CHUYỆN TÌNH “LÁ DIÊU BÔNG”

DƯƠNG THIỆU TƯỚC MĨM CƯỜI

TRONG BÓNG CHIỀU XƯA

Tác giả của những ca khúc nổi tiếng của thời kỳ đầu tân nhạc Việt Nam: “Ngọc Lan”, “Bóng chiều xưa”, “Đêm tàn bến Ngự”… đã viết ra những cảm xúc Việt bằng âm điệu phương Tây để có được những bài ca hấp dẫn, đi cùng năm tháng

Có lẽ, Dương Thiệu Tước là một trong những nhạc sĩ thuở bình minh tân nhạc có cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo khá khác biệt.

Xuất thân dòng dõi quý tộc

Dương Thiệu Tước sinh ngày 15/5/1915 ở làng Vân Đình, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) trong một gia đình nho học truyền thống. Ông nội ông là nhà nho Dương Khuê, tự Vân Trì, đỗ tiến sĩ năm 1868, làm quan đến Định Ninh Tổng Đốc, Thượng thư tham tán Nha Kinh Lược Bắc Kỳ, là bạn đồng khoa thân thiết với Yên Đỗ Nguyễn Khuyến.

Dương Khuê nổi tiếng với những bài văn ca trù phần nhiều viết về những mối tình gặp gỡ các cô đào trong hoàn cảnh éo le. Những tác phẩm này được thu thập vào cuốn “Vân Trì thi lục”. Ông trẻ (em ruột ông nội) Dương Lâm tự là Thu Nguyên, Mộng Thạch, hiệu là Quất Đình, Quất Tẩu đỗ Trạng nguyên năm 1878, làm quan đến Thượng thư Hiệp biện đại học sĩ, tước Thiếu Bảo.

Tác phẩm của ông được ghi lại trong “Vân Đình thi văn tập”. Cha thân sinh Dương Thiệu Tước là ông Dương Tự Nhu làm bố chính tỉnh Hưng Yên. Dương Thiệu Tước lại mê đàn từ bé. Bảy tuổi đã học đàn nguyệt rồi đàn tranh và cổ nhạc. Mười bốn tuổi đã học piano của giáo sư người Pháp tại Viễn Đông Âm nhạc Viện và học guitar cổ điển cùng các tiết tấu dancing.

Và nghiệp cầm ca đã đưa ông đến việc cùng các bạn như Thẩm Oánh, Vũ Khánh, Nguyễn Thiện Tơ, Nguyễn Trần Dzư, Phạm Văn Nhường… lập ra nhóm âm nhạc Myosotis (Hoa lưu ly). Ông cùng nhóm đã cho xuất bản những nhạc phẩm đầu tiên của nhóm như “Đồi Oanh vàng”, “Hoa tàn”, “Phút vui xưa”… cùng những bản soạn cho guitar Hawaienne như “Joie d’aimer”, “Son ven-ance”, “Tondouxsourise” vào cuối năm 1938.

Cũng trong năm ấy, vào tháng 9, “Myosotis” đã có buổi trình diễn trước đông đảo công chúng tại rạp Olenpia (nay là rạp Hồng Hà đối diện chợ Hàng Da – số 51 Đường Thành, Hà Nội) những nhạc phẩm của Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước được thanh niên mến mộ, náo nức xin văn bản để tập đàn ca. Nhóm thường xuyên được Hội Ánh Sáng của Tự Lực Văn Đoàn mời biểu diễn.

Gửi hồn dân tộc trên âm điệu phương Tây

Khi bắt đầu sáng tác, Dương Thiệu Tước có chủ trương soạn nhạc theo âm điệu Tây phương. Ông nghĩ nếu đã có nhà văn, nhà nghiên cứu Việt Nam viết tác phẩm bằng tiếng Pháp thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng rất có thể viết được những bản nhạc có âm điệu phương Tây.

Và cứ thế, từ ông đã tuôn trào ra những “Tâm hồn anh tìm em”, “Một ngày mà thôi”, “Ngọc Lan”, “Bóng chiều xưa”, “Ôi quê xưa”… chịu ảnh hưởng nhạc nhẹ cổ điển phương Tây. Nhưng dù có quan niệm như thế, Dương Thiệu Tước vẫn cho rằng khi ông đã là người Việt Nam thì những gì ông viết ra là đã mang hồn vía dân tộc Việt Nam rồi. Điều ấy cũng thể hiện rõ khi ông viết “Tiếng xưa”, “Chiều” (phổ thơ Hồ Dzếnh) và vượt lên hơn cả là đã sử dụng rất tinh tường ca Huế vào “Đêm tàn bến Ngự”.

Từ cảm xúc với nữ ca sĩ Minh Trang đẹp đến nao lòng, Dương Thiệu Tước đã thả hồn vào những luyến láy “rất Huế”, những biến phách, những đảo phách dìu dặt của nhạc cung đình và lời ca như nhập với giai điệu : “Nam Bình sầu than, như nức nở khóc duyên bẽ bàng…” hay “Thuyền mơ trong khúc Nam ai – Đàn khuya trên sóng ngân dài…” man mác đượm buồn như bài thơ “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế” của Văn Cao.

Giống như Phạm Văn Ký, Phạm Duy Khiêm trong văn chương hay Nguyễn Văn Huyên trong nghiên cứu, Dương Thiệu Tước là nhạc sĩ viết ra những cảm xúc Việt bằng “ngữ pháp Tây” nhưng lòng trắc ẩn về một bản sắc dân tộc vẫn giúp cho ông biến những giáo huấn khô khan “Ơn nghĩa sinh thành” thành một bài ca hấp dẫn, biến những hồn nhiên thơ ngây thành những đồng dao đầy chất Việt như “Nhạc ngày xanh”, “Dưới nắng hồng”…

Nhân nhắc đến Nguyễn Văn Huyên, điều không ngờ là cả hai ông đều đem lòng yêu một thiếu nữ Hà Nội kiều diễm là con Tổng đốc Vi Văn Định – bà Vi Kim Ngọc. Khi Nguyễn Văn Huyên còn học ở Pháp, Dương Thiệu Tước đã đem lòng yêu thiếu nữ này. Song duyên đời lại không cho hai người se lại. Khi Nguyễn Văn Huyên về nước và gặp duyên với nàng, Dương Thiệu Tước mới lấy bà Lương Thị Thuần. Nhưng mối tơ duyên thì còn vấn vương. Đó là cảm hứng để ông viết “Ngọc Lan”.

Cái nhìn riêng về chiến tranh

Chiến tranh bùng nổ, Dương Thiệu Tước vẫn ở Hà Nội theo đuổi sự nghiệp sáng tác của mình. Ông từng khẳng định “Âm nhạc cải cách đã trỗi dậy và đã gieo vào tâm hồn ta những ý niệm tươi đẹp của một nền âm nhạc Việt Nam tương lai, cái ảnh hưởng mãnh liệt sâu xa của nó đan xen với mạch sống hằng ngày của mỗi người”.

 Dương Thiệu Tước có cái nhìn riêng của mình về chiến tranh qua “Ôi quê xưa”: “Rồi một chiều thu – Tôi về chốn xưa – Nhìn cảnh làng quê – Vết tro tàn đìu hiu gió sương – Nhìn mái nhà xác xơ – Mơ chốn đây năm nào – Chiều chiều bao người hẹn nhau – Đến bên nhịp cầu…” Ông cứ cảm nhận cuộc đời tha thiết và sang trọng trong tình yêu.

Tính đến năm 1953, Nhà Xuất bản Tinh Hoa đã thống kê ra đến 41 ca khúc ông viết từ thuở bình minh tân nhạc Việt Nam đến thời điểm đó. Sau Hiệp định Genève, ông vào Sài Gòn. Ở đây, những ca khúc của ông vẫn tiếp tục được tái ấn hành và được Thái Thanh, Minh Trang và cô con gái Quỳnh Giao trình diễn nhiều năm tháng.

Ông hướng về giáo dục âm nhạc là chủ yếu. Bởi vậy, sau ngày 30/4/1975, ông vẫn được trọng dụng để giảng dạy ở Nhạc viện Sài Gòn bằng một cuộc sống đạm bạc trong căn nhà có chái bếp lợp lá ở giữa con hẻm gần chùa Hành Thiên. Ông tạ thế ngày 1/8/1995, khi ấy ca khúc Dương Thiệu Tước đã được hát khắp nơi. Trong chương trình “Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam” hồi cuối Xuân 1994, “Ngọc Lan” đã vang lên qua giọng hát Thu Hà.

– Những tình khúc bất hủ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1:20’)

https://youtu.be/RrM6X-yvcss

Những Tình Khúc Bất Hủ Của Nhạc Sĩ Dương Thiệu Tước : Mai Hương,Khánh ly, Hương Lan, Thái Thanh

Danh Sách Bìa Hát : 1/. Bóng Chiều – Mai Hương 2/. Chiều – Mai Hương 3/. Tiếng Xưa – Mai Hương 4/. Bóng Chiều Xưa – Khánh Ly 5/. Đêm Tàn Bến Ngự – Mai Hương 6/. Khúc Nhạc Dưới Trăng – Mai Hương 7/. Kiếp Hoa – Mai Hương 8/. Ngọc Lan – Mai Hương 9/. Thuyền Mơ – Mai Hương 10/. Áng Mây Chiều – Mai Hương 11/. Cánh Buồm Lướt Gió 12/. Đêm Ngắn Tình Dài – Thái Thanh 13/. Bến Xuân Xanh – Mai Hương 14/. Ơn Nghỉa Sinh Thành – Hương Lan 15/. Vườn Xuân Thắm Tươi – Mai Hương

LÁ DIÊU BÔNG,

MỘT TÌNH YÊU THÁNH HÓA

– Trần Việt Long

– Chuyện tình lá diêu bông – Thu Hiền

https://youtu.be/hgZgh8sGr8I

– Sao em nở vội lấy chồng , Tuấn Vũ

https://youtu.be/RBaF6mN0NDg

Lá Diêu Bông không hiện hữu trên trái đất này thì làm sao ai mà tìm thấy được và như thế thì chẳng khác nào người đẹp gieo cầu trong gió lớn, làm lỡ duyên người con gái thơ ngây ! Tôi viết vài dòng về Lá Diêu Bông vì thấy lyric và nhạc của Trần Tiến mang tính mẫn cảm thật đẹp về tình yêu hơn lyrics và nhạc của Phạm Duy về cùng một bài thơ, Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm.

Thật vậy, câu chuyện tình Lá Diêu Bông là có thật cho dầu Lá Diêu Bông là một loại cỏ cây huyền thoại mang tính platonic. Năm 8 tuổi, cậu bé học trò Bùi Tằng Việt (sinh năm 1921) từ nơi trọ học trở về nhà ở Bắc Ninh thì tình cờ cậu gặp một thiếu nữ hàng xóm 16 tuổi tên Vinh, cậu fell in love immediately. Rung cảm trước tình cảm thiết tha thật dễ thương đó nơi một cậu em thật bé, tâm hồn người thiếu nữ đã khởi lên một tình yêu thăng hoa đầy thánh hóa.

Nhưng rồi mùa Xuân có giới hạn thời gian, người thanh nữ phải xuất giá ở tuổi 20 khi nhà thơ tương lai Hoàng Cầm của chúng ta mới tròn 12 tuổi. Chôn chặt hình ảnh lãng mạn đầu đời đó mãi đến năm 1959 thì bài thơ “Lá Diêu Bông” mới ra đời. Cần phân biệt ở đây bài thơ của Hoàng Cầm với bản nhạc cùng tên do Phạm Duy sáng tác trong thập niên 1980s. Bài thơ nguyên tác như sau :

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều,

Cuống rạ.

Chị bảo:

Đứa nào tìm được Lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng.

Hai ngày em tìm thấy lá

Chị chau mày: Đâu phải Lá Diêu Bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu,

Trông nắng vãng bên sông.

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xoè tay phủ mặt, chị không nhìn.

Từ thuở ấy

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể.

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời… ới Diêu Bông !

Qua kinh nghiệm cuộc đời, chúng ta biết cả hai, cô Vinh và cậu bé Việt, đã tha thiết yêu nhau trong ý nghĩa thánh thiện nhất của tình yêu. Ở đây tình thơ và tình yêu đã quyện lẫn vào nhau nhưng vẫn ở ngoài tình ái. Biết tình cảm lãng mạn của mình không có lối thoát nên cô Vinh đã đưa ra một thách đố không thể thực hiện được cho cậu bé Việt.

Cô Vinh biết rằng làm gì có Lá Diêu Bông trên thực tế nhưng cậu bé Việt thì quyết tâm đi tìm trong cả cuộc đời mình như là một sự đi tìm cái “bản lai diện mục” của Tình Yêu viết hoa vậy. Đấy là “the Soul of World”“when you want something with all your heart, that’s when you are closest to the Soul of World . It’s always a positive force.” [The Alchemist, p. 78].

Khi một người tha thiết yêu ai đó thì tình yêu đó là một nguồn cảm hứng dạt dào thúc đẩy người ấy sáng tác những vần thơ tuyệt diệu mà sức tuôn trào của lời thơ như một dòng thác chảy vô bờ.

Tôi rất ngưỡng mộ khả năng diễn đạt ngôn ngữ qua lời nhạc của Phạm Duy nhưng lyric Lá Diêu Bông của ông thì dường như ông chưa nhận ra được tình yêu chân thành của cô Vinh dành trọn vẹn cho cậu bé Việt khi ông đem chữ “tao” gắn vào ngôn ngữ trữ tình của cô Vinh thay cho chữ “ta” nguyên khởi của chính cô, “Đứa nào tìm được lá diêu bông / Từ nay tao sẽ gọi là chồng.” “Ta / ngươi” là ngôn ngữ tình yêu được xử dụng bình đẳng giữa nam và nữ khi tình cảm của họ đã “tế ngộ” mà quan hệ xã hội chưa đủ chín mùi để chuyển sang “anh / em.”

Và cuộc hành trình đi tìm Lá Diêu Bông vẫn tiếp tục nơi Hoàng Cầm cho dầu đang tìm ở cõi vĩnh hằng chứ không phải nói như Phạm Duy, “Em đi trăm núi nghìn sông / Nào tìm thấy lá Diêu Bông bao giờ …”.

– Lá Diêu Bông – thơ Hoàng Cầm – nhạc Phạm Duy – trình bày : Ý Lan

https://youtu.be/7rhyRDaZHVo

Nhạc của Phạm Duy hay hơn nhưng tương đối khó hát trong khi nhạc của Trần Tiến rất gần gũi dân ca và dễ hát hơn, và lyric của Trần Tiến thì trung thành với cảm quan của cô Vinh và cậu bé Việt hơn; ngoài ra Trần Tiến lại thêm vào vài lời thật dễ thương mà có người con gái đã trả lời tôi khi tôi hỏi về chồng con của nàng sau nhiều năm mới gặp lại,

“Lấy chồng sớm làm gì /để lời ru thêm buồn !” Thật ra cô em này cũng “ăn gian” tôi khi cô chỉ trích ra một dòng để trả lời câu hỏi của tôi, trong khi lyric của Trần Tiến là lời than của Hoàng Cầm đối với cô Vinh khi cô Vinh đi lấy chồng:

Lấy chồng sớm làm gì, để lời ru thêm buồn

Ru em thời thiếu nữ xa xôi

Còn đâu bao đêm trăng thanh

Tát gàu sòng, vui bên anh.

Để hiểu bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm thì không thể không nói phớt qua về ý nghĩa của các chữ “váy Đình Bảng” và “buông chùng cửa võng” được .

Váy : Từ trước khi quân nhà Minh chiếm đóng Việt Nam thì đàn bà người Việt mặc váy. Váy giống như skirt của Mỹ và jupe của Pháp :

Vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu,

Bên ta thì có, bên Tàu thì không.

Đến đầu thế kỷ thứ 15 khoảng sau năm 1415 thì nhà Minh bắt buộc đàn bà Việt phải mặc áo ngắn và quần dài như người Tàu. Hơn 250 năm sau thì Nhà Lê cấm đàn bà mặc quần áo như Tàu mà phải mặc váy theo truyền thống văn hóa dân tộc.

Đến khoảng năm 1750 thì Chúa Nguyễn thấy người Chiêm ăn mặc kín đáo hơn nên bắt buộc đàn bà người Việt phải mặc quần như người Tàu. Đến đời Vua Minh Mạng thì nhà vua buộc đàn bà cả nước phải mặc quần như đàn bà Đàng Trong nhưng lệnh này không được thi hành triệt để ở Đàng Ngoài, nhất là vùng thôn quê.

Tháng chín có chiếu vua ra:

Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.

Đình Bảng : Làng Đình Bảng nguyên là đất cố đô Hoa Lư, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đình Bảng là nơi nổi tiếng về con gái đẹp, vãi lĩnh và lụa tốt, và có nhiều thợ may khéo, nhất là may váy phụ nữ. Về con gái đẹp thì Đình Bảng cũng như Nha Mân của Miền Nam hay Kim Long của Huế.

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân ?

Kim Long con gái mỹ miều

Trẫm yêu trẫm nhớ trẫm liều trẫm đi

Nhưng xin các cô gái Miền Nam và Miền Trung đừng giận tôi nhe vì tôi phải thành thật nói rằng cả Nha Mân và Kim Long đều không thể nào sánh được nét thướt tha duyên dáng của người con gái Đình Bảng trong chiếc váy lĩnh, váy lụa thật mượt mà và sang quý khi họ làm như vô tình “buông chùng” đến mắt cá chân với các nếp gấp phía trước (phụ nữ) hay hai bên (thiếu nữ) lượn hình lưỡi trai (con trai, con hến) như những gợn sóng nhấp nhô nho nhỏ để tha hồ cho các chàng trai giàu tưởng tượng mến yêu.

Cửa võng : hay còn gọi là “bao lam” là hình ảnh của “rèm vắn lên hai bên” như chúng ta cột màn cửa sổ sát hai bên thành đố cửa sổ. Vải rèm hay màn dồn lại và rũ xuống hai bên. Trên một bức hoành phi thì cửa võng là phần trang trí sơn son thếp vàng làm khung phía trên của bức hoành phi mà phía dưới thì “để trống” không trang trí.

Câu thơ này là câu thơ nói lên đại ý của cả bài thơ. Một cậu bé 8-9 tuổi lững thửng theo sau một cô gái 16-17 tuổi đang thẩn thơ (chứ không phải thẩn thờ) đi tìm trên đồng ruộng vừa gặt lúa xong chỉ còn trơ cuống rạ trong một buổi chiều để đi tìm cái chân nguyên thơ mộng mà trong tâm tư thầm kín nhất, sâu thẳm nhất của nàng là cái mộng mơ đầu đời không diễn đạt thành lời.

Đấy là cái tinh hoa của tình yêu nam nữ mơ hồ được thăng hoa từ sự phát triển thể chất tròn đầy một cách tự nhiên và không gợn một tí gì về dục tính. Và đấy là cái mà nàng đi tìm suốt cuộc đời một khi nàng đã trưởng thành và biết tên gọi rõ ràng cái tinh hoa đó là Hạnh Phúc ! Hình ảnh đầu tiên gây ấn tượng nhất về cô gái đối với cậu bé là chiếc váy của nàng (cậu bé thấp quá so với cô gái !).

Cái váy của người phụ nữ lớn tuổi và vất vã thì rất đơn giản, chỉ là một cuộn vải may khép kín, tròng vào qua hai chân, và có giây thắt lưng ở phần trên, nhưng chiếc váy của các phụ nữ giàu sang hay các cô gái mới lớn thì ngoài “cái thúng mà thủng hai đầu” đó thì vạt vải còn rộng dung hơn sự cần thiết dùng để tạo dáng thướt tha bằng cách làm nên những nếp gấp cân đối ở hai bên như hình ảnh cửa võng hay bao lam vậy.

Điều bi thảm của con người là cô gái mãi đi tìm trong suốt cuộc đời nàng nhưng cái tinh hoa của tình yêu mang tên là Hạnh Phúc đó vẫn xa xôi biền biệt vì rằng,

Hai ngày em tìm thấy lá

Chị chau mày : Đâu phải Lá Diêu Bông.

Mùa đông sau em tìm thấy lá

Chị lắc đầu ,

Trông nắng vãng bên sông.

rồi

Ngày cưới chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ cắm trôn kim.

cuối cùng

Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xoè tay phủ mặt, chị không nhìn.

Tâm trạng người con gái đi từ “chau mày, lắc đầu, cười” lơ đãng đến nỗi buồn vô vọng “xòe tay phủ mặt, chị không nhìn” vì không thể nào tìm được Hạnh Phúc của Tình Yêu. (theo Trần Việt Long)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

CA KHÚC TRƯNG VƯƠNG

KHUNG CỬA MÙA THU

(nhạc ngoại quốc- lời Việt : Nam Lộc)

Vào khoảng giữa thập niên 1960, phong trào Nhạc Trẻ Việt Nam phát triển một cách mạnh mẽ, với những tên tuổi được giới trẻ yêu mến như Elvis Phương, Thanh Lan, Billy Shane, Đức Huy, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú, Thuý Anh… Họ nổi danh với các bản nhạc ngoại quốc hát bằng lời Pháp và Anh. Những hộp đêm Mỹ ngày càng nhiều từ 1968, càng khuyến khích số người hát nhạc Mỹ nhiều hơn. Trước sự phát triển mạnh của các ca khúc ngoại quốc nổi tiếng, các nhạc sĩ Phạm Duy, Quốc Dũng, Nam Lộc, Tùng Giang, Trường Kỳ, vv… đã đặt lời Việt cho nhạc ngoại quốc, để kéo giới trẻ đến với phong trào “Việt hoá nhạc trẻ”.

Một trong những tên tuổi tiêu biểu trong phong trào ấy mà chúng tôi muốn nhắc đến là nhạc sĩ Nam Lộc. Ông đã đặt lời Việt cho rất nhiều ca khúc ngoại quốc được công chúng đón nhận một cách sâu rộng. Nhiều người cứ ngỡ bài hát đó là những thuần tuý nhạc Việt Nam, như Mùa Thu Lá bay, Mây lang Thang, Chỉ Là Giấc Mơ Qua….

Trong số những ca khúc được nhạc sĩ Nam Lộc đặt lời Việt, có một bài hát nói về câu chuyện tình kết cục bi thảm nổi tiếng của tuổi thanh thiếu niên Mỹ vào năm 1960 là bài “Tell Laura I love her”. Nam Lộc đã chuyển lời Việt thành nhạc khúc học trò thơ mộng lãng mạn “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”.

Trưng Vương là tên của ngôi trường nữ trung học danh tiếng trước năm 1975 tại Sài Gòn. Bài hát “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu” trước năm 1975 được thâu âm đầu tiên bởi ca sĩ Thanh Lan – Tiếng hát học trò của Sài Gòn một thời kỷ niệm. Bài hát đã nhanh chóng trở thành Top Hits trong giới sinh viên học sinh.

