://youtu.be/i3ZXI-NNC-s

Lan Hương chuyển tiếp

“TÂY DU KÝ” THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ

“TÂY DU KÝ” ĐƯỢC COI LÀ

THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ ?

Nếu như hơn 30 năm trước, bộ phim “Tây Du Ký” của đạo diễn Dương Khiết đã đưa người xem đến với hành trình thỉnh kinh cùng những cảnh trảm yêu bắt quái ly kỳ; thì ngày hôm nay, những phân cảnh “Tây Du Ký” trên sân khấu của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận lại mở ra trước mắt chúng ta một thế giới thần thoại chân thực đến ngỡ ngàng.

Những tiết mục biểu diễn sâu sắc và thấm đẫm nhân văn ấy đã làm chấn động lòng người. Khi tấm màn hạ xuống, người ta lại tự hỏi : “Tây Du Ký” rốt cuộc là tác phẩm thế nào ? Trong kho tàng văn hóa Thần truyền, vì sao “Tây Du Ký” có vị trí quan trọng đến như vậy ? Chúng ta hãy cùng trở lại với nguyên tác của Ngô Thừa Ân để tìm hiểu, điều gì đã làm nên một thiên cổ kỳ thư vĩ đại nhường ấy?

“Tây Du” kỳ thư

“Tây Du Ký” được Ngô Thừa Ân viết vào giữa thời kỳ nhà Minh trong thế kỷ 16. Tác phẩm kể về hành trình của bốn thầy trò Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh cầu Phật Pháp.

Đường Tăng là một nhân vật có thật trong lịch sử. Ông họ Trần, tên Y, pháp danh là Huyền Trang, vốn là người ở huyện Câu Thị, Lạc Châu (ngày nay là Yến Sư, tỉnh Hà Nam). Huyền Trang sinh ra vào năm thứ hai niên hiệu Nhân Thọ, thời Tùy Văn Đế (năm 602), lên 11 tuổi thì xuất gia. Từ nhỏ Huyền Trang đã nổi tiếng là thông minh đĩnh ngộ, tư chất siêu phàm, trở thành tăng nhân nổi tiếng khắp kinh thành khi đó.

Vì Phật Pháp lưu truyền tại Trung Thổ thời bấy giờ còn có nhiều chỗ không rõ ràng, nên vào năm thứ 3 niên hiệu Trinh Quán (năm 629), Huyền Trang đã từ kinh đô Trường An nhà Đường sang Tây Thiên thỉnh kinh. Suốt dọc đường ông đã đi qua Tân Cương, Trung Á, trải qua 17 năm ròng rã, trèo đèo lội suối hơn 5 vạn dặm đường. Cho tới năm thứ 19 niên hiệu Trinh Quán (năm 645), ông đã về đến Trường An, mang theo 657 bộ kinh Phật tiếng Phạn.

Sau đó ông lại tổ chức phiên dịch kinh sách, dịch ra 75 bộ Kinh, Luận, tổng cộng là 1335 quyển. Huyền Trang đã trở thành nhà Phật học, nhà phiên dịch, nhà lữ hành đầu tiên trong lịch sử có cống hiến đặc biệt trong việc lưu truyền Phật Pháp vào phương Đông.

Từ sau đời nhà Đường, câu chuyện Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh được lưu truyền rộng rãi, dần dần trở thành truyền kỳ nửa thực nửa hư, phong phú ly kỳ. “Tây Du Ký” dựa trên câu chuyện Đường Tăng cầu Pháp, rồi thêm vào đó các tình tiết huyền ảo, mang màu sắc thần tiên. Khi tác phẩm vừa mới ra đời, Đường Tăng, Ngộ Không, Bát Giới, và Sa Tăng đã trở thành những nhân vật nhà nhà đều biết, người người đều hay.

Những câu chuyện như “Đại náo thiên cung”, “Ba lần đánh Bạch Cốt Tinh”, “Ba lần mượn quạt Ba Tiêu”, “Tây Lương nữ quốc”, v.v. đã trở thành bộ phận độc đáo hấp dẫn lòng người của văn hóa Trung Hoa.

Duyên khởi lấy kinh

Trong “Tây Du Ký”, cuộc thỉnh Kinh bắt đầu từ một niệm phổ độ chúng sinh của Phật Đà. Đức Phật Như Lai nói : “Ta xem trong bốn đại bộ châu, chúng sinh thiện ác có khác nhau. (…) Duy có người Nam Thiệm Bộ Châu tham dâm gây họa, hay giết hay tranh, chính là nơi đánh nhau cãi cọ, bể ác thị phi”.

Sau đó, Đức Phật muốn tìm người có pháp lực sang phương Đông chọn lấy một thiện tín, bảo người ấy chịu đựng gian khổ, vượt qua muôn núi nghìn sông, đến đất Phật cầu lấy chân kinh để lưu truyền sang phương Đông mãi mãi, khuyến hóa chúng sinh. Quan Âm Bồ Tát lĩnh mệnh, quả nhiên đã tìm được thầy trò năm người, trải qua chín chín tám mươi mốt kiếp nạn, cuối cùng đã lấy được chân kinh, năm người đồng thời cũng tu thành chính quả.

Nói đến thầy trò Đường Tăng, mỗi người đều có lai lịch đặc biệt. Đường Tăng vốn là Kim Thiền Tử, là đồ đệ thứ hai của Như Lai Phật Tổ. Vì khinh mạn Phật Pháp mà bị giáng xuống hạ giới, thác sinh thành Đường Huyền Trang.

Tôn Ngộ Không vốn là khỉ đá trong Thủy Liêm động trên núi Hoa Quả Sơn. Bởi nhận thấy sinh mệnh vô thường, Ngộ Không đến Tây Ngưu Hạ Châu tìm học thuật trường sinh, học được 72 phép thần thông biến hóa và thuật cân đẩu vân. Về sau bởi tâm tranh đấu không bỏ, đại náo thiên cung, Ngộ Không bị Như Lai Phật Tổ đè xuống núi Ngũ Hành suốt 500 năm.

Trư Bát Giới nguyên là Thiên Bồng Nguyên Soái trấn giữ Thiên Hà, bởi uống rượu say chọc ghẹo Hằng Nga, bị Ngọc Đế phạt đánh hai trăm chùy, đày xuống phàm trần. Sau cùng chuyển sinh vào bụng heo, trở thành hình dáng xấu xí mũi dài tai rộng.

Sa hòa thượng vốn là Quyển Liêm đại tướng ở điện Linh Tiêu, bởi sơ ý làm vỡ chén ngọc lưu ly mà bị Ngọc Đế đày xuống hạ giới, bị trừng phạt phi kiếm xuyên ngực ở Lưu Sa Hà, chịu đói chịu rét, phải bắt người ăn thịt mà sống qua ngày.

Còn Bạch Long mã vốn là con trai của Tây Hải Long vương Ngao Nhuận, bởi phóng hỏa đốt cháy viên minh châu trong điện nên phụ thân tâu lên thiên đình, tố cáo tội ngỗ nghịch, khiến Ngọc Đế phạt treo thân trên không trung, đánh ba trăm gậy, chuẩn bị nhận án tử hình.

Quan Âm Bồ Tát đến Đông Thổ tìm người đi lấy kinh là vào năm 13 Trinh Quán nhà Đường. Lúc ấy, vua Đường Thái Tông tổ chức đại hội Thủy Lục, thỉnh mời cao tăng đắc đạo tới giảng kinh thuyết pháp – vị cao tăng đó cũng chính là hòa thượng Huyền Trang. Quan Âm Bồ Tát hóa thân thành lão hòa thượng chốc đầu, điểm hóa Huyền Trang đến đất Phật Như Lai ở chùa Đại Lôi Âm, nước Thiên Trúc để thỉnh cầu Phật Pháp. Sau đó, Thái Tông kết nghĩa huynh đệ với Huyền Trang, rồi cử người hộ tống Huyền Trang sang Tây Thiên thỉnh kinh.

Dọc đường, Huyền Trang đã thu nhận Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng làm đồ đệ, còn Tiểu Bạch Long đang chờ xử trảm cũng hóa thành ngựa trắng đưa Đường Tăng lên đường. Thầy trò năm người, đồng tâm hiệp lực, vượt qua muôn vàn khó khăn nguy hiểm, trải qua hết thảy 81 nạn, cuối cùng công đức viên mãn.

Nét đặc sắc trong Tây Du Ký

1/- Cảnh giới : Điều kỳ diệu trong “Tây Du Ký” chính là ở cảnh giới. Khác với việc lấy kinh trong lịch sử, câu chuyện trong “Tây Du Ký” vượt qua Tứ Đại Bộ Châu, thế giới mười phương, không kể là bảo điện Linh Tiêu của Ngọc Hoàng Đại Đế hay là bảo điện Lôi Âm của Phật Như Lai, không kể là Tứ Hải long cung hay là U Minh địa phủ, cũng bất kể là Thông Thiên hà sóng nước cuồn cuộn hay Hỏa Diệm sơn ngọn lửa hừng hừng, hết thảy đều đã trở thành sân khấu biểu diễn của người thỉnh chân kinh.

2/- Tình tiết : Điều ly kỳ trong “Tây Du Ký” chính là ở tình tiết. Thạch hầu vốn là một tảng đá hấp thụ thiên chân địa tú, tinh hoa nhật nguyệt trên Hoa Quả Sơn. Chỉ nói riêng đến xuất thân thì câu chuyện của Ngộ Không đã rất ly kỳ rồi. Nhưng đặc biệt hơn cả, thạch hầu sẵn sàng từ bỏ vinh hoa phú quý ở Hoa Quả Sơn và cuộc sống tự tại tiêu diêu nơi Thủy Liêm động mà quyết chí vân du tầm sư học đạo.

Ngộ Không gặp được Sư Tổ Bồ Đề đã học biết 72 phép biến hóa thần thông; sau lại xuống Long Cung của Đông Hải Long Vương lấy được cây định hải thần châm, có thể biến hóa tự do như ý; đến khi đại náo Thiên Cung, bị nhốt trong lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân lại luyện được hỏa nhãn kim tinh, có thể lên trời xuống đất, hô phong hoán vũ, thật quá ly kỳ.

Nhưng điều ly kỳ hơn là, dù con khỉ ấy có thần thông quảng đại đến đâu, vẫn không nhảy ra khỏi lòng bàn tay của Như Lai. Mỹ hầu vương có thật có giả, Đường Tăng có thật có giả, Lôi Âm tự có thật có giả, đều đã ly kỳ lắm rồi. Càng ly kỳ hơn nữa, là ngay đến cả kinh Phật ở Tây Thiên Phật thổ cũng có thật có giả.

Những màn khác như đấu phép ở Xa Trì quốc, hái trộm nhân sâm ở Ngũ Trang quán, ba lần đánh Bạch Cốt Tinh, uống nước sông Mẫu Tử rồi mang thai, đàm luận thơ từ ở am Mộc Tiên, thật là kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của con người.

3/- Nhân vật : Đặc sắc của tác phẩm nằm ở nhân vật. Thế giới “Tây Du Ký” không chỉ có người phàm nơi nhân thế mà còn có Thần Phật nhiều không đếm xuể; trong đó không chỉ có Như Lai, Bồ Tát, La Hán, Kim Cang của Phật gia, mà còn có Ngọc Đế, Vương Mẫu, Lão Quân, Thiên Vương của Đạo gia; không chỉ có chính Thần, mà còn có các dạng yêu ma quỷ quái, quỷ mị võng lượng.

Trong năm thầy trò, Bạch Long hóa ngựa đã ly kỳ rồi, càng ly kỳ hơn là Sa Tăng ở Lưu Sa Hà ăn thịt người sống qua ngày, một khi quy y Chính Pháp thì lại chịu cực chịu khổ, đạo tâm kiên cường bất phá. Bát Giới tham ăn biếng làm, sắc tâm không bỏ, ở rể Cao Lão trang đã rất thú vị rồi; càng thú vị hơn là huynh trưởng

Ngộ Không giỏi hàng yêu bắt quái, với bản lĩnh lên trời xuống đất, trước sau một lòng bảo hộ Đường Tăng thân phàm xác thịt sang Tây Thiên lấy kinh. Chỗ đặc sắc hơn cả, vẫn là Đường Huyền Trang, một khi đã thề sang Tây Thiên thì dẫu chết cũng không hối hận, tuy trên đường đâu đâu cũng đều có yêu ma quỷ quái chờ ăn thịt, nhưng nhờ vào sự giúp đỡ của bốn vị cao đồ và sự bảo hộ của Thần Phật và Bồ Tát các nơi, mỗi nạn Đường Tăng đều gặp dữ hóa lành, chuyển nguy thành an, cuối cùng đến được Đại Lôi Âm, công đức viên mãn.

Diệu lý huyền cơ

Tục ngữ có câu : “Trong nghề xem lề lối, ngoài nghề xem náo nhiệt”. Với “Tây Du Ký”, điều độc giả yêu thích nhất là những tình tiết biến hoá ly kỳ, những câu nói hài hước dí dỏm, những nhân vật sống động chân phương. Nhưng với những người có hiểu biết nhất định về Phật gia và Đạo gia, thì sẽ không khó phát hiện rằng đây là bộ tiểu thuyết viết về tu luyện, khắp “Tây Du Ký” đâu đâu cũng đầy ắp những diệu lý huyền cơ.

1/, Mỗi quan nạn đều là chấp trước cần phải tống khứ trong quá trình tu hành : Sau khi Đường Tăng thu nhận Ngộ Không làm đồ đệ, quan nạn đầu tiên gặp phải chính là lục tặc (sáu kẻ cướp đường), gồm có : Nhãn Khán Hỷ (Mắt thấy mừng), Nhĩ Thính Nộ (Tai nghe giận), Tỵ Khứu Ái (Mũi ngửi thích), Thiệt Thường Tư (Lưỡi nếm nghĩ), Thân Bổn Ưu (Thân vốn lo), Ý Kiến Dục (Ý thấy muốn).

Sáu tên giặc này ẩn dụ cho lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà Phật gia nói đến. Đánh chết sáu tên giặc này cũng có nghĩa là bài trừ mọi can nhiễu và phiền não mà cảm quan của nhục thân mang đến cho người tu luyện.

81 kiếp nạn, mỗi một nạn đều đối ứng với tâm chấp trước cần phải trừ bỏ. Phá trừ những quan nạn này, không phải là tiêu diệt số yêu ma quỷ quái hữu hình kia, mà là tu bỏ ma chướng trong tâm người tu luyện. Vậy nên, trong số 81 nạn, có nạn thì nhắm vào tâm sợ hãi của Đường Tăng, có nạn thì nhắm vào tâm tranh đấu của Ngộ Không, có nạn lại nhắm vào tâm tham lam lười biếng và háo sắc của Bát Giới.

