GIAI THOẠI NHỮNG “MỸ NHÂN” SÀI GÒN

QUÁN GÀ ÁC TIỀM THUỐC BẮC

GỐC TÀU BA ĐỜI Ở SÀI GÒN

Quán ăn có truyền thống cha truyền con nối gần 40 năm nổi tiếng với món gà ác hầm thuốc bắc, giá 50.000 đồng một phần.

H1: Nép mình trên một con đường không mấy sầm uất Phan Xích Long, quận 11, quán ăn gốc Hoa này do ông bà nội của anh Dương Thông Thành mở cách đây mấy chục năm. Anh Thành (38 tuổi), chủ quán hiện tại cho biết, những năm 89 – 90 là lúc ông bà của anh dời quán về vị trí hiện tại. “Còn trước đó ông bà tôi chỉ buôn bán bằng gánh ở vỉa hè. Một sự trùng hợp là ông và chú tôi, hai đời chủ trước đều tên Thành”, anh nói.

H2: Quán nổi tiếng với món gà ác hầm thuốc bắc. Anh Thành cho hay, gà được chọn là những con non, lớn hơn nắm tay một chút, tiềm cùng các vị thuốc bắc trong khoảng 1,5 đến 2 tiếng trong nồi to rồi mang ra xếp trong thố đợi phục vụ cho khách.

Các công đoạn được thực hiện từ khuya. Gà phải làm sạch bằng rượu gừng rồi tẩm ướp các gia vị và không thể thiếu một ít mật ong chúa. Thuốc bắc thì ngâm cho nở trong nước ấm rồi rửa sạch, để ráo.

H3: Để đảm bảo vị chuẩn của món ăn, sau khi tiềm lần đầu, đầu bếp sẽ chia nước thuốc bắc và gà vào hai nổi riêng để tiềm một lần nữa. “Gà chín vừa tới thì vớt ra thố nhỏ. Khi có khách gọi món, những thố đất này sẽ được hấp lại cho nóng”, anh Thành nói.

H4: Cả gian bếp chỉ khoảng 20 mét vuông nhưng có đến 5, 6 cái bếp để nhanh chóng phục vụ khách. Anh Thành kể: “Gian bếp đã vài lần thay đổi vị trí đồ vật, gia cố thêm dụng cụ nhưng đã gắn bó với gia đình suốt gần 40 năm nay”.

H5: Phần bếp chế biến các món như mì, cơm được đặt gọn ở một gian bếp khác, phía trước quán. Khách vào có thể thấy một số công đoạn chế biến. H6: Một nhân viên gắp thố gà tiềm sau khi đã hâm nóng.

H7: Một phần gà ác hầm thuốc bắc có giá 50.000 đồng. Bên trong thố là một con gà, vài miếng thuốc bắc cùng nước dùng. Nếu không quen với mùi vị của thuốc bắc, bạn sẽ gặp khó khăn khi thưởng thức món ăn. Món gà ác tiềm thường ăn kèm với cơm trắng.

H8: Quán sử dụng 8 loại thuốc bắc để tiềm gà. Một số vị quen thuộc như: bạch quả, táo đỏ, nhãn nhục, đẳng sâm… Anh Dương Hải Thành (34 tuổi) là em trai của anh Thông Thành nói thêm, muốn các vị thuốc bắc không bị đắng, dễ ăn thì lúc tiềm phải canh lửa thật “chuẩn”. “Lửa mà liu riu lâu thì các vị thuốc bắc sẽ bị đắng. Còn nếu để quá lớn sẽ khiến nước tiềm bị chua”.

H9: Một thực khách quen của quán kể: “Tôi ăn ở quán đã gần 20 năm, từ lúc còn đời chủ thứ hai. Tuy bàn ghế nhiều lần thay đổi, hương vị món khó mà nhận ra được sự khác biệt. Vẫn là cái mùi thơm của các vị thuốc bắc, miếng gà rất mềm mà không bị nát, nước dùng đậm đà”.

H10: Nếu đã chán món gà ác tiềm thuốc bắc, bạn có thể đổi qua gà ác vi cá giá 230.000 đồng một suất hoặc canh vi cá giá 280.000 đồng.

H11: Bím bò tiềm cũng là món được nhiều thực khách ưa thích, đặc biệt là các đấng mày râu. H12: Mống dê hầm cũng hút khách không kém.

Thực đơn của quán có gần trăm món ăn, từ cơm chiên Dương Châu, cơm chiên cá mặn cho đến hủ tiếu, mì xào giòn, mì vịt tiềm… Giá trung bình mỗi món ăn khoảng 50.000 đồng. Quán mở cửa từ 11h đến nửa đêm.(theo bài và ảnh Di Vỹ)

9 My nhan 1GIAI THOẠI LY KỲ

VỀ NHỮNG “MỸ NHÂN” SÀI GÒN

Trước 1975, những nhan sắc lẫy lừng thường mang theo tai họa hoặc ít nhiều… mắc đọa !

1/- Một nhân vật mà những người từng sống ở miền Nam qua thời cái gọi là đệ I và đệ II Cộng hòa trước 1975 đều biết hoặc nghe nhắc tới – vũ nữ Cẩm Nhung, mỹ nữ số một Sài Gòn. Là một gái nhảy chuyên nghiệp, cô đã làm rất nhiều công tử hào hoa đất Sài Gòn phải chết mê chết mệt. Cuối cùng cô cặp hẳn với trung tá Thức Công Binh. Vào thời Diệm-Nhu, cấp bậc trung tá không nhiều. Sống với nhau theo kiểu già nhân ngãi non vợ chồng được một thời gian, sau khi đã cắt đi hầu hết những quan hệ tình ái phức tạp khác, Cẩm Nhung nghĩ rằng mình có thể trở thành trung tá phu nhân…

Mọi việc đến tai bà Năm Ra đô, (“hỗn danh” vùng nhà lô Cô Bắc dành cho chính thất của trung tá Thức. Một kế hoạch tiêu diệt tình địch được tiến hành. Hai tên giang hồ có cỡ được thuê với giá 2 lượng vàng. Một ca acid đậm đặc được tạt thẳng vào gương mặt Cẩm Nhung. Có lẽ đây là vụ tạt acid đầu tiên của Việt Nam. Lãnh trọn ca acid, Cẩm Nhung gục ngay tại chỗ. Từ một mỹ nữ bậc nhất Sài Thành, Cẩm Nhung mang trên mình khuôn mặt của quỷ dữ. Những người đàn ông từng vây quanh cô giờ đây xa lánh, bỏ mặc cô. Cuộc đời Cẩm Nhung xuống dốc không phanh vì ngập ngụa trong thuốc phiện và rượu rồi 9 My nhan 2kết thúc khi cô tiêu tán hết tài sản và phải đi ăn xin sống cho qua ngày.

2/- Một nhân vật khác là bà Hà. Vợ của một trung tá không quân giải ngũ do sức khỏe, bà tìm đến bạn bè của chồng để “giao dịch làm ăn”. Bà đẹp đến độ trong tất cả mệnh phụ phu nhân và cả nhân tình nhân ngãi của giới tướng tá Sài Gòn khi ấy không ai sánh nổi. Vốn là tiểu thư gốc Hà Nội ăn nói duyên dáng thanh lịch cộng thêm nhan sắc đẹp não nùng, chỉ trong thời gian ngắn, chẳng ai không biết đến bà và cũng chẳng ai nhớ đến ông chồng hom hem của bà đang nằm nhà đợi ngày quy tiên.

Những cuộc chiêu đãi của đệ nhất phu nhân Kim Anh – vợ Nguyễn Văn Thiệu và bà đại tướng Trần Thiện Khiêm, lúc nào cũng thấy bà bên cạnh những nhân vật chóp bu của quân đội Sài Gòn. Sau khi trở thành Phó Chủ tịch Hội Bảo trợ gia đình binh sĩ và là “nhân tình nhân bánh” của hơn hai chục tướng lãnh, bà Hà bắt đầu “làm ăn”. Chiêu thức rủ hùn hạp thầu rác Mỹ xem ra hiệu nghiệm. Một ngày nọ, mỹ nhân biến mất không tăm tích sau khi thu hoạch khoảng gần 200 triệu đồng (khi ấy 32.000 đồng/lượng vàng) và một số quý kim, hột xoàn của các bậc mệnh phụ phu nhân đương thời. Điều lạ lùng là ngay cả mạng lưới tình báo của cảnh sát đặc biệt và phủ đặc ủy trung ương tình báo của chế độ cũ cũng bó tay không tìm ra mỹ nhân lừa đảo !

3/- Một mỹ nhân khác nổi danh hơn không phải vì lừa đảo mà vì một mối tình bí mật với “Tông Tông”. Ca sĩ K.L. theo học lò nhạc sĩ Nguyễn Đức từ năm 8-9 tuổi. Lớn lên theo lò Bảo Thu – Duy khánh mới trở thành ca sĩ có danh phận.

9 My nhan 3Cô bắt đầu sự nghiệp ca hát năm 1966 và nhanh chóng được chú ý bởi vẻ đẹp khá Tây. Vẻ đẹp ấy luôn sáng rực khi bước lên sân khấu.

Trong một lần giúp vui cho biệt động quân ở trại Đào Bá Phước theo lời mời của trung tá N., trưởng phòng 3, ca sĩ K.L. hội ngộ với Tông Tông đang đến dự buổi lễ của binh chủng. Cùng với Hùng Cường, cũng là quân nhân biệt phái của binh chủng biệt động quân, ca sĩ K.L. tỏa sáng bởi nhan sắc hơn là giọng ca và lọt vào mắt xanh của vị Tông Tông này.

Sau đó bằng một kênh bí mật, ngài Tông Tông chỉ thị cho tướng Q. và trung tá N. đứng ra mai mối. K.L. trở thành vợ bé của ngài Tông Tông một cách bí mật được khoảng gần một năm. Thời gian này tội nghiệp một cô đào cải lương vì mang trùng tên nên bị… phải đổi nghệ danh khác.

Vợ ngài Tông Tông phát hiện và dọa sẽ cho người “thịt” tình địch, ngài Tông Tông hoảng sợ và bèn sắp xếp cho K.L. sang định cư ở Tây Đức. Sự nghiệp của cô ca sĩ người đẹp này chấm dứt vào năm 1969 !

4/- Một mỹ nhân khác đã từng là người yêu của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh : Ca sĩ Minh Hiếu cũng nổi danh vì vừa có tài lẫn nhan sắc mặn mà hiếm có. Khi bước vào sự nghiệp ca hát, Minh Hiếu và ca nhạc sĩ Nhật Trường, tức Trần Thiện Thanh đã “phải lòng nhau”.

9 My nhan 4Một dịp lên Tây Nguyên ca hát phục vụ binh sĩ, Minh Hiếu lọt vào tầm ngắm của Trung tướng Vĩnh Lộc. Cũng cần nói thêm, khi về nắm chức tư lệnh quân đoàn 2, tướng Vĩnh Lộc được nhiều người xem như vua. Khác hẳn những vị tiền nhiệm, vốn xuất thân từ dòng hoàng phái, ngang hàng với Bảo Đại nên Vĩnh Lộc uy quyền tuyệt đối.

Sau một thời gian ‘cưa cẩm’, người đẹp xiêu lòng và trở thành trung tướng phu nhân. Nhiều người cho rằng, cũng vì chuyện này mà Trần Thiện Thanh gởi gắm vào bài “Hoa trinh nữ” với dòng tự sự : “Tôi không phải là vua, nên mộng ước thật bình thường…”.

Lúc bấy giờ tướng Vĩnh Lộc đang giữ chức tư lệnh vùng 2 chiến thuật và trung tá Hai Trề đang làm Tỉnh trưởng Phú Yên (từ 1965- 1967). Một hôm trung tá tỉnh trưởng Hai Trề được lệnh ông tướng vùng phải đem xe ra sân bay đón nàng ca sĩ Minh Hiếu về tư dinh tỉnh trưởng. 9 My nhan 5Nàng ca sĩ này từ Sài Gòn ra. Tỉnh trưởng Hai Trề được lệnh thượng cấp, buộc phải thi hành. Nhưng thay vì đem nàng về tư dinh tỉnh trưởng, để nàng tắm rửa sạch sẽ, nghỉ ngơi lấy sức cho thoải mái, xức dầu thơm “Intimate”, hầu tiếp đón “Anh cả Trường Sơn” cho đúng điệu cải lương, thì Hai Trề lại nổi máu lính “xăng đá”, vứt nàng ca sĩ này ra ngoài khách sạn, ở đường Lê Thánh Tôn, thị xã Tuy Hòa.

Về sau ca sĩ Minh Hiếu, người con gái có khá nhiều giai thoại tình trường, đã khiến Vĩnh Lộc bỏ vợ, và nghiễm nhiên nàng trở thành phu nhân trung tướng Vĩnh Lộc. Vì lý do Hai Trề không chịu đem Minh Hiếu về tư dinh tỉnh trưởng để “Anh cả Trường Sơn” giựt le với người đẹp, nên tướng Vĩnh Lộc sanh tâm thù ghét Hai Trề, kiếm cớ tống khứ Hai Trề ra khỏi lãnh thổ quân khu 2.

Ngước mắt trông lên, bụi phấn hoàng hôn !

Trong mờ nhạt, chứa lẽ gì sâu thẳm ?!

 

HÉ LỘ TÁC GIẢ BÀI THƠ

‘KHÔNG ĐI KHÔNG BIẾT ĐỒ SƠN’

Nhiều người tưởng bài thơ trên là thơ… dân gian, khuyết danh. Kỳ thực, tác giả của bài thơ nổi tiếng này là nhạc sĩ, nhà giáo Hà Giang. Bài thơ “Không đi không biết Đồ Sơn” chỉ có bốn câu lục bát :

“Không đi, không biết Đồ Sơn,

Đi thì mới thấy không hơn… đồ nhà!

Đồ nhà tuy có hơi già,

Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”.

Bài thơ nôm na mà ý nhị ấy ra đời đến nay đã hai mươi mấy năm. Đây là bài thơ hay, được rất nhiều người ưa thích. Hay, vì nó độc đáo, dí dỏm, lại nồng ấm nghĩa tình ?

Hà Giang tên thật là Phạm Tiến Giang, quê thôn Đẩu Sơn, xã Bắc Hà thị xã Kiến An tỉnh Kiến An (cũ); hiện nay gia đình ở phường Phù Liễn, quận Kiến An, TP. Hải Phòng.

Anh là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, hội viên Hội Văn học – nghệ thuật Hải Phòng từ những năm 70 của thế kỷ trước, là giáo viên âm nhạc Trường Sư phạm 10 + 3 Hải Phòng, tiền thân của Trường Đại học Hải Phòng (công lập) ngày nay – nơi tôi giảng dạy suốt 32 năm.

Khoá Sư phạm 1972 – 1975, tôi là giáo viên chủ nhiệm lớp C. Văn – Sử, Ban Giám hiệu nhà trường phân công anh Hà Giang làm phó chủ nhiệm lớp của tôi. Anh hơn tôi đến chục tuổi. Anh dạy nhạc rất hay, lúc nào cũng nồng nhiệt, cuốn hút, ca hát rất say sưa, lại sáng tác được nhiều bài hát cho quê hương và cho nhà trường, được mọi người yêu thích.

Trong khi anh bị nhiều căn bệnh hiểm nghèo như áp xe gan, áp xe thành bụng, phải đại phẫu tới 7- 8 lần mà vẫn sống lạc quan; và trong điều kiện gia cảnh anh rất nghèo, vợ làm nông nghiệp, anh chị lại đông con.

Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng vào khoảng cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, khi anh đã “về hưu non” vì lý do sức khỏe, một lần Hà Giang gặp tôi, anh cười giòn tan và bảo : “Tớ mới làm bài thơ như thế này, cậu nghe có được không nhé”. Rồi anh vừa cười như nắc nẻ, vừa đọc rất hồn nhiên : “Không đi, không biết Đồ Sơn,/ Đi thì mới thấy không hơn đồ nhà/ Đồ nhà tuy có hơi già/ Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn” ! Nghe anh đọc xong, tôi cũng cười rũ rượi và ôm chầm lấy anh: “Hay lắm ! Tuyệt vời !”.

Nhưng anh nói thêm : “Tớ hơi lưỡng lự câu cuối : Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn, hay là thay bằng : “Nhưng là đồ thật, không là đồ sơn”. Cậu thấy thế nào”. Tôi nói : “Mỗi câu đều có ý hay riêng. Tùy anh”.

Anh lại cười, bảo : “Thôi cứ để câu cuối “Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”, xem ra nó thật hơn và có vẻ đấu tranh tư tưởng đấy chứ nhỉ”. Từ đấy, trong những câu chuyện vui với bạn bè, Hà Giang lại đọc cho họ nghe bài thơ ấy.

Tôi cũng thuộc loại “tội đồ” truyền miệng bài thơ của anh. Thế rồi bài thơ cứ được truyền từ người này sang người kia và vượt qua lãnh địa Hải Phòng, lan ra các tỉnh và thành phố từ Bắc đến Nam. “Không đi, không biết Đồ Sơn”. Nói thêm, nhà anh Hà Giang chỉ cách Đồ Sơn khoảng 18 km đường nhựa to rộng.

Đồ Sơn là bãi biển của Hải Phòng, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, đẹp nổi tiếng cả nước; có nhiều rừng thông, bãi tắm cuốn hút du khách thập phương; có những biệt thự, khách sạn to đẹp và nhan nhản các nhà hàng, nhà nghỉ, các quán ăn uống, quán cà phê, nhà vườn… Đặc biệt, Đồ Sơn là một khu “ăn chơi” lừng danh, vì có rất nhiều món hải sản quý, mà tôi từng viết : “Ăn một lại muốn ăn hai/ Ăn ba ăn bốn lại đòi ăn năm”.

Nói rộng ra, Đồ Sơn là núi non thơ mộng, là các nhà nghỉ, khách sạn, quán ăn và không thể thiếu các tiếp viên trẻ trung, xinh đẹp, đầy sức quyến rũ, như đã nói ở trên. Còn “đồ nhà”, là cách nói vui chỉ các bà vợ.

Hà Giang đã khuất núi sau một vài năm anh đọc cho tôi nghe bài thơ độc đáo của mình (anh mất năm 1989, khi mới 53 tuổi dương !); nhưng bài thơ thì vẫn còn đó, vẫn tươi mới, hấp dẫn. Anh để lại cho đời một tiếng cười vui sảng khoái và hồn hậu, dí dỏm mà sâu sắc nghĩa tình. (theo Đào Ngọc Đệ)

Khách Giang Hồ (tổng hợp)

 

Non la 4ÁO LỤA HÀ ĐÔNG

Áo Lụa Hà Đông là một bài hát nổi tiếng của Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, được phổ Nhạc từ bài Thơ cũng rất nổi tiếng của

Thi sĩ Nguyên Sa (Trần Bích Lan). Ai trong chúng ta cũng từng một lần hát bài hát trên, nhưng ít người biết xuất xứ bài Thơ từ một cuộc thi Hoa hậu đầu tiên ở Viet Nam. Vào năm 1930, xứ Bắc kỳ tổ chức cuộc thi Hoa hậu ở Hanoi, cho bất cứ ai, làm nghề gì, không kể tuổi tác.. miễn là khi đi thi phải mặc Áo Lụa Hà Đông. Cuối cùng, người được đăng quang trong cuộc thi là người đẹp Lý Lệ Hằng. Cô xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo ở Thái Bình, vì mưu sinh phải trôi nổi lên Hanoi kiếm sống và làm nghề hát Cô đầu cho các quán rượu.

Sau khi thay đổi cuộc đời, Cô trở nên nổi tiếng và là niềm ước mơ của bao Công tử nhà giàu trong cả nước. Tuy nhiên chẳng ai có thể với tới được người đẹp “chân lấm, 9 Ngo Thuy Mien 2tay bùn” này và chỉ một thời gian sau Lý lệ Hằng trở thành người tình của Quốc Vương Bảo Đại.

Có lẽ cũng như bao chàng trai si mê sắc đẹp khác, dù đã trải qua hơn 20 năm sau, nhà thơ Nguyên Sa vẫn mơ tưởng đến nụ cười, ánh mắt khuynh đảo của Hoa hậu đầu tiên và buộc Ông phải viết bài thơ ca ngợi người đẹp mặc áo lụa ấy.

Mãi đến năm 1969, khi nghe câu chuyện về Hoa hậu “thuần nông” phút chốc trở thành người yêu của ông Vua cuối cùng Việt Nam, chàng trai Ngô Thụy Miên đã viết nên ca khúc nổi tiếng “Áo Lụa Hà Đông” khi mới 21 tuổi, được phổ lời từ bài Thơ của Nguyên Sa như để ngưỡng mộ những cô gái tựa như đóa sen vươn lên từ đầm lầy.

Và đây là nguyên văn bài Thơ: Áo Lụa Hà Đông:

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát / bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông / anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng / anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn  / mà mua thu dài lắm ở chung quanh / linh hồn anh vội vã vẽ chân dung / bay vội vã vào trong hồn mở cửa / gặp một bữa, anh đã mừng một bữa gặp hai hôm thành nhị hỹ của tâm hồn / 9 Nguyen Sa 1thơ học trò anh chất lại thành non và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu / em không nói đã nghe từng gia điệu / em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh / anh trông lên bằng đôi mắt chung tình / với tay trắng, em vào thơ diễm tuyệt

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết / trời chợt mưa, chợt nắng, chẳng vì đâu / nhưng sao đi mà không bảo gì nhau / để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại / để anh giận, mắt anh nhìn vụng dại / giận thơ anh đã nói chẳng nên lời  em đi rồi, sám hối chạy trên môi / những tháng ngày trên vai buồn bỗng nặng / em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn / giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông/ anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.

Xin mời thưởng thức một bài hát hay “Áo lụa hà Đông” thơ Nguyên Sa, nhạc Ngô Thụy Miên qua tiếng hát của Duy Trác. Thực hiện video: Vân Nguyễn :

Áo Lụa Hà Đông

Vậy Lụa Hà Đông xuất xứ ra sao mà đã đi vào Thơ Nhạc lãng mạng như thế ?

Cách Hanoi 10km có một làng chuyên nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng có từ ngàn năm trước, là Làng lụa Hà Đông hay Làng lụa Vạn Phúc, thuộc quận Hà Đông. Nằm bên bờ sông Nhuệ, làng lụa Vạn Phúc vẫn còn giữ được ít nhiều nét cổ kính quê ngày xưa như hình ảnh cây đa cổ thụ, giếng nước, sân đình, buổi chiều vẫn họp chợ dưới gốc đa trước đình…

Làng Vạn Phúc vốn có tên Vạn Bảo, do kị húy nhà Nguyễn nên đã đổi thành Vạn Phúc. Theo truyền thuyết, cách đây khoảng 1200 năm, có bà A Lã Thị Nương là vợ của Thái Thú Giao Chỉ là Cao Biền, từng sống ở trang Vạn Bảo, đã từng dạy dân cách làm ăn và truyền nghề dệt lụa. Bà Lã Thị Nga, vốn người Hàng Châu (nơi có thương hiệu lụa Hàng Châu nổi tiếng), theo chồng chinh chiến khắp nơi rồi ở lại nơi này.8 Lua Ha Dong 1 Thấy dải đất trù phú ven sông Nhuệ xanh trong, bà dạy người dân trồng dâu, nuôi tằm rồi cho những người thợ lành nghề nhất đến dạy ươm tơ, dệt vải. Từ một ấp nhỏ, Vạn Phúc đã phát triển thành làng nghề sôi động, nức tiếng gần xa. Sau khi mất, bà được phong làm Thành hoàng Làng.

Lụa Vạn Phúc được giới thiệu lần đầu ra quốc tế tại các hội chợ Marseille (1931) và Paris (1932), được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp. Trong tổng số 18 thợ thủ công lành nghề Việt Nam được vinh danh trong 2 cuộc triễn lãm trên, thì có 3 người là con của đất tơ tằm Vạn Phúc (trong đó có cụ Nguyễn Chấp Chung, cụ nội nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh hôm nay, người đang làm lụa khá nổi tiếng tại Vạn Phúc). Từ 1958 sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên Thế giới. Đến ngày nay, làng Vạn Phúc có khoảng hơn 1000 khung dệt, trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫn với các khung dệt cơ khí hiện đại. 8 Lua Ha Dong 2Lụa Vạn Phúc có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam và từng được chọn may trang phục cho Triều đình.

Đặc biệt, theo Ca dao truyền miệng, nổi tiếng nhất trong các loại lụa Vạn Phúc có lẽ là lụa Vân – loại lụa mà hoa văn nổi vân trên mặt lụa mượt.

The La, lĩnh Bởi, chồi Phùng

Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ Bôn.

Lụa Vân nói riêng và lụa Vạn Phúc nói chung có đặc điểm ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè. Hoa văn trang trí trên vải lụa rất đa dạng như mẫu Song hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý…

Tóm lại, với đặc tính mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông, nhẹ nhàng, mềm mại làm nên giá trị vật chất của Lụa thì cái hồn cốt, cái in dấu trong lòng người từ bao năm qua lại nằm ở cái tình mà người Làng lụa gửi gắm đến chúng ta hôm nay : “Tiếng thơ buồn vọng lại…” (theo Nguyễn Tất Tiến)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements

VÀI GHI CHÉP VỀ VĂN HỌC MIỀN NAM

Logo bay gio ke

Vien Linh 1VÀI GHI CHÉP VỀ

VĂN HỌC MIỀN NAM

– Viên Linh

Tuần lễ đầu Tháng Chạp một văn hữu đang chủ trương một tờ báo ảo trên mạng www (world wide web) ghé thăm tòa soạn tờ báo người viết này đang làm việc, nói vài ba chuyện văn nghệ, trong đó có văn học nghệ thuật miền Nam. Chúng tôi không nói nhất định về một điều gì, một vấn đề gì, nói cả về người sống lẫn kẻ đã ra đi, kẻ còn người mất.

Có lúc anh nhắc đến báo này báo nọ của miền Nam, có lúc anh hỏi miền Nam có bao nhiêu tờ báo, hải ngoại có bao nhiêu tờ, Sài Gòn còn bao nhiêu nhà văn lớp trước, Little Saigon có được bao người cũ nay còn hiện diện. Khi anh hỏi liệu miền Nam có mấy chục tờ báo, tôi bào hàng trăm.

Khi anh hỏi trên khắp Âu Mỹ có bao nhà văn ta đang sống lưu vong, tôi bảo vài ba chục người. Anh lắc đầu, giơ bàn tay ra đếm. Anh chỉ đếm được không quá bốn người. 10 Sach Z28 - 7Anh bạn tôi không phải dân ở thủ đô tị nạn, anh là người ở Minnesota cả hai ba chục năm nay. Anh Trần Văn Phê chợt nói anh có bà xã ngồi ngoài xe, tôi bảo anh cứ về đi, tôi sẽ cố ghi xuống giấy cho anh tên các tờ báo, tên mấy chục nhà văn rồi sẽ gửi cho anh. Anh về rồi tôi nghĩ có khi đó là một ý nghĩ hay, nên phổ biến rộng ra, biết đâu nhờ đó mà các sinh viên sau này để ý tìm tòi, rồi viết được một điều gì đó về báo chí cũng nên.

Tên những tờ báo ở miền Nam

Tên những tờ báo, đôi khi cũng là tên những nhà xuất bản của miền Nam trước đây:

A- Á Châu, An Tiêm, Ánh Sáng, Âu Cơ.

B- Bách Khoa, Bình Minh, Báo Đen, Buổi Sáng, Bốn Phương, Bút Thép.

C- Chân Trời Mới, Chiến Sĩ Cộng Hòa, Chỉ Đạo, Chính Luận, Chiêu Dương, Chính Văn, Công Báo VNCH, Công Luận, Cười, Con Ong, Chọn Lọc.

D- Da Vàng, Dân, Dân Chủ, Dân Đen, Dân Ta, Dân Tiến, Dân Chúng, Dân Ý, Diễn Đàn, Diều Hâu, Duy Tân, Duy Dân, Đa Minh, Đại Học, Đại Đoàn Kết, Đất Đứng, Đất Mới, Đất Sống, Đất Tổ, Đi Và Sống, Điện Ảnh, Điện Tín, Đời Mới, Đông10 Sach bao 2 Phương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Độc Lập, Đuốc Nhà Nam, Đường Sáng.

G- Giao Điểm, Gió Mới.

H- Hải Triều Âm, Hành Động, Hiện Đại, Hòa Bình, Hóa Giải [dấu sắc], Hồng, Hồng Lĩnh, Hương Quê, Hoàn Cầu, Huyền Bí, Học Báo.

K- Khởi Hành, Kịch Ảnh , Kỷ Nguyên Mới, Khai Phá.

L- Lá Bối, Lập Trường, Lẽ Sống, Lên Đường, Liên Minh.

M- Màn Ảnh, Mây Hồng, Minh Tinh, Minh Tâm, Mùa Lúa Mới.

N- Ngày Nay, Ngày Mới, Ngôn Luận, Người Dân, Nguồn Sáng, Nhân Loại, Nhân Chủ,

P- Phổ Thông, Phụ Nữ Diễn Đàn, Phụ Nữ Đẹp, Phụ Nữ Tân Tiến, Phương Đông.

Q- Quan Điểm, Quyết Tiến, Quật Khởi, Quật Cường, Quyền Sống.

R- Rạng Đông.

S- Sài Gòn Mới, Sáng Tạo, Sáng Dội Miền Nam, Sinh Lực, Sóng Thần, Sống, Sống Mới, Sống Đạo.

T- Tân Văn, Tân Phong, Tia Sáng, Tin Mới, Tin Sớm, Tin Văn, Tiến, Tiếng Chuông, Tiếng Vang, Tranh Đấu, Trắng Đen, Thách Đố, Thanh Niên, Thẳng Tiến, Thân Dân, Thần Chung, Thế Kỷ 20, Thi Ca, Thời Đại, Thời Luận, Thời Tập , Thời Báo, Thủ Đô, Tìm Hiểu, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Trình Bày, Trinh Thám, Trời Nam, Tự Do, Tư Tưởng.

10 Sach bao 1V- Vạn Hạnh, Văn, Văn Hóa Tập San, Văn Hóa Ngày Nay, Văn Mới, Văn Nghệ, Văn Nghệ Tập San, Văn Nghệ Mới, Văn Học, Văn Hữu, Văn Hữu Á Châu, Văn Nghệ Học Sinh, Văn Nghệ Tiền Phong, Văn Nghệ Tự Do, Văn Xã, Văn Chương, Vấn Đề, Vận Hội Mới, Vui Sống.

X- Xây Dựng,

Y- Ý Thức, Yêu, Yiễm Yiễm Thư Trang.

Các nhà văn nhà thơ dịch giả miền Nam ở hải ngoại

Nói chung là các cây bút từng có tiếng trước 1975, đang còn sống và viết tại hải ngoại, kể cả Ân Châu, Bắc Mỹ qua miền Nam và miền Tây Hoa Kỳ :

Trần Thiện Đạo, Thái Văn Kiểm (có thể đã về Huế), Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Đỗ Khánh Hoan, Vi Khuê, Tuyết Linh, Uyên Thao, Nguyễn Hữu Hiệu, Mặc Đỗ, Đặng Phùng Quân, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Thạch Chương, Túy Hồng, Hà Huyền Chi, Nhất Tuấn, Ký Giả Lô Răng Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp, Nguyễn Văn Sâm, Diên Nghị, Duy Thanh, Nhật Tiến, Viên Linh, Đỗ Tiến Đức, Trần Văn Nam, Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam, Doãn Quốc Sỹ, Cao Thế Dung, …

Một nền văn học của những người vắng mặt

Vài ý nghĩ của người viết bài này. Văn Học Việt Nam Hải Ngoại trong những năm đầu tiên, sau khi miền Nam sụp đổ, là Một Nền Văn Học của Những Người Vắng Mặt. Sách truyện được bày bán trên các quầy sách báo trong các tiệm thực phẩm Á Đông, hay trong một số tiệm sách kiêm tiệm băng nhạc Việt ngữ ở Bắc Mỹ và Âu Châu hồi ấy, 10 Sach bao 3và cả sau này, hầu hết là sách truyện được viết từ trước 1975, khi tác giả và độc giả còn cùng sống trên một lãnh thổ.

Sau 30.4 họ ở trong tù. Và tác phẩm của những tác giả ấy đi theo độc giả ra khỏi nước, được sao chép phổ biến lại, còn họ thì vắng mặt. Một số ít những người viết có mặt cùng độc giả của mình, trong cộng đồng lưu vong, đã không thể có những tác phẩm mới trong những năm đầu. Đa số hiện diện qua những cuốn sách cũ – chuyện trò với độc giả bằng tác phẩm và tâm tư cũ; mà tác phẩm cũ không thể làm nên hiện diện mới – do đó họ cũng chẳng khác gì những người vắng mặt. Văn học hải ngoại cuối thế kỷ XX là nền văn học của những người vắng mặt.

10 Sach bao 4

TRĂM DÒNG

Sinh ở đâu mà giạt bốn phương

Trăm con cười nói tiếng trăm dòng

Mai sau nếu trở về quê cũ

Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.

(Thơ Viên Linh)

Viên Linh

10 Sach bao 5

– Dường như còn thiếu … chẳng hạn Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Hoàng Hải Thuỷ, Nguyễn Xuân Hoàng …

– Kính anh Viên Linh, Xin bổ túc phần văn nhân: Ông Thái Văn Kiểm (nay rất yếu, không còn nhận ra ai cả) hiện đang dưỡng bịnh tại nhà riêng trong vùng Phú Mỹ Hưng Sài Gòn. Tôi có ghé nhà thăm hồi tháng 12 năm 2013 và hầu chuyện với bác gái.  Hồi xưa lúc còn ngụ tại OKC tôi đã gặp chị Minh Đức Hoài Trinh không rõ nay ở đâu trên đất Mỹ này. Linh Bảo thì hình như còn ở Pháp. À thêm Hòang Hải Thủy nữa. Kính thư (D.V. Hoàng – Las Vegas 12/11/2014)

Cao Bồi Già chuyển tiếp

NGUYỄN VỸ VỚI THƠ VÀ BÁO

Nhà báo Nguyễn Vỹ sinh năm 1912 tại làng Tân Hội (sau đổi là Tân Phong, và năm 1945 lại đổi tên Phổ Phong), thuộc huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Cha ông tên Nguyễn Tuyên từng làm quan ở huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, nhưng do chống Pháp nên đã từ chức, còn mẹ ông là bà Trần Thị Luyến. Ngoài ra ông có người bác là Nguyễn Thuyên từng bị quân Pháp đày Côn Đảo, anh họ là Nguyễn Nghiêm, thủ lĩnh phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh ở Quảng Ngãi năm 1930 sau bị giết hại tại tỉnh nhà.

Nguyễn Vỹ từng theo học tại trường Trung học Pháp-Việt ở Qui Nhơn 19241927, rồi gián đoạn vì tham gia các cuộc vận động chống thực dân, sau đó ra miền Bắc theo học ban tú tài tại Hà Nội.

Năm 1934, ông xuất bản tập thơ đầu tiên, tên là Tập thơ đầu. Tập thơ này gồm hơn 30 bài thơ Việt và thơ Pháp. Tập thơ đầu in ra không được nhiều thiện cảm, bị cho là rườm rà. Năm 1937, Nguyễn Vỹ sáng lập tờ Việt Pháp lấy tên là Le Cygne, tức Bạch Nga. Báo này ngoài Nguyễn Vỹ còn có nhà văn nổi tiếng bấy giờ là Trương Tửu cộng tác. Sau do Nguyễn Vỹ có viết nhiều bài viết chỉ trích đường lối cai trị của Pháp nên tờ báo rút giấy phép xuất bản vĩnh viễn. Còn bản thân ông bị qui kết tội phá rối trị an và phá hoại nền an ninh quốc gia. Kết quả ông bị tòa án thực dân tuyên phạt 6 tháng tù và 3000 quan tiền phạt. Ông mãn tù năm 1939, lúc Pháp thất trận khi quân Nhật vào chiếm đóng. Nguyễn Vỹ lại tranh đấu chống Nhật, ông dùng ngòi bút cho xuất bản hai quyển sách chống chế độ quân phiệt Nhật là : Kẻ thù là Nhật bản; Cái họa Nhật-Bản.

Lần này, Nguyễn Vỹ lại bị quân Nhật bắt giam tại ngục Trà Khê (sau này trong tạp chí Phổ thông bộ mới, Nguyễn Vỹ có kể lại những ngày sống trong tù ngục với tựa bài Người tù 69).

Năm 1945, thế chiến thứ hai chấm dứt, Nguyễn Vỹ ra tù, sáng lập tờ báo Tổ quốc tại Sài Gòn, trong ấy có những bài công kích chính quyền đương thời nên chỉ ít lâu sau, báo này bị đóng cửa. Sau đấy, Nguyễn Vỹ lại cho ra tờ Dân chủ xuất bản ở Ðà Lạt, chống chính sách quân chủ lập hiến của Bảo Ðại. Tồn tại chẳng bao lâu, đến lượt tờ báo trên cũng bị đình bản.

Năm 1952, một nhật báo khác cũng do Nguyễn Vỹ chủ trương là tờ Dân ta, sống được một thời gian, cuối cùng cũng bị đóng cửa như các tờ báo trước. Mãi đến năm 1958, ông đứng ra chủ trương bán nguyệt san Phổ Thông, chú trọng về nghệ thuật và văn học, tạp chí này được kể là có nhiều uy tín đối với làng báo miền Nam. Ngoài ra, ông còn cho ra tuần báo Bông Lúa, Tuần báo thiếu nhi Thằng Bờm

Năm 1956, Nguyễn Vỹ được mời làm cố vấn cho chính quyền thời bấy giờ, nhưng chỉ ít lâu sau ông rút lui. Trong khoảng thời gian này ông được phép tái bản nhật báo Dân ta (bộ mới) nhưng đến năm 1965 cũng lại bị đóng cửa và từ 19674 tháng 2 năm 1971, ông qua đời do tại nạn xe hơi trên đoạn đường Tân An (thuộc tỉnh Long An)- Sài Gòn, hưởng dương 59 tuổi. Nguyễn Vỹ chỉ còn chủ trương tạp chí Phổ Thông mà thôi. Vào ngày

Tác phẩm : Tập thơ đầu – Premières poésies (Thơ Việt và Pháp), xuất bản tại Hà Nội, 1934Đứa con hoang (tiểu thuyết) Nxb Minh Phương, Hà Nội, 1936Grandeurs et Servitudes de Nguyễn Văn Nguyên (tập truyện ngắn Việt Nam bằng Pháp văn) Nxb Đông Tây, Hà Nội, 1937Kẻ thù là Nhật Bản (luận đề chính trị), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1938Cái họa Nhật Bản (luận đề chính trị), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1938Đứng trước thảm kịch Việt Pháp – Devant le drame Franco Vietnamien, (luận đề chính trị bằng Việt và Pháp văn) xuất bản ở Đà Lạt 1947Hào quang Đức Phật (luận đề tôn giáo) tác giả xuất bản, Đà Lạt 1948Thi sĩ Kì Phong (tiểu thuyết, 1938)Chiếc Bóng (tiểu thuyết) Nxb Cộng Lực, Hà Nội 1941 – Chiếc áo cưới mầu hồng (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sàigòn 1957Người yêu của hoàng thượng (tiểu thuyết) Nxb Minh Phương, Hà Nội 1958)Giây bí rợ (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sàigòn 1957Hai thiêng liêng I & II (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sàigòn 1957Hoang vu (thơ) Nxb Phổ Thông, Sàigòn 1962Mồ hôi nước mắt (tiểu thuyết), Nxb Sống Mới, Sàigòn 1965Những đàn bà lừng danh trong lịch sử (biên khảo), Nxb Sống Mới, Sàigòn 1970Tuấn, chàng trai nước Việt I & II, (chứng tích thời đại), Nxb Triêu Dương, Sàigòn, 1970Văn thi sĩ tiền chiến (ký ức văn học), Nxb Khai Trí, sàigòn, 1970Buồn muốn khóc lên (thơ) 1970Mình ơi (văn hóa tổng quát) 1970Thơ lên ruột (thơ trào phúng) 1971

Bên cạnh những tập sách biên khảo có giá trị như Văn thi sĩ tiền chiến, Tuấn – chàng trai nước Việt… Nguyễn Vỹ còn viết nhiều bộ tiểu thuyết, nhưng được đánh giá là không thành công. Riêng về thơ, ông nhận được nhiều lời khen chê. Trong Tập thơ đầu (1934), Nguyễn Vỹ có đăng vài bài theo lối 12 chân (alexandrins), một lối thơ mới trên thi đàn Việt Nam, nhưng không lạ gì đối với thi đàn Phương Tây.

Đến ngày nay cảnh non sông đã phủ mấy lớp sương mù

Mà còn rên dưới rễ cỏ những vết hận lòng lai láng…

(Gửi một thi sĩ của nước tôi, Hà Nội báo, số 23, 1936)

Chính vì lẽ đó, ông bị Thế Lữ cho rằng ông có ý định toan lòe và bịp mọi người[4], còn Vũ Ngọc Phan thì viết : Với thời gian, không một ai có thể bị cám dỗ mãi về những cái tầm thường, chỉ cầu kỳ có bề mặt. Hoài ThanhHoài Chân đã viết về Nguyễn Vỹ như sau :

Nguyễn Vỹ đã đến giữa làng thơ với chiêng trống, xập xoèng inh cả tai. Chúng ta đổ nhau xem. Nhưng chúng ta lại tưng hửng trở vào vì ngoài cái lối ăn mặc và những điệu bộ lố lăng, lúc đầu ta thấy con người ấy không có gì…

Chê bai, nhưng ngay sau đó hai ông cũng phải nhìn nhận:

Một bài như bài “sương rơi” được rất nhiều người thích. Người ta thấy Nguyễn Vỹ đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để diễn tả một cái gì đương rơi. Cái gì đó có thể là những giọt lệ…Nhưng “sương rơi” còn có vẻ một bài văn. “Gửi Trương Tửu” mới thực là kiệt tác của Nguyễn Vỹ. Lời thơ thống thiết, uất ức, đủ dãi nỗi bi phẫn cho cả một hạng người.

Khác với những ý trên, Lan Khai trong báo Đông Phương, Phạm Huy Thông trong báo L’Annam nouveau (báo của Nguyễn Văn Vĩnh), Lê Tràng Kiều trong Hà Nội báo (số 23, ngày 10 tháng 6 năm 1936) lại hết sức khen ngợi thơ Nguyễn Vỹ. Và trong quyển Hồn Thơ nước Việt thế kỷ XX. có ghi lời của Lam Giang (tác giả Khảo luận thơ mới, NXB Hà nội, 1940) như sau :

Phê bình Nguyễn vỹ, Hoài Thanh phát biểu một ý kiến võ đoán : “Nguyễn Vỹ chí lớn mà tài nhỏ nên hay lập dị, chứ thật sự ít có thành tích văn chương”. Tôi thiết tưởng cái công du nhập đầu tiên lối thơ nhạc vào thi đàn Việt Nam, giữa lúc rất nhiều người chỉ chăm lo đả kích Luật Đường, chứ chưa sáng tạo được một thể điệu gì mới, cũng đáng cho chúng ta nhìn tác giả với một nhãn quang nhiều thiện cảm hơn.

Năm 1962, tập thơ thứ nhì mang tên Hoang vu ra đời. Bình luận về tập thơ này, nhà văn Thiết Mai trong Sáng dội miền Nam viết :

Nguyễn Vỹ đã nếm mùi tân khổ, gian lao…lại ở vào cảnh giao thời của hai thế hệ, trong tình trạng bi đát nhất của lịch sử nước nhà, nên Nguyễn Vỹ đã trở thành con người rắn rỏi, yếm thế…rồi đi đến tâm trạng căm hờn, biếm nhạo, khắc khe, chua chát…Nhưng lúc trở lại với bẩm tính vốn có, chúng ta thấy ông hiền dịu, đa tình, đa cảm, thiết tha với một đời sống êm đềm…

Về tài thơ, ta thấy thơ của ông được cấu tạo đễ dàng, không gò ép…Điều đáng chú ý là ông như muốn đưa những thể mới, có tác dụng gây xúc cảm, có âm điệu du dương, hợp tình để gợi tình và tả chân mạnh hơn. Thể mới ấy được thấy trong các bài thơ: Sương rơi, Mưa rào, Tiếng chuông chùa…

Về ý thơ, Nguyễn Vỹ đã có nhiều ý tưởng, nhiều câu văn táo bạo (Hai người điên, Hai con chó, Trăng, Chó, Tù, Đêm trinh…). Điều này khiến thơ của ông thoát ra khỏi lối thường tình, cổ điển và cũng chứng tỏ ông là con người có nội tâm cứng rắn, thành thật, dám biểu lộ tâm tư mình bằng những hình ảnh thiết thực do lòng mình suy tưởng…

Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng viết trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (Quyển thượng):

Nguyễn Vỹ góp mặt vào làng thơ tiền chiến từ năm 1934, thời kỳ thơ mới đang hồi phát triển mạnh mẽ. Trong giai đoạn này, phần đông thi sĩ thường đem khung cảnh lãng mạn, chuyện tình ái vào thi ca…Nhưng với Nguyễn Vỹ, có thể nói nhà thơ không lấy tình yêu làm đối tượng, vì thế thơ ông có một đường nét độc đáo riêng biệt.

Đọc Nguyễn Vỹ, người ta cảm nhận những điều mỉa mai, chua chát…là sự tức tối như muốn phá vỡ cái gì trong hiện tại đang bị dồn ép, uất ức để nói lên nỗi thống khổ của kiếp người…

Thời tiền chiến, thân phận Nguyễn Vỹ đã thế, nhưng với ý chí phục vụ văn nghệ, trung thành đường hướng vạch sẵn, ông, một nhà thơ từng chịu nhiều cam go trên đường tạo lập văn nghiệp, đã kiên trì xây dựng lại Trường thơ Bạch Nga trong bán nguyệt san Phổ Thông từ Trung thu năm 1962 và được nhiều bạn đọc hưởng ứng, chứng tỏ lời nói trước kia của Lê tràng Kiều là đúng: “Người ta công kích ta, chỉ chứng tỏ là ta sống”…. Vậy, Nguyễn Vỹ ngày nay hãy yên ổn với trường phái của mình.”

Nguyễn Vỹ là một nhà thơ có thực tài.Ông có cái nhìn thường xuyên vào thực trạng xã hội, theo dõi những màu sắc biến đổi của nhịp sống dân tộc đã chịu nhiều thảm họa; hòa lẫn vào đấy là tình thương yêu đồng loại. Tiếng thơ của Nguyễn Vỹ là tiếng nói chân thành phát xuất tự con người còn nghĩ đến quê hương. (trích trong Wikipedia)

MỘT THỜI… “QUÁI KIỆT”

– Đặng Tiền Giang

Với 77 tuổi đời, sức khỏe không còn cho phép nên “quái kiệt” Tùng Lâm rất ít xuất hiện trên sân khấu. Ông dành thời gian để vui chơi cùng con cháu, tập thể dục thể thao, gặp gỡ bạn bè, đồng thời sáng tác các tiểu phẩm, kịch bản cải lương hài.

May mắn gặp ông tại nhà của “hề nhựa” Thanh Hoài – người bạn tri âm của ông hiện tại – tôi được nghe lại con đường nghệ thuật đầy khúc quanh co của ông với nhiều tình tiết bất ngờ, thú vị.

Thú vị từ một nghệ danh

Trong làng hài của Sài Gòn trước năm 1975, có một người không cần diễn, chỉ cần bước ra sân khấu là khán giả đã cười rần rần, đó là Tùng Lâm.

Năm 1958, lần đầu tiên tham gia đại nhạc hội “Minh tinh quái kiệt”, Tùng Lâm chính thức được quảng cáo là Tiểu quái kiệt Tùng Lâm. Từ đó về sau, ở các lĩnh vực từ hài, kịch, cải lương rồi phim ảnh, hễ có mặt Tùng Lâm là có… cười nghiêng ngả. Chính vì thế, công chúng yêu sân khấu tặng cho Tùng Lâm biệt danh “quái kiệt” và nó đã gắn với tên tuổi của ông đến bây giờ.

Nói về nghệ danh Tùng Lâm, ông bật mí : “ Tôi sinh năm 1934 tại Biên Hòa (Đồng Nai) tên thật là Lâm Ngươn Phẩm, cái tên này đọc không được suông cho lắm nên khi bước chân vào con đường nghệ thuật, tôi tự lấy tên là Văn Tâm. Nhưng tại tôi có chiều cao “khiêm tốn” quá nên bạn bè gọi đùa tôi là Tâm Lùn. Tôi thấy tên Tâm Lùn hơi … kỳ kỳ nên tôi đọc lái lại là… Tùng Lâm rồi trở thành nghệ danh luôn”.

Ít ai biết một danh hài thuộc loại “quái kiệt” như Tùng Lâm lại xuất thân là một… ca sĩ có đẳng cấp. Tham gia ca hát từ rất sớm, do có người chị thứ bảy rất giỏi đàn mandoline nên cứ mỗi lần chị đàn thì Tùng Lâm hát.

Năm 12 tuổi qua Đài phát thanh Pháp – Á tổ chức cuộc thi tuyển lựa ca sĩ, Tùng Lâm dự thi và đoạt giải nhất với bài An Phú Đông của nhạc sĩ Lê Bình. Người đoạt giải nhì là Thanh Giang (học trò của quái kiệt Trần Văn Trạch), giải ba thuộc về ca sĩ Bạch Yến (con dâu GS.TS Trần Văn Khê). Đến năm 1952, sau một thời gian đi hát đám cưới, Tùng Lâm lại đoạt giải nhất cuộc thi tuyển lựa ca sĩ của Đài phát thanh Sài Gòn với bài Tiếng dân chài của Phạm Đình Chương .

Ông đến với kịch cũng rất tình cờ. Lần ấy, ban kịch Dân Nam khai trương vở “Tàn cơn ác mộng”, kịch sĩ Vân Hùng đột ngột đòi trả vai (người cùi). Trước tình thế cấp bách, Tùng Lâm xung phong nhận vì bản thân kém sắc vóc, nhân vật này chỉ cần hóa trang, không để lộ gương mặt thật. Vai diễn thành công nên ông được giao tiếp vai cậu chủ trong vở “Mua chút tình thương”, Vân Hùng vào vai người ở.

Nhưng Vân Hùng lúc đó đang cạo đầu trọc không nhận vai nên vai người ở được giao lại cho Tùng Lâm. Do không chuẩn bị trước, anh mượn cái quần lửng của một nghệ sĩ múa trong đoàn mặc. Mới bước ra sân khấu, khán giả cười rần rần. Sau thành công với vai hài khác trong “Cây đàn bỏ quên”, Tùng Lâm chính thức chuyển sang hài .

Một thời gian sau, ông được mời làm nghệ sĩ chuyển âm (bây giờ gọi là lồng tiếng) các phim Nhật, Ấn Độ của các hãng Mỹ Phương, Mỹ Vân, Lido … Nhờ đó, ông được mời đóng liên tục các vai hài trong phim Năm hiệp sĩ bất đắc dĩ, Năm vua hề về làng, Tứ quái Sài gòn, Như hạt mưa sa, Con ma nhà họ Hứa…“ Xập xám chướng ” và sê ri “Hai Nhái”

Năm 1960, Tùng Lâm mở Ban tạp lục, và Đại nhạc hội, biểu diễn nhiều thứ, từ ca múa, nhạc, kịch, cải lương, ảo thuật… Ngoài việc làm bầu sô, ông kiêm luôn vai trò MC. Năm 1962, ông dẫn đoàn đi diễn ở miền Trung. Thường sau mỗi đêm diễn, các nghệ sĩ và cả bầu sô hay tụ tập lại chơi bài xập xám. Không biết gặp vận hạn đen đủi gì suốt hai tháng trời, ông không biết thắng là gì, đêm nào cũng thua cháy túi. Nợ nần chồng chất, ông phải mượn tiền của bà bầu Kim Chung 200.000 đồng để trả nợ và trả tiền nghệ sĩ.

Thanh toán hết nợ nần, chỉ còn lại 1000 đồng, ông buồn quá mua một chai bia và ôm cây đàn ngồi hát nghêu ngao : “ Xập xám chướng … xập xám chướng … Bà con hãy nhớ tránh xa thứ này …” Và ông đã thề rằng từ nay sẽ không đụng đến cờ bạc nữa. Bài Xập xám chướng ra đời như để khuyên răn những người mê đánh bài hãy tránh xa “thú vui” nguy hiểm này,  như chính bản thân ông đã trải nghiệm. Không ngờ sau đó, bài hát được hãng đĩa Sóng Nhạc thu và phát hành bán chạy như tôm tươi, đi đâu cũng nghe “Xập xám chướng … xập xám chướng. Mười ba cái chướng xấu nhất trên đời…” của Tùng Lâm hát.

Năm 1983, Tùng Lâm về làm Phó đoàn Văn công Hậu Giang (sau này là Tiếng ca Sông Hậu), đến năm 1992 thì về hưu. Khoảng thời gian này, danh hài Văn Chung đang rất nổi tiếng qua một loạt tiểu phẩm mang tên “Tư Ếch” nên Tùng Lâm cũng muốn tạo ấn tượng với khán giả nên đã sáng tác và thực hiện các bộ phim video hài : Hai Nhái khoái thịt ngựa , Hai Nhái khoái vợ bé , Hai Nhái khoái rượu đế , Hai Nhái khoái số đề, Hai Nhái kén rể, Hai Nhái bắt cướp… được khán giả yêu mến không thua gì  “Tư Ếch”.

Người còn lại của “Tứ quái sài gòn”

Năm 1974, Hãng phim Lido thực hiện bộ phim hài Tứ quái Sài Gòn với các nghệ sĩ Khả Năng, Thanh Việt, La Thoại Tân, Tùng Lâm đã tạo nên một làn sóng hâm mộ nơi khán giả. Bộ phim còn được phụ đề bằng nhiều thứ tiếng, phát hành khắp các nước châu Á. Có một kỷ niệm trong quá trình đóng bộ phim này mà Tùng Lâm không bao giờ quên. “Số là tôi vào vai một tay bơi lội rất giỏi, bản thân tôi ngoài đời cũng là một tay bơi có hạng nhưng vì lần ấy, tôi vừa bị gãy tay mới lành, cảnh quay đòi hỏi phải quay đi quay lại nhiều lần nên tôi bị đuối. Lần cuối cùng, tôi bơi một lúc rồi… chìm luôn. Anh bạn Khả Năng diễn chung cứ tưởng tôi muốn làm cho khán giả đang đứng xem cười chơi nên không quan tâm. Đợi mãi không thấy tôi trồi lên anh mới hốt hoảng gọi mọi người xuống tìm. Khi tôi tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm trong… bệnh viện. Hú hồn, tôi thoát chết trong gang tấc…” – Tùng Lâm kể.

Nếu như trước đây, Tùng Lâm từng đối mặt với cái chết qua những tình huống khi đóng phim thì từ năm 2005 đến nay, ông đã 4 lần bị đột quỵ vì chứng bệnh cao huyết áp. Một lần khi ông đang lưu diễn ở Điện Bàn (Quảng Nam) phải đưa lên vùng biên giới Lao Bảo (Quảng Trị) chạy chữa. Lần thứ hai ông ngã xuống khi đang diễn ở Buôn Ma Thuột tưởng không qua khỏi. Lần đột quỵ thứ ba khi ông đang diễn ở Khu du lịch Tân Cảng vào dịp Noel.

Lần mới nhất là khi ông cùng đoàn nghệ sĩ Việt Nam sang Mỹ lưu diễn, nhiều kiều bào đã khóc khi chứng kiến cảnh ông nằm viện suốt một tuần không nói một lời. “ Nhưng có lẽ tôi cao số nên nhiều lần thoát chết . Nhóm nhóm Tứ quái Sài Gòn với tôi, Khả Năng, Thanh Việt, La Thoại Tân đã “đi” hết rồi, giờ chỉ mình tôi còn sống …”. Nói đến đây, mắt ông đỏ hoe.

Chuyên chọc cho khán giả cười, nhưng có lần Tùng Lâm đã khóc ròng trong cánh gà sân khấu. Đó là lần ông lỡ ký hợp đồng theo một đoàn tạp kỹ xuống Cần Thơ biểu diễn, trong lúc mẹ ông lâm bệnh nặng. Đang diễn thì ông nhận được điện thoại của gia đình báo tin mẹ ông mất. Ông phải nuốt nước mắt chọc cười khán giả, hoàn tất xong lớp diễn ông chạy vội vào hậu trường ôm danh hài Phú Quý khóc ngon lành. Bầu sô đoàn tạp kỹ đã cho xe đưa Tùng Lâm về Sài Gòn ngay trong đêm để kịp lo hậu sự cho mẹ.

Tùng Lâm cho biết: “Thật ra, chọc cho khán giả cười được nhiều khi còn khó hơn làm cho họ khóc. Người nghệ sĩ hài phải biết chắt chiu ngôn từ để không sa vào cái hài vụn vặt, rẻ tiền”.

Trong sự nghiệp làm “quái kiệt”, Tùng Lâm đã đoạt 4 HCV trong các mùa hội diễn, liên hoan sân khấu hài. Ông cũng là người đã lăng xê thành công các gương mặt tên tuổi hôm nay như Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến,  Trang Kim Phụng,  Giang Tử, Phượng Mai , Tuấn Phương (danh hài Duy Phương hiện nay) … (theo Đặng Tiền Giang)

Lan Hương tổng hợp chuyển tiếp

SÀI GÒN TRĂM NHỚ NGHÌN THƯƠNG

SÀI GÒN

TRĂM NHỚ NGHÌN THƯƠNG

– Hồng Thủy

Tôi là con gái Bắc kỳ chính cống, nhưng lại lớn lên ở Sàigòn, nên Sàigòn đối với tôi là một ‘quê nhà’ thắm thiết vô cùng. Tôi đến với Sàigòn, thuở Sàigòn còn là một thành phố với những hình ảnh mộc mạc thanh khiết. Gái Sàigòn đơn giản hiền hòa với áo bà ba trắng, với quần đen ống thật rộng, với đôi guốc mộc nhẹ tênh hình cái thuyền, với mái tóc dài ôm trọn khuôn mặt không chút phấn son.

Hồi mới tới Sàigòn, gia đình tôi tạm trú tại nhà bà dì ở đường Quai de Belgique, sau này đổi thành bến Chương Dương. Ðứng ở trên lầu, tôi có thể nhìn thấy quang cảnh thuyền bè đi lại tấp nập. Những chiếc thuyền chở đầy những buồng chuối vàng au, những lồng gà, lồng vịt, những chùm dừa xiêm còn nguyên cả cành nằm chen chúc nhau, khoe cái vỏ xanh láng mướt.  Tất cả tượng trưng cho sự trù phú của miền Nam.

Nhà dì tôi ở gần chợ Cầu Kho nên ngày đầu tiên chúng tôi đã được một ông chú họ dẫn đi chợ. Tôi mê nhất là gian hàng trái cây bởi vì có nhiều thứ ngoài Bắc không có.  Tôi còn đang trố mắt ngó những trái to tròn như trái banh có hai mầu khác nhau, trái xanh mướt như ngọc, trái tím thẫm như mầu trái bồ quân thì cô bán hàng đã đon đả nhìn ông chú tôi:

– Mua ‘dú sữa’ đi thầy hai.  ‘Dú sữa’ của em đặc biệt ‘giường nhà’ ngọt lắm đó.

Thì ra mấy trái mà tôi đang ngó là mấy trái vú sữa ở vườn nhà cô ta.  Hồi đó tôi mới có 12 tuổi, còn ngây ngô chưa biết nói tiếu lâm nên hơi ngạc nhiên khi thấy ông chú tôi nhìn cô ta cười tủm tỉm với đôi mắt tinh nghịch :

– Vú sữa của cô ngon thiệt hả ?

Cô ta gật đầu lia lịa :

– Ngon thiệt mà thầy hai.

Chú tôi chọn mua một chục trái, cô ta đưa thêm 4 trái và nói :

– Thường một chục có 12 trái thôi nhưng là của ‘giường nhà’ nên một chục em tính 14 trái lận.

Chú tôi đưa tiền trả, thay vì phải thối lại 50 xu, cô ta cầm tờ 1$ xé toạc ra làm đôi, đưa chú tôi một nửa. Chúng tôi đi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác.  Ngày đầu tiên đã học được hai cái đặc biệt của Sàigòn. Một chục là 12 hoặc 14, nửa tờ giấy 1$ là 50 xu.

Phải công nhận người miền Nam rộng rãi và đơn giản. Một chục mà cho thêm thành 12 tới 14 và thay vì mất công đi tìm tiền xu thì cứ việc cầm tờ giấy 1$ xé béng ra làm 2 là xong ngay.  Giản dị và tiện lợi biết bao.

Sàigòn đã thu phục tình cảm của tôi một cách nhanh chóng. Hai mươi mốt năm sau, khi rời bỏ Sàigòn tôi đã khóc như phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn. Sàigòn đã trở thành một nơi chốn thân thiết vô cùng. Không yêu Sàigòn sao được khi Sàigòn là nơi chứng kiến tất cả kỷ niệm vàng son của thời con gái. Sàigòn với ngôi trường Trưng Vương yêu dấu, nơi đã cho tôi biết bao nhiêu người thầy đáng kính, bao nhiêu người bạn dễ thương, bao nhiêu tình cảm quí mến chân thành.

Làm sao quên được con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm rợp lá me bay, những chiều tan học, tràn ngập những tà áo trắng quấn quít gót chân son.  Thảo cầm viên đã được nghe không biết bao nhiêu lời thì thầm tâm sự của các nàng Trưng Vương, những giờ nghỉ học, vừa chuyện trò, vừa lang thang hái trộm những cánh hoa mầu tím, ép vào những trang sách học trò.

Con đường Thống Nhất rộng thênh thang đưa tới rạp Norodom tưng bừng rộn rã của những ngày Đại hội Văn nghệ học sinh. Tôi như vẫn còn mường tượng thấy khung cảnh rộn ràng trong hậu trường sân khấu. Tuy bận rộn sửa soạn cho những màn trình diễn, nhưng các chàng Chu Văn An vẫn không bao giờ quên gửi đến các nàng Trưng Vương những ánh nhìn say đắm.  Chỉ một cái nhìn thật nhanh, thật nhẹ mà sao cũng đủ làm cho ai kia má phải ửng hồng.

Vòng ra bờ sông là bến tàu lộng gió của những sáng đón đưa, những chiều hò hẹn.  Con đường Lê Lợi với những chiều thứ bẩy đẹp trời cùng bạn bè dạo phố.  Mỗi lần đi qua tiệm Kim Sơn ở góc đường, chúng tôi luôn luôn phải vờ chăm chú ngó mấy món hàng linh tinh bầy bán lề đường, để tránh những cặp mắt nhìn hau háu của mấy ‘ông nội’ ngồi ‘pẹc mơ năng’ ở ngoài hiên giống như mấy ‘Side-walk café’. Tiệm sách Khai Trí là nơi hấp dẫn nhất.  Luôn luôn làm chúng tôi mê mẩn trước những cuốn tiểu thuyết còn thơm mùi mực mới.

Màn cuối cùng của buổi dạo phố thường thường là góp tiền lại, rủ nhau vào một tiệm kem. Vừa nhấm nháp những thìa kem dâu, kem dừa mát rượi, vừa nghe những bản nhạc ngoại quốc nổi tiếng thịnh hành mà chúng tôi thay phiên nhau yêu cầu nhà hàng để dĩa hát, như A Certain Smile, You’re My Destiny, I Went to Your Wedding, Diana v.v…

Hôm nào có phim hay cả bọn lại rủ nhau chui vào một trong hai rạp ciné permanent Lê Lợi hay Vĩnh Lợi. Mỗi lần vào đây là chúng tôi phải đề cao cảnh giác. Vì luôn luôn có một số các chàng thanh niên hay lợi dụng sự đông đúc chen lấn để dở trò ba mươi lăm. Một hôm có một chàng làm bộ đứng sát sau lưng, tôi bèn làm như vô tình quay ngang người lại hích cho chàng một cái cùi chỏ nên thân.

Tan ciné, tôi kể chuyện cho lũ bạn nghe, chúng cười hi hí có vẻ khoái chí lắm.  Từ đó các bạn tôi học được màn hích cùi chỏ để trừng trị các chàng gian manh.  Sau khi xem ciné, nếu còn đủ tiền rủng rỉnh trong túi, chúng tôi rủ nhau vào hẻm Casino làm một chầu bánh tôm, bún chả. Nếu chỉ còn ít tiền, thì ra góc Viễn Ðông. Ðứng ở lề đường ăn phá lấu với thịt bò khô. Ăn xong, ớt còn cay xè trong miệng mà vẫn đủ tiền uống một ly nước mía cốt vắt thêm miếng chanh nhỏ xíu, hoặc sang hơn, vắt nguyên nửa quả quít thì còn gì sướng hơn nữa.

Có hôm thay vì ăn ở góc Viễn Ðông, chúng tôi lại đi ngược chiều ra góc chợ Bến Thành. Nơi có hàng bò viên nóng hổi, thơm phức mùi tiêu với hành ngò.  Sau đó, tráng miệng bằng một ly đậu đỏ bánh lọt. Hoặc rủ nhau vào quán Bà Ba Bủng ở đường Thủ Khoa Huân, sau chợ Bến Thành, ăn bún riêu, bánh cuốn. Sàigòn có không biết bao nhiêu món ngon, hấp dẫn những cái miệng thích ăn quà vặt của các nàng Trưng Vương thuở đó.

Mùa Giáng Sinh tới. Sàigòn tưng bừng như mở hội. Người ta không phải bận tâm lo mua quà tặng nhau như ở xứ Mỹ. Ðêm Noel, có đạo hay không, mọi người cũng thích rủ nhau đi dạo trên đường Tự Do. Trai thanh, gái lịch, quần áo lượt là, chen vai, thích cánh, suốt dọc hè phố từ nhà Quốc Hội đến nhà thờ Ðức Bà.

Người trẻ đi để ngắm nhau. Người lớn tuổi đi tìm không khí Noel, cái không khí mà suốt 26 năm sống trên đất Mỹ tôi không làm sao tìm lại được. Hầu như tất cả dân ‘chịu ăn chịu chơi’ của Sàigòn đều có mặt trên đường Tự Do.  Ði dạo mỏi chân, mọi người lại rủ nhau vào ngồi trong Givral, La Pagode, Continental hay ngồi ở công viên rộng lớn trước nhà Quốc Hội hoặc trước tòa Ðô chánh để chờ nghe tiếng chuông đổ hồi rền rã của nhà thờ Ðức Bà báo hiệu lễ nửa đêm mừng Chúa ra đời.

Sau lễ, mọi người về nhà ăn Réveillon. Nồi cháo gà nóng hổi, khói lên nghi ngút, là món không thể thiếu trong bữa tiệc mừng Giáng Sinh đặc biệt này.  Noel của Sàigòn thật vui, thật đầm ấm, thật nhẹ nhàng, thoải mái.  Không có quá nhiều lo nghĩ về vấn đề tài chánh phải chi tiêu cho quà cáp.  Không khí Noel ở đất Mỹ mang tính cách thương mại nhiều hơn là không khí thiêng liêng đặt biệt của ngày lễ mừng Chúa Giáng Sinh.

Trước Noel cả mấy tháng người ta đã trưng bầy cây Noel để bán. Bắt mọi người phải nhìn ngắm mãi đâm nhàm chán. Gần sát ngày lễ Noel ai cũng tất bật lo chuyện mua quà, gói ghém cho kịp giờ mở quà đêm mừng Chúa ra đời.  Tất cả chỉ có vậy. Ðêm Noel người ta chỉ thấy quá mệt mỏi.  Rộn ràng được một chút lúc mở quà. Sau đó là hết. Trống vắng buồn tênh. Thời tiết lạnh lẽo.

Nhà thờ Việt Nam thì ở xa. Kiếm được chỗ đậu xe không phải là dễ. Mùa đông buốt giá, chưa kể nếu có tuyết, đường trơn trượt nguy hiểm. Do đó ít ai nghĩ đến chuyện đi lễ nửa đêm. Bởi vậy cứ mỗi lần mùa Giáng Sinh tới là tôi lại nhớ Sàigòn da diết. Nhớ thánh lễ nửa đêm thật tưng bừng ở nhà thờ Ðức Bà. Nhớ con đường Tự Do tràn ngập người đi của những đêm Noel đầm ấm năm xưa.
Tết đến còn vui hơn nữa.

Xung quanh chợ Bến Thành những gian hàng bán bánh mứt được dựng lên san sát với nhau.  Tiếng rao hàng của những lao phóng thanh vang lên rộn rã.  Người đi mua sắm tấp nập.  Ai cũng tay sách nách mang. Ngày Tết không nhà nào là không có đủ thứ mứt, hạt dưa, bánh chưng, dò chả.

Nhắc đến Tết ở Sàigòn là ai cũng phải nhớ ngay đến chợ hoa ở đường Nguyễn Huệ với những cành đào, cành mai tươi thắm. Những chậu cúc, chậu thược dược đủ màu đua nhau khoe sắc.  Những chậu quất trĩu quả vàng tươi.  Những bát thủy tiên toả hương thơm thật dịu dàng, thanh khiết.  Nhưng có một thứ hoa đẹp nhất làm chợ rực rỡ hẳn lên đó là hoa biết nói.  Các nàng thiếu nữ yểu điệu trong những tà áo dài đủ mầu tha thướt đi dạo trong chợ hoa là hình ảnh đẹp nhất của ngày Tết ở Sàigòn.

Tôi còn nhớ thời con gái, cứ 23, 24 Tết là chúng tôi đã nôn nao sửa soạn quần áo để rủ nhau đi chợ hoa.  Dạo chợ hoa là một náo nức không thể thiếu của các nàng thiếu nữ mỗi lần Tết đến.  Cũng như đi chợ hoa để ngắm người đẹp là một điều bắt buộc, không thể nào quên của các chàng trai.

Chợ hoa ở đây sao tẻ nhạt quá. Có lẽ vì hoa không đủ thắm, lại chỉ có lưa thưa, bầy bán rải rác nên không hấp dẫn được người đi.  Vả lại các chàng nếu có muốn đi chợ hoa để ngắm người đẹp, thì cũng chỉ tìm thấy những áo ‘cốt’ dầy cồm cộm, to xù xù di động. Chứ làm sao có thể tìm lại được những bóng dáng yêu kiều trong tà áo dài lả lướt của chợ hoa Nguyễn Huệ năm xưa.

Thời tiết lạnh lẽo quá, ít ai ở đây còn nghĩ đến chuyện mặc áo dài đi chợ Tết, nên hình ảnh chiếc áo dài trở nên hiếm quí vô cùng. Thật tội nghiệp cho những người Việt Nam xa xứ. Phải cố gắng tưởng tượng mùa xuân trong cái giá buốt của mùa đông. Hoa tuyết rơi mà phải tưởng tượng là hoa đào nở, gió đông lạnh lẽo mà cứ cố nhắm mắt lại để mơ tưởng đến ánh xuân nồng. Tết năm nào tôi cũng cố gắng tìm cho được một cành hoa forsythia để trang hoàng nhà cửa.  Ðể tự đánh lừa mình là nhà ta cũng có mai vàng.

Tết nhất đến nơi mà sao giọng Don Hồ cứ buồn não nuột, anh chàng đang hát một bài mà tôi rất thích của nhạc sĩ Ðức Huy:…’ Tôi hay nhớ về quê nhà vào buổi chiều. Nhất là những buổi chiều hay mưa.  Cũng may Cali trời mưa ít không như Sàigòn.  Nếu không, tôi đã khóc một giòng sông…’

Ngoài cửa sổ, chiều nay trời thật đẹp.  Những giải nắng vàng còn vương vấn trên mấy ngọn cây cao.  Mấy hôm nay trời tạnh ráo, không có lấy một giọt mưa nhỏ.  Vậy mà không hiểu sao bỗng nhiên lòng tôi chùng hẳn xuống và hình như hồn tôi đang ‘Khóc một giòng sông..’ (theo Hồng Thủy, WDC)

Phan Tất Đại chuyển tiếp

BÍ ẨN XUNG QUANH MỘT TUYỆT TÁC

SUÝT LÀ BIỂU TƯỢNG CỦA SÀI GÒN

Lăng Ông – lăng mộ đức Tả quân tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt nằm ở vị trí ‘long mạch’, vùng ‘sơn thủy chi giao’ chứa nhiều điều bí ẩn, ít ai biết từng có thời được định chọn làm biểu tượng cho Sài Gòn.

Nằm trong khuôn viên rộng 18.500 m2, kế bên hông chợ Bà Chiểu (số 126 đường Đinh Tiên Hoàng, Q.Bình Thạnh), lăng Ông – còn có tên gọi phổ biến là lăng Ông Bà Chiểu, là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo của vùng đất Nam Bộ, có mặt chính hướng ra phía Cầu Bông. Ngày xưa nơi đây là vùng đất hoang rậm của thượng du Nghi Giang nên bây giờ vẫn còn tồn tại nhiều loại cây xanh, gỗ quý như: dầu, giá tỵ, bằng lăng, thốt nốt… rợp mát bước chân du khách.

Vì sao Lăng Ông mà lại có mộ… bà ?

Sử sách xưa ghi lại : “Tháng 7 năm 1832 (Nhâm Thìn), tả quân Lê Văn Duyệt mất được an táng tại làng Bình Hòa (bây giờ là Q.Bình Thạnh). Tuy nhiên, do mối tị hiềm với tả quân nên vua Minh Mạng đã ghép ông vào 11 trọng tội và “đến chỗ mả đắp, san làm đất bằng”, dựng bia khắc 8 chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xử (Chỗ tên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội).

Đến năm 1841, khi Thiệu Trị con trai trưởng vua Minh Mạng lên ngôi thì nỗi oan khiên trên mới được giải. Vua cho xuất tiền kho xây đắp lại mộ cho tả quân Lê Văn Duyệt khang trang”.

Mặc dù có tên gọi là lăng Ông nhưng bên trong khu lăng vẫn có… bà được chôn cất theo. Chánh thất tả quân phu nhân tên là Đỗ Thị Phận được song táng nằm song song với chồng. Hai ngôi mộ đều có hình thức, kích thước và chất liệu kỹ thuật giống hệt nhau. Thoạt nhìn như hai quả trứng ngỗng xẻ theo chiều dọc úp trên hình chữ nhật có tác dụng như đế mộ, theo kiểu phối hợp tấm liếp (kệ bên dưới) và trứng ngỗng (phần úp bên trên).

Điều khá bất ngờ là thực ra thời điểm đó bà Phấn cũng bị khép tội như chồng nhưng vì Lê Văn Duyệt có tật “ẩn thân” nên về lý không thể là vợ của ông, do đó triều đình mới tạm tha. Bà về ở với mẹ ruột trong một ngôi chùa ở Chợ Lớn, khi mất đi được người thân an táng tại khuôn viên trong vườn. Sau này, tả quân Lê Văn Duyệt mất các bộ hạ thân tín mới đem hài cốt của bà bí mật mang vào chôn bên cạnh ông để hai vợ chồng điền viên nơi chín suối.

Toàn bộ tường xây xung quanh hai ngôi mộ hiện nay sử dụng đá ong trát xi măng gọi là Uynh Thành. Mặt ngoài bình phong tiền có chạm hình con chim đậu trên cành cây trong tư thế xõa cánh, còn mặt trong đắp hình hai con hổ: một lớn, một nhỏ. Bình phong hậu đắp nổi một mặt rồng, chân có bốn móng trông rất uy nghi, trang nghiêm.

Huyền thoại xung quanh cuộc đời Tả Quân

Có nhiều huyền thoại và câu chuyện lưu truyền trong dân gian về cuộc đời của nhân vật đặc biệt xuất chúng của vùng đất Nam Bộ. Điều đó cũng hoàn toàn bình thưởng vì lúc còn sống, tả quân Lê Văn Duyệt là nhân vật rất có quyền uy, được người dân kính nể khi hai lần ông được vua triều Nguyễn cử giữ chức Tổng trấn Gia Định thành (1812 – 1815) và (1820 – 1832), cai quản cả một vùng rộng lớn của đất phương Nam.

Theo nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Ngọc Trang trong cuốn Nghệ thuật kiến trúc, trang trí, lễ hội lăng Tả quân Lê Văn Duyệt : “Tả quân Lê Văn Duyệt có “tướng tinh”, nghĩa là con cọp bạch. Vì vậy, lúc ông chưa phò chúa Nguyễn khi ngủ có người thấy thấp thoáng bóng con cọp bạch hiện ra. Lại có truyền tụng rằng những con hổ mà Lê Văn Duyệt nuôi để mang đi giao đấu rất sợ và tuân lời ông răm rắp. Nhiều khi chúng đang nổi giận gặp cái gì cũng giày xéo nhưng thấy thấp thoáng bóng tướng quân là ngoan ngoãn, điềm tĩnh ngay lại”.

Chuyện xưa còn kể rằng, khi đang giữ chức tổng trấn, một lần đi lên núi Bà Đen (Tây Ninh bây giờ) viễn cảnh, ông được báo ứng biết trước hậu vận là sẽ bị hành hạ, mả mồ bị xiềng xích, tên tuổi bị đục khoét rồi mới được minh oan mà sau này diễn tiến đúng y như thật.

Việc ông tạ thế cũng có thêm huyền thoại, như sách đã dẫn : “Lúc Lê Văn Duyệt ngã bệnh, cột cờ trong thành Gia Định không có gió mà tự nhiên gãy. Một tháng sau, lúc có việc đi kinh lý biên giới, vừa ra khỏi thành thì con voi ông cưỡi thình lình nằm bẹp dí xuống đất, cất tiếng rống thảm thiết dù bắt ép thế nào cũng không đứng dậy.

Cuối cùng ông phải dùng ngựa mà đi, Lê Văn Duyệt thấy có điềm lạ nên mới cho mọi người hay biết mình đang bị bệnh. Việc ông mất bị hàm oan, thể xác hành hạ và mồ mả bị xiềng xích cũng khiến cho khu lăng mộ này trở nên linh thiêng và huyền bí hơn”.

Được biết, trước đây có một thời và có người đã từng muốn lấy hình ảnh lăng tả quân Lê Văn Duyệt làm biểu tượng cho Sài Gòn nhưng rồi không thành. Tuy nhiên, hiện nay du khách mỗi khi đến Sài Gòn đều muốn đến viếng và tham quan lăng Ông Bà Chiểu, một công trình di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia độc đáo, có một không hai của Sài Gòn và rất nhiều lễ hội hàng năm cũng được tổ chức tại đây, thu hút rất đông khách thập phương. (theo Lê Công Sơn)

Hai Điếu ĐĐ chuyển tiếp

NGHỀ GÁNH NƯỚC MƯỚN

Ở SAIGON

Saigon thủy đài đầu tiên khánh thành năm 1886 nằm ở Công trường Quốc tế tức Hồ Con Rùa sau này. Nước được bơm thủ công lên bể chứa từ các giếng cạn gần đó để phục vụ cho các công sở, nhà các quan chức Pháp cùng một ít dân cư người Việt khá giả tại khu vực trung tâm. Dân Saigon phần lớn xài nước giếng, nước sông lóng phèn và nước mưa !

Mãi đến nửa thế kỷ sau, Chình quyền Pháp mới bắt đầu cho lắp đặt các phông-tên (Fontaine) công cộng dọc theo các con phố chính để người dân đến lấy nước sinh họat. Những phông-tên này chính là các giếng khoan trực tiếp do công ty Société Layne France et Cie khảo sát và khoan thẳng vào tầng nước ngầm sâu trên trăm mét.

Vào thời điểm ấy dân Saigon bắt đầu sử dụng nước ngầm rộng rãi hơn mặc dầu số giếng khoan đưa vào sử dụng chỉ có 30 cái trong khi dân số Sài Gòn đầu thập niên 1930 đã lên đến ba trăm ngàn người. Muốn lấy nước phải dùng tay kéo cần bơm lên xuống một hồi, nước mới trào lên vòi. Từ đó nghề gánh nước mướn ra đời. Nghề này kéo dài cho đến năm 1970, khi chính quyền thiết lập hoàn chỉnh hệ thống nước máy vào tận nhà để phục vụ dân sinh.

Dung Dung chuyển tiếp

MÓN NGON SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC

NHỚ LẠI MÓN NGON

SÀI GÒN NGÀY TRƯỚC

– Nguyễn Ngọc Chính

Có nhà văn nào đó cho rằng khi viết về ẩm thực bụng phải đói mới “lột tả” hết cái ngon của món ăn. Tôi rất tâm đắc với ý kiến này. Hồi còn trong trại tù cải tạo, cái bụng lép kẹp lúc nào cũng sôi ùng ục, tôi và vài người bạn tù có “tâm hồn ăn uống” vẫn thường kể cho nhau nghe những món khoái khẩu của mình. Ăn “hàm thụ” sao mà ngon thế.  Phải nói ngon gấp nghìn lần ăn… thực thụ !

Thời cải tạo qua đi nhưng thời điêu linh lại kéo tới. Vào thời đó, cái để đút vào mồm chỉ toàn khoai mì chạy chỉ với bo bo, còn được mệnh danh là… cao lương.  Ngồi nhấm nháp cao lương mà cứ tức anh ách. Ai đó đã khéo chơi chữ mà đặt tên, mỉa mai không khác gì cái món “mầm đá” của ông vua ngày xưa !. Nhưng rồi cũng qua đi cái thời ăn để mà sống, người ta bỗng nhớ đến thời… sống để mà ăn ở Sài Gòn hoa lệ ngày nào.

Theo tôi, một trong những món ngon đó phải kể đến phở. Mặc dù phở có xuất xứ từ miền Bắc nhưng phở Sài Gòn thường ăn kèm với giá, ngò gai, húng quế vẫn ngon hơn phở Hà Nội thiếu hẳn các loại rau thơm mà lại không có giá.  Vào đến Sài Gòn ngày xưa có con đường tên Turc (Thổ Nhĩ Kỳ), một đầu là đường Tự Do (Catinat), đầu kia là đường Hai Bà Trưng (Paul Blanchy).  Tiệm Phở Bắc được bán trong khuôn viên nhà thờ Hồi Giáo này, nên có tên là Phở Turc.

Sài Gòn 1954, lúc người Bắc mới vào Nam, những tiệm Phở Bắc hãy còn đếm được trên đầu ngón tay. Ðó là mấy tiệm Phở Thịnh đường Gia Long, Phở Turc đường Turc, Phở Minh đường Pasteur và Phở 79 ở đường Frère Louis (sau này đổi tên thành đường Võ Tánh và đến 1975 lại đổi thành Nguyễn Trãi thuộc quận 1).

Ngay bên hông rạp Casino có một hẻm nhỏ, đi vào hẻm đó là một dẫy nhà, đa số là nhà dân Bắc Kỳ di cư sớm, từ những năm 1920. Tiệm Phở Minh nằm ở dãy nhà đó. Phở Minh có cả phở bò lẫn phở gà nhưng đặc biệt hơn cả còn có bài thơ do thi sĩ Trần Rắc đề tặng.  Bài thơ được cắt chữ, đóng khung kính, treo trên tường.  Bài thơ Ðường Luật có 4 câu đầu như sau:

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành,

Trần Minh Phở Bắc đã lừng danh

Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn,

Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh.

Thi sĩ Trần Rắc chính là ông chủ tiệm giày Trần Rắc đường Lê Thánh Tôn, gần Khám Lớn Catinat năm xưa. Tiệm giầy Trần Rắc, và cả mấy tiệm giầy ở đường này, đều có cửa sau đi vào hẻm “ẩm thực” Casino.

Việt Nam ta đúng là… ra ngõ gặp nhà thơ. Ðến như ông chủ tiệm giày cũng có thể làm thơ về phở chứ chưa dám nói đến Tản Ðà là người viết nhiều về nghệ thuật ăn uống!

Trên đường Mạc Ðĩnh Chi (Massiges), gần bên hông Tòa Ðại Sứ Mỹ, còn có phở Cao Vân, dù tiệm phở này không nằm trên đường Trần Cao Vân (Larclause) cách đó không xa. Theo tôi, phở Cao Vân chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung” nhưng được nhắc tới cùng với phở Minh vì Cao Vân cũng có một bài thơ ca tụng phở của thi sĩ Tú Mỡ được viết bằng sơn ngay trên tường.

Trong các món ăn Quân Tử Vị

Phở là quà đáng quý trên đời

Chủ của phở Cao Vân ngày nay là một ông cụ Bắc Kỳ hom hem theo năm tháng. Ông không còn đứng ra nấu phở nhưng chiều chiều thường ngồi nhậu lai rai với các “chiến hữu” để hưởng nhàn !

… Trên đường Pasteur có Phở Hòa, khá nổi tiếng.  Ban đầu, lúc khai trương năm 1960, tiệm phở này mang tên Hòa Lộc.  Có lẽ sau này khách ăn cứ gọi tắt là Hòa nên Hòa Lộc biến thành Hòa theo kiểu gọi tên một chữ cho dễ nhớ thường thấy ở các tiệm phở (?). Phở Hòa chỉ chuyên loại phở bò, nếu vào đây mà tìm tô phở gà thì không có. Khách phải chịu khó ra đường Hiền Vương (bây giờ đổi tên là Võ Thị Sáu), đến tiệm Hương Bình, “chuyên trị” phở gà.

Nói đến phở Sài Gòn tại khu vực trung tâm, phải nói đến tiệm Phở 79, ngay tại số nhà 79 trên đường Võ Tánh.  Khoảng năm 1952, tiệm Phở 79 mở cửa, khi đó nền nhà của tiệm còn thấp hơn mặt đường.  Chỉ vài năm sau tiệm phát đạt, chủ nhân mua hai nhà bên cạnh, mở lớn thành tiệm Phở 79 khang trang và có thể nói là một trong những tiệm phở sạch nhất Sài Gòn thời đó.

Trường Sinh ngữ Quân đội có chi nhánh ở đường Nguyễn Văn Tráng rất gần với Phở 79 tại khu vực Ngã Sáu Sài Gòn. Ðám giảng viên chúng tôi thường xuyên ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối mỗi khi “ứng chiến” tại trường.

Phở tại đây được đánh giá là… “ăn được”. Nếu ai “ăn không được” thì chịu khó đi thêm vài bước ra Ngã Sáu, nơi đây có đủ các món ăn chơi thuộc loại bình dân, từ phở, hủ tíu cho đến mì và có cả xe… bánh mì mua về trường nằm gặm trong những đêm ứng chiến!

Gần ngã tư Phú Nhuận có phở Quyền trên đường Võ Tánh (thuộc quận Phú Nhuận), cách cổng phụ của Tổng Tham Mưu chừng 100 mét.  Tôi thường ghé ăn nơi đây mỗi khi về trụ sở chính của trường sinh ngữ trong Tổng Tham Mưu.  Nước phở ở đây rất đậm đà, vị ngọt là của xương ống chứ không phải vì bột ngọt.  Phở Quyền còn có cả món “tái sách tương gừng” được xếp vào loại… trứ danh.

Con cháu của một số gánh phở nổi tiếng Hà Nội đã vào Nam lập nghiệp năm 1954, trong cơ hội lịch sử này có phở Tàu Bay.  Vốn là quán phở do ông nội mở vào 1950 ở Hà Nội, khi di cư vào Nam, ông chủ quán được người bạn thân tặng cho chiếc mũ bay. Ông thường xuyên đội nó, khách thấy lạ, gọi ông “Tàu Bay” rồi chết tên thành tên quán.

Phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ ngày nay vẫn bán và khách quen ngày nào vẫn chịu khó mò đến đây để tìm lại hương vị đặc thù.  Phải nói Phở Tàu Bay rất… hiếu khách.  Gọi thêm nước béo, nhà phở đem ra cả tô chứ không bằng chén nhỏ như những tiệm khác. Tô đặc biệt của Tàu Bay lại là tô “Xe Lửa”, bánh và thịt trên mức hậu hĩnh.

… Kể từ khi người Bắc di cư vào Nam, tiệm phở đánh bạt các tiệm hủ tíu, vốn là món “đặc sản” của miền Nam.  Các tiệm hủ tíu nổi tiếng Sài Gòn phải kể đến hủ tíu Thanh Xuân đường Tôn Thất Thiệp (gần chùa Chà Và), hủ tíu Phạm Thị Trước ở đường Lê Lợi (khúc gần Pasteur), hủ tíu Gà Cá ở đường Hàm Nghi gần khu Ngân hàng Quốc gia và hủ tíu Thanh Thế trên đường Nguyễn Trung Trực…

Có người đến hủ tíu Phạm Thị Trước gọi thêm bánh pâté chaud ăn kèm, cũng giống như hủ tíu Gà Cá. Tuy nhiên, mỗi tiệm hủ tíu đều có hương vị riêng khiến một khi khách đã “kết” thì khó đi ăn nơi khác.  Hủ tíu Sài Gòn sáng nào cũng đông người đến thưởng thức, không cần đợi đến những ngày cuối tuần.

Thường thì hủ tíu có bánh mềm, chỉ riêng hủ tíu Thanh Xuân hay Mỹ Tho thì thêm bánh dai, nấu khô hay nước, tùy theo ý thích của khách. Chỉ nhìn dĩa rau dọn lên trước thì cũng thấy bắt mắt: giá, hẹ, rau cần tàu, tần ô và vài cọng xà lách.  Thêm vào đó, mùi nước lèo xông lên như đập vào khứu giác thực khách làm cho bụng cứ gào thét…

Người bồi bàn bưng mâm ra để tô hủ tíu trên bàn, mùi nước lèo xông lên mũi, nếm thử “nghe” được mùi thơm của nước lèo, thêm chút gia vị vào và cầm đũa ngay. Hủ tíu Thanh Xuân thì phải có rau tần ô, rau cần tàu, giá sống.  Hủ tíu Phạm Thị Trước hay Thanh Thế cũng thế, nhưng không có rau tần ô.  Riêng hủ tíu Gà Cá thì chỉ có giá sống.

Tuy nhiên, các thứ hủ tíu nếu thiếu vài miếng tóp mỡ và cải bắc thảo thì hình như thiếu mất cái gì đó.  Nước lèo vừa ngọt của xương, vừa béo của chất tủy từ ống xương, thoang thoảng chút mùi của con mực, tôm khô, hào khô và củ cải.  Những thứ ấy quyện vào nhau thành một thứ nước lèo hấp dẫn.  Hủ tíu bình dân thì có những xe hủ tíu bán dạo.  Từ mờ sáng cho đến khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng rao… lòng thấy nao nao !

oOo

Ðối với tôi, một món cũng thuộc loại “khoái khẩu” ở Sài Gòn là… bánh mì thịt nguội, trong đó có cả jambon, xúc xích, patê ăn kèm với sốt mayonaise và đồ chua! Bánh mì thịt nguội ăn sẽ ngon hơn nếu bạn có thì giờ ngồi nhẩn nha tại tiệm: các loại thịt bày trên đĩa trắng tinh kèm thêm một cục sốt bên cạnh dao, nĩa sạch bóng.  Bẻ một miếng bánh mì còn nóng, trét sốt lên trên rồi một lớp patê, sau đó cắt một miếng jambon… đưa vào miệng. Tuyệt cú mèo !

Một trong những tiệm bán bánh mì thịt nguội có tiếng ở Sài Gòn từ năm1954 và còn tồn tại đến ngày nay là Hòa Mã. Tiệm Hòa Mã nằm trên đường Cao Thắng, gần khu vực Bàn Cờ, nơi có những địa điểm nổi tiếng như Kỳ Viên Tự, Tam Tông Miếu, Trường Aurore, Cư Xá Ðô Thành, Nhà Bảo Sanh Ðức Chính…

Ngày nay, Hòa Mã không khác xưa là mấy.  Hòa Mã cũ kỹ, bảng hiệu phai màu theo năm tháng vì đã tồn tại hơn 50 năm kể từ ngày mở cửa.  Nhiều người nói chủ nhân Hòa Mã là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn… Tiệm Hòa Mã gọi ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, dùng theo tiếng Pháp cassecroute, bữa ăn lót dạ, bữa ăn nhẹ.  Những năm 60, giá bán một ổ bánh mì Hòa Mã là 3 đến 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 đến 10 đồng.

… Xe bánh mì Tám Lự gần chợ Bàn Cờ chỉ bán từ sẩm tối đến đêm khuya.  Một ổ bánh mì Tám Lự dài cỡ 4 tấc, hai gang tay, tối ăn vào no đến sáng.  Bánh mì ngon, ngoài pâté chả lụa, pâté foie, bơ Bretel còn thêm dưa leo, ngò, hành lá, nước tương, muối tiêu, ớt xắt.  Ngày xưa khách chỉ cần nói: “Cho một tàu lặn hay một tiềm thủy đĩnh đi, anh Tám!” là khách sẽ có ngay một ổ bánh mì nóng giòn, thơm phức.

Nếu muốn sang hơn thì lên bánh mì Pâté Tòa Ðô chính trên đường Nguyễn Huệ hoặc tiệm bánh Hương Lan trên đường Tự Do hay ngồi Thanh Bạch đường Lê Lợi (gần bệnh viện Sài Gòn). Chỉ cần gọi đĩa bánh mì thịt nguội kèm theo một ly cà phê sữa đá là đủ no cho đến trưa.  Thanh Bạch vẫn là nơi lý tưởng để vừa ăn sáng vừa ngắm cảnh người Sài Gòn sửa soạn cho một ngày mới.

… Sài Gòn xưa có hai tiệm Thanh Bạch, một ở đường Lê Lợi, bên rạp xi-nê Vĩnh Lợi. Tiệm Thanh Bạch thứ hai ở đường Phạm Ngũ Lão, trong dẫy phố trệt dưới tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới năm xưa.  Ngoài bánh mì ốp-la, ôm-lết, thịt nguội, Thanh Bạch có bánh mì bò kho, hủ tíu và đặc biệt là món suông.  Bún suông dùng xương heo để nấu nước lèo, và đặc biệt ở đây là dùng tôm tươi lột vỏ, bỏ đầu, bằm nhuyễn sau đó vo lại thành sợi dài (như sợi bún).  Nước lèo ở đây rất trong, ăn kèm với rau sống…

Nhà hàng Tài Nam trên đường Ohier (Tôn Thất Thiệp) nổi tiếng với món đuông chà là chiên bơ rất ngon nhưng cũng rất mắc tiền.  Theo nhà văn Sơn Nam, vua chúa cũng còn thèm “con đuông chà là”, tên chữ là “hồ đa tử”.  Hồ đa là cây dừa rừng, tức cây chà là hoang thường mọc miền nước mặn Nam bộ, giống như cây cau kiểng. Cây dừa rừng có “củ hũ”, tức đọt non, đến mùa sau Tết thường xuất hiện con đuông, giống như con nhộng. Ðuông ăn đọt dừa non nên to, mập và thường được bắt trước khi nở thành bướm.

Sơn Nam viết : “Ðem đuông nướng trên vỉ sắt, cho héo, rồi ăn, chấm với nước mắm nhĩ nguyên chất.  Con đuông béo ngậy vì tăng trưởng, ăn ròng củ hũ cây chà là”.

… Vùng Thanh Ða (Bình Thạnh) nổi tiếng khắp Sài Gòn với món cháo vịt, gỏi vịt.  Vào buổi tối người Sài Gòn hay ra bán đảo Thanh Ða trước là để đón những luồng gió mát từ sông Sài Gòn thổi vào và khi về, ghé mấy quán cháo vịt, gọi thêm đĩa gỏi vịt ăn kèm. Nếu là “bợm nhậu” thì gọi thêm chai bia Con cọp BGI để… đưa cay.  Nếu ngại ra Thanh Ða thì trên đường Hồng Thập Tự cũng có khu bán cháo vịt thuộc loại… “ăn được”. Thịt vịt tại đây khá mềm, nhai kỹ thấy ngọt và đặc biệt không thấy mùi hôi vốn có của thịt vịt.  Có thể họ tuyển loại vịt chạy đồng nên không hôi (?).

Ðinh Công Tráng là một con đường nhỏ gần nhà thờ Tân Ðịnh nhưng cũng đi vào lịch sử ăn uống của Sài Gòn với món bánh xèo. Bí quyết của bánh xèo nằm ở kỹ thuật pha bột, sao cho khi chiên lên, bánh giòn tan khiến người ăn có thể cảm được cái thú nghe miếng bánh đang được nhai dưới hai hàm răng.  Lớp bột gạo pha chút nghệ khi đổ vào chảo dầu tạo nên một tiếng “xèo” khiến ta hiểu được tại sao lại gọi là… bánh xèo!

Ngày nay, đường Ðinh Công Tráng trở thành “đường bánh xèo” nhưng người sành ăn thì chọn quán bên tay trái, nếu đi từ đường Hai Bà Trưng vào.  Quán không tên nhưng người ăn vẫn nhớ vì nó đã đi vào “bộ nhớ” của người Sài Gòn từ bao năm nay.  Những quán đối diện bên kia đường trông có vẻ lịch sự hơn, sạch sẽ hơn nhưng vẫn chịu cảnh vắng khách vì là kẻ… hậu sinh.

Khu Ða Kao có tiệm bánh cuốn Tây Hồ (Ðinh Tiên Hoàng), gần chợ Ða Kao, quận 1, nổi tiếng.  Tại đây, mỗi bàn có để sẵn một thẩu nước mắm và một chồng chén nhỏ để khách tùy nghi sử dụng, thêm nhiều hay ít ớt bằm theo sở thích riêng của từng người.  Tuy nhiên, có khách lại thích chan luôn nước mắm vào đĩa để bánh cuốn thấm nước mắm, đậm đà hơn.

Chả quế và giò lụa được cắt thành miếng lớn, để riêng trong một đĩa nhỏ.  Khách có thể chỉ ăn bánh cuốn nhân thịt mà không đụng tới đĩa giò chả, như vậy người phục vụ nhìn vào đĩa chả còn nguyên mà không tính tiền. Nếu cần, có thể gọi thêm đĩa bánh tôm hoặc bánh cuốn không nhân.

Sài Gòn cũng có bánh cuốn Thanh Trì kiểu Bắc, mỏng như tờ giấy, ăn với “ruốc” (chà bông) và nước mắm phải kèm với vài giọt cà cuống mới là “sành điệu”! Còn bánh ướt là kiểu bánh cuốn bình dân ở Sài Gòn, cũng ăn kèm với bánh tôm chiên, giò, chả và rau, giá. Những xe bánh ướt được đẩy đi khắp Sài Gòn, có cả nồi hấp nên lúc nào bánh cũng nóng và người bán bao giờ cũng chan nước mắm vào đĩa thay vì chấm kiểu “thanh cảnh” như bánh cuốn Thanh Trì.

Lại nói thêm, đường Albert (vào thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đổi tên thành Ðinh Tiên Hoàng) khá dài nên dọc theo con đường này có nhiều địa chỉ ẩm thực nổi tiếng.  Tiệm ăn Chez Albert (lấy tên theo con đường), Cà phê Hân, Mì Cây Nhãn (tên đặt theo cây nhãn hồi đó còn trồng trước sân), Thạch chè Hiển Khánh (nơi sưu tầm rất nhiều thơ ca tụng thạch chè)… Tôi chắc chắn còn bỏ quên khá nhiều điểm ăn uống khác nữa trên con đường này.

Ở góc đường Tôn Thất Ðạm và Hàm Nghi, trước kia vào thập niên 30 có một quán cháo cá nổi tiếng một thời. Buổi chiều cho đến gần khuya, khách đến ăn rất đông, nhất là khi cải lương, hát bội, hát bóng vãn hát. Theo Vương Hồng Sển trong Sài Gòn Tạp Pín Lù, quán cháo cá này của người Tàu, gốc Quảng Ðông, “cha truyền con nối suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi…”

Cháo tại đây nấu bằng gạo tấm hầm với cá, xương heo và thịt tôm hùm để thành một thứ hồ sền sệt khiến “người đau mới mạnh dùng không sợ trúng thực, người mệt mỏi ăn vào cảm thấy nhẹ bụng, mau tiêu.  Tô cháo cá Chợ Cũ quả là một ‘tô thuốc tráng thần’…”

Cháo nóng hổi bốc hơi nghi ngút.  Vừa thổi vừa húp xì xụp mới thấy được cái thú vị của món cháo cá Chợ Cũ.  Thịt cá giòn, thơm, lẫn lộn hương vị của hành, tiêu, gừng và có thể ăn với “dầu chá quẩy”.  Thú thật, tôi là người thích thịt hơn cá nhưng thỉnh thoảng được thưởng thức món cháo cá vẫn thấy ngon đến toát mồ hôi !

Có một tiệm cháo giò heo khá nổi tiếng trong ngõ đường Phan Ðình Phùng (ngày nay là Nguyễn Ðình Chiểu). Tiệm không có tên, chuyên bán cháo từ 6 giờ tối tới một, hai giờ sáng.  Khách của tiệm này đa số là khách chơi đêm, khách đi nhảy, khuya về đói bụng đến ăn tô cháo nóng.

Tôi lại nhớ đến món phá lấu ở góc đường Lê Lợi-Pasteur, nơi đây còn có xe bò bía và nước mía Viễn Ðông.  Bán phá lấu là một chú Tàu và “cửa hàng” của chú chỉ vỏn vẹn một cái khay tròn, trên đó bày đầy đủ nội tạng heo: lòng, dồi, gan, bao tử, ruột non, ruột già, tim, phèo, phổi… Trông thật hấp dẫn, ngửi thơm phức và ăn vào thì giòn tan.  Phá lấu nói chung có vị hơi ngòn ngọt, gan thì bùi bùi, lòng thì hơi dai dai nhưng khi nhai kỹ mới thấy ngon… thấu trời xanh !

Nghệ thuật làm phá lấu chắc chỉ mấy chú ba mới đáng hàng sư phụ. Phá lấu làm tại nhà cũng ướp húng lìu, ngũ vị hương nhưng không thể nào so sánh với phá lấu góc nước mía Viễn Ðông. Từng miếng phá lấu được ghim sẵn bằng tăm, chấm với tương đỏ trộn tương đen.  Khách ăn xong chú Ba chỉ nhìn tăm mà tính tiền nhưng tuyệt không bao giờ sai.  Quá bộ vài bước là xe nước mía tươi mát đang chờ… để kết thúc một chuyến ăn hàng bên lề đường.

Gần nước mía Viễn Ðông có xe thịt bò khô của ông Năm (theo tên gọi của khách quen) và sau 1975 ông dời về đường Tự Ðức (nay đã đổi tên là đường Nguyễn Văn Thủ) thuộc khu Ða Kao.

Dân chơi Sài Gòn thường xếp hạng : “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1” nên viết về món ngon Sài Gòn mà bỏ qua khu vực Chợ Lớn là cả một thiếu sót lớn. Dọc đường Trần Hưng Ðạo nối với đường Marins (Ðồng Khánh) thuộc địa phận quận 5 có những nhà hàng, tửu lầu nổi tiếng một thời như Arc-en-Ciel, Ðồng Khánh, Á Ðông, Bát Ðạt.

Theo tôi, Chợ Lớn nổi tiếng hơn cả là đường Lacaze mà người Việt hay gọi trại là La Cai, tức đường Nguyễn Tri Phương sau này. Khu La Cai có mì vịt tiềm hầm thuốc bắc, một trong những món “tủ” của người Hoa. Bên cạnh đó còn có những tiệm hủ tíu mang tên Mỹ Tiên, Cả Cần và tiệm bánh bao Bà Năm Sa Ðéc.

Ðêm đến có các quán sò huyết dọc theo lề đường. Khách bình dân ngồi ăn nhậu thoải mái giữa dòng xe cộ ồn ào bên ánh đèn nê-ông từ các nhà hàng, vũ trường sang trọng của Chợ Lớn “by night”!

… Thôi thì đời người có lúc hưng lúc tàn, cũng như vận nước có khi thịnh khi suy.  Viết lại món ngon Sài Gòn chỉ để thỏa mãn kiểu “ăn hàm thụ” như đã nói ở trên.  Giờ có cho ăn thực thụ chắc cũng chẳng thấy ngon như thời còn trai trẻ.

Tất cả chỉ còn là… hoài niệm! (theo Nguyễn Ngọc Chính trích “Hồi ức một đời người”)

NGƯỜI NHẬT PHÁT SỐT

VỚI BÁNH MÌ KẸP THỊT

Chiếc bánh mì kẹp mà ông Trump ăn tại quán ăn nhanh ở Tokyo trở thành món ăn mà nhiều người Nhật muốn một lần được thưởng thức.

Haruyuki Sano đã mất một tiếng di chuyển để được nếm thử vị chiếc bánh mì kẹp thịt pho mát mà Tổng thống Mỹ Donald Trump ăn cùng Thủ tướng Nhật Shinzo Abe trong chuyến thăm của ông tới Nhật Bản hôm 5/11/2017.

“Nó rất ngon, vị như thịt nướng vậy”, Sano nói sau khi thưởng thức chiếc bánh mì kẹp thịt và phô mai Colby Jack với nguyên liệu 100% của Mỹ tại cửa hang Munch’s Burger Shack ở thủ đô Tokyo.

Theo AP, dòng người xếp hàng bên ngoài Munch’s Burger Shack trong giờ ăn trưa đang dài hơn bao giờ hết nhờ có ông Trump. “Tôi thích ông Trump”, Sano nói.

Set ăn đặc biệt “Tổng thống Trump” là một lựa chọn mới trong thực đơn ở Munch’s Burger, bao gồm xà lách trộn với một chiếc bánh mì kẹp thịt pho mát và được bán với giá 1.400 Yên (12 USD). Yutaka Yanagisawa, ông chủ kiêm đầu bếp, cho biết set ăn trên là một trong những món được khách tới cửa hàng yêu cầu nhiều nhất. “Tôi rất lấy làm vinh dự”,  Yutaka chia sẻ. (theo Hướng Dương)

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

MUÔN NẼO ĐƯỜNG SÀI GÒN

NHỮNG CON ĐƯỜNG

“SƯỚNG RÊN”

Những “thiên đường sung sướng” và quán cà phê phục vụ ‘Từ A tới Z’ chỉ có ở Sài Gòn

Khi công an tập trung triệt phá tụ điểm mại dâm ở đường này thì các cô gái chuyển về đường khác để hành nghề. Có cô thì mướn xe tay ga xịn chạy trên đường bắt khách

Nhiều năm qua, trên địa bàn Sài Gòn vẫn tồn tại nhiều tuyến đường có nhiều gái mại dâm đứng vẫy khách. Sau một thời gian các cơ quan chức năng triệt tiêu các điểm trên đường Huyền Trân Công Chúa, trước cổng công viên Tao Đàn, đường Nguyễn Thị Minh Khai,… thì gái bán dâm dạt về đường Tú Xương (quận 3), cầu Thị Nghè giáp ranh quận 1 – quận Bình Thạnh, khu Lăng Cha Cả trên đường Hoàng Văn Thụ (quận Tân Bình)… để làm ăn.

Chúng tôi tới đường Tú Xương khi đồng hồ chỉ 20h. Dưới những lùm cây lờ mờ, các cô gái son phấn lòe loẹt đang đứng ngồi từng cụm. Thấy người đi đường ngang qua, các cô phát tín hiệu mời gọi. Sau khi thỏa thuận giá cả, gái mại dâm đưa khách làng chơi về hành lạc tại dãy phòng trọ gần ga Sài Gòn, trên đường Nguyễn Thông.

Thanh (27 tuổi), nhân viên một công ty tại quận 1, cho biết : “Tháng trước, sau một hồi nhậu xỉn với anh em trong phòng, chúng tôi rủ nhau đi ‘tươi mát’. Sau khi đi về tôi phát hiện bị gái bán dâm lấy trộm cái bóp, trong đó có 3 triệu đồng. Khi quay lại ngã 4 Tú Xương – Lê Quý Đôn, trông thấy cô gái lúc nãy nhưng cô này phủ nhận, còn đòi đánh tôi nữa”.

Tại khu vực Lăng Cha Cả, gái mại dâm đứng dưới tán các cây ven đường. Không cần ra ám hiệu, khách làng chơi đi ngang qua khi thấy các cô là “ghé thăm” và trả giá đi “dù”. Nếu thỏa thuận được giá, gái mại dâm đưa khách về hành lạc tại các khách sạn trên đường Đặng Dung gần đó. Thông thường, giá “dù” ở đây là 150.000 – 200.000 đồng/lần; giá cả đêm là 500.000 đồng, bao khách sạn.

Khu vực cầu Thị Nghè lâu nay cũng là điểm mại dâm nổi tiếng của Sài Gòn. Sau khi dân phòng phường chốt chặn trên cầu, gái mại dâm chuyển sang đi xe tay ga để tiếp thị. Đây là các loại xe mà má mì thuê lại cho đội quân của mình.

Trong vai khách làng chơi, mới vừa qua cầu, chúng tôi đã được nhiều cô gái đuổi theo “chào hàng”. Giá “dù” hay cả đêm của gái Thị Nghè cũng bằng các cung đường mát mẻ khác. Sau khi đồng ý, gái mại dâm đưa khách xuống các phòng trọ dưới cầu và hay trên đường Nguyễn Cửu Vân.

Quán cà phê tới bến ở Thanh Đa

Một thời, Thanh Đa nổi tiếng với những quán cà phê bờ sông trá hình. Một tối cuối tuần giữa tháng 6, chúng tôi đến các quán cà phê đèn mờ ở đây. Qua khỏi ngã tư Thanh Đa, đi thẳng vào đường Bình Quới (P.28, Q.Bình Thạnh), chúng tôi đếm được trên 30 quán cà phê ven sông. Có nhiều quán nằm sâu trong hẻm, trang hoàng bằng đèn chùm.

Nhân viên nam ngồi trước các quán nhanh nhẩu mời gọi “vào đây đi anh” khi thấy những chiếc xe máy chạy chầm chậm qua. Bị một thanh niên 22 tuổi chèo kéo, chúng tôi tấp xe vào quán C.H.. Bên ngoài có hàng chục chiếc xe máy của khách. Đóng vai cặp tình nhân, tôi và cô bạn đồng nghiệp nắm tay bước vào. Một nam nhân viên hỏi : “Anh chị dùng gì ?”. Chúng tôi nói cần một ly cà phê đá và chai xá xị.

Một thanh niên khác cầm đèn pin bảo “đi theo em”, rồi dắt ra sau. Quán tối thui, không một bóng đèn, chúng tôi quan sát 3 dãy với nhiều ghế nệm. Theo quan sát, quán này đã được xây dựng lại khá khang trang. Những năm trước, quán chỉ có khu vực ghế nệm, còn hiện nay đã có thêm dãy nhà nghỉ mới xây. Mỗi phòng có giường nệm cho những khách muốn “đi tới Z”.

Dắt chúng tôi vào dãy trong cùng, anh thanh niên rọi đèn pin để bật quạt và đốt nhang muỗi, sau đó đòi 35.000 đồng tiền nước. Ngồi chưa ấm chỗ, cách chỉ 2 m, chúng tôi thấy một đôi uyên ương đang “quấn” lấy nhau, vật vã trên chiếc ghế nệm. Chốc chốc tiếng thở hổn hển vang lên.

Tôi viện cớ đi tìm nước rửa mặt để lần ra thì thấy trên những chiếc ghế da, nhiều cặp đang nhiệt tình… thể hiện. Thỉnh thoảng là những câu nói của các cô gái vang lên “đừng anh, đừng làm vậy!” phát ra. Tôi đếm được 10 cặp đang nằm sõng soài trên ghế.

Tối hôm sau, chúng tôi quay lại khu vực này và vào quán N.. Đây là một quán rất đẹp với nhiều đèn chùm trang trí. Lúc chúng tôi đến, rất đông khách, nhiều nhân viên nam ngồi trước cửa làm nhiệm vụ chào mời. Bước vào quán, một thanh niên hỏi ngay : “Anh chị ở dưới hay lên lầu. Dưới đất thì ‘nhẹ nhàng’, còn lên lầu thì cứ vô tư, bởi trái đất này là của chúng mình”. Theo anh này, dưới thì chỉ mất 30.000 đồng tiền nước, khách vào quán tự do “làm việc”, nhưng không được tới “giai đoạn cuối” như ở khu vực trên lầu.

Lần khác, mất 50.000 đồng cho cả 2 người, chúng tôi cũng có cớ để lên lầu với những chiếc ghế nệm đen xì trong bóng tối. Giống như các quán khác, nhân viên nam cũng dẫn chúng tôi lên lầu với đèn pin trong tay. Để anh ta đi khỏi, chúng tôi quờ quạng xung quanh thì giật mình khi thấy những bóng người, chốc chốc tiếng xé vỏ bao cao su, tiếng vỗ khăn lạnh hừ hự.

Tôi rút điện thoại định chụp vài kiểu trong khi giả vờ xem tin nhắn, ánh sáng yếu ớt từ điện thoại phát ra, tức thì nhiều lời phàn nàn vang lên : “Ông kia, tắt ngay điện thoại”. Có tiếng một cô gái lịch sự hơn : “Làm ơn tắt điện thoại”.

Nơi đây đúng là “bãi đáp” lý tưởng cho người mua bán dâm, những cô cậu học sinh sinh viên… vì giá quá rẻ. Chỉ cần 25.000 – 50.000 đồng cho 2 người là có thể “tới Z” ngay tại chỗ, rẻ hơn nhiều so với giá thuê khách sạn. Chính vì thế mà dãy quán cà phê ven sông trá hình ở đây luôn đông khách, nhất là vào tối thứ 7, chủ nhật. (theo Zing)

NHỮNG CON ĐƯỒNG

‘SUNG SƯỚNG’ KHÁC

Một số đường ở quận Bình Thạnh như Điện Biên Phủ, Đinh Bộ Lĩnh, Ung Văn Khiêm từ lâu đã trở thành tụ điểm hớt tóc, massage kích dục. Nhân viên nữ luôn chiều các “thượng đế” từ A tới Z với giá cả phải chăng.

Đêm cuối tuần, sau chầu nhậu với đám bạn cùng công ty, Hoàng Long, một dân chơi sành điệu tại Q.11 liền rủ tụi bạn “thư giãn” đôi chút cho tỉnh hơi men. “Đi massage thì cũng vui nhưng hơi tốn kém, để tui dẫn ông tới chỗ này vui hơn mà giá cả cũng mềm hơn!”, Long hí hửng giới thiệu.

Theo chân Long, khách tìm đến đường Điện Biên Phủ (P.17, Q.Bình Thạnh) mà theo Long những tiệm hớt tóc tại đây có dàn “em út” vừa xinh lại phục vụ khách rất tận tình, chu đáo. Xuống dốc cầu Điện Biên Phủ chưa đầy 200 m, chiếc xe tay ga đắt tiền của Long tấp vào một ngôi nhà ba tầng khá khang trang.

Ngay phía trước ngôi nhà là biển hiệu đèn màu nhỏ với dòng chữ “Hớt tóc Benny” mà nếu không để ý sẽ khó nhận ra. Bảo vệ tươi cười chào mời và nhanh chóng đưa khách vào bên trong. Long vui vẻ giới thiệu : “Đây là tiệm quen của tui, đảm bảo ông sẽ khoái chỗ này !”.

Nói là tiệm hớt tóc nhưng không hề có bất kỳ cây kéo hay cái tông-đơ nào, chỉ có dàn tiếp viên nữ trong những chiếc váy đồng phục ngắn cũn cỡn đang ngồi vui vẻ nói cười. Vừa thấy khách bước vào, một cô đứng dậy hỏi : “Hai anh có yêu cầu bé nào không hay để tụi em đi theo tua ?”. “Anh có rồi, tìm thêm một bé dễ thương vui vẻ cho ông bạn anh được thoải mái là ok !”, Long nhanh chóng đáp lời.

Ngay lập tức, hai cô gái tuổi chừng đôi mươi từ một căn phòng phía bên trong bước ra và đưa khách lên tầng một. Tầng một của ngôi nhà được chia làm hai gian phòng. Một dãy khoảng năm sáu chiếc ghế nệm được bố trí tại gian phòng phía ngoài để khách và các tiếp viên có thể ngồi “thư giãn” nói chuyện cùng nhau. Còn phía bên trong là dãy phòng nhỏ chỉ vừa đủ rộng để bố trí chiếc ghế nằm cho khách, cách nhau bởi những tấm vách ngăn tạm bằng mi-ca và những chiếc màn thun mỏng manh. Đây là “thiên đường” để tiếp viên thực hiện những màn kích dục cho khách.

Sau khi thực hiện xong các “màn dạo đầu”, Long được cô tiếp viên đưa vào gian phòng phía trong để “vui vẻ”. Nguyệt, tiếp viên quê ở Tiền Giang cho biết, lúc mới lên thành phố cô làm công nhân ở khu công nghiệp Tân Bình một thời gian. Sau đó được mấy đứa bạn làm chung giới thiệu qua đây làm đỡ cực mà tiền cũng nhiều hơn ! Ở đây Nguyệt phải xoay tua thay nhau tiếp khách, nhưng nếu khách quen có yêu cầu thì có thể nhảy lượt.

“Làm ở đây không có lương, chủ yếu tụi em sống nhờ vào tiền bo của khách ! Bởi vậy phải ráng chiều cho khách vừa ý để lần sau người ta còn tìm đến mình !”, Nguyệt nói. Giá cho mỗi lần vui vẻ tại những tiệm hớt tóc này “mềm” hơn so với các tiệm massage, chỉ khoảng 100-120 nghìn/suất (chưa kể tiền “bo” cho các tiếp viên). Thỉnh thoảng, đâu đó từ trong các phòng bỗng vang lên tiếng khạc nhổ của các tiếp viên, kèm theo đó là một mùi tanh tanh rất khó chịu.

Rời tiệm Benny, khách rảo quanh các tuyến đường như Ung Văn Khiêm, Đinh Bộ Lĩnh…, nơi cũng có hơn chục tiệm hớt tóc trá hình đang công khai hoạt động. Từ dốc cầu Điện Biên Phủ đến vòng xoay Hàng Xanh chưa đầy một cây số, thế nhưng có đến sáu tiệm hớt tóc kích dục hoạt động từ 10h sáng cho đến tận 24h đêm. Đường Đinh Bộ Lĩnh (đoạn từ giao lộ Nguyễn Xí – Đinh Bộ Lĩnh đến cầu Đinh Bộ Lĩnh) cũng là nơi tập trung gần chục tiệm hớt tóc trá hình với dàn tiếp viên trẻ trong những bộ trang phục mát mẻ sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của khách.

Hơn 22h đêm, khi đường phố bắt đầu thưa dần bóng người thì cũng là lúc khách tìm đến tiệm hớt tóc L.Đ. nằm trên đường Đinh Bộ Lĩnh (Q. Bình Thạnh). Vừa thấy khách tấp vào, hai ba cô gái đang nằm dài trên chiếc ghế gội đầu liền ngồi bật dậy và tươi cười. Nhìn từ bên ngoài tiệm hớt tóc cũng vắng lặng như bao tiệm hớt tóc bình thường khác. Thế nhưng bên trên ngôi nhà ba tầng là hàng chục tiếp viên nữ trong trang phục ngắn hết cỡ chờ đến lượt tiếp khách.

Khách được hai cô gái đưa vào hai gian phòng trên tầng một căn nhà. Sau vài ba câu nói bông đùa, cô tiếp viên thẳng thắn đề cập vấn đề: “Tụi em thư giãn xong anh cho tụi em bằng với tiền ticket (tiền vé mỗi suất) nha? Còn nếu mấy anh muốn phục vụ kiểu khác thì cho em xin hai xị”. Khi nghe khách hỏi muốn “tới bến” luôn thì sao, cô gái đáp lời: “Chủ không cho tụi em làm tại đây. Mấy anh có nhu cầu thì cho em số điện thoại, xuống ca em sẽ gọi rồi mình hẹn địa điểm. Còn giá thì anh cho em xin bảy xị!”.

Nằm gần giao lộ Đinh Bộ Lĩnh – Chu Văn An, từ lâu khách sạn Q.L. (Q. Bình Thạnh) đã được nhiều khách làng chơi biết đến như một “bãi đáp” an toàn để “mua hoa”. Với nguồn cung cấp “đào” chủ yếu từ các tiệm hớt tóc gần đó, khi khách có nhu cầu mua dâm chỉ cần đến khách sạn lấy phòng, rồi gọi số 0977121… của một người đàn ông tự xưng là “cậu” để thỏa thuận giá cả, sau đó “em út” tự lên phòng đã đặt để mua bán dâm.

Khi khách hỏi “cậu” hàng ở đây thế nào, từ đầu dây bên kia, giọng một người đàn ông trung niên vang lên : “Đảm bảo hàng trẻ đẹp, giá 250, 500 ngàn đến một triệu đều có ! Còn nếu muốn nguyên đêm thì giá gấp đôi !”. Khách hỏi tiếp “Làm sao đảm bảo được ?”, người đàn ông này tiếp lời : “Anh cứ lên nhận phòng đi, sẽ có người đưa đào đến. Nếu thấy không vừa ý thì đổi lại !”. Đúng như thỏa thuận, sau khi nhận phòng thì khoảng mười phút sau, nhân viên khách sạn liền đưa hai cô gái đến.

“Hàng của tụi em ở đây trẻ đẹp lại còn biết cách chiều ý khách. Nếu mấy anh muốn thì cũng có thể thoải mái đổi đào qua lại lẫn nhau !”, nhân viên này vui vẻ cho biết rồi nhanh chóng rời phòng. (theo báo Công an TP)

Dung Dung tổng hợp chuyển tiếp

CON ÐƯỜNG MASSAGE

ĐẦY “HUYỀN ẢO”

Không biết có sung sướng hay không, không biết có mạnh khỏe hay không, nhưng để đi đến nơi đó quả thực không dễ vì nó là con đường “một chiều” xuôi từ bến xe Miền Ðông về khu vực giáp ranh Q. Bình Thạnh với Quận 1.

Muốn “hạ cánh” nơi ấy phải chạy một đường vòng ra Hàng Xanh lội ngược lên đường vành đai Xô Viết Nghệ Tĩnh ngựa xe như mắc cửi, chen chúc nhau trong khói bụi mịt mù, còi hụ máy nổ ầm ầm mà một khi đã lọt vô “dòng chảy” là không có đường lùi.

Ở đó kẹt xe như là hơi thở, hít vô nơi nầy thở ra nơi kia, nó sẽ làm cho bạn hoa mắt ù tai vì những tiếng động đinh tai nhức óc, ngày đêm nơi đó như một chiến trường, nó là một cung đường “đau khổ” nhưng không hiểu sao xe cộ cứ đâm đầu vào nơi ấy như cá chui vào rọ.

Không biết có phải vì “hiện tượng đặc thù” đó hay không mà mà con đường một chiều Ðinh Bộ Lĩnh ấy được nhiều người gọi tên là “con đường sung sướng,” một con đường mà nếu “lơ mơ” chạy lố một chút – thì sẽ không biết chỗ nào dừng, nhưng nếu đứng lại xuống xe bạn sẽ lọt vào mê hồn trận của “bàng tơ yêu nữ.”

Một con đường chỉ dành riêng cho những ai rỗi hơi, muốn “thư giãn” buổi chiều, liêu xiêu buổi tối, nó còn có một cái tên khác là “Con Ðường Massage” của các em môi đỏ mắt xanh mời chào khi đêm xuống, ban ngày thì các em ngồi đâu đó hớ hênh khêu gợi những con mồi đang lang thang tìm bến đậu.

Nói cho đúng hơn thì đó là nơi các “chiến hữu lưu linh” chơi tiếp “tập 2” để giãn gân mềm cốt và dã rượu, sau đó là những màn xông hơi đấm bóp “ve vuốt chỗ yếu huyệt” mà dưới bàn tay điêu luyên của các em thì mấy anh có mệt cho mấy cũng “vùng lên” đòi quyền sống.

Kết quả là khi vào thì mỏi mệt vì rượu bia nhưng khi ra thì hết xí quách vì đã bị mấy em “tẩm quất” cho một trận nên thân, thân xác còn bèo nhèo hơn bao giờ hết, đơn giản là massage đâu hổng thấy chỉ thấy “mát gần.”

Một tiếp viên xinh đẹp cho biết, “Bây giờ mấy ổng đi massage mà như đi đánh trận, mấy ông cứ đòi oánh bóp lại cho mấy em, vì nói thiệt bọn em cũng không biết massage là cái quái gì, mà mấy ổng thì cũng đâu cần ‘tẩm quất’ mấy ổng đòi chuyện khác.”

“Vậy nên bọn em chỉ có việc làm một công việc đơn giản là ‘phục vụ’ cho mấy ổng sung sướng, mấy ổng toàn là ‘cán cuố nên thấy lúc nào cũng say xỉn bia rượu tè le khi ‘trúng mánh’ những phi vụ ‘giải tỏa’ nhà đất, hợp đồng kinh tế, sau và trước khi công việc hoàn tất là phải có cái thủ tục ‘tăng 2, tăng 3’ không thể không có.”

Một con đường chưa tới 3 cây số nhưng có hàng trăm quán massage kéo dài từ bến xe Miền Ðông ra tới tận cầu Bình Triệu, chưa kể những quán nhậu, quán bia ôm trá hình lấp ló trong những con hẻm yên bình… thì phải nói đây là “thiên đường sung sướng,” chốn “ăn chơi mát trời.”

Vì mọi thứ nơi đây đều “tập kết” về một chỗ, khách sạn – nhà hang – quán nhậu –massage – em út phục vụ từ A tới Z, bảo đảm không thiếu một thứ gì ngay cả “sexy show” tại chỗ với những màn thoát y tới bến. Bia bọt rượu chảy ngập tràn, vui thâu đêm suốt sáng với gái đẹp, thuốc lắc tất cả đều được bảo kê bởi các thế lực đen-đỏ mà nếu đụng vào đó sẽ biết ngay “thế lực ngầm” nào đang chia nhau những cổ phần béo bở bởi nền công nghiệp béo bở này.

“Vậy nên mặc cho những ‘chiến dịch ra quân’ tảo thanh dẹp bỏ những tệ nạn mại dâm ‘trá hình’ đang nở rộ trên toàn… đất nước ‘bọn em vẫn bám trụ’ vì nghề nầy chỉ có một thời thanh xuân.”

“Bọn em cố gắng làm vài năm kiếm chút vốn về quê mở quán ăn, tiệm uốn tóc làm ăn lương thiện, một vé cho một giờ massage chỉ có 120 ngàn ($6), chủ quán lấy hết, bọn em chỉ còn sống duy nhất là nhờ ‘tiền boa’ cũng kha khá, nên khách tới đây là bọn em ‘chìu tới bến’”. “Khách vui sùi bọt mép, còn em thì có tiền chờ ngày ‘hoàn lương’ trở về quê cũ…”

Không biết có được không, nhưng người con gái… vẫn thản nhiên kết luận về nghề nghiệp của mình khi màn đêm đang buông trùm xuống cuộc đời. (theo Người Sài Gòn)

Yên Huỳnh chuyển tiếp

CỐ LÊN CON ƠI ! 

Đổi ca một lát bố ơi !

Thời gian giao ước hết rồi đấy nha !

Lúc đầu bố hứa rồi mà:

Mỗi “thằng” một hiệp xem bà kia “nuy”

Trời ơi !  Mày nói nhỏ đi !

Nó mà nghe thấy thì nguy bỏ bà

Cố lên tí nữa con à !

Đoạn hay đang đến – úi chà – rõ phê …!

Nhưng mà bố nặng quá đê !

Nãy giờ con trụ đến tê cả người !

Cơ mà bố cũng nực cười

Ở nhà mẹ tắm sao thời không xem ?

Mẹ mày là thứ… nát bem

Còn đây hàng chuẩn, nguyên tem, con à !

Mẹ mày vừa lép, vừa già

Nó thì căng đét, lại là còn tơ…

Thôi đi ! Bố xạo lắm cơ !

Tối qua con đã giả vờ ngủ say

Con nghe bố nói như này :

Em là số một – mình “cày” tiếp nha …

Thằng này lắm chuyện quá ha !

Đàn ông nịnh vợ ấy là đương nhiên

Xấu cũng khen đẹp như tiên

Kẻo không, nó cáu là phiền, hiểu chưa ?

Hình như trời đã đổ mưa

Con nhìn thấy nước nó vừa rơi xong

Trời ơi ! Bố…xả phải không ?

Nước gì nóng với khai nồng, vậy ta ?

 Ừ ừ !  Bố đấy con à !

Tại vì hấp dẫn quá mà, con ơi !

Cố lên một chút nữa thôi !

Bố cho năm chục tối ngồi chơi game

Cố lên con nhé !

Yên Huỳnh chuyển tiếp

NHỚ SÀI GÒN XƯA

SÀIGÒN NGỌC NGÀ DĨ VÃNG

Sàigòn một thuở là Hòn Ngọc Viễn Ðông, một Paris lấp lánh khắp cõi Châu Á. Sau tháng tư năm 1975, lại mang một cái tên khác. Bởi thế với người xưa. có một nguyện vọng hãy trã lại cái tên cũ chính danh là Sàigòn.

Một thành phố mãi mãi vẫn mang tên là Sàigòn. Sàigòn của muôn đời. Sàigòn trong trái tim người đang sống ở thành phố đó hay lưu lạc khắp năm châu thế giới. Bây giờ chúng ta cùng trở về Sàigòn từ một ký ức xa tắp mù khơi.

Sàigòn của những thập niên 1950 từ hơn nửa thế kỷ trước. Sàigòn với các hộp đêm, sòng bài Ðại Thế Giới, Chợ Lớn. Tại đây có đủ loại sòng bài và cách chơi khác nhau, lại có chỗ giải trí như xe nhỏ chạy bằng điện húc nhau vui đùa. Con đường Trần Hưng Ðạo, Ðồng Khánh chạy dài từ Sàigòn tới Chợ Lớn dài vun vút…

Và trên đường Phan Ðình Phùng quả thật văn nghệ với quán cà phê Gió Nam nỗi tiếng vì cô hàng café tuyệt sắc giai nhân. Nàng có nước da trắng xanh liêu trai với mái tóc thề ngây thơ nữ sinh. Nhân vật đã đi vào truyện Duyên Anh, qua bao chàng trai say đắm, tranh đua nàng, từ trí thức đến du đãng.

Cũng tại đường Phan Ðình Phùng với quán phở Con Gà Trống thiến cùng hai kiều nữ con chủ quán, nổi danh tài sắc. Yến Vỹ cùng chị, cả hai để mái tóc bồng rối như minh tinh Brigitte Bardot. Bao thực khách đến chẳng phải phở ngon, nhưng vì Yến Vỹ đẹp lại hát hay. Quán café, nhà hàng phở giai nhân cũng khiến một chàng Cử Văn Khoa phải vào nhà thương điên vì tình si.

Phan Ðình Phùng còn thêm café quán Luật Khoa và cơm gà Xing Xing, với những giai nhân lai Pháp, càng làm thêm Sàigòn có một chút Paris.

Saigon về đêm, những phòng trà ca nhạc và vũ trường khiến màn đêm Thành Ðô trở nên lung linh ảo huyền, như một ngàn lẻ đêm huyền thoại. Nổi bật nhất từ cuối thập niên 50 là phòng trà ca nhạc Anh Vũ. Nơi đây khởi đi cho nhiều danh ca sau này. Thanh Thúy ở tuổi mượt mà thanh xuân đôi tám đã hát từ Anh Vũ, làm mê say bao tao nhân mặc khách.

Người ta mê Thanh Thúy vì có lối trình diễn độc đáo bên giọng ca trầm buồn. Thanh Thúy vừa hát vừa đưa tay vuốt làn tóc buông rơi, sau đó gây chú ý là tự vuốt đôi chân ngọc tuổi dậy thì, có lúc nàng lại vuốt cây micro nữa, khiến các chàng trai sởn da gà vì sốt nóng lạnh.

Ban CBC thuở Anh Vũ đã là ban nhạc kích động nhỏ nhất thế giới, với tuổi khoảng sáu, bảy mà thôi. Thảm kịch cũng xảy ra cho phòng trà Kim Ðiệp Sàigòn, khi một chàng Tây lai bị giết vì dám cặp kè với người đẹp Tuyết Không Quân. Tuyết là một giai nhân nổi tiếng sát phu qua hai đời chồng bị tử nạn trong chiến tranh. Phòng trà Kim Ðiệp sau vụ ấu đả vì ghen tuông, bị đóng cửa để trở thành Nhà sách.

Quán café trà thất đẹp nhất Sàigòn phải kể là Quán Gió, sau thành Hầm Gió, thiết trí sâu dưới đất, như một hầm rượu bên Âu châu. Người đẹp ngồi cash, bên một thùng rượu làm thành cái bàn khá ngoạn mục. Ca sỹ Thanh Lan thường có buổi trình diễn tại đây. Chính những phòng trà đêm Sàigòn đã đưa nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn lên đỉnh cao. Nhiều ca khúc phản chiến cấm hát ở đài phát thanh nhưng tại phòng trà thì vẫn được trình diễn tự do.

Vũ trường, phòng trà Sàigòn còn ghi lại một thiên tình sử đẫm lệ, khi nữ ca sỹ Diệu Anh kiều diễm hát hay, đã tự tử vì… bị một nam ca sỹ bỏ rơi. Chàng trai bạc tình sau đó vì buồn và hối hận đã bỏ hát vài năm.

Ðêm Sàigòn trà thất vũ trường còn ghi đậm cây si thường xuyên Mai Thảo và Hồng Dương, để viết thêm những tình sử lâm ly với hai nữ danh ca khác.

Ðêm Sàigòn bạc vàng, bạc triệu với Lệ Thu và Khánh Ly, những tiếng hát vàng ròng cả nghĩa trắng lẫn nghĩa đen, vì lương tháng hai nữ danh ca này lên tới một triệu.  Trong khi đó, lương một Ðốc Sự, Phó Quận Trưởng tới năm 1975 chỉ có 33 ngàn đồng một tháng.

Vũ trường thơ mộng nhất Sàigòn là Mỹ Phụng ngay tại bến Bạch Ðằng. Thuở đó cuối thập niên 50 đầu 60, người ta thích đi Mỹ Phụng vì ban đêm có gió sông Sàigòn mát dịu lại thêm nữ danh ca Lệ Thanh. Nàng chuyên hát những tinh khúc ướt át, trong điệu slow tắt đèn, mờ ảo như Dang Dở, Nỗi Lòng. Tiếng hát mê đắm Lệ Thanh đã thu hồn một Bác Sỹ rồi trở thành phu quân của nàng.

Ðêm Sàigòn ngọc ngà dĩ vãng khiến người ta khó quên được vì những dạ vũ Bal Famille có khi kéo dài từ đêm suốt sáng. Ai có ngờ cô bé Mai Đen 16 tuổi, thường đi với bé Phú, sau này lại trở thành ca sỹ Khánh Ly nổi danh cho tới nay. Phú mệnh danh là Phú Chuột, trắng trẻo, mũm mĩm xinh như thỏ con, thường nhảy cùng Mai với đám bạn trai. Mai nhảy có khi bỏ cả giày cao gót giữa đêm vui đã gần rạng sáng.

Thuở ấy, người đi dạ vũ phải trầm trồ khen ngợi tài nhảy của Tony Khánh, thường nhảy cặp với vợ. Mỗi lần Khánh cùng phu nhân ra sàn nhảy, mọi người đều ngừng khiêu vũ để thưởng thức tài nghệ bậc sư biểu diễn. Sau đó là pháo tay nổ ròn như ngày Tết….

Hòn Ngọc Viễn Ðông Sàigòn từ thập niên 50 nay đã trên nửa thế kỷ, Sàigòn đổi tên và Sàigòn ngọc nát châu chìm. Và dân Sàigòn năm xưa, những chàng trai hào hoa phong nhã, bao giai nhân ca sỹ lừng danh, nay đã thất thập cổ lai hy, hay gần mấp mé tuổi hạc. Thế nhưng trái tim chằng bao giờ già. Bởi vậy nói như Thi sỹ Thanh Tâm Tuyền: “Ta gọi tên ta, Sàigòn cho đỡ nhớ”.

Hỡi những Quốc tế, Ðêm Mầu Hồng, Queen Bee, Arc En Ciel, Mỹ Phụng, Tự Do… Những đêm vui thắp sáng kỷ niệm, những ngày xuân mãi mãi xanh tươi, để làm thành một Thủ Ðô Sàigòn bất tử, ta yêu lắm và yêu mãi mãi.

Sàigòn trong lời nhạc của Ngô Thụy Miên, thì dù Em của ta có đi khắp thế giới Paris, Vienne, cũng chẳng thể tìm đâu đẹp hơn Sàigòn của ta ngày hôm qua dĩ vãng cũng như Sàigòn mai sau .

MƯA SÀI GÒN 

H1: Mưa Sài Gòn, ngày hôm nay, có ai còn nhớ những cơn mưa ngày xưa không ? Mưa Sài Gòn mưa trong nỗi nhớ. Hình ảnh đó giờ còn đâu. H2: Mưa Sài Gòn, hình chụp góc Lê Lợi và Công Lý, ngày 12 tháng 6 năm 1968.

H3: Mùa mưa ở Sài Gòn khách bộ hành và các xe xích lô lội một con đường Sài Gòn ngập nước trong một cơn mưa lớn mùa mưa. Trận mưa theo mùa trút nước trong khoảng một giờ và mực nước ngầm cao của thành phố đã làm chậm việc thoát nước năm 1968. H4: Đường Tự Do về đêm

Sài Gòn mưa bay

Chiều nay ngồi ngắm mưa bay 

Chạnh lòng tôi nhớ đến Sàigòn xưa 

Niềm đau nói mấy cho vừa 

Mưa giăng giăng lối lưa thưa giọt buồn

Đâu còn những buổi hoàng hôn 

Cà phê tình tự góc Pôle Nord sầu. 

Phòng trà khiêu vũ trường Sài Gòn 

Tự Do rực rỡ muôn màu 

Maxim dìu bước em vào thiên thai 

Duy Tân bóng mát trải dài 

Queen Bee vang tiếng hát ai dặt dìu.

Nhớ lại Sài Gòn xưa

Đường Trần quốc Toản thân yêu 

Trường Hành Chánh trong nắng chiều nghiêng nghiêng 

Bạch Đằng xóa nỗi ưu phiền 

Chợ hoa Nguyễn Huệ ghe thuyền Chương Dương

Con đường này khi đó được đặt tên là Chợ Tết Nguyễn Huệ. Người ta đến đây không chỉ để mua hoa mà còn là ngắm, thưởng ngoạn và tận hưởng cái hương vị đặc trưng của chợ hoa Tết.

Những tiếng cười nói, tiếng rao hàng, tiếng mặc cả, rồi cả tiếng leng keng của những thùng kem dạo đã trở thành âm thanh quen thuộc gắn bó với người dân Sài Gòn.  Được đi chơi chợ hoa Nguyễn Huệ, được cha mẹ mua cho một que kem hay một cái kẹo bông bằng đường, rồi tung tăng trong không khí vui tươi, hớn hở đã là những kỷ niệm thơ ấu rất khó quên trong ký ức nhiều người…

Sài Gòn có bến Chương Dương,

Có Dinh Độc Lập, có đường Tự Do 

Có Chợ Quán, có Cầu Kho,

Bến xe Lục Tỉnh, con đò Thủ Thiêm. 

Sài Gòn có bến Chương Dương….

Có ôtô buýt khắp miền, 

Vườn chơi có Thảo Cầm Viên, Tao Đàn

Bến Thành đã tiếng tăm vang

Chợ Cầu Ông Lãnh lại càng nên đi.

Xe đò, xe máy, taxi

Bình Tây, Khánh Hội ngại gì xa xôi

Chánh Hưng, Phú Nhuận đây rồi

Thị Nghè, Tân Định nhiều nơi còn chờ .. 

Đường về Gia Định muôn phương 

Dừng chân Phú Nhuận nghe thương nhớ nhiều 

Đa Kao xe cộ dập dìu 

Phố khuya Tân Định hắt hiu dáng gầy.

KHỎA THÂN TẠI

BIỂN ĐEN (BLACKS BEACH)

SAN DIEGO

San Diego có nhiều bãi biển đầy cảnh đẹp và người đẹp nhưng có lẽ biển Blacks Beach mà người Việt mình quen gọi là biển đen thì đặc biệt nhất. Vì đây là một bãi biển khỏa thân công cộng cho mọi giới với cảnh đẹp thật bao la và hùng vĩ.

Bãi biển này ngày xưa là tài sản riêng của một gia đình người Mỹ gốc Phi Châu, sau đó thành phố mua lại. Phần trên đỉnh núi bây giờ là sân đánh golf Torrey Pines, còn phần dưới chân núi là bãi biển.

Từ Los Angeles đi xuống theo xa lộ I5 về hướng nam hoặc từ trung tâm thành phố San Diego đi lên theo xa lộ I5 về hướng Bắc, lấy lối vào La Jolla Village Dr., theo hướng Tây đi về phía trường đại học UCSD. Rẽ vào đường North Torrey Pines, đi ngang trường UCSD và cứ tiếp tục đi thêm một đoạn đường ngắn sẽ thấy một tấm bảng đề Hang Gliders ở phía trái.

Tiếp tục lái xe vào con đường nhỏ này sẽ gặp một bãi đậu xe đất hơi gồ ghề thật lớn. Đến khu vực này sẽ gặp rất nhiều những con diều đầy màu sắc với người đang bay lơ lửng trên trời. Từ chỗ đậu xe này có hai lối để đi xuống bãi biển.

Lối xuống bãi từ hướng bắc phải đi vòng qua quán cà phê. Đường đi rất nguy hiểm, vách đá cheo leo, và dốc núi thẳng đứng. Nếu yếu tim và nhát thì chớ chọn lối hướng bắc vì có lần tôi đã phải ngồi bệt xuống đất mà lết đi như một đứa bé lên ba.

Lối đi từ hướng tây. Lối này không xa bãi đậu xe lắm và đường đi dễ dàng hơn; tuy thế dài hơn, và ngoạn mục hơn. Lối đi có những đoạn đường khá rộng, có thể dừng lại nghĩ chân và ngắm nhìn biển rộng bao la. Điều thú vị hơn nữa là được ngắm nhìn những ông Adam và bà Eve thấp thoáng đi bộ phía dưới bãi cát. Tuy thế đường đi cũng rất cheo leo vì có những đoạn sườn núi, đá mềm cứ thỉnh thoảng rơi và có đoạn vách núi cũng thẳng đứng.

Ngoài hai con đường chính này đi xuống bãi biển còn có những con đường phụ khác chạy dọc theo bờ biển. Như từ hướng La Jolla băng qua bãi biển của tư nhân và từ hướng Del Mar băng qua khu bảo tồn sinh thái.

Xuống đến bãi rồi sẽ thấy còn nhiều thích thú hơn. Tôi phải nhìn nhận rằng dù đường đi có khó nhọc đến mấy cũng đã đền bù được công sức cho mình. Biển Blacks Beach lúc nào cũng có người đến nhưng mùa hè thì đông nhất. Giờ cao điểm trên bãi là từ mười hai giờ trưa cho đến bốn giờ chiều.

Muốn có một chỗ ngồi nghỉ tốt tôi cần phải đến sớm vì đến trễ đi lựa chỗ ngồi phải dạo quanh qua chỗ mọi người nằm. Có khi vì mắc cỡ lại không dám bước đến mà mình lại bỏ đi, hoặc vì e ngại nên lại chẳng dám bước vào.

Tuy là bãi tắm khỏa thân nhưng không có điều kiện nào đòi hỏi người đến đây phải cởi. Muốn sống tự do với thiên nhiên hay sống trong sự gò bó của áo quần, nguyên tắc thì đó là chọn lựa riêng tư của mỗi người.

Tôi đoán có đến hơn chín mươi phần trăm người đến bãi biển này đều một trăm phần trăm thoải mái. Đặc biệt ở bãi biển này tôi gặp rất ít người Việt. Thỉnh thoảng tôi nhìn thấy được dăm ba người đồng hương thì họ chỉ đi dạo qua rồi biến mất. Rất ít người mình đến đây tắm biển và phơi nắng. Có lẽ vì bản tính khép nép của người mình hay vì nền luân ly đạo đức chăng ?

Lúc còn ở San Diego, mỗi cuối tuần tôi đều đến bãi biển này tắm nắng và bơi lội. Sau một tuần làm việc gò bó, được sống những giây phút tự do thoải mái, tôi cảm thấy thú vị lắm. Tôi được sống với thiên nhiên lại còn được có một làn rám nắng khoẻ đẹp. Ở biển Blacks Beach có tất cả các hoạt động như các bãi biển công cộng bình thường khác; chỉ khác mọi người trần như nhộng và vui chơi náo nhiệt.

Có những gia đình mang theo các con cái đủ mọi lứa tuổi đến bãi cùng chơi đánh banh với nhau. Trên bãi rải rác đó đây tôi thấy có các họa sĩ mãi mê vẽ chân dung cho các người mẫu. Có rất nhiều những cô gái trẻ xinh đẹp trông đơn sơ và thần thoại như các thiên thần trong cổ tích. Có rất nhiều chàng trai trẻ tràn đầy nhựa sống. Bên cạnh đó cũng không thiếu gì các ông bà trong độ tuổi nội ngoại hay cố cụ.

Vào đến đây thì tha hồ mà rửa mắt. Tha hồ nhìn ngắm hình ảnh các sinh vật hai chân sống hoà đồng với thiên nhiên thật tuyệt đẹp và vô cùng linh động.

Được biết, Black’s Beach của San Diego trong những năm 1970 của thế kỷ trước, từng là một trong những bãi biển khỏa thân lớn nhất và được biết tới nhiều nhất tại nước Mỹ. Mãi tới 1977, mới có một phần của Blacks Beact được lấy lại làm khu đòi hỏi mặc áo tắm.

Bãi biển không có ranh giới nhưng dường như đã được chia làm hai phần: phần hướng bắc và phần hướng nam.

Phần bãi biển hướng nam thì nằm chênh chếch về phía thành phố La Jolla. Phần biển này thường qui tụ nhiều hoạt động như đánh banh, vẽ tranh, và các loại trò chơi khác….và hầu như qui tụ các sinh hoạt của gia đình và người thuộc giới tính bình thường.

Phần bãi biển phía bắc dường như bắt đầu từ lối xuống bãi từ chỗ gần quán cà phê ở hướng bắc. Phần này càng đi xa về phía bắc của bãi biển càng qui tụ nhiều người đồng tính. Phần đất nằm sâu trong khe núi, nhất là trên sườn đồi cao rộng ở phía bắc, khuất trong những lùm cây thấp có rất nhiều hoạt động khác thường. Ở chỗ này giống như là vùng không kiểm soát, nếu có tò mò đến hãy nên cẩn thận.

Dừng lai ở phần đất phía bắc này hay đi tìm chỗ thích hợp khác ? Tham dự vào các hoat động ở đây hay không tham dự thì đó là sự lựa chọn riêng? Tôi đoán chắc không có qui luật lệ nào được áp dụng nơi đây.

Có đến Blacks Beach tôi mới thấy đất Mỹ quá tự do. Quyền tự do của mỗi cá nhân đều được tôn trọng. Ở bãi biển này con người trần trụi như cá nằm trên mẹt. Dường như người ta không những chỉ xem mà còn chào hỏi, còn bày hàng như mấy bà hàng cá bày cá bán ngoài chợ. Có đến biển Blacks Beach tôi mới cảm nhận được cái thoáng mát của người Mỹ và sự cởi mở của họ.

Bài viết này tuy đã cũ và không cập nhật hoá đầy đủ chi tiết mới, nhưng theo tin tức, năm 2016, Blacks Beach vẫn là bãi biển khỏa thân có số lượng người viếng thăm nhiều nhất tại California.

Yên Huỳnh tổng hợp chuyển tiếp

CHUYỆN NGÀY MỒNG 1

THÁNG CÔ HỒN

Cơm nước xong, bát đũa xong xuôi. Hắn rón rén lại gần vợ, giọng ngập ngừng: “Vợ ơi ! Cho anh xin tiền đi thăm vợ thằng Tân đẻ nhé ?”. “Vợ bạn đẻ mà cũng phải thăm à ? Mà là Tân nào thế ?”. “Là cái anh Tân chơi với anh từ bé ấy”. “anh ấy 3 con rồi mà ? Sao lại đẻ nữa ?”. “Thì tướng thằng đấy nó mắn mà ?”.

Vợ hắn nghe vậy thì lừ mắt, giọng gay gắt : – Không nói nhiều ! Đầu tháng, lại tháng cô hồn kiêng không xuất tiền !

Hắn tiu nghỉu, nhưng vẫn mon men cạnh vợ, giọng phụng phịu : “Mai mấy thằng cùng lớp cũ của anh tụ tập, em không cho anh tiền thì thôi, nhưng cho anh đi cùng tụi nó nhé ?”.

Vợ hắn nghe vậy thì lại lừ mắt, giọng gay gắt :

– Không nói nhiều ! Đầu tháng cô hồn không đi thăm người đẻ, đen lắm…

Hắn biết là chẳng thể thuyết phục vợ được nữa rồi, đành lủi thủi lấy quần áo đi tắm. Vừa tắm xong, chưa kịp lau khô người, thì đã nghe giọng vợ hắn vọng vào từ bên ngoài : “Tắm nhanh lên, rồi vào phòng ngủ đấy nhé !”. “Ơ ! Nay mới thứ Ba ! Thứ Bảy mới đến lịch cơ mà ?”. “Nhưng hôm nay rụng trứng ! Vào nhanh lên !”.

Hắn vội vàng vứt cái khăn tắm, chả kịp mặc quần áo, chạy luôn vào phòng ngủ vì sợ vợ nằm đợi lâu sẽ cáu. Vợ hắn có cái tật rất buồn cười : bình thường thì cáu gắt, chửi chồng như chém chả, nhưng lúc lên giường, là giọng tự nhiên trở nên nhẹ nhàng đến lạ !

Sau gần một giờ hai vợ chồng quần quật, vợ hắn vẫn dịu dàng quay lại nhìn hắn bằng ánh mắt trìu mến, giọng bẽn lẽn : “Sao hôm nay anh lâu thế ? Nhanh lên đi anh ! Em hơi mỏi rồi!”.

Hắn nghe vậy thì lừ mắt, giọng gay gắt :

– Không nói nhiều! Đầu tháng, nhất là tháng cô hồn, kiêng không xuất tinh !

Dung Dung chuyển tiếp

HUYỀN THOẠI GIANG HỒ SÀI GÒN

HUYỀN THOẠI

GIANG HỒ SÀI GÒN

– Nguyễn Chính

Hai chữ “Giang Hồ” gần đây được nhắc tới trên cộng đồng mạng, đó là đề tài thời sự nóng hổi… Bài viết dưới đây chỉ nói về giới giang hồ của “Sài Gòn xưa”, trong một cuốn sách đã được xuất bản tại Hoa Kỳ : “Hồi ức Sài Gòn”. Qua bài viết này, người đọc có thể nhìn “giang hồ” qua hai lăng kính Xưa và Nay.

oOo

Giang hồ, theo một số học giả, có chiết tự từ tên con sông Tam Giang và hồ nước Ngũ Hồ bên Tàu. Đây là những địa danh có nhiều người đến ngao du, ngoạn cảnh. Thế nhưng, khi nói đến dân giang hồ người ta liên tưởng ngay đến những tay anh chị ‘lục lâm thảo khấu’, ‘đầu trộm đuôi cướp’, ‘đâm thuê chém mướn’ hay nói theo từ vựng của thời nay là ‘xã hội đen’.

Thế giới ngầm thường chứa đựng nhiều huyền thoại vì người ta thường thêm thắt những chi tiết không có thực để tô điểm về cuộc đời của các ‘anh hùng hảo hán’. Trong bài viết này, tác giả giới thiệu 3 loại giang hồ điển hình của Sài Gòn xưa : giang hồ trí thức, giang hồ lục lâm và giang hồ anh chị.

Giang hồ trí thức : Sơn Vương Trương Văn Thoại

Nhân vật ‘giang hồ – trí thức’ nổi tiếng ở miền Nam, thập niên 30, là Sơn Vương Trương Văn Thoại với thành tích 34 năm ngồi tù, trong đó có 32 năm khổ sai ở Côn Đảo. Ngoài việc nổi tiếng là một tên cướp ‘trọng nghĩa’ và ‘hào hoa’, Sơn Vương còn là một nhà văn được nhiều người đọc hâm mộ.

Ở vào tuổi thanh niên, Trương Văn Thoại vùi đầu vào sách, từ loại kiếm hiệp Tàu và tiểu thuyết Tây viết về những tên cướp nghĩa hiệp, từ Robin Hood của A. Dumas đến Carmen của Merimée. Đặc biệt, Trương Văn Thoại cực kỳ say mê nhân vật trong tiểu thuyết của nhà văn Phú Đức: Bách-xi-ma lái … ‘khúc dồi’ phóng như bay đuổi theo Hoàng Ngọc Ẩn đang cưỡi trên… Điếu Xì Gà.

Cuối năm 1925, mới hơn 16 tuổi, Trương Văn Thoại đã quyết chí bỏ làng theo tiếng gọi… giang hồ. Anh thanh niên giàu nghĩa khí đã bỏ ra hơn 6 năm trời lăn lộn khắp vùng núi Thị Vải, núi ông Trịnh, núi Mây Tào ở Long Hải, Bà Rịa, để theo một đại lão sư, mai danh ẩn tích nhằm học võ và học đạo.

Năm 1931, Thoại hạ sơn về Sài Gòn, sống lăn lóc cùng giới thợ thuyền. Những năm đầu thập kỷ 30, lề đường De la Some (Hàm Nghi) được coi là nơi tập trung của đủ hạng người. Từ các thầy bói, kính đen che mắt, đến các văn nhân, chủ báo cũng có mặt tại đây. Trong số những người làm báo, Trương Văn Thoại làm quen với Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ La Cloche Fêlée (Tiếng Chuông Rè). Cảm phục ý chí và sự nghiệp của Nguyễn An Ninh, Trương Văn Thoại đã dần dần bước vào nghiệp cầm bút, trở thành một cộng sự đắc lực của tờ La Cloche Fêlée.

Theo Hán tự, chữ “Thoại” được ghép bởi 3 chữ Sơn, Vương và Nhi. Bút danh Sơn Vương được Thoại khai sinh từ đó. Chẳng bao lâu, tên tuổi Sơn Vương đã khá nổi danh trong nghề cầm bút. Những bài báo của ông thổi vào công luận một dư âm lạ, đầy màu sắc bình dân và nỗi cảm thông sâu sắc đối với tầng lớp bần cùng.

Có thể xem Sơn Vương như một người tiên phong có công trong việc cách tân nền tiểu thuyết Việt Nam thời đó. Ông chuyên viết ‘tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình’ nhưng tác phẩm của Sơn Vương đã có sự thay đổi lớn lao về mặt hình thức. Nhân vật ‘tướng cướp nghĩa hiệp’ cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo của Sơn Vương đã đoạn tuyệt hẳn với hình tượng ‘thanh gươm lưng ngựa’ thời trước. Thay vào đó là các trang công tử lái xe hơi như bay, bắn súng lục bằng cả hai tay và ném tạc đạn như đồ chơi. Đáng kể nhất là 3 tác phẩm của Sơn Vương : Luật rừng xanh, Chén cơm lạtTướng cướp hào hoa.

Trong hơn hai năm (1931-1933), Sơn Vương đã đơn thương độc mã, gây ra hàng chục vụ cướp kinh thiên động địa nhắm vào các phú hộ khắp các vùng từ Đồng Nai đến Sài Gòn, Long An nhưng tung tích vẫn không hề bị lộ. Người ta chỉ thầm ngưỡng mộ một Sơn Vương – nhà văn – cao gầy dong dỏng nói năng nhỏ nhẹ, thường ngồi trọn buổi sáng bên lề đường với một bộ xá xẩu bằng lụa Tân Châu để bán sách của chính mình.

Con mồi lớn nhất của Sơn Vương là René Gaillard, Giám đốc hãng cao su Mimot. Sau một thời gian theo dõi, Sơn Vương biết rõ hàng tháng Gaillard cùng một tài xế và một vệ sĩ trên chiếc Peugeot đến Ngân hàng Đông Dương để lĩnh tiền về phát lương cho công nhân. Số tiền mỗi kỳ lên đến 50.000 đồng. Sơn Vương quyết định sẽ chặn xe cướp vali tiền với một… khẩu súng giả !

Vụ cướp táo tợn được đồn khắp Sài Gòn chỉ một ngày sau. Dân nghèo được một phen hả dạ, bởi kẻ bị trừng trị là một ‘Tây thực dân’ khét tiếng tàn ác. Giới lục lâm Sài Gòn – Lục tỉnh cũng thầm khen tác giả của vụ cướp – dù chẳng biết là ai – bạo gan và chơi rất bảnh, khiến tên chủ Tây vừa mất tiền vừa mất mặt.

Giới giang hồ Nam kỳ nói chung có màu sắc nghĩa hiệp, là một đặc tính của người dân ‘đàng trong’, trọng danh dự và nhân nghĩa. Với Sơn Vương, chuyến ‘đi hát’ đó (một từ lóng chỉ chuyện cướp bóc của giới giang hồ) lại là tai hoạ và cũng là vụ cướp cuối cùng trong cuộc đời ngang dọc.

Kẻ bị cướp – René Gaillard – vốn cũng xuất thân từ một tên cướp khét tiếng của đảo Corse. Tuy đã giã từ nghề thảo khấu nhưng trong huyết quản Gaillard, dòng máu đảo Corse vẫn còn ngùn ngụt. Bị Sơn Vương cướp tiền, Gaillard tuyên bố: Thưởng 5.000 đồng bạc Đông Dương – một phần mười số tiền bị cướp – cho bất cứ ai tìm ra tung tích thủ phạm.

Bazin – tên mật thám khét tiếng tàn ác sau này – đang là một cò tập sự ở bót Catinat. Y xua hết mã tà, lính kín dưới quyền ra sức điều tra, lùng sục, quyết giật cho được món tiền 5.000 đồng mà Gaillard đã rêu rao. Vốn là cáo già, Bazin rất quan tâm đến những chi tiết vụ cướp. Y nhanh chóng nhận ra rằng, loại xe hơi Clément Bayard chặn đường cướp tiền của Gaillard cả Sài Gòn chỉ có không hơn 10 chiếc (xe hơi hiệu Clément Bayard được sản xuất từ Pháp từ năm 1903 đến 1922).

Bazin liên tục gọi tài xế và chủ nhân của những chiếc xe hơi loại này lên làm ‘ăng kết’. Bị tra hỏi quá nhiều lần, Năm Đường (chủ nhân chiếc xe đã cho Sơn Vương mượn để ‘đi hát’) biết chắc sẽ bị bại lộ nên vội ra đầu thú, nộp lại 10.000 đồng được chia sau vụ cướp đồng thời khai ra tên Sơn Vương. Một tháng sau, Sơn Vương bị toà tiểu hình kết án năm năm khổ sai và bị đày ra Côn Đảo.

Tháng 7/1936, một số tù nhân ở Côn Đảo được phóng thích. Sơn Vương cũng được xét trả về đất liền, tiếp tục thụ hình tại Hà Tiên. Trong tù, Sơn Vương đã hô hào tù nhân đập phá khám khiến chủ tỉnh Hà Tiên đã quyết định đày Sơn Vương ra đảo Phú Quốc.

Từ Phú Quốc trở về, chỉ một năm sau, Sơn Vương lại bị tống vào tù. Lần này ông bị bắt vì một lý do… lãng xẹc. Tại ghi-sê bán vé của một rạp chiếu bóng ở Chợ Lớn, Sơn Vương bị một gã hung hăng đạp giày đau điếng. Ông đẩy hắn ra, tên này lập tức nhảy vào đánh Sơn Vương. Cáu tiết, ông xô mạnh, tên gây sự bật ngửa ra sau, ngã chỏng gọng. Rất không may, kẻ gây sự lại là … sếp mật thám của bót Polo trong Chợ Lớn.

Ra toà, Sơn Vương bị kết tội du đãng, bị đưa đi giam giữ tại trại Pursat (Cao Miên). Sơn Vương trốn trại và tìm đường qua Thái Lan nhưng không lâu sau, ông lại bị bắt khi tìm cách về lại Sài Gòn. Lần này ông bị kết án 10 năm tù vì tội vượt ngục, bị tống vào phòng 17, bót Catinat. Đầu năm 1942, ông bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai.

Trong thời gian ở Côn Đảo, Sơn Vương giết một ‘ăng ten’ trong số tù nhân. Với tội mới, Sơn Vương lại phải nhận thêm một án chung thân khổ sai nữa. Theo quy định, án chung thân hồi đó được tính là 32 năm. Tổng cộng, đời Sơn Vương đã 4 lần nhận án gồm 1 lần 5 năm, 1 lần 10 năm và 2 án chung thân khổ sai (32 năm). Tính ra ông phải nhận mức án những 79 năm tù …

Năm 1984, Sơn Vương trở lại quê nhà ở Gò Công và mất tại đó vào năm 1987, chấm dứt một cuộc đời ‘trí thức giang hồ’.

Giang hồ thảo khấu : Bình Xuyên

Đến thập niên 50, nổi bật trong giới giang hồ có lực lượng Bình Xuyên, nguyên thủy là tên của ấp Bình Xuyên thuộc làng Chánh Hưng, Nhà Bè. Sau năm 1945, danh xưng Bình Xuyên được dùng để chỉ Lực lượng Bình Xuyên với nòng cốt là dân giang hồ miền Nam, hoạt động ở vùng ven Sài Gòn trong suốt 10 năm, từ 1945 đến 1955.

Từ năm 1948, Bình Xuyên là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng công an xung phong, địa bàn hoạt động ở xung quanh Sài Gòn. Với sự đồng thuận của Pháp, Bình Xuyên kiểm soát nhiều sòng bài, nhà thổ, cùng những thương cuộc lớn nhỏ khắp vùng Sài Gòn – Chợ Lớn trong đó phải kể đến Casino Grande Monde (Đại Thế Giới), Casino Cloche d’Or (Kim Chung), Bách hóa Noveautes Catinat.

Lê Văn Viễn (tức Bảy Viễn) là người chỉ huy Bình Xuyên, hợp tác với Bảo Đại để thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam. Thành phần này là lực lượng Bình Xuyên được biết đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Sau Hiệp định Genève (1954), Bình Xuyên đúng ra phải nhập vào Quân đội Quốc gia Việt Nam nhưng lại không tòng phục.

Lê Văn Viễn sinh năm 1904 tại xã Phong Đước, quận Cần Giuộc, Chợ Lớn, thuộc gia đình điền chủ. Bảy Viễn học hết trường làng đến lớp ba thì bỏ nhà đi lưu lạc giang hồ. Trong thời gian khoảng 10 năm, Bảy Viễn học võ ở nhiều nơi. Sau đó Bảy Viễn xưng anh chị tại trường đua Phú Thọ, tập hợp được một số du đãng em út. Vùng hoạt động của nhóm Bảy Viễn bấy giờ là Chợ Thiếc, An Bình, Cù lao Chánh Hưng và xóm Phạm Thế Hiển từ cầu Hiệp Ân đổ xuống cầu Chữ Y.

Với tiền đánh cướp ở các chợ vùng ngoại ô như Cần Giuộc, Nhà Bè, Giồng Ông Tố, Bảy Viễn sắm xe lô-ca-xông cho thuê, đôi khi còn dùng các xe này để đi ăn cướp. Bảy Viễn cũng chịu ảnh hưởng nặng loại tiểu thuyết ‘ăn cướp, bắn súng, lái xe đua’ như Bách-si-ma, Hoàng Ngọc Ẩn của nhà văn Phú Đức nổi tiếng thời bấy giờ. Ăn mặc đúng thời trang, Bảy Viễn lái xe tới những tiệm vàng ở các chợ quận, mua cả bụm vàng rồi để lại một băng đạn trước khi lên xe vọt mất.

Tháng 7/1954 Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính, thành lập chính phủ trung ương và nộp danh sách nội các. Lê Văn Viễn đòi được tham chính và đưa ra yêu sách lập chính phủ mới. Lực lượng Bình Xuyên cùng với quân đội Cao Đài và Hòa Hảo còn lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia và gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có danh sách mới trước ngày 26/3/1955.

Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên Bình Xuyên mở cuộc tấn công Bộ tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập. Sang tháng 4/1955, quân Bình Xuyên đánh thành Cộng Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y, lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn – Chợ Lớn và rút về Rừng Sát.

Bảy Viễn bị bắt với 17 tiền án ăn cướp có súng, bị kêu án 15 năm khổ sai, đày ra Côn Đảo. Mười lăm ngày sau, Bảy Viễn vượt ngục bằng bè và được thuyền đánh cá vớt. Một năm sau hắn lại bị bắt đưa ra Côn Đảo. Hai tháng sau hắn lại trốn về đất liền. Nhà tù Côn Đảo mở cuộc điều tra tìm hiểu vì sao Bảy Viễn trốn quá dễ dàng như vậy. Nguyên do là Bảy Viễn có tay em ngoài đảo sẵn sàng giúp ‘đại ca’ đóng bè làm buồm, tiếp tế cơm khô, nước ngọt. Một số thầy chú cũng ngán Bảy Viễn nên cố tình nhắm mắt làm ngơ.

Tháng 9/1955 Ngô Đình Diệm phái đại tá Dương Văn Minh (Big Minh) mở Chiến dịch Hoàng Diệu truy nã Bình Xuyên ở Rừng Sát. Quân Bình Xuyên bị hoàn toàn tiêu diệt. Lê Văn Viễn đào tẩu sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt thực lực của Bình Xuyên.

Xem thêm trên “Một thời Sài Gòn” ngày 15/3/2012. Bấm vào đường dẫn sau :

Bảy Viễn : cuộc đời ngang dọc

Giang hồ anh chị : Đại Cathay

Đến thập niên 60, nổi bật nhất trong giới giang hồ có Đại Cathay. Người ta nói nhiều về một Đại Cathay, với mái tóc bồng bềnh, quần Jean, giày cao cổ ‘đờ-mi-bốt’, trên môi không rời điều thuốc và chiếc hộp quyẹt Zippo… Những gì mà Đại Cathay đã tạo dựng chỗ đứng của mình trong giới giang hồ thật khác biệt và đã trở thành… huyền thoại. Đối với Đại Cathay, sự liều lĩnh không được đánh giá cao bằng lối sống ‘giang hồ tình nghĩa’.

Đại sinh năm 1940, con của Lê Văn Cự, vốn cũng là một tay giang hồ hảo hớn ở khu vực chợ Cầu Muối. Khi còn nhỏ Đại sống với cha mẹ ở đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội (nay là đường Đoàn Văn Bơ, Quận 4). Cả cha lẫn mẹ đều nghèo, làm nghể chẻ củi thuê cho một vựa củi nằm bên kia Cầu Mống, cạnh Chợ Cũ, Quận 1.

Đại thường xuyên trốn học và chơi với đám trẻ con bụi đời cạnh vựa củi. Hiền lành, ít nói, dù khuôn mặt rất ngầu, tính phóng khoáng, lại rất ‘lì đòn’. Những đức tính được ‘thừa kế’ từ cha đã giúp Đại nhanh chóng được đám trẻ đồng cảnh mến mộ. Mới 10 tuổi, ‘thủ lĩnh’ Đại đã thường xuyên luồn lách vào các chợ ăn trộm dưa, chuối về chia cho chúng bạn.

Đại bỏ học, sang vườn hoa Cầu Mống đánh giày, bán báo. Khu vực làm ăn của Đại là xung quanh ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) – Nguyễn Công Trứ gần rạp xi-nê Cathay. Không ngày nào trước cửa rạp hát không xảy ra những vụ đánh lộn giành khách giữa đám trẻ bụi đời. Lì lợm và liều lĩnh, Đại lăn xả vào đối thủ, liên tục tấn công, dù kẻ đó có cao hơn, to hơn.

Trăm lần như một, Đại luôn là kẻ chiến thắng, dù tay chân mặt mũi đầy thương tích. Nghiễm nhiên, hắn trở thành thủ lĩnh của đám nhóc tì du thủ du thực trong khu vực. Cũng vì thế, gã đã ráp thêm ‘tên địa bàn hoạt động’ vào sau tên cúng cơm để trở thành Đại Cathay, một đại ca hùng cứ trên đường Nguyễn Công Trứ. Đó là năm 1954, lúc Đại mới 14 tuổi.

Trở thành ‘anh chị’, Đại được quyền sống mà không mó tay vào bất cứ việc gì. Hắn vẫn đóng thùng đánh giày, nhưng là để giao cho đàn em ‘đi làm’ mang tiền về nộp. Được cái, hắn rất hào phóng. Đại Cathay chia hết tiền cho đàn em, chỉ giữ lại cho mình 1 khoản nhỏ, đủ cà phê, thuốc lá cho ngày kế tiếp. Vì vậy, đàn em rất khoái và chịu nghe lời “anh Đại”. Ở đây ta thấy giới giang hồ miền Nam rất trọng ‘đạo nghĩa’ và ‘công bằng’ dù trình độ văn hóa của họ rất thấp.

Nằm ngay cạnh khu vực của Đại Cathay là bót cảnh sát quận Nhì, thường được gọi là bót Dân Sinh, nổi tiếng dữ dằn. Rất nhiều lần, sau khi dẫn đàn em đi chinh phạt các khu vực khác hoặc đánh dằn mặt người của các băng nhóm đến giành lãnh địa, Đại Cathay đã bị xách tai lôi về bót. Cuối cùng, cảnh sát tống Đại Cathay vào trại tế bần ở Thủ Đức. Sau nhiều lần vào trại rồi trốn ra khỏi tế bần, Đại Cathay càng liều lĩnh hơn, kinh nghiệm hơn, và càng lao đầu vào những trận thư hùng.

Năm 1955, Đại Cathay chuyển sang sinh sống ở khu vực hãng phân Khánh Hội, cạnh Nhà máy thuốc lá Bastos. Đám giang hồ khu vực này ‘nghênh đón’ Đại Cathay khá nồng nhiệt bằng những trận hỗn chiến. Một lần nữa, sự lì đòn của Đại lại giành phần thắng. Toàn bộ khu vực Khánh Hội, quanh cầu Ông Lãnh, gồm toàn dân giang hồ ở bến tàu, vựa cá, vựa rau cải đều quy phục dưới trướng của Đại Cathay.

Đầu những năm 1960, thuyết hiện sinh và phong trào hippie bắt đầu thâm nhập Sài Gòn. Đại Cathay tuy ít học nhưng cũng không hề kém cạnh các bậc trí giả trong khoản ăn chơi. Đám nghệ sĩ, trí thức cũng nể Đại Cathay vì tính chịu chơi và khoái vẻ ngang tàng, bụi bặm của gã.

Nguồn lợi lớn hơn cả mà Đại Cathay thu được lại không phải từ tiền thuế ‘bảo kê’. Chính giới doanh nghiệp làm ăn lớn là kẻ tình nguyện đóng góp đều đặn để Đại nuôi quân, đồng thời để nhờ vả Đại làm hậu thuẫn khi cần gây sức ép hay giành giật trên thương trường với kẻ khác. Cả anh em tỉ phú Hoàng Kim Qui (vua kẽm gai), Xí Ngàn ‘mặt rỗ’ (vua thuốc Bắc), La Thành Nghệ (vua thuốc đỏ) và hơn chục ông vua các ngành nghề khác của người Hoa là những người đều đặn chu cấp cho Đại. Cũng nhờ uy thế của các ‘vua’, Đại Cathay cũng làm quen và “chơi chịu” với khá đông nhân vật quyền thế và tên tuổi khác.

Sài Gòn thập niên 60 nổi tiếng có ‘tứ đại giang hồ’ gồm Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế. Cả miền Nam đều biết tiếng ‘tứ nhân bang’, nhất là sau khi cuốn tiểu thuyết Điệu ru nước mắt của nhà văn Duyên Anh ra đời. Sau một trận hỗn chiến giữa ‘tứ đại giang hồ’, Đại Cathay lên đứng đầu nhóm và một trận chiến kinh hồn với băng đảng người Hoa của Tín Mã Nàm đã đưa Đại Cathay lên ngôi ‘bang chủ’ trong một đế chế mà khắp Sài Gòn – Chợ Lớn chẳng có một băng nhóm nào dám đối đầu.

Cả một bộ máy quân sự khổng lồ của miền Nam dưới thời Nguyễn Cao Kỳ hình như cũng phải ‘xuống nước’. Tướng ‘Sáu Lèo’ Nguyễn Ngọc Loan (khi đó nắm quyền chỉ huy lực lượng cảnh sát) ngỏ ý mời Đại Cathay về làm đại úy cảnh sát để ‘dĩ độc trị độc’. Đại Cathay thẳng thừng từ chối:

Tôi xuất thân du đãng, làm sao có thể quay lưng diệt du đãng được? Nếu tôi nhận lời, du đãng không chém, tôi cũng chết vì thân bại danh liệt”.

Đại và cả đám đàn em bị tống ra Trung tâm hướng nghiệp tại đảo Phú Quốc, hay còn gọi là ‘Trại Cửu Sừng’. Đây là nơi lưu đày những tên lưu manh ngoại hạng dày thành tích bất hảo nhưng không có chứng cớ để bắt quả tang, do chính Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan đề nghị thành lập nhằm “bài trừ du đãng, chấn hưng đạo đức, thượng tôn luật pháp”.

Người vợ cuối cùng, cũng là cuộc tình sâu nặng nhất của Đại Cathay, là cô Nhân, con gái chủ tiệm đồ gỗ Đồng Nhân nổi tiếng nằm trên đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) đối diện với vũ trường Olympic. Nhân ở lại Sài Gòn, biết chắc rằng loại ‘tù không án’ như chồng mình e khó có ngày về. Cô cùng anh trai vung tiền ra tìm cách cứu Đại Cathay.

Khi biết cô Nhân đang tìm cách lo lót tổ chức cho Đại Cathay vượt ngục… Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã chỉ đạo cứ để cho Đại Cathay thực hiện kế hoạch. Đến giờ chót, theo lệnh Loan, toàn bộ toán lính gác của trại hướng nghiệp bất ngờ bị đổi. Toán lính gác mới ráo riết truy kích đám tép riu, còn riêng Đại Cathay được cố tình cho đào thoát vào núi Tượng.

Sau đó, tướng Loan cho một tiểu đội biệt kích do thiếu úy Trần Tử Thanh chỉ huy, được trực thăng chở từ Sài Gòn ra truy kích Đại. Trần Tử Thanh sau này đã từng khoe với nhiều phóng viên của một số tờ báo ở Sài Gòn trước 1975 rằng chính tay mình đã nổ súng hạ gục Đại Cathay.

Trên đây chỉ là lời đồn đại, ‘đoán non đoán già’ về ngày tàn của Đại Cathay. Huyền thoại về cuộc đời và cái chết của Đại Cathay vẫn có nhiều chi tiết chưa được làm rõ về một tên ‘giang hồ ngoại hạng’.

Xem thêm trên “Một thời Sài Gòn” ngày 23/12/2011. Bấm vào đường dẫn sau :

Cuộc đời của Đại Cathay

oOo

Chuyện của giới giang hồ miền Nam là một kho tàng vô tận, chuyện thật cũng có, người đời thêu dệt thành huyền thoại cũng không ít. Chẳng hạn như cuộc đời các tướng cướp Bạch Hải Đường, Điền Khắc Kim, những tay anh chị như Tín Mã Nàm và gần đây nhất là ông trùm Năm Cam…

Yên Huỳnh chuyển tiếp