O HUẾ VÀ PHỤ NỮ SÀI GÒN

TẢN MẠN VỀ “O HUẾ”

Bà xã của tôi là một cô gái Huế, nói theo kiểu Huế là một o Huế. Dù cho bây giờ o Huế của tôi đã phần nào không còn là “rặc” Huế nữa, nhưng chỉ cần là sinh ra tại làng Phú Xuân và đi học ở trường Đồng Khánh, là đủ tiêu chuẩn o Huế rồi.

O sinh ra và đi học ở Huế, nhưng lớn lên một chút thì theo gia đình dọn vào Đà Nẵng, rồi khi lên đại học thì vào Sài Gòn.

Như thế là qua thời gian “chất Huế” của o cứ “loãng” dần theo mỗi chặng đường xuôi Nam. Nhưng có lai thì cũng chỉ lai một chút ở cái giọng nói nhẹ bớt đi thôi, chứ o vẫn là một o Huế chính hiệu.

Tôi gặp o khi lần đầu bước chân vào trường ĐHSP. Hình ảnh ban đầu ấy cho tới bây giờ vẫn còn in đậm trong trí tôi. Một o Huế với mái tóc đen dài buông xõa ngang lưng, với chiếc “băng đô” màu tím Huế đi kèm với cặp kính cận sẫm màu trà rất hợp với khuôn mặt của o. Chiếc áo dài trắng đơn sơ, vừa kín đáo vừa quyến rũ của o, cứ bay bay theo gió khi o ngồi trên chiếc Yamaha màu xanh đời cũ của những năm 66-67, đi đến trường vào mỗi buổi sáng sớm.

Có khi o đi một mình, có lúc o chở thêm cô bạn thân cùng lớp. Hình ảnh đó cứ lập đi lập lại mà trở thành quen thuộc, đến độ mới gần đây tôi tình cờ thấy một tấm ảnh trên “net” được chụp từ phía sau o với cô bạn gái, làm cho tôi chợt kêu lên : “Ai chụp tấm hình nầy vậy ?”. Cũng mái tóc đó, dáng dấp đó, chiếc áo dài đó, cũng chiếc xe cùng hiệu, cùng đời, cùng màu với xe của o.

Tấm ảnh giống đến 99,5%, khi tôi gởi tấm ảnh nầy cho cô bạn của o xem, thì cô bạn cũng kêu lên : “Tấm hình nầy chụp hồi nào vậy ?”. Sau đó tôi xem kỹ lại thì thấy có một chi tiết làm tôi ngờ ngợ là không có… bảng số xe và cái giỏ phía trước.

Thế đấy, tôi giật mình khi thoáng thấy lại cái hình ảnh của o hơn 40 năm trước, tôi cũng hồi hộp xôn xao giống như khi nhìn o lần đầu vậy. Lạ lắm, không biết có ai giống tôi không ? !!!

Có đôi lúc, o thỏ thẻ cất giọng nhẹ nhàng như rót mật vào tai mà hỏi tôi rằng : “Sao mình không chọn một o Nam giống mình hay o Bắc, mà lại chọn o Huế vậy ?”. Thiệt là không biết trả lời sao, khi “thế giới đông người nhưng chỉ thấy riêng em”.

Chính o cũng nhìn nhận một cách hết sức chủ quan là các o Huế…. “không đẹp” như hoa hậu, nhưng nếu làm người mẫu chụp ảnh thì…. điệu không ai bằng. Còn o Nam hay o Bắc thì tôi không dám lạm bàn, nếu lỡ nói bậy rất dễ…. cháy nhà lắm. Chỉ dám nói tới o Huế của tôi thôi, thì o “dễ thương chi lạ” !!!

Mà không phải đến khi gặp o trong sân trường đại học thì tôi mới thích cái “chất Huế” của o, với giọng nhỏ nhẹ đầy dấu nặng hay qua dáng vẻ dịu dàng khép nép rất bắt mắt của một nữ sinh Đồng Khánh ngày nào.

Tôi đã từng kể chuyện cho o nghe về việc học hành thời niên thiếu của mình.

Khi ấy vào khoảng năm học lớp đệ ngũ hay đệ tứ gì đó (lớp 8, lớp 9 bây giờ) ở trường HNC Gia Định, có một cô giáo trẻ mới ra trường về dạy lớp của tôi. Đó là cô N, dạy Anh văn. Giờ đầu tiên của cô giáo làm cho tôi rất thích thú với giọng Huế khá nặng của cô, nhưng lại rất êm tai. Các bạn trong lớp cũng hào hứng khi bỗng đâu một cô tiên thật là ngọt ngào hiền dịu lại lạc vào cái đám nam sinh quỷ quái chúng tôi.

Những giờ học sau đó của cô càng chứng tỏ cái “sức Huế” nó mãnh liệt biết chừng nào. Bọn học sinh chúng tôi cứ mong đến giờ Anh văn, cả lớp im phăng phắc ngóng cổ lên để nghe cô giáo….. nói tiếng Huế, chứ nào có thiết gì đến bài học tiếng Anh đâu. Sự trật tự của lớp tôi dành cho giờ dạy của cô giáo mới chưa bao giờ nặng lời quát mắng học trò, là một ngoại lệ hiếm có.

Nhưng rồi những ngày vui thường qua mau. Khoảng chừng ba bốn tháng sau, cô giáo N không còn dạy lớp tôi nữa vì nghe đâu cô đi… lấy chồng và đổi về trường khác.

Thế là tôi hụt hẫng, mất ăn mất ngủ nhiều tháng trời sau đó. Kỷ niệm của tuổi mới lớn nầy đã gây một ấn tượng sâu sắc trong tôi cho mãi đến bây giờ.

Từ khi tôi biết o Huế đến nay là tròn 43 năm, thời gian không dài lắm nhưng có đôi lúc tôi quên béng đi là tôi có một o Huế bên cạnh, nếu không có vài sự kiện thỉnh thoảng cứ xảy ra “nhắc nhở” tôi.

Vợ chồng tôi khi ra ngoài đi phố, đi chợ búa hay đi đâu đó chút việc, nhiều khi tình cờ gặp một dân Huế nào đó bắt chuyện, thì sau câu chào xã giao thông thường là đến câu thứ hai với giọng điệu mừng rỡ của vị khách lạ:

– “Chị là người Huế à ? Chị ở mô rựa ?”

– “Dạ, tui ở gần cầu Kho Rèn”.

Rồi sau đó là những câu thăm hỏi rối rít vồn vã thân tình giữa hai người, làm như thể cả hai đã quen nhau “từ kiếp trước” rồi. Khi đó tôi bắt đầu đóng vai kẻ thứ ba nhìn hai người nói chuyện mà tôi chẳng hiểu gì cả. Chỉ nội mấy cái địa danh, mấy cái tên ông Nghè, ông Tổng gì đó đã lạ hoắc, nói chi nó được phát âm bởi giọng Huế đặc sệt thì… hết biết luôn.

Hồi lâu sau khi mãi mê với “Huế của mình”, người khách lạ mới sực nhớ lại quay sang hỏi tôi :

– “Còn anh là người ở mô ?”

– “Dạ, tôi là dân Sài Gòn”.

Người khách nhìn tôi như có ý tò mò, nhưng tôi đoán trong đầu anh ta đang thắc mắc là không hiểu sao tôi là dân ở tuốt trong Nam mà lại rinh được một o Huế xa lắc xa lơ “ngoài nớ”. Cái tình cảnh vừa kể trên không phải tôi chỉ đụng một lần, mà hễ gặp dân Huế đâu đó là y như rằng cái điệp khúc “Chị là người Huế à ? Chị ở mô rựa ?” lại bắt đầu và rồi….. cứ thế tới luôn !!!

Các bạn nào có bà xã là o Huế thử xem tôi nói có đúng không ? Dân Huế cứ gặp nhau là rất mừng rỡ, nhất là ở hải ngoại nầy. Họ coi như “chất Huế” là tài sản riêng của con dân đất Thần Kinh, tất cả ai có dính dáng chút xíu đến Huế là đương nhiên trở thành thân thuộc, là người trong nhà với nhau từ thời…. ông Bành Tổ !!!

Đây có lẽ là một đặc điểm trong văn hóa ứng xử của riêng dân Huế, vì tôi không thấy điều nầy ở người miền Nam hay miền Bắc. Chưa hề có một người Nam nào hỏi tôi: “Bộ anh là người Nam hả ?” !!!

Tôi chỉ hay nghe nói “người Nam”, “người Bắc”, chứ hình như ít ai nói “người Trung”. Người Nam thường không phân biệt miệt nào, còn người Bắc đôi lúc có xác định “người Hà Nội”, “dân xứ Nghệ”…..

Riêng “dân Huế” nhất định không cho mình lẫn lộn vào cụm từ “người miền Trung”, mà phải chỉ đích danh “Huế” mới chịu. Mà cũng phải thôi, có lẽ do ở khúc giữa nầy thường bị chia vụn ra như “người Đà Nẵng”, “dân xứ Quảng”, “gốc Bình Định”, “người Nha Trang”, “dân Phan Thiết”. v.v…, nên người Huế “buộc lòng” phải dành riêng cho mình một vương quốc “quý tộc”.(?) Chứ chẳng phải các o Huế kênh kiệu đâu….

Mới đây có người bạn email cho tôi một truyện ngắn dí dỏm “Vợ chồng như khách khứa” của NTTD. Tựa truyện nầy phát xuất từ câu “Phu phụ tương kính như tân”. Ở đây tôi không bàn đến nội dung truyện mà chỉ muốn nói đến chữ “tân” là “khách”.

Tại sao vợ chồng lại phải đối xử với nhau như là khách. Đã là khách thì khách sáo rồi. Đã là khách thì còn gì là chân thật, còn gì là tình tứ lãng mạn nữa. Đã làm khách với nhau thì miệng mồm xởi lởi, rào trước đón sau, tay bắt mặt mừng, nhưng không biết câu nào là thật, câu nào là giả. Đã là khách thì phải dè dặt xem lời nào là nói suông miệng, câu nào là gài độ, khi nói bông đùa mà nghe ra như xiên xỏ !!!

Thế mà cứ bảo vợ chồng phải xem nhau như khách khứa thì quả thật chả còn tình nghĩa đầu ấp tay gối gì nữa.

Đó là chưa nói đến cái kiểu khách khứa bây giờ. Vào một ngày đẹp trời nào đó, bỗng dưng sếp vi hành đến nhà nhân viên “làm khách” khiến chủ nhà mặt mày tái mét, ngồi căng tai nghe cả buổi cũng không hiểu nỗi sếp mình muốn vòi vĩnh cái gì để mà… liệu cơm gắp mắm. Hay là gặp lúc Tết nhất thì thuộc hạ phải đến “làm khách” nhà ông chủ để chúc Tết, mà đã chúc thì phải làm sao…. coi cho được thì làm !!!

Như thế làm khách đâu phải là dễ chịu. Mình là khách của người ta hay người ta là khách của mình thì cũng chỉ là hai cách…. chết khác nhau thôi. Trong hoàn cảnh nầy tôi liên tưởng đến nghĩa khác của chữ “tân” là “cay”, là cay đắng, cay nghiệt .

Cho nên tôi muốn hiểu “tân” là “mới”. Vợ chồng đối xử với nhau lúc nào cũng như lúc mới biết, mới quen, mới cưới. Dù qua thời gian, vẫn giữ gìn lời ăn tiếng nói cho cẩn trọng, đúng lễ nghĩa, biết kềm chế, biết tôn trọng đừng làm tổn thương nhau, việc gì cũng đúng mực, không bất cập, không thái quá.v.v…

Nếu hiểu như thế nầy thì o Huế của tôi đúng là “tương kính như tân” rồi.

Mỗi khi tôi hỏi o một chuyện gì hoặc làm giúp o một việc lặt vặt nào đó, thì o luôn nhỏ nhẹ: “Dạ, em làm rồi mình à “, “Dạ, cám ơn mình”…. Những chi tiết như vậy xem ra cũng là vặt vãnh thôi, vã lại lâu dần tôi quen rồi nên có khi không “thấy” nữa. Nhưng hễ ra ngoài nghe vợ chồng người ta ăn nói với nhau nhát gừng, không đầu không đuôi, thì tôi lại nhớ ra o Huế khác xa cái kiểu ngang phè đó.

Hỏi như vậy thì làm sao mà tôi không mê o cho được !!!

Thập niên 60 là khoảng thời gian nhiều “sóng gió” trong đời tôi. Những năm đầu là ngẩn ngơ trước cô giáo Huế ở trung học, những năm cuối là mê mẩn với o Huế ở đại học. Còn những năm lơ lửng giữa chừng thì bận…. mơ mộng đến các người đẹp trong phim “xi nê”.

Vào thời đó, các rạp chiếu phim bình dân đều chiếu thường trực suốt ngày, giá vé chỉ 5 đồng xem hai phim. Những tên tuổi lớn vẫn còn “theo” tôi đến giờ như Audrey Hepburn trong phim “Roman Holiday” (1953), hay Romy Schneider trong “Sissi” (1955), hoặc những ngôi sao hạng nhì như Giorgia Moll với “The Thief of Bagdad” (1961).

Khi lớn hơn một chút thì trong bóp của tôi đã có ảnh của Sylvie Vartan, cô nàng hát bài “La plus bell pour aller danser” trong phim “Cherchez l’idole” (1964), lúc đó đang chiếu tại rạp Casino Dakao gần cầu Bông. Còn ca khúc vượt thời gian “The house of the rising sun” được ban nhạc The Animals trình diễn trong phim “Pop Gear”(1965), đã gợi cảm hứng cho tôi nuôi mộng trở thành tay trống chuyên nghiệp, nhưng chỉ mãi đến những năm gần đây tôi mới được cầm đũa chơi trên dàn “Tama” trong một thời gian ngắn.

Nhưng từ khi ra đi dạy, tôi không còn cái thú xem phim nữa, kể cả sau nầy khi có thể xem phim online tại nhà. Cho nên những cái tên mới còn nhớ được ngày càng hiếm dần, như Julia Roberts (Pretty Woman, 1990), Sandra Bullock (Speed, 1994), hay Natalie Portman (The Professional, 1994)

oOo

Còn o Huế của tôi thì rất mê xem phim, nhất là phim bộ nhiều tập. Có lúc tôi thấy o cắm cúi rà tìm phim trên web, tôi hỏi, thì o nói  : “Mình ơi, hết phim cho em coi rồi”. Thì ra mấy hãng phim đó quay…. không kịp cho o coi. Vì mê phim như vậy nên chẳng những o không lạ gì các khuôn mặt Chương Tử Di, Phạm Băng Băng, hay Choi Ji Woo, Kim Hye Soo…. mà đôi khi còn nhập tâm cả lời thoại lồng tiếng trong phim nữa. Những lúc đó, o thỏ thẻ vào tai tôi:

– “Mình à,……. Huynh có thích muội không ?”

– “Trời, không thích muội thì thích ai chứ ?”

– “Vậy hả mình,……vậy còn cô bạn gái ở Văn khoa khi xưa….. thì răng ? “

Nghe đến đây tôi bỗng bủn rủn tay chân. Nếu sơ sẩy thì “bể dĩa” như chơi. Thế nên nói chuyện với o phải thật cẩn thận, phải biết câu nào nên trả lời ra sao, chứ mà cứ vô tư thì có ngày sẽ dính chấu với hoạt cảnh “trắng đêm không ngủ”. Lúc đang diễn cái cảnh thỏ thẻ vào tai nầy, tốt nhất là phải nhớ câu “tương kính như…. khách khứa” mới an toàn.

Nói thiệt thì o Huế của tôi cũng có uy lắm đấy, đừng tưởng là o hiền. Đôi lúc vui miệng tôi hỏi o: “Vậy chớ kho rèn ngoài nớ nó rèn cái giống gì vậy ?”, thì o không trả lời mà trừng mắt nhìn tôi !!!

Đến đây, dám có người cho là tôi sinh ra ở gần “kho đạn” Long Bình lắm. Làm gì có chuyện đó. Không tin thì cứ…. đi hỏi o Huế coi. (theo Bùi Thanh Đoàn)

– Huế Xưa – Anh Bằng & Vân Khánh

https://www.youtube.com/watch? v=cTn49Dwvbec

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA

NỬA THẾ KỶ TRƯỚC, PHỤ NỮ SÀI GÒN

ĂN MẶC ĐẸP NHƯ THẾ NÀO ?

Sài Gòn trong những bức ảnh xưa hiện lên với những quý cô xinh đẹp, phóng khoáng và chịu chơi… luôn khiến người ta thích thú.

Sài Gòn đã bước qua những giai kỳ hoa lệ khác nhau, giai kỳ nào cũng tân thời và phồn hoa. Thế kỷ trước, Sài Gòn được những tao nhân mặc khách mà giờ chắc đã ra thiên cổ gần phân nửa ưu ái gọi bằng cái tên Hòn ngọc Viễn Đông.

Tôi luôn tự hỏi, điều gì khiến Sài Gòn được ưu ái gọi tên như thế, do vị trí địa lý phù hợp với những cuộc kinh thương ngoại quốc, do đất chật người đông, ồn ào náo nhiệt với những vũ trường, rạp hát ken đặc người…? Không, có lẽ Sài Gòn được ví như ngọc là bởi con người, nhất là phụ nữ Sài Gòn thời đó.

Phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước đã biết ăn mặc sao cho thật có gu và tạo nên cho mình một hào quang riêng biệt. Từ một cô gái xa lạ băng ngang qua đường với kiểu tóc “bình bông” và đôi kính râm thôi cũng đủ khiến cánh đàn ông đang đọc nhật trình gần đó phải ngẩn ngơ ngước nhìn.

Hay những cô nàng mặc áo dài đáy thắt lưng ong, mắt kẻ viền đen, tay cầm dù hoa đang vội vàng nhảy lên một chiếc xích lô gần đó để đi cho kịp giờ coi hát cũng đủ khiến các ông các anh chạy theo, xin một lần hò hẹn. Và cả những người đàn bà buôn gánh bán bưng nhưng biết chăm chút từng nét chỉ, thớ vải áo dài để bước xuống đường sao cho ra dáng Sài Thành nhất…

Ngắm nhìn những bức ảnh phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước, tôi đồ rằng đó là phố thị duy nhất trên thế giới nơi một người đàn bà bình thường trên phố cũng mang phong thái của một quý bà dạ hội.

H1: Sự giao thoa giữa tân thời và truyền thống đã được phụ nữ Sài Gòn xưa áp dụng triệt để, nhưng không vì thế mà nó kém xinh, ngược lại nó tôn lên vẻ hiện đại nền nã của phụ nữ thời đó.

 H2: Sơ mi trắng và chân váy ngang đầu gối cũng là một mốt thời mấy chục năm trước của những cô nàng trẻ trung hiện đại. H3: Nhìn lướt qua thôi cũng nhận ra đây đích thực là phụ nữ Sài Gòn. H4: Sự hòa trộn tinh tế giữa tân thời và nét cổ Á Đông.

H5: Cách ăn mặc và ngôn ngữ cơ thể cũng đủ để chứng minh đặc tính phóng khoáng của phụ nữ Sài Gòn nửa thế kỷ trước. Áo dài nền nã là vậy, phụ nữ Sài Gòn dường như vẫn chẳng e ấp mà rất cởi mở, tự tin trong phong thái.

H6: Nhóm kích động nhạc “3 trái táo” (Appe Three) ban nhạc 3 cô gái chuyên biểu diễn ở các hộp đêm với lối ăn mặc vô cùng gợi cảm. H7: Nhưng suy cho cùng, dù Sài Gòn ngày ấy có tân thời cách mấy, những người phụ nữ vẫn ưu ái chọn chiếc áo dài mỗi khi xuống phố. H8: Sài Gòn luôn nắng nóng quanh năm nên dù cũng là phụ kiện không thể thiếu của chị em thời đó.

H9: Kiểu tóc pin-up rất đặc trưng của phụ nữ Sài Thành thời trước. H10: Đừng nghĩ phụ nữ Sài Gòn cách đây nửa thế kỷ chỉ biết ăn diện mua sắm, mà đọc báo cũng là một thú tao nhã của chị em. Trong ảnh là một cô gái đứng mua báo tại một kiôt góc đường Tự Do – Nguyễn Văn Thinh (nay là Đồng Khởi – Mạc Thị Bưởi). H11: Ngoài đi bộ dạo phố, nhiều quý bà, quý cô còn chọn xích lô làm phương tiện di chuyển hàng ngày.

H12: Một cô gái đang chăm chú đọc tạp chí Salut Les Copains magazine – tạp chí Pháp rất nổi tiếng vào những năm 60 tại Sài Gòn. H13: Áo dài và xe đạp là hình ảnh thường thấy trong những hình chụp phụ nữ Sài Gòn hơn nửa thế kỷ trước.

