Nhà văn nhà báo MINH NGUYỄN

VỀ ĐỒNG BẰNG XEM GỐM ĐỎ

– MINH NGUYỄN

Giới thiệunhà văn nhà báo MINH NGUYỄN :

Tên thật Nguyễn Đức Minh, sinh 11/10/1944 tại Mõ Cày, Bến Tre (tuy nhiên vì thời cuộc, nên anh lấy giấy tờ bằng ngày tháng năm sinh là 11/2/1947 tại tỉnh Hà Nam, Bắc Phần).

Ngoài bút hiệu Minh Nguyễn dành để viết thể loại văn học, khi viết báo ở Sài Gòn anh còn ký nhiều tên khác như Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Đức Minh, Mai Nương, Người ngoài phố… trên các báo trước 1975 như Công Luận, Thao Trường, Sóng Thần, Tiền Tuyến, Phù Sa, Lý Tưởng… sau này trên báo Người Lao Động, Long An cuối tuần, Thanh Niên v.v…

Trước 1975, nhàvăn Minh Nguyễn theo học tại trường ĐH Luật Khoa Cần Thơ. Năm 1966 có truyện ngắn dự thi trên tuần báo Thể Thao lọt vào chung kết và đoạt giải nhì. Từ đó hễ có thời gian là anh cầm bút, và theo anh khi ấy có tiền nhuận bút chỉ kéo anh em đi uống càphê (thời gian đó đa số các anh em văn nghệ sĩ ít ai uống bia rượu). Trong số bạn bè thân hữu với Minh Nguyễn có Thế Phong, Hồ Phong, Trần Hoài Thư, Lê Triều Điển, Bùi Đức Long, Ngô Nguyên Nghiễm, Trịnh Bửu Hoài v.v…

Năm 1974, Minh Nguyễn cùng Trần Mộng Hoàng, Nguyễn Đông Vũ chủ trương tập san văn học “Sinh Hoạt” in ronéo, ba tháng ra một số, tại Cần Thơ. Tính đến 30/4/75 tập san này ra được đúng 3 kỳ.

Sau ngày 30/4/75 trường ĐH Kinh Tế khai giảng khóa đầu tiên, nhà văn Minh Nguyễn ghi danh  đihọc lại. Trong thời gian này Hội Văn Nghệ ở Sài Gòn, có phong trào thể dục thể thao, anh gia nhập vào đội bóng đá cùng các văn nghệ sĩ khác như Dương Trữ La, Trần Tuấn kiệt, Miên Đức Thắng, Nhật Trường, Từ Công Phụng, Nguyễn Long, Tony Hiếu (lúc này từ Nhật Trường đến Tony Hiếu chưa ra hải ngoại sinh sống).

Năm 1977, Minh Nguyễn tốt nghiệp ĐH Kinh Tế, được phân công đi tỉnh Lâm Đồng làm việc trong ngành ngân hàng. Hai năm sau anh xin thôi việc để được tự do bay nhảy với nghề cầm bút cũ; có các sáng tác đăng trên Người Lao Động, Thanh Niên tuần san, Long An v.v…

Năm 1994, Minh Nguyễn cộng tác với Ngô Nguyên Nghiễm, Trần Hữu Dũng, Trịnh Bửu Hoài thường trực ở nguyệt san Nghệ Thuật.

Các tác phẩm đã in : Người dưng khác họ (NXB Đồng Nai); Tình yêu sợi khói mong manh (NXB VN Châu Đốc); Chiếchôn in hình trái tim ( NXB Mũi Cà Mau); Tình yêu thuở ban đầu (NXB VN Châu Đốc) Đánh mất tình yêu (NXB Trẻ) và tác phẩm in chung “Truyện ngắn 9 tác giả” (NXB Thanh Niên); “Đêm hát cuối cùng” (NXB VN Châu Đốc); “18 tác giả miền Nam” (NXB Thư Quán bản thảo – Hoa kỳ)

Nguyễn Việt

(trích thuật theo cuốn “Người Đồng Hành Quanh Tôi” của Ngô Nguyên Nghiễm, tập 1 – NXB Thanh Niên)

VỀ ĐỒNG BẰNG XEM GỐM ĐỎ

Tạp bút: MINH NGUYỄN

Trước đây, mỗi khi nhắc tới hai tiếng Vĩnh Long, người ta thường liên tưởng tới một thị xã thu nhỏ nằm dọc theo ven sông Cổ Chiên, thuộc vùng châu thổ đồng bằng sông Cữu Long. Một nơi chốn được vây bọc với nhiều sông rạch chằng chịt, cây trái bốn mùa trĩu nặng quả chín, khí hậu trong lành, mát mẻ quanh  năm.

Không chỉ có vậy, kể từ sau ngày thị xã được công nhận đi lên thành phố, bộ mặt nơi đày đã có sự thay đổi rõ rệt trong mắt mọi người. Nhất là khi du khách có đủ thời gian ghé thăm mảnh đất hiền hòa nằm giữa hai con sông Tiền và Hậu đỏ màu phù sa. Chắc chắn sẽ còn được giới thiệu đến tham quan ở các cù lao du lich sinh thái miệt vườn; sống cùng với người dân Nam Bộ chất phát, thưởng thức các món ăn đậm đà hương vị đồng quê hoặc ngồi thuyền ngao du trên sông rạch, xem đờn ca tài… và đặc biệt hơn hết,được các nghệ nhân nghề gốm chỉ dạy cho các thao tác, tạo ra sản phẩm mỹ nghệ tại những làng nghề gốm nổi tiếng trong tỉnh.

Từ chỗ được nghe nhiều người nhắc hoài đến loại sản phẩm chế tác bằng đất sét nhiểm phèn, loại đất chỉ có ở Vĩnh Long, sau khi nung qua lửa sẽ cho ra gốm đỏ ửng màu xác pháo xen lẫn vài vạt trắng đẹp đến lạ thường; khiến nhiều nước trên thế giới biết tiếng, tìm tới đặt hàng nhiều vô kể. Cũng chính vì những mẫu chuyện hấp dẫn ấy, đã thôi thúc trong tôi sự tò mò muốn được đi tìm hiểu ngay loại hình sản xuất độc đáo này.

Và, ngay sáng sớm hôm sau, tôi quyết định đón xe đi xuống Vĩnh Long. Lúc ngồi trên xe, tôi lo ngại cho đoạn đường từ Phú Lâm ra quốc lộ 4 đi Tân An, dày đặc xe cộ chen chúc nhau di chuyển từng bước. Đến lúc xe chạy một hồi, giật mình nhìn lại, mới kịp nhận ra con đường Nguyễn Văn Linh rợp mát bóng cây ven đường. Kế đến là vòng xoay Bình Điền, hé lộ ra con đường cao tốc chạy thẳng xuống Trung Lương, rút ngắn khoảng thời gian lại rất nhiều so với việc phải di chuyển trên quốc lộ 4 cũ. Con đường mới đưa vào sử dụng cách nay chưa bao lâu, xem ra vẫn còn lạ lẫm trong mắt mọi người. Con đường phẳng lừ, hấp dẫn nhiều tay lái trẻ vốn mê tốc độ, phóng xe chạy với vận tốc trên 120 kí-lô-mét một giờ. Mặc cho đèn và kèn báo động chớp tắt liên hồi trên bảng đồng hồ tốc độ,cảnh giác sự nguy hiểm. Vậy mà chẳng thấy ai sợ hãi hay ta than lời nào mới lạ. Trái lại, mọi người cố nhoài người sang hai phía cửa,tranh nhau nhìn cho rõ lớp sương sớm chưa kịp tan trên biển lúa hừng hực sắc vàng. Đẹp lộng lẫy không thua gì bức tranh đặc tả buổi sớm mai trước một miền quê thanh bình.

Thoáng chốc, xe qua Cai Lậy. Cái Bè, rồi cầu Mỹ Thuận cũng dần hiện ra với hình ảnh đôi cánh buồm căng gió trên nền trời buổi sáng. Cây cầu dây văng khá hiện đại, bấy lâu nay vẫn được người dân đất Vĩnh tự hào,mỗi khi nhắc tới  quê hương xinh đẹp của mình. Bất chợt, bên một khúc quanh trên con đường dẩn lên cầu, tôi phát hiện ra tấm bảng chỉ đường màu xanh có vẽ một mũi tên màu trắng thật to với hàng chữ “đường đi ra bến phà cũ” viết liền bên dưới.

Cái bến phà có bề dày lịch sử hơn mấy chục năm đưa rước không biết bao nhiêu lượt khách qua lại, cũng như đã nuôi sống hàng trăm gia đình lao động nghèo khổ, có được cái ăn cái mặc; con cái học hành đến nơi đến chốn. Ôi ! Đâu rồi giọng ca mùi mẫn của cô gái trẻ, lặng lẽ dắt tay ông già mù chơi sáu câu vọng cổ trên chiếc đàn lục huyền cầm phím lõm, nghe buồn man mát. Đâu rồi cái thời ồn ào của những tiếng rao mía ghim, hột vịt lộn hòa lẫn trong tiếng chào mời mua bán bánh kẹo, trái cây nghe ngọt lịm từ miệng các cô thôn nữ xinh đẹp, mộc mạc trong chiếc áo bà ba cùng với nón lá che đầu. Hết ! Tất cả hình ảnh thân thương ngày nào nơi bến phà sông Tiền, giờ đã trở thành dĩ vãng,trôi theo dòng thời gian hóa thành hoài niệm.

Từ bên kia sông, tỉnh Vĩnh Long xinh đẹp, trù phú với các loại cây trái bốn mùa;hiện ra bên dáng vẻ êm đềm của màu xanh vườn tược. Một nơi, chỉ trong chốc lát đây tôi sẽ có dịp tận mắt chứng kiến việc sản xuất ra các sản phẩm được gọi với cái tên ”Gốm Đỏ“. Một loại gốm không chỉ có giá trị kinh tế cao mà còn tạo ra thế mạnh trong việc xuất khẩu, giúp giải quyết công ăn việc làm cho người lao động bản địa rất nhiều.

Vậy Gốm Đỏ là gì ?

Theo lịch sử gốm xứ thế giới : “Con người sau thời đại đồ đá đã tìm ra lửa. Biết cất nhà sống định cư. Biết dùng đất sét cho qua lửa để làm nên các vật dụng dùng trong gia đình, hoặc vật dụng dùng trong xây dựng, hoặc vật dụng dùng trong việc thờ cúng”.

Như vậy, gốm xứ nói chung đã có mặt và gần gủi với đời sống con người từ rất lâu. Riêng tại Việt Nam, sự hiện diện của gốm tuy có muộn hơn, nhưng mỗi khi nói tới gốm Việt. Người ta thường nhắc tới các loại đất nung từ thời đồ đồng, thời Hán-Việt, thời Lý-Trần, thời Lê-Mạc, thời Nguyễn, Óc Eo, Chăm Pa và sau đó có gốm Bát Tràng, Phù Lãng, Chu Đậu, Mỹ Xá, Biên Hòa, Cây Mai và đặc biệt hơn, trong thời gian gần đây còn được nghe nhắc tới loại Gốm Đỏ Vĩnh Long.

Để đi tìm hiểu về loại Gốm Đỏ Vĩnh Long một cách cụ thể hơn. Liệu chúng ta thử nên bắt đầu từ đâu ?

Giữa lúc tôi còn đang loay hoay, chưa biết sẽ cầu cứu đến những ai, khả dĩ có thể giúp tìm ra nguồn tài liệu cho bài viết, thì may sao chuông điện thoại từ họa sĩ Đăng Can gọi tới báo cho biết : “có một nhóm họa sĩ do Lê Triều Điễn hướng dẫn đi thực tế sáng tác tại các lò gốm trong tỉnh. Hỏi tôi có muốn tháp tùng theo không ?”. Tưởng ai lạ, chứ họa sĩ Lê Triều Điển, có vợ vừa là nữ sĩ vừa là họa sĩ, vốn đã từng quen biết từ rất lâu nên được đi cùng chắc sẽ vui. Tới khi, đang uống cà phê  tại HVHNT Vĩnh Long cùng với họa sĩ Đặng Can, Thế Đệ, Hà Ngọc Trãng, Tín Đức, Chiêu Đồng, Minh Nhựt thì, nhóm họa sĩ Lê Triều Điển, Lê Kiệt, Hồng Lĩnh cùng vài anh em của Mê – Kông art cũng vừa ghé tới.

Quả đây là một dịp may, giúp cho chuyến đi lần này của tôi có thêm nhiều thuận lợi. Bởi, họa sĩ Lê Triều Điển ngoài việc từng là hội viên HVHNT tại đây, anh còn là người con đất Vĩnh một thời. Cho nên,việc tháp tùng cùng nhóm của anh, giúp tôi tiếp xúc và làm quen với nhiều khuôn mặt văn nghệ của vùng đất Vĩnh Long như : Phạm Trung Khâu, Trần Thôi, Hồ Tĩnh Tâm, Song Hão…, đặc biệt là các chủ lò gốm yêu mến hoạt động văn nghệ, sẵn sàng hổ trợ anh em có nơi chốn để sáng tác.

Nhờ được giới thiệu từ trước nên, chỉ sau vài giờ làm việc với nhiều nơi nhiều người, tôi đã tương đối có đủ tài liệu về các làng gốm Vĩnh Long. Một làng gốm nằm dọc theo bên này sông Cổ Chiên, hình thành vào những năm 1993 trên nền sản xuất gạch ngói, có bề dày kinh nghiện với hơn 150 tuổi. Tuy nhiên, việc làm ăn chỉ khá lên từ năm 1997. Khi lần đầu tiên sản phẩm gốm đỏ mỹ nghệ được bán ra nước ngoài và trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Nhờ đó, việc sản xuất ngày càng đi vào ổn định. Số miệng lò trong tỉnh tăng lên hơn 3000 chiếc với gần 1000 cơ sở sản xuất, trong đó chỉ tính riêng mặt hàng gốm mỹ nghệ xuất khẩu đã có gần 800 miệng lò với 120 cơ sở tại phường 5, với các xã : Thanh Đức, Mỹ An, Mỹ Phước, Chánh An. Số lò còn lại thuộc các huyện Châu Thành, Long Hồ, Mang Thít .v.v… luôn đỏ lửa trong vụ mùa từ tháng 8 năm trước kéo dài đến tháng 3 năm sau.

Để giúp tôi sớm tiếp cận và làm việc với làng Gốm Đỏ. Họa sĩ Thế Đệ chịu khó chở tôi trên chiếc xe gắn máy, chạy qua nhiều con đường bề thế của thành phố; trước khi tiến thẳng ra con đường độc đạo nằm dọc bên này sông Cổ Chiên. Nhờ ngồi phía sau, tôi có dịp nhìn lại thị xã mà cách nay vài chục năm mình từng có lần ghé lại làm việc trong đôi ba ngày. Phải thừa nhận thành phố hôm nay có nhiều thay đổi qua việc làm biến mất những con rạch tù đọng nước thải lâu ngày, bốc mùi hôi thối. Cho đến những rặng dừa nước già cổi cháy nắng, nay đã trở thành những con đường sạch sẽ tinh tươm bên một khu phố ồn ào náo nhiệt.

Cuối cùng. Con sông Cổ Chiên màu mở phù sa cũng hiện ra trước mắt tôi. Một bên là cù lao Tam Bình cây lành trái ngọt, nổi tiếng với hầu hết các khu du lịch sinh thái; một bên còn lại chính là thủ phủ các lò gốm, chuyên sản xuất ra các loại gốm đỏ, mà nhà này cách nhà kia chỉ là hàng rào thấp lè tè. Nhưng, cứ thế nổi lên vô số những miệng lò; hết miệng lò này nối tiếp miệng lò khác, giống hình thù những chiếc nấm khổng lồ thi nhau thả khói lên tận bầu trời cao. Đó là giang sơn, là cơ ngơi của các nhà sản xuất giàu có. Nhờ biết tận dụng nguồn nguyên liệu đất sét nhiễm phèn sẳn có tại chỗ cùng với trử lượng dồi dào, khi được nung qua lửa sẽ cho ra sản phẩm có màu hồng pháo điểm xuyết thêm vài vạt trắng, đẹp không thể tưởng tượng. Nhờ đó, gốm đỏ Vĩnh Long nổi tiếng khắp Châu Âu, Mỹ, Úc kể cả Đài Loan tìm tới đặt hàng nhiều đến nổi, có khi không đủ hàng để ký kết hợp đồng, nếu gặp lúc đang ở vào mùa vụ. Hơn nữa,sự thuận lợi của vùng đất được qui hoạch tập trung, chỉ dành riêng cho việc sản xuất gốm nơi này, còn được đánh giá là rất thuận lợi trong việc, vận chuyển, tập kết nguyên vật liệu đất sét, vỏ trấu dùng cho việc đốt lò thôi chưa đủ; mà còn tỏ ra khá thân thiện với môi trường, bởi sự ô nhiễm không mấy đáng kể.

Người chủ lò đầu tiên tôi được tiếp xúc trong sáng nay là nhà doanh nghiệp trẻ Nguyễn văn Buôi. Giám đốc xí nghiệp Tân Hiệp Phát, thuộc xã Thanh Đức, huyện Long  Hồ. Người gần đây nổi lên không chỉ với thiết kế mà còn cho ra đời sản phẩm gốm khá độc đáo : Ngôi nhà làm bằng đất sét nung hay còn gọi là NGÔI NHÀ GỐM ĐỎ. Bởi, từ cổng chào, hàng rào, rui, mè, kèo, cột, đòn dông, mái nhà đều làm cùng một loại đất sét, sau khi nung qua lửa cho ra cùng một màu đỏ gốm.

Theo ông Buôi : “khối lương công việc dành cho gốm còn rất nhiều, chưa thể làm xong trong ngày một ngày hai, mà trong tương lai còn phải nhờ đến bàn tay của các hoạ sĩ, giúp ông biến những ý tưởng  trở thành hiện thực bằng việc tạo ra các sản phẩm khác như : gốm giả đồng, gốm giả đá nhân tạo, gốm giả sơn mài… đặc biệt, phải thể hiện thật rõ nét đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhất là đối với nền văn hóa Nam Bộ”.

Xem ra,muốn thể hiện một cách thông suốt ý tưởng này;tưởng cần phải có những con người nhiệt tình, hết lòng với quê hương mới hy vọng mang lại kết quả. Điều này,có thể đặt sự tin tưởng vào người đàn ông giàu nghị lực và đầy quyết tâm đang cố dành cho nghề gốm quê nhà một chỗ đứng xứng tầm thế giới. Cụ thể, bằng những việc làm được nhìn thấy qua các sản phẩm vừa thực hiện hoàn chỉnh như : bộ tranh gốm bát tiên, bộ tranh gốm nói về các lễ hội dân tộc, tranh gốm về hồng hạc. Và gần đây, phải kể tới cuộc trưng bày hoành tráng các sản phẩm gốm tại quảng trường vừa đẹp vừa lớn, lại vừa là cửa ngõ của thành phố, nhờ thế tạo được ấn tượng trong mắt người dận và khách du lịch ghé đến tham quan. Nhằm giới thiệu một ngành nghề đặc trưng của tỉnh Vĩnh Long nhân dịp đầu xuân Canh Dần vừa qua.

Chứng kiến công việc khá bận rộn nơi vị gián đốc. Vì cùng lúc vừa phải tiếp chuyện với tôi, vừa phải quay sang tư vấn cho nhân viên của mình trong việc san lấp mặt bằng,nhằm tôn tạo khoảng sân rộng vài công đất quanh xi nghiệp. Theo ông Buôi cho biết : “nơi đây,trong nay mai sớm biến thành một cụm triển lãm bề thế; không chỉ có gốm thôi,mà còn có cả tranh của các họa sĩ khách mời.

Không muốn làm phiền người chủ trẻ năng động này nhiều hơn nữa. Tôi đành chào tạm biệt để ông được rảnh tay đi lo công việc khác. Lúc quay đi, nhìn đồng hồ tay thấy còn dư nhiều thời gian, tôi bèn tìm người hỏi thăm đường đi xuống  với Tân Hiệp Phát 2. Nơi một số bạn họa sĩ trong nhóm Mê Kông art đang sáng tác dưới đó. Con đường tưởng gần, nhưng dài đến gần chục cây số, hướng về huyện Mang Thít gập ghềnh khó đi như cảnh “thầy cai“  ngồi trên lưng ngựa đến trấn nhậm nơi nhiệm sở mới; bởi mặt đường bị những hố sâu làm cho nham nhở.

Vì là lần đầu tiên làm quen với việc “vọoc“ đất, chân tay tôi trở nên khá vụng về. Đụng tới việc chi cũng cảm thấy khó khăn; nhất là khi thọc tay vào đất trơn tuột, sắn lấy một miếng bỏ lên bàn xoay, nhào nặn miếng đất sao cho ra hồn, nếu không cục đất vẫn là cục đất đen thui. Chán. Tôi định chuyển qua tìm hiểu về nghề đốt lò. Tiếc thay, thời gian này sản phẩm mộc tuy thấy khá nhiều, nhưng các thợ thủ công cho biết : “với bao nhiêu đó sản phẩm vẫn chưa đủ đâu vào đâu so với khối lượng của một mẻ nung. Vì vậy, để giảm bớt chi phí cho chủ, tạm thời chưa thể đốt lò đỏ lửa được“. Nếu không, thế nào tôi cũng đòi gặp bằng được người thợ cả trông coi việc đốt lò, hỏi cho ra lẽ,có hay không quan niệm : “coi hiện vật gốm không khác chi một cơ thể sống. Một vũ trụ thu nhỏ liên kết hài hòa theo thuật phong thủy gồm : kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Và, điều quan trọng là kinh qua đó mà biết được sự phát triển nghề nghiệp có được sự hạnh thông hay không. Mà sự hạnh thông của ngũ hành lại nằm trong qui trình lao động sáng tạo cùng với qui trình kỹ thuật chuẩn xác” ?

Cuối cùng,để giết thời gian,tôi quay sang chọn lấy miếng đất đặt lên bàn xoay. Phác thảo vội vàng hình tượng trong đầu rồi, cứ thế làm bạn với miếng đất cho tới lúc hoàn thành cái dược gọi là tác phẩm.Trời ạ ! Tôi nhớ hồi còn nhỏ đi học ở trường tiểu học. Trong giờ thủ công, cô giao ra đề trước “các em về nhà nặn tương một chú mèo” tuần sau mang đến lớp chấm điểm. Lần nào cũng như lần nào, đề bài cô giáo ra luôn thay đổi; bữa nặn con vật này, bữa nặn con vật kia. Và, y như rằng, tuần sau thế nào tôi cũng mang đến lớp cục đất mà qua đó chẳng ai có thể đoán ra hình thù con gì. Lại thêm một lần nữa,cả lớp được một trận cười đến xấu hỗ cho một tài năng điêu khắc thuộc trường phái trừu tượng.

Vậy mà, khi kết thúc ngày làm việc đầy sự chật vật hôm đó. Tôi đã gây ngạc nhiên không ít cho nhiều người, khi có tới 3 chiếc tượng lọt qua vòng kiểm tra, trước khi được cho vào lò nung.

Chắc chắn, đây sẽ là một kỷ niệm khó quên trong chuyến đi về đồng bằng sông Cữu Long của tôi lần này. Một chuyến đi không chỉ để xem gốm đỏ Vĩnh Long không thôi, mà còn được thọc tay “vọoc” đất một cách thoải mái.

Minh Nguyễn


Nhạc sĩ DƯƠNG THIỆU TƯỚC

DƯƠNG THIỆU TƯỚC

NHẠC SĨ KHAI PHÁ

DÒNG NHẠC VIỆT

Tên thật Dương Thiệu Tước, sinh ngày 15/5/1915 tại làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Ngày ông mất 1/8/1995 tại Sài Gòn.

Ông xuất thân trong một gia đình Nho học truyền thống, cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học Nam Định. Thuở nhỏ ông học ở Hà Nội, những năm 30 ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa lưu ly) gồm Thẩm Oánh, Lê Yên, Doãn Mẫn, Vũ Khánh… Dương Thiệu Tước là người có sáng kiến soạn các nhạc phẩm thuộc loại “bài Tây theo điệu ta”. Phần lớn nhạc của ông lúc đầu đều bằng tiếng Pháp đó là một thể loại đầu tiên ở nước ta và chính nó đã mở ra một hướng mới cho nền tân nhạc Việt Nam.

Những nhạc phẩm như Vầng trăng sáng, Thuyền mơ, Bến xuân xanh, Dưới nắng hồng… của ông khi ra mắt được mọi người tiếp đón thưởng ngoạn nồng nhiệt, tạo cho nét nhạc dân tộc bay bổng trên nền nhạc hiện đại.

Những năm chiến tranh Việt Pháp và hòa bình được tái lập (1954), nhạc sĩ Dương Thiệu Tước vẫn sáng tác đều tay, có lúc ông dạy ở Trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn.

Tác phẩm của Dương Thiệu Tước sẽ sống mãi với lịch sử âm nhạc Việt Nam, vì nhạc ông “là loại nhạc tình tứ, nhưng rất sang trọng. Đó là những ca khúc tình ái, thốt lên từ con tim nhạy cảm của một nhạc sĩ từng trải”.

Một số sáng tác của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước : Áng mây chiều, Bạn cùng tôi, Bến Hàn Giang, Bến Xuân Xanh, Bóng chiều xưa (với Minh Trang), Buồn xa vắng (với Minh Trang), Cánh bằng lướt gió, Chiều (thơ Hồ Dzếnh), Đêm ngắn tình dài, Đêm tàn bến Ngự, Dưới nắng hồng, Dưới trăng, Giáng xuân, Hội hoa đăng, Hờn sóng gió, Khúc nhạc dưới trăng (với Minh Trang), Kiếp hoa, Mơ tiên, Ngọc Lan, Nhớ cánh uyên bay, Ôi quê xưa (với Minh Trang), Ơn nghĩa sinh thành, Phút say hương, Sóng lòng, Thuyền mơ, Tiếng xưa, Tình anh, Trời xanh thẳm, Ước hẹn chiều thu, Uống nước nhớ nguồn (với Hùng Lân), Vầng trăng sáng, Vui xuân (với Minh Trang)…

Những sáng tác của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước được đánh giá là những ca khúc trữ tình thời nhạc tiền chiến, và ông được coi là một trong những nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc Việt Nam. Mặc dù theo học nhạc Tây, nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm hồn dân tộc. Trong một ấn phẩm viết tay, ông ngỏ ý : “Theo tôi tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền“.

Nhạc sĩ Dương Thiệu tước vào Nam sinh sống từ năm 1954. Tại Sài Gòn ông làm chủ sự phòng văn nghệ tại Đài phát thanh Sài Gòn đồng thời được mời làm giáo sư dạy đàn Lục huyền cầm/Tây Ban Cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Sau ngày 30/4/1975, nhạc của ông bị cấm đoán và ông cũng bị mất chỗ dạy học tại trường Quốc Gia Âm Nhạc.

Vợ chính thất cũng là vợ đầu của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái đang sống tại Đức và Hoa Kỳ. Vợ sau của ông là Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng của thập niên 1950. Đầu thập niên 1980 ông về sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh và được bà chăm lo cho tuổi về chiều.

NS PHẠM DUY VIẾT VỀ DƯƠNG THIỆU TƯỚC

…Dương Thiệu Tước mới thật sự là người có nhiều sáng kiến trong thời gian khởi sự xây dựng một nền âm nhạc mới mẻ này. Ngay từ khi mọi người còn phải vay mượn nhạc điệu tây phương để soạn lời ca tiếng việt và gọi nó là ”bài ta theo điệu tây” thì ông lại soạn những bài mà tôi dám gọi là ”bài Tây theo điệu Ta”.

Trước cái gọi là “biến cố tháng ba 1938” gây ra bởi Nguyễn Văn Tuyên, Dương Thiệu Tước đã là người đánh đàn guitare hawaienne rất giỏi, chủ nhân của một cửa tiệm bán đàn ở phố Hàng Gai, Hà Nội và có mở cả lớp dạy đàn nữa. Trong sinh hoạt hằng tuần với các bạn nhạc sĩ tài tử của mình, ông đã sáng tác mấy bài mang những đầu đề bằng tiếng Pháp, như Joie d’aimer (Thú Yêu Ðương), Souvenance (Hồi Niệm), Ton Doux Sourire (Nụ Cười Êm Ái Của Em)… Lời ca của những bài này là do Thẩm Bích (anh ruột của Thẩm Oánh) soạn, dĩ nhiên là bằng Pháp ngữ.

Có lẽ vì ông tự coi như đã nắm được nhạc pháp soạn nhạc Tây Phương, cho nên ông đã tuyên bố, khi được phỏng vấn về cách soạn nhạc Việt Nam :

– “Nếu đã có nhà văn Việt Nam viết văn bằng tiếng Pháp, thì nhà soạn nhạc Việt Nam cũng có thể viết được những bản nhạc có âm điệu Tây Phương” (báo Việt Nhạc số 5, ngày 16 tháng 10, 1948). Do đó, ngay trong năm 1938, ông đã cho in ra những ca khúc như Tâm Hồn Anh Tìm Em, Một Ngày Mà Thôi, Bên Cây Lục Huyền Cầm, Dập Dìu Ong Bướm…

Bây giờ, nghĩa là trên nửa thế kỷ sau khi Tân Nhạc thành hình, trong hoàn cảnh ở xa đất nước và rất thiếu thốn tài liệu, tôi cũng cố gắng sưu tập những bản nhạc đầu tay của Dương Thiệu Tước để nghiên cứu những ca khúc đầu tiên của Tân Nhạc. Và tôi khám phá ra rằng : Tuy nhạc sĩ họ Dương không câu nệ trong việc soạn ca khúc Việt Nam với âm giai Tây Phương, nhưng trong những ca khúc tuyệt vời mà ông viết trong thời kỳ thử thách của nhạc cải cách, đa số các nét nhạc đều là nhạc ngũ cung Việt Nam. Ví dụ bài Tâm Hồn Anh Tìm Em mà hồi đó ai cũng đều biết :

Tâm hồn anh tìm em / Theo lần sang lầu Thúy / Dưới trăng ngà sao huyền / Lòng anh giá băng / Trong bóng sương mờ…

Rõ ràng nét nhạc của đoạn này nằm trong ngũ cung Sol La Do Ré Mi (thuần túy). Dương Thiệu Tước thật tình muốn dùng nhạc pháp Tây Phương để soạn nhạc Việt mới, nhưng ông bị nhạc ngũ cung Việt Nam trói ông lại. Sau này, trong một nhạc phẩm bất hủ của ông là bài Trời Xanh Thẳm, chỉ có đoạn sau là được soạn theo âm giai thất cung Tây Phương, đoạn đầu hoàn toàn là nhạc ngũ cung Việt Nam thuần túy :

Còn đâu như lúc xưa / Ngày đôi chúng ta còn thơ / So phím tơ bên thềm / Anh hoà theo lời em / Ngàn lời ca êm ái / Khiến anh đắm say hoài / Và giờ đây em thấy / Muôn ngàn lời không phai / Còn đâu như lúc xưa / Ngày đôi chúng ta còn thơ / Anh nắn cung đàn / Còn em thì biệt tăm…

Không còn nghi ngờ gì nữa, hai nhạc sĩ tiền phong trong phong trào Âm Nhạc Cải Cách là Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước đều dung hòa cả hai âm giai ngũ cung Á đông và âm giai thất cung Tây phương. Bởi vì họ đều có học thức trong cả hai loại nhạc cổ truyền Việt Nam và nhạc cổ điển tây phương cho nên khi họ sáng tác thì nét nhạc mà họ học được từ lâu, đã tự nhiên tuôn ra từ tâm thức. Qua bài Trời Xanh Thẳm, tôi thấy trong tiến trình thất cung, giai điệu Dương Thiệu Tước có nét nhạc đẹp hơn Thẩm Oánh, vì không còn là nét nhạc “âm chuỗi” (arpège) nữa. Ðoạn đầu của bài Trời Xanh Thẳm là ba mệnh đề nhạc ngũ cung, mô phỏng (imitation) nhau để tạo cho ta một không khí xa xưa, khi chúng ta còn thơ, anh so phím, nắn cung đàn để dâng ngàn lời ca êm ái, rồi thì… em biệt tăm ! Ðoạn sau là nhạc dùng âm giai thất cung, giai điệu hơi giống nét nhạc của Chopin hay Schumann, kéo ta về ngày hôm nay, cũng vẫn còn buồn bã như ngày hôm xưa :

Hôm nay Ðông đã trôi qua / Hôm nay Xuân đến với hoa / Thấy nắng Xuân êm đềm / Mà chẳng thấy em tìm đến

Bên sông anh đứng trông trời / Bao la mây xanh tuyệt vời  / Nắn nót mấy cung đàn / Lòng thấy như nát tan…

Ðoạn này có những chuyển cung (modulation) khá cổ điển, rất hợp lý, rất quyến rũ vì nét nhạc không có những “quãng” (intervalles) quá xa, quá trúc trắc mà là những nét nhạc có bán cung mềm dịu. Cấu phong của ca khúc cũng rất là cổ điển : từ đoạn A qua B, rồi kết thúc bằng A…

Bài Trời Xanh Thẳm sẽ còn được hát mãi trong những thập niên sau vì nó đã là bản nhạc tình, nghiêng nhiều về “nhạc tình đôi lứa”, không còn là thứ nhạc tình chỉ có ”than mây khóc gió” mà thôi. Ðặc biệt hơn nữa, nhạc tình của Dương Thiệu Tước luôn luôn là mối tình của những nhạc sĩ, của nghệ sĩ. Có ”so phím tơ, có nắn cung đàn” và sau này cũng vẫn có ”tơ chùng phím loan” trong một bản nhạc tuyệt vời của ông là bản Ngọc Lan. Nhạc Dương Thiệu Tước, theo tôi, là loại nhạc tình tứ, nhưng cũng rất sang trọng. Ðó là những ca khúc tình ái thốt lên từ con tim của một nghệ sĩ dòng dõi nhà quan.

Tưởng cũng nên ghi lại ở đây một ca khúc nữa của ông cũng dùng hai ngũ cung Do Re Fa Sol La và Sol La Do Re Mi, bài Vừng Trăng Sáng mà nhiều ca sĩ đã hát trong những năm 44-45. Giống như những tác phẩm của Thẩm Oánh, Dzoãn Mẫn hay Văn Chung, bài này cũng vẫn nói đến chuyện yêu nhau bên hồ, dưới trăng, trong chiều thu :

Kìa vừng trăng sáng / Chiếu in trên hồ / Dưới làn trăng nước / Sóng lan nhấp nhô / Mặt hồ rung rinh / Dưới khung trời tím / Có anh cùng em / Chúng ta vui hoà / Trong một chiều thu / Ðắm say dưới trăng…

Nhóm MYOSOTIS (Hoa Lưu Ly) qui tụ được nhiều nhạc sĩ nhưng về mặt sáng tác thì trong bốn năm đầu, từ 1938 cho tới 1942 là lúc Tân Nhạc đã có thêm một xu hướng mới – xu hướng nhạc hùng – chỉ có hai người đầu đàn là Dương Thiệu Tước và Thẩm Oánh là có nhiều sáng tác, bài nào cũng buồn man mác (không trữ tình thì cũng lãng mạn) và đều có giá trị, không những là giá trị khai phá mà còn phải được coi như đã hoàn mỹ và sẽ phải bất tử.

Nhưng sở dĩ nhạc của hai ông Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước (cũng như của các nhạc sĩ trẻ trong nhóm TRICEA mà tôi sẽ đả động tới – trong những chương sau) được mọi người biết tới trong giai đoạn đầu này, đó cũng là nhờ ở sự tích cực của một người, tuy không có nhiều sáng tác nhưng đã có công kết hợp các nhóm để tổ chức các buổi trình diễn nhạc mới. Ðó là nhạc sĩ Lê Ngọc Huỳnh, tác giả bản Trên Ðường Hưng Quốc, vốn là người anh của quân nhạc trưởng tương lai Lê Như Khôi. Lúc Tân nhạc mới ra đời, chưa có những giọng ca lớn để truyền bá bài bản mới, sự phổ biến dựa vào việc ấn hành các bản nhạc hoặc dựa vào các buổi trình diễn của những ban nhạc tài tử trong đó, ban nhạc Orchestre Amateur do Lê Ngọc Huỳnh kết hợp một số đông các nhạc sĩ trong nhóm để thành lập, là ban nhạc quan trọng nhất.

Trong những năm đầu của Tân Nhạc, tác phẩm của nhóm MYOSOTIS rất là nhiều, nhưng không lưu truyền cho tới về sau, trừ một số bài nào đó, ngẫu nhiên được một giọng ca lớn nào đó, ví dụ giọng Thái Thanh hay Kim Tước, hát lại trong những thập niên sau. Ðó cũng là một điều đáng tiếc, vì xét ra những bản nhạc đầu mùa của hai vị tiền phong Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh… có một hương vị rất trinh trắng, phản ảnh một thời rất êm ả của chúng ta, trước khi những cơn cuồng phong kéo tới, liên tiếp trong bốn, năm chục năm trời. Nếu cần phải biết rõ hơn về tác giả để hiểu biết và yêu mến tác phẩm hơn, tôi thấy trong hai vị sáng lập ra nhóm MYOSOTIS, Thẩm Oánh đã đạo mạo thì sẽ đạo mạo suốt đời, còn Dương Thiệu Tước thì có một đời tình khá chuyển động.

Sau 1975, với tuổi hạc đã khá cao, ông còn kết duyên với một thiếu nữ rất trẻ và ”lão bạn” này vẫn ”sinh châu” như thường. Mới hay, nhạc sĩ là hạng người thuộc nòi tình… cho tới hơi thở cuối cùng.

Quay về với sự tìm hiểu trong giai đoạn thành lập của Tân Nhạc này, ta thấy sau một thời gian ngắn, nhóm MYOSOTIS không còn là một nhóm thuần nhất nữa. Các thành viên chia tay nhau, mỗi người đi theo hành trình riêng của mình. Nếu như sau này Thẩm Oánh còn sáng tác thêm những bài mới thuộc nhiều loại khác nhau, thì Dương Thiệu Tước ít khi chịu rời khỏi lĩnh vực nhạc tình tứ và cao sang đặc biệt của ông. Về sau, khi nhạc dân ca được coi như phản ảnh đúng tâm hồn của dân tộc, Dương Thiệu Tước quay hẳn về nhạc ngũ cung để cống hiến cho ta những bài hát bất hủ như Tiếng Xưa, Ðêm Tàn Bến Ngự … Rồi cũng trong ý muốn dung hoà cả hai hệ thống âm nhạc Việt Âu, tại mấy Ðài Phát Thanh ở Saigon, ông chủ trương hình thức ”cổ kim hoà điệu” nghĩa là hoà tấu những bản nhạc mới với đàn tranh Việt Nam cùng hoà điệu với giàn nhạc Tây Phương.

Từ 1946 cho tới 1953, nhạc phẩm của Dương Thiệu Tước được xuất bản rất mạnh mẽ vì quanh ông không có ai là địch thủ cả. Hầu hết các nhạc sĩ trẻ và có tài đã rời bỏ thành thị đi kháng chiến… Dương Thiệu Tước và một số nhạc sĩ khác như Ðoàn Chuẩn, Từ Linh ở lại Hà Nội và soạn ra khá nhiều bản nhạc tình. Rồi ông vào Saigon làm việc tại các Ðài Phát Thanh Pháp Á, Ðài Phát Thanh Quốc Gia rồi làm giáo sư dạy nhạc tại Nhạc Viện Saigon cho tới khi ông mất vào năm 1996, khi ông 83 tuổi.

(Trích từ Biên Khảo : Nhạc Sử Việt Nam – Phạm Duy)

QUẾ PHƯỢNG tổng hợp

NỮ TÀI TỬ KIỀU CHINH

KIỀU CHINH

50 NĂM ĐIỆN ẢNH

70 NĂM CUỘC ĐỜI

Phiêu Dao

Nữ tài tử Kiều Chinh tên thật là Nguyễn Thị Chinh, là một nữ minh tinh nổi tiếng ở miền Nam trước năm 1975, và sau này bà từng tham gia trong một số phim truyện hay phim nhiều tập của Hollywood.

Kiều Chinh xuất thân là nữ diễn viên chính trong cuốn phim đầu tiên của bà, Hồi chuông Thiên Mụ (1957). Sau đó, Kiều Chinh mau chóng trở thành một trong những người nổi tiếng nhất miền Nam.

Trong thập niên 1960, bà cũng xuất hiện trong các cuốn phim của Hoa Kỳ như A Yank in Vietnam (1964) và Operation C.I.A (1965) (diễn chung với Burt Reynolds). Kiều Chinh là diễn viên chính và cũng là người sản xuất bộ phim về chiến tranh “Người tình không chân dung” (Hãng Giao Chỉ sản xuất năm 1972, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc; tài tử : Kiều Chinh, Trần Quang, Tâm Phan, Hà Huyền Chi v.v…), cuốn phim sau này đã được tái bản và trình chiếu trong Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế (Vietnamese International Film Festival) tại Hoa Kỳ năm 2003.

Năm 1975, khi Kiều Chinh đang thực hiện cuốn phim Full House ở Singapore thì xảy ra biến cố 30/4/1975. Vì thế Kiều Chinh ở lại luôn Hoa Kỳ, nơi bà tiếp tục sự nghiệp diễn xuất trong bộ phim M*A*S*H (1977), bộ phim gần như dựa trên câu chuyện về cuộc đời của bà.

Nữ tài tử Kiều Chinh cũng xuất hiện trên các bộ phim truyền hình như The Children of An Lac (1980), The Letter (1982), The Girl Who Spelled Freedom (1986), cũng như trong các phim truyện khác như Hamburger Hill (1987), Gleaming the Cube (1988), Catfish in Black Bean Sauce (1999), What’s Cooking (2000), Face (2002), Returning Lyly (2002).

Năm 1993, Kiều Chinh vào vai Suyuan, một phụ nữ trong cuốn phim The Joy Luck Club của Wayne Wang. Năm 2005, Kiều Chinh vào vai một người bà với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu trong cuốn phim Vượt sóng, có tên tiếng Anh là Journey from the Fall của đạo diễn Trần Hàm. Vượt Sóng là cuốn phim đầu tiên và có ngân sách lớn nhất nói về người tỵ nạn Việt Nam, cuốn phim theo dấu các gia đình Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc, về các trại cải tạo, về kinh nghiệm của các thuyền nhân và những khó khăn ban đầu khi họ được định cư tại Hoa Kỳ.

Năm 1996, Viện Khoa học và Nghệ thuật Truyền hình Mỹ (Academy of Television Arts and Sciences) đã trao giải Emmy cho phim tài liệu Kieu Chinh : A Journey Home của đạo diễn Patrick Perez / KTTV. Năm 2003, tại Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế (Vietnamese International Film Festival), Kiều Chinh được trao giải thưởng Thành tựu Suốt đời (Lifetime Achievement Award). Cũng trong năm 2003, tại Liên hoan phim Phụ nữ (Women’s Film Festival) ở Turin, Ý, Kiều Chinh được trao giải Diễn xuất Đặc biệt (Special Acting Award).

Những phim tham gia :

Bão tình – Chờ Sáng – Chiếc Bóng Bên Đường – Chuyện Năm Dần (Year Of The Tiger) – Destination Việt Nam – Inside Out – Hè Muộn – Hồi Chuông Thiên Mụ – Hồng Yến – MASH – Mưa Rừng – Ngàn Năm Mây Bay – Operation CIA – Từ Sài Gòn Đến Điện Biên Phủ – The Joy Luck Club

50 NĂM ĐIỆN ẢNH

Từ Ni Cô Của ‘Hồi Chuông Thiên Mụ’ đến ‘Người nghệ sĩ huyền thoại của VN và Á Châu’

Sự nghiệp 50 điện ảnh của nữ tài tử Kiều Chinh, một sự nghiệp mà nửa thế kỷ qua chưa có một diễn viên điện ảnh người Việt nào có thể so sánh được. Bắt đầu từ năm 1957, khi ấy, vừa tròn 20 tuổi, bà được mời đóng vai đầu tiên là ni cô trong phim ‘ Hồi chuông Thiên Mụ’ mà nhà sản xuất là cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm.

Có thể nói, bà là một trong những người có mặt đầu tiên trong ngành điện ảnh Nam VN. Từ lúc phôi thai ở giữa thế kỷ 20, đến năm 1975, đã đóng góp vào điện ảnh Nam VN đến 22 cuốn phim. Từ những phim đóng với các nhà sản xuất, đạo diễn VN đến các nhà đạo diễn và sản xuất Á châu như Ấn Độ, Phi Luật Tân, Thái Lan, Đài Loan, Singapore, cho đến một số phim Hoa kỳ quay tại Á Châu như Operation CIA, A Yank in Vietnam, Devil Within, Destination Vietnam. Hai phim VN cuối cùng là ‘Người Tình Không Chân Dung’ của Đạo Diễn Hoàng Vĩnh Lộc và ‘Hè Muộn’ của đạo diễn Đặng Trần Thức, bà đóng vai chính, sản xuất bởi hãng phim ‘Giao Chỉ’, hãng phim do chính bà thành lập và điều hành. Có thể nói, phim Devil Within với vai công chúa Ấn độ năm 1971 là phim đưa sự nghiệp của bà lên đến tột đỉnh vào thời kỳ này.

Con đường Hollywood gian nan

Nếu trước năm 1975 điện ảnh đã tìm đến chị như một sự tình cờ, chị đã gặt hái hết thành công này tới thành công khác từ những ngày đầu, thì khi đến Hoa Kỳ lúc đã 38 tuổi, người diễn viên đệ nhất của Nam VN đã quyết định ở lại với điện ảnh dù phải bắt đầu lại từ số không với Hollywood, nơi mà hàng ngàn nghệ sĩ trẻ Hoa Kỳ cũng như từ khắp nơi trên thế giới ước mong được len chân vào. Nhưng, cũng đã có biết bao giấc mơ bị dang dở với thất bại chua cay.

Từ những vai nhỏ chỉ có đôi ba giòng đối thoại trong phim, hai năm sau, bà đã được thủ vai chính bên cạnh tài tử bậc nhất Alan Alda trong chương trình truyền hình M*A*S*H. Sau khi đóng phim với Kiều Chinh, Alan Alda đã nói về Kiều Chinh trên Johnny Carson Show và trên báo TV Guide : “Tài ba như cô ấy, nhất định Hollywood phải có chỗ cho cô”

Tính đến hôm nay, bà đã có mặt trong trên 100 phim và chương trình truyền hình. Trong đó có những phim thật nổi tiếng như The Letter (1986), Welcome Home (1989), Vietnam-Texas (1989), The Joy Luck Cub (1993), Riot (1997), Catfish in Black Bean Sauce (1999), What Cooking (2000), Face (2001), Tempted (2003), Journey from The Fall (2004). Có thể nói phim Joy luck Club xác nhận vị trí hàng đầu của bà trong thế giới Hollywood.

Năm 1996, Hàn Lâm Viện Khoa Học và Truyền Hình đã vinh danh Kiều Chinh và trao giải Emy Award, một giải cao quý nhất của Truyền Hình Hoa Kỳ cho phim tài liệu ‘Kiều Chinh A Journey Home’, do Patrick Perez, Fox Telievision thực hiện. Bà còn lãnh nhận nhiều giải thưởng khác trong các đại hội điện ảnh từ Âu Châu, Á Châu, đến Mỹ châu như Life Time Achievement Award của Đại Hội Điện Ảnh Á Châu tại San Diego 2006, The 10th Festival Internazionale Cinema Delle Donne, tại Ý, 2003.

Từ Diễn Viên Đến Diễn Giả

Sự thành công của bà được nhiều giới ái mộ. Nhờ cách nói chuyện thật truyền cảm, thu hút đám đông, được mời làm diễn giả chuyên nghiệp (professional lecturer) của tổ chức The Greater Talent Network, Inc., một tổ chức chuyên cung cấp những diễn giả nhà nghề cho các trường đại học và các tổ chức văn hoá trên toàn nước Mỹ.

Trên 13 năm qua, từ 1994, Kiều Chinh đã đứng trên hàng trăm diễn đàn cuả Hoa kỳ đề nói lên những điều khó khăn cũng như những đóng góp tích cực cuả người Mỹ gốc Việt, về kinh nghiệm của một nghệ sĩ VN lưu vong cũng như chia xẻ cái nhân sinh quan đầy nhân bản của một phụ nữ VN trước mọi nghịch cảnh của cuộc sống.

Kiều Chinh đã được Quốc hội Hoa Kỳ vinh danh là ‘Người Tị Nạn Năm 1990’. 1986 được tổ chức Asian Pacific Woman Network tặng giải ‘Woman Warrior Arward’, và nhiều giải thưởng cao quý khác.

HƠN 70 NĂM CUỘC ĐỜI

Kiều Chinh sinh ngày 3/9/1937, tuổi Đinh Sửu, tại Hà Nội. Là con gái út của ông Nguyễn Cửu, một viên chức tài chánh cao cấp trong chính phủ Bảo hộ Pháp, và bà Nguyễn thị An.

Năm 6 tuổi, chiến tranh đã cướp mất người mẹ và người em chưa chào đời cuả bà. Sau đó, bà sống được ít năm hạnh phúc với cha, với chị và người anh trong khung cảnh nhung lụa của giới thượng lưu Hà Nội lúc bấy giờ.

Kiều Chinh bị ảnh hưởng người cha về học thức, về nhân cách, về sự yêu thương con cái và gia đình đến hy sinh hạnh phúc riêng tư của mình, quý mến bạn bè và nhất là lòng say mê điện ảnh không có gì thay thế được. Cha bà, ông Nguyễn Cửu, người con trai duy nhất của điền chủ họ Nguyễn, chủ nhân khách sạn Đồng Xuân, Hà Nội. Ông Cửu theo Tây học nhưng mang lý tưởng quốc gia và có tâm hồn nghệ sĩ. Trong phòng khách văn chương của gia đình họ Nguyễn thường lui tới những nhân vật thời danh của Hà Nội như ông Dương Đồ Cổ Hàng Trống, ông An hàng Đào, ông Phúc chủ nhân đồn điền Cam Bố Ha, ông Hùng tay đua xe hơi hạng nhất đường Hà Nội – Hải Phòng, cùng những nhà văn, nhà thơ tên tuổi như Ngọc Giao, Vũ Hoàng Chương, Lê văn Trương, Đinh Hùng…

Là con út mồ côi mẹ từ nhỏ, Kiều Chinh được Bố thương đi đâu cũng mang theo, không cuộc họp mặt nào của bố mà thiếu vắng. Vì thế, bà đã thấm nhuần tư tưởng của Bố và những bằng hữu của ông. Ngay từ thời thơ ấu, Bố còn luôn đưa cô ‘công chúa của bố’ đi xem xi nê tại rạp Majestic hay rạp Philhamonique. Khi ngồi bên bố, không những xem phim lại còn được bố giảng giải cho từ truyện phim cho tới các tài tử. Phim ảnh do đó, đã ăn sâu vào tim óc bà từ thuở thơ ấu. Kiều Chinh từng tâm sự : ‘Người đàn ông quan trọng nhất trong đời của tôi là bố tôi…’

Năm 1954, cuộc chiến tranh chống Pháp kết thúc bằng hiệp định Genève, chia cắt hai miền Nam Bắc và cũng cắt đứt cuộc đời ấu thơ tươi đẹp, hạnh phúc nhưng ngắn ngủi của bà. Người chị của Kiều Chinh lập gia đình và theo chồng sang Pháp. Đêm trước ngày cả gia đình di cư vào Nam, người anh theo tiếng gọi thanh niên bỏ nhà tham gia kháng chiến. Sau hai ngày chờ đợi tại phi trường Bạch Mai, phút chót người cha đẩy cô con lên máy bay nói “Con vào Nam trước, Bố ở lại tìm anh rồi sẽ vào sau.”

Đây là lần sau cùng Kiều Chinh trông thấy Bố.

Năm ấy bà mới 17 tuổi, một thân, một mình nơi xứ lạ, trông ngóng ngày gặp Bố, nhưng ngày ấy không bao giờ tới nữa. Kiều Chinh đã khóc hết nước mắt, khi thời hạn 300 ngày tiếp thu miền Bắc chấm dứt, làm tan vỡ ước mơ cha con xum họp. Chiến tranh đã cướp mất tất cả những người thân yêu của bà.

Tại miền Nam Việt Nam, Kiều Chinh được gia đình một người bạn của Bố là ông bà Nguyễn Đại Độ giúp đỡ và sau này chị trở thành con dâu của gia đình. Kiều Chinh kết hôn với thứ nam của cụ Độ là anh Nguyễn Năng Tế, một sĩ quan nhẩy dù VNCH. Lúc đó, bà mới 18 tuổi. Cuộc hôn nhân mang lại ba người con, một gái hai trai.

Năm 1957, hai năm sau ngày di cư, Kiều Chinh được mời đóng vai ni cô trong cuốn phim đầu tiên ‘Hồi chuông Thiên Mụ’ và nhiều phim sau đó. Dù là một diễn viên, khi ra ngoài được gọi là ‘minh tinh màn bạc’ nhưng sau cánh cổng của gia đình, bà vẫn chu toàn mọi bổn phận làm dâu, làm vợ và làm mẹ trong một gia đình nền nếp kiểu Bắc.

Chuyến bay vòng quanh thế giới

Trung tuần tháng 4 năm 1975, chưa đủ một tuần sau khi trở về VN sau khi hoàn tất phim ‘Full House’ tại Singapore, Kiều Chinh lại phải đáp chuyến máy bay thương mại cuối cùng rời khỏi VN. Niềm hy vọng được gặp ngưòi cha yêu dấu sau 22 năm xa cách đã bị dập tắt vì ‘nước mắt chảy xuôi’, chị phải tìm cách sang Canada, nơi cả ba người con của chị đang du học. Tới Singapore, bà bị bắt vào nhà giam vì thông hành ngoại giao mà bà được chính phủ VNCH trao cho sau khi được tặng tước hiệu ‘Sứ giả của Nghệ Thuật và Thiện Chí của VN’, với phim ‘Devil Within’ tại Ấn độ năm 1971, không còn giá trị. May sao lúc đó tạp chí Female tại Singapore có đăng bài về phim ‘Full House’ và hình bà tại trang bìa. Tờ báo đã giúp bà ra khỏi nhà giam và được lệnh rời Singapore trong vòng 48 tiếng đồng hồ.

Sau khi Sài Gòn không còn tên gọi, nhiều người đã trải qua một hành trình đi tìm tự do khó quên. Hành trình tìm tự do của Kiều Chinh cũng thật đặc biệt. Chiều ngày 25/4/1975, bà bay chuyến bay vòng quanh thế giới trong lúc Sàigòn hấp hối, và bà không được phép nhập cảnh bất cứ một quốc gia nào vì, Nam VN đối với quốc tế lúc bấy giờ là đang trong tình trạng vô chính phủ. Chờ cho tới khi miền Nam mất, lúc ấy bà mới có quyền xin tị nạn.

Sau 100 giờ bay, với những giờ phút đau khổ, lo sợ, nôn nóng đến tột cùng của cảnh ‘nước mất, nhà tan’, với bộ quần áo, và chiếc sắc tay duy nhất trên người, Kiều Chinh đã đáp xuống không biết bao nhiêu là phi trường trên quả địa cầu. Đúng 6 giờ chiều ngày 30/4/1975, khi chuyến bay của bà đáp xuống Torronto, Canada. Kiều Chinh mừng tủi ôm được ba người con trong tay, nước mắt trào ra khi nghe tin tên Saigon đã không còn.

Khi thành người tị nạn tại Canada, công việc đầu tiên Kiều Chinh là quét dọn, hốt phân gà, với số lương tối thiểu. Anh Tế lúc này cũng đã tới đảo Guam rồi sau đó sang Canada đoàn tụ với gia đình. Hiểu rằng đây không phải là đời sống của mình và tương lai các con, Kiều Chinh quyết định tìm mọi cách vào Mỹ. Tháng 7 năm 1975, nhờ sự bảo lãnh của người bạn cũ là tài tử Tippi Hedren, Kiều Chinh và gia đình sang định cư tại California.

Lời nguyện cầu đoàn tụ

Khi Kiều Chinh bắt đầu tìm được một chỗ đứng tương đối thì được tin bố mất sau những ngày lao tù. Ông đã chết trong cô đơn và thiếu thốn. Niềm hy vọng được gặp bố băng xương bằng thịt cũng tiêu tan. Cuộc hôn nhân kéo dài 25 năm, đã chính thức chấm dứt (Nguyễn Năng tế). Và khi hỏi về người chồng cũ bây giờ đã có gia đinh mới, bà luôn nhẹ nhàng nói : ‘Anh Tế, đúng như cái tên mà các cụ đã đặt, anh ấy là một người rất tử tế. Chỉ tiếc duyên phận của mình chỉ có vậy. Bây giờ mình vẫn coi anh ấy như người anh, người bạn, thường gặp nhau trong những sinh hoạt chung của gia đình.”

Trong chuyến trở về VN lần đầu tiên năm 1995, sau 20 năm xa Sài gòn và 41 năm xa Hà Nội trong chuyến công tác cho Viêt Nam Children’s Fund, tổ chức xây trường cho trẻ em VN, Kiều Chinh đã ôm lấy mộ của bố, nỗi đớn đau cuả 41 năm xa cách, nhớ thương bật thành tiếng khóc : ‘Bố ơi, con đã về ! Chị đã khóc lặng người trước mộ phần của bố.

Nỗi đau khi nghĩ về những đày ải bố phải gánh chịu trong những ngày tù đày và những khốn khổ thiếu thốn cả miếng ăn, mọi người đều xa lánh khiến bố đã chết trong cô đơn và đói lạnh đã cắt từng tế bào của người nghệ sĩ VN tị nạn.
Và trong những giờ vinh quang nhất của sự nghiệp, buổi lễ nhận giải Emy Arward cho phim tài liệu “Kieu Chinh, A Journey Home” của nhà sản xuất Patrick Perez; phim nói về chuyến thăm quê hương của Kiều Chinh. Bà đã tuyên bố trước hàng ngàn khán giả tại chỗ và hàng trăm triệu khán giả trên toàn thế giới qua những cuộc trực tiếp truyền hình : “Xin nguyện cầu cho sự đoàn tụ đưọc đến với tất cả các gia đình bị chia lìa vì chiến tranh trên toàn thế giới”

Sống như năm đời sống

Đã có rất nhiều nhà văn, nhà báo, nhà làm phim nổi tiếng Việt Nam cũng như ngoại quốc viết và nhận định về cuộc đời, và con người của Kiều Chinh. Mỗi người nhìn một cách khác nhau nhưng, người viết thích nhất là nhận xét của hai nhân vật, đó là nhà văn nữ Alison Leslie Gold, và nữ tài tử nổi tiếng Tippi Hedren.

Bà Alison Leslie Gold, người viết cuốn ‘Nhật ký của Ann Frank’, một trong những ‘best seller’ đã được dịch ra 16 thứ tiếng và được làm thành phim đoạt giải Emy Award năm 1994, phim ‘The Attic’, Bà Gold đã viết về Kiều Chinh như sau : ‘Kiều Chinh là một phụ nữ phi thường. Bà đã sống như năm đời sống. Kiều Chinh đã sống như một nhân chứng chua cay và từng trải qua cơn lốc thời cuộc mang nhiều tính tranh cãi nhất cuả thời đại chúng ta. Tôi xin ngả mũ chào Kiều Chinh, một phụ nữ có sắc đẹp cao quý của viện bảo tàng, một nghệ sĩ với tài năng hiếm có, và với tôi, Kiều Chinh là người bạn trung thực và cao quý.’

Nhận xét về con người của chị Kiều Chinh, Tippi Hedren, một trong những tài tử hàng đầu của Hollywood, người đã bảo trợ Kiều Chinh vào Mỹ, đã nhận xét như sau : ‘Kiều Chinh thực sự là một trong những phụ nữ can đảm nhất, mạnh mẽ nhất, và dịu dàng nhất mà tôi được quen biết trong suốt cuộc đời của tôi’ ever met in my life.)

Cuộc đời của Kiều Chinh là một định mệnh khắc nghiệt, một thân phận nổi trôi với vận nước thăng trầm. Có thể nói, đời bà hạnh phúc, đắng cay, thành công, thất bại đã đến mức tận cùng của nó. Nhưng bà đã vượt lên tất cả bằng nghị lực, sự quả cảm, lòng vị tha, một nhân cách đặc biệt, và bằng một sức làm việc kiên trì, bền bỉ hiếm có.

Sống giữa ánh sáng chói loà của kinh đô điện ảnh, thế giới của bà là thế giới của vật chất xa hoa với phấn son, áo quần, trang sức, xe cộ… nhất nhất phải là đệ nhất, nhưng bà sống rất nội tâm. Ngoài những giờ đi đóng phim và học hỏi, trau dồi nghề nghiệp, đã dành thì giờ và những gì bà có để yêu thương gia đình, yêu quý bạn bè, dành một phần đời không nhỏ cho các hoạt động xã hội từ những ngày còn ở VN với các thương bệnh binh và cô nhi quả phụ. Đến việc chia xẻ với người VN tị nan trong những ngày tháng bơ vơ tại xứ lạ, quê người. Và cho tới nay, hội VCF do bà là Chủ tịch sáng lập đã xây cất xong 42 trường tiểu học cho nhiều chục ngàn trẻ em Việt Nam tại các vùng quê từng bị tàn phá bởi chiến tranh.

Bí quyết nào giúp chị bảo đảm được những giá trị tinh thần kể trên nhưng vẫn tạo cho mình một bề ngoài với vẻ đẹp, với phong thái hàng đầu tại Hollywood ? Chính là Kiều Chinh đã không chạy đua với hào nhoáng, xa xỉ, và bà đã chọn cái đẹp cuả sự đơn gỉản nhưng thanh nhã và trang trọng, một sự giản đơn có chọn lọc nên không tầm thường. Bà là biểu trưng cho cái đẹp tự nhiên, kín đáo cổ điển luôn vững bền và đứng trên những cái đẹp rực rỡ, chói chang mau tàn, mau chán.

KIỀU CHINH, 50 NĂM ĐIỆN ẢNH

– Khôi Nguyên (Lê Hoàng Hoa)

Nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng của Việt Nam, Kiều Chinh, đánh dấu sự nghiệp điện ảnh 50 năm của mình bằng chương trình mang tên “Kiều Chinh, 50 năm điện ảnh” tại nhà hát Stafford Ferforming Arts Theatre (10505 Cash Road, Stafford, Texas 77477), thành phố Houston, tiểu bang Texas, vào lúc 2 giờ chiều Chủ Nhật, 23/9/2007.

Khởi đầu từ sáng kiến của Little Saigon Radio và tuần báo Việt Tide, chương trình nhằm vinh danh Kiều Chinh ngay sau đó đã được các cơ quan truyền thông khác tại Houston như Bán Nguyệt San Ngày Nay, đài phát thanh VOVN, Việt Báo Houston… nồng nhiệt ủng hộ và cùng đứng ra thực hiện.

Trong chương trình, ngoài nhân vật chính là tài tử Kiều Chinh còn có sự góp mặt của các ca sĩ nổi tiếng như Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Don Hồ, Thu Phương và ca sĩ trẻ của Trung Tâm Thúy Nga Hương Giang. Ðiều khiển chương trình là hai MC là Bác Sĩ Nguyễn Văn Thịnh và xướng ngôn viên Vũ Kiểm.

Cũng nhân dịp này, một bộ phim DVD về cuộc đời nữ tài tử Kiều Chinh mang tên “Confession of An Actress” (tên tiếng Việt: “Tâm Tình Người Nghệ Sĩ”) được phát hành đến những khán giả ái mộ Kiều Chinh. Bộ phim có độ dài khoảng 1 giờ do nhà văn Kiên Nguyễn thực hiện chuyển đến khán giả những lời tự thuật của Kiều Chinh về cuộc đời và sự nghiệp điện ảnh của bà.

Cách đây vừa đúng 50 năm, nữ tài tử điện ảnh Kiều Chinh khi đó tròn 20 tuổi, bắt đầu sự nghiệp điện ảnh bằng một vai nữ chính trong bộ phim “Hồi Chuông Thiên Mụ” sản xuất năm 1957 bởi cựu đại sứ VNCH là ông Bùi Diễm. Tính đến nay, Kiều Chinh đã tham gia diễn xuất cho khoảng 120 bộ phim từ thời trước 1975, cho đến các phim của Hollywood và bây giờ là những bộ phim do chính các nhà sản xuất, đạo diễn người Mỹ gốc Việt thực hiện.

Chỉ riêng nền điện ảnh non trẻ của miền Nam Việt Nam trước 1975, Kiều Chinh đã tham gia vào 22 bộ phim, đó là chưa kể đến nhiều bộ phim của các đạo diễn và nhà sản xuất Á Châu như Ấn Ðộ, Philipines, Thái Lan, Ðài Loan…
Với Hollywood, Kiều Chinh, có thể nói là nữ diễn viên đầu tiên của Việt Nam bước chân vào ngôi làng điện ảnh nổi tiếng này và bà đã đóng góp cho Hollywood hàng chục bộ phim, kể cả phim nhựa lẫn phim truyền hình. Trong đó đáng kể là những phim như “A Yank in Vietnam”, “Devil Within” (trong vai công chúa Ấn Ðộ, sản xuất năm 1971), M*A*S*H (1977), The Children of An Lac (1980), The Letter (1982), The Girl Who Spelled Freedom (1986), Hamburger Hill (1987), Gleaming the Cube (1988), Catfish in Black Bean Sauce (1999), What’s Cooking (2000), Face (2002), Returning Lyly (2002).

Không chỉ Hollywood, vào những năm đầu tiên của thế kỷ này, Kiều Chinh đã tham gia hầu hết các bộ phim của các nhà sản xuất là người Mỹ gốc Việt, đáng kể là các phim “Rồng Xanh” (Green Dragon), Vượt Sóng, có tên tiếng Anh là Journey from the Fall của đạo diễn Hàm Trần.

Năm mươi năm góp mặt với điện ảnh, Kiều Chinh đã được nhận nhiều giải thưởng cao quý. Khởi đầu là Ðệ Nhất Diễn Viên Nam Việt Nam năm 1969, và của Ðại Hội Ðiện Ảnh Á Châu năm 1973. Năm 1996, Viện Khoa Học và Nghệ Thuật Truyền Hình Mỹ (Academy of Television Arts and Sciences) đã trao giải Emmy cho phim tài liệu “Kieu Chinh : A Journey Home” của đạo diễn Patrick Perez/KTTV. Năm 2003, tại Liên Hoan Phim Việt Nam Quốc Tế (Vietnamese International Film Festival), Kiều Chinh được trao giải thưởng Thành Tựu Suốt Ðời (Lifetime Achievement Award). Cũng trong năm 2003, tại Liên Hoan Phim Phụ Nữ (Women’s Film Festival) ở Turin, Ý, Kiều Chinh được trao giải Diễn Xuất Ðặc Biệt (Special Acting Award).

Gần đây nhất, tại mạc Ðại Hội Ðiện Ảnh Á Châu San Diego, ngày 14/10/2006, nữ tài tử Kiều Chinh lại nhận được giải sự nghiệp “Lifetime Achievement Award.”

Ngoài ra, người ta còn được biết đến tên tuổi Kiều Chinh trong nhiều vai trò khác như các công tác nhân đạo (xây trường học cho trẻ em ở Quảng Trị), là diễn giả chuyên nghiệp của nhiều trường đại học và nhiều công việc khác phục vụ cho cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn mới đây của chúng tôi, Kiều Chinh cho biết trong suốt 50 năm cống hiến cho nghệ thuật thứ bảy, những bộ phim mà bà cảm thấy tâm đắc nhất là “Người Tình Không Chân Dung” (bà vừa là diễn viên chính vừa là nhà sản xuất năm 1972). Cuốn phim sau này đã được tái bản và trình chiếu trong Liên Hoan Phim Việt Nam Quốc Tế (Vietnamese International Film Festival) tại Hoa Kỳ năm 2003. Còn phim của Hollywood bà thích nhất phim M*A*S*H (sản xuất năm 1977), trong phim này bà đóng chung với tài tử nổi tiếng Alan Alda.

Vẫn theo lời Kiều Chinh : “Giai đoạn khó khăn, buồn nản nhất trong sự nghiệp và cuộc đời là sau biến cố 30/4/1975, mình như một cái cây bị nhổ bật rễ từ mảnh đất thân quen sang một vùng đất hoàn toàn xa lạ, khóc cười trong những vai diễn bằng tiếng nước người”.

Năm mươi năm đã qua, nhưng cảm xúc của những ngày tháng vào vai cuốn phim đầu tiên “Hồi Chuông Thiên Mụ” vẫn còn nguyên vẹn. Kiều Chinh cho biết : “Nếu bây giờ trở lại thời gian của 50 năm trước, khi được lời mời đóng phim ‘Hồi Chuông Thiên Mụ’ thì chắc tôi vẫn vui vẻ nhận lời và tôi muốn nói rằng, tôi luôn biết ơn điện ảnh”.

Khôi Nguyên

BOKASSA – Chuyện bây giờ mới kể… (2/2)

CHUYỆN 2 NÀNG

“CÔNG CHÚA LỌ LEM”

BAXI & MARTINE BOKASSA

– Bút ký của : NGUYỄN VIỆT (bài 2)

Coi như đã tạm yên với chính quyền, nhưng có dư luận cho rằng tờ Trắng Đen được Mỹ nhúng tay trong việc mở rộng cuộc điều tra vụ này. Bởi mọi người không tin rằng một báo lá cải như tờ Trắng Đen lại dám làm một loạt bài “động trời” va chạm đến chính quyền và cả Bộ Ngoại Giao Pháp. Đọc giả cũng có những phân tích thời cuộc rất logic, cho rằng người Mỹ đang muốn tranh giành ảnh hưởng về ngoại giao với các nước Phi Châu mà trước đây đều thuộc địa của Pháp, nay các nước này đã độc lập nhưng truyền thống thân Pháp cho nên các chánh phủ ở đây vẫn còn đặt nặng tình cảm về chính trị, kinh tế, xã hội. Tờ Trắng Đen đưa vụ Martine Bokassa ra ánh sáng là làm giảm uy tín của Pháp, lý do người Pháp đã đưa đi một “nàng công chúa giả mạo” giao cho TT Bokassa.

Tôi là người biết rõ nguồn gốc vụ Martine Bokassa và nằm trong hệ thống chỉ đạo các phóng viên đi các hướng điều tra, đó là cả một tập thể năng động, mang tính chuyên nghiệp, không quản nguy hiểm và luôn luôn bị đe dọa nhưng vẫn xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ của một người ký giả phóng viên. Dù rằng tờ báo luôn được mọi người gọi bằng “báo lá cải”.

Vụ Martine tuy nhỏ nhưng tính cách của nó ở hậu trường chính trị lại thật lớn. Sự va chạm với Bộ NgoạiGiao đã đến giai đoạn chính thức gửi “tối hậu thư” chứ không còn bằng “khẩu lệnh”; và Bộ DVTTCH cho tờ Trắng Đen trong 3 ngày phải có xác nhận từ phía CH Trung Phi nếu không báo phải bị đóng cửa. Do Bộ DVTTCH lúc đó không thể ra quyết định đóng cửa báo, nếu báo không vi phạm tội “Phản Quốc” hay có bằng chứng là “Cộng Sản”, cùng quyền thứ tư của người làm báo, viết báo được Hiến Pháp công nhận. Nên nếu sau thời gian của “tối hậu thư” thì mới có cơ sở ra quyết định và chụp cho tờ báo một cái nón cho đội vừa vặn nào đó.

Ban biên tập cũng không còn gì hơn là mỗi ngày vài bận gọi điện thoại qua Pháp hỏi thăm tin tức, đặc phái viên tại Pháp cũng rất nhiệt tình đi lại Bộ Ngoại Giao Pháp thu lượm tin từng giờ. Tin tức được báo về là thư đã đến Sứ quán Pháp tại CH Trung Phi, và đã chuyển tới dinh của TT Bokassa.

Sự kiện đó làm mọi người đều hồi hộp, vừa mừng vừa lo, mừng vì thư đã tới tay TT Bokassa lo vì không biết TT Bokassa có công nhận Martine là con đẻ của ông hay không ?!

Trong thời gian chờ đợi, chúng tôi không thể đả kích thêm vụ Ba-Xi được đưa qua Trung Phi, toàn bộ tờ Trắng Đen chỉ khai thác những đề tài về đời tư của Martine, ký sự chuyện tình giữa bà Huệ với Bokassa, hay những cuộc phỏng vấn các Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ về loạt bài Martine Bokassa. Báo luôn luôn được in trước 24 giờ, vì tin tức lúc bấy giờ chỉ còn là thứ yếu trong tờ báo, nếu có tin chiến sự hay sự cố quan trọng nào thì chúng tôi đưa vào trang 3 được in từ sáng sớm cho kịp số lượng phát hành trong ngày.

Với số lượng được các nơi đăng ký nhận bán đã trên 200.000 số mỗi ngày gồm 12 trang, các loại quảng cáo của các Cty Quảng Cáo từ các báo đã tập trung về Trắng Đen gần hết, nhưng do số trang có hạn, đành nhận đó nhưng theo thứ tự thì cả tuần mới đến thứ tự.

NGHỀ LÀM BÁO

Ở đây tôi cũng xin nói qua, lúc đó báo chí được trợ cấp bông giấy, nếu tờ báo nào được phép xuất bản thì được trợ cấp giá mua giấy in báo dưới chính thức, báo bán chạy được mua 50.000 tờ gồm 8 trang/ ngày, báo nào bán không chạy thì từ 10 đến 20.000 tờ/8 trang ngày. Báo càng in nhiều sẽ càng lỗ, do số lượng in nhiều hơn số bông giấy được cấp vì thế phải mua giấy chênh lệch qua giá chợ đen cao hơn chính thức, mà giá bán báo được Hội Chủ Báo khống chế để giảm mức phá giá cạnh tranh hay tăng giá làm thiệt hại người đọc.

Lúc ấy Bộ Kinh Tế không định giá bán cho báo chí, mà chỉ định giá giấy nội địa của Cogido, Tân Mai hay bằng đường nhập cảng, các báo không thể tăng trang mà chỉ tăng thêm quảng cáo bớt đi bài vở để tự bù lỗ. Nhiều báo xin xuất bản, nhưng thực tế in một ngày chỉ chừng vài ba ngàn tờ cho lấy có, số bông giấy còn thừa thì đem bán cho lái giấy để lấy tiền trang trải chi phí lẫn mưu sinh. Bấy giờ có nhật báo ra đời mà tòa soạn không có quá từ 3 đến 5 người làm việc, họ không cần phóng viên, ký giả vì cứ mua các bản tin tại VTX và các tin xe cán chó (từ thành đến tỉnh) để khai thác, còn tiểu thuyết thì mua của các nhà văn thất nghiệp với nhuận bút 5.000 hay 10.000đ/tháng (nên biết vàng 24K lúc đó mới chỉ hơn 30.000đ/lượng)

Khi thời hạn của tối hậu thư gần kề, tòa soạn nhận được tin từ Pháp gọi về thông báo đã có công hàm của Bộ Ngoại Giao Pháp gửi qua Việt Nam về vụ Martine Bokassa, có thể là tin vui.

Hai chữ “có thể” vẫn không làm yên tâm ban biên tập, vì có ai ngoài người trong công quyền được rõ nội dung; nhưng đặc phái viên đã báo là tin vui cho nên cũng tở mở trong lòng và chờ đợi. Các phóng viên túc trực tại Bộ Ngoại Giao để nhận thư phúc đáp từ Trung Phi. Nhưng điều bất ngờ nhất lại là bản điện tín từ bưu điện đưa tới, toàn bộ là tiếng Pháp, cũng vào giờ tòa soạn chỉ còn mình tôi ở lại trực tin, thấy ghi nơi gửi là Bangui, tôi còn không biết từ đâu đến, vì thật sự lúc đó chưa ai biết CH Trung Phi trên bản đồ nằm ở đâu, Bangui tên tỉnh thành của quốc gia nào của Châu Phi, hay Châu Âu ?

Đến khi đọc rõ nội dung mới biết đây là điện tín của TT Bokassa gửi đến, cho biết ông nhận người mà bà Huệ đứng chụp chung chính là ông. Như thế là hoàn thành công việc điều tra, TT Bokassa đã xác nhận bà Huệ chính là vợ ông ta trước đấy gần 20 năm. Tôi gọi điện thông báo ngay cho ông chủ nhiệm biết, và ông quá mừng rỡ với tờ điện tín ấy, còn dặn tôi gọi thu quân khỏi Bộ Ngoại Giao, Tòa Đại Sứ Pháp cho về nghỉ dưỡng sức.

Từ Lam Hồng Cúc đến Thế Nguyễn, Vi Thuấn, Minh Hoàng… đã quá vất vả với Martine Bokassa gần nửa tháng qua, nay coi như hoàn thành nhiêm vụ. (Nhân đây xin nói, nữ ký giả Lam Hồng Cúc đã qua đời vào năm 1974 tại Buôn Ma Thuộc trong một chuyến săn tin).

Báo Trắng Đen như được hồi sinh, chúng tôi được chính TT Bokassa đánh bức điện tín xác nhận, dù bức điện chưa thể coi mang tính pháp lý mà “tối hậu thư” đưa ra, xét về thực tế nó đã chứng minh vụ việc bà Thân và Ba-Xi ở Xóm Gà Gia Định chỉ là “hàng giả mạo” của Bộ Ngoại Giao, còn sự phát hiện bà Huệ với Martine mới chính vợ con của TT Bokassa từ tờ Trắng Đen mới đúng hàng thật.

Việc chờ đợi công văn chính thức từ chính quyền gửi đến không còn mơ hồ gì nữa, chỉ còn thời gian đến nhanh hoặc chậm. Chúng tôi vẫn chờ Bộ Ngoại Giao, Tòa Đại Sứ Pháp hay Bộ DVTTCH một trong ba nơi chuyển đến. Còn nhiệm vụ của người làm báo vẫn tiếp tục phát pháo, do nhân chứng vật chứng đã có đủ trong tay, chúng tôi bắt đầu tấn công Bộ Ngoại Giao trong việc đưa Ba-Xi cô gái giả đi Bangui thủ đô nước CH Trung Phi, nhưng ngay sau đó bên Trung Ương Tình Báo gọi điện cho biết đừng nên khai thác vụ Ba-Xi, còn về Martine Bokassa thì không sao. Sau ngày chúng tôi có được bức điện tín của TT Bokassa, bên Bộ Ngoại Giao mới gửi văn thư chính thức thông báo, với đại ý :

– TT Bokassa hoàn toàn nhìn nhận bà Huệ chính là người vợ của ông khi còn là Trung sĩ trong quân đội Lê Dương đang tác chiến tại Việt Nam. TT Bokassa nhìn nhận Martine là con gái ruột của ông.

– TT Bokassa mong mỏi được gặp vợ và con tại Bangui trong một ngày gần nhất. Mong mỏi báo Trắng Đen cử người đưa vợ con ông đến thủ đô Bangui.

Ngoài ra trong văn thư không hề xin lỗi về việc đưa lầm Ba-Xi hay đe dọa trừng phạt tờ báo. Chúng tôi coi văn thư đó như sự công nhận của chính quyền trước vụ Martine Bokassa. Cho nên tiếp tục khai thác đề tài về Martine Bokassa sẽ đi Bangui nhìn cha ruột.

Có những lúc bí đề tài lại làm thêm loạt bài với một dấu hỏi khác :

– Có đúng bà Huệ là vợ của TT Bokassa, và Martine thuộc dòng máu của ông hay không ?

Với đề tài ấy tờ báo lại sôi động lên tiếp tục bán chạy. Dù biết rằng Martine chính là con ruột của TT Bokassa, nhưng tờ Trắng Đen thường được mọi người ví von là báo lá cải rồi, nên làm thêm “sì-căn-đan” là lẽ tự nhiên để bán báo. Bởi “phi thương bất phú” đó là châm ngôn bất di bất dịch của người làm kinh doanh chuyên nghiệp, không bỏ lỡ thời cơ khi cơ hội đang sẵn có trong tay.

Tuy nhiên nội dung bài báo chỉ lập luận, trong một xã hội đang bị lệ̣ thuộc dưới tay thực dân Pháp, bà Huệ còn là một cô gái xinh đẹp ở vùng Tân Thuận Nhà Bè, phải chăng bà chỉ chung thủy với một người lính Pháp tức ông Bokassa hay còn nhiều người nữa, để rồi sau đó xác nhận giọt máu rơi của mình là con của Trung sĩ Bokassa ? ! Ban biên tập tuy lập luận như thế nhưng bài viết lại luôn ca tụng bà Huệ một mực sống thủy chung với ông Bokassa theo truyền thống của người Á Đông về mặt “tam tòng tứ đức”, chỉ mãi đến sau này bà chờ đợi ông Bokassa qua Việt Nam bảo lãnh vợ con theo chồng về nước nhưng vẫn bặt vô âm tín, bà mới tái giá về ở với người chồng sau ở tận Thủ Đức.

Để thêm chắc chắn, chúng tôi còn lấy mẫu máu của Martine đi xét nghiệm phân chất trước, để phòng khi đến Bangui nếu thật sự cần thiết sẽ đem ra đối chứng giữa máu của hai cha con.

Còn về chiến lược của tờ báo làm cho đọc giả phải luôn theo dõi loạt bài, chúng tôi cố gắng đi tìm tài liệu về nước CH Trung Phi khắp nhà sách, thư viện cũng như nhờ Bộ Ngoại Giao, Tòa Đại Sứ Pháp cung cấp. Thật tình mà nói lúc bấy giờ nước CH Trung Phi quá nhỏ bé, các bản đồ in trong nước đều không ghi nhận vì mới được Pháp trao trả độc lập năm 1960, cũng như nước CH Trung Phi không có mặt nào nổi bật với thế giới. Việc tìm tài liệu về đất nước này thật sự hết sức khó khăn; bên Bộ Ngoại Giao hay Tòa Đại Sứ phải điện qua Pháp xin cung cấp các tài liệu cần thiết.

Tôi lại chợt nghĩ đến việc tìm tài liệu qua các hãng hàng không, vì các hãng máy bay nối liền từ Sài Gòn đi đến khắp nơi trên thế giới sẽ có những tập sách, hay tờ bướm quảng cáo về các đường bay. Quả thật như dự đoán, hãng máy bay Air France có những từ bướm (brochure) quảng cáo các đường bay, nếu từ sân bay Tân Sơn Nhất đi Bangui, chuyến bay sẽ đi vòng qua Calcutta (Ấn Độ) rồi đổi chuyến bay tới Nairobi (Kenya), từ đó chuyển phi cơ đến Bangui. Lý do sân bay Bangui không có đường băng dành cho phản lực cơ. Còn về địa lý, văn hóa, thương mại, xã hội nước CH Trung Phi không có một chút thông tin nào.

Nhưng với nghề làm báo luôn như một thám tử phải biết suy luận, nhận xét và phân tích, nên chuyện khó cũng trở nên dễ dàng. Trong khi chờ đợi các tài liệu từ Bộ Ngoại Giao cung cấp, chúng tôi đã có những loạt bài giới thiệu về đất nước của TT Bokassa, dĩ nhiên chỉ những bài và sơ đồ vẽ đường bay sẽ đi qua, những dữ liệu về tài nguyên của Phi Châu như kim cương, hột xoàn v.v… do tâm lý đọc giả chỉ cần được báo chí cung cấp và gợi lên những hình ảnh mà họ đang chú ý là có thể “ăn khách” có đông người đọc, dù nội dung rổng tuếch !

BÀN GIAO CÔNG CHÚA THẬT

Cuối cùng mọi người cũng đặt chân lên đất nước CH Trung Phi, sau nhiều lần thay đổi chuyến bay nếu mua vé đi thẳng từ Sài Gòn đến Bangui đúng như lịch trình dự kiến đã nói, nhưng đoàn người của báo Trắng Đen gồm ông bà chủ nhiệm, mẹ con bà Huệ, cùng đại diện cao cấp của chính quyền đến nước CH Trung Phi theo đường ngoại giao. Vì thế đường bay phải ghé qua Paris, đón tùy viên văn hóa sứ quán cùng tháp tùng, vị này trước thay mặt chính quyền bàn giao Martine, sau làm thông dịch viên.

Từ Paris đoàn người được đưa đến Brazzaville thủ đô nước Congo, sau đó đi máy bay cánh quạt đến Bangui.

Nước CH Trung Phi (Central AfricanRepublic) rộng 662.984 km2, nhưng dân số chỉ hơn một triệu dân, còn ở thủ đô Bangui có khoảng 100.000 dân (số liệu 1995 : CH Trung Phi có khoảng 2,5 triệu dân, Bangui có hơn 300.000 dân). Phía Bắc giáp Chad và Sudan, phía Nam giáp Zaire và Congo, phía Tây giáp Cameroon, phía Đông giáp miền nam Sudan. TT Bokassa lập Hiến pháp với chức vụ “Tổng thống muôn năm”, khi nào vị Tổng thống chết đi Quốc Hội mới bầu người mới lên lãnh đạo đất nước. Còn chính phủ hầu như thay đổi nhân sự hàng ngày ! Tùy theo sự vui buồn từ TT Bokassa.

Tôi được nghe kể lại, khi đoàn tới dinh TT Bokassa, một toán lính ra dàn chào không đúng nghi thức đã bị TT Bokassa ra lệnh thay ngay Bộ trưởng Bộ Lễ Tân. Khi đoàn đi tham quan tới đâu cũng được giới thiệu đó là tài sản của TT Bokassa ?! Còn về quân đội, ông nắm hết các quyền hành và chỉ định thân nhân vào các chức vụ chỉ huy trưởng.

Với chính sách cai trị như thế không khác gì thời phong kiến vua chúa, TT Bokassa quả là một Tổng thống độc tài gia đình trị. Nuớc CH Trung Phi không có khoáng sản quý như Nam Phi, tức kim cương đá quý, mà chỉ chủ yếu trồng cây cà phê, chuối, tiêu xuất khẩu.

Trở lại vụ giao con cho TT Bokassa, ông rất hoan hỉ đón nhận đứa con ruột thịt của mình, còn Ba-Xi ông tuyên bố nhận làm con nuôi mà không trao trả lại cho chính quyền Sài Gòn. TT Bokassa cũng mời bà Huệ ở lại với ông và con, nhưng bà Huệ từ chối vì đã có chồng con riêng ở Sài Gòn. Mọi việc diễn ra tốt đẹp khi phái đoàn giao xong Martine cho TT Bokassa rồi chia tay với đất nước Trung Phi.

Theo tôi được biết, bà Huệ hàng tháng đều ra Ngân Hàng Pháp Á tại Sài Gòn lãnh tiền trợ cấp là 200.000đ của TT Bokassa gửi (số tiền này nếu quy ra vàng vào thời gian năm 1973, cũng khoảng hơn 5 lượng/tháng).

Sau năm 1975 các báo tại Sài Gòn thường loan tin đảo chính tại nước CH Trung Phi đã lật đổ “Hoàng đế” Bokassa (lúc này Bokassa bỏ chức vị Tổng thống muôn năm mà tự xưng Hoàng Đế), sau đó Bokassa bị kết án tử hình. Người làm đảo chánh Bokassa chẳng ai khác hơn là con rể của ông – người lấy Ba-Xi làm vợ – bở́i chỉ có những thân nhân tin cẩn, Bokassa mới dám giao phó binh quyền vào tay. Còn chồng Martine sau khi Bokassa bị lật đổ đã bị chính phủ Trung Phi cho giải ngũ. Đó là câu chuyện về hai “cô bé lọ lem” thời hiện đại, mà tôi góp một phần trong phá án, nhằm kể lại câu chuyện của hơn 35 năm trước đây, với một thời gian dài sôi nổi trên mặt báo Trắng Đen và với người dân miền Nam nói chung và người Sài Gòn lúc bấy giờ.

SƠ LƯỢC VỀ TT BOKASSA

VÀ NƯỚC CH TRUNG PHI

Nước CH Trung Phi được Pháp trao trả độc lập vào ngày 13/8/1960, với diện tích 662.984 km2, thủ đô là Bangui. Toàn bộ dân số nước CH Trung Phi vào khoảng 3 triệu người (tài liệu năm 2000).

Tài nguyên thiên nhiên gồm các mỏ quặng chưa khai thác do chưa đủ tuổi (gồm quặng kim cương, coban, sắt…). Cho nên nền kinh tế chủ yếu trông chờ vào các vụ thu hoạch chuối và cà phê.

– Từ năm 1960, từ người Pháp bàn giao cho nhà chính trị tên D. Đacô đứng lên lãnh đạo nước CH Trung Phi, nước này soạn Hiến pháp theo chế độ Cộng Hòa, đứng đầu nhà nước với chức danh Tổng thống .

– Năm 1966, trung tá Jean Bedel Bokassa cầm đầu một binh đoàn lật đổ TT D. Đacô, rồi Bokassa tự phong Đại tá, tiếp đến là Đại tướng chỉ trong vòng mấy ngày đầu nắm chính quyền. Khi toàn bộ nước CH Trung Phi đã nằm trong tay tướng Bokassa, ông lại tự phong làm chủ tịch Hội Đồng Cách Mạng, Tổng Tư lệnh Quân Đội, xóa bỏ Hiến pháp để quân đội hoàn toàn nắm quyền hành cai trị đất nước. Coi như toàn bộ quyền bính đều nằm trong tay Bokassa.

Jean Bedel Bokassa đi lính cho Pháp từ năm 18 tuổi, đất nước Trung Phi lúc đó còn nằm trong thuộc địa của Pháp. Trong thời gian này đang xảy ra Chiến tranh Thế giới lần thứ II. Bokassa theo đội quân Lê Dương có mặt tại nhiều nước như Ma-rốc, Algierie rồi vào năm 1953 có mặt ở Việt Nam. Tại Việt Nam, Bokassa mang lon Trung sĩ nhất đóng quân tại Chánh Hưng Sài Gòn (Quận 8 bây giờ) – vùng đất của quân đội Bình Xuyên – Năm Lửa.

Sau khi quân Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ, ký kết Hiệp định đình chiến ngày 20/7/1954, cam kết rút hết quân đội về Pháp. J.B. Bokassa lúc này đã lên cấp Thượng sĩ nhất cũng phải lên tàu trở về chính quốc. Trong thời gian đóng quân ở Chánh Hưng, Bokassa quen được bà Nguyễn Thị Huệ, chung sống như vợ chồng tại Tân Thuận Đông, Nhà Bè. Khi ông về nước thì bà Huệ đang mang thai Martine.

– Năm 1968, dưới áp lực quốc tế, Bokassa tổ chức bầu cử Tổng thống, ông trở thành vị Tổng thống thứ hai của nuớc CH Trung Phi.

– Năm 1972, TT Bokassa sửa đổi lại Hiến Pháp cho quyền được làm “Tổng thống muôn năm”. Cũng trong thời gian 1972, TT Bokassa nhờ Bộ Ngoại Giao Pháp tìm kiếm dùm ông đứa con rơi đang thất lạc tại Sài Gòn vào những năm 1954 – 1955. Sự kiện TT Bokassa tìm con như thế nào, các bạn đọc đã rõ.

– Cuối năm 1976, TT Bokassa không muốn làm Tổng Thống muôn năm, đã tuyên bố giải tán chế độ Cộng Hòa để lậ̣p nên Vương quốc Trung Phi, lấy chế độ Quân chủ lập hiến cai trị. J.B Bokassa tự xưng mình là Hoàng đế Bokassa đệ nhất.

– Năm 1979, Hoàng đế Bokassa Đệ nhất bị chính con rể hạ bệ (tức phò mã Đại úy chồng của Ba-Xi), ông ta phải bôn tẩu ra nước ngoài lánh nạn.

7 năm sau, Bokassa trở về CH Trung Phi, khi chồng của Ba-Xi cũng đã bị phe quân đội đối lập đảo chánh nắm quyền. Nhưng người dân ở đất nước Trung Phi quá chán ghét cảnh độc tài của Bokassa thời ông còn nắm quyền lực, nên giới cầm quyền lúc đó đã bắt giam Bokassa và chờ ngày ra tòa xét xử các tội trạng do ông gây ra khi còn nắm quyền cai trị đất nước.

– Năm 1995 J.B. Bokassa lãnh án tử hình và chưa kịp thụ án thì năm 1996, Bokassa qua đời ngay trong nhà giam. Khi chết, Bokassa để lại 8 người vợ và 54 người con.

– Martine Bokassa cũng lấy chồng một sĩ quan trong quân đội CH Trung Phi, khi chồng Ba-Xi cùng nhóm quân đội lật đổ Hoàng đế Bokassa Đệ nhất, Martine cùng chồng qua Pháp sống lưu vong đến ngày nay.

THÊM NHỮNG TIN TỨC MỚI VỀ BAXI & MARTINE BOKASSA

– Martine Bokasa hiện đang ở Paris với tên Martine Kota, có 2 người con với Bác sĩ Jean – Bruno Deveavode. Người con trai đầu tiên của 2 người tên Jean -Barthe’le’my Bokassa (thuờng gọi JB). Martine giả tức Ba Xi có một người con với sĩ quan tên Fidel Obrou.

– Năm 1980 Fidel Obrou bị giết sau một cuộc đảo chính mới, số phận trớ trêu, đồng thời lúc đó Ba Xi sinh một đứa con trai ở Bangui. Bác sĩ JB lại là người giết đứa con trai mới sinh của Ba Xi bằng cách chích thuốc theo lệnh của nhóm đảo chánh. Sau một năm Fidel Obrou chết, Ba Xi cũng biến mất trên đường đến phi trường định trở về Viet Nam, bị hai cận vệ của TT Bokassa bóp cổ đến chết và vất xác dọc theo đường.

– Trong cuộc xử TT Bokassa 1987, TT Bokassa chối tội ông không ra lệnh giết đứa con gái nuôi và đứa cháu trai vừa mới sinh. Sau đảo chính lật đỗ TT Bokassa năm 1979, Martine Kota cùng JB, hai em trai và em gái thoát được sang Pháp.

– Trong khi ở Pháp, Kota và các con cùng mẹ là bà Nguyễn Thị Huệ sống cuộc sống hết sức khác nhau. Kota hiện nay làm chủ hai nhà ăn Viet Nam ở Pháp, một tiệm ở trên đảo Corsica. Phần JB thì rất gần với cuộc sống Viet Nam, JB nói được tiếng Việt và Pháp với mẹ Kota, và không bao giờ nói tiếng Trung Phi là tiếng Sango. Tên của em gái JB là Princess Marie – Jeanne Bokassa rất hơi lai người Việt. Ở Pháp họ sống trong lâu đài Hardricourt và JB có viết một cuốn sách về cha mình “Saga Bokassa un temoigage poignant un eclairage inedit”.

(tin này do NGUOI QUAN MOT cung cấp)

NGUYỄN VIỆT

BOKASSA – Chuyện bây giờ mới kể… (1/2)

CHUYỆN 2 NÀNG

“CÔNG CHÚA LỌ LEM”

BAXI & MARTINE BOKASSA

– Bút ký của : NGUYỄN VIỆT (bài 1)

Đây là câu chuyện được kể lại về 2 nàng “công chúa lọ lem” mang tên Ba-xi và Martine Bokassa, xảy ra vào năm 1972 tại miền Nam thời Đệ Nhị Cộng Hòa bấy giờ.

Câu chuyện lúc đó không chỉ đơn thuần mang tính chất xã hội, một người chồng một người cha thất lạc vợ con sau một khoảng thời gian dài, vì vào năm đó ông đang là Tổng Thống của một quốc gia thuộc châu Phi. Có lẽ khi nhớ lại những năm tháng, những ngày ông đi theo đoàn lính Lê Dương Pháp đến ba nước Đông Dương bảo hộ theo chế độ thuộc địa, bỗng nhiên nhớ lại, ông còn có một đứa con rơi, và bắt đầu đi tìm tung tích người thân.

Ông là Jean Bedel Bokassa, Tổng thống của nước Cộng Hòa Trung Phi từ năm 1966 đến 1979.

Đây là bút ký được viết vào đầu Thiên niên kỷ thứ III, tức vào năm 2000, nhằm cống hiến đến bạn đọc chuyện 2 nàng con lai da đen đã trở thành công chúa đất Phi Châu. Mà một thời Sài Gòn đầy sôi động.

PHÁT HIỆN “CÔNG CHÚA GIẢ”

Tôi còn nhớ vào một buổi trưa khi đang ngồi trực điện thoại chờ tin “tự ý đục bỏ” từ Bộ DVTTCH gọi đến, tức khoảng 11g30 đến 12g30. Có một người đàn ông dáng tốt tướng, khoảng chừng tuổi hơn năm mươi, đến gặp tôi rồi hớt hơ hớt hải lên tiếng hỏi :

– Chú có thể cho tôi gặp ông chủ nhiệm hay chủ bút báo được không ?

Tôi từ tốn trả lời người đàn ông mới đến :

– Dạ thưa, giờ này ông chủ nhiệm đã về nghỉ trưa, nếu bác có việc cần thì tôi có thể tiếp, như bác muốn đăng khiếu nại hay một chuyên mục gì trên báo, xin bác cứ cho tôi biết, vì tôi hiện là ký giả thường trực của báo trong giờ này.

Người đàn ông nọ như đã tin cậy vào câu trả lời của tôi, bắt đầu đi vào câu chuyện :

– Chắc chú biết vụ cô Ba-Xi ở xóm Gà được đưa qua nước Cộng Hòa Trung Phi làm con gái của Tổng Thống Bokassa ?

Nghe ra chuyện của Ba Xi mà báo chí vừa đăng tốn không biết bao nhiêu giấy mực, tôi liền đáp ngay :

– Dạ, tin tức này các báo đều đăng, Bộ Ngoại Giao đã tìm được đứa con gái cho Tổng thống Bokassa, và cha con họ vừa đoàn tụ sau mười mấy năm cách biệt.

Tôi vừa nói đến đây, ông ta bỗng trợn trừng đôi mắt lên tranh cãi :

– Không phải con nhỏ Ba-Xi là con của Tổng Thống Bokassa đâu chú ơi !!!

Lúc bấy giờ tôi mới thật ngạc nhiên, chăm chú nhìn người khách không quản giờ nghỉ trưa tìm đến tòa soạn rồi đưa ra lời đính chính ấy. Tôi phải lên tiếng hỏi :

– Ủa sao bác nói vậy, chính Tổng Thống Bokassa đã nhìn nhận và cô Ba-Xi đã đến Trung Phi, hai người cũng đã giáp mặt nhận nhau là cha con ruột thịt rồi ?!

Bấy giờ ông ta mới mở một túi ny-lông, trong đó gói một số giấy tờ và hình ảnh đưa tôi xem, đoạn nói :

– Chú xem, đây là hình của chị tôi tên Nguyễn Thị Huệ và Tổng thống Bokassa khi còn ăn ở với nhau tận bên Tân Thuận Đông; còn đây là hình cháu gái tôi tên Martine, họ mới đúng là vợ con của Tổng thống Bokassa, còn bà Thân và cô Ba-Xi kia thuộc đồ “giả mạo”.

Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc khác, khi có người nói Ba-Xi đưa qua Trung Phi là “đồ giả mạo”, một khi Bộ Ngoại Giao đã công bố và gửi công hàm qua đường ngoại giao đến nước CH Trung Phi báo tin, họ đã tìm hiểu đích xác sau khi các cơ quan hữu quan đã điều tra đến tận gốc rể; mới dám công bố chính thức cho các báo và trao công hàm đến nước CH Trung Phi xác nhận Ba-Xi là dòng máu của TT Bokassa. Chính quyền có người có phương tiện, không lẽ đưa một cô gái lai có nước da đen rồi trắng trợn cho thừa nhận là con gái của một vị Tổng Thống ?! Dù là Tổng thống ở một nước châu Phi xa xôi vạn dặm ?

Lúc đó tôi xem qua tấm hình chụp bà Huệ với một người lính Lê Dương da đen, tôi không thể nói người lính này chính là Tổng thống Bokassa, vì tài liệu từ Bộ Ngoại Giao chuyển cho các báo đăng tải về việc giao con cho TT Bokassa không có hình của ông. Còn tấm hình mà người đàn ông gọi là Martine, chụp theo kiểu chân dung, có mái tóc đen xoắn và cũng có nước da đen, đúng là một cô gái lai da màu chính gốc.

Ngoài hai tấm hình còn thêm một tờ giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị Martine, tên mẹ Nguyễn Thị Huệ, tên cha vô danh. Cô gái này sinh ra tại Rừng Sát (ghi chú : sinh vào thời gian 1955 hay 1956 gì đó, người viết không còn tư liệu để nói chính xác ngày tháng năm).

Tôi mới hỏi lại người đàn ông nọ :

– Bác là em của bà Huệ ?

– Dạ đúng (ông ta có xưng tên nhưng đến nay tôi cũng không còn nhớ rõ tên, nên tạm gọi là ông Sáu).

– Sao bà Huệ không đi khiếu nại mà nhờ đến bác ?

– Chị tôi bận ở chỗ làm, bả cũng không biết đi khiếu nại có ai chịu tin không, vì chị tôi nghĩ là có liên quan đến chức Tổng Thống nên sợ người ta hiểu lầm. Bả nói, cậu có tức thì đi khiếu nại còn tui không đi đâu. Tôi tức lắm chú ơi, ai đời cháu mình mới đúng là con của Tổng thống Bokassa, mà người ta lại đưa cô gái nào đó cho đó là con của Bokassa để đưa đi.

Tôi mới nói tiếp :

– Nhìn qua tài liệu bác đưa, và những lời bác vừa kể thấy cũng có nhiều chi tiết đáng được chú ý, nhưng câu chuyện này không đơn thuần, vì rằng chính phủ đã xác nhận cô Ba-Xi ở xóm Gà là con Tổng thống Bokassa và đã giao con gái cho ông ta rồi. Nếu chúng tôi không điều tra kỹ thì nội vụ sẽ dẫn đến việc đóng cửa tờ báo, bởi chuyện này đụng chạm về ngoại giao giữa các nước đó !

Sau đó tôi lại hỏi tiếp ông Sáu :

– Sao bác tìm đến báo Trắng Đen đưa những tài liệu này ?

Ông Sáu liền phân trần :

– Sự thật thì tôi là đọc giả báo Tin Sáng, nhưng tờ này thuộc báo đối lập chính quyền. Hồi nãy tôi có qua đó đưa cho họ xem, nhưng họ cũng nói như chú, đăng vụ này sẽ đụng chạm tới chính quyền. Vã lại tờ Tin Sáng chuyên về chính trị còn về xã hội họ không chuyên nghiệp, nên giới thiệu tôi qua đây, họ nói tờ Trắng Đen hay khai thác các vụ án như thế này, có thể giúp chị tôi trong vụ Ba-Xi giả đó.

Tôi thấy ông Sáu nói rất thật thà về chuyện chị và cháu ông, và qua nghề nghiệp phân tích thì thấy câu chuyện Martine này mang xác suất có đến hơn 50% sự thật, cùng với nét mặt của người kể, ông Sáu không có dấu hiệu tỏ ra gian xảo, lừa đảo, ông đã trả lời thật rành rẽ từng thắc mắc, tính tình ông bộc trực không giấu giếm điều gì, khi nói không cần uốn lưỡi bảy lần (theo kiểu gian dối cần suy nghĩ trước khi nói), quả là những câu nói rất ngay tình.

Tôi mới nói với ông Sáu :

– Muốn tờ Trắng Đen làm sáng tỏ vụ cháu gái Martine của bác, nhưng không biết gia đình bác có chịu những điều kiện do chúng tôi đưa ra không ?

– Chú cứ nói.

– Điều kiện ở đây, một là tờ Trắng Đen phải giữ độc quyền mọi tin tức, tức cô Martine phải đến ở một nơi mà các báo khác không thể đến săn tin hay chụp hình được. Hai là gia đình bác chỉ cung cấp tin tức cho tờ Trắng Đen thôi. Nếu có các báo khác tới gia đình hỏi thăm tin tức phải nhất quyết không trả lời. Nếu bác chịu thì chúng tôi sẽ bắt đầu mở rộng việc điều tra, đi tìm chứng cớ tài liệu vụ việc như bác vừa kể.

Nghe tôi nói xong, ông Sáu đã sốt sắng trả lời ngay :

– Chuyện này chị tôi đã uỷ quyền, tôi xin hứa những điều kiện này.

– Vậy bà Huệ và cô Martine hiện giờ ở đâu ?

– Gia đình chúng tôi đều ở khu ngã tư gần chợ nhỏ Thủ Đức, còn con Martine đang làm phu khuân vác xi-măng ở nhà máy xi-măng Hà Tiên trên xa lộ.

– Vậy bác Sáu chờ tôi một chút, tôi sẽ báo cho ông chủ nhiệm biết tin này và sẽ cùng đi với bác về nhà.

Sau khi dặn dò ông Sáu xong, tôi liền gọi cho ông chủ nhiệm Trắng Đen. Và ông chủ nhiệm sau khi nghe qua các tình tiết mà tôi nắm được kể lại, liền tức tốc lái xe ra ngay tòa soạn gặp ông Sáu, ngồi nghe kể cũng như xem qua các hình ảnh tài liệu như đã nói. Bấy giờ ông chủ nhiệm mới cho biết, sẽ chở ông Sáu xuống Thủ Đức để gặp bà Huệ và cô Martine, rồi đưa luôn Martine về nơi ở riêng.

Còn tôi ở lại có nhiệm vụ gọi các vị trong Ban biên tập đến họp đột xuất ngay buổi chiều hôm đó.

CHIẾN DỊCH SĂN TÌM “CÔNG CHÚA THẬT”

Đó là sự khởi đầu việc đưa Martine Bokassa trở thành con gái chính thức của Tổng Thống nước Cộng Hòa Trung Phi.

Cũng cần nhắc lại, trước khi gia đình bà Nguyễn Thị Huệ mẹ ruột của Martine đến tòa báo Trắng Đen khiếu nại việc chính quyền đưa cô gái giả tên Ba-Xi đi Pháp, từ đó mới đưa qua Trung Phi. Các báo đều không biết có nguồn tin TT Bokassa gửi công hàm cho chính phủ Pháp và nhờ Tòa Đại Sứ Pháp ở VNCH cũng như chính quyền tìm giúp một đứa con. TT Bokassa cũng không rõ là trai hay gái, vi khi ông ta cùng quân đội viễn chinh Pháp thua trận Điện Biên Phủ phải rút quân về nước theo Hiệp định Gèneve 1954, đứa con của ông chưa ra đời – sau này chúng tôi chỉ biết công hàm trên chỉ ghi rất vắn tắt từ Bộ Ngoại Giao Pháp, không nói rõ thân thế của người vợ hay một địa danh nào TT Bokassa đã ở trước khi về nước.

Cho nên không biết từ đâu chính quyền Sài Gòn bấy giờ tìm thấy Ba-Xi con bà Thân ở xóm Gà (lúc đó còn thuộc tỉnh Gia Định), trạc độ tuổi 17 – 18. Các hồ sơ của Ba-Xi nhanh chóng được xác nhận gửi qua Pháp, và từ Bangui thủ đô nước CH Trung Phi, TT Bokassa hoan hỉ xác nhận Ba-Xi chính là đứa con rơi bị thất lạc của ông.

Bộ Ngoại Giao lúc đó được nước CH Trung Phi cám ơn, vì đã nhanh chóng trong việc giúp TT Bokassa tìm được con gái. Các báo loan tin này theo tài liệu của Bộ Ngoại Giao cung cấp và qua phương tiện của các hãng tin như VTX, Reuteur, AFP, AP…

Các báo đối lập chỉ đăng một mẫu nho nhỏ cho có tin tức, còn những báo như Trắng Đen, Tia Sáng, Thách Đố… chuyên khai thác các scandal, chuyện giật gân thì đăng tít từ 4 đến 5 cột báo, kèm theo hình ảnh bà Thân và cô “công chúa Ba-Xi”. Dân chúng cho rằng TT Bokassa thật là một người cha có trách nhiệm, tuy làm đến chức vị cao nhất nước nhưng vẫn không quên đứa con rơi của mình trên chiến trường Đông Dương lúc Pháp còn coi Việt Nam như một thuộc địa. (Dù rằng năm 1945 Việt Nam đã tuyên bố Độc Lập, nhưng sau đó người Pháp trở lại đánh chiếm, đưa Bảo Đại về làm Quốc Trưởng, rồi Việt Minh có cuộc kháng chiến 9 năm từ 1945-1954, lính Pháp mới chính thức ra khỏi đất nước từ ngày 20/7/1954, qua Hiệp Định chấm dứt chiến tranh Việt Nam tại Gèneve (Thụy Sĩ). Lúc đó Pháp chấp nhận đã thua tại mặt trận Điện Biên Phủ. Cũng từ năm 1954, nước Việt Nam tạm thời chia đôi, miền Bắc từ sông Bến Hải trở lên ải Nam Quan do Việt Minh cai quản sau đổi chính thể thành nước VNDCCH, còn miền Nam từ sông Bến Hải xuống đến mũi Cà Mau giao lại cho Quốc Trưởng Bảo Đại và Ngô Đình Diệm làm thủ tướng chính phủ nưóc VNCH).

Dân chúng cũng cho rằng Ba-Xi thật có phước, sau mười mấy năm đã không biết cha mình còn sống hay đã chết, từ cô bé lọ lem trở thành nàng công chúa của đất nước Trung Phi giàu có. Nhưng nhìn lên bản đồ thế giới lúc bấy giờ, không ai biết nước CH Trung Phi nằm ở đâu, mọi người suy đoán đây là một nước nằm gần Nam Phi cho nên xứ sở này có kim cương và đá quý.

Chiều hôm đó Ban biên tập chúng tôi gồm có chủ nhiệm, ông Vị Thủy tổng thư ký, ông Tam Mộc (nguyên chủ nhiệm báo Buổi Sáng) cố vấn về các vấn đề quan yếu, luật sư riêng của báo và thư ký tòa soạn là anh Thái Châu (tức nhà văn nhà thơ Phan Yến Linh) và tôi.

Mọi người mới mổ xẻ việc phát hiện Ba-xi là cô gái lai không phải là con ruột của TT Bokassa, mà chính là Martine con của bà Nguyễn Thị Huệ. Vì qua các hình ảnh và giấy tờ, cô gái mang tên Martine này có khả năng chính là con ruột của TT Bokassa.

Ông Tam Mộc liền phân tích vụ việc :

– Xét về mặt xã hội, việc một vị Tổng Thống ở một đất nước Phi Châu mới được Pháp trao trả độc lập, gửi thư qua nhờ tìm con; nói về mặt đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, chính quyền đã mau chóng truy tìm ra gốc tích đứa con rơi của Tổng thống Bokassa là điểm đáng khen ngợi. Nhưng nay cô gái đưa qua Trung Phi lại không phải con ruột của ông ta theo như gia đình bà Huệ cho biết. Vậy chúng ta phải coi lại, lý do gì mà chính quyền không chịu điều tra thân thế của Ba-Xi cho thật rõ ràng mà mau chóng xác nhận như vậy. Tuy nhiên chính TT Bokassa cũng đã công nhận Ba-Xi là con gái ông ta. Điều đó hoàn toàn đúng theo thực tế, và nếu không có cô Martine này xuất hiện thì mọi việc sẽ không có gì đáng để đề cập đến.

Có người lên tiếng :

– Nếu cô Martine này đúng là con ruột của TT Bokassa thì sao ?

– Và nếu chúng ta đưa ra khai thác vụ việc này sẽ đụng chạm đến chính quyền và cả người Pháp, vì chính phủ Pháp đứng ra làm trung gian giữa hai nước CH Trung Phi và VNCH trong việc đi tìm con và nếu tìm được con cho TT Bokassa thì nước CH Trung Phi sẽ cám ơn nước Pháp. Xét về mặt thời sự, sở dĩ chính quyền làm gấp rút vụ Ba-Xi cũng có lý do, vì Pháp vừa đặt cấp lãnh sự tại Hà Nội, chính vì vậy nếu chính quyền không dành những cảm tình ngay với người Pháp, thì về mặt ngoại giao giữa Pháp với Hà Nội sẽ khắng khít hơn, còn chúng ta qua những khoản viện trợ sẽ gặp nhiều khó khăn.

Sau những phân tích đi sâu vào sự việc đưa Ba-Xi đi Bangui ngay là rất đúng, vậy chúng ta có nên khai thác vụ Martine hay không ?!

Ông chủ nhiệm và ông Vị Thủy tổng thư ký đều cho rằng :

– Chúng ta mang nghiệp làm báo, dù vụ Martine có đụng chạm lớn có thể dẫn tới việc bị đóng cửa báo, bị truy tố về tội phá rối an ninh trật tự xã hội, nhưng chúng ta phải can đảm khai thác. Tuy nhiên trong nghề nghiệp, chúng ta phải khéo léo khai thác tin tức nội vụ bằng những bài báo thăm dò trước, không thể đánh thẳng vào vụ Ba-Xi, đến khi điều tra đã đúng tới 80 – 90% thì mới phát pháo nhanh cho kịp thời.

Lúc đó ông chủ nhiệm tuyên bố, mọi phóng viên phải tập trung đi mọi hướng theo tài liệu để điều tra. Dàn phóng viên chủ lực lúc bấy giờ phải kể đến Phương Thảo, Lam Hồng Cúc, Vi Thuấn, Minh Hoàng, Trường Nam, Thế Nguyễn, Anh Thu, Việt Thu, Đoan Khánh, Phan Trần Mai, Lan Anh, Du Miên, Hữu Hào, Du Linh, Đức Dũng v.v…

Anh tổng thư ký tòa soạn mới phân công :

– Lam Hồng Cúc, Đoan Khánh là nữ thì đi gặp Martine khai thác về đời tư cô gái. Thế Nguyễn biết chụp ảnh chạy qua Tân Thuận Đông, Tân Quy Đông và Thủ Đức chụp nơi ở của bà Huệ và nơi Bokassa trước khi về nước đã từng sống chung với bà Huệ. Vi Thuấn, Minh Hoàng khai thác tin tức từ trong dân chúng sau khi bài báo ra mắt, xem thái độ người dân ra sao nếu quả thật Ba-Xi là giả, chú ý nhất người dân ở khu Xóm Gà Cây Quéo. Còn về đối ngoại sớm liên hệ với một số ký giả các hãng thông tấn thế giới (thường có mặt tại Câu Lạc Bộ Báo Chí góc đường Tự Do – Lê Lợi vào buổi chiều, nghe Bộ DVTTCH họp báo phổ biến tin tức trong ngày).

Sự bố trí ngay buổi đầu rất chặt chẽ, và mọi người đều được căn dặn không nói đến chỗ ở của Martine, vì sau vụ đưa tin sẽ không tránh được các báo khác đổ dồn khai thác, mật vụ cũng sẽ theo dõi từng diễn tiến các tin tức đăng tải trên báo. Ngay hôm sau báo Trắng Đen đưa lên trang nhất hàng tít chạy dài 8 cột với nội dung :

“Ba-Xi không phải con gái của TT Bokassa ?!”

“Một bà mẹ chứng minh con gái mình mới là con ruột của Tổng thống Bokassa nước CH Trung Phi ?!”

Những dấu hỏi chấm than như thế chỉ thuộc phạm trù hiện còn nghi vấn chưa rõ ràng, nên báo đăng tải không sợ Bộ DVTTCH kêu đục bỏ, dù vậy các bài viết cũng không hề trắng trợn phủ nhận việc Ba-Xi không phải là con gái của TT Bokassa. Và vì quá gấp chúng tôi mới chỉ có 2 tấm ảnh mà ông Sáu đưa làm tài liệu, chúng tôi cho in hết. Bởi trong nghề làm báo, chúng tôi hiểu chỉ trong vòng 24 giờ sau thì tài liệu và hình ảnh sẽ thật dồi dào.

GÂY CHẤN ĐỘNG KHẮP THẾ GIỚI !

Quả nhiên vụ Ba-Xi – Martine Bokassa là trái bom đã nổ trên mặt báo, ngay hôm phát hành số đầu tiên về vụ này, giới bán báo cổ động không ngừng đòi tăng thêm số lượng. Số in tăng trên 80.000 bản, tòa soạn phải huy động thêm máy để in cho đủ số giao cho các nhà phát hành, nhưng các nơi vẫn tới tấp gọi điện thoại xin thêm báo dù trễ đến 5 hay 6 giờ chiều (báo lúc đó phát hành vào lúc 1 giờ trưa đến hơn 2 giờ chiều là đã xong).

Trong ngày đầu tiên từ ban biên tập, trị sự đến anh em công nhân nhà in thật vất vã, và liên tiếp những ngày sau khi đưa vụ Martine Bokassa lên báo. Cái hậu của câu chuyện chưa biết sẽ ngã ngũ ra sao, nhưng trước mắt là báo bán chạy như tôm tươi, các báo khác lại ế ẩm, vì rằng giới bán báo lẻ chỉ giới thiệu vụ Ba-Xi và Martine Bokassa đến tay người đọc báo, làm ai cũng tỏ tính hiếu kỳ tò mò mua báo để tìm hiểu nội vụ.

Những tờ báo khác cũng bắt đầu nhập cuộc về vụ Martine Bokassa, nhưng không báo nào có thêm chi tiết hơn Trắng Đen, do mọi nguồn tin tức đã được tòa soạn bịt chặt các đầu mối. Các ký giả báo khác đi tìm bà Huệ hay Martine như đi tìm kim dưới biển, nên chỉ còn biết viết vuốt đuôi; sau đó các báo thấy rằng viết như thế chỉ có lợi cho báo Trắng Đen càng bán chạy thêm, vì vậy một số thôi không khai thác, một số chuyển qua “đối lập” với vụ án, chụp mũ tờ Trắng Đen đủ mọi thứ nón lên đầu Ban biên tập nào là VC nào là CIA. Tuy vậy không có chiếc nón nào đội cho vừa vặn, vì sự phân tích của họ không logic khả dĩ khiến cho đọc giả tin cậy được. Sự thành công ngày đầu không làm vui những người trong ban biên tập, bởi nếu tin này trở thành sôi động như thế, ắt mọi việc sẽ không đơn thuần như dự tính. Hai ngày sau điều ban biên tập đón chờ đã đến :

– Phóng viên tờ Time (báo xuất bản tại Mỹ) đến xin mua bản quyền tấm hình chụp bà Huệ và Bokassa bên Tân Quy Đông mà tờ Trắng Đen đã đăng lên báo ngay hôm đầu tiên (luật báo chí Mỹ rất tôn trọng bản quyền, không thể chụp lại khai thác nếu chưa trả tiền bản quyền hay xin phép pháp nhân).

– Bộ Ngoại Giao gọi điện yêu cầu báo Trắng Đen cho ngưng khai thác loạt bài. Mặc dù báo chưa nói hẳn Ba-Xi là cô gái được một số người nhào nặn trở thành “con gái giả mạo” của TT Bokassa.

– Bộ DVTTCH cho biết, nếu loạt bài điều tra này xác thực thì tờ Trắng Đen cần đưa tài liệu chứng minh, hoặc kết thúc trong chiều hướng có lợi cho chính phủ !

Và còn nhiều cú điện thoại từ mọi thành phần trong xã hội, từ người dân lao động cho đến nhân sĩ trí thức, từ mọi giới kiến chính trị, có người ủng hộ có người phản ứng gay gắt, dù vậy vẫn không có một văn bản chính thức nào được gửi đến cho tờ Trắng Đen, chỉ thuộc “khẩu lệnh” bất thành văn.

Chính những cú điện thoại ấy mà ban biên tập rất lo lắng cho số phận tờ báo, số bán hằng ngày cứ tăng từ 100.000 tờ/ngày đã vượt lên 160.000 tờ/ngày, người làm báo ở Sài Gòn lúc đó nằm mơ cũng không thấy nổi số lượng in ấn này, và số lượng vẫn tiếp tục có chiều hướng gia tăng.

Nếu lo sợ bị đóng cửa báo như lời khuyến cáo bằng “khẩu lệnh” từ Bộ Ngoại Giao hay Bộ DVTTCH phải tạm ngưng loạt bài này, tuy nhiên nếu ngưng thì tờ báo mất uy tín, vốn dĩ đọc giả đã từng đánh giá Trắng Đen là báo lá cải chuyên khai thác các vụ án “Tình, Tiền, Tù, Tội, ma quỷ hoang đường, đời tư các nhân vật nổi tiếng” v.v… báo sẽ bị bỏ rơi với lý do đọc giả cho rằng vụ Martine Bokassa chỉ là tin scandal nhằm lừa bịp để bán báo.

Chính vì thế ban biên tập quyết định, đã cưỡi cọp thì không thể cho ngưng loạt bài này được, bởi có nhiều nguồn tài liệu cho thấy Martine Bokassa mới chính là con đẻ của TT Bokassa.

TÌM RA SỰ THẬT !

Nữ phóng viên Lam Hồng Cúc đã cải dạng dân thường với áo quần bà ba đen, chân đi guốc đầu đội nón lá, tay cầm túi lát đi vào vùng xôi đậu ở tận Rừng Sát (nay là huyện Cần Giờ); đến tận xã nơi bà Huệ sanh ra Martine (vùng xôi đậu tức  nơi ban ngày lính Quốc Gia kiểm soát còn về đêm do du kích tràn về tuyên truyền, khác với vùng trắng là nơi được oanh kích tự do), tìm thấy sổ hộ tịch của những năm 1955 -1956 có giấy chứng sanh của bà Huệ ghi cả tên cha là ông G. Bokassa

Còn tờ giấy khai sanh đang sử dụng chỉ là Giấy Thế Vì Khai Sanh do bà Huệ đã làm mất bản chính, mà đường về Rừng Sát lại khó khăn, cho nên bà Huệ phải khai lại Giấy Khai Sanh cho Martine mà bỏ tên cha. Có lẽ bà Huệ cho rằng Bokassa chỉ như những tên lính Lê Dương khác, đi tìm gái để thỏa mãn thú vui xác thịt, khi về nước là chúng̣ bỏ lại tất cả không một chút luyến tiếc dù đó là giọt máu của chính mình. Nên con lai ở Sài Gòn hay ở các tỉnh thành có rất nhiều, có ai được cha chúng qua Việt Nam tìm kiếm ?!.

Lam Hồng Cúc lấy được cả giấy chứng sanh được dán trong sổ hộ tịch đem về. Cả tòa soạn rất vui mừng liền lên phương án : Chụp lại bản chánh và cho rửa nhiều tấm, một gửi cho Bộ Ngoại Giao nhờ qua hệ thống hàng dọc tới tay TT Bokassa, chứng minh Martine mới là đứa con ruột thịt của ông ta.

Tuy đã có chứng cớ chứng minh nhưng ban biên tập vẫn sợ các ông bên Bộ Ngoại Giao có thể vì một lý do nào đó không chuyển đi; đã đề phòng nên còn gửi thêm một bộ khác qua đường hàng không đến Pháp cho đặc phái viên Trắng Đen đang thường trú tại đây đưa đến Bộ Ngoại Giao Pháp, giao tận tay và nhờ chuyển đến Tổng Thống nước Cộng Hòa Trung Phi Bokassa thật khẩn. Ngoài hai nơi, tòa soạn còn gửi đến Tòa Đại Sứ Pháp ở Sài Gòn nhờ chuyển. Các tài liệu đều kèm với hình bà Huệ và TT Bokassa, hình của Martine. Tờ báo công bố bản chứng sanh của Martine và cho đăng những cú điện thoại từ các Bộ, và hứa sẽ chịu trách nhiệm trước loạt bài điều tra về vụ Martine Bokassa, nếu TT Bokassa phủ nhận bà Huệ và Martine là vợ con ông ta.

(xem tiếp bài 2)