CHUYỆN THỦ HUỒN & SÔNG NHÀ BÈ

logo-bay-gio-ke

10-nha-be-1SỰ TÍCH SÔNG NHÀ BÈ

TỨC TRUYN THỦ HUN

Ngày xưa ở đất Gia định (thuộc đất Biên Hòa và Quận Bình Thạnh ngày nay) có một người tên là Thủ Huồn (1). Hắn xuất thân làm thơ lại. Trong hơn hai mươi năm luồn lọt trong các nha các ti, hắn đã làm cho bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu người bị oan uổng; do đó hắn đã vơ vét được bao nhiêu là tiền của.

Vợ hắn chết sớm lại không có con cho nên tiền bạc của hắn không biết tiêu đâu cho hết. Ngoài số chôn cất, hắn đem tiền tậu ruộng làm nhà. Ruộng của hắn cò bay thẳng cánh, mỗi mùa thu hoạch kể hàng ngàn “giạ” lúa.

Khi thấy cuộc sống quá sung túc, hắn mới thôi việc về nhà, sống một cuộc đời trưởng giả.

Một hôm, có người mách cho Thủ Huồn biết chợ Mạnh-ma ở Quảng Yên là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau. Muốn gặp người chết, người sống phải chờ đến mồng một tháng 6 ÂL, mang một món hàng vào chợ hồi nửa đêm mà đi tìm. Thủ Huồn là người rất yêu vợ. Tuy vợ chết đã ngoài mười năm nhưng hắn vẫn không lúc nào quên. Hắn bèn giao nhà lại cho người bà con rồi làm một chuyến du lịch ra miền Trung, mong gặp lại mặt vợ cho thỏa lòng thương nhớ bấy lâu.

Khi gặp vợ, Thủ Huồn không dám hỏi vì thấy vợ ăn mặc rất đài các. Sau cùng người đàn bà ấy cũng nhận ra được. Thủ Huồn mừng quá vội dắt vợ ra một chỗ kể cho vợ nghe cảnh sống của mình từ lúc âm dương cách biệt. Rồi hắn hỏi vợ:

– Mình lâu nay làm gì ?

– Tôi làm vú nuôi trong cung vua. Cuộc đời của tôi không có gì đáng phàn nàn. Tôi có một gian nhà riêng trong hoàng cung, cái ăn cái mặc được chu cấp đầy đủ.

Hắn nói :

– Tôi nhớ mình quá. Tôi muốn theo mình xuống dưới ấy ít lâu có được không ?

10-nha-be-2– Đi được. Nhưng chỉ trong vài ngày là cùng, nếu quá hạn sẽ nguy hiểm.

Thủ Huồn và vợ cùng đi. Qua mấy dặm đường tối mịt, chả mấy chốc đã đến cõi âm. Hắn rùng mình khi lọt qua bao nhiêu cổng trước lúc vào thành nội, qua những tên quỷ gác cổng có những bộ mặt gớm ghiếc. Nhờ có vợ nên chỗ nào cũng vào được trót lọt. Đến một gian nhà thấp, vợ bảo chồng :

– Đây là nhà bếp, đằng kia là nhà ngục, trước mặt là cung hoàng hậu, chỗ tôi túc trực hàng ngày. Qua khỏi đấy là cung vua. Cứ ẩn tạm trong buồng vắng này vì không thể lên buồng tôi trên kia được. Tôi sẽ kiếm cách cho chàng đi xem một vài chỗ, nhưng rồi phải về ngay.

Chiều hôm đó người vợ về trao cho Thủ Huồn một mảnh giấy phép và nói :

– Chỉ có cung vua và cung hoàng hậu thì đừng có vào còn mọi nơi khác chàng cứ đi xem cho thỏa thích.

Hắn lượn mấy vòng xung quanh nhà bếp rồi tiện chân đến nhà ngục. Chưa lọt khỏi cổng mà những tiếng kêu khóc, tiếng la hét ở phía trong làm cho hắn bồn chồn. Qua mấy phòng chuyên mổ bụng, móc mắt, cắt tay, v.v… hắn thấy đây quả là nơi hành hạ tội nhân kinh khủng, đúng như lời đồn ở trên trần thế.

Sau cái bàn xẻo thịt là cả một kho gông. Trong đó có một cái gông đặc biệt: nó vừa to vừa dài, làm bằng những thanh gỗ nặng như sắt. Thủ Huồn lân la hỏi người cai ngục :

– Thứ gông này để làm gì ?

– Để chờ một thằng ác nghiệt ở trần xuống đây. Bao nhiêu những cái gông trong này đều đã có chủ cả. Cứ xem gông10-nha-be-3 to hay nhỏ thì biết tội ác của nó.

Thủ Huồn lại hỏi :

– Thế cái thằng sẽ đeo cái gông vừa to vừa dài đó là ai ?

Lão cai ngục thủng thỉnh giở một cuốn sách vừa to vừa dày chỉ vào một hàng chữ, đọc : “Hắn là Võ Thủ Hoằng tức là Thủ Huồn”. Rồi nói tiếp :

– Thằng cha đó ở Đại-nam quốc, Gia-định tỉnh, Phúc-chính huyện…

Nghe nói thế, Thủ Huồn giật mình mặt xám ngắt. Nhưng hắn vẫn giữ được vẻ bình tĩnh. Hắn hỏi thêm :

– Thế nào ? Hắn có tội gì ?

Lão cai ngục mắt vẫn không rời quyển sách.

– Khi làm thơ lại hắn bẻ mặt ra trái làm bao nhiêu việc oan khốc đến nỗi tội ác của hắn đen kín cả mấy trang giấy đây. Này nghe tôi đọc này : năm Ất sửu hắn sửa hai chữ “ngộ sát” thành “cố sát” làm cho hai mẹ con thị Nhân bị chết để cho người anh họ chiếm đoạt gia tài. Việc này Thủ Huồn được mười nén vàng và mười nén bạc, một trăm quan tiền. Cũng năm đó, hắn làm cho ông Ngô Lai ở thôn Bình-ca bị hai mươi năm tội đồ chỉ vì trong nhà có cái áo vải vàng, để đoạt không của ông ta mười hai mẫu ruộng. Năm…

Thủ Huồn tái mặt, không ngờ mỗi một cái cất tay động chân của mình trên kia, dưới này đều rõ mồn một. Hắn ngắt lời đánh trống lảng.

– Thế vợ hắn có cùng đeo gông không hở ông ?

– Ồ ! Ai làm người ấy chịu chứ ! Vợ hắn nghe đâu là người tốt đã xuống đây rồi.

Thủ Huồn lại hỏi gặng :

– Ví thử hắn muốn hối cải thì phải làm thế nào ?

10-nha-be-4Lão cai ngục hạ sách xuống bàn, đáp :

– Đã vay thì phải trả ! Nếu hắn muốn thì phải đem những thứ của cải cướp giật được đó bố thí và cúng lễ cho hết đi.

Từ biệt lão cai ngục và những hình cụ khủng khiếp, Thủ Huồn không còn bụng dạ nào để đi xem nơi khác nữa. Vợ thấy chồng đòi về, lại đưa chồng ra khỏi hoàng cung của Diêm vương và ra khỏi mấy dặm đường tối tăm mù mịt. Lúc sắp chia tay hắn bảo vợ :

– Tôi về trang trải công nợ có lẽ ba năm nữa tôi lại xuống. Mình nhớ lên chợ đón nghe !

Về tới Gia-định. Thủ Huồn mạnh tay bố thí. Hắn tập hợp những người nghèo khó trong vùng lại, phát cho họ tiền, lúa. Hắn đem ruộng đất của mình cúng cho làng, cho chùa, chia cho họ hàng thôn xóm. Hắn mời hầu hết sư, sãi các chùa gần vùng tới nhà mình cúng cơm, tốn kém kể tiền vạn.

Người ta lấy làm lạ không hiểu tại sao một tay riết róng như hắn bây giờ trở nên hào phóng một cách lạ thường. Ai xin gì được nấy. Có những người trước chửi hắn bây giờ lại đâm ra thương hại hắn. Nhiều người bảo nhau :

10-nha-be-5– “Thứ của vô nhân bất nghĩa ấy không trước thì sau thể nào cũng đội nón ra đi mà thôi !” hay là :

– “Có lẽ hắn không con, biết để của cũng chả làm gì nên tự làm cho vợi bớt”.

Thủ Huồn có nghe rất nhiều lời đàm tiếu về mình, nhưng hắn chẳng nói gì sất, cứ việc quẳng của không tiếc tay. Cứ như thế sau ba năm, Thủ Huồn tính ra đã phá tán được ba phần tư cơ nghiệp. Nhớ lại lời hẹn, hắn lại khăn gói ra Bắc tìm đến chợ Mạnh-ma. Ở đây, hắn dỗ khéo được vợ cho hắn xuống thăm cõi âm một lần nữa.

Khi trở lại nhà ngục. Thủ Huồn thấy quang cảnh vẫn như cũ. Lão cai ngục vẫn là lão cai ngục ba năm về trước. Cách bố trí y hệt như xưa : cũng có nơi mổ bụng, nơi móc mắt, cắt tay,… Duy chỗ để gông thì có ít nhiều thay đổi. Bên cạnh những cái vẫn còn nguyên hình như xưa thì lại có những cái trước bé nay đã lớn lên, có cái trước lớn, nay nhỏ hẳn đi. Đặc biệt cái gông mà Thủ Huồn chú ý nhất thì bây giờ đã rút ngắn lại tuy vẫn còn to và dài hơn các thứ gông thường một tý. Hắn lân la hỏi lão cai ngục :

– Cái gông để ở nơi này trước kia tôi nhớ hình như to lắm thì phải.

– Đúng đấy ! Lão đáp. Có lẽ gần đây ở trên dương thế thằng cha ấy đã biết chuộc lỗi nên nó đã nhỏ lại. Nếu hắn gắng hơn nữa, thì rồi sẽ có phúc lớn.

10-nha-be-6Thủ Huồn lại lên đất, trở về Gia-định. Hắn lại làm tiếp công việc bố thí và cúng dàng. Lần này hắn bán hết tất cả những gì còn sót lại, kể cả nhà của của mình. Hắn đến Biên-hòa dựng một ngôi chùa lớn để cúng Phật. Hắn xuôi sông Đồng-nai để làm một việc nghĩa cuối cùng. Hồi đó ở ngã ba sông Đồng-nai và sông Gia-định việc đi lại rất bất tiện. Cũng vì thế mà bên kia sông Đồng-nai người ta còn ngần ngại chưa dám di cư sang để sinh cơ lập nghiệp.

Thủ Huồn liền quyết định ở lại đây. Hắn kết một cái bè lớn, trên bè có nhà ở, có đủ chỗ nghỉ, có sẵn nồi niêu, đồ dùng và tiền gạo. Những thứ ấy hắn dùng để tiếp rước những người qua lại, nhất là những người nghèo khó. Hắn cho họ trú ngụ tại bè của mình kẻ năm ba ngày, người một đôi tháng mà không lấy tiền. Hắn làm công việc đó mãi cho đến ngày xuống âm phủ thật sự.

oOo

Sau đó khá lâu, có lần một ông vua tên là Đạo Quang bên Trung-quốc lúc mới lên ngôi có cho sứ sang Việt-nam hỏi lai lịch một người ở Gia-định. Số là khi nhà vua mới sinh, người ta thấy trong lòng bàn tay vua có mấy chữ: “Đại-nam, Gia-định, Thủ Hoằng”, nên nhà vua cần biết rõ gốc gác Thủ Hoằng là ai. Sau khi sứ giả cho biết rõ lai lịch Thủ Huồn, vua Trung-quốc có cúng vào ngôi chùa Biên-hòa ba pho tượng vàng. 10-nha-be-7Do việc đó người ta bảo Thủ Huồn nhờ thành thực hối lỗi, chẳng những làm tiêu mất cái gông chờ hắn ở cõi âm, mà còn được Diêm vương cho đi đầu thai làm vua Trung-quốc.

Ngày nay, một ngôi chùa ở Biên-hòa còn mang tên là chùa Thủ Huồn: chỗ ngã ba sông Đồng-nai và Gia-định còn gọi là sông Nhà-bè để kỷ niệm lòng tốt của Thủ Huồn đối với khách hộ hành Nam Bắc qua con sông đó [2].

Có câu tục ngữ:

Nhà bè nước chảy phân hai,

Ai về Gia-định Đồng-nai thì về.

Khảo dỊ

Truyện trên giống với truyện Người đi dạo âm phủ cũng do Jê-ni-bren (Génibrel) sưu tập :

Có hai vợ chồng một người ở Nam-định, nhà giàu có lớn. Họ sinh được một cô con gái rất xinh và khôn ngoan tên là Trần Thị Xuân. Đặc biệt là mỗi bàn tay có sáu ngón. Không may năm nàng mười ba tuổi thì bị lên đậu trời mà chết. Thương nhớ con gái, hai vợ chồng không thiết làm ăn gì nữa.

Nghe nói ở Quảng-yên có chợ Mạnh-ma, ở đấy dương gian và âm phủ có thể gặp nhau được, hai vợ chồng bèn tìm đến, mong được gặp con. Họ có mang theo một cái quả bằng bạc sắm cho cô gái lúc còn sống.

Nhằm ngày mồng một tháng Sáu họ đến chợ giả bày hàng ra bán. Lát sau, người con gái đến hàng mua trầu, trông thấy cái quả của mình liền hỏi chuyện. Cha mẹ nhận ra con nhờ có bàn tay sáu ngón của cô và được con mời đi dạo cảnh âm phủ.

Chồng của cô là một viện quan giám thành, đưa cha mẹ vợ đi coi các cửa ngục. Khi đến cửa thứ nhất, hai vợ chồng thất kinh thấy tên tuổi của họ có yết ở cửa ngục. Họ vờ hỏi chàng rể tại sao có tên yết ở cửa, thì hắn bảo :

10-nha-be-8– “Hai người đó ở dương gian cho người ta vay nợ một lớp vốn năm bảy lớp lời làm cho người ta phải bán vợ đợ con nên yết lên để chờ làm tội”.

Hai vợ chồng lại hỏi :

– “Vậy chúng nó muốn khỏi tội thì phải làm thế nào ?”

– “Phải làm chay bố thí cho hết của đó, mới mong khỏi được”.

Trở về làng cũ hai vợ chồng dốc của cải ra đón sư làm chay và mạnh tay bố thí. Sau khi hết của họ lại lần mò ra chợ Mạnh-ma tìm con gái và định đòi xuống âm phủ xem thế nào. Nhưng cô gái vừa gặp cha mẹ đã bảo :

– “Cha mẹ đã sạch tội rồi, không còn thấy tên ở cửa ngục nữa. Vậy chả cần xuống làm gì”.

Cả hai truyện trên có lẽ chịu ảnh hưởng từ một số Phật thoại ngoại lai trong đó có truyện Mục Liên thăm mẹ ở địa ngục khá phổ biến ở Việt-nam. Phần cuối truyện Thủ Huồn tương tự với Sự tích sư ông Huyền Chân Truyện bà Hiếu.

Sự tích sư ông Huyền Chân : Xưa, ở chùa Quang Minh, xã Hậu-bổng (Hải-dương) có một hòa thượng nổi tiếng chân tu. Lúc về già, Phật Di-đà hiện lên báo mộng rằng :

– “Nhà người có công với đạo Phật, kiếp sau sẽ cho giáng sinh làm vua Trung-quốc”. Khi hòa thượng chết, nguoi-xua-1đệ tử vâng lời thầy viết vào vai mấy chữ “Hòa thượng Huyền Chân chùa Quang Minh“.

Về sau có lần sứ bộ Việt Nam sang Trung Quốc. Khi yết kiến, chánh sứ Nguyễn Tự Cường được vua Minh Hy Tông cho biết là mình sinh ra trên vai có mấy chữ, rửa mấy cũng không sạch, không biết đầu đuôi vì sao. Nguyễn Tự Cường về dò hỏi mới biết câu chuyện sư Huyền Chân, vội mang nước giếng chùa Quang Minh sang cho vua Trung-quốc. Kết quả, nước rửa đến đâu chữ mất đến đấy [3].

Truyện bà Hiếu : Ở làng Linh Chiểu Đông (Gia-định) có người đàn bà tên là Hiếu nhà giàu, không có con cái. Bà bèn lập chùa Hòa Nghiêm bao vây một khoảng đất rộng để cho kẻ nghèo chôn cất làm phúc. Nhờ có công đức đó nên khi chết được đầu thai làm con gái vua Trung Quốc. Công chúa khi đẻ ra có chữ son “Gia-định, Linh-chiểu Đông, chùa Hoa-nghiêm” vua Trung-quốc cho là sự lạ, gửi giấy sang hỏi bên ta. Sau đó vua sai cúng vàng bạc vào chùa và xin đưa bài vị sang để thờ. Làng không chịu, chỉ làm một bài vị khác đưa sang cho vua Trung Quốc [4].

[1] Theo Trương Quốc Dụng trong Thoái thực ký văn.

[2] Theo Jê-ni-bren (Génibrel), sách đã dẫn, và tham khảo Thơ ông Thủ Huồn của Nguyễn Hữu Rằng.

[3] Theo Vũ Phương Đề. Công dư tiệp ký.

[4] Theo Lăng-đờ (Landes). Sách đã dẫn.

9-mon-nam-bo-1Xuân Mai chuyển tiếp

MÓN ĂN NAM BỘ

ĐONG ĐẦY Ý NGHĨA

Khi Tết Nguyên Đán đến, người dân Nam Bộ náo nức, tưng bừng chuẩn bị mọi thứ để đón chào năm mới, nhất là mâm cỗ Tết để cúng ông bà, tổ tiên. Mâm cỗ Tết Nam Bộ với các món ăn truyền thống, giản đơn mà đong đầy ý nghĩa.

1/- Thịt kho rệu : Tết đến, món thịt kho rệu là món chủ lực trong mâm cỗ cúng tổ tiên của người Nam Bộ. Món này còn có tên gọi khác là thịt kho hột vịt hay thịt kho tàu. Mới nghe “thịt kho tàu” tưởng chừng đây là món ăn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nhưng thật ra đây là món thuần Việt vì nhà văn Nam Bộ – Bình Nguyên Lộc từng giải thích rằng chữ “tàu” có nghĩa là “lạt” hay “nhạt”.

Thịt kho rệu là món ăn đơn giản, dễ làm, nhưng cũng có những bí quyết riêng để món ăn thơm ngon, đậm vị.9-mon-nam-bo-2a Để làm món ăn này, các mẹ, các chị thường lựa chọn thịt ba rọi hay thịt đùi rồi cắt thành miếng cỡ nửa bàn tay xòe, có người kỹ tính còn dùng dây lạt để cột ngang từng miếng thịt lại trước khi ướp để lúc nấu thịt không bị bung và bở, trông miếng thịt đẹp hơn. Những miếng thịt được ướp với các gia vị như đường, muối, tỏi và không thể thiếu ớt sừng trâu đập giập. Muốn miếng thịt trong thì đem phơi nắng một lúc, sau đó chấy tỏi mỡ cho thơm rồi cho thịt vào, nhanh tay trộn đều để miếng thịt săn lại. Còn trứng vịt luộc chín, để khi gỡ vỏ không bị dính tròng trắng mà vẫn còn nguyên vẹn thì người ta sẽ ngâm trứng vịt trong nước lạnh khoảng 10 phút.

Nước nấu thịt phải là nước dừa xiêm mới “đúng điệu”. Cho nước dừa xiêm vào nồi nấu sôi thì thả ít tỏi vào. Khi nghe mùi thơm của tỏi tỏa ra thơm lựng thì đó là lúc thả thịt vào kho với lửa lớn chừng 20 phút. Lúc đó, với kinh nghiệm của mình, các mẹ, các chị sẽ hạ lửa nhỏ xuống cho nước sôi liu riu. Canh khoảng một lúc nữa thì cho hột vịt vào tiếp tục kho đến khi nào miếng thịt mềm, 9-mon-nam-bo-2bnước kho thịt không cần nước màu cũng chuyển sang màu cánh gián.

Thịt kho rệu của người Nam Bộ đúng như tên gọi phải “rệu, rục” mới ngon. Miếng thịt có sự hòa quyện đủ sắc màu hương vị: màu đỏ au của thịt nạc, màu nâu nâu của trứng vịt và da hầm nhừ, sắc trong của mỡ sóng sánh trong màu vàng ươm của nước. Không thiếu vị ngọt bùi thanh khiết của nước dừa xiêm, cái vị thanh thanh của đường lẫn mằn mặn của nước mắm.

Món thịt có nạc có mỡ lại béo ngậy màu sắc ấm áp thể hiện mong muốn một năm mới đủ đầy, sung túc. Ngoài ra, tính hào sảng, cởi mở của người Nam Bộ cũng thể hiện rất rõ qua món ăn này. Vì món dễ nấu, nên Tết đến, các nhà thường hùn nhau nấu chung rồi chia phần cho nhau vừa vui, vừa ý nghĩa.

2/- Khổ qua dồn thịt : Khổ qua (mướp đắng) được người dân miệt vườn Nam Bộ chế biến thành món ăn giản đơn hàng ngày trong bữa cơm gia đình. 9-mon-nam-bo-3Thế nhưng, khi Tết đến xuân về, món khổ qua dồn thịt là món ăn không thể thiếu. Người Nam Bộ quan niệm “khổ qua” không chỉ là tên một loại trái mà còn có nghĩa là những phiền não, đau khổ của năm cũ sẽ qua hết, năm mới sẽ được nhiều vui sướng, may mắn cho gia đình.

Để làm món khổ qua dồn thịt, việc quan trọng đầu tiên là phải chọn những trái khổ qua có màu xanh đậm, suôn dài đều nhau vì dễ lấy ruột ra và dồn thịt vào. Các mẹ, các chị không chọn trái quá mập vì khi dồn sẽ hao thịt mà khi chín khó cắt khúc cho đều không đẹp mắt. Trái khổ qua đem dạt chéo một đầu, dùng muỗng lấy hết ruột ra ngoài rồi ngâm nước lạnh để khi hầm khổ qua vẫn giữ được màu xanh mướt đẹp mắt. Tùy theo sở thích của từng người, nhân khổ qua có nhiều loại. Nhưng phổ biến nhất là trộn thịt cá thát lát với thịt heo rồi xay nhuyễn như thế nhân sẽ dai, giòn, ngon. Sau đó, phết nhân cho dẻo, rồi khéo léo dồn nhân vào ruột trái khổ qua sao cho vừa khít, nhưng không làm nứt vỏ. Để khi hầm khổ qua không bị nứt vỏ thì dùng hành lá hay dây lạt buộc chặt trái lại.

Nước hầm khổ qua phải là nước dừa xiêm ninh với xương ống để nước thật ngọt. Khi nước sôi thì thả khổ qua vào, để lửa lớn cho nước sôi bùng lên thì vớt bọt cho nước hầm trong. Để lửa riu riu cho đến khi nồi khổ qua hầm chín vừa ăn thì múc ra tô. Ngày Tết, bên cạnh những món dầu mỡ, thịt cá, người Nam Bộ đổi vị bằng món khổ qua hầm đăng đắng mát tận ruột gan để đón năm mới mọi sự “khổ” đều “qua” hết cả.

9-mon-nam-bo-4a3/- Bánh tét : Cũng như bánh chưng miền Bắc, bánh tét là món ăn truyền thống ngày tết trong mâm cỗ Nam Bộ. Bánh tét thường được gói vào khoảng 28 đến 29 Tết để kịp ngày 30 Tết có bánh để rước ông bà. Để kịp gói bánh tét, người gói phải chuẩn bị các nguyên vật liệu trước đó khoảng một tuần, từ gạo nếp gói bánh đến lá chuối phải róc ra phơi sẵn cho héo, dây buộc bánh phải là dây lạt.

Tùy theo ý thích của mỗi nhà mà nhân bánh có thể là nhân ngọt hoặc nhân mận như: chuối chín, đậu, thịt mỡ… Ngoài ra, trong phần nếp, người ta còn trộn thêm đậu đỏ hay đậu đen cho bắt mắt. Đến ngày gói bánh, mọi người trong nhà sẽ tụ họp, phân chia công việc cụ thể: người khéo tay thì xào nếp, làm nhân, trẻ con có thể phụ lau lá chuối… không khí vui vẻ, náo nhiệt, chuyện trò rôm rả suốt cả ngày.

9-mon-nam-bo-4bVới người Nam Bộ, bánh tét không chỉ là món ăn mà ẩn chứa nhiều ý nghĩa nhân sinh. Những lớp lá bao bọc quanh nhân bánh như: người mẹ bao bọc, chăm lo cho đàn con thân yêu… Đặc biệt, hình ảnh màu xanh của đồng quê sông nước, những sản vật của thiên nhiên Nam Bộ đều thể hiện qua đòn bánh tét xanh nhân vàng gợi lên niềm mơ ước “an cư lạc nghiệp” của tổ tiên từ ngàn đời xưa.

Cũng như bánh chưng miền Bắc, bánh tét Nam Bộ tuy giản đơn, nhưng đề cao sự lao động của con người, sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, sự giao hòa giữa trời đất và tấm lòng thành kính hướng về tổ tiên.

9-mon-nam-bo-5a4/- Lạp xưởng : Ngày Tết Nam Bộ trên mâm cỗ cũng không thể thiếu món lạp xưởng. Cách làm món lạp xưởng khá kỳ công trải qua nhiều công đoạn, với nguyên liệu chủ yếu là ruột heo và thịt heo.

Bằng kinh nghiệm của bản thân, các mẹ, các chị lựa ruột heo tươi, ruột không quá già cũng không quá non. Ruột đem về cạo rửa thật sạch, để ráo rồi đem phơi. Còn thịt heo nên chọn phần thịt nạc đùi heo đem về khéo léo lóc bỏ hết gân, mỡ rồi cùng nhau xắt nhỏ còn nếu muốn nhanh hơn thì đem xay nhưng cũng chỉ xay vừa chứ không quá nhuyễn vì nhuyễn quá lạp xưởng sẽ không dai.

Để tăng hương vị đậm đà cho lạp xưởng, phần thịt sẽ trộn thêm với mỡ theo tỉ lệ hợp lý rồi ướp với muối, đường, bột ngọt, tỏi và nhất định phải có tiêu hột và rưới thêm ít rượu trắng vào. Chờ một lúc cho gia vị ngấm đều thì đem hỗn hợp thịt đó dồn vào ruột heo khô, khéo léo dùng dây cột thành từng 9-mon-nam-bo-5bđoạn nhỏ rồi đem phơi ngoài nắng, theo thời gian sẽ lên men và dần dần ửng đỏ trong rất đẹp.

Lạp xưởng là món ngon, góp thêm hương vị đậm đà cho ngày Tết. Món này lại dễ chế biến, chỉ cần đem luộc chín rồi chiên lại cho vàng là có thể ăn ngay. Thưởng thức lạp xưởng, bạn sẽ cảm nhận được sự hòa quyện của vị ngọt đong đầy của thịt mỡ với hương thơm của gia vị đâu đó chút vị cay cay, thơm lừng của tiêu. Ăn lạp xưởng thường kèm với củ kiệu, dưa chua, rau ngò… thì ăn hoài cũng không ngán. (theo Nhất Huỳnh)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỚ SAIGON

logo-bay-gio-ke

10-nho-saigon-1NHỚ SAIGON

Tôi hay “viện dẫn” hai câu thơ của mình mỗi khi phải hồi âm một cánh thư xa nào đó, thường là câu hỏi “Sài Gòn bây giờ ra sao ?”

Thật ra trong cảm nhận của tôi, Sài Gòn vẫn thế. Bởi dù trải qua nhiêu bao biến cố thăng trầm, thì Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, thủ đô trong những trái tim miền Nam ngày nào vẫn không bao giờ thay đổi. Sài Gòn của một thời tôi mới lớn, những “con đường tình ta đi” Duy Tân, Trần Quý Cáp, Tú Xương, Công Lý. Những chiều bát phố Lê Lợi, Tự Do. Những rạp cine. Món bánh tôm hẻm Casino (Sài Gòn). Những xe bò viên Nguyễn Thiện Thuật. Bánh mì thịt trước chợ Trương Minh Giảng, gỏi đu đủ – khô bò – nước mía Viễn Đông (góc Lê Lợi – Pasteur)…

Sài Gòn của tôi “sáng nắng chiều mưa”. Mưa như được lập trình sẵn. Hoặc chiều hoặc sáng, có khi… cùng giờ nên người Sài Gòn có thể nhởn nhơ bát phố khi “cơn mưa qua”, rất ít khi mưa như… đòi nợ, điều này những năm gần đây hình như thay đổi, mưa dầm và mưa… mất trật tự, người Sài Gòn vốn quen kiểu “xưa” chẳng biết đâu mà lần! Nắng Sài Gòn không quá gắt. 10-nho-saigon-2Có lẽ nhờ thế nên mới chợt mát chỉ qua màu áo lụa Hà Đông.

Sài Gòn của tôi có những ngôi trường đi vào thơ và nhạc như Văn Khoa, Luật, Gia Long, Trưng Vương, những con đường địa chỉ báo như Lê Lai, Phạm Ngũ Lão… Hồn đất và hồn người quyện nhau hồn hậu, chân tình.

Sài Gòn của tôi quốc vương Cam-bốt từng du học, người Sài Gòn chê hàng Thái, không thèm xài Colgate vì đã có kem Hynos “anh yêu em, anh yêu luôn kem” xịn hơn.

Sài Gòn của tôi trẻ – luôn luôn trẻ. Không phải vì thiếu phố cổ hay người Sài Gòn không thích “ra vẻ cụ” mà vì Sài Gòn luôn luôn mới, hồn nhiên và dễ thương, không điệu đà, kệch cỡm. Sài Gòn của tôi còn nhiều hơn thế. Không diễn tả hết dù văn hóa cách mấy. 10-nho-saigon-3Chỉ giản dị như lời hát “Sài Gòn đẹp lắm ! Sài Gòn ơi ! Sài Gòn ơi !”

Không lớn lao gì, kỷ niệm chỉ chứa đầy ngăn cặp học trò. Sự ồn ào sống động, dễ thương của vùng đất và con người. Đi xa, cứ về đến cầu Sài Gòn hay cầu Bình Điền là coi như đến nhà. Như bạn bè cùng trang lứa, tôi giữ Sài Gòn như giữ chính cuộc đời mình. Khóc một ngày khi thương xá Tam Đa bị thiêu rụi. Thức một đêm khi Eden bị đập bỏ. Có thể thay vào sẽ là một tòa nhà đẹp hơn, nhưng Eden của ngày nào:

“Qua hành lang Eden ghi kỷ niệm

Buổi chiều mưa hai đứa đứng bên thềm

Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím

Anh quen rồi, không lạnh – lính mà em !”

Thì không bao giờ còn nữa .

10-nho-saigon-4

Hơn sáu mươi năm hãnh diện làm “dân Sài Gòn”. Bỗng chợt giật mình tự hỏi, có khi nào người ta phù phép để Sài Gòn biến mất không nhỉ ? Có khi nào Vương Cung Thánh Đường, chợ Bến Thành, bưu điện Sài Gòn, một sớm mai thức dậy người Sài Gòn ngơ ngác hay tin sẽ trở thành trung tâm thương mại, cao ốc chọc trời… Ôi! Sài Gòn của tôi !!

Tôi vẫn nói vui rằng mình giữ lại “Sài Gòn xưa”. Từng tên đường, góc phố, giữ lại những buổi chiều hẹn hò : “Uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” và giữ lại mãi mãi,những dấu yêu xưa ! Và rồi lại buốt tim khi nghĩ đến một ngày nào “Sài Gòn của tôi” sẽ chỉ còn là hoài niệm. Vô tình ai đó sẽ tìm thấy trong những trang sách hằn dấu thời gian ở một hiệu sách cũ.

10-nho-saigon-5

Sài Gòn ơi ! Tôi gặp lại họ rất tình cờ, trong một… tiệm sách cũ, nơi thường lưu lại những gì mà ta còn nhớ hay đã quên. Những trang giấy đã không còn nguyên màu trắng. Những dòng chữ như cũng nhạt theo năm tháng. Nhưng hình ảnh, dù phôi pha, thì nụ cười, ánh mắt cũng gợi nhớ một thời ta đã sống. Thời mà tên tuổi họ trên môi người hâm mộ Nghệ thuật thứ bảy, và họ được gọi một cách trang trọng là tài tử minh tinh.

Chưa xa lắm nhưng cũng đủ để quên những gì không muốn nhớ. Khi mà muốn xem phim người ta không thể làm gì khác hơn là đến rạp, và cứ có phim hay là rạp chật như nêm… Và rạp hát nào cũng treo đầy ảnh minh tinh tài tử, không phải Hồng Kông, 10-nho-saigon-6Hàn Quốc như bây giờ mà toàn Việt Nam. Tôi say mê điện ảnh, dù chưa tới tuổi “đến rạp một mình” và yêu họ, dĩ nhiên

Dạo đó chưa có những chương trình giao lưu, tài tử điện ảnh, ca sĩ tân nhạc cũng chưa phải “chạy sô” như bây giờ. Họ coi nghệ thuật như cứu cánh của đam mê và cả cuộc sống thực tế, nghề tay trái hầu như không có.

Chẳng ai nghe nói Thẩm Thúy Hằng phải đi… biểu diễn tân nhạc để kiếm thêm, cũng không thấy Kiều Chinh tham gia chương trình “đại nhạc hội”. Họ cũng chẳng đóng cùng lúc hai, ba phim như các diễn viên “đắt khách” bây giờ. Dù đó là những tên tuổi lớn của điện ảnh Sài Gòn thuở ấy, những tên tuổi mà lứa tuổi 40, 50 hôm nay, nếu yêu điện ảnh khó mà quên được..

Một Kiều Chinh tuyệt vời trong “Hồi Chuông Thiên Mụ”, Thẩm Thúy Hằng với “Người Đẹp Bình Dương”, Kiều Nguyệt Nga – Thu Trang trong “Lục Vân Tiên”, Túy Phượng diễm kiều với vai Công chúa của “Thạch Sanh – Lý Thông”…

10-nho-saigon-7

Tôi yêu nét thùy mị của Thu Trang, vẻ sắc sảo của Kiều Chinh, và nét đẹp duyên dáng Thẩm Thúy Hằng. Nam tài tử có La Thoại Tân, Anh Tứ, Lê Quỳnh, Anh Sơn, Đoàn Châu Mậu, Tâm Phan, Huy Cường, Trần Quang… Vân Hùng chuyên đóng kịch với kỳ nữ Kim Cương, thỉnh thoảng cũng “lên phim”. Rất nhiều, thời nào thì nghệ thuật cũng cần rất nhiều. Dù trong số họ không phải ai cũng đến được vinh quang, và để hoàn thành tác phẩm nghệ thuật, không chỉ có diễn viên chính.

10-nho-saigon-8

Tình cờ gặp lại họ trong tiệm sách cũ. Nơi mà quá khứ lẫn với hiện tại, nơi mà thời gian chừng như bất lực, tôi thấy chút vui pha lẫn ngậm ngùi khi bắt gặp Lê Hoàng Hoa thời “mới làm quen với máy quay”, một Lê Mộng Hoàng hơn ba mươi năm về trước vẫn nhăn nhó… như bây giờ. Nụ cười Kiều Chinh và ánh mắt Thu Trang vẫn còn đó.

Một thời tôi đã lớn lên cùng với tên tuổi họ. Rồi tất cả bỗng như không còn, bỗng như chưa từng có. Người ta trôi theo nhịp sống bằng những cách khác nhau, và lưu giữ hay xóa đi dĩ vãng tùy thuộc mỗi người. Có điều chắc chắn rằng những gì đã có thì vẫn còn đâu đó, và ta sẽ gặp khi tình cờ một lúc nào đó đảo ngược được thời gian…

Và… thời gian đã đảo ngược với tôi, trong một tiệm sách cũ… Tình cờ……!

bo-tay-1Yên Huỳnh chuyển tiếp

DÂN CHƠI SÀI THÀNH XƯA :

VUNG TAY MUA XE SACHS GOEBEL

Tôi không sao quên được kỷ niệm của ngày Tết năm ấy. Anh tôi chở cha tôi trên chiếc xe này còn tôi lóc cóc đi xe đạp theo sau để về ăn Tết ở nhà ngoại. Cậu tôi và mấy anh con trai chạy ra trầm trồ quấn quít quanh chiếc xe mới quên cả chúc tụng…

Chiếc xe ấn tượng nhất với tôi có lẽ là chiếc xe máy Sachs. Tết năm 1960, tôi lên 10, chiếc xe đời mới nhất lúc bấy giờ là chiếc Gobel, thuộc dòng máy Sachs của Đức. Ngoài Gobel, dòng máy này còn mang hai nhãn hiệu khác là Ischia và Brumy. So với bây giờ, chiếc xe này đơn giản, thô kệch. Thiếu nhiều tiện nghi nhưng ở đó tôi tìm lại được cả một bầu trời tuổi thơ.

Ngày đó, được người lớn chở trên xe đi khắp phố phường với tôi là cả một niềm vui vô hạn. Đến 1963, 10-xe-may-1anh tôi được cha mua cho một chiếc với giá 12.000đ (tiền lúc bấy giờ). Đây là một cố gắng tột bực của người dành cho đứa con trai lớn bởi lương dạy học một tháng của ông chỉ vỏn vẹn 7.000đ – 8.000đ.

Tôi không sao quên được kỷ niệm của ngày Tết năm ấy. Anh tôi chở cha tôi trên chiếc xe này còn tôi lóc cóc đi xe đạp theo sau để về ăn Tết ở nhà ngoại.  Cậu tôi và mấy anh con trai chạy ra trầm trồ quấn quít quanh chiếc xe mới quên cả chúc tụng. Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in vẻ rạng rỡ trên gương mặt của anh tôi như một sự hãnh diện.

Chúng tôi lớn dần theo thời gian. Đến năm 18 tuổi, nhu cầu đi xe máy đã có. Tôi ao ước có được một chiếc như anh tôi nhưng vẫn không sao toại nguyện. Mãi đến 1970, sau khi ra trường lập gia đình, anh mua xe khác và chuyển chiếc xe cũ đó cho tôi. Quả là một sự sung sướng vô cùng.

Nhớ những buổi tan trường tôi đón em. Em ngồi sau xe, tà áo dài phất phơ. Chiếc nón lá được em kềm chặt. Rồi chúng tôi đưa nhau dạo một vòng bến Bạch Đằng ngang qua cột cờ thủ ngữ… Tôi nhớ đến những dòng xe như Mobylette nhiều đời từ loại sườn đũa đến màu xám, màu xanh. Nam thì đi Mobylette xám, sườn đũa, nữ đi xe màu xanh. Cũng một động cơ nhưng hình dáng chiếc xe phù hợp với từng phái.

10-xe-may-2

Thời trang dành cho phụ nữ, nhất là nữ sinh và nữ công chức là Vélo Solex. Toàn bộ chiếc xe kết cấu như xe đạp với sên, líp, giò đạp nhưng ở phía trước có một động cơ nhỏ. Bên dưới động cơ này có một cục đá nhám. Người đi xe, đạp một vài vòng cho có trớn rồi dùng tay đẩy cần động cơ về phía trước để cho cục đá nhám chạm vào bánh xe kéo quay tròn khởi động máy. Khi dừng, muốn tắt máy chỉ cần kéo cần động cơ vào trong đóng air là xong. Xe không ga không số chỉ chạy một tốc độ. Muốn chậm thì dùng thắng. Cả 2 loại Mobylette và Velo Solex đều có nguồn gốc từ Pháp.

Vào những năm của thập niên 60, chiếc Velo Solex là thời trang cao cấp của nữ giới. Nhìn người phụ nữ ngồi trên chiếc Velo Solex, phía sau tà áo dài tung bay trong gió, chiếc nón lá treo lủng lẳng phía trước đã làm mê mệt nhiều chàng trai.

10-xe-may-3

Đến giữa thập niên 1960, một nhà nhập cảng là ông Đặng Đình Đáng đã nhập về hàng trăm chiếc xe gắn máy hiệu Puch.

Xe Puch do Áo sản xuất có đặc tính vượt trội hơn các dòng xe đã có. Puch 3 số, 3 đèn, máy mạnh và tốc độ nhanh hơn. Thanh niên náo nức đợi ngày lô hàng được xuất ra nhưng không may cho ông Đáng, cũng vừa lúc đó hàng loạt xe Honda từ Nhật nhập về tràn lan thị trường.

Trước những thay đổi kết cấu, tính năng của Honda, xe Puch không được ưa chuộng. Kết quả sau đó, hàng trăm thậm chí hàng ngàn xe ba gát máy được nâng cấp từ máy Sachs sang máy Puch. 10-xe-may-4Động cơ của xe Puch được tháo ra bán để thu hồi vốn.

Chỉ một động cơ chưa được 50cc nhưng khi gắn vào xe ba gác, máy Puch đã cõng hàng tấn hàng chạy phăng phăng trên đường. Sự có mặt của xe ba gác máy Puch đến hôm nay đã nói lên được tuổi thọ quá cao loại động cơ này.

Cùng lúc đó, trên đường phố Sài Gòn, những chiếc xe du lịch như Traction 11, Traction 15, Renaul, Dauphine, Citroen thường được gọi là xe con cóc (của Pháp), Mercedes (của Đức) với dáng dấp quý phái chạy khắp đường phố bên cạnh những chiếc taxi 4 chỗ hình thù như con rùa với 2 màu sơn xanh trắng.

Đến đầu thập niên 70, tại Đà Lạt, một dòng xe du lịch mới ra đời mang dáng dấp Việt, xe La Dalat. Ngoại trừ động cơ trois chevaux (3 ngựa) của Pháp, tất cả từ khung sườn, thùng xe, dàn gầm đều do thợ Việt Nam thiết kế. La Dalat có dáng dấp giống Jeep lùn nhưng nhẹ nhàng thanh thoát hơn.

Nếu dòng xe La Dalat được duy trì phát triển đến giờ, biết đâu người Việt Nam mình có thể chế tạo cả động cơ, hoàn thiện một chiếc xe hơi hoàn toàn “made in Việt Nam” ? (theo Trần Chánh Nghĩa)

10-anh-lich-su-1NHỮNG BỨC ẢNH

CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ

Một bức hình có sức chứa vô hạn về cảm xúc, nó có thể truyền tải những thông điệp ẩn giấu mà đôi khi không thể dùng lời để diễn đạt.

Đặc biệt là với 15 bức hình lịch sử dưới đây, chúng khắc họa một cái nhìn sâu sắc, đa chiều về sự thảm khốc của chiến tranh và những sự kiện đã từng xảy ra trong quá khứ.

H1: Vào ngày 11 tháng 6 năm 1963, hòa thượng Thích Quảng Đức đã tẩm xăng tự thiêu tại một ngã tư đông đúc ở Sài Gòn nhằm phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa, miền Nam đương thời.

H2: Dù đau khổ đến rơi lệ, người phụ nữ Sudeten này (tên tiếng Đức để gọi chung một số vùng đất ở miền Bắc, Tây Nam và Tây của Tiệp Khắc) 10-anh-lich-su-2đã bị ép phải chào Hitler sau khi phát xít Đức lên cầm quyền,

H3: Hình ảnh đau xót của một bé gái khi phải chia tay gia đình để chạy trốn Đức quốc xã. Năm 1943, khi Hitler tăng cường các hoạt động diệt chủng đối với người Do Thái, chính phủ Anh Quốc đã tiến hành một chiến dịch mang tên Kindertransport nhằm chuyên chở những em bé người Đức và Ba Lan gốc Do Thái tới đất nước này.

H4: Tấm hình nhấn mạnh khung cảnh u ám trong thời Đại Suy Thoái tại Mỹ. Vào thời điểm ảm đạm này, ngay cả những công nhân lành nghề nhất cũng khó mà kiếm được một công việc ổn định. Tấm bảng viết: Tôi biết 3 nghề thương lái, có thể nói 3 thứ tiếng, đã đi lính 3 năm, có 3 đứa con, và đã thất nghiệp 3 tháng, nhưng tôi chỉ muốn 1 công việc mà thôi.”

10-anh-lich-su-3

H5: Một người lính Đức chia cho bé mồ côi người Nga một mẩu bánh mì.

H6: Ít người biết được sự thảm khốc của chiến tranh Trung – Nhật, vốn xảy ra cùng lúc với chiến tranh thế giới lần thứ 2. Bức hình được chụp sau khi không quân Nhật Bản phá tan tành một nhà ga ở Thượng Hải. Đứa trẻ trong hình đã may mắn sống sót sau trận tấn công ấy, nhưng em đã bị thương khắp người.

H7: Nạn săn bò rừng ở thế kỷ 19 đã khiến số lượng loài vật này đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Núi đầu lâu bò rừng trong hình cho thế giới một cái nhìn cụ thể hơn về sự trầm trọng của vấn nạn này.

10-anh-lich-su-4

H8: Bức hình chụp Dorothy Counts, một cô bé người Châu Phi gốc Mỹ trong ngày đầu tiên đi học tại một trường học ‘dành cho người da trắng’. Vì nạn phân biệt chủng tộc, cô bé đã bị các ‘bạn’ trong trường trêu chọc và bắt nạt rất nhiều. Thậm chí bố mẹ Dorothy còn nhận được những lời đe dọa khiếm nhã khiến họ ‘tá chu-yhỏa’ không dám gửi con đến ngôi trường này nữa.

H9: Những tù nhân chiến tranh người Đức buộc phải xem một bộ phim về sự tàn ác của cuộc thảm sát Holocaust, điều này đã kích động mạnh mẽ đến tâm can họ. Rất nhiều người trong số họ thấy chấn động và sợ hãi kinh khiếp khi biết được mức độ tàn khốc của sự kiện này.

H10: Một người lính Đức trở về nhà sau Thế chiến thứ hai và đau khổ tột cùng khi nhận thấy gia đình anh đã bỏ mạng và ngôi nhà thì bị không quân phá hủy.

H11: Trước thập niên 60, chính quyền cho phép coi thổ dân Châu Úc như động vật. Chính vì thế, ‘những người da trắng’ có thể tùy ý đối xử dã man và vô nhân tính với họ.

10-anh-lich-su-5

H12: Đám cháy thảm khốc ở rạp xiếc Hartford (bang Connecticut, Mỹ) năm 1944 đã cướp đi sinh mạng của 165 người xấu số, chủ yếu là trẻ em. Trong ảnh là chú hề Emmett Kelly với gương mặt buồn bã đang xách một xô nước để giúp dập lửa.

H13: Bức ảnh chụp ngay sau khi Mỹ tiến hành thả bom hạt nhân lần thứ 2 xuống thành phố Nagasaki (Nhật Bản). Có lẽ nhiếp ảnh gia không nhận ra mình đã ở trong hoàn cảnh nguy hiểm đến thế nào.

H14: Năm 1961, bác sỹ Leonid Rogozov trong chuyến thám hiểm Nam Cực của mình đã lên cơn đau ruột thừa dữ dội. Nếu không phẫu thuật ngay, vị bác sỹ này có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng. Trong tình cảnh ấy, anh đã tự thực hiện phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa cho chính mình, thật kỳ diệu anh ấy đã nhanh chóng bình phục sau ca mổ. (theo Mai Hạ tổng hợp)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

logo-thong-bao-1

XE GẮN MÁY TRƯỚC NĂM 1975

Logo bay gio ke

9-xe-may-1XE GẮN MÁY TẠI MIỀN NAM

TRƯỚC NĂM 1975

Có thể nói xe đạp và xe gắn máy là phương tiện di chuyển chiếm đa số tại miền Nam trước 1975 và cho đến nay, xe gắn máy vẫn là phương tiện di chuyển được nhiều người sử dụng nhất . Bài này xin nhắc lại một số xe gắn máy đã hiện diện tại miền Nam trước 1975.

Nói đến xe gắn máy thì chắc là mọi người sống tại miền Nam trước đây đều biết đến xe Mobilette. Vì Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên hãng Motobécane của Pháp, chế tạo ra chiếc Mobylette, đương nhiên là hiện diện trên thị trường Việt Nam.

Nhưng nhiều người biết đến tên Mobylette hơn là Motobécane. Xe Mobylette ở Việt Nam có loại Mobylette vàng và Mobylette xanh. Cả hai đều dùng động cơ 49,99cc để được xếp vào loại vélomoteur, không cần bằng lái, nhưng Mobylette vàng thì nhỏ hơn, chỉ có ống nhún phía trước, còn Mobylette xanh thì lớn, nặng hơn có ống nhún ở cả bánh trước lẫn bánh sau nên đi êm hơn và giá cao hơn .

9-xe-may-2

Xe Mobilette xem chừng ra không thay đổi nhiều lắm qua nhiều năm. Xe Mobylette trong thập niên 1950 thân là những ống tuýp hàn lại. Qua thập niên 1960 thì thân làm bằng tôn ép. Màu sắc cũng ít thay đổi. Có lúc Mobylette vàng đổi thành Mobylette xám. Xe Mobylette được chế tạo để dễ sử dụng. Xe không cần sang số mà dùng embrayage automatique, vặn ga lớn thì xe chạy nhanh, vặn ga nhỏ lại thì xe chạy chậm và đứng lại.

 Khi muốn nổ máy thì chỉ cần đạp cho nhanh là xe nổ máy. Đạp hoài không nổ thì chỉ gần gạt môt cái chốt ở đĩa có dây couroie ăn vào động cơ để tách rời động cơ và bánh 9-xe-may-3sau thì có thể đạp bộ về nhà.

 Nếu có khi nào trong lúc bạn đạp xe đạp rồi nghĩ bụng sao không gắn một cái động cơ nhỏ lên xe đạp để khỏi phải đạp thì ý nghĩ đó đã có người nghĩ đến và chế tạo ra chiếc Vélosolex. Xe Vélosolex là một chiếc xe đạp có gắn động cơ lên bánh trước. Động cơ này làm lăn một cục đá tròn phía dưới. Khi người lái kéo cái cần trước mặt thì cục đá dở hổng lên khỏi bánh trước và có thể đạp như xe đạp.

Khi đạp đến một tốc độ nào đó, hạ cần xuống thì tốc độ của xe làm cho động cơ nổ máy và động cơ kéo chiếc xe đi bằng bánh trước. Khi xe đã chạy ngon trớn thì người lái có thể rút chân lên miếng để chân nhỏ ở giữa xe mà ngồi một cách thoải mái. Từ một ý kiến rất giản dị phát xuất giữa thế kỷ 20, xe Vélosolex vẫn còn tồn tại qua đến đầu thế kỷ 21.

9-xe-may-4

Vì cách sử dụng giản dị, trọng lượng nhẹ nhàng nên các xe Mobylette, Vélosolex thông dụng trong giới sinh viên, học sinh và phái nữ.

Ở một hạng cao hơn là các xe scooter của Ý: Vespa, Lambretta. Các xe scooter này vì lòng máy lớn hơn 50 cc, nhỏ nhất là 125 cc hoặc 150 cc hoặc 200 cc tùy theo kiểu, nên không còn được xếp vào loại vélomoteur. Người sử dụng phải trên 18 tuổi và phải có bằng lái. Vì thế, những người đi xe Vespa, Lambretta thường là ở tuổi trung niên và có đời sống cũng tương đối khá vì xe scooter đắt hơn. Xe Vespa hàng chục năm nay không thay đổi mấy.

9-xe-may-5

Thân xe làm băng tôn ép. Có lẽ vì thế nên làm hình tròn như quả trứng để chịu lực tốt hơn. Máy được đặt ở chỗ phình bên phải, còn bên trái là ngăn để chứa đồ. Vì thế xe Vespa khi chạy hơi nghiêng về phía phải vì bên này nặng hơn. Xe Lambretta tuy trông bề ngoài giống Vespa nhưng cấu tạo lại khác. Khung xe bằng ống sắt hàn lại, máy đặt ở giữa khung và che bên ngoài bằng lớp vỏ sắt. Xe Lambretta hồi đâu thập niên 1960 có đường nét cong.

Cuối thập niên 60, qua đầu thập niên 70 thì kiểu dáng thẳng, theo như mốt của thời đó, nên trông thanh nhã. Cả hai đều sang số bằng tay, bóp embrayage vào và vặn để đổi số.

Từ cuối thập niên 1950, miền Nam cũng nhập cảng các xe gắn máy Đức như Goebel, Sachs, Puch. Các xe này đều có chung đặc điểm là có bình xăng đặt trước người lái, sang số bằng tay, có ống nhún cả trước lẫn sau, và máy đều là 50cc để được xếp vào loại vélomoteur, không cần bằng lái.

9-xe-may-6

Mỗi xe lại có những đặc điểm riêng như máy xe Puch luôn luôn được bọc trong lớp vỏ bằng nhôm, có quạt chạy để làm mát. Như thế có lợi điểm là máy xe được làm mát ngay cả khi ngừng đèn đỏ. Vì là xe có sang số nên tuy chỉ có 50cc, xe gắn máy Đức có sức kéo mạnh hơn các xe Mobylette ở số 1, 2, nên cũng được dùng để kéo xe lôi, có thể kéo được thêm được bốn năm hành khách và hàng hóa phía sau. Hãng Puch và Sachs ngày nay vẫn còn tồn tại.

Vào khoảng 1965 thì thấy nhắc đến tên Honda, với một số kiểu xe mới lạ xuất hiện. Một số xe Honda đầu tiên do người Mỹ mua đem sang Việt Nam để đi làm việc rồi khi họ về nước thì để lại, lọt ra ngoài thị trường người Việt mua được. 9-xe-may-7Một trong những công dụng của xe Honda là các phi công Mỹ dùng để di chuyển giữa chỗ đậu phi cơ và doanh trại. Từ doanh trại ra chỗ đậu thường xa, đi bộ cũng mất vài phút đến vài chục phút.

Có xe Honda phóng thì thu ngắn thời gian nhất là khi có báo động thì phóng xe Honda ra máy bay nhanh hơn là chạy bộ. Xe Honda S90 có lẽ là chiếc được ưa chuộng nhất trong số các xe Honda trước 1965 vì kiểu đẹp và máy mạnh, tiếng nổ ròn. Các kiểu xe kia là C110, S65 (thường được gọi là S50), P50, C50. Xe P50 có cấu tạo đặc biệt với máy nằm ở sát bánh sau và truyền động thẳng vào bánh chứ không qua dây xích. Cách đặt máy này có lợi là khỏi bị mất lực khi truyền qua dây xích và giảm bớt số bộ phận nhưng có khuyết điểm là xe dễ bị mất thăng bằng vì đầu nhẹ, đuôi nặng.

Lại thêm khi đi xuống ổ gà vì không có ống nhún nên sức va chạm có thể làm vỡ răng cưa ở vành bánh xe. Xe Honda dame C50 trước 1965 có chiếc đã có bộ đề bằng điện, khỏi cần đạp. Trong khi chiếc Honda dame nhập cảng hàng loạt sau này phải đạp máy nổ bằng chân.

9-xe-may-8

Chiếc xe Honda được chính thức nhập cảng để bán cho người tiêu thụ là xe Honda Dame năm 1965. Hãng Honda thì gọi là kiểu C50, nhưng mọi người thường gọi là Honda Dame. Có Honda Dame nhưng không ai gọi Honda Homme, mà gọi là Honda đàn ông. Những chiếc xe Honda Dame đầu tiên xuất hiện tại Sài Gòn thu hút được sự chú ý của người đi đường.

Những ngày đầu tiên xe bán ra ngoài, trên các nẻo đường phố người ta nhìn thấy các chiếc xe Honda Dame màu đỏ hay xanh lá cây nhạt. Có người bị tắt máy xe, hý hoáy nhìn xuống chân vì chưa quen với cách sang số bằng chân. Sang lộn số có thể làm xe tắt máy.

Khi thấy có một số người dắt xe Honda đi bên đường, có người nói hãng Motobécane của Mobilette thuê người dắt xe Honda Dame đi khắp các đường phố để người dân thấy xe Nhật dở, bị chết máy hoài, sợ không dám mua. 9-xe-may-9Không biết là có đúng hay không. Một số người lúc đó nói là hàng Nhật không bền, chỉ vài năm là hỏng và tiên đoán rằng chừng năm mười nữa thì các xe gắn máy Pháp, Đức vẫn còn chạy, còn xe Nhật thì lúc đó vứt đi.

Những người đó có lẽ căn cứ vào phẩm chất hàng hóa của Nhật trước thập niên 1960. Nhưng qua thập niên 1960, các hãng xe gắn máy Nhật đã trải qua những năm cạnh tranh khốc liệt trong nước. Vào đầu thập niên 1960, nhiều hãng xe gắn máy ào ạt ra đời tại Nhật, cuối cùng theo luật thư hùng đào thải chỉ có những hãng có khả năng cải tiến mới sống còn. Lúc xe Nhật sang Việt Nam cũng là lúc các hãng xe gắn máy Nhật bắt đầu tung ra thế giới với nhiều cải tiến làm cho phẩm chất xe Nhật vượt hẳn các xe Tây phương.

Xe Honda Dame được làm để cho phái nữ đi nên dùng ambrayage tự động, khi sang số chân không cần phải bóp embrayage tay mà chỉ cần giảm ga. Các hiệu xe Suzuki Dame, Yamaha Dame cũng giống thế. Còn các xe gắn máy Nhật kiểu đàn ông được vẽ kiểu giống như những chiếc mô tô phân khối lớn ở chỗ không có pédale mà có cần đạp cho nổ máy, hai bên có thanh ngang để chân, bên phải là thắng chân, bên trái là cần sang số, embrayage tay trái, thắng trước tay phải, bình xăng phía trước.

9-xe-may-10

Các xe này còn giống mô tô ở chỗ hai bên bình xăng có hai miếng cao su để đầu gối áp vào cho êm. Điều đáng kể là yên xe thấp vừa với chiều cao người Á Châu khiến cho việc leo lên xe, chống xe dễ dàng hơn khi sử dụng các xe gắn máy Tây phương. Tay ga vặn nhẹ nhàng chứ không nặng như xe Tây phương. Máy đạp nhẹ nhàng và dễ nổ. Nói tóm lại, các nhà chế tạo Nhật khiến cho các chiếc xe gắn máy sử dụng dễ dàng, tiện nghi hơn khiến cho người dùng thấy rất thoải mái khi đi xe.

Sau chiếc xe Honda Dame là sự xuất hiện của Honda đàn ông 66 (SS50). SS là chữ viết tắt của Super Sport. Chiếc Honda 66 xuất hiện vào năm 1966, với màu đỏ hay đen, tay lái ngắn ngủn để người lái thu hẹp khoảng cách hai tay, giảm tiết diện cản gió, xe không có đèn signal, hộp số có năm số và có thể đạt đến tốc độ tối đa đáng nể là 90km/giờ đối với một chiếc xe máy 50 cc.

9-xe-may-11Đó là một chiếc xe được vẽ kiểu với các đặc tính của xe đua. Tuy nhiên chiếc xe này không tiện dụng trong thành phố vì tay lái quá ngắn nên khó điều khiển. Sang năm 1967, Honda sửa lại kiểu xe cho tay lái rộng hơn, hộp số có bốn số, sơn đen hoặc đỏ, có đèn signal, ống nhún trước có bọc cao su, tốc độ tối đa 90k/giờ. Kiểu xe 67 (SS50) đã đi vào lịch sử vì máy mạnh, chạy nhanh, được nhiều người ưa chuộng và có lẽ là được sử dụng nhiều nhất tại miền Nam cùng với xe Honda Dame.

Về sau Honda có ra các kiểu khác nhưng Honda 67 vẫn được nhiều người biết đến nhất. Vì máy mạnh nên chiếc Honda 67 được dùng để kéo xe lôi thay cho các hiệu xe Đức trước đây.

Cả tứ đại gia của làng xe gắn máy Nhật, Honda, Yamaha, Suzuki, Kawasaki đều có mặt tại miền Nam lúc đó. Hãng Suzuki tung ra kiểu xe nam M15 và M12 và xe Suzuki Dame, M31. Hai kiểu xe nam đại khái giống nhau, dùng cùng một động cơ nhưng kiểu thể thao có ống pô vắt cao và vè trước ngắn để trông có vẻ thể thao hơn.

9-xe-may-12Hãng Yamaha có hai kiểu xe đàn ông, trong đó có kiểu YF5, và một kiểu Yamaha Dame. Xe Yamaha đàn ông kiểu đẹp, nhiều bộ phận xi bóng loáng. Yamaha Dame sơn màu xanh da trời, với đường cong dịu dàng, trông rất mỹ thuật. Các xe Yamaha xem ra không được ưa chuộng bằng Honda vì máy không mạnh bằng.

Xe Suzuki Dame và Yamaha Dame đèn trước thấp hơn xe Honda Dame, trông vẻ nhu mì thích hợp với các cô mặc áo dài.

Kawasaki là hãng nhỏ nhất trong các hãng xe Nhật lúc đó, chỉ đưa sang một kiểu xe đàn ông. Xe Kawasaki chạy tuy tốt nhưng bị chê là nặng và máy yếu. Xe Kawasaki đem sang Việt Nam là kiểu dùng sườn của xe 80 cc, thay vào đó bằng động cơ 50 cc để được xếp vào loại vélomoteur, không cần bằng lái.

Hiệu xe ít người nhớ đến có lẽ là Bridgestone. Bridgestone là hãng chuyên chế tạo vỏ bánh xe nhưng lúc đó cũng có một phân bộ chuyên sản xuất xe mô tô để đua. Kiểu Bridgestone đem sang Việt Nam năm 1966 có máy 65 cc. Vì thế xe Bridgestone vọt rất mạnh.

9-xe-may-13

Đặc điểm của Bridgestone là hộp số có bốn số quay vòng giống như các xe đua, nghĩa là sang đến số bốn thì nhấn thêm sẽ trở về số một mà không phải trả số ngược lại. Xe Bridgestone chìm vào quên lãng của người Việt khi phân bộ xe mô tô của hãng đóng cửa năm 1967 vì lý do là nếu sản xuất xe đua thì các hãng xe gắn máy Nhật khác không muốn mua vỏ xe của hãng kình địch với mình trong các cuộc đua.

Không như các hãng xe châu Âu giữ các kiểu xe y nguyên nhiều năm, các hãng Nhật ào ạt tấn công thị trường Việt Nam với các kiểu xe mới ra mỗi năm. Qua 1968, Honda tung ra xe CL50. CL là chữ viết tắt của Scrambler. Đó là kiểu xe được chế tạo để chạy các đường đất lồi lõm nên chỉ có bốn số, xe kéo mạnh ở số một và số hai, nhưng tốc độ tối đa kém xe Honda 67. Ống pô vắt cao để khỏi va chạm vào mô đất hay ngập nước.

9-xe-may-14

Qua 1969, Honda tung ra kiểu SS50M. Cũng dùng cùng máy và sườn như xe Honda 67 nhưng bình xăng dài hơn cho có vẻ thể thao. Qua năm 1970, Honda đưa sang kiểu CD50. Xe này cũng dùng cùng loại sườn và động cơ như SS50 nhưng bình xăng và hộp đựng đồ phụ tùng vẽ kiểu khác nên trông bề ngoài khác hẳn. Xe được chế tạo để chạy trong thành phố nên chỉ có bốn số với các số đầu kéo mạnh, thích hợp với cách chạy xe trong thành phố phải luôn luôn dừng lại đèn đỏ rồi lại bắt đầu vọt lên.

Cùng là kiểu SS50E, đến 1971, 1972, Honda tung ra kiểu xe với sơn đỏ metal và vè xi bóng, ghi đông cao kiểu sừng bò trông rất hấp dẫn. Honda thay đổi hình dáng bề ngoài thu hút thêm khách hàng mới. Năm 1969, Suzuki cũng tung ra kiểu xe mới AS50 trông rất thể thao và rất đẹp. Ngoài các kiểu xe Honda chính thức nhập cảng, trên đường phố Sài Gòn thỉnh thoảng xuất hiện một số kiểu xe Honda lạ như Honda Monkey, nhỏ xíu như xe con nít, hoặc Honda CT50, CT70, với chữ T là viết tắt của Trail, loại xe Honda dùng để đi dạo chơi ở đồng quê, trên các đường mòn nhưng tại Việt Nam trở thành phương tiện để đi học, đi làm tuốt luốt.

9-xe-may-15

Trong tất cả các loại xe Nhật, chỉ có Honda là dùng loại động cơ bốn thì, với xăng và nhớt chứa riêng còn các hãng kia dùng loại động cơ hai thì, chạy xăng pha nhớt.

Với các đủ loại xe tung vào thị trường, đường phố miền Nam trở nên nhộn nhịp với các loại xe đủ màu sắc. Đường phố Sài Gòn náo nhiệt với các coureurs cúi rạp trên con ngựa sắt ra sức phóng, lạng, máy nổ ròn, đinh tai nhức óc.

Đúng ra máy xe Honda chạy rất êm. Nhưng vì nhiều người đã tháo bỏ ốm tiêu hãm thanh gắn ở đầu ống khói nên máy nổ lớn. Ống này nhỏ như ống tiêu, với thân có đục nhiều lỗ, dài khoảng gang tay. Chỉ cần tháo con vít nhỏ ở đầu ống khói là kéo ông tiêu ra được. Lý do tháo ốm hãm thanh là vì người dùng thấy xe chạy vọt hơn.

9-xe-may-16

Sài Gòn nhiều xe hơn và cũng nguy hiểm hơn vì các xe Nhật đều chạy nhanh, vọt mạnh. Vì thế, một số phụ huynh lo ngại không muốn mua cho con mình chiếc xe quá mạnh. Hãng Honda tung ra loại xe PC50, cũng dùng động cơ 50 cc nhưng không cần sang số, và không vọt mạnh như các loại xe có sang số. Tốc độ khi chạy nhanh cũng có thể đến 60 km/giờ. Xe PC50 là kiểu P50 cải tiến lại với động cơ đặt vào giữa cho xe được thăng bằng hơn và có nhún cả ở bánh trước lẫn bánh sau. Cách sử dụng xe PC50 cũng giản dị như xe Mobylette chỉ cần đạp nổ máy rồi vặn ga phóng đi.

Hãng Motobécane cũng tung ra kiểu xe Cady nhỏ nhắn thích hợp với giới học sinh. Cái tên Cady có lẽ từ chữ Cadet, cho biết đây là kiểu em út trong gia đình Motobécane. Tuy cũng dùng động cơ 50 cc nhưng xe chỉ chạy được tối đa 40km/giờ. 9-xe-may-17Chạy chậm có vẻ là một khuyết điểm của xe cộ nhưng đây lại là ưu điểm vì nó là lý do để các bậc phụ huynh chọn mua xe cho con mình để được an tâm hơn.

Với khuynh hướng design nhiều màu sắc vào đầu thập niên 1970, xe Cady lúc đầu sơn nâu, hay xám, về sau sơn các màu xanh đỏ vàng sặc sỡ. Cùng với sự xuất hiện của mini jupe, đường phố Sài Gòn thấy xuất hiện xe mini Cady với hai bánh xe nhỏ trông rất xinh xắn, đồng thời mini xe đạp cũng xuất hiện và các cô nữ sinh áo dài mini trông trẻ trung, tươi tắn tung tăng trên các loại xe mini đủ màu sắc.

 Xa lộ Biên Hòa, ngày nay gọi là xa lộ Hà Nội, thời đó còn rất ít xe nên trở thành đường thử và đua xe gắn máy. Các loại xe gắn được đem ra chạy hết tốc độ vào giờ ít xe. Tuy không có tạp chí phê bình, điểm các loại xe gắn máy nhưng ưu khuyết điểm của các loại được truyền miệng rộng rãi. Các loại xe máy hai thì tuy có thể chạy nhanh nhưng khi chạy với tốc độ cao nhiều giờ thì máy bị yếu đi, vận tốc giảm đi. Chỉ trừ có xe Honda là được khen là càng nóng máy, càng chạy mạnh.

Đúng ra chỉ có xe Honda sau 1965 mới chạy lâu không bị giảm tốc độ vì Honda cải tiến hệ thống phun nhớt, làm cho nhớt phun rất nhiều khiến cho khi máy nóng không bị sức ma sát làm giảm tốc độ. Còn các loại Honda S65, C110, tuy có thể chạy được đến tốc độ hơn 100km/giờ nhưng khi nóng máy thì cũng bị chậm lại.

9-xe-may-18Để tăng sức mạnh của xe, xi lanh được xoáy cho rộng thêm từ 50 cc thành ra 60 cc, 70 cc. Xe xoáy xi lanh chạy nhanh hơn, có thể đến hơn 100km/giờ nếu máy được chỉnh cho đúng.

Một trò chơi đánh cá thời đó của các yêng hùng xe gắn máy, gọi chệch từ chữ anh hùng vì đua xe là can đảm nhưng không phải là đáng khen, là lách dưới xe be. Xe be là xe kéo các xúc gỗ dài năm, bẩy mét. Một đầu khúc gỗ được cột vào xe vận tải phía trước, đầu phía sau gắn vào remorque sau, còn giữa xe vận tải và remorque sau không có gì ràng buộc.

Chiều cao từ thân cây đến mặt đường chi hơn một mét. Các tay đua đánh cá xem ai dám lạng chui dưới gầm xe be từ bên này qua bên kia. Vì khoảng cách thấp nên không thể chạy thẳng đầu mà người lái phải lạng cho xe nghiêng đi thì mới đủ thấp mà chui qua. Nếu tính sai thời gian, so-motngười lạng có thể bị hai bánh sau chạy tới đụng và cán chết.

Xe gắn máy là phương tiện di chuyển, nhưng cũng là niềm say mê tốc độ của tuổi trẻ và sự hấp dẫn của màu sắc, kiểu dáng, tiếng nổ. Niềm say mê này đã ghi vào ký ức của nhiều người miền Nam lúc đó và tồn tại không phai nhạt với thời gian. Nó trở thành kỷ niệm đẹp mỗi khi nhớ lại giây phút dắt chiếc xe mới toanh đi về nhà và những ngày tháng rong ruổi trên những con ngựa sắt.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

5 ĐỊA ĐIỂM MỘT THỜI SAIGON

Logo TG quanh ta 1

Tranh Ben Thanh5 ĐỊA ĐIỂM NỔI TIẾNG

CỦA MỘT THỜI SAIGON

Chẳng bao lâu nữa, những địa điểm nổi tiếng này của Sài Gòn sẽ mãi biến mất, hoặc sẽ được di dời để nhường chỗ cho những công trình mới hơn, hiện đại hơn. Và có lẽ, người ta sẽ chỉ còn được nhớ về nó bằng những hình ảnh đẹp, kí ức đẹp…

Thông tin về việc đóng cửa thương xá Tax, một công trình kiến trúc được xây dựng từ những năm 1880 khiến bất cứ ai có ký ức gắn với nơi đây bỗng cảm thấy có chút hụt hẫng và tiếc nuối. Đối với nhiều người, Thương Xá Tax không đơn thuần là một nơi để mua sắm, mà còn là nơi họ đặt chân tới để tìm những hoài niệm của Sài Gòn năm xưa, hay đơn giản là lục lại ký ức, những khi mua cuốn vở, cây bút, món quà sinh nhật nho nhỏ… cũng đạp xe tới đây, háo hức chọn đồ.

Công trình hơn 130 tuổi sắp không còn, khiến nhiều người dân thành phố lại một lần nữa hoài niệm về những biểu tượng gắn liền với Sài Gòn đã/sắp mất đi, để nhường chỗ cho những công trình mới hơn, hiện đại hơn phục vụ cuộc sống của người dân thành phố.

Đó là những hàng cây cổ thụ xanh mướt nằm cạnh công viên Lam Sơn của ngày nào, 0-dia-diem-1hay bùng binh Cây Liễu một thời luôn là điểm nhấn vô cùng quen thuộc mỗi khi bạn muốn ghé ngang Thương Xá Tax. Rồi vòng xoay với tượng đài vị tướng Trần Nguyên Hãn hùng dũng, nằm ngay giữa giao lộ 7 ngõ quan trọng của trung tâm thành phố. Tất cả những nơi này đều là nhân chứng lịch sử, chứng kiến Hòn ngọc Viễn Đông trải qua biết bao thăng trầm.

Chẳng bao lâu nữa, những biểu tượng không thể nào quên này của Sài Gòn sẽ mãi biến mất, hoặc sẽ được di dời để nhường chỗ cho những cái mới hơn, đó là công trình ga tàu điện ngầm đầu tiên của tuyến Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên, và tòa nhà 40 tầng ngay tại vị trí hiện tại của Thương Xá Tax. Dù biết “đôi khi phải chấp nhận mất đi những cái cũ, để có thể đón những cái mới”, nhưng có lẽ vì những nơi này đã quá quen thuộc, chứa đựng rất nhiều kỷ niệm và tình cảm của người Sài Gòn nhiều thế hệ, nên đến nay, phần lớn họ còn mang trong mình sự tiếc nuối và lưu luyến về một Sài Gòn của năm nào, với hàng cây ấy, con đường ấy, vòng xoay ấy,…

1/- Hàng cây cổ thụ “trứ danh” trên đường Lê Lợi

Nếu Sài Gòn khi xưa nổi tiếng với những hàng gòn xanh mát, thì Sài Gòn của sau này cũng nổi tiếng với những hàng dầu kiên cố, chắc khỏe. Đặc biệt những hàng dầu ở khu trung tâm thành phố, như Công Trường Lam Sơn đổ dài về đường Lê Lợi đã nằm ở đó từ rất lâu. Có những cây đến nay đã gần trăm năm tuổi, nên sẽ chẳng quá nếu nói hai hàng dầu này là những bậc lão tiền bối,0-dia-diem-2 “người” đã may mắn chứng kiến Sài Gòn thay đổi qua nắng mưa.

Thời gian vô tình, cuộc sống tấp nập cứ thế kéo người ta càng xa với hồi ức, cho đến khi tận mắt nhìn thấy từng hàng cây, gốc dầu bị đốn hạ, không ít người mới cảm nhận được sự luyến tiếc đến thẫn thờ rằng: “Thường ngày ta vẫn đi qua, đi lại nhưng chẳng có cảm xúc chi, thế mà bây giờ lại quá buồn khi thấy chúng đi”.

Giờ thì mỗi lần đi ngang qua đây, dù vẫn con đường ấy, vẫn những tòa nhà, hàng quán ấy,… nhưng chắc chắn bạn sẽ cảm thấy sự trống trải, trơ trọi vô cùng kỳ lạ vì đã vắng đi những hàng dầu cao tít tắp của năm nào.

0-dia-diem-3H1: Hàng cây xanh mướt từng phủ xanh một góc Sài Gòn hoa lệ của ngày nào H2: Giờ chỉ là những “kỷ niệm đã qua”

H3-4: Góc nhà hát Thành Phố mát mẻ trở nên trống trải hẳn.

2/- Công viên Lam Sơn

Nằm ngay cạnh những hàng dầu là một đoạn của công viên Lam Sơn, đây được xem là nơi cực kỳ lý tưởng để nhiều bạn trẻ, các cặp đôi và những gia đình cùng nhau tụ họp ngắm cảnh, vui chơi vào mỗi tối cuối tuần. Nói là công viên, nhưng thực chất, nơi này giống với một khu vườn nhỏ, giúp điểm xuyến thêm chút xanh, tạo cảm giác nhẹ nhàng, gần gũi với thiên nhiên hơn cho toàn khu cao ốc thô ráp đã chắn hết 4 bề xung quanh. Vì thế cũng dễ dàng hiểu tại sao mỗi khi có dịp ra đến nhà hát Thành Phố hoặc khu trung tâm, 0-dia-diem-4mọi người lại có cảm giác muốn được ngồi ở trong công viên này để tìm chút không gian thư giãn. Thỉnh thoảng, nơi này còn là điểm lưu đọng các khoảnh khắc đẹp, giới thiệu những cột mốc lịch sử hay khung cảnh Việt Nam đến với khách du lịch nước ngoài, qua các buổi triển lãm tranh công cộng. Nên dù xét về mặt nào thì công viên Lam Sơn cũng là nơi tạo được nhiều kỷ niệm đẹp và có lợi ích rất cao đối với người Sài Gòn lẫn du khách quốc tế.

Tuy nhiên “số phận” của khu công viên này cũng giống như những hàng dầu kia, chấp nhận biến mất để nhường chỗ cho những ga tàu mới của thành phố. Không còn công viên để các đôi bạn trẻ đến tâm tình, không còn chỗ cho các em bé, gia đình vui đùa với nhau,… khiến nhiều người cảm thấy tiếc đến ngẩn ngơ.

H5: Công viên Lam Sơn của vài tháng trước vẫn còn nhộn nhịp và “hoành tráng” như thế này

H6: Nhưng nay nó lại hoàn toàn khác hẳn. Nhiều người tranh thủ lưu lại những khoảnh khắc cuối cùng của công viên Lam Sơn.H7: Hàng cây năm nào, dãy ghế đá với những ly trà sữa mỗi tối chắc sẽ lâu lắm mới được quay trở lại

0-dia-diem-5H8-9: Mỗi khi đi ngang qua đây, tất cả đều hy vọng con đường này sẽ nhanh hoàn thiện để mọi người lại có nơi thư giãn, vui chơi.

3/- Bùng binh Cây Liễu 

Được xem là giao lộ đẹp và sôi động nhất của Sài Gòn, bùng binh Cây Liễu hay còn được gọi là bùng binh Nguyễn Huệ (cắt Nguyễn Huệ và Lê Lợi), là một trong những biểu tượng tồn tại suốt trăm năm qua của Sài Gòn. Một vòng xoay mà lúc nào cũng 0-dia-diem-6được phủ kín với những hàng liễu nhẹ nhàng, thanh thoát, nó đẹp và quen đến mức được gọi thành tên thì chắc không nơi nào có được.

Nếu bạn nào có dịp lục lại những ảnh cũ về Sài Gòn, hẳn sẽ thấy, từ thời xưa, bùng binh Cây Liễu này đã được xem là một trong những nơi đẹp và nhộn nhịp bậc nhất của Sài Gòn với hình ảnh xe cộ qua lại tấp nập, một địa điểm tập trung của toàn những người trong giới thượng lưu. Đến nay, dù thời gian có thay đổi, nhưng về cơ bản thì bùng binh Cây Liễu năm nào vẫn giữ nguyên cái “chất”, cái “vị” như thế.

Không những thế, ngay tại góc bùng binh này còn là nơi tổ chức đường hoa Nguyễn Huệ, một nét đẹp văn hóa tồn tại được đúng 10 năm mà người Sài Gòn vô cùng yêu quý và nhất định phải đến một lần vào dịp Tết. Khung cảnh tấp nập, tiếng người rộn ràng đi chơi Xuân, những tác phẩm được làm từ hoa vô cùng đặc sắc gắn liền với hình ảnh con đường, 0-dia-diem-7bùng binh Nguyễn Huệ này chắc chắn sẽ không thể nào khiến người Sài Gòn quên được.

H10: Bùng binh Cây Liễu của trước đây. Những ngày lễ Tết, bùng binh Cây Liễu lung linh hơn, nổi bật một góc Sài Gòn.

H11: Lưu lại khoảnh khắc để nhớ thêm chút kỷ niệm xưa, cái ngày còn bùng binh Cây Liễu một thời. H12: Không còn hàng liễu và đại lộ rộng, hẳn cái Tết năm nay của người Sài Gòn sẽ trở nên khác biệt hơn rất nhiều.

0-dia-diem-84/- Thương Xá Tax

Được xây dựng từ năm 1880, trải qua nhiều cái tên từ Les Grands Magazins Charner (GMC) rồi đến Thương Xá Tax, trong suốt hơn 130 năm qua, tòa nhà mang phong cách Pháp xen lẫn nhiều nét đặc trưng của Á Đông này cũng là một địa điểm không thể nào quên của người Sài Gòn.

Trước đây, tòa nhà này nổi tiếng là điểm ăn chơi, tiêu tiền vào những món đồ đắt giá của các “ông lớn”, giới thượng lưu và đại điền khắp Nam kỳ Lục tỉnh, toàn bán các mặt hàng ngoại được nhập trực tiếp từ châu Âu. Ngày nay cũng thế, Thương Xá Tax vẫn là một trong những trung tâm thương mại buôn bán sầm uất với đủ các mặt hàng Tây, Ta đa dạng để đáp ứng được các yêu cầu của người dùng. Ngoài ra, vào những dịp Giáng sinh hoặc Tết Âm lịch, Dương lịch, Thương Xá Tax còn là điểm đến để người Sài Gòn vui chơi, chụp ảnh sau khi nó được trang trí và lên đèn.

0-dia-diem-9H13: Thương Xá Tax sầm uất và vô cùng nổi bật khi về đêm. H14: Bùng binh Cây Liễu nhìn qua Thương Xá Tax

H15: Khu thương xá nổi tiếng một thời rồi cũng đã “quá già”, nhường chỗ cho những cái mới hơn.H16: Tất cả cửa hàng đều đã trở nên vắng vẻ. H17-18: Những bằng khen, chứng nhận mà một thương xá phải tồn tại suốt hơn 130 năm mới có được.

H19: Vị trí đắc địa của Thương Xá Tax nằm ngay hai con đường lớn của Sài Gòn là Lê Lợi và Nguyễn Huệ. H20-21: Những hàng ăn uống bình dân dành cho các công nhân viên vào mỗi sáng cũng sẽ không còn nữa.

0-dia-diem-10

5/- Vòng xoay tượng đài Trần Nguyên Hãn

Chắc hẳn cái tên vòng xoay tượng đài Trần Nguyên Hãn rất ít bạn nào biết, hoặc đã nghe qua nhưng lại quen gọi nó với một cái tên khác là vòng xoay chợ Bến Thành.  Tên thực tế  là  cô g trường Diê n Hồng hay công trường Quách Thị Trang. Như thế cũng đủ để hiểu, hình ảnh vòng xoay và chợ Bến Thành có sự liên kết, thân thuộc đến nhường nào trong mắt người Sài Gòn.

Hầu hết trong những tấm hình chụp tại điểm này thì vòng xoay và chợ 0-dia-diem-11Bến Thành luôn xuất hiện cùng nhau, rất ít khi tách rời. Bởi cả hai đều là biểu tượng cho sự tồn tại, phát triển mà vẫn giữ được những nét rất riêng của Sài Gòn khi xưa.

Đối với người Sài Gòn mà nói, đây là lần đầu tiên họ được tận mắt chứng kiến sự thay đổi vô cùng lớn về diện mạo của thành phố đã quá quen thuộc. Nên dù ít dù nhiều, ai ai cũng có cho mình một cảm xúc riêng, một sự luyến tiếc khi không nỡ mất đi những cái cũ. Tuy nhiên, đây cũng là một cơ hội rất tuyệt vời để bạn có thể ôn lại những kỷ niệm đẹp mà bản thân đã gắn liền với những nơi này.

Công trình xây dựng nhà ga trung tâm Bến Thành (Q.1) nằm ở vị trí phía trước chợ Bến Thành (khu vực vòng xoay Quách Thị Trang) và nối dài đến công viên 23-9, được xây dựng ở độ sâu khoảng 40m dưới lòng đất.

0-dia-diem-12Nhà ga metro Bến Thành được xây dựng và lắp đặt các thiết bị có công nghệ hiện đại như các nước tiên tiến phục vụ hành khách đi lại. Đồng thời cùng với việc phục vụ hành khách đi metro, nhà ga còn tận dụng không gian ngầm làm trung tâm thương mại nhằm mang tới các dịch vụ tiện nghi cho hành khách đi mua sắm. Nhà ga nằm ở khu vực trung tâm TP nên các cửa lên, xuống nhà ga sẽ kết nối với các khu thương mại dịch vụ ở các khu vực xung quanh như chợ Bến Thành, khách sạn và các trung tâm mua sắm trên các tuyến đường lân cận.

Nhà ga sẽ có bốn tuyến metro hoạt động bảo đảm phục vụ hành khách đi lại trên các tuyến đường từ khu trung tâm đến các cửa ngõ TP, dự kiến cuối năm nay sẽ làm công tác sơ tuyển nhà thầu, trong năm 2015 triển khai thi côngBo tay 1 và dự kiến hoàn thành công trình vào cuối năm 2018 hoặc đầu năm 2019.

H22: Vòng xoay và chợ Bến Thành là hai hình ảnh luôn đi cùng nhau.

H23: Và sắp tới tượng đài này sẽ được di dời về công viên Phú Lâm, quận 6, để đảm bảo mặt bằng thi công cho dự án tuyến đường sắt đô thị số 1 Bến Thành – Suối Tiên. H24: Tượng đài Trần Nguyên Hãn được xây dựng từ trước năm 1975 ở trung tâm thành phố đã trở thành hình ảnh quen thuộc của người dân Sài Gòn.

Logo Phong su

Thieu nu 4NGƯỜI MIỀN TÂY HỚN HỞ

TRONG MÙA NƯỚC NỔI

Người miền Tây đang hối hả đua nhau đặt dớn, bơi xuồng giăng câu, thả lưới… ai cũng vui đón mùa nước nổi về. Chúng tôi có mặt tại vùng đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu, vào ngày 15/10, nhiều cánh đồng đã ngập nước trắng xóa. Người dân cũng hối hả đua nhau đặt dớn, bơi xuồng giăng câu, thả lưới… ai cũng vui đón mùa nước nổi về…

Cách đây gần một tháng, tìm về vùng đầu nguồn An Giang, Đồng Tháp để xem mùa nước nổi. Khi hỏi về nước nổi năm nay, ai cũng lắc đầu buồn bã : “Thêm một năm nữa không nước, vậy là không có thủy sản, đặc sản mùa nước nổi rồi”. Chú Hai Lựa đi tìm thuốc nam, đứng trước đập Tha La (xã Vĩnh Tế, TP Châu Đốc) nói : “Đến lúc này không có nước thì xem như năm nay không có mùa nước nổi.

0-mua-nuoc-noi-1Hàng năm khoảng giữa tháng 7 âm lịch là nước lên, nay đã là 20/8 AL rồi mà đập Tha La, Trà Sư là cửa đón nước của cả vùng Bảy Núi lại trơ đáy, thế là năm thứ 3 không có mùa nước nổi”.

Bà Hai Lê nhà ở gần cầu Tha La – người có biệt danh là bà Hai Phóng sinh – vì năm nào cũng vậy, bà Hai thường ra chợ “ma” (chợ bán cá vào lúc trước sáng, tại cầu Tha La) mua cá cá rô, cá sặc, cá lóc con để thả lại về đồng. Bà Hai cho biết : “Chợ cá họp nhóm ở đây vào khoảng từ 1- 4 giờ, người khai thác cá về bán cho thương lái đến cân. Tui cũng thức dậy sớm, những cá con như cá lóc, cá rô, sặc… còn nhỏ người ta không mua, tui mua rồi thả lại cho cá về đồng. Nhưng 2 năm nay không có cá vì nước không về.

Năm nay đến giờ không có nước, thì xem như cũng không cá luôn.0-mua-nuoc-noi-2 Hàng năm khoảng giữa tháng 7 là có nước, năm nay đến lúc này mà đồng ruộng khô rang hà…”.

Không có nước, người dân địa phương buồn, vì không có khoản thu nhập từ mùa nước nổi, tôi cũng buồn thiu ra về vì không tận hưởng được vẻ đẹp vô tận của vùng nước nổi.

Lặng đi thời gian, đến đầu tháng 10, cũng là tháng 9 âm lịch, anh Minh ở thị xã Hồng Ngự (Đồng Tháp) điện thoại hớn hở thông báo : “Nước về rồi, nước về rồi”; vậy là sắp 0-mua-nuoc-noi-3xếp công việc chúng tôi trở lại vùng đầu nguồn để tận hưởng niềm vui mùa nước nổi.

4 giờ sáng ngày 15/10/2016, anh Minh dùng ca nô đưa chúng tôi vào vùng đồng nước mênh mông Đồng Tháp. Chiếc ca nô rẽ nước tiếng máy rú ò ò vọt nhanh trong màn đêm còn tĩnh mịch. Anh Minh nói : “Đi nhanh, tranh thủ để anh em kịp quay phim chụp ảnh cảnh nông dân giở lọp, đú, lưới… để đến sáng là hết”. Anh tài ca nô lái lả lướt, lượn qua lượn lại sang trái, sang phải… rẽ nước, những làn sóng đập vào bờ nghe sàn sạc.

Chiếc ca nô, cố lên ga hết tốc lực trườn qua bờ đê ngập nước, ai cũng sợ mắc cạn, anh tài quả quyết qua được và lại tăng ga, nước bùn tung tóe, nhưng rồi cũng vượt qua đưa chúng tôi vào cánh đồng thuộc xã Bình Thạnh, TX Hồng Ngự – nơi giáp ranh với vùng đất Campuchia. Đây đó những ánh đèn pin quét qua, quét lại của những người đi đổ dớn, đổ lọp…

Anh Út chỉ đặt 2 cái dớn trên ruộng nhà để kiếm cá ăn, đang đổ dớn bì bõm dưới nước, gặp chúng tôi anh cũng ngưng tay cho biết : “Năm nay nước về trễ, mọi năm khoảng tháng 7 âm lịch là nước tràn đồng, năm nay tới đầu tháng 9 âm lịch mới có nước.

0-mua-nuoc-noi-4

Mọi năm, thời điểm này là nước đang bắt đầu hạ, kiểu này chắc nước không cao, nước hiện thấp hơn đỉnh mọi năm cả thước. Vì vậy, cá tôm năm nay cũng ít, chỉ bằng phân nửa những năm trước”.

Anh Đáng cùng vợ đi giở 12 cửa ngục (một loại ngư cụ ở địa phương), cho biết : “Năm nào cũng vậy, trông tới mùa nước nổi là sắm ngư cụ mưu sinh trong mùa nước. Năm nay cũng nghĩ là đồng khô như năm ngoái nên không chuẩn bị trước, đến đầu tháng 9 âm lịch, thấy nước nhóm lên nên kêu vợ đưa tiền vội vả sắm 30 cái 12 cửa ngục hết 15 triệu để tranh thủ mùa nước kiếm thêm thu nhập.

0-mua-nuoc-noi-5Đêm nào vợ chồng cũng đi đặt, gần sáng giở, mỗi đêm kiềm cũng được vài ký tôm, cá. Qua gần mười ngày mới lấy vốn được 1/3 hà”. Và nhiều người, nhiều người giở lọp, nò, đáy bì bõm dưới nước, khi hỏi ai cũng nói cá tôm ít hơn mọi năm, nhưng như cái nghiệp, cái sự đam mê mùa nước nên vẫn làm.

Anh Trần Phước Lộc- Trưởng phòng Kinh tế TX Hồng Ngự cho biết, vài năm trở lại đây, mùa nước bất thường đã làm ảnh hưởng rất lớn đến tình hình nuôi trồng cũng như đánh bắt thủy sản của bà con nông dân.

Khoảng năm 2013 trở về trước, toàn địa bàn thị xã Hồng Ngự có khoảng 170 ha nuôi thủy sản trên ruộng mùa nước nổi, rồi dần dần nước không còn nên nhiều người không nuôi nữa vì không hiệu quả, thua lỗ. Hiện chỉ còn khoảng 43 ha nuôi tôm mùa nước nổi. Việc đánh bắt cũng giảm sản lượng, do nhiều nguyên nhân, trong đó yếu tố nước nổi là chính, dần dần làm cá tôm cạn kiệt”.

0-mua-nuoc-noi-6Rời Hồng Ngự, chúng tôi vượt sông sang TX Tân Châu (An Giang), tại bờ kè TX Tân Châu, dòng nước son cuồn cuộn chảy về hạ nguồn, làm sống lại ký ức về mùa nước nổi hàng năm. Người dân nơi đây cho biết, lúc đầu cứ nghĩ nước không về như năm 2015, người chuyên đánh bắt cá buồn thiu… rồi đầu tháng 9 âm lịch, xuất hiện dòng nước son cuồn cuộn chảy, ngư dân cả khu vực Tân Châu… dần như sống lại.

Rời Tân Châu, vượt phà Châu Giang chúng tôi sang Châu Đốc. Tại chân đập nước Tha La, tuy nước chỉ đổ vào con đập nhỏ với lượng nước khiêm tốn, nhưng đã có cả chục người thi nhau chài cá.

Từ đó, du khách cũng kèo về xem mùa nước nổi. Người dân khu vực Tha La đua nhau mở quán cá đồng nướng, du khách ngắm cảnh xong lại vào quán ngồi nhâm nhi vài con cá đồng nướng trui để thưởng thức hương vị mùa nước nổi. Chị Lê Thị Lý ở xã Vĩnh Tế, TP Châu Đốc vừa chở về một xuồng bông súng ma, vừa giặt bông chị vừa cho biết : Cả gia đình cùng làm bông súng mùa nước, một người kiếm được khoảng 200.000 đồng mỗi ngày.0-mua-nuoc-noi-7

Từ 3 giờ sáng, chị Lý cùng với bảy tám người khác, mỗi người một xuồng bơi 3- 4 cây số đến cánh đồng ngập nước sâu giáp với Campuchia để nhổ bông súng. Đến sáng lại quay về giao bông cho người quấn, tỉa và đem bỏ mối. Năm nào cũng vậy, cứ đến đầu mùa nước nổi đến khi nước cạn (khoảng 3 tháng) thì ngưng, rồi lại quay về với đồng lúa truyền thống…

Rời Bảy Núi, tạm biệt vùng đầu nguồn sông Tiền sông Hậu, tạm biệt vùng nước nổi. Hẹn lại năm sau, hẹn gặp lại mùa lũ đẹp cũng như nụ cười đôn hậu của những nông dân chân chất vùng nước nổi. (theo Hùng Hậu báo Vĩnh Long)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

RẠP CINÉ SAIGON XƯA

Logo bay gio ke

9-rap-xi-ne-1CÁC RẠP CINÉMA

Ở SAIGON NGÀY THÁNG CŨ

Chuyện về những rạp cinéma của Sài Gòn 50 – 60 năm về trước.

Phim ảnh là một hình thức nghệ thuật/giải trí ra đời từ xưa và luôn chiếm vị trí thiết yếu trong danh mục “sở thích của tôi”. Trải qua nhiều thập kỷ, thú xem phim gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của xã hội – con người. Những rạp cinéma này từng chứng kiến hành trình thay da đổi thịt của nền điện ảnh nước nhà giữa phố thị Sài Gòn phồn hoa.

Để hiểu hơn về nét đẹp của kiến trúc xưa ở Sài Gòn nóí chung và hoài cổ chút cảm giác của ông bà ta thời ấy khi bước chân vào rạp chiếu phim như thế nào, hãy cùng chúng tớ thưởng thức chùm ảnh các rạp chiếu phim ở Sài Gòn trước 1975.

H1: Rạp Cathay ở Sài Gòn, hình chụp có lẽ vào thời Pháp thuộc.

9-rap-xi-ne-2

H2: Rạp Nguyễn Văn Hảo, một trong những rạp chiếu phim sớm nhất do người bản xứ gây dựng nên.

H3: Rạp Văn Cầm Phú Nhuận. Qua khỏi Tân Định là đến Phú Nhuận, trên đường Võ Di Nguy (nay là Phan Đình Phùng) đi về hướng Gò Vấp, bên tay phải là rạp Văn Cầm. Đây là rạp nhỏ nhưng để cạnh tranh khoảng đầu năm 1970 được sửa lại có máy lạnh.

H4: Rạp Casino Đa Kao, sau năm 75 đổi tên thành rạp Cầu Bông. Hình có lẽ chụp vào thập niên 60. Mặt tiền của rạp Casino Đa Kao và những paneau affiche quảng cáo phim đang chiếu : Một phim Western điển hình.

9-rap-xi-ne-3

H5: Rạp Đại Nam, đây là rạp hiện đại nhất trước khi rạp REX được xây dựng. Phim chiếu tại Đại Nam có cả phim Tàu (Đài Loan, Hồng Kông), nay trở thành khách sạn Đại Nam.

H6: Rạp Cao Đồng Hưng ở ngay sát chợ Bà Chiểu. Sau 75 là rạp Gia Định, nay là nhà sách Thiêu Nhi thuộc công ty FAHASA

H7: Rạp Casino Sài Gòn hiện nay đã bị đập để xây dựng cao ốc. Casino Saigon là rạp hạng nhì, thuộc loại trung bình nên giá vé nới hơn rạp hạng nhất. Rạp Casino Saigon sau đổi tên là Vinh Quang. Năm 2011 bị đập bỏ và thành làng ẩm thực Vũng Tàu. Hiện tại đang là 1 công trình xây dựng cao ốc.

9-rap-xi-ne-4

H8: Rạp Rex : Mặt tiền của rạp REX, khánh thành năm 1962 và là rạp chiếu phim hiện đại nhất Đông Nam Á vào thời điểm đó.

H9: Rạp Lê Ngọc trong khu Chợ Lớn, đang chiếu bộ phim kiếm hiệp:

H10: Rạp Long Vân trên đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ).

Trên đường Tự Do (Đồng Khởi) có hai rạp được xem là xưa nhất và đẹp nhất là Majestic và Eden.

9-rap-xi-ne-5

H11: Mặt sau của rạp Eden trên đường Nguyễn Huệ (mặt trước của rạp là đường Tự Do nay có tên đường Đồng Khởi) Rạp Eden nằm trong khu thương xá mua sắm Hành lang Eden (Passage Eden) nổi tiếng. Đến rạp, khán giả có thể đi vào từ phía đường Tự Do, Lê Lợi hay Nguyễn Huệ đều được.

Ở Sài Gòn, chỉ duy nhất rạp Eden này mới có hai balcon. Thông thường, khi xem xi-nê tại đây, ngồi balcon 1 là hay nhất vì nhìn xuống vừa tầm mắt không mỏi cổ và không bị cái đầu của người ngồi hàng ghế trước che khuất tầm nhìn. Balcon 2 của rạp Eden thì nhỏ hơn và vì quá cao nên nhìn sâu xuống màn ảnh muốn cụp cái cổ nên phần đông khán giả chẳng màng để ý đến sự hiện hữu của nó, ngoại trừ dân đào kép Sài Gòn ‘yêu nhau đi trời hôm tối rồi’ thì chiếu cố rất nhiệt liệt và gọi đó là ‘pigeonnier’ (chuồng bồ câu).Ca sĩ Pháp Dalida đã có lần xuất hiện tại rạp Eden ‘bằng xương bằng thịt’ khi cô đến Sài Gòn.

Rạp Eden sau đó trở thành một phần trở thành phòng trà Tiếng Tơ Đồng, rồi bị xóa sổ hoàn toàn để trở thành Trung tâm mua sắm Eden Mall, và nay cũng đóng cửa để xây dựng khu thương mại.

H12: Rạp Majestic cũng là rạp hạng sang và đẹp nằm cùng tên với khách sạn Majectic. ở cuối đường Tự Do gần bến Bạch Đằng, đối tượng xem phim chủ yếu là người Pháp.

H13: Rạp Lê Lợi hiện nay là phòng trà Không Tên. Rạp gần chợ Bến Thành, chuyên chiếu phim cũ nhưng tuyển chọn toàn phim hay và chỉ chiếu trong 1, 2, hoặc 3 ngày rồi đổi sang chiếu phim khác. Tuy nhiên, nếu hụt xem phim nào thì khán giả cứ kiên nhẫn chờ đợi, một thời gian sau thế nào phim đó cũng sẽ được chiếu lại. Cái hay là lịch chiếu phim được niêm yết trước để khán giả có thể chọn ngày đi xem.

Rạp Lê Lợi có thể nói là rạp duy nhất ở Sài Gòn chiếu phim theo phương thức này, một ít rạp khác có bắt chước phần nào nhưng rồi cũng không theo được hoặc sau đó phải thay đổi cách làm khác. Khách thường xuyên của rạp Lê Lợi là những sinh viên, học sinh vì rạp chiếu phim cũ nhưng lại hay và giá vé rất nhẹ.  Sau 1975, rạp Lê Lợi trở thành vũ trường, bar và liên tiếp thay đổi chủ. Nay là phòng trà Không Tên.

9-rap-xi-ne-6

H14: Rạp Vĩnh Lợi hiện nay là sàn giao dịch chứng khoán. Đi tới ngã tư Lê Lợi và Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) là rạp Vĩnh Lợi, bên cạnh Bệnh viện Sài Gòn. Rạp Vĩnh Lợi nổi tiếng trong giới ‘bê-đê’ vì đây là nơi bạn có thể bị bất ngờ vì một bàn tay xờ xoạng của một chàng ‘gay’ ngồi ngay bên cạnh. Khoảng đầu thập niên 60, có xảy ra một vụ nổ lựu đạn trong rạp, may mắn gần Bệnh viện Sài Gòn nên các nạn nhân chỉ cần bước vài bước được cấp cứu ngay.

Nếu như Casino Saigon có nước mía Viễn Đông thì rạp Vĩnh Lợi có quán cơm Thanh Bạch cũng nổi danh không kém. Rạp Vĩnh Lợi chuyển thành showroom xe hơi của hãng Daewoo rồi nay thành sàn giao dịch chứng khoán.

Đi một đoạn ngắn tới đường Công Lý (cũng góc Lê Lợi) ta thấy rạp Asam mà dân Saigon thường gọi là “Á sẩm”. Sau đó có lẽ chủ rạp thấy tên “Á sẩm” mất gốc quá nên đổi lại là Hồng Bàng cho nó đúng điệu Giao chỉ. Ném về phương diện phim ảnh và cơ sở thì rạp này “ngang cơ” với Casino Saigon. Còn về tiết mục phụ diễn ăn uống, nếu Casino Saigon có nước mía Viễn Đông thì Hồng Bàng có tuyệt chiêu suông Thanh Thế rất nổi tiếng trong giới có tâm hồn ăn uống.

Rạp Hồng Bàng (còn có tên là Asam hay Á Sẩm) nằm trên góc đường Lê Lợi và Nam Kỳ Khởi Nghĩa (trước là đường Công Lý). Sau 1975 cũng chịu chung số phận với rạp Nam Việt một phần vì ế ẩm, chủ sở hữu không chịu đầu tư, nâng cấp nên khán giả vào rạp xem phim hay bị nóng nực, ghế ngồi bị hư hỏng nhiều lại thêm rệp, chuột…, phần vì những rạp này nằm nơi chợ búa nên rất nhiều những khán giả là trẻ con hay nhưng người sống quang đó vào xem. Chính vì nhà gần nên việc đi xem phim không được xem trọng, những khán giả này ăn mặc xuề xòa, nói năng ồn ào thậm chí bọ trẻ còn chạy giỡn om xòm giữa và leo treo qua các hàng ghế gây mất mỹ quan và ảnh hưởng đến không khí xem phim của các khán giả đứng đắn khác.

H15: Rạp Kim Châu : Rạp Kim Châu nay là nhà hát cải lương Bông Sen. trên đường Nguyễn Văn Sâm (nay là Nguyễn Thái Bình), góc Hàm Nghi,  tương đối còn mới và chiếu phim cũng “xịn” lắm. Sau 1975, rạp Kim Châu còn hoạt động một thời gian, sau là sân khấu kịch của nghệ sĩ Hồng Vân, nay là nhà hát Bông Sen chuyên diễn cải lương.

Tiếp tục đi về hướng cầu Ông Lãnh gần chợ Dân Sinh có rạp chiếu bóng nhỏ tên là Kim Đô.

H16: Rạp Long Thuận – trên đường Trương Định góc Tạ Thu Thâu. Rạp Long Thuận nay là trụ sở 1 công ty thiết bị điện. Tôi cá với các bạn vào coi phim ở rạp Long Thuận (ngang ga xe lửa Saigon phía đường Lê Lai) mà dám ngồi ghế đàng hoàng. Tại sao lọa vậy ? Thưa vì đó là mật khu của rệp. Hổng biết chúng theo con đường nào mà tràn ngập rạp. Từ chân ghế, mặt ghế, thành ghế đến lưng ghế, chỗ nào tụi nó cũng đóng chốt hết. Muốn an toàn thì phải ngồi chồm hổm kiểu cán ngố vào nhà hàng, mà bố ai ngồi chồm hổm trong suốt 2 tiếng đồng hồ cho nổi. Thôi thì tránh rệp không xấu mặt nào vậy.

9-rap-xi-ne-7

H17: Rạp Long Phụng – Nằm trên đường Gia Long (bây giờ là Lý Tự Trọng) là rạp “chuyên trị” dòng phim thần thoại ca-vũ-nhạc Ấn Độ. Thuở ấy mấy bà mấy cô thuộc lứa tuổi U.50, U.60 thường là khán giả “ruột” của rạp này với những phim được xuất xưởng từ Ấn Độ đưa sang.

Có thể Long Phụng chuyên về phim Ấn vì địa điểm của rạp rất gần với Chùa Chà Và trên đường Trương Công Định chăng ?

– Rạp Kinh Đô – Năm 1960 rạp xi-nê Kinh Đô được xây mới trên đường Lê Văn Duyệt (nay là CMT8), chỗ nhìn sang Trụ sở Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam. Rạp Kinh Đô mới khá hiện đại và đẹp. Máy chiếu phim và máy lạnh đều thuộc loại mới nhất. Khoảng năm 1961, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ mướn rạp Kinh Đô làm nơi chiếu phim cho nhân viên và gia đình làm việc ở Sài Gòn đến xem.
Năm 1962 có 1 vụ nổ bom plastic trong rạp. Có thể nói đây là vụ đánh bom đầu tiên tại Sài Gòn. Sau vụ nổ, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ không mướn rạp Kinh Đô nữa và rồi rạp này được phá đi, khu đất đó xây một tòa nhà là trụ sở USAID với nhiều tầng lầu.

H18: Rạp Olympic – Trên đường Hồng Thập Tự, giữa đường Lê Văn Duyệt và ngả ba Bùi Chu, có rạp chiếu bóng lớn tên Olympic, Đến khoảng 1954 gánh hát Kim Chung di cư từ ngoài Bắc vào đóng đô tại đây một thời gian dài. Rạp Olympic sau 1975 đã trở vũ trường rồi hiện nay là Trung tâm Văn Hóa.

Đi về khu vực chợ Thái Bình có khá nhiều rạp.

H19: Rạp Thanh Bình  Rạp Thanh Bình hiện nay là cao ốc International Plaza. Rạp Thanh Bình sau này sửa sang lại thật lịch sự. Khi sửa lại mang tên là rạp Quốc Tế. Và đây cũng là rạp mà bộ phim “Samson và nàng Dalilah” được nhà nước sau 1975 cho phép được chiếu lại như là một loại phim tư liệu.

9-rap-xi-ne-8

H20: Rạp Khải Hoàn ngay góc Cống Quỳnh và Nguyễn Trãi, giờ là trung tâm điện máy. Rạp này thường chiếu phim Tây. Coi được nhưng kẹt cái thiếu máy lạnh, ai vào xem cũng cứ muốn… ‘yêu nhau cởi áo cho nhau’. Phim chiếu thường câu khách bằng việc treo bảng “Cấm trẻ em dưới 18 tuổi”. Rạp Khải Hoàn “chia” cho Nhà hát Giao hưởng Nhạc Vũ Kịch, giờ đã trở thành trung tâm điện máy.

H21: Rạp Quốc Thanh – trên đường Nguyễn Trãi, Q.1. Rạp Quốc Thanh hiện nay trở thành Trung tâm giải trí văn hóa. Nằm gần Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia. Rạp khá khang trang, sau trở thành sân khấu cải lương mà đoàn Dạ Lý Hương đóng đô thường trực.

H22: Rạp Kinh Đô & Kinh Thành ngày nay. Chỉ cách nhau chưa đầy ba phút đi bộ, mà khu Tân Định có đến hai rạp ciné. Bên hông chợ là Tân Định là rạp Mô-Đẹc và mặt trước của chợ là rạp Kinh Thành. Hai rạp bình dân này thay phiên nhau chiếu phim Ấn Độ và phim cao bồi. Để thay đổi không khí, thỉnh thoảng lại mời các gánh cải lương hay Hồ Quảng về trình diễn, làm nghẽn cứng cả xe cộ lưu thông vào những giờ sắp mở màn hay vãn hát.

9-rap-xi-ne-9

H23: Rạp Việt Long đường Cao Thắng, Q3. Khu vực Bàn Cờ, đi dài theo đường Cao Thắng, bạn có thể vào coi rạp Việt Long (sau xây dựng lại là rạp Văn Hoa – Sài Gòn) ngay ngã ba với Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần) cũng thuộc loại rạp A. Năm 1970, đổi tên thành Thăng Long và tồn tại đến ngày 16/03/2012 bị phát hỏa do bất cẩn của các thợ hàn trong quá trình sữa chữa rạp. Hiện rạp đang được lên kế hoạch xây mới hoàn toàn.

H24: Nam Quang Nếu đi về hướng Trần Quí Cáp (nay là Võ Văn Tần) sẽ gặp rạp Nam Quang nằm ngay góc với đường Lê Văn Duyệt (nay là CMT8), chéo góc với chợ Đũi. Rạp thuộc loại bình dân.

H25: Đại Đồng (Bàn Cờ) – trên đường Cao Thắng, quận 3. Nếu đi tiếp đến cuối đường gần giáp với đường Điện Biên Phủ, sẽ thấy rạp mang tên Đại Đồng, chuyên chiếu phim cũ nhưng khá chọn lọc, giá cả thật nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện.

9-rap-xi-ne-10

H26: Rạp Thanh VânTrên đường Lê Văn Duyệt ngoài hai rạp Kinh Đô và Nam Quang ở vùng Sài Gòn thì đi lên Tân Bình còn có rạp Thanh Vân. Sau 1975, rạp hát Thanh Vân vẫn còn hoạt động một thời gian, sau đó không hoạt động nữa và mặt bằng được cho thuê. Rạp Thanh Vân hiện nay là Nhà hát giao hưởng vũ kịch thành phố.

H27: Rạp Minh Châu Rạp Minh Châu nằm trên đường Trương Minh Ký (nay Lê Văn Sỹ), gần nhà thờ Nam Vườn Xoài. Thập niên 60 rạp hát Minh Châu tên là Văn Lang, đóng cửa một thời gian dài, sau đó mở lại lấy tên mới là Minh Châu.

H28: Rạp Mỹ Đô góc Trần Nhân Tôn và Vĩnh Viễn, quận 10. Xưa có tên rạp chiếu bóng Vườn Lài.

9-rap-xi-ne-11

H29: Rạp Hùng Vương – Lê Hồng Phong, quận 10, hiện nay là Hãng Phim Trẻ.

H30: Kha Lạc – Nguyễn Tri Phương, quận 10, nay là khách sạn. Rạp Kha Lạc chuyên chiếu phim Tàu. Thập niên 60 thì bị đập và chuyển thành nhà ở.

Từ Sài Gòn đi trên đường Trần Hưng Đạo và Đồng Khánh (nay là Trần Hưng Đạo B) về phía Chợ Lớn sẽ bắt gặp rất nhiều rạp. Vì những rạp này nằm giữa khu Sài Gòn và Chợ Lớn nên chiếu cả phim Tây lẫn phim Tàu.

Rạp Oscar Rạp cũng thuộc loại khá.

H31: Palace – Trần Hưng Đạo B, quận 5. Rạp Palace ngày nay là rạp Đống Đa.  Chuyên chiếu phim Pháp-Mỹ “nước ba, nước bốn”. Về sau, các rạp này chuyển sang chiếu phim quyền cước Hong Kong cũ.

9-rap-xi-ne-12

H32: Rạp Lido Trần Hưng Đạo B, Q.5. Rạp Lido bị đập khá lâu và hiện nay là bãi giữ xe. Rạp này có một lịch sử khá ly kỳ. Rạp nằm trong vùng Chợ Lớn cạnh Đại Thế Giới cũ chuyên chiếu phim Âu Mỹ trong khi các rạp chung quanh đều chiếu phim Tàu. Đến cuối thập niên 60, rạp ngưng hoạt động để cho Mỹ mướn làm khu cư trú và câu lạc bộ. Sau năm 1975, rạp hoạt động chiếu phim trở lại và chỉ mới gần đây, rạp đã bị đập phá ra để nhường chỗ cho một công trình xây dựng nhà cao tầng hay gì đó.

H33: Rạp Hào Huê Rạp Hào Huê sai 1975 đổi tên là rạp Nhân Dân. Hiện nay bỏ không và bán cafe ở tầng trệt.

H34: Rạp Lệ Thanh A Phan Phú Tiên góc Trần Hưng Đạo B, quận 5. Rạp khá sang trọng. Chuyên chiếu phim tình cảm Đài Loan mới nhập vào Sài Gòn. Rạp Lệ Thanh A hiện nay là địa điểm tập trung của nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật như : Trung tâm năng khiếu múa Lệ Thanh, đoàn kịch TP, câu lạc bộ khiêu vũ

H35: Rạp Tân ViệtTrần Hưng Đạo B, Q.5. Chuyên chiếu phim Pháp – Mỹ “nước ba, nước bốn”. Về sau, các rạp này chuyển sang chiếu phim quyền cước Hong Kong cũ

9-rap-xi-ne-13

H36: Rạp Hoàng Cung – Triệu Quang Phục. Rạp Hoàng Cung ngày nay là Cơ sở 2 Trung tâm văn hóa quận 5. Rạp này thuộc loại “hạng bét” chuyên chiếu phim kiếm hiệp cũ mèm

H37: Rạp Samtor  Lương Nhữ Học, quận 5. Rạp Samtor nay là cao ốc

H38: Rạp Đại Quang – Châu Văn Liêm. Q5. Chuyên chiếu “nước nhất” phim quyền cước mới nhập từ hãng SB (Shaw Brother) và Gia Hòa bên Hong Kong.  Rạp Đại Quang nay là rạp Cinema 3B.

H39: Rạp Victory Lê Ngọc Châu Văn Liêm, quận 5. Cùng với rạp Đại Quang. Rạp Lê Ngọc chuyên chiếu “nước nhất” phim quyền cước mới nhập từ hãng SB (Shaw Brother) và Gia Hòa bên Hong Kong. Rạp Victory Lê Ngọc sau 1975 đổi tên là rạp Toàn Thắng và tiếp tục chiếu phim. Hiện nay đã bị đập.

9-rap-xi-ne-14

H40: Rạp Phi Long –Xóm Củi, quận 8. Rạp Phi Long nay là nhà sách Lý Thái Tổ thuộc công ty Fahasa. Khu vực Xóm Củi có rạp Phi Long thuộc loại bình dân chuyên chiếu phim đánh kiếm, ca múa, phép thuật Ấn Độ.

H41: Rạp Đô Thành – bên hông chợ Kim Biên. Khu vực cầu Ba Cẳng có rạp hát Đô Thành, sau 1975 đổi tên Hướng Dương, chuyên chiếu phim quyền cước mới.

H42; Rạp Hồng Liên – Hậu Giang, quận 6, nay là trung tâm giải trí Hồng Liên. Rạp ban đầu tên là rạp Tân Lạc, khoảng thập niên 60 đổi tên là Hồng Liên. Rạp Hồng Liên chuyên chiếu “nước ba, nước bốn” phim quyền cước Hong Kong. Rạp này chuyên chiếu phim Tàu chuyển âm tiếng Việt. Đặc biệt của rạp này là rất nhiều con nít được người lớn dắt theo

9-rap-xi-ne-15

H43: Rạp Cây Gõ Minh Phụng, quận 6. Rạp hiện nay là nhà sách Cây Gõ thuộc công ty Fahasa. Rạp Cây Gõ chuyên chiếu phim Ấn Độ  Rạp Cây Gõ có thời gian chuyên diễn cải lương. Khi thời cực thịnh của cải lương đã qua và đi vào thoái trào, rạp chuyển đổi công năng và hiện nay là nhà sách Cây G.

H44: Rạp Hương Bình – Bình Tiên, chỉ chiếu phim “nát nước” quyền cước Hong Kong. bị bỏ hoang khá lâu sau 1975.

H45: Rạp Quốc Thái Ba Tháng Hai, quận 11. Rạp Quốc Thái hiện nay cũng đang bị đập.

9-rap-xi-ne-16

H46: Rạp Cẩm Vân Phan Đình Phùng, quận Phú Nhuận. Đi thêm một chút bên tay trái gần ngã ba Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển) là rạp Cẩm Vân. Rạp Cẩm Vân có lẽ ngưng hoạt động từ sau 1975 và nay là cơ sở của trường Cao đẳng Kinh tế Đối Ngoại.

H47: Rạp Đại Đồng (Gia Định) : Rạp Đại Đồng (Gia Định) nằm trên đường Nơ Trang Long, cạnh rạp là Hố bơi cùng tên.

H48: Rạp Lạc Xuân Nguyễn Văn Nghi, quận Gò Vấp, nay là nhà sách Lạc Xuân. Rạp chiếu toàn phim cũ và cái projecteur chắc của Tây để lại nên phim cứ sọc rằn làm nhức mắt người xem.

9-rap-xi-ne-17

H49: Rạp Đông Nhì –Lê Quang Định, quận Gò Vấp, ngày nay là 1 shop thời trang.

H50: Rạp Đại LợiPhạm Văn Hai, quận Tân Bình, nằm trên đường Thoại Ngọc Hầu (nay là Phạm Văn Hai) sát chợ Ông Tạ. hiện nay là trung tâm mua sắm giải trí Unique.

H51: Rạp Tân Mỹ –Trần Xuân Soạn, quận 7. Chiếu phim một thời gian rồi chuyển qua diễn cải lương. Sau trở thành cơ sở của một xí nghiệp đông lạnh. Hiện nay đã bị đập và bỏ hoang thời gian dài.

Quế Phượng chuyển tiếp

TỪ CHỢ BẾN THÀNH ĐẾN VƯỜN BỜ RÔ

Logo bay gio ke

Tranh Ben ThanhCHUYỆN ÍT NGƯỜI BIẾT

VỀ CHỢ BẾN THÀNH

Chợ Bến Thành có lẽ không ai không biết dù có thể chưa có dịp ghé thăm. Nhưng ngôi chợ này vẫn có nhiều điều có lẽ ít người biết đến như từng có cầu vượt đầu tiên, từng mang tên chợ Quách Thị Trang…

Từ những thập niên đầu thế kỷ 18, trên vùng đất Sài Gòn, phủ Gia Định xưa đã hình thành các khu chợ buôn bán như: chợ Điều Khiển, chợ Tân Kiểng, chợ Nguyễn Thực… Đặc biệt khu chợ Lớn của người Hoa được hình thành trong khoảng năm 1679 đến năm 1731 là một khu vực buôn bán sầm uất thời bấy giờ. Kế đến là chợ Bến Thành nằm trên vàm Bến Nghé – sông Sài Gòn, gần thành Gia Định. Tên gọi chợ Bến Thành bắt nguồn từ vị trí này của chợ.

9-ben-thanh-1Năm 1913, chợ Bến Thành bị giải tỏa, nhà lồng chợ nhường lại cho Tổng nha Ngân khố, nay là Kho bạc Nhà nước nằm trên đường Nguyễn Huệ, quận 1. Khu vực chợ mang tên chợ Cũ nằm ở góc đường Tôn Thất Đạm – Hàm Nghi hiện nay vốn là chợ Bến Thành trước đây.

Tòa Bitexco Financial Tower xây dựng từ năm 2004 đến năm 2014, cao 262m, gồm 68 tầng, là tòa nhà cao nhất ở Sài Gòn hiện nay, tọa lạc ngay vị trí trung tâm chợ Bến Thành cũ (gồm Kho bạc nhà nước phía trước, sau là tòa nhà  Bitexco Financial Tower).

Chợ Bến Thành mới

Chợ Bến Thành mới được xây dựng ở một vị trí rộng rãi hơn, gọi là chợ Bến Thành mới hay chợ mới Sài Gòn. Trước mặt chợ Bến Thành là công trường Quách Thị Trang – trước kia là cái ao sình lầy gọi là Bồ-Rệt (Marais Boresse) do viên xã Tây lúc ấy (tức thị trưởng) tên Eugène Cuniac cho lấp năm 1912 và xây chợ Mới Sài Gòn.

Lúc đầu gọi là bùng binh Cu-nhắc (Rond – point Cuniac) rồi lần lượt đổi tên là công trường Diên Hồng và nay là công trường Quách Thị Trang.

9-ben-thanh-3Cửa chính của chợ Bến Thành là cửa Nam, rất phù hợp với tiêu chí mở cửa chính trong kiến trúc Việt: Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam. Mặt Bắc chợ mới là đường D’Espagne (nay là đường Lê Thánh Tôn). Mặt Tây chợ mới là đường Schroeder (nay là đường Phan Chu Trinh). Mặt Đông chợ mới là đường Viennot (nay là đường Phan Bội Châu).

Theo văn bản chính thức, tin đăng trên báo Le Nouvellistecochinchinois ngày 31/3/1914 thì dự án xây cất chợ trong quá trình từ năm 1894, nhưng mãi đến năm 1913 mới thực hiện.

Chi phí xây cất chợ Bến Thành mới tổng cộng là 975.000 quan Pháp. Nhà thầu xây dựng chính chợ mới là Công ty hỗn hợp Brossard và Mausin (về sau giải thể, thành Công ty gạch bông Thanh Danh ở đường Cống Quỳnh). Chợ Bến Thành mới xây xong làm lễ khai thị vào lúc 17g ngày 28-3-1914 và diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30/3/1914.

Lễ khai thị chợ Bến Thành mới được các giới hưởng ứng, đặc biệt là người Hoa đang nắm nhiều sạp trong chợ. Lễ khai thị được báo chí thời đó gọi là Tân Vương Hội. Ngày khai thị có khoảng 100.000 người tham dự, có cả dân từ các tỉnh đổ về. Lễ khai thị được tổ chức linh đình, có xe hoa diễu hành và nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, mua sắm… Trong đó có cuộc gia đấu quyết tử giữa người và hổ 9-ben-thanh-2mà ai ai cũng phải thán phục !

Chợ Bến Thành có 16 cửa

Chợ Bến Thành có 4 cửa chính và 12 cửa phụ. Từ cửa Nam đến cửa Bắc của chợ dài 136m. Từ cửa Đông đến cửa Tây của chợ dài 96m. Đường chữ thập của chợ rộng 5m. Từ cửa Nam xuống Bắc của chợ có 22 hẻm. Từ cửa Đông xuống cửa Tây có 9 hẻm.

Cửa Nam là mặt tiền (cửa số 1) của chợ Bến Thành hướng ra công trường Quách Thị Trang. Phía Nam chợ Bến Thành ngoài cửa Nam còn có cửa số 2, cửa số 16.

Điểm nổi bật nhất của cửa Nam đó chính là tháp đồng hồ. Tháp đồng hồ có ba mặt. Tháp được xây dựng theo kiến trúc kiểu Pháp. 9-ben-thanh-4Phía dưới tháp đồng hồ, ở mặt tiền, có ba chữ “CHỢ BẾN THÀNH”.

Phần trên của tháp, bên trong trước đây là phòng phát thanh của Đài truyền thanh quận 1 mà tôi là một trong những thành viên từng trực tại đây để đọc những bài phát thanh hằng ngày, cung cấp tin tức và các thông báo cần thiết cho tiểu thương và khách đi chợ sau năm 1975.

Từ những năm 2000, nơi đây trở thành văn phòng ban quản lý chợ, có thiết lập thêm một trang thờ Thần chợ đáp ứng nhu cầu tâm linh của giới tiểu thương ở chợ. Bên dưới tháp là cửa chính vào chợ, gọi là cửa Nam.9-ben-thanh-5 Cửa Bắc (cửa số 9) của chợ Bến Thành nằm trên đường Lê Thánh Tôn.

Cửa Tây (cửa số 5) của chợ Bến Thành nằm trên đường Phan Chu Trinh. Phía Tây chợ Bến Thành ngoài cửa Tây còn có cửa số 3, cửa số 4, cửa số 6, cửa số 7, cửa số 8.

Cửa Đông (cửa số 13) của chợ Bến Thành nằm trên đường Phan Bội Châu. Phía Đông chợ Bến Thành ngoài cửa Đông còn có cửa số 10, cửa số 11, cửa số 12, cửa số 14, cửa số 15. (theo Hng)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Tr cau hoi 2TỪ VƯỜN ÔNG THƯỢNG

VƯỜN BỜ RÔ ĐẾN…

CÔNG VIÊN TAO ĐÀN

Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, vườn Tao Đàn được người dân Sài Gòn đặt cho những tên gọi thân thương khác nhau vườn Ông Thượng, vườn Bờ Rô…

Năm 1862, sau khi chiếm Sài Gòn – Gia Định, người Pháp tổ chức quy hoạch lại Sài Gòn. Và vùng rừng cây nằm ven Sài Gòn và cánh đồng Mồ Mả hay đồng Mả Ngụy được quy hoạch làm khu vườn cây xanh.

Ranh giới của khu vườn nầy là góc đường Thiên Lý phía Tây (đường Cách Mạng Tháng Tám) và đường Thiên Lý Bắc Nam (đường Nguyễn Thị Minh Khai).

Đến năm 1868, khi bắt đầu xây dựng dinh Độc Lập (hồi ấy gọi là Dinh Norodom hay Dinh Toàn quyền) 9-tao-dan-1thì khu vườn trở thành vườn cây của dinh. Và có lẽ cũng từ khi ấy, người Sài Gòn quen miệng gọi vườn cây của Dinh Norodom là vườn Ông Thượng.

Có nhà nghiên cứu cho rằng sở dĩ có tên Vườn Ông Thượng vì nơi đây từng là nơi Tả Quân Lê Văn Duyệt mở trường đá gà, sân khấu hát bội.

Tuy nhiên, cần nhớ rằng thời Quận công Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn đất Gia Định thì dinh thự của ông nằm trong thành Gia Định, ước khoảng khu đất nay là Sở Ngoại vụ TPHCM. Và đất của Vườn Tao Đàn ngày nay nằm ở ngoài thành, ven theo đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Là người lãnh đạo cao nhứt Gia Định – khi đó Gia Định là vùng đất kéo dài từ Bình Thuận đến Cà Mau, ông Lê Văn Duyệt đâu rảnh mà ra ngoại thành “vui chơi” hoài. Nếu có thì cũng tổ chức đâu đó trong thành, chớ mỗi lần ông lớn đi là bầu đoàn thê tử đông đảo rất mất công và tốn kém.

Phần nữa là từ khi ông mất cho đến khi Vườn Tao Đàn hình thành thời gian quá lâu, từ 1832 đến 1868, hơn 30 năm thì hai chữ “ông Thượng” có lẽ không dành cho ngài Tả quân.

Cái tên “Vườn Ông Thượng” có từ cuối thế kỷ 19. Rất có thể tên nầy xuất phát từ khi dinh Độc Lập xây cất xon9-tao-dan-2g trở thành dinh Thống đốc Nam Kỳ và vườn trở thành khu “vườn sau dinh”.

Xưa, dân gian quen gọi nơi cư ngụ hoặc làm việc của các quan lớn là “ông thượng”, “quan thượng”. Ví dụ, Nha nội vụ (Le Directeur de l’interiéur) được gọi một cách bình thường là “dinh quan Thượng lại” hoặc “Lại bộ thượng thơ”.

Xưa Gia Định Báo, tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của nước ta, được thực hiện và phát hành tại Nha nội vụ và chính tờ báo nầy viết “Ai muốn mua thì tới dinh quan Thượng lại tại Sài Gòn cho người ta biên tên, mua trót năm thì giá 20 francs, mua 6 tháng thì 10 francs, mà mua 3 tháng thì 5 francs”.

Như vậy, ba chữ “Vườn Ông Thượng” có lẽ không hề chỉ một ông quan tây hay ta cụ thể nào mà chỉ là cách “nói trỏng”, nói “xách mé” của dân gian về khu vườn 9-tao-dan-3của thành phố mà coi như là “của riêng” của các quan !

Đây cũng chỉ là ước đoán của chúng tôi rất mong những bực thức giả góp ý thêm.

Năm 1869, người Pháp mở con đường Miss Clavell (nay là đường Huyền Trân Công Chúa) tách khu vườn ra khỏi dinh Độc Lập.

Từ đó, Vườn hoa thành phố hay Vườn ông Thượng nằm gọn giữa bốn con đường Verdun (Lê Văn Duyệt nay là Cách mạng Tháng Tám) – Tabert (Nguyễn Du) – Chasseloup Laubat (Nguyễn Thị Minh Khai) và Miss Clavell chính thức có tên là “jardin de la ville” vườn hoa thành phố.

Trong vườn có một khoảng ở trung tâm được lót gạch, có lẽ vì vậy mà dân chúng lại gọi là Vườn Bờ Rô (préau tiếng Pháp nghĩa là “sân lót gạch”). Tuy nhiên cũng có có nguồn giải thích từ Bờ rô xuất phát từ từ chữ jardin des beaux jeux mà ra.

Đến năm 1955, sau khi người Pháp rút khỏi Việt Nam, vườn được chính quyền Sài Gòn đổi tên thành Vườn Tào Đàn và nay là Công viên Tao Đàn.

Vườn Tao Đàn rộng khoảng hơn 90.000m2 (trước khi xây dựng các cơ sở chung 9-tao-dan-4quanh thì vườn rộng 10 mẩu tây) với nhiều loại cây quí hiếm, lạ. Ví dụ như cây sa la ít được trồng ở các công viên trong thành phố.

Xưa Sài Gòn có đường Amiral Roze, tên một thống đốc Nam Kỳ, từ Lê Lai đến Nguyễn Du lúc đầu tên là Calmette, năm 1920 thì đổi tên thành Amiral Roze. Từ đường Nguyễn Thị Minh Khai đến Kỳ Đồng có con đường đầu tiên mang tên “jardins” (vườn hoa). Giữa hai đường Roze và Jardin có một con đường nối xuyên qua vườn Ông Thượng.

Năm 1955, cả hai đường đều đổi tên, Roze thành Trương công Định, còn Jardin (từ năm 1897 mang tên là Larégnère) thành Đoàn Thị Điểm.

Từ ngày 18/4/1975 cả hai đường trở thành Trương Định nhưng đoạn đi qua vườn Tao Đàn vẫn còn ngăn cách. Đến năm 2003, hai Tr thieu nu 3con đường mới thông nhau thành một.

Sau năm 1975, Vườn Tao Đàn trở thành Công viên Văn Hoá và nơi đây ghi dấu kỷ niệm của biết bao người. Sáng sáng chiều chiều người già người trẻ ra đây để đi dạo, tập thể dục, hẹn hò, ngắm cảnh, hóng mát…

Từ năm 1985, Công viên Văn Hoá Tao Đàn là nơi đầu tiên “mở sân khấu ca nhạc ngoài trời” để biểu diễn phục vụ cho người dân yêu âm nhạc thành phố và người phụ trách sân khấu này là ông Lê Hoàng, nguyên Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ.

Ngày nay, Công viên là một địa điểm xanh quen thuộc của người dân thành phố đến đây ngắm cảnh, đi dạo, chơi thể thao, tham gia các hoạt động mỹ thuật, giải trí, hội hoa xuân…(theo Trần Nhật Vy)

Quế Phượng chuyển tiếp

Logo phiem

Tr cuoi 5SÀI GÒN XƯA :

TỪ NHỮNG MẪU NGƯỜI ĐẸP

ĐẾN CÁCH LÀM ĐẸP

Tại Sài Gòn, năm 1963, nhà văn Chu Tử cho ra đời Yêu, một tác phẩm được người đọc tiếp nhận nồng nhiệt [1]. Sự thành công của Yêu một phần không nhỏ là do công của các bài phê bình trên nhật báo và tạp chí Sài Gòn thời đó.

Chu Tử bộc bạch : “Yêu là một truyện mà không có cốt truyện, không có nhân vật, “tung hê” tất cả những qui luật cổ điển về lề lối xây dựng một tiểu thuyết, để cho truyện thoát khỏi mọi gò bó, giả tạo…”.

Dưới đây là chân dung của 4 người đẹp – Uyển, Diễm, Huyền, Tuyết – qua cái nhìn của Chu Tử :

Bốn cô đều đẹp, mỗi đứa đẹp một vẻ riêng biệt, cũng như tính nết họ, chẳng đứa nào giống đứa nào… Uyển hai mươi hai tuổi, đẹp dữ dội, lồ lộ, khêu gợi… Diễm hai mươi tuổi, đẹp kín đáo, mơ màng, đầy sức quyến rũ ngấm ngầm. 10-chu-tuHuyền mười tám tuổi, đẹp kỳ lạ, vì đôi mắt nàng hơi lác (lé).

Phải nhìn kỹ, mới nhận ra đôi mắt nàng lác, nhưng đã nhìn kỹ thì không tránh khỏi bị đôi mắt của Huyền thôi miên. Lạ nhất là gương mặt Huyền không giống cha, không giống mẹ, không giống các chị em, và đôi mắt Huyền ngay từ lúc mới đẻ đã mang một bí mật mà chính Huyền không biết, cho nên Huyền không những ít nói, mà còn hay buồn, thích đi tu… trái hẳn với cô gái út là Tuyết mười sáu tuổi, đẹp một cách Tây Phương, ngổ ngáo, ranh mãnh”.

Tôi nhìn thấy 4 kiều nữ trong Yêu chính là điển hình của những mẫu người đẹp Sài Gòn thập niên 1960. Cả nhân vật đứng tuổi như bà Hằng, người đã “ủng hộ” anh dân quân du kích khi anh vô tình thổ lộ “thèm quá, ủng hộ một tí…”.

Ngày đó, cô Hằng nhắm mắt ‘chiều’ anh bộ đội với một suy nghĩ đơn giản là mình đã ‘…giúp một tay cho kháng chiến thành công…’ cũng là một logic trong cái ‘vô lý’ của Yêu ! Đó cũng là điển hình chân dung người phụ nữ vốn có những lúc phức tạp đến độ khó hiểu nhưng có khi lại ngây thơ, đơn giản đến độ vô lý như bà Hằng của thời kháng chiến !

Đọc Kỹ nghệ lấy Tây (1934) của ‘ông vua phóng sự’ Vũ Trọng Phụng [2] 10-vu-trong-phungngười ta lại khám phá cả một xã hội của những người phụ nữ Việt Nam được mệnh danh là ‘Me Tây’ vào thời kỳ 1930-1940 tại làng Cổ Mễ, Thị Cầu gần Hà Nội. Phần đông họ là những phụ nữ chân quê và vì một lý do nào đó ‘lạc bước’ vào giới Me Tây để trở thành những nhân vật như Bà Cai Bu-Dích, Bà Cẩm, Bà Kiểm Lâm…

Ngôn ngữ Me Tây thật phong phú : “Toa ba mỏ nhá cút xê ăng co xê moi ! Toa kích tê moa săng bảy dề, a lò phi nì phăm, phi nì ma ghi ! A lò, kích !” (Mày không có quyền về ngủ nhà này nữa. Mày bỏ tao đi mà không trả tiền, thế là hết vợ, hết chồng. Thế thì… đi, đi !).

Sang đến Sài Gòn cuối thập niên 1960, khi quân đội Cờ Hoa có mặt tại Việt Nam, lại xuất hiện Me Mỹ. Họ có thể là những cô gái quê nhưng cũng có thể là gái thành thị, và vì hoàn cảnh gia đình nên đã chọn con đường phục vụ trong các quán bar để mưu sinh. Thời đó họ được gọi là Saigon Tea Girl như trong bài Wabash Cannonball 9-nguoi-dep-1do Jerry Campbell và Ed “Pappy” Hufft đã đổi lời thành Saigon Tea

Xem video clip bài hát Wabash Cannonball  do Johnny Cash trình bày :

https://www.youtube.com/watch?v=aZiQ89_s67Q

https://youtu.be/lOagNqCliMU

Những cô gái Saigon Tea cũng là một phần chứng nhân lịch sử của Sài Gòn thời chiến cho dù “background” của họ rất khiêm tốn giữa bối cảnh đất nước nhiễu nhương. Vốn liếng tiếng Anh của họ chỉ vỏn vẹn những câu “broken English” như number one, number ten, OK salem, no star where, papa san, mama san… nhưng đó cũng là những dấu tích của một giai đoạn lịch sử mà Sài Gòn đã trải qua.

oOo

Phương Tây có quan niệm rất thực dụng về nhan sắc của phụ nữ. Họ cho rằng sắc đẹp là tặng phẩm đầu tiên của tạo hóa dành cho phụ nữ nhưng đó cũng là món quà đầu tiên tạo hóa lấy đi theo thời gian.

Nói như vậy có nghĩa nhan sắc sẽ tàn theo tuổi tác. Không một phụ nữ nào có thể níu kéo nhan sắc ở lại với mình cho đến ngày tóc bạc, da mồi. Thế nhưng, cũng có ý kiến cho rằng “không có phụ nữ xấu xí, chỉ có những phụ nữ không biết cách làm cho mình đẹp”.

9-nguoi-dep-2Bằng chứng là ngày xưa những người đẹp Sài Gòn cũng tìm được một lối thoát để kéo dài và giữ gìn nhan sắc: họ nhờ đến giải phẫu thẩm mỹ. Bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ đã có mặt tại Sài Gòn từ rất sớm vì nghề “Cosmetic Surgery” hái ra tiền.

Họ dùng đủ mọi thủ thuật để làm đẹp và duy trì nét đẹp cho phụ nữ. Từ những tiểu phẫu như căng da mặt, xâm lông mày, chẻ môi, sửa mũi đến đại phẫu như nâng ngực, bơm mông, lấy bớt chất mỡ trên bụng, thậm chí còn ‘nong ra’ hoặc ‘thu nhỏ’ nơi vốn kín đáo nhất của các bà các cô.

Nghe nói các ông chồng trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài ngày nay cũng là nạn nhân của việc làm đẹp. Các bà, các cô đua đòi đi thẩm mỹ viện, thậm chí khi về Việt Nam cũng nhân tiện ‘quá giang’ làm đẹp vì giá cả ở đây rẻ hơn nhiều nếu so với xứ cờ hoa hay xứ kangaroo.

Chỉ có cánh đàn ông là thiệt thòi. Họ làm lụng vất vả để kiếm tiền cho vợ đi sửa sắc đẹp. Khi đến thẩm mỹ viện, các bà thường mang mục đích cao cả là làm đẹp cho chồng nhưng có đến 90% đàn ông có vợ đi sửa sắc đẹp, trong tận cùng đáy lòng, đều không ủng hộ quyết định này.

Họ để vợ đến thẩm mỹ viện chỉ vì ‘cả nể’… Cũng vì đức tính này, Honoré de Balzac mới nói: “Người đàn ông nào có thể điều khiển được phụ nữ thì cũng có thể điều khiển được một quốc gia”. Thế nhưng, vấn đề là mỗi nước chỉ có một người đứng đầu còn lại bao nhiêu đều là… phó thường dân!

Tr Con gai 7Người ta thường chống hàng ‘gian’, hàng ‘giả’. Tuy nhiên, vẫn có ngoại lệ đối với các mặt hàng được gọi là ‘tiêu cực’ này. Đó là những hàng giả mà người sử dụng không bao giờ chống mà lại còn ủng hộ hết mình: chân tay giả được những người cụt tay, cụt chân hoan nghênh, răng giả dùng cho những người ‘hăng-rết’ (hết răng)… Khi tuổi đã xế bóng, các ông các bà có khi phải dùng hàm răng giả, tối tối đánh răng mà miệng vẫn huýt sáo một cách yêu đời.

Riêng đối với phụ nữ, các bà các cô ủng hộ hết mình những ‘mặt hàng’ như lông mi giả, tóc giả. Ngoài ra, nếu ‘vòng số 1’ hơi khiêm tốn thì có áo nịt ngực bên trong độn mousse cho thêm phần khiêu gợi, ‘vòng số 3’ nhỏ quá thì có mông giả tăng cường để ‘bằng chị, bằng em’ khi ra đường.

Người ta nói, muốn kiểm chứng ‘mông thật, mông giả’ rất dễ: cứ cầm cây kim lén chích vào mông một kiều nữ. Hồi xưa người ta đồn mông của Người đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng là giả (!!!???).

Cho đến giờ phút này chưa có một tài liệu nào chứng minh Thẩm Thúy Hằng có xài đồ 10-tham-thuy-hanggiả hay không. Tôi còn nhớ, hồi xưa có lần một cây bút nào đó ví cái đầu của ký giả Tô Văn giống như… mông của Thẩm Thúy Hằng (?).

Vĩnh viễn chuyện cặp mông của cô diễn viên này sẽ là một bí mật, chỉ có Thẩm Thúy Hằng và chồng cô, Tiến sĩ Harvard, Tony Nguyễn Xuân Oánh, mới biết đích xác. Mà ông Oánh thì nay đã là người thiên cổ…

Kiểm chứng mông thật hay giả bằng kim chích như nói ở trên sẽ có hai trường hợp xảy ra : hoặc bạn ăn một cái tát nên thân hoặc người đẹp vẫn cười thật tươi với bạn !

Nói đùa vậy thôi chứ đừng ai dại dột làm chuyện này. Giả hay thật là chuyện của phụ nữ, cánh đàn ông chỉ biết chiêm ngưỡng người đẹp. Đơn giản thế thôi !

[1]: Xem thêm về Yêu của Chu Tử tại:

http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237ntnnn4ntn31n343tq83a3q3m3237nvn

http://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/11/30/chu-tu-chet-va-song/

[2]: Xem thêm về Vũ Trọng Phụng tại:

http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Tr%E1%BB%8Dng_Ph%E1%BB%A5ng

Yên Huỳnh chuyển tiếp

MÓN NGON SÀIGÒN XƯA

Logo am thuc

Ng Ngoc ChinhNHỚ LẠI MÓN NGON

SÀIGÒN NGÀY TRƯỚC

– Nguyễn Ngọc Chinh

Bây giờ ở VN ăn gì cũng chết, và chết từ từ, nhất là trái cây và hải sản. Không còn các món ngon của Saigon xưa. Mời đọc lại lần nữa bài viết của Nguyễn Ngọc Chính

Tôi rất tâm đắc với ý kiến này. Hồi còn trong trại tù cải tạo, cái bụng lép kẹp lúc nào cũng sôi ùng ục, tôi và vài người bạn tù có “tâm hồn ăn uống” vẫn thường kể cho nhau nghe những món khoái khẩu của mình. Ăn “hàm thụ” sao mà ngon thế. Phải nói ngon gấp nghìn lần ăn… thực thụ ! Có nhà văn nào đó cho rằng khi viết về ẩm thực bụng phải đói mới “lột tả” hết cái ngon của món ăn.An uong 1

Thời cải tạo qua đi nhưng thời điêu linh lại kéo tới. Vào thời đó, cái để đút vào mồm chỉ toàn khoai mì chạy chỉ với bo bo, còn được mệnh danh là… cao lương. Ngồi nhấm nháp cao lương mà cứ tức anh ách. Ai đó đã khéo chơi chữ mà đặt tên, mỉa mai không khác gì cái món “mầm đá” của ông vua ngày xưa !

Nhưng rồi cũng qua đi cái thời ăn để mà sống, người ta bỗng nhớ đến thời… sống để mà ăn ở Sài Gòn hoa lệ ngày nào.

PhoChuyện hàng Phở

Theo tôi, một trong những món ngon đó phải kể đến phở. Mặc dù phở có xuất xứ từ miền Bắc nhưng phở Sài Gòn thường ăn kèm với giá, ngò gai, húng quế vẫn ngon hơn phở Hà Nội thiếu hẳn các loại rau thơm mà lại không có giá. Vào đến Sài Gòn ngày xưa có con đường tên Turc (Thổ Nhĩ Kỳ), một đầu là đường Tự Do (Catinat), đầu kia là đường Hai Bà Trưng (Paul Blanchy). Tiệm Phở Bắc được bán trong khuôn viên nhà thờ Hồi Giáo này, nên có tên là Phở Turc.

Sài Gòn 1954, lúc người Bắc mới vào Nam, những tiệm Phở Bắc hãy còn đếm được trên đầu ngón tay. Ðó là mấy tiệm Phở Thịnh đường Gia Long, Phở Turc đường Turc, Phở Minh đường Pasteur và Phở 79 ở đường Frère Louis (sau này đổi tên thành đường Võ Tánh và đến 1975 lại đổi thành Nguyễn Trãi thuộc quận 1).

Ngay bên hông rạp Casino có một hẻm nhỏ, đi vào hẻm đó là một dẫy nhà, đa số là nhà dân Bắc Kỳ di cư sớm, từ những năm 1920. Tiệm Phở Minh nằm ở dãy nhà đó.

Phở Minh có cả phở bò lẫn phở gà nhưng đặc biệt hơn cả còn có bài thơ do thi sĩ Trần Rắc đề tặng. Bài thơ được cắt chữ, đóng khung kính, treo trên tường. Bài thơ Ðường Luật có 4 câu đầu như sau :

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành,

Trần Minh Phở Bắc đã lừng danh

Chủ đề : tái, chín, nạm, gầu, sụn,

Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh.

Thi sĩ Trần Rắc chính là ông chủ tiệm giày Trần Rắc đường Lê Thánh Tôn, gần Khám Lớn Catinat năm xưa. 9 Hang pho 1Tiệm giầy Trần Rắc, và cả mấy tiệm giầy ở đường này, đều có cửa sau đi vào hẻm “ẩm thực” Casino. Việt Nam ta đúng là… ra ngõ gặp nhà thơ. Ðến như ông chủ tiệm giày cũng có thể làm thơ về phở chứ chưa dám nói đến Tản Ðà là người viết nhiều về nghệ thuật ăn uống!

Trên đường Mạc Ðĩnh Chi (Massiges), gần bên hông Tòa Ðại Sứ Mỹ, còn có phở Cao Vân, dù tiệm phở này không nằm trên đường Trần Cao Vân (Larclause) cách đó không xa. Theo tôi, phở Cao Vân (25 Mạc Ðĩnh Chi) chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung” nhưng được nhắc tới cùng với phở Minh vì Cao Vân cũng có một bài thơ ca tụng phở của thi sĩ Tú Mỡ được viết bằng sơn ngay trên tường.

Trong các món ăn Quân Tử Vị

Phở là quà đáng quý trên đời

Chủ của phở Cao Vân ngày nay là một ông cụ Bắc Kỳ hom hem theo năm tháng. Ông không còn đứng ra nấu phở nhưng chiều chiều thường ngồi nhậu lai rai với các “chiến hữu” để hưởng nhàn!

… Trên đường Pasteur có Phở Hòa, khá nổi tiếng. Ban đầu, lúc khai trương năm 1960, tiệm phở này mang tên Hòa Lộc. Có lẽ sau này khách ăn cứ gọi tắt là Hòa nên Hòa Lộc biến thành Hòa theo kiểu gọi tên một chữ cho dễ nhớ thường thấy ở các tiệm phở (?). Phở Hòa chỉ chuyên loại phở bò, nếu vào đây mà tìm tô phở gà thì không có. Khách phải chịu khó ra đường Hiền Vương (bây giờ đổi tên là Võ Thị Sáu), đến tiệm 9 Hang pho 2Hương Bình, “chuyên trị” phở gà.

Nói đến phở Sài Gòn tại khu vực trung tâm, phải nói đến tiệm Phở 79, ngay tại số nhà 79 trên đường Võ Tánh. Khoảng năm 1952, tiệm Phở 79 mở cửa, khi đó nền nhà của tiệm còn thấp hơn mặt đường. Chỉ vài năm sau tiệm phát đạt, chủ nhân mua hai nhà bên cạnh, mở lớn thành tiệm Phở 79 khang trang và có thể nói là một trong những tiệm phở sạch nhất Sài Gòn thời đó.

Trường Sinh ngữ Quân đội có chi nhánh ở đường Nguyễn Văn Tráng rất gần với Phở 79 tại khu vực Ngã Sáu Sài Gòn. Ðám giảng viên chúng tôi thường xuyên ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối mỗi khi “ứng chiến” tại trường. Phở tại đây được đánh giá là… “ăn được.” Nếu ai “ăn không được” thì chịu khó đi thêm vài bước ra Ngã Sáu, nơi đây có đủ các món ăn chơi thuộc loại bình dân, từ phở, hủ tíu cho đến mì và có cả xe… bánh mì mua về trường nằm gặm trong những đêm ứng chiến!

Gần ngã tư Phú Nhuận có phở Quyền trên đường Võ Tánh (thuộc quận Phú Nhuận), cách cổng phụ của Tổng Tham Mưu chừng 100 mét. Tôi thường ghé ăn nơi đây mỗi khi về trụ sở chính của trường sinh ngữ trong Tổng Tham Mưu. Nước phở ở đây rất đậm đà, vị ngọt là của xương ống chứ không phải vì bột ngọt. Phở Quyền còn có cả món “tái sách tương gừng” được xếp vào loại… trứ danh.

Con cháu của một số gánh phở nổi tiếng Hà Nội đã vào Nam lập nghiệp năm 1954, trong cơ hội lịch sử này có phở Tàu Bay. Vốn là quán phở do ông nội mở vào 1950 ở Hà Nội, khi di cư vào Nam, ông chủ quán được người bạn thân tặng cho chiếc mũ bay.9 Hang pho 3 Ông thường xuyên đội nó, khách thấy lạ, gọi ông “Tàu Bay” rồi chết tên thành tên quán.

Phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ ngày nay vẫn bán và khách quen ngày nào vẫn chịu khó mò đến đây để tìm lại hương vị đặc thù. Phải nói Phở Tàu Bay rất… hiếu khách. Gọi thêm nước béo, nhà phở đem ra cả tô chứ không bằng chén nhỏ như những tiệm khác. Tô đặc biệt của Tàu Bay lại là tô “Xe Lửa,” bánh và thịt trên mức hậu 10 Xe hu tiuhĩnh.

Chuyện hủ tíu

… Kể từ khi người Bắc di cư vào Nam, tiệm phở đánh bạt các tiệm hủ tíu, vốn là món “đặc sản” của miền Nam. Các tiệm hủ tíu nổi tiếng Sài Gòn phải kể đến hủ tíu Thanh Xuân đường Tôn Thất Thiệp (gần chùa Chà Và), hủ tíu Phạm Thị

Trước ở đường Lê Lợi (khúc gần Pasteur), hủ tíu Gà Cá ở đường Hàm Nghi gần khu Ngân hàng Quốc gia và hủ tíu Thanh Thế trên đường Nguyễn Trung Trực…

Có người đến hủ tíu Phạm Thị Trước gọi thêm bánh pâté chaud ăn kèm, cũng giống như hủ tíu Gà Cá. Tuy nhiên, mỗi tiệm hủ tíu đều có hương vị riêng khiến một khi khách đã “kết” thì khó đi ăn nơi khác. Hủ tíu Sài Gòn sáng nào cũng đông người đến thưởng thức, không cần đợi đến những ngày cuối tuần.

9 Tiem hu tiu 1Thường thì hủ tíu có bánh mềm, chỉ riêng hủ tíu Thanh Xuân hay Mỹ Tho thì thêm bánh dai, nấu khô hay nước, tùy theo ý thích của khách. Chỉ nhìn dĩa rau dọn lên trước thì cũng thấy bắt mắt: giá, hẹ, rau cần tàu, tần ô và vài cọng xà lách. Thêm vào đó, mùi nước lèo xông lên như đập vào khứu giác thực khách làm cho bụng cứ gào thét…

Người bồi bàn bưng mâm ra để tô hủ tíu trên bàn, mùi nước lèo xông lên mũi, nếm thử “nghe” được mùi thơm của nước lèo, thêm chút gia vị vào và cầm đũa ngay. Hủ tíu Thanh Xuân thì phải có rau tần ô, rau cần tàu, giá sống. Hủ tíu Phạm Thị Trước hay Thanh Thế cũng thế, nhưng không có rau tần ô. 9 Tiem hu tiu 2Riêng hủ tíu Gà Cá thì chỉ có giá sống.

Tuy nhiên, các thứ hủ tíu nếu thiếu vài miếng tóp mỡ và cải bắc thảo thì hình như thiếu mất cái gì đó. Nước lèo vừa ngọt của xương, vừa béo của chất tủy từ ống xương, thoang thoảng chút mùi của con mực, tôm khô, hào khô và củ cải. Những thứ ấy quyện vào nhau thành một thứ nước lèo hấp dẫn. Hủ tíu bình dân thì có những xe hủ tíu bán dạo. Từ mờ sáng cho đến khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng rao… lòng thấy nao nao!

Chuyện bánh mì

Ðối với tôi, một món cũng thuộc loại “khoái khẩu” ở Sài Gòn là… bánh mì thịt nguội, trong đó có cả jambon, xúc xích, patê ăn kèm với sốt mayonaise và đồ chua! Bánh mì thịt nguội ăn sẽ ngon hơn nếu bạn có thì giờ ngồi nhẩn nha tại tiệm: các loại thịt bày trên đĩa trắng tinh kèm thêm một cục sốt bên cạnh dao, nĩa sạch bóng. 9 Quan banh mi 1Bẻ một miếng bánh mì còn nóng, trét sốt lên trên rồi một lớp patê, sau đó cắt một miếng jambon… đưa vào miệng. Tuyệt cú mèo !

Một trong những tiệm bán bánh mì thịt nguội có tiếng ở Sài Gòn từ năm1954 và còn tồn tại đến ngày nay là Hòa Mã. Tiệm Hòa Mã nằm trên đường Cao Thắng, gần khu vực Bàn Cờ, nơi có những địa điểm nổi tiếng như Kỳ Viên Tự, Tam Tông Miếu, Trường Aurore, Cư Xá Ðô Thành, Nhà Bảo Sanh Ðức Chính…

Ngày nay, Hòa Mã không khác xưa là mấy. Hòa Mã cũ kỹ, bảng hiệu phai màu theo năm tháng vì đã tồn tại hơn 50 năm kể từ ngày mở cửa. Nhiều người nói chủ nhân Hòa Mã là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn… Tiệm Hòa Mã gọi ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, dùng theo tiếng Pháp cassecroute, bữa ăn lót dạ, bữa ăn nhẹ. Những năm 60, giá bán một ổ bánh mì Hòa Mã là 3 đến 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 đến 10 đồng.

…Xe bánh mì Tám Lự gần chợ Bàn Cờ chỉ bán từ sẩm tối đến đêm khuya. Một ổ bánh mì Tám Lự dài cỡ 4 tấc, 9 Quan banh mi 2hai gang tay, tối ăn vào no đến sáng. Bánh mì ngon, ngoài pâté chả lụa, pâté foie, bơ Bretel còn thêm dưa leo, ngò, hành lá, nước tương, muối tiêu, ớt xắt. Ngày xưa khách chỉ cần nói: “Cho một tàu lặn hay một tiềm thủy đĩnh đi, anh Tám!” là khách sẽ có ngay một ổ bánh mì nóng giòn, thơm phức.

Nếu muốn sang hơn thì lên bánh mì Pâté Tòa Ðô chính trên đường Nguyễn Huệ hoặc tiệm bánh Hương Lan trước Bưu Điện Sàigòn hay ngồi Thanh Bạch đường Lê Lợi (gần bệnh viện Sài Gòn). Chỉ cần gọi đĩa bánh mì thịt nguội kèm theo một ly cà phê sữa đá là đủ no cho đến trưa. Thanh Bạch vẫn là nơi lý tưởng để vừa ăn sáng vừa ngắm cảnh người Sài Gòn sửa soạn cho một ngày mới.

Những món ăn khác

… Sài Gòn xưa có hai tiệm Thanh Bạch, một ở đường Lê Lợi, bên rạp xi-nê Vĩnh Lợi. Tiệm Thanh Bạch thứ hai ở đường Phạm Ngũ Lão, trong dẫy phố trệt dưới tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới năm xưa. Ngoài bánh mì ốp-la, ôm-lết, thịt nguội, Thanh Bạch có bánh mì bò kho, hủ tíu và đặc biệt là món suông. Bún suông dùng xương heo để nấu nước lèo, và đặc biệt ở đây là dùng tôm tươi lột vỏ, bỏ đầu, bằm nhuyễn sau đó vo lại thành sợi dài (như sợi bún). 9 Mon an 1Nước lèo ở đây rất trong, ăn kèm với rau sống…

Nhà hàng Tài Nam trên đường Ohier (Tôn Thất Thiệp) nổi tiếng với món đuông chà là chiên bơ rất ngon nhưng cũng rất mắc tiền. Theo nhà văn Sơn Nam, vua chúa cũng còn thèm “con đuông chà là,” tên chữ là “hồ đa tử.” Hồ đa là cây dừa rừng, tức cây chà là hoang thường mọc miền nước mặn Nam bộ, giống như cây cau kiểng. Cây dừa rừng có “củ hũ,” tức đọt non, đến mùa sau Tết thường xuất hiện con đuông, giống như con nhộng. Ðuông ăn đọt dừa non nên to, mập và thường được bắt trước khi nở thành bướm.

Sơn Nam viết: “Ðem đuông nướng trên vỉ sắt, cho héo, rồi ăn, chấm với nước mắm nhĩ nguyên chất. Con đuông béo ngậy vì tăng trưởng, ăn ròng củ hũ cây chà là.”

… Vùng Thanh Ða (Bình Thạnh) nổi tiếng khắp Sài Gòn với món cháo vịt, gỏi vịt. Vào buổi tối người Sài Gòn hay ra bán đảo Thanh Ða trước là để đón những luồng gió mát từ sông Sài Gòn thổi vào và khi về, ghé mấy quán cháo vịt, gọi thêm đĩa gỏi vịt ăn kèm. Nếu là “bợm nhậu” thì gọi thêm chai bia Con cọp BGI để… đưa cay. Nếu ngại ra Thanh Ða thì trên đường Hồng Thập Tự cũng có khu bán cháo vịt thuộc loại… “ăn được.” Thịt vịt tại đây khá mềm, nhai kỹ thấy ngọt và đặc biệt không thấy mùi hôi vốn có 9 Mon an 2của thịt vịt. Có thể họ tuyển loại vịt chạy đồng nên không hôi (?).

Ðinh Công Tráng là một con đường nhỏ gần nhà thờ Tân Ðịnh nhưng cũng đi vào lịch sử ăn uống của Sài Gòn với món bánh xèo. Bí quyết của bánh xèo nằm ở kỹ thuật pha bột, sao cho khi chiên lên, bánh giòn tan khiến người ăn có thể cảm được cái thú nghe miếng bánh đang được nhai dưới hai hàm răng. Lớp bột gạo pha chút nghệ khi đổ vào chảo dầu tạo nên một tiếng “xèo” khiến ta hiểu được tại sao lại gọi là… bánh xèo!

Ngày nay, đường Ðinh Công Tráng trở thành “đường bánh xèo” nhưng người sành ăn thì chọn quán bên tay trái, nếu đi từ đường Hai Bà Trưng vào. Quán không tên nhưng người ăn vẫn nhớ vì nó đã đi vào “bộ nhớ” của người Sài Gòn từ bao năm nay. Những quán đối diện bên kia đường trông có vẻ lịch sự hơn, sạch sẽ hơn nhưng vẫn chịu cảnh vắng khách vì là kẻ… hậu sinh.

Khu Ða Kao có tiệm bánh cuốn Tây Hồ (127 Ðinh Tiên Hoàng), gần chợ Ða Kao, quận 1, nổi tiếng. Tại đây, mỗi bàn có để sẵn một thẩu nước mắm và một chồng chén nhỏ để khách tùy nghi sử dụng, thêm nhiều hay ít ớt bằm theo sở thích riêng của từng người. Tuy nhiên, có khách lại thích chan luôn nước mắm vào đĩa để bánh cuốn thấm nước mắm, đậm đà hơn.

Chả quế và giò lụa được cắt thành miếng lớn, để riêng trong một đĩa nhỏ. Khách có thể chỉ ăn bánh cuốn nhân thịt mà không đụng tới đĩa giò chả, 9 Mon an 3như vậy người phục vụ nhìn vào đĩa chả còn nguyên mà không tính tiền. Nếu cần, có thể gọi thêm đĩa bánh tôm hoặc bánh cuốn không nhân.

Sài Gòn cũng có bánh cuốn Thanh Trì kiểu Bắc, mỏng như tờ giấy, ăn với “ruốc” (chà bông) và nước mắm phải kèm với vài giọt cà cuống mới là “sành điệu”! Còn bánh ướt là kiểu bánh cuốn bình dân ở Sài Gòn, cũng ăn kèm với bánh tôm chiên, giò, chả và rau, giá. Những xe bánh ướt được đẩy đi khắp Sài Gòn, có cả nồi hấp nên lúc nào bánh cũng nóng và người bán bao giờ cũng chan nước mắm vào đĩa thay vì chấm kiểu “thanh cảnh” như bánh cuốn Thanh Trì.

Lại nói thêm, đường Albert (vào thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đổi tên thành Ðinh Tiên Hoàng) khá dài nên dọc theo con đường này có nhiều địa chỉ ẩm thực nổi tiếng. Tiệm ăn Chez Albert (lấy tên theo con đường), Cà phê Hân, Mì Cây Nhãn (tên đặt theo cây nhãn hồi đó còn trồng trước sân), Thạch chè Hiển Khánh (nơi sưu tầm rất nhiều thơ ca tụng thạch chè)… Tôi chắc chắn còn bỏ quên khá nhiều điểm ăn uống khác nữa trên con đường này.

9 Mon an 4

Ở góc đường Tôn Thất Ðạm và Hàm Nghi, trước kia vào thập niên 30 có một quán cháo cá nổi tiếng một thời. Buổi chiều cho đến gần khuya, khách đến ăn rất đông, nhất là khi cải lương, hát bội, hát bóng vãn hát. Theo Vương Hồng Sển trong Sài Gòn Tạp Pín Lù, quán cháo cá này của người Tàu, gốc Quảng Ðông, “cha truyền con nối suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi…” Cháo tại đây nấu bằng gạo tấm hầm với cá, xương heo và thịt tôm hùm để thành một thứ hồ sền sệt khiến “người đau mới mạnh dùng không sợ trúng thực, người mệt mỏi ăn vào cảm thấy nhẹ bụng, mau tiêu. Tô cháo cá Chợ Cũ quả là một ‘tô thuốc tráng thần’…”

Cháo nóng hổi bốc hơi nghi ngút. Vừa thổi vừa húp xì xụp mới thấy được cái thú vị của món cháo cá Chợ Cũ. Thịt cá giòn, thơm, lẫn lộn hương vị của hành, tiêu, gừng và có thể ăn với “dầu chá quẩy.” 9 Mon an 6Thú thật, tôi là người thích thịt hơn cá nhưng thỉnh thoảng được thưởng thức món cháo cá vẫn thấy ngon đến toát mồ hôi!

Có một tiệm cháo giò heo khá nổi tiếng trong ngõ đường Phan Ðình Phùng (ngày nay là Nguyễn Ðình Chiểu). Tiệm không có tên, chuyên bán cháo từ 6 giờ tối tới một, hai giờ sáng. Khách của tiệm này đa số là khách chơi đêm, khách đi nhảy, khuya về đói bụng đến ăn tô cháo nóng.

Tôi lại nhớ đến món phá lấu ở góc đường Lê Lợi – Pasteur, nơi đây còn có xe bò bía và nước mía Viễn Ðông. Bán phá lấu là một chú Tàu và “cửa hàng” của chú chỉ vỏn vẹn một cái khay tròn, trên đó bày đầy đủ nội tạng heo: lòng, dồi, gan, bao tử, ruột non, ruột già, tim, phèo, phổi… Trông thật hấp dẫn, ngửi thơm phức và ăn vào thì giòn tan. Phá lấu nói chung có vị hơi ngòn ngọt, gan thì bùi bùi, lòng thì hơi dai dai nhưng khi nhai kỹ mới thấy ngon… thấu trời xanh!

Nghệ thuật làm phá lấu chắc chỉ mấy chú ba mới đáng hàng sư phụ. Phá lấu làm tại nhà cũng ướp húng lìu, ngũ vị hương nhưng không thể nào so sánh với phá lấu góc nước mía Viễn Ðông. Từng miếng phá lấu được ghim sẵn bằng tăm, chấm với tương đỏ trộn tương đen. Khách ăn xong chú Ba chỉ nhìn tăm mà tính tiền nhưng tuyệt không bao giờ sai. Quá bộ vài bước là xe nước mía tươi mát đang chờ… để kết thúc một chuyến ăn hàng bên lề đường.

Gần nước mía Viễn Ðông có xe thịt bò khô của ông Năm (theo tên gọi của khách quen) và sau 1975 ông dời về đường Tự Ðức (nay đã đổi tên là đường Nguyễn Văn Thủ) thuộc khu Ða Kao.

9 Mon an 5

Dân chơi Sài Gòn thường xếp hạng: “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1” nên viết về món ngon Sài Gòn mà bỏ qua khu vực Chợ Lớn là cả một thiếu sót lớn. Dọc đường Trần Hưng Ðạo nối với đường Marins (Ðồng Khánh) thuộc địa phận quận 5 có những nhà hàng, tửu lầu nổi tiếng một thời như Arc-en-Ciel, Ðồng Khánh, Á Ðông, Bát Ðạt.

Theo tôi, Chợ Lớn nổi tiếng hơn cả là đường Lacaze mà người Việt hay gọi trại là La Cai, tức đường Nguyễn Tri Phương sau này. Khu La Cai có mì vịt tiềm hầm thuốc bắc, một trong những món “tủ” của người Hoa. An uong 2Bên cạnh đó còn có những tiệm hủ tíu mang tên Mỹ Tiên, Cả Cần và tiệm bánh bao Bà Năm Sa Ðéc.

Ðêm đến có các quán sò huyết dọc theo lề đường. Khách bình dân ngồi ăn nhậu thoải mái giữa dòng xe cộ ồn ào bên ánh đèn nê-ông từ các nhà hàng, vũ trường sang trọng của Chợ Lớn “by night”!

…Thôi thì đời người có lúc hưng lúc tàn, cũng như vận nước có khi thịnh khi suy. Viết lại món ngon Sài Gòn chỉ để thỏa mãn kiểu “ăn hàm thụ”như đã nói ở trên. Giờ có cho ăn thực thụ chắc cũng chẳng thấy ngon như thời còn trai trẻ. Tất cả chỉ còn là… hoài niệm !

Yên Huỳnh chuyển tiếp