CÂU CHUYỆN “CHÙA HƯƠNG”

CÂU CHUYỆN “CHÙA HƯƠNG”

Qua thi phẩm của :

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

– Bài Nguyễn Việt

Nói đến nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp phải nhớ đến bài thơ nổi tiếng “Chùa Hương” của ông và nhạc phẩm “Đi chùa Hương” của nhạc sĩ Trung Đức.

Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914, ở xã Phượng Dực, huyện Phú Xuân, Hà Nội. Là con trai của nhà văn, nhà báo, dịch giả, học giả Nguyễn Văn Vĩnh còn là một ông chủ nhà in mang tên Trung Bắc Tân Văn ở xứ Bắc thời kỳ bấy giờ; còn mẹ ông là bà vợ hai của cụ Vĩnh tên Hai Lựu. Đến giờ không ai rõ tên bà Hai Lựu, chỉ biết bà người cao ráo, trắng trẻo, giao du rộng, nói thạo tiếng Pháp và sử dụng súng ngắn rất thành thạo.

Trong gia đình, Nguyễn Nhược Pháp có các người anh cùng cha khác mẹ, thuộc dòng bà cả, gồm nhà thơ Nguyễn Giang (về sau ông này là bạn thân của họa sĩ Picasso) sinh ở Bắc Giang; người anh thứ tên Nguyễn Dực sinh ở Phượng Dực, Nguyễn Phổ sinh vào thời điểm chiến tranh Pháp – Phổ và Nguyễn Hồ anh út.

Khi đi học Nguyễn Nhược Pháp học tại trường Albert Sarraut và sau khi thi đậu tú tài, ông vào học tại trường Cao đẳng Luật Đông Dương. Nhưng sau đó như để nối nghiệp cha, lúc thành tài ông không vào làm bất kỳ ngạch quan lại hoặc công chức nào trong chính quyền, mà làm thơ viết văn làm báo.

Nguyễn Nhược Pháp làm thơ rất sớm ngay thuở còn mài đủng quần nơi ghế nhà trường; vì theo nghề cha nên ông từng viết cho các báo Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh hoa, Đông Dương Tạp chí. Truyện ngắn và kịch của ông có lẽ không phổ biến nhiều và không nổi tiếng bằng thơ. Ngoài thi phẩm “Chùa Hương”, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp còn có những bài thơ khá nổi tiếng khác như “Tay Ngà” và “Sơn Tinh Thủy Tinh” (bài thơ này ông viết tặng Nguyễn Giang con bà cả).

Năm 1936 lúc nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã hơn hai mươi hai tuổi, ông đang nổi tiếng với tập thơ “Ngày xưa”, gặp phải cái chết bất đắc kỳ tử của thân sinh là cụ Nguyễn Văn Vĩnh, từ đó gia cảnh đang thuộc hàng giàu có ở Hà Thành bỗng dưng sa sút, có thể từ hoàn cảnh đó đã khiến cuộc đời người thi sĩ tài hoa này đã bước sang hướng khác.

Nên từ thời điểm đó cho đến khi Nguyễn Nhược Pháp qua đời chỉ vài năm sau, ông không có thêm tập thơ nào cũng như một bài thơ nào nổi bật, kể cả người gần gủi với ông về mặt tinh thần tức nhà thơ, nhà văn, nhà báo Nguyễn Vỹ cũng không đề cập đến thân thế của ông nhiều trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến”.

Người tài thường đoản mệnh, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp qua đời lúc ông mới 24 tuổi vào ngày 19/11/1938, do bệnh thương hàn.

Tác phẩm Nguyễn Nhược Pháp đã in có Ngày xưa (Nguyễn Dương xuất bản, Hà Nội 1935), Người học vẽ (kịch bản, xuất bản 1936 Hà Nội).

Trong thi phẩm “Ngày xưa”, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã sắp xếp thứ tự như sau : Sơn Tinh Thủy Tinh (Avril 1933), thất ngôn; Mỵ Châu (Janvier 1933), thất ngôn; Giếng Trọng Thủy (Janvier 1933), thất ngôn; Tay ngà (2 Mai 1934), ngũ ngôn; Mỵ Nương (Mai 1933), thất ngôn bát cú; Một buổi chiều xuân (6 Mai 1933), ngũ ngôn; Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống (30 Décembre 1932), thất ngôn bát cú; Đi cống (10 Mai 1933), thất ngôn; Mây (25 Janvier 1934), ngũ ngôn và Chùa Hương (Aout 1934), ngũ ngôn.

Hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh và Hoàn Chân đã viết trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” về ông :

– Nguyễn Nhược Pháp in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp…. Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú Xuất, Tú Xương đến Tý Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý : với Nguyễn Nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng. Bài thơ “Chùa Hương” nổi tiếng của ông đã được ca sĩ kiêm nhạc sĩ Trung Đức và giáo sư  Trần Văn Khê phổ nhạc.

…Tôi đọc thơ ông để cảm, để vui giây bâng khuâng của một lứa tuổi thanh xuân nào đó. Nguyễn Nhược Pháp hay kể chuyện bằng thơ, chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, chuyện đi Chùa Hương, chuyện Đi Cống sứ vân vân… nhưng kể mà gợi lại được những huyền thoại xưa, kể mà làm lưu luyến người đọc, nghệ thuật kể chuyện bằng thơ… có lẽ chỉ có một Nguyễn Nhược Pháp mà thôi vậy.

Bài thơ “Cô gái chùa Hương” khi in vào tập “Ngày Xưa” thì hai chữ Cô gái bị bỏ đi, chỉ còn Chùa Hương. Bài thơ trước đây đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc song không được phổ biến rộng rãi. Phải tới gần 60 năm sau, nghệ sĩ Trung Đức qua lần đi Hương Sơn cảm tác đã phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời để thành bài hát “Em đi chùa Hương”. Ngay từ lần phát sóng đầu tiên, nhạc phẩm này đã được đông đảo thính giả ưa thích và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi…

Đến nay, bài thơ Chùa Hương” đã gần 80 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 80 năm, song “Chùa Hương” cùng tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp vẫn sống mãi với Chùa Hương cùng với thời gian…

Xuất xứ bài thơ “Chùa Hương”

Trong cuốn “Văn sĩ thi sĩ tiền chiến” của nhà thơ Nguyễn Vỹ, (chủ nhiệm bán nguyệt san Phổ Thông; từng là bạn chơi thân với Nguyễn Nhược Pháp, vì Nguyễn Vỹ chỉ hơn Nguyễn Nhược Pháp 4 tuổi. Nhà thơ Nguyễn Vỹ sinh ở đất Quy Nhơn nhưng thành danh ở đất Hà thành, và sau khi vào sống ở Sài Gòn, nhà thơ này càng nổi tiếng với bài Gửi Trương Tửu); trong cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến” chúng ta có thể xác định được thời điểm ra đời của thi phẩm “Chùa Hương” vào khoảng năm 1935.

Theo Xuân Ba kể về xuất xứ của bài thơ “Cô gái Chùa Hương” như sau :

– Chuyến đi chùa Hương vào tháng Giêng âm lịch năm ấy, gồm có Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ cùng hai cô bạn (không rõ đây có phải là người yêu của hai chàng ?). Hai cô này thuộc dạng phụ nữ tân thời và có lẽ là con nhà khá giả, nên một trong hai cô có đem theo cả máy chụp hình. Mà máy chụp hình khi đó là của hiếm, nhà giàu có mới sắm nổi…

Qua đò suối Yến là cả nhóm bắt đầu đi xuyên qua rừng mơ. Trên lối mòn khúc khuỷu, cây đá gập ghềnh, cả bọn gặp một cô gái độ tuổi trăng tròn bận quần lĩnh áo the đang dắt tay một bà, không rõ là bà hay mẹ ? Khi hai người đi miệng luôn khe khẽ niệm Phật. Cả bọn liền vượt lên nhưng không hiểu sao Nguyễn Nhược Pháp đứng sững lại bên hai người, tức thì cô gái bặt luôn tiếng niệm Phật. Nguyễn Nhược Pháp mới khẽ hỏi tại sao cô không niệm tiếp, giọng niệm Phật nghe hay lắm… Cô gái nọ đỏ bừng mặt e thẹn cúi đầu không nói…

Vừa lúc ấy, một trong hai cô bạn của Nguyễn Vỹ và Nguyễn Nhược Pháp có máy chụp hình, quay ngược lại thấy cảnh ấy liền bấm máy chụp ngay một “pô” ! Từ lúc đó đến lúc qua chùa Tiên Sơn rồi tối ngủ lại trong chùa để sáng hôm sau ra về, cả bọn đều không gặp lại bà cụ với cô gái nọ. Dù là thế nhưng hai cô bạn gái lại có ý phiền trách, thậm chí lạnh nhạt với Nguyễn Nhược Pháp và cả Nguyễn Vỹ về động thái “người đâu gặp gỡ làm chi ấy…” Tuy có hờn giận nhưng khi về đến Hà Nội, cô gái vẫn đưa tấm ảnh chụp cảnh Nguyễn Nhược Pháp đang đứng bên cô gái quần lĩnh áo the đó ! (nay tấm ảnh này cũng đã thất lạc).

Nguyễn Nhược Pháp đâu có để tâm đến tấm hình chụp. Mà chàng đang bận tâm chuyện khác. Chàng đưa bài thơ “Cô gái Chùa Hương” viết chưa ráo mực cho Nguyễn Vỹ xem, nội dung tưởng tượng thêm nhiều sự kiện, từ cảnh gặp gỡ bất chợt đến khi rời chùa Hương Tích ra về… Bài thơ lúc đầu có tên là “Cô gái chùa Hương” sau đưa vào tập thơ “Ngày xưa”, Nguyễn Nhược Pháp bỏ hai chữ đầu còn lại là “Chùa Hương”.

Ngày hôm ấy Nguyễn Nhược Pháp ngỏ ý với Nguyễn Vỹ đưa bài thơ vào một cuốn thơ của mình mà lâu nay đang có ý xuất bản. Nhưng khi đó đang kẹt tiền. Nhà thơ Nguyễn Vỹ mới gợi ý là xin ông bố (tức cụ Nguyễn Văn Vĩnh). Nhưng Nguyễn Nhược Pháp e dè sợ ông cụ rầy trách rồi vứt vào sọt rác khi biết Nguyễn Nhược Pháp làm bài thơ ấy ! Nguyễn Vỹ lại mách nước thế thì xin cụ bà vậy ? (tức bà cả ngôi thứ trên mẹ ruột của ông, nhưng thương ông như con dứt ruột sinh ra) Nguyễn Nhược Pháp đồng ý. Và tập thơ “Ngày xưa” của Nguyễn Nhược Pháp, trong đó có bài Chùa Hương ra đời năm 1935.

Một giai thoại khác cũng kể về xuất xứ bài thơ “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp :

– Trong bài thơ Chùa Hương, chàng thi sĩ 20 tuổi đã thể hiện tình cảm của mình với cô bé 15 tuổi thanh tao đến thánh thiện, đằm thắm mà không uỷ mị, nồng cháy mà vẫn thanh lịch, trữ tình mà tinh tế, cả tâm hồn và hiện thực hoà quyện vào nhau hài hoà khiến Chùa Hương có vị trí xứng đáng trên thi đàn.

Thi phẩm Chùa Hương ra đời trong hoàn cảnh rất kỳ thú. Hội Chùa Hương năm 1934, ông cùng nhà văn Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai văn nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng rằm vừa bước lên những bậc đá vừa niệm phật “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”.

Vẻ đẹp thánh thiện mang nét chân quê của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ trân trân nhìn quên cả hai bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi :

– “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm Phật nữa ?”

Cô gái bối rối, thẹn thùng như muốn khóc. Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đã bị hớp hồn, tai đâu còn nghe thấy. Giận dỗi, họ bỏ đi. Lúc bừng tỉnh, hai văn nhân không thấy các cô đâu, vội len thốc len tháo, lách qua những dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu cho thấy. Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đã lẫn vào dòng người.

Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp không sao chợp mắt được. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến ông xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu tươi vui, hình ảnh ngộ nghĩnh, cả hồn người lẫn vẻ đẹp của ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ.

Thân thế nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp

Nói về thân thế của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, ở phần sơ lược tiểu sử trên chúng ta đã biết, mẹ ruột của ông tức bà Hai Lựu, vợ hai của cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Và trong những giai thoại có kể đến mối tình này :

Thời gian ấy cụ Nguyễn Văn Vĩnh rất giàu có, khai thác một khách sạn ở phố Hàng Trống, làm chủ nhà in Trung Bắc Tân Văn tại ngay trung tâm Hà Nội. Cả hai nơi là địa điểm gặp gỡ giao du của những tao nhân mặc khách và của những người có máu mặt của đất Hà thành. Người đẹp Hai Lựu cũng đã lọt vào mắt xanh ông chủ bút kiêm xuất bản hào phóng Nguyễn Văn Vĩnh khi đến nơi đây.

Đến bây giờ chưa ai biết rõ họ tên thật của bà Hai Lựu tức thân mẫu nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, cũng như xuất xứ quê quán ở đâu. Chỉ biết khi ấy bà là một người đẹp có danh phận, con gái yêu của một thổ ty giàu có ở mạn ngược vùng Lạng Sơn, và có họ gần với Tổng đốc người Tày Vi Văn Định (?). Sau này, do nhiều nguyên nhân, các con cháu của cụ Nguyễn Văn Vĩnh không có điều kiện để tìm hiểu gốc gác của bà Hai Lựu mẹ kế của họ như thế nào.

Đặc biệt là bà Hai Lựu biết sử dụng súng ngắn rất thành thạo, và luôn có súng trong người ! Khi bà đã thành thân với cụ Nguyễn VănVĩnh sinh được Nguyễn Nhược Pháp, bà từng có các mối giao du khá rộng nên khá thân với bà Suzanne, vì thế có lần bà Hai Lựu giới thiệu Suzanne với chồng người bạn thân của bà để tiện giao thiệp.

Với tính phong lưu đa tình như cụ Nguyễn Văn Vĩnh lúc ấy, cụ làm sao để tuột mất người đẹp Suzanne khả ái đó. Cho nên mọi người phát hiện ra, rồi báo chí Hà Nội bấy giờ đã đăng mập mờ chuyện lén lút vụng trộm giữa cụ với người đẹp Suzanne. Làm bà Hai Lựu nổi cơn ghen, trong mình mang súng ngắn đáp xe đến trang trại nổi tiếng của Suzanne bên Gia Lâm, định phải quấy một phen với chính người bạn thân của bà !

Khi bà Hai Lựu đến nơi, cơn ghen cũng đã hạ hỏa và có lẽ do giữ thanh danh cho chồng, phần chợt trỗi chút thiên lương nên bà hạ súng ! Trái lại bà đã chọn cho mình một cái chết tức tưởi, bỏ lại cậu con trai khi đó mới lên hai tuổi chính là thi sĩ đoản mệnh Nguyễn Nhược Pháp.

Người xưa có câu : Chết cha ăn cơm với cá / Chết mẹ liếm lá đầu đường…

Tuy mồ côi mẹ, nhưng cậu bé Nguyễn Nhược Pháp từ năm lên hai tuổi đó đã may mắn được lọt trong vòng tay thân ái của bà vợ cả của cụ Nguyễn Văn Vĩnh, cho đến ngày ông qua đời.

Lễ Hội Chùa Hương (trích Wikipedia)

Chùa Hương và động Hương Tích là danh lam nổi tiếng của Việt Nam thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 70km. Hàng năm, mỗi độ xuân về hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách khắp 4 phương lại nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về một miền đất Phật – nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành, để dâng lên Người một lời nguyện cầu, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hòa quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu Phật.

Hội chùa Hương được tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng hàng năm và kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch. Tuy nhiên, không chỉ trong mùa lễ hội, hằng ngày vẫn có hàng ngàn lượt người đến vãn cảnh chùa. Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa phận huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Xã gần sáu thôn : Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục Khê, Yến Vĩ và Hạ Đoàn.

Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là chùa Thiên Trù. Chùa nằm không xa bến Trò nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở đấy mà lên bộ. Tam quan chùa được cất trên ba khoảng sân rộng lát gạch. Sân thứ ba dựng tháp chuông với ba tầng mái. Đây là một công trình cổ, dáng dấp độc đáo vì lộ hai đầu hồi tam giác trên tầng cao nhất. Tháp chuông này nguyên thủy thuộc chùa làng Cao Mật, tỉnh Hà Đông, năm 1980 được di chuyển về chùa Hương làm tháp chuông.

Chùa Chính, tức chùa Trong không phải là một công trình nhân tạo mà là một động đá thiên nhiên. Ở lối xuống hang có cổng lớn, trán cổng ghi 4 chữ Hương Tích động môn. Qua cổng là con dốc dài, lối đi xây thành 120 bậc lát đá. Vách động có năm chữ Hán 南天第一峝 (Nam thiên đệ nhất động) khắc năm 1770, là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm (1767-1782). Ngoài ra động còn có một số bia và thi văn tạc trên vách đá.

Nguyên tác bài thơ “Chùa Hương”: xin bấm vào đường dẫn sau đây :Bài thơ – Đi chùa Hương

Nhạc phẩm “Em Đi Chùa Hương” của NS Trung Đức

Hôm nay em đi chùa Hương / Hoa cỏ còn mờ hơi sương / Cùng thầy me em vấn đầu soi gương / Khăn nhỏ, đuôi gà cao / Em đeo giải yếm đào / Quần lãnh, áo the mới / Tay em cầm chiếc nón quai thao / Chân em di đôi guốc cao cao

Đường đi qua bến Dục / Mọi người ngắm nhìn em / Thẹn thùng em không nói / Em bây giờ mới tuổi mười lăm / Em hãy còn bé lắm (chứ) mấy anh ơi

Đường đi qua Đồng Vọng / Mọi người ngắm nhìn em / Thẹn thùng em không nói / Nam mô A Di Đà / Nam mô A Di Đà

http://youtu.be/hNjCiEO9CeA

http://youtu.be/YiIWMvxCsX0

Thi phẩm “Chùa Hương” của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ngoài nhạc sĩ Trung Đức phổ thành nhạc thành công nhất, còn trước đó giáo sư Trần Văn Khê cũng có phổ nhạc, sau này có nhạc sĩ Song Ngọc lấy ý thơ “Chùa Hương” mà soạn thành nhạc phẩm riêng… (Trích trong cuốn : “Tác phẩm – tác giả Thơ Văn Nhạc Họa trữ tình” của tác giả, sắp xuất bản)

Nguyễn Việt

NGUYỄN NHƯỢC PHÁP :

THƯƠNG CHO MỘT KIẾP

TÀI HOA MỆNH BẠC

Em Đi Chùa Hương – Ái Vân ca MsThienduong 40,835 views

Số phận ưu ái cho chàng thi sĩ ấy một phần tài hoa, nhưng kéo theo đó là mấy phần truân chuyên. Phải chăng hồn thơ thấm đẫm ưu tư ấy được xây nên từ những đa đoan của kiếp người.

Khi nhắc đến cái tên Nguyễn Nhược Pháp với nhiều độc giả, đặc biệt là độc giả trẻ, có lẽ sẽ nhận lại những cái lắc đầu. Nhưng những lời ca quen thuộc của bài thơ mà sau này là bài hát Em đi chùa Hương, thì luôn ở trong lòng nhiều thế hệ người yêu nhạc Việt Nam. Ít ai biết rằng, đằng sau con người viết nên những vần thơ đầy chất nhạc và thấm đẫm hồn quê ấy lại là một  câu chuyện buồn.

Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12/12/1914 tại Hà Nội. Ông là con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Sinh thời, cha ông vốn là một người hào hoa, phong nhã và đặc biệt rất đa tình. Những năm đầu thế kỉ XX, học giả Nguyễn Văn Vĩnh không chỉ nổi tiếng tài cao học rộng mà còn là người giàu có, sở hữu nhiều đất đai và biệt thự trong nội thành Hà Nội.

Trong đó, có một căn biệt thự rộng ở gần bờ Hồ, đoạn giáp giữa phố Lý Quốc Sư và phố Hàng Trống được ông dùng làm khách sạn. Đây chính là nơi gặp gỡ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và giai nhân Phan Thị Lựu. Bà Lựu là con gái của một thổ ty giàu có ở Lạng Sơn, ngoài dáng vẻ thướt tha bà còn giỏi ăn nói và rất thạo tiếng Pháp.

Mỗi khi có dịp về Hà Nội, bà Lựu lại nghỉ ở khách sạn của ông Vĩnh để tiện thăm thú phố phường. Dù đã có vợ con đề huề nhưng nhìn thấy vẻ đẹp sắc sảo, kiêu sa của người con gái phố Đồng Đăng, trái tim đa tình của học giả Nguyễn Văn Vĩnh bị khuất phục ngay lập tức.

Hằng ngày, vào buổi trưa, học giả Nguyễn Văn Vĩnh sẽ tới khách sạn ăn cơm, trò chuyện và đưa bà Lựu đi dạo. Đến tối, ông Vĩnh lại về ngôi nhà trên phố Mã Mây với bà vợ cả là Đinh Thị Tính và các con. Cậu bé Nguyễn Nhược Pháp ra đời chính là trái ngọt cho mối tình đậm màu sắc tiểu thuyết của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và bà Phan Thị Lựu.

Nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, khi Nguyễn Nhược Pháp lên 2 tuổi thì bố ông say mê một cô đào lai Pháp vô cùng xinh đẹp. Vui bên tình mới, học giả Nguyễn Văn Vĩnh có phần lạnh nhạt với bà Phan Thị Lựu. Khi mọi chuyện vỡ lỡ, quá đau khổ, buồn bã và quẫn trí, bà Lựu đã tự tử. Sau cái chết của người vợ hai, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đem cậu con riêng còn chưa nói sõi về cho vợ cả là bà Đinh Thị Tính nuôi nấng.

Là người phụ nữ truyền thống, tính tình nhân hậu, lại cam chịu, bà Tính đồng ý nuôi con riêng của chồng, không buông một câu oán thán. Cùng là phận đàn bà, bà chỉ trách bà Lựu sao lại quẫn trí đi “ghen ngược” rồi làm điều dại dột, bỏ lại đứa con còn chưa nhớ được mặt mẹ. Bởi chính bà Tính mới là người phải đánh ghen.

Là phận con riêng, nhưng Nguyễn Nhược Pháp được mẹ cả yêu thương, đối xử công bằng như con ruột. Khi bà Đinh Thị Tính mất, bà yêu cầu con cháu an táng bà cạnh phần mộ của cậu con cưng Nguyễn Nhược Pháp. Tuy không cùng một mẹ sinh ra, nhưng cùng sống dưới một mái nhà từ thuở nhỏ, các con của học giả Nguyễn Văn Vĩnh sống với nhau rất tình cảm, không có sự phân biệt.

Là một người tiếp xúc với nền Tây học từ rất sớm, lại giỏi tiếng Pháp nhưng khác với tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ, nhờ sự ảnh hưởng của cha, Nguyễn Nhược Pháp có một lòng yêu thích đặc biệt với văn hóa và văn học dân gian. Các tác phẩm như : Chùa Hương, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Chuyện Mị Châu, Giếng Trọng Thủy… thể hiện rõ điều đó.

Trong thơ Nguyễn Nhược Pháp luôn thấp thoáng bóng một người con gái dịu dàng với làn da trắng và đôi môi đỏ. “Nàng thơ” ấy chính là “ánh chiếu” của tiểu thư Đỗ Thị Bính, con của thương gia Đỗ Bá Lợi. Bà là một trong “tứ đại mỹ nhân Hà Thành” thời bấy giờ. Bà cũng chính là người con gái mà sinh thời nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp thầm thương trộm nhớ. Mỗi lần đi qua hiệu buôn của thương gia Đỗ Bá Lợi, ở phố Hàng Đẫy, chàng công tử Nguyễn Nhược Pháp khi ấy, đã bị hút hồn bởi vẻ ngoài của giai nhân đài các.

Người ta kể rằng cô Bính có làn da trắng nõn, mịn màng, ý thức được thế mạnh của mình, cô tiểu thư xinh đẹp vẫn thường mặc đồ màu đen. Nguyễn Nhược Pháp vẫn gọi cô Bính là “người con gái áo đen”.

Tuy hào hoa, nhưng Nguyễn Nhược Pháp lại không thừa hưởng sự bạo dạn của người cha. Không chỉ viết thư, chàng thi sĩ còn làm thơ đề tặng tiểu thư Bính và nhờ người gửi tới phố Hàng Đẫy, chứ không dám hẹn gặp người đẹp. Lúc bấy giờ, quan niệm phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nặng nề nên cặp “trai tài gái sắc” lâm vào cảnh “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”.

Năm 1938, sau cái chết của hai chị gái và cha, Nguyễn Nhược Pháp đau lòng và lâm bệnh lao hạch. Chàng thi sĩ ấy ra đi ở tuổi 24, khi tài năng mới chỉ bắt đầu và vẫn chưa được gặp mặt để ngỏ lời với giai nhân. Biết tin Nguyễn Nhược Pháp mất, bà Đỗ Thị Bính rất đau lòng, mối tình tưởng như rất đẹp vì “sinh ly tử biệt” mà dang dở.

Yên Huỳnh chuyển tiếp

Advertisements