MỘT THỜI CÀ PHÊ SÀI GÒN

CÀ PHÊ SÀI GÒN… XƯA

“Sài Gòn” Môt Thời Để Yêu Và Một Thời Để Nhớ

Cho Những Ai Đã Lớn Lên Và Cắp Sách Đến Trường Ở Sài Gòn…

Bạn đã uống cà phê nhiều, bạn biết muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có khó. Cà phê loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi; muốn kẹo thêm nữa hả ? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưỡi phải không ? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị rhum, thì rhum; bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút bretain vào. Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à ? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây ! Thì để cho nó đậm đà.

Đậm làm sao ? Giống như uống coca thì phải có thêm chút muối cho mặn mà đầu lưỡi ấy mà. Uống chanh đường pha thêm chút rhum cho nó ra dáng tay chơi. Như kẻ hảo ngọt nhưng vẫn cắn răng uống cà phê đen không đường cho lập dị. Thèm đá muốn chết nhưng cứ chốn bạn nhậu thì nằng nặc đòi uống chay không đá cho giống khác người, cho đẳng cấp. Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm nhận lấy.
Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc; bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan (dộng vài phát hết gần nửa điếu và rít đỏ đầu), Ruby hay Basto xanh mới đã đời, thú vị phải không ? Bạn đã có đủ những gì bạn cần, sao lại cứ thích đi uống cà phê tiệm ? Tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người tại quán cà phê ; “uống” không khí và cảnh sắc cà phê; “uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn cùng tôi trở lại không khí cà phê Sài Gòn những năm cuối 1960 và đầu 1970.

Sài Gòn những năm giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tuổi trẻ lớn lên và tự già đi trong chiến tranh. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại ; những mơ mộng hoa bướm tự nó thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng được nhấp vào và quán cà phê trở thành nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng; có một chút làm dáng, thời thượng.

Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên; hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Cứ như thế, cái xe cọc cạch, trung thành như một người bạn thân thiết lê la khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.

Những ngày này, tôi là khách thường trực của quán Cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặt quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.

Chủ quán ở đây là một người đặc biệt : Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không ? Xin cứ ngồi yên đó. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công.

Khách đến với Thu Hương là ai ? Nhiều lắm, nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa” lắm; “ông”, “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng thêm các tập san Sử địa, Bách khoa, Văn và vân vân…

Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may áo dài Thiết Lập, vậy bạn có biết cà phê Hồng ở đâu không ? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó xéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung tâm Thực nghiệm Y khoa (Viện Pasteur).

Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm, chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại. Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che dấu.

Cà phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi; tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành một cái “mốt”, một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán – những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút (làm như không bụi thì không là trí thức) – đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly.
Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ. Lại có cả Time, Newsweek cho những bạn nào khát báo nước ngoài.

Quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì, nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người : Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và ít nói, ít cười, trừ cô chị. Những năm 1980, Cà-phê Hồng không còn, tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn vào chốn xưa và tự hỏi : Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi ? Còn chị em cô Hồng : những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào ?

Viện Đại học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý, cùng với những tên tuổi đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín, vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân. Tuy nhiên, dường như cái hồn của Đại Học Vạn Hạnh được đặt tại một tiệm cà phê : Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó xéo về phía chợ Trương Minh Giảng.

Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Các nhóm làm thơ trẻ đang lên và đang chiếm đều đặn nhiều cột thơ trên báo chí Sài Gòn ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ. Nhưng đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau. Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nắng Mới nay không còn. Những con người cũ tứ tán muôn phương.

Có một quán cà phê thân quen nữa không thể không nhắc đến : Quán chị Chi ở gần đầu đường Nguyễn Phi Khanh, kế khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp Casino Đa Kao. Ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè, trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm mà mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường.

Quán chị Chi độ chín mười thước vuông, chỉ đủ chỗ để đặt ba bốn chiếc bàn nhỏ. Quán không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ : “Hôm qua con đã đi học rồi mà”. Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo, mà hoàn toàn do thân hữu truyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại.

Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho hốp nước nhỏ.

Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm : độc ẩm, song ẩm và quần ẩm, nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bự. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh – loại bánh đặc biệt của chị Chi – nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm lừng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất, trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm. Quán chị Chi giờ đã biến tướng ít nhiều nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ.

Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, và thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng : Cà phê Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ – Hình như là Đào Duy Từ – gần sân vận động Thống Nhất bây giờ, có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ : Quán Đa La. Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra. Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh : Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướm của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, nhưng giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những gốc cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất … Đa La.

Ngày khai trương, Đa La chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả, với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Đa La đông vui, chứng kiến sự nở hoa và tàn úa của nhiều mối tình. Nhưng Đa La vắng dần những người khách cũ và đóng cửa lúc nào tôi không nhớ.

Cà phê Hân ở Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao là quán thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy là xa lạ với dân ngoại đạo cà phê. Nhưng Hân là một nơi hết sức đáng yêu, đáng nhớ của nhiều người, dù ngồi quầy là một ông già đeo kính như bước ra từ một câu chuyện của văn hào Nga Anton Chekov. Về sau, đối diện với Hân có thêm quán cà phê Duyên Anh của hai chị em cô Hà, cô Thanh; cô em xinh hơn cô chị và được nhiều chàng trồng cây si.

Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Hồng Thập Tự – Cường Để còn nhớ, cũng như nhớ món bánh cuốn ở đình Tây Hồ bên trong chợ Đa Kao thờ cụ Phan, nhớ quán cơm “lúc lắc” trong một con hẻm nhỏ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm mà nữ sinh viên vừa đi lên căn gác gỗ vừa run khi được mấy chàng mời cơm.

Bạn nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kính cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối đãi với nhau cũng rất đẹp. Cũng đừng quên nhắc đến quán Chiêu, hẻm Cao Thắng. Rồi còn cà phê hàng me Nguyễn Du, cũng Beatles, cũng Elvis Presley như ai; và cả pha chút Adamo quyến rũ. Giá ở đây thật bình dân nhưng thường xuyên chứng kiến những pha so găng giữa học sinh hai trường nghề Cao Thắng và Nguyễn Trường Tộ.

Chán cà phê thì đi ăn nghêu sò, bò bía, ăn kem trên đường Nguyễn Tri Phương, góc Minh Mạng hoặc bên hông chợ Tân Định. Phá lấu đã có góc Pasteur-Lê Lợi, nhưng chỉ dành cho các bạn có tiền. Rủng rỉnh tí xu dạy kèm cuối tháng có Mai Hương (nay là Bạch Đằng Lê Lợi). Quán Mù U, hẻm Võ Tánh, chỗ thương binh chiếm đất ở gần Ngã tư Bảy Hiền dành cho những bạn muốn mờ mờ ảo ảo. Muốn thưởng thức túp lều tranh mời đến cà phê dựa tường Nguyễn Trung Ngạn gần dòng Kín, đường Cường Để. Rồi quán cà phê Cháo Lú ở chợ Thị Nghè của một tay hoạ sĩ tên Vị Ý.

Cao cấp hơn có La Pagode (đổi thành Hương Lan trước khi giải thể), Brodard, Givral. Thích xem phim Pháp xưa, phim Mỹ xưa và ngồi… cả ngày xin mời vào rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi để chung vai với đám đồng tính nam. Vào Casino Sài Gòn có thể vào luôn hẻm bên cạnh ăn cơm trưa rất ngon tại một quầy tôi đã quên tên. Nhưng rạp Rex vẫn là nơi chọn lựa nhiều nhất của SV, cả nghèo lẫn giàu.

Cuộc sống SV cứ thế mà trôi đi trong nhịp sống Sài Gòn. Nghèo nhưng vui và mơ mộng. Tống Biệt hành, Đôi mắt người Sơn Tây sống chung với Cô hái Mơ. Đại bác ru đêm sánh vai với Thu vàng. Ảo vọng và thực tế lẫn vào nhau. Thi thoảng lại pha thêm chút Tội ác Hình phạt, Zara đã nói như thế ! Che Guervara, Garcia Lorca.

Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, đặc biệt là tặng tất cả những ai tha hương có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở cà phê Hồng, Thu Hương, hay đâu đó ở quê nhà.

(Theo Lương Thái Sỹ – An Dân)

CÀ PHÊ SÀI GÒN…  NAY

NGÀY CÀNG MÊ CAFÉ “BỆT”

Nhiều người thường nghĩ rằng, café “bệt” để chỉ một địa điểm cafe vỉa hè ở ngay Nhà thờ Đức Bà. Nhưng không phải đâu nhé. Mốt café bệt giờ đã lan ra những chỗ khác rồi đấy.

Là dân Sài Thành, ít ai mà không biết đến café bệt. Cafe bệt là… không bàn ghế lộng lẫy, không menu để phải lựa chọn khó khăn, không nhiều người phục vụ, không gò bó, không mắc, không ngộp với máy lạnh, thoải mái cười đùa… Khách du lịch và các teen đặc biệt bị thu hút bởi những quán xá kiểu lạ này.

Café bệt thường cách mặt đường không xa, lấy màn nhung là bầu trời và gió lộng, lấy khí trời làm quạt. Ấy vậy mà nhiều nam thanh nữ tú có thể rũ bỏ hết những muộn phiền bên ngoài để thỏa thích lê la cùng nhau mỗi buổi sáng và tối. Những người sành điệu, sau thời gian dài “quen mặt” ở những quán xá sang trọng, nhạc nhẽo ầm ĩ, bỗng tìm thấy bình yên ở những góc phố bệt.

Dọc đoạn phố café bệt thường có hàng cây rất cao, tỏa ra bóng mát rộng. Những quán café bệt sử dụng ghế nhỏ và bàn di động cho khách ngồi. Một số quán thì đơn giản là đưa một tờ giấy báo cho khách ngồi xuống. Đó cũng chính là lí do vì sao những quán café như vậy lại gọi là “café bệt”.

Nhiều bạn rất thích những quán bệt vì view rất đẹp, có thể thoải mái nhìn dòng người qua lại. Theo cảm nhận của những người “chuyên ngồi bệt” thì nó lại đặc biệt bởi có cơ hội nhìn lại những gì mình đã bỏ quên, nhũng gì giản dị nhỏ bé của cuộc sống, là thú vui rất đỗi của người Sài Thành.

Một số thanh niên nam nữ còn tìm đến café bệt như một địa điểm thư giãn. Họ chẳng bao giờ cô đơn vì quang cảnh xung quanh lúc nào cũng tấp nập. Nếu có laptop, cũng có thể họ ôm ra “bệt” dùng (vì có cả free wifi của những building lớn xung quanh).

Giá của café bệt Sài Gòn lại cực kì hấp dẫn. Nước chỉ vào khoảng 7k-12k. Ngay tại trung tâm thành phố mà café bệt Đức Bà cũng chỉ giữ vững tầm giá như vậy.

Bạn nào thích ăn hàng thì lại càng tuyệt hơn, bởi xung quanh những quán café bệt thường có những món ăn vặt như : Gỏi bò, soup, bột chiên, cá viên chiên, há cảo… Thật là tuyệt vời để vừa nhâm nhi, vừa “tám” đó !

Dù mùa mưa đang đến gần, ấy thế mà những quán café bệt vẫn không vắng khách. Chỉ cần sau cơn mưa là thấy ngay những nhóm bạn trẻ lại nhanh chóng tụ tập.

Mách bạn một số địa điểm café bệt được người Sài Thành rất chuộng: café bệt ở công viên Lê Văn Tám, café bệt đối diện nhà thờ Đức Bà, café ở công viên 30/4, 23/9, café bệt dọc Nguyễn Đình Chiểu…v.v…

Lan caysu post (theo Yahoo)

Advertisements

BẢY VIỄN : CUỘC ĐỜI NGANG DỌC

BẢY VIỄN

TƯỚNG CƯỚP HAY

TƯỚNG LÃNH

BÌNH XUYÊN

Trúc Giang MN

1/- Mở bài

Bảy Viễn vào đời bằng một chuỗi tiền án không mấy vẻ vang gì, từ trộm vặt, hành hung người, rồi ăn cướp có vũ khí. Cuộc đời giang hồ vào tù ra khám, vượt ngục. Chữ nghĩa không có, thời thế đưa đẩy lên địa vị một tướng lãnh, nắm giữ bộ máy cảnh sát công an đô thành Sài Gòn Chợ Lớn. Một tướng cướp lại đóng vai trò người đi bắt cướp, giữ an ninh Đô thành, thì thật là quá mĩa mai cho một thời nhiễu nhương của người Việt.

2/- Vụ cướp tiệm vàng Kim Khánh

Năm 1942, Bảy Viễn với người bạn giang hồ là Mười Trí, lên kế hoạch đánh cướp tiệm vàng Kim Khánh, tại một nơi buôn bán ồn ào náo nhiệt trên đường Trần Hưng Đạo. Bảy Viễn giả làm ông chủ tiệm vàng giàu có ở Cần Thơ, dùng yếu tố bất ngờ, với khẩu súng Colt để cướp vàng và tiền bạc.

Theo kế hoạch, tài xế và Mười Trí đậu chiếc xe Huê Kỳ sang trọng trước tiệm vàng. Mười Trí giữ nhiệm vụ ra dấu hiệu để liên lạc và bảo vệ. Một đàn em giả làm dân dạo phố ngồi ở ngã tư, ra dấu làm hiệu, khi cảnh sát gác đường ra về đổi phiên.

Trưa hôm đó, chiếc xe Huê Kỳ bóng láng ngừng trước tiệm vàng Kim Khánh. Bảy Viễn oai vệ trong bộ đồ lớn màu hột gà, cà vạt đỏ, kiếng gọng vàng, nón Fletcher, giày 2 màu, xách cạt táp da, miệng ngậm xi gà, bước vào giở nón chào chủ tiệm:

– “Tôi định lên sớm, nhưng kẹt hai chiếc bắc Cần Thơ và Mỹ Thuận, nên giờ mới tới. Trưa trờ trưa trật rồi, bà chủ thông cảm cho”.

Bảy Viễn kéo tay áo xem giờ, để lộ chiếc đồng hồ Omega vàng, nói : “Kém 15 phút đầy 12 giờ, bà chủ chưa nghỉ trưa sao ?”

Bà chủ nhìn Bảy Viễn, nhìn ra chiếc xe Huê Kỳ, biết là khách sộp, tươi cười đáp :

– “Đúng 12 giờ, tiệm đóng cửa, ăn cơm và nghỉ trưa, nhưng có khách từ lục tỉnh lên, chúng tôi vui lòng đón tiếp, quá 12 giờ cũng không sao”.

Bảy Viễn trao danh thiếp : “Đây là tiệm vàng của tôi, mới khai trương hồi tháng trước, nhờ trời thương, làm ăn khá nên chuyến nầy lên Sài Gòn bổ hàng. Nghe các đồng nghiệp nói tiệm Kim Khánh là nơi đáng tin cậy, nên tôi tới làm quen”.

Bà chủ mời xem hàng trong tủ kiếng. Khi thấy Mười Trí dùng tờ báo xếp làm tư, quạt phe phẩy ra hiệu, cho biết cảnh sát đã rời ngã tư đi đổi gác, thì lập tức, Bảy Viễn dằn khẩu “colt đuôi” trên mặt kiếng và nói : “Không được la ! Hễ la là chết tức khắc”. Tất cả vàng trong tủ kiếng được dồn hết vào cặp da. Chiếc xe phóng nhanh đến ngã tư mới nghe tiếng bà chủ la làng. Chỉ trong 10 phút là xe đã ra tới mũi tàu Phú Lâm.

Phấn khởi trước thắng lợi quá dễ dàng, Bảy Viễn rủ Mười Trí ăn hàng xuởng mộc Bình Triệu.

3/- Cướp xuởng mộc Bình Triệu

Xưởng mộc Bình Triệu là nơi chuyên đóng ghế salon danh tiếng nhất Sài Gòn. Chủ là một người Tàu Chợ Lớn. Buổi tối chỉ có người tài phú ngủ lại xưởng, giữ số tiền chờ gởi nhà băng vào cuối tuần.

Sáu giờ chiều ngày 8/9/1942, Bảy Viễn và quân sư Mười Trí cùng hai tên đàn em là Ba Rùm và Tư Nhị, lên chiếc xe lộng lẫy mô đen mới sau cùng, vừa chạy hết “rô đai”, do một đại xì thẩu Chợ Lớn là Trần Tăng cho mượn.

Xe vượt qua cầu Bình Lợi đến thẳng xuởng mộc Bình Triệu. Khi tài phú người Tàu mở cửa cổng, thì tức khắc, Bảy Viễn kè sát tên Tàu, ấn mạnh khẩu colt đuôi vào ba sườn hắn, nói :

– “Tao tới đây mượn tiền ông chủ mầy, xài tạm trong cơn túng quẩn, muốn sống thì vô nhà mở tủ đưa hết tiền cho tao”.

Tư Nhị theo sát Bảy Viễn, quơ hết mớ bạc trong tủ bỏ vào túi kaki, trong khi đó, Mười Trí quan sát động tịnh bên ngoài. Trước khi rút, Bảy Viễn ra lịnh : “Mầy không được la làng, chờ cho xe tao đi xa rồi mới đuợc phép la, nghe chưa !”.

Khi xe đang ở giữa cầu Bình Lợi, thì phía sau có đèn pha xe hơi chớp sáng. Ba Rùm quay lại. Đèn pha mỗi lúc một tới gần. Ba Rùm la lên : “Thằng Tây trên xe nó bật đèn pha xin qua mặt xe mình đó anh Bảy”. Bảy Viễn nhấn ga, chiếc xe phóng nhanh, không cho qua mặt. Hai chiếc xe cứ lao hết tốc độ như cuộc đua chạy nước rút.

Trời bỗng chớp nhoáng, mấy tiếng sấm, rồi mưa bắt đầu rơi. Chiếc xe sau vẫn bám sát.

Mười Trí nói :

– Trời mưa, đường trơn, thôi cho nó qua mặt đi.

Bảy Viễn cự lại :

– Không được. Cho nó qua, nó sẽ báo cho đồn Bà Chiểu truy bắt tụi mình.

Bổng Mười Trí giật mình. Trước mặt là một chiếc xe bò, cà rịch cà tang đi sát lề, theo sau là chiếc thổ mộ (Xe ngựa). Thế rồi thổ mộ vượt qua xe bò. Con đường đã hẹp lại không có chỗ cho xe hơi vượt qua. Mười Trí toát mồ hôi lạnh khi thấy Bảy Viễn vẫn miết ga 120km/giờ. Vừa lúc xe thổ mộ qua mặt xe bò, rồi nép vào lề mặt, chiếc xe của Bảy Viễn vượt qua như ánh chớp. Mọi người thở phào, nhẹ nhõm. Chưa hết gian nan. Khi tới cầu Băng Ki, Bảy Viễn thình lình chặt cua, quẹo qua ngã ba Cây Thị để sửa lưng thằng Tây, cắt đuôi nó, thế nào nó cũng ngon trớn chạy thẳng.

Do quẹo gấp mà không bớt ga rà thắng, lại gặp đường trơn, chiếc xe sàng qua sàng lại rồi đâm đầu xuống ao cá vồ bên đường. Không thể kéo chiếc xe lên được. Mười Trí thở dài : “Thôi, chỉ có nước ôm tiền về nhà, sáng mai mướn xe kéo nó lên, o bế cẩn thận rồi trả lại cho Trần Tăng. Thế là cả nhóm bao một cuốc xe ngựa về nhà Bảy Viễn.

Cảnh sát truy ra chủ xe là Trần Tăng. Thế là cả nhóm bị tóm. Ra toà mỗi người lãnh 12 năm tù khổ sai, đày đi Côn Đảo. Riêng Bảy Viễn, cộng thêm 8 năm còn thiếu do vụ vượt ngục trước kia, thành 20 năm.

4/- Vài nét về Bảy Viễn

Bảy Viễn là một tướng cướp lừng danh trước năm 1945. Về sau, theo Việt Minh chống Pháp, rồi ly khai Việt Minh về hợp tác với chính phủ quốc gia của quốc trưởng Bảo Đại. Bảy Viễn, thủ lãnh Bình Xuyên chống chính phủ Ngô Đình Diệm, bị dẹp tan năm 1955. Bảy Viễn chạy sang Pháp lánh nạn và mất năm 1970.

Lê Văn Viễn sinh năm 1904 tại Phong Đước, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn. Cha là Lê Văn Dậu, người Tàu gốc Triều Châu. Bảy Viễn học hết tiểu học trường làng rồi đi bụi đời, học võ, học gồng. Mình xâm hình con rồng màu đỏ ở lưng, đầu rồng ở sau cổ, đuôi rồng xuống tới hậu môn. Hai vai, xâm hình đầm ở truồng, đầu rắn xâm ở đầu dương vật. Vì xâm mình rất đau, dùng kim đâm cho chảy máu rồi lấy mực tàu trét vào, cho nên những người chịu nổi thì thuộc về tay anh chị. Người cao 1,7 m.

Bảy Viễn lập băng đảng, nổi danh là tay anh chị chợ Bình Đông, bảo kê các trường đá gà, rồi đứng bến xe lục tỉnh.

– Năm 1921, bị tù lần đầu 20 ngày về tội ăn cắp xe đạp.

– Năm 1927. bị tù 2 tháng vì hành hung ông chủ, khi giữ chân gác sòng bài cho ông.

– Năm 1936. Ngày 28/8/1936, bị kết án 12 năm khổ sai, đày đi Côn Đảo về tội cướp tiệm vàng ở Giồng Ông Tố, thu được số tiền rất lớn là 6,000$. (Hồi đó, 1 đồng bạc mua được 5 giạ gạo).

– Ngày 8/2/1940, ở tù được 4 năm thì vượt ngục lần thứ nhất về đất liền. Như vậy còn thiếu 8 năm, nên được cộng thêm vào án 12 năm trong vụ cướp xưởng mộc Bình Triệu.

5/- Cuộc vượt ngục lần thứ hai

Tù Côn Đảo chỉ có một phương tiện duy nhất là bứt mây rừng, đốn cây kết bè, chờ đến mùa gió chướng, thổi từ biển vào đất liền, rồi thả bè cho trôi theo chiều gió. Trong lịch sử vượt ngục Côn Đảo không tới 10 cuộc thành công.

Tù nhân được điểm danh mỗi ngày. Các bãi biển thả bè hướng về đất liền, luôn luôn được canh giữ cẩn mật, bởi những phạm nhân sắp mãn hạn tù, được cử làm “trật tự” chờ đợi ngày về Sài Gòn, ra khám.

Hơn nữa, vùng biển Côn Đảo có rất nhiều cá mập, ít có chiếc bè nào dám vượt qua mũi Cá Mập cả. Gian nan và nguy hiểm chập chùng trên đường vượt biển. Lắm khi giông bão nổi lên, cuốn bè trôi mất phương hướng, thay vì vào ven biển đất liền thuộc các tình miền Nam, lại trôi ngược lên tận đảo Hải Nam của Trung Hoa. Người chết vì đói và khát. Côn Đảo cách Vủng Tàu 120km.

Trong chuyến vượt ngục lần thứ hai nầy, trên bè có Mười Trí, Bảy Viễn, Tư Nhị và Năm Bé. Trước cảnh đồng hội đồng thuyền, sống chết trên biển, các tay giang hồ liền nhớ đến chuyện Đào viên kết nghĩa của bộ ba Lưu, Quan, Trương trong chuyện Tàu, nên đồng ý kết nghĩa huynh đệ giang hồ, có phước cùng hưởng, có họa cùng chia.

Trời hôm đó sáng rở, biển lặng, đúng giờ hoàng đạo, mỗi người tiểu chung vào một cái ca, lấy nước tiểu thay máu đào uống vào, kết nghĩa anh em theo kiểu tù vượt ngục. Mười Trí sinh năm 1903 làm đại ca, Bảy Viễn sinh 1904, làm nhị ca, tam ca là Năm Bé và em út là Tư Nhị.

6/- Đánh cướp chủ đồn điền Dầu Tiếng

Một hôm, đàn em Bảy Viễn báo cáo tình hình, tên giám đốc đồn điền cao su Dầu Tiếng, hàng tuần đều đến nhà băng lấy tiền về trả lương cho thầy, thợ.

Theo kế hoạch, Bảy Viễn đi mướn chiếc xe Huê Kỳ và đích thân lái. Mười Trí giữ vai cận vệ. Đúng giờ G sáng thứ bảy, Bảy Viễn cho xe đậu sát chiếc xe của Tây giám đốc đồn điền, rồi xách cặp da vào ngồi ở ghế chờ đợi, dành cho khách hàng, mở sổ sách ra giả vờ tính toán mà cặp mắt luôn theo dõi thằng Tây.

Khi tên giám đốc ôm tiền bước ra khỏi cửa nhà băng, thì Mười Trí chồm qua xe hỏi mượn bật lửa châm thuốc. Người tài xế vô tình mò tìm bật lửa, thì nhanh như cắt, Mười Trí dùng cạnh bàn tay chém vào gáy, làm tên tài xế bất tĩnh, gục xuống. Bảy Viễn chờ cho thằng Tây đến bên cửa xe mới tấn công. Một gói ớt bột đập ngay vào mắt, tên giám đốc tá hỏa, buông va li tiền và ôm mặt.

Nhanh tay, Bảy Viễn chụp túi bạc liệng lên xe rồi nhảy lên đạp ga vọt nhanh. Mọi việc xảy ra quá nhanh nên không nghe có ai la làng cả.

Bảy Viễn về đến sào huyệt cả tuần lễ, thì vụ cướp táo bạo giữa ban ngày mới được báo chí bàn tán xôn xao. Các phóng viên đồng ý với nhau rằng, kiểu cướp phóng xe Hoa Kỳ là sở trường của Bảy Viễn.

Sáng hôm đó, xe đạp Mười Trí cán đinh nên phải ghé lề đường vá xe. Thình lình, một xe chở đầy lính lướt qua, Mười Trí biết bị lộ, nên vọt thẳng xuống Sài Gòn. Bảy Viễn đang ngồi đánh bài thì được tin báo, xuống xuồng bơi qua sông thoát hiểm. Nhưng sau đó, bị bắt nguội và lại bị kết án đày đi Côn Đảo một lần nữa, là lần thứ ba.

Ở đảo, nhờ Ba Rùm giúp đở, nên Bảy Viễn và Mười Trí vượt ngục lần thứ ba.

Khi về tới đất liền thì tình hình chính trị thay đổi nhanh chóng, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Bọn Nhật ở Đông Dương buồn rầu hơn bố chết, nhiều sĩ quan, Harakiri, tự mổ bụng tự tử.

Theo báo chí, thì quân đội Anh-Ấn tước khí giới quân Nhật ở miền Nam, quân của Tưởng Giới Thạch do tướng Lư Hán chỉ huy, tước khí giới Nhật từ vĩ tuyến 16 trở lên Hà Nội. Thừa lúc Nhật bị tước khí giới, người Pháp còn bị Nhật giam, Việt Minh cướp chánh quyền, tuyên bố độc lập vào ngày 2/9/1945. Trong khi đó, quân đội Pháp từ Calcutta và Bombay, Ấn Độ, đang trên chiến hạm trực chỉ Sài Gòn để tái chiếm lại Nam Kỳ từ tay người Nhật.

Bảy Viễn dốt về chính trị, không biết nên ngã về phía nào, theo Việt Minh hay Pháp, cho nên áp dụng “nắng chiều nào, che chiều đó”, rồi quyết định mua súng, lập bộ đội. Súng đạn tụi Nhật rẻ như bèo, dại gì đem nạp cho quân Anh-Ấn.

Ngày 5/10/1945, tướng Pháp Leclerc đến Tân Sơn Nhất, sau khi chiến hạm Triomphant chở đầy lính cập bến Sài Gòn. Tướng Leclerc tuyên bố, Pháp sẽ quét sạch Việt Minh trong 3 tuần lễ. Quân Pháp bắt đầu đánh chiếm Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An, Mỷ Tho. Ủy viên quân sự Trần Văn Giàu cho các đơn vị vũ trang rút ra ngoại ô, tổ chức đánh du kích.

Thực dân Pháp bắt đầu chiến dịch truy tìm những thành phần theo Việt Minh và những nhóm anh chị giang hồ, đầu trộm đuôi cướp, vì thế, Bảy Viễn phải ra bưng.

7/- Bộ đội Bình Xuyên

Bình Xuyên là tên của một ấp thuộc làng Chánh Hưng, quận Nhà Bè. Sau năm 1945, Bình Xuyên chỉ một lực lượng của dân giang hồ Nam Bộ, mà người đứng đầu là Ba Dương. Ba Dương (Dương Văn Dương) đang “đứng bến” tại bến xe Sài Gòn-Tây Ninh-Nam Vang (Phnom Penh), thì Pháp ban hành tình trạng khẩn cấp, hốt hết những “phần tử nguy hiểm” gồm Cộng Sản và dân giang hồ, nên phải chạy về ẩn trốn ở quận Cần Giuộc.

Ba Dương bị bọn chỉ điểm bắt về quận. Chủ quận là tay gian ác, buộc Ba Dương phải uống hết một chùm tóc rồi mới được thả. Tóc vô người, phá nát bộ tiêu hóa rồi chết lần chết mòn. Thời may, Ba Dương có một đệ tử trung thành trong quận, lãnh về thuốc men chữa trị nên sống sót.

Ba Dương quy tụ đàn em và đám giang hồ bị rượt đuổi, lập căn cứ tại ấp Bình Xuyên và theo Việt Minh chống Pháp. Mười Trí là bạn giang hồ của Ba Dương, nên cả bọn Bảy Viễn gia nhập bộ đội Việt Minh ở Bình Xuyên. Bảy Viễn giữ chức chỉ huy phó.

Khi Ba Dương bị Tây bắn chết, được VM phong chức thiếu tướng đầu tiên ở miền Nam. Bảy Viễn có tham vọng muốn lên thay Ba Dương làm chỉ huy trưởng, nhưng bị cán bộ VM ngăn chận, nên không thành. Lãnh đạo kháng chiến Nam Bộ là Thiếu tướng Nguyễn Bình, tên thật là Nguyễn Phương Thảo, em kết nghĩa với tướng cướp, nhà văn Sơn Vương Trương Văn Thoại.

Nguyễn Bình, một mặt muốn giữ lực lượng của Bảy Viễn theo VM, một mặt tách rời Bảy Viễn ra khỏi quyền lực, bằng cách phong chức Tư lịnh phó khu 7 cho Bảy Viễn.

Vì không được tin dùng, và do sự móc nối của tên trung tá phòng nhì Pháp Savani, nên Bảy Viễn mang 2 đại đội về hợp tác với quân đội Pháp, và được thăng chức Đại tá.

8/- Con lộ 15

Hồi đầu kháng chiến, con đường Sài Gòn-Vủng Tàu dài 125km bị phá hủy nặng nề. Bị cuốc trốc lớp nhựa, cào bỏ đá xanh rồi trồng tre lên. Qua vài mùa mưa, tre mọc xanh um. Những nơi chưa kịp trồng tre, thì cây cối bị đốn ngã chụm vào nhau, con đường 15 biến mất. Cầu sắt hay cầu xi măng gì cũng bị phá sập hết. Chiếc cầu dài nhất trên tuyến đường là cầu Cỏ May bị sập nhịp giữa.

Đại tá Bảy Viễn được tướng Pháp De la Tour giao nhiệm vụ giải tỏa con đường nầy. Công binh Pháp xây cầu, làm đường tới đâu, thì quân Bình Xuyên đóng đồn bót giữ an ninh tới đó. Công việc giải tỏa con đường bắt đầu từ thời tướng De la Tour, kéo dài qua thời tướng Chanson và hoàn thành ở thời tướng Bondis, như thế là mất 3 năm.

Tướng Bondis vô cùng mừng rở khi công tác giải tỏa hoàn thành, và đề nghị Bảo Đại phong cho Bảy Viễn lên chức Thiếu tướng.

9/- Lót tay mua lọng

– Quân sư Huỳnh Đại : Một đêm đi cao lâu, Bảy Viễn gặp lại ân nhân, thuở xưa đã giúp đở trong khi mãn tù nghèo đói, lang thang, đó là Huỳnh Đại, một thương gia người Tàu có máu Mạnh Thường Quân, hiện làm chủ nhà hàng Đại La Thiên, sang trọng nhất nhì trong Chợ Lớn. Lịch sử Huỳnh Đại cũng tương tự như của chú Hoả, Hui Bon Hoa. Từ tay trắng làm nên sự nghiệp.

Cả hai, tay bắt mặt mừng, kéo nhau vào mở Sam banh chuyện trò tâm sự.

Huỳnh Đại gợi ý làm ăn : “Chức thiếu tướng coi thì oai thiệt, nhưng không bằng nhà kinh doanh. Tôi khuyên chú em nhân lúc có tướng, có quyền, nhảy ra thương trường, phát tài mau hơn.”

Bảy Viễn đáp lại : “Với Đại Thế Giới, mỗi ngày vô két nửa triệu bạc đủ rồi, đại ca còn bày vẽ chi nữa cho mệt”.

Huỳnh Đại cười, nói : Chuyện làm ăn gặp thời thì phải bung ra, nên nhớ, đời người chỉ có một thời mà thôi. Chú em hãy noi gương Chú Hỏa, với số vốn bạc tỷ, chú em có thể mua nhà băng, mua bán nhà cửa, một vốn bốn lời. Mình chỉ cách chú làm ăn, nhưng trước hết phải tìm người đở đầu. Có bao giờ chú em liên hệ với cựu hoàng Bảo Đại, nay là quốc trưởng chưa ?”

Bảy Viễn giật mình : – Chưa, tôi chưa bao giờ nghĩ tới, người ta ở trên cao còn mình ở dưới thấp làm sao mà vói tới được”.

Huỳnh Đại tiếp : – Cao thì cao, nhưng ông ta cũng vẫn cần tiền, vì một người ăn xài như vua, mà nay lương bổng hàng tháng thì làm sao cho đủ ? Chú mầy nên trích ra một số tiền hoa hồng hàng tháng, gởi cho cựu hoàng, gọi là giúp vào quỹ xã hội của ông ta. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Sách có câu “thọ tài như thọ tiễn”, cựu hoàng sẽ có cách báo đáp xứng đáng”.

– Nghĩa đệ của Bảo Đại : Nghe lời Huỳnh Đại, tướng Bảy Viễn tìm cách liên hệ với Bảo Đại, nhưng lót tay không phải là chuyện dễ. Bảy Viễn ra lịnh cho hai anh em quân sư là Lai Hữu Tài và Lai Hữu Sang lập hồ sơ về Bảo Đại…. Đọc xong lý lịch, Bảy Viễn quyết định lót tay Bảo Đại để có chiếc lọng che thân phòng khi bất trắc.

Bảy Viễn nhờ bào đệ của Bảo Đại là Vĩnh Cần làm trung gian cho biết, Bảy Viễn sẽ ủng hộ quốc trưởng mỗi tháng 240,000$.

Đầu năm 1954, Bảo Đại nhận Bảy Viễn là “nghĩa đệ” khi Bảy Viễn giúp 500,000 đô la Mỹ để Bảo Đại gởi qua Hồng Kông cho cô bồ Tàu lai Tây, tên Hoàng Tiểu Lan (Jenny Woong), đã có con gái với Bảo Đại, tên Nguyễn Phúc Phương Ân.

Bảy Viễn được giao phụ trách cảnh sát công an Sài Gòn Chợ Lớn.

Bảy Viễn mở rộng Đại Thế Giới (Casino Grand Monde), Kim Chung (Tiếng chuông vàng – Casino Cloche d’Or), được báo chí Pháp ca ngợi hết lời : “Một thành phố trong một thành phố”. Đại Thế Giới gồm gian hàng cờ bạc, 2 rạp chiếu bóng, 3 rạp cải lương, Tiều Quảng, vũ trường. Đại Thế Giới có 3 chi nhánh, một ở đường Camette, 2 ở trong Chợ Lớn.

Thủ tướng Trần Văn Hữu không ký Quyết định mở rộng Đại Thế Giới, nhưng Bảo Đại ký.

10/-  Chọn Tham Mưu Trưởng cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam

Bảo Đại mời một số chính khách lên biệt điện Đà Lạt để bàn thảo về việc chọn một Tham Mưu Trưởng cho QĐ/QG/VN. Trong các nhân vật được quốc trưởng đề cử, có tên Bảy Viễn. Thủ hiến Trung phần, dược sĩ Phan Văn Giáo, là người đả kích Bảy Viễn hơn ai hết. Không may cho ông, là ông chê bai Bảy Viễn trước mặt đại diện Lai Hữu Sang. Tư Sang điện khẩn vụ việc, báo cáo cho Bảy Viễn.

Bảy Viễn tức sôi máu, nhảy lên chiếc Jaguar, loại xe đua mới xuất xưởng, chạy một mạch lên Đà Lạt. Con đường có nhiều đèo cao, vòng vèo, kế bên vực thẩm, ở những khúc cua có những cái am nhỏ bên đường, để cúng cô hồn những người tử nạn, nhưng xe vẫn miết ga. Đến khách sạn Langbian, nơi có quan khách đến ở dự phiên họp với quốc trưởng, Bảy Viễn lớn tiếng hỏi Tư Sang :

– Thằng chó đẻ Phan Văn Giáo là thằng nào mà dám nói xấu Bảy Viễn nầy ?

Một người bồi nhanh chân báo động, Phan Văn Giáo dông ra cửa sau, đón taxi lên biệt điện cầu cứu với Bảo Đại. Bảy Viễn và Tư Sang phóng xe lên biệt điện. Phan Văn Giáo trốn biệt. Bảo Đại phải đứng ra dàn xếp. Dù chết hụt, nhưng Phan Văn Giáo vẫn tiếp tục công kích Bảy Viễn :

– “Không hiểu quý ngài nghĩ thế nào, chớ riêng tôi, tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ nếu một tướng cướp được chọn để giao chức Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Trước đây, Đại Thế Giới do ông Lâm Giống, người gốc Ma Cau thầu khai thác. Để buộc Lâm Giống phải giao Đại Thế Giới lại cho mình, Bảy Viễn không ngần ngại sai đàn em ném lựu đạn vào sòng bạc Kim Chung, làm thiệt mạng 60 người. Rồi còn bắt cóc những người trong ban giám đốc để tống tiền. Các ngài có biết không, khi nhậm chức cầm đầu ngành cảnh sát công an Sài Gòn Chợ Lớn, Bảy Viễn liền cho lập xóm Bình Khang, một nhà chứa khổng lồ hoạt động công khai, phục vụ binh sĩ”.

Phan Văn Giáo là người xu nịnh Bảo Đại, đã gả em vợ tên Lê Thị Phi Ánh cho Bảo Đại làm thiếp.

11/- Thủ tướng Ngô Đình Diệm

Quân đội Pháp ngày càng thua trên các mặt trận, Bảo Đai qua Pháp, gọi là để theo dõi thời cuộc, cho rằng số phận VN sẽ được giải quyết tại bàn hội nghị giữa các cường quốc. Hoa Kỳ thuyết phục Bảo Đại chấp thuận cho Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Bảo Đại không ưa gì ông Diệm, nhưng tình thế bắt buộc nên phải đồng ý.

Bảy Viễn lúc nào cũng theo dõi, nghe ngóng về Bảo Đại, vì đó là cái lọng che chở cho Bình Xuyên, cho cái ghế ngồi vững chắc của ông ta.

Ngô Đình Diệm về nước vào tháng 6 năm 1954. Thủ tướng Diệm dẹp Đại Thế Giới và Kim Chung, làm cho Bảo Đại và Bảy Viễn bất mãn, vì đó là cái túi tiền của cả hai. Trung tá Phòng Nhì Pháp, Savani cho Bảy Viễn biết, là ông Diệm quyết tâm dẹp các lực lượng vũ trang của các giáo phái và đảng Đại Việt ở miền Trung.

12/- Bình Xuyên tấn công quân chính phủ Ngô Đình Diệm

– Thành lập Mặt Trận Quốc Gia Toàn Lực : Khi thủ tướng Diệm đóng cửa Đại Thế Giới và Kim Chung, thì Bảo Đại và Bảy Viễn nhất quyết đánh ông Diệm. Mặt Trận Quốc Gia Toàn Lực (MTQGTL) quy tụ lực lượng vũ trang của các giáo phái, gồm Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa và Bình Xuyên, để chống chính phủ Ngô Đình Diệm.

Bình Xuyên chỉ có 3 tiểu đòan. Năm Lửa Trần Văn Soái, Hòa Hảo, gởi 1 tiểu đoàn, Cao Đài biệt phái 1 tiểu đoàn, tướng Nguyễn Văn Hinh chi viện 1 tiểu đoàn lính Dù, như vậy MTQGTL có 6 tiểu đoàn.

Ngày 9/5/1955, Bảo Đại đánh điện triệu tập ông Diệm sang Pháp, nhưng ông không đi và tiến hành việc triệt hạ lực lượng vũ trang của các giáo phái.

12/2. Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ đảo chánh Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Theo lịnh của Bảo Đại, tướng Nguyễn Văn Hinh rời VN vĩnh viễn, và phải trao quyền Tổng Tham Mưu Trưởng QĐ lại cho Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ.

Trong hồi ký “Việt Nam nhân chứng”, tướng Trần Văn Đôn thuật lại như sau :

“Nguyễn Văn Vỹ hấp tấp họp báo, tuyên bố rằng quân đội cùng ông đảo chánh Ngô Đình Diệm. Thiếu tướng Lê Văn Tỵ, tướng Trần Văn Đôn, Nguyễn Hữu Có, Dương Văn Đức được gọi đến. Thiếu tướng Lê Văn Tỵ hỏi :

– Các anh đang làm gì đó ?

Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ trả lời : – Tôi làm đảo chánh.

– Anh lấy gì để làm đảo chánh ?

– Quân đội.

Tướng Lê Văn Tỵ lột sao trên vai của mình để xuống bàn, nói :

– Tôi lột lon trả lại cho anh. Tôi không theo anh đâu !” (Hết trích)

oOo

Nhị Lang, tên thật là Thái Lân, một nhà văn, nhà cách mạng lão thành, cố vấn chính trị và là người phát ngôn của thiếu tướng Trịnh Minh Thế, kể lại vụ việc như sau :

“Khi tôi tới nơi khoảng 6 giờ chiều, chúng tôi bắt gặp một số sĩ quan khoảng 50 người đang ngồi chật phòng khách, tầng dưới của Dinh Độc Lập. Trên lầu, tôi thấy Lê Văn Tỵ đang ngồi trong phòng khách với một sĩ quan mà tôi không biết tên.

Thấy hơi lạ, vì tại sao thủ tướng Diệm lại tiếp khách một lượt đông sĩ quan như thế ? Tôi bèn nhờ Đại úy tùy viên Tạ Thành Long kín đáo dọ xét tình hình, thì được biết, hồi chiều nầy, tướng Nguyễn Văn Vỹ thừa lịnh Bảo Đại, tước binh quyền trong tay Thiếu tướng Lê Văn Tỵ. Và tướng Tỵ bị các sĩ quan “áp giải” theo họ vào Dinh Độc Lập để tước đoạt nốt quyền lãnh đạo chính phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Như thế có nghĩa là số 50 sĩ quan nầy đã đồng loã với tướng Vỹ, kéo vào Dinh Độc Lập, lấy số đông bao vây và áp đảo ông Diệm.

Xin nhắc lại, Bảo Đại đã không những triệu hồi Ngô Đình Diêm sang Pháp mà còn đòi cả Lê Văn Tỵ phải bỏ nhiệm vụ đi theo. Mặt khác, Bảo Đại còn phong cho trung tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tư Lịnh QĐ/QG/VN.

Lúc đó, Nhị Lang chỉa súng vào tướng Vỹ và lột lon ông ta. Trần Trung Dung bèn báo cáo, và Ngô Đình Nhu kéo tướng Vỹ vào phòng.

Nếu không có hành động phi thường, nhanh trí và quyết định chớp nhoáng của Nhị Lang, chỉa súng lột lon, và nếu không có khẩu Colt 45, thì tướng Vỹ đã thành công trong việc áp đảo ông Diêm từ chức, để đưa Bảy Viễn lên làm Thủ tướng, thì chắc chắn tình thế sẽ hỗn loạn và rối rắm muôn phần.

Trung tướng Vỹ và Nguyễn Tuyên bay lên Đà Lạt, từ đó bay sang Cao Miên rồi sang Pháp sống lưu vong.”

– Quân Bình Xuyên tấn công Dinh Độc Lập : Mâu thuẩn hai bên căng thẳng đến cực điểm, Bảy Viễn ra lịnh cho Bình Xuyên tấn công trước. Kế hoạch tác chiến được soạn thảo cẩn thận. Những chiếc cầu qua cù lao Chánh Hưng đã được bí mật gài mìn.

Chiều ngày 28/4/1955, lính Bình Xuyên do Bảy Môn chỉ huy, mở cuộc tấn công Dinh Độc Lập bằng súng cối làm chết một người và nhiều người bị thương. Các bót công an của Mai Hữu Xuân cũng bị tấn công. Vài phút sau, quân chính phủ phản pháo vào mục tiêu Chánh Hưng, tiến đến các đầu cầu. Mặt trận phía cầu Tân Thuận, giao cho lính Cao Đài về hợp tác với chính phủ, do thiếu tướng Trịnh Minh Thế chỉ huy.

Bảy Môn cho châm điện phá các cầu, chỉ có cầu Nhị Thiên Đường là còn nguyên vẹn. Hai bên quần nhau suốt 4 ngày, quân chính phủ do Đại tá DươngVăn Minh chỉ huy đã tiến vào tổng hành dinh của Bảy Viễn. Bình Xuyên rút về phía cầu Tân Thuận, là đầu cầu để xuống Rừng Sác.

Mặt trận cầu Tân Thuận gay go nhất, nhiều đợt xung phong qua cầu bị chận lại, nguy hiểm nhất là giang đỉnh của Bảy Viễn, từ dưới sông xả đại liên lên cầu, rồi súng cối nhắm vào đội hình của Trịnh Minh Thế mà tác xạ không ngừng. Một tin xôn xao. Đó là thiếu tướng Trịnh Minh Thế bị tử thương. Một nhà báo Mỹ nói về cái chết của Trịnh Minh Thế, đang đứng trên xe jeep để chỉ huy, tướng Thế gục đầu, quỵ xuống do một phát đạn trúng ngay vào đầu.

Ai giết Trịnh Minh Thế ? Ông Diệm lúng túng, khi kẻ chạy về với quốc gia mà chết khó hiểu như thế, thì còn ai dám chạy về với mình nữa ?.

Tin đồn cho biết, trong túi Trịnh Minh Thế còn một ngân phiếu 70 triệu đồng chưa lãnh. Thiên hạ đoán rằng, đó là tiền mà Hoa Kỳ thưởng cho tướng Thế đã về hợp tác với quốc gia. Và ông Ngô Đình Nhu là người mãn nguyện trước cái chết đó. Thật ra, trong tình hình như thế, có rất nhiều người muốn loại trừ tướng Trịnh Minh Thế, trong đó có nhóm người của tướng Nguyễn Văn Vỹ trong Quân Đội Quốc Gia VN.

Trận chiến ác liệt kéo dài 5 ngày, phía chính phủ có 26 tử thương và 52 người bị thương.

– Quân Bình Xuyên rút vào Rừng Sác : Rừng Sác là khu rừng ngập mặn thuộc quận Cần Giờ, nằm giữa các cửa sông Đồng Nai, Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, diện tích 75,740 hecta.

Rút quân vào Rừng Sát là một sai lầm của Bảy Viễn, vì nước uống rất hiếm, bị bao vây lâu ngày, số nước ngọt dự trữ bị cạn kiệt, gây khó khăn cho mấy ngàn binh lính. Mặt khác, súng cối từ tàu hải quân quốc gia, cứ liên tục nã vào mà không có công sự vững chắc, nên bộ binh bị thương rất nhiều. Người Pháp viện trợ cho Bảy Viễn một chiếc xà lan mới toanh, trang bị đài phát thanh, do Trịnh Khánh Vàng phụ trách, chửi rủa ông Diệm ra rả suốt ngày.

Chính phủ mở Chiến Dịch Hoàng Diệu, do đại tá Dương Văn Minh chỉ huy đánh dẹp Bình Xuyên ở Rừng Sác. 6 tiểu đoàn Bình Xuyên bị bao vây, tinh thần quân lính hoang mang, suy sụp trước những trận pháo kích ác liệt của quân đội quốc gia. Yếu điểm của Bình Xuyên là vợ con binh lính chạy theo vào Rừng Sác rất đông, làm trở ngại tác chiến.

Ba tiểu đoàn : quân Dù, Cao Đài, Hòa Hảo không quen đánh giặc, ra quân lần đầu, gặp hỏa lực ác liệt nên buông súng bỏ chạy. Bảy Môn đưa thiếu tá Bay, tiểu đoàn trưởng quân Cao Đài ra hội đồng kỷ luật xét xử vì binh lính bỏ chạy gần hết.

13/- Bảy Viễn sang Pháp

Đang lúc bị bao vây ở Rừng Sác, bỗng nhận được tin của thiếu tá trưởng Phòng Nhì Pháp, Savani ra lịnh rõ rang : “Hai ông Tài và Sang hãy đưa thiếu tướng theo người của ta, cắt đường rừng ra Phú Mỹ, sẽ có xe đưa về Bà Rịa. Thế là bộ ba thoát hiểm trong gang tấc, vì quân chính phủ bao vây bắt sống toàn bộ chỉ huy Bình Xuyên.

Ba người chui vào một lô cốt bỏ hoang. Tư Sang dùng máy liên lạc với Vủng Tàu. Sáng hôm sau, một chiếc xe nhà binh Pháp đưa tất cả về Bà Rịa, từ đó, trực thăng đưa ra Vũng Tàu. Phi cơ nhà binh Pháp chở 3 tên tay sai sang Lào, rồi đến Pháp bằng Air France.

Ngày 7/11/1955, Bảy Viễn đến Paris một cách âm thầm như một du khách, vì Pháp muốn giữ bí mật về việc đã ủng hộ giáo phái chống Thủ tướng Diệm. Bảy Viễn an thân nhưng chưa an lòng, vì 3 bà vợ còn kẹt ở VN, và con trai là thiếu tá Lê Paul đang bị giam.

Tướng tá Bình Xuyên bị hốt hết, rồi sau đó đưa ra Côn Đảo, gồm Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Trịnh Khánh Vàng, Jean Baptist Nguyễn Văn Đồng. Riêng Lê Paul được tách riêng ra và bị nhốt ở bót Phú Lâm.

Vì sao Lê Paul bị nhốt riêng và không bị đày đi Côn Đảo ?

Sau nầy, ký giả Hilaire Du Berrier cho biết, trong trận đánh cuối cùng, một binh sĩ đã dùng bán súng đập vào vách làm bằng ván ép, thì từ bên trong tuôn ra những bó tiền bằng viên gạch. Ngô Đình Nhu nghĩ rằng, có thể còn những chỗ dấu tiền khác nữa, nên hạch hỏi Lê Paul và bắt làm con tin buộc Bảy Viễn phải nhả tiền ra để cứu con trai.

Bảy Viễn đã cho biết tất cả những trương mục trong các ngân hàng, nhưng ông Nhu cho rằng tiền trong ngân hàng là tiền của quốc gia, không giấu giếm gì được. Việc mà ông muốn là những chỗ chôn dấu khác. Thật ra không có kho tàng nào cả. Thế là số phận của người con 27 tuổi bị xử theo luật giang hồ. Đó là ngày 14/4/1956, cảnh sát đưa Lê Paul ra khỏi bót Phú Lâm, chạy về hướng Phú Định, đến giữa đường xô xuống bắn chết.

14/- Kết

Với Bảy Viễn, cuộc đời như một giấc mộng, từ tay không tạo ra tột đỉnh vinh quang bằng những nấc thang mánh mung, bất chánh, phi nghĩa, rồi khi tĩnh giấc, tay trắng hòan trắng tay, sống trong nghèo đói và chết âm thầm nơi đất khách quê người.

Cũng giống như nhân vật Vy Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung, thất học nhưng nhờ nhanh trí mánh khóe, gian xảo, biết nịnh bợ nên đã leo lên đến tột đỉnh vinh quang, nhưng cuối cùng cũng hoàn tay trắng, không vượt qua được số phận của những con người cùng chung cảnh ngộ.

Trúc Giang (Minnesota ngày 7/3/2012)

Nói về nhạc phẩm NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU

NGƯỜI TÌNH TRONG

“NỬA HỒN THƯƠNG ĐAU”

CỦA PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

Lời ngỏ : “Tôi là người đàn bà sống để yêu thương và viết. Trong loạt bài Người Tình Trong Tình Khúc do tôi sưu tập và viết lại không với ý nghĩa là một công việc “thóc mách” mà viết với tâm cảm chia sẻ để chúng ta cùng chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng những cuộc tình đẹp, mãi đẹp… dù phải chia lìa, hay vẫn có nhau bên đời này”.

Công chúng hiếm khi bắt gặp được tấm hình chụp chung cả đại gia đình như tấm hình chúng ta thấy trên gồm có Phạm Duy và người đàn bà người ta đồn chính sự phụ bạc của Khánh Ngọc khiến Phạm Đình Chương phỏng thơ Thanh Tâm Tuyền thành ca khúc “Nửa Hồn Thương Đau” thật xuất thần !

Trước khi chúng ta trở về quá khứ để lần lại sự thật, người viết xin nhắc lại một chút về người nghệ sĩ tài hoa này.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Khi soạn nhạc ông lấy tên thật là Phạm Đình Chương. Đi hát có tên là Hoài Bắc. Quê nội ở Hà Nội còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cha ông, sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung, trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói. Người vợ sau tức mẹ ruột Phạm Đình Chương sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út là Phạm Thị Băng Thanh, tức nữ ca sĩ Thái Thanh.

Khánh Ngọc là một ca sĩ thành danh trong làng nhạc từ những năm giữa thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960, cô là một ca sĩ được nhiều người biết với tên gọi “ngọn núi lửa”, bởi cô có bộ ngực hấp dẫn và thường quyến rũ khán giả say đắm mỗi khi cô lên hát.

Ngoài ra cô còn là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng trước cả Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Trang Thiên Kim, Kiều Chinh… Khán giả ngày hôm nay có thể không biết đến cô, nhưng trong ký ức những khán giả miền nam trước năm 1975… và nhất là những khán giả tuổi 60-70 thì Khánh Ngọc là một trong những ngôi sao thuộc thế hệ đầu tiên sáng chói trong làng điện ảnh Sài Gòn.

Từ nhỏ, lúc còn đi học cô rất thích ca nhạc, nên năm 12 tuổi đã theo học nhạc với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Minh Trang, lúc đó cặp nghệ sĩ này giữ phần ca nhạc ở Đài Phát Thanh Pháp Á và Quốc Gia. Cuộc đời nghệ thuật của cô bắt đầu từ đó. Bản nhạc đầu tiên cô trình diễn là bản “Tiếng Hát Lênh Đênh” của Từ Pháp, hát ở rạp Nam Việt, Saigon. Lúc đó trước khi trình chiếu phim luôn có những chương trình phụ diễn tân nhạc và ca sĩ Khánh Ngọc đã hát hằng tuần ở các rạp Nam Việt, Nam Quang, Văn Cầm, Đại Nam và đi lưu diễn nhiều nơi khác.

Đến năm 13, 14 tuổi ca sĩ Khánh Ngọc hát ở các Đài Phát Thanh và hát trong các chương trình đại nhạc hội ở Saigon, các tỉnh, Đà Lạt, và ra Miền Trung, Sau đó ca sĩ Khánh Ngọc gia nhập Ban Gió Nam trong đó có Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung và Hoài Bắc, rồi ra Bắc thì có Trần Văn Trạch, nhạc sĩ Võ Đức Thu và ban ca nhạc nhảy múa là Lưu Hồng, Lưu Bình.

Vào năm 1955 có phái đoàn ngoại quốc đến Saigon để tìm các diễn viên cho phim “Ánh Sáng Miền Nam”. Đạo diễn phim này là người Phi Luật Tân cũng chọn nhiều diễn viên, nhưng qua một chương trình nhạc cảnh “Được Mùa” do Ban Hợp ca Thăng Long trình diễn tại rạp Việt Long, đạo diễn Phi Luật Tân “chấm” cùng lúc là minh tinh của ba bộ phim đều thành công, Khánh Ngọc cũng được khán giả mến mộ nhiều nên cô đã ca hát mỗi tối ở các vũ trường lớn của Saigon, Chợ Lớn lúc bấy giờ. Khánh Ngọc là một vì sao sáng chói nhất của vòm trời ca nhạc điện ảnh Việt Nam.

Khánh Ngọc cũng chính là người vợ thương yêu của Phạm Đình Chương. Thời gian này nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh Khánh Ngọc ngoại tình nhưng vì tình yêu nên ông vẫn tin tưởng vợ và bỏ ngoài tai tất cả những nguồn tin “lá cải” ấy. Cho đến khi biết được sự thật không thể phủ nhận được. Vào những năm của thập kỷ 60, báo chí Sài Gòn xôn xao vụ ly dị của vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương – Khánh Ngọc. Có thể nói rằng sự tan vỡ của gia đình tiếng tăm thời bấy giờ được dư luận quy cho môt cuộc tình vụng trộm giữa ca sĩ Khánh Ngọc và “tình địch” không ai chính là nhạc sĩ Phạm Duy !

Đó là một chia tay bất ngờ, không thể oan trái hơn, giữa ông và nữ ca sĩ Khánh Ngọc.

Thảm kịch với sức chấn động và, dư chấn dội lại dài lâu từ dư luận, thân, tâm, đã dập tắt mọi tiếng cười. Khóa chặt mọi nẻo đường dẫn tới tiếng hát.

Ban “Thăng Long”’ bị chôn sống sau địa chấn.

Nhà văn Mai Thảo kể, rời bỏ đầu tiên khỏi “bản doanh” đại gia đình Thăng Long ở đường Bà Huyện Thanh Quan là Phạm Duy và Thái Hằng. Phần còn lại gồm cả “Bà mẹ Thăng Long” (thân mẫu nhạc sĩ Phạm Đình Chương), dọn về một ngôi nhà nhỏ ở đường Võ Tánh.

Đó là thời gian họ Phạm sống những ngày gần như cắt đứt mọi liên hệ xã hội. Ông chỉ tiếp xúc với một số bằng hữu thân thiết, giới hạn. Vẫn theo lời kể của nhà văn Mai Thảo, đang từ một “tay chơi” một “star,” thần tượng của giới trẻ thời đó, Phạm Đình Chương đã lột xác thành kẻ khác. Ông thay đổi hoàn toàn. Từ sự không còn một chút để ý quần áo, ăn mặc, tới sự tắt ngấm nụ cười. Ông trở thành một người không chỉ kiệm lời, đôi khi còn bẳn gắt nữa.

Thảo, tác giả tiểu thuyết “Mười đêm ngà ngọc,” một truyện dài viết về gia đình Thăng Long, nói :

“Nhiều khi cả ngày Hoài Bắc không mở miệng… Nhưng số anh em thân, vẫn lui tới, không bảo nhau, chúng tôi tôn trọng sự im lặng của Hoài Bắc. Chúng tôi tìm mọi cách, nghĩ đủ mọi chuyện chỉ với mục đích sao cho bạn vui. Bạn có thể có lại nụ cười…”

Trái với một vài bài viết cho rằng ngay sau đó, họ Phạm đã sáng tác một số ca khúc như “Nửa hồn thương đau” hay “Người đi qua đời tôi,” “Khi cuộc tình đã chết”… Như một phản ứng tức khắc với phần số.

Sự thực dư chấn của thảm kịch đã giảm thiểu mọi hoạt động của nhạc sĩ Phạm Đình Chương một thời gian khá dài. Nó như một dấu lặng (bất thường) trong âm nhạc !

Bản nhạc “Nửa hồn thương đau” viết xong vào năm 1970, tại Đêm Mầu Hồng, đường Tự Do theo yêu cầu của anh Quốc Phong, giám đốc Liên Ảnh Công Ty, để dùng cho cuốn phim Chân Trời Tím do công ty này sản xuất. Toàn bản nhạc do chính Phạm Đình Chương đặt lời. Chỉ duy nhất có hai câu cuối bài trích ở tác phẩm Lệ Đá Xanh, thơ Thanh Tâm Tuyền, nhạc Cung Tiến mà thôi.

Khi được hỏi tại sao chỉ còn hai câu chót mà “Nửa hồn thương đau” lại phải mượn nhạc Cung Tiến thì Phạm Đình Chương cho biết : “Khi tôi nhận lời viết một nhạc phim cho phim “Chân trời tím,” Quốc Phong chi ngay tiền tác quyền. Trước sự điệu nghệ của bạn, tôi đã bắt tay vào việc sáng tác. Thời gian tôi dành cho ‘Nửa hồn thương đau’ không nhiều lắm. Nhưng khi tới phần “coda” tức là lúc phải đi ra, kết thúc ca khúc, tôi loay hoay không biết phải viết sao cho hợp với nội dung bản nhạc… Nghĩ thời hạn “nộp bài” còn xa, tôi cất nó đi. Bất đồ, một buổi tối Quốc Phong ghé lại ‘Đêm mầu hồng’ đòi nợ ! Bảo, mọi chuyện đã sẵn sàng. Ê kíp quay đã ‘bấm máy’. Chỉ còn thiếu nhạc phim thôi. Quốc Phong gia hạn cho tôi, tối đa, hai ngày ! Ông biết mà, tôi làm gì được với hai ngày phù du đó ! May sao, khi ấy, trên nóc chiếc piano của tôi, lại có bài ‘Lệ đá xanh’ của Cung Tiến, phổ thơ Thanh Tâm Tuyền. Tôi thấy cái coda bài này có vẻ thích hợp với ‘Nửa hồn thương đau’, thêm nữa, cả hai đều là bạn rất thân; thế là… ‘a lê hấp’, tôi dùng ngay cai ‘coda’ đó. Và, tôi có ghi rõ là tôi ‘mượn’ của Cung Tiến…”

Nhìn lại giai đoạn “hậu địa chấn” bi kịch vùi dập đời riêng của họ Phạm, kể từ cuối thập niên (19)50 tới 1967, những người theo dõi sáng tác của ông trong giai đoạn này, hầu như không tìm thấy một ca từ nào mang tính kết án, nguyền rủa hay, thù oán… Mà trái lại.
Ngay ca khúc “Nửa hồn thương đau” được dư luận nhắc tới, bàn tán nhiều nhất và, đề quyết rằng, họ Phạm viết ca khúc này nhằm gửi tới người bạn đời đã chia tay trong quá khứ của ông thì, “đỉnh điểm” của ca từ cũng chỉ là những câu hỏi ném ngược về quá khứ. Như một tỏ-tình- với-dĩ-vãng. Một nâng-niu-vết-sẹo-định-mệnh: “Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau / ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau / hay ta còn hẹn nhau kiếp nào? / Anh ở đâu ? / Em ở đâu ?” (Lời hoàn toàn của Phạm Đình Chương.)

Từ góc độ này, có người đã kết luận, nhạc sĩ Phạm Đình Chương không chỉ lớn lao ở tài năng, mà ông còn lớn lao ở phong cách đối mặt với thảm kịch và, ăn ở với người, với đời nữa. *

Ngay với ca khúc tựa đề “Người đi qua đời tôi” thì họ Phạm cũng đã chọn câu thơ như một câu hỏi, có thể làm nao lòng người nghe là : “Em đi qua đời anh / không nhớ gì sao em ?”

Bà Khánh Ngọc giờ ra sao ?

Sau khi ly hôn và giao đứa con trai khoảng 4 tuổi lại cho nhạc sĩ Phạm Đình Chương nuôi. Năm 1961 bà Khánh Ngọc qua Mỹ học về điện ảnh. Trong một cuộc phỏng vấn được đưa lên Youtube do bà Tuyết Mai thực hiện tại Florida vào năm 2007 (**), người viết thấy bà Khánh Ngọc còn đẹp, nhất là nhìn hấp dẩn lắm, ánh mắt rất đa tình, ác liệt, miệng rộng, hơi móm nhưng duyên dáng. Bà nhắc lại những giai đoạn ca hát như ở trên. Có lẽ bà Tuyết Mai nóng ruột tò mò muốn hỏi về những chuyện riêng của “ngày xưa” nhưng ý tứ không dám sổ sàng. Riêng bà Khánh Ngọc lúc nào cũng cười, khi nhắc đến ban hợp ca Thăng Long, thái độ bà rất thản nhiên, bà cho biết, khi qua Mỹ bà gặp một du học sinh và hai người hiểu nhau rồi kết hôn. Hiện bà có 3 người con và đang sống hạnh phúc tại Losan. Bà vẫn thường xuyên đi đây đó ca hát trong những hội đoàn cộng đồng bè bạn và ao ước được về sống tại Việt Nam trong những ngày cuối đời.

Người viết chưa thấy tài liệu nào nói ông Phạm Đình Chương có gặp lại bà Khánh Ngọc lần nào không. Nhưng trong bài Tưởng mộ Phạm Đình Chương của Mai Thảo, và trong bài tưởng mộ Mai Thảo của bà Lê thị Huệ có nhắc đến bà Ý Liên, người vợ sau của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và vẽ lại hình ảnh bà như sau :

– “Hai lần tôi gặp Liên trong hai đêm tối. Một lần ở nhà Phạm Đình Chương ở ngôi nhà vùng Norwalk, khi tôi ngó thấy Ý Liên lần đầu tiên tôi nói với Mai Thảo và Phạm Đình Chương, Liên là Liên tiểu thuyết. Liên im ắng nhìn tôi và ngồi yên trong vị trí tôi đặt định cho Liên. Đêm nay tôi gặp lại Liên hai ông kia không còn. Nhưng một người đàn ông khác, ông Đặng Trần Thức quay lưng lại mời Liên ngâm một bài thơ. Đêm sâu và giọng Liên nhung êm : “Trời cuối thu rồi em ở đâu. Nằm trong mồ lạnh chắc em sầu” Tình yêu Liên rút lòng ra rũ rượi như bóng ma da đêm. Đâu đó thấy hai chiếc bóng Phạm Đình Chương và Mai Thảo in trên tường nhà Trần Diệu Hằng đêm nay !…” (***)

Chúng ta hãy nghe lại bài hát này với giọng ca Thái Thanh, để khắc khoải, buồn cho một cuộc tình không trọn vẹn, như của tôi, như của bạn, như của những người chung quanh chúng ta…

thuỵvi

Cảm ơn, và, xin phép được trích :

(*) Trang Du Tử Lê (**) Mời xem YouTube về bà Khánh Ngọc do Tuyết Mai thực hiện :

 http://www.youtube.com/watch?v=nkLjrxrrRZ0    (***) Trang Gió

NHÌN LẠI

NHỮNG ẢNH XƯA

– Nguyễn Đức Hiệp

Việt Nam có một lịch sử nhiếp ảnh và phim ảnh phong phú, có thể nói là một trong nước mà nhiếp ảnh và điện ảnh được bắt đầu áp dụng trước nhất ở Á châu. Sau khi Louis Daguerre khám phá ra kỹ thuật chụp ảnh năm 1837, thì bảy năm sau Alphonse Jules Itier đã ghé Đà Nẳng trên đường qua Trung Quốc đã chụp một đồn lính Việt Nam trên bảng đồng. Đây là bức ảnh đầu tiên chụp ở Việt Nam.

Cũng vậy sau một sự kiện lớn trong lịch sử kỹ thuật phim xuất hiện ở Pháp, khi hai anh em Lumière (Auguste và Louis) sáng chế ra máy quay phim vào năm 1895, thì chỉ một năm sau, Auguste và Louis Lumière đã gởi Gabriel Veyre đến Đông Dương và quay các phim ở vùng này (hai anh em cũng gởi người đi đến nhiều nơi khác trên thế giới).

Vì thế các phim đầu tiên thực hiện ở Việt Nam là của hai anh em Lumière. Trong các phim này thì phim đầu tiên là do Gabriel Veyre quay năm 1896 ở một làng gần Đà Nẳng có tựa đề là “Le Village de Namo – Panorama pris d’une chaise à porteurs”. Làng này chính là làng Nam Ô, sát cạnh biển gần thành phố Đà Nẳng, Gabriel Veyre đã quay cảnh các trẻ em chạy chung quanh ông lúc đang ngồi trên kiệu cầm máy quay phim vào làng (1)

Nhưng tư liệu nhiều nhất để lại là những hình ảnh do các nhà nhiếp ảnh Pháp (và sau này là các nhiếp ảnh người Việt Nam) chụp vào hậu bán thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam, Cam Bốt và Lào. Những nhà nhiếp ảnh tiên phong trong thời kỳ này là Émile Gsell, Aurélien Pestel, George Victor Planté, Gabriel Auguste Paullussen, G. Wirth, Alexandre Francis Decoly, Poujade de Ladevèze, Ludovic Crespin, Fernand Nadal, Võ An Ninh… Riêng Émile Gsell đã có chụp những bức hình xưa nhất rất quí giá về lịch sử văn hóa và nghệ thuật vào năm 1866 ở Saigon và Bắc Kỳ.

Bài này chỉ giới hạn trong sự giới thiệu sơ lược các tác giả và vài hình ảnh tiêu biểu của 3 nhà nhiếp ảnh vào đầu thế kỷ 20 : Ludovic Crespin, Fernand Nadal và Võ An Ninh. Một bài nghiên cứu tương đối đầy đủ hiện sắp hoàn thành về lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam ở Saigon và sẽ được trình bày sau.

– Ludovic Crespin, sinh năm 1873, là một trong những nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp sống ở Saigon cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ông có cơ sở thương mại tại số 136-138 rue Catinat (đưo=`ng Đồng Khở ngày nay) và có một phòng phim ở số 10 Boulevard Charner (Nguyễn Huệ) (1). Ông Crespin cũng xuất bản các sách in lại từ các ảnh, như bộ ảnh về thành phố Chợ Lớn năm 1909. Ông xuất bản bộ ảnh nổi tiếng tên là “Souvenir de Cochinchine et du Cambodge”.

Hình 1 là trích từ bộ ảnh này. Bên phải là tòa nhà Hải quan (trước đó là nhà của ông Vương Thái, Wang-Tai). Bên trái là Quai de commerce (bến Bạch Đằng ngày nay). Chính tại bến này Nguyễn Tất Thành lên tàu Amiral Latouche-Treville của hãng Chargeurs Reunis (chứ không phải tại bến Nhà Rồng là nơi đậu tàu của hãng Messageries Martitimes) (5). Trụ sở của hãng Chargeurs Reunis là ở lầu một của khách sạn Hotel de la Rotonde, số 2 rue Catinat.

Để ý xe buýt chở khách trong hình có mang biển quảng cáo “amer picon”, một một loại rượu đắng màu cam (từ võ cam) khai vị uống cùng với bia. Loại rượu này do ông Picon, người lính Pháp gốc đảo Corse sáng chế vào năm 1837 và sau này rất phổ thông trong quân đội Pháp, được cho là chữa nhiều bệnh như sốt rét, cảm cúm… Xe hơi vào Saigon nhiều bắt đầu từ năm 1910, sau khi ông hoàng Duc de Montpensier mang xe Lorraine Diétrich 24/30 HP đến Saigon trong chuyến đi vượt rừng Saigon đến Angkor (nhiều người cho rằng ông điên rồ) nhưng ông đã thành công đến được di tích văn minh Khmer, Angkor.

Trong hình 2 là đường Catinat nhìn từ bến Bạch Đằng. Khách sạn Hotel de la Rotonde ở bên phải, có trụ sở hãng tàu Chargeurs Reunis mà trước đó Nguyễn Tất Thành đến xin làm phụ bếp của tàu Amiral Latouche Treville năm 1911. Lúc này khách sạn Majestic chưa xây, trên vị trí của Taverne Alsacienne phía trái hình (ta cũng thấy ở bên trái có ‘money changer’, sạp hàng nơi đổi tiền của người Ấn mà người Pháp gọi là Malabar).

Không rõ tác giả bức ảnh này (hình 3), chỉ biết thuộc Editeur Comiel, Saigon. Collection G. Comiel, đã có xuất bản một phóng sự đầy đủ về chuyến thăm chính thức của Toàn quyền Beau ở Vân Nam, năm 1905 (1). Đây là bến xe trước tòa nhà hỏa xa, gần chợ Bến Thành. Bến xe này đi các tỉnh miền đông và tây. Để ý các xe này cũng giống như xe trong các hình chụp của Crespin.

Bức ảnh này (hình 4) là của Fernand Nadal chụp, in trong album Nadal năm 1926. Ông Fernand Nadal là người Ả Rập, sinh ở Algérie (Hussein-Dey năm 1898 ? hay El Affroun năm 1902 ?), ông đến Đông Dương trong năm đầu của thập niên 1920, ông trú ngụ và có cơ sở thương mại ở số 150 đường Catinat, Saigon.

Đường Catinat (nay là Đồng Khởi), khách sạn Continental bên phải và bên trái là tiệm thuốc tây Solirène Pharmacie (số 20 rue Catinat). Chủ nhân trước của Solirène Pharmacie là ông Lourdeau (1865), sau đó sang lại cho dược sĩ Thomas Victor Holbé và ông Renoux. Ông Holbé đặc biệt cũng là nhà thực vật, sưu tầm khảo cổ và nhân chủng học. Ông là cộng tác viên của Trường Viễn đông Bác cổ. Tính tình phóng khoáng, ông tự bỏ tiền túi đi điền dã ở nhiều nơi như Angkor, Huế, Hà Nội, Vân Nam, Java, Borneo, cao nguyên Quảng Trị (cùng với ông Cardière)…

Nhà ông ở Saigon, được bạn bè thân mật gọi là “Villa Hermosillo”, có vườn nhiệt đới đầy cây lan, cây cọ, dương sĩ… Ở đây giống như một ốc đảo giữa sa mạc là nơi tụ tập của các nhân sĩ, trí thức, những ai say mê về bất cứ khía cạnh nào về khoa học, xã hội, nhân chủng, khảo cổ, về các khía cạnh của Saigon, Nam Kỳ, hay những nơi khác có thể đến và được đón tiếp. Bộ “sưu tập Holbé” sau này được tặng cho thành phố Saigon sau khi ông mất, và được trưng bày trong nhiều phòng ở viện bảo tàng mới của Nam Kỳ, Musée de la Cochinchine (Bảo tàng Blanchard de la Brosse). Ông Holbé mất tại Saigon 18 tháng 2 năm 1927, sau đó tiệm thuốc tây nhường lại cho ông Renoux, thành nhà hàng của ông Pancazi, sau đó trở lại tiệm thuốc tây của ông Solirène (4). Cuối cùng trở thành nhà hàng café Givral (và năm 2010 thì bị phá bỏ).

Hiện nay chưa biết đích xác địa chỉ nhà “Villa Hermosillo” của ông Holbé ở Saigon. Trong niên giám Annuaire général de l’Indochine năm 1909 chỉ có ghi địa chỉ Pharmacie Holbé ở số 20-22 rue Catinat và một người tên Nguyen Van Duc ở số 83 rue Gia Long làm cho Pharmacie Holbé et Cie. (Nguyen Van Duc, pharmacie europénne, Holbé et Cie., Saigon).

Võ An Ninh – Cụ đồ viết câu đối Tết (1940) : Võ An Ninh, tên thật là Vũ An Tuyết, sinh năm 1907 tại phố Hàng Gai, Hà Nội. Ông làm phóng viên nhiếp ảnh của Sở Kiểm Lâm. Võ An Ninh đi khắp mọi miền đất nước Bắc-Trung-Nam để chụp ảnh với cái camera của Đức hiệu Zeiss Ikon (1928). Ở Hà Nội, ông có nhiều ảnh nổi tiếng gợi nhớ về Hà Nội của những ngày thanh lịch xa xưa: Trong vườn si đền Voi Phục (1942), Gió nồm (Đê sông Hồng, 1948), Nhớ xưa (1944), Bậc đá đền Voi Phục (1956), Chùa Láng (1941), Cụ đồ viết câu đối Tết (1940), Tranh Tết làng Hồ (1941), Phố Hàng Buồm (1940). Ở thành phố Saigon trong giai đoạn 1946-1950, ông có chụp nhiều ảnh trong đó có “Chợ bến thành và bến xe thổ mộ” (1949), “Cụ đồ viết câu đối Tết” (Saigon, 1950), “Lăng ông ngày tết” (1952)…

Bức ảnh này (hình 5) ông chụp ở Hà Nội năm 1940, vài năm sau khi Vũ Đình Liên sáng tác bài thơ nổi tiếng “Ông đồ già” (1936). Tác giả bài này được may mắn gặp ông trong nhiều dịp viếng thăm Saigon và được ông tặng tấm ảnh này sau khi đã đi điền dã với ông ở nhiều nơi. Võ An Ninh mất năm 2009 ở Saigon.

Chú thích :

1/- Phim này có thể xem ở http://www.youtube.com/watch?v=9dk15FlvRj4. Phim thứ nhì của anh em Lumière ở Việt Nam là “Indochine: Enfants annamites ramassant des sépèques devant la Pagode des dames (1903)”

Có thể xem ở http://www.youtube.com/watch?v=WH5NZo8Mm0M).

Bình luận và nghiên cứu chi tiết về hai phim này, có thể xem bài viết của hai giáo sư Barbara Creed và Jeanette Hoorn (University of Melbourne) trong phần tham khảo (6)

Tham khảo :

1/- Marie-Hélène Degroise, Photographes en Outre-Mer (1840-1944),

http://photographesenoutremer.blogspot.com/

2/- Nguyễn Đình Đâu, Báo Lao Động ngày 4/6/2011,

http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Tim-lai-cau-tau-noi-Bac-Ho-roi-cang-Sai-Gon/45151

3/- Nguyễn Đức Hiệp, Võ An Ninh : Nhiếp ảnh và cuộc đời,

http://www.vannghesongcuulong.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=10502http://www.vannghesongcuulong.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=10502

4/-Victor Goloubew, V.-T. Holbé, Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Année 1927, Volume 27, Numéro 27, p. 525.

5/- Chronique, Cochinchine, Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Année 1933, Volume 33, Numéro 33, p.1110-1111.

6/- Barbara Creed and Jeanette Hoorn, Memory and History: Early Film, Colonialism and the French Civilising Mission in Indochina, in “French History and Civilization”, Papers from the George Rudé Seminar Volume 4, 2011, Edited by Briony Neilson and Robert Aldrich,

http://www.h-france.net/rude/rudevoliv/CreedHoornVol4.pdf

7/- Hình ảnh một số từ http://www.flickr.com/photos/13476480@N07/collections/http://belleindochine.free.fr/Saigon1882.htm

NHẠC SĨ DƯƠNG THIỆU TƯỚC

NHỮNG MỐI TÌNH CỦA

NS DƯƠNG THIỆU TƯỚC

Nhạc phẩm : Tiếng Xưa – Nhạc sĩ : Dương Thiệu Tước – Giọng hát: Thanh Thúy

Mời Click vào đường dẫn :   

583-NNS-Tieng Xua-2011

Nhạc phẩm : Ngọc Lan – Nhạc sĩ : Dương Thiệu Tước – Giọng hát: Thái Thanh

Mời Click vào đường dẫn :

http://youtu.be/VOJD2zO8cxQ

Thưa quý bạn, đầu tháng 06/2010, bạn bè ở nước ngoài có mail cho Đoàn Dự một bài của ông Nam Minh Bách ở Virginia, cháu gọi nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bằng bác họ. Thấy bài này có nhiều điểm đặc biệt có lẽ nhiều người chưa biết về vị nhạc sĩ tài hoa, sáng tác những bản nhạc rất hay, bản nào cũng trở thành bất hủ nhưng rất kín tiếng đó, Đoàn Dự bèn nghiên cứu thêm rồi mạn phép ông Nam Minh Bách thuật lại để quý bạn rõ. Sau đây là lời kể của tác giả Nam Minh Bách với sự đóng góp bổ sung của Đoàn Dự. Xin mời quý bạn thưởng thức.

Dương Thiệu Tước & mối tình thời đi học

Năm 2000, tôi về thăm Hà Nội, bạn bè cho đọc một bài báo trên tờ Công An, bài này đã từng làm dư luận dân chúng Hà Nội lúc đó xôn xao. Nhân dịp năm thứ 5 kỷ niệm ngày vĩnh biệt nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, ông được ca ngợi là một nNhạc sĩ đã có công hòa hợp cổ nhạc và tân nhạc, đặt nền móng cho tân nhạc Việt Nam phát triển mạnh mẽ cho tới ngày nay. Và trong mấy dòng tiểu sử, bài báo đó có nhắc tới mối tình đầu của chàng trai “con cụ Thương tá Hưng Yên Dương Tự Nhu” và nàng con gái con cụ Tổng đốc Hưng Yên Vi Văn Định.

Chàng và nàng yêu nhau thắm thiết và hai gia đình đã trao đổi trầu cau, nhưng tình duyên của họ dang dở vì có một chàng trai bằng cấp đầy mình nhào vô, loại được anh chàng nhạc sĩ tài hoa nhưng lúc đó chưa nổi tiếng này ra khỏi vòng chiến. Theo báo Công An, con người có diễm phúc chiếm được nàng là chàng bác sĩ tây học từ Paris trở về, họ Hồ Đắc, con của một vị đại thần lớn nhất triều đình Huế.

Sau khi tờ báo tung ra, gia đình Hồ Đắc phản ứng ngay lập tức. Bà Vi Kim Phú – tức Hồ Đắc Di phu nhân, con gái của vị cựu Tổng đốc Hưng Yên và Thái Bình Vi Văn Định ngày trước – nói rằng nhà báo nói láo ăn tiền, bà không hề có chuyện nhận trầu cau, sêu tết hay đính hôn với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước bao giờ cả.

Báo Công An im lặng không trả lời, vì họ Hồ Đắc cả thời Pháp thuộc lẫn thời này vẫn rất mạnh, chính tờ báo này đã từng có bài đề cao Quận công Hồ Đắc Trung – Thượng thư bộ Lễ, “quốc trượng” (bố vợ) vua Khải Định, thân sinh của Bác sĩ Hồ Đắc Di – là nhà chí sĩ ái quốc. Bác sĩ Hồ Đắc Di trước đây là người sáng lập đồng thời cũng là Khoa trưởng Đại Y khoa Hà Nội. Còn “lệnh ái” Hồ Thể Lan – con gái của Bác sĩ Hồ Đắc Di – năm 2000 đang là Vụ trưởng Vụ Báo chí và cũng là vợ của Vũ Khoan, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng chính phủ Hà Nội.

Nhưng tờ báo không xin lỗi, cũng không đính chính, bởi vì họ chỉ lầm có… một nửa. Tổng đốc Vi Văn Định có hai người con gái. Người em là Vi Kim Phú, lấy Bác sĩ Hồ Đắc Di năm 1935 khi mới 17 tuổi. Người chị là Vi Kim Ngọc, lấy Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Tiến sĩ Văn chương Đại học Sorbonne, từ Pháp về, cưới vào năm 1936, khi nàng 20 tuổi. Báo Công An lầm ở chỗ người trả lại trầu cau cho nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là bà chị, vợ ông Nguyễn Văn Huyên, chứ không phải bà em, vợ Bác sĩ Hồ Đắc Di.

Cả hai chị em đều đẹp lộng lẫy như nhau và đều nổi tiếng Bắc Hà về nhan sắc cũng như về gia thế. Đến năm 1944, một người cháu nội của ông Vi Văn Định tên Vi Nguyệt Hồ, 15 tuổi, được gả cho Bác sĩ Tôn Thất Tùng (sau này làm Thứ trưởng Bộ Y tế Việt Minh). Năm 1946, khi bà Vi Nguyệt Hồ sinh con trai đầu lòng ở vùng thượng du Bắc Việt, ông Hồ đến thăm và đặt tên là Tôn Thất Bách (sau này cũng là bác sĩ, mới mất tại Hà Nội cách đây vài năm).

Dân chúng Hà Nội không ai lạ gì ông Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Giáo dục 30 năm của chính phủ Phạm Văn Đồng. Hồi thập niên 30, họ gọi ông Nguyễn Văn Huyên và người bạn của ông tên Nguyễn Mạnh Tường là “Nghè Huyên” và “Nghè Tường”, vì hai ông đều đậu tiến sĩ bên Pháp.

Báo Công An nói lộn về người nhận trầu cau của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Bà Vi Kim Phú (bà em), phu nhân của cố Bác sĩ Hồ Đắc Di phản ứng. Thiên hạ bàn tán quá vì họ biết người trả trầu cau là bà Vi Kim Ngọc (bà chị), vợ của ông “Nghè Huyên” họ Nguyễn. Đến lượt con cháu họ Nguyễn ra tay. Chỉ con cháu thôi, bởi vì năm 2000 những người trong cuộc đã thành thiên cổ. Bà Nguyễn Kim Hạnh, con gái của ông bà Nguyễn Văn Huyên – Vi Kim Ngọc, xuất bản cuốn sách “Hồi ức về Nguyễn văn Huyên”, trong đó có trích những đoạn nhật ký của thân mẫu, tức bà Kim Ngọc :

“Cha mẹ tôi làm đám cưới với nhau vào ngày 12/4/1936. Mẹ tôi ghi lại những ngày đầu quen biết giữa cha và mẹ trong nhật ký như sau :

“Em đi chơi cùng cha mẹ vào Huế, khắp Trung Kỳ rồi Lục tỉnh Cao Mên, Thái Lan… Nhiều khách quốc tế trầm trồ khen ngợi em là giai nhân”.

“Đôi ta gặp nhau ở Huế, trong lễ hội Nam Giao. Sau đó em tiếc không từ biệt anh. Khi lên xe, cha đưa thư của anh do anh Toại trao giùm (tức bác Phan Kế Toại, chồng cô Mão là chị của cha tôi – K.Hạnh) cho em xem. Đó là thư cầu hôn giữa anh và em “.

“Sau đó bà ngoại mấy lần nhận điện từ Hà Nội gửi vào cầu hôn. Khi có thư trực tiếp của anh viết cho ông ngoại gửi lời thăm em “người đáng yêu nhất” thì em mới nhận lời cho nhà trai xuống Thái Bình cầu hôn”.

Tác giả Kim Hạnh ghi tiếp :

“Mẹ tôi kể là năm mẹ tôi 16 tuổi, ông ngoại tôi nhận lời gả mẹ tôi cho người họ Dương Thiệu. Năm 19 tuổi, khi biết điều này, mẹ tôi nhất định đòi ông tôi phải trả lại sêu tết ba năm. Vì mẹ tôi không chấp nhận cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Mẹ tôi ghét cay ghét đắng chuyện năm thê bảy thiếp trong chế độ phong kiến”.

“Năm 1977, sau khi cha tôi mất được 2 năm, mẹ tôi viết : “Ước mơ của em khi đôi tám xuân xanh là quyết chọn người tài đức mới trao thân. Nếu không gặp được nam nhi hào hùng đó thì ở một mình suốt đời. Thế mà em đã mãn nguyện”. Và trang sau, nhật ký nhắc tới Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước :

“Năm 1976, được tin của một người bạn cũ ở Đà Lạt nói rằng có gặp ông Dương Thiệu Tước và vợ của ông là bà Minh Trang lên chơi Đà Lạt”.

Đoạn này rất sơ lược, hình như vô tình nhớ tới thì ghi nhật ký vậy thôi, không có gì quan trọng. Trong cuốn “Hồi ức về Nguyễn văn Huyên”, nói về nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, tác giả Kim Hạnh ghi : “Bác Tước là cháu nội cụ Nghè Dương Khuê, chúng tôi thường gọi là bác Cả Tước, không thể ví với người đã đậu Tiến sĩ Văn chương Đại học Sorbonne, Bộ trưởng Giáo Dục 30 năm. Năm 1954, bác di cư vào trong Nam, làm chủ sự Ban Âm nhạc Đài Phát thanh Sài Gòn, cả đời sống thanh bạch và rất lương thiện”.

Rất rõ, như vậy người quen biết nhạc sĩ Dương Thiệu Tước là “bà chị” Vi Kim Ngọc, vợ ông Nguyễn Văn Huyên, chứ không phải “bà em” Vi Kim Phú, vợ của Bác sĩ Hồ Đắc Di. Bây giờ chúng ta thử xem xét về vị nhạc sĩ tác giả Đêm Tàn Bến Ngự, Ơn Nghĩa Sinh Thành…, nhất là bản Ngọc Lan được ông sáng tác với nhiều kỷ niệm. Ông thường giải thích với các ca sĩ là hai chữ Ngọc Lan viết hoa, nhưng ít người hiểu, đa số đều nghĩ rằng ông ca ngợi loài hoa ngọc lan.

Tiểu sử Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước (1915-1995) quê ở làng Vân Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là một quận của Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình Nho học truyền thống, ông là cháu nội cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, nguyên Đốc học tỉnh Nam Định, tác giả bài hát nói “Hồng Hồng Tuyết Tuyết” danh tiếng, đến nay các nghệ sĩ hát ả đào vẫn còn sử dụng. Và ông cũng là bác ruột của Nhạc sĩ Dương Thụ hiện nay.

Thuở nhỏ ông học tại Hà Nội. Trong thập niên 1930, ông gia nhập nhóm nghệ sĩ tài tử Myosotis (Hoa Lưu ly) gồm Thẩm Oánh, Lê Yên, Vũ Khánh… Dương Thiệu Tước cũng là người có sáng kiến soạn “nhạc Tây theo điệu ta”. Những nhạc phẩm đầu tay của ông thường viết bằng tiếng Pháp. Mặc dầu theo học nhạc Tây, nhưng nhạc của ông vẫn thắm đượm tinh thần dân tộc. Trong một tác phẩm viết tay, ông ngỏ ý : “Theo tôi, tân nhạc Việt Nam phải thể hiện rõ cá tính Việt Nam. Để đạt được điều này, người sáng tác phải hiểu rõ nhạc Việt qua cách học nhạc cụ cổ truyền cũng như hát được các điệu hát cổ truyền”.

Ông di cư vào Nam năm 1954. Tại Sài Gòn, ông làm chủ sự Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh Sài Gòn, đồng thời được mời làm giáo sư dạy Tây Ban Cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Sau năm 1975, nhạc của ông bị cấm và ông cũng không được dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc nữa.

Vợ chính thất cũng là vợ đầu của ông là bà Lương Thị Thuần, hiện con cái đang sống tại Đức và Hoa Kỳ. Vợ sau của ông là bà Minh Trang, một ca sĩ nổi tiếng thập niên 1950, có con riêng là ca sĩ Quỳnh Giao. Đầu thập niên 1980, ông về chung sống với bà Nguyễn Thị Nga tại quận Bình Thạnh, có một con với bà này và được bà chăm sóc chu đáo.
Ông mất ngày 01 tháng 08 năm 1995 tại Sài Gòn. Gần đây, sau thời kỳ đổi mới, nhạc của ông đã được lưu hành lại trên khắp nước Việt Nam và ông rất được ca ngợi.

Các sáng tác nổi tiếng của ông gồm : Áng Mây Chiều, Bến Xuân Xanh, Bóng Chiều Xưa, Cánh Bằng Lướt Gió, Chiều (phổ thơ Hồ Dzếnh), Đêm Tàn Bến Ngự, Kiếp Hoa, Ngọc Lan, Ôi Quê Xưa, Ơn Nghĩa Sinh Thành, Thuyền Mơ, Tiếng Xưa, Ước Hẹn Chiều Thu.

Mối tình đầu

Năm đó là đầu thập niên 1930, ở tỉnh lỵ Hưng Yên, chàng 18 tuổi và nàng 17 tuổi. Chàng là con cụ Thương tá Dương Tự Nhu, sau này lên Bố chánh (coi về hành chánh; còn tổng đốc thì trông coi toàn bộ, cả dân sinh, an ninh lẫn các quan lại trong tỉnh; Bố chánh tương đương với phó tỉnh trưởng hành chánh – ĐD), và nàng là con cụ Tổng đốc Vi Văn Định. Tư dinh hai nhà gần nhau, phía trước là một chiếc hồ rộng lớn, ngăn đôi bởi một con đường nhỏ, hai bên hồ thông nhau bằng một con lạch, có một chiếc cầu gỗ vồng cao lên bắc ngang qua, sơn màu đỏ. Quang cảnh rất tĩnh mịch, rất nên thơ, nhất là khi có ánh trăng êm dịu tỏa xuống.

Chiếc cầu đỏ trên hồ là nơi trẻ con vui chơi, câu cá khi bãi trường. Chàng học ở Hà Nội. Nàng học tại tỉnh nhà. Hai dinh thự gần nhau, mỗi lần chàng về, họ gặp nhau. Nàng đang tuổi dậy thì, cực kỳ xinh đẹp, còn chàng thì khôi ngô tuấn tú, đang học trung học, cháu nội của cụ nghè Dương Khuê, sử dụng được 7 loại nhạc cụ kể cả nhạc “Tây” lẫn nhạc “ta”, trong đó thông thạo nhất là Tây Ban Cầm (Guitare) và Hạ Uy Di Cầm (Guitare Hawaienne), lại hát rất hay, có tiếng ở Hà Nội.

Việc gì xảy ra là phải xảy ra, chàng và nàng yêu nhau thắm thiết với sự trong trắng và bồng bột của mối tình đầu. Họ Vi biết rõ cậu cả cháu nội cụ Dương Khuê này, gia đình quan Bố chánh Dương Tự Nhu bèn đem trầu cau sang đính ước.

Nhưng mối tình trong sáng đó có những đám mây đen kéo tới. Nhà gái dần dần biết Dương học Tú tài chỉ là phụ mà việc Dương ưa thích nhất là học âm nhạc tại trường Ecole Francaise de Musique en Extrême Orient tại Hà Nội, cùng với Nguyễn Xuân Khoát. Khoát chuyên về Dương cầm, còn Dương chuyên về Tây Ban Cầm. Đồng thời, bà mẹ vợ tương lai với trực giác nhạy cảm của phụ nữ cũng nhận ra nguy cơ cho con gái : anh chàng này đẹp trai quá, đàn hát lại hay, sẽ là một tai họa cho con mình.
Trong khi đó, trường Ecole Francaise de Musique en Extrême Orient sau ba năm hoạt động phải đóng cửa vì kinh tế khủng hoảng, Dương lâm vào cảnh dang dở.

Phía bên nhà gái có những bà đã bắt đầu chê bai : “Cậu Tước mặt mày sáng rỡ, đẹp trai như Phan An Tống Ngọc mà chỉ có bằng Diplôme, thi rớt Tú tài”. Rồi họ Vi chuyển từ Hưng Yên sang làm Tổng đốc Thái Bình. Xa mặt cách lòng, đúng lúc ấy thì “nghè Huyên” có sự gặp gỡ. Và rồi, ngày 14-/02/1936 nàng lên xe hoa về nhà chồng. Lúc ấy nàng 20 tuổi còn chàng 21 tuổi.

Chàng buồn, bèn đem tâm hồn mình viết thành bản nhạc “Ngọc Lan” bất hủ (xin nhắc lại : nàng tên Vi Kim Ngọc) : Ngọc Lan, dòng suối tơ vương, mắt thu hồ dịu ánh vàng. Ngọc Lan, nhành liễu nghiêng nghiêng, tà mấy cánh phong, nắng thơm ngoài song… Nhưng mãi tới năm 1953 bản nhạc này mới được xuất bản và phổ biến rộng rãi với giọng ca Thái Thanh tại Hà Nội.

Nói tóm lại, chàng sinh năm 1915, yêu nhau năm 1934, tan vỡ năm 1935, nhìn người yêu đi lấy chồng năm 1936, lúc ấy chàng 21 tuổi. Còn nàng, sinh năm 1916 (kém chàng 1 tuổi), yêu nhau năm 17 tuổi và lấy chồng năm 20 tuổi.

Suy cho cùng, hôn nhân có lẽ là do duyên số nhưng một người tính tình nghệ sĩ, không coi trọng bằng cấp như Dương Thiệu Tước, giả sử nếu lọt vào làm rể gia đình ông Vi Văn Định thì cũng khó sống. Ông là người Nùng, con trai của quan Tri châu Vi Văn Lý. Đối với người dân tộc thiểu số, quan Tri châu cũng giống như “ông vua” ở vùng thượng du. Họ kính trọng ngài và tuân lời ngài răm rắp chứ không cần biết Toàn quyền Pháp hay triều đình Huế là ai cả. Ngoài ra, chức vị này có tính cha truyền con nối. Khi Vi Văn Lý qua đời, Vi Văn Định nối nghiệp và được Pháp chuẩn y cho giữ chức Tri châu.

Nhưng Vi là “ông trời con”, dân chúng người Tày, người Nùng cả vùng Cao Bằng, Lạng Sơn vừa sợ vừa coi ngài như ông thần. Ngài lập rất nhiều chiến công cho… thực dân Pháp: dẹp giặc nổi loạn, đánh giết nghĩa quân yêu nước chống Pháp… Công lao và uy tín mỗi ngày một lớn, người Pháp sợ nếu cứ để như thế, e rằng ngài sẽ xưng hùng xưng bá, chiếm riêng cho mình vùng thượng du hiểm trở để lập triều đình theo kiểu Nùng Trí Cao ngày trước thì rất nguy hiểm.

Bởi vậy họ “điệu hổ ly sơn”, thăng chức cho ngài, đưa ngài về làm tổng đốc các tỉnh đồng bằng để ngăn ngừa hậu hoạ. Bây giờ chúng ta thử xem sau khi về dưới xuôi, ngài vẫn “hét ra lửa” như thế nào và lý do tại sao sau năm 1945, các ông Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu v.v… đều bị giết chết, còn ngài, một tên đại Việt gian, đại tàn ác như thế mà vẫn tồn tại mãi đến năm 1975, khi ngài 96 tuổi (ngài sinh năm 1879, mất cùng năm với ông con rể lớn Nguyễn Văn Huyên).

Cụ Đặng Hữu Thụ, nguyên Chánh thẩm Tòa Thượng thẩm Sài Gòn trước năm 1975, hiện định cư tại Pháp, quê ở làng Hành Thiện, Nam Định, kể : “Vi Văn Định là người Nùng, làm Tổng đốc Hưng Yên, sau đó làm Tổng đốc Thái Bình, nổi tiếng hống hách nên dân chúng rất sợ. Vi bắt quan lại dưới quyền phải cởi giày để ở ngoài văn phòng mỗi khi vào ra mắt Vi, phạt chánh tổng, lý trưởng phải ăn bèo tây (bèo lục bình) khi Vi ra lệnh vớt mà sai thời hạn hoặc vớt không hết, vẫn còn sót lại ở các sông ngòi (bèo lục bình phát triển rất mạnh, nhất là về mùa hè, phải vớt kẻo tắc sông ngòi – ĐD).

Vi cấm các hàng rong từ 12:30 đến 14:30 là giờ của Vi ngủ trưa, không được rao hàng khi quẩy gánh hàng qua dinh Vi. Có một anh hàng phở gánh, quên mất luật lệ, khi đi qua dinh, rao lớn, bị Vi ra lệnh cho lính bắt vào, nện cho một trận rồi bắt phải gánh gánh phở đi vòng chung quanh sân dinh, rao từ trưa đến tối mới cho về.

Vi có người con trai là Vi Văn Lê, đang học Luật tại Pháp, là bạn của ông Nguyễn Thế Truyền, đảng viên đảng Việt Nam Độc Lập do ông Tạ Thu Thâu lãnh đạo. Năm 1929, Lê gia nhập đảng Việt Nam Độc Lập. Cây đắng mà sinh trái ngọt chăng ?

Khi Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu hưu trí, Vi Văn Định đổi qua thay thế, trong dân gian truyền tụng câu : “Hoàng trùng đi, Vi trùng lại. Suy đi xét lại, Vi hại hơn Hoàng”. Hoàng trùng ám chỉ Hoàng Trọng Phu, Vi trùng ám chỉ Vi Văn Định. Hoàng Trọng Phu là con trai Tổng đốc Hoàng Cao Khải và là con rể Tổng đốc Đỗ Hữu Phương ở Nam Kỳ, toàn những tay sai khét tiếng của Pháp cả, nhưng “Vi hại hơn Hoàng” thì chúng ta đủ hiểu Tổng đốc Vi Văn Định đáng sợ như thế nào”.

Khi việc cướp chính quyền xảy ra năm 1945, Vi bị Việt Minh bắt nhưng chẳng những không giết mà còn cho tạm lánh trong một biệt thự ở Hà Nội, đãi ngộ như thượng khách chỉ vì Vi là một “ông vua Nùng” mà Việt Minh lúc đó còn cần đến. Cũng có người cho rằng sở dĩ Việt Minh tha chết cho Vi, vì Vi là nhạc phụ của hai nhà đại khoa bảng đang phục vụ trong chính phủ là Bác sĩ Hồ Đắc Di (được Toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux phong giáo sư) và Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên. Ngoài ra, Vi còn là ông nội của tiểu thư Vi Nguyệt Hồ, vợ của Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Y tế VM nữa. Bác sĩ Tôn Thất Tùng tốt nghiệp Y khoa tại Pháp, rất nổi tiếng về môn giải phẫu tim và gan.

Những mối tình sau

Bà Lương Thị Thuần : Sau khi mối tình đầu tan vỡ, Dương rất buồn. Rồi phụ thân Dương Tự Nhu cũng mất sớm, gia đình có bề sa sút. Sau khi hết tang và Dương cũng tạm có công ăn việc làm tại Hà Nội (điều khiển ban nhạc trong các tiệm khiêu vũ và cộng tác với Đài Pháp Á cùng Nguyễn Xuân Khoát), gia đình bèn cưới cho ông người vợ chính thức là bà Lương Thị Thuần, nhưng người ta ít biết về bà này và cũng không hiểu nguyên nhân của sự ly tán. Hiện nay các con của bà đang sống tại Đức và Hoa Kỳ.

Bà Minh Trang : Tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Trâm, sinh năm 1921 (kém Dương 6 tuổi) tại Huế. Thân phụ bà là ông Nguyễn Hy, một công chức cao cấp trong Bộ Lại (tương đương với Bộ Nội vụ) của triều đình Huế. Thân mẫu bà là con gái của công chúa Mỹ Lương (thường gọi là Bà Chúa Nhứt), chị cả của Vua Thành Thái.

Trong nhà Bà Chúa Nhứt có riêng một ban nhạc (loại nhạc cung đình) tới mấy chục người và một ban ca Huế. Vì thân phụ thường phải đi công cán xa trong thời gian lâu, có khi đem cả gia đình đi theo nên cô bé Ngọc Trâm thường ở nhà bà ngoại. Nhờ vậy, ảnh hưởng của ca nhạc đã thấm sâu vào tâm hồn cô bé từ thời thơ ấu. Mới bảy tuổi cô đã thuộc lòng những đoạn ca Huế trong các tiết điệu Nam Ai, Nam Bình, Kim Tiền, Lưu Thủy…

Tuy thân phụ là người Quảng Ngãi nhưng thân mẫu là người Huế, dòng dõi hoàng tộc, nên “tính chất Huế ” và “giọng nói Huế” hoàn toàn chiếm hữu con người cô bé Ngọc Trâm. (Chúng ta nên nhớ Dương Thiệu Tước là người Bắc nhưng nhiều tác phẩm của ông, như bản Đêm Tàn Bến Ngự chẳng hạn, mang đặc tính chất Huế thì đủ hiểu ông yêu “người vợ Huế” đó như thế nào).

Thuở nhỏ, Ngọc Trâm theo học tại trường Jeanne d’ Arc, một trường dòng danh tiếng ở Huế và bắt đầu làm quen với những phím đàn dương cầm do các sơ dạy đồng thời cũng học hát nữa. Lên trung học, cô theo gia đình ra Hà Nội. Vào khoảng năm 1941, thân phụ trở về nhậm chức tại Bộ Lại ở Huế, cô lại theo về Huế và học tại Lycée Khải Định (sau này, từ thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, đổi tên là trường Quốc học Huế).

Tại Lycée Khải Định, cô gặp Giáo sư Ưng Quả – thầy dạy môn Văn chương Việt Nam và cũng là người dạy tiếng Việt cho Thái tử Bảo Long. Hai thầy trò tâm đầu ý hợp. Mặc dầu Giáo sư Ưng Quả là người góa vợ, đã có hai con trai, nhưng hai gia đình rất môn đăng hộ đối : cha của Giáo sư Ưng Quả là con trai của Tuy Lý Vương; cha của Ngọc Trâm là con của Diên Lộc Quận công. Hai bên tiến tới hôn nhân và sinh được hai người con, một trai, một gái. Người con trai tên Bửu Minh (vai chú của Vua Bảo Đại) người con gái tên Công tằng Tôn nữ Đoan Trang (tức ca sĩ Quỳnh Giao sau này). Bà Ngọc Trâm dùng tên hai người con ghép lại làm tên trong ngành âm nhạc của mình.

Năm 1951, Giáo sư Ưng Quả đang làm Giám đốc Nha Học chánh Trung Phần thì đột nhiên bị bệnh, qua đời. Bà Minh Trang đem hai con vào Sài Gòn sinh sống và kiếm được chân vừa làm xướng ngôn viên vừa làm biên tập viên tin tức (tiếng Pháp) trong Đài Pháp Á (France-Asie).

Sự việc sau đó bà Minh Trang trở thành ca sĩ hết sức tình cờ. Trong một chương trình ca nhạc hằng tuần của Nhạc sĩ Đức Quỳnh trên Đài Pháp Á, ca sĩ chính không đến hát được, bắt buộc Minh Trang phải “hát giùm” thế chỗ. Bà chỉ thuộc có mỗi một bản nhạc Đêm Đông của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương là tiếng Việt, còn ngoài ra là thuộc tiếng Pháp (bà rất giỏi tiếng Pháp). Mà chương trình của Đức Quỳnh lại là tiếng Việt, vậy là Minh Trang bèn hát “Đêm Đông”.

Nhờ giọng ca thiên phú và cái “duyên” bất ngờ nói trên, dần dần Minh Trang trở thành một ca sĩ chính của Đài Pháp Á (sau này là Đài Phát Thanh Quốc Gia tức Đài Sài Gòn). Từ đấy, Minh Trang còn đi hát phụ diễn trên các sân khấu, một dạng trình diễn rất thịnh hành hồi đó tại các rạp chiếu bóng trước khi cuốn phim chính được trình chiếu.

Tiếng hát của Minh Trang bay ra Hà Nội và được các nhạc sĩ đương thời ngoài đó, như Vũ Thành, Hoàng Giác, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Thiện Tơ v.v… yêu mến và họ thường gởi tác phẩm vào cho Minh Trang hát mặc dầu chưa biết mặt.

Trong một lần Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí tổ chức hội chợ tại Hà Nội, ông mời Minh Trang và nhiều nghệ sĩ khác ra hát với phần nhạc đệm của Ban Việt Nhạc. Người đứng đầu Ban Việt Nhạc là Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, người mà Minh Trang rất ngưỡng mộ. Họ gặp nhau và tiến tới hôn nhân.

Hai nghệ sĩ Minh Trang – Dương Thiệu Tước kết hôn năm 1951 tại Sài Gòn nhưng vẫn sống cách xa nhau cho đến năm 1954, khi ông Dương Thiệu Tước di cư vào Nam, họ sống với nhau. Họ sinh được năm người con, một trai, bốn gái : Dương Hồng Phong, Vân Quỳnh, Vân Khanh, Vân Hòa, Vân Dung. Cũng như Bửu Minh và Đoan Trang, các con của ông bà đều được theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc với sự dìu dắt của Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.

Sau này, Quỳnh Giao và Vân Quỳnh trở thành ca sĩ. Dương Hồng Phong tốt nghiệp vĩ cầm tại trường Quốc Gia Âm Nhạc còn, Bửu Minh thì du học tại Pháp năm 1961 và nay giữ địa vị pianiste chính trong ban đại hòa tấu “Staatsphihlarmonic Rheinland Plalz” của Đức.

Sau biến cố tháng 04/1975, hai cô con gái lớn đã lập gia đình thì theo gia đình nhà chồng ra đi. Ông bà Dương Thiệu Tước và hai cô nhỏ bị kẹt ở lại. Ngoài ra, người con trai duy nhất của ông bà là ông Dương Hồng Phong – được gọi đi sĩ quan Thủ Đức năm 1972 – bị bắt tại mặt trận và cũng đang kẹt trong trại Chu Lai. Cùng lúc đó, với số lương 64 đồng/tháng nhưng Giáo sư Dương Thiệu Tước dạy Guitare classique trong trường Âm nhạc Kịch nghệ (trường QGAN ở đường Nguyễn Du, mới đổi tên) cũng không được dạy nữa, nhạc thì bị cấm, cuộc sống vô cùng khó khăn.

Năm 1978, Thiếu úy Dương Hồng Phong được ra tù, bà nghĩ đến việc phải rời đất nước. Tới chuyến, Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước lúc ấy đang ốm nên không thể đi. Tiền bạc có bao nhiêu thì đặt cọc hết rồi, ông đành hy sinh ở lại. Bà Minh Trang cùng ba con đến Thái Lan vào cuối năm 1979, sau đó được định cư tại Virginia. Hiện nay, bà và các con ở Quận Cam, riêng Bửu Minh ở Đức và Dương Hồng Phong ở New York.

Năm nay, bà đã 89 tuổi (bà sinh năm 1921) nhưng tương đối vẫn còn khỏe mạnh. Bà nói : “Tôi thích nghe nhạc và theo dõi tin tức thời sự, không cần nấu nướng gì cả, vì các con ở gần “có bát canh cần nó cũng đem cho”.

Năm 1995, khi ông mất, bà và mấy người con – kể cả ca sĩ Quỳnh Giao – có về dự đám tang.

Bà Nguyễn Thị Nga : Năm 1982, trong một cuộc nói chuyện về âm nhạc ở Sài Gòn, ông Dương Thiệu Tước gặp lại bà Nguyễn Thị Nga, một học viên cũ tại trường QGAN ngày trước, người vẫn hâm mộ và thầm yêu “thầy”. Nay bà Nga đã có một cơ sở buôn bán rất tốt về các sản phẩm âm nhạc nhưng vẫn còn độc thân. Ông về sống với bà và có với nhau được một con trai.

Nhạc sĩ Dương Thiệu Tước mất ngày 01 tháng 08 năm 1995, tại Sài Gòn, thọ 80 tuổi. Các tác phẩm của ông vẫn còn tồn tại và sẽ mãi mãi bất hủ với thời gian, trong đó có bản Ngọc Lan.

Huỳnh Văn Yên post (theo bài Đoàn Dự)