Trong hồi thứ 50, khi Ngộ Không ra ngoài xin cơm chay, Đường Tăng, Bát Giới, Sa Tăng đến một gian nhà cũ và nhìn thấy trên bàn có những chiếc áo chẽn bằng gấm. Lúc này tiết trời đang lạnh, Bát Giới và Sa Tăng không chịu nổi cám dỗ, bèn mặc thử cho ấm tấm lưng. Không ngờ vừa mới khoác áo lên người, ngay lập tức bị hai chiếc áo trói chặt lại. Ngộ Không đã phải nhiều phen lao đao vất vả, cuối cùng mới được Thái Thượng Lão Quân ra tay hàng phục Kim Đâu Đại Vương, cũng chính là con trâu xanh của Ngài.

Hồi thứ 98 trong “Tây Du Ký”, thầy trò Đường Tăng trải qua muôn vàn cực khổ, cuối cùng mới đến được chùa Đại Lôi Âm ở Tây Thiên, hai vị Tôn giả A Nan, Ca Diếp phụng mệnh Phật Như Lai dẫn thầy trò đến bảo các lấy kinh. Hai vị Tôn giả xin lễ vật không thành, bèn trao cho họ kinh Phật không có chữ. Hành giả đến cáo trạng với Như Lai, không ngờ Phật Tổ nói rằng :

“Nhà ngươi cứ bình tĩnh. Việc hai người vòi lễ các ngươi ta đã biết rồi. Có điều kinh cũng không phải trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được. Trước kia các Tỳ Kheo thánh tăng xuống núi cũng đem kinh này tụng hết một lượt cho nhà trưởng giả họ Triệu ở nước Xá Vệ, giúp cho nhà ấy người sống yên ổn, kẻ chết siêu thoát, thế mà chỉ lấy có ba đấu ba bơ vàng cốm của họ mang về thôi. Ta còn bảo họ bán kinh rẻ quá, con cháu đời sau lấy tiền đâu mà tiêu. Nhà ngươi tay không đến cầu, nên họ mới trao cho những quyển trắng tinh. Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay. Các ngươi là chúng sinh ở cõi Đông u mê ngu tối, lẽ ra chỉ nên trao cho những thứ đó thôi”.

Hai tôn giả lại dẫn bốn thầy trò đến dưới lầu ngọc gác báu, nhưng vẫn đòi Đường Tăng phải đưa tiền lễ vật. Tam Tạng không có gì dâng lên, đành phải bảo Sa Tăng lấy bát tộ vàng tía dâng lên. A Nan “hổ thẹn, mặt mũi nhăn nhúm, nhưng tay vẫn giữ chặt lấy cái bát tộ”.

Tình tiết này, trước nay đều bị người đời xem là ngòi bút trào phúng của Ngô Thừa Ân : ngay đến cả Thế giới Tây Thiên Cực Lạc cũng có chuyện tham ô nhận hối lộ. Thật ra, người tu luyện với mọi tâm chấp trước đều phải dứt bỏ mới có thể công thành viên mãn.

Tham luyến của Đường Tăng với cái bát tộ vàng, đó đã là có tâm tham tài ái vật, lại có nhân tình với vua Đại Đường trong đó, mà những thứ này vừa khéo lại là tâm mà người tu luyện phải trừ bỏ. Nếu như không thể trừ bỏ những tâm này, thì tâm hữu lậu, không thể nói đến chuyện công đức viên mãn được.

2/, Mọi quan nạn đều là an bài khéo léo của Thần Phật : Mỗi một quan mỗi một nạn trên đường lấy kinh mà thầy trò Đường Tăng gặp phải, đều là an bài khéo léo của Như Lai Phật Tổ và Quan Âm Bồ Tát.

Hoàng Phong quái là con chuột lông vàng đắc đạo dưới chân núi Linh Sơn của Linh Cát Bồ Tát. Hoàng Bào quái là Khuê Mộc Lang – một trong số nhị thập bát tú. Kim Giác Đại Vương, Ngân Giác Đại Vương là hai đồng tử Kim Ngân của Thái Thượng Lão Quân. Linh Cảm Đại Vương là con cá vàng được nuôi trong ao sen của Quan Âm Bồ Tát. Độc Giác Đại Vương là vật cưỡi của Thái Thượng Lão Quân.

Hoàng Mi Lão Quái là đồng tử lông mày vàng gõ chuông khánh của Phật Di Lặc. Thanh Mao Sư Tử quái, Hoàng Nha Lão Tượng quái là vật cưỡi của hai vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền; Đại Bàng tinh là cậu của Phật Như Lai. Quan Âm Bồ Tát lợi dụng quan hệ nhân duyên giữa các sinh mệnh, vừa kết thúc nợ nghiệp giữa các sinh mệnh, lại giúp đỡ thầy trò Đường Tăng tu tâm trừ nghiệp, tu luyện viên mãn.

“Tây Du Ký” xây dựng trên văn hóa tu luyện bác đại tinh thâm trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Những tình tiết, nhân vật, đối thoại, thơ từ trong sách, toàn bộ đều có hàm ý thâm sâu, chứ không phải là những phóng túng nghệ thuật đơn thuần. Bởi vậy, “Tây Du Ký” xứng đáng là báu vật trong kho tàng văn học kim cổ đông tây, mãi mãi tỏa sáng đến ngàn đời. (theo Secretchina)

CẦU NGÓI THANH TOÀN XỨ HUẾ 

– Võ Quang Yến

Thời Thuộc địa, một công chức người Pháp ở Huế, ông Edmond Gras, chịu khó đi tìm xem cầu ngói Thanh Toàn (cầu mái ngói) cách xa thành phố khoảng 10km. Ông đi ngựa cùng với một viên chức địa phương, mất một buổi chiểu mà tìm không ra.

Tuy nhiên ông nhí nhảnh thuật lại trong tờ Đô thành Hiếu cổ BAVH (1917) cuộc hành trình thú vị. Trời hè nóng nhưng mát nhờ con đường đầy bóng cây uốn khúc trên bờ mương, lên xuống mỗi khi qua chiếc cầu tre lắc lư dưới chân ngựa.

Hai bên đường, làng xóm kín đáo núp mình sau các dãy hàng rào cao dày, những ngôi chùa hiu quạnh yên tĩnh dưới bóng cây tối sẩm. Thỉnh thoảng một lỗ trống trong bụi tre xanh để lộ ra một sân nhà quét dọn sạch sẽ quanh đống rơm xây đắp tươm tất, đàn gà con ríu rít bíu chân mẹ, chú heo đen kêu en éc trong rọ mây.

Trong một kiệt nhỏ, mùi hương thơm hoa sứ ngào ngạt như để át mùi phân trâu, phân bò. Một cậu bé trần truồng bất thình lình thấy chúng tôi, lấy roi đập đẩy đàn trâu sang môt bên như để dọn đường rồi nhảy xuống mương… Nhưng chiếc cầu thì vẫn không tìm ra vì như tuồng người dẫn đường cũng chưa khi nào lại viếng cầu !

Trời tối dần, cả hai lấy đò trở về. Trên nền trời đen thẩm, những đám cháy nhắc ông Edmond Gras nhớ đến những ngọn lửa Saint-Jacques ở quê Provence xa xăm của ông. Thì ra người nào đi xa cũng luôn ấp ủ trong lòng hình bóng quê hương của mình.

Ông đã trờ lại Thanh Toàn với cha Leopold Cadière, tổng biên tập tờ BAVH, lần nầy đi xe kéo và thấy được cầu. Thì ra cầu có thật : cột gỗ dài cao trên mặt nước, lợp mái ngói tráng men, hình cong trông từ xa như một con rồng uốn lưng. Trên cầu, những người rảnh rang dạo lượn chân không, học sinh đua thử thăng bằng trên các rầm kèo,… Ông không quên vẽ một bức tranh minh họa bài báo trong tương lai.

Cũng trong cùng tờ báo BAVH còn có hai bài viết về chiếc cầu Thanh Toàn của ông Công sứ Richard Orband, quan chức hành chính dân sự (cùng năm 1917) và của ông Hippolyte Lebreton Hiệu trương trường Quốc học, mười sáu năm sau (1933). Cả hai tác giả nầy đều cỏ miêu tả tỉ mỉ con đường từ Huế về cầu, kiến trúc cây cầu đồng thời lượt thuật lịch sử một kiệt tác hiếm có.

Ở miền Trung, hai chiếc cẩu có lối kiến trúc đặc biệt và giá trị nghệ thuật cao nhất Việt Nam là cầu Nhật Bản tức Chùa Cầu ở Hội An (lúc bấy giờ gọi Faifo) và cầu Thanh Toàn cạnh Huế. Cầu ngói Thanh Toàn có cầu kết thượng gia hạ kiều (trên nhà dưới cầu), là một tác phẩm kiến trúc nhỏ nhắn dài 16,85m (43 thước mộc), rộng 4,63m (14 thước mộc), gồm có bảy gian, gian giữa dùng để thờ cúng.

Hệ thống trụ đỡ sắp thành ba hàng, có chung một khối mộng để chống lún. Mỗi hàng có trụ bằng đá, sáu cột. Hai đầu là hai mố cầu, trang bị bảy hệ thống thống thoát nước. Hệ thống trụ đỡ nối liền các đầu mối cầu. Các thanh bê tông chay dọc từ hai đầu vào giữa dốc dần lên đến gần gian giữa thì nằm ngang.

Tư thế nầy khiến cả mặt cầu lẫn mái cầu trông như gãy khúc, nâng cổng giữa lên cao tạo một hình dáng duyên dáng, khỏe mạnh, đồng thời giúp ghe thuyền qua lại dễ dàng. Trên cầu, các hệ thống trụ cầu có dầm gỗ bắc ngang thành cơ sở dựng cột làm khung nhà. Mỗi vi có bốn hàng cột, giữa hai cột là lòng cầu làm lối đi lại. Từ hai bên cột cái trở ra là cột hiên nâng lên cao làm chỗ hóng mát. Bên ngoài có lan can chấn song để ngồi khỏi ngã. Mọi phần đều thông thoáng, chỉ có phần sườn cầu làm bàn thờ thì bịt kín. Các hệ thống xà thượng, xà hạ đều sắp xếp theo lối xà kép, xà trên nằm trên đầu cột, xà dưới di chuyển qua mộng cột.

Các bộ phận kiến trúc đều bằng gỗ, nhưng không chạm khắc hay trang trí mà chỉ gồm hai loại tiết diện tròn và vuông. Các nghệ nhân đã chạm khắc hình con vật với chủ đề tứ linh ở bộ mái cây cầu : long lân quy phụng. Về trang trí, trước đó chỉ có con giao long, sau này nhường chỗ cho con rồng ở hai đầu và đôi phượng chầu mặt trời ở giữa.

Sử sách ghi làng cũ mang tên Thanh Toàn từ hồi 12 vị tộc trưởng khai canh thế kỷ XVI. Những vị nầy phần lớn là người Việt quê gốc Thanh Hỏa theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa (có tài liệu cho là chậm hơn), nhưng cũng có người Chăm đã sống tại chỗ từ trước. Cũng có thể hai dân tộc sống chung đụng với nhau, ngay cả trong cùng một tộc.

Qua thời Thiệu Trị (1841-1847) chữ Hoàng là tên húy ( ?) nên làng đổi tên thành Thanh Thủy. Làng đông người nên chia ra hai : Thanh Thủy Chánh và Thanh Thủy Thượng, tên giữ nguyên vẹn cho đến nay. Cầu ngói Thanh Toàn nằm ở làng Thanh Thủy Chánh thuộc xã Thủy Thanh, hượng Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Lịch sử cầu dính liền với tiểu sử bà Trần Thị Đạo. Bà người làng Thanh Thủy, cháu sáu đời một trong 12 vị khai canh làng. là vợ của Khâm sai, Chủ sự Hoàng cung, Tổng chỉ huy bộ binh và thủy binh, Tổng đốc của ba huyện Hương Trà, Phú Vang và Quảng Điền, Tứ Xuyên Hầu Phan Trọng Phiên, Nhất trụ triều đình. Vào thời nhà Trịnh đánh chiếm Phú Xuân,

Bà theo chồng ra bắc, nhưng được một thời gian bà trở về bản quán sinh sống. Bà không ngần ngại vượt qua bao mệt nhọc để theo đuổi cuộc hành trình cùng với đoàn của vua. Bà đã dũng cảm làm trọn ba nhiệm vụ của phái nữ. Bà còn để lại cho làng bà nhiều ân huệ mà người ta cần lưu niệm .

Làng Thanh Thủy có một con mương chảy qua, thường hằng ngày dân địa phương phải dùng thuyền, không thì mất thì giờ đợi đò ngang, rất vất vả khi trời đông giá, rét mướt. Mang một bụng dạ thương người, tấm lòng đức độ, thấu hiểu nỗi khó nhọc của người dân quê, bà bỏ tiền túi thuê làm chiếc cầu có mái lợp phòng khi trời mưa gió, cũng là nơi dừng chân của khách bộ hành tìm bóng mát những ngày nắng nóng.

Bà không dè cầu lại là nơi ngắm trăng, hóng gió. Tuy cầu được cấu trúc như một ngôi nhà bình thường nhưng lại là một ngôi nhà ấm áp khi đông về và mát mẻ khi nắng lên. Cầu cũng là nơi dạt dào tình thương nên trai thanh gái lịch trong vùng lại ca hát, giao duyên, hẹn hò, tình tứ.

Ở hai lối vào cầu có hai hàng câu đối chữ Hán được khắc lên trên cầu, nhưng thời gian làm hao mòn nên khó tìm ra câu nguyên vẹn : Kiệt cấu thiên thu truyền thắng tích, ngỏa kiều thắng cảnh cựu quy mô. Tạm dịch : Kiệt tác kiến trúc này là một di tích lưu truyền mãi nghìn năm sau, cầu ngói là một thắng cảnh làm theo quy mô cũ. Còn có câu: Tế xuyên mâu bửu phiệt, thanh thủy thắng hồng lâu. Tạm dịch : Qua sông là bè quý, nghỉ mát ấy gác son.

Căn cứ vào tờ Sắc của vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 thì cầu được xây vào năm 1776. Theo sử sách năm 1925 ghi lại thì vua Khải Định đã ban tặng cho bà Trần Thị Đạo tước vị “Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù”. Vua còn hạ lệnh cho dân làng lập bàn thờ trên cầu để thờ bà và mong bà phù hộ độ trì cho dân làng.

Bên phần dân làng cũng không nề hà và lại sinh hoạt quanh cầu. Phía chân cầu là một vùng đất rộng, người ta đến đây để vui chơi và họp chợ. Giữa vùng đất còn có một cái đình không biết xây từ bao giờ, giao lưu buôn bán cũng không ai rõ từ hồi nào.

Người xưa kể lại chợ trước đây không lớn như bây giờ, buôn bán chỉ có những mặt hàng rất nhỏ như mớ rau, mớ cá, trái cau, lá trầu… Riêng tôi còn thấy trẻ chăn trâu, người đánh cá, hai bà già ngồi cạnh cầu bán cau trầu, thuốc lá trước khi có hội hè đình đám.

Trong rất lâu, người dân đánh cá, bắt cua đưa đến đây trao đổi với nhau qua thời gian tạo nên cái chợ làng. Dần dần đời sống phát triển, các mặt hàng xuất hiện ngày càng đa dạng hơn, hình thức buôn bán cũng trở nên to lớn hơn. Nhưng chợ luôn tự nhiên giới hạn và luôn còn mang nét quê Việt Nam.

Chính vì mang đậm nét bản thể thôn dã cho nên nơi đây được chọn làm hội chợ quê, vào những ngày lễ hội trong thời kỳ festival Huế. Cần phải nhận định, như việc mở mang cần thiết phố xá ngoại ô thành phố, cái bản sắc làng quê căn bản cuộc phát triển liệu rồi có bị hao mòn tiêu biến không.

Ngoài lễ hội chợ quê hai năm một lần thì vào ngày mồng ba tết nguyên đán hàng năm, nơi đây còn tổ chức cuộc đánh bài chòi. Đây là một trò chơi dân gian xưa mang đậm bản sắc và văn hóa người Việt Nam. Ngoài ra còn có một đám lễ nữa cũng được tổ chức linh đình không kém vào ngày rằm tháng tám, theo người dân địa phương thì là ngày giỗ của bà Trần Thị Đạo.

Họ rước bà từ đình ra cầu cúng lễ, rồi lại rước bà trở lại đình. Sau lễ, các trò chơi cho nhân dân trong làng như ca hát, hò giả gạo, đua thuyền trên mương và kéo co được tồ chức, gây thư giản cho dân quê suốt năm cặm cụi công việc.đồng án.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NHỮNG CA KHÚC “VANG BÓNG MỘT THỜI” (4)

NHỮNG CA KHÚC

“VANG BÓNG MỘT THỜI” (4)

Ý NGHĨA BÀI MÙA THU CHẾT CỦA PHẠM DUY 

Xuất xứ những bài nhạc việt  vang bóng một thời

Những ca khúc : “vang bóng một thời” (2:42’)

https://youtu.be/BUOyCFFYnvo

List nhạc : 1/- Biệt ly,  2- Giọt mưa thu,  3- Áo lụa Hà Đông,  4- Nửa hồn thương đau,  5- Gửi gió cho mây ngàn bay,  6- Nỗi lòng,  7- Em ơi Hà Nội phố,  8- Hàn Mạc Tử,  9- Diễm xưa,  10- Gợi giấc mơ xưa,  11- Chiều mưa biên giới,  12- Lời buồn thánh,  13- Cô gái xuân,  14- Ướt mi,  15- Em đi chùa Hương,  16- Nắng chiều,  17- Mộng dưới hoa,  18- Cát bụi,  19- Chuyện tình Mộng Thường,  20- Thói đời,  21- Ảo ảnh,  22- Mùa thu chết.

– Tiếp theo kỳ 1-2-3 – Hết

22/- Ý NGHĨA BÀI

MÙA THU CHẾT của PHẠM DUY 

– Ca khúc “Mùa thu chết” : nhạc Phạm Duy, trình bày Lệ Thu

https://youtu.be/5tvf3C0k9nI

(Trích hồi ký “Ca Nhạc Sĩ Sài Gòn trước 1975” cùa Nguyễn Việt – MTSG)

… Khi NNS nói đến bài thơ L’Adieu của Guillaume Apollinaire, nhắc đến Hoa Thạch Thảo không ai không nhớ đến nhạc phẩm “Mùa Thu Chết” của nhạc sĩ Phạm Duy.

Và khi nói đến nền tân nhạc miền Nam nếu không nói về Phạm Duy quả thiếu sót, không phải Phạm Duy thuộc hàng cổ thụ, có quá trình sáng tác dồi dào từ dân ca, nhạc trẻ, trữ tình lãng mạn, nhạc lá cải cho đến nhạc được đặt hàng theo yêu cầu, chỉ thiếu một thứ Phạm Duy chưa soạn thứ nhạc quảng cáo dùng cho băng vệ sinh, thuốc tăng lực như các nhạc sĩ có tên tại Sài Gòn hiện nay vẫn làm.

Trước ngày 30/4, Phạm Duy thường cho rằng ông là niềm vinh dự của chính phủ lúc bấy giờ, vì chính Phạm Duy từng nói : “… chính phủ phải sử dụng đến tôi, nếu ở Hà Nội có Văn Cao thì ở Sài Gòn chỉ có Phạm Duy để tạo thế cân bằng văn nghệ giữa hai miền, thuộc ngón đòn tâm lý chiến chính phủ cần sử dụng”.

Có lẽ vì vậy sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đỗ, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương lúc này do tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch, giao Phạm Duy cho bộ Công Dân Vụ do Nguyễn Tôn Hoàn chủ đạo; sử dụng Phạm Duy trong chiến dịch “Bình Định Nông Thôn” làm chiêu bài thu hút thành phần SVHS tham gia, một chiến dịch không phải đi cất nhà, làm đường cho dân quê mà để mật vụ đặc nhiệm lùng sục bắt bớ du kích Việt Cộng nằm vùng. Chiến dịch được Mỹ tài trợ, Phạm Duy đưa SVHS đi vào vùng sâu vùng xa hát cho dân quê nghe những bài như “Giọt mưa trên lá” mới sáng tác không lâu v.v…

Hay từ năm Mậu Thân trở đi Mặt trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) công cụ của Bắc Việt đang bành trướng, Phạm Duy liền có bài “Mùa Thu Chết” để đánh đòn tâm lý chiến với các chiến binh cộng sản chính quy cũng như du kích địa phương.

Thật ra Phạm Duy phổ bài “Mùa Thu Chết” theo một thi ca trữ tình lãng mạn của Pháp. Nhưng lúc phổ biến nhạc phẩm ra công chúng, lại vào rơi vào khoảng không gian khi Hà Nội và MTGPMN hô hào kỷ niệm cuộc Cách Mạng tháng 8 còn gọi Cách Mạng Mùa Thu.

Vậy ý nghĩa “Mùa Thu Chết” là gì ? Phải chăng nên hiểu, Cách Mạng Mùa Thu sẽ không tồn tại, mà không tồn tại có nghĩa miền Bắc sẽ không còn Cộng Sản, vì đã vào tay người miền Nam (?), bởi lúc này tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ đang hô hào Bắc tiến. Để rồi có một Bạch Tuyết và một Thẩm Thúy Hằng ngồi tại một tiền đồn heo hút trên đầu đội nón sắt lính VNCH mang hàng chữ “hãy bỏ bom Bắc Việt”, được in chần dần trên tờ Time và Newsweek dạo đó ai cũng thấy.

Phạm Duy tiếp tục ca tụng một Phạm Phú Quốc rớt máy bay chết tại một cây cầu miền Bắc với bài “Huyền thoại ca một người mang tên Quốc” hay bài “Kỷ vật cho em” ca tụng những người lính đã bỏ mình vì nước.

Nguyễn Cao Kỳ ưu ái đến Phạm Duy qua chiến dịch “Bình định nông thôn” hay những nhạc phẩm Phạm Duy ca ngợi người lính VNCH và cho cả ông ta.

Sau khi Đài Truyền Hình số 9 được Mỹ xây dựng lên vài năm (hình thành sau ngày Ngô Đình Diệm bị lật đỗ), Phạm Duy từ bên Công Dân Vụ được cắt cử về trông phần văn nghệ của đài.

Từ khi Phạm Duy về làm ở Đài truyền hình số 9, nhiều “đại gia văn nghệ” tranh nhau miếng đất màu mở này để kiếm tiền, không phải tiền “chương trình” được đài chi trả – vì thù lao chẳng có là bao, một show ca nhạc 45 phút được trả tối đa 20.000đ bấy giờ (khi vàng 24K mới hơn 30.000đ/lượng), bao gồm chi phí cảnh trí, ca sĩ, nhạc phẩm, nhạc công và các tạp vụ khác.

Tính chi li mỗi nhạc phẩm được ca sĩ trình diễn, bình quân chỉ có 2.000đ, trong khi bầu show phải trả thực tế tiền cát-xê cho ca sĩ như Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy từ 5.000 đến 10.000đ/bài, trung bình như Giao Linh, Phương Hồng Quế từ 3.000 đến 5.000đ/bài, tức nếu có một chương trình trên Đài số 9, ông bà bầu show đều chịu lỗ (một show ca nhạc 45 phút thường gồm 9 đến 10 ca khúc) nhưng các ông bà bầu show vẫn làm và làm càng xuất sắc,

Lý do mỗi khi họ có chương trình trên truyền hình thì họ sẽ có tất cả : tiền quảng cáo nhạc phẩm do nhạc sĩ sáng tác hay các nhà xuất bản porter bỏ ra chi phí, đôi khi chi cả tiền “poa” cho caméraman để có góc cạnh đẹp; Còn bầu show được tiếng có chương trình hay, lò nhạc hay đại nhạc hội, phòng trà khiêu vũ trường của họ được nổi tiếng là cách gián tiếp tiếp thị quảng cáo rất có trọng lượng, riêng các nhạc sĩ hay nhà xuất bản nhạc những người bỏ tiền chi phí cho màn trình diễn của ca sĩ cũng hốt bạc do poster bán rất chạy. Và chính Phạm Duy thuộc loại “ngư ông đắc lợi”, ngoài việc bầu show có nghĩa vụ “điếu đóm” lại được chính quyền khen ngợi là một thiên tài văn nghệ.

Đài TH số 9 thời Phạm Duy là như thế, các ông bà bầu show người có khả năng nghề nghiệp, người chỉ là dân i-tờ trong làng văn nghệ, đúng là bát nháo ! Nhưng Phạm Duy lại hãnh diện bởi công việc của mình, và để góp thêm phần bát nháo, Phạm Duy sáng tác những bài hát như Sức mấy mà buồn, Bỏ qua đi Tám mà ông gọi là “Tục Ca” hay nhạc vĩa hè, nhạc cái bang.

Giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ có nhận xét, Phạm Duy đã đánh mất cái tôi của mình, hiện thân một người xu thế, nhạc sĩ của mọi thời, một người có vòng quay 180 độ. Khi Tạ Tỵ viết về Phạm Duy trong cuốn “Phạm Duy còn đó nổi buồn” tuy không lên án và có phần bênh vực cho một người đang bị xã hội chê cười, vẫn đánh giá “Phạm Duy hôm nay không còn là Phạm Duy ngày xưa nữa !”

Ở trào ông Diệm, Phạm Duy cùng với các xếp Trần Kim Tuyến, Nguyễn Tôn Hoàn phát động phong trào Bình Định Nông Thôn với áo bà ba đen, vỗ ngực là người của 9 năm kháng chiến chống Pháp để mà mị những người dân ruộng đồng chất phát luôn sùng bái những ngày đánh Pháp, ở chiến dịch này Phạm Duy có các bài hát “Ngày trở về”, “Giọt mưa trên lá”,

Qua thời Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh do phong trào SVHS đang cuồng nộ với chế độ quân sự, Phạm Duy đưa ra những bản nhạc Du ca để đánh bóng tên tuổi khi những Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên làm mưa làm gió về tình ca, được sự yêu chuộng của giới trẻ các nơi.

Phạm Duy viết những nhạc phẩm như Kỷ vật cho em, Người tình không chân dung, Huyền sử ca một người mang tên Quốc, Mùa thu chết (hình thức nhạc tâm lý chiến), Phượng yêu, Tóc mai sợi vắn sợi dài (loại nhạc tình ca)… để tranh thủ cảm tình tầng lớp người trẻ đã đánh mất và lấy lòng chánh quyền.

Đến đời Nguyễn văn Thiệu, Phạm Duy không còn làm ở Đài số 9, liền nhảy sang cộng tác với nhóm Văn Hóa Mỹ của đài phát thanh Tiếng nói Tự Do, làm cố vấn các chương trình chiến tranh tâm lý.

Phạm Duy còn là “thợ sáng tác” theo đơn đặt hàng của các nhà xuất bản hay các hãng băng nhạc, vì chỉ trong vòng vài ngày Phạm Duy có ngay tác phẩm theo yêu cầu. Tôi có nghe nhà phát hành Minh Phát lúc đó – nằm ở góc Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực bây giờ – nói nhạc Việt hóa tức nhạc ngoại quốc lời Việt đang thịnh hành nên có đặt Phạm Duy phổ lời cho cả chục bài để xuất bản, tôi nói sáng tác như vậy lấy gì là hay, ý tứ đâu mà chỉ trong vài ngày là xong cả chục bài hát ?

Ông Minh Phát cười trả lời, chỉ cần cái tên trên bản nhạc là hốt bạc rồi, cần gì lời ca !? Do mình nhái tên Phạm Duy không được đành phải mua cái tên với giá 100.000đ một bài, nhiều khi Phạm Duy còn để cho con cái phổ nhạc không chừng – con Phạm Duy – Thái Hằng là Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo ban The Dream’s còn con dâu là Julie Quang.

Con người Phạm Duy cũng rất trần tục, nhớ lại những năm đầu di cư vào Nam 1954; báo Sàigòn Mới của bà Bút Trà đã làm rùm cái chuyện “Phạm Duy ăn chè Nhà Bè”, một scandal của làng tân nhạc thời bấy giờ, báo Sàigòn Mới kể rằng : Phạm Duy trốn vợ để dẫn cô em vợ Khánh Ngọc xuống tận Nhà Bè hú hí, nhưng trời bất dung nhan Thái Hằng biết được đánh ghen um sùm, các báo lúc đó như SàiGòn Mới, Tiếng Chuông, Dân Chúng thi nhau khai thác, khiến Phạm Duy phải cầu cứu với Bộ Thông Tin yêu cầu các báo ngưng loạt bài đó.

Vào năm 1972 hay 73 gì đó, Phạm Duy được mời tham dự cuộc thi Nhạc Pop tại Nhật, cùng Ngọc Chánh, Thanh Lan mang chuông đi đánh xứ người với hai nhạc phẩm “Tuổi biết buồn” và “Bao giờ biết tương tư. Chuyện đáng nói trong chuyến đi dự thi, ban tổ chức cuộc thi không biết điều khiển phần hòa âm phối khí bài Tuổi biết buồn như thế nào, còn bài Bao giờ biết tương tư chỉ mang tính biểu diễn.

Vì rằng phần hòa âm phối khí của Phạm Duy quá lỗi thời đến chục năm so với tiến bộ của thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng. Hòa âm bài “Tuổi biết buồn” của Phạm Duy chỉ sử dụng chừng mười nhạc khí, còn hòa âm tại cuộc thi nhạc Pop là cả dàn đại hợp xướng, sử dụng hàng mấy chục nhạc khí.

Thanh Lan khi trở về đã mô tả, họ phải hòa âm lại hết và chỉ cho cô ca thử một lần khi tổng dượt, nên không thể nào hát hay được, lại thêm khi trình diễn với sân khấu quay 4 chiều càng làm ca sĩ bị khớp, nên kết quả bài “Tuổi biết buồn” đứng cuối bảng xếp hạng, còn Phạm Duy chẳng cần chuyện có thứ hạng hay không, vì thời đó mốt xuất ngoại để hưởng thụ đang thịnh hành, mỗi khi được ra nước ngoài nếu không là du học sinh thì phải thuộc tầng lớp ông nghị trở lên với mác đi công vụ… Phạm Duy là thế ! (… ngưng trích – theo hồi ký “Đời làm báo” của Nguyễn Việt)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG

NGƯỜI TÀI HOA

NHƯNG SỐ PHẬN BI ĐÁT

– Nguyễn Trung

Những bài hay nhất của nhạc sĩ Trúc Phương

Ông Hoàng của dòng nhạc Bolero

1:40’ : https://youtu.be/uft1ECUDFbQ

2:23’ : https://youtu.be/44x86EmpHwo

…… Phải nhìn nhận một điều là, hầu như các bài hát của ông có một sức thu hút mãnh liệt trong suốt hơn bốn chục năm qua và mãi cho đến ngày hôm nay ở bất cứ nơi nào có người Việt Nam đang sinh sống. Tài năng của ông thì vô cùng nổi trội, có thể nói là đạt đến đỉnh cao của nền âm nhạc mang âm hưởng miền Nam. Nhưng đời sống của ông thì lại trải qua quá nhiều bất hạnh và đau thương, khốn khổ cho đến tận những giờ phút cuối cùng.

Nhạc sĩ Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiện Lộc. Ông sanh năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình) ở vùng hạ lưu sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam. Cha ông là một nhà giáo sống thầm lặng và nghiêm khắc. Nhưng tâm hồn của chàng trai Thiện Lộc thì rất lãng mạn, yêu thích văn nghệ nên đã tự học nhạc, và bắt đầu sáng tác những bài hát đầu tiên lúc vừa 15 tuổi.

Xung quanh nhà ông có trồng rất nhiều tre trúc, nên từ nhỏ ông đã yêu mến những âm thanh kẽo kẹt của tiếng tre va chạm với nhau và sau này đã chọn tên là Trúc Phương để nhớ về thời thơ ấu của ông với những cây tre trúc. Cuối thập niên 1950, ông sinh hoạt văn nghệ với các nghệ sĩ ở ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Bình một thời gian ngắn, rồi lên Sài Gòn dạy nhạc và bắt đầu viết nhạc nhiều hơn.

Bài hát “Chiều Làng Quê” được ông sáng tác vào thời gian này để nhớ về khung cảnh thanh bình ở làng xóm của ông ,một bài khác cũng rất nổi tiếng với giai điệu trong sáng, vui tươi là “Tình Thắm Duyên Quê”.

Không tiền bạc và không một ai thân quen ở đô thành Sài Gòn, ban đầu Trúc Phương ở trọ trong nhà một gia đình giàu có bên Gia Định và dạy nhạc cho cô con gái của chủ nhà. Không bao lâu sau thì cô gái này đã yêu chàng nhạc sĩ nghèo tạm trú trong nhà, vì con tim cô ta đã dần dần rung động trước tài năng của Trúc Phương.

Biết được chuyện này, ba mẹ của cô gái bèn đuổi Trúc Phương đi nơi khác. Sau chuyện tình ngang trái này, Trúc Phương càng tự học thêm về âm nhạc và càng sáng tác hăng hơn. Nhưng những bài hát sau này lại nghiêng về chủ đề tình yêu đôi lứa với những nghịch cảnh chia lià.

Trúc Phương sáng tác rất dễ dàng, nhưng với bản tính trầm lặng, bi quan và khép kín sau những cuộc tình dang dỡ, những bài hát sau này của ông thường mang âm điệu u buồn, thê lương như phảng phất nỗi sầu của cổ nhạc miền Nam. Nổi tiếng nhất là “Nửa Đêm Ngoài Phố” với tiếng hát liêu trai Thanh Thúy. Sau đó là “Buồn Trong Kỷ Niệm” với những câu hát đớn đau, buốt nhói tim gan người nghe như “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn. Đôi khi nhầm lẫn đánh mất ân tình cũ, có đau chỉ thế, tiếc thương chỉ thế. Khi hai mơ ước không chung lối về …”. Có người cho là bài hát này ông đã viết ra sau khi bị thất tình một cô ca sĩ lừng danh thời đó.

Nhạc của Trúc Phương có một giai điệu rất đặc biệt của riêng ông, mà khó lầm lẫn với người khác được.Nhạc của ông có âm hưởng cổ nhạc miền nam,Nó có vẻ trầm buồn, ray rức, ưu tư trước thời cuộc dạo đó (là chiến tranh triền miên) và buồn phiền vì những mối tình dang dở, trái ngang.

Nên khi soạn hòa âm cho những bài hát của Trúc Phương, nhạc sĩ hòa âm phải sử dụng ít nhất là một trong vài loại nhạc khí cổ truyền của miền Nam như đàn bầu, đàn tranh, hay đàn cò (hoặc violon) thì mới có thể diễn tả hết cái hay của giòng nhạc Trúc Phương và người nghe lại càng thấm thía với nỗi muộn phiền, nhức nhối tim gan của ông sau này.

Điều trớ trêu là tuy tên tuổi và tài năng sáng chói, nổi bật so với những người viết nhạc thời bấy giờ, nhưng tình duyên của nhạc sĩ Trúc Phương thì vô cùng lận đận. Khoảng năm 1970, Trúc Phương được một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp, cao sang đài các đem lòng yêu thương ông, do sự rung cảm truyền đạt từ tài năng và những tác phẩm tuyệt vời của ông.

Kết cuộc là cả hai đã nên duyên chồng vợ.Tuy sống trong cảnh nghèo nàn, nhưng đời sống của họ rất là nghệ sĩ. Đó là những năm tháng hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Trúc Phương và sức sáng tạo nghệ thuật của ông càng sung mãn hơn bao giờ hết với hàng chục bài hát ra đời mỗi năm. Nhưng niềm vui của đôi uyên ương này lại không kéo dài được lâu bền.

Bởi vì sau một thời gian chung sống với nhau, những tình cảm ban đầu trở nên phai lạt dần theo năm tháng và hai người đã lặng lẽ chia tay nhau. Câu hát ngày nào lại rơi đúng vào trường hợp này “khi hai mơ ước đã không cùng chung hướng về” và “đường vào tình yêu có trăm lần vui, nhưng có vạn lần buồn” ?

Giờ thì nhạc sĩ Trúc Phương âm thầm đau khổ trong cô đơn và lại vùi đầu vào men rượu để sáng tác thêm nhiều bài hát trong nỗi đau thương cùng cực, pha chút chán chường cho nhân tình thế thái.

Bạn bè thường gặp ông ngồi yên lặng bên những ly rượu nơi một quán nhỏ ở đường Tô Hiến Thành, quận 10, gần nhà của ông. Có lẽ đó là một cách làm cho nhạc sĩ tạm quên đi những cay đắng của tình đời. Đó cũng chính là lúc bài hát “Thói Đời” được sáng tác với những câu như “Bạn quên ta, tình cũng quên ta, nên chung thân ta giận cuộc đời, soi bóng mình bằng gương vỡ nát, nghe xót xa ngùi lên tròng mắt”… và “Người yêu ta rồi cũng xa ta … “Cỏ ưu tư” buồn phiền lên xám môi …”.

Thực ra phải nói là “cỏ tương tư” tức “tương tư thảo” là tên gọi văn hoa của thuốc lá. Khi những người đang yêu nhau, nhớ nhau, hẹn hò nhau thì châm điếu thuốc thả khói mơ màng, nhìn rất thơ mộng và nghệ sĩ [ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần, anh nói khẽ gớm sao mà nhớ thế (Hồ Dzếnh)].

Nhưng đối với Trúc Phương trong “Thói Đời” thì điếu thuốc lá “cỏ tương tư” lại biến thành ra “cỏ ưu tư” làm cho đôi môi trở nên màu xám xịt qua những nỗi đau thương, nhung nhớ ngập tràn. Những giọt rượu nồng của cõi “trần ai” này lại càng gợi thêm “niềm cay đắng” để cho nỗi ưu tư “in đậm đường trần” và ông đã than thở “mình còn ai đâu để vui ? khi trót sa vũng lầy nhân thế ”?

Bài hát “Thói Ðời” đã gây xúc động cho hàng triệu con tim cùng chung số phận nghiệt ngã của cuộc đời. Với riêng bản thân Trúc Phương thì “Thói Đời” lại như là một lời tiên tri thật chính xác cho quãng đời còn lại của ông suốt gần 25 năm sau đó (1971-1995).

Sau năm 1975 thì sự nghiệp sáng tác nhạc của ông dừng lại, tất cả những ca khúc của ông đều bị cấm phổ biến và trình diễn.. Không có nghề nghiệp gì trong tay, ông làm đủ mọi việc để sinh sống. Với hai bàn tay trắng, ông trở về quê cũ sống nhờ vả bạn bè, mỗi nơi một thời gian ngắn.

Có người hỏi sao ông không về quê ở hẳn với thân nhân, Trúc Phương đã trả lời “Má của tôi thì già yếu đang ở dưới quê Cầu Ngang (Trà Vinh), nhưng bà nghèo quá, lại phải nuôi đám cháu nheo nhóc, không đủ ăn … nên tôi không thể về đó để làm khổ cho bà thêm nữa”.

Ở dưới tỉnh nhà Trà Vinh với bạn bè xưa cũ một thời gian, Trúc Phương lại tìm đường về Sài Gòn. Ban ngày ông làm thuê, làm mướn đủ mọi thứ nghề và lang thang khắp nơi. Ông có tâm sự lại vài lời xót xa, nghẹn ngào, xúc động trên một đoạn video clip ngắn ngủi về đời sống của chính bản thân ông lúc đó như sau :

“Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rài đây mai đó,”bèo dạt hoa trôi”… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no… Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được… đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả.

Tôi nghĩ ra được một cách.. là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ… Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng… thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta.. thế là mình lấy 1 đồng về…. như là tiền thế chân… Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…

Mà nói anh thương… khổ lắm…. Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi, tôi đành phải trải chiếu gần chỗ “thằng cha đi tiểu vỉa hè”, thế rồi cũng phải nằm thôi. Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát… mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn … Tôi nghĩ mà thôi , còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này..

Có thể nói rằng một điều là suốt mấy chục năm trời và cho đến hôm nay đã có rất nhiều ca sỹ, trung tâm băng nhạc, hãng đĩa đã thu âm, hát lại nhạc của ông, nhưng chắc chắn là ít có người đã biết tin ông âm thầm từ giã cõi đời trong cảnh nghèo nàn, bi đát và cô đơn trong căn phòng trọ tồi tàn, nhỏ hẹp ở quận 11, Sài Gòn vào ngày 18 tháng 9 năm 1995, tài sản của ông có được lúc đó chỉ là một đôi dép..

Nhạc Trúc Phương, bên cạnh những bản viết về quê hương,còn ghi lại biết bao cuộc tình lãng mạn ướt át nồng nàn.”Nửa đêm ngoài phố” lang thang, tình cờ làm quen một người con gái lạ, rồi để lòng vương vấn mãi: “Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Ðường phố vắng đêm nao quen một người..” hoặc “Trở lại chuyện hai chúng mình. Khi em với anh…” làm quen, hẹn hò cùng nhau đi tới mòn lối, khiến nó trở thành “Con đường mang tên em”. Cũng có những lúc cô đơn, rút về nhốt mình nơi nhà trọ, nhưng Ðêm gác trọ chỉ nói lên nỗi buồn bâng quơ có vương chút phấn chấn nhờ thể điệu Tango, mà TP ít khi dùng trong hầu hết các nhạc phẩm của mình. Rồi có lúc người yêu xưa tìm đến, cùng nhau ôn chuyện cũ, nhắc lại Chuyện ngày xưa, được ghi lại như sau: “Hôm nào em đến thăm, mà quên mang tiếng cười, lặng yên không nói. Hai mươi tuổi đời qua mất rồi.. (ÐK): Thôi em nhé, xin trả về niềm cô đơn trước, cho anh bước xuôi ngược, khi hai chúng mình, vòng tay trót buông xuôi, dù gặp nhau ta cúi mặt.

Ðôi khi ông có chút cay đắng cho Thói đời, vì Người yêu ta rồi cũng xa ta nhưng không oán trách người mà chỉ than thân một mình. Những Chiều cuối tuần đã xa: “Hôm nao tôi lên đường phố cũ, chiều xưa, lần hẹn hò. Trao nhau, niềm vui cuối tuần…” Trên gác nhỏ, cô đơn, trằn trọc: “Ðêm chưa ngủ, nghe ngoài trời đổ mưa từng hạt rơi. Gác nhỏ đèn le lói bóng dáng ai trên tường loang…” Trong lúc Mưa nửa đêm: “Ai biết ai vì đời, cùng ngược xuôi chung lối mòn. Ngày tôi hai mươi tuổi, em đôi tám trăng tròn. Ðêm lạnh còn nghe chăn gối lẽ nằm thao thức…” nhớ về Bóng nhỏ đường chiều, chỉ còn là kỷ niệm : “Ta đến nơi hẹn hò, cùng gặp nhau trên phố nhỏ. Ta nhẹ dìu nhau trong tiếng thở..”

Các sáng tác nổi tiếng : Ai Cho Tôi Tình Yêu, Nửa Đêm Ngoài Phố, Thói Đời, Buồn Trong Kỷ Niệm, Mưa Nửa Đêm, Hai Chuyến Tàu Đêm, Chiều Cuối Tuần, Đêm Tâm Sự,… và còn rất nhiều những sáng tác rất tuyệt vời.

Lan Hương  chuyển tiếp