BOM NỔ TRONG LÀNG SHOWBIZ

Logo vannghe

NS Ng Anh 9

NGUYỄN ÁNH 9 “MỔ XẺ”

Đàm Vĩnh Hưng, Hồ Ngọc Hà

Với sự am hiểu sâu sắc, nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 không ngần ngại ‘mổ xẻ’ các gương mặt đình đám nhất làng nhạc Việt như  Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm, Hà Hồ.

– Có thâm niên 60 năm trong nghề, ông đánh giá thế nào về thị trường âm nhạc Việt Nam hiện nay ?

Việt Nam hiện tại chỉ có giải trí, không có nghệ thuật. Bây giờ, nhạc để xem nhiều hơn là để nghe. Người ta làm giải trí kiếm tiền, coi qua rồi bỏ chứ hiếm người tâm huyết làm nghệ thuật. Điều này khiến tôi buồn lắm vì con đường nghệ thuật của mình không có những người chung chí hướng để làm tốt vai trò nghệ sỹ.

– So với thế hệ trước như ông, giới ca nhạc sỹ Việt hiện nay có gì khác biệt đáng nói ?

Hồi xưa, người nhạc sỹ viết ca khúc từ những cảm xúc thật của họ, họ viết ra để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cho mọi người chứ họ không viết nhạc để bán. 9 Ca si 3Còn bây giờ, nhạc sỹ viết nhạc theo yêu cầu đơn đặt hàng nên âm nhạc không có hồn, không có cảm xúc thật của người sáng tác.

Ca sỹ bây giờ đa số chỉ chú trọng ăn mặc, make-up cho đẹp và lên sân khấu hát thì sau lưng có một đám múa. Nhưng ít chú trọng đến xúc cảm âm nhạc, không để tâm hồn vào bài hát.

Hồi xưa, có những giọng ca còn để tiếng đến bây giờ như Lệ Thu, Thanh Thúy, Thái Thanh… nhưng bây giờ những ca sỹ hát giọng tốt đếm trên đầu ngón tay, đã vậy lại bị vướng vào kỹ thuật thanh nhạc. Tôi nói có lẽ sẽ đụng chạm đến những người học thanh nhạc. Người ca sỹ học thanh nhạc hát phải phát âm cho tròn chữ, và cố gắng đưa giọng mình cho tròn trịa, giọng ngân cao vút… nhưng quá mải lo kỹ thuật nên hát không có cảm xúc !

Giọng Hồ Ngọc Hà yếu lắm…

– Những ca sỹ được phong hàng diva như Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh, Trần Thu Hà có bị vướng vào kỹ thuật thanh nhạc ?

Thanh Lam, Mỹ Linh giọng hát rất đẹp, cái gì cũng tốt nhưng đều bị vướng kỹ thuật thanh nhạc nên nhiều lúc nhạc cảm không có, tâm hồn bài hát không có. Hồng Nhung hát tốt hơn Mỹ Linh, Mỹ Linh tốt hơn Thanh Lam.

9 Ca si 1Đơn cử, nghe Thanh Lam hát bài Cô đơn của tôi, tôi buồn lắm ! Nó không ra cái cô đơn,không có hồn dù giọng đẹp thiệt ! Thanh Lam hát những bài sâu lắng nhiều khi đóng kịch nhiều hơn là hát.

Mà đóng kịch phải như người diễn viên, người ta nhập hồn vào vai diễn đó, ví dụ Kim Cương trong Lá sầu riêng, cô là nhân vật cô gái đau khổ tên Tâm chứ không phải là nghệ sỹ Kim Cương, phải quên Kim Cương đi ! Ca sỹ cũng phải hát ‘nhập vai’ như vậy mới ra ca sỹ.

Trần Thu Hà thì khôn hơn, biết cách lợi dụng kỹ thuật để áp dụng. Nhưng mấy người được như Trần Thu Hà ? Người nào cũng phô trương, tôi phải hát giọng cao tới nốt đó tôi mới là ca sỹ, còn hát chưa tới thì chưa phải là ca sỹ. Cái đó là sai lầm tai hại vô cùng và không ai chấp nhận.

– Hai nữ ca sỹ đang nổi tiếng nhất trên thị trường hiện nay là Mỹ Tâm và Hồ Ngọc Hà, ông đánh giá tài năng của họ ra sao ?

Mỹ Tâm chỉ hát nhạc Pop bình thường thôi, nhưng được cái là sáng sân khấu, xử lý bài hát chính xác. Mỹ Tâm cũng có những ca khúc hát không tới, gặp bài nào hát tới mới hay, như Cây đàn sinh viên, Ước gì…

Mỹ Tâm hát chỉ hợp với tuổi trẻ. Về tính nghệ thuật thì Hồng Nhung, Trần Thu Hà hát xong có để lại ấn tượng, còn Mỹ Tâm chỉ nghe vui mắt, vui tai, nghe qua xong rồi thì thôi, không để lại ấn tượng gì hết.

Tuan NgocMỹ Tâm được cái là may mắn rơi vào đúng thời điểm không có ai cạnh tranh, từ đó nổi tiếng và khi nổi tiếng rồi thì rất khôn khéo đầu tư vào hát, múa, sắc đẹp để giữ vị trí.

Hồ Ngọc Hà hát chỉ nghe chơi thôi ! Giọng Hồ Ngọc Hà yếu lắm, khều khào không à! Hồ Ngọc Hà đẹp, có vóc dáng sân khấu, chịu khó múa… cái gì cũng đẹp nhưng giọng hát thì lại không được.

Khi diễn tả nội tâm, Hồ Ngọc Hà diễn kịch tính nhưng đóng kịch chứ không thật. Ca sỹ hát phải biến mình thành nhân vật trong ca khúc mới hiểu nỗi đau làm sao. Không lẽ, ngoài đời mình buồn là phải hét, gào thét ? Đâu phải vậy !

 Với các giọng ca nam đang nổi tiếng như Bằng Kiều, Đàm Vĩnh Hưng, Quang Dũng… ông đánh giá thế nào ?

Bằng Kiều cũng giọng tốt như Trần Thu Hà nhưng sau này khoe giọng quá, cố hát lên cao vút để không ai bắt chước được. Thành ra, Bằng Kiều hát bài Buồn ơi chào mi của tôi khiến khán giả ở dưới sững sờ luôn ! Tính lại thì hiệu quả sân khấu có nhưng tôi mở băng ra nghe thì phải nghe Tuấn Ngọc hay Xuân Phú, Trọng Bắc hát.

Quang Dũng hát được vài bài của Trịnh Công Sơn chứ không phải là tất cả. Còn Đàm Vĩnh Hưng chỉ được bề nổi vậy thôi, tôi không cho là ca sỹ đúng nghĩa. Tôi chỉ cho Đàm Vĩnh Hưng là một người hát. Đàm Vĩnh Hưng cố hát nhạc xưa, nhạc vàng mà hát có ra đâu !

9 Ca si 2Đàm Vĩnh Hưng hát bài Ai đưa em về của tôi, tôi bảo ‘con đừng hát bài của bố nữa, tội nghiệp bố lắm’. Tôi không thích, tôi nói thẳng luôn. Đàm Vĩnh Hưng nói ‘nhưng con thích hát nhạc bố…’, tôi nói ‘nhưng con không nên hát nhạc của bố thì hay hơn’.

Thật ra, giọng Đàm Vĩnh Hưng nửa Nam nửa Bắc, cách thức hát cũng không có và lối hát cũng vậy. Hồi xưa, Đàm Vĩnh Hưng mà đi hát thì chỉ xứng là ca sỹ loại C hát lót chứ không được vào hạng ca sỹ chính của phòng trà đâu!

– Ngoài danh ca Tuấn Ngọc thì những giọng ca nào khiến ông hài lòng nhất ?

Giọng nữ thì tôi thích Ngọc Anh, Hồng Nhung, Ánh Tuyết, Trần Thu Hà… Nguyên Thảo nếu tiếp tục hát như ngày xưa thì rất hay. Ngày xưa, Nguyên Thảo hát cho thỏa đam mê còn sau này, bị gò bó vào kỹ thuật như Mỹ Linh để khoe giọng và vô tình giết chết tình cảm.

Vừa rồi làm đĩa than của tôi có 2 bài Nguyên Thảo hát. Cách đây 6 năm, Nguyên Thảo hát Buồn ơi chào mi xuất thần luôn, nhưng giờ Nguyên Thảo để tâm đến kỹ thuật nhiều nên tình cảm không còn, so ra khác hẳn.

Giọng nam thì ngoài Tuấn Ngọc còn có Trọng Bắc, Lê Hiếu… Tuấn Hiệp lúc trước hát tốt, tôi thích nhưng giờ chạy theo hát nhạc vàng bị mất chất.

– Nhưng rõ ràng trên thị trường, những giọng ca này không phải nổi tiếng nhất, được khán giả ưu ái nhất. Theo ông vì sao có nghịch lý này ?

Tr ca si 1Nhiều ca sỹ hát hay nhưng chưa nổi được, tại vì bây giờ còn phụ thuộc vào công nghệ lăng xê. Khán giả cũng bị ảnh hưởng bởi phim ảnh Hàn Quốc nhiều quá, 10 cái clip của Hàn Quốc thì 11 cái có nhảy rồi! Cái đó gọi là âm nhạc giải trí, nghe qua rồi bỏ, khác xa với nghệ thuật.

Tôi thấy giới trẻ bây giờ nghe nhạc vô tội vạ, nghe theo phong trào, chạy theo lai căng ngoại quốc nhiều quá nên không còn bản chất.

Mong có nhiều nghệ sỹ ‘tử tế’ và người nghe ‘tử tế’

– Với những đánh giá này, phải chăng gu thưởng thức âm nhạc bây giờ của khán giả quá khác với ông, bởi đơn cử, Đàm Vĩnh Hưng đang được phong là ‘ông hoàng nhạc Việt’ ?

Không phải ! Nếu đem so sánh Tuấn Ngọc với Đàm Vĩnh Hưng, người ta vẫn thích nghe Tuấn Ngọc hát nhiều hơn, đúng không ?

Nghe Tuấn Ngọc hát thấy nó khác liền, hát ra là cảm xúc đến với người nghe chứ không phải gắng gượng. Tại vì Tuấn Ngọc đã sống trong bài hát đó, khi hát Tuấn Ngọc để tâm trạng vào bài hát, nói lên tâm trạng của nhiều người. Ví dụ khi mình bị người yêu bỏ, nghe Tuấn Ngọc hát Buồn ơi chào mi, nghe nó đã lắm!

Tuấn Ngọc vẫn là giọng ca số một dù tuổi tác, thời gian làm cho giọng của Tuấn Ngọc không còn được đẹp như ngày xưa nữa, nhưng cái xúc cảm vẫn là Tuấn Ngọc và xúc cảm càng ngày càng sâu hơn.

 Vậy theo ông, thị trường nhạc Việt sẽ đi về đâu ?

Đây là vấn đề lớn, cả một thế hệ chứ không phải đơn giản, ăn thua là cách giáo dục của gia đình với con em làm sao. Nếu trong một gia đình chỉ có tối ngày đi kiếm tiền thì tinh thần nghệ thuật của họ chết rồi, bị tiền bạc chi phối hết.

Ng Anh 9-2Thành ra, họ cũng không chăm sóc con cái, cứ cho tiền là xong. Họ cũng ỷ lại tiền, đưa con vào trường này trường kia, mặc con muốn làm gì thì làm.

Theo tôi, thị trường nhạc Việt vẫn đang nằm yên. Rồi từ từ, nhạc thị trường sẽ rớt dần và tới một giai đoạn nào đó, nghệ thuật sẽ lên ngôi. Nhạc thị trường tự động phát sinh rồi sẽ tự động chết bởi những gì không hay sẽ không tồn tại. Tôi tin tưởng như vậy. Đời tôi không thấy nhưng đời con, đời cháu của tôi sẽ thấy điều này.

– Sau 60 năm cống hiến cho nghệ thuật, điều ông mong muốn nhất là gì ?

Tôi chỉ mong muốn duy nhất là có nhiều nghệ sỹ tử tế và người nghe nhạc tử tế. Tất cả những gì cứ để thử lửa đi, đốt cách mấy thì vàng cũng vẫn là vàng. Mình hãnh diện là người Việt Nam không thua ai hết !

– Xin cảm ơn ông ! (theo VTC)

Tr cao boi gia 1LỜI BÀN CỦA CAO BỒI GIÀ :

Trước 40 năm, Cao Bồi Già từng có tên trong giới phê bình tân nhạc – điện ảnh miền Nam thời bấy giờ. Còn nay nhà nước cho rằng Cao Bồi Già không có “biên chế” để viết và lách trong chế độ XHCN này, nên đành phong bút.

Nay đọc xong bài phỏng vấn nhạc sĩ “3 Không” Nguyễn Ánh 9, thì trong bụng mửng thầm, vì trong làng ký giả còn có người không làm bồi bút cho những cô cậu ca sĩ dị hợm, ví như DL trên một nhật báo nọ… cứ hể tên ca sị Mít tơ Khỉ Gió đau bụng đi cầu cũng lên báo thông tin cho các fans  của tên Mít tờ chia sẻ cái hơi hám kinh khủng đó ! (không biết BBT tờ báo có biết điều này không ?)

Đó là khen người viết trên VTC và cả nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 trong bài phỏng vấn nói trên. Còn Cao Bồi Già chỉ có thể nói thêm :

Tho cao 21/- Ngày anh thợ cạo tập tênh nhảy vào làng ca hát, thì nhạc sĩ 3T có nói trong một bàn tiệc rằng : “thằng này hỏi tôi, muốn thành danh phải trình bày những ca khúc nào ?” tôi nói (NS3T) “Em chọn mấy bài Slow, Boston rồi luyến láy giọng như kiểu Chế Linh thì ăn tiền, hiện giờ mới mở cửa các sân khấu, em sẽ thành sao”.

Quả đúng như lời nhạc sĩ 3T, tên ca sĩ này hát sến “đéo chịu được”. Sến đến nỗi nó vô trại giam thăm mẹ ruột ở tù vì tội tham ô, không dám nhận mẹ con, sợ “vấy bẩn” cái tên Mít tờ của mình !

2/- Còn cô ca sĩ ở xứ “chó ngáp phải ruồi” (sau 1975 vài năm, danh từ ám chỉ một tỉnh nằm phía Bắc cầu Bến Hải) sau khi hiện tượng Karaoke du nhập vào Việt Nam, đêm ngày tập dượt qua micro rồi đi thi hát ở hội làng, hội tỉnh rồi ra thành phố tranh tài, Tr ca si 2vài  năm sau được cậu ấm xứ Hà thành ấp, nhưng bà già biết “con ca sĩ” này “nổ” chỉ nhằm vào gia tài khi tuyên bố… có thai (giả) với cậu ấm, nên kịp bị tống về… rừng.

Nơi rừng cao, số cô ca sĩ này được gặp may, lại vớ tiếp anh công tử phố núi, sống đến có con (hổng hiểu con ai ?) đến nay, nhưng bà mẹ chồng vẫn còn nghi ngờ tính chân thật của cô nàng, nên luôn lắc đầu, không cho con trai làm giấy kết hôn. Để xem chuyện hậu của mối tình trên phố núi này ra sao.

Cao Bồi Già

Logo nhan vat 1

9 Son Nam 1SƠN NAM

NHÀ VĂN MIỆT VƯỜN

Thuở sinh thời, nhà văn Sơn  Nam  được người đọc gán cho nhiều cai tên nghe rất lạ : Ông Già Đi BộÔng Già Nam BộÔng Già Ba Tri hoặc Nhà Nam Bộ HọcPho Tự Điển Sống Về Miền  Nam … Tuy nhiên, theo tôi, danh hiệu Nhà văn Miệt Vườn là ý nghĩa hơn cả.

Xưa kia người ta đã dùng danh từ Miệt Vườn để chỉ Nam kỳ Lục tỉnh từ thời nhà Nguyễn, tức là khoảng từ năm 1832 (cải cách hành chính của vua Minh Mạng) tới năm 1862 (khi Pháp chiếm 3 tỉnh Miền Đông) và năm 1867 (khi Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền Tây).

Năm 1832, Vua Minh Mạng đã đổi các Trấn thành Tỉnh, đặt ra Nam Kỳ và chia đất Nam Kỳ, vốn trước là Tổng trấn Gia Định, thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay được gọi tắt là Lục tỉnh. Đó là các tỉnh :

(1) Phiên An, năm 1836 đổi thành Gia Định (tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn); (2) Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa); (3) Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông; (4) Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long); (5) An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc); (6) Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây.

Nhà Nguyễn đặt tên Lục tỉnh dựa theo 6 từ cuối của một câu thơ cổ :

Khoái mã gia biên vĩnh định an hà

(Phóng ngựa ra roi giữ yên non nước).

Do đó, các tỉnh có tên : Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Tiên. (Theo Nguyễn Quang Thắng trong Trịnh Hoài Đức, một trong Gia Định tam gia, Nam Bộ xưa và nay, NXB TP. HCM, 2005, tr.147).

Ngay từ ban đầu thành lập Lục tỉnh, thành phố Sài Gòn trực thuộc tỉnh Gia Định. Trải qua năm tháng, hai tỉnh Biên Hòa và Gia Định tách khỏi nhóm Lục tỉnh, thuật ngữ Lục tỉnh thật sự chỉ còn ‘Tứ tỉnh’ nằm trong khu vục Đồng bằng sông Cửu Long, được gọi chung là Miền Tây hoặc Miệt Vườn.  Hãy nghe chính Sơn  Nam  viết về Miệt Vườn:

9 Son Nam 2Trước năm 1945 và có lẽ trước năm 1960, người địa phương không gọi ‘Đồng bằng sông Cửu Long’ mà gọi là Miệt Vườn, với câu hát khá phổ biến:

Mẹ mong gả thiếp về vườn,

Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh…

Đọc những tác phẩm của Nhà văn Miệt vườn Sơn  Nam  ta có dịp làm quen với rất nhiều địa danh miền  Nam. Những tên bắt đầu bằng Cái có đến hơn một chục nơi như Cái Bè, Cái Bé, Cái Côn, Cái Hươu, Cái Mơn, Cái Nai, Cái Nước, Cái Răng, Cái Sắn, Cái Thia, Cái Vồn, Cái Vừng… Những địa danh bắt đầu bằng Giồng có Giồng Ông Tố, Giồng Tháp, Giồng Tượng, Giồng Xe;  có Gò Bầu, Gò Găng, Gò Quao, Gò Tre, Gò Xoài; Hòn thì gồm Hòn Chông, Hòn Đất; Vàm có Vàm Cỏ, Vàm Láng, Vàm Nao, Vàm Rầy, Vàm Thuận, Vàm Trư; còn Xẻo thì có những tên ngộ nghĩnh như Xẻo Bần, Xẻo Lá, Xẻo Nước, Xẻo Rô…

Miệt vườn còn có những cái tên ‘sặc mùi’ Nam bộ, mang âm hưởng Cao Miên, như Cà Bây Ngọp, Chắc Cà Đao, Chắc Băng, Láng Thé, Lấp Vò, Man Thít, Mo So, Soài Rạp, Tà Lơn, Thốt Nốt và hàng loạt những địa danh ‘bí hiểm’ như Tắt Ổ Cu, Tắt Ăn Chè, Tắt Quanh Queo hay Trà Ết, Trà Lồng, Trà Niền… Đọc Sơn Nam ta có dịp khám phá những địa danh vừa lạ lẫm, vừa mộc mạc, tưởng chừng như lạc vào một thế giới khác. Hãy nghe Sơn Nam giải thích về cái tên Cà Bây Ngọp trong Tình nghĩa giáo khoa thư :

Xứ Cà Bây Ngọp, nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu “len” tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp, trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn… Bởi vậy dân tình bệnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học…”

Qua câu chuyện về xứ Cà Bây Ngọp, ta có dịp biết đến từ “len” trâu, tên một truyện ngắn của Sơn  Nam  đã được dựng thành phim Mùa len trâu bởi đạo diễn trẻ Nghiêm Minh. Ông giải thích : “Len ở đây có gốc tiếng Khơme, là tháo ra, cởi ra. “Len Krabey” nghĩa là tháo cho trâu chạy ra. Hồi xưa trâu nhiều, mà người thương trâu như bạn, giăng mùng cho trâu ngủ để khỏi bị muỗi chích, mùa nước nổi phải dắt trâu lên núi tránh nước”.

9 Son Nam 3Chủ nhân đất miệt vườn gồm ba dân tộc : người Việt, người Hoa và người Khơme. Qua các tác phẩm của Sơn  Nam  ta được làm quen với những lễ hội như đua ghe ngo, lễ cúng trăng, ngày bổ tróc của người Khơme. TrongHồi ức Sơn  Nam , tác giả kể lại :

“…Khi vào trường làng, tôi học chung với vài cậu bé Việt lai Hoa, Hoa lai Khơme. Học trò không mấy đứa có khai sinh, tên nghe ngộ nghĩnh như thằng Tứng, thằng Khưng, thằng Xa Ðơn. Lắm đứa ở trần mặc quần cụt vào lớp, thỉnh thoảng lén ra ngoài sân rồi trở về nhà…

…Nhưng sôi động nhất là sự hiện diện của người Hoa, phần lớn là Triều Châu, họ mua bán sỉ lẻ, đặc biệt là tổ chức sòng bạc ngày đêm, gần như là công khai. Thanh niên phần đông là lai tạp, chiều chiều đến học võ và trình diễn nào võ Khơme, võ Việt Nam (?), võ Triều Châu, võ Lào, võ Xiêm (nhất là dịp lễ hội ở chùa Phật người Khơme)”.

Người Khơme xuất hiện trong tác phẩm của Sơn Nam với nhiều tình cảm ưu ái. Bút hiệu Sơn Nam của ông cũng gắn với họ một kỷ niệm. Sơn Nam nói, ông là người Kinh, cha mẹ đặt tên là Phạm Minh Tài, (tên trong giấy khai sinh là Phạm Minh Tày, giải thích cái tên này, ông bảo do làng xã ghi lộn chữ “i” thành chữ “y”), sinh ở An Biên, tỉnh Rạch Giá, nay là tỉnh Kiên Giang. Lúc còn nhỏ mẹ ông không đủ sữa cho ông bú, nên ở xóm có một bà mẹ Khơme tốt bụng, đã cho ông bú ‘ké’. Sau này, lớn lên viết văn, để nhớ ơn bà, ông lấy bút hiệu khởi đầu bằng chữ Sơn (biểu thị một họ lớn, 9 Son Nam 4trong một số họ phổ biến của người Khơme) còn chữ Nam là ở miền Nam. Bây giờ, nếu ai hiểu bút danh của ông là “một đỉnh núi cao ở miền Nam ”, thì theo tôi, cũng rất phù hợp.

Trong Hồi ký Sơn  Nam ông đã tự thuật :

Tôi chào đời vào năm 1926 ở vùng U Minh Hạ, thuộc khu vực rừng tràm trầm thủy ven vịnh Xiêm La mà Pháp khoanh vùng để bảo quản và quản lý khá chặt chẽ, tuy nhiên người dân địa phưong có thể đốn cây tươi để bán lẻ tẻ hoặc dùng trong gia đình. Ðây là khu vực thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, với con rạch Thứ Sáu, hệ thống rạch mà Gia Ðịnh Thành Thông Chí đời Gia Long đã mô tả. Hơn chục con rạch ngắn, cong queo, bắt nguồn từ giữa rừng chảy ra biển, từ Ðông sang Tây, chẳng dính dấp gì đến con sông Hậu Giang. Mùa mưa, nước tràn vùng trũng, chịu ảnh hưởng hải triều, 24 giờ có hai lần lớn ròng, vì vậy, nước dưới rạch như mãi lưu thông.

… Lớn lên, đâu khoảng tôi 6 tuổi, cha tôi là con út trong gia đình bèn rời bỏ quê hương đi khẩn đất, lên phía Bắc, ven vịnh  Thái Lan, cách thị xã Rạch Giá chừng 15 kilômét phía Hà Tiên (nay gọi là vùng ven khu Tứ Giác). Bấy giờ con kinh Rạch Giá-Hà Tiên vừa đào xong nhưng chưa được sử dụng vì bên bờ thưa thớt dân cư, nước phèn mặn. Dọc theo mé biển nhiều giồng cát cao ráo đã có người Khơme định cư, co cụm trên cao, ven giồng là đất thấp, úng lụt. Thêm vài ngọn đồi thơ mộng, dính vào đất liền, gọi là vùng Hòn Chông, Ba Hòn với hai cột đá cao, nằm nghiêng một chiều, gọi hòn Phụ Tử rồi lên Hà Tiên gặp nhiều hòn đá vôi (xi măng Hà Tiên). Ăn đến biên giới là những thắng cảnh như Tô Châu, Đông Hồ, Thạch Ðộng, gần xa ngoài biển là hàng chục đảo lớn nhỏ, khi trời quang mây tạnh, nhìn thấy dạng đảo Phú Quốc khá cao và dài. Không khí u buồn nhưng chưa quá ảm đạm. Còn đâu thời Mạc Thiên Tứ với Chiêu Anh Các !”.

Người đọc những tác phẩm của Sơn  Nam  cảm thấy thích thú qua ‘ngôn ngữ kể chuyện’ và qua những đối thoại của các nhân vật ‘miệt vườn’. Ngôn ngữ miền  Nam  này bao gồm cả ngữ âm, ngữ pháp lẫn từ vựng. Cũng phải nói thêm, không phải chỉ mình Sơn  Nam  mới có loại ngôn ngữ đó. Đọc Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Lê Ngọc Trụ, Vương Hồng Sển, Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Bình Nguyên Lộc… người ta thấy ngay nét đặc trưng của miền Nam thời tiền chiến nhưng phải đợi đến thời của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và sau này là Nguyễn Ngọc Tư người đọc mới cảm nhận hết được cái mộc mạc, chân chất của những người uống nước sông Cửu Long.

Sơn  Nam  bắt đầu nổi danh trên văn đàn với tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, xuất bản tại Sài Gòn năm 1962. Ngoài truyện ngắn, ông còn thành công với những công trình biên khảo như Lịch sử khẩn hoang miền NamVăn minh miệt vườn Gia Ðịnh xưaBến Nghé xưa… Nhà văn Sơn Nam  tâm sự :

 9 Son Nam 5Lịch sử  Nam  bộ Việt  Nam  là lịch sử của công cuộc khẩn hoang trường kỳ và tự lực. Ý thức khẩn hoang mở đất ăn sâu vào máu thịt tôi. Ðời ông nội rồi đời cha tôi lo khẩn hoang, mở đất. Nên những trang viết của tôi dành cho việc khẩn hoang mở đất và thế là viết về khẩn hoang trở thành sở trường của tôi. Hơn nữa, đây cũng là đề tài mà người dân Nam bộ rất quan tâm, bởi trong ký ức của những người Sài Gòn cũ, người Nam bộ cũ, vẫn còn lưu giữ nhiều ấn tượng trong việc vật lộn với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên trong những ngày đầu mở đất, mở nước.

Nam bộ nói chung, Sài Gòn nói riêng nào phải là ‘địa đàng’. Xưa kia, nước Phù Nam với trình độ cao đã sa lầy và bị tiêu diệt tại đây. Người Khơme bản địa sống co cụm trên những giồng cao ráo, làm ruộng thâm canh, không thích triển khai diện tích vào nơi đầm lầy đầy rắn, cọp và bệnh sốt rét. Người Hoa vẫn giữ tập quán thâm canh, ở đất cao, làm rẫy rau cải, khoai lang, không xông xáo ‘phá sơn lâm, đâm hà bá’ như dân Việt.

Dân ta đã định cư ở nơi đất thấp, nước phèn, đốn củi, phá rừng. Ở rạch Thị Nghè, ăn sâu vào phía Bà Chiểu (Cầu Bông ngày nay) dân miền Trung vào, sống với nghề chài lưới: bán cá để mua gạo, mua trầu cau từ nơi khác sản xuất. Cảng Sài Gòn lần hồi thành hình, dần dần đem lại phồn vinh cho một vùng đất trù phú và lý tưởng. Vùng đất Nam bộ, vùng đất Sài Gòn – Gia Định ngày nay. Công ơn của tổ tiên thật là to lớn”.

Ông còn bước sang ‘âm nhạc miệt vườn’ hay còn gọi là ‘Đờn ca tài tử’ vốn gắn bó với người miệt vườn từ bao thế hệ. Sơn Nam khảo cứu về cội nguồn của vọng cổ như sau : “Bản Dạ cổ hoài lang xuất hiện và phát triển hàng đôi chục năm mới tạm định hình. Thoạt tiên, người chưa hội nhập với khung cảnh đặc thù của đồng bằng Nam Bộ thấy như lạ tai, ngoại lai, nhưng lần hồi nhiều người nhìn nhận nó. Có lẽ hơi hướm đầu tiên của nó là bản Hành Vân ngắn gọn, từ Huế đưa vào một khu vực có cổ nhạc thịnh hành ở Long An. Rồi nhạc sĩ Cao Văn Lầu gặp hoàn cảnh buồn bực của gia đình, vì nghèo túng phải tha phương xuống tận mũi Cà Mau, với tay nghề, với tâm hồn mở rộng, ông hội nhập dễ dàng với người Hoa (triều Châu) đang chiếm tỷ lệ đáng kể tại Bạc Liêu. Nhờ học thêm nhạc lễ với ông Nhạc Khị (Khởi), ông hoà đàn cùng bạn bè, hành nghề nhạc lễ để mưu sinh. Nhớ đến người vợ mà cha mẹ không hài lòng vì không sinh con nối dõi, ông đau khổ vô cùng thử soạn ra bản Dạ cổ hoài lang để giải sầu”.

9 Son Nam 6Nhà văn Miệt vườn Sơn  Nam  qua đời lúc 13g chiều ngày 13/8/2008 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, thọ 83 tuổi. Vợ của nhà văn, bà Đào Thị Phán, hiện sống cùng vợ chồng ông Trần Văn Nghị – bà Đào Thúy Hằng (con gái cả của nhà văn Sơn  Nam ) tại một vùng quê ở Mỹ Tho.

Tháng 8/2011, gia đình ông xin rút tên Sơn  Nam  khỏi Giải thưởng Nhà nước với lý do “Sinh thời ông cụ không màng giải thưởng, danh vọng, chỉ muốn viết để kiếm sống và để đi vào lòng người đọc”.

Thay mặt gia đình, ông Trần Văn Nghị, con rể của nhà văn Sơn  Nam , cho biết : “Trước khi qua đời năm 2008, ông cụ cũng nghe phong thanh chuyện giải thưởng nhưng ông gạt đi. Ông cụ thường nói, người viết văn sống trong lòng người đọc là chính và ông viết cũng để kiếm sống, không mong được giải thưởng gìGiờ đây ông cụ đã mất, gia đình chúng tôi không muốn đưa tên ông ra bình xét giải thưởng mà chỉ muốn cho người quá cố được yên nghỉ. Cả má tôi và vợ chồng tôi đều nhất trí như vậy”.

Quế Phượng post

VÌ SAO HOA HẬU HÀNH NGHỀ… LÀM ĐỈ

Logo vannghe

9 Hoa hau 1THỦ THUẬT VÀO NGHỀ

LÀM ĐỈ

CỦA HOA HẬU

Không nhằm mục đích “thăng hạng” trong showbiz, một số bóng hồng muốn có giải “Hoa hậu” bằng mọi cách chỉ để phục vụ “toan tính riêng”.

Đầu tháng 5/2012, làng mẫu Hà Thành được dịp xôn xao về việc người mẫu Hồng Hà (1990) bị lực lượng chức năng bắt quả tang khi đang bán dâm tại một địa điểm trên đường Láng (Hà Nội) với giá 2.000 USD/lần. Tiếp theo đó là hàng loạt cái tên khác của làng mẫu Việt trong đường dây mại dâm cao cấp của Hoa hậu Mỹ Xuân bị bắt, điều này vén màn bí mật về những thủ thuật bước vào nghề của những chân dài.

Bắt đầu bằng việc mua “danh”

Chưa bao giờ, làng mẫu lại có nhiều sân chơi như hiện nay. Bên cạnh những cuộc thi truyền thống như Hoa hậu Việt Nam, Siêu mẫu Việt Nam, Hoa hậu qua ảnh… có nhiều cuộc thi “ao làng” (có nghĩa từ những tỉnh nhỏ) cũng đã nở rộ như Hoa hậu Nam Mekong, Người Đẹp Xứ Dừa, Hoa Khôi Duyên Dáng Miệt Vườn, Hoa Khôi Đồng Bằng Sông Cửu Long… , từ đó kéo theo rất nhiều danh xưng hoa hậu, hoa khôi ra đời.

 ‘Chỉ cần bỏ ra từ 20.000 đến 30.000 đô thì sẽ có ngay một danh hiệu trong các cuộc sắc đẹp cấp tỉnh và cấp nghành’ Anh QT quản lý người mẫu chia sẻ. Vì vậy đây là môi trường thuận lợi cho những cô nàng đam mê danh vọng tìm cho mình một chỗ đứng trong showbiz.

9 Hoa hau 3Ngoài mục đích tìm kiếm ánh hào quang sân khấu, thì việc tìm cho mình một danh hiệu sẽ giúp các chân dài nâng ‘giá’ trong những lần đi khách. ‘Thay vì chỉ vài triệu cho mỗi lần gặp mặt, khi em có giải và mang danh hiệu hoa khôi thì giá cũng tăng lên ít nhất là 2000 đô/lần. Bởi vì, những người lắm tiền thường thích bạn gái mình là người nổi tiếng’ Một người mẫu tại Sài Gòn chia sẻ. Vì vậy, một quy luật bất thành văn, muốn kiếm được nhiều tiền thì những chân dài phải tìm cho mình một danh hiệu với bất kỳ giá nào. Thông thường, để có được số tiền lớn chung chi cho những đơn vị tổ chức thì các người đẹp sẽ tìm đến người tình đại gia như một cứu cánh.

Đơn cử như trường hợp của Mỹ Xuân, cũng phải tìm cho mình một danh hiệu từ cuộc thi Hoa hậu Nam Mekong và từ đây cô lao chân vào con đường đầy cám dỗ khi cầm đầu đường dây bán dâm cao cấp. Chính cô cũng thừa nhận ‘Khi còn là người mẫu nghiệp dư,  chụp ảnh cho một số tạp chí và bán dâm với giá vài triệu đồng. Sau đó, khi đoạt giải Hoa hậu Mê Kông, mỗi lần đi khách hoặc đại gia nào muốn “vui vẻ” với cô thì phải bỏ ra cả ngàn đô

9 Hoa hau 2Khéo léo khoe thân ?

Khi đã có danh hiệu lận lưng, bước tiếp theo của những người đẹp là tìm cách khoe thân trên báo để được các đại gia chú ý. Không cần xuất hiện quá nhiều tại các sự kiện cũng như không tham gia các hoạt động biểu diễn nghệ thuật… thay vào đó, những người đẹp sẽ chăm chỉ chụp hình nội y hoặc bikini, những trang phục có thể khoe thân một cách triệt để nhằm phô bày ‘vốn’ tự có với những ai có nhu cầu. (Hiện nay cái cô vú trái quýt mới đóng vai bà mẹ nhỏ mà đã tạo scandal là có người kêu giá 20.000 đô/dù mà chưa chịu đi khách ??? Thế rồi lại tạo fans lên các trang mạng phô trương từ lời ăn tiếng nói cho đến hình ảnh rẻ tiền thuộc dạng album gái gọi, hay nhà cửa đi thuê đi mượn để chụp ảnh nhằm gây sự chú ý)

Tuy nhiên, mục đích đó sẽ khó thực hiện nếu không được mọi người chú ý. Vì vậy, những người đẹp sẽ tìm mọi cách để đăng tải những hình “mát mẻ” trên các phương tiện truyền thông để khi gặp khách hàng sẽ giới thiệu “em nổi tiếng lắm, xuất hiện thường xuyên trên báo… gặp em không phải dễ dàng đâu.”

Minh chứng như Hoa Hậu Mỹ Xuân, hoa Khôi TP, hot girl Jenny Phương… những chân dài góp mặt trong đường dây bán dâm của Mỹ Xuân thường xuyên dội những quả bơm ‘sex’ vào truyền thông.

Khi hình ảnh của tôi được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, rất nhiều đại gia tìm đến tôi, có người còn tặng tôi cả một chiếc ôtô để thuận tiện cho việc đi lại’ một cô người mẫu giấu tên chia sẻ

Lo hang 1

Ngoài việc nâng giá trị hơn cho mỗi lần đi khách, khi nổi tiếng những chân dài hành nghề mại dâm cũng tậu cho bản thân cơ ngơi khá khang trang như nhà riêng, ô tô, cửa hàng… Với những điều kiện hấp dẫn như thế, nhiều người đẹp đã không kìm chế đươc cám dỗ dần sa chân vào con đường tưởng chừng như rất “dễ ăn” này.

Hành nghề….

Như một thông lệ, khi đã rơi vào thời điểm “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” các người đẹp sẽ chính thức lao vào con đường kiếm tiền bằng vốn tự có. Lúc đầu, họ sẽ đầu quân vào các đường dây để dễ dàng tìm khách hàng đại gia nhưng số tiền kiếm được sẽ phải chia phần trăm với các tú bà. Vì vậy, khi đã có được những mối quan hệ thì đa số người đẹp sẽ tách ra hoạt động độc lập, cách làm việc này khó bị phát hiện hơn so với hoạt động theo đường dây.

Ngoc Trinh 3

Thông thường, mỗi lần đi khách các chân dài sẽ bỏ túi từ 2000 đến 30.000 đô tùy vào thời gian và yêu cầu của khách hàng. Theo một nguồn tin giấu tên chia sẻ “Điển hình như trường hợp của người mẫu TN, mỗi lần đi khách theo dạng ‘tàu nhanh’ thì giá thấp nhất cũng phải là 2000 đô với địa điểm do cô này lựa chọn”

Ngoc Trinh 2

Tuy nhiên, sau khi đường dây bán dâm của Hoa hậu Mỹ Xuân bị phát hiện, các chân dài hành nghề một cách cẩn thận hơn. Thay vì, hoạt động trong nước, những người đẹp sẽ chuyển hướng sang nước ngoài dưới dạng đi du lịch cùng người yêu. Hình thức hoạt động này vừa an toàn nhưng thu nhập cũng cao hơn rất nhiều, mỗi lần đi du lịch trá hình với các đại gia, những người đẹp sẽ bỏ túi từ 5 đến 10.000 đô.

9 Hoa hau 4Tuy nhiên, tất cả đều có cái giá phải trả, không ít trường hợp người đẹp phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” khi bị khách hàng trả không đúng với số tiền đã thỏa thuận. Tệ hại hơn là bị người thân, công chúng phát hiện.

Việc các danh hiệu “ao làng” liên tiếp bị ném đá dường như đã không còn nhiều ý nghĩa bởi xét cho cùng việc “phấn đấu” đạt các danh hiệu nói trên rốt cuộc chỉ để các người đẹp “phục vụ” cho những toan tính cá nhân (dù bất chợt vô tình hay có chủ ý). Như thế, không những danh xưng Hoa hậu hiện nay bị lạm dụng đến mức rẻ tiền mà hơn hết việc băng hoại đạo đức bởi những người đẹp “làm rầu nồi canh” này mới là điều gây nhức nhối trong showbiz. (theo Mốt & Cuộc sống)

Logo thoi su

9 That nghiep 3THẤT NGHIỆP

Mọi năm đề thi khó nên thí sinh đậu đại học không nhiều, các trường đại học tư ế vì không đủ sinh viên vào học. Do đó, năm nay Bộ Giáo dục ra đề thi dễ, mà theo dư luận, nhằm giúp các trường tư vớt hết thí sinh rớt từ trường công xuống.

Trường tư kêu trời vì lập ra như nấm mà không có người học thì lỗ lã, làm sao đóng “hụi” cho ngành giáo dục nổi. Ngôi trường xây to như tòa lâu đài mà chỉ có vài chục sinh viên thì cả thầy lẫn trò đâu còn khí thế dạy và học nữa.

Đề thi đã dễ mà số lượng thí sinh vùng sâu, vùng cao, vùng khó khăn nộp đơn để ưu tiên được tuyển thẳng và được cộng thêm điểm ngày càng nhiều. Thế là điểm chuẩn để lọt cổng đại học cũng tăng đến chóng mặt. Các ngành học tưởng chừng “bèo dạt mây trôi” như Tâm lý học, Xã hội học, Đông phương học… cũng tăng thêm từ hai đến ba điểm so với năm trước. Có môn tăng năm điểm đến nỗi thí sinh trường Y Hà nội làm bài được 27 điểm tức là mỗi môn 9 điểm mà vẫn không đậu nổi. Nhà trường cũng thương nhưng thất bại trong việc đề nghị vớt số thí sinh này.

Ai cũng mê bằng cấp, tranh nhau học hành, thi cử gian khổ, tốn kém để rồi tốt nghiệp ra trường, cầm cái bằng rồi cũng không biết dùng vào việc gì vì đi khắp nơi xin việc không đâu nhận.

9 That nghiep 1Đa số học sinh vùng núi cao khi được hỏi “học ngành gì ?” thường trả lời “học sư phạm để làm giáo viên, để được gần nhà, để dạy dỗ các em” hoặc “học y khoa để chữa bệnh cho bản làng”… Dân thành phố tùy thời kỳ, có lúc chuộng quản trị kinh doanh, mọi người đua nhau học để ra làm giám đốc ! Khi lại ào ào đổ vào vi tính đến nỗi đi đâu cũng thấy nhà nhà học vi tính, người người học vi tính. Ngược lại, các nghành cơ khí, điện, nông lâm ngư… chẳng ai dòm ngó tới. Người Việt Nam vốn trọng nghề văn phòng hơn kỹ thuật. Có vẻ kỹ thuật gần gũi với lấm láp vất vả tay chân.

Thực tế thì nếu ra trường giáo viên cấp 3 thì trường trung học đều ở tỉnh chứ đâu có ở vùng xa xôi quá. Còn bác sĩ thì thuộc ngành học ưu tú đâu dành cho những em học lực trung bình. Vì thế, các vùng heo hút thật ra ngành giáo dục chỉ cần giáo viên mầm non, tiểu học và y tế chỉ cần các cô đỡ hộ sản hoặc y tế cộng đồng…

Cho nên ngay tỉnh Kontum là nơi dân đồng bằng cũng ngại đến làm việc, thì cũng đã thừa ra gần năm trăm sinh viên người thiểu số ra trường nhưng không kiếm được việc làm.

Nhiều sinh viên sư phạm ở miền Bắc Trung bộ như Nghệ An, Hà Tĩnh… khi ra trường phải lặn lội vào các tỉnh cực Nam như Sóc Trăng, Cà Mau… mới xin được một chân dạy học.

Để giải quyết nạn thất nghiệp, nhà nước mở trung tâm dạy nghề xuống tận các huyện. Thế nhưng đa số trường dạy nghề đểu bị bỏ hoang, không có người học. Máy móc trùm mền, lớp học nhện giăng… Những địa điểm đẹp thì tận dụng cho thuê làm nơi bán hàng, dạy ca hát, giữ xe…

Xưa kia muốn làm nghề uốn tóc thì phải xin vào tiệm học mót mấy năm. Các nghề khác cũng thế : nghề may, nghề hàn… vừa chăm chỉ giúp việc nhà không công cho chủ vừa tỉ mẩn học mấy năm mới ra nghề. Còn bây giờ các trường dạy nghề vừa công vừa tư mở ra khắp nơi. Tr ABCMỗi khóa từ vài tháng đến một năm là được cấp chứng chỉ, có thể ra hành nghề, làm chủ nếu có vốn.

Tuy nhiên, các lớp dạy nghề, nhất là vùng nông thôn, ngay cả miễn phí, cũng rất ít người theo học. Đa số thanh niên muốn kiếm tiền ngay hơn lá mất công đi học. Nam làm thợ hồ, nữ thì mua bán vặt…

Một anh nông dân giải thích : – Trường dạy chăn nuôi, trồng trọt nhưng học xong cũng khó thực hành ngay vì ai dám vay ngân hàng để thí nghiệm, mất nhà, mất đất như chơi. Thôi cứ đi làm công nhân hay buôn bán lặt vặt tuy kiếm ít nhưng chắc ăn và mỗi ngày hay mỗi tháng đều lãnh tiền ngay, không sợ rủi ro.

Vả lại, người nông dân thích nuôi ếch, trồng nấm… nhưng trường chỉ dạy cách trồng rau sạch, cây cảnh…. Mà thu hoạch rau sạch, cây cảnh xong thì biết mang bán ở đâu. Hay lớp sửa điện thoại, vi tính… học sơ sài trong một hai tháng thì tới cái máy của chính mình cũng chẳng dám mở ra sửa thử chứ đừng nói sửa máy cho khách hàng ăn tiền. Dù sao cũng có vài học viên lèo tèo vì người nghèo chịu khó đi học thì mỗi tháng cũng được lãnh vài ba trăm ngàn cầm chơi. Tính ra mỗi ngày mười ngàn đồng không bằng đi bán vé số !

Mở trường cho có để chạy theo chỉ tiêu, thành tích thì nạn thất nghiệp vẫn không thể cứu vãn. Lại thêm xu hướng học nghề của người dân lắm khi chẳng ăn nhậu gì tới nhu cầu của xã hội. Đa số thanh niên ưa thích các nghề nhàn hạ, có vẻ “sang” như vi tính, kế toán… mặc quần tây sơ mi đẹp đẽ làm việc trong phòng may lạnh hơn các ngành kỹ thuật tay chân dầu mỡ ít người màng tới. Bởi vậy các lớp công nghệ thông tin, quản trị kinh doanh… mở ra nườm nượp tới nỗi nhà nước yêu cầu không thu nhận thêm sinh viên nữa. Nhất là công nghệ thông tin, tới tốt nghiệp đại học còn thất nghiệp dài dài huống hồ các chứng chỉ 9 That nghiep 2trung cấp, sơ cấp… mà bất cứ trường nào, quận nào cũng có thể mở. Hầu hết các game thủ say sưa luyện game suốt ngày thường có ảo tưởng là mình có khiếu về ngành này.

Trong lúc đó, các nhà máy, xí nghiệp luôn kêu réo thiếu công nhân kỹ thuật. Bởi ai nấy chỉ muốn làm thầy chứ không thích làm thợ. Chẳng thà cầm tấm bằng chỉ để khoe khoang còn hơn làm thợ lành nghề. Thế nhưng mặt khác có ghi danh học các nghề kỹ thuật thì tay nghề vẫn không đủ ra nghề do máy móc thực hành ở các trường quá cũ kỹ, lạc hậu. Mà dẫu có máy lại có khi không có thầy dạy !

Nhìn đâu cũng thấy người thất nghiệp lo lắng.

Nhân công trẻ, tuổi 15 đến 24, chiếm tới 46,8% trong tổng số thất nghiệp, và phụ nữ bao giờ cũng khó tìm việc hơn nam giới. Các cơ xưởng, công ty có khuynh hướng không chọn phụ nữ vì sợ thời gian nghỉ sinh nở kéo dài. Vì thế, nhiều phụ nữ đi làm không dám mang bầu e khi hết nghỉ thai sản, đến lúc quay lại đi làm thì công việc đã có người khác thế chỗ.

Ở nông thôn, đất chật người đông trong khi ruộng đất chỉ bao nhiêu đó nên dĩ nhiên nạn thất nghiệp không tránh khỏi. Từng đoàn người rủ nhau đổ ra thành phố nhưng thành phố vốn được coi là miền đất hứa cũng không có đủ việc cho số người thất nghiệp đó. Việc làm vừa cung cấp đủ cho số người này thì cùng lúc số thất nghiệp khác ùn lên.

Người ta đành chấp nhận bất kỳ công việc nào miễn tránh được thất nghiệp. Mật ít ruồi nhiều. Bây giờ các cửa hàng không chỉ nằm mặt tiền mà đi sâu vào hẻm. Một con hẻm có tới ba tiệm uốn tóc, 9 That nghiep 4hai hàng tạp hóa và mấy chị xách giỏ “neo” di động… Không kể tới hàng rong lũ lượt kéo như đèn kéo quân.

Bởi vậy, mới có tình trạng thạc sĩ đi xuất khẩu lao động, bán hàng đa cấp, bán trà chanh vỉa hè…

Việc bán trà ngoài lề đường ấy tuy không có tiếng nhưng lại có miếng. Tính ra thu nhập có khi đến chín, mười triệu, còn hơn lương kỹ sư đi làm ba bốn năm kinh nghiệm. Còn không thì xoay ra làm bất cứ nghề nào đó để khỏi phải ngồi không. Thanh niên khỏe mạnh đi phụ hồ, sơn nước… phụ nữ bán hàng, phát tờ rơi… là những công việc bấp bênh với đồng lương không còn thể thấp hơn.

Thất nghiệp dữ quá, nên chỗ nào cũng có văn phòng giới thiệu việc làm. Các văn phòng treo bảng giới thiệu công việc tốt, mức lương cao nhằm thu hút người thất nghiệp, nhất là sinh viên, dân tỉnh mới lên cả tin và khát việc. Chỉ cần thu chi phí xin việc rồi sau đó “đem con bỏ chợ” là những văn phòng này sống khỏe. Mỗi văn phòng chỉ có cái bàn và vài ba chiếc ghế chỏng chơ tiếp khách, nên khi có đoàn thanh tra đến, họ bỏ của chạy lấy người cũng chẳng thiệt hại gì. Còn như tìm trên online có cả trăm website tìm việc và dĩ nhiên trong thế giới ảo đó, lừa gạt đầy dẫy.

Cách đây mấy tháng, một thanh niên xin việc mãi không được, đâm phẫn, đã tự thiêu trước cửa một trung tâm giới thiệu việc làm ở Biên Hòa. Một người khác, thạc sĩ bằng xuất sắc hẳn hoi phải đi khuân vác, phụ xe… Tr buon 7để lấy tiền làm lộ phí tiếp tục hành trình xin việc. Cứ ngỡ học cao dễ xin việc nhưng chẳng ngờ rong ruổi từ Bắc chí Nam mà vẫn không kiếm được nơi nào chịu nhận. Nơi thì chê bằng đại học tư, nơi chỉ nhận dân địa phương, quay đầu quy cố hương thì cố hương tuyên bố không thiếu người.

Muốn có việc ráng lo tìm mọi cách chạy chọt. Nếu không tiền vài trăm triệu, không quen biết, không rành đường dây thì quả tương lai mịt mù. Cuối cùng may ra cũng kiếm được một việc nào đó nhưng không đúng với ngành đã được đào tạo, uổng công học hành bao nhiêu năm. Thôi thì trong lúc chờ thời, giấu kín bằng cấp đi xin việc làm chứ phụ quán, chở hàng, nhân viên siêu thị… mà trưng ra tấm bằng cử nhân, thạc sĩ, chủ từ chối liền lập tức khỏi nộp đơn làm chi mất công.

Thống kê cho thấy trong năm đầu tiên, chỉ khoảng 50% sinh viên tìm được việc làm. Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp làm ăn lỗ lã, không kiếm được hợp đồng đã thu hẹp bớt hoạt động. Điều này khiến các ngành lao động phổ thông như may, hóa thực phẩm, điện tử… giảm nhân công khá nhiều. Người lao động khốn khổ, đặc biệt dân nhập cư đã phải rời quê mưu sinh phương xa, nay cụt đường kiếm ăn không còn biết xoay xở thế nào.

Tr suy nghiThế nhưng ở thành phố, các khách sạn, nhà hàng ăn chơi vẫn mở ra không ngưng suốt ngày đêm. Buổi tối nhìn đèn đuốc như sao sa ở các con đường lớn, ai biết đến dân thất nghiệp méo mặt đằng sau những phù hoa ấy.

Tính ra gần một triệu lao động Việt Nam thất nghiệp và con số này chẳng có vẻ ngừng tại đây.

Có lẽ vì vậy mà mấy cô gái thích trở thành người mẫu, diễn viên, hoa hậu, vì “mua danh” nhanh hơn “mua bằng” mà có công việc ngay sau đó. Để mua danh chỉ cần vài trăm triệu hay cho BGK hưởng cái vốn tự có là có ngay danh hiệu; khi có danh rồi thì tiếp tục bán cái vốn tự có để mau thu hồi vốn thật nhanh, không nghề nào bằng nghề người mẫu, hoa hậu. Nhưng đừng nói chỉ có giới nữ mới có thể thực hiện được điều đã nói, bây giờ người mẫu nam, vũ nam cũng kiếm tiền khá nhanh không thua các cô hoa hậu người mẫu, nhờ có “bằng cấp lái máy bay… bà già” ! !! (theo Sài Gòn Cô Nương)

Lan Hương post

NGHỆ SĨ HÙNG CƯỜNG

Logo nhan vat

Hung cuong 1NGHỆ SĨ HÙNG CƯỜNG

TỪ TÂN NHẠC SANG CẢI LƯƠNG

Hầu hết những diễn viên sân khấu cải lương muốn trở thành đào kép chánh, phải trải qua một thời gian tập luyện cực khổ công phu và phải có cơ hội may mắn. Ðó là chưa kể những yêu cầu cần thiết như ca hay, sắc vóc đẹp, diễn xuất linh động duyên dáng duyên dàng, bài bản nhịp nhàng vững vàng, ngoài ra còn nhiều chi tiết khác nữa. Tóm lại, những diễn viên có đầy đủ điều kiện yêu cầu, cũng phải tiến thân từng bước một, từ những vai diễn nhỏ, dần dần mới đảm nhận được vai chánh.

Nghệ sĩ Thanh Sang, trong bài phỏng vấn trên trang báo sân khấu, anh đã cho biết, trong kịch bản Manh áo quê nghèo của soạn giả Yên Lang, anh đã hát tất cả các vai trong tuồng, trừ vai hề, để cuối cùng mới hát được vai chánh trên sân khấu Song Kiều. Chỉ trừ một vài trường hợp đặc biệt như Út Trà Ôn, Bảy Cao, Năm Nghĩa, Minh Cảnh và một vài người nữa, nhanh chóng được đảm nhận vai chánh, nhờ trước đó đã nổi tiếng qua các dĩa hát và đài phát thanh nhờ giọng ca đặc biệt.

Về trường hợp Hùng Cường là một hiện tượng lạ lùng từ trước đến nay, anh chưa ca tròn câu vọng cổ, các bài bản khác lại càng yếu kém, vậy mà một sớm một chiều anh đã trở thành kép chánh của đoàn Ngọc Kiều. Hung cuong 2Phải xác nhận một điều dù ca sĩ đang nổi tiếng bên tân nhạc, nhưng Hùng Cường rất đam mê sân khấu cải lương, anh có một niềm tin ghê gớm, anh nghĩ rằng có thể bước sang lĩnh vực ấy một cách tốt đẹp.

Như chúng tôi đã viết ở bài trước, cơ hội ngàn vàng đã đến với Hùng Cường, dù trước mặt đầy khó khăn, nhưng anh tự tin, với thời gian, với sự kiên trì và cố gắng, anh sẽ làm tròn được vai trò của mình trên sân khấu cải lương.

Sau khi được ban giám đốc đoàn xác nhận sẽ duy trì Hùng Cường hát vai chánh trong kịch bản Tuyết phủ chiều đông, sẽ khai trương tại rạp Viễn Trường Mỹ Tho sau một tháng tập dượt. Hùng Cường đã mướn riêng một nhạc sĩ cổ nhạc, đến nhà anh tại hẻm Phát Diệm luyện tập ngày đêm, sau những giờ tập tuồng. Ngoài ra anh nhờ các diễn viên của đoàn, có tay nghề vững chắc, hướng dẫn từng bộ điệu, nhứt là nữ nghệ sĩ Ngọc Ðáng, người đóng cặp với anh, dìu dắt phối hợp theo từng tình huống vui buồn trong kịch bản.

Hung cuong 4Trong thời gian đoàn Ngọc Kiều tập tuồng ở đình Phú Thạnh, có rất nhiều ký giả kịch trường đến phỏng vấn Hùng Cường, vì họ cho đây là một hiện tượng lạ, một ca sĩ tân nhạc xâm nhập vào lĩnh vực cải lương. Sau đó trên các trang báo về sân khấu, một loạt bài viết về Hùng Cường, theo nhận định riêng của từng ký giả, nói chung đều khuyến khích anh cố gắng trên con đường nghệ thuật mới.

Ông bầu Trần Khâm Thành cho đây là một điều rất thuận lợi, báo chí phổ biến rộng rãi, gián tiếp quảng cáo cho đoàn, khêu gợi lòng hiếu kỳ của khán giả, muốn biết xem ca sĩ tân nhạc hát cải lương như thế nào.

Sau hơn một tuần lễ tập tuồng, sự tiến bộ của Hùng Cường thấy rõ, anh đã nhập vào vai diễn một cách nhanh chóng, ca vọng cổ ngọt ngào hơn, các bài bản khác cũng tương đối khá hơn trước nhiều. Ðây là một nỗ lực phi thường, một năng khiếu trời cho, Hùng Cường đã chứng minh được lời cam kết của mình trước ban giám đốc và toàn thể diễn viên, gây một niềm phấn khích cho cả đoàn Ngọc Kiều. Ngoài ra anh rất nhạy bén, biết được sở đoản sở trường của mình, anh đã phối hợp với soạn giả lồng vào kịch bản khá nhiều đoạn tân nhạc, khai thác đúng tài năng đặc biệt của anh.

Rồi ngày khai trương cũng đến, mặt tiền rạp Viễn Trường Mỹ Tho được họa sĩ Nguyễn Quyền bố trí quảng cáo rất đẹp mắt hấp dẫn. Hình của đôi nghệ sĩ Hùng Cường – Ngọc Ðáng được phóng to bên cạnh tựa tuồng khai trương Tuyết phủ chiều đông của soạn giả Bạch Yến Lan. Ngày ra mắt đoàn Ngọc Kiều, ông bầu Trần Khâm Thành đã mời một số ký giả kịch trường từ Sài Gòn xuống Mỹ Tho, đãi đằng trọng hậu, gián tiếp nhờ sự ủng hộ của báo chí, nhất là năng đỡ anh kép chánh Hùng Cường.

Hung cuong 5Ðêm khai trương bảng hiệu Ngọc Kiều, khán giả Mỹ Tho từ khắp nơi đổ về, đông đảo ngoài sức tưởng tượng trong rạp Viễn Trường bít kín từ chỗ ngồi đế chỗ đứng, bên ngoài còn dư khán giả gần nửa rạp, tạo một khung cảnh thật ồn ào náo nhiệt. Trước khi mở màn trình diễn, đoàn đã long trọng giới thiệu nghệ sĩ Hùng Cường ra chào mừng khán giả, đồng thời liên tục trình bày 3 bản tân nhạc, vậy mà từng tiếng bis bis.. vẫn vang dậy khán phòng.

Hùng Cường cám ơn và tạ lỗi cùng khán giả, trước sự ủng hộ nồng nhiệt đối với anh, nhưng vì đoàn sắp mở màn trình diễn, anh mong ước khán giả hãy tha thứ cho anh, nếu có những gì sơ sót trong đêm diễn đầu tiên, anh Hùng Cường trên sân khấu cải lương.

Tiếng vỗ tay vang dội, Hùng Cường đã khôn khéo tạo cảm tình ban đầu đối với khán giả, trước khi mở màn trình diễn kịch bản Tuyết phủ chiều đông. (theo: mecailuong – Viễn Đông nhật báo)

Hung cuong 3Nghe lại giọng ca của cố nghệ sĩ Hùng Cường

– Ông lái đò

http://youtu.be/vBzEgyWFIDs

– Cắm trại 100 phàn 100

http://youtu.be/3yXFoKaCLjw

– Liên khúc : Làm quen – Sầu đông

Hùng Cường – Mai Lệ Huyền

http://youtu.be/iT-t8ly75nM

Lê Hoàng Nguyễn post

Logo vannghe

9 Ly toet 1

ĐI TÌM GỐC GÁC

LÝ TOÉT, XÃ XỆ

– Phạm Thảo Nguyên

Họa sĩ Đông Sơn vẽ ra Lý Toét vào đầu thập niên 1930, và tờ báo đầu tiên đăng tranh Lý Toét, là Phong Hóa. Đó là hai điểm chính, về cụ Lý được dân chúng yêu chuộng đặc biệt từ gần tám chục năm nay. Tìm đọc lại báo Ngày Nay Xuân 1940, cũ, mới biết Nhất Linh có giải thích rõ ràng chi tiết về lý lịch của cụ, trong bài viết “Lịch sử Lý Toét…”, Báo Xuân Ngày Nay 1940, tóm tắt như sau : tên Lý Toét ra đời trước, rồi hình người Lý Toét mới ra đời sau.

Năm 1930, trong báo Tứ Dân, người đẻ ra “tên Lý Toét” lại là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu (chuyên viên thơ trào phúng của Tự Lực Văn Đoàn), từ “đẻ ra” sáng tác bởi Nhất Linh. Họa sĩ Đông Sơn và bà Phụ Nữ Thời Đàm đẻ ra “hình Lý Toét” sau.

Sự tích là : Đông Sơn một hôm đang xem báo Phụ Nữ, vẽ nghịch một ngườì nhà quê, thấy hay hay nên xé ra vứt vào ô kéo, 9 Nhat Linh 6chưa biết để làm gì. “Quý vị ơi ! Nhìn hình dưới đây đi ! Nó đấy, chính nó đấy, mảnh giấy nhật trình có chân dung “thủy tổ” của tất cả các Lý Toét sau này đấy !”:

Đúng là không có bà Phụ Nữ Thời Đàm thì không có Lý Toét, Nhất Linh nói chí lý thật ! Trên bức hình đó Lý Toét trẻ hơn sau này nhiều, đã được mặc áo dài khăn đóng, như mọi cụ già thời đó. Lại có đủ cả râu ria, búi tóc, cụ xách thêm đôi dép da Gia Định và cắp cái ô đen : Cá tính được định hình. Cụ thường xách dép lên, đi đất, vì ngại chóng hỏng đôi dép cũ. Cái ô cũng ít khi mở ra, cụ để dành đánh chó và đeo lên vai cho oai. Nhưng chúng cũng làm khổ cụ, vì cứ bị tụi trộm nhỏ nhít đặt vào tầm ngắm, quấy phá luôn luôn. Nào dép, nào ô, nào khăn cứ bị trộm rình!

Chắc các bạn còn nhớ : Bắt đầu từ Phong Hóa số 14, ra ngày 2 tháng 9-1932 chủ bút mới là Nguyễn Tường Tam. Cùng các em là Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long và các bạn như Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, Khái Hưng Trần Khánh Giư… mới phụ trách tờ Phong Hóa. Ngay trong số 14 này, ta bắt gặp Đông Sơn đưa hình cụ (chưa có tên) về Hà Nội trên một chuyến xe đò đông như nêm cối (H1). Các bạn có nhìn thấy cụ ngồi trên mui xe ngay trên đầu tài xế đó không ? Họa sĩ Đông Sơn thật hóm, giấu kỹ chẳng cho ai biết tin gì cả ! Nhưng lòi đuôi ! Tuy nhiên, rất có thể chính ông cũng không biết là mình đã cho cụ về thành hôm đó, 9 Ly toet 2trên chiếc xe đò đó ! (Mà này, nhỡ ông vẽ mà không biết là có cụ trốn trên mui đó thì oan cho ông nhỉ !?)

Nhất Linh còn kể là Lý Toét ra mắt độc giả ngay từ số Phong Hóa 14, nhưng còn ngơ ngác vì chưa có tên. Sau đó Đông Sơn dính thêm cái tên Lý Toét vào hình vẽ, thế là Phong Hóa có trong tay một nhân vật hý họa hoàn chỉnh. Lý Toét nom thật có duyên : (H2).

Lần đầu tiên Tứ Ly đem Lý Toét – tên (không có hình), lên báo Phong Hóa trong số 35, trong bài viết “Cuộc Chợ Phiên của Phong Hóa tổ chức”. Lúc đó, Lý Toét – hình, không tên, chỉ dùng để trang trí cho mục Vui Cười mà thôi : (H3)

Tới số 48, năm 1933, Phong Hóa có tranh “Lý Toét ra tỉnh” thứ nhất. Đó là lần đầu cụ Lý có đủ tên+hình, cùng cái dáng lom khom hay đặt câu hỏi lạ lùng : (H4)

9 Ly toet 3Thế rồi tới Phong Hóa số 59, bức vẽ “Lý Toét ra tỉnh” thứ hai, do Đông Sơn vẽ dưới đây, (ký tên chữ nho) chiếm ngay trang bìa : (H5)

Đông Sơn Nhất Linh biết rằng nhân vật này sẽ chinh phục độc giả toàn quốc ! Quả như vậy, Lý Toét đã làm mưa làm gió trên văn đàn nước ta trong suốt thập niên 1930. Trước hết, về cá nhân Lý Toét, tính chất tổng quát được mọi người cùng chấp nhận bất thành văn, là : (H6)

Lý Toét là một ông già nhà quê, có chức phận trong làng, chức Lý trưởng, nên được goi là Lý, mắt bị bệnh đau-mắt-hột từ bé, thành ra nó cứ kèm nhèm, như viền vải tây đỏ, ta gọi là mắt toét. Nhập hai chữ Lý và Toét vào nhau thành tên luôn, chứ Lý Toét không phải là tên cúng cơm, bố mẹ đặt cho.

Lý Toét nghèo, sống ở thôn quê, chưa từng được thấy những thứ văn minh ngoài phố do người Pháp mang lại. Lý biết đọc chữ quốc ngữ, biết ít chữ nôm, chữ nho, nhưng không hiểu tiếng Pháp, nên có nhiều phen không thông về chữ nghĩa, nhầm chữ nọ sang chữ kia tí chút. Vì nghèo nên Lý Toét tham ăn, lại nghiện rượu, nên ích kỷ, chỉ muốn mình được phần to, thêm nữa, không hiểu gì về vệ sinh, ăn ở dơ bẩn, nên cả tin, sợ hãi đủ mọi thứ. Lý Toét rât mê tín, thờ đủ mọi loại thần thánh, từ con cóc sành trên bể nước ngoài vườn hoa, đến con hổ sống trong chuồng Vườn Bách Thú…

Vợ con ở quê rất lếch thếch. Lý Toét có một cô con gái lớn tên là Ba Vành, cô này xưa bỏ nhà ra đi, rồi lấy Tây. Thỉnh thoảng cụ Lý có xuống vùng mỏ thăm con gái, 9 Ly toet 4báo Xuân Phong Hóa, số 85 tường thuật thế. Cô có con, thỉnh thoảng con bị sài đẹn cũng mang vào bệnh viện chữa, làm cụ Lý đi tìm thăm thật khốn khổ. Phong Hóa có tranh chân dung của cô, cô mặc áo tân thời, nom cũng đẹp ra phết (khi trước còn ở dưới quê thì vẫn vận áo tứ thân).

Nhân vật ảo Lý Toét với đầy đủ tính cách như vậy, được họa sĩ Đông Sơn sáng tác ra. Nhưng cha đẻ của Lý Toét đã rất hào phóng không giữ tác phẩm cho riêng mình, mà rủ tất cả mọi người cùng tham dự vẽ Lý Toét ! Do đó, cùng với Đông Sơn Nhất Linh, các họa sĩ của Phong Hóa nhẩy vào vẽ Lý Toét với đầy hứng thú trong các tranh vui của báo Phong Hóa. Thế là : Cuộc Vui “Vẽ Lý Toét” bắt đầu !

Mỗi họa sĩ anh tài của Phong Hóa vẽ ra một Lý Toét dung mạo khác hẳn nhau, nhưng cùng tính cách, vẫn nhận ra được. Độc giả có thể ngắm các Lý Toét khác nhau trong hình trên của các họa sĩ Đông Sơn, Nhất Sách, Tô Tử tức Ái Mỹ Tô Ngọc Vân, Lemur tức Nguyễn Cát Tường, Bloc tức Trần Bình Lộc, Ngym tức Ngạc Mai tức Trần Quang Trân, Trần An….

Nhân vật Lý Toét với rất nhiều tranh chân dung đó, đã nổi lên vững vàng thân ái như một vì sao mới mọc trong lòng độc giả báo Phong Hóa. Sau này có thêm danh họa Nguyễn Gia Trí (lúc đó mới ra trường) tức Rigt, tức Gtri, cùng nhiều người khác, kể cả Lê Ta Thế Lữ cùng vẽ chân dung Lý Toét (vẽ chữ số thành hình cụ Lý).

9 Ly toet 5

Nhưng ngắm tranh Lý Toét lâu, ta thấy cụ có vẻ hơi … cô độc, thiếu bạn. Và việc phải đến, đã đến : Xã Xệ xuất hiện. Nhất Linh gọi đó là do tự nhiên phải thế. Xã Xệ là một nhân vật bằng vai phải lứa với Lý Toét. Xã Xệ béo ịt, thấp lè tè, đầu trọc lông lốc, còn độc một sơi tóc quăn xoắn ốc trên đỉnh. Hình ảnh Xã Xệ hoàn toàn đối chọi với Lý Toét gầy đét và cao lênh khênh. Xã ra đời để đấu láo với Lý, cãi chầy cãi cối với Lý, chung buồn chung vui với Lý… Ngớ ngẩn, lẩn thẩn sống cuộc đời mới của dân nô lệ mất nước, dưới sự bảo hộ của mẫu quốc Phờ Lăng Xa cùng Lý.

9 Ly toet 6Cha đẻ của Xã Xệ là họa sĩ Bút Sơn, từ Saigon gửi tranh vẽ ra Hà Nội. Tôi nghĩ vị này là một độc giả yêu quý Phong Hóa, nên tạo ra nhân vật Xã Xệ đối kháng với Lý Toét. Ông lấy hiệu Bút Sơn để nhái Đông Sơn. Nhưng Nhất Linh đến tận khi mất, vẫn chưa biết tên thật của Bút Sơn. Trên tờ di cảo “Đời làm báo” ghi tất cả tên và bút hiệu các cộng sự viên, trong cũng như ngoài Tự Lực Văn Đoàn, Nhất Linh có hàng chữ sau :

Bút Sơn ở Saigon (Người đẻ ra Xã Xệ), tên thật chưa biết. Xin ông Bút Sơn (nếu ông còn sống) hoặc các bạn, cho biết tên thật.

Hiện nay chúng tôi được biết tên thật họa sĩ Bút Sơn là Lê Minh Đức. “Theo nhà báo nhà thơ trào phúng Tú Kềnh viết trên Báo Bình Minh Xuân Mậu Thân 1968 xuất bản ở Saigon thì : Vào năm 1936 báo Phong Hóa, nhóm Tự Lực Văn Ðoàn, ở Hà Nội, có tổ chức cuộc thi vẽ tranh hài hước, họa sĩ chuyên vẽ tranh hài hước Bút Sơn Lê Minh Ðức ở Saigòn vẽ một bức tranh gửi ra Bắc dự thi”.

Thật ra, lần đầu tiên Xã Xệ xuất hiện trong tranh Bút Sơn là ngày 16 tháng 3 năm 1934, trên báo Phong Hóa số 89. Xã Xệ đã được đón tiếp thật nồng hậu. Xã cùng Lý lên ngay trang bìa của báo. Dưới đây là bức tranh trên Phong Hóa, Xã Xệ ra mắt toàn dân An Nam, cõi Đông Pháp, với lối lý luận hạng nhất : (H7)

9 Ly toet 7Vậy là báo Phong Hóa đã tạo dựng được cặp đôi hý họa Lý Toét, Xã Xệ, mang rất nhiều “đặc tính dân tộc”, đi vào lịch sử văn học Việt Nam: (H8)

Tranh Lý Toét Xã Xệ không của riêng ai, thật là thú vị. Mỗi bức tranh có khi là một tấm, có khi là một loạt nhiều tấm như phim hoạt họa, với lời chú giải ngắn gọn hoặc vài câu thoại, chính là một câu chuyện nhỏ, nhiều khi rất thâm trầm, nhiều khi mộc mạc…. Ai có một vài ý nghĩ chủ đạo là có thể vẽ ra một tranh hay, nếu không biết vẽ thì viết thành truyện cười Lý Toét cũng không kém phần dí dỏm.

Trong khi đó, nhờ những cuộc thi tranh khôi hài của Phong Hóa, nhiều họa sĩ bên ngoài tòa soạn đã tới vẽ cho Phong Hóa như NG9, HKB, DLAN, Trần An, 2TTG, Mạnh Quỳnh…. và rất nhiều người không chuyên cũng vẽ. Thêm nữa, các họa sĩ còn mang hình ảnh Lý Toét Xã Xệ phổ biến, nhân rộng ra khắp các báo thời bấy giờ, từ ngoài Bắc tới trong Trung, trong Nam. Họa sĩ thích vẽ, người thường thích kể chuyện, báo nào có Lý Xã thì có nhiều người đọc. Đến nỗi cặp đôi này đã trở thành những nhân vật để quảng cáo ! Có những bài quảng cáo thuốc, quảng cáo rượu của Lý Toét … đăng ngay trên Phong Hóa, Ngày Nay rất nhiều lần.

9 Tu moĐể cạnh tranh, báo Thanh Niên số #2, ra ngày 27/1/34 cho ra đời “Xã Dù”một anh em họ hàng với Lý Toét. Nhưng tiếng tăm của Xã Dù quá lu mờ, nay không ai còn biết, nhớ đến (bài Cuộc Điểm Báo, Phong Hóa số 84).

Như vậy là Đông Sơn Nhất Linh đã dựng ra được một phong trào có vô số họa sĩ trong, ngoài tòa báo, cùng độc giả “dấn thân”, đua nhau sáng tác ra vô số tranh Lý Toét Xã Xệ kể chuyện vui đùa ! Còn gì thú vị hơn !

Từ đó, Lý Toét Xã Xệ xuất hiện đều đặn trên báo Phong Hóa và Ngày Nay, qua những truyện vui lý sự cù nhầy. Thỉnh thoảng Lý Toét có bài viết riêng như “Điều thỉnh cầu của Lý Toét” (Phong Hóa số 68), bài thơ Vợ Lý Toét Khuyên Chồng, trong mục Dòng Nước Ngược, thơ trào phúng của Tú Mỡ, rồi Lý Toét Trả Lời, Lý Sự Cùn viết… Lâu lâu báo có đăng Lý Toét Phú, Xã Xệ Phú, Ván Cờ Lý Toét, cả Văn Tế Lý Toét (của Đỗ Đức Thu, làm trước, phòng khi…), …

Nhưng nhiều nhất, được chú ý nhất, vẫn là những bức tranh Lý Toét Xã Xệ, với những cảnh trông thấy, gặp thấy trên tỉnh. Có nhiều kỳ báo Phong Hóa, Ngày Nay có cả năm, bảy tranh Lý Xã trên cùng một số báo. Tranh nào cũng kể những chuyện ngây ngô, những suy nghĩ, suy luận chéo cẳng ngỗng, những hiểu lầm về ngôn ngữ tây ta tầu… Những câu chuyện vui vu vơ, vô tội này, ngày một lan rộng, ngày một thu hút. Những tính tình xấu xí, gàn bướng, cù nhầy, đáng cười… của người đời được diễn tả, phô bầy dưới hình thức khôi hài rất duyên, rất khéo… Trong đó, Lý, Xã rất “nghệ”, với những phản ứng không giống ai, diễn tả được biết bao khía cạnh khác nhau của cuộc sống…. Quý vị độc giả đừng tưởng hai cụ nhà quê này luôn luôn khù khờ, trái lại, có khi rất láu đấy! Và trong nhiều tranh các cụ lý luận hay đáo để! mời các bạn xem tranh Lý toét trả lời quan tòa tây:

9 Ly toet 8Khi Lý Toét phải ra tòa trả lời tội gửi thư với tem đã đóng dấu. Cụ Lý trả lời : “Lần nào nhận thư của con gái, là cô Ba Vành, gửi về cũng thấy tem đã đóng dấu”. Đúng quá chứ ! (H9)

Cặp bài trùng Lý Xã của Phong Hóa Ngày Nay dần dần trở nên vô cùng nổi tiếng, được sự ủng hộ triệt để của quốc dân, từ trẻ con tới người lớn. Người coi tranh, mê tranh mỗi ngày một nhiều, tạo ra một hiện tượng xã hội chưa từng có. Năm 1933, Georges Mignon, trong Nụ Cười Tân Á, khen ngợi Lý Toét của Phong Hóa. Và năm 2007, tại Mỹ có bài nghiên cứu của George Dutton : Lý Toét in the City,.. Còn ở Việt Nam thì tới ngày nay vẫn có lai rai bài viết, khảo cứu, kịch, chèo… về Lý Toét.

Ròng rã từ 1932 tới cuối năm 1940, tranh Lý Toét là những cú đâm xầm vào đời sống văn minh mới, do “mẫu quốc” mang tới, của hai cụ nhà quê cổ hủ “đẫm đặc dân tộc tính”… Đó cũng là lúc dân ta đang gặp phải cái “chạm trán tóe lửa” của hai nền văn hóa Đông Tây. Như bà văn sĩ Pearl Buck (giải thưởng Nobel về văn chương 1938) trong truyện ngắn ‘Bà Mẹ Già”, Huyền Hà dịch, Ngày Nay số 200, 1940, kể chuyện bên Tầu : Cô con dâu đi du học về, trong bữa cơm đại gia đình, đã : “hét inh lên vì sợ, khi thấy bà cụ mẹ chồng đưa đôi đũa đã liếm nghiêm chỉnh thật sạch trước, chọc vào đĩa thức ăn chung của cả nhà”.

Đồng thời trong những bức tranh nhỏ Lý Xã, các ý tưởng được đào sâu dần, nói lên được nhiều điều muốn nói. Người đọc ngày một thấm thía về thân phận người dân nhược tiểu mất nước, khi đa số dân chúng còn chưa được giáo dục, vô kỷ luật, hay sợ hãi, mê tín, và cam chịu tủi nhục dưới ách nô lệ của Pháp. Những bức tranh hý họa nhẹ nhàng hóm hỉnh đó phơi bầy dần dần những thói hư tật xấu của dân ta. Có người cho rằng báo PH NN đã bôi xấu người nhà quê ! Không ! ta phải hiểu rằng nếu dân ta còn nghèo đói, vô học, sống khổ sở như thế, chịu bao nhiêu bóc lột đè nén như thế, thì lẽ dĩ nhiên hủ lậu mê tín phải sinh ra tham lam, ích kỷ, …Nhưng tới đó thì chúng ta phải tự hỏi : “Phải làm gì đây ?”

Đó là chủ ý của Tự Lực Văn Đoàn: dùng văn chương, báo chí để vận động cải tạo xã hội.

Trong bài Trả lời Tân Xã Hội, Hoàng Đạo viết trên Ngày Nay số 30, năm 1936 : “Ông sẽ phải công nhận như chúng tôi, là dân chúng – hầu hết là dân quê – chỉ biết mình khổ cực, đói rét, chứ chưa biết đường tự bênh vực lấy mình. Vậy công việc tối quan trọng của ta, của chúng tôi, của ông, là làm thế nào cho họ hiểu hết quyền lợi nghĩa vụ của họ. Công cuộc to tát không phải một ngày mà nên: công cuộc ấy có thành cũng nhờ một phần lớn ở sự tự do báo chí và tự do kết đoàn”.

Thực vậy, muốn dân chúng hiểu nghĩa vụ và quyền lợi của họ, thì việc đầu tiên là phải thu hút dân chúng bằng báo chí, phải tìm cách làm dân muốn nghe, thích nghe ta nói. Vậy trước hết, hãy xét lại chính mình. Hẳn trước khi thành người thành thị, ai chẳng có gốc gác nhà quê, không là ta, thì bố mẹ ông bà…ta, đã từng ngớ ngẩn “nhà quê lên tỉnh” như thế. Mà người Việt nào cũng có quê, như Nguyễn Trãi quê Nhị Khê, Nguyễn Du quê Tiên Điền, 9 Ly toet 9Hồ Xuân Hương quê Nghi Tàm, Cao Bá Quát quê Phú Thị… Mồ mả các cụ tổ tiên chúng ta đều còn ngay ở giữa những cách đồng lúa lầy lội đó, chứ đâu ? Mà cũng những nơi nhà quê đó, có kho tàng vốn cổ ai cũng say mê, đó là những tranh khôi hài, các chuyện cười, chuyện diễu, chuyện tiếu lâm, phóng đại, nói khoác… Chuyện được truyền khẩu từ ngàn xưa, từ các bác dân quê như Ba Giai, Tú Xuất ngoài Bắc, tới bác Ba Phi trong Nam, cùng các vị trí thức không theo lề lối quan trường như các Trạng, Trạng Quỳnh, Trạng Lợn,… rất nhiều. Những chuyện đối đáp với sứ Tầu của các vị thiền sư từ hơn nghìn năm trước, hay giai thoại những câu đối đáp giữa Chiêu Hổ, Hồ Xuân Hương ai mà chẳng mê. Và các tranh cổ ngộ nghĩnh được bán trong những phiên chợ quê, chợ Tết, như Đám cưới chuột, Vinh quy, Đánh ghen, Hứng dừa … của làng Đông Hồ, ai mà chẳng thích ?

Ta hãy ngắm lại hai tấm tranh Đông Hồ dưới đây : (H10)

Trong khi đó, người đầu đàn của Tự Lực văn đoàn Nhất Linh Đông Sơn là một họa sĩ. Các thành viên khác như Thế Lữ, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam… cũng có thú vẽ tranh không phải thường. (Nếu bạn đọc tinh ý thỉnh thoảng có thể bắt gặp trong Phong Hóa hoặc Ngày Nay những bức vẽ rất đẹp ký tên Khái Hưng, Tứ Ly, … Đặc biệt, Ngày Nay số 198, xuân 1940, có in tranh vẽ của nhiều thành viên Tự Lực Văn Đoàn : Khái Hưng, Tú Mỡ, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam). … Với tinh thần mỹ thuật từ bản chất của ban biên tập như thế, hai báo Phong Hóa, Ngày Nay sử dụng tranh ảnh trang trí rất nhiều, luôn luôn có họa sĩ nhà nghề làm việc minh họa. Những họa sĩ lớp mới này được học rất bài bản, họ học được kỹ thuật hội họa Tây phương tại trường Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội (Khóa đầu của trường tốt nghiệp năm 1930). Vì vậy, họ sử dụng rất thông thạo kỹ thuật hý họa kiểu tây phương, để đùa rỡn các ông dân biểu, các quan thượng thư… với mục đích sửa lưng các ông, xin các ông nhớ đến dân đến nước, và làm cho công chúng hiểu đời sống chính trị hơn… Những năm sau có thêm Bang Bạnh và Ba Ếch trong thể giới hoạt kê đó, giúp các họa sĩ tạo được nhiều màu sắc, nhiều khía cạnh sâu xa hơn trước. Tuy nhiên, hai nhân vật này không được yêu thích bằng Lý Xã.

Cũng với lý tưởng làm thay đổi bộ mặt xã hội, dân sinh, TLVĐ và các họa sĩ, kiến trúc sư đã giới thiệu cách sống mới hợp vệ sinh, kiểu nhà mới Ánh Sáng và nhất là việc sáng tác áo dài kiểu mới Lemur cho phụ nữ, một thành công vang dội, tới ngày nay “áo dài”còn chịu nhiều ảnh hưởng.

Trong khi đó Tứ Ly Hoàng Đạo viết hàng loạt bài trên Phong Hóa Ngày Nay như Trước Vành Móng Ngựa, Bùn Lầy Nước Đọng, Công Dân Giáo Dục, Có Cứng Mới Đứng Đầu Gió (ký tên Tường Vân),… kể chuyện trong tòa án, giải nghĩa nhiệm vụ công dân, chỉ dẫn cho dân chúng về pháp luật, để họ hiểu và biết cách sống, cách cư sử cho khỏi bị ép buộc vô lý, và cũng để tờ báo mưu tính những cải cách về xã hội.

(Trong bài viết ngắn này, chúng tôi không nói tới sự nghiệp văn chương lừng lẫy của các văn hào, thi bá, thành viên Tự Lực Văn Đoàn, mà chỉ xin nhắc thêm rằng các tiểu thuyết, thơ mới, kịch nói…của các vị, 9 Ly toet 10đã làm say mê bao thế hệ người Việt, đã thay đổi cách viết, cách sử dụng chữ Việt, văn chương Việt, đã trợ giúp rất nhiều cho công việc cải tạo xã hội về mọi mặt).

Ngắm lại những bức tranh Lý Toét thật lý thú, báo Phong Hóa Ngày Nay có khá nhiều: gần 1000 tấm. Hai khía cạnh mỹ thuật và khôi hài, đã trộn vào nhau rất ăn ý. Chúng là một sáng tạo tài tình gồm cả đông lẫn tây, cả xưa lẫn nay, trong suốt một thập niên đã nở rộ đến không ngờ: Phong Hóa và Ngày Nay càng ngày càng càng đông người đọc, đã trở thành một tờ báo không đối thủ trong làng báo lúc đó, mà cũng có lẽ cả lịch sử báo chí Việt Nam xưa nay. Có lần tờ báo Xuân Phong Hóa đã phải xuất bản lần thứ hai, vì nhu cầu bạn đọc. Trong tinh thần phản đối Khổng giáo lỗi thời hành hạ con người, đả phá thái độ phong kiến quan lại cũ, chế diễu lòng mê tín ngu muội, tố cáo sưu cao thuế nặng của tờ báo, những tấm tranh bé nhỏ đã đụng được tới rất nhiều vấn đề, rất nhiều hủ tục, thói xấu, đã phá bớt “những ý kiến cổ hủ, nó làm mờ mịt khối óc người ta”. Riêng những vấn đề xã hội, chính trị thực sự, chỉ được nói đến một cách rất nhẹ nhàng, chúng được giấu rất kỹ để tránh kiểm duyệt rất khắt khe của thực dân Pháp….

Tuy vậy, ngày 31 tháng 5 năm 1935, Phong Hóa đã bị Thống sứ Bắc Kỳ đình bản ba tháng. (Tới nay, không ai biết tại sao báo bị đóng cửa. Có người cho là do loạt bài “Thần thoại tân thời” Hậu Tây Du Ký nói động đến Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng của triều đinh Huế… có người cho là do bài phóng sự sắc bén về Hoàng Trọng Phu… đều do Hoàng Đạo viết. Tất cả chỉ là phỏng đoán, theo cuốn Tiếng Cười của Tú Mỡ, (Vu Gia, cuốn Hoàng Đạo, nhà báo, nhà văn. Theo Martina Nguyễn Thục Nhi : “Do cả hai điều trên”, trong hồ sơ của phòng nhì Pháp : việc đóng cửa ba tháng báo Phong Hóa là do báo này đã chế giễu các quan lại An Nam.

Ngày 5/6/1936, Phong Hóa số 190 đăng một tranh Lý Toét vẽ nhái theo chuyện “Tam anh chiến Lã Bố” của Tam Quốc Chí, rất đẹp, không có chữ ký họa sĩ. Ngắm nét bút đặc biệt sống động, ta có thể nhận ra họa sĩ vẽ tranh là Tô Tử tức Tô Ngọc Vân, một trong những họa sĩ chính của Phong Hóa thời đó. 9 Ly toet 11Theo thông lệ, các tranh khôi hài thường được mang ra bàn luận trong giờ làm việc chung của cả tòa soạn. Một bức tranh nhiều ẩn ý sâu xa, mà không ký tên tác giả chắc là do sự góp ý của nhiều thành viên tòa soạn. (H11)

Theo sách Tam Quốc Chí, vào đầu công nguyên ba nước Ngụy, Thục, Ngô chia nhau nước Tầu, tranh giành quyền lực, gây chiến tranh dài cả trăm năm. Trong một trận đánh quyết liệt, tam anh, Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi, nước Thục, cùng nhau vây đánh Lã Bố, nước Ngụy. Lã Bố tuy là đại tướng nổi tiếng vô địch, nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ, đã thua. Truyện này rất phổ thông ở Việt Nam, trước đây gần như ai cũng biết. Trong các buổi diễn tuồng cổ, màn này thường được trình bầy rất sôi nổi, các diễn viên hóa trang kiểu xưa, mặt mày tô màu xanh đỏ rực rỡ, áo mũ tuồng lộng lẫy xênh xang, biểu diễn múa võ cao cường, trong tiếng chiêng trống rộn ràng, và nhiều khi cả tiếng la hét cổ vũ của người xem.

Bức tranh này vẽ : “ba con chó cắn bố Lý Toét”, có con trai Lý Toét đứng ngoài xem, dơ tay múa chân reo hò: “A ha ! Tam anh chiến nhất Bố !”

Thật là một câu dùng điển Tam Quốc “Tam anh chiến Lã Bố” để ví tuyệt hay. Tuyệt hay, vì hai câu có cấu trúc hoàn toàn giống nhau, diễn tả hai trận đánh hoàn toàn khác nhau. Do cách dùng hai nghĩa của chữ “Bố” : Bố là tên của đại tướng nước Tầu : Lã Bố, mà “bố” cũng là bố của đứa con đang đứng ngoài dơ chân muá tay reo hò.

Đọc câu điển Tam Quốc, ta chỉ cần thay chữ “Lã” bằng chữ “nhất” là biến thành câu ví, câu reo của con Lý Toét : Chuyện chiến đấu hào hùng trong sử Tầu biến thành chuyện Lý Toét la ó chống chọi với ba con chó dữ. Nó làm người xem tranh cảm được ngay, và cũng đau nhói lòng ngay, vì thấy đứa con trai reo hò vui thích trước sự nguy khốn của bố mình. Đó là :

– Con vô cảm, vô ý thức hay còn quá trẻ dại không biết rằng bố đang lâm nguy bởi ba con chó dữ tấn công ? Cùng lúc, nó nhắc người xem tranh :

Nhat linh 5Lý Toét có mặt trên Phong Hóa từ số đầu tới nay, Lý Toét tượng trưng cho Phong Hóa:

– Độc giả có biết rằng báo Phong Hóa đang trong cơn khốn khó, có cơ nguy bị Pháp đóng cửa, rút giấy phép vĩnh viễn bất cứ lúc nào ? (như rất nhiều báo thời đó, không được giải thích tại sao)

Lý Toét, nhân vật thấm đẫm đặc tính dân tộc, những xấu tốt của vốn cổ, tượng trưng cho đất nước lúc này:

– Quốc dân có biết rằng đất nước mất chủ quyền, đang bốn bề thọ địch ? (‘Địch” là thực dân Pháp, là sự ngu tối, dốt nát của đại đa số dân chúng, là sự chia rẽ của các đảng phái trong nước, nguy cơ nội chiến…)

Trong cảnh tình như thế, bố Lý Toét làm sao sống nổi ! Than ôi ! Đó cũng là tiếng kêu cứu của Phong Hóa ! Trùng hợp làm sao, đúng lúc đó thực dân kiểm duyệt đóng cửa báo. Báo Phong Hóa bị chết ngay sau số 190 này (05/06/1936) !

May thay, báo Ngày Nay hãy còn giấy phép, (Ngày Nay là báo dự phòng của TLVĐ, do Nguyễn Tường Cẩm, anh ruột Nguyễn Tường Tam, một công chức, đứng tên, NN số 1 ra ngày 30/01/1935) nên Tự Lực Văn Đoàn còn hoạt động thêm được mấy năm nữa. Lý Toét còn tiếp tục sống, tiếp tục kể chuyện đời trên báo.

Phải đến thời Mặt Trận Bình Dân cầm quyền ở Pháp, những lời mong cầu tự do, bỏ kiểm duyệt, bớt thuế… mới được viết ra một cách công khai. Những tưởng Mặt Trận Bình Dân thuộc tả phái, sẽ nới lỏng chế độ bảo hộ. Mà không ! Tất cả những lời hứa chỉ là bánh vẽ, báo chí vẫn chịu chế độ cũ, bởi vì bên Pháp vẫn còn Bộ Thuộc Địa, thực hành chủ trương khai thác thuộc địa, phục vụ Mẫu Quốc. Sau này, dù trong thế chiến thứ II, dù năm 1939 Paris đã bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, chế độ Bảo Hộ ở Bắc Kỳ vẫn rất khắt khe : Báo Ngày Nay bị đóng cửa vĩnh viễn năm 1940, Khai hung 2người viết báo bị bắt bỏ tù (Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí… bị giam, bị tra tấn dã man…từ 1941 tới 1943, tại Vụ Bản, Hoà Bình.

Trong bức tranh Mẫu Quốc (nước mẹ), dưới đây, Ngày Nay số 110, 1936, nhân Uỷ Ban điều tra do Pháp gửi sang Việt Nam sắp làm xong công việc. Hy vọng của quốc dân là : Chắc sẽ có kết quả tốt ? Họa sĩ Rigt Nguyễn Gia Trí viết một câu chửi đổng :

– Ồ, trông mong… nước mẹ gì ! (H12)

Thế rồi tới giữa năm 1940, báo Ngày Nay cũng bị đóng cửa rút giấy phép.

Sau một vài cố gắng cuả Khái Hưng, Thạch Lam ra báo, sách… đều chết yểu, các thành viên phân tán, văn đoàn Tự Lực tan đàn sẻ nghé: Người chết vì bệnh, người bị Pháp bắt bỏ tù, an trí, người trốn sang Tầu làm cách mạng, người đi xa lánh nạn, người quay sang kịch… Chỉ còn nhà xuất bản Đời Nay sống lay lắt, in sách bán… Tới tháng 4-1945 còn xuất bản cuốn thơ Hoa Niên của Tế Hanh, (Tế Hanh cùng Anh Thơ được giải thưởng thơ của TLVĐ năm 1939, năm cuối còn có phát thưởng, trước khi báo NN đóng cửa). Tôi không biết Hoa Niên có phải là cuốn sách cuối của Đời Nay hay không.

Và cuối cùng, tới tháng 5/1945 báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới ra đời, Hoàng Đạo phụ trách mục “Kiểm điểm chính trường Việt Nam” (Hồ Hữu Tường, Nguyễn Tường Long, nhà chính trị, Tạp chi Văn, số 107) Báo ra được 16 số là hết. Tới giữa năm 1946, nhà in được mang bán, chia tiền cho các thành viên.

Từ đó tới nay, chúng ta chưa bao giờ thấy lại một văn đoàn, một nhóm văn nghệ sĩ tài năng như thế, chung sức làm được một kho tàng văn hóa thành công như thế nữa. Tất cả chỉ còn là bóng con chim nhạn bay qua ngang trời…

Tôi còn nhớ khi còn rất nhỏ, được biết hai nhân vật huyền thoại Lý Xã qua một bài hát do các chị dạy truyền khẩu, trước khi đi học chữ, để có thể đọc được tiểu thuyết của TLVĐ (mà phải đọc lén, vì gia đình tôi cấm con gái đọc tiểu thuyết).

Đó là bài hát sau đây, tuy tôi thuộc nằm lòng nhưng không biết tác giả là ai, phải hay không phải là người của Văn Đoàn Tự Lực :

Tr Cuoi xua 3Ông Lý Toét mà cắp cái ô

Đi ra phố gặp lúc mưa to

Có bác Xã Xệ mà muốn đi nhờ

Tay thì vời vời miệng thét bô bô;

Này bác Lý, thủng nhĩ hay sao ?

Gọi như thế mà chẳng coi sao

Giá có cút rượu thì đến chơi liền

Đi nhờ một tí mặt cứ vênh vênh!

– Này bác Xã thật rõ lôi thôi

Còn non nước còn bác với tôi,

Ô tôi năng cụp mà bất năng xòe

Năng dựa đầu hè mà bất năng che !

Yên Huỳnh post

NGHỆ SĨ DIỆP LANG

Logo nhan vat 1

9 Diep Lang 1DIỆP LANG :

BẬC THẦY TRƯỜNG PHÁI

DIỄN XUẤT TỰ NHIÊN

Trong làng sân khấu cải lương, có nhiều trường phái diễn xuất, trong đó ta thấy nổi lên hai loại :  Diễn xuất thiên về tượng trưng ước lệ và diễn xuất thiên về tự nhiên. Trường phái tượng trưng ước lệ thì chịu ảnh hưởng của cách diễn xuất xem trọng điệu bộ như trong hát bội, còn trường phái tự nhiên thì nghiêng về cuộc sống thường nhật, tức có sao diễn vậy, diễn giống như ngoài đời vậy.

Một trong những bậc thầy của trường phái diễn xuất tự nhiên là nghệ sĩ Diệp Lang, người được mệnh danh là “Ông Hội Đồng” của sân khấu cải lương.

Diệp Lang tên thật là Dương Công Thuấn, sinh năm 1941, tại làng Bình Tiên huyện Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Cha của Diệp Lang là ông Ba Diệp, một tay đờn kìm có tiếng trong làng cải lương lúc bấy giờ. Thuấn mồ côi mẹ thuở lên mười và sống với ông nội ở quê nhà, còn ông Ba Diệp thì bôn ba theo các đoàn hát. Khoảng năm 13 tuổi, Thuấn theo cha lên Sài Gòn theo đoàn cải lương Kim Thoa.

Con nhà nòi

Ông Ba Diệp hướng con theo nghề hát vì nghĩ rằng nghề đờn phải suốt đời ngồi sau cánh gà chẳng ai nhìn đến. Mới theo nghề mà Thuấn đã không may, 9 Diep Lang 2vì vỡ tuồng đầu tiên tham gia là vỡ Lấp sông Gianh của soạn giả Kinh Luân, khai trương tại rạp Nguyễn Văn Hảo (nay là rạp Công Nhân). Vỡ tuồng này nói lên nguyện vọng xóa bỏ ranh giới chia cắt non sông.

Trong đêm khai trương, có người quăng lựu đạn lên sân khấu, gây thương vong khá nhiều người. May mắn thay, hai cha con ông Ba Diệp đều bình an vô sự. Sau đó, hai cha con về đoàn Minh Chí – Việt Hùng. Được một thời gian, ông Ba Diệp bị bệnh nặng phải trở về quê và sống ở đó cho đến ngày cuối đời. Thuấn thì tiếp tục theo nghề hát. Khi cha mất mà Thuấn cũng không về thọ tang được vì không có tiền. Năm ấy Thuấn được 16 tuổi.

Có thể nói nhờ “cái bóng” của cha, Thuấn đi xin vào đoàn hát nào cũng được sự ưu ái. Cái tên Diệp Lang bắt đầu xuất hiện khi Thuấn về đoàn Hoài Dung – Hoài Mỹ năm 17 tuổi. Ông bầu đoàn này đặt cho Thuấn cái tên Diệp Lang với ý nghĩa là : ”Con trai ông Ba Diệp”. Một hôm anh kép chánh có việc, Diệp Lang được chọn lên thế vai trong vỡ “Chiếc Nhẫn Kim Cương”. Tên tuổi anh kép chánh Diệp Lang bắt đầu được chú ý. Năm 1960, Diệp Lang được mời về hát cho đoàn Hữu Tâm – một đoàn hát tên tuổi lúc bấy giờ, đúng là một điều mơ ước đối với anh thanh niên nghèo khó 19 tuổi.

Con đường đến kép độc

Đi hát ai mà không mong đóng vai chánh để được nổi tiếng, để được nhiều tiền. Thế nhưng, trên sân khấu cải lương không chỉ có một mình anh kép chánh, mà còn cần có một ê kíp với đầy đủ thành phần bao gồm đủ loại vai thì mới thành một vỡ tuồng trọn vẹn được. Và có lẽ như tổ nghiệp đã nhìn thấy ở Diệp Lang tiềm năng đặc biệt đóng kép độc nên mới khiến xuôi khi Diệp Lang vừa được chọn đóng vai chánh thì ông đã bị bệnh và mất giọng.

Đi hát mà mất giọng thì kể như rồi. Nhưng không, Diệp Lang đã khéo léo tập trung vào diễn xuất. Số là Diệp Lang đã nghe lời khuyên của đồng nghiệp chuyển sang đóng kép độc. Tr cai luongLàm kép độc thường là vai phụ, lương ít hơn. Thế nhưng, có một điều cần nhấn mạnh rằng, đào kép chánh ăn khách nhờ đẹp, nhờ ca hay, chứ còn diễn xuất thì chưa chắc đã hơn diễn viên phụ.

Nói như vậy để thấy rằng, để đóng kép độc thành công, đòi hỏi người diễn viên phải có tài năng diễn xuất thực sự. Có lẽ vì thế mà Diệp Lang đã ra sức khổ luyện, cùng với sự chỉ bảo tận tình của các bậc tiền bối như Phùng Há, Ba Vân, Năm Châu… Thế mạnh của Diệp Lang đến giờ phút này chính là tài diễn xuất thượng thừa của ông.

Vai kép độc ghi dấu ấn đầu tiên của Diệp Lang là ở đoàn Kim Chưởng, vai Thống Tướng Bát Lộ Kỳ trong vỡ Hai Chiều Ly Biệt. Bấy giờ, đoàn Kim Chưởng là một đại bang, bà bầu Kim Chưởng lại nổi tiếng khó tính với nghề, vì thế kịch bản của đoàn luôn có chọn lọc, có đạo diễn dàn dựng đàng hoàng, với dàn nghệ sĩ tài năng tên tuổi, có đủ những người phụ trách có năng lực về âm thanh, ánh sáng, cảnh trí… Ở đây, Diệp Lang được dịp trau dồi tác phong chuyên môn.

Số phận đã đưa anh kép chánh Diệp Lang vào vai kép độc. Rồi ở đoàn Kim Chưởng, số phận lại đưa anh kép trẻ Diệp Lang vào vai lão. Và vai độc – vai lão là hai loại vai mà Diệp Lang thành công nhất trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật của ông. Số là ở đoàn Kim Chưởng, ông được giao vai một ông lão 70 tuổi bất hạnh trong vỡ Người Anh Khác Mẹ. Vai diễn đã giúp Diệp Lang đoạt Giải Thanh Tâm năm 1960 và Bằng danh dự Giải Thanh Tâm năm 1964. Giải Thanh Tâm được xem là giải thưởng danh giá nhất của cải lương Nam Bộ thời đó.

Đỉnh cao sự nghiệp

Sự nghiệp Diệp Lang đang đầy hứa hẹn, thì cũng tại đoàn Kim Chưởng, ông bị bắt quân dịch vào năm 1965. Thế là từ đó, suốt 10 năm trời, 1965-1975, Diệp Lang phải xa sân khấu. Giai đoạn sau 1975, sự nghiệp cải lương của Diệp Lang mới thật sự đạt tới đỉnh cao. 9 Diep Lang 3Dấu ấn của Diệp Lang được thể hiện ở đoàn Sài Gòn 2, đoàn 2/84, trong nhiều vai trò từ diễn viên, chỉ đạo nghệ thuật đến trưởng đoàn.

Giai đoạn này, Diệp Lang đã để đời với các vai: Hội Đồng Dư (Tiếng Hò Sông Hậu), Hội Đồng Thăng (Đời Cô Lựu), Ông Hương Cả (Tô Ánh Nguyệt), Hải Lâm cha của Tô Châu (Áo Cưới Trước Cổng Chùa), Ông Tư (Lời Ru Của Biển)… Và cũng chính giai đoạn này ông đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo thế hệ cải lương tiếp nối với những tên tuổi lớn như Tuấn Thanh và Châu Thanh. Để ghi nhận những cống hiến của Diệp Lang, nhà nước đã phong tặng cho ông danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú và sau đó là Nghệ sĩ Nhân dân.

Đệ nhất “kép độc mùi”

Có thể nói, đến hiện tại, Diệp Lang được xếp vào hàng các kép độc hay nhất của sân khấu cải lương. Trước Diệp Lang, sân khấu cải lương đã có những tay kép độc cự phách như Văn Ngà, Hoàng Giang hoặc Trường Xuân. Thế nhưng, Diệp Lang đã tạo được những vai kép độc để đời mang dấu ấn riêng, những vai diễn mà kể từ khi được Diệp Lang thể hiện, đến nay vẫn chưa thấy có ai diễn đạt đến trình độ như vậy. Thế thì ắt hẳn Diệp Lang phải có cái hay riêng so với những kép độc tiền bối. Cái riêng ở đây có thể nói rằng : Diệp Lang là người thể hiện các vai “kép độc mùi” hay nhất.

9 Diep Lang 4Kép độc là người đóng các vai ác. Nếu bàn về vai ác, thì ở đây ta thấy có một vai ác theo kiểu: lúc đầu thì ác nhưng về sau bị quả báo và hối hận ăn năn; hoặc dã là kép độc tuy luôn hung dữ và ác độc, nhưng đâu đó vẫn thấy họ cũng đang sống trong nghịch cảnh. Loại vai này có thể tạm gọi là “kép độc mùi”’. Để đóng thành công “kép độc mùi”, thì ngoài tài năng diễn xuất ra, diễn viên còn cần có một giọng ca hay. Kép độc ca hay không phải là có giọng ca mùi như mấy anh kép chánh, mà ca hay ở đây là ca phải thể hiện được tâm trạng nhân vật, phải làm sao thể hiện được độ mùi khi cần thiết để làm người xem bỗng thấy chạnh lòng mà có chút cảm thông với số phận nhân vật. Diệp Lang là người có đủ tài năng và giọng ca mùi như vậy để thể hiện đặc sắc vai kép độc mùi. Các vai kép độc mùi để đời của Diệp Lang có thể kể đến : Hội Đồng Thăng (Đời Cô Lựu), Ông Hương Cả (Tô Ánh Nguyệt) và Phê (Khi Người Điên Biết Yêu).

Vai Ông Hương Cả trong vỡ Tô Ánh Nguyệt do chính Diệp Lang làm đạo diễn là một vai rất khó đóng. Đây là một kép phản diện, nhưng không phải lả người độc ác, mà chỉ là một nhà Nho quá bảo thủ, quá độc tài với vợ con. Ông Cả tỏ ra hung dữ và khắc khe với mẹ con Nguyệt, suy cho cùng là cũng vì ông muốn hành xử đúng theo những gì bảo thủ nhất của Nho Giáo. Tức là đúng với cái câu mà khi gặp ba của Minh ông đã nói: “Xin lỗi ông, tôi thủ cựu bài tân”, tức là “tôi giữ cái cũ và bài bác cái mới”. Trong khi đó thì ba của Minh lại nói : “Xin lỗi ông, tôi đả cựu nghinh tân”, tức là “tôi đuổi cái cũ đi mà rước cái mới vào”. Ông Cả cha của Nguyệt và cha của Minh thể hiện hai quan điểm cực đoan của một xã hội đang lúc giao thời lúc bấy giờ: người thì quá bài ngoại còn người thì quá vọng ngoại. Và kết quả là cả hai đều phải trả giá cho sự cực đoan đó.

Về phần Ông Cả, ta thấy rằng, sau cảnh ông khắc khe với vợ con khiến khán giả ghét cay ghét đắng ở màn trước, thì khi ông tìm đến thăm Nguyệt, là một cảnh đầy xúc động. Khi ấy, sau khi Nguyệt đã trốn nhà ra đi và sinh con trong nghèo khổ, Ông Cả cha Nguyệt đã tìm đến nơi Nguyệt ở để cho cô hay là mẹ cô đang bệnh nặng. Chứng kiến cảnh con gái phải sống trong khổ cực, trong khi vợ thì đang hấp hối, lại vừa lo sợ nếu Nguyệt mang con về quê thì danh giá gia đình sẽ bị hủy hoại, tất cả đã khiến Ông Cả từ người ác độc trở thành người hết sức khổ sở. Cảnh này, Diệp Lang đã thật sự đã khiến khán giả từ căm ghét ở màn trước trở nên bất chợt cảm thông ở màn sau. Có thể nói rằng, tới giờ phút này, chưa thấy ai diễn qua Diệp Lang trong vai diễn đó.

9 Diep Lang 6Đến với vai Hội Đồng Thăng trong vỡ Đời Cô Lựu, ta thấy đây là vai số một của Diệp Lang. Hội Đồng Thăng là một cường hào địa phương hết sức hiểm độc. Ông đã dùng mưu đẩy anh tá điền Võ Minh Thành vào tù rồi ở nhà dụ dỗ vợ của anh ta là cô Lựu. Suốt mười mấy năm dài, dù chiếm được thân xác Cô Lựu, nhưng Hội Đồng Thăng vẫn không thể nào chiếm được con tim của cô bởi lẽ cô luôn u sầu thương nhớ người chồng cũ. Thế là, Hội Đồng Thăng trả thù bằng cách hành hạ Cô Lựu từ việc kiểm soát gắt gao tiền bạc đến những lời lẽ cay đắng nặng nề.

Màn Hội Đồng Thăng sai Cô Lựu vào trong lấy cây ba-toong là màn hay nhất. Diệp Lang đã diễn xuất thượng thừa ở màn này. Khi mắng Cô Lựu, Hội Đồng Thăng nói : “Đứng lên, làm gì uể oải”, “Đồ lì, lì lợm”. Diệp Lang gằn giọng từng tiếng, đến khán giả ngồi dưới cũng cảm thấy tâm lý nặng nề. Rồi đến khi Hội Đồng Thăng-Diệp Lang thốt lên : “Tôi hông thích ở trong cái nhà này, tối ngày hông ai nói với ai tiếng nào, tối ngủ quay mặt vô vách. Làm sao tôi chịu nổi ? Tôi là con người mà, con người…”. Vì lúc này Hội Đồng Thăng say rượu nên mới để lộ tâm sự như vậy. Hội Đồng Thăng-Diệp Lang vừa nói vừa gằn giọng, vừa vỗ tay vào ngực mình với vẽ uất ức. Đến đây, người xem chợt giật mình nhận ra rằng : Ồ, thì ra ông hội đồng ác độc kia cũng có nỗi khổ. Và thế là, người xem cũng cảm thấy xót xa cho tình cảnh của ông dù rằng đó là quả báo mà ông phải nhận. Ở đây, cái độc và cái mùi đã được Diệp Lang thể hiện xuất sắc, đến mức mà đến hiện tại, chưa thấy có ai thế vai này được.

Ca trong diễn, diễn trong ca

Giọng ca và hơi của Diệp Lang không được phong phú. Thế nhưng, không phải gì thế mà ông ca không hay. Điểm mạnh nhất của Diệp Lang là ông biết diễn xuất bằng cả giọng ca, ông đưa giọng ca vào đúng với tâm trạng nhân vật, đúng với động tác biểu diễn. Nói cách khác là Diệp Lang đã đạt đến trình độ “ca trong diễn, diễn trong ca”, ca diễn phụ trợ lẫn nhau để thể hiện tính cách nhân vật.

Cai luong 2Bàn về bộ nhịp, Diệp Lang có bộ nhịp thượng thừa. Ông ca sắp chữ trong lòng bản. Do làn hơi không dài, nên ông chọn cách sắp chữ qua những câu ngắn. Tuy nhiên, nghe Diệp Lang ca, người nghe không thể nào không thán phục cách sắp chữ và nhịp nhàng rất chắc của ông. Và đặt biệt hơn hết là ông ca rất đúng nhân vật, dữ ra dữ, mùi ra mùi, vui ra vui mà buồn ra buồn.

Minh chứng rõ nhất có lẽ là vai Phê trong vỡ Khi Người Điên Biết Yêu. Khán giả đã có dịp xem vai này trong chương trình Những Cảnh Chim Không Mỏi dành cho nghệ sĩ Diệp Lang sau khi ông được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, cách nay độ 10 năm. Nhân vật tên Phê, do yêu người em gái nuôi của mình, đã giết hại cha nuôi và vu oan cho người yêu của em gái. Sau đó, lại nói xấu người yêu của em gái để cho cô em gái phải thổ huyết chết.

Năm tháng trôi qua, Phê lâm vào cảnh sống nghèo khổ, thân thể xác xơ, lương tâm dằn dặt. Ngày cuối cùng ở nơi trần thế là ngày Phê tìm trở lại mảnh đất xưa của cha nuôi mình. Nơi ấy đã mọc lên một ngôi chùa. Phê vào chùa đối đáp với hòa thượng và phát hiện ra vị hòa thượng kia chính là người yêu của em gái bị mình vu oan năm xưa. Phê mới thổ lộ hết nỗi lòng và trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay và sự tha thứ của hòa thượng.

Diệp Lang đã trích lại màn cuối của vỡ tuồng trên. Màn này, nhân vật Phê vừa phải diễn xuất bằng các câu thoại, vừa bằng các đoạn ca. Diệp Lang đã xuất thần, khi nói thì giọng chất chứa đầy tâm sự, khi ca thì ca rất mùi. Nghe Diệp Lang thoại ở đoạn này, người xem không thể không thừa nhận rằng, nếu không phải là bậc thượng thừa trong diễn xuất thì không thể nào diễn xuất qua lời thoại xuất thần đến như vậy. Nên nhớ rằng, nói về diễn xuất cải lương, thì diễn xuất qua các câu thoại là một động tác rất khó, đòi hỏi trình độ và khả năng diễn xuất rất cao của người nghệ sĩ.

Còn khi nghe Diệp Lang ca ba câu vọng cổ trong đoạn này, khán giả không khỏi giật mình nhận ra rằng, Diệp Lang không chỉ diễn xuất thượng thừa, mà ca cũng quá hay, nhịp nhàng quá chắc, cách ca quá điêu luyện, cách sắp chữ quá thần sầu. Người xem khi ấy không còn thấy trước mặt mình là một kẻ ác nữa, mà là một người bị lương tâm dằn dặt, một số phận đáng thương. Có thể nói rằng, với vai Phê, Diệp Lang đã thể hiện xuất sắc tài năng “ca trong diễn, diễn trong ca”, một điều mà không có nhiều nghệ sĩ cải lương đạt được.

9 Diep Lang 5Ông già Nam Bộ

Nhắc đến Diệp Lang không thể nào không nhắc đến các vai ông già Nam Bộ. Bắt đầu vào vai lão ở tuổi đôi mươi, Diệp Lang đã để lại nhiều vai lão ấn tượng. Có thể kể đến vai Ông Tư trong Lời Ru Của Biển, Hải Lâm trong Áo Cưới Trước Cổng Chùa, hay như vai một lão nông Đồng Tháp trong vỡ Người Giữ Mộ. Rồi các vai đã kể trên cũng là vai lão: Ông Hương Cả, Hội Đồng Thăng, hay như vai được nhiều bà con Nam Bộ yêu thích là vai Hội Đồng Dư trong vỡ Tiếng Hò Sông Hậu.

Điều đáng chú ý là, tất cả các vai đó đều là “ông già Nam Bộ” cả. Và Diệp Lang đã thể hiện rất thành công. Có thể nói rằng, nếu nói Sơn Nam là Ông già Nam Bộ trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa Miền Nam, thì Diệp Lang là Ông già Nam Bộ trong lĩnh vực cải lương. Có lẽ do cách diễn xuất tự nhiên, gần gũi với cuộc sống, nên các vai Ông già Nam Bộ của Diệp Lang đã rất thành công và dễ dàng được sự chấp nhận của bà con Nam Bộ.

Tóm lại, dù là vai ác hay vai lão, thì có một điều cần nhấn mạnh, đó là : Diệp Lang đã để đời các vai diễn nhờ vào tài “ca trong diễn, diễn trong ca”, nhờ vào lối diễn tự nhiên, chân phương, “diễn như không diễn”. Như đã nói, kép độc thì nặng về diễn xuất, và thường các nghệ sĩ đóng kép độc ca vọng cổ không mùi, trái hẳn với mấy anh kép chánh bắt buộc phải ca vọng cổ cho hay cho mùi. Do mất giọng ca, nên Diệp Lang đã đổi hướng sang kép độc, nhưng cái dấu ấn của Diệp lang là “kép độc mùi”. Có thể nói rằng, Diệp Lang là kép độc mùi số một của sân khấu cải lương Nam Bộ nhờ vào sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ca và diễn.

Diệp Lang rất tâm đắc lời dạy của nghệ sĩ lão thành Năm Châu là: “Đã ra sân khấu thì phải diễn, nhưng đừng diễn”. Ra sân khấu thì phải diễn xuất chứ, vì đó là tuồng hát không phải cuộc đời, thế nhưng cái khó là người nghệ sĩ phải diễn xuất chân thật như thế nào để cho người xem không còn nhận ra đó là đang diễn mà là sự thật cuộc đời. Tức là diễn xuất phải tự nhiên, phải chân thật, phải làm sao cho cuộc đời sân khấu và sân khấu cuộc đời hòa quyện vào nhau. Và Diệp Lang đã đạt được trình độ diễn xuất đó.

Phong cách diễn xuất của Diệp Lang là một bài học quý cho thế hệ cải lương hiện tại, vì rõ ràng là, một trong những nguyên nhân chính khiến cải lương hiện tại mất dần sự hấp dẫn, đó là có không ít nghệ sĩ có lối diễn xuất xa rời thực tế.

Yên Huỳnh post (theo Lê Phước)

Tr mat na– Vở cải lương Nửa Đời Hương Phân (2:15)

– Soạn giả: Hà Triều, Hoa Phượng

– Thành phần nghệ sĩ : Diệp Lang, Minh Vương, Thanh Tòng, Phương Quang, Bảo Quốc, Quốc Kiệt, Hồng Nga, Lệ Thủy, Kiều Mai Lý, Tú Trinh,…

http://youtu.be/QnB0cMI41YM

CẦN BÁN NHÀ GẤP

Một căn nhà đẹp tuyệt vời 4,5 x 25m, mới xây dựng, đã có sổ hồng : một trệt, một lầu, một sân thượng, nội thất với thiết kế hiện đại, 3 máy lạnh, có nhà để xe ô tô… chỉ với giá 50 lượng vàng SJC (# giá 1,8 tỷ VNĐ) có thương lượng, cần bán gấp để đi xa.

Địa điểm : đường Kha Vạn Cân chưa qua cầu vượt Linh Xuân (thuộc Bình Dương – giáp ranh với quận Thủ Đức. TP.HCM). Nếu đi từ chợ Thủ Đức qua khỏi xưởng Miliket khoảng 100m, gặp một đường nhánh rẻ phía bên trái, gần những khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương.

Điện thoại liên hệ : 0935.198.047 – 0164.619.6922 (ông Việt)