Sau năm 1975, ở hải ngoại có rất nhiều ca sĩ thâu âm lại ca khúc này như Ngọc Lan, Kiều Nga, Như Quỳnh… Nữ ca sĩ Thuý Vi trình bày bài hát này trong chương trình Asia video thu hình lần đầu tiên tại Las Vegas với chủ đề ĐÊM SÀI GÒN 1, đã để lại trong lòng người yêu nhạc những hình ảnh khó quên với giọng ca, với tà áo dài trắng và gia điệu Rumba dập dìu của Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu…

Hãy cùng nghe lại để nhớ về khung trời của sân trường ngày cũ….

– Trưng Vương khung cửa mùa Thu – Ngoc Lan

https://youtu.be/kGYCPH0dNsI

– Trưng Vương khung cửa mùa Thu – Thanh Lan

https://youtu.be/i3ZXI-NNC-s

Lan Hương chuyển tiếp

Advertisements

“TÂY DU KÝ” THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ

“TÂY DU KÝ” ĐƯỢC COI LÀ

THIÊN CỔ ĐỆ NHẤT KỲ THƯ ?

Nếu như hơn 30 năm trước, bộ phim “Tây Du Ký” của đạo diễn Dương Khiết đã đưa người xem đến với hành trình thỉnh kinh cùng những cảnh trảm yêu bắt quái ly kỳ; thì ngày hôm nay, những phân cảnh “Tây Du Ký” trên sân khấu của Đoàn Nghệ thuật Thần Vận lại mở ra trước mắt chúng ta một thế giới thần thoại chân thực đến ngỡ ngàng.

Những tiết mục biểu diễn sâu sắc và thấm đẫm nhân văn ấy đã làm chấn động lòng người. Khi tấm màn hạ xuống, người ta lại tự hỏi : “Tây Du Ký” rốt cuộc là tác phẩm thế nào ? Trong kho tàng văn hóa Thần truyền, vì sao “Tây Du Ký” có vị trí quan trọng đến như vậy ? Chúng ta hãy cùng trở lại với nguyên tác của Ngô Thừa Ân để tìm hiểu, điều gì đã làm nên một thiên cổ kỳ thư vĩ đại nhường ấy?

“Tây Du” kỳ thư

“Tây Du Ký” được Ngô Thừa Ân viết vào giữa thời kỳ nhà Minh trong thế kỷ 16. Tác phẩm kể về hành trình của bốn thầy trò Đường Tăng sang Tây Thiên thỉnh cầu Phật Pháp.

Đường Tăng là một nhân vật có thật trong lịch sử. Ông họ Trần, tên Y, pháp danh là Huyền Trang, vốn là người ở huyện Câu Thị, Lạc Châu (ngày nay là Yến Sư, tỉnh Hà Nam). Huyền Trang sinh ra vào năm thứ hai niên hiệu Nhân Thọ, thời Tùy Văn Đế (năm 602), lên 11 tuổi thì xuất gia. Từ nhỏ Huyền Trang đã nổi tiếng là thông minh đĩnh ngộ, tư chất siêu phàm, trở thành tăng nhân nổi tiếng khắp kinh thành khi đó.

Vì Phật Pháp lưu truyền tại Trung Thổ thời bấy giờ còn có nhiều chỗ không rõ ràng, nên vào năm thứ 3 niên hiệu Trinh Quán (năm 629), Huyền Trang đã từ kinh đô Trường An nhà Đường sang Tây Thiên thỉnh kinh. Suốt dọc đường ông đã đi qua Tân Cương, Trung Á, trải qua 17 năm ròng rã, trèo đèo lội suối hơn 5 vạn dặm đường. Cho tới năm thứ 19 niên hiệu Trinh Quán (năm 645), ông đã về đến Trường An, mang theo 657 bộ kinh Phật tiếng Phạn.

Sau đó ông lại tổ chức phiên dịch kinh sách, dịch ra 75 bộ Kinh, Luận, tổng cộng là 1335 quyển. Huyền Trang đã trở thành nhà Phật học, nhà phiên dịch, nhà lữ hành đầu tiên trong lịch sử có cống hiến đặc biệt trong việc lưu truyền Phật Pháp vào phương Đông.

Từ sau đời nhà Đường, câu chuyện Huyền Trang sang Tây Trúc thỉnh kinh được lưu truyền rộng rãi, dần dần trở thành truyền kỳ nửa thực nửa hư, phong phú ly kỳ. “Tây Du Ký” dựa trên câu chuyện Đường Tăng cầu Pháp, rồi thêm vào đó các tình tiết huyền ảo, mang màu sắc thần tiên. Khi tác phẩm vừa mới ra đời, Đường Tăng, Ngộ Không, Bát Giới, và Sa Tăng đã trở thành những nhân vật nhà nhà đều biết, người người đều hay.

Những câu chuyện như “Đại náo thiên cung”, “Ba lần đánh Bạch Cốt Tinh”, “Ba lần mượn quạt Ba Tiêu”, “Tây Lương nữ quốc”, v.v. đã trở thành bộ phận độc đáo hấp dẫn lòng người của văn hóa Trung Hoa.

Duyên khởi lấy kinh

Trong “Tây Du Ký”, cuộc thỉnh Kinh bắt đầu từ một niệm phổ độ chúng sinh của Phật Đà. Đức Phật Như Lai nói : “Ta xem trong bốn đại bộ châu, chúng sinh thiện ác có khác nhau. (…) Duy có người Nam Thiệm Bộ Châu tham dâm gây họa, hay giết hay tranh, chính là nơi đánh nhau cãi cọ, bể ác thị phi”.

Sau đó, Đức Phật muốn tìm người có pháp lực sang phương Đông chọn lấy một thiện tín, bảo người ấy chịu đựng gian khổ, vượt qua muôn núi nghìn sông, đến đất Phật cầu lấy chân kinh để lưu truyền sang phương Đông mãi mãi, khuyến hóa chúng sinh. Quan Âm Bồ Tát lĩnh mệnh, quả nhiên đã tìm được thầy trò năm người, trải qua chín chín tám mươi mốt kiếp nạn, cuối cùng đã lấy được chân kinh, năm người đồng thời cũng tu thành chính quả.

Nói đến thầy trò Đường Tăng, mỗi người đều có lai lịch đặc biệt. Đường Tăng vốn là Kim Thiền Tử, là đồ đệ thứ hai của Như Lai Phật Tổ. Vì khinh mạn Phật Pháp mà bị giáng xuống hạ giới, thác sinh thành Đường Huyền Trang.

Tôn Ngộ Không vốn là khỉ đá trong Thủy Liêm động trên núi Hoa Quả Sơn. Bởi nhận thấy sinh mệnh vô thường, Ngộ Không đến Tây Ngưu Hạ Châu tìm học thuật trường sinh, học được 72 phép thần thông biến hóa và thuật cân đẩu vân. Về sau bởi tâm tranh đấu không bỏ, đại náo thiên cung, Ngộ Không bị Như Lai Phật Tổ đè xuống núi Ngũ Hành suốt 500 năm.

Trư Bát Giới nguyên là Thiên Bồng Nguyên Soái trấn giữ Thiên Hà, bởi uống rượu say chọc ghẹo Hằng Nga, bị Ngọc Đế phạt đánh hai trăm chùy, đày xuống phàm trần. Sau cùng chuyển sinh vào bụng heo, trở thành hình dáng xấu xí mũi dài tai rộng.

Sa hòa thượng vốn là Quyển Liêm đại tướng ở điện Linh Tiêu, bởi sơ ý làm vỡ chén ngọc lưu ly mà bị Ngọc Đế đày xuống hạ giới, bị trừng phạt phi kiếm xuyên ngực ở Lưu Sa Hà, chịu đói chịu rét, phải bắt người ăn thịt mà sống qua ngày.

Còn Bạch Long mã vốn là con trai của Tây Hải Long vương Ngao Nhuận, bởi phóng hỏa đốt cháy viên minh châu trong điện nên phụ thân tâu lên thiên đình, tố cáo tội ngỗ nghịch, khiến Ngọc Đế phạt treo thân trên không trung, đánh ba trăm gậy, chuẩn bị nhận án tử hình.

Quan Âm Bồ Tát đến Đông Thổ tìm người đi lấy kinh là vào năm 13 Trinh Quán nhà Đường. Lúc ấy, vua Đường Thái Tông tổ chức đại hội Thủy Lục, thỉnh mời cao tăng đắc đạo tới giảng kinh thuyết pháp – vị cao tăng đó cũng chính là hòa thượng Huyền Trang. Quan Âm Bồ Tát hóa thân thành lão hòa thượng chốc đầu, điểm hóa Huyền Trang đến đất Phật Như Lai ở chùa Đại Lôi Âm, nước Thiên Trúc để thỉnh cầu Phật Pháp. Sau đó, Thái Tông kết nghĩa huynh đệ với Huyền Trang, rồi cử người hộ tống Huyền Trang sang Tây Thiên thỉnh kinh.

Dọc đường, Huyền Trang đã thu nhận Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng làm đồ đệ, còn Tiểu Bạch Long đang chờ xử trảm cũng hóa thành ngựa trắng đưa Đường Tăng lên đường. Thầy trò năm người, đồng tâm hiệp lực, vượt qua muôn vàn khó khăn nguy hiểm, trải qua hết thảy 81 nạn, cuối cùng công đức viên mãn.

Nét đặc sắc trong Tây Du Ký

1/- Cảnh giới : Điều kỳ diệu trong “Tây Du Ký” chính là ở cảnh giới. Khác với việc lấy kinh trong lịch sử, câu chuyện trong “Tây Du Ký” vượt qua Tứ Đại Bộ Châu, thế giới mười phương, không kể là bảo điện Linh Tiêu của Ngọc Hoàng Đại Đế hay là bảo điện Lôi Âm của Phật Như Lai, không kể là Tứ Hải long cung hay là U Minh địa phủ, cũng bất kể là Thông Thiên hà sóng nước cuồn cuộn hay Hỏa Diệm sơn ngọn lửa hừng hừng, hết thảy đều đã trở thành sân khấu biểu diễn của người thỉnh chân kinh.

2/- Tình tiết : Điều ly kỳ trong “Tây Du Ký” chính là ở tình tiết. Thạch hầu vốn là một tảng đá hấp thụ thiên chân địa tú, tinh hoa nhật nguyệt trên Hoa Quả Sơn. Chỉ nói riêng đến xuất thân thì câu chuyện của Ngộ Không đã rất ly kỳ rồi. Nhưng đặc biệt hơn cả, thạch hầu sẵn sàng từ bỏ vinh hoa phú quý ở Hoa Quả Sơn và cuộc sống tự tại tiêu diêu nơi Thủy Liêm động mà quyết chí vân du tầm sư học đạo.

Ngộ Không gặp được Sư Tổ Bồ Đề đã học biết 72 phép biến hóa thần thông; sau lại xuống Long Cung của Đông Hải Long Vương lấy được cây định hải thần châm, có thể biến hóa tự do như ý; đến khi đại náo Thiên Cung, bị nhốt trong lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân lại luyện được hỏa nhãn kim tinh, có thể lên trời xuống đất, hô phong hoán vũ, thật quá ly kỳ.

Nhưng điều ly kỳ hơn là, dù con khỉ ấy có thần thông quảng đại đến đâu, vẫn không nhảy ra khỏi lòng bàn tay của Như Lai. Mỹ hầu vương có thật có giả, Đường Tăng có thật có giả, Lôi Âm tự có thật có giả, đều đã ly kỳ lắm rồi. Càng ly kỳ hơn nữa, là ngay đến cả kinh Phật ở Tây Thiên Phật thổ cũng có thật có giả.

Những màn khác như đấu phép ở Xa Trì quốc, hái trộm nhân sâm ở Ngũ Trang quán, ba lần đánh Bạch Cốt Tinh, uống nước sông Mẫu Tử rồi mang thai, đàm luận thơ từ ở am Mộc Tiên, thật là kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng của con người.

3/- Nhân vật : Đặc sắc của tác phẩm nằm ở nhân vật. Thế giới “Tây Du Ký” không chỉ có người phàm nơi nhân thế mà còn có Thần Phật nhiều không đếm xuể; trong đó không chỉ có Như Lai, Bồ Tát, La Hán, Kim Cang của Phật gia, mà còn có Ngọc Đế, Vương Mẫu, Lão Quân, Thiên Vương của Đạo gia; không chỉ có chính Thần, mà còn có các dạng yêu ma quỷ quái, quỷ mị võng lượng.

Trong năm thầy trò, Bạch Long hóa ngựa đã ly kỳ rồi, càng ly kỳ hơn là Sa Tăng ở Lưu Sa Hà ăn thịt người sống qua ngày, một khi quy y Chính Pháp thì lại chịu cực chịu khổ, đạo tâm kiên cường bất phá. Bát Giới tham ăn biếng làm, sắc tâm không bỏ, ở rể Cao Lão trang đã rất thú vị rồi; càng thú vị hơn là huynh trưởng

Ngộ Không giỏi hàng yêu bắt quái, với bản lĩnh lên trời xuống đất, trước sau một lòng bảo hộ Đường Tăng thân phàm xác thịt sang Tây Thiên lấy kinh. Chỗ đặc sắc hơn cả, vẫn là Đường Huyền Trang, một khi đã thề sang Tây Thiên thì dẫu chết cũng không hối hận, tuy trên đường đâu đâu cũng đều có yêu ma quỷ quái chờ ăn thịt, nhưng nhờ vào sự giúp đỡ của bốn vị cao đồ và sự bảo hộ của Thần Phật và Bồ Tát các nơi, mỗi nạn Đường Tăng đều gặp dữ hóa lành, chuyển nguy thành an, cuối cùng đến được Đại Lôi Âm, công đức viên mãn.

Diệu lý huyền cơ

Tục ngữ có câu : “Trong nghề xem lề lối, ngoài nghề xem náo nhiệt”. Với “Tây Du Ký”, điều độc giả yêu thích nhất là những tình tiết biến hoá ly kỳ, những câu nói hài hước dí dỏm, những nhân vật sống động chân phương. Nhưng với những người có hiểu biết nhất định về Phật gia và Đạo gia, thì sẽ không khó phát hiện rằng đây là bộ tiểu thuyết viết về tu luyện, khắp “Tây Du Ký” đâu đâu cũng đầy ắp những diệu lý huyền cơ.

1/, Mỗi quan nạn đều là chấp trước cần phải tống khứ trong quá trình tu hành : Sau khi Đường Tăng thu nhận Ngộ Không làm đồ đệ, quan nạn đầu tiên gặp phải chính là lục tặc (sáu kẻ cướp đường), gồm có : Nhãn Khán Hỷ (Mắt thấy mừng), Nhĩ Thính Nộ (Tai nghe giận), Tỵ Khứu Ái (Mũi ngửi thích), Thiệt Thường Tư (Lưỡi nếm nghĩ), Thân Bổn Ưu (Thân vốn lo), Ý Kiến Dục (Ý thấy muốn).

Sáu tên giặc này ẩn dụ cho lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà Phật gia nói đến. Đánh chết sáu tên giặc này cũng có nghĩa là bài trừ mọi can nhiễu và phiền não mà cảm quan của nhục thân mang đến cho người tu luyện.

81 kiếp nạn, mỗi một nạn đều đối ứng với tâm chấp trước cần phải trừ bỏ. Phá trừ những quan nạn này, không phải là tiêu diệt số yêu ma quỷ quái hữu hình kia, mà là tu bỏ ma chướng trong tâm người tu luyện. Vậy nên, trong số 81 nạn, có nạn thì nhắm vào tâm sợ hãi của Đường Tăng, có nạn thì nhắm vào tâm tranh đấu của Ngộ Không, có nạn lại nhắm vào tâm tham lam lười biếng và háo sắc của Bát Giới.

Trong hồi thứ 50, khi Ngộ Không ra ngoài xin cơm chay, Đường Tăng, Bát Giới, Sa Tăng đến một gian nhà cũ và nhìn thấy trên bàn có những chiếc áo chẽn bằng gấm. Lúc này tiết trời đang lạnh, Bát Giới và Sa Tăng không chịu nổi cám dỗ, bèn mặc thử cho ấm tấm lưng. Không ngờ vừa mới khoác áo lên người, ngay lập tức bị hai chiếc áo trói chặt lại. Ngộ Không đã phải nhiều phen lao đao vất vả, cuối cùng mới được Thái Thượng Lão Quân ra tay hàng phục Kim Đâu Đại Vương, cũng chính là con trâu xanh của Ngài.

Hồi thứ 98 trong “Tây Du Ký”, thầy trò Đường Tăng trải qua muôn vàn cực khổ, cuối cùng mới đến được chùa Đại Lôi Âm ở Tây Thiên, hai vị Tôn giả A Nan, Ca Diếp phụng mệnh Phật Như Lai dẫn thầy trò đến bảo các lấy kinh. Hai vị Tôn giả xin lễ vật không thành, bèn trao cho họ kinh Phật không có chữ. Hành giả đến cáo trạng với Như Lai, không ngờ Phật Tổ nói rằng :

“Nhà ngươi cứ bình tĩnh. Việc hai người vòi lễ các ngươi ta đã biết rồi. Có điều kinh cũng không phải trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được. Trước kia các Tỳ Kheo thánh tăng xuống núi cũng đem kinh này tụng hết một lượt cho nhà trưởng giả họ Triệu ở nước Xá Vệ, giúp cho nhà ấy người sống yên ổn, kẻ chết siêu thoát, thế mà chỉ lấy có ba đấu ba bơ vàng cốm của họ mang về thôi. Ta còn bảo họ bán kinh rẻ quá, con cháu đời sau lấy tiền đâu mà tiêu. Nhà ngươi tay không đến cầu, nên họ mới trao cho những quyển trắng tinh. Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay. Các ngươi là chúng sinh ở cõi Đông u mê ngu tối, lẽ ra chỉ nên trao cho những thứ đó thôi”.

Hai tôn giả lại dẫn bốn thầy trò đến dưới lầu ngọc gác báu, nhưng vẫn đòi Đường Tăng phải đưa tiền lễ vật. Tam Tạng không có gì dâng lên, đành phải bảo Sa Tăng lấy bát tộ vàng tía dâng lên. A Nan “hổ thẹn, mặt mũi nhăn nhúm, nhưng tay vẫn giữ chặt lấy cái bát tộ”.

Tình tiết này, trước nay đều bị người đời xem là ngòi bút trào phúng của Ngô Thừa Ân : ngay đến cả Thế giới Tây Thiên Cực Lạc cũng có chuyện tham ô nhận hối lộ. Thật ra, người tu luyện với mọi tâm chấp trước đều phải dứt bỏ mới có thể công thành viên mãn.

Tham luyến của Đường Tăng với cái bát tộ vàng, đó đã là có tâm tham tài ái vật, lại có nhân tình với vua Đại Đường trong đó, mà những thứ này vừa khéo lại là tâm mà người tu luyện phải trừ bỏ. Nếu như không thể trừ bỏ những tâm này, thì tâm hữu lậu, không thể nói đến chuyện công đức viên mãn được.

2/, Mọi quan nạn đều là an bài khéo léo của Thần Phật : Mỗi một quan mỗi một nạn trên đường lấy kinh mà thầy trò Đường Tăng gặp phải, đều là an bài khéo léo của Như Lai Phật Tổ và Quan Âm Bồ Tát.

Hoàng Phong quái là con chuột lông vàng đắc đạo dưới chân núi Linh Sơn của Linh Cát Bồ Tát. Hoàng Bào quái là Khuê Mộc Lang – một trong số nhị thập bát tú. Kim Giác Đại Vương, Ngân Giác Đại Vương là hai đồng tử Kim Ngân của Thái Thượng Lão Quân. Linh Cảm Đại Vương là con cá vàng được nuôi trong ao sen của Quan Âm Bồ Tát. Độc Giác Đại Vương là vật cưỡi của Thái Thượng Lão Quân.

Hoàng Mi Lão Quái là đồng tử lông mày vàng gõ chuông khánh của Phật Di Lặc. Thanh Mao Sư Tử quái, Hoàng Nha Lão Tượng quái là vật cưỡi của hai vị Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền; Đại Bàng tinh là cậu của Phật Như Lai. Quan Âm Bồ Tát lợi dụng quan hệ nhân duyên giữa các sinh mệnh, vừa kết thúc nợ nghiệp giữa các sinh mệnh, lại giúp đỡ thầy trò Đường Tăng tu tâm trừ nghiệp, tu luyện viên mãn.

“Tây Du Ký” xây dựng trên văn hóa tu luyện bác đại tinh thâm trong văn hóa truyền thống Trung Quốc. Những tình tiết, nhân vật, đối thoại, thơ từ trong sách, toàn bộ đều có hàm ý thâm sâu, chứ không phải là những phóng túng nghệ thuật đơn thuần. Bởi vậy, “Tây Du Ký” xứng đáng là báu vật trong kho tàng văn học kim cổ đông tây, mãi mãi tỏa sáng đến ngàn đời. (theo Secretchina)

CẦU NGÓI THANH TOÀN XỨ HUẾ 

– Võ Quang Yến

Thời Thuộc địa, một công chức người Pháp ở Huế, ông Edmond Gras, chịu khó đi tìm xem cầu ngói Thanh Toàn (cầu mái ngói) cách xa thành phố khoảng 10km. Ông đi ngựa cùng với một viên chức địa phương, mất một buổi chiểu mà tìm không ra.

Tuy nhiên ông nhí nhảnh thuật lại trong tờ Đô thành Hiếu cổ BAVH (1917) cuộc hành trình thú vị. Trời hè nóng nhưng mát nhờ con đường đầy bóng cây uốn khúc trên bờ mương, lên xuống mỗi khi qua chiếc cầu tre lắc lư dưới chân ngựa.

Hai bên đường, làng xóm kín đáo núp mình sau các dãy hàng rào cao dày, những ngôi chùa hiu quạnh yên tĩnh dưới bóng cây tối sẩm. Thỉnh thoảng một lỗ trống trong bụi tre xanh để lộ ra một sân nhà quét dọn sạch sẽ quanh đống rơm xây đắp tươm tất, đàn gà con ríu rít bíu chân mẹ, chú heo đen kêu en éc trong rọ mây.

Trong một kiệt nhỏ, mùi hương thơm hoa sứ ngào ngạt như để át mùi phân trâu, phân bò. Một cậu bé trần truồng bất thình lình thấy chúng tôi, lấy roi đập đẩy đàn trâu sang môt bên như để dọn đường rồi nhảy xuống mương… Nhưng chiếc cầu thì vẫn không tìm ra vì như tuồng người dẫn đường cũng chưa khi nào lại viếng cầu !

Trời tối dần, cả hai lấy đò trở về. Trên nền trời đen thẩm, những đám cháy nhắc ông Edmond Gras nhớ đến những ngọn lửa Saint-Jacques ở quê Provence xa xăm của ông. Thì ra người nào đi xa cũng luôn ấp ủ trong lòng hình bóng quê hương của mình.

Ông đã trờ lại Thanh Toàn với cha Leopold Cadière, tổng biên tập tờ BAVH, lần nầy đi xe kéo và thấy được cầu. Thì ra cầu có thật : cột gỗ dài cao trên mặt nước, lợp mái ngói tráng men, hình cong trông từ xa như một con rồng uốn lưng. Trên cầu, những người rảnh rang dạo lượn chân không, học sinh đua thử thăng bằng trên các rầm kèo,… Ông không quên vẽ một bức tranh minh họa bài báo trong tương lai.

Cũng trong cùng tờ báo BAVH còn có hai bài viết về chiếc cầu Thanh Toàn của ông Công sứ Richard Orband, quan chức hành chính dân sự (cùng năm 1917) và của ông Hippolyte Lebreton Hiệu trương trường Quốc học, mười sáu năm sau (1933). Cả hai tác giả nầy đều cỏ miêu tả tỉ mỉ con đường từ Huế về cầu, kiến trúc cây cầu đồng thời lượt thuật lịch sử một kiệt tác hiếm có.

Ở miền Trung, hai chiếc cẩu có lối kiến trúc đặc biệt và giá trị nghệ thuật cao nhất Việt Nam là cầu Nhật Bản tức Chùa Cầu ở Hội An (lúc bấy giờ gọi Faifo) và cầu Thanh Toàn cạnh Huế. Cầu ngói Thanh Toàn có cầu kết thượng gia hạ kiều (trên nhà dưới cầu), là một tác phẩm kiến trúc nhỏ nhắn dài 16,85m (43 thước mộc), rộng 4,63m (14 thước mộc), gồm có bảy gian, gian giữa dùng để thờ cúng.

Hệ thống trụ đỡ sắp thành ba hàng, có chung một khối mộng để chống lún. Mỗi hàng có trụ bằng đá, sáu cột. Hai đầu là hai mố cầu, trang bị bảy hệ thống thống thoát nước. Hệ thống trụ đỡ nối liền các đầu mối cầu. Các thanh bê tông chay dọc từ hai đầu vào giữa dốc dần lên đến gần gian giữa thì nằm ngang.

Tư thế nầy khiến cả mặt cầu lẫn mái cầu trông như gãy khúc, nâng cổng giữa lên cao tạo một hình dáng duyên dáng, khỏe mạnh, đồng thời giúp ghe thuyền qua lại dễ dàng. Trên cầu, các hệ thống trụ cầu có dầm gỗ bắc ngang thành cơ sở dựng cột làm khung nhà. Mỗi vi có bốn hàng cột, giữa hai cột là lòng cầu làm lối đi lại. Từ hai bên cột cái trở ra là cột hiên nâng lên cao làm chỗ hóng mát. Bên ngoài có lan can chấn song để ngồi khỏi ngã. Mọi phần đều thông thoáng, chỉ có phần sườn cầu làm bàn thờ thì bịt kín. Các hệ thống xà thượng, xà hạ đều sắp xếp theo lối xà kép, xà trên nằm trên đầu cột, xà dưới di chuyển qua mộng cột.

Các bộ phận kiến trúc đều bằng gỗ, nhưng không chạm khắc hay trang trí mà chỉ gồm hai loại tiết diện tròn và vuông. Các nghệ nhân đã chạm khắc hình con vật với chủ đề tứ linh ở bộ mái cây cầu : long lân quy phụng. Về trang trí, trước đó chỉ có con giao long, sau này nhường chỗ cho con rồng ở hai đầu và đôi phượng chầu mặt trời ở giữa.

Sử sách ghi làng cũ mang tên Thanh Toàn từ hồi 12 vị tộc trưởng khai canh thế kỷ XVI. Những vị nầy phần lớn là người Việt quê gốc Thanh Hỏa theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa (có tài liệu cho là chậm hơn), nhưng cũng có người Chăm đã sống tại chỗ từ trước. Cũng có thể hai dân tộc sống chung đụng với nhau, ngay cả trong cùng một tộc.

Qua thời Thiệu Trị (1841-1847) chữ Hoàng là tên húy ( ?) nên làng đổi tên thành Thanh Thủy. Làng đông người nên chia ra hai : Thanh Thủy Chánh và Thanh Thủy Thượng, tên giữ nguyên vẹn cho đến nay. Cầu ngói Thanh Toàn nằm ở làng Thanh Thủy Chánh thuộc xã Thủy Thanh, hượng Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Lịch sử cầu dính liền với tiểu sử bà Trần Thị Đạo. Bà người làng Thanh Thủy, cháu sáu đời một trong 12 vị khai canh làng. là vợ của Khâm sai, Chủ sự Hoàng cung, Tổng chỉ huy bộ binh và thủy binh, Tổng đốc của ba huyện Hương Trà, Phú Vang và Quảng Điền, Tứ Xuyên Hầu Phan Trọng Phiên, Nhất trụ triều đình. Vào thời nhà Trịnh đánh chiếm Phú Xuân,

Bà theo chồng ra bắc, nhưng được một thời gian bà trở về bản quán sinh sống. Bà không ngần ngại vượt qua bao mệt nhọc để theo đuổi cuộc hành trình cùng với đoàn của vua. Bà đã dũng cảm làm trọn ba nhiệm vụ của phái nữ. Bà còn để lại cho làng bà nhiều ân huệ mà người ta cần lưu niệm .

Làng Thanh Thủy có một con mương chảy qua, thường hằng ngày dân địa phương phải dùng thuyền, không thì mất thì giờ đợi đò ngang, rất vất vả khi trời đông giá, rét mướt. Mang một bụng dạ thương người, tấm lòng đức độ, thấu hiểu nỗi khó nhọc của người dân quê, bà bỏ tiền túi thuê làm chiếc cầu có mái lợp phòng khi trời mưa gió, cũng là nơi dừng chân của khách bộ hành tìm bóng mát những ngày nắng nóng.

Bà không dè cầu lại là nơi ngắm trăng, hóng gió. Tuy cầu được cấu trúc như một ngôi nhà bình thường nhưng lại là một ngôi nhà ấm áp khi đông về và mát mẻ khi nắng lên. Cầu cũng là nơi dạt dào tình thương nên trai thanh gái lịch trong vùng lại ca hát, giao duyên, hẹn hò, tình tứ.

Ở hai lối vào cầu có hai hàng câu đối chữ Hán được khắc lên trên cầu, nhưng thời gian làm hao mòn nên khó tìm ra câu nguyên vẹn : Kiệt cấu thiên thu truyền thắng tích, ngỏa kiều thắng cảnh cựu quy mô. Tạm dịch : Kiệt tác kiến trúc này là một di tích lưu truyền mãi nghìn năm sau, cầu ngói là một thắng cảnh làm theo quy mô cũ. Còn có câu: Tế xuyên mâu bửu phiệt, thanh thủy thắng hồng lâu. Tạm dịch : Qua sông là bè quý, nghỉ mát ấy gác son.

Căn cứ vào tờ Sắc của vua Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 thì cầu được xây vào năm 1776. Theo sử sách năm 1925 ghi lại thì vua Khải Định đã ban tặng cho bà Trần Thị Đạo tước vị “Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù”. Vua còn hạ lệnh cho dân làng lập bàn thờ trên cầu để thờ bà và mong bà phù hộ độ trì cho dân làng.

Bên phần dân làng cũng không nề hà và lại sinh hoạt quanh cầu. Phía chân cầu là một vùng đất rộng, người ta đến đây để vui chơi và họp chợ. Giữa vùng đất còn có một cái đình không biết xây từ bao giờ, giao lưu buôn bán cũng không ai rõ từ hồi nào.

Người xưa kể lại chợ trước đây không lớn như bây giờ, buôn bán chỉ có những mặt hàng rất nhỏ như mớ rau, mớ cá, trái cau, lá trầu… Riêng tôi còn thấy trẻ chăn trâu, người đánh cá, hai bà già ngồi cạnh cầu bán cau trầu, thuốc lá trước khi có hội hè đình đám.

Trong rất lâu, người dân đánh cá, bắt cua đưa đến đây trao đổi với nhau qua thời gian tạo nên cái chợ làng. Dần dần đời sống phát triển, các mặt hàng xuất hiện ngày càng đa dạng hơn, hình thức buôn bán cũng trở nên to lớn hơn. Nhưng chợ luôn tự nhiên giới hạn và luôn còn mang nét quê Việt Nam.

Chính vì mang đậm nét bản thể thôn dã cho nên nơi đây được chọn làm hội chợ quê, vào những ngày lễ hội trong thời kỳ festival Huế. Cần phải nhận định, như việc mở mang cần thiết phố xá ngoại ô thành phố, cái bản sắc làng quê căn bản cuộc phát triển liệu rồi có bị hao mòn tiêu biến không.

Ngoài lễ hội chợ quê hai năm một lần thì vào ngày mồng ba tết nguyên đán hàng năm, nơi đây còn tổ chức cuộc đánh bài chòi. Đây là một trò chơi dân gian xưa mang đậm bản sắc và văn hóa người Việt Nam. Ngoài ra còn có một đám lễ nữa cũng được tổ chức linh đình không kém vào ngày rằm tháng tám, theo người dân địa phương thì là ngày giỗ của bà Trần Thị Đạo.

Họ rước bà từ đình ra cầu cúng lễ, rồi lại rước bà trở lại đình. Sau lễ, các trò chơi cho nhân dân trong làng như ca hát, hò giả gạo, đua thuyền trên mương và kéo co được tồ chức, gây thư giản cho dân quê suốt năm cặm cụi công việc.đồng án.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NHỮNG CA KHÚC “VANG BÓNG MỘT THỜI” (4)

NHỮNG CA KHÚC

“VANG BÓNG MỘT THỜI” (4)

Ý NGHĨA BÀI MÙA THU CHẾT CỦA PHẠM DUY 

Xuất xứ những bài nhạc việt  vang bóng một thời

Những ca khúc : “vang bóng một thời” (2:42’)

https://youtu.be/BUOyCFFYnvo

List nhạc : 1/- Biệt ly,  2- Giọt mưa thu,  3- Áo lụa Hà Đông,  4- Nửa hồn thương đau,  5- Gửi gió cho mây ngàn bay,  6- Nỗi lòng,  7- Em ơi Hà Nội phố,  8- Hàn Mạc Tử,  9- Diễm xưa,  10- Gợi giấc mơ xưa,  11- Chiều mưa biên giới,  12- Lời buồn thánh,  13- Cô gái xuân,  14- Ướt mi,  15- Em đi chùa Hương,  16- Nắng chiều,  17- Mộng dưới hoa,  18- Cát bụi,  19- Chuyện tình Mộng Thường,  20- Thói đời,  21- Ảo ảnh,  22- Mùa thu chết.

– Tiếp theo kỳ 1-2-3 – Hết

22/- Ý NGHĨA BÀI

MÙA THU CHẾT của PHẠM DUY 

– Ca khúc “Mùa thu chết” : nhạc Phạm Duy, trình bày Lệ Thu

https://youtu.be/5tvf3C0k9nI

(Trích hồi ký “Ca Nhạc Sĩ Sài Gòn trước 1975” cùa Nguyễn Việt – MTSG)

… Khi NNS nói đến bài thơ L’Adieu của Guillaume Apollinaire, nhắc đến Hoa Thạch Thảo không ai không nhớ đến nhạc phẩm “Mùa Thu Chết” của nhạc sĩ Phạm Duy.

Và khi nói đến nền tân nhạc miền Nam nếu không nói về Phạm Duy quả thiếu sót, không phải Phạm Duy thuộc hàng cổ thụ, có quá trình sáng tác dồi dào từ dân ca, nhạc trẻ, trữ tình lãng mạn, nhạc lá cải cho đến nhạc được đặt hàng theo yêu cầu, chỉ thiếu một thứ Phạm Duy chưa soạn thứ nhạc quảng cáo dùng cho băng vệ sinh, thuốc tăng lực như các nhạc sĩ có tên tại Sài Gòn hiện nay vẫn làm.

Trước ngày 30/4, Phạm Duy thường cho rằng ông là niềm vinh dự của chính phủ lúc bấy giờ, vì chính Phạm Duy từng nói : “… chính phủ phải sử dụng đến tôi, nếu ở Hà Nội có Văn Cao thì ở Sài Gòn chỉ có Phạm Duy để tạo thế cân bằng văn nghệ giữa hai miền, thuộc ngón đòn tâm lý chiến chính phủ cần sử dụng”.

Có lẽ vì vậy sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đỗ, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương lúc này do tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch, giao Phạm Duy cho bộ Công Dân Vụ do Nguyễn Tôn Hoàn chủ đạo; sử dụng Phạm Duy trong chiến dịch “Bình Định Nông Thôn” làm chiêu bài thu hút thành phần SVHS tham gia, một chiến dịch không phải đi cất nhà, làm đường cho dân quê mà để mật vụ đặc nhiệm lùng sục bắt bớ du kích Việt Cộng nằm vùng. Chiến dịch được Mỹ tài trợ, Phạm Duy đưa SVHS đi vào vùng sâu vùng xa hát cho dân quê nghe những bài như “Giọt mưa trên lá” mới sáng tác không lâu v.v…

Hay từ năm Mậu Thân trở đi Mặt trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) công cụ của Bắc Việt đang bành trướng, Phạm Duy liền có bài “Mùa Thu Chết” để đánh đòn tâm lý chiến với các chiến binh cộng sản chính quy cũng như du kích địa phương.

Thật ra Phạm Duy phổ bài “Mùa Thu Chết” theo một thi ca trữ tình lãng mạn của Pháp. Nhưng lúc phổ biến nhạc phẩm ra công chúng, lại vào rơi vào khoảng không gian khi Hà Nội và MTGPMN hô hào kỷ niệm cuộc Cách Mạng tháng 8 còn gọi Cách Mạng Mùa Thu.

Vậy ý nghĩa “Mùa Thu Chết” là gì ? Phải chăng nên hiểu, Cách Mạng Mùa Thu sẽ không tồn tại, mà không tồn tại có nghĩa miền Bắc sẽ không còn Cộng Sản, vì đã vào tay người miền Nam (?), bởi lúc này tướng râu kẽm Nguyễn Cao Kỳ đang hô hào Bắc tiến. Để rồi có một Bạch Tuyết và một Thẩm Thúy Hằng ngồi tại một tiền đồn heo hút trên đầu đội nón sắt lính VNCH mang hàng chữ “hãy bỏ bom Bắc Việt”, được in chần dần trên tờ Time và Newsweek dạo đó ai cũng thấy.

Phạm Duy tiếp tục ca tụng một Phạm Phú Quốc rớt máy bay chết tại một cây cầu miền Bắc với bài “Huyền thoại ca một người mang tên Quốc” hay bài “Kỷ vật cho em” ca tụng những người lính đã bỏ mình vì nước.

Nguyễn Cao Kỳ ưu ái đến Phạm Duy qua chiến dịch “Bình định nông thôn” hay những nhạc phẩm Phạm Duy ca ngợi người lính VNCH và cho cả ông ta.

Sau khi Đài Truyền Hình số 9 được Mỹ xây dựng lên vài năm (hình thành sau ngày Ngô Đình Diệm bị lật đỗ), Phạm Duy từ bên Công Dân Vụ được cắt cử về trông phần văn nghệ của đài.

Từ khi Phạm Duy về làm ở Đài truyền hình số 9, nhiều “đại gia văn nghệ” tranh nhau miếng đất màu mở này để kiếm tiền, không phải tiền “chương trình” được đài chi trả – vì thù lao chẳng có là bao, một show ca nhạc 45 phút được trả tối đa 20.000đ bấy giờ (khi vàng 24K mới hơn 30.000đ/lượng), bao gồm chi phí cảnh trí, ca sĩ, nhạc phẩm, nhạc công và các tạp vụ khác.

Tính chi li mỗi nhạc phẩm được ca sĩ trình diễn, bình quân chỉ có 2.000đ, trong khi bầu show phải trả thực tế tiền cát-xê cho ca sĩ như Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Thúy từ 5.000 đến 10.000đ/bài, trung bình như Giao Linh, Phương Hồng Quế từ 3.000 đến 5.000đ/bài, tức nếu có một chương trình trên Đài số 9, ông bà bầu show đều chịu lỗ (một show ca nhạc 45 phút thường gồm 9 đến 10 ca khúc) nhưng các ông bà bầu show vẫn làm và làm càng xuất sắc,

Lý do mỗi khi họ có chương trình trên truyền hình thì họ sẽ có tất cả : tiền quảng cáo nhạc phẩm do nhạc sĩ sáng tác hay các nhà xuất bản porter bỏ ra chi phí, đôi khi chi cả tiền “poa” cho caméraman để có góc cạnh đẹp; Còn bầu show được tiếng có chương trình hay, lò nhạc hay đại nhạc hội, phòng trà khiêu vũ trường của họ được nổi tiếng là cách gián tiếp tiếp thị quảng cáo rất có trọng lượng, riêng các nhạc sĩ hay nhà xuất bản nhạc những người bỏ tiền chi phí cho màn trình diễn của ca sĩ cũng hốt bạc do poster bán rất chạy. Và chính Phạm Duy thuộc loại “ngư ông đắc lợi”, ngoài việc bầu show có nghĩa vụ “điếu đóm” lại được chính quyền khen ngợi là một thiên tài văn nghệ.

Đài TH số 9 thời Phạm Duy là như thế, các ông bà bầu show người có khả năng nghề nghiệp, người chỉ là dân i-tờ trong làng văn nghệ, đúng là bát nháo ! Nhưng Phạm Duy lại hãnh diện bởi công việc của mình, và để góp thêm phần bát nháo, Phạm Duy sáng tác những bài hát như Sức mấy mà buồn, Bỏ qua đi Tám mà ông gọi là “Tục Ca” hay nhạc vĩa hè, nhạc cái bang.

Giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ có nhận xét, Phạm Duy đã đánh mất cái tôi của mình, hiện thân một người xu thế, nhạc sĩ của mọi thời, một người có vòng quay 180 độ. Khi Tạ Tỵ viết về Phạm Duy trong cuốn “Phạm Duy còn đó nổi buồn” tuy không lên án và có phần bênh vực cho một người đang bị xã hội chê cười, vẫn đánh giá “Phạm Duy hôm nay không còn là Phạm Duy ngày xưa nữa !”

Ở trào ông Diệm, Phạm Duy cùng với các xếp Trần Kim Tuyến, Nguyễn Tôn Hoàn phát động phong trào Bình Định Nông Thôn với áo bà ba đen, vỗ ngực là người của 9 năm kháng chiến chống Pháp để mà mị những người dân ruộng đồng chất phát luôn sùng bái những ngày đánh Pháp, ở chiến dịch này Phạm Duy có các bài hát “Ngày trở về”, “Giọt mưa trên lá”,

Qua thời Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh do phong trào SVHS đang cuồng nộ với chế độ quân sự, Phạm Duy đưa ra những bản nhạc Du ca để đánh bóng tên tuổi khi những Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên làm mưa làm gió về tình ca, được sự yêu chuộng của giới trẻ các nơi.

Phạm Duy viết những nhạc phẩm như Kỷ vật cho em, Người tình không chân dung, Huyền sử ca một người mang tên Quốc, Mùa thu chết (hình thức nhạc tâm lý chiến), Phượng yêu, Tóc mai sợi vắn sợi dài (loại nhạc tình ca)… để tranh thủ cảm tình tầng lớp người trẻ đã đánh mất và lấy lòng chánh quyền.

Đến đời Nguyễn văn Thiệu, Phạm Duy không còn làm ở Đài số 9, liền nhảy sang cộng tác với nhóm Văn Hóa Mỹ của đài phát thanh Tiếng nói Tự Do, làm cố vấn các chương trình chiến tranh tâm lý.

Phạm Duy còn là “thợ sáng tác” theo đơn đặt hàng của các nhà xuất bản hay các hãng băng nhạc, vì chỉ trong vòng vài ngày Phạm Duy có ngay tác phẩm theo yêu cầu. Tôi có nghe nhà phát hành Minh Phát lúc đó – nằm ở góc Lê Lợi – Nguyễn Trung Trực bây giờ – nói nhạc Việt hóa tức nhạc ngoại quốc lời Việt đang thịnh hành nên có đặt Phạm Duy phổ lời cho cả chục bài để xuất bản, tôi nói sáng tác như vậy lấy gì là hay, ý tứ đâu mà chỉ trong vài ngày là xong cả chục bài hát ?

Ông Minh Phát cười trả lời, chỉ cần cái tên trên bản nhạc là hốt bạc rồi, cần gì lời ca !? Do mình nhái tên Phạm Duy không được đành phải mua cái tên với giá 100.000đ một bài, nhiều khi Phạm Duy còn để cho con cái phổ nhạc không chừng – con Phạm Duy – Thái Hằng là Duy Quang, Thái Hiền, Thái Thảo ban The Dream’s còn con dâu là Julie Quang.

Con người Phạm Duy cũng rất trần tục, nhớ lại những năm đầu di cư vào Nam 1954; báo Sàigòn Mới của bà Bút Trà đã làm rùm cái chuyện “Phạm Duy ăn chè Nhà Bè”, một scandal của làng tân nhạc thời bấy giờ, báo Sàigòn Mới kể rằng : Phạm Duy trốn vợ để dẫn cô em vợ Khánh Ngọc xuống tận Nhà Bè hú hí, nhưng trời bất dung nhan Thái Hằng biết được đánh ghen um sùm, các báo lúc đó như SàiGòn Mới, Tiếng Chuông, Dân Chúng thi nhau khai thác, khiến Phạm Duy phải cầu cứu với Bộ Thông Tin yêu cầu các báo ngưng loạt bài đó.

Vào năm 1972 hay 73 gì đó, Phạm Duy được mời tham dự cuộc thi Nhạc Pop tại Nhật, cùng Ngọc Chánh, Thanh Lan mang chuông đi đánh xứ người với hai nhạc phẩm “Tuổi biết buồn” và “Bao giờ biết tương tư. Chuyện đáng nói trong chuyến đi dự thi, ban tổ chức cuộc thi không biết điều khiển phần hòa âm phối khí bài Tuổi biết buồn như thế nào, còn bài Bao giờ biết tương tư chỉ mang tính biểu diễn.

Vì rằng phần hòa âm phối khí của Phạm Duy quá lỗi thời đến chục năm so với tiến bộ của thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng. Hòa âm bài “Tuổi biết buồn” của Phạm Duy chỉ sử dụng chừng mười nhạc khí, còn hòa âm tại cuộc thi nhạc Pop là cả dàn đại hợp xướng, sử dụng hàng mấy chục nhạc khí.

Thanh Lan khi trở về đã mô tả, họ phải hòa âm lại hết và chỉ cho cô ca thử một lần khi tổng dượt, nên không thể nào hát hay được, lại thêm khi trình diễn với sân khấu quay 4 chiều càng làm ca sĩ bị khớp, nên kết quả bài “Tuổi biết buồn” đứng cuối bảng xếp hạng, còn Phạm Duy chẳng cần chuyện có thứ hạng hay không, vì thời đó mốt xuất ngoại để hưởng thụ đang thịnh hành, mỗi khi được ra nước ngoài nếu không là du học sinh thì phải thuộc tầng lớp ông nghị trở lên với mác đi công vụ… Phạm Duy là thế ! (… ngưng trích – theo hồi ký “Đời làm báo” của Nguyễn Việt)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

NHẠC SĨ TRÚC PHƯƠNG

NGƯỜI TÀI HOA

NHƯNG SỐ PHẬN BI ĐÁT

– Nguyễn Trung

Những bài hay nhất của nhạc sĩ Trúc Phương

Ông Hoàng của dòng nhạc Bolero

1:40’ : https://youtu.be/uft1ECUDFbQ

2:23’ : https://youtu.be/44x86EmpHwo

…… Phải nhìn nhận một điều là, hầu như các bài hát của ông có một sức thu hút mãnh liệt trong suốt hơn bốn chục năm qua và mãi cho đến ngày hôm nay ở bất cứ nơi nào có người Việt Nam đang sinh sống. Tài năng của ông thì vô cùng nổi trội, có thể nói là đạt đến đỉnh cao của nền âm nhạc mang âm hưởng miền Nam. Nhưng đời sống của ông thì lại trải qua quá nhiều bất hạnh và đau thương, khốn khổ cho đến tận những giờ phút cuối cùng.

Nhạc sĩ Trúc Phương tên thật là Nguyễn Thiện Lộc. Ông sanh năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình) ở vùng hạ lưu sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam. Cha ông là một nhà giáo sống thầm lặng và nghiêm khắc. Nhưng tâm hồn của chàng trai Thiện Lộc thì rất lãng mạn, yêu thích văn nghệ nên đã tự học nhạc, và bắt đầu sáng tác những bài hát đầu tiên lúc vừa 15 tuổi.

Xung quanh nhà ông có trồng rất nhiều tre trúc, nên từ nhỏ ông đã yêu mến những âm thanh kẽo kẹt của tiếng tre va chạm với nhau và sau này đã chọn tên là Trúc Phương để nhớ về thời thơ ấu của ông với những cây tre trúc. Cuối thập niên 1950, ông sinh hoạt văn nghệ với các nghệ sĩ ở ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Bình một thời gian ngắn, rồi lên Sài Gòn dạy nhạc và bắt đầu viết nhạc nhiều hơn.

Bài hát “Chiều Làng Quê” được ông sáng tác vào thời gian này để nhớ về khung cảnh thanh bình ở làng xóm của ông ,một bài khác cũng rất nổi tiếng với giai điệu trong sáng, vui tươi là “Tình Thắm Duyên Quê”.

Không tiền bạc và không một ai thân quen ở đô thành Sài Gòn, ban đầu Trúc Phương ở trọ trong nhà một gia đình giàu có bên Gia Định và dạy nhạc cho cô con gái của chủ nhà. Không bao lâu sau thì cô gái này đã yêu chàng nhạc sĩ nghèo tạm trú trong nhà, vì con tim cô ta đã dần dần rung động trước tài năng của Trúc Phương.

Biết được chuyện này, ba mẹ của cô gái bèn đuổi Trúc Phương đi nơi khác. Sau chuyện tình ngang trái này, Trúc Phương càng tự học thêm về âm nhạc và càng sáng tác hăng hơn. Nhưng những bài hát sau này lại nghiêng về chủ đề tình yêu đôi lứa với những nghịch cảnh chia lià.

Trúc Phương sáng tác rất dễ dàng, nhưng với bản tính trầm lặng, bi quan và khép kín sau những cuộc tình dang dỡ, những bài hát sau này của ông thường mang âm điệu u buồn, thê lương như phảng phất nỗi sầu của cổ nhạc miền Nam. Nổi tiếng nhất là “Nửa Đêm Ngoài Phố” với tiếng hát liêu trai Thanh Thúy. Sau đó là “Buồn Trong Kỷ Niệm” với những câu hát đớn đau, buốt nhói tim gan người nghe như “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn. Đôi khi nhầm lẫn đánh mất ân tình cũ, có đau chỉ thế, tiếc thương chỉ thế. Khi hai mơ ước không chung lối về …”. Có người cho là bài hát này ông đã viết ra sau khi bị thất tình một cô ca sĩ lừng danh thời đó.

Nhạc của Trúc Phương có một giai điệu rất đặc biệt của riêng ông, mà khó lầm lẫn với người khác được.Nhạc của ông có âm hưởng cổ nhạc miền nam,Nó có vẻ trầm buồn, ray rức, ưu tư trước thời cuộc dạo đó (là chiến tranh triền miên) và buồn phiền vì những mối tình dang dở, trái ngang.

Nên khi soạn hòa âm cho những bài hát của Trúc Phương, nhạc sĩ hòa âm phải sử dụng ít nhất là một trong vài loại nhạc khí cổ truyền của miền Nam như đàn bầu, đàn tranh, hay đàn cò (hoặc violon) thì mới có thể diễn tả hết cái hay của giòng nhạc Trúc Phương và người nghe lại càng thấm thía với nỗi muộn phiền, nhức nhối tim gan của ông sau này.

Điều trớ trêu là tuy tên tuổi và tài năng sáng chói, nổi bật so với những người viết nhạc thời bấy giờ, nhưng tình duyên của nhạc sĩ Trúc Phương thì vô cùng lận đận. Khoảng năm 1970, Trúc Phương được một thiếu nữ vô cùng xinh đẹp, cao sang đài các đem lòng yêu thương ông, do sự rung cảm truyền đạt từ tài năng và những tác phẩm tuyệt vời của ông.

Kết cuộc là cả hai đã nên duyên chồng vợ.Tuy sống trong cảnh nghèo nàn, nhưng đời sống của họ rất là nghệ sĩ. Đó là những năm tháng hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Trúc Phương và sức sáng tạo nghệ thuật của ông càng sung mãn hơn bao giờ hết với hàng chục bài hát ra đời mỗi năm. Nhưng niềm vui của đôi uyên ương này lại không kéo dài được lâu bền.

Bởi vì sau một thời gian chung sống với nhau, những tình cảm ban đầu trở nên phai lạt dần theo năm tháng và hai người đã lặng lẽ chia tay nhau. Câu hát ngày nào lại rơi đúng vào trường hợp này “khi hai mơ ước đã không cùng chung hướng về” và “đường vào tình yêu có trăm lần vui, nhưng có vạn lần buồn” ?

Giờ thì nhạc sĩ Trúc Phương âm thầm đau khổ trong cô đơn và lại vùi đầu vào men rượu để sáng tác thêm nhiều bài hát trong nỗi đau thương cùng cực, pha chút chán chường cho nhân tình thế thái.

Bạn bè thường gặp ông ngồi yên lặng bên những ly rượu nơi một quán nhỏ ở đường Tô Hiến Thành, quận 10, gần nhà của ông. Có lẽ đó là một cách làm cho nhạc sĩ tạm quên đi những cay đắng của tình đời. Đó cũng chính là lúc bài hát “Thói Đời” được sáng tác với những câu như “Bạn quên ta, tình cũng quên ta, nên chung thân ta giận cuộc đời, soi bóng mình bằng gương vỡ nát, nghe xót xa ngùi lên tròng mắt”… và “Người yêu ta rồi cũng xa ta … “Cỏ ưu tư” buồn phiền lên xám môi …”.

Thực ra phải nói là “cỏ tương tư” tức “tương tư thảo” là tên gọi văn hoa của thuốc lá. Khi những người đang yêu nhau, nhớ nhau, hẹn hò nhau thì châm điếu thuốc thả khói mơ màng, nhìn rất thơ mộng và nghệ sĩ [ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần, anh nói khẽ gớm sao mà nhớ thế (Hồ Dzếnh)].

Nhưng đối với Trúc Phương trong “Thói Đời” thì điếu thuốc lá “cỏ tương tư” lại biến thành ra “cỏ ưu tư” làm cho đôi môi trở nên màu xám xịt qua những nỗi đau thương, nhung nhớ ngập tràn. Những giọt rượu nồng của cõi “trần ai” này lại càng gợi thêm “niềm cay đắng” để cho nỗi ưu tư “in đậm đường trần” và ông đã than thở “mình còn ai đâu để vui ? khi trót sa vũng lầy nhân thế ”?

Bài hát “Thói Ðời” đã gây xúc động cho hàng triệu con tim cùng chung số phận nghiệt ngã của cuộc đời. Với riêng bản thân Trúc Phương thì “Thói Đời” lại như là một lời tiên tri thật chính xác cho quãng đời còn lại của ông suốt gần 25 năm sau đó (1971-1995).

Sau năm 1975 thì sự nghiệp sáng tác nhạc của ông dừng lại, tất cả những ca khúc của ông đều bị cấm phổ biến và trình diễn.. Không có nghề nghiệp gì trong tay, ông làm đủ mọi việc để sinh sống. Với hai bàn tay trắng, ông trở về quê cũ sống nhờ vả bạn bè, mỗi nơi một thời gian ngắn.

Có người hỏi sao ông không về quê ở hẳn với thân nhân, Trúc Phương đã trả lời “Má của tôi thì già yếu đang ở dưới quê Cầu Ngang (Trà Vinh), nhưng bà nghèo quá, lại phải nuôi đám cháu nheo nhóc, không đủ ăn … nên tôi không thể về đó để làm khổ cho bà thêm nữa”.

Ở dưới tỉnh nhà Trà Vinh với bạn bè xưa cũ một thời gian, Trúc Phương lại tìm đường về Sài Gòn. Ban ngày ông làm thuê, làm mướn đủ mọi thứ nghề và lang thang khắp nơi. Ông có tâm sự lại vài lời xót xa, nghẹn ngào, xúc động trên một đoạn video clip ngắn ngủi về đời sống của chính bản thân ông lúc đó như sau :

“Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rài đây mai đó,”bèo dạt hoa trôi”… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no… Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được… đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả.

Tôi nghĩ ra được một cách.. là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ… Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng… thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta.. thế là mình lấy 1 đồng về…. như là tiền thế chân… Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…

Mà nói anh thương… khổ lắm…. Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi, tôi đành phải trải chiếu gần chỗ “thằng cha đi tiểu vỉa hè”, thế rồi cũng phải nằm thôi. Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát… mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn … Tôi nghĩ mà thôi , còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này..

Có thể nói rằng một điều là suốt mấy chục năm trời và cho đến hôm nay đã có rất nhiều ca sỹ, trung tâm băng nhạc, hãng đĩa đã thu âm, hát lại nhạc của ông, nhưng chắc chắn là ít có người đã biết tin ông âm thầm từ giã cõi đời trong cảnh nghèo nàn, bi đát và cô đơn trong căn phòng trọ tồi tàn, nhỏ hẹp ở quận 11, Sài Gòn vào ngày 18 tháng 9 năm 1995, tài sản của ông có được lúc đó chỉ là một đôi dép..

Nhạc Trúc Phương, bên cạnh những bản viết về quê hương,còn ghi lại biết bao cuộc tình lãng mạn ướt át nồng nàn.”Nửa đêm ngoài phố” lang thang, tình cờ làm quen một người con gái lạ, rồi để lòng vương vấn mãi: “Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Ðường phố vắng đêm nao quen một người..” hoặc “Trở lại chuyện hai chúng mình. Khi em với anh…” làm quen, hẹn hò cùng nhau đi tới mòn lối, khiến nó trở thành “Con đường mang tên em”. Cũng có những lúc cô đơn, rút về nhốt mình nơi nhà trọ, nhưng Ðêm gác trọ chỉ nói lên nỗi buồn bâng quơ có vương chút phấn chấn nhờ thể điệu Tango, mà TP ít khi dùng trong hầu hết các nhạc phẩm của mình. Rồi có lúc người yêu xưa tìm đến, cùng nhau ôn chuyện cũ, nhắc lại Chuyện ngày xưa, được ghi lại như sau: “Hôm nào em đến thăm, mà quên mang tiếng cười, lặng yên không nói. Hai mươi tuổi đời qua mất rồi.. (ÐK): Thôi em nhé, xin trả về niềm cô đơn trước, cho anh bước xuôi ngược, khi hai chúng mình, vòng tay trót buông xuôi, dù gặp nhau ta cúi mặt.

Ðôi khi ông có chút cay đắng cho Thói đời, vì Người yêu ta rồi cũng xa ta nhưng không oán trách người mà chỉ than thân một mình. Những Chiều cuối tuần đã xa: “Hôm nao tôi lên đường phố cũ, chiều xưa, lần hẹn hò. Trao nhau, niềm vui cuối tuần…” Trên gác nhỏ, cô đơn, trằn trọc: “Ðêm chưa ngủ, nghe ngoài trời đổ mưa từng hạt rơi. Gác nhỏ đèn le lói bóng dáng ai trên tường loang…” Trong lúc Mưa nửa đêm: “Ai biết ai vì đời, cùng ngược xuôi chung lối mòn. Ngày tôi hai mươi tuổi, em đôi tám trăng tròn. Ðêm lạnh còn nghe chăn gối lẽ nằm thao thức…” nhớ về Bóng nhỏ đường chiều, chỉ còn là kỷ niệm : “Ta đến nơi hẹn hò, cùng gặp nhau trên phố nhỏ. Ta nhẹ dìu nhau trong tiếng thở..”

Các sáng tác nổi tiếng : Ai Cho Tôi Tình Yêu, Nửa Đêm Ngoài Phố, Thói Đời, Buồn Trong Kỷ Niệm, Mưa Nửa Đêm, Hai Chuyến Tàu Đêm, Chiều Cuối Tuần, Đêm Tâm Sự,… và còn rất nhiều những sáng tác rất tuyệt vời.

Lan Hương  chuyển tiếp

NHỮNG CA KHÚC “VANG BÓNG MỘT THỜI” (3)

NHỮNG CA KHÚC

“VANG BÓNG MỘT THỜI” (3)

Xuất xứ những bài nhạc Việt  vang bóng một thời

Những ca khúc : “vang bóng một thời” (2:42’)

https://youtu.be/BUOyCFFYnvo

List nhạc : 1/- Biệt ly,  2- Giọt mưa thu,  3- Áo lụa Hà Đông,  4- Nửa hồn thương đau,  5- Gửi gió cho mây ngàn bay,  6- Nỗi lòng,  7- Em ơi Hà Nội phố,  8- Hàn Mạc Tử,  9- Diễm xưa,  10- Gợi giấc mơ xưa,  11- Chiều mưa biên giới,  12- Lời buồn thánh,  13- Cô gái xuân,  14- Ướt mi,  15- Em đi chùa Hương,  16- Nắng chiều,  17- Mộng dưới hoa,  18- Cát bụi,  19- Chuyện tình Mộng Thường,  20- Thói đời,  21- Ảo ảnh,  22- Mùa thu chết.

– Tiếp theo kỳ 1 & 2

15/- XUẤT XỨ BÀI EM ĐI CHÙA HƯƠNG

– Ca khúc “Em đi chùa Hương” : thơ Nguyễn Nhược Pháp – nhạc Trung Đức, trình bày Phi Nhung

https://youtu.be/7XarcXYi2GI

Thi phẩm Chùa Hương ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, ông cùng nhà văn Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm Phật “Nam mô cứu khổ quan thế âm Bồ Tát”.

Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi. “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa ?”. Cô gái bối rối, thẹn thùng như muốn khóc. Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đã bị hớp hồn, tai đâu còn nghe thấy. Giận dỗi, họ bỏ đi.

Lúc bừng tỉnh, hai văn nhân không thấy các cô đâu vội len thốc len tháo, lách qua những dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu cho thấy. Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đã lẫn vào dòng người.

Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp không sao chợp mắt được. Hình ảnh cô gái chân quê đi Chùa Hương khiến ông xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu tươi vui, hình ảnh ngộ nghĩnh, cả hồn người lẫn vẻ đẹp của ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ.

Cô gái Chùa Hương khi in vào tập Ngày Xưa thì hai chữ Cô gái bị bỏ đi, chỉ còn Chùa Hương. Bài thơ trước đây đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không được phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác đã phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát Hôm qua em đi chùa Hương. Ngay từ lần phát sóng đầu tiên, Hôm qua em đi chùa Hương đã được đông đảo thính giả ưa thích và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi.

16/- XUẤT XỨ BÀI NẮNG CHIỀU

– Ca khúc “Nắng Chiều” : nhạc Lê Trọng Nguyễn, trình bày Hùng Cường

https://youtu.be/NJWFOAttp3Q

Năm 1950, anh Lê Trọng Nguyễn trở về ẩn náu tại quê nhà. Và năm 1953, anh sáng tác bản “Nắng Chiều”. Trong một cuộc phỏng vấn, Lê Trọng Nguyễn đã nói: “Tôi viết bản đó ở Huế, thời gian sau khi bỏ vùng kháng chiến về thành… Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui.

Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 3 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy !”. Nắng Chiều ra đời trong một lần hứng tác của Lê Trọng Nguyễn trên cầu Vĩnh Điện khi chiều xuống ở bến sông Thu Bồn.

Hiệp Ðịnh Geneva ký kết xong, năm 1954 Lê Trọng Nguyễn ra Huế và Ðà Nẵng làm việc cho cơ sở thương mại ngoài đó. Cũng chính nơi đây, anh có dịp quen và làm bạn cho đến chót cuộc đời nghệ sĩ sáng tác của anh, với những Minh Trang, Dương Thiệu Tước, Kim Tước, Nguyễn Hiền v.v.. Và ca khúc Nắng Chiều được xuất bản trong lúc này.

Người thâu tiếng hát đầu tiên bản Nắng Chiều vào dĩa nhựa là ca sĩ Minh Trang. Giữa năm 1955, người em gái duy nhất của anh Lê Trọng Nguyễn là Lê Thị Ba qua đời, anh quá đau buồn và đem bản Nắng Chiều ra ký giao kèo tái bản để có một món tiền tác quyền khiêm nhường đưa về quê cùng mẹ lo liệu cho em gái và chuẩn bị nuôi nấng cháu.

Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản “Nắng Chiều” và bản này đã được cô ca sĩ nhật Midori Satsuki hát.

Năm 1960 Ki Lo Ha, một ca sĩ người Hoa, cô yêu mến bản Nắng Chiều nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan và Hồng Kông. Nhờ mấy may mắn đó mà Nắng Chiều cứ thế được biết tới tại ngoại quốc… Những ngày gần đây, Vũ Trung Hiền, Phạm Anh Dũng và tôi cùng nhau làm việc cho cuốn CD Collection #2.

Nảy ra ý định thu được bản Nắng Chiều hát bằng tiếng Nhật, chúng tôi cố gắng vào Net để tìm tung tích bà Midori Satsuki, một người đã nổi danh hơn bốn mươi năm nay và vẫn còn hoạt động trên Ðài Truyền Hình Ðông Kinh. Và kết quả liên lạc được với nơi sản xuất CD ca nhạc bên Nhật nữa. Bà Midori Satsuki trực tiếp gọi phôn nói chuyện với tôi.

Và sau đó được sự giúp đỡ của hai anh Ðỗ Thông Minh và Phan Hiên, bà Midori xác nhận vẫn còn nhớ bản Nắng Chiều. Ðối với tôi, Nắng Chiều được hát bằng Hoa ngữ và Nhật ngữ từ 40 năm nay như một kỷ niệm đẹp bền của tình thân hữu văn hóa Á Châu.

Nhưng đặc biệt bản Nắng Chiều bằng lời Việt mới có ý nghĩa hơn cả: Nó đã được viết ra từ trên nửa thế kỷ qua mà nay chúng ta nghe lại vẫn thấy sống động, bùi ngùi cảm động. Tôi muốn nói đến nét trẻ trung trường tồn của ca khúc Nắng Chiều trong nền âm nhạc Việt Nam – Á Châu.

Bài hát viết theo điệu Rumba, giai điệu rộn rã phối hợp giữa ngũ cung và thất cung, lời ca đầy hình ảnh, màu sắc, nhưng nội dung phảng phất nét buồn. Phần lời nói lên tâm trạng hoài tiếc của một người khi thăm lại cảnh xưa. Trông thiên nhiên, cảnh vật vẫn hồn hậu sống động, lòng ấy bồi hồi nhớ lại một hình bóng đẹp tươi, nay đã không còn:

17/- XUẤT XỨ BÀI MỘNG DƯỚI HOA

– Ca khúc “Mộng dưới hoa” : thơ Đinh Hùng – nhạc Phạm Đình Chương, trình bày Vũ Khanh

https://youtu.be/j_V0OyLWtqk

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã đóng góp nhiều tác phẩm thật đẹp, như những hạt kim cương lóng lánh, vào kho tàng âm nhạc Việt Nam – đây tôi không có tham vọng trình bầy về sự nghiệp sáng tác phong phú và giá trị của ông, mà chỉ xin ghi lại một giai thoại nhỏ đã được chính ông kể trong một lần tôi chở ông trên xe khi đi thăm ca sĩ Hoài Trung đang nằm trong một bệnh viện ở Pasadena vào năm 1990.

Khi tôi hỏi về trường hợp sáng tác bản Mộng Dưới Hoa thi ông cho hay là khoảng năm 1957 gì đó, ông đọc tập thơ Đường Vào Tình Sử của Đinh Hùng, thấy bài Tự Tình Dưới Hoa hay hay, có nhiều hình ảnh đẹp, lời thơ có vẻ cổ điển ước lệ với mỹ nhân, với trăng sao, mây nước, suối rừng, mơ mộng . . . v. v . . . ông bèn âm ư nho nhỏ trong miệng, rồi bật ra thành những nốt nhạc đầu tiên, và ông đã ghi lại trên giấy. Khi phần nhạc đã hoàn chỉnh thì chỉ có một số lời thơ được giữ nguyên văn, ngoài ra chính ông và thi sĩ Đinh Hùng đã gọt giũa lại rất nhiều.

Đến phần điệp khúc, thì cấu trúc của bài nhạc lại thay đổi, không thể dùng 7 chữ được vì chỉ có 6 nốt, nên ông đã yêu cầu Đinh Hùng đặt lời mới cho đoạn đó . Dĩ nhiên công việc này không quá khó khăn với nhà thơ và cũng có phần đóng góp của chính Phạm Đình Chương. Từ đó, 2 đoạn điệp khúc 6 chữ đã được lồng vào giữa bài hát, một cách rất khéo léo, tự nhiên và nhất quán, nghĩa là vẫn giữ được không khí rất lãng mạn và cổ điển của bài thơ.

18/- XUẤT XỨ BÀI CÁT BỤI

– Ca khúc “Cát bụi” : nhạc Trịnh Công Sơn, trình bày Khánh Ly

https://youtu.be/Fn3-rLRXD98

Vào một buổi chiều ngày tháng không còn nhớ, tôi một mình đến rạp Casino xem phim.” Hiệp sĩ mù nghe gió kiếm” tập 6. Đây là bộ phim nhiều tập, đã xem tập này thì không thể không chờ xem tập khác. Nói chung là tập nào cũng hấp dẫn. Trong 6 tập có đoạn hiệp sĩ mù xuất kiếm giải cứu cho một nàng Kiều xinh đẹp.

Cứ mỗi tuyệt chiêu xuất ra là nghe có một tiếng nói bình giả ca ngợi. Đường kiếm như có thêm sức mạnh mỗi lúc một uyển chuyển huy hoàng hơn. Sau khi cứu được nàng Kiều, hiệp sĩ mù quay về phía tiếng nói vái tay chào hỏi., Hoá ra bên vệ đường dưới gốc cây to có một người mù khác đang ngồi xếp bàn, trên hai chân có cây đàn bọc trong bao vải gác ngang.

Người nghệ sĩ mù có nhã ý chơi một bản đàn tặng hiệp sĩ mù. Hai người bèn kéo nhau vào một khu rừng gần đấy. Hình như rừng vào thu nên các cành đều trơ lá, chỉ thấy một đám lá vàng đỏ trải dài trên mặt đất. Hai người ngồi tựa vào hai gốc cây đối diện nhau. Tiếng đàn cất lên như một lời than thở ngậm ngùi về đất trời, về kiếp người. Tiếng đàn nửa chừng bỗng đứt giây. Người nghệ sĩ mù nói : có kẻ bất thiện dang nghe lén. Quả đúng như vậy, có một tên gian đang rình rập hiệp sĩ mù. Thế là hai người lặng lẽ chia tay.

Hết phim, tôi tản bộ ngang trên đường phố. Không hiểu sao cái đoạn phim ngắn ngủi ấy khiến tôi buồn buồn. Chiều tôi về nhà, sau khi ăn, tôi ngồi đọc lại cuốn “Zorba le Grec”. Đến đoạn Zorba than thở : “Chim đa đa ơi thôi đừng hót nữa, tiếng hót mày làm tan nát tim ta”, tôi bỗng gập sách lại và không đọc nữa. Có một cái gì đó thật trùng hợp trong cùng một buổi chiều.

Một nỗi buồn hay một điều gì đó gần với sự rời xa ly biệt đang cựa mình thức dậy trong tôi.Tôi lại ra đường tìm một góc quán quen thuộc ngồi. Trên đường trở về nhà, trong đầu bỗng vang lên một tiếng hát. Tôi lập đi lập lại nhiều lần trong đầu, hát thành tiếng khe khẽ. Đến khi về nhà ghi lại thì bài hát đã gần như hoàn chỉnh. Sáng hôm sau mang hát cho một số bạn bè nghe, hầu như ai cũng thích. Đó là câu chuyện sự ra đời của bài “ Cát bụi”

Mỗi bài hát đều bắt nguồn từ một duyên cớ nào đó. Có khi từ một câu chuyện không đâu.

Bây giờ thì người hiệp sĩ mù kia đã chết rồi. Khoảng hai năm nay. Người viết Zorba đã qua đời dĩ nhiên con chim đa đa kia cũng đã chết. Và nếu Zorba là một con người có thật được Nikos Kazantzakits tỉểu thuyết hoá thì nay ông cũng mất rồi.

“ Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi…” Thời gian đã nghiền nát tất cả thành cát bụi hết rồi… (Trịnh Công Sơn – Tạp chí thế giới Âm nhạc, số 1- 1998) 

19/- XUẤT XỨ BÀI

CHUYỆN TÌNH MỘNG THƯỜNG

– Ca khúc “Chuyện tình Mộng Thường” : nhạc Trần Thiện Thanh, trình bày Nhật Trường : https://youtu.be/118EHuevLf0

Câu chuyện về Thiếu úy Hoàng Châu và cô giáo Mộng Thường yêu nhau được ba năm mà gần nhau chỉ ngắn ngủi trong những ngày phép vội vàng của người lính chiến. Lúc đó Mộng Thường dậy học ở một trường thủ đô, còn Hoàng Châu nơi bốn vùng chiến thuật quen dấu giầy.

Chiến chinh, cách xa là chiếc lăng kính lọc trong mầu thủy chung cho mối tình lứa đôi. Dấu phấn trắng, mầu bảng đen học trò, không cản được tâm hồn cô giáo Mộng Thường thả rong ra ngoài lớp học, để tưởng tượng người yêu đang dầm sương giãi nắng giữa làn tên mũi đạn. Hình ảnh khói thuốc súng, giao thông hào, những đêm nhìn hỏa châu rơi, không làm cho Hoàng Châu tránh được bồi hồi vọng tưởng đến người yêu ở phương trời xa thẳm.

Tình yêu của hai người chỉ được nấu chín từ những giấc mộng êm đềm nửa đêm về sáng hay nằm gối tay trên mơ giữa thực tế nghìn trùng xa cách. Những cánh thư đi về. Những hẹn hò sum hợp với màu hồng pháo cưới vẫn là hoài vọng chân tình của đôi lứa. Một đám hỏi đơn sơ, bình dị như cuộc sống chân sình, tay phấn của trai tiền tuyến, gái hậu phương trong những ngày phép vội vã.

Chàng trai gió sương hẹn cô giáo mùa Xuân năm tới sẽ đốt pháo rước dâu. Sau ngày vui đám hỏi, Hoàng Châu trở ra mặt trận, vùng địa cầu giới tuyến. Lúc đó mức độ tàn khốc của chiến trường càng ngày càng gia tăng mãnh liệt. Hoàng Châu hiên ngang dũng cảm chiến đấu bất chấp mọi hiểm nguy, chàng được thượng cấp báo tin khen thưởng thăng cấp “Trung uý” tại mặt trận.

Tin vui về với Mộng Thường, nàng càng hãnh diện với người chồng sắp cưới anh hùng, đến nỗi ngẩn ngơ trong một chiều dậy học. Đám học trò sững sờ thấy cô giáo dễ thương để rơi viên phấn trắng vỡ đôi trên nền gạch thanh bình. Và để chia sẻ niềm hân hoan với hôn phu, nàng sắp xếp giờ dậy, xin phép đến mặt trận để dự lễ thăng cấp của Hoàng Châu.

Và trên chuyến xe đò định mệnh, chưa kịp tới với người yêu, một quả mìn ác độc giăng cài, nổ tung, cắt đứt đành đoạn tình đôi lứa. Đứt ruột, đau đớn trước bi thảm kịch này, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh kể thành nhạc khúc “Tình Thiên Thu”.

20/- XUẤT XỨ BÀI THÓI ĐỜI

– Ca khúc “Thói đời” : nhạc Trúc Phương, trình bày Chế Linh : https://youtu.be/9lGjGXmQPKg

Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rài đây mai đó,”bèo dạt hoa trôi”… Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no… Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được… đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám “chứa” tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả.

Tôi nghĩ ra được một cách.. là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ… Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng… thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta.. thế là mình lấy 1 đồng về…. như là tiền thế chân… Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng…Mà nói anh thương…khổ lắm…

Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi, tôi đành phải trải chiếu gần chỗ “thằng cha đi tiểu vỉa hè”, thế rồi cũng phải nằm thôi. Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát… mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn … Tôi nghĩ mà thôi, còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết sau này..

21/- XUẤT XỨ BÀI ẢO ẢNH 

– Ca khúc “Ảo ảnh” : nhạc Y Vân, trình bày Elvis Phương :  https://youtu.be/pkjsD4-cZWw

Sau hai năm lập gia đình, ở một buổi trình tấu nhạc nơi đài phát thanh Saigon vừa tan, khoảng năm 1965, (lúc bấy giờ Y Vân là nhạc trưởng của một ban nhạc lớn: ban nhạc Y Vân, cùng với Thanh Thoại, Tuyết Mai, Mai Hương làm nền trình diễn) trên đường về, Y Vân được một chú bé “Stop” xe anh lại và mời vào một quán café bên đường. Nơi này có một thiếu nữ nhan sắc đang ngồi chờ sẵn, chú bé giới thiệu người thiếu nữ này tên Huyền – sinh viên ban Việt Hán đại học Văn Khoa Saigon.

Huyền có đôi mắt buồn não nề, trên bâu áo có chít một mảnh tang đen. Y Vân cố moi lại trong ký ức một thân quen nào đó từ người thiếu nữ đối với anh, nhưng vẫn không tìm ra một liên hệ nào. Bằng xã giao bình thường, người Nhạc Trưởng bèn buông lời chia buồn một cách bâng quơ, vịn vào cớ mảnh tang đen đính trên áo người thiếu nữ.

Huyền cười thảm não : “Em đâu có ai là người thân quen qua đời, mảnh tang này là dành cho mối tình em đó”. Sau lời minh biện như vậy, Y Vân bị đưa vào thế ngượng ngùng. Anh đã manh nha về một bí ẩn nào đó, thôi thúc người thiếu nữ này muốn diện kiến anh. Nhưng nỗi sầu man mác ẩn chứa trên khuôn mặt gấm hoa ấy, khiến cho Y Vân ái ngại không dám hỏi thăm thêm. Chàng viện cớ bận rộn và xin cáo từ. Trước khi từ giã Huyền và chú bé, Y Vân xin địa chỉ hai người để còn dịp gặp lại lần khác.

Hai ngày sau đó, Y Vân tìm đến nhà Huyền trong một khu nghèo nàn có chiếc cầu cao vắt ngang ao rau muống đường Trương Minh Giảng. Lòng rối bởi một chuyện không đâu, người nhạc sĩ Y Vân bỏ những bước chầm chậm, đếm mòn ưu tư gập ghềnh theo nhịp gỗ. Sau tiếng gõ cửa đầu tiên, Y Vân được chú bé em Huyền ra mở cửa.

Căn nhà vách gỗ đơn sơ cũng đìu hiu như chủ, giống như bốn câu thơ của Lưu Khâm : “Nhà vắng tơ giăng sầu cõi nhện Chiếu khăn nằm lạnh lẻ loi tình Êm đềm mà nghe con nước vỗ Đàn ai vừa đứt một giây trầm.” Huyền không có mặt ở nhà. Cậu bé kể : “Chúng tôi là con một ông Hội Đồng ở tỉnh Long An. Hai chị em được gia đình gởi lên Saigon trọ học. Chị Huyền yêu anh không biết từ lúc nào, cho nên sách vở biếng lười.

Trong tập vở học trò, chỉ chép toàn nhạc anh – thay vì tiền gia đình gửi lên cung cấp cho chị hoàn tất ban cử nhân Văn Khoa, chị Huyền phung phí vào một lớp học nhạc Tây Ban Cầm cho đến khi chị đàn được, suốt ngày chỉ đệm và hát nhạc anh. Hát một mình đơn lẻ. Mấy năm liên tục, chị không đậu thêm được một chứng chỉ nào.

Ba mẹ nhiều lần từ tỉnh lên thăm, thấy con gái tiều tụy, biếng ăn lười học, nên đã đưa hai chị em trở về quê nhà cấm cố, và bắt ép gả chồng cho chị – một sĩ quan hải quân, hình như người ấy có tên là L.T.Đ, ông ấy đẹp trai, có chức phận, con nhà giàu, nhưng chị Huyền vẫn một mực chối từ.

Bẽ mặt với phía đàng trai mà không hiểu được tấm lòng người con gái đã gửi trọn về mối tình anh. Ba mẹ buông lời từ đứa con không vâng lời ấy. Chị Huyền chặt dạ ôm ấp mối tình ảo ảnh của anh, nên trốn bỏ gia đình trở lại Saigon, nơi mà chị đã dại khờ mở cửa con tim tuổi thanh xuân yêu một chiều người nhạc sĩ Y Vân. Chị một mình tìm kế mưu sinh để chờ dịp gặp anh, hy vọng hai con tim cùng hòa nhịp.

 Đến khi biết rõ ra anh đã có vợ, chị Huyền đớn đau như chiếc cây gục ngã giữa bão tình. Kể từ đó, chị chít tang đen trên bâu áo. Giã từ người yêu không tưởng, chôn chết nỗi si mê dại khờ. Tội nghiệp chị Huyền, tưởng với mảnh vải đen có thể làm nhát dao chặt đứt mối tơ tưởng tình yêu.

Nhưng không, tình chết trên mảnh vải sô, mà lại sống hoài nơi lòng chị ấy. Chị muốn gặp anh để nói điều này. Và chị đã không dám nói, làm con ốc mượn hồn, yêu thương chôn chặt mối hận tình…”

Nghe đến đây, Y Vân gục đầu xuống bàn. Anh nào có biết oan nghiệt ấy đã đến từ anh cho người con gái yêu thương không dám nói. Anh ra về như chạy. Hình như có bóng ai đang rượt đuổi đòi hỏi một ân tình. Nhạc phẩm “Ảo Ảnh” ra đời sau buổi ra về với trọn đêm thức trắng. Trí tưởng tượng của anh đi trên niềm hối hận. Ảo ảnh cuộc đời, ảo ảnh tình yêu đã có thực nơi những tâm hồn lãng mạn: Yêu mặn nồng, đắng cay, tha thiết. Gió ở trên non, gió cuốn mây trôi, cho dù bầu trời vẫn xanh thờ ơ không mảy may hay biết : Yêu cho biết bao đêm dài Cho quen với nồng cay Yêu cho thấy bao lâu dài

Chỉ còn vài trang giấy Giòng mực xanh còn đấy Hứa cho nhiều dù bao lời nói Đã phai tàn thành mây thành khói Cũng xem như không mà thôi Những ân tình em đong bằng nước mắt Khóc cho đầy hai chữ tình yêu Phấn hương nồng anh xem tựa tấm áo Đã thay màu ân ái từ lâu

Những neo thuyền yêu thương dễ đứt Khiến bao chiều trên bến tịch liêu Vắng con tàu sân ga thường héo hắt Thiếu anh lòng em thấy quạnh hiu Xưa đêm vắng đưa nhau về Nay đơn bóng đường khuya Khi vui thấy trăng không mờ Lòng buồn nên trăng úa Kìa phồn hoa còn đó Những con đường buồn vui lộng gió Những ân tình chìm trong lòng phố Cũng theo hư không mà đi… (Xem tiếp kỳ cuối)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Kỳ sau hết : nhạc phẩm : 22/- Mùa thu chết

NHỮNG CA KHÚC “VANG BÓNG MỘT THỜI” (2)

NHỮNG CA KHÚC

“VANG BÓNG MỘT THỜI” (2)

Xuất xứ những bài nhạc việt  vang bóng một thời

Những ca khúc : “vang bóng một thời” (2:42’)

https://youtu.be/BUOyCFFYnvo

List nhạc : 1/- Biệt ly,  2- Giọt mưa thu,  3- Áo lụa Hà Đông,  4- Nửa hồn thương đau,  5- Gửi gió cho mây ngàn bay,  6- Nỗi lòng,  7- Em ơi Hà Nội phố,  8- Hàn Mạc Tử,  9- Diễm xưa,  10- Gợi giấc mơ xưa,  11- Chiều mưa biên giới,  12- Lời buồn thánh,  13- Cô gái xuân,  14- Ướt mi,  15- Em đi chùa Hương,  16- Nắng chiều,  17- Mộng dưới hoa,  18- Cát bụi,  19- Chuyện tình Mộng Thường,  20- Thói đời,  21- Ảo ảnh,  22- Mùa thu chết.

– Tiếp theo kỳ 1

7- XUẤT XỨ BÀI

EM ƠI HÀ NỘI PHỐ

– Ca khúc “Em ơi Hà Nội Phố” : nhạc Phú Quang, trình bày Cẩm Vân

https://youtu.be/mfeAbMyvvqs

Cứ độ tháng 11, 12 thì trời Sài Gòn dẫu đang là nắng chói chang nhưng trong tôi cồn cào lên nỗi nhớ rét mùa đông. Còn cả ngàn nỗi nhớ cỏn con mà quay quắt như vậy…

Cái se lạnh cuối thu và gió heo may với ly cà phê đen nghi ngút khói trong quán nhỏ sớm mai. Căn phòng chật cùng những ly “quốc lủi” ? và những thoáng say với vẻ mặt trầm ngâm của những bạn bè nghệ sĩ nghèo. Nụ hôn lạnh mùa đông, vòng tay bồi hồi ướt giá dưới một tri mưa bụi của những ngày tháng tình yêu còn nồng ấm.

Rồi nỗi nhớ về căn nhà tôi đã sống ở Hà Nội qua suốt tuổi ấu thơ mà mùa đông năm 1972 khi những cành bàng trụi lá thì căn nhà ấy, và người bạn thân thiết nhất của tôi cũng vĩnh viễn bị bom B52 dập vùi. Thay vào đó là tượng đài về những người đã chết như một vết sẹo dẫu đã phủ kín rêu xanh mà chẳng bao giờ nguôi rát bỏng mỗi lần tôi nghĩ tới.

Rồi một ngày ngẫu nhiên gặp Phan Vũ trên đường Sài Gòn. Anh đưa tôi một bài thơ thật dài “Em ơi, Hà Nội phố”. Tôi đọc lần đầu tiên mà như đã đọc từ rất lâu, như chính tôi vẫn thường nghĩ thế : “Em ơi, Hà Nội phố ta còn em mùi hoàng lan, ta còn em mùi hoa sữa… Ta còn em… Ta còn em… Chiều Hồ Tây lao xao hoài con sóng… Chợt hoàng hôn về từ bao giờ… Đọc xong bài thơ linh cảm mách bảo cho tôi đó sẽ là bài ca mà tôi yêu thích. Tôi tin vào linh cảm ấy và bài thơ dài hàng trăm câu sang bài ca chỉ còn lại vài câu.

Vẫn biết một bài ca có đáng là bao để trả cho món nợ ra đi. Nhưng, bài ca được viết ra tôi đã được giải thoát dù chỉ là phần nào và dẫu ít ỏi tôi cũng đã xây được chút gì cho kỷ niệm (một lần hành hương về dĩ vãng). Một chút gì nhỏ nhoi cho Hà Nội, nơi chứng kiến bao buồn vui của tôi trong suốt nửa cuộc đời. (Ns. Phú Quang)  

8/- XUẤT XỨ BÀI HÀN MẶC TỬ 

– Ca khúc “Hàn Mặc Tử” : nhạc Trần Thiên Thanh, trình bày Lệ Quyên

https://youtu.be/q6iTa9BhF9Q

Đứng từ con đường mới mở chạy ngang sườn núi ven thành phố Quy Nhơn (Bình Định), vào những ngày trời ít sương mù, người ta có thể nhìn thấy những mái nhà của làng phong Quy Hoà lô xô ven biển. Con đường dốc đổ xuống nơi thi sỹ Hàn Mặc Tử sống những ngày cuối đời hơn nửa thế kỷ trước, lượn quanh co, vắng heo hút.

Ông được chôn trong nghĩa địa của làng phong.một nấm đất nhỏ như kích cỡ của hàng trăm ngôi mộ khác, xếp theo dãy thứ tự, nằm lặng lẽ trong muôn vàn cái chết lặng lẽ của người mắc bệnh cùi – vốn không có gia đình, hay nhiều bè bạn khi cuối đời.

Suốt 19 năm Hàn nằm lại trong nghĩa địa làng phong. Theo lời kể của nhiều nhà nghiên cứu về cuộc đời và thơ Hàn, trong thời gian đó, do hoàn cảnh chiến tranh, đường giao thông không thuận lợi và điều kiện khó khăn, nên mãi đến ngày 13/01/1959, gia đình và bạn bè mới cải táng sang địa điểm mới cho người đã chết. Buổi lễ cải táng cho nhà thơ được tiến hành khá đơn giản: chỉ có hai người chị, hai người em, ba người bạn và một vị linh mục tham dự.

Đến năm 1991, nhạc sỹ Trần Thiện Thanh cùng một số nhạc sỹ khác yêu mến tài năng thơ trẻ này đã đóng góp tiền để xây dựng một ngôi mộ – đài tưởng niệm, trên nền mộ cũ của Hàn.

Cảm động vì số phận của một nhà thơ lớn suốt hàng chục năm phải nằm nhỏ nhoi, quạnh quẽ, sau một lần viếng thăm mộ Hàn Mặc Tử, nhạc sỹ đã sáng tác bài hát về Hàn Mặc Tử và đau đáu nuôi ý định: “Nơi một thi sỹ lớn đã sống những ngày cuối đời và nằm cô quạnh suốt hai mươi năm, chẳng lẽ không có một dấu vết gì để nhớ?”.

9/- XUẤT XỨ BÀI DIỄM XƯA

– Ca khúc “Diễm xưa” : nhạc Trịnh Công Sơn, trình bày Khánh Ly

https://youtu.be/n-wyVoW9Fbg

Sơn bắt đầu câu chuyện. Hai chị em đều đẹp và quí phái. Tôi theo cô Diễm. Mối tình học trò, có lẽ đơn phương, kéo dài từ khi tôi còn ở Huế cho đến lúc vào Sài Gòn trọ học. Cha mẹ Diễm khó và không thích tôi. Nhưng tôi vẫn cứ đeo đuổi hình bóng của Diễm, bởi Diễm cũng chưa có biểu hiện nào xa lánh tôi và cũng không có lời lẽ cự tuyệt.

Năm đó tôi thi trượt Bac II. Diễm đậu và vào Sài Gòn để vào đại học Văn Khoa. Còn tôi thì về lại Huế, bỏ ngang việc học vì gia đình đang lâm cảnh sa sút. Phần buồn, phần tự ái, tôi không còn tìm cách liên lạc với Diễm nữa. Có lẽ vì vậy mà Diễm cũng lơ luôn.

Diễm đâu biết rằng trong thời gian này tôi đau khổ nhất. Tôi đã cố nén mọi khổ đau trong im lặng. Sự khổ đau và nhớ nhung dày vò tôi từng đêm, tôi đã phải viết nên bài “Diễm Xưa” để trút bớt nỗi khổ đau trong lòng. Nhưng có điều lạ là khi tôi viết xong bản nhạc này, tôi lại thấy lòng mình thanh thản, nhẹ nhàng. Tôi cảm thấy vơi đi rất nhiều nỗi nhớ và tình yêu.

Trong lòng tôi bấy giờ chỉ còn một chút tình mong manh như sương, như khói. Nó không còn nồng nàn, mãnh liệt như trước kia. Một dịp tôi vào Sài Gòn, tìm đến cư xá nơi Diễm đang nội trú với ý định tặng nàng bản nhạc để làm kỷ niệm một thời tuổi trẻ, rồi thôi. Nhưng không gặp được Diễm. Tôi nhờ mấy cô bạn gái đang đứng ngoài cổng trao lại dùm. Khi tôi quay lưng đi được một quãng thì nghe tiếng Diễm từ trên “ban công” gọi theo :

– Anh Sơn! Anh Sơn ! Anh Sơn ơi !

Nhưng tôi không ngoái lại. Tôi cắm đầu đi thẳng. Tiếng gọi tên tôi vẫn còn văng vẳng sau lưng. Từ ấy đến nay, tôi tự nhủ lòng, sẽ không bao giờ tìm gặp lại Diễm nữa.

10/- XUẤT XỨ BÀI

GỢI GIẤC MƠ XƯA 

– Ca khúc “Gợi giấc mơ xưa” : nhạc Lê Hoàng Long, trình bày Khánh Hà

https://youtu.be/L-XEz7shn5I

Năm 1954, ông quen cô gái có cái tên khá dễ thương: Lê Thu Hiền. Gia đình cô gái này vốn là người Bắc định cư tại Sài Gòn. Tình cảm hai người ngày càng đằm thắm, và ông luôn tin rằng cuộc tình ấy sẽ mang đến những điều như ông hằng mong ước. Bỗng một ngày, cô nói với ông rằng có người đang hỏi cưới cô.

Ông liền liều đến nhà cô để gặp người bố và thưa chuyện hai đứa, nào ngờ chẳng ngăn được số phận, thời gian sau cô thật sự đi lấy chồng, lấy anh giám đốc trường dạy lái xe Auto Ecole Mayer.

Đó là thời điểm giáp tết Ất Mùi (1955), ngày cô lên xe hoa, ông ngồi ở quán cà phê cạnh nhà cô, nhìn thấy cô mặc lễ phục cô dâu, ôm bó hoa trắng. Đám cưới ấy to lắm, đoàn rước dâu đi một vòng rồi mới về nhà chú rể. Mỗi vòng bánh xe quay là mỗi lần nghiền nát tim ông. Nỗi buồn, sự đau đớn dâng ngập trong lòng ông.

Đoàn xe cưới qua đi, ông bần thần trở về căn gác trên đường Lý Thái Tổ, vùi mình trầm tư và lúc ấy dường như bao nhiêu nỗi đau lại tuôn ra. Bài Gợi giấc mơ xưa được ra đời trong trạng thái đó. Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng rồi… Cả phần nhạc lẫn phần lời chỉ hoàn thành trong vòng khoảng 10 phút!

Ông đưa bài hát này cho Mạnh Phát, và được phát đầu tiên trên đài phát thanh Pháp Á. Bài hát trở nên nổi tiếng, và câu chuyện tình trong bài hát được nhiều người quan tâm. Vì sao ông đang ở Sài Gòn mà bài hát được bắt đầu bằng Ngày mai lênh đênh trên sông Hương ? Vì ngay từ cái lúc nhìn người yêu đi lấy chồng, ông đã quyết tâm từ bỏ Sài Gòn để chạy trốn nỗi đau.

Ông ra Huế, dù bao nhiêu người ngăn cản. Trong khoảng thời gian này, ông lao vào nhiều mối tình để tìm quên. Ca sĩ có, diễn viên cũng có. Hầu hết đều cảm mến ông từ bài hát Gợi giấc mơ xưa. Nhưng 2 năm sống ở Huế ông đau xót nhận ra một điều rằng, ông chẳng thể nào quên mà ngược lại, càng nhớ nhung nhiều hơn.

Mối tình ấy trong ông quá sâu đậm, mỗi con đường, mỗi âm thanh đều gợi cho ông nhớ về ngày xưa Ngày mai lênh đênh trên sông Hương, Theo gió mơ hồ hồn về đâu? Sóng sầu dâng theo bao năm tháng, ngóng về đường lối cũ tìm em! Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng rồi Xa em ! lòng anh muốn nói bao lời gió buông lả lơi. Hình bóng đã quá xa mờ dần theo thời gian. Kiếp sau xin chắp lời thề cùng sống bước lang thang.

Em ơi ! tình duyên lỡ làng rồi còn đâu nữa mà chờ, Anh đi lòng vương vấn lời thề nhớ kiếp sau chờ nhau. Tha hương lòng thương nhớ ngày nào cùng tắm nắng vườn đào. Gió xuân sang anh buồn vì vắng bóng người yêu. Rồi mai khi anh xa kinh đô. Em khóc cho tàn một mùa thơ. Nhớ người em nương theo cơn gió. Ru hồn về dĩ vãng mộng mơ. Thương anh thì thương rất nhiều mà ván đã đóng thuyền rồi.

Đa đoan trời xanh cắt cánh lìa cành khiến chim lìa đôi Chiều xuống mưa gió tiêu điều reo trên dòng Hương. Tháng năm chưa xóa niềm sầu vì đứt khúc tơ vương. Anh ơi, đời đã lỡ hẹn thề thì đâu có ngày về. Xa anh đời em tắt nụ cười héo hắt đôi làn môi. Đêm đêm đèn le lói một mình ngồi ôm giấc mộng tình. Kiếp sau đôi tim hòa chào đón ánh bình minh.

11/- XUẤT XỨ BÀI

CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI 

– Ca khúc “Chiều mưa biên giới” : nhạc Nguyễn Văn Đông, trình bày Thanh Tuyền

https://youtu.be/jyHcHfmwUFs

“Bản nhạc Chiều Mưa Biên Giới được viết vào năm 1956. Khi ấy tôi là trung úy trưởng phòng hành quân của chiến khu Đồng Tháp Mười là người có trách nhiệm đề ra những phương án tác chiến.

Lần đó tôi dẫn đầu một nhóm biệt kích bí mật đi điều nghiên chiến trường dọc theo biên giới Miên-Việt và Đồng Tháp Mười. Trên đường về, anh em chúng tôi lâm vào cảnh trời chiều gió lộng, mưa gào như vuốt mặt. Giữa cánh đồng hoang vắng tiêu sơ, lối vào tiền đồn thì xa xôi, thoáng ẩn hiện những nóc tháp canh mờ nhạt ở cuối chân trời. Và từng chập gió buốt kéo về như muới sát vào thịt da.

Từ trong cảnh ấy, tận đáy lòng mình đã nghe nẩy lên những cung bậc rung cảm, những trường canh đầu tiên buồn bã cho bài Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu…”

Tuy được phổ biến trong chiến khu Đồng Tháp Mười, nhưng phải đợi đến năm 1960, nhạc phẩm “Chiều Mưa Biên Giới” mới được đài Phát thanh Sài Gòn phổ biến, trong khi nhạc phẩm “Sắc Hoa Mầu Nhớ” sáng tác sau, nhưng lại được phổ biến trước.

Sau đó nhạc phẩm “Chiều Mưa Biên Giới” đã được quái kiệt Trần Văn Trạch cất cao tiếng hát giữa thành phố Paris với một hơp đồng thu thanh Pháp-Việt lần đầu tiên vào hãng đĩa của Pháp. Khi Trần Văn Trạch qua Pháp, ông có nhờ nhiều nhạc sĩ danh tiềng ở Paris như Đan Trường, Nguyễn Thông, vv… giúp về việc dịch thuật từ lời Việt ra lời Pháp để trình bầy bằng cả hai ngôn ngữ.

12/- XUẤT XỨ BÀI LỜI BUỒN THÁNH

– Ca khúc “Lời buồn thánh” : nhạc Trịnh Công Sơn, trình bày Lệ Thu

https://youtu.be/Fy0BCEaxfEY

Từ ngày Nguyễn Văn Ba chết, chúng tôi buồn vì thiếu vắng một người bạn, nên không còn hứng thú trong những buổi lang thang nữa.

Những ngày bó gối nằm nhà, Sơn thường ngồi tư lự trước bàn viết duy nhất dành cho cả hai soạn bài, nhìn đăm đắm ra con đường đất đỏ. Mùa này bông lau nở trắng khắp nơi. Lau trắng dọc theo con đường dốc chạy dài từ trong buôn ra tới quốc lộ, băng ngang trước nhà chúng tôi. Buổi chiều, gió nồm thổi nhẹ từng cơn, lướt qua rừng lau, xô chúng ngã nghiêng xuống, rồi chúng bật dậy, tạo thành những âm thanh xào xạc nhè nhẹ, đều đều, buồn buồn.

Chiều xuống dần. Những vạt nắng cuối cùng chiếu xiên trên những ngọn bông lau, lấp lánh sáng ngời. Gió lắng dần. Không gian trở nên im ắng, tĩnh mịch. Chợt tiếng kèn đồng xa xa vẳng lại, lúc nghe, lúc mất. Thật hắt hiu buồn. Đó là lúc cô nữ sinh hàng xóm, cô Ngà, đúng giờ đi lễ chiều. Chuông nhà thờ đang vang vang, dồn dập từng hồi, thúc dục con chiên đến giáo đường.

Thật đúng như tên đặt, da cô trắng ngà. Người mãnh mai với mái tóc thề chấm ngang vai, với khuôn mặt phảng phất nhiều nét như Đức mẹ Maria. Rất dịu dàng trong dáng đi. Mỗi buổi chiều cô đi lễ, đều đi ngang nhà chúng tôi. Hai tay ấp quyển Thánh Kinh trước ngực, đầu hơi cuối xuống, lặng lẽ, khoan thai bước. Đã bao lâu rồi ?

Cái hình ảnh rất đẹp ấy, cái màu áo dài trắng nổi bật trên nền đất đỏ, thấp thoáng ẩn hiện trong đám lau trắng, đã đi ngang nhà chúng tôi bao nhiêu chiều rồi mà chúng tôi không hề hay biết. Thật uổng phí ! Chẳng là, cứ ba giờ chiều, chúng tôi đã túc trực quanh mấy cái bàn bi da để dành chỗ rồi chơi cho đến khi tắt điện mới mò về, thì làm sao có thì giờ để biết bên hàng xóm có người đẹp. Cái tên Ngà, mãi về sau, theo dõi, lắng nghe mấy đứa em cô gọi, mới biết.

Với tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, Sơn đã thành công khi đưa tất cả những âm thanh mơ hồ của ngàn lau, của tiếng kèn đồng, tiếng chuông nhà thờ cùng dáng yểu điệu của cô Ngà, hòa nhập với gió chiều nhè nhẹ, để cấu thành chất liệu tuyệt vời tạo nên nhạc phẩm Lời Buồn Thánh.

13/-  XUẤT XỨ BÀI GÁI XUÂN 

– Ca khúc “Gái xuân” : thơ Nguyễn Bính – nhạc Từ Vũ, trình bày Ánh Tuyết

https://youtu.be/Z1G6RYPMyAA

Mỗi dịp Tết đến, những giai điệu quen thuộc của bài hát Gái Xuân lại vang lên: “Em như cô gái hãy còn xuận Trong trắng thân chưa lấm bụi trần…”

“Xuân Quý Tỵ (1953), tôi đang học lớp điện tử trong khuôn viên trường Petrus Ký. Lúc ấy tôi 21 tuổi sống xa gia đình, không bạn bè giữa Sài Gòn phồn hoa, đô hội. Buồn, chỉ biết lục sách báo ra đọc. Tình cờ mớ sách gối đầu giường có tập thơ Mây Tần của Nguyễn Bính. Tôi đọc thấy bài Gái Xuân, một bài thơ ngắn (chỉ hai khổ thơ) nhưng lại có hấp lực dẫn dắt tâm trí tôi quay về với cố hương ở Thường Tín (Hà Đông).

Hà Đông là quê lụa nên câu Gái Xuân giũ lụa trên sông Vân như đưa tôi về trong hoài nie^.m…Ro^`i những câu “Lòng Xuân lơ đãng, ý xuân nồng. Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng. Đôi tám xuân đi trên mái tóc. Đêm xuân cô ngủ có buồn khổng. Tài tính nét thơ Nguyễn Bính diễn tả tâm trạng cô gái mới lớn. Tôi cũng là thằng trai 21 tuổi. Thấm nhau lắm anh ạ. Tôi đọc bài thơ dăm lần là đã ngấm, cầm bút giấy viết luôn một mạch”. PV hỏi : Với cây đàn guitar ? Ông lắc đầu và nói : Ồ không, giấy bút và solfe’ cho đến lúc bản nhạc hoàn tất, sau đó mới dùng guitar để thẩm âm lại.

Cho đến bây giờ tôi cũng tự thấy mình là kẻ ngoại đạo trong lĩnh vực sáng tác và ca nhạc, nhưng tôi vẫn còn đó một niềm đam mệ Số là năm 1950 tôi theo gia đình vào Sài Gòn, một lần ghé vô tiệm nhạc trên đường Catinat tôi mua được cuốn Lárt de Composition Musicale. Cuốn sách đã cho tôi những căn bản về sáng tác.

Tôi viết Gái Xuân trong giai đoạn này. Viết, nhưng bài thơ quá ngắn, tôi mạn phép tác giả (đến nay tôi vẫn chưa từng gặp Nguyễn Bính lần nào), thêm vô hai câu của tôi: “Xuân đi, xuân đến hãy còn xuận Cô gái trông Xuân biết bao lần” để đủ độ dài thích hợp. Viết xong, cũng không nghĩ bài hát sẽ được phổ biến.” Nhạc sĩ Từ Vũ kể tiếp :

Dạo đó, tôi quen với ca sĩ Linh Sơn bèn nhờ cô ấy hát nhưng do cô ấy quá bận rộn, chúng tôi không có dịp trao đổi nên ngày ra mắt Gái Xuân, thú thật tôi vẫn chưa ưng ý lắm. Sau đó, tình cờ tôi gặp nữ ca sĩ Tâm Vấn ở Đài phát thanh Sài Gòn, Tâm Vấn trách: Sao anh không tặng tôi bài hát của ạnh Tôi đã chép tặng Tâm Vấn trên một tờ giấy.

Sau đó tôi phải theo bố ra Phan Thiết nên cũng chẳng biết Tâm Vấn “xử lý” như thế nào với bài hát của tôi, chỉ thấy bạn bè viết thư ra cho biết Tâm Vấn hát bài Gái Xuân rất hay và hát thường xuyên ở đài phát thạnh Ở Phan Thiết, trong một đêm lang thang ngoài phố, tình cờ tôi nghe Đài Phát thanh Huế phát bài hát này qua tiếng hát của cô Diệu Hượng Tôi không biết Diệu Hương là ai nhưng tiếng hát ấy đã làm tôi đứng tựa cột đèn, ngây ngất, đến bây giờ cảm giác ấy vẫn còn.

14/- XUẤT XỨ BÀI ƯỚT MI

– Ca khúc “Ướt mi” : nhạc Trịnh Công Sơn, trình bày Ngọc Lan

https://youtu.be/fck5zwitLc4

Thuở còn trọ học ở Sài Gòn, năm đó tôi mười bảy tuổi – Sơn kể – đêm nào tôi cũng lò dò đến phòng trà ca nhạc để nghe Thanh Thúy hát. Dần dần hình bóng Thanh Thúy đã ăn sâu vào trong tôi lúc nào không biết. Nói yêu Thanh Thúy thì cũng chưa hẳn. Vì tôi nhỏ tuổi hơn, lại nhiều mặc cảm nghèo và vô danh. Trong khi đó Thanh Thúy là một ca sĩ đang lên, kẻ đón người đưa tấp nập.

Biết vậy, nhưng tôi không thể không đêm nào thiếu hình ảnh và tiếng hát của nàng. Có đêm tôi chỉ đủ tiền để mua một ly nước chanh. Đêm đêm tôi thao thức với những khát khao, mơ ước là phải làm một cái gì đó để tỏ cho Thanh Thúy biết là tôi đang rất ngưỡng mộ nàng. Cái khát vọng đó đã giúp tôi viết nên bản nhạc “Ướt Mi” đầu tiên trong đời.

Khi hoàn thành, tôi nắn nót chép lại thật kỹ càng và luôn mang theo bên mình chờ có dịp tặng nàng. Với sự nhút nhát của tuổi trẻ, tôi không dám đưa tặng ngay mà phải chờ khá lâu mới có cơ hội. Một hôm tôi đánh bạo, tìm một chỗ sát bục sân khấu, dự định khi nàng vừa dứt tiếng hát là tôi sẽ đứng lên đưa luôn. Đã mấy lần định làm vẫn không kịp. Nàng vừa cúi đầu chào khán thính giả là đã có người chực sẵn rước đi ngay.

Cái đêm định mệnh mà tôi quyết tâm an bài đã thành công. Khi cầm bản nhạc trong tay, nghe mấy lời lí nhí của tôi, nàng chỉ thoáng nhìn tôi một chút rồi quay gót về hậu trường. Đêm đó tôi nôn nao không ngủ được. Trong lòng nổi dậy biết bao là mộng mơ, thắc mắc. Những câu hỏi cứ hiện ra trong đầu, nhưng tôi không dám trả lời dễ dàng cho mình thỏa mãn.

Nhưng câu hỏi cứ trở đi, trở lại trong tôi là: – Liệu nàng có để ý gì đến bản nhạc mà tôi đã thao thức bao đêm để làm nên vì nàng không ? Hay nàng chỉ khách sáo cầm hờ rồi vứt bỏ nó ở đâu đó! Vứt đi! Tim tôi đau nhói khi nghĩ đến hai chữ ấy.

Suốt gần một tuần, tôi hồi hộp theo dõi nàng mỗi đêm, đón từng ánh mắt nàng nhìn xuống khán giả thử xem nàng có dừng lại nơi tôi không, để tôi hy vọng. Nhưng không, vẫn như mọi lần. Một cái nhìn chung để gây cảm tình chung. Mãi đến hai tuần sau, khi tôi sắp tuyệt vọng vì mỏi mòn chờ đợi thì một đêm kia, khi bước lên bục diễn, dàn nhạc dạo khúc mở đầu thì nàng ra dấu cho ban nhạc tạm im tiếng cho nàng nói vài lời.

– Thưa quí vị! – Nàng bắt đầu nói và tôi hồi hộp chờ đợi.- Đêm nay Thúy sẽ trình bày một tác phẩm mới của một nhạc sĩ rất lạ, tặng cho Thúy. Đó là nhạc phẩm “Ướt Mi” của tác giả Trịnh Công Sơn. Hy vọng rằng đêm nay sẽ có sự hiện diện của tác giả để Thúy được nói vài lời cám ơn.

Nói xong, nàng quay sang ban nhạc, đưa bản nhạc của tôi cho họ dạo nhạc bắt đầu. Nàng cất tiếng hát. Tôi run lên trong lòng vì sung sướng và xúc động. Khi dứt tiếng hát, nàng dừng lại khá lâu, có ý chờ người tặng nhạc. Tôi thu hết can đảm, bước tới bục, ngước lên và nói :

– Xin cám ơn Thanh Thúy đã hát bài nhạc của tôi. Nàng a lên một tiếng ra vẻ bất ngờ rồi nói tiếp : – Thúy rất cám ơn anh đã tặng cho bản nhạc. Thúy muốn nói chuyện riêng với anh được không ? Tôi luống cuống gật đầu. Lúc ấy tôi sung sướng quá, hạnh phúc quá nên không tìm ra được lời nào để đáp lại. Tôi cùng nàng đón taxi về nhà nàng.

Nhà nàng ở sâu trong một ngõ hẽm. Căn nhà khang trang, đầy đủ tiện nghi: tủ lạnh, quạt máy. Mọi vật dụng trong nhà đều sang trọng, đắt tiền. Tối hôm ấy nàng cùng tôi nói đủ thứ chuyện. Tôi không còn nhớ chuyện gì ra chuyện gì. Tôi kể cho nàng nghe hoàn cảnh của tôi từ Huế vào trọ học. Nàng kể cho tôi nghe cuộc đời nàng từ Phan Thiết lớn lên… (Về Một Quãng Đời Trịnh Công Sơn  của Nguyễn Thanh Ty) (Xem tiếp kỳ sau)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Kỳ sau : các nhạc phẩm : 15/- Đi chùa Hương – 16/- Nắng chiều – 17/- Mộng dưới hoa – 18/- Cát bụi – 19/- Chuyện tình Mộng Thường – 20/- Thói đời – 21/- Ảo ảnh

NHỮNG CA KHÚC “VANG BÓNG MỘT THỜI” (1)

NHỮNG CA KHÚC

“VANG BÓNG MỘT THỜI” (1)

Xuất xứ những bài nhạc việt  vang bóng một thời

Những ca khúc : “vang bóng một thời” (2:42’)

https://youtu.be/BUOyCFFYnvo

List nhạc : 1/- Biệt ly,  2- Giọt mưa thu,  3- Áo lụa Hà Đông,  4- Nửa hồn thương đau,  5- Gửi gió cho mây ngàn bay,  6- Nỗi lòng,  7- Em ơi Hà Nội phố,  8- Hàn Mạc Tử,  9- Diễm xưa,  10- Gợi giấc mơ xưa,  11- Chiều mưa biên giới,  12- Lời buồn thánh,  13- Cô gái xuân,  14- Ướt mi,  15- Em đi chùa Hương,  16- Nắng chiều,  17- Mộng dưới hoa,  18- Cát bụi,  19- Chuyện tình Mộng Thường,  20- Thói đời,  21- Ảo ảnh,  22- Mùa thu chết.

Dù ngày nay với thời Kinh Tế Thị Trường Nhạc Việt nhiều khi được (bị) sáng tác theo kiểu mì ăn liền nhiều khi nghe kỳ cục. Lời nhạc Việt diễn tả sự phản kháng hay khôi hài hóa sự việc nào đó (nhạc nháy). Thế nhưng thông thường, nó diễn tả tâm tư của người nhạc sĩ trong cuộc sống hàng ngày, tình yêu, bạn bè, cảnh tan hợp hơp tan, ngay cả nỗi niềm của người trai đành xếp bút nghiên phải lên đường bảo vệ tổ quốc.

Xin chia sẽ nơi đây, có thể các anh các chị muốn kể lại cho con cháu nhiều kỷ niệm oai hùng của dĩ vãng, dù nhiều năm tháng đã trôi qua và dòng đời cứ trôi mãi, nhưng theo tôi kỷ niệm sẽ mãi in sâu vào tim của một số đồng hương Đất Việt.

PS: Đa số bài viết được trích từ Blog Cà Phê Diễm Xưa, lời xuất xứ được thố lộ từ chính các tác giả của nhạc phẩm !

1/- XUẤT XỨ BÀI BIỆT LY

– Ca khúc “Biệt Ly” : nhạc Dzoãn Mẫn,

trình bày Khánh Ly

https://youtu.be/FbFglJpP6e4

Tôi viết Biệt ly năm vừa tròn 20 tuổi trong hoàn cảnh chính quyền thực dân Pháp tuyển mộ rất nhiều người Việt Nam sang làm thợ hoặc lính đánh thuê cho các thuộc địa khác của Pháp.

Hồi đó, cha tôi làm việc ở ga Hàng Cỏ, Hà Nội. Sân ga Hàng Cỏ bấy giờ sôi động hơn bao giờ hết, liên tục đưa đón tàu đi tàu về chuyên chở những chàng trai Việt lên đường tha hương. Người đi kẻ ở. Buồn lắm. Đau xót lắm. Cái không khí tiễn đưa không hẹn ngày về tác động mạnh đến tâm cảm vốn day dứt của tôi.Nhà ở gần ga nên tôi thường được chứng kiến những cuộc chia tay đầy nước mắt trên sân ga.

Điều đó khơi dậy trong lòng tôi nhiều cảm xúc và tôi có ý định sáng tác một bài hát về đề tài này.tôi được anh bạn kể chuyện anh ta phải lòng một cô gái nhưng bị bố mẹ ngăn cấm và mối tình tan vỡ. Câu chuyện đó và những cảm nhận  thời thơ ấu đã giúp tôi viết Biệt ly

Lần đầu, Biệt ly được công bố trước đám đông khán giả là vào năm 1940 ở Hà Nội. Chị Phụng, một ca sĩ ở ngõ chợ Khâm Thiên là người đầu tiên hát. Không còn nhớ rõ nghệ danh, tôi chỉ nhớ tên gọi thân mật là chị Phụng – một giọng hát được nhiều người Hà thành yêu mến. Sau một thời gian nằm im ắng, đến năm 1988 Biệt ly mới chính thức được hát trở lại trên các sân khấu trong Nam ngoài Bắc, được đưa vào chương trình Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam.

Cùng với Biệt ly, nhiều ca khúc tiền chiến của các nhạc sĩ khác như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước, Hoàng Quý… cũng được biểu diễn trở lại.

2/- XUẤT XỨ BÀI GIỌT MƯA THU

– Ca khúc “Giọt mưa thu” : nhạc sĩ Đặng Thế Phong, trình bày Ánh Tuyết

https://youtu.be/8POPt2kJfdk

Từ ô cửa nhỏ, mưa ngâu chảy ra tới sông dài, bể rộng, bây giờ nhạc sĩ của mưa mùa thu đã đi và đi xa muôn thuở trong lòng người yêu nhạc bởi duy nhất ba bài hát bất hủ. Ba giọt nước ấy đã góp cho ly nước của nền âm nhạc Việt Nam thêm sóng sánh, quánh vàng.

Sinh ra trong một gia đình nghèo tại Nam Định, cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, lại có tới sáu người con. Chú bé Phong đã phải sớm bỏ học, rời quê lên Hà Nội kiếm sống. Nhờ vào năng khiếu vẽ tranh mà Phong đã có việc cho một số tờ báo như vẽ truyện tranh, hình minh họa… và được vào học dự thính tại trường cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Trong một kì thi, thầy giáo cho các học viên tự sáng tác. Đến lượt chấm tác phẩm của Phong, thầy giáo người Pháp TARDIEU đã rất tâm đắc, khen ngợi nhưng lại phán một câu “E rằng con sẽ không sống được lâu bởi hình là vận mệnh người” do trong đó Phong vẽ nhưng thân cây khô của mùa thu, khẳng khiu và đặc biệt tất cả đều cụt ngọn.

Quả đúng như thế, cuộc sống của Phong rất long đong, khốn khổ. Anh không chỉ sống ở Hà Nội mà còn lang bạt qua Campuchia, dạt về Hà Nội với đủ nghề nhưng vẫn không thể sống nổi. Từ vẽ tranh, dạy vẽ, mở lớp dạy nhạc, sáng tác và cả nghề hát nhạc hội…

Cám cảnh với oan nghiệt cuộc đời như một định mệnh vương vào tuổi đời. Phong đã viết những bài hát não nề diễn tả tâm trạng của mình, đặc biệt cả ba bài nổi tiếng nhất đều được viết trong mùa thu vàng vọt, mưa não nề. Bởi thu chỉ đẹp và lãng mạn cho người đang mặn nồng, say đắm. Mùa thu sẽ là nỗi đớn đau của người bệnh tật từ thể xác, tâm hồn cho đến nghèo túng.

Thu 1942, Phong bệnh nặng. Một hôm mưa tầm tã, rơi lộp bộp trên mái lá, không thể ngủ, cũng chẳng thể nằm vì nước lạnh thấm ướt căn nhà nhỏ sơ sài. Phong ngồi ôm gối nhìn qua cửa sổ đếm từng giọt rơi xuống, vỡ bóng hòa vào dòng nước lênh láng, trôi tuột và nghĩ rằng có lẽ cuộc đời của mình cũng như thế. Nỗi buồn đã buông chụp xuống ngay từ khi mới chào đời. Hàng ngàn nỗi khổ đã bủa vây và chưa có ngày nhìn thấy hào quang. Đau quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để Phong gắng gượng lết tới bàn tuôn trào những cảm xúc lai láng trong một giai điệu hết sức da diết, não nề và tuyệt vọng.

“…Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây

Lòng vắng muôn bề không liếp che, gió về

Ai nức nở thương đời châu buông mau

Dương thế bao là sầu…”

Vừa viết, Phong vừa ôm ngực ho lên từng hồi dài. Bài hát được đặt tên “Vạn cổ sầu” có nghĩa là những nỗi buồn không thể giải thoát.

Ngay sau đó những người bạn vì lo lắng cho sức khỏe của Phong đã đội mưa tới thăm. Ôm đàn, vuốt ngực, đè nén cảm xúc, chàng trai trẻ đã hát cho mọi người cùng nghe thay cho tâm sự không thể tỏa bày. Cung điệu trầm lắng, rời rã, ngưng đọng, nức nở của một con người chẳng còn định hướng tựa con thuyền nhỏ trên sông vạm vỡ mờ bóng đêm. Phong đã trải lòng theo từng lời ca ngọt ngào, không ủy mị, rên rỉ làm mọi người nín lặng và cùng buồn chỉ muốn khóc.

“Bài hát hay lắm Phong ơi, như xoáy vào tim, vào óc của người cùng tâm trạng, nhưng bi thảm quá. Đặc biệt tựa đề “Vạn cổ sầu” nghe tang thương lắm, nên sửa lại đi” – bạn bè góp ý như thế với Phong sau khi cùng lén lau những giọt nước mắt. Phong nghĩ, cũng đúng, bởi đâu phải mình khóc trong lòng, mà sau này người khác hát cũng sẽ phải đồng tâm trạng. Chẳng lẽ các ca sĩ yêu bài này cũng phải chịu vận mệnh như mình sao ?

Nhìn những giọt mưa ngâu của Ngưu Lang – Chức Nữ vẫn tuôn trào chưa ngơi nghỉ dội xuống qua ô cửa, Phong thấy sao phũ phàng tựa đời mình quá. Thôi thì sửa tựa cho nhẹ nhàng hơn và “Vạn cổ sầu” được đổi thành “Giọt mưa thu”.

Có lẽ bài hát như một lời tạ từ, điềm báo trước và cũng là di chúc cuối cùng nên chẳng bao lâu sau chàng nhạc sĩ tài hoa, bạc mệnh, yểu đời: Đặng Thế Phong đã mang theo “Vạn cổ sầu” mãi đi vào màn đêm nhạt nhòa khi mới 24 tuổi tại quê hương Nam Định của mình vì căn bệnh của những người nghèo: bệnh Lao.

3/- XUẤT XỨ BÀI ÁO LỤA HÀ ĐÔNG 

– Ca khúc “Áo lụa Hà Đông” : thơ Nguyên Sa – nhạc Ngô Thụy Miên, trình bày Tuấn Ngọc

https://youtu.be/QmEDbIxGvyk

Ai trong chúng ta cũng đã từng hát một lần bài ” ÁO LỤA HÀ ĐÔNG” của nhạc sĩ NGÔ THỤY MIÊN, nhưng mấy ai biết rằng bài hát này lại có xuất xứ từ một cuộc thi hoa hậu đầu tiên của Việt Nam.

Năm 1930, xứ Bắc Kỳ đã tổ chức cuộc thi người đẹp (giống như thi Hoa hậu bây giờ) với những ấn tượng lạ : không phải ở Hà Nội mà ngay tại tỉnh Hà Đông; các cô gái bất cứ lứa tuổi, kể cả đã có chồng, ngành nghề gì cũng đều được tham gia; phải mặc áo lụa của xứ Hà Đông.

Người đăng quang trong cuộc thi là người đẹp Lý Lệ Hằng, xuất thân từ một nông dân nghèo tỉnh Thái Bình. Do cuộc sống mưu sinh, cô phải lên Hà nội làm nghề hát cô đầu cho các quán rượu.

Sau khi thay đổi cuộc đời, cô trở nên nổi tiếng và là niềm ước mơ của bao công tử nhà giàu trong cả nước. Tuy nhiên chẳng ai có thể với tới được móng chân của người đẹp “chân lấm, tay bùn” bởi chỉ một thời gian sau Quốc Vương Bảo Đại đã chọn Lý Lệ Hằng làm người tình.

Có lẽ cũng như bao chàng trai si mê sắc đẹp khác, dù đã trải qua hơn 20 năm sau, nhà thơ Nguyên Sa vẫn mơ tưởng đến nụ cười, ánh mắt khuynh đảo của hoa hậu đầu tiên và buộc ông phải viết bài thơ ca ngợi người đẹp mặc áo lụa ấy.
Mãi đến năm 1969, khi nghe câu chuyện về hoa hậu “thuần nông” phút chốc trở thành người yêu của ông vua cuối cùng Việt Nam, chàng trai 21 tuổi Ngô Thụy Miên đã viết nên ca khúc nổi tiếng “ÁO LỤA HÀ ĐÔNG” được phổ lời từ bài thơ của Nguyên Sa như để ngưỡng mộ những cô gái tựa như đóa sen vươn lên từ đầm lầy.

4/- XUẤT XỨ BÀI NỮA HỒN THƯƠNG ĐAU

– Ca khúc “Nửa hồn thương đau” : nhạc Phạm Đình Chương, trình bày Thái Thanh

https://youtu.be/bEcMXIBRZ84

Vào những năm 60, báo chí Sài Gòn hao tốn rất nhiều giấy mực vì phải đăng nhiều kì vụ li dị giữa ca sĩ Khánh Ngọc và nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Tòa án xét xử nhiều lần chưa xong, vì thế vụ việc càng làm họ trở nên nổi tiếng hơn.

Lúc đó, chàng nhạc sĩ họ Phạm là thành viên chính trong ban hợp ca Thăng Long, ban nhạc đình đám nhất cả nước lúc ấy bởi các thành viên của nhóm nhạc đều là những ngôi sao đương thời như : vợ chồng ca sĩ Thái Hằng – Phạm Duy, ca sĩ Thái Thanh, vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương – Khánh Ngọc…

Vợ của nhạc sĩ họ Phạm này là một ca sĩ được nhiều người biết đến với tên gọi “ngọn núi lửa” bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả nam say đắm mỗi khi cô lên hát. Trước khi đưa đơn ra tòa, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh vợ mình ngoại tình. Nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những tin “lá cải” ấy.

Chỉ đến khi một số người bạn hẹn ông đi bắt ghen tại Nhà Bè thì sự việc mới đổ bể. Chẳng hiểu sao báo chí biết rất nhanh và vụ “ăn chè Nhà Bè” được mọi người biết đến như một chuyện khôi hài đương thời. Kẻ trong cuộc gây ra đổ bể này không ai xa lạ hơn lại chính là người anh rể của ông. Nhạc sĩ nổi tiếng thuở ấy: Phạm Duy.

Người đau lòng nhất :chàng nhạc sĩ. Anh rất yêu thương vợ, nhưng cả dư luận xã hội đều rõ tường tận nên đành phải gửi đơn xin li dị. Đây là quãng thời gian đau khổ, ông không còn tâm trí biểu diễn cùng các anh chị trong ban hợp ca nữa mà lui về trong bóng tối viết những tình ca buồn như để tâm sự với chính mình trong gương. Một loạt bài hát mang tâm trạng như thế ra đời: “Đêm cuối cùng”, “Người đi qua đời tôi”, “Khi cuộc tình đã chết”, “Thuở ban đầu”, “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”

Sau li dị, ông được quyền nuôi con trai khi ấy mới khoảng 4 – 5 tuổi, bắt đầu đi biểu diễn trở lại. Một lần, tình cờ ông gặp vợ mình trên sân khấu của chương trình nhạc hội. Cuối buổi diễn ông có nhã ý muốn được tiễn cô về vì trời đang mưa nhưng Khánh Ngọc từ chối.

Ông lặng lẽ trở về căn nhà kỉ niệm, nhìn qua màn mưa nhớ về những ngày hạnh phúc giờ trôi theo dòng nước, tan vỡ như những bong bóng mưa. Một người vẫn còn đây, người còn lại đã rời xa. Trái tim yêu đã chia làm đôi. Lời thề vỡ vụn… Chịu đựng không nổi nỗi đau dằn xé, ông dự định tìm đến cái chết nhưng đúng lúc ấy tiếng khóc con trẻ đòi mẹ trong đêm làm ông phải vụt ôm con vào lòng dỗ dành mà nước mắt tuôn trào…

Hình ảnh của đêm khốn cùng ấy đã đi vào từng lời của bài hát “ Nửa hồn thương đau” được ông viết trong đêm rã rời đó như lột tả từng mảng tâm trạng bị chà xát. Nếu ai đã nghe một lần bài hát này và cũng đồng cảm với cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương sẽ hiểu được tâm hồn con người chỉ có thể chịu đựng một giới hạn nhất định.

Dẫu là một bản tình ca, nhưng khi nhắc tới nhạc sĩ Phạm Đình Chương, người ta lại nghĩ ngay đến “Nửa hồn thương đau” bởi sự bất hủ của tuyệt tình ca và sự chung thủy trong tình yêu của một người đàn ông. Sau này ông đã ở vậy nuôi con và ra đi lặng lẽ tại California năm 1991.

5/- XUẤT XỨ BÀI :

GỬI GIÓ CHO MÂY NGÀN BAY

– Ca khúc “Gửi gió cho mây ngàn bay” : nhạc Đoàn Chuẩn, trình bày Lệ Thu

https://youtu.be/F20LIBgKeiU

Vào đầu thập niên 50, một nhà tỷ phú trẻ từ Hải Phòng lên tận nhà hát Lớn Hà nội để xem đoàn hát Sài Gòn ra diễn. Sau đêm đầu, chàng đã ở lại và xem tiếp những đêm sau chỉ vì đem lòng hâm mộ cô ca sĩ chính của đoàn: ca sĩ Mộc Lan.

Khi đó ca sĩ Mộc Lan đang là một ngôi sao lớn của cả nước, không chỉ đẹp, đoan trang, hiền lành mà cô còn nổi tiếng bởi đang sống rất hạnh phúc bên chồng cũng là một ca sĩ hàng đầu : nhạc sĩ Châu Kỳ. Hai người từng được mệnh danh là cặp tài tử giai nhân, trai tài gái sắc.

Trở lại câu chuyện Công tử đất Cảng Hải phòng, khi cô ca sĩ về Sài Gòn, vì tương tư, anh cũng liền mua vé bay vào tìm cách gặp gỡ. Nhưng vì biết họ đang yên bề gia thất, hạnh phúc bên nhau nên chàng dùng kế “mưa dầm thấm lâu”. Nhà tỷ phú đã đặt khoản tiền rất lớn cho một tiệm hoa trên đường Nguyễn Huệ với điều kiện nơi đây phải làm theo lời đề nghị bí mật của anh

Từ ngày ấy, mỗi sáng khi mở cửa nhà, cô ca sĩ đều nhận được một bó hoa hồng tươi thắm (trị giá món quà lãng mạn đó bằng 3 bữa ăn cho một gia đình trung lưu thuở ấy). Đều đặn như thế mà ca sĩ Mộc Lan vẫn không hề biết tên người hâm mộ mình, cũng như mục đích của người tặng. Tuy nhiên, với tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ, cô dần quyến luyến với người vô hình và trở nên nôn nóng chờ đợi đêm qua thật nhanh để sáng sớm được ôm bó hoa thơm ngây ngất.

Suốt 3 tháng trời, không thể chờ đợi được nữa, cô liền ra tiệm hoa Nguyễn Huệ và nhờ chuyển một bức thư cho người “vô danh, ẩn tích” với những lời cám ơn chân thành và một chút ẩn ý ngọt ngào. Như mưa gặp bão, khi nhận được những lời nói mà chàng hằng mong đợi, ngay trong đêm đó chàng công tử đã thức suốt để mơ mộng, thả hồn theo gió vào Nam, ngất ngây với tâm hồn kẻ đa tình và sáng sớm ra Bưu điện để gởi nhanh cho nàng một lá thư.

Trước khi dán phong thư, chàng còn không quên xịt ít nước hoa vào và hôn nhẹ lên tờ giấy poluya màu xanh (loại giấy mỏng, dùng viết thư tình, chỉ đến khi thời đại computer ra đời người ta mới quên dùng giấy này để viết thư) Nhận thư, ca sĩ Mộc Lan vô cùng bàng hoàng sững sờ, bởi trong đó không phải là những lời nói tỏ tình, yêu đương mà chỉ có một bài hát.

Các khuông nhạc được kẻ bằng tay cẩn thận, lời hát được viết nắn nót trên nền tờ giấy mỏng tanh tình tứ “gửi bướm muôn màu tìm hoa, gửi thêm ánh trăng, màu xanh lá thư, về đây với thu trần gian…” chứng tỏ người theo đuổi nàng bấy lâu rất thật tình và gửi gắm hết tâm huyết thương mến.

Nàng còn ngạc nhiên hơn khi biết bài hát được sáng tác chỉ trong một đêm và viết dành riêng tặng cho nàng. Điều đặc biệt, tác giả tình khúc ấy là người không chỉ nổi tiếng giàu có nhất ở đất Cảng, khắp Bắc Kỳ, mà khi đó ông cũng đang là một nhạc sĩ lừng danh với tên gọi “ông Vua Slow – Đoàn Chuẩn” không ai không biết tên tuổi.

Ngay hôm sau, trên sân khấu Sài Gòn, ca sĩ Mộc Lan đã hát vang “Gửi gió cho mây ngàn bay” của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (1924 – 2001). Chỉ trong một thời gian ngắn bài hát trở nên nổi tiếng với những giai điệu du dương, lời hát êm ái, sâu sắc và lãng mạn. Nhưng cũng từ khi câu chuyện tình nghệ sĩ này “thanh thiên, bạch nhật” thì mái ấm hạnh phúc của gia đình trai tài, gái sắc MỘC LAN – CHÂU KỲ cũng “gửi gió cho mây ngàn bay”. Bởi ít lâu sau nàng đã ngã vào vòng tay của chàng công tử đa tình đất Cảng.

6/- XUẤT XỨ BÀI NỖI LÒNG

– Ca khúc “Nỗi lòng” : nhạc Nguyễn Văn Khánh, trình bày Ngọc Lan

 https://youtu.be/l_sFWimXra8

Phố Khâm Thiên những năm 30 là nơi phức tạp nhất của đất Hà Thành, ở đây tập trung những quán cô đầu, lầu xanh, nhà chứa, thuốc phiện, sòng bài, khu nhà ổ chuột … , tất tần tật các tệ nạn xã hội. Thế nhưng giữa vũng bùn như thế lại mọc lên một đóa sen tinh khiết – Một câu chuyện tình trinh son.

Còn đang học đệ thất (lớp 7 ngày nay), nhưng cậu bé Khánh đã để ý cô bé cạnh nhà. Vì còn quá nhỏ, ngây thơ, nên cả hai chẳng dám cho ai biết họ đang có tình ý. Để gặp nhau nói mấy câu bóng gió, thường thì cô cậu giả vờ vô tình cùng làm những chuyện gì đó ngay bên hàng rào, như phơi quần áo, xách nước giếng, quét sân, rửa bát… đây cũng là dịp hiếm hoi sau giờ học hoặc khi người lớn đi vắng.
Tình yêu non nớt, vụng dại vẫn kéo dài cho tới năm chàng Khánh học đến lớp đệ nhất. Đến kì thi Thành chung (tốt nghiệp phổ thông hiện nay) thì Khánh bị rớt. Biết vì phân tâm do yêu, không lo học, cô bé hàng xóm tránh mặt, không gặp nữa dù hai nhà chỉ cách nhau một hàng rào. Nàng gửi lời nhắn tới Khánh: khi nào thi đậu Thành Chung thì mới thấy nhau.

Trong thời gian chàng lo dùi mài kinh sử để thi lại, đột ngột, chỉ trong một đêm gia đình cô gái chuyển gấp lên Thái Nguyên, nơi người cha sẽ tới làm việc. Không được gặp người yêu, Khánh chỉ kịp chuyển tới nàng một chiếc khăn tay. Kì thi ấy Khánh có bằng Thành Chung. Có kết quả, Khánh tức tốc đón xe lên Thái Nguyên.

Sau bao tháng chưa nhìn thấy người yêu, sau bao thời gian xa cách, dồn nén nhớ thương, tình yêu của họ giờ mới có dịp nảy nở. Tựa như hạt mầm dưới lớp đất phủ, chỉ chờ đêm mưa đã vội vã vươn lên thành lá non. Chàng dám công khai chuyện tình cảm với gia đình nàng sau khi có việc làm trong ngành điện của thành phố.

Cũng cần nói thêm, thuở ấy, đường từ Hà Nội lên Thái Nguyên không thuận tiện như ngày nay. Xa hơn cả trăm hai chục cây số và phải đi bằng nhiều phương tiện khác nhau : tàu hỏa, ô tô, phà và cả băng rừng, chưa kể những nguy hiểm của cuộc chiến, thú dữ. Gần như mất cả ngày mới tới nơi. Vậy mà mỗi chiều thứ bảy Khánh lại bỏ Khâm Thiên sau lưng, lặn lội suốt đêm, sáng lên gặp nàng và trưa Chủ nhật vượt quãng đường xa về lại Hà Nội.

Đều đặn từng tuần như thế. Mỗi lần gặp nhau họ lại xách đàn lên một ngọn đồi trước nhà nàng để hòa nhịp cùng gió trời thổi sáo vi vu trên những ngọn thông. Một lần, do bận công việc nên hai tuần liền chàng không thể đi như đã hẹn. Cuối tuần thứ ba chàng mới khăn gói lên thăm. Tới nhà, một không khí ảm đạm, buồn bã bao phủ. Cha nàng lặng lẽ đưa chàng một chiếc hộp gỗ. Đây là chiếc hộp từng đặt chiếc khăn tay và chàng trao tặng đêm gia đình nàng rời khỏi Hà Nội ngày xưa.

Bên trong vẫn còn nguyên chiếc khăn trắng có thêu hình đôi chim bồ câu và một xấp thư mà chàng đã từng gửi trong những ngày không gặp. “Gió Thái Nguyên rét về Yên Thế Đất Thái Nguyên nước độc, rừng thiêng” Sau vài ngày bạo bệnh, nàng đột ngột ra đi. Ôm đàn lên ngọn đồi thông, chàng vật mình vào ngôi mộ người yêu còn thơm mùi đất, chưa kịp mọc cỏ non.

Những giây phút lãng mạn hạnh phúc tuột vụt vào quá khứ. Chẳng còn tiếng gió vi vu thổi sáo trên lá, chẳng còn người yêu nghiêng tai nghe đàn. Thay vào đó là ngọn gió đông ào ạt như quất rát xuyên qua lồng ngực đớn đau, chĩa thẳng vào tim. Nước mắt chưa kịp rơi đã bay ngược hư vô. Kỉ niệm cùng nàng tuôn trào theo từng tiếng đàn rời rã “ yêu ai, yêu cả một đời, tình quá khắt khe khiến cho đời ta, đau tủi cả lòng, vì yêu ai mà lòng hằng nhớ …”.

Bài hát “Nỗi lòng” đã nghiệt ngã ra đời bên một ngôi mộ mới, trên một đồi thông chất chứa như tiếng khóc ai oán của một cuộc tình chưa chạm tay tới hạnh phúc. “…Lòng vẫn biết nếu yêu rồi một ngày Là đến với đớn đau Nhưng sao trong ta vẫn yêu vẫn nhớ Dù sao, dù sao nếu có một ngày Một ngày gieo trong tim ta Là tình yêu kia ly tan Mà lòng vẫn thương vẫn nhớ…”

Về lại Hà Nội, về lại ngõ nhỏ trong phố Khâm Thiên. Cùng với tác phẩm đầu tay “Nỗi Lòng”, chàng trai trẻ chỉ kịp giãi bày nỗi đớn đau tột cùng của mình trong một tuyệt tình ca nữa “Chiều Vàng”, sau đó ông mãi về cõi xa cùng người yêu ngay tại ngôi nhà nhỏ có hàng rào xưa đầy kỉ niệm.

Dẫu là một người viết nhạc không chuyên, chỉ với 2 bài duy nhất trong cuộc đời, nhưng Nguyễn Văn Khánh vẫn được đặt vào hàng ngũ những nhạc sĩ tài danh của dòng nhạc Tiền chiến. (Xem tiếp kỳ sau)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

Kỳ sau : các nhạc phẩm : 7/- Em ơi Hà Nội phố – 8/- Hàn Mặc Tử – 9/- Diễm Xưa – 10/- Gợi giấc mơ xưa – 11/- Chiều Mưa biên giới – 12/- Lời buồn thánh – 13/- Gái Xuân – 14/- Ướt mi

NS NGỌC CHÁNH & HS LÊ MINH

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

VÀ THẾ GIỚI ĐÈN MÀU

– Trịnh Thanh Thủy

Nhắc tới thế giới đèn màu của Sài Gòn vào những thập niên 60, 70 người ta liên tưởng tới những chốn ăn chơi tiêu khiển, nhộn nhịp hoa đèn của cư dân Hòn Ngọc Viễn Đông như phòng trà và vũ trường về đêm. Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm lên nắm quyền và cấm khiêu vũ, các vũ trường bắt đầu đổi sang phòng trà ca nhạc, âm nhạc đột nhiên khởi sắc và được ưa chuộng.

Những hoạt động ca, múa đã biến thành những tiết mục hào hứng, gây được nhiều ấn tượng cho những người khách muốn đi tìm chút thư giãn thần kinh sau giây phút lao động mệt nhọc ban ngày. Các phòng trà thay nhau mọc lên rất nhiều như, Đêm Màu Hồng có ban hợp ca Thăng Long, Maxim’s với Hoàng Thi Thơ và vũ sư Lưu Hồng, Queen Bee, Tự Do ..v..v…

Sự kiện Tết Mậu Thân cũng vậy, thế giới về đêm bị ảnh hưởng, vũ trường lại bị đóng cửa một thời gian. Sau này khi lệnh cấm khiêu vũ được bãi bỏ, có phòng trà cũng là vũ trường luôn. Nhạc sĩ Ngọc Chánh đến với thế giới đèn màu của Sài Gòn trong các phòng trà và vũ trường với tư cách một nhạc trưởng của ban nhạc, rồi từ từ ông trở thành chủ nhân cùng kinh doanh thế giới âm nhạc về đêm với ca sĩ Thanh Thúy.

Trịnh Thanh Thủy (hỏi) : Kỳ này bước qua lĩnh vực kinh doanh phòng trà và vũ trường, xin chú cho biết thêm hoạt động của chú trong lĩnh vực này, truớc và sau 75. Tên và địa điểm của những nơi chú kinh doanh, cùng ai cộng tác ?

Ngọc Chánh (đáp) : Đầu tiên, trước năm 1975, tôi làm nhạc trưởng ban Shotguns và có cộng tác với các phòng trà như Maxim’s của Hoàng Thi Thơ và Queen Bee của Khánh Ly (một phòng trà do ông Tuất quản lý). Sau một năm, Khánh Ly rời Queen Bee, tôi và Thanh Thúy tiếp quản và làm chủ phòng trà này.

Thời gian sau nữa tìm được chỗ khác, Tôi và Thanh Thủy mua lại và mở vũ trường International Quốc Tế nằm ở mũi tàu Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực, Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Hai cái quan trọng để đi đến thành công trong việc kinh doanh phòng trà và vũ trường là ca sĩ hay và ban nhạc tốt.

Tôi không dám nói nhiều, ngày đó ban nhạc Shotguns toàn những người hay của Sài Gòn. Một ban nhạc quy tụ toàn người hay thì dĩ nhiên nó phải hay. Anh Lê Văn Thiện đánh piano và hoà âm, Hoàng Liêm đàn guitar, Saxo thì Trần Vĩnh, Trumpet có Cao Phi Long, Violon là Đan Thọ, bass Duy Khiêm, trống trước có Lưu Bình, sau có Hải.

Một ban nhạc toàn người hay hợp lại, thường không ở được với nhau lâu dài. Có lẽ vì ai cũng nghĩ mình là số 1, nên khó lòng lắm. Tuy nhiên vì tôi cũng là 1 nhạc sĩ cùng anh em, tôi còn là chủ, thành ra mới giữ ban nhạc được lâu. Ngoài ra, tôi có cái nguyên tắc là, với anh em mình chịu thiệt thòi chút cũng không sao, do đó cái gì cũng xong.

Trong khi hầu hết các phòng trà, vũ trường khác không giữ được các ban nhạc làm chung với nhau lâu, một thời gian ngắn anh em lại bất hoà, lủng củng rồi tan rã. Nếu không có biến cố năm 75 xảy ra, có lẽ anh em trong ban nhạc tôi còn ở mãi với nhau. Có thể vì do tôi điều hành nên giữ được hoà khí giữa các anh em.

Còn về mức lương, tôi trả các anh em cao nhất so với các nơi khác. Ngoài ra, làm việc với tôi còn được vững vàng hơn. Năm 69, người mở phòng trà Queen Bee là cô Khánh Ly, phòng trà đã thành công nhất nhờ tiếng tăm sẵn có của cô Khánh Ly và nhờ ban nhạc của cô toàn người hay. Tuy nhiên, cô cũng không giữ được ban nhạc lâu, rồi bất hoà và tan rã.

Sau 75, tôi ở lại trong nước và sang định cư ở Hoa kỳ tháng 4 năm 79. Cùng năm, tôi mở vũ trường ở San Jose vào tháng 12, lấy tên là Maxim’s. Người chủ nhà hàng là Luật Sư Đinh Thành Châu, ông cho tôi thuê lại một tuần hai đêm thứ Bảy và Chủ Nhật làm vũ trường. Năm 1983, 84 tôi về Little Saigon, Nam Cali và mở vũ trường Ritz. Chỗ này lúc trước là phòng trà có cùng tên của nhạc sĩ Vô Thường, anh không thành công và tôi sang lại. Tôi giữ tên cũ và tiếp tục hoạt động cho tới năm 98, là 16 năm, tôi quyết định nghỉ hưu.

Hỏi : Xin chú cho biết thêm về thành phần đối tượng của phòng trà và vũ trường thời trước và sau 1975. Chú có phải đối mặt và chi tiền cho xã hội đen trong việc bảo hộ hay duy trì an ninh của việc kinh doanh này không ?

Đáp : Trước 75, khách đến phần lớn là những thương gia và những người có tiền, họ làm việc mệt nhọc cần có nơi giải trí. Sau 75, bên Mỹ thì dễ dàng hơn, vì ai cũng có tiền. Họ đến vũ trường cuối tuần cũng chẳng tốn kém bao nhiêu nên họ đi để giải khuây.

Vấn đề an ninh, trước 75 ở VN, theo tôi, lúc ấy không có xã hội đen. Từ sau khi chính quyền giải quyết nạn du đãng lộng hành, Sài Gòn rất an ninh. Vũ trường của tôi không cần an ninh gác cửa, tôi không phải đối mặt với du đãng. Chẳng có gì xảy ra đối với vũ trường của tôi, chỉ có đôi ba lần xảy ra những vụ đánh ghen, mà đánh ghen thì có gì đâu, can xong thì thôi.

Ở Mỹ, khoảng thời gian 1980-90 xã hội Mỹ cũng có nhiễu nhương, nhưng từ ngày mở vũ trường, tôi chưa từng bắt tay với ai, hoặc làm mích lòng người nào hết. Tôi chưa hề cho ai, bất cứ đồng bạc nào. Vì sao, vì ở Mỹ có luật pháp, tôi nhờ luật pháp tức người giữ an ninh (Security) bảo vệ, rất an ninh.

Hỏi : Nói đến vấn đề tài chánh, thì vũ trường hay phòng trà mang nhiều lợi nhuận hơn ?

Đáp : Nói về lợi tức thì vũ trường có lời nhiều hơn, còn phòng trà chỉ có tiếng, nhưng thu nhập kém. Được cái nhờ hoạt động lâu, khách hàng biết tiếng thương mến, nên vũ trường ở VN tôi mở, đêm nào cũng hết chỗ, ở Mỹ cũng thế, mọi đêm bán hết, không còn vé.

Hỏi : Xin chú chia sẻ một vài trải nghiệm, vui buồn nghề nghiệp trong thế giới của phòng trà và vũ trường.

Đáp : Thật tình vui là tôi làm được những chương trình theo ý mình như các chương trình tìm kiếm tài năng mới. Mình có phương tiện của vũ trường để tổ chức các cuộc thi để tìm người mới. Nhờ đó ra được một số tiếng hát như Quang Tuấn, Anh Dũng, Hoàng Nam ..v..v..

Hỏi : Trước 75, T nghe nói chú từng đào tạo một số ca sĩ, xin cho biết chú nâng đỡ và đào tạo họ thế nào ?

Đáp : Ở VN cũng như Hoa Kỳ, có những cái mà người đầu đàn phải có hy sinh, dẫu chịu thiệt thòi cũng không sao. Ví dụ, tôi bỏ rất nhiều thời giờ để suy nghĩ làm sao cho 1 tiếng hát nổi tiếng. Không phải tự nhiên một người hát hay mà nổi tiếng đâu, ngày đó còn cần phải có ban nhạc.

Ngoài ra bên báo chí giúp bài vở quảng cáo thêm. Anh em bên đó quý tôi, cũng phụ giúp tôi đưa 1 tiếng hát thành danh, nếu họ thấy người đó có tài. Hầu hết những người thành công nghĩ tôi hát hay sẽ tự nhiên thành công. Không đủ đâu, phải có sự nâng đỡ thêm vào.

Đưa 1 người thành danh phải mất nhiều mặt và thời gian chứ không phải dễ. Bây giờ dễ hơn nhờ có TV, video và các phương tiện quảng cáo khác, ngày xưa không có sự phổ biến nhiều chỉ trông vào báo chí giúp thôi. (theo Trịnh Thanh Thủy)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NGƯỜI SÀI GÒN

HỌA SĨ LÊ MINH

Lên đời cùng tiểu thuyết Kim Dung

Người Sài Gòn mê truyện chưởng Kim Dung khó mà quên nét vẽ tài tình của ông trên bìa sách. Ông thú nhận nhờ vậy mới có tiền nuôi vợ, nuôi con.

Thế hệ đầu tiên vẽ tranh trên báo

Làng báo Sài Gòn thập niên 1950-1960 gần như rất hiếm họa sĩ vẽ tranh minh họa và tranh vui. Ngoài cây cọ tài danh Lê Trung, người còn lại là họa sĩ Lê Minh, sinh năm 1937, tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Gia Định năm 1957. Năm 17 tuổi, ông vừa học vừa vẽ tranh minh họa cho loạt truyện Hoa Lư động chúa đăng trên nhật báo Dân Ta của nhà thơ Nguyễn Vỹ. “Người Sài Gòn thời đó gọi là truyện feuilleton, mỗi ngày ra một kỳ kèm theo tranh minh họa. Ngày xưa tôi phải vẽ trên giấy decal, người làm bản kẽm mới đặt giấy đó trên gỗ rồi dùng dao khắc từng chi tiết, rất kỳ công. Hôm nào tôi vẽ nhiều ô vuông nhỏ là bị mắng mỏ bởi thợ khắc gỗ làm quá khổ”, ông nhớ lại.

Mất cha năm 16 tuổi, Lê Minh và người chị gái sống với mẹ. Bà tảo tần nuôi con bằng gánh hàng hoa mua từ chợ Gò Vấp mang về bán tại chợ Bà Chiểu. “Thương mẹ nên tôi biết lo thân từ tấm bé. Ngày tôi thi đậu vào trường mỹ thuật, ba mẹ đều rơi nước mắt. Tôi thường xuyên đi học trễ vì đêm nào cũng thức đến 2 giờ sáng vẽ tranh cho báo. Có lần, báo Sài Gòn mới đặt tôi vẽ gấp bức tranh vui cho số báo ra sáng mai. Tối đó, làm việc đến 3 giờ sáng tôi mệt quá ngủ gục, tay quơ đổ lọ mực tàu trên bàn ướt nhẹp bức vẽ. Hoảng hồn, sáng sớm tôi vội vã đạp xe đến tòa soạn báo tin cho chủ báo Bút Trà và bị la một trận nhớ đời. May mà tòa soạn thay bằng bản tin khác. Thời sinh viên, tôi ngập đầu trong công việc nhưng cũng nhờ đó mà kinh tế gia đình khấm khá hẳn lên. Tôi còn sắm cho chị gái cái máy may để học nghề và sinh sống sau này”, ông kể.

Vẽ minh họa, sắm xe hơi

Đầu thập niên 1960, Sài Gòn tràn ngập truyện chưởng Kim Dung. Nhiều tờ báo bắt đầu trích đăng lại với dạng feuilleton. Lúc đó, họa sĩ Lê Minh được biết đến sau rất nhiều tranh minh họa trên các báo Phụ nữ diễn đàn, Phụ nữ ngày mai, Đẹp…, đặc biệt qua các bức vẽ thiếu nữ. Nhiều nhà xuất bản (NXB) như Thế Kỷ, An Hưng, Trung Thành, Hương Hoa, Sống Mới, Tấn Phát… phát hành truyện Kim Dung săn tìm ông đặt vẽ bìa. “Rất nhiều tác giả dịch truyện Kim Dung như Tiền Phong Từ Khánh Phụng, Đồ Mập, Vũ Tài Lục, Hải Âu Tử… nhưng chẳng hiểu sao phải là Hàn Giang Nhạn chuyển ngữ còn tôi vẽ bìa, sách bán mới đắt hàng. Tôi được trả 2.000 đồng cho một bức vẽ bìa. Giá này là cao so với thời đó”, họa sĩ Lê Minh thú nhận.

Vẽ bìa truyện chưởng Kim Dung theo họa sĩ Lê Minh cần tuân thủ một số nguyên tắc mà các NXB quy ước để thu hút độc giả : phải có hình thiếu nữ, vẽ tranh động, không đơn điệu. Giai đoạn này, Sài Gòn cũng có vài họa sĩ vẽ bìa truyện chưởng như Đỗ Phi, Cảnh Thế nhưng nét vẽ không thể so với Lê Minh.

Qua12 năm làm bìa truyện chưởng, Lê Minh nhớ mãi lần vẽ bìa cuốn Tiếu ngạo giang hồ. NXB đặt ông thực hiện gấp bìa có nhân vật Vạn lý độc hành Điền Bá Quang mê ni cô Nghi Lâm. Chưa kịp đọc kỹ bản thảo, nghĩ Điền Bá Quang là kẻ hắc đạo, nhân vật phản diện nên Lê Minh phóng bút vẽ một người hung dữ, đầu tóc râu ria xồm xoàm. Đến khi in bìa xong, ông chủ NXB than trời. “Té ra, Điền Bá Quang trong Tiếu ngạo giang hồ là bạn với Lệnh Hồ Xung. Người thư sinh trắng trẻo, mày râu nhẵn nhụi. Ông chủ NXB kêu trời : Vẽ như vầy là chết tôi rồi”, họa sĩ Lê Minh cười vang.

Ngoài tài vẽ tranh truyện chưởng, họa sĩ Lê Minh còn vẽ tranh tứ bình (truyện 4 cột kèm tranh minh họa, rất được ưa chuộng vào những năm 1950-1960 ở Sài Gòn) kể về những điển tích như Sự tích trầu cau, Bao Công kỳ án, Phạm Công Cúc Hoa, Lâm Sanh Xuân Nương… Ông cũng minh họa nhiều tiểu thuyết của bà Tùng Long, Nguyễn Ngọc Mẫn, Dương Hà…

“Từ số tiền dành dụm qua bao năm vẽ truyện tranh, đặc biệt là bìa truyện chưởng, tôi thành lập tờ báo Em, phát hành tại Sài Gòn những năm 1970. Báo bán chạy lắm, tôi sắm được chiếc xe hơi Simca. Thời đó vậy là bảnh lắm rồi”, ông khoe bằng giọng thật vui.

Ngồi trong ngôi nhà trên đường Lê Quang Định, Q.Gò Vấp của cha mẹ để lại, nay đến lượt ông và con cháu sinh sống, họa sĩ Lê Minh bùi ngùi. Cả đời ông gắn bó với nơi này. Ngôi nhà cất giữ kỷ niệm những ngày ông gò lưng ngồi vẽ báo, kiếm được đồng tiền đầu tiên về phụ giúp mẹ, lo cho gia đình. Con trai út – họa sĩ Lê Phong theo nghiệp bố khiến ông mãn nguyện. Lập gia đình từ năm 1957 nhưng đến giờ theo lời bà Lê Kim Hoa, một y tá trước đây thì : “Ổng chưa bao giờ phản bội vợ con qua ngần ấy năm chung sống. Tôi nghĩ mình là người vợ hạnh phúc”.

75 năm sống trên mảnh đất Sài Gòn, trải qua bao thăng trầm, biến cố, có nhọc nhằn và có cả niềm hân hoan, họa sĩ Lê Minh thổ lộ ông gắn bó nơi này như máu thịt. “Một mảnh đất mình đã chào đời, trải qua thời niên thiếu, rồi thành danh và bây giờ vui vầy với con cháu làm sao không mang cảm giác thân thương ? Tôi tự hào mình là người Sài Gòn lắm”.

Họa sĩ Lê Minh đã tổ chức triển lãm tranh lụa năm 1990 và tranh sơn dầu vào tháng 9.2008 với tên gọi Đất phương Nam tại Sài Gòn. Tranh ông khiến người xem xao lòng trước cảnh làng quê hiền hòa, bờ sông an bình, những con người chất phác. Đặc biệt tranh thiếu nữ đầy nét lãng du, bay bổng, mềm mại. Ông là một trong số ít họa sĩ vẽ tranh minh họa trên báo mang đậm hồn cốt của người Sài Gòn. (theo Đỗ Tuấn)

Bậc thầy vẽ truyện tranh

Đầu năm 1963, khi làn sóng “truyện chưởng” Kim Dung ồ ạt đổ vào miền Nam qua tờ Minh Báo (Hương Cảng), rất nhiều nhật báo Sài Gòn – Chợ Lớn khai thác dịch đăng lại dưới dạng feuilleton (nhiều kỳ) sau đó một số nhà xuất bản (NXB) in thành sách, thời điểm này cũng xuất hiện “tam đại cao thủ” mà tên tuổi gắn liền với tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, đó là dịch giả “Tiền Phong” Từ Khánh Phụng và “Thứ Lang” Hàn Giang Nhạn cùng họa sĩ (HS) Lê Minh.

HS Lê Minh tên thật là Lê Ngọc Minh, SN 1937 tại Sài Gòn, mê vẽ tranh từ bé và thần tượng HS Lê Trung – bậc thầy vẽ chân dung thiếu nữ. Ngay từ năm 17 tuổi, chàng trai Lê Minh đã được độc giả biết đến với nét vẽ ấn tượng sống động qua loạt truyện tranh Hoa Lư động chúa đăng trên nhật báo Dân Ta (do thi sĩ Nguyễn Vỹ làm chủ bút), đến khi học năm thứ hai Trường Mỹ nghệ Gia Định, chàng sinh viên Lê Minh đã được rất nhiều nhật báo, tạp chí, tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Ngày Mai (của Nguyễn Đức Khiết – Kim Châu), Đẹp (của Kim Lệ), Tiếng Dội (của Trần Tấn Quốc), Tiếng Chuông (của Đinh Văn Khai)… tranh nhau mời cộng tác trình bày, vẽ truyện tranh và minh họa.

HS Lê Minh chia sẻ : “Tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung ở NXB Đại Hưng do dịch giả “Tiền Phong” Từ Khánh Phụng dịch, ông này người Hoa nhưng phát âm giọng Bắc, dịch rất nhanh, câu văn gãy gọn xúc tích. Lúc đó tiền công vẽ một bìa đôi (hai mặt trước sau) 2.000 đồng. Bìa “truyện chưởng” phải vẽ sao cho độc giả nhìn vào là thấy gay cấn hấp dẫn, do đó HS cần tuân thủ một số điều kiện bắt buộc: phải có nhân vật nữ, tranh vẽ phải động, bố cục tựa truyện, tên tác giả và người dịch phải cân đối, màu sắc hài hòa không đơn điệu cũng tránh lòe loẹt !”. Lúc này ở Sài Gòn không hiếm HS vẽ bìa “truyện chưởng” như Đỗ Phi (NXB Trung Thành), Cảnh Thế (NXB Hương Hoa) nhưng nét sống động của nhân vật khó ai bì được với Lê Minh.

Hai kỷ niệm không quên qua 12 năm vẽ bìa “truyện chưởng” của HS Lê Minh. Một lần, đang vẽ gấp bìa Cô gái đồ long nhằm kịp mang ra nhà in “làm bảng kẽm” (cliché) thì đột ngột mất điện, phòng làm việc tối om, nóng bức, ngột ngạt, ông chủ NXB Đại Hưng tự tay thắp nến rồi cầm quạt phe phẩy liên tục cho HS Lê Minh thực hiện nốt hình trang bìa còn dang dở.

Một sáng nọ, ông chủ NXB Đại Hưng yêu cầu HS Lê Minh vẽ bìa Tiếu ngạo giang hồ cảnh một người bị treo cổ lơ lửng trên cành cây. Đọc sơ qua bản dịch của Hàn Giang Nhạn, HS Lê Minh chủ quan nghĩ kẻ bị treo cổ là nhân vật phản diện Điền Bá Quang vì thế đã vẽ một gã “râu ria lông ngực” mặt mũi dữ dằn hung tợn, mắt trợn trừng bị treo cổ tòng teng trên cây tùng. Hôm sau bìa truyện in ra, ông chủ NXB Đại Hưng ôm đầu “than trời” bởi Điền Bá Quang là nhân vật có vẻ ngoài trắng trẻo thư sinh, “mày râu nhẵn nhụi” chứ đâu có râu ria xồm xoàm dữ tợn như hình bìa của HS Lê Minh !

Ngoài minh họa bìa “truyện chưởng” Kim Dung, HS Lê Minh còn vẽ truyện tranh nhiều kỳ (mỗi kỳ vẽ 5 cột báo) Người lấy ma, Vợ chồn… của Bồ Tùng Linh trên nhật báo Thần Chung của chủ bút Nguyễn Kỳ Nam, vẽ tranh tứ bình các điển tích Trung Hoa và Việt Nam như Tấm Cám, Lâm Sanh Xuân Nương, Phạm Công Cúc Hoa, Trầu cau, Vườn đào kết nghĩa, Bao Công kỳ án, Bích câu kỳ ngộ… minh họa bìa và các truyện tranh Hoa Lư động chúa, Đêm biển lạnh lùng, Bên dòng sông Trẹm, Đứa con rơi, Tiếng suối Sau Leng, Hương rừng Cà Mau của nhà văn Dương Hà, Sơn Nam… Sau 1975, HS Lê Minh vẽ truyện tranh Tiết Nhơn Quý chinh đông, Kiếm khách đầu rồng (NXB Mỹ Thuật)…

Năm 1990, trong buổi khai mạc triển lãm tranh Đất phương Nam của HS Lê Minh tổ chức tại Hội Mỹ thuật thành phố, trước những tác phẩm thiếu nữ mang vẻ đẹp mượt mà lãng mạn thuần khiết Á Đông, nhà văn Sơn Nam đã cảm hứng thốt lên câu thơ của Hồ Dzếch : “Trời không nắng trời không mưa / Chỉ hiu hiu gió cho vừa nhớ nhung”. (theo Ngọc Thiện)

Lan Hương chuyển tiếp