H14: Phụ nữ Sài Gòn ngày trước cũng rất ưa đi mua sắm, vào những buổi cuối ngày mát mẻ, chị em hay rủ nhau đến các thương xá để chọn mua những món đồ yêu thích. H15: Một “Paris Phương Đông” phồn thịnh với cub, vespa và những quý cô hợp mốt với chiếc Honda PC.

H16: Một người phụ nữ Sài Gòn mặc áo dài phi bóng tím, tay cầm dù đang ung dung dạo phố tại Công Xã Paris trước 1975. H17: Váy suông cùng họa tiết đơn giản luôn là món đồ được những chị em trẻ tuổi Sài Gòn yêu thích. H18: Khi phụ nữ Sài Gòn đi lễ chùa đầu năm.

H19: Một lối nhỏ kinh kỳ hoa lệ có cô gái Sài Gòn đang vội chân đi. H20: Xe Lam mini, váy bút chì, tóc bob, kính râm thì còn gì hiện đại hơn ? H21: Những quý bà thành đô đang qua đường trong những ánh nhìn ngẩn ngơ. H22: Thật không ngoa khi nói Sài Gòn là phố thị đài các của phương Đông.

H23: Áo dài thướt tha, tóc bay trong gió thì luôn có những ánh mắt dõi theo. H24: Một góc phố giai nhân của Sài Gòn. H25: Quần ống loe – mốt của những năm 70 được phụ nữ Sài Gòn nhiệt liệt chào đón. H26: Những chiếc đầm rất mốt đã được phụ nữ Sài Gòn thế kỷ trước diện chỉ “chậm” hơn xu hướng của thế giới vài tháng.

H27: Quý cô Sài Gòn xưa vừa hiện đại, vừa đài các. H28: Nghinh tân những vẫn thủ cựu, Sài Gòn vẫn luôn là một bức tranh lập thể tuyệt vời như thế. H29: Một cô gái mặc áo dài trắng, đeo khăn trắng và tạo điểm nhấn bởi cặp kính đen, trông không khác nào một bức ảnh bìa của tạp chí nước ngoài. H30: Ngoài những cây dù, kính râm cũng là một phụ kiện không thể thiếu của các quý cô Sài Gòn xưa, vì nó giúp họ toát lên sự thời thượng, sang trọng.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

MỘT THOÁNG SAIGON

MỘT THOÁNG SAIGON

https://youtu.be/8ZHRDd-UVBc

Tôi như nhiều người không sinh ra tại Sài Gòn nhưng suốt học trình từ tiểu học lên đại học được sống với thủ đô của miền Nam, mà qua tên gọi mỹ miều là “Hòn Ngọc viễn Đông”. Tôi suy tư về nguồn gốc các danh từ Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông.

Theo sự truy nguyên, Sài Gòn thuở ban đầu là đất của người Khờ-me, là một làng đánh cá, có tên đầu tiên là Prey Nokor mà Prey là thánh thần (dieu, god) và Nokor là thành phồ hay đô thị (la ville; town, city), mang ý nghĩa là “thành phố thánh thần”.

Năm 1862, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, người Pháp đặt tên chính thức là Saigon. Lấy theo cách giải thích vì sao người Pháp gọi là “Saigon” do theo âm ngữ của người Tàu (Thầy Ngòn, Xi Coón) hay Miên ngữ “Prey Nokor”. Từ đó Saigon được Việt hóa là Sài Gòn.

Vì là thuộc địa của Pháp, thành phố được Pháp xây dựng rất tối tân, mới lạ, được xem là bậc nhất của vùng Đông Nam Á vào thời bấy giờ. Nên Pháp xem đó là Hòn Ngọc Viễn Đông (la Perle de l’Extrême-Orient, the Pearl of the Far East) hay theo sự ví von của người Pháp là Paris Phương Đông (Paris de l’Orient, Paris in the Orient) để ám chỉ là một thành phố giàu sang, lịch lãm của Pháp ở vùng Đông Nam Á.

Giả thuyết khác như theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ “Lũy Sài Gòn” (theo Hán Nho viết là “Sài Côn”). Đây là lần đầu tiên chữ “Sài Gòn” xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán – “Côn” – được dùng thế cho “Gòn”. Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Sài Gòn, không phải đợi đến năm 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị quân Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cống.

Dù sao thì Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông vẫn là một nơi quyến rũ, ấp ủ con tim bao thế hệ dù là gốc Âu hay Á. Trước khi tôi rời Sài Gòn vì biến cố chính trị 1975, những kỷ niệm lưu luyến với Sài Gòn hay Hòn Ngọc viễn Đông có nhiều lắm.

Thời sinh viên thuở ấy sao mà đẹp đẽ trong ngắn ngủi, thời gian trôi qua như cái chớp mắt mà nay đã gần 4 thập niên ly hương, nhìn lại thấy mình không còn trẻ của lứa tuổi hai mươi của Sài Gòn mộng mơ, không còn nữa kỷ niệm đêm đêm tản bộ hóng mát dọc theo bờ sông Sài Gòn, hướng mắt về mái nhà lồng bên kia là Thủ Thiêm từ bến đò, bến bắc, gió thổi mát rượi từ mé sông, không còn nữa kỷ niệm Sài Gòn mưa lãng mạn ta phải luồn lách những vũng nước không tên, trong cái giá lạnh khi lượn xe gắn máy chạy trong cơn mưa rào xối xả từ trời cao mà nước mưa bắn văng tung tóe.

Sài Gòn cũng đã chìm khuất vào dĩ vãng xa xôi, rồi khi kỷ niệm trở về chỉ còn lại những nỗi nhớ đáng yêu bằng nước mắt ấm đầy ắp những lưu luyến yêu thương trong tâm tưởng, đôi lúc âm thầm trở về, cơ hồ như Sài Gòn đã sống dậy mãnh liệt trong tiềm thức cũ, mãi mãi theo ta những nhờ nhung không nguôi như bài ca :

“Sài gòn bây giờ trời mưa hay nắng ?

Tà áo em bay theo giọt nắng vàng

Con đường ta đi giòng sông kỷ niệm

Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu dàng

Sài gòn bây giờ mưa giăng ngập lối

Hai đứa bên nhau âu yếm không rời

Đôi mắt yêu thương làn môi chờ đợi

Từng đợt mưa rơi.. bối rối bồi hồi

Sài gòn bây giờ lòng ai vương vấn

Mai anh đi rồi còn nhớ em không?

Đôi mắt nai tơ buồn xa vời vợi

Cơn gió vô tình đuổi lá vàng rơi

Sài gòn bây giờ có buồn không em?

Mưa vẫn rơi rơi.. từng giọt êm êm

Suối tóc thơm bay hương tình dịu nhẹ

Ngây ngất dạt dào con phố về đêm”

(Sài Gòn Niềm Thương Nỗi Nhớ của Võ Tá Hân, Trần Ngọc)

Sài Gòn gắn bó với tôi bắt đầu bằng những ngày thơ ngây thành phố như một chốn phồn hoa đô hội, người ta có thể bị choáng ngợp với một đô thị mang dáng vẻ tây phương như người con gái kiều diễm, kiêu sa, đài các, rồi cũng ở một góc nào đó Sài Gòn ủ dột của phố đêm, lầy lội của xóm nghèo, trong nét bình dân của tiếng rao hàng, những con kinh nước đen,…

Nhiều người sống với Sài Gòn, dù mưa hay nắng, ban ngày hay ban đêm, bận rộn tất bật hay nhàn rỗi rong ruổi với phố xá của nó. Thưởng thức những món ngon mà cả nhóm bạn tôi khoái khẩu nào là Mì Cây Nhãn, Mì Chú Hỏa, mì La Cay Nguyễn Tri Phương, hủ tiếu gà cá chợ cũ, hủ tiếu saté Lệ Thanh Chợ Lớn. Lề đường Sàigòn xưa có hàng me Nguyễn Du, có hàng sao cao vút khúc Võ Trường Toản, Trưng Vương.

Tôi nhớ rõ có những hàng phượng vĩ và hoàng điệp trong sân trường Petrus Ký, Sài Gòn có trường Gia Long với món bò bía, xe đậu xanh đậu đỏ; có trường Luật Khoa trên đường Duy Tân với xe nước dừa uống môi em ngọt; có trường Dược khoa, Văn khoa chạy về hướng bờ sông Sài Gòn có Bến Bạch Đằng,…  Sài Gòn có những quán kem, quán cà-fé, quán ăn vỉa hè,…

Những sinh hoạt bình dị có quán cơm Bà Cả Đọi, quán Bắc Bà Ba Bủn; để thưởng thức những món Sài Gòn sự khoái khẩu với hệ quả Pavlov cồn cào dạ dầy sau những buổi tan học ngày cũ bạn bè rủ nhau đi ăn hàng Sài Gòn. Tôi nhớ con hẽm kín đáo Casino Sài Gòn nào những bún chả, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Cổ Ngư; những gánh hàng rong, những xe bán thức ăn của khu Bàn Cờ, khu Nguyễn Thiện Thuật, Chợ Vườn Chuối, Chùa Kỳ Viên, Chợ Đũi,… xen kẻ trong trí nhớ có nhiều lưu niệm trong ký ức xưa, có những nhà hàng, những điểm hẹn hò như: Passage Eden, Casino Sài Gòn, Mini Rex, La Pagode, Pôle Nord, Givral, Brodard, khu thương xá Tax,…

Nhắc đến Sài Gòn có những nơi như Continental, Caravelle, Majestic,… Lề đường Saigòn còn có những gánh hàng rong. Thương nhớ làm sao kỷ niệm Sài Gòn có nước mía Viễn Đông có thịt phá lấu, có gỏi đu đủ gan cháy khô bò, có bánh bột chiên, có món bánh cay gần khu Chùa Chà Và mà nhà văn Thinh Quang nhắc tôi hôm nọ. Những thực khách của những nhà hàng sang trọng theo cung cách kiểu tây phương của Sài Gòn, nhưng rồi chính họ cũng là những giới hâm mộ thường trực tại các quán cóc trên vỉa hè Sài Gòn. Đó là những nét đặt thù của Sài Gòn, của người Sài Gòn, hay thuật ngữ phương tây “Saigonais”,  hoặc “Saigonese”.

Nhớ Sài Gòn, làm sao quên nỗi những góc phố, những con đường của nơi ấy nhỉ? Năm 1865, Phó đô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807 – 1876) đại diện cho chính quyền Pháp tiến hành việc đặt tên cho 26 con đường trên địa bàn của thành phố Sài Gòn mà trước đó chỉ được đánh số thứ tự. Trải qua hơn 300 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn đã có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu các tên đường thay đổi do yếu tố chính trị. Thời Pháp thuộc thì đường Tự Do  xưa của ta là đường Catinat; rồi Pháp đặt Charnerta cho tên đường Nguyễn Huệ, Pháp đặt tên đường Mac Mahon ta là Công Lý; và đường Bonard là Lê Lợi; đường Mossard là đường Nguyễn Du; đường mang tên Phó đô đốc HQ Pháp De La Grandlière ta thay bằng tên vua ta đường Gia Long; đường Paul Blanchy tên ta là Hai Bà Trưng), đường Mayer là tên vua ta đường Hiền Vương; và đại lộ Boulevard de la Somme phe ta đặt tên vua, đại lộ Hàm Nghi, nhà tôi ở đường mang tên tây D’Espagne tên ta là vua Lê Thánh Tôn,…

Những khách sạn thời Pháp thuộc tọa lạc ngay trung tâm Sài Gòn đã  là nhân chứng cho bao năm binh biến, vật đổi sao dời. Khách sạn Continental được các kiến trúc sư nổi tiếng của Pháp thiết kế và xây dựng vào năm 1880 và nay là khách sạn lâu đời nhất Việt Nam.

Continental từng đón tiếp nhiều nhân vật nổi tiếng như nhà thơ Nobel của Ấn Độ là Rabindranath Tagore; văn hào Pháp André Malreaux là tác giả của La condition humaine (Thân phận con người 1933), sau làm Bộ trưởng Văn hóa Pháp (1959-1969); văn hào Anh Graham Greene (tác giả của sách bestseller “The Quiet American” – Người Mỹ Trầm Lặng); cựu tổng thống Pháp Jacques Chirac, và nữ tài tử điện ảnh Catherine Deneuve (thủ diễn trong các phim đoạt giải điện ảnh Indochine, Le Dernier Métro, Belle de Jour),…

Chủ nhân đầu tiên của Continental là Pierre Cazeau, nhà sản xuất vật liệu xây dựng, sau bán lại cho Công tước De Montpensier. Chủ sau là Mathieu Francini. Ngoài ra, Continental còn có tên là “Radio Catinat”, nơi mà giới báo chí truyền thông tụ hội, trao dổi, thu nhặt tin tức thời sự “nóng” nhất, sai có, đúng có.

Nhà hàng kỳ cựu sau Continental là Majestic, thành lập năm 1925, nằm ở góc đường Catinat và Luro (sau là Cường Để) nhìn ra bờ sông Sài Gòn, do một thương nhân người Tàu giàu có và nổi tiếng nhất nhì Sài Gòn thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (tức chú Hỏa) xây dựng theo đồ án thiết kế của một kiến trúc sư người Pháp.

Suốt gần 90 năm tuổi của mình, Majestic đã đón tiếp nhiều nhân vật quốc tế, hay chính khách: Tổng thống Pháp Mitterrand, Thái tử Nhật Akishino, Thủ tướng Lý Hiển Long của Singapore, Thái tử Đan Mạch Henrick, Thái tử Anh Andrew, công chúa Thái Lan Maha Chakri Sring Dhorn,…

Các quán cà phê như La Pagode là nơi hội tụ của giới thơ văn, báo chí Sài Gòn một thuở như tụ quán Caffe Trieste nằm trên Vallejo Street (góc đường Grant) hướng bắc của phố San Francisco, chủ nhân là một người Ý di cư, nhưng quán cà phê nảy là nơi mà giới tao nhân mặc khách, những nghệ sĩ lui tới gặp gỡ nhau, nò là phòng hội của những nhà văn Lawrence Ferlinghetti, Alan Watts, Jack Kerouac, Allen Ginsberg, Richard Brautigan, Bob Kaufman, Gregory Corso, Michael McClure, Kenneth Rexroth, Neeli Cherkovski,… nhà thơ  nổi tiếng Jack Hirschman, nghệ sĩ Peter Le Blanc, Don Moses và nhiếp ảnh gia giải Pulitzer là Joe Rosenthal, rồi những Jimo Perini, Bill Cosby, Paul Kantner, Liam Mayclem, Joey Reynolds và Mal Sharpe,… Trieste còn là nơi thi sĩ gốc Nga giải Nobel văn chương Joseph Brodsky lui tới trau chuốt thơ của mình.

Còn nữa. Rồi ở góc phòng còn phảng phất bóng dáng của nhà đạo diễn nổi danh Francis Ford Coppola ngồi đọc và đánh bóng kịch bản phim “The Godfather” những năm 70.

Paris có Café de Flore, ở ngay ngã Tư của Boulevard Saint-Germain và đường St. Benoit, nơi gặp gỡ ngày xưa của văn và triết gia như André Breton, Françoise Sagan, André Malraux, Francois Mauriac, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Albert Camus,…

Cái chung của La Pagode của Sài Gòn, Caffe Trieste của San Francisco hay hay Café de Flore của Paris là những địa điểm tụ họp của giới văn hoá nghệ thuật, những nơi có lịch sử của chính nó.

“Nắng SàiGòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng…”

Sàigòn có thơ Nguyên Sa, có nhạc Ngô Thụy Miên, hỡi những ai đã từng đi dưới cơn nắng của Sài Gòn, bạn còn nhớ chứ ?

Nhà thơ Vũ Uyên Giang cho bài thơ nhớ Sài Gòn xưa, Sài Gòn nhớ nắng, nhớ mưa :

Nhớ quá Sàigòn của thuở xưa

Ta từ Bưu Điện bước ngang qua

Nhà thờ Đức Mẹ nằm im lặng

Con phố Hàn Thuyên nắng nhạt nhòa

Nhớ đến Sàigon một thuở xưa

Buổi chiều nhạt nắng lại rơi mưa

Gọi thầm khe khẽ tên ai đó

Đất khách trong lòng đang đổ mưa.”

 (Lê Sáng chuyển bài Việt Hải)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG ĐẤT NƯỚC CÓ NHIỀU

NGƯỜI ĐẸP NHẤT CHÂU Á

Phụ nữ ở đâu cũng đều xinh đẹp, nhưng tại các quốc gia này tỉ lệ bắt gặp những mỹ nhân thường cao hơn.

Tờ The Toptens đã mở ra một cuộc bình chọn để tìm ra những quốc gia nào ở châu Á sở hữu nhiều người đẹp tự nhiên nhất thông qua sự bình chọn của cư dân mạng. Tới hiện tại, cuộc bình chọn đã nhận được hơn 9000 lượt vote với vô vàn bình luận của độc giả để cùng nhau tìm ra 10 quốc gia may mắn sở hữu nhiều cô gái xinh đẹp tự nhiên nhất trong tổng số 42 quốc gia được đề cử.

1/. Philippines : Chiếm 20% trong tổng số lượt bình chọn đã giúp Philippines bứt phá, vươn lên dẫn đầu trong cuộc đua. Những năm gần đây, Philippines dần trở thành “cường quốc hoa hậu” với nhiều cái tên lần lượt lên ngôi ở các cuộc thi sắc đẹp đình đám thế giới. Thậm chí, ở đất nước này có cả một ngành công nghiệp chuyên đào tạo hoa hậu, giúp các cô gái có được phong thái quyến rũ, bước đi uyển chuyển hút hồn. Vẻ đẹp Philippines thường là sự hòa trộn giữa nét đẹp phương Đông và dòng máu phương Tây, toát lên sự sexy, khỏe khoắn.

H1: Mỹ nhân đẹp nhất Philippines giành số phiếu bình chọn nhiều nhất.

2/. Nhật Bản : Các cô gái xứ Phù Tang sở hữu vẻ đẹp tự nhiên rất riêng, vừa ngây thơ lại vừa quyến rũ. Rất nhiều người đẹp Nhật được xem là biểu tượng sắc đẹp, “thánh nữ” trong mắt mày râu như Kitagawa Keiko, Nozomi Sasaki, Misaki Ito, Reon Kadena… Ở Nhật cũng có rất nhiều cô gái lai với gương mặt đáng yêu như búp bê. Đa số những lời bình luận đều ca ngợi không chỉ vẻ đẹp ngoại hình mà còn cả tài năng của con gái Nhật Bản.

H2: Nhắc đến những mỹ nhân đẹp nhất Nhật Bản thì không thể không nhắc Kitagawa Keiko.

3/. Trung Quốc : Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc tới Trung Hoa khi thống kê những quốc gia sản sinh ra những nữ thần sắc đẹp tự nhiên. Vẻ đẹp của phụ nữ Trung Quốc là vẻ đẹp đậm chất truyền thống với các đường nét nhỏ nhắn, yêu kiều. Trong khi phái đẹp Hàn, Nhật thường toát lên nét đẹp dễ thương thì con gái Trung lại đẹp kiểu thùy mị, trưởng thành. Con gái Trung cũng rất thích để tóc đen cổ điển.

Vị trí thứ 4 trong BXH của Trung Quốc có vẻ khiến nhiều người không đồng tình, mà kì vọng ở một vị trí cao hơn:

H3: Lưu Diệc Phi à một trong những nhan sắc không tuổi được ngưỡng mộ nhất xứ Trung.

4/. Hàn Quốc : Làng giải trí xứ Hàn luôn ngập tràn các mỹ nhân sở hữu vẻ mặt thiên thần khiến các fan phải mê mẩn. Thế nhưng, hầu như công thức chung dành cho những khuôn mặt đình đám ấy đều nằm ở cụm từ “phẫu thuật thẩm mỹ”. Công thức này phổ biến trong showbiz xứ Kim chi đến mức, bất cứ cô nàng/anh chàng nào có vẻ đẹp hoàn hảo là đều bị đem lên bàn cân soi xét mổ xẻ quá khứ trước khi được “hô biến” thành thiên nga.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng Hàn Quốc thiếu đi những sao có nhan sắc tự nhiên mà vẫn đủ sức tỏa sáng giữa rừng những nhan sắc nhân tạo. Và họ vẫn đẹp lên hàng ngày nhờ sự hoàn thiện bản thân và phong cách chứ không chỉ nhờ “dựa dẫm” vào dao kéo.

H4: “Mỹ nữ đẹp nhất Hàn Quốc” Kim Tae Hee

5/. Đài Loan : Các cô gái Đài Loan nổi tiếng là có làn da trắng hồng rạng rỡ, vẻ đẹp tự nhiên không cần dao kéo. Nhiều người đẹp Đài Loan như Thư Kỳ, Thái Y Lâm, Lâm Y Thâm… luôn nằm trong danh sách những ngôi sao khiến mày râu “khao khát” nhất.

Có lẽ cũng vì vậy mà đa số bình luận về những cô gái Đài Loan luôn đến từ các quý ông:

H5: Thư Kỳ cũng được xem là một trong những cô gái đẹp nhất nhì Đài Loan.

6/. Ấn Độ : Phụ nữ Ấn Độ có sự pha trộn hoàn hảo của vẻ đẹp và sự quyến rũ – điều hiếm thấy ở những đất nước khác. Với làn da nâu và đôi mắt sâu đặc biệt, phụ nữ Ấn Độ luôn cuốn hút mắt nhìn. Họ là đại diện của vẻ đẹp phương Đông thâm trầm, duyên dáng, kết hợp hoàn hảo với nét sexy toát lên từ ánh mắt trong veo và bí hiểm.

H6: Hoa hậu Ấn Độ 1994 Aishwarya Rai Bachchan còn được xem là “hoa hậu đẹp nhất thế giới”.

7/. Indonesia : Các người đẹp Indonesia thường xuyên đạt thứ hạng khá tốt khi chinh chiến ở các đấu trường sắc đẹp, đặc biệt là gần đây, Hoa hậu Hòa bình Quốc tế 2016 cũng là người Indonesia. Phụ nữ đất nước này mang vẻ đẹp lai, khỏe khoắn và quyến rũ, lại gây ấn tượng với bạn bè bốn phương bởi những đường nét hài hoà và tự nhiên:

H7: Ariska Putri Petriwi là hoa hậu Indonesia đầu tiên đạt danh hiệu Hoa hậu Hòa bình Thế giới vào năm 2016.

8/. Malaysia : Malaysia nổi tiếng với nhiều hot girl gây bão mạng khắp châu Á. Các cô gái đất nước đang phát triển này sở hữu vẻ đẹp năng động, đáng yêu. Họ cũng được biết đến như một quốc gia thiên về vẻ đẹp tự nhiên, ít dao kéo.

H8: Chloe Leong là hot girl số một tại đất nước Malaysia

9/. Thái Lan : Mỹ nhân Thái Chompoo Araya vốn là gương mặt thân quen với khán giả Việt

Nhắc tới Thái Lan ngày nay, người ta thường hay gợi nhớ tới xứ sở của Phật giáo và là “thiên đường” với những người chuyển giới. Thế nhưng, Thái Lan còn là một trong những cái nôi sản sinh ra những mỹ nhân tự nhiên vô cùng xinh đẹp và quyến rũ. Vẻ đẹp của phụ nữ Thái Lan từ lâu đã được xem là biểu tượng của mà nhiều cô gái hướng đến.

Rất nhiều diễn viên, người mẫu xứ Chùa Vàng được hâm mộ vì có sắc vóc quyến rũ, nét đẹp pha trộn giữa sự e ấp phương Đông và vẻ nóng bỏng phương Tây. Những năm gần đây, Thái Lan cũng thường xuyên làm nên chuyện ở các cuộc thi sắc đẹp quốc tế.

H9: Mỹ nhân Thái Chompoo Araya vốn là gương mặt thân quen với khán giả Việt  (Bùi Zín theo The thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

GIÀNH GIẢI TRANG PHỤC ĐẸP NHẤT 

NHỜ MẶC BỘ VÁY ‘TRÁI SẦU RIÊNG’

Dù chỉ nhận được danh hiệu Á hậu 3 do lùm xùm ‘váy nhái’, Aoom Thaweeporn vẫn kịp bỏ túi giải thưởng Best National Costume của Miss Grand Thailand 2017.

Đêm chung kết Hoa hậu Hòa bình Thái Lan đã diễn ra gay cấn và sôi nổi tại sân vận động Indoor Stadium Huamark, Bangkok, Thái Lan tối 8/7/2017 do nước này là “cái nôi” của cuộc thi nhan sắc thuộc Top 5 thế giới. Kết quả, cô gái 23 tuổi Pamela Pasinetti, Miss Grand Krabi, đã vượt qua 77 người đẹp trên khắp các tỉnh thành của Thái Lan đoạt vương miện Miss Grand Thailand 2017.

Theo ban tổ chức, Pamela Pasinetti mang hai dòng máu Thái Lan và Ý. Tân hoa hậu năm nay 23 tuổi, cao 1,75m, thông thạo 3 thứ tiếng: Thái, Anh, Ý. Cô cũng sẽ đại diện cho Thái Lan trong cuộc thi Hoa hậu Hòa bình Quốc tế 2017 sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 10 tới.

Á hậu 1 là Chatnalin Chotjirawarachat, Miss Kamphaeng Phet và Á hậu 2 thuộc về Sarucha Nilchan, Miss Prachuap Khiri Khan. Gây nhiều tiếc nuối có lẽ là thí sinh giành giải Á hậu 3 Aoom Thaweeporn, Miss Chanthaburi. Cô từng được kỳ vọng cho vị trí cao nhất nhưng sát ngày chung kết vướng phải lùm xùm mặc váy nhái một thương hiệu thời trang quốc tế. Điều này khiến Aoom Thaweeporn dừng chân ở vị trí thứ tư.

Tuy nhiên trang phục sáng tạo từ trái sầu riêng, trái cây nổi tiếng ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Thái Lan nói riêng đã giúp người đẹp giành Best National Costume. Phần thi trang phục dân tộc cũng là điểm mạnh của Miss Grand Thailand 2017, cho thấy nước này là đối thủ nặng đáng gờm khi sang Việt Nam tranh tài vào tháng 10 tới.

Mỹ Nhàn chuyển tiếp

NÓI VỀ BÀI THƠ “MỘNG DƯỚI HOA” ?!

CUỘC ĐỜI CHÌM NỔI

CỦA “MỸ NHÂN” SÀI GÒN XƯA

Được xếp vào danh sách “Tứ đại mỹ nhân”, cuộc đời của những “biểu tượng nhan sắc” một thời ở Sài Gòn những năm thập niên 60 – 70 cũng đổi thay theo năm tháng

1/- Thẩm Thúy Hằng : Nổi lên từ vai diễn Tam Nương trong phim “Người đẹp Bình Dương”, Thẩm Thúy Hằng mang luôn biệt danh này nhờ sự ái mộ của công chúng. Bà cũng được coi là biểu tượng nhan sắc phụ nữ một thời ở Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung.

Thẩm Thúy Hằng tên thật là Nguyễn Kim Phụng. Bà sinh năm 1941 tại Hải Phòng, lớn lên tại An Giang, sau đó khởi nghiệp với vai diễn đầu tiên năm 1958 với hãng phim Mỹ Vân. Ngay sau đó, vai diễn đã giúp bà vụt sáng trở thành minh tinh châu Á suốt những thập kỷ 60 – 70.

Với nhan sắc mặn mà cùng lối diễn xuất tài hoa, Thẩm Thúy Hằng liên tiếp nhận được giải thưởng tại các liên hoan phim lớn tại nước ngoài như LHP Đài Bắc, Ảnh hậu Á Châu trong LHP Á Châu tổ chức tại Hong Kong và Đài Loan năm 1972 – 1974, Nữ diễn viên khả ái nhất tại LHP Mátxcơva và Tasken tại Liên Xô năm 1982…

Thẩm Thúy Hằng không chỉ đóng phim mà còn đóng kịch (Giám đốc đoàn kịch nói Bông Hồng) và cũng khá nổi tiếng trên sân khấu kể cả trước và sau giải phóng. Là một mỹ nhân, lại là người nổi tiếng suốt mấy thập niên, nhưng

Thẩm Thúy Hằng ở tuổi xế chiều có cuộc sống hoàn toàn khép kín. Bà tu tại gia, nghiên cứu Thiền học, làm từ thiện, hầu như ít tiếp xúc bên ngoài. Cuộc đời của một “minh tinh màn bạc”, một phụ nữ “sắc nước hương trời”, sự nghiệp nghệ thuật lẫy lừng đã kết thúc với số phận nghiệt ngã.

Những năm tháng cuối cùng này đối với “Nữ hoàng nhan sắc” quả thật là tột cùng của sự đau khổ. Bà đã trải qua nhiều cuộc giải phẫu lớn nhỏ và sử dụng phương pháp tiêm botox thường xuyên để chống chọi với sự tàn phá của hóa chất trong cơ thể. Nhưng dù cố gắng hết sức, bằng mọi phương pháp kéo dài thời gian nhưng rồi “Người đẹp Bình Dương” lộng lẫy một thời cũng phải chấp nhận sự thật: tất cả những gì đẹp đẽ, lộng lẫy trước đây đã bị đào thải, gương mặt bà biến dạng từng ngày.

Phu quân là tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh,trước 1975 là Thống Đốc ngân hàng say 1975 là tư vấn khối tài chánh cho cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt xưa. Nay ông đã qua đời !

2/- Kiều Chinh : Minh tinh Kiều Chinh là một trong những diễn viên đầu tiên của điện ảnh miền Nam Việt Nam, là diễn viên Việt đầu tiên thành công ở Hollywood. Gắn bó với nghề diễn xuất trong hơn 50 năm qua, bà có một sự nghiệp huy hoàng mà cho tới nay cũng có ít diễn viên người Việt nào có được.

Kiều Chinh tên thật là Nguyễn Thị Kiều Chinh. Bà sinh ngày 3/9/1937 trong một gia đình khá giả tại Hà Nội. Do mẹ mất sớm nên Kiều Chinh được bố rất mực cưng chiều. Năm 1954, bố con Kiều Chinh bị thất lạc nhau. 17 tuổi, bà một mình vào Nam. Năm 20 tuổi, bà bén duyên điện ảnh với vai ni cô trong bộ phim “Hồi chuông Thiên Mụ”. Trước đó, bà đã được các nhà làm phim Mỹ mời tham gia đóng vai Phượng trong bộ phim “Người Mỹ trầm lặng”. Tuy nhiên, do người thân không đồng ý nên bà buộc lòng phải từ chối.

Sau “Hồi chuông Thiên Mụ”, Kiều Chinh tham gia hàng loạt các bộ phim của các đạo diễn Việt Nam cũng như đạo diễn các nước Châu Á như: Ấn Độ, Thái Lan, Đài Loan, Singapore. Bà cũng vinh dự trở thành một trong những diễn viên Việt đầu tiên được các nhà làm phim Hoa Kỳ chú ý. Bà tham gia các phim như Operation CIA, A Yank in Vietnam, Devil Within, Destination Vietnam. Đặc biệt, trong phim Devil Within, Kiều Chinh được vượt qua hàng loạt những gương mặt xinh đẹp và nổi tiếng khác để vào vai Công chúa Ấn Độ.

Sau năm 1975, Kiều Chinh cùng gia đình chuyển sang sinh sống tại Canada. Năm 38 tuổi, Kiều Chinh được bảo lãnh qua Mỹ và bà quyết định quay trở lại với điện ảnh dù phải bắt đầu từ con số 0 và Hollywood vốn là mảnh đất cực kỳ khắc nghiệt đối với những diễn viên, đặc biệt là những diễn viên gốc Á.

Tính tới thời điểm hiện tại, bà đã có mặt trong 100 bộ phim và chương trình truyền hình của Mỹ. Trong đó có những bộ phim nổi tiếng như “The Letter” (1986), “Welcome Home (1989), “Vietnam-Texas” (1989), “What Cooking” (2000), “Face” (2001), “Journey from The Fall” (2004). Với vai diễn trong phim “Joy Luck Club”, Kiều Chinh lọt vào danh sách 50 diễn viên làm khán giả khóc nhiều nhất trong lịch sử điện ảnh.

Hiện, Kiều Chinh đang định cư ở Mỹ nhưng thỉnh thoảng bà vẫn về thăm quê hương. Không chỉ là một phụ nữ hướng về cội nguồn mà bà còn là người đóng góp rất lớn cho một tổ chức từ thiện gồm một số người bạn nước ngoài của bà để xây dựng gần 50 trường học ở Việt Nam.

Gặp gỡ nữ tài tử Kiều Chinh : https://youtu.be/pcdqum6WPCo

Phu quân là Nguyễn Năng Tế, trung tá phụ trách Phòng không kh6ng quân, thời Chủ tịch Ủy  Ban Hành Pháp Trung Ương : Nguyễn Cao Kỳ

3/- Kim Cương : Kim Cương (sinh năm 1937), con gái thứ 3 của NS Bảy Nam, là bầu gánh Đại Phước Cương. Kim Cương được mệnh danh là “kỳ nữ” do tài năng diễn xuất sân khấu, đoạt rất nhiều giải thưởng sân khấu và điện ảnh; tác giả của 70 kịch bản, đạt kỷ lục người viết kịch nói nhiều nhất Việt Nam.

Kim Cương vốn là người bạn thân thiết lâu năm với Thẩm Thúy Hằng. Mặc dù tỏa sáng trên con đường nghệ thuật gần như cùng thời điểm nhưng có thể nói, con đường mà Kim Cương trải qua cũng gặp không ít gian truân. Xuất thân từ gia đình có truyền thống nghệ thuật lâu đời, có mẹ là cố NS Bảy Nam nên Kim Cương cũng chịu sự ảnh hưởng rất nhiều. Ngay từ khi còn nhỏ, bà đã theo gia đình để mưu sinh bằng nghề diễn.

Khác với người bạn thân Thẩm Thúy Hằng, tên tuổi Kim Cương lại gắn liền với sân khấu kịch nói hơn là điện ảnh, mặc dù bà cũng tham gia đóng phim không ít. Rất nhiều vai diễn để đời của bà là những nhân vật đã từng lấy nước mắt của đông đảo khán giả nhiều thế hệ. Trong số đó, có phần lớn các tác phẩm do chính Kim Cương viết kịch bản.

Hơn 10 năm qua, trở thành phó chủ tịch Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi, bà dốc hết sức mình đôn đáo chạy lo kinh phí hằng tháng cho trường dạy nghề dành cho người khuyết tật và kinh phí ăn học cho bao nhiêu trẻ mồ côi.

Phu quân là Trần Trọng Thức cựu biên tập viên báo Tuổi Trẻ. Theo tin thì bà đã ly dị chồng.

Lan Hương chuyển tiếp

NGUỒN GỐC CA KHÚC MỘNG DƯỚI HOA

– Phạm Anh Dũng

“Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng…”

Bài hát nổi tiếng “Mộng Dưới Hoa” được biết, theo các bài nhạc và tập nhạc in trong quá khứ, là nhạc Phạm Đình Chương phổ thơ Đinh Hùng. Sự thật không đúng hoàn toàn như vây.

Có vài tên riêng như “Mộng Dưới Hoa”, “Dưới Hoa Thiên Lý”, “Tự Tình Dưới Hoa” và “Xuôi Dòng Mộng Ảo” có liên hệ đến bài nhạc .

1/. Mộng Dưới Hoa : “Mộng Dưới Hoa” là nhạc Phạm Đình Chương phổ vào bài thơ Mộng Dưới Hoa của Đinh Hùng hay không ? Không đúng vậy vì không có bài thơ nào của Đinh Hùng tên là “Mộng Dưới Hoa” cả.

2/. Dưới Hoa Thiên Lý : Trong tuyển tập nhạc “Mộng Dưới Hoa”, 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, ngay dưới nhạc phẩm “Mộng Dưới Hoa”, tác giả Phạm Đình Chương có viết: “…Viết Mộng Dưới Hoa năm 1957, nguyên bài thơ mang tựa đề “Dưới Hoa Thiên Lý…”.

Thật ra, không thấy bài thơ nào của Đinh Hùng có tên là “Dưới Hoa Thiên Lý”.
Không biết vì sao nhạc sĩ Phạm Đình Chương lại quên và viết như vậy ?

3/.Tình Tự Dưới Hoa : Có phải “Mộng Dưới Hoa” là bài nhạc phổ vào bài thơ “Tình Tự Dưới Hoa” của Đinh Hùng ? Không đúng hòa toàn

“Tình Tự Dưới Hoa” một bài thơ 7 chữ có trong tập thơ “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng và chính từ bài này có bản nhạc “Mộng Dưới Hoa”. Tuy là ý bài hát dựa nhiều vài bài thơ nhưng thật ra chỉ có hai trong sáu đoạn của bài thơ đã phổ thành nhạc. Đó là đoạn thứ nhất của bài thơ:

“Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại

Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng”

và đoạn thứ ba của bài thơ:

“Em đến như mây, chẳng đợi kỳ

Hương ngàn gió núi động hàng mi

Tâm tư khép mở đôi tà áo

Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi”

4/. Xuôi Dòng Mộng Ảo : Một đoạn trong bài thơ 6 chữ này của Đinh Hùng được phổ nhạc và cho vào bài “Mộng Dưới Hoa”. “Xuôi Dòng Mộng Ảo” là một bài thơ, cũng ở trong thi tập “Đường Vào Tình Sử ” của Đinh Hùng. “Xuôi Dòng Mộng Ảo” có tám đoạn và chỉ có đoạn thứ năm có trong bài hát “Mộng Dưới Hoa” làm thành điệp khúc của bài hát:

“Nếu bước chân ngà có mỏi

Xin em dựa xát lòng anh

Ta đi vào tận rừng xanh

Vớt cánh rong vàng bên suối”

Nếu xem kỹ bài hát “Mộng Dưới Hoa” ở cuối bài viết này, sẽ thấy đa số lời của bài “Mộng Dưới Hoa”, nghĩa là đoạn kết (đoạn thứ tư) và toàn bộ Lời 2, không có trong bài thơ nào cả của thi sĩ Đinh Hùng.

Tóm lại, “Mộng Dưới Hoa” là bài nhạc có lời với một phần gồm hai đoạn thơ từ bài thơ 7 chữ “Tự Tình Dưới Hoa”, một phần gồm một đoạn thơ từ bài thơ 6 chữ “Xuôi Dòng Mộng Ảo” và phần lớn không có xuất xứ rõ ràng.

Hầu như chắc chắn Đinh Hùng đã viết cái “phần lớn” đó sau khi Phạm Đình Chương đã viết nhạc vào thơ cho ba đoạn đầu của bài hát.

Ở cuối quyển “Mộng Dưới Hoa”, 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương, có trích lời nhạc sĩ Vũ Thành : “Mộng Dưới Hoa” còn đáng được coi là một kỳ công vì phổ nhạc vào thơ Việt Nam là một việc cực khó… Làm theo thể mẫu hết sức cân đối mà vẫn giữ bằng trắc của từng chữ, ta phải ngả nón trước Phạm Đình Chương.”

Hãy xem thử một câu “Tâm tư khép mở đôi tà áo” đổi thành “Áo bay mở khép nghìn tâm sự”, thì sẽ thấy ngay là bài hát đâu có còn “vẫn giữ bằng trắc của từng chữ” nữa. Công bằng mà nói những chữ của thơ dùng vào bài nhạc đại đa số cũng vẫn giữ đúng vần bằng trắc của thơ thật nhưng không thể nói là “…từng chữ…”

Và có thể cố nhạc sĩ Vũ Thành, vì một lý do nào đó, tưởng lầm bài nhạc phẩm Mộng Dưới Hoa chỉ là nhạc phổ vào nguyên thủy của một bài thơ ?  Tuy nhiên, phải công nhận là Phạm Đình Chương viết nhạc rất khéo léo và lời viết của Đinh Hùng dù là thơ hay không thơ cũng rất… thơ.

Với tên tuổi lẫy lừng của thi và nhạc sĩ Đinh Hùng – Phạm Đình Chương, bài nhạc hay mà lại dễ hát đã thành trở thành một trong những bài nhạc có thể nói phổ thông nhất của Tình Ca Việt Nam.

MỘNG DƯỚI HOA

(nhạc Phạm Đình Chương – thơ/lời Đinh Hùng)

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại

Âu yếm nhìn tôi không nói năng

Ta gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ

Mây ngàn gió núi đọng trên mi

Áo bay mở khép nghìn tâm sự

Hò hẹn lâu rồi em nói đi

Nếu bước chân ngàn có mỏi

Xin em dựa sát lòng anh

Ta đi vào tận rừng xanh

Vớt cánh rong vàng bên suối

Ôi hoa kề vai, hương ngát mái đầu

Đêm nào nghe bước mộng trôi mau

Gió ơi gởi gió lời tâm niệm.

Và nguyện muôn chiều ta có nhau

Lời 2:

Tôi cùng em, mơ những chốn nào

Ước nguyện chung giấc mộng trăng sao

Sánh vai một mái lầu phong nguyệt

Hoa bướm vì em nghiêng cánh chao

Hy vọng thơm như má chớm đào

Anh chờ em tới hẹn chiêm bao

Dưới hoa tưởng thấy ngàn sao rụng

Hoa lệ ân tình môi khát khao

Bước khẽ cho lòng nói nhỏ

Bao nhiêu mộng ước phù du

Ta say thành mộng nghìn thu

Núi biếc sông dài ghi nhớ

Ôi chưa gặp nhau như đã ước thề

Mây hồng giăng tám ngã sơn khê

Bóng hoa ngả xuống bàn tay mộng

Và mộng em cười như giấc mê

TỰ TÌNH DƯỚI HOA

(Thơ Đinh Hùng)

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng:

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng,

Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,

Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay,

Ôi mộng nào hơn giấc mộng này

Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,

Nửa như hoài vọng, nửa như say

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ

Thương hàng gió núi động hàng mi

Tâm tư khép mở đôi tà áo,

Hò hẹn lâu rồi — Em nói đi

Em muốn đôi ta mộng chốn nào

Ước nguyền đã có gác trăng sao

Chuyện tâm tình: dưới hoa thiên lý,

Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ,

Nắng trong hoa, với gió ven hồ

Dành riêng em đấỵ Khi tình tự,

Ta sẽ đi về những cảnh xưa

Rồi buổi u sầu, em với tôi

Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời

Vai kề một mái thơ phong nguyệt,

Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười

XUÔI DÒNG MộNG ẢO

Chim hồng về khu rừng cũ,

Xuân ấy hai lòng mới yêu .

Cùng hoa, bướm trắng sang nhiều,

Nắng thơm những chiều tình tự .

Xin em ngồi trên nhung cỏ,

Nghe suối ca vui nhịp nhàng.

Anh ru cho hồn em ngủ,

Bằng điệu ca sang dịu dàng.

Chim xanh về khu rừng cũ,

Hè tới, hai lòng còn yêu .

Cỏ thơm mọc đã cao nhiều,

Cành mộng bao nhiêu hoa đỏ!

Nếu bước chân ngà có mỏi,

xin em dựa sát lòng anh.

Ta đi vào tận rừng xanh,

Vớt cánh rong vàng bên suối.

Lá đỏ rơi trong rừng cũ,

Thu về, hai lòng còn yêu.

Đường tình trải một làn rêu,

Ngơ ngẩn hồn chiều tư lự.

Em có lên sườn núi biếc,

Nhặt cánh hoa mơ gài đầu.

Này đôi nai vàng xa nhau,

Có tiếng gọi sầu thảm thiết.

Chim buồn xa khu rừng cũ,

Đồi núi trập trùng cỏ rêu.

Hai lòng nay đã thôi yêu,

Có tiếng suối chiều nức nở.

Em không nghe mùa thu hết ?

Em không xem nắng thu tàn ?

Trời ơi! Giọt lệ này tan,

Là lúc linh hồn anh chết !

– Tiếng hát : Vũ Khanh :   https://youtu.be/j_V0OyLWtqk

– Tuần Ngọc : https://www.youtube.com/watch?v=S5e5mwDYvaU

Sang Huỳnh chuyển tiếp

TỬ VI TÂY PHƯƠNG THÁNG 8/2017

GIEO QUẺ THÁNG 8/2017 CỦA BẠN

1/- BẢO BÌNH (20/1 – 18/2)

Bảo Bình bạn sẽ đi du lịch nhiều hơn trong tháng này so với một vài năm gần đây. Những áp lực khiến bạn phải thay đổi chỗ ở thường xuyên và phát triển những mối quan hệ mới vô cùng thú vị. Bảo Bình cũng nhận thấy bản thân đang trở nên mạnh mẽ và quyết đoán hơn.

Nửa đầu của tháng 8 này đánh dấu sự thăng hoa của những điều lãng mạn, khi gặp một người mới hoặc có thể phát triển mối quan hệ mà Bảo Bình là một ứng viên sáng giá. Tuy nhiên, có thể người Bảo Bình đang yêu thương, hoặc thậm chí là đối tác kinh doanh của bạn sẽ bỏ đi và không muốn liên quan đến bạn nữa. Nếu điều này xảy ra, Bảo Bình hãy cố gắng đưa ra những quyết định chín chắn và bình tĩnh.

Nửa đầu của tháng cho thấy Bảo Bình đang tận hưởng quãng thời gian rảnh rỗi, vui chơi, thư giãn và tránh xa công việc. Và Bảo Bình sẽ làm việc cật lực hơn vào nửa sau của tháng, nhưng các lợi ích tài chính sẽ là phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực của bạn.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 29, 30, 31

Ngày kém may mắn: 8, 9, 10, 16, 17, 22, 23, 27, 28

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 6, 7, 13, 14, 16, 17, 18, 22, 23, 27, 30, 31

Ngày thuận lợi cho tài chính: 1, 2, 5, 11, 12, 15, 16, 20, 21, 22, 28, 31

Ngày thuận lợi cho công việc: 8, 14, 15, 18, 22, 23, 27, 29, 30

2/- SONG NGƯ (19/2 – 20/3)

Những vấn đề về tài chính là mối bận tâm hàng đầu của Song Ngư trong tháng 8. Đừng e ngại khi nghĩ đến một cơ hội đầu tư mới. Nửa đầu của tháng, có thể Song Ngư sẽ tái lập các mối quan hệ với các thành viên gia đình hoặc những người mà bạn đã không được gặp trong một thời gian dài. Gia đình sẽ giúp Song Ngư cân bằng cuộc sống. Song Ngư sẽ thấy nhiều kết quả tích cực.

Nửa sau của tháng sẽ chứng kiến sự phát triển trong đời sống tình cảm của Song Ngư. Nếu bạn đã bị ràng buộc bởi một mối quan hệ nào đó, đây là lúc Song Ngư nên thực hiện một số kế hoạch cho thấy bạn thật lòng quan tâm đến người ấy. Nếu còn đang độc thân thì đây là cơ hội để thay đổi và đón nhận những điều lãng mạn. Cũng trong nửa sau của tháng 8, Song Ngư sẽ hết mình với các hoạt động thư giãn, giải trí và các trò chơi thú vị khác.

Ngày may mắn : 4, 5, 13, 14, 15, 22, 23, 27, 28

Ngày kém may mắn: 11, 12, 18, 19, 24, 25, 29. 30

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 2, 3, 13, 14, 16, 17, 18, 19, 22, 23, 24, 25, 31

Ngày thuận lợi cho tài chính: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 15, 20, 21, 27. 28, 30

Ngày thuận lợi cho công việc: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 24, 25. 27. 31

3/- BẠCH DƯƠNG (21/3 – 19/4)

Các Bạch Dương sẽ cảm thấy một sự bùng nổ năng lượng trong suốt tháng này. Bạch Dương sẽ dễ dàng hoàn thành những công việc và dự án được giao. Tháng 6 này, Bạch Dương cũng muốn tham gia vào một vài hoạt động về thể chất để cải thiện sức khỏe cũng như ngoại hình.

Nửa đầu của tháng mang đến cho Bạch Dương vài chuyến đi thú vị. Đó có thể là vì công việc hoặc thư giãn, và dù thế nào Bạch Dương cũng sẽ có một khoảng thời gian đẹp. Đầu tháng là một khoảng thời gian tốt để cải thiện những kỹ năng giao tiếp của bạn.

Tính cách hơi lăng nhăng có thể sẽ khiến Bạch Dương rơi vào một vài tình huống khó xử trong những tuần cuối tháng khi mà bạn tạo lập những mối quan hệ mới và tiến tới thân thiết với ít nhất một vài người mà có thể bạn không thực sự quen biết.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25, 27, 31

Ngày kém may mắn: 13, 14, 15, 20, 21, 26, 28, 29, 30

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 2, 3, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 31

Ngày thuận lợi cho tài chính: 8, 9, 10, 11,12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 29, 30

Ngày thuận lợi cho công việc: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 30, 31

4/- KIM NGƯU (20/4 – 20/5)

Tháng 8 của Kim Ngưu ngập tràn những cơ hội mới đầy thú vị từ công việc, gia đình đến cá nhân. Đây sẽ là cơ hội tốt để sống chậm, thư giãn và nhìn lại chính mình. Đừng để mình bị sa lầy trong những cảm xúc tiêu cực mà bạn đã trải qua.

Nửa đầu tháng 8, Kim Ngưu hãy cân nhắc kỹ lưỡng từng khoản chi tiêu. May mắn về tiền bạc đang đến với bạn. Điều đó được thể hiện trong các khoản lợi nhuận đầu tư dài hạn hoặc ngắn hạn. Và rất có thể, Kim Ngưu sẽ nhận được những món quà bất ngờ đấy.

Nửa cuối tháng, sẽ có một người nào đó gần gũi mà Kim Ngưu muốn chia sẻ rất nhiều. Cuộc nói chuyện trở nên nhẹ nhàng và thoải mái. Một điều nữa rất quan trọng, Kim Ngưu hãy giữ các kênh giao tiếp luôn cởi mở tại mọi thời điểm nhé !

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28, 30

Ngày kém may mắn: 1, 2, 16, 17, 22, 23, 25, 26, 29, 31

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 2, 3, 8, 13, 14, 18, 22, 23, 27

Ngày thuận lợi cho tài chính: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 20, 21, 24, 25, 30

Ngày thuận lợi cho công việc: 1, 2, 6, 16, 24, 27, 30, 31

5/- SONG NAM (21/5 – 21/6)

Các Song Nam sẽ nhận thấy các mối quan hệ cá nhân lẫn kinh doanh của bạn đang trở nên cực kỳ năng động trong tháng 8. Những kế hoạch ngắn và dài hạn trong thời gian này đều mang lại cho Song Nam doanh thu nhiều hơn dự kiến ban đầu. Song Nam sẽ giao tiếp với mọi người hiệu quả hơn vào thời gian này. Điều này đem lại cho Song Nam rất nhiều lợi thế trong giao dịch kinh doanh và cả những chuyện tình cảm cá nhân.

Những người bạn mới sẽ đến với Song Nam trong nửa đầu của tháng 8 cùng rất nhiều chuyến đi nhỏ và dễ chịu, dù là cho mục đích kinh doanh hay thư giãn cá nhân. Những kinh nghiệm mà Song Nam có được khi bước ra bên ngoài sẽ mang lại nền tảng tuyệt vời để xây dựng cuộc sống của bạn.

Suốt nửa cuối của tháng 8, Song Nam có thể đạt được thành công lớn tại nơi làm việc hoặc trong sự nghiệp của bạn. Đây là cơ hội để bạn tỏa sáng.

Ngày may mắn: 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 31

Ngày kém may mắn: 4, 5, 18, 19, 24, 25, 26, 30

Ngày thuận lợi cho tình cảm:: 1, 2, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 24, 25

Ngày thuận lợi cho tài chính: 7, 8, 9, 11, 12, 13, 14, 15, 17, 18, 20, 21, 27, 31

Ngày thuận lợi cho công việc:, 4, 5, 13, 22, 25, 27, 29, 31

6/- BẮC GIẢI (22/6 – 22/7)

Tháng này, Bắc Giải nên chú ý tới sức khỏe của mình. Đây là khoảng thời gian tuyệt vời để bắt đầu một lối sống năng động và khoẻ mạnh hơn. Cấp độ cao của các hoạt động cũng sẽ hỗ trợ Bắc Giải trong việc giải quyết vấn đề, bao gồm cả vấn đề phức tạp và đơn giản tại nơi làm việc. Và Bắc Giải sẽ trở nên thật sự nổi bật.

Nửa đầu của tháng sẽ mang đến Bắc Giải cho sự gia tăng đáng kể trong sức hấp dẫn của bạn đối với người khác giới. Bất kỳ mối quan hệ Bắc Giải đang có đều sẽ đạt đến những cảm xúc hài hoà. Còn nếu Bắc Giải đang độc thân thì bạn sẽ có cơ hội gặp một ai đó rất đặc biệt với một tốc độ mà chính bạn cũng không thể tin được.

Hai tuần cuối của tháng Bắc Giải nhận được rất nhiều niềm vui từ việc tìm tòi các kiến thức mới. Du lịch cũng là một điều nổi bật trong hai tuần cuối của tháng 8 này. Đây là một cơ hội tốt để Bắc Giải lấy thêm kinh nghiệm để hiểu về thế giới xung quanh cũng như làm quen với thật nhiều người bạn mới.

Ngày may mắn: 4, 5, 13, 14, 15, 22, 23, 28, 30, 31

Ngày kém may mắn: 6, 7, 20, 21, 24, 25, 27, 29

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 1, 2, 3, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 27, 28, 31

Ngày thuận lợi cho tài chính: 1, 7, 11, 12, 16, 17, 18, 20, 21, 27, 31

Ngày thuận lợi cho công việc: 1, 2, 6, 7, 11, 12, 20, 21, 28, 29

7/- HẢI SƯ (23/7 – 22/8)

Tháng 8 này Hải Sư sẽ bùng nổ trong khả năng sáng tạo, sự khao khát và cả tính cách bướng bỉnh của bản thân. Nếu Hải Sư đang nghĩ tới việc bắt đầu một dự án mới, đặc biệt là dự án có tính nghệ thuật, thì đây chính là thời điểm để thực hiện.

Còn với những mối quan hệ cá nhân, có thể Hải Sư sẽ mạnh mẽ hơn bình thường một chút, đặc biệt là trong các vấn đề liên quan đến công việc và điều này sẽ có lợi cho bạn.

Nửa đầu tháng, Hải Sư nên cố gắng hài hòa trong cuộc sống cá nhân, đặc biệt là gia đình. Có lẽ Hải Sư sẽ quen thêm nhiều bạn mới và thậm chí có thể có những mối quan hệ ngọt ngào mà bản thân không hề kỳ vọng. Sự lãng mạn lên ngôi trong nửa sau của tháng 8, khi mà tình yêu đích thực gõ cửa và cuối cùng Hải Sư cũng sẵn sàng để đáp lại tiếng gọi của nó.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25, 30, 31

Ngày kém may mắn: 1, 2, 8, 9, 10, 22, 23, 27, 29

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 1, 2, 3, 6, 13, 14, 16, 22, 23, 24

Ngày thuận lợi cho tài chính: 7, 11, 12, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 24, 25, 28, 30

Ngày thuận lợi cho công việc: 2, 3, 8, 9, 10, 13, 14, 22, 23, 29, 31

8/- XỬ NỮ (23/8 – 22/9)

Các Xử Nữ sẽ phải thật sự lưu tâm giải quyết những vấn đề liên quan đến gia đình trong tháng này. Hãy mở rộng trái tim và tâm hồn với mọi người trong gia đình nhé.

Nếu Xử Nữ đang xem xét một bước tiến trong công việc mới hoặc môi trường sống, thì nửa đầu của tháng là thời gian tốt để thực hiện những công việc đó. Mặt khác, các Xử Nữ hãy cật lực làm việc cho vị trí hiện tại và phát triển những mối quan hệ nơi làm việc nếu vẫn muốn tiếp tục làm ở chỗ cũ. Có thể, Xử Nữ sẽ gặp vài vấn đề rắc rối thường nhật, nhưng khi giải quyết xong, bạn sẽ vui hơn nhiều.

Nửa sau của tháng là khoảng thời gian dành cho cá nhân và những mối quan hệ công việc. Đây là lúc để Xử Nữ thiết lập những quan hệ mới và khiến chúng trợ giúp thiết thực cho cuộc sống của bạn. Hãy cố giữ gìn những mối quan hệ ấy.

Ngày may mắn: 8, 9, 10, 18, 19, 27, 28, 30

Ngày kém may mắn: 4, 5, 11, 12, 24, 25, 31

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 2, 3, 4, 5, 13, 14, 22, 23, 25, 29, 30

Ngày thuận lợi cho tài chính: 1, 2, , 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 27, 28, 31

Ngày thuận lợi cho công việc: 6, 7, 11, 12, 16, 17, 24, 25, 27, 28, 30

9/- THIÊN XỨNG (23/9 – 22/10)

Tháng này Thiên Xứng có xu hướng liều lĩnh hơn, đặc biệt trong khoảng 2 tuần đầu của tháng 10. Sẽ có một số sự thay đổi đến với cuộc sống của bạn. Thiên Xứng sẽ dần đạt được vài thành quả trong mục tiêu lâu dài của cuộc đời mình. Thiên Xứng hãy chấp nhận cuộc sống như nó vốn dĩ và tiến lên phía trước một cách hoàn hảo nhất. Có hàng trăm điều tốt đẹp đang chờ Thiên Xứng ở con đường trước mặt.

Nửa đầu tháng 8 là cơ hội cho Thiên Xứng tỏa sáng trong công việc, và bạn sẽ trở nên “bất khả chiến bại” ngay cả với những đồng nghiệp kỳ cựu hoặc cấp trên.

Sự lãng mạn sẽ tìm đến với Thiên Xứng ngay trong hai tuần cuối tháng bận rộn. Những kế hoạch mới có thể chứa đựng sự tiến triển trong tình cảm với người Thiên Xứng đã cố gắng muốn ở bên cạnh từ lâu mà chưa được.

Ngày may mắn: 1, 2, 11, 12, 20, 21. 27, 28, 30

Ngày kém may mắn: 6, 7, 13, 14, 15, 26, 29, 31

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 3, 6, 7, 11, 12, 13, 14, 20, 21, 22, 23, 28,30

Ngày thuận lợi cho tài chính: 1, 2, 8, 11, 12, 18, 20, 21, 22, 23, 27, 30, 31

Ngày thuận lợi cho công việc: 6, 7, 13, 14, 15, 17, 18, 27

10/- HỔ CÁP (23/10 – 21/11)

Tháng 8, các Hổ Cáp sẽ có nhiều hứng thú với việc học hỏi những điều mới lạ và có xu hướng thiên về việc thực hành hơn khi tham gia nghiên cứu khoa học.

Nửa đầu tháng là khoảng thời gian tuyệt vời để mở rộng các mối quan hệ mới hoặc củng cố các mối quan hệ với bạn bè hay người yêu. Hổ Cáp và cá tính của mình tạo ra sức hút đối với những người khác, từ đó mà bạn cũng dễ dàng truyền đạt suy nghĩ và quan điểm của mình hơn.

Nếu có người bạn nào Hổ Cáp từng xích mích, đây là thời điểm thích hợp để giảng hòa với họ. Đây cũng là khoảng thời gian mà các Hổ Cáp dự định tương lai sẽ gia tăng đáng kể.

Hai tuần cuối của tháng 8, nên dành thời gian để nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe cũng như tinh thần. Bất kỳ một ai, kể cả Hổ Cáp, cũng đều cần có những khoảng lặng nho nhỏ để xem xét mọi việc và chuẩn bị cho những gì xảy ra sắp tới.

Ngày may mắn: 1, 2, 8, 9, 10, 16, 17, 24, 29, 30

Ngày kém may mắn: 6, 11, 15, 18, 23, 28. 31

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 2, 3, 8, 9, 10, 13, 14, 22, 23, 30

Ngày thuận lợi cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 24, 25, 28, 31

Ngày thuận lợi cho công việc: 6, 7, 16, 17, 18, 27, 30

11/- NHÂN MÃ (22/11 – 21/12)

Tháng 8, Nhân Mã sẽ quan tâm đến việc xây dựng sự nghiệp của bản thân. Hiện giờ Nhân Mã có đủ sức mạnh và năng lượng để giải quyết vấn đề của dự án trước mắt, vậy nên đừng ngần ngại sử dụng lợi thế của mình nhé.

Nửa đầu tháng có thể sẽ mang đến Nhân Mã một chút bối rối cho bạn, nhưng theo một cách khá tích cực. Nhân Mã sẽ có cơ hội bắt đầu một mối quan hệ lãng mạn trong một hoàn cảnh bí ẩn. Có lẽ tình yêu mà Nhân Mã tưởng chừng đã đánh mất sẽ đặt chân vào cuộc sống của bạn một cách bất ngờ. Hoặc có thể bạn sẽ gặp một người lạ và cảm nhận tình yêu sét đánh với người ấy.

Nhân Mã sẽ tập trung sự chú ý vào diện mạo của mình trong nửa sau của tháng. Bất kỳ một thay đổi hay cả thiện nào về vẻ bên ngoài đều có thể đưa Nhân Mã đến thế giới của những điều lãng mạn. Vẻ đẹp của Nhân Mã sẽ rất nổi bật.

Ngày may mắn: 6, 7, 16, 17, 24, 25, 27, 31

Ngày kém may mắn: 4, 5, 11, 12, 18, 19, 20, 22, 30

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 2, 3, 11, 12, 13, 14, 16, 17, 22, 23, 24, 25, 28, 31

Ngày thuận lợi cho tài chính: 1, 2, 11, 12, 20, 21, 27, 28, 29, 30, 31

Ngày thuận lợi cho công việc: 6, 7, 16, 17, 18, 19, 24, 25, 29

12/- NAM DƯƠNG (22/12 – 19/1)

Đây là thời điểm phù hợp để Nam Dương giữ thái độ chủ động trong giao tiếp với bạn bè. Trong cuộc sống gia đình, Nam Dương sẽ cảm nhận được sự cạnh tranh đến từ một ai đó. Hãy cho chính bạn cơ hội quan sát sự trưởng thành của người đó nhé. Nam Dương cũng sẽ cảm thấy được thái độ đua tranh ấy trong các mối quan hệ ngoài xã hội nữa.

Nếu một người Nam Dương hoặc đồng nghiệp quyết định rằng đây là thời điểm để hai bạn cạnh tranh nghiêm túc thì đừng ngần ngại tham gia với tất cả trái tim, tâm trí và sức mạnh. Đây không chỉ là cơ hội để học các kỹ năng từ người khác mà còn giúp bạn nâng cao ý thức về giá trị bản thân và tôn trọng các khả năng bẩm sinh của mình.

Trong nửa đầu tháng, Nam Dương sẽ chú ý đến vẻ bề ngoài nhiều hơn. Phong cách chỉnh chu sẽ là nhân tố quyết định trong một cuộc cạnh tranh mà chính bản thân Nam Dương cũng không hề nhận thấy. Suốt nửa sau của tháng, Nam Dương có thể sử dụng vẻ đẹp và lợi thế cá nhân trong kinh doanh và các vấn đề tài chính.

Ngày may mắn: 1, 2, 10, 11, 19, 20, 21, 26, 30

Ngày kém may mắn: 3, 4, 17, 18, 24, 25. 27, 28, 31

Ngày thuận lợi cho tình cảm: 8, 9, 17, 18, 24, 25, 30

Ngày thuận lợi cho tài chính: 1, 2, 8, 10, 11, 12, 13, 17, 19, 20, 27, 29

Ngày thuận lợi cho công việc: 3, 4, 8, 9, 18, 22, 25, 30, 31

Quế Phượng (theo Horoscope)

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

CÀ PHÊ VĂN NGHỆ SÀI GÒN

CÀ PHÊ VĂN NGHỆ SÀI GÒN

Người Sài Gòn có thể uống cà phê bất cứ lúc nào trong ngày.

– Từ Kế Tường

Uống cà phê buổi sáng sớm theo thói quen ở quán cóc lề đường, bàn chuyện tào lao thế sự với bạn bè hay ngồi một mình ngắm phố phường trong sương sớm để thư giãn, chiêm nghiệm thế thái nhân tình hay hoài niệm những khảnh khắc vui buồn xảy ra trong đời mình.

Uống cà phê buổi trưa kết hợp với bữa ăn trưa để bàn công việc, sơ thảo nội dung một bản hợp đồng làm ăn, thậm chí tìm một góc tịnh tâm, trốn nắng, trú mưa trước khi trở về công ty, cơ quan làm việc buổi chiều.

Nhưng “cà phê văn nghệ” có mục đích hẳn hoi và dứt khoát chỉ vào buổi tối khi thành phố lên đèn. Đó là cơ cơ hội hẹn hò của thanh niên nam nữ yêu nhau tìm một nơi chốn lãng mạn, êm đềm để tâm sự, chia sẻ trong một không gian “văn nghệ” mà âm nhạc là đường dẫn tới sự thăng hoa của đôi tâm hồn. Không chỉ có không gian, mà thời cũng luôn song hành cho những phút giây lãng mạn ấy, đó là cảm giác chỉ riêng hai người giữa một đám đông đồng điệu. Chính vì nhu cầu ấy mà những quán cà phê văn nghệ ra đời.

Trước năm 1975 có một số quán cà phê văn nghệ “đình đám” ở Sài Gòn thu hút thanh niêm nam nữ, văn nghệ sĩ tới ngồi bên ly cà phê, thưởng thức văn nghệ với sân khấu nhỏ rất đơn sơ, chỉ là một bục gỗ cao cho ca sĩ đứng hát và người đệm đàn thùng, một chân cắm micro có dây, dàn âm ly và loa khuyếch đại âm thanh.

Những dụng cụ này đặt trong một ngôi quán bên đường khu trung tâm Q1, Q3…với vài chục cái bàn thấp, ghế ngồi chẳng cần trang trí, bày trí hoa hòe hoa sói gì nhiều, đã là một tụ điểm thu hút dân sành điệu tới một không gian cà phê văn nghệ rất lãng mạn, xôm tụ tạo một sinh hoạt rất riêng của Sài Gòn về đêm bên cạnh những nơi giải trí ồn ào khác như vũ trường, quán bar, nhà hàng ăn nhậu mọc ra như nấm ở Sài Gòn thủa ấy.

Quán cà phê “Thằng Bờm”, nằm ở góc đường Nguyễn Thái Học- Phạm Ngũ Lão Q1 của nhóm sinh viên Luật khoa, được coi là quán cà phê văn nghệ dành cho giới sinh viên học sinh, có lẽ là tiền thân của sân khấu “hát với nhau” sau năm 1975. Bởi ngoài các ca sĩ được tăng cường và hai buổi tối cuối tuần thứ bảy – chủ nhật thì ngày thường người tới uống cà phê cao hứng có thể lên hát, chỉ cần viết một mảnh giấy đăng ký bài hát và họ tên đưa cho chủ quán rồi ngồi chờ tới lượt mình được giới thiệu lên “sân khấu”, không hát thì đọc thơ, tự đêm đàn hay nhờ “nhạc sĩ” của quán đệm đàn. Quán “Thằng Bờm” rất nổi tiếng, tồn tại một thời gian khá dài.

Quán cà phê “Hầm gió” nằm trên đường Võ Tánh (Nguyễn Trãi bây giờ) cũng thuộc Q1. Quán này của nhóm nhạc trẻ Nam Lộc – Trường Kỳ, bề thế, đẹp hơn quán “Thằng Bờm” rất nhiều. Gọi là “Hầm Gió” vì quán là một cái hầm, không gian khá rộng, chứa được gần 100 người.

Do ở đây văn nghệ mang tính chuyên nghiệp hơn, thường xuyên có các ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng tới trình diễn, sân khấu cũng “hoành tráng” nên “Hầm Gió”  dịp cuối tuần rất đông khách.

Những cặp đôi ca sĩ-nhạc sĩ của Sài Gòn thời đó bắt đầu nổi lên cũng từ quán cà phê “Hầm Gió”, lúc đó ca sĩ Thanh Lan còn rất trẻ, vừa đi học trường Tây vừa đi hát, cùng với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng thành một cặp đôi rất được giới trẻ hâm mộ, thường xuyên xuất hiện ở “Hầm Gió”. Thanh Lan lên sân khấu với bộ áo dài lụa màu trắng hay màu vàng nhạt, vẫn còn nhí nhảnh và hồn nhiên bên cạnh Trầm Tử Thiêng rất “bụi”.

Quán “Cây Tre” của ca sĩ Khánh Ly nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng, bên trong con hẻm nhỏ, kế bên sân vận động Hoa Lư cũng thuộc Q1, một thời cũng rất nổi tiếng. Ngoài ca sĩ Khánh Ly, Ngọc Minh (em gái của Khánh Ly), còn xuất hiện nhiều cặp đôi đình đám bấy giờ như Lê Uyên – Phương, Từ Dung – Từ Công Phụng.

Nhưng đặc biệt, một quán cà phê ghi đậm dấu ấn một thời cà phê văn nghệ Sài Gòn có lẽ là “Hội quán Văn”, gọi tắt là cà phê Văn, của nhóm sinh viên đại học Văn Khoa, nằm phía sau trường, trên khoảng đất trống khá rộng ở góc đường Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa bây giờ) – Lê Thánh Tôn Q1. Quán thì rất sơ sài, chỉ là một gian nhà trống, mái tôn, vách cót ép,  bàn thấp, ghế thấp. Nhưng mỗi đêm có hàng trăm thanh niên sinh viên học sinh, văn nghệ sĩ tới uống cà phê, thưởng thức văn nghệ “ngoài trời”.

Chính ở quán cà phê Văn, ca sĩ Khánh Ly từ Đà Lạt xuống kết hợp với Trịnh Công Sơn thành một “cặp đôi hoàn hảo”, đình đảm, tạo thành những đêm nhạc tình ca, phản chiến khuấy động Sài Gòn và từ đó Khánh Ly nổi danh với danh hiệu “ca sĩ chân đất” bởi khi hát với Trịnh Công sơn trên bục gỗ sân khấu ngoài trời quán Văn, có lúc cao hứng Khánh Ly đã lột cả dép đi chân trần trên cỏ. Và ca khúc tạo dấu ấn lúc bấy giờ của Khánh Ly là “Ca khúc da vàng”, “Diễm xưa”, “Hạ trắng”…

Sau năm 1975, một thời gian khá dài, người Sài Gòn cũng trở lại với thói quen uống cà phê cóc mà mở đầu rất sớm là khu vực cà phê cóc hồ Con Rùa Q1. Khu vực này một thời sau năm 1975 có thể nói là khu vực cà phê cóc văn nghệ Sài Gòn vì một số văn nghệ sĩ ra đây mở quán cà phê vỉa hè, sáng mở, chiều tối dọn, chỉ một xe đẩy nhỏ dựng ly tách, bình thủy, vài cái bàn, chục cái ghế, cây đàn thùng…là thành một quán cà phê. Khách tới uống thoải mái, có khi ngồi đồng từ sáng trới trưa, từ trưa tới chiều, bày bàn nhậu tới khuya, đàn hát, ngâm thơ đập bồn, đập bát tới mệt xỉu mới tan hàng.

Sau đó, Sài Gòn nở rộ phong trào mở quán cà phê văn nghệ có sân khấu ca nhạc hằng đêm và tăng cường ca sĩ, tấu hài mỗi tối cuối tuần. Quán cà phê Champa nằm trên đường Nguyễn Thông Q3 là một điển hình, quán rất nổi tiếng và một loạt ca sĩ trẻ, nhóm tấu hài thành danh từ đây. Sau đó tới một loạt các phòng trà như Đồng Dao, Tiếng Tơ Đồng, Thế Kỷ và phòng trà trên lầu cà phê Broda, rồi Phiêu Linh  ở góc đường Lê Thánh Tôn – Nguyễn Huệ Q1 hoạt động hàng đêm rất nhộn nhịp.

Nhưng dấu ấn quán “cà phê văn nghệ Sài Gòn” mang hơi hướng của những “Văn, Thằng Bờm, hầm Gió” sau năm 1975 có lẽ cà phê Văn Nghệ nằm trên đường Lam Sơn quận Bình Thạnh. Ở đây cũng có những ca sĩ, nóm nhạc nổi lên như : Vinh Hiển, nhóm tam ca Áo Trắng, Ba thế hệ… Và có lẽ còn cái chất cà phê văn nghệ Sài Gòn nhất, dù đã được “nâng cấp” bằng tên gọi phòng trà là cà phê Ân Nam nằm trên đường Trương Định Q1 của ca sĩ Lan Ngọc  hiện vẫn còn hoạt động. Nó cũng là một cái hầm, giống như “Hầm Gió” của Nam Lộc – Trường Kỳ ngày xưa. Chương trình ca nhạc ở đây khá chọn lọc, thu hút giới trung niên muốn tìm lại dư âm của một thời “cà phê văn nghệ Sài Gòn” đã mất. (theo Từ Kế Tường)

Lan Hương chuyển tiếp

NHỚ ĐÔI NGHỄ SĨ TÀI DANH

VIỆT HÙNG – NGỌC NUÔI

– Soạn giả Nguyễn Phương

Trong những thập niên 50, 60, 70 của thế kỷ trước, đôi nghệ sĩ uyên ương Việt Hùng – Ngọc Nuôi lừng danh trong hàng ngũ những ngôi sao sân khấu cải lương. Theo dõi cuộc đời nghệ thuật của Việt Hùng – Ngọc Nuôi, chúng ta có thể phát hiện được những bước thăng trầm của sân khấu cải lương trong 3 thập niên từ 50 đến 70, và ta cũng biết những hoạt động nghệ thuật rất tích cực của giới nghệ sĩ cải lương trong thời điểm vàng son đó.

Anh Việt Hùng tên thật là Nguyễn Hữu Hùng, sanh năm 1923 tại Huế. Anh vào Sàigòn lập nghiệp, làm công chức ở Tòa Hành Chánh Gia Định năm 1946. Anh có giọng ca tốt, là ca sĩ tân nhạc hợp tác với nhạc sĩ Mạnh Phát và các nữ ca sĩ Minh Diệu, Minh Trang, Kim Tước trong Ban Tân nhạc Mạnh Phát trên Đài Phát Thanh Pháp Á.

Thời gian này anh làm quen với ca sĩ cổ nhạc Thành Công, trưởng Ban cổ nhạc, nên anh được ca sĩ Thành Công với các nhạc sĩ Bảy Quới, Hai Khuê, và Tư Hiệu dạy ca nhiều bài bản cổ nhạc. Trong hai năm 1947 – 1948, Việt Hùng nổi danh ca sĩ tân lẫn cổ nhạc, cùng thời với các danh ca làng dĩa nhựa và đài Phát Thanh như các ca sĩ Chín Sớm, Chiêu Anh, Thành Công, Sáu Thoàng, cô Ngọc Ánh, Cô Năm Cần Thơ.

Người vợ thứ nhứt của anh Việt Hùng là một nữ y tá trẻ đẹp của nhà thương Đồn Đất Sài gòn (nhà thương Grall) ở với anh có được một con trai. Người con trai đó hiện giờ định cư tại Nam Cali.

Bước ngoặc định mệnh: bỏ nhiệm sở, bỏ gia đình vì mê đào hát !

Năm 1948, gánh hát Thỉ Phát Huê về hát ở rạp Thành Xương (tức rạp chiếu bóng Diên Hồng xưa, ở góc Yersin – Phạm Ngũ Lão , Q1). Hai cô đào xuân sắc nhứt của gánh hát là cô Kim Nên (thân mẫu của ca sĩ tân nhạc Thái Châu) và cô Ngọc Nuôi, cả hai cô đều ca hay, đẹp sắc sảo, được nhiều khán giả ái mộ nên gánh hát Thỉ Phát Huê, đêm hát nào, khán giả cũng vào xem nghẹt rạp.

Kim Nên là em ruột của cô Năm Cần Thơ nên cô Năm Cần Thơ đưa các bạn ca sĩ cùng làm chung ở Đài Phát Thanh Pháp Á đến xem hát. Dịp này, ca sĩ Chiêu Anh si mê đào Kim Nên, ca sĩ Việt Hùng si mê đào Ngọc Nuôi. Khi gánh hát Thỉ Phát Huê hết hát ở rạp Thành Xương, dọn đi hát ở các tỉnh miền Tây thì Việt Hùng bỏ sở làm ở Tòa Hành Chánh Gia Định, Chiêu Anh nguyên là phát thanh viên của Đài Pháp Á, cũng bỏ sở làm.

Hai anh theo gánh Thỉ Phát Huê để học làm kép hát, hai anh bị “tiếng sét ái tình” làm cho mê man đầu óc, dám bỏ tất cả để bắt đầu làm một cuộc đời mới. Kết quả là Kim Nên sánh duyên cùng ca sĩ Chiêu Anh. Chiêu Anh không trở thành kép hát được mặc dù anh cao ráo, đẹp trai. Anh trở thành soạn giả, viết nhiều bài ca cổ nhạc cho Đài Phát Thanh Quốc Gia và Đài Phát Á. Anh cũng viết vọng cổ thu dĩa cho các hãng dĩa Pathé, Asia, Hoành Sơn…

Việt Hùng thành hôn với Ngọc Nuôi, anh trở thành kép chánh của đoàn hát Thỉ Phát Huê. Sau đó, Việt Hùng và Ngọc Nuôi về hát cho đoàn Tân Thiếu Niên. Việt Hùng và Ngọc Nuôi tuy là đào kép chánh của hai gánh Thỉ Phát Huê và Tân Thiếu Niên nhưng chưa thật sự nổi tiếng. Báo chí thời đó chưa có trang kịch trường để quảng cáo, lăng xê đào kép. Hai đoàn hát đó là trung ban, hát lưu diễn ở các tỉnh nhỏ nhiều hơn là hát ở Sàigòn, vì vậy khán giả ít biết đến tên tuổi của diễn viên.

Sáng chói trên sân khấu Hoa Sen

Nghệ sĩ Bảy Cao thành lập đoàn hát Hoa Sen năm 1952 với thành phần diễn viên, bên nam, có Bảy Cao, Việt Hùng, Bửu Tài, Ba Khuê, Ba Túy… dàn đào có các cô Kim Luông, Ngọc Nuôi, Ái Hữu, Cẩm Vân, Lệ Út. . . Đoàn Hoa Sen ăn khách nhờ mấy tuồng chiến tranh : Đoàn Chim Sắt, Nợ Núi Sông, Mộng Hòa Bình, Vàng Rơi Sông Lệ, Chiếc Áo Mùa Đông…

Việt Hùng cao lớn, lực lưỡng nên khi thủ vai sĩ quan trên chiến trường máu lửa thì trông rất oai phong. Tiếng hát của anh, khi nói lối hay đối thoại thì hơi nhừa nhựa, nhưng lại phù hợp với những vai sĩ quan tình báo, nói năng có vẻ bí mật, hăm dọa đối phương. Anh ca vọng cổ, tiếng rất khỏe, tiếng ngân ơ. . .ơ. . . cuối câu, được anh ngân đổ hột, khán giả thích thú khi khám phá ra một lối “ca nói”, khác hẳn các lối ca với giọng ngọt mùi của Bảy Cao, Năm Nghĩa.

Ngọc Nuôi ca rất lớn tiếng, nghe ngọt lịm. Cô vô xàng xê nghe hấp dẫn không thua gì vua xàng xê Minh Chí.

Ngọc Nuôi ca bài bản nào cũng hay, sắc vóc Ngọc Nuôi rất đẹp khi cô mặc bộ quân phục trong tuồng chiến tranh. Khi mặc y phục thường, bộ bà ba, chiếc áo dài hay bộ đồ đầm, Ngọc Nuôi thể hiện một thiếu nữ kiều diễm, duyên dáng. Sắc đẹp, giọng ca ngâm, lối diễn xuất tế nhị, là những tài sản trời cho, Ngọc Nuôi sáng chói trên sân khấu Hoa Sen, dù những giọng ca vàng của các cô đào Kim Luông, Lệ Út, Ái Hữu, vẫn không làm sao làm lu mờ hào quang rực rỡ của Ngọc Nuôi.

Năm 1954, vừa dứt chiến tranh Việt Pháp, dân chúng làm ăn phát đạt, nên có nhiều gánh hát mới được thành lập để đáp lại nhu cầu giải trí của dân Sài gòn và lục tỉnh. Vì nhiều đoàn hát mới thành lập nên có tình trạng “mua đào, bán kép”. Bầu Sinh, môn đệ của soạn giả Mộng Vân (đồng môn với Bảy Cao và Năm Nghĩa), lập gánh hát Hương Hoa, mời Việt Hùng – Ngọc Nuôi về hát với số tiền contrat bạc triệu, lương lớn gấp đôi số lương cũ ở đoàn Hoa Sen.

Về hát cho gánh Hương Hoa, Việt Hùng – Ngọc Nuôi cũng hát những tuồng chiến tranh : Khúc Nhạc Ly Hương, Việt Kiều Trên Đất Khách. Cả hai đóng vai chánh, Việt Hùng hào hoa phong nhã trong bộ quân phục sĩ quan, Ngọc Nuôi rất sang, rất đẹp trong vai cô nữ tình báo của địch quân. Tuy tuồng cũ, nhân vật không có gì mới, nhưng khán giả dễ dãi, xem hát mua vui nên các gánh hát lúc nào cũng bán hết vé.

Bắt đầu một thời hoàng kim, các nghệ sĩ đua nhau sắm xe hơi. Việt Hùng – Ngọc Nuôi cũng không ngoại lệ, mua nhà mới, sắm xe hơi mới. Vậy là chấm dứt cái thời đào kép hát phải “ăn quán, ngủ đình”!

Bà Ba Khan, người chủ nợ của Bầu Sinh và là chị ruột của hai diễn viên trẻ: Hương Sắc và Hương Huyền muốn tạo cơ hội cho hai em của mình thăng tiến trên con đường nghệ thuật nên xuất vốn lập ra gánh hát lấy bảng hiệu là gánh Việt Hùng – Minh Chí. Tất nhiên là Việt Hùng – Ngọc Nuôi ký hợp đồng mới, với số tiền lớn hơn, lương cao hơn, nhiều điều kiện phụ hấp dẩn hơn để rồi bỏ Bầu Sinh của gánh Hương Hoa, về làm chủ (trên danh nghĩa thôi) gánh Việt Hùng – Minh Chí.

Gánh hát Việt Hùng – Minh Chí bỏ tuồng chiến tranh, hát những vở tuồng của các soạn giả thế hệ thứ hai trong làng soạn kịch là Mộc Linh, Lê Khanh. Tuồng khai trương của gánh Việt Hùng – Minh Chí là vở tình sử Việt Nam “Đường lên xứ Thái” của soạn giả Mộc Linh. Lời văn chải chuốt, cốt truyện trữ tình, một thể loại sân khấu thi, ca, vũ, nhạc, mới lạ nên sức thu hút khán giả rất mãnh liệt.

Việt Hùng trong vai người chiến sĩ Việt Nam, bị thương, đi lạc trong khu rừng già của xứ Thái, được một sơn nữ (do Ngọc Nuôi thủ diễn) cứu, trị thương. Mối tình giữa người Kinh và người sơn nữ thơ mộng, đẹp tình, đẹp ý, gợi lại những cuộc tình dang dở trong chiến tranh, đã làm rơi lệ biết bao khán giả. Việt Hùng và Ngọc Nuôi sáng chói nhờ tài ca, diễn thật hay, lột tả được tính cách nhân vật một cách sâu sắc. Ngọc Nuôi còn có cơ hội thi triển làn hơi phong phú, ngọt ngào của cô qua các lối ngâm thơ mới, các bài Sương Chiều, Tú Anh, là những bài mà người có hơi trong, ngọt, mặc tình uốn lượn, luyến láy để dẫn dắt cảm quan của người nghe. Vở thứ hai ghi đậm sự thành công của Việt Hùng – Ngọc Nuôi về diễn các thể loại dã sử, cổ tích Việt Nam là vở “Người Đẹp Bán Tơ “của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà.

Nhiều đoạn thơ hay của Kiên Giang được giọng ngâm thơ mượt mà, êm như nhung, như gấm của Ngọc Nuôi, làm tăng thêm giá trị vở tuồng và tăng thêm sức thu hút khán giả, đồng thời làm tăng thêm hào quang đã sẵn sáng chói của Ngọc Nuôi. Đáng lẽ ra gánh hát Việt Hùng – Minh Chí có thể vững vàng và phát triển thêm ở cái cương vị một Đại Ban, vì khán giả rất đông, tuồng tích hay, đào kép đẹp, ca, ngâm, diễn xuất rất hấp dẫn, nhưng chỉ hai năm sau từ ngày thành lập, gánh Việt Hùng – Minh Chí phải tan rã! Nghệ sĩ Minh Chí tách riêng ra lập gánh hát Minh Chí. Việt Hùng Ngọc Nuôi gia nhập đoàn hát Thanh Minh của bầu Năm Nghĩa.

Vai tuồng để đời của Việt Hùng – Ngọc Nuôi

Tôi (Nguyễn Phương) có cộng tác chung với anh Việt Hùng và Ngọc Nuôi trong Đoàn Thanh Minh, rồi Thanh Minh Thanh Nga trong nhiều năm, tôi biết anh Việt Hùng có nhiều vai hát rất hay, được khán giả và báo chí ngợi khen, nhưng chỉ có vai hát Cậu Ấm Thân trong tuồng Đoạn Tuyệt của Duy Lân là anh được coi như đó là vai hát để đời của anh.

Trong thập niên 1955 đến năm 1965, Đoàn Thanh Minh Thanh Nga được kể là một đoàn hát mạnh nhứt vì đoàn tập trung được những diễn viên thượng thặng của sân khấu cải lương, đoàn cũng có nhiều soạn giả thường trực nên có nhiều tuồng hay tích lạ.

Về diễn viên tài ba, bên kép có Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được,Việt Hùng, Hoàng Giang, Văn Ngà, Ba Xây, Minh Tấn, Minh Điển, Vinh Sang, Hề Châu Hí, Hề Kim Quang, Hề Núi, và có anh Năm Châu, chị Kim Cúc, Ba Vân, Phùng Há, Năm Sadec về cộng tác với Đoàn trong vài năm. Về phía đào, có Út Bạch Lan, Ngọc Nuôi, Thu Ba, Ngọc Giàu, Kim Giác, Thanh Nga, Hoàng Vân, Thanh Hiền, Thanh Lệ, Ngọc Chúng…

Giữa những diễn viên mà tên tuổi lẫy lừng như kể trên, Việt Hùng – Ngọc Nuôi phải có tài nghệ khác thường mới đứng vững nổi trong Đoàn. Anh Việt Hùng nhờ sắc vóc cao lớn, vẻ hào hoa phong nhã nên thành công dể dàng qua các vai dũng sĩ tuồng dã sử như Biên Thùy Nổi Sóng, Tình Tráng Sĩ, Người Về Từ Cửa Biển, Nẻo Tắt Hoành Sơn, Áo gấm khôi Nguyên… Ngọc Nuôi sáng, đẹp, đua tài khoe sắc với các nữ diễn viên như nữ hoàng sân khấu Thanh Nga, sầu nữ Út Bạch Lan, Thu Ba hay giọng ca vàng Ngọc Giàu.

Đoàn Thanh Minh Thanh Nga diễn những vở ca kịch xã hội thì Việt Hùng xuất sắc qua vai chú ba Tài Xế, chồng của chị hai Bếp (Ngọc Nuôi) mẹ của Thanh (Thanh Nga) trong tuồng Con Gái Chị Hằng, Ngọc Nuôi thành công qua các vai mẹ trong các tuồng Tấm Lòng của Biển, Bóng Chim Tăm Cá, Bọt Biển, Con Gái Chị Hằng, Chén trà của quỷ, Bên Cầu đệt lụa…

Nhưng vai hát để đời của Việt Hùng – Ngọc Nuôi lại hoàn toàn trái với hình tượng mà lâu nay khán giả nghĩ về hai tài danh sân khấu này, đó là vai Thân và vai Bích trong tuồng Đoạn Tuyệt.

Việt Hùng thường đóng vai tráng sĩ, dũng tướng, kép đẹp trai thì nay vào vai Thân, một cậu ấm ngốc nghếch, ngu si, sợ vợ. Vai Thân diễn xuất đi đứng chậm chạm, nói năng nhừa nhựa, không dám nhìn thẳng vào mặt Loan, dù Loan rất dịu hiền. Thật là lối diễn hoàn toàn khác với cung cách xưa nay của Việt Hùng, không ngờ cách ca diễn như vậy lại đạt được sự thành công quá sức tưởng tượng. Nhờ cách diễn đó mà tăng thêm phần quái ác của bà mẹ chồng, bà Phán Lợi (do bà Năm Sadec diễn) và cô em chồng đanh đá Bích (do Ngọc Nuôi diễn). Trong dàn bao của ba tài danh Việt Hùng (Thân), Ngọc Nuôi (Bích) Bà Năm Sadec (Mẹ chồng) Thanh Nga (trong vai Loan) diễn xuất thương cảm nhất, sáng chói nhất trong loại hình sân khấu xã hội Việt Nam trong những thập niên 1960, 1970.

Ngọc Nuôi trong những thập niên này, nổi danh qua các vai Mẹ Hiền (Con Gái Chị Hằng, Tấm Lòng Của Biển , Bọt Biển,… ) vụt sáng chói qua vai Bích, đứa em chồng đanh đá. Điều đó khẳng định là tuổi tác của diễn viên không mấy ảnh hưởng tới vai diễn. Tới tuổi gần năm mươi, Ngọc Nuôi vẫn thành công dễ dàng trong một vai tuồng của cô gái 18 tuổi.

Khi sân khấu đổi màu

Khi biến cố 1975 xảy ra, Việt Hùng cùng ba con : Ngọc Quý, Tài và Xinh trong Ban nhạc Crazy Dogs biểu diễn trong một Club Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhứt, được phi cơ Mỹ bốc đi di tản ngay. Anh không thể về đón Ngọc Nuôi và ba con còn ở lại là nữ ca sĩ tài danh Ngọc Bích, Năng và một người con trai nữa, tôi bỗng quên tên.

Đến Hoa Kỳ, Việt Hùng nghĩ ngay tới việc hoạt động trở lại của ngành sân khấu cải lương ở hải ngoại. Anh cùng nhạc sĩ Tám Trí chủ trương chương trình Thanh âm trìu mến trên đài Little Saigon, đào tạo các thế hệ diễn viên trẻ: Thu Hồng, Vương Kiệt, Thanh Huyền.

Khi các diễn viên cải lương Kim Tuyến, Ngọc Đan Thanh, Linh Tuấn. Hương Huyền, Thành Được, Dũng Thanh Lâm vượt biên sang tới Mỹ thì chính anh Việt Hùng và các nhạc sĩ Chí Tâm, Văn Hoàng, Tám Trí làm chất keo, gắn những người yêu nghề, cùng số phận, dưới ánh đèn sân khấu cải lương hải ngoại. Anh Việt Hùng đã thực hiện được những băng vidéo cải lương Tiếng Hạc Trong Trăng, Nửa Đời Hương Phấn, Lan và Điệp.

Anh cũng có mặt trong các cuộc hội họp có đông người Việt định cư ở Hải ngoại để ca vọng cổ, hát cải lương. Anh đã cùng Trần Văn Trạch đến hát giúp vui cho đồng bào trong trại tỵ nạn tại Palavan.

Ngày 27 tháng 7 năm 2001, lễ kỷ niệm Việt Hùng 80 tuổi đời, 60 năm tuổi nghề, tôi từ Montréal qua dự, tôi có quay đoạn phim Việt Hùng phát biểu và ca hai câu vọng cổ. Tiếng vẫn còn sang sảng, làn hơi vọng cổ vẫn còn âm hưởng của những ngày trong tuổi thanh xuân. Vậy mà đến ngày 31 tháng 12 năm 2001, Việt Hùng từ giã cõi đời đau khổ này để về Thiên Trúc với pháp danh là Minh Chánh.

Ngọc Nuôi sau 1975, hát trên sân khấu Thanh Nga, cũng các vai cũ trong Tấm Lòng Của Biển, Bên Cầu Dệt Lụa và vào vai nữ tướng Lê Chân trong tuồng Tiếng Trống Mê Linh rồi từ giã ánh đèn sân khấu, chờ Việt Hùng và các con làm giấy bảo lãnh đi sum họp gia đình theo diện ODP. Thời gian này nhờ danh ca Ngọc Bích (con gái đầu lòng) nổi danh trong nhiều chương trình ca nhạc nên Ngọc Nuôi và gia đình còn ở lại Việt Nam sống cũng khá sung túc.

Việt Hùng khi qua Mỹ, ngày trở về quê hương xa lắc xa lơ, ngày sum họp vợ con ở Việt Nam cũng mù mờ không biết đến bao giờ mới được, nên bước thêm một bước nữa với bà Gia Mỹ, người vợ chót của anh.

Ngọc Nuôi được bảo lãnh qua Mỹ thì Việt Hùng đã sang thuyền khác, Ngọc Nuôi bơ vơ. Đôi uyên ương sân khấu đã lẻ bạn vì thời cuộc, tan vỡ vì nghịch cảnh. Đau lòng cho người trong cuộc mà cũng đau lòng cho những bạn bè đã yêu thương họ..

Ngọc Nuôi mất ngày 23 tháng 9 năm 2002, gần một năm sau khi Việt Hùng ra đi vĩnh viễn. Không biết Ngọc Nuôi có rượt đuổi theo kịp Việt Hùng để gặp lại nhau, nối tiếp cuộc tình dang dở bên kia thế giới hay vẫn chịu cảnh trễ đò, trễ xe như ở kiếp này trên chốn dương trần.

Là người bạn lâu năm của anh Việt Hùng và Ngọc Nuôi trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga, tôi van vái Phật Trời cho hai anh chị gặp lại nhau, yêu nhau và làm thành một đôi vợ chồng hạnh phúc trên chốn Thiên Đình. Tôi tin Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Út Trà Ôn, Kim Quang sẽ gặp lại Thanh Nga và Năm Nghĩa, Bà Bầu Thơ họp lại nhau, lập gánh hát Thanh Nga trên chốn Thiên Đình, hát cải lương cho Ngọc Hoàng Thượng Đế và chư tiên xem. Thương nhớ Việt Hùng và Ngọc Nuôi.  (Soạn giả Nguyễn Phương)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

SỐ PHẬN CÁC CON LÝ TIỂU LONG

SỐ PHẬN CÁC CON

CỦA LÝ TIỂU LONG

Cái chết uất ức và cuộc đời sóng gió của Lý Quốc Hào

Báo chí Hoa ngữ từng tốn không biết bao nhiêu giấy mực khi viết về cuộc đời, sự nghiệp của ngôi sao tài năng, bạc mệnh Lý Tiểu Long. Câu chuyện cuộc đời vợ con anh cũng không nằm ngoài sự chú ý này. Trang Daily Hồng Kông từng thu hút sự chú ý từ dư luận khi đăng tải nhiều thông tin đáng quan tâm quanh chủ đề này, trong đó giới thiệu :

“Tiểu Long quen biết Linda Lee Cadwell khi cô còn đang là nữ sinh trung học, còn ngôi sao họ Lý là thầy giáo dạy võ thuật. Mối quan hệ thầy trò nhanh chóng nảy nở thành tình yêu, và năm 1963, hai người chính thức hẹn hò”. 

Năm 1964, Lý Tiểu Long và Linda kết hôn.Thời điểm bước vào cuộc sống hôn nhân, cô gái người Anh mới chỉ tròn 19 tuổi. Cặp đôi sống tại Washington và có hai con : Brandon Lee (Lý Quốc Hào )và Shannon Lee (Lý Hương Ngưng). Suốt gần 10 năm sau đó, Linda trở thành người phụ nữ của gia đình, từng bước chăm chút hậu phương cho chồng, trong khi Tiểu Long thành danh trên con đường sự nghiệp.

Vợ đẹp, con ngoan, bản thân lại là người nổi tiếng, giàu có và được khán giả khắp thế giới hâm mộ, cuộc đời Lý Tiểu Long những tưởng đã hoàn mỹ.Thế nhưng, có lẽ ông trời đúng là không cho ai có tất cả. Sau khi siêu sao võ thuật qua đời vào năm 1973, hưởng dương 32 tuổi cũng là lúc sóng gió bất ngờ ập đến với gia đình, vợ con anh.

Con trai Lý Quốc Hào : Ám ảnh về cái chết của cha suốt thời niên thiếu rồi qua đời uất ức bởi một tai nạn hi hữu.  

Lý Quốc Hào sinh năm 1965, là con trai cả của Lý Tiểu Long. Có người cha cực kì nổi tiếng và giỏi võ, không lạ lùng gì khi chỉ mới chập chững tập đi, Lý Quốc Hào đã bắt chước những động tác đánh đấm của cha. Năm 2 tuổi, cậu bé đã bắt đầu được học các chiêu thức võ thuật đơn giản và nhanh chóng bộc lộ năng khiếu thiên bẩm được kì vọng sẽ chẳng thua kém người cha tài năng. Lý Quốc Hào từng tâm sự : “Cha dạy võ từ năm tôi 2 tuổi. Trong mắt tôi, cha là một anh hùng”.

Cha là siêu sao võ thuật với nhiều mối quan hệ với những tên tuổi lớn nên từ thời còn “tay bồng tay bế”, cậu bé đã được tiếp xúc với nhiều huyền thoại khác, trong đó có võ sư Diệp Vấn.

Phát huy tài năng võ thuật, cậu bé họ Lý tiếp tục “hô mưa gọi gió” ở trường học bởi bản tính hiếu thắng, ngông cuồng của mình. Bà Linda – mẹ cậu không biết phải bao nhiêu lần lên tận trường xin lỗi thầy cô và cha mẹ các bé khác nếu chẳng may bị cậu con tung quyền cước đánh đập, bắt nạt.

Lên tiểu học, người ta cũng thấy tên Lý Quốc Hào là đã chạy xa bởi trước đó, danh tiếng chuyển trường tận 3 lần chỉ bởi những lời phê “ngỗ ngược, quậy phá, vô lễ” của cậu đã lừng danh khắp nơi.

Việc Lý Tiểu Long dạy võ cho Lý Quốc Hào quá sớm cũng là một trong những nguyên nhân góp phần khiến cậu bé trở nên nghịch ngợm và hiếu chiến. Không chỉ vợ mà ngay cả Lý Tiểu Long cũng chẳng biết bao nhiêu lần phải xấu hổ vì cậu con trai cưng. Vì lẽ đó mà anh quyết định sẽ không tiếp tục dạy võ cho cậu nữa mà chỉ tập cho cậu một số chiêu cơ bản để tự vệ.

Mặc dù vậy, Lý Quốc Hào vẫn chẳng hề có ý sửa đổi, thích phản kháng và không vâng lời. Nhiều người nói rằng đó chính là gen di truyền từ Lý Tiểu Long bởi trước đó ông cũng khiến cha Lý Hải Tuyền bao phen vất vả.

Đến năm lên 5 tuổi, Quốc Hào đã được cha mẹ đưa về Hồng Kông. Từ đây, sau những lần xuất hiện trên phim trường, cậu có cơ hội cùng cha tham gia một số bộ phim võ thuật và khiến công chúng ngạc nhiên vì khả năng tung quyền xuất chúng. Từ đó, cả hai cha con đều nổi đình nổi đám và thu hút được nhiều người hâm mộ yêu mến.

Cuộc sống yên bình được vây bởi ánh hào quang của Lý Quốc Hào chỉ tồn tại rất ngắn ngủi. Cái chết bất ngờ của Lý Tiểu Long vào năm 1973 đã khiến cậu con trai vấp phải một cú sốc lớn, dẫn đến tổn thương tâm lí, luôn ám ảnh cậu mãi về sau. Vì sợ cậu con trai duy nhất đi vào vết xe đổ của cha nên bà Linda kiên quyết ngăn cản chuyện học võ.

Thế nhưng bỏ ngoài tai lời khuyên của mẹ, Quốc Hào vẫn tích cực luyện tập và nhanh chóng sở hữu võ công đáng nể. Cậu dù bị ám ảnh bởi cái chết của bố, sốc trầm trọng một thời gian nhưng lại không thể thoát khỏi sự ngưỡng mộ về bố, một con người vĩ đại nhường ấy nên kiên quyết học võ đến cùng.

Người ta nhìn từng động tác, các pha hành động trong phim hay cả bên ngoài đều có chung ý tưởng liên hệ đến Lý Tiểu Long, nhất là thần thái, cách ra đòn và cước bộ điềm tĩnh, vững vàng. Sau này, Lý Quốc Hào cũng tham gia đóng phim và được kì vọng sẽ trở thành một ngôi sao lớn của dòng phim võ thuật như bố. Những tác phẩm điện ảnh đánh dấu tên tuổi và sự nghiệp của Quốc Hào có thể kể đến như Kungfu the Movie, Logacy of Range (1986), Show Down in Lettle Tokyo (1991), Rapid Fire (1992).

Năm 1993, Lý Quốc Hào tham gia bộ phim The Crow, khởi quay tại Wilmington, Bắc California và bị một viên đạn thật bắn trúng người. 12 tiếng sau, các bác sĩ tuyên bố anh tử vong ở tuổi 28. Tai nạn được cho là cực kì hi hữu khi nó được gây ra bởi một khẩu súng đạo cụ. Chẳng biết vì nguyên do gì mà trong nòng súng lại bị lắp đạn thật, khiến Lý Quốc Hào qua đời đầy uất ức trên phim trường.

Con gái Lý Hương Ngưng: Thần đồng âm nhạc quyết tâm từ bỏ đàn ca để nối tiếp sự nghiệp võ thuật dang dở của cha và anh trai.

Khi Lý Tiểu Long đột ngột qua đời tại Hồng Kông vào ngày 20/7/1973, Lý Hương Ngưng (Shannon Lee) mới 4 tuổi nên chưa cảm nhận được sự mất mát nhưng bắt đầu hiểu cuộc sống của mình đã thay đổi. Trong khi anh trai Lý Quốc Hào mải mê với những thế võ thì cô bé Lý Hương Ngưng dành trọn niềm đam mê của mình cho ca hát.

Năm 1976, bà Linda – vợ Lý Tiểu Long tái hôn với nhà văn nổi tiếng Tom Bleecker. Đi bước nữa sau khi Lý Tiểu Long mất chưa đầy 3 năm là quyết định mang tính hi sinh của bà Linda vì muốn 2 đứa con bé bỏng có một gia đình hoàn chỉnh.

Thế nhưng, mong ước của người mẹ đau khổ không được như ý, 2 năm sau, hôn nhân đổ vỡ, 3 mẹ con dắt nhau rời khỏi ngôi nhà cha dượng. Chính biến cố ấy đã khiến Lý Hương Ngưng trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn lứa tuổi của mình.

Hai năm sau khi anh trai nổi lên từ bộ phim Kungfu The Movie, Lý Hương Ngưng đậu vào trường Đại học Tulane (New Orleans, Mỹ) chuyên ngành Âm nhạc. Cho đến năm 1993, khi cô em gái còn chưa kịp trở về gặp và khen anh trai vì những biểu hiện xuất sắc của anh trên màn ảnh Hollywood, Lý Quốc Hào qua đời trên phim trường vì tai nạn súng.

Cái chết của Lý Quốc Hào khiến bà Linda và Lý Hương Ngưng đau đớn tột cùng. Mặc dù cảnh sát công bố kết quả điều tra cho rằng Lý Quốc Hào đã gặp “tai nạn nghề nghiệp”, bị bắn chết bằng một viên đạn thật trong khẩu súng đạo cụ nhưng Lý Hương Ngưng không tin điều đó. Cô lao vào tìm kiếm chứng cứ để chứng tỏ anh trai bị ám sát chứ không phải bị ngộ sát. Nhiều tháng ròng, Lý Hương Ngưng bỏ công việc, bỏ show diễn chỉ với mong muốn tìm ra hung thủ. Mãi cho đến khi được mẹ hết lời khuyên bảo, cô mới chịu kết thúc việc truy tìm nguyên nhân thật quanh cái chết của Lý Quốc Hào.

Suốt một thời gian sau đó, Lý Hương Ngưng nhốt mình trong phòng riêng, xem đi xem lại nhiều lần những bộ phim của cha và anh trai. Cô phát hiện, Lý Quốc Hào đã thừa hưởng nhiều tố chất của Lý Tiểu Long, đó là ý chí kiên cường và thái độ làm việc chuyên nghiệp cùng tình yêu dành cho võ thuật. Điều này cô đưa ra quyết định mang tính bước ngoặt trong đời khi từ bỏ tất cả những thứ mình đang có, bắt đầu tập võ với mục tiêu trở thành một diễn viên võ thuật giống như cha và anh trai, tiếp nối những gì họ còn đang dang dở.

Quyết định của Lý Hương Ngưng bị bà Linda phản đối kịch liệt.Tuy nhiên cô vẫn kiên định với ước mong nối nghiệp võ thuật để giữ lại phần nào hình ảnh cha và anh trong lòng công chúng. Từng có một thời gian, Hương Ngưng bị dè bỉu, mỉa mai vì động tác ẻo lả, đánh võ như múa, thế nhưng cô chưa bao giờ từ bỏ sự nghiệp nối nghiệp cha anh của mình.

Tháng 8/1994, Lý Hương Ngưng kết hôn với họa sĩ Anthony Ian Keasler.Từ khi có gia đình ổn định, cô dành hết thời gian để thực hiện mong muốn của mình. Năm 1997, Hương Ngưng giành được vai nữ chính trong bộ phim High Voltage của đạo diễn Isaac Florentine.

Một năm sau, cô đi theo bước chân cha, trở về Hồng Kông cộng tác với Hãng phim Gia Hòa, tham gia bộ phim Enter The Eagles do đạo diễn Nguyên Khuê thực hiện, đóng chung với Viên Vịnh Nghi, Trần Tiểu Xuân, Vương Mẫn Đức.Lý Hương Ngưng tạo ấn tượng tốt khi đích thân thể hiện những pha nguy hiểm như nhảy tàu, nhảy lầu, cưỡi mô tô, bắn súng… Nỗ lực không ngừng nghỉ khiến Lý Hương Ngưng dần được công chúng đón nhận.

Sự nghiệp điện ảnh đang khởi sắc, tên tuổi vừa nổi lên nhưng Lý Hương Ngưng nhận thấy dù có cố gắng cách mấy cũng không thể trở thành một ngôi sao phim hành động, vì màn ảnh không dành chỗ cho những nữ anh hùng.

Vì vậy, năm 2002, sau khi hoàn thành tác phẩm She, Me and Her, cô chia tay phim trường, an phận với vai trò làm vợ, làm mẹ. Suốt từ đó đến nay, Lý Hương Ngưng quản lí Quỹ giáo dục Lý Tiểu Long và Hiệp hội phát triển Tiệt quyền đạo, bắt đầu một cuộc sống ổn định sau bao thăng trầm từ thuở ấu thơ đến khi trưởng thành.

Sau cái chết của bố, hôn nhân đổ vỡ của mẹ, sự ra đi của anh trai và nhiều năm “lăn lộn” với phim trường, mãi đến những năm tháng tuổi trung niên, Lý Hương Ngưng dường như mới thực sự có một cuộc sống bình lặng, yên ả. (Thu Ngân theo The thao van hoa)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

DIVA THÁI THANH

VÀ CHUYỆN TÌNH

3 NGƯỜI KINH ĐIỂN

Có lần, trong một cuộc phỏng vấn của giới truyền thông hải ngoại, một nhà báo đã hỏi Thái Thanh có hay không mối tình giữa bà và nhà văn Mai Thảo, Thái Thanh đã trả lời :

“Có liên hệ tình cảm khi tôi còn ở với chồng và dù bỏ chồng rồi thì anh Mai Thảo vẫn quý tôi đến cái độ tôi muốn thế nào anh ấy chiều như thế. Nhưng mà tôi cổ lỗ sĩ lắm các ông ạ. Hễ không có cưới là không có ăn ở với nhau”.

Theo cách nói của Thái Thanh thì chuyện họ có một thời yêu nhau là sự thật. Và Thái Thanh sẵn sàng sống phần đời còn lại với Mai Thảo sau một đám cưới, nhưng hình như Mai Thảo đã tránh né. Ông ta chỉ muốn sống như đã từng sống với vài người phụ nữ khác.

Cả ba người – Thái Thanh, Lê Quỳnh và Mai Thảo đều là những nhân vật nổi tiếng thuộc loại hàng đầu trong lãnh vực văn học – nghệ thuật tại miền Nam trước năm 1975. Thái Thanh được mệnh danh là “tiếng hát vượt thời gian”. Giọng hát sang trọng và điêu luyện của bà được xếp trên cả Lệ Thu, Khánh Ly một bậc.

Chồng chính thức của Thái Thanh là diễn viên điện ảnh kỳ cựu Lê Quỳnh. Ông còn là một thiếu ta phi công của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Do cá tính của mỗi người, cuộc sống hôn nhân của họ không được hạnh phúc, dù đã có với nhau 5 người con. Nhưng kẻ phá bĩnh cuối cùng, như giọt nước làm tràn ly, khiến Thái Thanh – Lê Quỳnh phải chia tay là nhà văn Mai Thảo, trong vai một kẻ trộm tình. Kết thúc “chuyện ba người” này là trận đánh ghen của Lê Quỳnh giành cho Mai Thảo từng gây xôn xao một thời trong giới văn nghệ Sài Gòn.

Cho đến hôm nay, trong lòng những người yêu dòng nhạc tiền chiến và âm hưởng tiền chiến thuộc nhiều thế hệ, vẫn chưa có tiếng hát nào thay thế được Thái Thanh ở sự ngọt ngào, truyền cảm, đầy chất kỹ thuật. Được thiên phú một chất giọng opera trong vắt, nhưng Thái  Thanh lại ảnh hưởng làn điệu dân ca chầu văn, quan họ, chèo… từ thủa nhỏ ở quê nhà, đã tạo nên phong cách đặc biệt của riêng bà.

Gần một thế kỷ, âm nhạc Việt Nam đã cho ra đời nhiều tác phẩm bất tử, gắn liền với những giọng ca sống mãi với thời gian, như trường hợp Giọt mưa thu, Con thuyền không bến của Đặng Thế Phong, Buồn  tàn thu, Đàn chim Việt, Thiên thai của Văn Cao, Nương chiều, Bà mẹ Gio Linh, Kỷ niệm của Phạm Duy… Hầu hết những ca khúc kinh điển này đếu gắn liền với tên tuổi Thái Thanh.

oOo

Thái Thanh tên thật là Phạm Thị Băng Thanh, sinh năm 1934 tại Hà Nội, trong một gia đình gắn bó với âm nhạc. Thái Thanh là em ruột của ca sĩ Thái Hằng (vợ của nhạc sĩ Phạm Duy) và là em gái kế của nhạc sĩ nổi tiếng Phạm Đình Chương (ca sĩ Hoài Bắc). Bà còn có một người anh cùng cha khác mẹ khác là Phạm Đình Viêm (ca sĩ Hoài Trung). Họ đã cùng nhau dựng lên ban hợp ca Thăng Long vang danh một thời.

Không thông qua một trường lớp đào tạo nào cả nhưng Thái Thanh, ngoài năng khiếu bẩm sinh ra, còn được các anh chị rèn luyện từ nhỏ, giọng bà có âm vực rộng, nên thể loại âm nhạc của bà rất phong phú, đa dạng.

Thời kỳ đầu bà theo chị là ca sĩ Thái Hằng tham gia kháng chiến, chuyên biểu diễn phục vụ ở các chiến khu. Nghệ danh Thái Thanh bắt đầu từ đó. Năm 1951, bà theo gia đình chị ruột là Thái Hằng – Phạm Duy vào Sài Gòn lập nghiệp, và tiếp tục ca hát. Thái Thanh trở nên nổi tiếng với những ca khúc tiền chiến được đông đảo quần chúng yêu thích, đặc biệt là giới trí thức. Tiếng hát của bà thống trị phần lớn các chương trình phát thanh, truyền hình và phòng trà ở Sài Gòn suốt hơn hai thập niên, dường như không có đối thủ cạnh tranh.

Người chồng tài tử xi nê

Năm 1956, Thái Thanh kết hôn với Lê Quỳnh, một trong số nam diễn viên nổi tiếng thuộc lớp đầu tiên của điện ảnh miền Nam. Ông sinh năm 1934 tại Hà Nội (bằng tuổi Thái Thanh).

Năm 1952, Lê Quỳnh tốt nghiệp tú tài ban văn chương và gia nhập không quân của quân đội Pháp. Về sau chuyển thành không lực của quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc sau cùng là thiếu tá. Năm 1954, Lê Quỳnh theo gia đình vào Nam lập nghiệp. Ông không mấy thành công trên con đường binh nghiệp, nhưng cuộc đời diễn viên của ông lại là một chuỗi thành công rực rỡ, kể từ sau 1956 trở đi với hàng loạt vai chính trong các bộ phim tình cảm: Đất lành, Hồi chuông Thiên Mụ, Thiếu phụ Nam Xương, Vụ án tình, Ngàn năm mây bay, Đôi mắt người xưa, 11 giờ 30, Chờ sáng, Mùa thu cuối cùng, Bẩy ngầm…

Ngoài ra, Lê Quỳnh cũng xuất hiện trong vai thứ của một số phim quốc tế như: The Quiet American, A Night Of The Dragon, Transit A Saigon. Năm 1969, Lê Quỳnh bắt tay làm bộ phim Giã từ bóng tối trong vai trò đạo diễn, nhưng không được công chúng đón nhận và đó cũng là phim duy nhất mà ông làm đạo diễn. Cũng có thời Lê Quỳnh mon men bước vào con đường hoạt động chính trường khi ra ứng cử dân biểu quốc hội vào năm 1967 nhưng thất cử.

Lê Quỳnh chung sống với Thái Thanh được 9 năm (1956 – 1965) thì gãy gánh, sau khi đã có với nhau 5 mặt con, mà người con đầu là Lê Thị Ý Lan, sinh năm 1957, hiện là ca sĩ nổi tiếng ở hải ngoại, thường về biểu diễn tại Việt Nam (ca sĩ Ý Lan). Là một diễn viên có nét đẹp rất đàn ông, Lê Quỳnh được mô tả như một gã đa tình, nhưng tính tình lại rất ghen tuông.

Chính vì thế cuộc sống vợ chồng của họ luôn là những tháng ngày đầy sóng gió. Có lần, Thái Thanh đi hát cùng với hai người anh của mình là Hoài Trung, Hoài Bắc. Dù có xe đưa đón, nhưng Lê Quỳnh vẫn âm thầm bám sát để theo dõi, và ông đã ghen với cả người lái xe vì anh ta đã lịch sự mở cửa cho Thái Thanh. Tuy nhiên, việc Lê Quỳnh tặng cho nhà văn Mai Thảo một trận đòn ghen ở phòng trà Bồng Lai năm 1965 thì không phải là chuyện ghen bóng ghen gió.

Mai ThảoKẻ trộm tình”

Thật sự, chuyện Mai Thảo dan díu tình cảm với Thái Thanh là có thật. Sau này, chính Mai Thảo đã gần như dàn trải phần lớn tâm sự thầm kín của mình trong tiểu thuyết Mười đêm ngà ngọc. Cho dù ông không xác nhận, cũng không phủ nhận khi được phỏng vấn, có phải đã viết tác phẩm này cho Thái Thanh hay không, tuy nhiên, hầu hết bạn bè thân thiết của Mai Thảo và người đọc đều biết và thấy rõ bóng dáng của Thái Thanh trong đó.

Vào thời điểm này, vợ chồng Thái Thanh – Lê Quỳnh đang sống cuộc sống gia đình như địa ngục, với những xung đột tiếp diễn hàng ngày, và việc phải chia tay nhau chỉ còn là vấn đề thời gian. Tuy nhiên Mai Thảo vẫn là giọt nước cuối cùng làm tràn ly. Ông ta là nguyên nhân cũng là cái cớ cho màn ly dị với diện mạo của một kẻ trộm tình.

Mai Thảo có tên thật là Nguyễn Đăng Quý, gốc gác ở làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nhưng được sinh ra tại chợ Cồn, xã Quần Phương Hạ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Cha ông là một nhà buôn giàu có. Thơ ấu, ông theo học trường làng, nhưng khi lên trung học thì chuyển về học trường Chu Văn An, Hà Nội.

Năm 1945, ông rời gia đình vào Thanh Hóa để đi theo kháng chiến. Mai Thảo làm công tác viết báo và tham gia các đoàn văn công đi lưu diễn khắp Liên khu 3, Liên khu Tư và Liên khu Việt Bắc. Đến năm 1951 thì ông bỏ về thành đi buôn theo nghiệp cha.

Năm 1954, ông định cư hẳn ở Sài Gòn, và trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng. Suốt đời Mai Thảo chưa một lần có vợ, nhưng già nhân ngãi non vợ chồng thì không kể hết. Ông được những bằng hữu thân thiết mô tả như một tay chơi có hạng, từng một thời không đêm nào là không có mặt tại vũ trường, sống trong trùng vây của rượu và gái.

Điều này, cũng được chính Mai Thảo viết rõ trong truyện Một đêm thứ bảy. Nhưng tiền ở đâu ra để Mai Thảo có thể ăn xài như một thiếu gia công tử ? Hãy nghe lời nhà thơ Thái Thủy, một người bạn thân của Mai Thảo nói về trường hợp này: “Văn nghệ sĩ Bắc Hà vào Nam được các cơ quan IRC, Asia Foundation và USIS của Hoa Kỳ giúp đỡ lập ra tờ Sáng Tạo và anh Mai Thảo làm chủ nhiệm. Thời bấy giờ Mai Thảo có khả năng tài chánh, viết nhiều feulletons ăn khách, và tờ Sáng Tạo được tài trợ vững. Anh có xe hơi Fiat hiệu Austin, có nơi ăn chốn ở, có danh vọng trong giới văn học và nổi tiếng ăn chơi hào phóng”.

Một trong những người phụ nữ đã chung sống với Mai Thảo nhiều năm là một cô vũ nữ xinh đẹp tên Cúc, hoa khôi của vũ trường Tự Do. Ngoài Cúc ra, vũ trường này còn có Mỹ (Mỹ “Khùng”) là một cặp bài trùng, thuộc hàng đào nhất ở đây. Có tiền, Mai Thảo vừa ăn ở với cô Cúc, nhưng lại lén lút trăng hoa với Mỹ “khùng”.

Nhưng theo nhà văn Văn Quang, thì nàng Cúc không biết gì về văn học nghệ thuật, không hiểu giá trị văn chương và có thể chẳng hề đọc Mai Thảo. Ông viết về mối tình này của bạn mình chỉ là tình yêu ma quái vũ trường chập chờn dưới ánh đèn màu lung linh và sóng nhạc dập dềnh. Cuộc tình chẳng mặn mà, chỉ là một kết hợp theo nhu cầu.

Tờ Sáng Tạo hết tài trợ thì nàng ra đi, được tài trợ thì nàng trở về, nhưng cũng chẳng kéo dài được ba năm. Và rồi, Mai Thảo tìm đến Thái Thanh, để biến thành một cuộc tình tay ba, giữa ba con người nổi tiếng, từng gây xôn xao dư luận một thời. Mai Thảo và một số bạn bè của ông ngụy trang cho tình yêu ngoài luồng này bằng cụm từ “tình yêu nghệ thuật”, “tình yêu ngà ngọc”.

Nhưng theo nhà thơ Thái Thủy thì: “Cuộc tình giữa Mai Thảo và danh ca Thái Thanh không phải là ngà ngọc mà chỉ là lãng mạn”. Điều này có thể đúng với tính chất của Thái Thanh vào thời điểm hạnh phúc gia đình đang bên bờ vực thẳm, đang rất cần một chỗ dựa tinh thần. Nhưng không thể đúng với một gã đàn ông như Mai Thảo.

Đánh ghen bằng nhẫn sắt

Cuối cùng, chuyện vụng trộm của Mai Thảo – Thái Thanh bị Lê Quỳnh phát hiện, ông đã kết thúc mọi việc bằng một trận đòn ghen vào một buổi tối thứ bảy năm 1965, tại phòng trà Bồng Lai. Lúc bấy giờ, Mai Thảo đang ngồi uống rượu với một vài bạn hữu thì Lê Quỳnh xuất hiện. Ông đã giáng một cú đấm như trời giáng vào mặt Mai Thảo nhưng trượt xuống vai.

Tiếp đến là bàn tay được Lê Quỳnh võ trang bằng chiếc nhẫn sắt để tặng cho Mai Thảo một vết sẹo trên má, rồi rút êm. Nếu không có quyền lực của ông  Nguyễn Cao Kỳ can thiệp, vì quý mến Thái Thanh, muốn giữ danh dự cho bà thì báo chí lúc bấy giờ đã làm rùm beng chuyện này lên rồi.

Sau sự cố này, Lê Quỳnh đã tỏ ra hối hận và tìm cách chuộc lỗi với Thái Thanh để tiếp tục chung sống. Nhưng Thái Thanh đã cương quyết từ chối. Sau khi hai người ly dị, ai cũng tưởng Thái Thanh sẽ đến với Mai Thảo, nhưng tất cả đã không diễn ra như thế. Có lẽ trong thời gian yêu nhau, Thái Thanh đã hiểu rõ hơn con người Mai Thảo, dù là một nhà văn nổi tiếng, nhưng ông ta chỉ là một người tình lang chạ và tất nhiên sẽ không bao giờ là một người chồng tốt. Sau đó, Thái Thanh thành hôn với dân biểu Trần Quý Phong, chủ khách sạn Catinat.

Thái Thanh ngày nay

Bây giờ thì cả Lê Quỳnh, Mai Thảo đều đã thành người thiên cổ, và tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh cũng qua ngưỡng cửa 80. Tất cả đã chìm vào quá khứ theo thời gian. Và những thăng trầm cuộc sống đã làm cho người ta lãng quên cho dù đó là chuyện tình giữa ba con người nổi tiếng.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỮNG CA KHÚC THÁI THANH TRÌNH BÀY :

1) CHUYỆN TÌNH BUỒN 2) ĐẠO CA 8 – GIỌT CHUÔNG CAM LỘ

3) ĐẠO CA 9 – CHẮP TAY HOA 4) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

5) RU TA NGẬM NGÙI 6) TẠ ƠN ĐỜI 7) TIẾNG HÁT TO 8) TÌNH SẦU DU TỬ LÊ

9) TÌNH HOÀI HƯƠNG 10) CỎ HỒNG 11) NGÀY XƯA HOÀNG THỊ

12) DÒNG SÔNG XANH 13) TÌNH CA 14) HOÀI CẢM

MƠ ƯỚC CỦA NS LAM PHƯƠNG

MƠ ƯỚC CỦA NS LAM PHƯƠNG :

‘CÓ MÔT NGƯỜI BẠN ĐỂ HỦ HỈ’

Tối Thứ Bảy, 24/6/2017, tại Hội trường báo Người Việt diễn ra chương trình văn nghệ “Lam Phương- 80 cuộc đời, 65 năm âm nhạc” thu hút đông đảo khán giả thuộc nhiều thế hệ đến xem.

Nhân dịp này, phóng viên Ngọc Lan đã có cuộc phỏng vấn “chớp nhoáng” với nhạc sĩ Lam Phương để nghe ông chia sẻ những buồn vui trong cuộc đời của người nhạc sĩ tài hoa. Đặc biệt là niềm mơ ước rất thú vị của ông ở tuổi 80.

Ngọc Lan (NL) : Khi nãy nhìn thấy chú Lam Phương vừa ngồi vừa coi những video clip, có lẽ là những bài hát của chú. Mỗi lần ngồi xem ca sĩ trình diễn các ca khúc của mình như thế thì cảm xúc của chú như thế nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Chắc chắn là rất cảm động, nhất là những bài hát mình viết, nghe để nhớ lại lúc mình sáng tác nó như thế nào.

NL: Chương trình ca nhạc, những ca sĩ hầu hết không phải chuyên nghiệp hay trên một sân khấu lớn, mà chú vẫn có mặt để tham dự. Chú nghĩ gì về việc có mặt ở đây để tham dự một chương trình đơn giản như vậy ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đối với tôi, việc đi dự những buổi nhạc chuyên nghiệp quen rồi. Nhưng tôi vẫn muốn làm điều gì để nâng đỡ đàn em sau này. Cho nên hy vọng sự hiện diện của tôi sẽ giúp cho các cháu ngày sau sẽ tiến lên.

NL: Chú bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình như thế nào  Giống như là năng khiếu bẩm sinh hay xuất phát từ điều gì để đi đến sáng tác đầu tiên của chú ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Tôi sáng tác rất sớm, khi mới có 15 tuổi. Đây này là năng khiếu tự nhiên của mình. Lúc đó tôi còn đi học, thức đêm thay vì học bài mình lại có đầu óc sáng tác. Lúc trời khuya dễ có cảm hứng lắm.

NL: Khi sáng tác ra bài nhạc đầu tiên, chú đưa cho ai hát ? Làm sao để người ta biết đến tên của nhạc sĩ Lam Phương ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Khổ lắm cháu ơI ! Cái gì khi bắt đầu cũng khó. Khi viết bài đầu tiên đâu có ai biết mình là ai, thành ra mình phải đi đến gặp họ, trình bày bài của mình cho họ biết, rồi họ kêu mình hát, dù hát không được cũng cố gắng hát cho họ nghe, nghe được rồi họ mới chịu hát bài của mình, chứ không có dễ đâu.

NL: Khoảng bao nhiêu lâu sao bài hát đầu tiên của chú thì người ta bắt đầu biết đến tên nhạc sĩ Lam Phương ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Bài đầu tiên là bài Chiều Thu Ấy, tôi làm lúc 13 tuổi. Đến năm 15 tuổi mới tung ra mà đâu ai mua, trong khi không có tiền, phải đi mượn tiền để in bài đó. Phải bán cả năm sau mới lấy vốn được. Cũng gian nan lắm !

NL: Phải mấy năm sau sự gian nan đó thì tên tuổi Lam Phương mới được người ta chú ý đến ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Hai năm sau. Bài đầu ít người biết lắm, sau này đến bài thứ nhì thì người ta mới biết nhiều, là bài “Nhạc Rừng Khuya,” giai đoạn tôi viết nhạc về quê hương đó, thì lúc đó phong trào mới nổi lên, và người ta mới biết đến tên tôi.

NL: Và khi tên tuổi nhạc sĩ Lam Phương được người ta biết đến nhiều, thì chuyện sáng tác của chú làm ra để đưa đến ca sĩ hay làm ra băng đĩa bán trở nên dễ dàng hơn rất nhiều phải không ạ ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đúng rồi, dễ dàng hơn lúc đầu nhiều lắm, vì người ta đã biết tên mình thì người ta tin tưởng bài mình. Lúc đó mình không cần năn nỉ nữa mà người ta tìm đến mình xem có bài mới không là họ hát.

NL: Trong số những ca sĩ đã trình diễn các sáng tác của chú, chú cảm thấy ưng ý nhất là ca sĩ nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Cũng khó so sánh, vì tôi viết nhiều loại nhạc lắm, mỗi một loại nhạc có một số ca sĩ riêng, như nhạc quê hương thì có Hương Lan, Mai Thiên Vân, nhạc tình thì có Khánh Hà, Ý Lan, thành ra mình không so sánh được, mỗi ca sĩ chuyên về một loại nhạc, mình không đem ca sĩ hát loại nhạc này với ca sĩ hát loại nhạc khác.

NL: Về bài hát “Chiều Tây Đô,” chú Lam Phương có thể cho biết là chú sáng tác bài đó trong hoàn cảnh như thế nào để có thể nói lên nỗi niềm tâm sự của nhiều người như vậy?

Nhạc sĩ Lam Phương : Trước tiên, tôi không phải là người sanh dưỡng tại Cần Thơ, mà tôi sanh ở Rạch Giá. Nhưng tôi có một người bạn, người bạn đó nói “Sao anh viết cho mọi người được mà anh không viết cho em được? Em ở Tây Đô.” Chính vì vậy mà tôi viết bài “Chiều Tây Đô.”

NL: Còn bài hát “Một Mình” thì sao ạ ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Thường những bài hát tôi sáng tác là tôi có một hoàn cảnh riêng của mình. Tôi viết bài đó lúc thôi bà vợ thứ hai, thứ ba, sống một mình. Sống một mình thì tình cảm cô đơn lắm. Tối tôi nằm một mình thấy tình cảnh mình cô độc quá mới viết bài “Một Mình,” đó là hoàn cảnh thật.

NL: Chú viết từ năm 13 tuổi, đến 15 tuổi thì tung sáng tác đầu tiên ra, cho đến bài cuối cùng là lúc chú bao nhiêu tuổi?

Nhạc sĩ Lam Phương : Tôi bệnh là năm 62 tuổi, tức năm 1999. Bốn năm sau, tức 2003, tôi viết bài cuối cùng là “Hạnh Phúc Mang Theo” lúc đó tôi nghĩ mình sắp chết rồi. Tôi nghĩ khi mình chết thì tất cả những kỷ niệm mình mang theo mình, để cho người sống ở lại không nhớ tới để mà buồn, tôi mang theo tất cả.

NL: Mặc dù trải qua một cơn bạo bệnh như vậy và có lúc đã nghĩ là mình không còn sống được lâu, nhưng đến bây giờ đã là 19 năm rồi, mà mỗi lần chú xuất hiện đều trong một thần thái rất là lạc quan, rất là vui. Làm sao chú có được điều đó ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Nhờ vậy mà sống lâu đó cháu. Giờ 80 rồi. Tôi nghĩ giờ mình có buồn cũng vậy thôi, tại sao mình không vui để hưởng những ngày cuối cùng của mình cho nó êm đẹp.

NL: Người ta thường nói, người nhạc sĩ, hay thi sĩ cũng vậy, khi họ sáng tác, thường có những tâm sự buồn hay khi xung quanh có những tác động mang tính buồn, tiêu cực thì sáng tác của họ hay hơn. Thì điều đó có đúng không ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Phần đông là như vậy. Nhưng riêng tôi thì tôi viết trong mọi hoàn cảnh. Lúc vui tôi viết nhạc vui, lúc buồn tôi viết nhạc buồn, lúc giận viết nhạc giận, không có so sánh được.

NL: Một bài thường từ lúc hình thành ý tưởng đến lúc chú hoàn thành sáng tác mất bao lâu ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Cũng tùy, nhưng thường tôi viết mau lắm. Một bài chậm lắm là một tuần thôi. Một bài mà tôi viết 3-4 ngày mà nghe không được là bỏ liền để viết bài khác.

NL: Vậy bài nhanh nhất chú viết trong bao lâu ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Trong vài tiếng đồng hồ, trong một đêm.

NL: Chú có thường nghe lại nhạc của chính mình mỗi ngày hay mỗi tuần không ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Nghe mỗi ngày (cười). Nghe để coi có chỗ nào yếu, không hay mình sửa lại để sau này tránh đi, để viết hoàn hảo hơn.

NL: Có bao giờ chú nghe lại sáng tác của mình và nghĩ “Ồ tại sao lúc đó mình viết hay như vậy !” Hay có lúc nào lại nghĩ “Trời, sao lúc đó mình viết tệ quá!” ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Như tôi đã nói khi viết tôi thấy được mới tiếp tục, còn không được thì thôi bỏ, để khỏi mất thì giờ.

NL: Ngay trong lúc này, khi mà bên hội trường có rất nhiều ca sĩ đang trình diễn những ca khúc của chú, thì chú cảm thấy như thế nào ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Đó là niềm sung sướng của người sáng tác. Mình hát không được thì mình nghe người ta hát nhạc của mình. Đó là niềm vui sướng của người sáng tác.

NL: Hiện giờ điều chú lấy làm niềm vui trong đời sống hằng ngày của mình là gì ?

Nhạc sĩ Lam Phương : Bây giờ tôi sống một mình, với gia đình người em. Cuộc sống rất giản dị. Tối ngủ, không thức khuya. Sáng thức sớm, rồi ăn uống, ngủ trưa. Cuộc đời có vậy thôi.

NL: Nếu bây giờ, có một điều ước thật đặc biệt thì chú nghĩ chú ước điều gì ?

Nhạc sĩ Lam Phương (suy nghĩ thật nhanh): Có một người bạn để mình hủ hỉ những lúc buồn. Thế thôi. Bạn thôi. (Cười)

NL: Một người bạn, nhưng là nam hay nữ ?

Nhạc sĩ Lam Phương (cười lớn): Nữ càng tốt !

Đọc thêm : Trên “Một thời Sài Gòn’ ngày 5/12/2013

NHẠC SĨ LAM PHƯƠNG

Trên “Một thời Sài Gòn’ ngày 2/9/2017

LAM PHƯƠNG & NHỮNG MỐI TÌNH (1)

LAM PHƯƠNG & NHỮNG MỐI TÌNH (2)

NHỮNG NHẠC PHẨM  CỦA NS LAM PHƯƠNG

– Cho Em Quên Tuổi Ngọc

Hoàng Kim;

https://youtu.be/x4jBS1cWEt4

– Chuyến đò vĩ tuyến – Giao Linh

http://youtu.be/V634FEJrusk

– Đèn Khuya – Thanh Thúy :  http://youtu.be/ZPVvKO3nmGQ

– Một mình – Quang Dũng :  https://www.youtube.com/watch?v=m_B1mBTmpXE

– Chuyến đò vĩ tuyến – Hoàng Oanh :  http://youtu.be/8-6sbyFZFL8

– Bức tâm thư – Tuấn Vũ & Ngọc Đan Thanh

http://youtu.be/5jeMNBivXzg

BÁNH MÌ SÀI GÒN

Bánh mì đã xuất hiện ở xứ ta trước cái mốc 1859, nhưng được biết đến nhiều là sau khi đội quân viễn chinh chiếm thành Gia Định.

Ngoài người Pháp, cách làm bánh mì đầu tiên được người Hoa tiếp thu, sản xuất bán ra thị trường và trong số khách hàng mua bánh mì thời kỳ đó có cả người Việt : Bồi bàn, thông ngôn, thầy ký có lẽ là những người nếm bánh mì đầu tiên; Kế đó là công chức tân trào, rồi đến tầng lớp Tây học, thị dân và lần lần tỏa rộng phổ biến cả thành thị lẫn nông thôn”

Trong bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc của cụ Nguyễn Đình Chiểu năm 1861, ta thấy có hai câu như sau :

Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Rồi có thêm bài thơ chế :

Vân Tiên ngồi dựa gốc dừa,

Tay cầm chai rượu miệng nhai bánh mì.

Nguyệt Nga mới hỏi ăn gì ?

Vân Tiên mới nói thịt quay bánh mì.

Bánh mì theo chân người Pháp đến Saigon đầu tiên, xuống Nam Kỳ lục tỉnh, ra miền Bắc, sau đó mới phổ biến trên toàn quốc, cho nên khi đề cập đến bánh mì, người ta đề cập đến Saigon : bánh mì Saigon.

Ta thấy những thực phẩm, những vật dụng hàng ngày mà người Pháp mang đến Việt Nam, đều được gọi kèm theo chữ tây như : khoai tây, hành tây, dâu tây, rượu tây, thuốc tây, giày tây …

Trong khi ngoài Bắc gọi bánh mì là bánh tây, thì miền Nam lúc đó đã gọi nó là bánh mì ổ (ổ như chữ ổ của bánh bông lan). Có lẽ một trong các loại bánh mì mà người Pháp du nhập sang đầu tiên là pain de champagne (bánh mì đồng quê) ổ bự, to bè, nhiều ruột, để được vài ngày hay các loại bánh mì hình tròn, hình bầu dục gọi tên là le pain rond, le complet, le bâtard…

Những ổ bánh mì Saigon mới ra lò còn nóng, dậy mùi thơm của bột mì nướng, vỏ giòn rụm, vàng ươm, láng lẩy bơ, nở tròn bụng, ruột trắng mịn và xốp này từ những năm 30 cho mãi đến bây giờ, vẫn là một thứ quà Saigon, mà những người dân ở miền Tây đi Saigon về lại nhà mua làm quà cho con cháu.

Dù bánh mì khắp nơi đều có, ở các tỉnh đều có lò làm bánh mì, nhưng danh tiếng bánh mì Saigon đã đi vào ký ức người ta từ lâu lắm rồi. Ở cửa ngõ thành phố đi các tỉnh đầy những chỗ bán bánh mì.

Bến xe xa cảng miền Đông, miền Tây, lúc nào cũng có những người đội các cần xé đựng bánh mì đến tận cửa xe bán cho khách mua. Nhà thơ Kiên Giang có bài thơ :

– Đáp tàu khói, về quê ăn Tết

Gió bấc đầu mùa gợn sóng đêm

Ôm ổ bánh mì làm gối nhỏ

Đem về cho mẹ với cho em.

Còn ông Công Tử Hà Đông thì viết :

Bánh mì ăn không cũng ngon

Ta đi trăm núi, ngàn sông biển

Không đâu bánh mì ngon

Bằng bánh mì Saigon.

Bánh mì ăn kèm với gì ?

Ăn bánh mì theo ông Tây, bà đầm từ thời thuộc địa là ăn bánh mì với fromage, trứng (omelette, oeufs au plat), thịt nguội (paté, jambon, saucisse à), beurre, mứt trái cây (confiture) như dâu, cam, nho àhay chấm sữa nóng cho bữa ăn sáng. Dùng bánh mì ăn kèm với súp (soupe), bí tết (bifteck), ra gu (ragout)à trong bữa ăn tối.

Tuy cũng ăn giống như vậy, nhưng người Saigon đã dần dà cải tiến cho hợp với khẩu vị của mình như: Ăn bánh mì với những miếng phô mai “ Đầu con bò cười (La vache qui rit)”, phối hợp thêm chuối già.

Ăn sáng bằng bánh mì trét bơ mặn Bretel, rắc chút đường cát trắng; Bánh mì chấm sữa nóng, pha thêm một chút cà phê cho có mùi thơm hay ăn bánh mì trét bơ chấm cà phê sữa nóng; Bánh mì chấm sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hay Con chim (hiệu Ông Thọ – Hiệu sữa Longevity, trước đây thuộc hãng Foremost, Mỹ, hình “Ông Thọ chống gậy”, nói lên tuổi thọ của người dùng. Hiệu Con chim của hãng Nestlé, Thụy Sỹ, đúng ra là hình một tổ chim, gồm một chim mẹ và hai chim con)…

Nổi tiếng ở Sài Gòn có lẻ tiệm Hòa Mã của vợ chồng ông Bắc kỳ di cư, rồi tiệm Hương Lan ở Bưu Điện Sài Gòn, xe bánh mì chả lụa của bà Bắc ở đường Phan Thanh Giản… nói ra thì rất nhiều. Kết bài bằng mấy câu thơ :

Ngồi buồn gặm ổ bánh mì

Mùi thơm chả quế thầm thì bên tai

Bánh mì hương vị mặn mà

Bỏ tình anh gặm mì gà ba-tê

Bánh mì xá xíu ai chê

Lại thêm xíu mại cho “phê” cõi người

”Xì dầu” anh xịt đã đời

Thừa thiên “ớt hiểm” cho vừa xót xa

Bánh mì thịt nguội có hành

Mua năm tặng một cả làng anh quơ

Cho dù người có thị phi

Yêu đời anh “ xực ” bánh mì mà thôi. ( st).

NHỮNG CHỦ ĐỀ TÁO BẠO

TRONG TRANH TRUYỀN THỐNG

NHẬT BẢN

Ukiyo-e, tức tranh in bản gỗ, là “dấu son” nổi bật trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản. Không chỉ thịnh hành như một trường phái hội họa độc đáo, ukiyo-e còn tạo tiền đề quan trọng cho rất nhiều trào lưu nghệ thuật đương đại. Tính lôi cuốn đến “mê hoặc” của thể loại tranh truyền thống này, tuy nhiên, vượt xa những hình ảnh phong cảnh hay lễ hội vui tươi. Ở ukiyo-e, chủ đề tình dục, đồng tính, thậm chí kinh dị, nhận được sự chú ý đặc biệt.

1/- Shunga – tranh ảnh “phòng the” ; Shunga (xuất phát từ từ gốc Hán “xuân họa” – tranh vẽ về mùa xuân) là phong cách ukiyo-e phát triển mạnh vào khoảng thế kỉ 17-19. Shunga tập trung mô tả cảnh ân ái chốn lầu xanh, chân dung những nàng kỹ nữ với dáng điệu gợi cảm, quyến rũ, cùng nhiều hoạt động “người lớn” khác nơi phố đèn đỏ.

Có quá trình tạo dựng suốt 300 năm, đến nay, Shunga đã trở thành dạng tranh ukiyo-e nổi tiếng, rất được yêu thích. Dù mang nét cổ xúy tính dục, xã hội Nhật thời bấy giờ không phân loại tranh in như văn hóa phẩm khiêu dâm. Thực tế, chế độ Tokugawa, giai đoạn Shunga trở nên “cực thịnh,” không cấm đoán việc thể hiện đề tài tình dục trên tranh ảnh.

Nghệ sĩ nổi bật, từng tạo dấu ấn lớn nhờ Shunga, không thể không nhắc đến Katsushika Hokusai (1760-1849). Bức “Người phụ nữ và đôi bạch tuộc” (ảnh trên) của ông, xuất hiện lần đầu như tranh minh họa cho một tựa sách xuất bản năm 1814, đã trở thành ví dụ điển hình nhất của phong cách Shunga truyền thống.

2/- Wakashu – những “mỹ nam” lưỡng tính : Bức vẽ bên thực hiện bởi họa sĩ nổi tiếng thời Edo, Suzuki Harunobu, tái hiện một ngày thường nhật trong khu phố đèn đỏ, thủ đô nước Nhật thế kỉ 18. Bạn sẽ muốn tập trung vào nhân vật mặc kimono sọc, cầm quạt, ngồi phía trái khung tranh. Người này mang gương mặt thanh tú, bề ngoài hệt như phụ nữ, nhưng thật ra lại là nam giới. Tên gọi cho họ là “wakashu,” nhân vật lưỡng tính đầu tiên tìm thấy trong tranh ukiyo-e.

Wakashu là khái niệm bắt nguồn từ các sử gia Nhật, dùng để ám chỉ một “mỹ nam,” hay người đàn ông có dáng vấp hấp dẫn cả hai giới. Vào thời Edo thịnh vượng, họ làm công việc mua vui – đàn hát trong kỹ viện. Hoặc, wakashu còn được hiểu như nhóm diễn viên được đào tạo đặc biệt, chuyên đóng vai nữ trên sân khấu ca kịch truyền thống.

Đối với ukiyo-e, hình tượng wakashu hiện diện không nhiều, nhưng luôn rất lôi cuốn và độc đáo. Tương tự Shunga, bằng cách phát họa wakashu, họa sĩ ukiyo-e đã tạo nên dấu ấn chưa từng có xoay quanh chủ đề nhạy cảm như tình dục và đồng tính. Nhìn ngắm những “mỹ nam” này trên tranh màu, người xem dễ dàng bị thu hút bởi nét duyên dáng, thần thái sống động của họ. Như nhiều nhà giám tuyển và chuyên gia sưu tầm tranh ukiyo-e nhận xét, vẻ đẹp riêng ở wakashu đã “thách thức ranh giới giới tính” trong lịch sử mỹ thuật Nhật Bản.

3/- Thế giới rùng rợn của ukiyo-e : Nhật Bản với nền hội họa lâu đời, không thiếu cảm hứng cho tranh vẽ kinh dị. Yếu tố ma quỷ, linh hồn cho đến cái chết được người nghệ sĩ “tái sinh” trên mặt giấy thông qua truyện cổ, giai thoại lẫn sự kiện kinh hoàng có thật.

Nổi tiếng hàng đầu thuộc thể loại ukiyo-e là dạng tranh in minh họa cho “kusazoshi,” một phong cách truyện dân gian phổ biến từ những năm 1700, thời Edo. Kusazoshi được hiểu như tiền thân của truyện tranh kinh dị ngày nay. Chúng khai thác nhiều khía cạnh “lạnh gáy” tiềm ẩn nơi đời sống thường ngày lẫn thần thoại Nhật Bản. Tranh ukiyo-e với nét cọ uyển chuyển, “truyền thần,” càng khiến câu chuyện kể thêm phần đặc sắc đến rợn người. .

Không ít “huyền thoại” ukiyo-e như họa sĩ thiên tài Hokushai, Toyokuni I, Utagawa Kunisada đều có niềm đam mê lớn dành cho chủ đề kinh dị. Bên cạnh mục tiêu gây sợ hãi hay thể hiện bài học răn đe đạo đức, đôi khi một số nhân vật yêu quái hoặc hồn ma trong tranh vẽ còn nhằm gây cười cho độc giả kusazoshi. (theo JapanTimes)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp