NGỌC CHÁNH NGƯỜI NS SÀI GÒN XƯA (1)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

NGƯỜI ĐÍNH LÊN BẦU TRỜI

ÂM NHẠC SÀIGÒN

NHỮNG VÌ SAO LUNG LINH BẤT TỬ

– Trần Quốc Bảo

Khi gọi điều gì đó bất tử, có nghĩa điều đó có sự sống đời đời hoặc rất dài lâu. Những vì sao được gọi bất tử, chắc chắn đó là những tinh tú mà hào quang lung linh chẳng bao giờ tắt cho dẫu hàng trăm năm trôi qua.

Trong số báo viết về Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns kỳ này, số báo mừng Ông với sinh nhật thứ 80 (13/3/1937), người viết muốn cùng với người yêu nhạc nhìn lại một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ mà người nhạc sĩ này đã có công xây dựng và phát triển từ hơn nửa thế kỷ trước, và hôm nay, sau gần 50 năm nhìn lại, tên gọi Shotguns của ban nhạc và những sản phẩm nghệ thuật, hầu như những người yêu nhạc năm xưa ở miền Nam, khó có ai mà quên được.

Khởi đi là ban nhạc Shotguns, được thành lập từ năm 1968, và chấm dứt ngừng hẳn vào cuối tháng 12 năm 1998, có nghĩa, ban nhạc Shotguns đã trị vì trong vương quốc âm nhạc Việt – từ trong nước ra hải ngoại – tròn suốt 30 năm dài.

Viết về nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns là phải nhớ đến phòng trà Queen Bee (từ tháng 3 năm 1971 đến tháng 3 năm 1974) và sau đó là phòng trà International – Quốc Tế (từ tháng 3 năm 1974 đến 30/4/1975). Cả hai phòng trà với lối kiến trúc đẹp mắt ấm cúng và hấp dẫn nằm ngay giữa trung tâm Hòn Ngọc Viễn Đông. Ở đó, hàng đêm đã thu hút số đông rất lớn những khách yêu thích ca nhạc.

Nhà báo Lưu Khâm từng ca ngợi : “Người ta đến với vũ trường của nhạc sĩ Ngọc Chánh như tìm về một tổ ấm thân thương dưới ánh đèn màu, tiếng nhạc lời ca của những ca sĩ ưu hạng đương thời và đệ nhất ban nhạc Shotguns. Lắm người ghiền Queen Bee, mê Quốc Tế và sau này ra hải ngoại với Maxim (San Jose), Ritz (Quận Cam) cùng ban nhạc Shotguns như mê một nhân tình tài sắc, tâm vẹn toàn.

Trong khung cảnh lãng mạn, thơ mộng hài hòa giữa nhạc và ca, thời gian như lắng đọng lại để người ta tạm quên những nỗi nhọc nhằn cơ cực của đời sống. Ở đây, tâm tình được dàn trải, thương yêu được gắn bó, ước mơ được nối liền, những trái tim cùng thưởng thức một nhịp đập trên cung điệu tài hoa của Shotguns, lắng nghe và ngắm nhìn những tiếng hát hàng đầu, bồng bềnh sương khói có khả năng dìu người ta về những bến đời hạnh phúc”.

Và qua những lời của nhà báo Lưu Khâm vừa viết, chúng ta thấy ngay những Queen Bee, Quốc Tế trước 75 và sau này ở hải ngoại, vũ trường Maxim (1980-1983), rồi Ritz (1984-1998), nói chung là những vũ trường có bàn tay chỉ huy của nhạc sĩ Ngọc Chánh được ví như một tổ ấm và ban nhạc Shotguns là những cọng rơm đan kết âm thanh dịu dàng và nồng nàn nhất.

Chưa hết, điều đáng nói là những sản phẩm băng nhạc nghệ thuật của Shotguns được bắt đầu tung ra tại miền Nam từ tháng 9 năm 1969. Khách yêu nhạc trên mọi miền đất nước, nếu không thể đến vũ trường, vẫn có thể nghe được những giọng hát, lời ca, những nhạc khúc quen thuộc được thu âm và phát ra từ băng nhạc (cassette) mang danh hiệu Shotguns.

Mỗi sản phẩm là một đúc kết vẹn toàn về nghệ thuật lẫn kỹ thuật. Hàng trăm sản phẩm giá trị như vậy đã khiến Shotguns trở thành một trung tâm băng nhạc được yêu thích nhất, được vồn vã đáp ứng nhất. Báo chí Saigon ngày đó gọi những băng nhạc do Shotguns thực hiện là món ăn tinh thần dự phần quan trọng trong đời sống con người chứa đầy buồn vui hờn giận. Đó là một cô đọng đầy chất nghệ thuật như một ánh lửa bập bùng, rồi âm ỉ của những tâm hồn mặn nồng yêu thương của nhiều thế hệ.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn có công lao nhiều lắm, khi đã giới thiệu (trực tiếp hoặc gián tiếp) những giòng nhạc mới của Phượng Hoàng (Lê Hựu Hà – Nguyễn Trung Cang), Vĩnh Điện, Trần Quang Lộc, Đynh Trầm Ca, hoặc có công phổ biến những bài thơ của các thi sĩ Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, Linh Phương, Phạm Văn Bình, Người Áo Tím… được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc.

Và bây giờ xin mời bạn đọc bước vào câu chuyện về “Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns – người đã vẽ lên bầu trời âm nhạc Sàigòn những vì sao lung linh bất tử” do Trần Quốc Bảo thực hiện.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh, tên họ thật Nguyễn Ngọc Chánh, sanh ngày 13 tháng 3 năm 1937. Khi ông ra đời, gia đình đang sống tại khu vực Nhà thờ Chí Hòa (Ngã Ba Ông Tạ, quận Tân Bình). Gia đình Ông ở đây cho đến năm 1968 mới dời đi chỗ khác.

Ông có tất cả 10 anh chị em, nhưng tất cả đã mất từ khi còn nhỏ, chỉ còn lại nhạc sĩ Ngọc Chánh (thứ sáu) và cô em út (thứ mười một) tên Ngọc Lan (tên giấy tờ là Nguyễn Thị Trí). Người em gái này đã có giấy tờ đi Mỹ định cư vào giữa tháng 10 năm 1989 nhưng chẳng may lại đột ngột qua đời hai tuần trước. Cô mất vào ngày 25 tháng 9 năm 1989 để lại sự bàng hoàng hụt hẫng và đau đớn cho người con trai tên Long (cũng là tay trống của ban nhạc Shotguns lúc bấy giờ) và cho người anh ruột là Ngọc Chánh.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh mê nhạc và có năng khiếu từ thuở bé. Lúc lên 6 tuổi, Ông đã học ghi ta với một anh bạn lớn tên là Cổ Tấn Tịnh Châu, anh này có ngón đàn Flamenco tài giỏi (về sau mất năm 1967). Người nhạc sĩ tài danh vắn số này là em ruột của đại tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu (Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Rừng Sát) phu quân của ca sĩ Dạ Lý hiện sống tại Quận Cam (Cali).

Sau đó Ông học thêm với một nhạc sĩ người Phi là Benito.. nhờ vậy mà ngay từ lúc nhỏ, Ông đã có một số kiến thức khá vững vàng về nhạc lý để từ đó soạn riêng cho mình 2 cuốn sách chỉ dẫn Tự Học Đàn Guitar từ lúc ông mới 13, 14 tuổi (sẽ nói rõ phần sau).

Năm 1945, khi Ông vừa 8 tuổi, gia đình xin cho Ông vào trường dòng Lasan Đức Minh (Tân Định), một nơi nổi tiếng về kỷ luật với các frères khá nghiêm khắc. Trong số các frères, Ông luôn nhớ hình bóng hiền từ nhân ái của Frère Aimé Nguyễn Văn Đức, người đã dậy cho Ông nhiều điều tốt đẹp thuở cắp sách đến trường.

Người viết cũng một thời khoác áo Lasan, đầu tiên là Lasan Mossard, sau về Saigon năm 1975, có một năm học tại Lasan Taberd, đến khi trường bị giải thể, sang học 2 năm cuối tại Lasan Đức Minh. Khi sang bên Mỹ gặp nhạc sĩ Ngọc Chánh, ngoài tình cảm nghệ sĩ, còn là tình huynh đệ cùng trường. Khi người viết đứng ra tổ chức 4 chương trình Lasan Hội Ngộ : Nhớ Ơn Thầy bắt đầu từ kỳ 1 (1986), kỳ 2 (1988), kỳ 3 (1990) và kỳ 4 (1992), những lần tổ chức này, nhạc sĩ Ngọc Chánh đều tạo điều kiện cho mượn vũ trường Ritz làm nơi gây quỹ.

Năm 1948, lúc 11 tuổi, Ông rời Lasan Đức Minh chuyển sang trường Lê Văn Hai học 2 năm. Ở đây, anh dành thì giờ học Pháp văn và học Việt văn với giáo sư Ngọc Thứ Lang (cũng là một tiểu thuyết gia và là người dịch truyện Bố Già). Hai năm sau (1950), Ông được vào học tại Trường Kỹ Thuật Cao Thắng.

Trong khoảng thời gian học tại đây, Ông viết 2 cuốn sách Tự Học về guitar và đến năm 1953 (khoảng 16 tuổi), Ngọc Chánh bán bản quyền 2 cuốn sách này cho nhà xuất bản Mỹ Tín, chủ nhân chuyên làm đàn violon (Tiệm đàn Mỹ Tín có tên trong tự điển Pháp về tài chế tạo đàn violon và ông này cũng là một kịch sĩ, giáo sư Kịch Nghệ của trường Quốc Gia Âm Nhạc trước 75).

Nhờ tiền bản quyền 2 cuốn sách, nhạc sĩ Ngọc Chánh lấy được 24 ngàn, mua đàn piano hết 22 ngàn, còn dư 2 ngàn, Ông dùng làm tiền học phí để học piano, hòa âm và sáng tác với Thầy Dung ở đường Hiền Vương.

Năm 1957, ở tuổi tròn 20, nhạc sĩ Ngọc Chánh đến tuổi động viên. Trước ngày phải đi Thủ Đức, anh được nhận vào làm trong ban Công Dân Vụ. Ở tại nơi đây, anh gặp các nghệ sĩ Thanh Hoài, Thanh Việt, tài tử Kim Vui, kịch sĩ Cảnh (còn được bạn bè gọi thân mật là Cảnh Vịt, chủ nhân Phở Nguyễn Huệ ở Bolsa), Hoàng Long, Huyền Anh.. Làm ở Công Dân Vụ được 3 tháng, anh rời nơi này và bắt đầu ra ngoài tự tìm nơi chơi đàn để mưu sinh.

Những ngày tìm việc thuở đầu đời đó, là những năm tháng khó quên của chàng trai tròn 21 tuổi. Năm 1958, chàng thanh niên rất vui khi có những công việc đầu tiên dù chỉ là chơi đàn trong những quán bé nhỏ, như nhà hàng An Lạc (ở Xa Cảng Miền Tây), sau đó vài tháng, Ông tìm thêm được những chỗ mới khá hơn, như nhà hàng Melody, nhà hàng Tàu Lai Yun..

Ròng rã gần hai năm, năm 1960 – nhạc sĩ Ngọc Chánh được ông Hoành, một người gốc Hoa, chủ nhân thầu ca nhạc tại Hồ Tắm Cộng Hòa (cũng là chủ nhân vũ trường Văn Cảnh) mời về làm chef d’orchestre. Một hôm, có một nhạc sĩ tên Tư giới thiệu Ngọc Chánh một nữ ca sĩ trẻ quê quán ở Bình Long lên Saigon trước tiên, cô dự tính học nghề may, đồng thời cô cũng có một giọng hát lạ mong có dịp tham gia vào làng ca nhạc.

Người nữ ca sĩ với khuôn mặt đẹp và tiếng hát khá ngọt ngào ấy – chính là nữ danh ca Minh Hiếu sau này – đã chinh phục ngay mọi người, từ ông chef d’orchestre cho đến người chủ nhân Hồ Tắm Cộng Hòa – ngay từ phút đầu tiên cô cất lên tiếng hát những bản Kiếp Nghèo, Nỗi Lòng, Gợi Giấc Mơ Xưa. Sau khi được nhận, Minh Hiếu còn được nhạc sĩ Ngọc Chánh dậy thêm về nhạc lý và chẳng bao lâu, người nữ ca sĩ này được nhiều vũ trường và phòng trà khác mời cộng tác. Thời gian này, tại Hồ Tắm Cộng Hòa, có những ca sĩ thường xuyên góp mặt, như Thanh Lan (vợ Ông Cao Xuân Vỹ)..

Năm 1962, chủ nhân Hoành thay người kéo Ngọc Chánh về trình diễn tại vũ trường Văn Cảnh, lúc đó chef d’orchestre là nhạc sĩ Sáu Già. Chỉ một năm sau (1963), Ông được nhà hàng Mỹ Phụng mời về làm chef d’orchestre, trong ban nhạc bấy giờ có Hoàng Liêm guitar, Xuân Mỹ saxo, một người Hoa đánh trống..

Năm 1964, nhạc sĩ Ngọc Chánh được ông bà Long (thân sinh anh Nguyễn Thành Quốc – chủ vũ trường Majestic và Blue Club tại hải ngoại sau này) mời về làm chef d’orchestre, thành phần cũng thế, ngoại trừ không có tay guitar Hoàng Liêm vì anh này bị một tai nạn lớn năm 1963 phải nghỉ làm việc một thời gian).

Năm 1966, với tình hình tổng động viên, Ngọc Chánh tham gia vào Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Năm 1967, Ban Hoa Tình Thương do bà Tướng Cao Văn Viên thành lập, rút những nghệ sĩ có tài từ nhiều nơi khác về, chẳng hạn bên Công Binh có Khánh Băng, Phùng Trọng, Duy Khiêm, Nguyễn Ánh 9, bên Hải Thuyền có Elvis Phương, bên Địa Phương Quân có Hoàng Liêm, bên Biệt Đoàn Văn Nghệ có Ngọc Chánh, Pat Lâm, Đức Hiếu..

Ngày 31 tháng 1 năm 1968, tức mùng 2 Tết, MTDTGPMN tổng tấn công Sàigòn. Toàn bộ những chương trình ăn chơi giải trí ở các phòng trà, vũ trường đều bị đóng cửa đồng loạt. Giới nghệ sĩ lúc này thất nghiệp cả đám ngoại trừ một số hát được nhạc ngoại quốc thì còn có công việc làm tại các Club Mỹ.

Trong hoàn cảnh này, ca sĩ Pat Lâm được một người cha nuôi người Mỹ có chức quyền cao trong cơ sở USO đề nghị Anh và nhạc sĩ Ngọc Chánh quy tụ những nhạc sĩ có sẵn trong Ban Hoa Tình Thương lúc bấy giờ thành lập một ban nhạc để chơi hàng tuần (thứ bẩy tại U.S.O. Tân Sơn Nhất và mỗi Chủ Nhật tại U.S.O. 119 Nguyễn Huệ Saigon) cũng như chạy thêm show ở các Club Mỹ khác tại Biên Hòa, Long Bình, Vũng Tầu.. với số lương rất cao.

Theo một tài liệu, USO (viết tắt từ United Services Organizations, tổ chức phi lợi nhuận đưa các hoạt động giải trí tới phục vụ quân đội Mỹ đóng ở khắp nơi trên thế giới. Cơ sở là rạp hát – Nguyễn Huệ. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là cơ sở U.S.O.119. Nguyễn Huệ).

Trong lúc mọi người đang mất việc, thì lời đề nghị này của người cha nuôi Pat Lâm quả như những giọt nước quý trên sa mạc. Chỉ một tuần sau, ban nhạc được hình thành với Ngọc Chánh (piano), Duy Khiêm (bass), Đức Hiếu (trống), Hoàng Liêm (guitar) và 2 tiếng hát Pat Lâm, Elvis Phương.

Một thời gian ngắn, Pat Lâm tăng cường thêm Ngọc Mỹ – một giọng nữ chỉ mới 22 tuổi mà đã được coi là một giọng ca vững vàng nhất về nhạc ngoại quốc, nhất là về nhạc Jazz, một loại nhạc nếu không có một căn bản nhạc lý vững chắc thì khó mà trình bày được. Khi vừa chơi trong Club Mỹ một thời gian ngắn, tay trống Lưu Bình vào thế Đức Hiếu và có thêm sự hiện diện của Quốc Hùng chơi bass, Duy Khiêm đánh guitare accord.

Còn tên gọi Shotguns, không chỉ vì ban nhạc được thành hình sau cuộc chiến Tết Mậu Thân chỉ vài tuần – mà tên ban nhạc còn được bắt nguồn từ một bài nhạc chào có tên Shotgun rất ăn khách vào thời gian đó.

Theo như một tài liệu : “Shotgun” là tên một dĩa đơn do Junior Walker & All Stars phát hành năm 1965; sáng tác do Walker viết lời và nhạc, sản xuất bởi Berry Gordy Jr. và Lawrence Horn. Trong bốn tuần liên tiếp, dĩa “Shotgun” đứng đầu danh sách các dĩa nhạc R&B Singles ở Hoa Kỳ và đứng hàng thứ tư trên Billboard Hot 100 vào cuối tuần 3 tháng 4 năm 1965.

Nhạc sĩ guitar Jimi Hendrix từng trình diễn bản này trên sân khấu với ban All Stars. Ca sĩ Pat Lâm và nhạc sĩ Ngọc Chánh, hai linh hồn của ban nhạc, quyết định chọn tên Shotguns cho ban nhạc mới thành lập của mình.

Năm 1969, khi tình hình chiến tranh có vẻ đã lắng dịu, sinh hoạt ca nhạc về đêm trở lại bình thường, nhạc sĩ Ngọc Chánh có khuynh hướng muốn về đóng đô trình diễn hàng đêm tại Sàigòn.

Theo nhà báo Nguyễn Việt, trong giai đoạn này, “Ngọc Chánh cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero…

Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. Lý do trình diễn ở các Club Mỹ được nhiều tiền hơn trên các sân khấu Việt”.

Thời gian này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có lúc đã mời ban Shotguns về trình diễn Show mỗi đêm với thời lượng một tiếng đồng hồ. Khách tại Maxim rất yêu thích phong cách sống động của ban nhạc và lối trình diễn nóng bỏng của Ngọc Mỹ, Pat Lâm và Elvis Phương.

Cuối năm 1969, đầu 1970, khi Jo Marcel rời Queen Bee, Khánh Ly đã mướn lại và mời ban nhạc Shotguns về đóng đô mỗi đêm. Mỗi đêm, bên cạnh thành phần nhạc sĩ thường xuyên của Shotguns, khán giả đến Queen Bee còn nghe được tiếng đàn piano của Nguyễn Ánh 9 và tiếng trống Anh Thoại.

Tết 1971, Khánh Ly cùng Ngọc Minh và cô em gái Ngọc Anh đi trình diễn tại Mỹ. Lúc trở về, Khánh Ly rời Queen Bee và khai trương chỗ mới ở phòng trà Tự Do. Riêng tại Queen Bee, nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban Shotguns quyết định “thầu” lại và mời tiếng hát nữ danh ca Thanh Thúy tái xuất giang hồ sau 5 năm cô giải nghệ đi lấy chồng. Không biết vô tình hay hữu ý, đêm khai trương của hai vũ trường Tự Do và Queen Bee đều cùng một ngày, ngày 16 tháng 3 năm 1971.

Bên phòng trà Tự Do, để cho có nét lạ, đích thân Khánh Ly đến nhà Mai Hương mời cô cộng tác với hợp đồng ký 6 tháng. Tuy chỉ thích hát trên truyền hình, truyền thanh, nhưng vì quý mến Khánh Ly, cho nên Mai Hương đã nhận lời mời. Do đó, trên tờ quảng cáo, Khánh Ly đã ghi : “Và lần đầu tiên, giọng ca chị em với Thái Thanh, “nữ ca sĩ Mai Hương” chịu đi hát phòng trà.

Ngày cuối cùng mãn hợp đồng, đúng 6 tháng sau, ngày 16 tháng 9 năm 1971, trong buổi hát cuối cùng tại Tự Do, Mai Hương đã kêu gia đình đi xem rất đông, ai dè, đêm hôm đó, phòng trà Tự Do bị đặt chất nổ, một số người đã bị thương vong, trong đó có gia đình của ca sĩ Mai Hương, một vài người cháu đã bị thương khá nặng. (Còn 1 kỳ nữa)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H1: Phòng trà International Quốc Tế góc Công Lý, Lê Lợi

H2: Ban nhạc Shotguns thời kỳ thành lập năm 1968. Hàng đầu từ trái: Duy Khiêm (accord guitar), Đức Hiếu (trống), Quốc Hùng (bass), Ngọc Chánh (piano) và hàng cao nhất, từ trái: Pat Lâm, Ngọc Mỹ, Hoàng Liêm.

H3: Nhạc sĩ Ngọc Chánh tại vũ trường Ritz (Quận Cam) năm 1993. H4: Frère Aime Nguyễn Văn Đức, vị sư huynh khả kính đã dậy nhạc sĩ Ngọc Chánh lúc ông lên 8 tuổi. H5: Sân trường Lasan Đức Minh đầy kỷ niệm của nhạc sĩ Ngọc Chánh từ năm 8 tuổi đến 11 tuổi.

H6: Nhạc sĩ Ngọc Chánh thời trai trẻ đôi mươi. H7: Hồ Tắm Cộng Hòa,một trong những nơi đi đàn kiếm tiền của nhạc sĩ Ngọc Chánh thuở đầu đời những năm 1960-1962. H8: Ảnh trái: Nhạc sĩ Ngọc Chánh chụp năm 1964 (27 tuổi) thời gian anh được mời về làm chef d’orchestre vũ trường Eden Rock. H9: Trần Quốc Bảo thay mặt Ban Tổ Chức trao tặng trophy lưu niệm đến nhạc sĩ Ngọc Chánh.

H10: Ngọc Chánh cùng Ban Hoa Tình Thương ra Pleiku năm 1968 hát ủy lạo tinh thần chiến sĩ. Cả nhóm chụp cạnh xe tăng T54 của CS bị bắn hạ. Trong ảnh: NS Duy Khiêm (số 1), Elvis Phương (số 2), Đức Hiếu (số 3), ca sĩ Thu Anh – em gái NS Phượng Liên (số 4), nhạc sĩ Bảo Thu (số 5), NS Hoàng Liêm (số 6), NS Ngọc Chánh (số 7), Pat Lâm (số 8), saxo Nguyễn Hữu Thành (số 9), trống Phùng Trọng (số 10) H11: Các nghệ sĩ ra hát ủy lạo tinh thần chiến sĩ tại Pleiku. Trên cổ mỗi người còn đeo một huy chương. Ngọc Chánh (bìa trái), trong ảnh còn có có Pauline Ngọc, Á Hậu Ngọc Tuyết (đeo kiếng), Trần Văn Trạch, Khả Năng, Thanh Việt, Phương Hoài Tâm.

H12: Cơ sở U.S.O số 119 đường Nguyễn Huệ, nơi mà ban nhạc Shotguns trình diễn mỗi Chủ Nhật

H13: Ca Sĩ Pat Lâm và Duy Khiêm. H14: Ban Shotguns chơi hàng tuần mỗi chiều thứ bẩy tại U.S.O Tân Sơn Nhất. Từ trái : Elvis Phương, Ngọc Mỹ, Pat Lâm, Hoàng Liêm, phía sau là Lưu Bình (trống) và Ngọc Chánh (piano).

H15: Ban nhạc Shotguns trên sân khấu Maxim theo lời mời của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. H16: Quảng cáo của phòng trà Queen Bee – Khánh Ly với ban nhạc Shotguns Ngọc Chánh trên báo Kịch Ảnh số 398 phát hành ngày 25 tháng 4 năm 1970

H17: Ảnh chụp ban nhạc Shotguns trình diễn tại Queen Bee mùa Hè 1970. Trong ảnh có Long Thoại Nguyên (Saxo), Ngọc Chánh, Nguyễn Ánh 9, Như Khiêm, Khánh Ly, 1 anh, Elvis Phương, Hoàng Liêm, Anh Thoại. H18: Thanh Thúy, Hoàng Liêm, Đan Thọ và ban Shotguns tại phòng trà Queen Bee.

H19: Cuốn Băng Vàng Shotguns tung ra vào dịp kỷ niệm 1 năm thành lập (ngày 22 tháng 7 năm 1970) đã tạo chú ý cho người nghe khắp nơi từ ngày đó tìm kiếm đi mua những cuốn băng do Shotguns thực hiện mỗi khi phát hành. Và những bìa băng của Shotguns xưa.

NGỌC CHÁNH NGƯỜI NS SÀI GÒN XƯA (2)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

NGƯỜI ĐÍNH LÊN BẦU TRỜI

ÂM NHẠC SÀIGÒN

NHỮNG VÌ SAO LUNG LINH BẤT TỬ

– Trần Quốc Bảo (tiếp theo kỳ 1 và hết)

Còn bên phía phòng trà Queen Bee do Ngọc Chánh làm chủ thì đêm khai trương kết quả ra sao, nhất là khi Anh đã có công mời được giọng ca liêu trai Thanh Thúy tái xuất giang hồ. Mời bạn đọc bài viết của Ngọc Hoài Phương đăng trên tuần báo Hồng số 10 phát hành ngày 14 tháng 7 năm 1971 :

Thanh Thúy ăn khách như thuở nào

“Sau hơn 5 năm xa lánh ánh đèn màu sân khấu, khi tái xuất giang hồ, giọng hát liêu trai của Thanh Thúy vẫn còn ăn khách như thuở nào. Nàng vẫn được đón tiếp với trọn vẹn cảm tình của giới ái mộ dành cho một thần tượng. Và có lẽ ngay chính nàng cũng không thể ngờ được sau quyết định tiếp tục trở lại nghiệp cầm ca này, nàng lại được tiếp đón nồng hậu đến như vậy.

Nhắc đến Thanh Thúy thì bắt buộc phải nhớ lại thuở vàng son của nàng trong những năm 1963, 1964 đã qua. Tên tuổi nàng đã đạt tới tuyệt đỉnh danh vọng trong những năm đó. Và bây giờ, khi trở lại với đám đông trong khung cảnh Queen Bee này, tài nghệ của nàng còn có phần điêu luyện, vững vàng hơn xưa nữa là khác. Giọng ca khàn khàn, lê thê đó vẫn còn dư hấp lực để lôi cuốn người nghe. Và ngày nay nếu nàng vẫn còn được nhiều người ái mộ, thiết tưởng đó là chuyện dĩ nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên cả.

Nàng đã chọn Queen Bee cho lần tái xuất hiện này. Đêm 16/3 vừa qua, giới yêu nhạc ở thủ đô đã chen chúc nhau tới đây để được nghe lại giọng ca Thanh Thúy, được nhìn lại vóc dáng quen thuộc của nàng. Vẫn khuôn mặt đó, vóc dáng đó và giọng ca đó, người ta không tìm thấy một sự thay đổi nào ở người ca sĩ này.

Hình như, đối với Thanh Thúy, khoảng thời gian mấy năm qua chưa đủ để cho nàng có những thay đổi quan trọng, có chăng chỉ là tài nghệ của nàng vững vàng hơn mà thôi. Sự tái xuất hiện của Thanh Thúy được ghi nhận như một hiện tượng tốt trong sinh hoạt An Nam ta. Và kể từ buổi tối hôm đó, với sự góp mặt thường xuyên của Thanh Thúy, với dàn nhạc nổi tiếng Shotguns do Ngọc Chánh điều khiển cùng các nghệ sĩ tài danh khác, Queen Bee đã được giới yêu nhạc coi như một nơi giải trí ngon lành nhất, thích thú nhất.

Thường thường các phòng trà rất buồn tình đối với các trận mưa vào buổi tối, bởi vì sẽ vắng khách. Nhưng đối với Queen Bee, mưa hay nắng không phải là một vấn đề quan trọng. Điển hình là trong đêm 1/7, khi bộ biên tập báo Hồng mở cuộc hành quân tại Queen Bee, trời cũng mưa. Vậy mà những khách tới trễ cũng khó khăn trong việc tìm chỗ ngồi. Đây là một điểm son của phòng trà này.

Trở lại với người ca sĩ mang tên Thanh Thúy, điều mà rất nhiều người đã công nhận rằng, mặc dầu đã từng là một giọng ca bậc nhất, đã từng chiếm được ngôi vị cao nhất trong những năm trước đây, và cho tới nay nàng vẫn được đón tiếp nồng hậu như xưa, nhưng không phải vì thế mà Thanh Thúy có bộ mặt kên kên khó chịu như một số nghệ sĩ khác.

Nàng nói năng thật nhỏ nhẹ dễ thương và lúc nào cũng cởi mở với những người đã quen hoặc chỉ mới biết sơ sơ. Với tính tình hòa nhã như vậy, với tên tuổi và tài năng sẵn có, chúng tôi tin tưởng rằng Thanh Thúy sẽ còn gặt hát thêm nhiều thành quả trên bước đường ca hát mà nàng còn nặng nợ, không thể dứt bỏ được”.

Trụ ở Queen Bee được hơn 3 năm, Ngọc Chánh dời phòng trà về ngay trên lầu Bộ Tư Lịnh Khai Sáng 91 ter Công Lý cho dễ sinh hoạt. Ban ngày bán băng nhạc, buổi chiều chuẩn bị vặn máy lên đèn và một ngày đẹp trời của tháng 5 năm 1974, phòng trà Quốc Tế do Ngọc Chánh, Thanh Thúy làm chủ được khai trương thật rầm rộ.

Nhìn lại thật công tâm một chặng đường dài 5 năm của Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns, từ Queen Bee cho đến Quốc Tế, ở đây đã là nơi quy tụ những nhạc sĩ tài danh hàng đầu của Saigon như :

– Nhạc sĩ dương cầm Lê Văn Thiện: người đã hòa âm hàng ngàn nhạc khúc và được hàng trăm ca sĩ ưu hạng trình bày.

– Nhạc sĩ Hoàng Liêm: người solo guitar được khách ái mộ phong tặng đệ nhất Đế Vương Tây Ban Cầm độc tấu.

– Đức Phú, Lưu Bình, Hoàng Hải, Mạnh Tuấn: những tiếng trống cừ khôi đã tạo nên những vũ bão âm thanh với đôi dùi huyền nhiệm.

– Saxo Trần Vĩnh, Xuân Tiên: Hai tiếng kèn như hai ngọn núi cao nhất, hú gió gọi mưa về làm mát lòng người.

– Bass guitar Duy Khiêm: người nhạc sĩ được các ca sĩ ưu ái cho là hạt ngọc quý trong xâu chuỗi kim cương của dòng nhạc.

– Đan Thọ: nhà vĩ cầm với chiếc áo vàng trong cuộc đua violin cho tới nay chưa có người thay thế.

– Nhạc sĩ Cao Phi Long: ngôi sao sáng chói trên vòm trời trompet Việt Nam.

Đồng thời cũng tại hai phòng trà này, nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns đã là nơi trình diễn lý tưởng cho những giọng ca nổi tiếng đương thời như Thái Thanh, Thanh Thúy, Elvis Phương, Khánh Ly, Lệ Thu, Mỹ Thể, Trúc Mai.. và là những bệ phóng tuyệt vời của những giọng ca trẻ ngời sáng như Thanh Lan, Dạ Hương, Thái Châu, Diễm Chi, Trọng Nghĩa, Nguyễn Chánh Tín..

Riêng trong lãnh vực thực hiện băng nhạc, mặc dù ra đời sau những hãng băng Jo Marcel, Tú Quỳnh, cộng thêm một bất lợi, là tác phẩm Shotguns đầu tay phát hành ngày 22 tháng 7 năm 1969 được thực hiện ở phòng thu Bùi Hữu Nghĩa trong Chợ Lớn (chuyên viên thu thanh tên Hồng), Ngọc Chánh tin rằng anh sẽ thành công bởi có trong tay ca sĩ Hùng Cường hát 5 ca khúc đang nổi ồn ào, đó là Một Trăm Phần Trăm, Ông Lái Đò, Chiều Hoang Vắng, Kim, Đêm Trao Kỷ Niệm.. bên cạnh đó cuốn băng còn có những giọng ca ăn khách thời đó như Thanh Tuyền, Duy Khánh, Ban Sao Băng, Mai Lệ Huyền, Lệ Thu, Giao Linh, Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm.. nhưng chẳng hiểu sao, cuốn băng không gây được tiếng vang như Ngọc Chánh mong muốn.

Nhà báo Nguyễn Việt đã nhắc lại câu chuyện này như sau : “Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v…

Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần.

Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương… đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.

Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, tờ nhật báo Trắng Đen bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ”.

Thừa thắng xông lên, Ngọc Chánh tung thêm nhiều nhãn hiệu khácngoài Shotguns, Thanh Thúy, và tùy theo giòng nhạc, nếu là nhạc trẻ, Anh xếp vào tủ băng có tên Nhạc Trẻ, những cuốn đầu tiên do Kỳ Phát chăm sóc, chọn bài, ca sĩ chủ lực trong những cuốn băng này là Elvis Phương, Thanh Lan, Minh Phúc & Minh Xuân, Bích Loan và CBC, Julie Quang, Cathy Huệ, Thúy Hà Tú, Vy Vân, Thái Hiền, Duy Quang và ban Dreamers, Tuấn Dũng, Cao Giảng, Trung Hành (Mây Trắng), Paolo Tuấn, Tuấn Ngọc, Thanh Mai, Ái Ly.. và đôi khi mời những special guest như Ngọc Mỹ, Tuấn Ngọc, Carol Kim, Jennie Mai, Trọng Nghĩa..

Bên cạnh tủ băng Nhạc Trẻ, tủ băng Chế Linh, tủ băng cải lương với nhãn hiệu Hồn Nước (do soạn giả Viễn Châu phụ trách). Cũng nói thêm tại đây, cách đây khá lâu, cô Sáu Liên chủ hãng dĩa Việt Nam có tìm cách liên lạc với nhạc sĩ Ngọc Chánh để xin phép sử dụng lại những cuốn băng cải lương mang nhãn hiệu Hồn Nước mà Ngọc Chánh đã thực hiện trước 75.

Sau khi suy nghĩ, Ông đồng ý cho cô Sáu Liên sử dụng những sản phẩm Hồn Nước với điều kiện Bà trao số tiền 1000 dollars (xem như tiền sử dụng) đến tay nhạc sĩ Viễn Châu và một số tiền cũng như thế đến Hội Ái Hữu Tương Tế Nghệ Sĩ (lúc đó do nghệ sĩ Phùng Há chăm sóc). Người viết không rõ câu chuyện kết cuộc về đâu nhưng tấm lòng cao quý âm thầm của nhạc sĩ Ngọc Chánh vô cùng đáng quý.

Điều tiếc nuối của Ngọc Chánh là năm 1974, Ông dự tính một kế hoặc lăng xê những giọng hát trẻ có nhiều triển vọng như Hương Lan, Hải Lý, Nguyễn Chánh Tín,.. nhưng chưa kịp lăng xê thì bởi chiến cuộc lan rộng khắp miền Nam nên mọi kế hoạch đành hủy bỏ.

Biến cuộc 30/4 trờ đến. Cuối năm 1975, để được yên thân, anh nhận lời cộng tác với đoàn kịch Kim Cương vào cuối tháng 12. Những thành viên trong ban nhạc hầu hết là những nhạc sĩ cũ của ban Shotguns như : Ngọc Chánh, Lê Văn Thiên, Đan Thọ, Cao Phi Long, Duy Khiêm, Long Thoại Nguyên, Đức Hiếu, Xuân Tiên.. có thêm Văn Hạnh, Lê Tấn Quốc (chồng Họa Mi), Đặng Văn Hiền..

Những buổi diễn đầu tiên tại Rạp Kinh Thành vé bán hết sạch trong chớp nhoáng bởi những cái tên nạm vàng của miền Nam ngày trước: Lệ Thu, Thanh Tuyền, Thái Châu, Hà Thanh, Thanh Phong, Phương Đại, Họa Mi cùng với một ban nhạc toàn những tên tuổi lẫy lừng.

Ẩn nhẫn chờ thời khoảng 3 năm, Ngọc Chánh cùng gia đình vượt biển đến đảo Pulau Tengah của Mã Lai vào đúng ngày 4 tháng 10 năm 1978. Ngày 1 tháng 4 năm 1979, gia đình Anh đến Mỹ do nhà thờ bảo lãnh. Ở San Pedro 1 tháng, cả nhà dời lên thành phố Van Nuys cư ngụ khoảng 6 tháng. Tháng 10 năm 1979, trong một dịp tình cờ Anh gặp lại Đinh Thành Châu – một thân hữu giờ làm chủ một nhà hàng tại San Jose muốn giao cho Ngọc Chánh làm vũ trường với tiền cho mướn chỉ 2200$ một tháng.

Đêm khai trương của nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban Shotguns cùng những tiếng hát Kim Anh (Mùa Thu Lá Bay), Huy Sinh, Hải Lý, Ánh Lệ vào cuối tháng 12 năm 1979 đã thu hút giới mê nhạc năm xưa ở Saigon. Những năm 1980-1981 dù bận nhưng Ông vẫn dành thì giờ đi học chụp ảnh nghệ thuật với nhà nhiếp ảnh Trần Cao Lĩnh.. và nhờ vậy, Ông đã có một số kiến thức về nhiếp ảnh để những năm sau này, khi từ giã thế giới phòng trà, Ông đã lao vào thú vui chụp hình như một đam mê cháy bỏng cuối đời.

Năm 1983, đang sinh hoạt nhộn nhịp, vũ trường Ông bị cháy. Đang dự tính tìm một nơi khác để mở lại thì bỗng một dịp xuống thăm Quận Cam, ông gặp được nhạc sĩ Vô Thường, lúc đó đang cùng Lê Đức Long (chủ một cây xăng) làm chủ một vũ trường và đang muốn sang lại. Chỉ nửa ngày sau, Ngọc Chánh đồng ý chồng tiền.

Từ một diện tích nhỏ khi sang lại năm 1984, đến cuối tháng 12 năm 1989, chỉ 5 năm sau, vũ trường Ritz đã khuếch trương gấp 5. Lúc Trần Quốc Bảo tổ chức đêm ra mắt tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ ngày 8 tháng 12 năm 1989, thì trong vũ trường còn đang xây dựng một bên góc khá ngổn ngang.

Năm 1986, Ông cùng các con mở một nhà in thật lớn, có tên Perfect Printing, được sự yểm trợ của nhiều anh chị em nghệ sĩ và thân hữu xa gần.

Sau 19 năm làm chủ vũ trường, con cái Ông Bà giờ đây học hành cũng đã thành đạt, Ông quyết định giải nghệ và sang lại vũ trường này cho ông Phương. Đêm đầu tiên, đúng vào lễ Noel 1998, người viết và nhiều ca nhạc sĩ (cũng như khách hàng quen) bước chân vào vũ trường mới biết được giờ đây chủ nhân Ritz đã là người mới.

Sau ngày đó, nhạc sĩ Ngọc Chánh cùng vợ dành thì giờ đi du lịch rong chơi nhiều quốc gia. Thì giờ còn lại, Ông chơi tennis, rồi đánh golf, cũng như chuyên tập bộ môn Hồng Gia để giúp cho cơ thể có thêm sức khỏe.

Cách đây 10 năm, năm 2007, Ông bắt đầu đi vào chuyên môn nhiếp ảnh, và nhiều lần ghi danh dự thi, Ông cũng nhiều lần đoạt được những giải thưởng hạng đầu. Tuy nhiên với Ông, niềm vui duy nhất trong thú đam mê này, đó là làm sao tạo được những tác phẩm nghệ thuật mà mình và nhiều người nhìn vào sẽ yêu thích. Cũng như ngày xưa, biết bao giờ quên ăn, đêm không ngủ, để cố đi tìm những phương cách mới lạ cho bảng hiệu Shotguns.

Kết thúc bài viết này, người viết xin trích một bài thơ ngắn mà ngày xưa thi sĩ Hoàng Trúc Ly từng viết về Shotguns : Em là người yêu có sắc / Em là người thương có tài / Em là tình nhân có tâm / Ta si mê nên trở thành nô lệ / Suốt đời ta không hối hận một lần. Kính chúc nhạc sĩ Ngọc Chánh, một sinh nhật thứ 80, mãi mãi tươi trẻ, mãi mãi nồng nàn, để cho thần Thời Gian phải cúi đầu khuất phục. (trích bài Trần Quốc Bảo trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 109 phát hành ngày 10 tháng 3 năm 2017)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H20: Tờ quảng cáo một băng nhạc Shotguns về Noel ra cuối tháng 12 năm 1969. H21: Tờ quảng cáo show nhạc quy tụ những thành viên Shotguns cũ và những giọng hát vàng nổi tiếng của Saigon trước 75.

H22: Thời gian vũ trường bị cháy, ban nhạc Shotguns vẫn trình diễn những Show lớn vào những dịp Lễ trong năm. H23: Một buổi họp mặt của gia đình Shotguns tại Đường Sơn Quán vào dịp Tết 1975. Từ trái: nhạc sĩ Ngọc Chánh, Anh Ôn Văn Tài, một Cựu Đại Tá (chủ nhân Đường Sơn Quán), nhạc sĩ Mạnh Tuấn, AC Luật sư Lai (Ban Giám Đốc phòng.

NHÂN SINH NHẬT TUỔI 80 (13/3/1937-2017)

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

và ban nhạc Shotguns trong ký ức văn nghệ sĩ một thời

– CA SĨ THANH THÚY : Thanh Thúy đã biết anh Ngọc Chánh từ những năm 1960-1961, khi ấy anh chơi nhạc tại Hồ Tắm Cộng Hòa. Khoảng năm 1964, Thanh Thúy đi lấy chồng quyết định giải nghệ. Đến khoảng 5 năm sau, có một lần anh tìm gặp và mời Thanh Thúy trở lại, đầu tiên là thu băng, sau đó về cộng tác phòng trà Queen Bee nhân dịp anh sẽ khai trương vào tháng 3 năm 1971.

Ngày đó giữa Thúy và gia đình anh chị Ngọc Chánh gần gũi và thân thiết như gia đình. Dù bận cách mấy, mỗi sáng hết đi hát ở đại nhạc hội, Nha Xổ Số, thu Tivi hoặc thâu băng, đến chiều về là đã chuẩn bị son phấn quần áo để vào vũ trường. Anh em gặp nhau mỗi ngày, chưa kể là có những buổi tập dợt ban nhạc, ăn uống họp mặt gia đình, nên tình thân có thể nói là thâm sâu lắm.

Năm 1974, khi dời phòng trà Queen Bee sang Quốc Tế, mấy anh em cũng làm chung với nhau. Thuở ấy, thành thật mà nói, Thanh Thúy không hề biết nghĩ đến chuyện tiền bạc, chỉ lo công việc hàng đầu là mặt nghệ thuật, chọn lựa bài hát.. mong sao khi thực hiện những tác phẩm băng nhạc Thanh Thúy (có anh Ngọc Chánh góp công phần lớn trong đó), sẽ luôn được khán giả hài lòng về chất lượng cũng như bài bản.

Thấm thoát mà nay cũng đã hơn 46 năm dài kể từ khi cộng tác với anh và ban nhạc Shotguns. Được biết Trần Quốc Bảo và tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ thực hiện một số chủ đề về ban nhạc Shotguns và mừng anh sinh nhật thứ 80, Thanh Thúy kính chúc Anh sức khỏe tràn đầy để còn có thể đi khắp nơi chụp ảnh nghệ thuật như anh yêu thích, cũng như luôn cầu mong gia đình Anh chị và các cháu bình an và luôn gặp nhiều may mắn.

– NHẠC SĨ DUY KHIÊM (tay bass của Shotguns) :  Anh Chánh, Trần Quốc Bảo có nhờ Khiêm viết vài dòng những kỷ niệm về anh cho một bài báo sắp phát hành. Vài dòng làm sao nói hết những kỷ niệm, những hồi ức suốt mấy chục năm từ lúc có cơ hội gặp nhau và chơi nhạc thuở ban Shotgun thành lập năm 1968.

Những kỷ niệm đáng nhớ lúc thiếu thời đôi khi nó không là gì lớn lao nhưng là những dấu ấn hằn sâu trong suốt cuộc đời nhau. Có gì đâu anh Chánh, chiếc Vespa của anh không có cần đạp máy, bị gẫy hay là mất gì đó, điều đó không quan trọng, chỉ có là khi muốn chạy, anh lên ngồi sang số rồi một người đẩy, sau đó cười ngặt nghẽo, anh em mình là những nhạc sĩ nghèo mà vui quá phải không anh.

Anh và Khiêm là hàng xóm bao nhiêu năm mà không biết nhau. Ở xóm ông Tạ, Khiêm ở đầu hẻm, anh ở xóm trong. Sau khi lập ban, vô tình hỏi nhau mới biết, “Ủa, vậy hả !” thật đơn giản mà dễ thương làm sao. Anh có nhớ anh em mình gọi Pat Lâm là gì không ? “Ông thầy Tàu”. Vậy đó, Pat Lâm vẫn vui với tên gọi đó. Sau 75, trong một chuyến vượt biên, tàu Pat Lâm bị bắn chìm, xác trôi vào bờ với đứa con trong tay, nhiều người chứng kiến nói lại, nhưng anh em mình không biết an táng nơi nào.

Bao nhiêu năm trôi giạt nơi xứ người, mỗi người một nơi, kẻ còn người mất, tuổi ngày càng cao, những kỷ niệm một thời của ban shotgun, của anh Chánh, của Khiêm, của những anh em còn lại là một hoài niệm đẹp trong cuộc đời nhạc sĩ.

Vài dòng nhưng cũng đã dài, nhân có bài viết về ngày Sinh Nhật anh. Duy Khiêm Chúc anh Sinh Nhật thật vui, sức khỏe dồi dào và mong lại có dịp gặp nhau để nhắc lại một thời huy hoàng đã rất xa…

– CA SĨ PAULINE NGỌC : Nhạc sĩ Ngọc Chánh là một ông anh giỏi, rất giỏi và sáng tạo. Rất nhiều ý kiến mới trong lãnh vực Văn Nghệ và gan dạ cùng mình. Từ đi làm công trong ban nhạc để trở thành chủ phòng trà và tinh mắt lúc nào cũng theo kịp thị hiếu cũng như sự yêu thích của khán thính giả.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh từ làm băng Shotgun đến Nhạc trẻ đều thành công độc đáo. Lúc nào cũng đi tiên phong, không ngán thua cuộc hay lỗ vốn. Anh Ngọc Chánh đã đem Pauline Ngọc từ Club Mỹ Long Bình về hát phòng trà Queen Bee, cũng như thế với anh Elvis Phương.

Thời đó anh Đức Huy đóng đô ở phòng trà Mỹ Phụng bến Bạch Đằng, còn Duy Quang, Julie Quang – ban Dreamers ở Club Hai bà Trưng, Mây Trắng ở Key Hole, nhưng Queen Bees thì hỗn hợp Nhạc trẻ và giòng nhạc tình với nữ Hoàng sầu muộn Thanh Thúy rất tuyệt vời!

Nghệ sĩ về hát ở phòng trà Queen Bee của anh Ngọc Chánh và chị Thanh Thúy thì sướng lắm. Ba tháng đầu Pauline Ngọc được ký contrat hát độc quyền, khỏi chạy vòng vòng hát chỗ khác, và được chú Ngọc Hoài Phương cùng những ký giả khác thay phiên viết bài lancer mình qua sự hướng dẫn của anh Ngọc Chánh. Chị bắt đầu sự nghiệp là từ đó nên yêu quý anh Ngọc Chánh suốt đời. Cầu Chúa thương cho anh ấy sức khỏe và bình an để xách máy đi vòng Thế giới chụp ảnh dài dài !

– CA SĨ ANH KHOA : – Hỏi : Khi mới vào nghiệp ca hát, những ca khúc nào có thể coi là “tủ” của anh ? Những bản nào khiến khán thính giả, nếu nghe lại, vẫn nhớ đến ca sĩ Anh Khoa ? Và, nhạc sĩ nào đã có ảnh hưởng lớn đến anh?

– Anh Khoa : Phải nói đến những “Bài không tên” của Vũ Thành An. Nhưng bài đã đưa tôi lên tên tuổi sáng chói nhất, chỉ có một bài thôi, là “Bao giờ biết tưong tư” (nhạc Phạm Duy, lời Ngọc Chánh). Sau này, có nhiều người ca bài đó, nhưng thật sự đa số khán giả vẫn đánh giá tôi hát bài đó là đạt nhất.

– NHÀ BÁO NGUYỄN VIỆT :  Năm 1969, Ngọc Chánh thành lập Trung tâm băng nhạc Shotguns, thu âm ở một phòng thu trên đường Bùi Hữu Nghĩa. Vì cộng tác chặt chẽ với nhạc sĩ Phạm Duy nên Ngọc Chánh đã nhờ Phạm Duy đặt lời cho bản nhạc “Bao giờ biết tương tư” (năm 1972) ông đã viết cho phim “Điệu ru nước mắt” dựa theo tác phẩm của nhà văn Duyên Anh. Ca sĩ Anh Khoa đã hát rất thành công bản nhạc này đúng ý ông nhất.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn viết bản nhạc “Vết thù trên lưng ngựa hoang” cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Lúc đầu, ông định nhờ nhà văn Duyên Anh viết lời, nhưng sau đó đã để cho Phạm Duy viết lời. Duyên văn nghệ giữa Ngọc Chánh và nhạc sĩ Phạm Duy còn mang lại cho nền tân nhạc Việt Nam một bài hát nữa là “Tuổi biết buồn” cũng do Phạm Duy đặt lời.

Ca khúc “Bao giờ biết tương tư” trong phim “Điệu ru nước mắt” là lời tâm tình của một chàng trai biết thế nào là nỗi sầu tương tư khi tình yêu đến. Mãi đến khi đã thật sự yêu nàng, chàng mới biết thế nào là nỗi nhớ da diết mà người ta thường gọi là nỗi tương tư của một người phải xa cách người yêu để từng ngày qua là một ngày mong chờ được nhìn thấy bóng dáng của nàng. (theo Trần Quốc Bảo – Thế Giới Nghệ Sĩ)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Chú thích ảnh :

H1: Lễ phát giải Kim Khánh 1973 do nhật báo Trắng Đen tổ chức. Từ trái sang phải: Bạch Tuyết, bầu Xuân (Dạ Lý Hương), Mai Lệ Huyền, Trần Quang, Thẩm Thúy Hằng, Elvis Phương, Thanh Thúy, Ngọc Chánh

H2: Ban nhạc Shotguns từ Saigon lên Đà Lạt dự đám cưới Duy Khiêm ngày 3 tháng 12 năm 1969. Từ trái sang phải : Pát Lâm, Ngọc Chánh, Elvis Phương, Ngọc Mỹ, Quốc Hùng, Hoàng Liêm, Duy Khiêm. H3: Anh chị Bảo Hà, Duy Khiêm.

H4: Một bức ảnh quý chụp tại Đà Lạt tháng 12 năm 1969. Phía sau là vũ trường Tulipe Rouge, nơi mà Khánh Ly đã hát trước khi về Saigon năm 1965-1966. Từ trái sang phải : Elvis Phương, Ngọc Chánh, vợ chồng Pat Lâm, Ngọc Mỹ, Duy Khiêm, Quốc Hùng và Hoàng Liêm. H5: Nhạc sĩ Ngọc Chánh và Phạm Duy từ những ngày trong nước đến khi ra hải ngoại luôn sát cánh hoạt động bên nhau.

H6: Buổi họp mặt Pauline Ngọc sang Cali lần đầu ngày 26 tháng 4 năm 2010. Từ trái: Ngọc Chánh, Trung Nghĩa, Pauline Ngọc, Lưu Thế Vũ, Anh Thời Billars, Trần Quốc Bảo.. H7: Bài hát Bao Giờ Biết Tương Tư (sáng tác của Phạm Duy – Ngọc Chánh) đã đưa tên tuổi Anh Khoa đến gần người yêu nhạc tại Saigon những năm 1971-1972

MỪNG NS NGỌC CHÁNH TUỔI 80

Chúc mừng nhạc sĩ Ngọc Chánh

SINH NHẬT TUỔI 80

(13/3/1937 – 13/3-2017)

Mời các bạn đọc lại bài viết :

BAN NHẠC SHOTGUNS

VÀ NGƯỜI NHẠC SĨ ĐA TÀI

– Bài : NGUYỄN VIỆT

Tôi biết nhạc sĩ Ngọc Chánh từ ngày anh còn làm ở phòng trà khiêu vũ trường Queen Bee trên lầu của thương xá Eden, lúc đó đang do nữ ca sĩ Khánh Ly khai thác. Bấy giờ Ngọc Chánh đang chơi piano và organ trong một ban nhạc chưa được đặt thành tên, và cũng chưa được nổi tiếng lắm trong các hoạt động âm nhạc ở miền Nam bấy giờ.

Nhưng rồi một ngày, khi Khánh Ly ra mở phòng trà riêng trên đường Tự Do (bây giờ là Đồng Khởi), ông Tuất chủ nhân phòng trá Queen Bee giao lại cho nữ ca sĩ Thanh Thúy quản lý. Từ đó một ban nhạc mới được thành hình, một ban nhạc mang âm thanh của loại súng liên thanh ra đời, tức ban nhạc Shotguns, do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm Chef d’orchest hợp cùng các nhạc sĩ Hoàng Liêm (guitar), Hùng (bass), Ngọc Chánh (piano, organ), Lưu Bình (trống) và các ca sĩ chủ lực gồm Thanh Thúy, Elvis Phương, Pat Lâm và Ngọc Mỹ. Sau này có thêm các nhạc sĩ Cao Phi Long, Đan Thọ, Lê Văn Thiện, ca sĩ có thêm những Thanh Lan, Xuân Sơn, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín, cùng chen vai sát cánh bên nhau, hoạt động từ băng nhạc, ca vũ trường đến các show diễn tại các Club Mỹ, trên các sân khấu đại nhạc hội hay đài phát thanh, truyền hình.

MỘT NHẠC SĨ CÓ TÀI KINH DOANH

Thời gian còn cộng tác tại phòng trà Queen Bee, ban nhạc của nhạc sĩ Ngọc Chánh còn phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương và các Club Mỹ, với phong cách trình diễn loại nhạc kích động như ban nhạc của Khánh Băng – Phùng Trọng. Bởi ca sĩ chủ lực của ban Shotguns là Pat Lâm và Ngọc Mỹ, vào thời đó chưa ai hát nhạc ngoại quốc qua mặt được (năm 1971, khi Ngọc Mỹ đi Mỹ trình diễn và cô đã ở lại Mỹ hát cho một ban nhạc nổi tiếng từ đó).

Cuối những năm 1960, nhạc sĩ Ngọc Chánh sau khi thành hình ban nhạc Shotguns, anh đã cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero… Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. Lý do trình diển ở các Club Mỹ được nhiều tiền hơn trên các sân khấu Việt.

Sau khi chọn được hướng đi mới, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đứng ra thành lập cơ sở Nguồn Sống, chuyên sản xuất băng nhạc nhằm tạo đất sống mới cho các ca nhạc sĩ trong ban nhạc; đồng thời cùng nữ ca sĩ Thanh Thúy lập phòng trà khiêu vũ trường mang tên International Quốc Tế nằm ở mũi tàu Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực, Công Lý (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), và mở cả kiosque mang tên Khai Sáng nằm dưới tầng trệt của phòng trà, làm nơi tổng phát hành băng nhạc do anh sản xuất.

Nói về sản xuất băng nhạc, nhớ lại lúc khởi đầu khai sinh ra nhãn hiệu băng Shotguns, mấy cuốn đầu tiên không nói là thất bại nhưng thật sự chưa gây được ấn tượng trên thị trường, mặc dù có những nhà văn tên tuổi như nhà văn Nguyễn Đình Toàn, ký giả Quỳnh Như viết lời giới thiệu một cách rộng rãi ra công chúng. Chính nhạc sĩ Ngọc Chánh cũng biết là thất bại, không thành công, là vì có những bài hát nằm đan xen trong chủ đề, tuy hợp với giới thưởng thức này nhưng lại là “khắc tinh” với giới khác. Bởi người nghe nhạc đã phân từng loại ca sĩ lẫn từng loại nhạc phẩm.

Như tầng lớp SVHS thì thích những giọng ca của Thanh Lan, Khánh Ly, Lệ Thu, Xuân Sơn, Anh Khoa, Jo Marcel, Sĩ Phú, Elvis Phương, Tuấn Ngọc… Đại đa số công chúng thích nghe Thanh Thúy, Minh Hiếu, Phương Dung, Thanh Tuyền, Túy Hồng, Nhật Trường, Thái Châu… qua những nhạc phẩm mang tính văn hóa và nghệ thuật . Còn lại các ca sĩ như Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường, Mai Lệ Huyền, Phương Hồng Quế, Sơn Ca, Giang Tử, Trang Thanh Lan, Trang Mỹ Dung, Thiên Trang… thích hợp cho những nhạc phẩm thị hiếu, được soạn theo kiểu mà người đời thường gọi là “nhạc sến”, như các nhạc phẩm : Một trăm phần trăm, Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em, Đồi thông hai mộ, Rước tình về với quê hương v.v…

Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng  có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v… Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần.

Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương…  đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.

Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, tờ nhật báo Trắng Đen bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ.

Nói về kỹ thuật thu âm, thông thường với băng nhựa 8 ly thường được sử dụng từ cuối thập niên 1960, người làm băng nhạc cũng ghi âm trên master tape loại băng 8 ly với âm thanh stereo gồm 4 track. Còn Ngọc Chánh ghi âm bằng master tape 16 ly với âm thanh hifi 6 track, tức có 6 đường rảnh độc lập, mỗi rảnh ghi âm một thứ âm thanh riêng biệt, có thể mix chồng lên nhau. Từ master tape này khi chuyển sang ra băng 8 ly sẽ có chất lượng âm thanh hoàn hảo chuẩn xác hơn. Đồng thời trong cuốn “Băng Vàng Shotguns” về phần hòa âm các nhạc phẩm đều do nhạc sĩ Lê Văn Thiện biên soạn, mới lạ hơn những bản hòa âm mà các băng nhạc khác chỉ soạn theo kiểu “mì ăn liền”. Bởi khi mix, trong đó với âm thanh 4 chiều chuyển động (hifi), người ta có thể phân tích được các loại nhạc khí. Hợp cùng những giọng ca hàng đầu bấy giờ như Thanh Thúy, Khánh Ly, Lệ Thu, Elvis Phương, Anh Khoa trình bày v.v…

Sau cuốn “Băng Vàng Shotguns” thành công và được thính giả ủng hộ liên tục những cuốn băng nhạc sau, nhạc sĩ Ngọc Chánh bắt đầu đưa ra nhãn băng thứ hai mang tên nữ ca sĩ “Thanh Thúy”, với thể nhạc khác với thể nhạc của băng Shotguns, cũng đạt kết quả mỹ mãn. Ngọc Chánh liền cho ra nhiều nhãn hiệu băng khác nhằm chiếm trọn thị trường băng nhạc lúc đó, vì làm kinh doanh băng nhạc phải nhạy bén với lớp người thưởng ngoạn.

Cơ sở sản xuất Nguồn Sống của Ngọc Chánh mở thêm thể loại nhạc trẻ mang tên “Băng nhạc Trẻ”; chủ lực gồm ca sĩ Thanh Lan và ban nhạc Phượng Hoàng của Elvis Phương, Nguyễn Trung Cang… và do Kỳ Phát thực hiện nhằm cạnh tranh với các nhãn hiệu băng do Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Jo Marcel thực hiện

Nhận thấy ba bước kinh doanh đầu tiên đều thành công, nhạc sĩ Ngọc Chánh mạnh dạn ra một nhãn hiệu băng trái với tay nghề, tức loại băng mang thể loại tân cổ giao duyên, cải lương và hồ quảng tên “Hồn Nước”.

Chủ lực gồm những nghệ sĩ sân khấu thành danh trên sân khấu cải lương và hồ quảng như Thanh Nga, Thành Được, Phượng Liên, Dũng Thanh Lâm, Thanh Kim Huệ, Thanh Điền, Tấn Tài, Bạch Lê, Thanh Bạch v.v… trong đó phần nhạc đệm tân nhạc vẫn là Shotguns, còn về cổ nhạc quy tụ nhạc sĩ Bảy Bá (tức soạn giả Viễn Châu) điều hành, có Văn Vĩ đàn guitar, Năm Cơ đàn kềm và cả ban nhạc hồ quảng của Đức Phú.

Không ngừng ở nhãn băng thứ tư, Ngọc Chánh tiếp tục ra mắt nhãn băng thứ năm mang tên “Chế Linh” dành cho người thích nghe “nhạc sến”…

Đó là về quá trình sản xuất kinh doanh băng nhạc. Vì thế ban nhạc Shotguns vào năm 1973 được đọc giả, khán thính giả ái mộ bình chọn là “Ban nhạc được ái mộ nhất” của Giải Kim Khánh Nghệ Thuật thường được tổ chức hàng năm.

Sau ngày 30/4/1975, nhạc sĩ Ngọc Chánh còn ở lại Sài Gòn, vài năm sau anh mới đi Mỹ bằng đường biển. Ở Mỹ, Ngọc Chánh đã gầy dựng lại ban nhạc và nhãn hiệu băng nhạc Shotguns, vì nó đã trở thành một thương hiệu đã được mọi người tin cậy từ những năm 1970. Đồng thời trên đất Mỹ, anh còn mở phòng trà Ritz để giới thiệu những tài năng mới và những thân hữu nghệ sĩ đang sinh sống tại hải ngoại.

Trước đây và bây giờ cũng vậy, nhạc sĩ Ngọc Chánh luôn sống nhã nhặn khiêm tốn, hòa đồng cùng mọi người, kể cả khi đã có địa vị tiếng tăm. Vì thế với Ngọc Chánh, hình ảnh của anh rất ít xuất hiện trước công chúng, tuy nhiên mọi người khi nghe nói đến tên Ngọc Chánh là biết anh là ông bầu của một ban nhạc và băng nhạc nổi tiếng, đồng thời là tác giả của nhiều ca khúc hợp soạn cùng nhạc sĩ Phạm Duy, những nhạc phẩm của anh ai cũng nhớ như Bao giờ biết tương tư, Tuổi biết buồn, Vết thù trên lưng ngựa hoang…

GIỚI THIỆU CA SĨ MÁT TAY

Tuy nhạc sĩ Ngọc Chánh không có “lò đào tạo ca sĩ” như các nhạc sĩ khác và cũng không tự nhận mình là thầy đào tạo của một ca sĩ nào, nhưng anh lại là người giới thiệu tài năng mới rất mát tay như những Elvis Phương, Thái Châu, Nguyễn Chánh Tín hay Xuân Sơn cô ca sĩ từng được mệnh danh ca sĩ “Trăng sáng vườn chè”; đi hát từ thời Khánh Ly đang còn khai thác phòng trà Queen Bee, ít người biết đến, sau về cộng tác với ban nhạc Shotguns cô đã trở nên nổi tiếng, hay một Hải Lý mới chớm nở chưa kịp kết nụ ra hoa, Ngọc Chánh đã không còn kịp đưa tên tuổi lên như những đàn anh đàn chị vì thời cuộc đổi thay.

Nhưng có lẽ bất ngờ nhất khi nói Ngọc Chánh là người tìm thấy giọng ca của nữ ca sĩ Minh Hiếu đầu tiên. Anh từng lăng xê Minh Hiếu trước cả nhạc sĩ Đức Quỳnh. Theo nhạc sĩ Ngọc Chánh tâm sự :

– “Vào năm 1961 tôi đang phụ trách ban nhạc ở hồ tắm Cộng Hòa trên đường Lê Văn Duyệt (bây giờ tên đường Cách Mạng Tháng 8). Năm đó có một người con gái yêu thích ca nhạc. Cô ta từ Binh Long lên Saigon học hát và học may. Tôi có người bạn nhạc sĩ nhờ tôi hướng dẫn và giúp đở. Thật ra những ngày đầu gặp tôi, cô ta chỉ hát được hai bài là “Nổi Lòng” của Nguyễn văn Khánh và “Gợi Giấc Mơ Xưa” của Lê Hoàng Long (theo dạng bài hát tủ). Nhưng vì tôi là Chef d’orchestre nên đưa cô vào hát ở hồ tắm Cộng Hòa không có gì trở ngại. Cô ấy tên Minh Hiếu.

“Minh Hiếu là người rất có khiếu về ca nhạc, lại thêm đam mê nên chỉ sau 6 tháng đã nổi tiếng. Minh Hiếu bắt đầu hát cho phòng trà “Arc en Ciel” trong Chợ Lớn rồi phòng trà Đức Quỳnh bên rạp Việt Long xưa và Văn Cảnh. Còn được mời thâu dĩa hát cho những hãng dĩa 33 tour ở Sài Gòn thời bấy giờ v.v…”

Hay khi Ngọc Chánh nói đến hai ca sĩ Elvis Phương và Hương Lan thời mới vào nghề :

– “Bài hát đầu tiên của Elvis Phương hát là “Mộng Dưới Hoa”. Ngày đó Elvis Phương hát như người Mỹ hát tiếng Việt, vừa ngọng, vừa đớt thật là khó nghe, nhưng sau một thời gian anh em hướng dẫn, Elvis Phương bắt đầu hát hay dần, hay dần cho đến hôm nay nhiều ca sĩ trẻ trong nước lẫn hải Ngoại chưa ai có giọng ca tốt như Elvis Phương.

“Hoặc như Hương Lan là giọng ca hiếm có khi thâu bài nhạc Hoa lời Việt “Mùa Thu Lá Bay”, nếu cô ấy chịu đi theo con đường này chắc là từ đó đến giờ sẽ không có đối thủ cạnh tranh, nhưng sau tôi không còn thời gian hướng dẫn nữa…”

Phải chăng vì thế Hương Lan chỉ thuộc nữ ca sĩ trung trung đến bây giờ ?! vì từ xưa đến nay các ông bầu tổ chức ca nhạc thường không đưa tên tuổi Hương Lan thành “vơ-đét” của đêm diễn.

Nói về Xuân Sơn hay Nguyễn Chánh Tín cũng thuộc ca sĩ trong ban Shotguns. Cho thấy vào thời kỳ trước những năm 1965, đa số các nam nữ ca sĩ đều từ văn nghệ học đường, từ năng khiếu mà hình thành ra chất giọng riêng biệt. Tuy nhiên không có người hướng dẫn “lăng xê”, khi đi hát lại không chọn đúng nhạc phẩm sở trường, thích gì hát đó nên không thể tự tạo được ấn tượng cho giới thưởng thức.

Thí dụ như Xuân Sơn thích đi hát từ năm 12 tuổi, lớn lên lại trúng tuyển Giải Nhất cuộc thi Tuyển Lựa Ca Sĩ với ca khúc “Trở về Mái Nhà Xưa”. Sau đó Xuân Sơn được mời hát trong các chương trình tại Đài phát thanh, rồi phòng trà. Từng được nhạc sĩ Đỗ Lễ hướng dẫn về nhạc lý và xướng thanh, nhưng quanh đi quẩn lại chỉ có một bài tủ “Trăng Sáng Vườn Chè” của Văn Phụng nên không thành danh. Sau này về hát với ban Shotguns qua những nhạc phẩm như Nắng Thủy Tinh, Ru Em Từng Ngón Xuân Nồng, Lệ Đá, Biển Nhớ, Lá Đổ Muôn Chiều, Tôi Ru Em Ngủ… nữ ca sĩ Xuân Sơn mới đạt đến sự ngưỡng mộ của khán thính giả.

HƯỚNG DẪN TIẾNG HÁT ELVIS PHƯƠNG

Elvis Phương năm tuổi 14 đang theo học tại trường Jean Jacques Rousseau (bây giờ tên trường Lê Quý Đôn). Rất thích ca sĩ Elvis Presley với thể nhạc Rock And Roll, khiến cho quên ăn, quên ngủ, và anh luôn muốn trở thành một Elvis Presley VN. Vì vậy với tên thật Phạm Ngọc Phương, anh đã kết hợp với tên mình cùng tên thần tượng để thành tên gọi Elvis Phương cho đến ngày nay.

Elvis Phương tuy không học nhạc nhưng do năng khiếu đã mau chóng lãnh hội được căn bản về nhạc lý qua bạn bè và qua băng dĩa nhạc. Trong những năm còn học ở J.J.Rousseau là thời gian thật tuyệt vời, anh cùng các bạn thành lập ban nhạc có tên The Rockin’ Stars, có tiếng trong giới trẻ yêu thích nhạc ngoại quốc. Đến năm 1964, ban The Rockin’ Stars tan đàn, và Elvis Phương liền được mời vào hát cùng ban nhạc Les Vampires để trình diễn tại các Club Mỹ. Sau đó gia nhập vào đoàn Văn Nghệ Hoa Tình Thương.

Trong suốt thời gian phục vụ trong đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương cùng với ban nhạc Shotguns, Elvis Phương đã gần như chuyển hướng với việc trình bày ca khúc, ít hát nhạc ngoại quốc mà chỉ hát nhạc Việt để đáp ứng yêu cầu của mọi người và cả trong các nhãn hiệu băng do Ngọc Chánh sản xuất.

Sau khi được các nhạc sĩ trong ban nhạc hướng dẫn cách phát âm cho đúng lời Việt, và tự tạo cho mình một sắc thái riêng biệt, từ đó anh đã tự tạo cho mình một kỹ thuật phát âm với những tiếng nấc, tiếng nghẹn đặc biệt, như nhạc phẩm “Lời cuối cho em” là bước đầu đưa tên tuổi Elvis Phương lên hàng danh ca. Sau đó Elvis Phương còn thành công qua những nhạc phẩm khác như Xé thư tình, Kỷ vật cho em, Áo anh sứt chỉ đường tà, Về đây nghe em, Những bước chân âm thầm, Vết thù trên lưng ngựa hoang v.v…. Đó là chưa kể những nhạc phẩm ngoại quốc lời Việt như Godfather, Aline, Main Dans La Main, Lady Belle, Love Story, vv…

Đến năm 1972, Elvis Phương trở nên nổi bật khi xuất hiện cùng ban nhạc Mây Trắng sau là ban Phượng Hoàng qua những nhạc phẩm của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, như Tôi muốn, Thương nhau ngày mưa, Lời người điên, Yêu người yêu đời, vv…

Năm 1973, Elvis Phương đoạt giải “Nam ca sĩ tân nhạc được mến chuộng nhất” của “Giải Kim Khánh Nghệ Thuật”.

TRẦN VĂN TRẠCH GIỚI THIỆU…

Còn ca sĩ Thái Châu vào năm 1966 mới 15 tuổi, đi theo gánh hát của mẹ tức nghệ sĩ Kim Nên, cùng thời với các nghệ sĩ như Kim Chưởng, Thanh Tao, Thúy Nga, Út Trà Ôn… ba anh còn là phó giám đốc của Cty cải lương Kim Chung; cho nên Thái Châu đã mang dòng máu nghệ sĩ từ trong gia đình, vì nhà có 4 anh em đều sống với ánh đèn sân khấu. Lúc đó ai cũng nghĩ Thái Châu sẽ là hậu duệ tiếp bước đường của cha mẹ.

Thế nhưng, tâm hồn cậu bé Trương Chiêu Thông (tên thật của Thái Châu) lại bị mê đắm bởi những ca khúc lãng mạn trữ tình trong tân nhạc hơn là hát sáu câu vọng cổ bên cổ nhạc.

Đến mùa hè năm 1966, khi đoàn hát của mẹ anh ra Vũng Tàu, anh ban ngày phụ giúp cha mẹ một vài công việc trong đoàn hát, còn đêm tìm đến quán cà phê nhạc nơi có nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa (thổi sáo) và Trần Xuân Ngã (violon) quản lý ở đây, để nghe các ca nghệ sĩ biểu diễn.

Ở quán này có giờ dành cho khán giả lên hát như phong trào Hát với nhau ngày nay. Thái Châu xin lên hát, đêm đó có cha mẹ anh đi xem và Thái Châu đã hát ca khúc “Lần đầu cũng như lần cuối” (sáng tác của Minh Kỳ). Không ngờ đêm đó hai nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa và Trần Xuân Ngã chính thức đề nghị anh tham gia biểu diễn tại quán có trả lương.

Năm 1969, Thái Châu vừa đi học vừa biểu diễn tại phòng trà Đệ nhất do Mai Lệ Huyền đang phụ trách. Một đêm tình cờ gặp quái kiệt Trần Văn Trạch đến nghe hát, nhà quái kiệt ngỏ ý giới thiệu Thái Châu gia nhập vào ban nhạc Shotguns của Ngọc Chánh. Chính Thái Châu tâm sự : “Tôi mừng còn hơn ai cho vàng vì ban nhạc này đang rất nổi tiếng, nhiều danh ca đã cộng tác và nhiều mầm non ca sĩ đã thành danh từ ban nhạc này”.

Về với ban Shotguns, được Ngọc Chánh giúp đỡ, động viên trong tình anh em, vì vậy Thái  Châu đã tự tạo dấu ấn qua nhiều ca khúc dành riêng cho anh. Điển hình như các bài Tôi đưa em sang sông (Y Vũ), Tình như mây khói, Tình chết theo mùa đông (Lam Phương), Linh hồn tượng đá (Mai Bích Dung), Bài thánh ca buồn (Nguyễn Vũ)… và trở thành giọng hát chủ lực trong ban nhạc Shotguns từ đó.

Nguyễn Việt

Tùy Bút Thanh Lan

NHẠC SĨ NGỌC CHÁNH

CON CHIM ĐẦU ĐÀN

CỦA BAN SHOTGUNS

Những ai từng sống ở Saigon đều biết đến băng nhạc Shotguns. Cái tên khiến cho mọi người liên tưởng đến tiếng súng bắn Bang Bang. Và đó cũng là bài hát nổi tiếng khắp hoàn cầu mà Thanh Lan đã thâu cho băng nhạc này, do nhạc sĩ Ngọc Chánh thực hiện.

Thời gian mới thâu cho Shotguns thì Thanh Lan hát rất nhiều nhạc tiền chiến hoặc tình ca nhẹ nhàng êm dịu, một hai năm sau đó mới chọn lọc những bản nhạc Pháp để thâu song ngữ Việt Pháp, nên có thêm rất đông khán giả trẻ hâm mộ trong giới sinh viên, học sinh.

Còn nhớ lần đầu tiên gặp nhạc sĩ Ngọc Chánh, ông đã đến tận phòng thâu để gặp Thanh Lan. Lúc ấy Thanh Lan đang thâu một bài hát cho trung tâm Tú Quỳnh của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương. Cũng phải nói rõ, thời đó các trung tâm không có phòng thâu riêng mà chỉ cần thuê phòng thâu của những chuyên viên nào mà mình thấy thâu hay và tin tưởng.

Bởi vậy chuyện nhạc sĩ Ngọc Chánh đến phòng thâu khi ca sĩ đang thâu cho một trung tâm khác để mời thâu cho trung tâm sắp ra mắt của mình cũng chẳng có gì là lạ. Hơn nữa thời đó mấy ai mà có điện thoại nhà.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh dáng người tầm thước nhanh nhẹn, khi nói chuyện thì nhìn thẳng người đối diện. Ông có nụ cười rất tươi, cười từ trong lòng cười ra, không phải cười xã giao.

Ông có biệt tài khi đã nghe giọng ai hát rồi thì sẽ biết ngay ca sĩ đó cần hát loại nhạc nào để có thể có rất nhiều thính giả hâm mộ trong thời gian ngắn. Nhớ mãi những lần ông đưa những bài hát thật buồn cho Thanh Lan thâu thì mỗi lần hát xong ông đều nhắc : “Nức nở nhe, nức nở nhe”.. nhưng nét mặt thì lúc nào cũng tươi. Có lẽ trong cuộc đời ông dù những lúc sóng gió ông cũng luôn luôn bình tĩnh giải quyết mọi khó khăn vì ông là người luôn tỉnh táo. Thời đại này ở Mỹ người ta gọi là “cool guy”.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh thân thiết, hết lòng với đồng nghiệp và cả một đời dành cho âm nhạc. Từ những buổi trình diễn sôi động với ban nhạc Shotguns tại các Club Mỹ , ông trở thành nhà sản xuất băng nhạc nổi tiếng của Saigon.

Kỷ niệm khó quên với nhạc sĩ Ngọc Chánh là chuyến đi Nhật để trình diễn live bản nhạc “Tuổi biết buồn” do hai nhạc sĩ Phạm Duy và Ngọc Chánh cùng sáng tác. Bài hát được vào chung kết sau khi đựoc ban giám khảo tuyển chọn trên 100 bài hát từ các nước Âu, Á, và Mỹ Châu.

Nên cả 3 đựoc mời qua Nhật để tham dự buổi trình diễn một đêm tháng 10 lạnh lẻo vô cùng , nhưng trong khán phòng Budokan Hall thì ấm áp và nhộn nhịp với 10 ngàn khán giả vây quanh một sân khấu tròn chứa trên 100 nhạc công. Nhờ chuyến đi đó nên Thanh Lan được hãng đĩa hát Victor tại Tokyo mời ở lại một tuần để thâu 2 bài hát bằng tiếng Nhật:

– Aino hio Kesanaide (Đừng phá vỡ ân tình, nhạc Nhật). – Yume Miru (Tuổi mộng mơ, nhạc Phạm Duy).

Bẵng đi hơn hai chục năm sau, nhạc sĩ Ngọc Chánh lại mời Thanh Lan hát tại phòng trà Ritz của ông ở miền Nam Cali. Thời gian và những gay gắt của cuộc đời cũng không làm ông thay đổi. Vẫn là người anh văn nghệ ngày nào đến tự giới thiệu mình rồi tươi cười hỏi:

– Thanh Lan thâu bài hát cho tôi được không ?

Nhạc sĩ Ngọc Chánh là một nghệ sĩ biết cân bằng nghề nghiệp và gia đình nên đã thành công về mọi mặt. Hài lòng về những thành quả âm nhạc ông đã hiến cho đời, hài lòng với những người con hiếu thảo thành danh ngoài xã hội.

Hiện nay ông vui với những nét đẹp của thiên nhiên qua ống kính của chính ông. Vì tâm hồn ông luôn đẹp nên quanh ông tất cả đều xinh tươi. Người nghệ sỹ muốn ghi lại những hình ảnh đẹp những nơi ông đã đi qua, cũng như ngày xưa ông đã muốn gìn giữ lại những nốt nhạc réo rắt để cùng chia xẻ với mọi tầng lớp yêu nhạc.

Thanh Lan xin thân chúc anh Ngọc Chánh một ngày sinh nhật 80 tuổi nhiều niềm vui giữa gia đình đầy ắp tiếng cười và tiếng nhạc. (Thanh Lan – California tháng 3 năm 2017).

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

H1: Ban nhạc Shotguns trong một lần trình diễn năm 1971. Từ trái sang: Hoàng Liêm, Thanh Lan, Elvis Phương, Hà Thanh, Ngọc Chánh.

H2: Bài hát Bang Bang do nhạc sĩ Phạm Duy chuyển ngữ lời Việt thành Khi Xưa Ta Bé giao cho Thanh Lan hát đầu tiên và nay sau 45 năm, ca khúc này đã trở thành dấu ấn của cô

H3: Đĩa nhạc Thanh Lan hát bằng tiếng Nhật 2 ca khúc Tuổi Mộng Mơ (được dịch là The Ages Of Dreams) và Đừng Phá Vỡ Ân Tình (Don’t Turn Off The Light Of Love) H4: Mặt trong của cuốn băng nói về tiểu sử Thanh Lan bằng tiếng Nhật

H5: Những kỷ niệm quý báu từ dĩa hát, hình ảnh. của Thanh Lan trong chuyến đi Nhật 40 năm trước vừa được đoàn phim Nhật trao tặng tận tay cho Thanh Lan năm 2015. Món quà quý giá vô ngần.

2 NỮ CA SĨ THANH THÚY – THANH LAN

Logo Van nghe

Tr ca si 22 NỮ DANH CA

THANH THÚY – THANH LAN

– Trúc Giang MN

CA SĨ THANH THÚY :

a/- Vài nét tổng quát về ca sĩ Thanh Thúy : Tên đầy đủ là Nguyễn Thị Thanh Thúy, sanh ngày 2-12-1943 tại Huế, trong một gia đình 5 chị em. Năm 1964 Thanh Thúy kết hôn với tài tử Ôn Văn Tài, (Sau mang lon Đại tá Không Quân VNCH, trực thuộc binh chủng phòng không không quân).

10-thanh-thuy-1Thanh Thúy là một trong 10 ca sĩ có ảnh hưởng lớn trong nền tân nhạc Việt Nam trước năm 1975. Được mệnh danh là Nữ Hoàng trong thể điệu Bolero và Rumba -Bolero.

b/- Sinh hoạt ca hát của Thanh Thúy : Tên tuổi của Thanh Thúy gắn liền với những ca khúc mà nhạc sĩ Trúc Phương viết riêng cho chị hát. Đồng thời cũng gắn liền với những nhạc khúc tiền chiến, nổi bật nhất là bản nhạc bất hủ Giọt Mưa Thu của Đặng Thế Phong.

Thanh Thúy được các nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn và diễn viên điện ảnh nổi tiếng hết lòng ca ngợi bằng những mỹ từ như “Tiếng Hát Khói Sương”, “Tiếng Hát Liêu Trai”.

Năm 1961. Tài tử kiêm Đạo diễn Nguyễn Long thực hiện cuốn phim “Thúy Đã Đi Rồi” nói về Thanh Thúy. Ngoài cuốn phim nầy, tên tuổi Thanh Thúy còn xuất hiện trên sân khấu kịch và truyền hình. Năm 1962. Thanh Thúy được bầu chọn danh hiệu “Hoa Hậu Nghệ Sĩ”. Năm 1964. Bản nhạc Chuyến Tàu Hoàng Hôn đã khắc sâu tên tuổi và tài 10-thanh-thuy-2nghệ của chị trong lòng khách mộ điệu.

Năm 1973. Đoạt giải Kim Khánh của nhật báo Trắng Đen dành cho nữ ca sĩ ăn khách nhất.

c/- Thanh Thúy và những ca khúc u hoài của cuộc đời : Nhiều ca khúc nói lên nỗi niềm cay đắng, nghiệt ngã về tâm trạng thương cảm, ngang trái trong cuộc đời và cuộc tình, được dàn trải qua tiếng hát Thanh Thúy tạo dấu ấn sâu đậm trong lòng người thưởng ngoạn.

Từ nhạc phẩm tiền chiến như Giọt Mưa Thu, Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương, Tan Tác của Tu Mi, Chuyển Bến của Đoàn Chuẩn, Biệt Ly của Dzoãn Mẫn, Nhắn Gió Chiều của Nguyễn Thiện Tơ, Tiếng Còi Trong Sương Đêm của Lê Trực, Tiếng Đàn Tôi và Thuyền Viễn Xứ của Phạm Duy…cho đến Ngăn Cách, Người Em Sầu Mộng của Y Vân, Lạnh Lùng của Đinh Việt Lang sang Kiếp Cầm Ca của Huỳnh Anh, Tiếng Ve Sầu của Lam Phương, đến Mộng Chiều của Khánh Băng, Nhạt Nắng của Xuân Lôi, Đường Nào Lên Thiên Thai cửa Hoàng Nguyên… vu-hoi-ng-savà nhiều ca khúc của Trúc Phương phù hợp với tiếng hát Thanh Thúy đã gắn liền giọng ca và dòng nhạc trong giới yêu nhạc.

d/- Tiếng hát Thanh Thúy qua ngòi bút của các văn, thi sĩ :  Nhà thơ  Nguyên Sa viết: “Thanh Thúy là nữ ca sĩ được ngợi ca nhiều nhất trong văn, trong thơ. Thi sĩ Hoàng Trúc Ly, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Viên Linh, nhà văn Tuấn Huy cũng có những bài ca ngợi Thanh Thúy bởi vì Thanh Thúy chính là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, trong đó có những nhà văn, nhà thơ. Tiếng hát Thanh Thúy đã từng được  nhà văn Mai Thảo mệnh danh là “Tiếng hát lúc 0 giờ”,  giáo sư Nguyễn Văn Trung thì gọi chị là “Tiếng hát liêu trai”, nhạc sĩ Tuấn Huy gọi là “Tiếng sầu ru khuya”.

Nhiều nhạc sĩ, thi sĩ sáng tác ca khúc, bài thơ để dành riêng cho Thanh Thúy hát.  Trịnh Công Sơn viết bản nhạc đầu tay “Ướt Mi” và “Thương một người”, Tôn Thất Lập sáng tác “Tiếng hát về khuya, Anh Bằng viết ca khúc “Tiếng ca u hoài” để chị hát.  Y Vân với “Thúy đã đi rồi” trong phim cùng tên. Và rất nhiều sáng tác của Trúc Phương đều lấy cảm hứng từ tình cảm của ông dành cho Thanh Thúy.

10-thanh-thuy-4

Nhà thơ Hoàng Trúc Ly đã viết tám câu thơ lục bát nổi tiếng bày tỏ lòng giao cảm với tiếng hát Thanh Thúy, tựa đề “Sầu ca sĩ”.

Nhà thơ, danh họa Vũ Hối, qua nét bút độc đáo như tranh vẽ dành tặng bốn câu thơ:

10-thanh-thuy-3Liêu trai tiếng hát khói sương

Nghẹn ngào nhung nhớ giòng Hương quê mình

Nghiên sầu từng nét lung linh

Giọng vàng xứ Huế ấm tình quê hương.

Nguyên Sa viết :

“Từ em tiếng hát lên trời

Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh.

Sợi buồn chẻ xuống lòng anh

Lắng nghe da thịt tan tành hư vô”

CA SĨ THANH LAN :

a/- Vài nét tổng quát về Thanh Lan : Trước năm 1975, trong lãnh vực sân khấu và điện ảnh Việt Nam nổi bật lên sáu mỹ nhân tài sắc: Kiều Chinh, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Thanh Nga, Mộng Tuyền và Thanh Lan. Trong đó Thanh Lan là một hiện tượng khá đặc biệt, một tài năng hiếm có và đa dạng, đã thành công trên ba lãnh vực: âm nhạc, kịch nghệ và điện ảnh.

Thanh Lan nổi tiếng với những bài hát tiếng Pháp và cũng là một trong những gương mặt tiêu biểu trong phong trào nhạc trẻ đầu tiên ở Sài Gòn.

10-thanh-lan-1b/-  Tiểu sử Thanh Lan : Thanh Lan tên thật là Phạm Thái Thanh Lan sinh ngày 1/3/1948 tại thành phố Vinh, Nghệ An. Cha là Phạm Đình Vịnh, mẹ tên Thái Chi Lan, em của đạo diễn Thái Thúc Nha, chủ hãng phim Alpha. Thanh Lan học chương trình Pháp, tên Tây là Cathérine. Tiểu học ở trường Saint Paul, trung học Marie Curie. Đậu tú tài toàn phần Pháp. Tốt nghiệp cử nhân Văn Khoa ban văn chương Anh. (1973)

c/- Quá trình học nhạc của Thanh Lan : Từ năm 9 tuổi, Thanh Lan học đàn piano suốt 3 năm với các Sơ ở Saint Paul rồi được bà Thẩm Oánh và nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi hướng dẫn. Đã ghi tên học các lớp dân ca Việt Nam và đàn tranh ở Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn. Tóm lại, Thanh Lan thông thạo tiếng Pháp, lưu loát tiếng Anh, trình độ văn hóa đại học và được đào tạo về âm nhạc một cách rất có bài bản.

d/- Sự nghiệp văn nghệ của Thanh Lan : Thanh Lan tham gia văn nghệ từ năm 9 tuổi. Bắt đầu sự nghiệp văn nghệ năm 12 tuổi trong Ban Việt Nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức, đơn ca đầu tiên trên đài phát thanh Sài Gòn với bản nhạc Vui Đời Nghệ Sĩ của Văn Phụng. Năm 18 tuổi tham gia ban kịch Vũ Đức Duy trên đài truyền hình. Năm 20 tuổi đóng phim.

e/- Sinh hoạt âm nhạc của Thanh Lan : Năm lớp 11 trung học Marie Curie, 10-thanh-lan-2Thanh Lan gia nhập ban nhạc sinh viên Hải Âu của nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Là ban nhạc trẻ đầu tiên có khuynh hướng Việt hóa nhạc trẻ Việt Nam. Nét đặc biệt của Thanh Lan là hát nhạc Pháp.

Thanh Lan là một hiện tượng trong giới ca nhạc Sài Gòn trước 1975. Báo chí săn đón. Hình ảnh Thanh Lan tràn ngập trên các bìa băng nhạc, bản nhạc, bày bán khắp nơi ở Sài Gòn. Thời gian đó, Sài Gòn có hai trung tâm nhạc lớn và có uy tín là Trung Tâm Tú Quỳnh của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương và trung tâm Shotguns của Ngọc Chánh.

Thanh Lan thường hát chung với Nhật Trường Trần Thiện Thanh, với nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Vũ Thành An, Từ Công Phụng…

Năm 1967, Thanh Lan theo đoàn văn nghệ Nguồn Sống lưu diễn các nước từ Châu Á tới Châu Âu: Thái Lan, Lào, Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh Quốc và Đức.

10-thanh-lan-3Năm 1973, Thanh Lan cùng với Phạm Duy và Ngọc Chánh sang Nhật Bản tham dự Đại Hội Âm Nhạc Quốc Tế Yamaha Festival in Tokyo, với 100 quốc gia tham dự. Thanh Lan hát bản Tuổi Biết Buồn của Phạm Duy và Ngọc Chánh, được vào chung kết với hai ca sĩ nổi tiếng thế giới là Anne Marie David ca bản  “Tu te Reconnaîtras” (Nhạc Pháp) và với nam ca sĩ nổi tiếng Hy Lạp Demi Roussos với bản Rain and Tears Sau đó Thanh Lan ở lại Tokyo để thu hai bài Ai no hio Kesanaide và Tuổi Mộng Mơ của Phạm Duy.

g/- Về kịch nghệ : Trong chương trình học của trường Marie Curie, nữ sinh có môn học về kịch nghệ, cụ thể là phân tích và phê bình nhiều vở kịch của Molière, Corneille, Racine…Đó là căn bản về kịch nghệ của Thanh Lan. Hồi còn bé Thanh Lan thủ vai em bé trong Ban Kịch Kiều Hạnh trên đài phát thanh Sài Gòn. Rồi trong ban kịch Linh Sơn diễn chung với Vũ Huyến. Năm 1973 Thanh Lan tham gia ban kịch Vũ Đức Duy trong vở kịch Những Người Không Chịu Chết của Vũ Khắc Khoan. Năm 2009 khi ở Hoa Kỳ, Thanh Lan thủ một vai trong vở bi trường kịch “Âm Mưu và Tình Yêu” (Intrigue and Love) của Friedrich Schiller, và vở Ngôi Nhà Không Có Đàn Ông.

10-thanh-lan-4h/- Về điện ảnh : Từ năm 1970, Thanh Lan thủ vai chánh trong phim Tiếng Hát Học Trò của đạo diễn Thái Thúc Nha. Qua bộ phim nầy Thanh Lan được trao giải nữ diễn viên triển vọng nhất, là Giải Văn Học Nghệ Thuật của Tổng thống VNCH. Thanh Lan cũng thủ những vai diễn trong các bộ phim Lệ Đá, Gánh Hàng Hoa, Ván Bài Lật Ngữa…

Cuối năm 1974, Thanh Lan nhận giải Diễn Viên Đẹp Nhất Miền Nam, do đạo diễn Lê Dân trao trong buổi lễ ở khách sạn Continental. Như vậy tài sắc vẹn toàn. Tháng 3 năm 1975, Thanh Lan đóng vai chánh bên cạnh các diễn viên Nhật Yusuke Kawazu, Kenji Isomura và tài tử Đoàn Châu Mậu. Phim do hãng Amino in Tokyo thực hiện với tựa đề Number Ten Blues, về sau đổi tên lại là Goodbye Saigon. Thanh Lan đóng 8 bộ phim, trong đó có hai bộ phim truyền hình

danh-dan-7Tóm lại, Thanh lan là một nghệ sĩ tài sắc vẹn toàn có tầm vóc quốc tế, thành công trên ba lãnh vực, ca nhạc, kịch nghệ và điện ảnh. Đóng phim, đóng kịch, làm thơ và sáng tác nhạc.

Cuộc đời cũng lắm gian truân. Vượt biên bảy lần, lần cuối thành công và xin tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ ngày 28/12/1993. Có thể nói “Cuộc đời lắm nổi gian truân đúng với câu hồng nhan bạc phận” (theo Trúc Giang – Minnesota 6-2-2017)

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Logo nhan vat 1

9-duong-ha-1ĐẾN THĂM NHÀ VĂN DƯƠNG HÀ

MỘT NGÀY ĐẦU THÁNG BA

Đã hơn một năm không gặp lại nhà văn Dương Hà (nay ông đã khoảng 84 tuổi), do ông sống với con gái sau khi bán ngôi nhà mặt tiền ở đường Cao thắng, sau dọn về khu An Phú Q2, và nay đã chuyển vế Quốc Lộ 13 gần cầu vượt Bình Phước thuộc quận Thủ Đức, tức chuyển nhà đã ba bốn bận.

Có lẽ vì thế ông mắc bệnh trầm cảm mà sinh đột quỵ, như bản tin đã post  trên trang HNC.Gr ngày 19/4/2015 như sau :

Nhà văn Dương Hà  thoát qua cơn hiẻm nghèo

Mới đây Cao Bồi Già có đưa tin chỉ trong 2 năm, nhà văn Dương Hà (tác giả tác phẩm nổi tiếng “Bên dòng sông Trẹm” của thập niên 70 thế kỷ trước) phải dời nhà 3 làn (việc di dời này nằm ngoài dự kiến của ông, do con gái tự biên tự diễn) từ một lần trên đường Lương Định Của Q2, nay vừa chuyển qua QL 13 phường Hiệp Bình Phước, Thủ Đức, lại dời thêm lần nữa, tức vô hẻm 700 sâu hơn.

Chuyện di dời nhà này khiến ông đâm trầm cảm, vì xa các thân hữu. Bởi vậy cách đây hơn 10 ngày (tức khoảng thượng tuần tháng 4/2015) ông bị huyết áp tăng đến hôn mê. Con gái ông phải đưa vào BV Nhân Dân Gia Định cấp cứu,9-duong-ha-4 và hôm 14/4/2015 lại chuyển sang BV Phực hồi chức năng, trên đường Âu Dương Lân, Q8, để trị xương khớp (vì sau cơn tai biến, ông không thể ngồi dậy được).

Đến thăm Dương Hà vào ngày đầu tháng 3/2017

Theo nhà thơ nhà báo Thiên Hà đề nghị, sáng 1/3/2017 Cao Bồi Gìà cùng Thiên Hà đến thăm nhà văn Dương Hà, ông vẫn ở sâu trong con hẻm 700 trên đường Quốc Lộ 13 gần cầu vượt Bình Phước từ hơn 3 năm qua. Và sau cơn đột quỵ năm 2015, nay ông vẫn nói không ra tiếng, và thân thể ông vẫn ốm trơ xương đồng thời phải ngồi xe lăn mỗi khi di chuyển.

Để có thể chuyện trò, Thiên Hà và Cao Bồi Già đề nghị Tuyết Nga (con gái ông Dương Hà, người đang chăm sóc ông tại nhà) xin đưa ông ra quán cà phê bên hẻm 718 để dễ chuyện trò hơn. Và xin trích tâm tư của nhà văn Dương Hà qua bài thơ của Thiên Hà sau đây :

9-duong-ha-8MỘT NGÀY THÁNG BA

Hôm nay ngày 1 tháng Ba

Đi thăm nhà văn Dương Hà

Tác giả Bên Dòng Sông Trẹm

Một thời, đã tuổi tám ba (83)

Mơ sẽ về thăm Thới Bình

9-duong-ha-5Nhớ thương miền quê sông Trẹm

Dương Hà mắt sáng tinh anh

Cà Mau xa như dĩ vãng

Tôi bảo anh đi được chăng

Anh cười vẫn đi được chớ

Cho dù phải ngồi xe lăn

Vượt hơn ba trăm cây số

9-duong-ha-5bAnh hồn nhiên đến thơ ngây

Trọng lượng nhẹ ba hai ký

Không ăn chỉ uống nửa ly

Làm sao qua được trăng này?

Vẫn nụ cười tươi như trẻ thơ

Yêu đời định viết tiếp tập ba

Bên Dòng Sông Trẹm cho nhân thế

Mai kia còn chút để gọi là….

Ngày đầu tháng Ba gặp Dương Hà !

Thiên Hà 1/3/2017

Nhà văn Dương Hà tìm tác phẩm cũ

Nhà văn lão thành Dương Hà như đã hoàn thành tâm nguyện. Ở tuổi trên “bát tuần” thượng thọ, nhưng ông vẫn mang nặng nghiệp văn. Trước đây 5 năm, nhà văn Dương Hà cho tái bản lại một số tác phẩm cũ từng ăn khách trước những năm 1975, và sau 1975 còn được dựng thành phim và tuồng cải lương lẫn thoại kịch.

9-duong-ha-2Trong đợt tái bản đầu tiên, nhà văn Dương Hà cho ra mắt bộ tiểu thuyết “Bên Dòng Sông Trẹm” gồm 2 cuốn 1 và 2, đưa câu chuyện vào cuộc sống ở miền quê còn chịu nhiều ảnh hưởng phong kiến, nên trong cuộc sống ấy bị xáo trộn qua những mối tình không cân xứng giữa giàu và nghèo, giữa địa chủ và nông dân, cuối cùng là một đoạn kết đầy bi thương. Mỗi cuốn dày trên dưới 200 trang in trên giấy ford trắng rất đẹp mắt.

Như nhà văn Hoàng Hải Thủy từng viết về nhà văn Dương Hà : Tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn năm 1951. Năm ấy 18 tuổi, tôi đến học ở trường Tư Thục Tân Thanh. Trường mới mở, Hiệu Trưởng là Kỹ sư Phan Út, giáo sư chính là hai thầy Phan Thụy, Phan Ngô. Trường sở là một nhà tư nằm trong một góc khuất trên đường Lacoste, sau năm 1956 đường Lacoste là đường Pham Hồng Thái, Sài Gòn. Tại đây tôi gặp Dương Hà, một trong những người viết tiểu thuyết phơi-ơ-tông nổi tiếng của làng báo Sài Gòn. Dương Hà tên thật là Dương Văn Chánh, người miền Nam, anh hơn tôi chừng hai, ba tuổi. Năm ấy Dương Hà và tôi học chung một lớp ở trường Tân Thanh. Hai chúng tôi không thân nhau lắm nhưng chúng tôi cũng biết nhau có mộng viết tiểu thuyết.

9-duong-ha-6“Chưa hết năm 1951 Dương Hà và tôi đã bỏ học. Năm 1952 Dương Hà nổi tiếng với tiểu thuyết phơi-ơ-tông “Bên Dòng Sông Trẹm”, truyện đăng trên nhật báo Sàigònmới, truyện đầu tay mà “ăn khách”, tức có nhiều người đọc, nên truyện được xuất bản thành sách ngay sau khi đăng hết trên báo.

“… Độc giả tiểu thuyết phơi-ơ-tông những năm xưa ở Sài Gòn đa phần là phụ nữ. Những thập niên 50, 60, trong xã hội miền Nam một người đi làm, thường là người đàn ông chủ gia đình, kiếm được tiền đủ nuôi vợ con. Người vợ trong những gia đình thường không phải đi làm. Ngoài việc mỗi ngày đi chợ, thường là ra khỏi nhà vài bước là có chợ đầu xóm bán đủ thức ăn, ngoài việc nấu ăn, trông con, những phụ nữ ấy có nhiều thì giờ nhàn rỗi, họ đọc tiểu thuyết đăng từng ngày trong các nhật báo.

“Họ là lớp độc giả chính, trung thành của tiểu thuyết phơi-ơ-tông, và họ rất chịu bỏ tiền mua báo. Báo nào có tiểu thuyết được họ đọc là báo bán chạy. Và họ thích đọc những truyện tình ái mùi mẫn, éo le trong đó nhân vật chính là những thiếu nữ xinh đẹp, hiền hậu, con nhà nghèo – nghèo mà vẫn giữ được trong sạch – bị rơi vào những cảnh ngộ oan trái nhưng sau cùng vượt thắng được nghịch cảnh, gặp tình yêu. Hoặc nhân vật chính là một thiếu nữ con nhà giàu sang yêu một chàng trai nghèo nhưng lương thiện. Họ thích những mối tình trong đó hai người yêu nhau bị chia cách bởi giầu nghèo, sang trọng và bình dân, điều quan trọng nhất là sau cùng tình yêu phải thắng, 9-duong-ha-7đôi tình nhân sau trăm cay, nghìn đắng, sẽ thành vợ, thành chồng, sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi….”

“Bên Dòng Sông Trẹm” là tác phẩm tiểu thuyết đầu tay và là tác phẩm xuất sắc nhất của Dương Hà. Năm 1990 “Bên Dòng Sông Trẹm” được tái bản ở Sài Gòn, năm 1995 “Bên Dòng Sông Trẹm” được làm thành phim.

“Từ năm 1952 Dương Hà chuyên viết tiểu thuyết để sống, anh không làm phóng viên, tức anh không làm ký giả nhà báo, không làm việc ở tòa soạn, anh chỉ viết tiểu thuyết đăng báo, anh viết tiểu thuyết cho nhật báo Sàigònmới từ năm 1952 dài dài cho đến đầu năm 1964 nhật báo Sàigònmới bị đóng cửa….

“Những năm của thập kỷ 50 – 60 thế kỷ trước; làng báo Sài Gòn có mấy cây viết phơi-ơ-tông về “tâm lý tình cảm xã hội” nổi tiếng như Dương Hà, Trọng Nguyên, bà Tùng Long sau có thêm bà Lan Phương. Như Dương Hà, bà Tùng Long là cây viết tiểu thuyết trụ cột của nhật báo Sàigònmới, bà viết truyện cho báo Sàigònmới từ năm 1950 cho đến ngày Sàigònmới bị đình bản năm 1964. Bà Lan Phương cũng viết nhiều, cũng có nhiều tác phẩm xuất bản thành sách, nội dung những tiểu thuyết của bà 9-duong-ha-3Lan Phương giống như nội dung những tiểu thuyết của Dương Hà, Trọng Nguyên hay bà Tùng Long như đã nói trên.

Nhà văn lão thành Dương Hà rất hồ hỡi với cuốn tiểu thuyết “Bên dòng sông Trẹm” vừa tái bản (sách dày 440 trang chia làm 2 tập : phần một và phần hai) do nhà văn nhà báo Nguyễn Việt liên kết xuất bản với NXB Thanh Niên.

Có nhiều nhà văn cùng thời với Dương Hà cũng theo trường phái viết “tiểu thuyết tình cảm tâm lý xã hội” như Trọng Nguyên, bà Tùng Long, bà Lan Phương… nhưng chưa ai có tác phẩm dựng thành phim hay tuồng cải lương như các tác phẩm của nhà văn Dương Hà. Riêng bộ “Bên dòng sông Trẹm” nổi tiếng từ trong nước ra đến hải ngoại, qua cuốn phim phát hành năm 1993 và mới đây đài truyền hình HTV của Sài Gòn đã dựng thành tuồng cải lương (trước 1975 cũng đã được nhiều soạn giả phóng tác đưa lên sân khấu cải lương lẫn thoại kịch).

Trong tinh thần hồ hỡi, nhà văn Dương Hà xin nhắn đến các đọc giả, các nhà cho thuê sách từ trong nước ra đến nước ngoài bản tin :

– Ai còn giữ tác phẩm tiểu thuyết mang tên Dương Hà, xin báo tin, một xin tặng lại tác giả, hai thỏa thuận giá bán lại. Nhất là hai tác phẩm sau đây :

sg-cao-boi-1– Truyện ngắn “Bên song cửa”

– Tiểu thuyết “Anh ơi ! Đừng yêu em”

Mong rằng các đọc giả nhận tin này giúp đỡ nhà văn Dương Hà hết mình, vì sau 1975, các tác phẩm xuất bản trước 1975 của ông đều bị thất lạc. Xin liên lạc qua email : nguyenviet168@yahoo.com.vn hoặc Nguyễn Việt người đại diện nhà văn Dương Hà qua số Điện thoại 0903.639.821.  

Cao Bồi Già tổng hơp

CA SĨ CỦA MỘT THỜI SÀI GÒN

Logo Ca nhac

Tr danh dan 3ĐÁNG NHỚ ĐÁNG YÊU

NHỮNG LÒ ĐÀO TẠO CA SĨ

CỦA MỘT THỜI SÀI GÒN

– Trúc Giang MN

Miền Nam trước năm 1975 là vùng đất màu mỡ, phì nhiêu cho cây tự do đơm hoa kết trái. Văn nghệ và âm nhạc cũng do đó là phát triển với muôn màu, muôn sắc vô cùng rực rỡ. Có thể nói nền tân nhạc Việt Nam nầy là thời kỳ cường thịnh nhất lịch sử. Môi trường văn nghệ mở rộng, là nơi để tuổi trẻ phát triển năng khiếu và tranh đua thi thố tài năng âm nhạc.

Nhạc sĩ nổ lực sáng tác vì được tự do diễn đạt cảm xúc của người nghệ sĩ. Nhưng điều quan quan trọng nhất là người dân miền Nam, đủ ăn đủ mặc, sẵn còn cái tâm trạng để thưởng thức âm nhạc qua các đài phát thanh, phát hình, đại nhạc hội, phòng trà ca nhạc và vũ trường. Các trung tâm băng, dĩa cũng góp phần truyền tải âm nhạc đến quần chúng.10-dao-tao-1 Cuộc sống vật chất tương đối đầy đủ, món ăn tinh thần không thể thiếu. Âm nhạc lên ngôi.

Âm nhạc lớn mạnh kéo theo các lò đào tạo ca sĩ, các lớp nhạc, cung ứng tài năng âm nhạc cho miền Nam. Sau năm 1975 nền âm nhạc đó đã được hồi sinh tại hải ngoại với những trung tâm tổ chức trình diễn và sản xuất băng, dĩa nhạc như Trung Tâm Asia, Thúy Nga Paris, Vân Sơn và nhiều trung tâm khác.

10-dao-tao-2Các lò đào tạo ca sĩ trước 1975

Trước năm 1975 các ca sĩ thành danh xuất thân từ các lò đào tạo, từ các phòng trà ca nhạc, vũ trường, phong trào văn nghệ học đường, phong trào nhạc trẻ, các đoàn văn nghệ của Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị.

Lò nhạc có nhiều môi trường để lăng xê đệ tử của mình, nổi tiếng nhất là lò Nguyễn Đức, đã đào tạo nhiều ca sĩ thành danh trong làng nhạc Việt Nam. Kế đến còn có các lò nhạc như Tùng Lâm, Duy Khánh, Bảo Thu, Hoàng Thi Thơ, Nguyễn Văn Đông…10-dao-tao-3

Lò nhạc Nguyễn Đức với các ca sĩ tên Phương

Nhạc sĩ Nguyễn Đức đã đào tạo nhiều ca sĩ thành danh nhất trước 1975. Một lô ca sĩ tên Phương gồm Phương Hồng Loan, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Ngọc (tức Cẩm Hồng, vợ kịch sũ Ngọc Đức) là những họ Phương trước 1975 và Phương Diễm Hạnh (1999 ở Canada). Trước đó có Hoàng Oanh, Kim Loan và Thanh Lan, hai danh hài Thanh Hoài và Trần Tỷ. Nguyễn Đức còn đào tạo xướng ngôn viên cho đài phát thanh và truyền hình gồm có Bạch Yến, Xuân Kiều, Phương Hồng Trinh.

Lò nhạc nào cũng có môi trường để lăng xê đệ tử của mình trước công chúng. Nhạc sĩ Nguyễn Đức có hai chương trình trên đài truyền hình và hai chương trình ở đài phát thanh để đánh bóng đệ tử của mình. Đài truyền hình số 9 có Ban Thiếu Nhi Sao Băng với 40 thiếu nhi, và Chương Trình Ban Gia Đình Văn Nghệ Nguyễn Đức. Ở đài phát thanh có Ban Việt Nhi và Ban ABC.

10-dao-tao-4

Hơn nửa thế kỷ đào tạo ca sĩ từ trong nước ra tới hải ngoại, với bàn tay phù thủy nhạc sĩ Nguyễn Đức đã biến những thiếu nhi trong ban Việt Nhi và ban Thiếu Nhi Sao Băng trở thành những ca sĩ nổi tiếng hiện nay. Ra hải ngoại năm 1991, định cư ở Toronto, 10-dao-tao-5Canada. Về Việt Nam nhạc sĩ Nguyễn Đức mất tại Sài Gòn ngày 25/5/2015. Thọ 86 tuổi.

Lò nhạc Tùng Lâm

Liên kết Tùng Lâm, Bảo Thu và Duy Khánh : Lò nhạc Tùng Lâm giới thiệu Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, Trang Mỹ Dung rồi Chế Linh, Giang Tử. Riêng Trang Mỹ Dung là tên do gia đình đặt ra. Quái kiệt Tùng Lâm tuy có môi trường lăng xê ca sĩ là Đại nhạc hội và Ban Tạp Lục trên đài truyền hình, nhưng vì Tùng Lâm mù tịt về việc đào tạo thanh âm nên phải liên 10-dao-tao-6kết với lớp nhạc Bảo Thu và Duy Khánh.

Việc liên kết nầy tạo ra cơn sốt đối với các lò nhạc khác vì có đầy đủ môi trường để mầm non trẻ phát triển tài năng. Tùng Lâm có chương trình đại nhạc hội, Bảo Thu có chương trình truyền hình và lớp nhạc dạy thanh âm và nghệ thuật trình diễn. Chế Linh thuộc lò Tùng Lâm nhưng được Duy Khánh đào tạo thành danh đến ngày hôm nay.

Câu chuyện về Tùng Lâm và Chế Linh : Tác giả Nguyễn Việt kể lại. Sáng chủ nhật đại nhạc hội hôm đó tại rạp Olympic, một anh chàng da ngâm đen, tóc quăn vào tận 10-dao-tao-7bên trong hậu trường gặp ông bầu Tùng Lâm để xin hát. Tùng Lâm quyết liệt từ chối. Thế rồi những chủ nhật sau đó, anh ta không bỏ cuộc. Cuối cùng Tùng Lâm phải chịu thua trước cái lì lợm của anh ta. Cho lên hát thử mà không có tiền “cát sê” (Cachet-Pháp). Được giới thiệu tên Chế Linh, hát một bản của Duy Khánh. Bài hát chấm dứt. Hoàng loạt tiếng vỗ tay nhiệt liệt không ngừng ở hàng ghế khán giả. Những tiếng hét bis, bis.

Sau đó mới biết khán giả đó là những người đồng hương họ Chế mà Chế Linh mua vé cho họ vào xem và chờ đúng cái dịp ngày hôm đó để vỗ tay, hô bis!, bis!. Tuy Chế Linh thuộc lò Tùng Lâm nhưng ông bầu đại nhạc hội nầy không biết về thanh âm nên mới liên kết với Duy Khánh, Bảo Thu để rèn luyện ca sĩ.

Những ca sĩ thành danh từ các phòng trà, vũ trường

– Nở rộ phòng trà ca nhạc và vũ trường : Năm 1963 phòng trà ca nhạc nở rộ ở Sài Gòn. Chỉ riêng quận 1 đã có mấy chục phòng trà và vũ trường: Maxim’s, Tự Do, Queen Bee, Đêm Màu Hồng, Orchalet, Rex, Continental, Jo Marcel, Thanh Thế, Kim Sơn, Olympia, Văn Cảnh, Tháp ngà, Ritz, Baccara, Macabane, Anh Vũ, Mỹ Phụng, Bồng Lai, Melody,…Khách đến đó vừa nghe nhạc vừa khiêu vũ.

10-dao-tao-8

– Những ca sĩ nổi bật của phòng trà và vũ trường : Đó là thời điểm của Lệ Thu, Elvis Phương, Nhật Trường, Thanh Lan, Carol Kim, Ngọc Minh, Lan Ngọc, Hồng Vân, Connie Kim, Cathy Huệ, Julie Quang… Phòng trà Anh Vũ ra đời khoảng năm 1957 ở đường Bùi Viện. Lớp ca sĩ đầu tiên được biết đến như danh ca Duy Khánh, Việt Ấn, Nhật Thiên Lan, Lệ Thanh, Thanh Thúy, Minh Hiếu. 9 Minh Hieu 1Ca sĩ Việt Ấn để lại trong lòng khán giả với bản Hận Đồ Bàn làm say mê người nghe.

Cũng tại Anh Vũ, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 lần đầu tiên đệm dương cầm cho Thanh Thúy hát bài Ướt Mi của Trịnh Công Sơn. Dấu ấn sâu đậm còn in lại trong lòng công chúng là hàng đêm Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long (Hoài Trung, Hoài Bắc) được đánh giá là “Tiếng hát vượt thời gian”.

Thời đó, ca sĩ Sài Gòn được chia làm hai nhóm : một nhóm chuyên hát phòng trà và vũ trường, nhóm kia thường xuất hiện trong các đại nhạc hội hoặc trong những chương trình lưu diễn các tỉnh như : Túy Phượng, Hùng Cường & Mai Lệ Huyền, Chế Linh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Phương Hồng Quế…

10-dao-tao-13Trong tất cả các ca sĩ, Thái Thanh luôn được gọi là con chim đầu đàn, “Tiếng Hát Vượt Thời Gian”.

Những lớp nhạc đào tạo ca sĩ

– Lớp nhạc Nguyễn Văn Đông : Năm 1963, Nguyễn Văn Đông là Trưởng Ban Tiếng Thời Gian của đài phát thanh Sài Gòn. Ban nhạc gồm có: Lệ Thanh, Khánh Ngọc, Trần Văn Trạch, Minh Diệu, Mạnh Phát, Thu Hồ, Anh Ngọc…

Thành lập hãng dĩa Continental và Sơn Ca. Năm 1960, Nguyễn Văn 10-dao-tao-9Đông và người bạn tên Huỳnh Văn Tứ, một doanh nhân có tiếng ở Sài Gòn, thành lập hãng dĩa chú trọng về tân nhạc và sân khấu cải lương. Sản xuất những album riêng cho từng cá nhân. Lệ Thu Sơn Ca 9. Thái Thanh và Ban Thăng Long với tên Sơn Ca 10. Tiếp theo là những dĩa Hà Thanh, Phương Dung, Thanh Tuyền, Giao Linh…

Nguyễn Văn Đông thu nhận Giao Linh, Thanh Tuyền và Sơn Tuyền (em Thanh Tuyền) làm học trò. Giao Linh nổi tiếng là “Nữ Hoàng Sầu Mộng”. Thanh Tuyền là “Nữ Hoàng Bolero”.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sáng tác những ca khúc nổi tiếng như: Chiều Mưa Biên Giới, Sắc Hoa Màu Nhớ, Tình Khúc Hàng Hàng Lớp Lớp, Mấy Dặm Sơn Khê, Lá Thư 10-dao-tao-10Người Lính Chiến, Phiên Gác Đêm Xuân, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giả Biệt…

Nguyễn Văn Đông mang cấp bậc đại tá phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Bị tù cải tạo 10 năm. Đủ điều kiện để được thu nhận vào chương trình HO nhưng vì sức khỏe quá yếu do nhiều chứng bịnh, nên ở lại Sài Gòn chờ… thế nhưng vẫn còn sống đến hiện nay.

Những lớp nhạc Hoàng Thi Thơ, Bảo Thu và Duy Khánh

– Lớp nhạc Hoàng Thi Thơ : Hoàng Thi Thơ đào tạo ba ca sĩ nổi tiếng là Sơn Ca, Họa Mi và Bùi Thiện.

Sáng tác trên 500 bản nhạc về quê hương, dân ca nổi tiếng nhất là những bản: Chuyện Tình La Lan, Nổi Buồn Châu Pha, Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi, Rước Tình Về Quê Hương, Tà Áo Cưới, Đường Xưa Lối Cũ, Trăng Rụng Xuống Cầu, Gạo Trắng Trăng Thanh, 10-dao-tao-11Đám Cưới Trên Đường Quê, Duyên Quê, Ta Với Mình…

Năm 1957, Hoàng Thi Thơ tổ chức nhiều đại nhạc hội ở rạp Thống Nhất Năm 1961, thành lập Đoàn Văn Nghệ Việt Nam với hơn 100 nghệ sĩ có tên tuổi đi lưu diễn qua nhiều quốc gia Châu Á và nhiều thành phố lớn như : Vạn Tượng, Hồng Kong, Đài Bắc, Tokyo,  Bangkok, Singapore, Sénégal, Paris, London, và nhiều nơi ở Hoa Kỳ.

Năm 1967, thành lập Đoàn Văn Nghệ Maxim gồm 70 diễn viên ca-vũ-nhạc-kịch tại nhà hàng Maxim’s.

– Lớp nhạc Duy Khánh : Duy Khánh tên thật là Nguyễn Văn Diệp sinh năm 1936 tại Quảng Trị. Là ca sĩ có giọng ca đặc biệt. Khi ở chung cư đường Trần Hưng Đạo, Duy Khánh mở lớp dạy thanh nhạc cho học trò 12, 13 tuổi. Duy Khánh hướng dẫn Chế Linh, Lâm Gia Minh, Trường Vũ trở thành những ca sĩ chuyên nghiệp.

Bản nhạc tiêu biểu của Duy Khánh là những bài: Xuân Nầy Con Không Về, Ai Ra Xứ Huế, Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê, và 40 bài hát: Thương Về Miền Trung, Bao Giờ Em Quên, Biết Trả Lời Sao, Đêm Bơ Vơ, NS Bao Thu 4Lối Về Đất Mẹ, Sao Không Thấy Anh Về, Sầu Cố Đô, Thư Về Em Gái Thành Đô… Duy Khánh mất ngày 12-2-2003 tại Quận Cam, Cali.

– Lớp nhạc Bảo Thu : Bảo Thu tên thật là Nguyễn Trung Khuyến (cũng là tên khi biêu diễn và dạy ảo thuật), sinh ngày 19/12/1944 tại Sài Gòn. Hai học trò nổi bật nhất là Thanh Tâm (vợ ông) và Thanh Mai. Ông sáng tác trên 50 bản nhạc như : Giọng Ca Dĩ Vãng, Cho Tôi Được Một Lần, Đừng Hỏi Vì Sao Tôi Buồn, Nếu Xuân Nầy Vắng Anh, Hoa Tình Thương, Em Đâu Rồi…

Bảo Thu còn là ảo thuật gia danh hiệu Nguyễn Khuyến, có bằng Tiến Sĩ Ảo Thuật do Hiệp Hội Ảo Thuật Quốc Tế trao tặng. Màn đặc biệt là hóa con thỏ thành chim bồ câu…

– Những biệt danh của các ca sĩ : “Nữ Hoàng Sầu Mộng” với Giao Linh. “Nữ Hoàng Bolero” Thanh Tuyền. “Tiếng Hát Khói Sương”, “Tiếng Hát Liêu Trai”, “Tiếng Hát Lúc Không Giờ” của Thanh Thúy. “Giọng Ca Tủ Lạnh” của Mai Lệ Huyền. Còn có biệt danh là “Cúc Lủi” vì khi hát cứ lủi ra phía trước. Tên thật của Mai Lệ Huyền là Nguyễn Thu Cúc, sinh năm 1946 tại Lào. Cô mang hai dòng máu Việt Lào. Lớn lên ở Bình Long.

10-dao-tao-12

Với giọng khàn khàn nhún nhẩy trong các bản nhạc Twist, Agogo gây không khí náo nhiệt mỗi khi cặp Hùng Cường & Mai Lệ Huyền đứng trên sân khấu.

Nhóm nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân (Trần Trịnh, Lâm Đệ, Nhật Ngân) sáng tác một loạt các bản nhạc kích động cho cặp đôi nầy. Các bản như : Gặp Nhau Trên Phố, Vòng Hoa Yêu Thương, Hai Trái Tim Vàng, Mắt Xanh Con Gái, Làm Quen Với Lính.

Các nhạc sĩ khác gồm Khánh Băng, Y Vân, Hoàng Thi Thơ, Tuấn Lê, Giao Tiên,cũng viết riêng cho Mai Lệ Huyền & Hùng Cường những ca khúc : Say, Lính Dù lên điểm, Người Lính Chung Tình, Ghét Anh Lắm, Thiên Duyên Tiền Định, Túp Lều Lý Tưởng, Xây Nhà Bên Suối, Hờn Anh Giận Em

– Mối tình đơn phương mang xuống tuyền đài chưa tan : Chàng nhạc sĩ ở tuổi ba mươi, NS Truc Phuong 3dang dở mối tình đầu với cô học trò con nhà giàu có, Trúc Phương đã rời Trà Vinh lên thủ đô Sài Gòn. Một lần nữa, hình ảnh của ca sĩ Thanh Thúy đã dẫm lên con tim đau khổ của chàng nhạc sĩ đam mê sáng tác. Thanh Thúy nổi danh, được yêu thích qua những ca khúc của Trúc Phương.

Tâm trạng, nổi lòng của người mang tình yêu đơn phương vẫn còn vang vọng qua những bản nhạc: Chuyện Chúng Mình, Hai Lối Mộng, Ai Cho Tôi Tình Yêu, Chiều Cuối Tuần, Buồn Trong Kỷ Niệm, Bóng Nhỏ Đường Chiều, Tàu Đêm Năm Cũ, Hình Bóng Cũ.

Với Trúc Phương, duyên nợ bẽ bàng nhưng mối giao cảm vẫn còn cao đẹp. Hình ảnh Thanh Thúy vẫn trọn vẹn trong tim Trúc Phương. Tiếng hát Thanh Thúy chơi vơi trên đỉnh non cao, trái tim rướm máu của Trúc Phương đi dần xuống vực thẳm. Trúc Phương từ trần ngày 18-9-1995.

Được tin Trúc Phương vĩnh biệt trần gian, Thanh Thúy viết : – “Anh Trúc Phương, một ngôi sao sáng của vòm trời âm nhạc Việt Nam vừa vụt tắt. Tin anh qua đời đến với tôi quá đột ngột. Tôi đã bàng hoàng xúc động với sự mất mát lớn lao nầy. ACS Thanh Thuy 1nh và tôi không hẹn nhưng đã gặp nhau trên con đường sống cho kiếp tằm. Anh trút tâm sự qua cung đàn, còn tôi qua tiếng hát. Trong khoảng thập niên 60, tên tuổi anh và tôi gắn liền nhau: nhạc Trúc Phương, tiếng hát Thanh Thúy…

“Đường đời đã chia đôi chúng tôi ra hai ngã, hai hướng đi. Tôi đã giã từ sân khấu, giã từ lời ca tiếng nhạc, theo chồng đi đến những phương trời xa. Còn anh vào quân ngũ và tiếp tục hăng say sáng tác, hầu hết những nhạc phẩm đều nói về cuộc đời người lính phong sương, xa nhà, xa thành phố, xa người em nhỏ hậu phương…

“Rồi lại thêm một lần cuộc đời lại chia đôi chúng tôi đôi ngã : Anh kẹt lại quê nhà, tôi sống đời lưu vong…” (TGNS, tháng 2-1996).

Nhận xét về Thanh Thúy, nhà văn Hồ Trường An viết: “Thanh Thúy là nghệ sĩ có tư cách, có phẩm hạnh. Cô không gây ngộ nhận nào cho nhóm ký giả ưa săn tin giật gân… Trong hàng ngũ các nữ ca sĩ nổi tiếng thuở xa xưa thì Thanh Thúy, Lệ Thanh và Hoàng Oanh là nhu mì, khiêm tốn, ngoan hiền. Ở chót vót đỉnh danh vọng mà Thanh Thúy không hề nói một lời kiêu căng hay một lời làm thương tổn tha nhân, không hề bôi bẩn kẻ vắng mặt, 10-dao-tao-14không khoe khoang thành tích của mình khi tiếp xúc với báo chí”. Nhìn lại cuộc đời nghệ sĩ, Thanh Thúy được ái mộ từ nghệ thuật đến nhân cách.

Kết luận

Âm nhạc Miền Nam đã có một thời phồn thịnh. Phát triển nhanh. Sở thích của quần chúng khiến cho âm nhạc trở nên đa dạng, mang nhiều màu sắc riêng biệt cho tầng lớp khán thính giả khác nhau. “Lò nhạc” “sản xuất” ca sĩ nổi tiếng nhất là lò Nguyễn Đức với các ca sĩ tên Phương đã thành danh. Các trung tâm sản xuất băng, dĩa nhạc cũng đã góp phần phổ biến âm nhạc đến quảng đại quần chúng. (theo Trúc Giang – Minnesota 6-2-2017)

Đón xem : cùng một bài viết của Trúc Giang : nói về Thanh Thúy & Thanh Lan

Nguyễn Toàn chuyển tiếp

Logo Van nghe

truc-thanh-tamthơ Trúc Thanh Tâm

CƠN MƯA ĐỜI PHÔI PHAI

Về ngang trường đại học

Vời vợi mắt buồn xưa

Tóc em dài còn để

Lợp bờ vai, nắng thưa!

Hàng cây xanh kỷ niệm

Tr thuy macNgười cũ đã xa trường

Mười năm, anh trôi nổi

Mười năm, em nhớ thương!

Con đường dài hun hút

Quán cà phê ngày nào

Cô bé mười năm cũ

Giờ đã biết yêu nhau!

Mười năm, anh có lẽ

Hạnh phúc cũng no long

thieu-nu-2Mười năm, em biết khổ

Tình đầu sông, cuối sông!

Xa nhau mười năm đó

Những bão giông cuộc đời

Những đam mê, nông nổi

Nên tình là gương soi!

Biết còn gì để nói

Cho cuộc tình đôi ta

Những ngày xưa hờn dỗi

Những bây giờ xót xa!

Mười năm dài vô tận

thieu-nu-1Anh treo hoài ước mơ

Mười năm, em chờ đợi

Cùng nhau chung chuyến đò!

Về ngang trường đại học

Anh thấy buồn hơn xưa

Mỗi người đi mỗi ngã

Cuộc đời và cơn mưa!

Ôi, mười năm để nhớ

mua-thu-1Hay mười năm để quên

Làm người đâu phải dễ

Dù rằng còn con tim !

Hãy bay đi nỗi nhớ

Trong phấn son cuộc đời

Thương một màu mắt cũ

Cơn mưa đời phôi pha i!

Trúc Thanh Tâm (Châu Đốc)

LẠM BÀN VỀ CHUYỆN “SẾN”

logo-phiem

9-ng-ngoc-chinh“SẾN” HAY “SANG”?

– Nguyễn Ngọc Chính

Kho từ vựng Sài Gòn xưa có một thuật ngữ đã đi sâu vào cuộc sống và cho đến ngày nay người ta vẫn còn dùng với hàm ý miệt thị, chê bai hay chí ít cũng là đánh giá thấp.  Chỉ một chữ “Sến” cũng đủ để gây nhiều chuyện bất bình, thậm chí còn khiến người ta phải đỏ mặt tía tai vì tranh cãi.

Một bức thư tình mùi mẫm với những lời lẽ như “… đêm nay trăng thượng tuần lên cao, anh nhớ em vô vàn, em có biết chăng em một kẻ si tình đang độc hành trong đêm lạnh lẽo ?” sẽ bị cho là “thư viết theo kiểu… sến”. Nhiều người cho rằng tán gái theo kiểu sỗ sàng “Em đi đâu đó cho anh theo cùng ?” cũng là một cách tống tình theo kiểu… sến. Cô gái áo quần lòe loẹt có tông màu xanh đỏ chỏi nhau thế nào cũng bị xem là “diện theo kiểu… sến”.

Bước sang hội họa, họa sĩ Trịnh Cung lại khẳng định, “Trong tranh vẫn có “sến” chứ ! Ví dụ như tranh của họa sĩ Lê Trung trước đây. Ông thường vẽ phụ nữ ngực tròn, mặc áo bà ba đội khăn hoặc nón rất Sài Gòn. Nói chung là bình dân…”. Tranh vẽ của Lê Trung (1) thường xuất hiện trên các báo “lá cải” như Phụ nữ Diễn đàn,  Sài Gòn Mới… và dĩ nhiên những tạp chí này cũng được xếp vào loại báo… sến !

Nhưng trước hết chúng ta hãy thử tìm hiểu nguồn gốc của chữ “sến”. Cho đến nay, có rất nhiều cách giải thích trong việc truy tầm từ nguyên.

9-sen-sang-1-le-trungGiáo sư Cao Xuân Hạo (2) giải thích, “Theo tôi, gốc của từ ‘sến’ phải bắt đầu từ chữ ‘sen’ trong nghĩa con sen, là đứa ở, con ở […] Còn nếu ứng dụng vào văn chương, nghệ thuật thì ám chỉ khẩu vị thấp hèn, ít có giá trị.”.

Lối giải thích từ “sen” biến thành “sến” có thể tạm chấp nhận nhưng kể cũng lạ khi giáo sư Hạo theo chuyên ngành ngôn ngữ học lại dùng cụm từ “khẩu vị thấp hèn”. Thường khi nói đến “khẩu vị” người ta liên tưởng đến cái “gu” trong ăn uống chứ làm sao lại có được “khẩu vị” trong văn chương, nghệ thuật ?

Có một cách giải thích khác, không mang tính học thuật như giáo sư Cao Xuân Hạo, mà lại dựa vào thực tế hồi đầu thập niên 60 tại Sài Gòn. Đó là thời thịnh hành của bộ phim Anh em nhà Karamazov (The Brothers Karamazov), chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nga, Fyodor Dostoyevsky.

Trong phim có cảnh một vũ nữ hộp đêm vừa múa vừa hát bài Mambo Italiano theo điệu mambo – cha cha cha. Cô vũ nữ mặc y phục “nghèo nàn”, thân hình bốc lửa, tóc tai rũ rượi, gào thét và rên rỉ, quằn quại và khiêu khích… Diễn viên đóng vai vũ nữ ấy là Maria Schell trước đó chưa hề nổi tiếng nhưng nhờ màn múa đầy ấn tượng này, tên cô được quảng cáo ngang hàng với tài tử Yul Brynner của Hollywood.

https://youtu.be/kbIWfH46PeA?list=PLQWeL_0VczG3wfOyhGDN0zUR_Oho_A7ln

9-sen-sang-2bPhim chiếu tại các rạp ở Sài Gòn cả tháng vẫn chưa hết người xem, sau đó bắt đầu xuất hiện những người ái mộ Maria Schell. Người ta nói, cái tên Maria Schell được Việt hóa thành “Mari Sến”.

Tôi không tin là như vậy. Sến xuất hiện trong ngôn ngữ Sài Gòn ngay sau khi có cuộc di cư vĩ đại của người miền Bắc vào Nam năm 1954, nghĩa là trước khi phim anh em nhà Karamazov đến Sài Gòn. Trước 1954, người miền Bắc dùng từ “con sen” để chỉ người giúp việc trong khi miền Nam gọi là “ở đợ” và ngày nay còn được gọi là “Ô-Sin”.

“Sen” thường là những cô gái quê, con nhà nghèo, ít học, phải ra Hà Nội để kiếm sống bằng nghề giúp việc nhà. Sau 1954, “Sen” cũng di cư vào Nam. Ở Sài Gòn khi đó nước máy chưa được đưa tới từng nhà nên chiều chiều các cô sen lại tụ tập quanh máy nước (fontaine) để hứng nước gánh về nhà, từ đó lại đẻ thêm cái tên “Mari-Phông-tên”.

Và Mari Sến hay Mari Phông-ten cũng đã đi vào thơ văn. Một nhà thơ nào đó đã không hết lời ca tụng người em… Sến :

Em phải là người em Sến không

Sao môi em đỏ, ngực em phồng

Thân hình ngào ngạt mùi son phấn

Anh muốn gì em, em biết không ?

Cũng có giải thích đại loại như Sến bắt nguồn từ tiếng Anh “sentimental”, có nghĩa là đa cảm, ủy mị… 9-sen-sang-2Tôi không tin là như vậy vì sentimental hoàn toàn không hàm ý miệt thị, chê bai còn Sến của ta lại mang đậm nét mỉa mai, châm biếm. Nói theo nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan : “sến” là biểu hiện những dạng thị hiếu thẩm mỹ dưới mức trung bình.

Cứ như thế, chữ “sến” bị lạm dụng trong ngôn ngữ hàng ngày để gán cho những gì thuộc loại “hạ cấp” theo suy nghĩ của người sử dụng từ ngữ. Nổi bật nhất trong lãnh vực âm nhạc là “trường phái” nhạc… sến khởi đầu từ thập niên 60 với tiết điệu boléro, rumba… Những nhạc sĩ tiêu biểu của trường phái này có thể kể đến Lam Phương, Hồ Đình Phương, Vinh Sử, Thanh Sơn…

Theo nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, điệu bolero mang âm hưởng bình dị của dân ca Nam Bộ : “Phần đông ca sĩ, nhạc sĩ là người miền Nam nên hát và viết bài hát mang chất dân ca bình dân của người Nam. Họ viết nhạc phần đông ở giọng thứ, khi hát với bolero, nó đúng cái nhịp của người miền Nam. Dân ca miền Nam rất hợp bolero. Bên tân cổ giao duyên, phần đông hát vọng cổ xong đều chuyển qua bolero. Hai cái đó dính liền, pha với nhau. Từ đó có âm hưởng bolero trong âm nhạc Việt Nam”.

Bình luận về điệu bolero của Nguyễn Ánh 9, một nhạc sĩ người miền Nam, lại gợi đến một ý cho rằng những người Bắc di cư năm 1954 không thích nhạc phẩm do người Nam sáng tác, họ cũng không quen với cách phát âm của các ca sĩ người miền Nam khi hát. Ngoài ra, họ lại sợ cạnh tranh với nhạc tiền chiến của những nhạc sĩ người miền Bắc nên mới đặt ra danh từ “Nhạc Sến” với ý chê bai.

9-sen-sang-3-nguyen-anhNhà thơ Hữu Loan, người miền Bắc, làm bài thơ Mầu tím hoa sim rất nổi tiếng nói về một cô gái lấy chồng đi bộ đội, chồng không chết mà cô ta chết. Một chuyện tình rất lâm ly vào thời kháng chiến với kết cuộc :

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người em gái nhỏ hậu phương.

Bài thơ này được phổ nhạc thành 2 nhạc phẩm: Những đồi hoa sim của Dzũng Chinh (nguời miền Nam) và Áo anh sứt chỉ đường tà, của Phạm Duy, người Bắc. Áo anh sứt chỉ đường tà với âm điệu lên xuống, luyến láy, rất khó hát và hình như chỉ những giọng ca điêu luyện của Vũ Khanh, Sĩ Phú, Duy Quang, Duy Trác, Elvis Phương mới thành công còn Những đồi hoa sim thì ca sĩ nào cũng có thể hát được, từ Phương Dung, Tuấn Vũ cho đến Thanh Tuyền, Như Quỳnh…

Trong trường hợp này, nếu làm một cuộc khảo sát bỏ túi về sự lựa chọn giữa “nhạc sến” và “nhạc sang”, ta sẽ có ngay kết quả: Những đồi hoa sim là “nhạc sến”. Nhưng thiết nghĩ, đó là sự lựa chọn mang tính cách “địa phương” của những người có gốc từ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954.

Sự khác biệt về cá tính giữa người Nam và người Bắc nói riêng và giữa hai miền Nam-Bắc nói chung là người miền Nam thì bình dị, thường nói “huỵch tẹt” ý nghĩ của mình, trong khi Bắc Kỳ thì lại khách sáo, ưa nàu mè… trong lòng muốn lắm nhưng ngoài mặt cứ giả vờ như không.

Lời ca của dòng nhạc bolero miền Nam rất bình dân, mộc mạc, dễ nhớ và cũng dễ hát. Đó là những lời chân thực từ trái tim, chẳng hạn như trong bài Duyên kiếp của Lam Phương, cô gái cất tiếng hát “Anh ơi nếu mộng không thành thì sao ? Non cao, biển rộng biết đâu mà tìm…” hoặc bài Quen nhau trên đường về của Thăng Long có 9-sen-sang-4câu “Chiều nay có phải anh ra miền Trung, về thăm quê mẹ cho em về cùng…”.

Rõ ràng là nhạc sến không có triết lí cao siêu, mà toàn là những câu, những chữ mà ngay cả anh xích lô và chị “buôn thúng bán mẹt” ngoài chợ có thể hiểu được vì đó là những lời… “nghĩ sao nói vậy”: “Tại anh đó nên duyên mình dở dang, em nào mộng mơ quyền quý cao sang…” hoặc “Tôi với nàng hai đứa nguyện yêu nhau. Tha thiết từ đây cho đến ngày bạc đầu…”.

Theo nhiều người, ca khúc Người yêu cô đơn của Đài Phương Trang là một bản nhạc “đặc sệt” chất sến. Nghe Chế Linh than thở, rên rỉ khiến có người nghe phải… rùng mình, rợn tóc gáy, nổi da gà:

“Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn / Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng không thành / Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng dở dang / Yêu ai cũng lỡ làng dù rằng tôi chẳng lỗi chi… Trời cho tôi cô đơn bao nhiêu lần nữa đây / Tôi không hề trách đời hay giận đời mau đổi thay”

9-sen-sang-5– Người yêu cô đơn – Tuấn Vũ

https://youtu.be/HEOH2UEiTqA

– Tuyển tập Chế Linh – 4:00’ :

https://youtu.be/M9INuAmNo8M

– Người yêu cô đơn, Chế Linh :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Nguoi-Yeu-Co-Don-Che-Linh/ZWZABOW7.html

– Người yêu cô đơn, Ken Nguyễn :

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Nguoi-Yeu-Co-Don-Remix-Ken-Nguyen/ZW6W9969.html

9-sen-sang-6-tuan-vuCũng trong Người yêu cô đơn được remix với tiết tấu nhanh hơn pha trộn những đoạn “nói lối” theo kiểu rap, ca sĩ Ken Nguyễn đã khiến bài hát bớt đi chất sến và dĩ nhiên là được nhiều người chấp nhận.

Thế cho nên, sến hay không là còn tùy cách trình diễn của người hát chứ không phải “một khi bản nhạc đã sến thì ai hát cũng vẫn là sến”!  

Ở một thái cực tương phản, cái gọi là nhạc “sang” lại dùng những ca từ mà chính những người “trí thức” cũng không hiểu hết những gì mình hát.  Mấy ai đã cảm nhận hết những câu hát đại loại như “Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẻ loi” hoặc “Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ chân giang hồ. Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già, một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua”.

Tôi nghĩ, ngay chính bản thân người nhạc sĩ khi viết những lời như trên sẽ lúng túng khi có người cắc cớ nhờ giải thích cho rõ!

Phạm Duy với ca khúc Giết người trong mộng là một trường hợp khác hẳn. Từ bài thơ Hành khất của Hàn Mặc Tử ông đã phổ nhạc thành một bài hát mang sắc thái “sắt máu”, lập đi lập lại những động thái “giết người”, “giết người đi”… để “trả thù duyên kiếp phũ phàng” và để trừng phạt kẻ “quên tình nghĩa phu thê”.

Làm sao giết được người trong mộng

Để trả thù duyên kiếp phụ phàng ?

Có lẽ không ai coi Giết người trong mộng là nhạc sến nhưng nhiều người vẫn không thoải mái khi phải hát những câu giết chóc từ đầu đến cuối bài hát. ca-nhac-2Bảo Giết người trong mộng là nhạc sang lại càng không đúng vì nó thiếu tư tưởng “hàn lâm” của một bản nhạc sang trọng.

Cũng cần phải nói thêm, miền Nam trước đây có tới hai dòng nhạc chính. Đầu tiên là Nhạc Vàng và tiếp đến là Nhạc Sến. Vào đầu thập niên 60, nhạc sĩ Phó Quốc Lân cho ra mắt ban Nhạc Vàng trên đài truyền hình Sài Gòn, ông cũng là tác giả những bản nhạc như Xuân ly hương, Hương lúa miền Nam, Mong ngày anh về, Vui khúc tương phùng…

Những hãng phát hành băng và đĩa nhạc cũng cho ra nhiều sản phẩm với tên gọi “Nhạc Vàng” như Hương Giang, Dạ Lan của nhạc sĩ Anh Bằng, và Shotguns của Ngọc Chánh. Tại miền Nam, nhạc vàng khi đó được hiểu là thể loại nhạc tình êm dịu, có tình yêu quê hương, tình yêu lứa đôi hoặc có nỗi lòng riêng tư của người lính chiến.

Những tác giả với tên tuổi gắn bó với Nhạc Vàng phải kể đến Phạm Duy, Văn Phụng, Anh Bằng, Nguyễn Văn Đông… và thế hệ nhạc sĩ kế tiếp là Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Trần Thiện Thanh…  Đó cũng là thời của các ca sĩ như Thái Thanh, Thanh Thúy, Hoàng Oanh, Khánh Ly, Hà Thanh, Thanh Tuyền, Chế Linh, Duy Khánh, Tuấn Vũ, Hương Lan, Giao Linh, Thanh Lan, Hùng Cường và Mai Lệ Huyền…

Thời của Nhạc Vàng nổi bật với những ca khúc đã đi sâu vào tâm thức người miền Nam như Giọt mưa trên lá (Phạm Duy), Khúc ca ngày mùa (Lam Phương), Hoài thu (Văn Trí), Xóm đêm (Phạm Đình Chương), Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên), Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn), Đường xưa lối cũ (Hoàng Thi Thơ), Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương), Thương hoài ngàn năm (Phạm Mạnh Cương), Nắng lên xóm nghèo bac-ky-2(Phạm Thế Mỹ)…

Ở Miền Bắc, dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa, từ thập niên 1950 đã du nhập khái niệm “nhạc màu vàng” từ Trung Hoa và bị coi “là thứ âm nhạc lãng mạn, bi quan, hoặc khêu gợi tình dục và những khát vọng thấp hèn”. Phong trào bài trừ “nhạc màu vàng” dưới thời Mao Trạch Đông cũng lan sang miền Bắc nên dòng nhạc tiền chiến thịnh hành trước năm 1954 cũng phải câm nín vì bị cấm.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, nhạc vàng gần như biến mất và thay vào đó là… nhạc “đỏ” của cách mạng. Thật ra thì nhạc vàng vẫn sống trong lòng người Sài Gòn qua những khúc hát nghêu ngao từ cửa miệng người dân, hoặc nghe trộm qua BBC, VOA hoặc nghe lén qua băng cassette còn sót lại sau chiến dịch “bài trừ văn hóa đồi trụy”.

Mãi đến khi bắt đầu thời kỳ Đổi Mới thì các loại nhạc vàng, nhạc sến mới dần dà được chính quyền “xét lại” và cho phổ biến một cách hạn chế, tùy theo tác giả và tác phẩm.  Năm 1986, lần đầu tiên nhà nước cho ra danh mục 36 tác phẩm âm nhạc của Miền Nam trước kia nay được phép công khai trình diễn. Danh sách này sang thập niên 1990 thì bỏ, thay vào đó là danh sách nhạc cấm có liên quan đến người lính Việt Nam Cộng hòa.

Cơ quan văn hóa đề nghị cổ xúy nhạc xanh, tức nhạc trẻ của thời đại Đổi Mới, nhưng xem ra không thành công. Trong khi đó, số người nghe nhạc vàng ngày càng đông, không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 17, ở hải ngọai mà cả ở miền Bắc, thậm chí còn theo chân người Việt đi lao động ở Liên Xô và Đông Âu vào thập niên 1980.

dan-ong-1Sang thế kỷ 21, những nhà kinh doanh và tổ chức ca nhạc trong nước đã thực hiện nhiều buổi trình diễn nhạc vàng, họ đưa ca sĩ từ hải ngoại về hát. Vào tháng 8/2010 hai ca sĩ mà tên tuổi gắn liền với nhạc sến là Hương Lan và Tuấn Vũ đã trình diễn những bản nhạc vàng ở Nhà hát Lớn Hà Nội suốt nửa tháng trời với giá vé lên đến 1,7 triệu mà mỗi suất vẫn kín chỗ.

Trong một bài phỏng vấn, “Vua Nhạc Sến” Vinh Sử đã lên tiếng : “Với tôi, không hề có “nhạc sến” mà chỉ có nhạc hay và nhạc dở mà thôi (đương nhiên nhạc hay mới có giá trị). Nếu từ “nhạc sến” là dùng để chỉ dòng nhạc dành cho giới bình dân thì tôi chịu lắm và tôi rất tự hào khi được rộng rãi quần chúng hát nhạc của mình”.

Theo nhạc sĩ Vinh Sử, ở Sài Gòn trước 1975, giới làm nhạc rất dễ kiếm tiền. Tiền tác quyền một bản nhạc có khi mua được cả một chiếc xe hơi, nhạc sĩ lại được “đặt hàng” tới tấp, do vậy mới nảy sinh ra loại “nhạc thị trường” được viết theo kiểu “mỳ ăn liền”. Đó chính là thời kỳ Vinh Sử tung ra các ca khúc như Nhẫn cỏ cho em, Yêu người chung vách, Trả nhẫn kim cương

Sau 1975, nhạc của Vinh Sử có “e” (air) nhạc dân gian, mang âm hưởng cổ nhạc, chẳng hạn như Tình ngoại, Bằng lòng đi em, 9-sen-sang-7-vinh-suĐể tóc nàng ngủ yên, Qua ngõ nhà em, Làm dâu xứ lạ, Nhành cây trứng cá… Vinh Sử than thở : “Cái đẹp của quê hương mình sao mình lại không ngợi ca, tôn vinh mà lại dè bỉu là… “sến”? […] Tôi đã từng nói : “Bao giờ nước mình giàu, không còn người đạp xích lô, thợ hồ, ô sin… lúc đó tôi sẽ viết… nhạc sang !”

Có người lại quả quyết nhạc sến được khai thác từ cổ nhạc. Điều này tôi nghĩ không chính xác vì cổ nhạc, chẳng hạn như vọng cổ, viết theo ngũ cung (hò, xự, xang, xê, cống), còn tân nhạc nói chung và điệu boléro nói riêng có đến 7 nốt (do, re, mi, fa, sol, la, si). Phải chăng kết luận như thế vì sự lầm lẫn khi nghe những bài “tân cổ giao duyên” nên cứ tưởng là phần tân nhạc lấy từ cổ nhạc (?).

Nếu nhạc sĩ Vinh Sử được phong tặng là “Vua Nhạc Sến” thì ngôi vị “Nữ Hoàng Nhạc Sến” chắc phải dành cho ca sĩ Hương Lan, con gái của kép cải lương Hữu Phước (3).

Hương Lan vào nghề hát từ ngày hãy còn là “Em bé Hương Lan” và đã được rất đông người ngưỡng mộ với chất giọng miền Nam mượt mà, mùi mẫm. Tuy nhiên, cũng có những người không thích vì họ cho là cô chuyên hát dòng nhạc sến. Ca sĩ Hương Lan khẳng định:

“Âm nhạc có nhiều dòng khác nhau: nhạc dân ca, nhạc trữ tình…, nhưng không có dòng nhạc sến. Tôi không biết những người hay dùng từ sến để chê một bài nào đó, họ có hiểu “sến” là gì hay không; hay cái gì không thích thì đều cho là “sến”.

9-sen-sang-8-ca-siCũng theo Hương Lan, “cải lương” là một loại hình nghệ thuật thì làm sao người ta có thể tùy tiện sử dụng “cải lương” như một tính từ mỗi khi muốn chê cái gì đó, chẳng hạn như “văn chương cải lương”, “ăn nói cải lương”… với ý dè bỉu, coi thường bộ môn nghệ thuật dân gian vốn có từ lâu của người Việt nói chung và người miền Nam nói riêng. Hương Lan thẳng thừng tuyên bố :

“Tôi xem đó là sự chọc ghẹo, coi thường và nhục mạ rất tệ hại, nếu không nói là vô văn hóa. Nhưng đó là khán giả chê. Đáng buồn hơn, ngay cả người trong giới [ca nhạc] cũng nói như vậy. Các em [ca sĩ] dù có nổi tiếng đến đâu, hát nhạc sang thế nào thì cũng đừng nên coi thường các loại nhạc khác”.

Có khoảng hơn 2.000 bài hát được sáng tác dưới thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa tại miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Điều rõ ràng là không thể phân biệt được bài nào thuộc loại sến, bài nào thuộc loại không sến chứ chưa nói gì đến loại nhạc sang trọng theo kiểu hàn lâm.

9-sen-sang-9-ca-siThiết nghĩ, sến hay sang còn tùy vào nhiều yếu tố bao gồm nhạc điệu, lời ca và kỹ thuật trình diễn. Ba yếu tố đó có tầm ảnh hưởng lẫn nhau vì không phải cứ điệu bolero hay rumba là bài hát trở thành sến, ca từ không phải cứ mộc mạc là thuộc dòng nhạc sến và người hát nếu chú ý đến phong cách biểu diễn cũng có thể biến một bản nhạc cứ tưởng như thuộc loại sến trở thành một ca khúc được người nghe chấp nhận.  (theo Nguyễn Ngọc Chính – Hồi ức một đời người)

Chú thích :

(1) Họa sĩ Lê Trung sinh năm 1919 tại Châu Đốc. Ông là cựu sinh viên trường Mỹ nghệ Gia Định và trường Mỹ thuật Hà Nội. Lê Trung chuyên về chân dung, phong cảnh, tĩnh vật trên phấn màu và thủy họa.

(2) Cao Xuân Hạo (1930-2007) là một nhà ngôn ngữ học người Việt với nhiều đóng góp trong việc định hình phương pháp phân tích cấu trúc câu tiếng Việt. Ngoài ra, ông còn là một dịch giả, giáo sư văn chương uyên bác.

Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng với giai thoại tự học nghe, nói và viết thành thạo tiếng Pháp chỉ từ việc chơi với một người bạn Pháp. Ông từng làm giảng viên ngôn ngữ học, khi đó ông đảm nhận phần lớn công việc dịch sách và hiệu đính các sách dịch tại bộ môn ngôn ngữ học, tại Đại học Tổng hợp Hà Nội.

9-sen-sang-10Ông nổi tiếng cả với tư cách nhà ngôn ngữ học và dịch giả, và là thành viên Hội Nhà văn Việt Nam. Giáo sư Cao Xuân Hạo từ trần ngày 16/10/2007 tại Sài Gòn sau hai tuần nằm bệnh từ một cơn đột quỵ.

Tác phẩm của Cao Xuân Hạo về ngôn ngữ học – Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa. (Nhà xuất bản Giáo dục, 1998). –  Tiếng Việt – Văn Việt – Người Việt (Nhà xuất bản Trẻ, 2001) – Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng. (Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Công ty văn hóa Phương Nam, 2006).

Truyện dịch: · Người con gái viên đại uý (truyện 1959). · Chiến tranh và hòa bình (tiểu thuyết 1962).· Truyện ngắn Goócki (1966).· Con đường đau khổ (tiểu thuyết 1973). · Tội ác và hình phạt (tiểu thuyết – xuất bản năm 1983 với tên Tội ác và trừng phạt do BTV tự ý sửa). ·Đèn không hắt bóng (1986). – Papillon (1988).· Nô tỳ Isaura (tiểu thuyết 19??).

(3) Đoạn này người viết Nguyễn Ngọc Chính – có nhận định hơi khập khiểng. Nếu nói hát nhạc sến hay thì p\hải kể đến Hùng Cường và Thanh Tuyền, còn Hương Lan là kẻ “hậu sanh” chỉ nổi vào thập niên 1990 ở Hải ngoại. (admin)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

TỬ VI TÂY PHƯƠNG THÁNG 3/2017

Logo Tvi TPhuong

GIEO QUẺ THÁNG 3/2017 CỦA BẠN

2-am-duong-lich-2017-3

b1-bao-binh1/- BẢO BÌNH (20/1 – 18/2)

Tuổi Bảo Bình có xu hướng liều lĩnh hơn, đặc biệt trong khoảng 2 tuần đầu của tháng 3 này. Sẽ có một số sự thay đổi đến với cuộc sống của bạn. Bảo Bình sẽ dần đạt được vài thành quả trong mục tiêu lâu dài cuộc sống của mình. Bảo Bình hãy chấp nhận cuộc sống như nó vốn dĩ và tiến lên phía trước một cách hoàn hảo nhất. Có hàng trăm điều tốt đẹp đang chờ Bảo Bình ở con đường trước mặt.

Nửa đầu tháng 3 là cơ hội cho Bảo Bình tỏa sáng trong công việc, và bạn sẽ trở nên “bất khả chiến bại” ngay cả với những đồng nghiệp kỳ cựu hoặc cấp trên. Nhưng chớ vì điều này mả hãnh tiến, tự mãn sẽ chuốc họa vào thân đấy.

Sự lãng mạn sẽ tìm đến với Bảo Bình ngay trong hai tuần cuối tháng dù  đầy bận rộn. Những kế hoạch mới có thể chứa đựng sự tiến triển trong tình cảm với người Bảo Bình đã cố gắng muốn ở bên cạnh từ lâu mà chưa được.

Ngày may mắn: 5, 6, 14, 15, 23, 24, 31

Ngày không may mắn: 2, 3, 10, 11, 16, 17, 29, 30

Ngày cho tình yêu: 5, 6, 14, 15, 21, 22, 25, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 2, 7, 8, 12, 16, 17, 20, 21, 25, 26, 30

Ngày cho công việc: 1, 12, 16, 17, 21, 22, 29, 30

b2-song-ngu2/- SONG NGƯ (19/2 – 20/3)

Vào những ngày đầu tháng 3, các Song Ngư sẽ có chút xích mích với cấp trên của bạn, nhưng hãy cố gắng đừng làm cho vấn đề nghiêm trọng thêm bằng cách nói những lời hài hước, dí dỏm cho không khí thêm nhẹ nhàng, tránh tranh cãi do tự ái mà có. Song Ngư sẽ được đền đáp thật x ứng đ áng.

Vào ngày 7 và 8 đầu tháng, mọi thứ sẽ rất khác, nằm ngoài sự mong đợi của Song Ngư. Chuyện tình cảm cũng như cuộc sống công việc của Song Ngư sẽ có chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Đến giữa tháng 3, nếu Song Ngư cảm thấy mệt mỏi và không muốn chia sẻ điều gì với ai thì hãy tìm một vị trí yên tĩnh để nghỉ ngơi nhé !

Cuối tháng, với sức mạnh của Song Ngư, bạn hãy thể hiện mình cho mọi người thấy được khả năng làm việc của mình. Sau đó hãy tự thưởng cho mình một buổi ăn uống thịnh soạn cùng bạn bè, nhất là nếu có “nửa mảnh” đi kèm, chớ quá tiết kiệm, vì bánh ít đi bánh quy lại đấy Song Ngư ạ.

Ngày may mắn: 2, 3, 12, 13, 21, 22, 29, 30

Ngày không may mắn: 1, 7, 8, 14, 15, 27, 28, 31

Ngày cho tình yêu: 5, 7, 8, 12, 15, 16, 17, 21, 22, 25, 26, 29

Ngày cho tài chính: 7, 8, 9, 16, 17, 18, 23, 24, 25, 26, 29

Ngày cho công việc: 4, 5, 14, 15, 16, 17, 25, 26, 31

b3-bach-duong3/- BẠCH DƯƠNG (21/3 – 19/4)

Đầu tháng 3 này, cho dù quyết định của Bạch Dương là điều gì đi chăng nữa, đi picnic, chơi thể thao, hoặc tham gia những chương trình xã hội, hãy chắc chắn rằng bạn sẽ tham gia một cách nhiệt tình. Bạch Dương hãy rủ những người bạn yêu quý cùng tham gia. Đây sẽ là cơ hội để làm cho mối quan hệ của Bạch Dương và mọi người trở nên gần gũi và thân thiện hơn.

Ngày 11 và 12 của tháng 3 này, Bạch Dương đừng làm điều gì để chọc tức cấp trên của bạn. Trong hai ngày cuối của trung tuần, Bạch Dương không thể tập trung vào công việc trong khi tâm trí cứ mông lung, nghỉ ngợi đến ngày cuối tuần. Hãy nhanh chóng lấy lại tinh thần và làm việc trở lại nhé.

Đến ngày 28, Bạch Dương sẽ bị lôi cuốn vào việc giải quyết một vài vấn đề căng thẳng, một giải pháp hữu hiệu đó là hãy tập trung để giải quyết dứt điểm. Cuối tháng, nếu Bạch Dương càng nói chuyện nhiều hơn thì kỹ năng giao tiếp của bạn sẽ ngày một tốt hơn. Vì thế, hãy chat với bất cứ ai mà Bạch Dương biết, ở bất cứ đâu mà bạn có thể !

Ngày may mắn : 10, 11, 19, 27, 28, 31

Ngày không may mắn : 5, 6, 12, 13, 25, 26, 29, 30

Ngày cho tình yêu : 1, 5, 6, 12, 21, 22, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính : 7, 8, 16, 17, 21, 22, 25, 26, 30

Ngày cho công việc : 5, 6, 12, 13, 14, 15, 25, 27, 28

b4-kim-nguu4/- KIM NGƯU (20/4 – 20/5)

Trong lĩnh vực tình yêu, các Kim Ngưu trong tháng này sẽ có một sức quyến rũ tuyệt vời. Bạn chẳng khác gì một thỏi nam châm đối với các bạn khác giới. Cuối tháng, chuyện tình cảm làm Kim Ngưu hài lòng, thậm chí, nhiều bạn sẽ có một mối quan hệ vững chắc tiến xa hơn mong đợi.

Tháng này, Kim Ngưu hãy dành nhiều thời gian cho gia đình nếu có. Còn những Kim Ngưu độc thân sẽ có một mối quan hệ tình cảm đang chờ đợi nhưng đừng chìm đắm vào nó mà không suy nghĩ. Hãy để mọi thứ tự tiến triển. Chỉ biết nói rằng Kim Ngưu đang có kẻ dòm ngó tranh phản trong công việc. Tuy nhiên cũng có thể báo trước rằng có những dấu hiệu tích cực về mặt tài chính, nhưng chớ phung phí dù Kim Ngưu sẽ có thêm một khoản thu nhập bất ngờ cho mình vào những ngày cuối tháng.

Ngày may mắn: 7, 8, 16, 17, 25, 26, 27, 28

Ngày không may mắn: 2, 3, 10, 11, 23, 24, 29, 30, 31

Ngày cho tình yêu: 18, 19, 21, 22, 27, 28, 29, 30

Ngày cho tài chính: 5, 7, 8, 14, 16, 17, 18, 19, 23, 25, 26, 31

Ngày cho công việc : 5, 6, 10, 11, 14, 15, 25, 31

b5-song-nam5/- SONG NAM (21/5 – 21/6)

Tháng này là thời gian tuyệt vời dành cho học tập và công việc của Song Nam. Việc học hành có nhiều tiến triển thuận lợi; nhận thức và tầm nhìn của Song Nam ngày càng được mở rộng. Sức sáng tạo lên cao, giúp bạn có thể đón nhận những thành công lớn trong công việc. Những cơ hội không ngờ tới sẽ đến với Song Nam, hãy biết cách nắm bắt cơ hội, đặc biệt với các bạn có ngày sinh trong tháng 3 này.

Các Song Nam sẽ gặp phải vấn đề về sự cân bằng giữa công việc và gia đình. Sẽ không có tiến triển nào nếu không tự đối mặt và giải quyết những vấn đề này một cách triệt để. Có thể các Song Nam cần suy nghĩ thật thấu đáo để đưa ra những hành động phù hợp nhất. Niềm vui và hạnh phúc rồi sẽ tràn ngập xung quanh.

Nếu Song Nam còn độc than đang tìm kiếm tình yêu, đây là thời điểm để bước ra ngoài kia và thể hiện bản thân. Song Nam hãy dừng chân tại các buổi gặp gỡ là một lựa chọn tuyệt vời để tìm ra những mục tiêu tiềm năng, nhưng đâu là nơi thật sự thích hợp thì vẫn là một câu hỏi khó cho Song Nam đấy.

Ngày may mắn: 5, 6, 14, 15, 23, 24. 26, 29, 31

Ngày không may mắn: 1, 7, 8, 21, 22, 27, 28, 30

Ngày cho tình yêu: 9, 12, 18, 21, 22, 27, 28, 29, 30, 31

Ngày cho tài chính: 8, 12, 16, 17, 25, 26, 29, 30, 31

Ngày cho công việc: 4, 5, 7, 8, 15, 16, 17, 25, 26, 29, 30

b6-bac-giai6/- BẮC GIẢI (22/6 – 22/7)

Các Bắc Giải hãy ném những vấn đề của bạn vào cơn gió, ít nhất vào đầu tháng khi có những hoạt động vui chơi sôi động. vì rằng Bắc Giải cần nghỉ ngơi.

Trong vấn đề tình cảm, Bắc Giải sẽ có nhiều sự hài hòa hơn là mâu thuẫn. Bắc Giải có thể tìm thấy tình yêu ở nơi làm việc, nơi khám bệnh hay ở chốn đông người. Sức khỏe tốt tác động đến đời sống tình cảm và ngược lại. Vào tháng 3 này, Bắc Giải sẽ nhận ra rằng nếu bạn thật sự yêu một ai đó, hãy dành nhiều thời gian cho người đó.

Giữa tháng, Bắc Giải nên cẩn thận khi lái xe. Có mối nguy hiểm đang đe dọa bạn. Hãy kiểm tra xe nếu dự định đi xa thành phố. Sau ngày 21, khả năng thăng tiến trong công việc có thể đến với Bắc Giải. Bắc Giải cũng sẽ có những cơ hội để kiếm nhiều tiền hơn. Những cơ hội tài chính sẽ xuất hiện, Bắc Giải có thể sẽ có một khoản thu nhập không mong đợi qua bảo hiểm hoặc thừa kế..

Ngày may mắn: 2, 3, 12, 13, 21, 22, 29, 30

Ngày không may mắn: 5, 7, 8, 19, 25, 26, 31

Ngày cho tình yêu: 1, 2, 12, 20, 21, 26, 29, 30

Ngày cho tài chánh: 4, 5, 7, 8, 14, 15, 16, 17, 25, 26

Ngày cho công việc: 5, 6, 12, 21, 22, 29, 30

b7-hai-su7/- HẢI SƯ (23/7 – 22/8)

Tháng 3 này của Hải Sư sẽ rộn ràng vui vẻ, bạn sẽ có những ngày dễ chịu. Sự lãng mạn trở thành một lý do nữa để Hải Sư vui vẻ nhiều hơn, và bạn sẽ cảm thấy mình thật may mắn vì có những người bạn đáng tin cậy. Những rắc rối của Hải Sư không đáng có đối với bạn bè hoặc các mối quan hệ xã hội khác cũng được giải quyết ổn thỏa.

Tháng này vấn đề tiền bạc cũng tiến triển tốt đẹp hơn. Chậm mà chắc là tôn chỉ của Hải Sư trong Quý I này. Hãy cứ giữ những mục tiêu tài chính của bạn và những giấc mơ để rồi nó trở nên thuận lợi cho Hải Sư hơn vào cuối tháng.

Giữa tháng 3, chòm sao của Hải Sư sẽ tạo nên sự thay đổi tích cực cho bạn. Sẽ là cơ hội tốt nếu muốn thay đổi theo dự tính… Công việc và sự nghiệp của Hải Sư trong tháng cũng khá suôn sẻ, các bạn có thể sẽ tìm được những công việc yêu thích của mnh hoặc lấy lại được cảm hứng với công việc. Một điều cho Hải Sư còn độc thân, sẽ có tin về “một nửa” mà bạn chờ đợi đã lâu, và hãy nắm bắt kẽo mất cơ hội tốt đấy.

Ngày may mắn: 1, 10, 11, 19, 27, 28, 31

Ngày không may mắn: 2, 3, 16, 17, 23, 24, 29, 30

Ngày cho tình yêu: 8, 9, 12, 17, 18, 21, 22, 23, 24, 26, 29, 30

Ngày cho tài chính: 5, 6, 7, 8, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 25, 26

Ngày cho công vệc: 3, 10, 11, 18, 19, 27, 28, 29, 30, 31

b8-xu-nu8/- XỮ NỮ (23/8 – 22/9)

Tháng này Xử Nữ cần thận trọng trong lời ăn tiếng nói với người quanh bạn, nhất là những đồng nghiệp thường hay dòm ngó tranh phản. Hãy đảm bảo rằng mọi người hiểu đúng ý Xử Nữ và chủ động hỏi khi gặp phải vấn đề nào đó chưa chắc chắn. Tháng này cũng báo trước về những vấn đề có thể xảy ra trong nội bộ gia đình. Nếu buộc phải quyết định một điều gì quan trọng, Xử Nữ hãy cân nhắc kỹ càng cả mặt tích cực lẫn hạn chế.

Về tình hình tài chính, những khoản tiền sẽ đến cùng sự thành công của Xử Nữ vào trung tuần tháng này, nhưng không nên tiêu xài quá hoang phí. tháng này là cơ hội tập trung vào tình hình tài chính và thu nhập. Điều tốt đẹp nhất là dường như Xử Nữ chắc chắn sẽ nhận được một khoản thu nhập khá vui vẻ.

Về tình yêu, Xử Nữ có thể kỳ vọng về những chuyển biến tốt đẹp trong chuyện tình cảm. Sức khỏe của Xử Nữ tháng này khá ổn nhưng bạn sẽ cảm thấy đôi chút mệt mỏi sau ngày 23. Hãy cố gắng dành thời gian để thư giãn và nghỉ ngơi đừng quá cố sức mà tản tài !

Ngày may mắn: 7, 8, 16, 17, 25, 26, 29, 30

Ngày không may mắn:1, 14, 15, 21, 22, 27, 28, 31

Ngày cho tình yêu:1, 7, 8, 12, 16, 17, 21, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho tài chính:5, 6, 7, 8, 10, 11, 14, 15, 16, 17, 25, 26

Ngày cho công việc:1, 9, 18, 27, 28, 31

b9-thien-xung9/- THIÊN XỨNG (23/9 – 22/10)

Tháng 3 này đảm bảo với Thiên Xứng rằng một số những chuyến hành trình thú vị đến những nơi độc đáo sẽ diễn ra. Có rất nhiều chuyến đi trong những ngày tới. Nó có thể cho Thiên Xứng thấy những yếu tố cần thiết phải chuẩn bị trong những giai đoạn khác nhau.

Vào những ngày đầu tháng, Thiên Xứng không những có hứng thú với sự hấp dẫn về tình cảm mà còn cả sự hòa hợp về tâm hồn, hãy cùng chia sẻ với chúng. Nhưng sự hấp dẫn về hình thức sẽ không đủ đối với Thiên Xứng, bạn cần có chiều sâu hơn. Những Thiên Xứng còn độc thân sẽ tìm thấy tình yêu với người chưa quen qua những cánh thư hay chat trên mạng. Và cuộc sống tình cảm của Thiên Xứng sẽ rất vui vẻ và mãn nguyện.

Hãy cẩn thận với vấn đề sức khỏe. Cải thiện hệ miễn dịch của Thiên Xứng bằng việc bổ sung vitamin hay uống trà thảo mộc. Sau ngày 23, sức khỏe và phong độ của Thiên Xứng sẽ được cải thiện. Bạn sẽ trở nên năng nổ hơn trong các hoạt động

Ngày may mắn: 5, 6, 14, 15, 23, 24, 30, 31

Ngày không may mắn: 12, 13, 19, 25, 26, 29

Ngày cho tình yêu 12, 14, 18, 19, 21, 22, 23, 29, 30

Ngày cho tài chính: 4, 5, 7, 8, 15, 16, 17, 25, 26, 31

Ngày cho công việc: 2, 12, 20, 21, 25, 26, 29

b10-ho-cap10/- HỔ CÁP (23/10 – 21/11)

Tháng này, lịch cho các hoạt động của Hổ Cáp sẽ đầy ắp và bạn dễ cảm thấy bị áp lực khi phải đảm bảo những lịch trình đó. Trong chuyện tình cảm, Hổ Cáp luôn mong đợi quá nhiều vì bạn thích mọi thứ diễn ra như bạn muốn. Hãy thận trọng việc Hổ Cáp cư xử như thế nào trong giai đoạn này. Nó cũng có thể khiến Hổ Cáp gặp rắc rối.

Tài chính không đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của Hổ Cáp vào tháng này. Đối tác và gia đình sẽ sẽ giúp đỡ Hổ Cáp. Tháng 3 cũng thay đổi sự chú ý của Hổ Cáp vào mục tiêu công việc hơn, còn sức khỏe của Hổ Cáp khá tốt. Tuy nhiên, nếu bị đau chỗ nào, hãy nghỉ ngơi và khám bác sĩ. Nhiều hoạt động xã hội và gặp gỡ với những người mới đang chờ Hổ Cáp vào giữa tháng 3 này.

Ngày may mắn: 2, 3, 12, 13, 21, 22, 29, 30. 31

Ngày không may mắn: 10, 11, 16, 17, 23, 24, 27, 28

Ngày cho tình yêu: 16, 17, 21, 22, 29, 30. 31

Ngày cho tài chính: 1, 5, 6, 7, 8, 12, 21, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho công việc: 8, 9, 17, 18, 23, 24, 26, 27, 29, 31

b11-nhan-ma11/- NHÂN MÃ (22/11 – 21/12)

Công việc của Nhân Mã diễn ra suôn sẻ trong tháng này. Nhân Mã có đủ sức mạnh và năng lực để đưa ra các giải pháp và xử lý nhanh gọn các vấn đề. Cẩn thận những hành vi cư xử quyết liệt nơi làm việc sẽ gây ra bất lợi cho Nhân Mã trong tháng này. Nhân Mã đừng nên trực tính quá nhiều quan điểm của mình mà gây ra mâu thuẫn với người chung quanh. Biết kìm chế và mọi thứ sẽ trở nên dễ thở hơn đối với Nhân Mã trong công việc.

Trong các mối quan hệ, Nhân Mã hãy mở lòng với mọi người xung quanh nhưng chớ tự mãn, khoa trương, cùng với họ trao đổi những trải nghiệm khó quên, những suy nghĩ, quan điểm riêng. Nhân Mã nên thể hiện sự chân thành của mình với bạn bè và đồng nghiệp. Nếu Nhân Mã cảm thấy những điều bạn đã hứa trước đây không xuất phát từ đáy lòng mình, thì đây chính là lúc để thay đổi.

Ngày may mắn : 11, 19, 23, 24, 27, 28, 31

Ngày không may mắn : 7, 8, 14, 15, 21, 22, 30

Ngày cho tình yêu : 1, 4, 5, 17, 21, 22, 25, 26, 29, 30

Ngày cho tài chính : 1, 2, 3, 16, 17, 18, 19, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31

Ngày cho công việc : 7, 8, 16, 17, 21, 22, 25, 26

b12-nam-duong12/- NAM DƯƠNG (22/12 – 19/1)

Mới đầu tháng 3 các Nam Dương đã có rất nhiều ý tưởng trong công việc. Bạn đúng là một người có đầu óc thông minh và tư duy sáng tạo. Vậy Nam Dương hãy truyền đạt những sáng kiến đó cho mọi người là việc làm có hậu. Nguồn lực nhiệt tâm của bạn sẽ giúp bạn làm việc hăng say và hiệu quả hơn.

Những ngày giữa tháng, Nam Dương nên thận trọng và cảnh giác trong công việc vì có kẻ dòm ngó đó. Ngày 18 và 19, Nam Dương hãy làm người tiên phong mời mọi người cùng đi dã ngoại nhé. Họ sẽ rất vui và cảm kích trước việc làm đó của bạn. Ngày 22 và 23, những tham vọng của Nam Dương sẽ được thể hiện khá rõ bởi những việc làm nhiệt tình và hào hứng của bạn. Cuối tháng, Nam Dương cảm thấy rất vui vẻ và hài lòng với những gì mà bạn đã làm được trong tháng này. Một tin vui cho Nam Dương đang chờ đợi, là bạn sẽ nhận được một nụ hôn ngọt ngào và bất ngờ từ “nửa kia” đem đến.

Ngày may mắn: 7, 8, 16, 17, 25, 26, 29, 30

Ngày không may mắn: 5, 6, 12, 13, 19, 22. 24, 31

Ngày cho tình yêu: 1, 5, 6, 12, 15, 21, 22, 25, 29, 30

Ngày cho tài chính: 16, 17, 18, 25, 26, 27, 28

Ngày cho công việc : 5, 7, 8, 16, 17, 21, 22, 25, 26, 31

Quế Phượng (theo Horoscope)

Logo tu vanA- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC