CẢM NGHĨ VỀ NHÀ VĂN TÔ HOÀI

Logo nhan vat 1

9 To Hoai 1TÔ HOÀI

THÂM THÚY, DÍ DỎM,

CẨN TRỌNG VÀ YÊN VUI

Phan Thị Thanh Nhàn

Được làm báo với nhà văn Tô Hoài nhiều năm, nhất là khi bác là Tổng biên tập (TBT), tôi là phó TBT, tôi đã học được rất nhiều, không phải bác dạy dỗ, mà qua những việc làm cụ thể của một nhà văn lão thành đầy kinh nghiệm làm báo và đầy tự trọng, luôn nhận trách nhiệm về mình, dù bài vở có khi do tôi chọn mà sau đó bị cấp trên phê phán.

Tôi đang là phóng viên báo Hà Nội Mới (HNM), và như trưởng ban của tôi thông báo thì đã được… “vào qui hoạch” để lên chức, lên lương. Tuy thế, khi nhà văn Tô Hoài sang gặp Tổng biên tập của HNM để xin tôi về làm báo Người Hà Nội (NHN) của Hội LHVHNT Hà Nội, do vốn mê văn chương và quý trọng các nhà văn lớn của Hội, tôi đồng ý ngay.

Nhưng sang báo NHN, ngoài hôm đầu tiên đón tiếp tôi nồng nhiệt, cơ quan xì xào là tôi bị HNM phê phán tội 9 To Hoai 2mua lại 1/2 phòng của hai chàng ở chung cùng căn hộ mà cơ quan HNM phân cho 3 người, nên bác Tô Hoài và anh Bằng Việt… cứu tôi sang Hội (để khỏi phải trả lại 1/2 căn phòng đã mua – hồi đó mua đi bán lại là tội rất to !). Vậy là tôi bị cho ngồi chơi xơi nước. Nhà văn Tô Hoài an ủi: “Tôi cũng khuyết điểm quá, cứ nghĩ cô về làm báo bên này là anh em rất mừng thành ra chưa xin đủ giấy tờ trên thành phố đã kéo cô về. Thôi,  cứ nghỉ sáng tác 3 tháng nhé. Với người viết như bọn mình thì đi được là tốt cô ạ”.

Hồi đầu làm NHN, nhà thơ Bằng Việt là Tổng thư ký Hội kiêm phó TBT, công việc rất bận nên nhà văn Tô Hoài tuy đã cao tuổi, vẫn là TBT và trực tiếp đọc, duyệt bài, xuống nhà in, họp giao ban trên thành phố, gặp cộng tác viên… Cái gì bác cũng làm một cách tỉ mỉ, cẩn thận và chu đáo nhưng vẫn rất thanh nhàn, từ từ, không vội vã.

Năm 1989, nhà báo Nguyễn Triều viết cho chúng tôi bài phóng sự dài với cái tít Cà phê xanh nêu hiện tượng một vài quán cà phê lúc đó trá hình chứa gái làm tiền phục vụ khách. Tôi muốn in cả bài, vì nó dự báo một hiện tượng xấu có khả năng trở thành phổ biến ở Thủ đô. Nhưng lúc ấy, việc  nêu những chuyện tiêu cực còn rất hạn chế và dễ bị qui là… bôi đen chế độ. Ph T Thanh NhanTôi trao đổi với TBT  xem nên sử dụng cách nào. Tô Hoài cầm bài báo, đọc qua rồi cười : “Cô để tôi”. Nói rồi, bác rút gọn bài báo, không còn là phóng sự nữa, mà chỉ là ý kiến nhỏ trong chuyên mục Sổ tay phóng viên.

Tuy thế, sau khi đăng, bài báo nhỏ vẫn bị phản ứng dữ dội. Một chủ quán cà phê ở đường Lò Đúc đến gặp tôi, nói sẽ kiện báo NHN vu cáo cửa hàng giải khát của ông ta. Tôi cười : “Nhưng bài báo có nêu tên quán nào, phố nào đâu mà bác lại nhận là quán của mình ?”. Ông ấy hằm hằm: “Đọc lên, cả phố cứ bảo đúng là quán của tôi rồi thì chị bảo sao”… Nhà văn Tô Hoài cũng cười : “Thế thì bác cứ rút kinh nghiệm đi, sao ai cũng bảo là quán của bác chứ ? Chúng tôi không nêu tên quán nào, vậy bác cứ lên cấp cao hơn mà kiện”. Ông ta tái mặt ra về.

Tuần ấy, trong cuộc giao ban báo chí của thành phố, báo NHN bị nhắc nhở là Thủ đô có bao nhiêu việc tốt sao không biểu dương, lại nêu một hiện tượng làm xấu mặt Hà Nội, phải nghiêm khắc rút kinh nghiệm ! Nhà văn Tô Hoài thay mặt báo nhận lỗi và hứa sửa chữa (!) Lúc về, tôi than phiền với nhà văn :

– Em chán quá, làm báo kiểu này thì sao mà hay được ?

Nhà văn an ủi :

– Báo có gì sai sót bị nhắc nhở, cô cứ đổ hết tội cho tôi. Tôi đối phó giỏi hơn cô mà. Anh em trong cơ quan hay cấp trên phê bình cái gì, ta đừng thanh minh mà cứ nhận lỗi hết cô ạ.

Nói rồi nhà văn nháy mắt :

– Nhưng sau đó, nếu thấy mình đúng, họ mới sai, mà có giỏi, thì cứ việc ta, ta vẫn làm. 9 To Hoai 5Thời gian sẽ trả lời chính xác cô ạ.

Coi tôi như một nhà báo trẻ, thiếu kinh nghiệm, bác Tô Hoài nhỏ nhẹ :

– Phê bình là quyền của mọi người, nhất là cơ quan mình thì cô biết rồi, ai cũng mạnh miệng lắm. Làm báo như người làm xiếc, lúc nào cũng đi trên cái dây cheo leo giữa xung quanh dư luận. Làm sao để mình chỉ đung đưa mà không bao giờ ngã xuống. Điều quan trọng nhất, là cô phải tránh không gây ra những lỗi chính trị. Cái này thì khó gỡ lắm, tôi có đứng ra cũng… chẳng ăn thua gì. Mà chính trị thì có khi chỉ một câu, một chữ  do mình vô ý khi duyệt bài, mà tác giả lại có ý khác, là chết! Nhưng cô hãy tin là chúng ta không cố tình làm sai, chúng ta là những nhà báo chân thành, chỉ muốn cái tốt cho xã hội, thì cấp trên cũng  rất hiểu và thông cảm. Đừng có chưa gì đã nản.

Đến năm 1991, khi báo đăng bài thơ Sám hối của Trịnh Thanh Sơn, sáng  sớm, báo vừa ra, tôi đến cơ quan là nhận ngay điện thoại của nhạc sỹ Trần Hoàn – lúc đó hình như là Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy thì phải : Cô là Phó TBT báo NHN phải không ? Sao báo lại đăng bài thơ có ý xuyên tạc trắng trợn như vậy. Cô nói TBT phải thu hồi ngay !”. Tôi nghe xong, toát mồ hôi, đạp xe đến nhà TBT Tô Hoài ở ngõ Đoàn Nhữ Hài, báo cáo việc báo phải thu hồi ngay theo lệnh của cấp trên. Thấy mặt tôi tái mét, nhà văn cười :

– Cô cứ yên trí, bất cứ ai gọi điện, cô đều đề nghị gửi cho công văn có ký tên, đóng dấu đàng hoàng với lý do cụ thể vì sao phải thu hồi báo đã phát hành. Chúng ta chỉ chấp hành  theo lệnh chính thức từ cấp trên cụ thể. Tôi mới là người chịu trách nhiệm chính, không phải cô mà, đừng lo.

Ra về, tôi thấy nhẹ cả người, chẳng phải vì tôi không là người chịu trách nhiệm, mà vì thái độ bình tĩnh, tự tin, phản ứng có lý có tình của TBT  đã làm tôi yên tâm. Hôm sau, vẫn chưa có lệnh thu hồi báo bằng công văn, 9 To Hoai 4nhưng TBT và tôi được triệu tập lên Ban Tuyên giáo Thành ủy để giải trình về bài thơ của Trịnh Thanh Sơn. Bác Tô Hoài  bảo tôi :

– Hôm nay cô có cuộc họp bên phụ nữ, cô cứ đi bên ấy, để tôi lên Ban Tuyên giáo một mình cho.

Bác nháy mắt tinh  nghịch : “Tôi đã bảo tôi đối phó giỏi hơn cô mà” !

Hôm ấy, Thành hội phụ nữ mời tôi sang họp để chuẩn bị đại hội, vì tôi là ủy viên Ban chấp hành. Khi tôi đến, chị em đã đông đủ, do rất muốn có mặt để chứng kiến sự đối đáp  đầy bản lĩnh và rất khôn ngoan của Tô Hoài, nên tôi xin phép chủ tịch Hội Phụ nữ sang Ban Tuyên giáo.

Khi tôi bước vào phòng họp, Chủ tịch Hội nhà báo thành phố, nhạc sỹ Trần Hoàn, các chuyên viên theo dõi báo chí của Trung ương và thành phố cùng TBT Tô Hoài đã  ngồi quanh bàn và đang nói. Không khí có vẻ nặng nề. Tôi xin lỗi đến muộn rồi ngồi xuống bên cạnh TBT của mình. Bác Tô Hoài quay sang tôi, khẽ nháy mắt mỉm cười rồi vẫn chăm chú nghe mọi người phân tích tác hại của bài thơ trong tình hình thời sự năm 1991, rất không có lợi cho Thủ đô nói riêng và đất nước nói chung. Phải nhận đó là sơ suất nghiêm trọng của báo!

Nhà văn Tô Hoài nghe mọi người phân tích xong, khác với mọi lần là nhận ngay sai sót và hứa sửa chữa, bác nói chững chạc :

– Đây không phải là sơ suất, mà là chủ trương của tôi, Tổng biên tập báo. Tôi nghĩ, chính trong tình hình phức tạp hiện nay, chúng ta, nghĩa là chính các đồng chí, nên thực sự cởi mở, tin cậy hơn vào văn nghệ sỹ và báo chí. Nếu không bị phê phán, có lẽ chẳng ai chú ý đến bài thơ. Đó chỉ là tâm tư của một người viết. Trong thực tế thì đúng là chúng ta đang có nhiều việc phải làm lại, có khi ngược với chủ trương cũ, ví như giao ruộng đất cho mỗi gia đình nông dân, không còn hợp tác xã nông nghiệp đi làm theo kẻng, chia thóc theo công điểm,9 To Hoai 7 rồi khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân, rồi ai giỏi thì các cơ quan nhận vào làm, bớt chủ nghĩa thành phần đi…

Vậy thì tác giả viết, nếu sống lại tuổi trẻ sẽ đi ngược lại con đường anh ta đã đi, ví như anh ấy sẽ không làm thơ làm báo nữa, vì nghèo, mà sẽ học buôn bán hay làm kỹ thuật chẳng hạn, theo tôi là được. Mà cứ cho là tác giả có ẩn ý gì đi nữa, báo của chúng ta dám đăng thì chỉ chứng minh là đường  lối của ta đã thực sự cởi mở, ai cũng có quyền nói thật quan điểm của mình. Báo của chúng tôi sẵn sàng đăng bài của bất cứ ai phê phán bài thơ đó, rồi để tác giả thanh minh hoặc tranh luận lại. Như vậy không khí báo chí mới thực sự đổi mới và hấp dẫn. Như vậy  có lợi hơn, công bằng hơn, phải không ạ?

Tôi ngồi nghe, tim đập thình thình. Không hiểu nếu tôi là người chịu trách nhiệm về bài vở của báo, về bài thơ bị phê phán ấy, tôi sẽ trả lời sao ?

Các vị lãnh đạo, chắc nể uy tín và tuổi tác của nhà văn, nhìn nhau im lặng. Bác Tô Hoài cười :

– Tuy nhiên,  chúng tôi xin nghiêm túc rút kinh nghiệm và  sẽ cân nhắc thật kỹ trước khi đăng bài để tránh những hiểu lầm khiến các đồng chí phải lo lắng. Thú thật là nếu hôm qua, tôi ra lệnh thu hồi báo thì hôm nay, cả Hà Nội lại đổ xô tìm mua và đâu đâu cũng bàn tán chuyện này… Cảm ơn các đồng chí đã không ra lệnh thu hồi bằng văn bản.

Hôm ấy ra về, Tô Hoài rủ tôi ngồi uống cà phê và hỏi : “Cô thấy thế nào ? Cái gì cũng sợ xanh mặt và cuống lên làm theo lệnh miệng 9 To Hoai 8của cấp trên như cô hôm qua là… hỏng hết bánh kẹo nhá!”.

Một lần khác, tôi chọn đăng lại bài Tổng thống Goócbachốp sinh năm con dê đã in trên báo Thanh Niên của Nga, mình chỉ dịch, đăng lại. Thế nhưng hôm họp báo chí cuối tuần, nhiều vị lãnh đạo các báo khác và một vài thành ủy viên phê phán là báo NHN nói xấu lãnh tụ nước bạn (!), Tô Hoài lại đứng lên, “bênh” phó TBT của mình: “Các bạn vẫn nghe nói là chúng ta chỉ tắm từ vai trở xuống, còn cái đầu thì luôn hoàn hảo.

Nhưng các nước phương Tây và cả ở Nga không thế đâu. Nước Mỹ thì tha hồ chế giễu, phê phán Tổng thống. Ai cũng có nhược điểm. Và dân chúng biết rõ nhược điểm của lãnh đạo sẽ càng thấy gần gũi, thân thiết hơn. Mà báo Thanh Niên của Nga cũng khen ông Goócbachốp nhiều, chỉ chê là ông cũng… giống dê: kén ăn, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, hay đi và đôi khi… mê gái. Tôi nghĩ, có sao đâu”…  Cả cuộc họp cười. Thế là tôi lại thêm một lần nữa thoát nạn nhờ nhà văn đầy bản lĩnh và hóm hỉnh của mình.

Những năm cùng làm báo với nhà văn Tô Hoài, tôi đã học được rất nhiều từ  kinh nghiệm của một người từng trải, điềm tĩnh, tự tin và luôn dám chịu trách nhiệm với những sai sót của cấp dưới. Đó là một TBT khôn ngoan, dày dạn kinh nghiệm trong những tình huống khó khăn. 9 To Hoai 3Nhà văn đồng thời còn là một người dí dỏm, hài hước và không quá quan trọng những chuyện xảy ra hàng ngày. Với Tô Hoài, cuộc sống thật nhẹ nhàng, cẩn trọng mà yên vui.

Người viết phải để chữ “tôi” sau

Nhiều buổi trưa, cả tòa soạn ở lại cơ quan. Có hôm tôi thấy TBT mở cặp, lấy ra bữa trưa và thong thả ngồi nhai. Tôi nhìn mà không biết bác đang ăn món gì, bèn lại gần xem thử:

– Bánh mì hay cơm nắm đấy ạ ?

 Nhà văn cười, chìa ra một nắm trăng trắng vàng vàng. Tôi kêu :

 – Ôi giời ! Phẩm oản từ hôm Tết hay sao ạ ? Chắc là bác gái đi chợ chưa về, cụ thấy trên ban thờ có sẵn, cứ thế cho vào cặp mang đi rồi !

Nhà văn vẫn cười hiền :

– Nhai kỹ, nó vẫn bùi bùi, thơm thơm, ngon đáo để! Nhưng thôi, các cô các cậu đi với Tr Blogger 2mình ra ngõ Hàng Chiếu nhé.

Cả bọn nhao nhao vỗ tay và đi cùng TBT ra cái  ngõ phía cửa ngách chợ Đồng Xuân. Ở đây la liệt các loại hàng ăn : bún thang, bún ốc, xôi chè, phở chua, nem rán… Trong khi ngồi ăn, nhà văn Tô Hoài thường kể cho chúng tôi lai lịch từng món : nem rán gốc ở Sài Gòn, phở chua từ Trung Quốc, bún ốc là quà quê, bún thang mới là món ăn Hà Nội.

Sau bữa trưa vui vẻ và đạm bạc, tất cả về quây quần bên bàn nước, chuyện trò sôi nổi. Lúc này TBT Tô Hoài thường hóm hỉnh và  nhẹ nhàng phê bình những sai sót của  chúng tôi trong công tác biên tập. Có lần nhà văn hỏi tôi:

– Bài chân dung văn nghệ sỹ vừa đánh máy, cô viết : “tôi và Xuân Quỳnh”, đúng không ?

– Vậng ạ.

Nhà văn nghiêm nét mặt :

– Hôm trước, Vương Trí Nhàn gửi bài đến, viết : “Tôi và nhà văn Nguyễn Tuân”, tôi đã nhắc cô sửa lại rồi mà không chịu nhớ. Người viết bao giờ cũng phải để  chữ “tôi” sau : Bác Nguyễn Tuân và tôi, nhà thơ Xuân Quỳnh và tôi, kể cả người quét rác và tôi hay là con gái tôi và tôi nữa. Cô nhớ nhé.

Tôi le lưỡi :

– Em nhớ rồi ạ. Nhưng khi nào viết về bác, 9 To Hoai 9nhất định em sẽ viết : Tôi và nhà văn Tô Hoài !

Tất cả mọi người cười vui trong khi nhà văn Tô Hoài cốc nhẹ vào đầu tôi : “Bướng hả ?”.

Cũng hôm ấy, nhà văn dặn dò chung anh chị em biên tập của báo :

– Các cậu vừa đưa tớ duyệt bài Chuyện cũ Hà Nội có hai chi tiết nếu không biết thì sẽ không sửa được. Đó là câu “phần thưởng là một dải lụa đỏ” và “Chiếc kiệu sơn đen”. Tớ đã sửa lại cho đúng : “Phần thưởng là một tấm lụa điều”. Tấm lụa điều là cách nói vừa dân dã, vừa trân trọng từ ngàn xưa, còn dải lụa đỏ là cách nói thông thường nhưng không trang nhã. Sơn đen cũng là tiếng nói của hôm nay. Trong không khí của Chuyện cũ Hà Nội, tớ sửa lại cho chính xác, là sơn then. Các cô các cậu còn trẻ, phải chịu khó đọc nhiều.

To Hoai 1

Muốn là người biên tập gioi thì cái gì cũng phải biết, nhất là câu chữ.

Bọn đàn em chúng tôi gật gù chịu trận. (Phan Thị Thanh Nhàn7/7/2015)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

NHÀ VĂN TÔ HOÀI QUA ĐỜI

Tác giả “Dế Mèn phiêu lưu ký”, “Vợ chồng A Phủ”… qua đời trưa ngày 6/7/2015 tại Hà Nội, hưởng thọ 95 tuổi. Những năm gần đây, tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký yếu đi nhiều. Ông thường xuyên phải ra vào bệnh viện vì đủ loại bệnh tật của tuổi già. Sức khoẻ hạn chế nên gần đây, nhà văn không còn tham gia nhiều sự kiện văn chương – các hoạt động mà khi còn nhúc nhắc đi lại được, ông vẫn rất hào hứng tham dự. Tuy nhiên, năm 2012, khi có mặt trong sự kiện kỷ niệm 70 năm tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký, 9 To Hoai 6ông vẫn trò chuyện hóm hỉnh với bạn bè đồng nghiệp và chia sẻ sự say mê với việc sáng tác khi sức khoẻ cho phép.

Nhà văn Tô Hoài, tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920, trong một gia đình thợ thủ công ở huyện Thanh Oai, Hà Đông, Hà Nội. Ông lớn lên ở làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Bút danh Tô Hoài của nhà văn gắn liền với hai địa danh nơi ông sinh ra và lớn lên : Sông Tô Lịch và Phủ Hoài Đức.

Quế Phượng chuyển tiếp

Logo bay gio ke

10 Lang Ong 1VỀ BÀ CHIỂU,

RẢO HÀNG BÀNG

Cô Tám nhắn tin trên Facebook hỏi tôi có biết cái hẻm nhà cô hồi đó gọi là hẻm “Ba cây Sao” không ? Đó là cái hẻm trên đường Nơ Trang Long, xưa là đường Nguyễn Văn Học.

Hẻm gần Ngã tư Bình Hòa, không xa cái nhà gỗ trên đường Rừng Sác nay là đường Nguyễn Thiện Thuật của ông Vương Hồng Sển. Cũng không xa cái nhà xưa trên cầu Băng Ky, mà mùa hè năm trước tôi viếng thăm và đưa vào cuốn “Sài Gòn, chuyện đời của phố”. Đằng trước hẻm nhà cô Tám có trồng ba cây sao cao vút. Bây giờ nó chỉ còn cái tên cũ không mấy ai biết, chỉ biết đó là cái hẻm 109 mà thôi.

Một tin nhắn nhỏ khiến tôi nghĩ ngợi về vùng Bà Chiểu và thấy rằng mình luôn có cảm giác dễ chịu khi đến nơi đó. Đất Bà Chiểu, giống như Lái Thiêu hay Trảng Bàng, đều là những vùng dân cư luôn khiến người mang tình hoài cổ có cảm xúc khi vãng lai. Ở những nơi đó, xen giữa những nhà phố, thỉnh thoảng lại ló ra một căn nhà ngói rêu phong, một cây cổ thụ um tùm lá, 10 Chợ Bà Chiểumột góc miếu thờ nhỏ hay mái đình to và ở đó dân cư thường hiền hòa, bình dị.

Đi về Bà Chiểu như đi về một quá khứ không xa lắm. Trường vẽ Gia Định nay đã không còn mặt tiền xưa có những cái cột Toscan và các vòm cửa arcade rất đẹp, điều này khiến tôi luôn tự hỏi tại sao những người quản lý trường hay ở cấp cao hơn không tìm cách giữ lại một vẻ đẹp kiến trúc cổ điển và mang giá trị văn hóa, lịch sử và mỹ thuật rõ nét như vậy ?.

Đi ngang nhà ông Vương Hồng Sển, nhìn vào sân sau nhà thấy cây xoài thanh ca cuối sân đã chết nhưng vẫn cố đứng vững chịu đựng lũ dây leo quấn quanh chằng chịt. Kệ thờ ở dưới cái mái nhỏ trong sân giữa có di ảnh của ông và bà Năm Sa đéc nhìn ra cái hòn non bộ buồn thiu, vài cây chậu nhỏ tiêu sơ và cái nhà lớn cửa đóng im ỉm. Ngôi nhà gỗ mấy trăm năm tuổi này ngày càng xuống cấp, chờ đợi một phương án giải quyết không biết bao giờ thành hiện thực để có thể thực sự biến thành bảo tàng như ước nguyện cuối đời của ông.

Bên ngoài đường, một đám múa lân rầm rộ mừng một ngân hàng vừa khánh thành, 10 Vuong Hong Senbóng loáng trên nhôm, trên kính và trên gương mặt vài vị quan chức.

Bà ngoại tôi, một tiểu thư của một gia đình hết thời từ phía Vĩnh Hội đầu thế kỷ 20 kể với má tôi rằng khi còn trẻ, bà thường có việc đi qua khu Bà Chiểu từ Gò Vấp trên xe thổ mộ theo đường làng số 15, bây giờ là đường Lê Quang Định. Xe đi qua xóm Gà, thường thấy hàng cây sao dài um tùm trong những buổi sáng sương sớm hay buổi chiều tối. Lúc đó là những năm 1925, 1926 khi bà vừa sinh ra má tôi.. Xe thổ mộ lóc cóc đi ngang Tòa Bố Gia Định (nay là Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh, góc Phan Đăng Lưu – Đinh Tiên Hoàng) vào ban ngày, khách đi đường thưa thớt và ban đêm tối âm u vì đèn đường cách nhau rất xa, đầy tiếng ếch nhái ểnh ương kêu inh ỏi.

Tới Tòa Bố, xe quẹo cua vào đường Hàng Bàng ngay góc Lăng Ông. Đường Hàng Bàng là đoạn đường mang tên Đinh Tiên Hoàng từ đường Phan Đăng Lưu, quận Bình Thạnh ngày nay cho tới Cầu Bông. Thời đó, hai bên đường có mọc nhiều cây bàng dùng để đan đệm, không phải loại bàng lá to thân cứng, nên con đường này được gọi tên như vậy.

10 Toa bo 1Bà Chiểu khi đó còn có đường Hàng Gòn, Hàng Dừa, Hàng Sanh… đặt tên tùy theo cây trồng hai bên. Đường Hàng Gòn nay là Hồ Xuân Hương. Đường Hàng Sanh bây giờ là đường Bạch Đằng xưa rất vắng vẻ có trồng nhiều cây sanh có rể phụ như cây đa, cây si… Vài người già ở Bà Chiểu luôn cảm thấy bực mình khi chữ Hàng Sanh bị viết sai thành Hàng Xanh như lâu nay.

Khi gả con gái út vào một gia đình ở ngã Năm Bình Hòa, hiểu biết của bà ngoại tôi về vùng Bà Chiểu càng đầy lên qua những câu chuyện với ông bà sui là dân cố cựu ở đây. Lúc đó, khoảng đầu thập niên 1950 đã có đông người lao động nghèo về ở nhưng khỏang thập niên 1920 thì còn thưa vắng. Từ Cầu Bông về xóm Đình gần đó người ta còn làm ruộng, thậm chí còn thấy hai bên đường Hàng Bàng ruộng lúa tươi tốt chín vàng khi đến mùa gặt. Thú vui của dân xóm Đình gần đó là đi câu ếch và bắt cá lia thia, bắt còng. Cá lia thia ở đây là cá xiêm lai, đá rất giỏi nên cá các xóm Cầu Lầu, Thanh Đa hay Hàng Sanh, Thị Nghè gần đó đều chạy mặt.

Tuy nhiên, đám trẻ đi bắt cá lia thia ở quanh quẩn đường Hàng Bàng trong ngày nghỉ học thường không dám nán lại lâu vì sợ đến giờ Ngọ là giờ… ma đi. 10 Toa bo 3Giờ đó, mấy người thả trâu cũng đã về ăn cơm chứ không còn ai ngoài ruộng. Ai cũng sợ cô Ba Trâm… nhát ma. Nếu đi ngang con đường vào ban đêm thì thật là mừng nếu thấy có ánh đèn dầu của mấy anh soi ếch, bắc cóc gần đó. Đi từ cầu Bông thì khách bộ hành luôn mong cho nhanh tới Lăng Ông, vì phía trước Lăng có một dãy nhà phố và một cái lò đóng móng bò. Cái lò này chính là nơi trú lý tưởng khi gặp trời mưa, rồi từ đó đi tiếp về miệt Phú Nhuận, Bình Hòa hay Gò Vấp vì không có nhà cửa nào gần đó.

Đứng tại lò đóng móng bò, không bị nhà cửa nào che khuất nên có thể nhìn thấu tới xóm Đình, thấy cả một cây khô rất cao là chỗ cô Ba Trâm treo mình tự tử ở đó. Cây này không ai dám đốn hạ kể từ khi chuyện đó xảy ra vì ai cũng tin oan hồn cô vương vấn ở đó. Từ lò đóng móng bò ngó qua bên kia đường có một miếng đất trống và một cái nhà lợp thiếc, sườn bằng sắt. Đó là nơi phú de (fourrière, nơi chưa đồ vật của công an) nhốt chó, nhốt bò vô chủ đi lang thang.

Sau một thời gian, phú de ấy dời đi. Trước kia ở đây là trại lính, cũng là nơi tập dượt của lính mã tà. Dân quanh vùng thường thấy từng tốp lính bốn năm người bồng súng có gắn lưỡi lê đứng tập theo khẩu lệnh của của mấy chú cai, thầy đội. Người dân còn nhớ câu khẩu hiện dù không hiểu nghĩa nhưng nghe riết thành thuộc lòng :

10 Toa bo 2Chục ba la quăng băn tê !

Chục ba la de quách quả rề

Quách quả rê ! Rề bản lề ! Chục ba la về !

Về cô Ba Trâm, ông bà sui của ngoại tôi kể rằng: cô còn trẻ, con nhà khá giả. Cô treo cổ tự tử sau khi bị bà mẹ ghẻ tàn độc hành hạ và ép gả không theo ý mình. Nơi cô Ba Trâm tự tử là gốc cây trâm gần Trường Vẽ Gia Định (Đại học mỹ thuật ngày nay). Nơi đó cây cối sấm uất, nhà cửa thưa thớt nên thân xác cô khi được phát giác đã không còn nguyên vẹn do bị thú ăn.

Vì chết oan, lại chết thảm nên người dân tin là hồn cô không đầu thai được mà còn vất vưởng trên dương gian và họ đồn về đêm cô hay hiện về trong dáng vẻ một cô gái bận áo trắng đứng đón xe song mã ở Hàng Xanh đi dạo một vòng rồi về Gia Định. Xe nào đưa cô đi thì gặp may, từ chối thì gặp xui rủi và giở trò ong bướm sẽ bị vật chết. Bây giờ người ta cho rằng xóm Đình chính là đoạn đường Nguyễn Duy hiện nay, một con đường nhỏ còn tồn tại một số nhà kiểu xưa.

10 Lang Ong 2Câu chuyện này rộ lên từ cuối thập niên 1910 và mai một dần, hầu như dân cư ở đó không mấy ai biết. Tôi hỏi về câu chuyện đó, chú Lý Lược Tam, một nhà nghiên cứu cho biết đến đầu thập niên 1950, không thấy ai còn nhắc đến chuyện cô Ba Trâm nữa ngoài những câu chuyện của ông bà kể cho con cháu nghe. Đến lúc đó, đường Hàng Bàng đã trở thành đường Lê Văn Duyệt và nhà cửa đã đông đúc hơn.

Phía bên trái, từ Lăng Ông đi Cầu Bông nhiều nhà hơn, sau này đến thập niên 1960 ở hẻm số 100 nhiều người biết vì trong đó có Tiệm bán khăn đóng “Khăn đen Suối Đờn” nổi tiếng từ Thủ Dầu Một xuống làm ăn. Gần Cầu Bông có bãi đất trống sau khi chặt bỏ những cây bàng. Buổi chiều người dân tụ lại thành khu chợ trời, bán đủ thứ phục vụ cho bữa ăn như nồi đất, bí bầu, gạo…có cả một ông thợ may được gọi là anh Năm đặt bàn máy may ở đó may quần áo cho khách. Có cả mấy cái quán cà phê.

10 Cho lon 3Năm 1952, nghệ sĩ lão thành Năm Châu đến mua một trại cưa trong con đường dốc là nhánh của đường Hàng Bàng đổ xuống khu Miếu Nổi, làm thành chỗ ăn ở cho đoàn Việt kịch Năm Châu. Ở đó, gia đình ông ở một cái nhà sàn de ra sông, khỏang giữa dành làm sân khấu để tập tuồng và trong trại chia ra từng gia đình nghệ sĩ ở với cái bếp chung, ăn “cơm hội”. Gia đình nghệ sĩ Trần Hữu Trang cũng ở một cái nhà sàn gần đó.

Cho đến sau 1975, đến lượt nhà văn Sơn Nam cũng về ngụ trên con đường này, rất tiện cho ông khi cần đi đến Lăng Ông để tham gia việc Lăng, hoặc đi giao dịch các tòa báo ở quận I, quận 3. Khi đến thăm ông năm 1999, ông nhắc lại một chuyện: Khi con trai là Nguyễn An Ninh còn măng trẻ muốn sang Pháp du học, cụ Nguyễn An Khương, một nhà nho yêu nước hưởng ứng phong trào Duy Tân và Đông Du đã đưa con đến Lăng Ông Bà Chiểu để tuyên thệ giữ vững khí tiết, không bị bả vinh hoa xứ người mê hoặc mà phản bội quê hương. Con trai ông không chỉ vượt qua mọi cám dỗ vinh hoa mà còn trở nên một nhà cách mạng lừng lẫy chống chế độ thực dân.

Câu chuyện khiến tôi nghĩ nhiều về vai trò của Lăng Ông trong đời sống người Sài Gòn- Gia Định. Họ đến Lăng không chỉ để cầu xin buôn may bán đắt, thề thốt đúng sai với nhau mà còn là đến để có nơi chứng giám lòng kiên trinh với đất nước. 10 Xe nguaMột nơi như vậy sẽ không bao giờ có cảnh hương tàn khói lạnh cho dù cuộc sống có biến đổi thế nào đi nữa.

Cơn mưa đầu hè khiến tôi trú lại khu chợ Bà Chiểu, ăn tô mì hòanh thánh bên cái xe có tranh kiếng màu đầy tích tuồng xưa cũ. Những mảng màu đã lợt lạt trên tranh. Tô hoành thánh không còn ngon như hồi được bà ngoại cho tôi đi ăn mỗi khi thăm bà bác, sui gia của bà ở đầu hẻm Ba cây Sao. Mưa đi qua vùng Bà Chiểu, như đã qua trăm năm trước, nhưng cảnh vật đã khác rất nhiều, trên một vùng đất văn hóa tiêu biểu của đất Gia Định .

Phạm Công Luận (trích Sài gòn chuyện đời của phố tập 2 – NXB Văn hóa văn nghệ và Công ty văn hóa Phương Nam)

Nguyễn Văn Danh chuyển tiếp

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: